THÔNG TIN VỀ THÀNH LẬP, TỔ CHỨC LẠI PHÁP NHÂN LÀ TỔ CHỨC KINH TẾ THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC

1. Từ 2007-2010, Hải Phòng chuyển đổi, cổ phần hóa 28 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

(Website Chính phủ) – Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hải Phòng giai đoạn 2007-2010.

Theo đó, từ năm 2007-2010, 7 đơn vị được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên, gồm: Công ty Xổ số kiến thiết (năm 2007); Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi Đa Độ, Công ty Khai thác công trình thủy lợi An Hải (năm 2008); Công ty Khai thác công trình thủy lợi Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và Công ty Thoát nước (năm 2009).

Theo Phương án đã được phê duyệt, Công ty Nam Triệu sẽ được sắp xếp theo doanh nghiệp an ninh, quốc phòng. Năm 2008, chuyển Công ty TNHH một thành viên Thương mại quốc tế Hải Phòng thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Từ năm 2007-2009, Hải Phòng tiến hành cổ phần hóa 3 doanh nghiệp nhà nước trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần (gồm: Công ty Điện chiếu sáng đô thị, Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Hải Phòng, Công ty Đảm bảo giao thông đường thủy Hải Phòng) và 10 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ dưới 50% tổng số cổ phần (gồm: Công ty Da giầy Hải Phòng, Công ty Thương mại dịch vụ và Xuất khẩu Hải Phòng, Công ty TNHH một thành viên Thanh niên, Công ty Thương mại đầu tư và Phát triển đô thị, Công ty Chế biến thủy sản xuất khẩu Hải Phòng, Công ty Đường bộ Hải Phòng, Công ty Công trình công cộng và Dịch vụ du lịch, Công ty Công trình công cộng và Xây dựng Hải Phòng, Công ty Môi trường đô thị và Công ty Kinh doanh nhà).

Năm 2009, chuyển 3 đơn vị sự nghiệp có thu: Công ty Bến xe khách, Công ty Công viên, Công ty Mai táng sang công ty cổ phần. Năm 2008, thực hiện sáp nhập, giao, bán, giải thể hoặc phá sản 3 công ty: Công ty Dược Hải Phòng, Công ty Xuất nhập khẩu Hải Phòng, Công ty Phát triển khu công nghiệp Hải Phòng.

Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng xây dựng Đề án thí điểm cổ phần hóa Nông trường Quý Cao gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Nguồn: Quyết định 1587/QĐ-TTg

2. Trước 31/12/2007, giải quyết dứt điểm việc bàn giao vốn, tài sản cho Công ty cổ phần Phú Diễn

(Website Chính phủ) – Ngày 22/11, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã có ý kiến về việc xử lý vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa Nhà máy Quy chế cơ khí xây dựng thuộc Tổng công ty Xây dựng công nghiệp Việt Nam.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam giải quyết dứt điểm việc bàn giao vốn, tài sản cho Công ty cổ phần Phú Diễn theo quy định của pháp luật trước ngày 31/12/2007. Đến thời điểm nêu trên, nếu vẫn chưa hoàn thành việc bàn giao thì xử lý theo quy định của pháp luật về việc kế thừa các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với số vốn, tài sản này.

Nguồn: Công văn 6791/VPCP-ĐMDN

3. Chuyển giao nguyên trạng Công ty Lâm nghiệp Sóc trăng về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 22/11, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý chuyển giao nguyên trạng Công ty Lâm nghiệp Sóc Trăng thuộc UBND tỉnh Sóc Trăng về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Sóc Trăng và các cơ quan liên quan, chỉ đạo thực hiện việc giao, nhận Công ty Lâm nghiệp Sóc Trăng về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam, tiếp tục sắp xếp lại Công ty này theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Công văn 6790/VPCP-ĐMDN

4. Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước thuộc 3 tỉnh Điện Biên, Cà Mau, Đồng Tháp

(Website Chính phủ) – Ngày 29/11, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc UBND các tỉnh Điện Biên, Cà Mau và Đồng Tháp giai đoạn 2007-2009.

* Theo Quyết định 1626/QĐ-TTg, giữ nguyên là công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước công ty Xổ số kiến thiết Điện Biên. Năm 2007, chuyển Công ty Quản lý thủy nông Điện Biên và Công ty Xây dựng cấp nước Điện Biên thành công ty TNHH một thành viên, 100% vốn nhà nước. Năm 2008, Công ty TNHH Khoáng sản Điện Biên được giao cho tập thể người lao động.

Năm 2008, tiến hành cổ phần hóa, Nhà nước giữ trên 50% vốn điều lệ đối với 4 công ty: Xây dựng và Quản lý đường bộ I, Xây dựng và Quản lý đường bộ II, Giống nông nghiệp, Môi trường đô thị và Xây dựng Điện Biên; Nhà nước giữ dưới 50% vốn điều lệ Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Mường Lay. Năm 2009, cổ phần hóa nhà nước giữ dưới 50% vốn điều lệ 3 công ty TNHH: Xây dựng và Cơ khí nông nghiệp, Sản xuất vật liệu và xây dựng Điện Biên, Bia và Kinh doanh tổng hợp tỉnh Điện Biên.

* Theo Quyết định 1627/QĐ-TTg, năm 2007-2008 Cà Mau tiến hành cổ phần hóa 3 doanh nghiệp (Công ty Phát triển nhà Minh Hải, Công ty Dịch vụ Thương mại Cà Mau, Công ty Thương nghiệp Cà Mau); chuyển Công ty Xổ số kiến thiết Cà Mau thành công ty TNHH một thành viên; hợp nhất 3 công ty lâm nghiệp Ngọc Hiển, Tam Giang III và 184 thành Công ty Lâm nghiệp Rừng Đước; hợp nhất 5 công ty lâm nghiệp 30/4, U Minh I, U Minh II, Trần Văn Thời, Sông Trẹm thành Công ty Lâm nghiệp Rừng Tràm. Cũng trong 2 năm này, tiến hành bán toàn bộ Nhà máy đường Thới Bình, trường hợp không thực hiện được thì chuyển sang hình thức phá sản.

Năm 2009-2010, cổ phần hóa Công ty Cấp thoát nước và Công trình đô thị Cà Mau, trong đó Nhà nước giữ trên 50% vốn điều lệ.

* Theo Quyết định 1628/QĐ-TTg, năm 2007, chuyển Công ty Thương mại-Dầu khí Đồng Tháp và Công ty Xây lắp-Vật liệu xây dựng Đồng Tháp sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con. Năm 2008, chuyển Công ty Xổ số kiến thiết Đồng Tháp thành công ty TNHH một thành viên.

Trong năm 2007-2008, cổ phần hóa 8 đơn vị hạch toán phụ thuộc của Công ty Thương mại-Dầu khí Đồng Tháp và 5 đơn vị hạch toán phụ thuộc của Công ty Xây lắp-Vật liệu xây dựng Đồng Tháp. Năm 2009 sẽ tiến hành cổ phần hóa hai công ty mẹ là Công ty Thương mại-Dầu khí Đồng Tháp và Xây lắp-Vật liệu xây dựng Đồng Tháp.

Nguồn: Quyết định 1626, 1627, 1628/QĐ-TTg


5. Từ 2007-2010, sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 29/11, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch sắp xếp, đổi mới một số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2007-2010.

Theo đó, năm 2008-2009, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiến hành chuyển Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Công ty Ứng dụng và Phát triển công nghệ (thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; 2 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, trong đó Nhà nước giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ gồm Công ty Công nghệ điện tử, cơ khí và Môi trường (năm 2007), Công ty Công nghệ và Phát triển (năm 2008).

Đối với các công ty nhà nước thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KHCNVN), trong năm 2007 thực hiện cổ phần hóa Công ty Đầu tư phát triển điện lực và Hạ tầng (PIDI); Công ty NetNam, Công ty Phát triển Công nghệ (Imtech) thực hiện cổ phần hóa trong năm 2008; các Công ty Đầu tư phát triển công trình du lịch (Detourpro), Công ty Phát triển công nghệ sinh học (Dona-Techno) cổ phần hóa trong năm 2009.

Một số công ty thuộc Viện KHCNVN được giao cho tập thể người lao động như: Công ty Vật liệu và Công nghệ (Matech), Công ty Sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu khoa học và kỹ thuật (Scitechimex) trong năm 2007; Công ty Công nghệ mới (Cotec), Công ty Điện tử (Eleco), Công ty Hóa sinh và Phát triển Công nghệ mới (Vihitesco) trong năm 2008; Công ty Ứng dụng khoa học công nghệ và Chuyển giao công nghệ mới, Công ty Giám định và Chuyển giao công nghệ (ICT) và Công ty Xây dựng và Triển khai công nghệ mới trong năm 2009.

Tổng Công ty Ứng dụng công nghệ và Du lịch (Newtatco) và hai công ty thành viên trực thuộc (Công ty Phát triển công nghệ tin học và Cung ứng nhân lực, Công ty Du lịch và Thương mại) sẽ được tổ chức lại thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên Ứng dụng công nghệ và Du lịch.

Cũng trong năm 2008, làm thủ tục phá sản đối với Công ty Điện tử và Quang học-Elopi thuộc Viện KHCNVN.

Nguồn: Quyết định số 1624/QĐ-TTg và Quyết định số 1625/QĐ-TTg

6. Chuyển Công ty Vật tư nông nghiệp Yên Bái về Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 30/11, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý việc chuyển Công ty Vật tư nông nghiệp Yên Bái thuộc UBND tỉnh Yên Bái về làm thành viên của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (CNTTVN).

Phó Thủ tướng giao Hội đồng quản trị Tập đoàn CNTTVN thống nhất với UBND tỉnh Yên Bái và các cơ quan liên quan trong việc làm lành mạnh hóa tài chính của Công ty Vật tư nông nghiệp Yên Bái và tổ chức, sắp xếp, có kế hoạch cổ phần hóa Công ty này, đảm bảo hiệu quả việc tiếp nhận thành viên mới trong chiến lược phát triển chung của Tập đoàn.

Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái và Hội đồng quản trị Tập đoàn CNTTVN thực hiện việc giao, nhận Công ty này theo quy định hiện hành.

Nguồn: Công văn số 6969/VPCP-ĐMDN

7. Tổng công ty Xi măng Việt Nam đổi tên thành Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 6/12, Thủ tướng Chính phủ đã điều chỉnh một số nội dung của các Quyết định số 196/2006/QĐ-TTg ngày 29/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án chuyển Tổng công ty Xi măng Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con và Quyết định số 197/2006/QĐ-TTg ngày 29/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ-Tổng công ty Xi măng Việt Nam.

Theo đó, đổi tên gọi Tổng công ty Xi măng Việt Nam thành Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM), có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội.

Công ty mẹ-Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu, biểu tượng, Điều lệ tổ chức và hoạt động; có chức năng sản xuất, kinh doanh, đầu tư tài chính vào doanh nghiệp khác; giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, công nghệ, thương hiệu, thị trường; trực tiếp quản lý các nguồn tài chính và cung ứng các dịch vụ tư vấn, bí quyết sản xuất kinh doanh, đào tạo… cho các công ty con.

Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định bổ sung thêm ngành, nghề kinh doanh của Công ty mẹ-Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam như sau: Xây dựng, quản lý, khai thác cảng biển, cảng sông, đường bộ cao tốc, đường biển, đường sắt; đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và đô thị, kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà xưởng, kho tàng, nhà ở, văn phòng; sản xuất, kinh doanh điện; trồng rừng, khai thác và chế biến cao su; xuất khẩu lao động; điều trị bệnh nghề nghiệp và phục hồi chức năng; du lịch, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ công cộng khác.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý duy trì Công ty Xi măng Hoàng Thạch là công ty thành viên hạch toán độc lập và cổ phần hóa trong năm 2008; chuyển Công ty Tư vấn đầu tư phát triển xi măng thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên vào năm 2008.

Nguồn: Quyết định số 189/2007/QĐ-TTg

8. Hàng loạt công ty dệt may sẽ IPO

Trong 3 tháng qua, một loạt các doanh nghiệp dệt may đã tiến hành đấu giá cổ phiếu lần đầu (IPO) để cổ phần hóa.

Trong 2 tháng cuối năm và quý I/2008 sẽ có thêm khoảng hơn 20 doanh nghiệp ngành dệt may IPO. Cổ phiếu dệt may có phải đang là kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư?

Chỉ tính riêng 3 tháng qua đã có 4 doanh nghiệp thuộc ngành dệt may tiến hành IPO: Công ty Dệt gia dụng Phong Phú, Công ty Dệt vải Phong Phú, Tổng công ty May Việt Tiến và Tổng công ty Dệt – May Hà Nội. Sắp tới sẽ có Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Dệt Nam Định và Nhà máy Dệt Tân Tiến cũng tiến hành đấu giá trong tháng 11/2007.

Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 9 tháng đầu năm 2007 của cả nước tăng trưởng mạnh đạt 5,8 tỉ USD, dự kiến cả năm 2007 sẽ đạt 7,5 tỉ USD. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, ngành dệt may Việt Nam có nhiều cơ hội như: Không bị áp dụng chế độ hạn ngạch vào thị trường Mỹ, vì vậy tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp muốn phát triển hàng dệt may vào thị trường này.

Sự cạnh tranh trên thương trường dệt may sẽ phức tạp hơn nhưng sòng phẳng hơn và các sản phẩm dệt may Việt Nam trong tương lai sẽ thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nhiều thách thức lớn trong thời gian tới như: ngành dệt may sử dụng một số nguyên phụ liệu chủ yếu như bông xơ… dựa vào nguồn nhập khẩu là chính, trong khi sản xuất trong nước về bông, xơ không đáp ứng được nhu cầu (bông chỉ đáp ứng được khoảng 5%, xơ tổng hợp khoảng 30%), cho nên các doanh nghiệp vẫn phải phụ thuộc lớn vào nhập khẩu để đảm bảo sản xuất.

Theo đánh giá của chuyên gia, hiện các doanh nghiệp sản xuất dệt – nhuộm chưa có hiệu quả, đặc biệt là chưa làm chủ được kỹ thuật, làm chất lượng vải không ổn định. Vì vậy, chưa được khách hàng tiêu thụ sản phẩm may đánh giá để có thể trở thành nhà cung cấp vải cho các doanh nghiệp may gia công trong nước chứ chưa nói đến việc gia tăng xuất khẩu vải.

Hiện vải dệt kim trong nước mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu, vải dệt thoi khoảng 30%. Cũng chính vì thế mà khách hàng Mỹ thường chỉ định nhà cung cấp vải từ các nơi (như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan…) để cung cấp cho các doanh nghiệp may Việt Nam.

Hơn nữa, từ ngày 1/6/2007, Chính phủ Mỹ bắt đầu áp dụng những biện pháp kiểm soát chặt chẽ hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu. Điều này làm cho hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ gặp rất nhiều khó khăn.

Chính phủ Mỹ áp dụng chương trình giám sát đặc biệt, tự khởi xướng điều tra chống bán phá giá hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ gây ra tâm lý lo ngại, dè dặt cho khách hàng khi đặt hàng tại Việt Nam ngay từ đầu năm 2007. Giá đầu vào cao, chất lượng hàng dệt biến động, chính sách của Chính phủ Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam… sẽ ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và sự phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

Tại thị trường trong nước, theo cam kết khi gia nhập WTO, các hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về xuất khẩu, hỗ trợ vay với lãi suất thấp đối với ngành dệt may sẽ không còn. Sức ép cạnh tranh về giá cả, chất lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng gay gắt, làm tăng chi phí sản xuất đầu vào.

Chưa hết, ngành dệt – may phải cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa với hàng hoá của các nước có nhiều lợi thế hơn Việt Nam về lao động, nguyên vật liệu, thiết kế và thương hiệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh…

Như vậy, có thể nhận định, các doanh nghiệp dệt may trong nước đứng trước nguy cơ lớn, muốn tiếp tục tồn tại bắt buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong ngành nhằm tạo các lợi thế mới trong kinh doanh.

Nguồn: VnEconomy

9. Thành lập Công ty Tài chính cổ phần VINACONEX

(Website Chính phủ)- Ngày 30/11, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý việc Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam VINACONEX góp vốn thành lập Công ty Tài chính cổ phần VINACONEX theo quy định Luật Doanh nghiệp, pháp luật chuyên ngành về Tài chính, tín dụng.

Theo đó, Tổng công ty cổ phần VINACONEX được tham gia tối đa 40% vốn Điều lệ.

Thủ tướng giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, cấp phép thành lập và hoạt động cho Công ty Tài chính cổ phần VINACONEX theo quy định của luật pháp hiện hành.

Nguồn: Công văn 1877/TTg-ĐMDN

CÔNG CỤ PHÁI SINH: CƠ HỘI VÀ RỦI RO

Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch phái sinh trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

Trong khuôn khổ một hội thảo do Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) và Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) phối hợp tổ chức mới đây, các chuyên gia ngành ngân hàng, tài chính đã cùng nhau chia sẻ thực trạng và tìm giải pháp phát triển thị trường phái sinh.

Vậy, công cụ phái sinh là gì? Công cụ này sẽ đem lại lợi ích gì cho ngân hàng cũng như doanh nghiệp?

Nói nôm na, công cụ phái sinh chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận của các giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên. Công cụ phái sinh gồm các công cụ giao dịch kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swaps), quyền chọn (Options) và tương lai (Futures).

Chia sẻ những lợi ích mà ngân hàng thương mại thu được khi thực hiện công cụ phái sinh, Ths. Nguyễn Quang Minh (Vietcombank) cho biết: Thực ra, mục đích của ngân hàng thương mại khi tham gia công cụ phái sinh là để bảo hiểm rủi ro giao dịch tài chính cho cả ngân hàng và khách hàng. Trong quá trình hoạt động, nếu có sinh lời thì bản chất vẫn là phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không hẳn là kiếm lời!

Vậy, doanh nghiệp sẽ được lợi gì? Ông Nguyễn Đại Lai, Phó Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng cho biết: xét tổng thể qua hàng năm, chỉ riêng doanh nghiệp nước ngoài khi đưa vốn ngoại tệ vào Việt Nam đầu tư, sau khi thu lợi nhuận và chuyển tiền về nước, nếu sử dụng công cụ phái sinh, họ sẽ tránh được thiệt hại khi có rủi ro về tỷ giá.

Tiếp đó là các dự án đầu tư với số vốn lớn. Các dự án này đều vay hay mua chịu một lượng lớn hàng hóa nước ngoài bằng USD, nếu sử dụng hoán đổi lãi suất (Swaps) thì có thể tránh được thiệt hại không nhỏ với những biến động khó lường của thị trường tiền tệ. Thế nhưng, chủ các dự án này gần như chưa bao giờ sử dụng công cụ phái sinh.

Ngay cả như quỹ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước, tương đương với lượng ngoại tệ của vài chục tuần nhập khẩu cũng đang tồn tại như một thứ “quỹ chết trong ao tù”, mặc dù lượng dự trữ tăng lên và đồng USD đang yếu đi từng ngày. Giá như có một cơ chế rõ ràng, cho phép sử dụng quỹ này thích ứng với các công cụ phái sinh thì đồng vốn sẽ được sinh lời thay vì nằm im trong két sắt.

Mặc dù hữu ích là vậy nhưng công cụ phái sinh hiện phát triển khá khiêm tốn ở chi nhánh ngân hàng Citibank, Standard Chartered, BIDV, Vietcombank, HSBC với doanh số chưa đáng kể so với doanh số nghiệp vụ truyền thống. Ngay cả với HSBC, mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã 6 năm với hơn 1.000 khách hàng, nhưng sau 2 năm triển khai dịch vụ, mới chỉ có vài doanh nghiệp sử dụng dịch vụ này.

Vì sao như vậy? Ông Nguyễn Đại Lai đưa ra một ví dụ: một doanh nghiệp biết rõ sẽ gặp rủi ro lãi suất khi đang vay tiền với lãi suất thả nổi, trong điều kiện lãi suất giao ngay đang tăng mạnh và biết rõ, nếu sử dụng Swaps để chuyển sang lãi suất cố định, doanh nghiệp sẽ giảm thiệt hại rủi ro nhưng chủ doanh nghiệp đã không dám hành động. Và thực tế này không chỉ xảy ra tại các doanh nghiệp mà còn hiện hữu ngay trong các ngân hàng thương mại, là nơi cung cấp dịch vụ. Vì vậy, không ít cán bộ ngân hàng thương mại nhiều khi vừa ký một hợp đồng bảo hiểm phái sinh vừa…run.

Một nhân tố khác cản trở đến sự phát triển của công cụ phái sinh là môi trường chính sách mà đầu tiên là việc tính thuế, chẳng hạn như quy định về mức thuế đánh trên lãi thu được từ việc thực hiện nghiệp vụ hoán đổi. Nhiều ý kiến bày tỏ, quy định này vừa kìm hãm vừa khó thực hiện vì lãi suất thả nổi biến động hàng ngày. Hơn nữa, công cụ phái sinh mang bản chất phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không phải vì mục đích kiếm lời.

Tiếp đó là vấn đề hạch toán kế toán. Ths. Trịnh Quỳnh Thành (BIDV) phân trần: “Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/ lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm”.

Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, không chỉ xét từ góc độ từ các ngân hàng thương mại hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của ngân hàng thương mại trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.

Theo TBKTVN ngày 08/11/2007

LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: HỘI KHOA HỌC KINH TẾ VIỆT NAM "LÊN TIẾNG"

Những ý kiến đóng góp của Hội để Luật Thuế thu nhập cá nhân phù hợp hơn với điều kiện cụ thể trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay.

Mọi người đều nhất trí về sự cần thiết ban hành trong giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước hiện nay (1/1/2009) thay thế các thuế hiện hành về đánh thuế thu nhập cá nhân là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế thu nhập doanh nghiệp (phần cá nhân nộp thuế), thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Ban hành luật mới về thuế thu nhập cá nhân còn có tác dụng sửa lại những điều chưa hợp lý, chưa nhất quán với tính cách là thuế đánh vào thu nhập cá nhân tồn tại trong 3 luật thuế này. Đồng thời đưa sắc thuế mới lên tầm bao quát và nhất quán trong việc đánh thuế vào các loại thu nhập cá nhân trong điều kiện nước ta hiện nay, tạo ra mặt bằng mới, thực hiện công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng có thu nhập cá nhân ở mức độ và loại thu nhập chịu thuế.

Điều này sẽ góp phần tăng cường công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Hơn nữa, số người dân có thu nhập cao ngày càng tăng lên, nhất là số người nước ngoài đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam ngày càng nhiều, cần phải đánh thuế thu nhập cá nhân để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Trên thế giới hơn 100 nước trong đó có nước phát triển, đang phát triển và kém phát triển đã áp dụng sắc thuế thu nhập cá nhân, trong khi ở nước ta tổng thu Ngân sách Nhà nước hàng năm có đến 97% là nguồn từ thuế thì việc ban hành luật này ở thời điểm đầu năm 2009 là thoả đáng, góp phần tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước, giảm bớt bội chi ngân sách, huy động nguồn thu nhập (thực chất là trung bình trở lên) là thoả đáng.

Điều này củng cố tính vững chắc cho nguồn thu ngân sách cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế trong những năm qua và triển vọng những năm tới. Hiện nay, thuế đánh vào thu nhập cá nhân qua 3 sắc thuế nói trên chỉ đóng góp được 4,1% tổng thu Ngân sách Nhà nước trong khi tỷ lệ đó ở một số nước Asean (Thái Lan, Philippines, Malaysia…) khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13 – 14%, các nước phát triển (Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức…) khoảng 30 – 40% tổng thu nhập ngân sách quốc gia.

Việc xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân ở nước ta cần quán triệt những quan điểm của Đại hội IX và X của Đảng.

Sau đây là một số vấn đề đề nghị Quốc hội xem xét để luật này phù hợp hơn với điều kiện cụ thể trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay:

1. Đối với các điều quy định về đối tượng- thu nhập chịu thuế. Hiện nay và một số năm nữa chưa thể giữ tỷ lệ lạm phát ở mức phổ biến trong các nền kinh tế, ngay trong các nước ASEAN, các nước phát triển (1- 5% hàng năm) thì cần tính đến khả năng thực tế giá còn trượt hàng năm. Do đó, nên sửa chữa quy định trong dự thảo luật các đại lượng liên quan đến “gia cảnh”.

Dự luật quy định 4 triệu cho bản thân người có thu nhập chịu thuế, 1,6 triệu cho một suất người phụ thuộc là tính cho thời điểm 1/1/2009 tức là so với hiện nay (khi thông qua luật) chưa tính đến trượt giá năm 2007 – 2008 (chỉ 2 năm này cộng lại đã tới 15 – 20%). Vì vậy, các đại lượng này khi thực hiện đã “lạc hậu” so với thời giá của thu nhập và chỉ tiêu của người đóng thuế rồi.

Do đó, đề nghị xem xét việc công bố các đại lượng này nên tính theo giá so sánh nghĩa là khi giá tăng, thu nhập tăng nhưng chi tiêu cho khoảng “khấu trừ gia cảnh” cũng tăng. Có thể tính đến phương án quy định theo số lần của lương tối thiểu trong từng thời kỳ nhất định. Số tuyệt đối theo đó mà nhân lên.

Lương tối thiểu hiện nay và trong các năm tới (8-10 năm) theo dự kiến của các cơ quan hoạch định chính sách còn phải tăng hàng năm với mức độ đáng kể (tuỳ theo khả năng của ngân sách, thu nhập của các loại hình kinh doanh và nhu cầu tối thiểu của người lao động), trong đó do yêu cầu trượt giá hàng năm để bảo đảm thu nhập thực tế cho người lao động, chí ít không bị giảm đi theo tỷ lệ trượt giá.

Mức giảm trừ gia cảnh bản thân là 4 triệu đồng và cho một người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng (điều 19) cũng chưa có căn cứ xác đáng. Bởi giá trượt hàng năm 7-8%; giá hàng tiêu dùng thiết yếu thường còn tăng cao hơn; mức thu nhập bình quân của dân cư ở thành thị và nông thôn, của các tầng lớp dân cư ở trong một vùng nhất định (nông thôn, thành thị) cũng khác nhau rất nhiều. Do đó, cần xem lại các mức khấu trừ này.

Đề nghị, tham khảo dự luật và lương tối thiểu đã công bố cho 2008, có thể xem xét công bố khoản giảm trừ gia cảnh bản thân là 8-10 mức lương tối thiểu và mức khấu trừ cho 1 người phụ thuộc là 3-5 lần lương tối thiểu. Khi tăng mức lương tối thiểu thì mức khấu trừ gia cảnh bản thân và người phụ thuộc cũng tăng theo. Hoặc, cũng có ý kiến là nếu tỷ lệ trượt giá trên 5% thì Nhà nước phải điều chỉnh tăng các mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp.

2. Thuế suất của 7 bậc thuế (điều 21) nên thiết kế lại theo nguyên tắc người có thu nhập (chịu thuế) thấp thì có thuế suất thấp hơn người có thu nhập (chịu thuế) cao, bảo đảm mức biến luỹ tiến từng phần nhưng giãn cánh các nhóm bậc không cần phải như nhau (dự luật áp dụng 5% cách bậc cho cả 7 bậc).

Ví dụ: Bậc 1 (khởi điểm) 5% – đề nghị giữ nguyên (5%). Bậc 2 dự luật 10% – đề nghị 8%. Bậc 3 dự luật 15% – đề nghị 12%. Bậc 4 dự luật 20% – đề nghị 17%. Bậc 5 dự luật 25% – đề nghị 23%. Bậc 6 dự luật 30% – đề nghị 29%. Bậc 7 dự luật 35% – đề nghị 35% (Mức khởi điểm và mức cao nhất đồng ý với dự thảo luật).

Điểm sửa đổi này phù hợp với mức thu nhập bình quân (số đông) ở nước ta hiện nay thể hiện tính “khoan sức dân” của luật thuế và sẽ được đại bộ phận người có thu nhập chịu thuế đồng tình. Giãn cách như vậy (đề nghị) nên giữ ít nhất 5 năm khi mức thu nhập bình quân (GDP) 1.500 USD/người có thể xem xét rút bớt chênh lệch giữa các bậc nhưng vẫn bảo đảm chức năng điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội của chính sách thuế này.

3. Nội dung các loại thu nhập chịu thuế suất toàn phần (điều 22). Thu nhập chịu thuế suất toàn phần: đồng ý 6 loại đã nêu trong dự luật. Nhưng cần đánh thuế thu nhập từ kiếu hối theo thuế suất luỹ tiến từng phần, khoản kiều hối càng lớn thuế suất càng cao. Khoản kiều hối do người xuất khẩu lao động có tổ chức thì miễn thu thuế thu nhập cá nhân. Đây là khoản thu ngân sách lớn hàng năm tăng khá nhanh. áp dụng chính sách thu thuế kiều hối còn giúp Nhà nước có thể kiểm soát được nguồn vào tốt hơn.

4. Khoản thu nhập lãi từ tiền gửi tiết kiệm không nên đánh thuế thu nhập cá nhân, vì gười gửi tiết kiệm phần lớn là không có khả năng đầu tư vốn để kinh doanh, tiền lãi này chủ yếu là để bảo toàn vốn trong điều kiện trượt giá còn là bất khả kháng hiện nay và nguyên tắc lãi suất dương ngân hàng đang áp dụng là bảo toàn giá trị đồng tiền gửi tiết kiệm, lợi nhuận không đáng kể.

Tiếp theo là tiền gửi tiết kiệm đưa ngân hàng thương mại, các quỹ tiết kiệm khách hàng kinh doanh đã đóng thuế thu nhập kinh doanh (tiền tệ) của các ngân hàng thương mại.

5. Không nên miễn trừ thuế đối với thu nhập từ lãi tức cổ phần của những người được ưu đãi khi cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Bởi khi mua cổ phần những người này đã được hưởng chính sách ưu đãi rồi.

6. Các biện pháp đưa Luật Thuế thu nhập cá nhân vào cuộc sống. Cần cụ thể hoá các quy định trong luật với nguyên tắc là luật đã cụ thể để ít phải ban hành quá nhiều Nghị định. Trong dự luật này còn quá nhiều vấn đề giao cho Chính phủ quy định. Một khi các cơ quan chính quyền phải giải thích nhiều, dễ dẫn tới áp dụng một cách tuỳ tiện, phát sinh lộn xộn, cũng là những nguyên nhân gân khiếu kiện của dân.

Tổ chức tuyên truyền phổ biến rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các trường học, các cơ quan, các đoàn thể, tổ chức xã hội…, vì luật này có phạm vi điều chỉnh rất rộng (rộng nhất trong tất cả các sắc thuế đã ban hành ở nước ta cho đến nay).

Phải làm tốt các khâu chuẩn bị (ban hành đầy đủ và cụ thể các văn bản cần thiết phải hướng dẫn thi hành luật, tổ chức tuyên truyền phổ biến trong nhân dana, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên trong ngành thuế…).

Theo TBKTVN ngày 10/11/2007

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI & PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

(Tài liệu họp báo thường kỳ của Chính phủ tại TP.HCM ngày 14.9.2000)

I. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Mục tiêu tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm làm cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, chi phối được những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, bảo đảm được các lĩnh vực công ích thiết yếu của xã hội, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; làm nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và xây dựng công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp sản xuất công nghêï cao, công nghiệp quốc phòng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh để cùng với các yếu tố khác của kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ trong 5 năm (2001 – 2005) phải hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, cơ cấu lại và đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hiện có, giải quyết cơ bản nợ tồn đọng không có khả năng thanh toán và số lao động dôi dư; bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách, hình thành khung pháp lý đồng bộ, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng trong cơ chế thị trường làm cho mọi thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệïp nhà nước phát huy được đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu tách nhiệm và tạo được động lực mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh; kiện toàn và nâng cao hiệu quả của các tổng công ty nhà nước; đổi mới công nghệ và quản lý theo hướng tiên tiến đối với đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước; thực hiện xong cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; hoàn thành việc sáp nhập, khoán, cho thuê và giao, bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhỏ, thua lỗ kéo dài mà nhà nước không cần nắm giữ; thành lập mới doanh nghiêïp nhà nước ở những lĩnh vực cần thiết và có đủ các điều kiện.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1. Định hướng phát triển và phân định loại doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh

1.1. Cần thống nhất về vai trò chi phối của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Vai trò này không thể hiệïn ở số lượng nhiều, tỷ trọng lớn của doanh nghiệp nhà nước trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, mà chủ yếu là ở hiệu quả và sức cạnh tranh cao để chi phối những lĩnh vực then chốt; khống chế, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế theo những định hướng của nhà nước.

1.2. Doanh nghiệp nhà nứớc hoạt động công ích với hình thức nhà nước sở hữu 100% vốn, nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt trong các lĩnh vực công ích thiết yếu. Doanh nghiệp nhà nước công ích hoạt động không chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, lấy kết quả thực hiện chính sách xã hội và nhiệm vụ được giao để đánh giá hiệu quả. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ mà nhà nước quyết định quy mô tổ chức của doanh nghiệp.

Những lĩnh vực công ích phục vụ đời sống mà nhân dân và các thành phần kinh tế khác làm được, làm có hiệu quả thì khuyến khích họ làm, trường hợp nào thấy cần thì nhà nước có thể tham gia cổ phần ở mức thấp. Nhà nước có chính sách ưu đãi chung đối với các sản phẩm và dịch vụ công ích, không phân biệt thành phần kinh tế.

1.3. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước, nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt được kiện toàn và phát triển ở các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Việc phát triển sản xuất kinh doanh có vốn của nhà nước, nói chung, nên hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu, với nhiều hình thức kinh doanh đa dạng như: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là nhà nước (100% vốn nhà nước), công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty cổ phần mà nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hoặc cổ phần ở mức thấp…đối với những lĩnh vực, những ngành, những sản phẩm và dịch vụ then chốt của nền kinh tế và quốc phòng, an ninh mà không thể để các thành phần kinh tế khác tham gia hoặc họ không thể làm được thì mới tổ chức doanh nghiệp nhà nước 100% vốn. Khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển mạnh mẽ sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề, các sản phẩm mà pháp luật không cấm.

Để doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có hiệu quả và có sức cạnh tranh, đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải có quy mô vừa và lớn, có công nghê tiên tiến.

1.4. Việc cơ cấu lại và thành lập mới doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh phải được xem xét chặt chẽ theo hướng nêu trên.

2. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước

2.1. Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích

Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích theo hướng chuyển dần từ cơ chế quản lý doanh nghiệp hoạt động công ích sang cơ chế quản lý sản phẩm và dịch vụ công ích; chuyển từ cơ chế cấp vốn sang cơ chế đấu thầu thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích. Những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh làm các sản phẩm, dịch vụ công ích sẽ được hưởng mọi ưu đãi dành cho sản phẩm và dịch vụ công ích theo quy định chung.

Nhà nước cấp đủ vốn cho các doanh nghiệp đang hoạt động để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động ổn định, thực hiện được nhiệm vụ công ích nhà nước giao. Đối với doanh nghiệp thành lập mới, nhất thiết phải theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, ngành và địa phương và phải do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được cấp đủ vốn điều lệ.

Hàng năm, trên cơ sở chỉ tiêu lao động và quỹ tiền lương được duyệt, doanh nghiệp xây dựng và thực hiện quy chế trả lương cho người lao động gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn những người có đủ phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn để bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng. Giám đốc có quyền và trách nhiệm bố trí các chức danh quản lý khác trên cơ sở quy định của nhà nước đảm bảo để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nếu sau 1 năm, doanh nghiệp không hoàn thành nhiệm vụ công ích được giao, thì giám đốc phải báo cáo, giải trình nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Nếu doanh nghiệp tiếp tục không hoàn thành nhiệm vụ công ích được giao 2 năm liền thì giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng sẽ bị miễn nhiệm.

Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm doanh nghiệp hoạt động công ích thực hiện đúng mục tiêu thành lập, đối tượng phục vụ và phạm vi hoạt động.

2.2. Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh

Xóa bỏ bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh. Nhà nước có chính sách ưu đãi chung đối với ngành, vùng và các sản phẩm cần ưu tiên khuyến khích, không phân biệt các thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong khung khổ một pháp luật chung. Có quy định kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước độc quyền và lợi nhuận do độc quyền đem lại. Doanh nghiệp nhà nước kinh doanh được nhà nước giao sản xuất những sản phẩm và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế xã hội thì nhà nước có quy định chính sách cụ thể.

Chuyển tất cả các doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn một sáng lập viên hoặc công ty cổ phần gồm các cổ đông là doanh nghiệp nhà nước.

Trên cơ sở cơ chế chính sách hiện hành, cần sửa đổi, bổ sung một số điểm cụ thể sau:

– Về vốn: đối với doanh nghiệp đang hoạt động, nhà nước có cơ chế để trong 5 năm tạo đủ vốn điều lệ cho doanh nghiệp. Đối với những tài sản do doanh nghiệp đầu tư hoàn toàn bằng vốn vay, sau khi đã trả hết nợ bằng nguồn khấu hao cơ bản và lợi nhuận do chính tài sản đó làm ra, thì người lao động trong doanh nghiệp được hưởng 50% giá trị của tài sản và lợi nhuận do phần tài sản đó tạo ra. Doanh nghiệp chủ động xây dựng cơ chế phân phối lợi ích này một cách hợp lý theo hướng khuyến khích tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh.

Nhà nước thực hiện phương thức đầu tư và quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước.

– Về đầu tư: trên cơ sở quy hoạch phát triển được cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt trong từng kế hoạch 5 năm, nhà nước giao quyền cho các doanh nghiệp nhà nước quyết định đầu tư dự án nhóm C, chủ đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của dự án và tuân thủ các quy định của luật pháp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

– Về lao động, tiền lương: doanh nghiệp quyết định việc tuyển chọn lao động, bố trí việc làm căn cứ vào yêu cầu sản xuất kinh doanh. Được trích lập quỹ giải quyết việc làm, được quyết định cho người lao động thôi việc và chịu trách nhiệm giải quyết chính sách theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở chính sách chung của nhà nước, doanh nghiệp được chủ động áp dụng hình thức trả lương và mức lương cho người lao động một cách hợp lý, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh.

– Về cán bộ quản lý doanh nghiệp: nhà nước quy định tiêu chuẩn và quy trình để doanh nghiệp chủ động lựa chọn và bố trí cán bộ quản lý của mình theo hướng chủ yếu là thi tuyển. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước có cơ chế khuyến khích vật chất, tinh thần, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý doanh nghiệp. Cán bộ đang quản lý doanh nghiệp có hiệu quả, thì không nhất thiết nghỉ hưu theo quy định. Nếu doanh nghiệp thua lỗ 1 năm, thì giám đốc phải báo cáo, giải trình nguyên nhân và đưa ra phương án khắc phục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Nếu doanh nghiệp tiếp tục thua lỗ 2 năm liền do chủ quan thì giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng sẽ bị miễn nhiệm và phải chịu trách nhiệm về vật chất, về pháp luật nếu như có quyết định sai trái.

– Về kiểm tra, kiểm soát: cần sửa đổi bổ sung theo hướng hàng năm doanh nghiệp phải được kiểm toán, kết quả kiểm toán là căn cứ pháp lý về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cơ quan kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán của mình; cơ quan công an, kiểm sát, thanh tra nhà nước không đi vào kiểm tra hành chính và hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, trừ khi doanh nghiệp đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật; các cơ quan tiến hành thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quản thanh tra, kiểm tra của mình.

3. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước

3.1. Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với tổng công ty nhà nước

Ngoài việc thực hiện cơ chế chính sách chung đối với doanh nghiệp nhà nước, riêng đối với tổng công ty nhà nước, cần sửa đổi, bổ sung một số điểm như sau:

– Về tổ chức cán bộ:

+ Tổng công ty nhà nước cần thiết phải có hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là cơ quan của nhà nước đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại tổng công ty, chịu trách nhiệm về việc bảo toàn và phát triển vốn và tài sản nhà nước giao cho tổng công ty.

Chủ tịch hội đồng quản trị thay mặt hội đồng quản trị ký nhận vốn nhà nước giao cho tổng công ty.

+ Tổng giám đốc là thành viên hội đồng quản trị; là đại diện pháp nhân của tổng công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị, trước người ra quyết định bổ nhiệm và trước pháp luật về điều hành hoạt động của tổng công ty. Tổng giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong tổng công ty.

– Về cơ chế hoạt động của tổng công ty, cần tiến hành sửa đổi bổ sung luật doanh nghiệp nhà nước, điều lệ mẫu của tổng công ty nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 39/CP ngày 27.6.1995 của Chính phủ. Trong khi chờ sửa đổi, đề nghị cho phép thực hiện thí điểm những quy định đã nêu trên.

3.2. Đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn tổng công ty nhà nước và thành lập tập đoàn kinh tế

– Tổng công ty nhà nước được kiện toàn và phát triển với mục tiêu tập trung nguồn lực của nhà nước vào những ngành, lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế; làm lực lượng chủ lực trong việc đảm bảo các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô; cung ứng những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu, đóng góp lớn cho ngân sách; làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

– Tổng công ty nhà nước phải có quy mô vốn đủ lớn; có thể huy động từ nhiều nguồn, nhưng trong đó vốn nhà nước phải là chủ yếu với mức tối thiểu là 500 tỷ đồng (tương đương 40 triệu USD); có đủ số lượng thành viên cần thiết, thực hiện kinh doanh đa ngành trên cơ sở một ngành chính; có công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến, có năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

– Căn cứ vào những yêu cầu trên, khẩn trương sắp xếp các tổng công ty nhà nước theo hướng: ngành nào, lĩnh vực nào cần có tổng công ty nhà nước thì nhà nước tạâp trung sức kiện toàn và phát triển; những tổng công ty nào hoạt động trong các ngành không cần có tổng công ty nhà nước và không hội đủ các điều kiện về quy mô vốn, trình độ công nghệ, quản lý, sản phẩm không có khả năng cạnh tranh và không có khả năng phát triển thì sáp nhập vào các tổng công ty khác cùng ngành nghề kinh doanh hoặc giải thể sau khi đã sắp xếp các đơn vị thành viên. Phấn đấu trong 3 năm tới hoàn thành việc sắp xếp các tổng công ty hiện có.

– Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Tổng công ty (công ty mẹ) quản lý và điều hành các doanh nghiệp thành viên (công ty con) chủ yếu bằng cơ chế tài chính theo hướng tạo mối liên kết bền vững về vốn, về đầu tư đổi mới công nghệ và sản phẩm, để vừa phát huy tính độc lập của các doanh nghiệp thành viên vừa tăng cường được sức mạnh tổng hợp của cả tổng công ty.

– Thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế mà ta có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực, hàng hải…tập đoàn kinh tế phải có quy mô rất lớn về vốn (tối thiểu 10.000 tỷ đồng), hoạt động xuyên quốc gia, có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh; kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân.

4. Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần giữa 100% vốn

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ tư (khoá VIII), cơ quan đại diện chủ sở hữu căn cứ vào lĩnh vực, mặt hàng đang sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà xác định mức độ cổ phần hóa cụ thể theo các loại hình: doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối, doanh nghiệp nhà nước có cổ phần đặc biệt và doanh nghiệp mà nhà nước chỉ giữ tỷ lệ cổ phần ở mức thấp. Sửa đổi, bổ sung cơ chế ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp để tạo động lực sản xuất kinh doanh và gắn bó người lao động với doanh nghiệp, đồng thời dành một tỷ lệ thích hợp bán ra ngoài doanh nghiệp để thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý của các cổ đông ngoài doanh nghiệp. Không hạn chế mức mua cổ phần lần đầu của nhà đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài mua không quá 30% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.

Có quy định thích hợp để khắc phục tình trạng chênh lệch về cổ phần ưu đãi cho người lao động giữa các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; sửa đổi cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp theo cơ chế thị trường để không làm thất thoát tài sản nhà nước, nhưng không gây chậm trễ, phiền hà, tiêu cực. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp cổ phần hóa sử dụng nhiều lao động và quy định cho phép để chủ nợ chuyển vốn vay thành vốn góp cổ phần. Số tiền thu được từ bán cổ phần dành để đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước.

Các đơn vị thành viên của tổng công ty nhà nước sau cổ phần hóa nếu nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, thì vẫn là thành viên của tổng công ty.

Về hình thức doanh nghiệp cổ phần hóa, cần căn cứ vào điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp và yêu cầu trong sản xuất kinh doanh mà lựa chọn các hình thức: giữ nguyên doanh nghiệp phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; bán một phần giá trị hiện có của doanh nghiệâp cho các cổ đông; tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hóa; nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước đầu tư một phần vốn để lập doanh nghiệp cổ phần mới.

5. Khẩn trương sáp nhập, khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhà nước quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài không cổ phần hóa được và nhà nước không cần nắm giữ để sử dụng có hiệu quả tài sản của nhà nước, đảm bảo việc làm và thu nhập của người lao động

Đối với doanh nghiệp nhà nước có số vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng, làm ăn thua lỗ, nhà nước không cần nắm giữ và cũng không cổ phần hóa được, tùy thực tế của từng doanh nghiệp mà cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu quyết định một trong các hình thức như sáp nhập, khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản.

Các bộ, ngành chức năng, các cơ quan nhà nước ở địa phương cần hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết tốt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện phương án nói trên đối với từng doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ, xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp, bảo đảm việc làm ở các doanh nghiệp sáp nhập, giao, khoán kinh doanh, cho thuê và quyền lợi hợp pháp của người lao động ở các doanh nghiệp giải thể, phá sản. Số tiền thu được qua thực hiện phương án nói trên phải nộp vào ngân sách.

Sửa đổi, bổ sung Luật phá sản doanh nghiệp theo hưởng người quyết định thành lập doanh nghiệp có quyền đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

6. Bổ sung chính sách đối với lao động trong sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

– Các doanh nghiệp nhà nước phải tiến hành rà soát định mức, định biên lao động để xác định số lượng lao động hợp lý.Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về hợp đồng lao đồng. Doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tuyển dụng lao động và thực hiện các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Sửa đổi, bổ sung chính sách về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội phù hợp đối với người lao động tại doanh nghiệp.

– Khi thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, cần hết sức chú ý phương án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để có thể duy trì tối đa và thu hút thêm người lao động vào làm việc ở doanh nghiệp. Trong trường hợp cần đào tạo lại mà doanh nghiệâp thiếu kinh phí, thì nhà nước trợ giúp một phần. Trường hợp người lao động tự nguyện thôi việc thì giải quyết theo chế độ hiện hành và sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để bổ sung. Khẩn trương thành lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Kết hợp việc giải quyết lao động dôi dư với thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động trong đó có lao động dôi dư.

– Sửa đổi, bổ sung chính sách về bảo hiểm xã hội và an ninh xã hội phù hợp đối với người lao động tại doanh nghiệp; nhà nước, doanh nghiệp và người lao động đều có trách nhiệm tham gia giải quyết:

Nguồn kinh phí để giải quyết chính sách cho số lao động dôi dư và không có việc làm, thì ngoài quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, còn được hỗ trợ thêm từ ngân sách và các nguồn tài chính vay ưu đãi của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế. Dự tính tổng số tiền dành cho việc giải quyết lao động thôi việc, mất việc, dôi dư vào khoảng 5.000 tỷ đồng.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật lao động theo hướng cho phép áp dụng chế độ mất việc đối với số lao động dôi dư tại thời điểm cho thuê, khoán kinh doanh và bán doanh nghiệp nhà nước. Trong khi chờ sửa đổi luật, cho thực hiện chính sách nói trên.

7. Xử lý nợ không thanh toán được của các doanh nghiệp nhà nước

Làm rõ trách nhiệm của hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp nhà nước về các khoản nợ không có khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Sửa đổi cơ chế hạch toán để doanh nghiẹâp tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ đã quá hạn từ 5 năm thì phải hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (các khoản lỗ) nhưng doanh nghiệp vẫn phải theo dõi và đòi nợ, khi đòi được nợ thì lại hạch toán vào lãi của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục từ 2 năm trở lên thì được xem xét giảm vốn, khi đòi được nợ thì tăng vốn trở lại cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp không được đi vay các khoản ngắn hạn để đầu tư cho các dự án trung và dài hạn, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra giám sát và cùng chịu trách nhiệm nếu để xảy ra các trường hợp nói trên.

Đối với nợ ngân hàng, thì giao cho ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm tổng hợp và phối hợp với các ngành đề xuất các trường hợp xóa nợ, khoanh nợ, giãn nợ, tham gia vốn với doanh nghiệp. Tăng cường cơ chế giám sát của cơ quan ngân hàng, cơ quan tài chính về công nợ của doanh nghiệp nhà nước. Thông báo về khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế. Các ngân hàng thương mại quốc doanh phải thẩm định kỹ và tự chịu trách nhiệm trước khi cho các doanh nghiêïp vay vốn, chỉ cho vay đối với các khoản vay có khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nghiên cứu lại thời hạn cho vay đầu tư trung và dài hạn phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án.

Đối với các khoản nợ ngân sách (nợ thuế, tiền bán hàng theo nghị định thư và các khoản nợ khác) từ năm 1995 trở về trước, sớm kiểm tra và phân loại các khoản nợ để xử lý cụ thể cho từng doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ ngân sách mà doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản thì tăng vốn cho doanh nghiệp; nếu doanh nghiêïp bị thua lỗ kéo dài, không có khả năng thanh toán thì xem xét cho xóa nợ nhưng phải có quy chế chặt chẽ, không gây thất thoát cho ngân sách nhà nước.

Đối với các khoản nợ nước ngoài mà có bảo lãnh của các bộ, ngành, địa phương thì cơ quan bảo lãnh chủ trì đàm phán với các chủ nợ để giảm số nợ đến mức thấp nhất và bố trí ngân sách để trả nợ, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả ngân sách.

Ban hành cơ chế kiểm tra giám soát tình hình nợ của doanh nghiệp nhà nước gắn với hiệu quả đầu tư nhưng vẫn đảm bảo quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh nghiệp của doanh nghiệp.

Đối với các khoản nợ do lịch sử để lại từ lâu không có khả năng thu hồi, cần có cơ chế cho xóa nợ, nhưng phải làm rõ trách nhiêïm và xử lý nghiêm các hành vi sai trái.

8. Đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước

– Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý và ban hành chính sách, cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích; chỉ đạo xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong tổng thể quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ngành và địa phương; xây dựng quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho doanh nghiệp nhà nước; tổ chức kiển tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách, chế độ quy định của nhà nước tại doanh nghiệp.

Nhà nước tập trung chỉ đạo thúc đẩy phát triển đồng bộ các loại thị trường để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp nghiên cứu và ứng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh; tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm có chất lượng cao cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước.

Tiếp tục xóa bỏ chế độ cơ quan chủ quản và cấp hành chính chủ quản. Các cơ quan quản lý nhà nước phải căn cứ vào quy định của pháp luật và chức năng, nhiêïm vụ của mình mà ban hành đầy đủ, phù hợp hệ thống văn bản pháp quy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quản lý điều hành sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện quản lý sản xuất kinh doanh trên cơ sở quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do nhà nước giao để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp; chủ động tổ chức bộ máy quản lý và nhân lực phù hợp nhiệm vụ và yêu cầu phát triển. Người lãnh đạo doanh nghiêïp chịu trách nhiệm đầy đủ về mọi quyết định của mình trong sản xuất kinh doanh.

– Phân định quyền của cơ quan nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và trách nhiệm của người sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước.

+ Chủ sở hữu có quyền: quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển và định hướng kế hoạch kinh doanh trung hạn, dài hạn của doanh nghiệp; ban hành điều lệ mẫu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh quản lý chủ chốt; tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nhà nước giao và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Người sử dụng vốn nhà nước có trách nhiệm: sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước để thực hiện các mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ do nhà nước giao; thực hiện đúng chế độ và các quy định về quản lý vốn, tài sản, các quỹ, về hạch toán kế toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do nhà nước quy định; chịu trách nhiệm về tính trung thực và hợp pháp của hoạt động tài chính, các báo cáo tài chính.

– Cán bộ quản lý doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu mới về trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức là nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng doanh nghiệp hoạt động yếu kém, tiêu cực. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước hiện nay đòi hỏi phải có chương trình kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng với nội dung sát hợp cho từng đối tượng cụ thể.

Kiện toàn và nâng cao năng lực của các cơ sở bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp. Kết hợp bồi dưỡng đào tạo trong nước và nước ngoài. Kết hợp việc đào tạo bồi dưỡng qua trường lớp với khuyến khích dám nghĩ, dám hành động và trưởng thành qua hoạt động thực tiễn.

Có chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần cho những người có tay nghề cao, trình độ chuyên môn giỏi, đóng góp lớn để họ gắn bó lâu dài và cống hiến ngày càng nhiều cho doanh nghiệp.

9. Nâng cao vai trò của tổ chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước

Sự lãnh đạo của đảng đối với doanh nghiệp nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc. Thực tiễn cho thấy doanh nghiệp nhà nước nào có đảng bộ vững mạnh, chấp hành pháp luật, đảng viên gương mẫu, lãnh đạo doanh nghiệp và đảng ủy đoàn kéât, nhất trí, thì ở đó sản xuất kinh doanh phát triển.

Tổ chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước tạâp trung lãnh đạo việc quán triệt và chấp hành nghị định, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước; lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đúng luật pháp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp, phát huy dân chủ, tinh thần thi đua hoàn thành nhiệm vụ của người lao động; lãnh đạo đảm bảo việc bổ nhiệm cán bộ quản lý doanh nghiệp theo đúng tiêu chuẩn và quy trình; lãnh đạo xây dựng đạo đức, phẩm chất đội ngũ đảng viên và đấu tranh chống mọi hiện tượng tiêu cực, tham nhũng. Đảng viên trong doanh nghiệp phải gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, điều lệ, quy chế của doanh nghiệp và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tổ chức đảng tại doanh nghiệp nhà nước cần phải được kiện toàn phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý của doanh nghiệp trong điều kiện mới, đề nghị Bộ chính trị giao Ban tổ chức trung ương phối hợp với các cơ quan có liên quan sớm nghiên cứu để có mô hình tổ chức đảng phù hợp đối với từng loại hình doanh nghiệp ª

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHƯỢNG QUYỀN TẠI VN

NGUYỄN THANH HƯƠNG

Cùng với xu thế toàn cầu hóa, VN đã gia nhập APEC và tổ chức thương mại thế giới (WTO). Qua hội nhập, nhiều vấn đề kinh tế nẩy sinh, đòi hỏi phải nghiên cứu giải quyết, trong đó nhưng quyền thương hiệu (NQTH) là một hoạt động thương mại hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở VN. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến NQTH dưới góc độ nhìn nhận các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.

1. Nhượng quyền thương hiệu – sự cần thiết khách quan

NQTH là một phát triển tất yếu và là yêu cầu của kinh tế thị trường. Mô hình này đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Theo quan điểm của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế (The International Franchise Association): “Nhượng quyền kinh doanh là mối quan hệ được xác lập trên cơ sở hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền liên quan tới các khía cạnh như bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới thương hiệu, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”.

Sau hội nhập, VN phải mở cửa cho các nước thành viên được giao dịch thương mại tại đất nước mình và phải thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO. Mô hình kinh doanh NQTH là một trong những dự báo được nhiều thương hiệu nổi tiếng trên thế giới quan tâm và có kế hoạch phát triển tại VN, đây là một khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt.

Là một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng cao suốt 5 năm năm qua, GDP bình quân 7,5%/năm, không có xung đột về tôn giáo, chính trị; một thị trường tiềm năng với dân số 84 triệu người, trong đó 70% số dân độ tuổi dưới 30, đa số thích mua sắm, tiêu dùng. Theo khảo sát của Tổng cục thống kê gần đây trong lĩnh vực tiêu dùng cho thấy, có 90% người tiêu dùng quyết định mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thông qua thương hiệu và theo số liệu của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới – WFC, năm 2006 VN được xếp là thị trường bán lẻ đứng thứ ba thế giới với sức mua khoảng 21 tỷ USD, có trên 70 hệ thống nhượng quyền đang họat động với tốc độ tăng trưởng mỗi năm khoảng 15 – 20%. Đây là xu hướng và cũng là cơ hội cho những DNVVN muốn thử sức bằng các hình thức nhượng quyền.

Những năm gần đây, hình thức “NQTH” không còn xa lạ và trở thành vấn đề gây chú ý đối với các DNVVN ở VN. Nhìn một cách tổng quan, hoạt động nhượng quyền tại VN đã khởi sắc, hứa hẹn một thị trường đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh các thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng như Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô, Vissan…đã xuất hiện các thương hiệu mới như thời trang Foci, Nino Max, chuỗi cửa hàng G7, Nước mía siêu

sạch…Ngoài những thương hiệu trong nước, các thương hiệu nổi tiếng ở nước ngoài cũng tham gia thị trường nhượng quyền tại VN như KFC, Lotteria, Jollibee đã chuyển nhượng thành công tại TP.HCM và Hà Nội. Đặc biệt sau hội nhập, NQTH đang nóng lên từng ngày, nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như Mc Donald’s, cà phê Starbucks, cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven, tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Mỹ – WalMart… đang có kế hoạch xâm nhập thị trường VN.

VN đang trong giai đoạn khởi động lĩnh vực NQTH nên tiềm năng phát triển trong lĩnh vực này còn rất lớn và chắc chắn sẽ tăng trưởng mạnh trong vài năm tới.

2. Các hình thức nhượng quyền thương hiệu

Trong thực tiễn, mô hình nhượng quyền là một mô hình kinh doanh có rất nhiều cách thức. Song, nếu chỉ căn cứ vào tính chất, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, xét về cơ bản , có các hình thức sau đây:

° Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit franchising)

Hình thức nhượng quyền này được áp dụng khi bên nhượng quyền và bên nhận quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền. Hình thức này thường không được ưu tiên lựa chọn áp dụng nếu như bên nhượng quyền và bên nhận quyền là những chủ thể kinh doanh ở tại những quốc gia khác nhau, có ngôn ngữ, văn hoá, hệ thống pháp luật, chính sách thương mại khác nhau. Trong những trường hợp như vậy, các bên có thể lựa chọn hình thức nhượng quyền khởi phát được trình bày ở phần sau.

° Nhượng quyền mở rộng (Franchise developer agreement)

Thực chất của hình thức này là bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền trách nhiệm mở rộng và điều hành một số lượng đơn vị kinh doanh theo đúng thỏa thuận trong phạm vi một lãnh thổ nhất định và không được nhượng quyền cho bên thứ ba. Bên nhận quyền sẽ thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch đã được bên nhượng quyền định trước. Mỗi đơn vị kinh doanh do bên nhận quyền thiết lập đều không có tư cách pháp nhân và hạch toán phụ thuộc vào bên nhận quyền.

° Nhượng quyền khởi phát (Nhượng quyền phụ – Master franchise)

Nhượng quyền khởi phát là nhượng quyền thương mại mang tính quốc tế. Nghĩa là, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau. Bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền, tiến hành kinh doanh theo theo hệ thống các phương thức, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền và bên nhận quyền được phép nhượng quyền cho các bên thứ ba Điều này sẽ góp phần khai thác một cách triệt để tiềm năng kinh tế của các thị trường mới. Tuy vậy, đi đôi với nó cũng sẽ là những rủi ro rất lớn cho toàn bộ hệ thống kinh doanh.

Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mại bao gồm:

° Nhượng quyền sản xuất (Processing franchise)

Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền những thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền ở một số khía cạnh như: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi.

° Nhượng quyền dịch vụ (Service franchise)

Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền trong các lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng…..Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một (hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng, Bên nhận quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hình hình và với thương hiệu của bên nhượng quyền.

° Nhượng quyền phân phối (Distribution franchise)

Trong nhượng quyền phân phối, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vực như phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY, O’REAL…) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, xe ô tô (cửa hàng phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON) Trong thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại, các doanh nghiệp có thể có sự lựa chọn một hình thức kết hợp của các hình thức nhượng quyền đã nêu trên, phù hợp với khả năng của mình và hoàn cảnh kinh tế cũng như yêu cầu vềmặt pháp lý của mỗi quốc gia.

3. Đôi điều suy nghĩ

Củng cố và định vị thương hiệu

Để nhượng quyền thương hiệu cần phải có thương hiệu. Song, yếu tố quyết định sự thành công của một thương hiệu chính là sức sống của sản phẩm và sự công nhận của người tiêu dùng.

Như chúng ta đã biết, tư bản công nghiệp phát triển đến một mức độ nhất định nào đó sẽ dẫn đến sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp. Bởi hoạt động của tư bản công nghiệp không chỉ lợi cho nhà sản xuất mà còn thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Sự ra đời hàng loạt các hệ thống siêu thị là kết quả phát triển tất yếu của kinh tế thị trường và chính các hệ thống siêu thị, kênh phân phối sẽ là những phương tiện quảng bá hình ảnh thương hiệu đến người tiêu dùng một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Ngoài ra, xu hướng người tiêu dùng đi siêu thị mua sắm thay cho đi chợ ngày càng gia tăng – Điều đó cho thấy, mở rộng thị phần ở những nơi này là cách tốt nhất giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận thấy hình ảnh thương hiệu và so sánh được chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Hình thành, phát triển và cải thiện hệ thống đại lý, nhà phân phối chính là tạo nên sức mạnh cạnh tranh của thương hiệu, giúp thương hiệu xây dựng nền móng vững chắc và làm chủ thị trường trước khi các đối thủ nhượng quyền nước ngoài muốn vào hoạt động tại VN. Điều cần lưu ý là các doanh nghiệp phải đăng ký bảo hộ thương hiệu ngay từ khi chưa đi ra thị trường thế giới.

Hoạt động marketing

Hoạt động marketing của cả đối tác và chủ thương hiệu đều ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng đối với thương hiệu. Muốn làm tốt hoạt động này cần phải hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, thăm dò, khảo sát, thu thập ý kiến để có thể tiếp cận những phân khúc thị trường tiềm năng. Sự phân nhóm khách hàng sẽ giúp các công ty thấy đựơc sự gia tăng nhu cầu của thị trường và chú ý hơn vào những phân khúc thị trường nhỏ nhưng có triển vọng. Bên cạnh đó, để thu hút khách hàng mới và giữ được những khách hàng hiện có, nhân viên marketing phải cân đối ngân sách hợp lý để có thể tập trung nguồn lực vào những phân khúc khách hàng tiềm năng. Tiếp theo là xây dựng mối quan hệ vững chắc với khách hàng. Khi sản phẩm và dịch vụ đã thỏa mãn được khách hàng thì một trong những cách tạo ra sự khác biệt là thiết lập sự tác động qua lại giữa công ty và khách hàng. Điều này làm cho mối quan hệ với khách hàng bền chặt hơn, đồng thời giúp người làm marketing phân loại khách hàng của mình tốt hơn. Tạo sự thống nhất và ổn định thông qua những yếu tố nội lực là hết sức cần thiết để tác động tích cực đến khách hàng trong những phân khúc chính.

Bên cạnh đó, cần quán triệt quan điểm khách hàng là “Thượng đế”, là nguồn sống của các công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh. Để khách hàng trung thành hơn với mình, cần có những giải pháp chuyên nghiệp hơn như: cải thiện công tác marketing, bán hàng và dịch vụ. Tổ chức các cuộc họp thân mật, tạo điều kiện cho khách hàng gặp gỡ bộ phận nghiên cứu và phát triển để đóng góp ý kiến xây dựng và bày tỏ nhu cầu của mình. Tổ chức các cuộc thi thiết kế mẫu mã, bao bì nhằm có được những ý tưởng sáng tạo độc đáo, mới lạ, hấp dẫn, và bắt mắt.

Sản phẩm

Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng trong và ngoài nước; nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và nước ngoài. Để có được những sản phẩm chủ lực, độc đáo, có tính cạnh tranh cả về chất lượng lẫn giá cả, doanh nghiệp cần nâng cao trình độ đội ngũ lao động, cải tiến quy trình công nghệ cũ, tiếp cận những quy trình công nghệ mới nhằm đáp ứng được nhu cầu khách hàng, cung cấp cho thị trường cái mà khách hàng cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có.

Nguồn nhân lực

Nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp, để tồn tại lâu dài các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đào tạo, tận dụng năng lực của đội ngũ nhân viên hiện tại mà còn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ kế thừa trong tương lai. Để phát triển mô hình NQTH được thuận lợi, các đơn vị cần phải xây dựng và đào tạo chuyên sâu một đội ngũ cán bộ chủ chốt, có năng lực và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền, đủ sức quản lý và điều hành một cửa hàng nhượng quyền. Đồng thời, đào tạo tại chỗ các bộ phận trực thuộc công ty: kinh doanh, tiếp thị, quảng cáo…về kiến thức nhượng quyền. Xây dựng chính sách lương, thưởng, thăng tiến hợp lý để khuyến khích tính năng động, sáng tạo của nhân viên và giữ chân nhân tài. Thực hiện chính sách luân chuyển nhân viên qua các bộ phận khác nhau nhằm phát hiện, khai thác, tận dụng thế mạnh của nhân viên.

Đối tác nhận quyền

Cũng như bất cứ các mối quan hệ thông thường khác, quan hệ giữa người nhượng và người nhận cũng cần xây dựng và giữ gìn trong suốt thời gian hợp tác với nhau. Vì đây là mối quan hệ hai bên cùng có lợi, bên nhượng quyền cần phát huy hơn nữa trong việc hỗ trợ, giúp đỡ người nhận quyền trong việc quản lýý cũng như trong họat động kinh doanh bằng cách cử chuyên viên đã thông thạo chuyên môn, am hiểu thị trường, có kinh nghiệm quản lý cùng điều hành với người nhận quyền nhằm giúp bên nhận quyền ngày càng lớn mạnh. Bên cạnh đó phải thường xuyên thiết lập kênh thông tin liên lạc giữa hai bên, hệ thống mạng Internet giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, nhanh chóng giải quyết các trở ngại, khó khăn kịp thời, truyền đạt những thông tin liên quan cấp thiết. Tất cả những điều này đều hướng tới một mục tiêu duy nhất là làm sao góp phần nâng cao hiệu quả của bên nhận quyền, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp cho hiện tại và cho cả tương lai.

Kiến nghị

Trở thành thành viên của WTO, sau hội nhập, VN có rất nhiều cơ hội trong việc tham gia các hoạt động tự do hóa thương mại, được hưởng các chính sách ưu đãi thuế quan như các thành viên khác, do đó cần tận dụng lợi thế này để cải tạo môi trường kinh doanh và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó xin đề xuất:

– Nhà nước cần chủ động xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp, chủ thương hiệu mở rộng cửa hàng nhượng quyền ở nước ngoài.

– Mở các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường xuất khẩu trên thế giới, giúp doanh nghiệp có thể đối phó với những biến động bất ổn về giá cả làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

– Thành lập câu lạc bộ hoặc hiệp hội Franchise VN để các doanh nghiệp, các thương nhân giao lưu, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về Franchise và quảng bá mô hình Franchise.

NQTH là một vấn đề mới nẩy sinh nên bao giờ cũng là vấn đề phức tạp. Hy vọng trong tương lai, với nền tảng vững chắc hiện có, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thực hiện thành công mô hình NQTH, nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới ª

Tài liệu tham khảo

1. Franchise – Bí quyết thành công bằng mô hình kinh doanh – TS.Lý Quý Trung – NXB trẻ 2006.

2. Mua Franchise – Cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam – TS.Lý Quý Trung – NXB trẻ

2006.

3. Luật Thương mại 2005- Công ty luật hợp danh-NXB thống kê.

4. Các hình thức nhượng quyền được trích nguồn từ “Nhượng quyền thương mại và những mối quan tâm của doanh nghiệp” – Nguyễn Thanh Hằng – VP Luật Tân Hà – HN

5. Tạp chí tin tức và sự kiện.

6. Achieving weath through franchising – Robert

T.Justis & William Slater Vincent.

7. Các tra ng web: viet namnet. com, kinhdofood.com, trungnguyen.com, pho24.com, tanh alaw .com.vn , lanta bran d.com , vnexpress.net, thuonghieu.com và một số trang báo điện tử khác.

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 8 NĂM 2007

GIA ĐÌNH VIỆT NAM – BIẾN ĐỔI VÀ TRIỂN VỌNG

NGUYỄN LINH KHIẾU

Những biến đổi của gia đình Việt Nam thời gian qua đang tạo ra những băn khoăn, lo lắng cho không ít người về sự tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình và văn hóa gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về gia đình cho thấy, mặc dù có những vấn đề cần đặc biệt quan tâm và sớm có giải pháp điều chỉnh, nhưng những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay vẫn trong khung cảnh tôn vinh và làm mới những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp nhận một cách chủ động những giá trị văn hóa của gia đình hiện đại.

Vào những năm đầu đổi mới, “mở cửa”, với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường và sự du nhập ồ ạt lối sống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng và diễn đàn khoa học, không ít người đã lên tiếng báo động về nguy cơ “khủng hoảng” của gia đình Việt Nam. Sự lo ngại ở thời điểm ấy không phải không có cơ sở. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 20 năm đổi mới, gia đình Việt Nam không những không bị khủng hoảng mà ngày càng được củng cố và phát triển. Đó là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.

Vào thời điểm hiện nay, con người Việt Nam vẫn coi hôn nhân là sự kiện trọng đại, thiêng liêng và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất của hầu như tất cả mọi người. Gia đình là một thiết chế xã hội. Nó là sản phẩm của lịch sử. Vì thế, gia đình bị quy định bởi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo… của một xã hội nhất định. Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập quán và tín ngưỡng… Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên cùng chung sống và có chung ngân sách.

Mặc dù chịu tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, nhưng hiện tại, gia đình Việt Nam vẫn là một giá trị bền vững và có sức sống mạnh mẽ. Nó vẫn là nền tảng, là tế bào của xã hội. Với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng của xã hội, một mặt, gia đình trực tiếp tham gia thúc đẩy sự phát triển của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông của đời sống kinh tế; mặt khác, là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nương tựa của mỗi con người trong suốt cuộc đời. Gia đình cũng là nơi lưu giữ, truyền thụ, chuyển giao và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại trên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau, cả tích cực và tiêu cực. Đó là sự biến đổi mang tính toàn diện cả về cơ cấu, các quan hệ, các chức năng và vai trò của người phụ nữ trong gia đình.

Sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay, trước hết, được thể hiện trong biến đổi cơ cấu gia đình. Loại hình gia đình rất phong phú, nhưng gia đình hạt nhân – loại hình gia đình tiên tiến, phù hợp với xã hội hiện đại – mang tính phổ biến. Quy mô của gia đình rất đa dạng, nhưng số gia đình hai thế hệ chiếm tỷ lệ cao nhất với số người trong gia đình trung bình là trên/dưới 4 người. Trong các mối quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân về cơ bản do tình yêu của đôi nam – nữ quyết định. Hôn nhân được sự đồng ý của cha mẹ, sự công nhận của pháp luật và được tổ chức cưới theo nghi thức đời sống mới. Tuổi kết hôn của cả nam và nữ đều có xu hướng tăng cao và sau khi kết hôn, đôi vợ chồng thường có nơi ở riêng và số con của mỗi cặp vợ chồng đa số chỉ là trên/dưới 2 con. Mặc dù trong gia đình người đàn ông vẫn thường được đề cao và cha mẹ vẫn có nhiều quyền uy với con cái nhưng nhìn chung, các mối quan hệ trong gia đình hiện nay đã mang tính chất tự do, dân chủ và bình đẳng.

Gia đình Việt Nam hiện nay, về cơ bản, vẫn là mô hình gia đình truyền thống đa chức năng. Các chức năng cơ bản của gia đình như: chức năng kinh tế; chức năng tái sản xuất con người và sức lao động; chức năng giáo dục – xã hội hóa; chức năng tâm – sinh lý, tình cảm… được phục hồi, có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội đất nước. Chức năng của gia đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đang có vai trò và vị thế quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Bình đẳng giới trong gia đình là một nét mới trong biến đổi của gia đình Việt Nam và đã thu hút sự quan tâm, đồng tình thực hiện của cả xã hội. Đó là người phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, tái sản xuất, tiếp cận các nguồn lực phát triển, các quyết định, các sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng các lợi ích, phúc lợi gia đình; đồng thời, các thành viên gia đình và các dịch vụ xã hội cũng từng bước chia sẻ gánh nặng công việc nội trợ gia đình đối với người phụ nữ, góp phần thiết thực tạo điều kiện và cơ hội giúp phụ nữ phát huy mọi tiềm năng của mình trong hội nhập và phát triển.

Trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đã biến đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện – năng động phù hợp với những điều kiện kinh tế – xã hội có nhiều biến động. Sự biến đổi ấy chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tiên tiến, những tinh hóa của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là sản phẩm của sự hiện đại hóa các giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền thống và truyền thống hóa những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.

Những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy như: tình yêu lứa đôi trong sáng; lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ; con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm tới ông bà, tổ tiên; tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh em, họ hàng; đề cao lợi ích chung của gia đình; tự hào truyền thống gia đình, dòng họ. Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi người; tôn trọng lợi ích cá nhân; dân chủ trong mọi quan hệ; bình đẳng nam nữ; bình đẳng trong nghĩa vụ và trách nhiệm; bình đẳng trong thừa kế; không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con trai và con gái, giữa anh và em… Đó chính là cùng với những đặc trưng của gia đình truyền thống được phát huy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố và xây dựng theo xu hướng hiện đại hóa: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội và những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa nhiều biến động và bất trắc: đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; sống chung không kết hôn; tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; trẻ em lang thang; buôn bán phụ nữ qua biên giới; bạo lực trong gia đình; bất bình đẳng giới; ngoại tình; xu hướng đề cao tiền bạc trong quan hệ giữa người và người… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau.

Trong bối cảnh đó, để gia đình Việt Nam ngày càng giữ gìn và phát huy được những giá trị cao quý vốn có của mình, chủ động, tích cực tiếp thu được những tinh hoa, giá trị của gia đình các xã hội hiện đại; đồng thời, ngăn chặn một cách có hiệu quả sự tấn công của tệ nạn xã hội, những nguy cơ dẫn đến tan rã gia đình… Cần tập trung vào một số vấn đề sau: có hệ giải pháp thiết thực để thực hiện tốt nhất Chiến lược củng cố và xây dựng gia đình; có hệ chính sách hữu hiệu hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình; phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí; có chính sách tích cực tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình, gắn bó các thành viên gia đình; đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo; tăng cường thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình; đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống chính sách xã hội đối với các gia đình chính sách; tiếp tục mở rộng tuyên truyền, phổ biến kiến thức về giới góp phần thiết thực tạo lập sự bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.

Thực hiện tốt những vấn đề trên, chúng ta sẽ tạo ra những điều kiện tốt nhất để gia đình Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển theo xu hướng ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Gia đình Việt Nam hiện nay và trong tương lai vẫn sẽ thực sự là tế bào của xã hội, là một thiết chế cơ bản của xã hội, là tổ ấm, nơi nương tựa quan trọng nhất của mỗi người. Gia đình Việt Nam là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với xã hội Việt Nam, gia đình bao giờ cũng gắn liền với xã hội, vì lẽ đó không thể có một xã hội phát triển nếu các gia đình bị suy sụp, khủng hoảng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “…nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Xã hội ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đó là cơ sở để khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 19 (139) NĂM 2007