CỔ PHIẾU THƯỞNG: BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠNH TÓAN

Phan Long, CPA
Monash University, Australia

Tại thời điểm đầu năm 2007 này, thị trường chứng khoán tại Việt Nam đang phát triển “nóng”. Giá thị trường của cổ phiếu tăng cao cùng với sự kỳ vọng lớn lao của nhà đầu tư trước những thông tin công bố chia cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết theo quy định của Uỷ ban chứng khoán (trước ngày 20/1). Trong đó, giá thị trường của cổ phiếu của những công ty có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu tăng vọt do nhà đầu tư hi vọng sẽ được sở hữu những cổ phiếu giá rẻ nếu nắm giữ cổ phần của các công ty này. Bài viết này nhằm cho độc giả thấy rõ bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và đưa ra hướng xử lý kế toán đối với các bên liên quan.

Bản chất của cổ phiếu thưởng
Cổ phiếu được chia theo cổ tức thường được gọi là cổ phiếu thưởng. Cổ phiếu thưởng không được coi là cổ tức thực sự bởi vì cổ tức này không được thanh toán bằng tiền. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu chỉ làm tăng đến số lượng cổ phiếu lưu hành mà các cổ đông nắm giữ. Chính vì thế, về bản chất, nó làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu sau khi chia.
Thông thường cổ phiếu thưởng được chia theo một tỷ lệ nhất định. Ví dụ: Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần Tân Tạo nhất trí chia toàn bộ cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 5:1 (vnexpress.net, 2007). Điều đó có nghĩa là cổ đông nắm giữ 05 cổ phiếu cũ sẽ được “thưởng” 01 cổ phiếu mới phát hành, và tổng số cổ phiếu lưu hành sẽ tăng lên 20%. Khi đó chúng ta có thể thấy kết quả của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu có thể dẫn đến giá trị của mỗi cổ phiếu giảm 20% do tổng giá trị vốn chủ sở hữu không thay đổi.
Xử lý kế toán
Cổ phiếu thưởng làm tăng số lượng cố phiếu lưu hành và làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu. Tuy nhiên, xử lý kế toán lại không giống nhau trong mọi trường hợp, và phụ thuộc vào yếu tố giá trị của cổ phiếu thưởng, có nghĩa là tỷ lệ chia. Theo thông lệ, khi tỷ lệ cổ phiếu thưởng nhỏ vào khoảng 20% – 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ. Xử lý kế toán trong trường hợp này sẽ được minh hoạ bởi ví dụ dưới đây. Những trường hợp tỷ lệ cổ phiếu thưởng lớn hơn 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng lớn, và trường hợp này ít xảy ra. Một ví dụ điển hình của phát hành cổ phiếu thưởng lớn là vào năm 1973, hãng Walt Diney công bố tỷ lệ cổ phiếu thưởng 100%, có nghĩa là cứ 01 cổ phiếu nắm giữ sẽ được nhận thêm 01 cổ phiếu mới và như thế số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên gấp đôi. Điều đó dẫn đến giá trị cổ phiếu bị “loãng”, làm cho giá thị trường của cổ phiếu bị sụt giảm.
Ví dụ minh hoạ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ:
Công ty ABC có 100.000 cổ phiếu lưu hành với mệnh giá $1,00 và với giá thị trường là 6,60$. Như vậy tổng giá trị thị trường của ABC là 100.000 x $6,60 = $660.000.
Báo cáo tài chính ngày 31/12/XX của ABC có số liệu như sau:
– Vốn cổ phần thường lưu hành (100.000 cổ phiếu) $100.000
– Lợi nhuận chưa phân phối $200.000
Tổng vốn chủ sở hữu $300.000
Đại hội đồng cổ đông của ABC quyết định chia toàn bộ lợi nhuận bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 10:1. Có nghĩa là sẽ ban hành 10.000 cổ phiếu mới. Sau khi chia, ABC sẽ có tổng cộng 110.000 cổ phiếu lưu hành.
Giá trị cổ phiếu mới phát hành là: $200.000 : 10.000 = $20
Giá trị cổ phiếu mới phát hành theo mệnh giá là: $1,00 x 10.000 = $10.000
Chênh lệch giữa giá trị cổ phiếu theo giá phát hành và theo mệnh giá = $200.000 – $10.000 = $190.000
Sau khi chia cổ phiếu thưởng Báo cáo tài chính của ABC có số liệu như sau:
– Vốn cổ phần thường lưu hành (110.000 cổ phiếu) $100.000 + $10.000 = $110.000
– Thặng dư vốn $190.000
Tổng vốn chủ sở hữu $300.000
Theo như ví dụ trên thì giá trị cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ sau khi được chia sẽ không thay đổi so với trước khi được chia (đều bằng $300.000). Trường hợp này đã ngoại trừ các yếu tố tác động đến giá trị của cổ phiếu trên thị trường như cung – cầu, kỳ vọng của nhà đầu tư,… mà chỉ tập trung đến tác động của việc chia cổ phiếu thưởng.
Xử lý kế toán đối với trường hợp chia cổ phiếu thưởng lớn sẽ đề cập trong bài khác do việc “làm loãng” cổ phiếu quá lớn tác động đến giá trị cổ phiếu.
Tác động đến giá trị thị trường của cổ phiếu
Theo suy luận logic thông thường, cổ phiếu thưởng có thế:
(1) không làm ảnh hưởng đến giá trị của công ty
(2) làm tăng giá trị của công ty
(3) làm giảm giá trị của công ty
Quan niệm chuẩn về cổ phiếu thưởng là nó không làm thay đổi giá trị tài sản của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp. Theo ví dụ trên, giá trị thị trường của ABC là $660.000. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, số cổ phiếu lưu hành là 110.000 cổ phiếu, và mỗi cổ phiếu có thế có giá trị là $660.000 : 110.000 = $6,00.
Trường hợp một cổ đông năm giữ 1000 cổ phiếu trước khi chia, có giá $6.600. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, cổ đông đó có 1.100 cổ phiếu và tổng giá trị của nó có thể sẽ là 1.100 x $6,00 = $6.600. Như vậy, cổ phiếu thưởng, thực chất, không có ảnh hưởng về mặt kinh tế. Và trên lý thuyết, việc xác định tỷ lệ chia càng cao thì giá trị cổ phiếu càng giảm và sẽ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của số cổ phiếu ban đầu mà cổ đông nắm giữ.
Tuy nhiên, thực tế thị trường lại có khác biệt rất lớn. Việc chia cổ phiếu thưởng sẽ tác động đến tâm lý được mua “rẻ” của số đông nhà đầu tư, dẫn đến các nhà đầu tư tìm cách mua cổ phiếu trước khi chia cổ phiếu thưởng đã làm cho cầu về cổ phiếu tăng cao. Hơn nữa, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu được các nhà đầu tư Việt Nam “diễn giải” là doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận đạt được để tái đầu tư, cũng khiến cho kỳ vọng của nhà đầu tư về sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Các yếu tố này góp phần đẩy giá của cổ phiếu lên cao. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nơi các nhà đầu tư đầu tư theo phong trào và “mách nước” nhiều hơn là có sự phân tích kỹ càng nhiều yếu tố, và đặc biệt đúng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về lâu dài việc phát hành cổ phiếu thưởng tràn lan có thể dẫn tới làm giảm giá thị trường của cổ phiếu.

Tài liệu tham khảo:
– Black, F. (2004). Why firms pay dividends. fundamentals of corporate finance. M. Tully, McGraw-Hill. 3e: 657-659.
– vnexpress.net.(2007).”Cổ tức kích cổ phiếu tăng giá”.[Internet].
Link: http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/01/3B9F2519/
– Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác

————————————-
Bản quyền http://www.kiemtoan.com.vn

KÍCH THÍCH BỘ NÃO SÁNG TẠO

Giống như những vận động viên leo núi, họ trèo lên đỉnh núi là để tìm kiếm lời giải cho những bài toán hóc búa về chinh phục đỉnh cao. Và chỉ khi đạt tới đỉnh, họ mới tìm thấy nó. Tuy nhiên, hết đỉnh cao này rồi lại đến đỉnh cao khác, con đường vươn tới sáng tạo không ngơi nghỉ.

“Văn hóa toán đố”
Bill Gates chưa bao giờ mất đi hứng thú đối với các bài toán đố. Không hiếm các buổi tối, Bill và vợ Melinda ở nhà chơi trò lắp hình làm từ những mảnh gỗ. Gia đình Bill thường mua hai bộ giống nhau và thi xem ai là người xếp xong trước. Trong bữa ăn tối, khi đang chờ người phục vụ đưa lên món tiếp theo, Bill hay đề ghị mọi người vẽ bản đồ nước Mỹ lên giấy ăn, người chiến thắng là người vẽ chính xác nhất.
Năm 1986, Bill Gates mua một quần thể gồm bốn nhà nghỉ nằm trên bờ biển Hood Canal ở vịnh Puget. Gia đình Bill và những nhân viên của Microsoft thường chơi “trò chơi vi mô” – một cuộc thi độc đáo và kỳ lạ, những người chiến thắng được đánh giá rất cao.
bill_gates1.jpgTrong trò “Chúng ta hát”, sau khi ai đó xướng lên một từ, mọi người phải hát bài hát trong đó có từ đó. Một lần, từ đưa ra là “biển”, đang chơi thì Bill đi ra bãi biển, một lúc sau mọi người nghe thấy từ trong bóng tối vang ra một giọng hát quen thuộc: “Từ biển xuất hiện một con rồng thần thoại…”.
Khi nhân viên của Microsoft đi công tác, họ có rất ít thời gian để thăm danh lam thắng cảnh, Microsoft luôn tổ chức sao cho mọi người luôn ở bên nhau và chơi các trò chơi có tính cạnh tranh quyết liệt. Khát vọng chiến thắng là đặc tính chung của tất cả mọi người trong Tập đoàn Microsoft. Để giành chiến thắng, Microsoft không dừng bước trước bất cứ một vật cản nào. Phương châm của Microsoft là “hành động quyết liệt”,”tiến hành các cuộc chiến cảm tử”, “chặn nguồn oxy” của các đối thủ cạnh tranh.
Một trong những khái niệm mà các nhân viên Microsoft thường dùng để tả về tập đoàn của mình là “trại toán học”. Lòng khao khát vượt lên trên thể hiện rõ nét trong những câu đố, các trò chơi đùa giải trí rất thông dụng ở Microsoft. Nghịch lý ở chỗ, các trò giải trí đáng ra là để nghỉ ngơi và giải tỏa căng thẳng thì lại trở thành điều gây áp lực nhất.
“Đế chế” của Microsoft tại Redmond (bang Washington, Mỹ) là một quần thể bao gồm 82 tòa nhà, rộng gấp chín lần Viện bảo tàng Louvre, tương đương diện tích của Lầu Năm Góc. Tại đây có cả bộ phận vận tải, thư viện, xưởng phim, bảo tàng, cửa hàng, sân đá bóng và bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật. Nhân viên được tự do hoàn toàn về mặt thời gian, chỉ cần họ làm tốt công việc của mình.
Những điều đối với các công ty khác bị coi là kỳ quặc và không được phép thì ở đây hoàn toàn là có thể.
Hãy luôn trong trạng thái bị đói
Phong cách phóng khoáng ngụy tạo này là đặc điểm chung của tất cả những người làm việcmicrosoft.jpg trong ngành công nghiệp phần mềm chứ không riêng gì ở Microsoft, nhưng nếu so sánh Microsoft với các công ty công nghệ cao khác thì Microsoft vẫn kỳ quái hơn nhiều.
Nhân viên Microsoft bay trên những chuyến bay bình thường, nghỉ ngơi ở những khách sạn được xếp vào loại tốt nhưng không quá xa xỉ. Tập đoàn không có phòng ăn trưa dành riêng cho lãnh đạo cao cấp.
Gần như phòng làm việc của mọi nhân viên đều có kích thước 3x4m, bên trong được trang bị bằng loại gỗ không đắt tiền. Phòng làm việc của Bill Gates rộng hơn, nhưng những phóng viên đã từng có mặt ở đây đều nhận xét rằng chỗ làm việc của nhà sáng lập ra Microsoft rất bình thường, không đá hoa cương và chẳng có gì đặc biệt cả. Nhân viên Microsoft thường nói tập đoàn này là nơi bạn phải trồng cây rồi mới mong được hái quả.
Cuốn sách Inside out (Mặt trái) xuất bản nhân dịp 25 năm thành lập Microsoft đã có đoạn minh họa rõ nét về chính sách tiết kiệm này: “Để phòng xa, xin nhắc lại một điểm quan trọng có thể giúp chúng ta lúc nào cũng giữ vững vị trí tiên phong: hãy cố gắng đừng “béo phì” mà “hãy nên ở trong trạng thái đói”. Khó khăn và thiếu thốn thường nảy sinh sáng tạo”. Trong cuốn sách này bạn có thể tìm được câu châm ngôn ngắn gọn hơn: “Sự thừa thãi sẽ cản trở thành công”.
Một trong những chủ đề bàn luận thường xuyên của những lãnh đạo cao cấp ở Microsoft là khả năng diệt vong của tập đoàn. Bill Gates nghiêm khắc cảnh báo trong lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Microsoft: “Nếu chúng ta có những quyết định sai lầm thì tất cả những gì chúng ta tạo ra được trong 25 năm qua sẽ tan thành mây khói”.
microsoft1.jpg“Một lúc nào đấy sẽ có ai đó bất ngờ theo kịp được chúng ta”, Bill viết trong cuốn sách Business@ the speed of thought (Kinh doanh và tốc độ tư duy), “Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh”.
Đây không chỉ là sự e ngại của một mình Bill. Steve Ballmer – đồng sự của Bill – viết: “Đối thủ cạnh tranh mới của chúng ta có thể xuất hiện bất ngờ từ “hư vô” và chỉ trong một đêm đánh gục chúng ta”. Hoặc Jeff Raikes: “Nếu như chúng ta không luôn có những quyết định mới theo kịp nhu cầu của người tiêu dùng dựa vào những công nghệ tiên tiến nhất, thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể bị loại bỏ khỏi môi trường kinh doanh”.
Người ngoài cuộc có thể cười khẩy khi nghe vậy. Microsoft là một quả bóng bơm hơi quá lớn. Cho dù nếu như có ai đó dám chọc một lỗ vào quả bóng thì cũng phải rất lâu sau quả bóng mới xì hết hơi.
Mặc dù vậy, trên quan điểm lịch sử phát triển thì những gì mà Bill và Steve Ballmer nói là hoàn toàn có lý. Thông thường các công ty khó mà có thể giữ lâu được vị trí quán quân của mình, đặc biệt những công ty sống bằng công nghệ tân tiến sẽ tiêu vong nếu không kịp thời phản ứng trước sự thay đổi của công nghệ.
Chiến thắng hay chiến bại?
Những từ như “sáng tạo” và “tân tiến” là những khái niệm rất quan trọng đối với Microsoft. Mức độ sáng tạo của Microsoft, giống như ở bất cứ một công ty nào khác, phụ thuộc trước tiên vào khả năng sáng tạo và đổi mới của những nhân viên làm việc tại đây. Tập đoàn Microsoft biết rất rõ họ cần thu hút những người như thế nào và họ đủ tiềm lực vật chất để làm được điều này, mục tiêu là kích hoạt bộ não từng nhân viên sáng tạo.Xbox_360.jpg

Phương châm chính của Microsoft trong việc tuyển nhân sự là tìm được những “phiên bản của Bill”. Đây là ngôn ngữ lóng của Microsoft chỉ những người trẻ tuổi thông minh, khao khát vươn lên và đầy tham vọng nhưng lại chưa có kinh nghiệm thực tế, giống như Bill Gates trước đây. Các nhân viên tuyển nhân sự của Microsoft tự hào rằng không có ai xuất sắc hơn họ trong việc tìm được những người rất có tiềm năng, chứ không chỉ những người đã chứng tỏ được khả năng trong chuyên ngành của mình.
Trên quan điểm của Microsoft, các câu hỏi hóc búa không những chỉ kiểm tra được trí tuệ mà còn cả động cơ và ham muốn vươn lên của ứng viên. Cũng giống như kinh doanh hay thể thao, việc giải các bài toán đố có thể chia mọi người ra làm hai loại: chiến thắng và chiến bại. Chỉ có hai khả năng, bạn có thể tìm ra lời giải hoặc không.
Bất cứ một huấn luyện viên thể thao nào cũng có thể khẳng định với bạn rằng để giành được chiến thắng thì chỉ có khả năng thôi chưa đủ, bạn còn cần phải trở thành một kẻ “háu đói” ham muốn chiến thắng. Có cảm giác rằng những người biết cách giải những bài toán đố không những có trí tuệ cao mà còn chứa trong mình động lực sẵn sàng giải quyết tất cả những vấn đề đang thách thức họ.
Bằng cách đó, họ đã kích thích bộ não sáng tạo và những thành quả của họ tạo ra từ đó.

Tuổi trẻ

NHỮNG NGUYỄN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI

Trước tiên, tài liệu này sẽ xem xét các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường và của hệ thống pháp lý được hình thành nhằm hỗ trợ nền kinh tế đó. Thứ hai, tài liệu này sẽ trình bày về các chủ thể chính của luật thương mại và mối quan hệ giữa các chủ thể đó. Cuối cùng, tài liệu sẽ đưa ra một số đề xuất thực tiễn nhằm cải cách luật thương mại một cách có hiệu quả.

1. LUẬT ÐIỀU CHỈNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Kinh tế thị trường tạo ra của cải cho xã hội thông qua việc trao đổi. Nhìn chung, các bên, vì mục đích riêng của mình, sẽ trao đổi hàng hoá và dịch vụ khi họ tin rằng việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ đó sẽ mang lại thêm lợi ích cho họ. Khi các bên đồng ý trao đổi, mỗi bên cần những gì mà họ nhận được hơn là những gì họ bỏ ra để trao đổi . Qua đó, các bên đều mong muốn được lợi hơn thông qua việc trao đổi. Nếu thị trường có thể vận hành một cách hoàn hảo, việc trao đổi không ngừng có thể phân bổ mọi nguồn lực tới các bên cần nó nhất, thúc đẩy tính hiệu quả trong việc tạo ra của cải xã hội và thỏa mãn mong muốn của mọi người.

Khác với nền kinh tế chịu sự quản lý của nhà nước, kinh tế thị trường dựa trên vô số các quyết định và sự nỗ lực của từng cá nhân. Các quyết định của người bán và người mua tạo ra cung và cầu, quyết định giá cả và cho biết số lượng hàng hoá cần sản xuất ra. Sự can thiệp quá lớn của chính phủ vào quá trình này sẽ dẫn tới sự thiếu hụt, dư thừa, hàng hóa kém chất lượng, lạc hậu và kém hiệu quả về kinh tế. Cơ chế can thiệp đó có thể còn không khuyến khích các cá nhân tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất.

Luật thương mại dành một phần rất lớn để thúc đẩy và bảo vệ cơ chế trao đổi thị trường nói trên. Bốn nguyên tắc cơ bản sau chi phối hầu hết các qui định của luật thương mại. Ðó là:

Quyền tự do hợp đồng. Quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý về các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lý của nền kinh tế thị trường. Từng cá nhân có thể tham gia vào các mối quan hệ pháp lý một cách nhanh chóng và trực tiếp mà không có bất kỳ sự can thiệp chính trị hay ngoại giao nào. Do vậy, các bên có thể đưa ra các quyết định kinh tế tức thì, có liên quan trực tiếp đến sự thành công của họ. Ngoài ra, các bên sẽ tự quyết định sự được mất trong phần lớn các cuộc thương lượng của họ (với điều kiện là không bên nào bị ở vị thế quá bất lợi).

Luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lý khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó. Một bộ luật thương mại có thể qui định cụ thể khi nào một bên đã thực sự gánh vác các nghĩa vụ pháp lý đó, ví dụ như là việc xác định ranh giới khi việc thỏa thuận về một thương vụ nào đó trở thành một cam kết mang tính hợp đồng. Nhưng các bên có thể tự thỏa thuận các điều khoản cho các cam kết của họ. Thậm chí ngay cả khi khi bộ luật thương mại có các qui định về việc thực hiện các giao dịch cụ thể nào đó, các bên vẫn có quyền tự do bãi bỏ hoặc thay đổi các quy tắc áp dụng. Một ví dụ điển hình là Ðiều 6 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Bán hàng hoá quốc tế, cho phép các bên “không phải áp dụng Công ước này hoặc…làm giảm bớt hay thay đổi hiệu lực của bất kỳ điều khoản nào của Công ước này,”

Tất nhiên, tự do hợp đồng cũng có những giới hạn của nó. Nhìn chung, các hợp đồng nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như buôn bán thuốc phiện bất hợp pháp, sẽ không xác lập các quyền hợp pháp. Bản thân các hợp đồng khác có thể có hiệu lực,song có thể dẫn tới các chế tài pháp lý độc lập, chẳng hạn như hợp đồng gây cản trở buôn bán cạnh tranh. Trong cả hai ví dụ trên, nói chung luật trước hết sẽ bảo vệ cho những người không phải là các bên của hợp đồng. Ngoài ra, một số bên như người tiêu dùng hay những nhóm đối tượng thiểu số có thể còn có những bảo vệ đặc biệt trong các đàm phán bất lợi với điều kiện là họ không thể tự bảo vệ đầy đủ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, các nước thường cho phép các bên mua bán tự đàm phán với nhau và không can thiệp sâu vào các hợp đồng riêng chẳng hạn như bằng cách ấn định mức giá “phải chăng” hay các tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc.

Bảo vệ các mong muốn hợp lý. Các bên tham gia các giao dịch thương mại thường dựa vào luật để bảo vệ các quyền của mình trong tương lai. Thường thì không thể hoặc không hiệu quả nếu các bên đồng thời ngừng việc thực hiện. Chẳng hạn, một người thợ thủ công nhận làm đồ đạc đặt đóng giờ đây sẽ dựa vào luật để buộc người mua thực hiện nghĩa vụ nhận đồ đạc và thanh toán tiền trong tương lai. Các quyền và nghĩa vụ đó có thể do luật áp dụng hay do thoả thuận giữa các bên xác lập. Toà án nên thận trọng khi thi hành các điều khoản trong thoả thuận, mà thông qua các điều khoản đó các bên đã thoả thuận bảo vệ mình trước những bất trắc trong tương lai.

Nhiều khi, khó có thể bảo vệ được các mong muốn của cả hai bên. chẳng hạn như người mua có thể ký hợp đồng với người bán buôn nào đó để mua cam vào một ngày nhất định theo mức giá nhất định. Thời tiết lạnh làm hỏng rất nhiều cam khiến cho mức giá hiện thời hay “giao ngay” tăng kỷ lục, khiến người bán giao cam bị lỗ lớn. Bên bán có thể đã không dự liệu được việc giá tăng cao như vậy, nhưng bên mua đã ký hợp đồng có kỳ hạn chủ yếu nhằm giúp họ tránh việc tăng giá đột ngột. Luật bán hàng của các nước khác nhau về cách thức giải quyết các tình huống bất ngờ này, song tất cả đều áp dụng việc phân bổ những rủi ro có thể thấy trong hợp đồng giữa các bên.

Ngăn chặn sự gian lận và lạm quyền. Các quyết định của thị trường không thể phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả trừ phi các quyết định đó là sản phẩm của sự lựa chọn tự do và được thông tin. Các giao dịch thương mại có sự gian lận hay cưỡng ép sẽ không có hiệu lực pháp luật. Những giao dịch đó còn làm mất đi lòng tin của mọi người vào thị trường và hệ thống pháp luật.

Không có gì ngạc nhiên khi luật thương mại nghiêm cấm sự gian lận và cưỡng ép. Chẳng hạn, các hợp đồng được xác lập trên cơ sở cưỡng ép hay gian lận của một bên nào đó sẽ không có hiệu lực, ký hậu giả mạo séc cũng không có hiệu lực và những con nợ đang trong quá trình phá sản không được hưởng các quyền lợi từ việc phá sản. Ðiều này chỉ áp dụng trong phạm vi nạn nhân của sự gian lận không thể bảo vệ mình mà không gây tổn hại đến bên thứ ba vô can. Ví dụ, theo luật của một số nước thì ai có được hàng hoá thông qua gian lận sẽ không có quyền sở hữu hợp pháp đối với hàng hoá đó, nhưng có thể chuyển quyền sở hữu hợp pháp hàng hoá đó cho một người mua vô can nào đó vì mục đích giá trị.

Giảm chi phí giao dịch. Luật thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia và thực hiện các giao dịch với chi phí thấp nhất cùng với hạn chế tối thiểu sự gian lận. Nếu chi phí thực hiện giao dịch cao thì các bên sẽ bỏ lỡ các cơ hội có lợi. Do vậy, các thủ tục cần thiết để xác lập một hợp đồng có hiệu lực, chẳng hạn như thủ tục chứng thực của cơ quan công chứng trong một số hệ thống pháp lý, đã không còn nữa. Một ví dụ khác nữa là hệ thống nộp thông báo về các giấy tờ bảo đảm theo Ðiều 9 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ đã được đơn giản hoá.

Có thể cách quan trọng nhất mà bộ luật thương mại hiện đại đã làm để giảm bớt các chi phí giao kết hợp đồng là quy định các điều kiện chuẩn cho những thoả thuận cụ thể. Chẳng hạn như các luật hiện đại điều chỉnh về mua bán hàng hoá chủ yếu là các quy định sẵn có về phân bổ rủi ro và hướng dẫn việc thực hiện, cho dù các bên vẫn có thể tự do thay đổi các quy định áp dụng thông qua thỏa thuận. Việc áp dụng các quy định đó hoàn toàn tiên liệu được khiến các bên không cần thiết phải quy định trong thoả thuận của mình những vấn đề và các trường hợp bất ngờ xa vời, từ đó đơn giản hoá đáng kể quá trình ký kết thoả thuận. Một ví dụ khác về việc đưa thêm điều khoản đó là luật điều chỉnh phương thức thanh toán bằng séc; mặc dù phần lớn các điều khoản về mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng có thể thay đổi theo thoả thuận, song việc sử dụng séc trong thương mại đã trở lên thuận lợi hơn thông qua việc tiêu chuẩn hoá pháp lý các quyền ghi trong loại séc thường thấy này.

2. CÁC LOẠI HÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI

Các quyền tài sản rõ ràng về đất đai, các tài sản kinh doanh hay sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Chủ sở hữu tài sản sẽ sẵn sàng hơn trong việc đầu tư để cải thiện khoản tài sản này nếu họ được đảm bảo là sẽ có lợi nhờ việc đầu tư. Tương tự như vậy, những nghi ngại về phạm vi hay thời hạn của quyền sở hữu sẽ gây cản trở lớn cho những cố gắng của các bên nhằm hợp tác hay trao đổi nguồn lực nhằm gia tăng giá trị của họ. Sự bình đẳng hay cơ sở của việc phân loại quyền tài sản đặt ra những vấn đề pháp lý vượt quá phạm vi điều chỉnh của luật thương mại, nhưng sự minh bạch của quyền tài sản có tác động rất lớn đến hiệu quả của các giao dịch thương mại.

Hợp đồng. Luật hợp đồng cơ bản là phương tiện để xác lập quan hệ hợp đồng, là những luật lệ quy định việc giải thích, thực hiện hợp đồng và quy định các chế tài giải quyết vi phạm. Luật hợp đồng không chỉ điều chỉnh các giao dịch thương mại mà còn mở rộng điều chỉnh nhiều hình thức cam kết nhất trí khác như giao dịch của người tiêu dùng, hợp đồng xây dựng và quan hệ lao động. Vì phạm vi điều chỉnh rộng, nên các thuật ngữ của luật rất khái quát.

Luật hợp đồng là nền tảng cho tất cả các hình thức luật thương mại khác vì mỗi luật thương mại trước hết là sự chi tiết hoá các dạng thoả thuận thương mại chuyên biệt. Những luật thương mại được cụ thể hoá này có thể được coi là luật lệ cho các hình thức giao dịch riêng biệt và được các thương gia lựa chọn do họ phải tốn nhiều thời gian để xem xét các vấn đề. Nhưng những luật thương mại chuyên biệt chi tiết hơn làm giảm bớt những khó khăn này bằng cách áp dụng những luật lệ này cho một kiểu giao dịch phù hợp mà không cần các bên phải dẫn ra các luật lệ đó. Tuy nhiên, tầm quan trọng của luật hợp đồng là rất rõ ràng vì các bên có thể tự do thay đổi các luật lệ bằng những điều khoản trong hợp đồng của riêng mình.

Bán hàng. Luật bán hàng là ví dụ điển hình của một lĩnh vực trong luật thương mại và là sự cụ thể hoá luật hợp đồng để điều chỉnh một loại hình giao dịch quan trọng cụ thể. Việc mua bán hàng hoá hữu hình trực tiếp thanh toán ngay không cần có bất kỳ một luật nào điều chỉnh. Thoả thuận mua bán một khối lượng hàng hoá trong tương lai với một mức giá nào đó được coi là một hợp đồng và dĩ nhiên do luật hợp đồng duy nhất điều chỉnh. Tuy nhiên, nhiều giao dịch bán hàng được thực hiện mà không có luật sư do các thương nhân bận rộn ở xa nhau, tiến hành giao dịch bằng thư từ, điện thoại, fax, sử dụng các đơn đặt hàng in sẵn, các mẫu vận đơn và hoá đơn. Do đó, cần có một luật bán hàng cụ thể để giải quyết những vấn đề như thời điểm và cách thức xác lập hợp đồng khi giao dịch diễn ra, bên nào phải chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hoá hay chịu rủi ro khi hàng hoá hư hỏng và chế tài nào sẽ được áp dụng khi hàng hoá không phù hợp với yêu cầu của bên mua hay khi bên mua không thanh toán. Như chúng tôi đã đề cập, các bên vẫn có thể tự do quy định các điều khoản điều chỉnh những vấn đề này, song hầu hết các giao dịch bán hàng diễn ra quá thường xuyên đến nỗi có lúc phát sinh chi phí khi giao kết hợp đồng theo tập quán gây ra.

Các công cụ thanh toán. Các giao dịch thương mại diễn ra thuận lợi nhờ có các hình thức thanh toán đa dạng và thuận tiện. Giao dịch bằng tiền mặt không còn phù hợp lắm trong các giao dịch thương mại. Kinh doanh hiện đại sử dụng nhiều công cụ thanh toán và hầu hết các công cụ này đều sử dụng các tiện ích ngân hàng. Mỗi giao dịch có thể được coi là một hợp đồng giữa người thanh toán, người được thanh toán và ngân hàng. Nhưng sẽ là không hiệu quả nếu phải xác lập một hợp đồng mới cho mỗi lần thanh toán, do đó các nước đề ra luật gồm các quy định hoàn toàn tiên liệu được để điều chỉnh các hình thức thanh toán. Thực tế, những giao dịch thanh toán này được quy định tỉ mỉ tạo điều kiện cho các giao dịch ngân hàng diễn ra hiệu quả và tăng mức độ an toàn cho người được thanh toán. Họ không còn nghi ngờ về hiệu lực của các hình thức thanh toán.

3. TÓM LƯỢC MỘT SỐ CÔNG CỤ THANH TOÁN

Séc. Séc là mệnh lệnh bằng văn bản đối với ngân hàng yêu cầu ngân hàng thanh toán cho ai một số tiền nhất định. Người viết séc (người ký phát) trước đó đã ký hợp đồng với ngân hàng (người bị ký phát) để ngân hàng có thể thanh toán cho người được thanh toán có tên trên séc. Thông thường người ký phát sẽ giao séc tận tay cho người được thanh toán, người này sẽ nạp séc vào tài khoản của mình ở ngân hàng và ngân hàng đó sẽ báo có vào tài khoản của người được thanh toán sau khi séc đó được gửi tới ngân hàng của người bị ký phát để thanh toán.

Chuyển khoản bằng Ðiện tử. Các bên mua bán và khách hàng đều thực hiện nhiều giao dịch thông qua thông tin điện tử hợp pháp. Hình thức phổ biến nhất là lệnh thanh toán của người thanh toán, người này gửi điện tín tới ngân hàng của mình để thanh toán cho người hưởng lợi thanh toán, thông thường thông qua việc báo có vào tài khoản của người được thanh toán. Cơ sở pháp lý của việc chuyển khoản bằng điện là hợp đồng giữa người thanh toán và ngân hàng, ở đây ngân hàng đồng ý tiến hành thanh toán sau khi nhận được điện tín phù hợp và an toàn. Tuy nhiên, những đạo luật và quy định hiện đại nhằm chuẩn hoá quyền và nghĩa vụ của người thanh toán, người được thanh toán và các ngân hàng của các bên đã hỗ trợ rất nhiều cho việc mở rộng hình thức thanh toán bằng điện bằng cách chỉ rõ những nguy cơ mà các bên thể gặp phải.

Thư tín dụng. Dù thực chất không phải là một công cụ thanh toán, nhưng thư tín dụng đóng một vai trò rất quan trọng trong cơ cấu thanh toán thương mại hiện đại, đặc biệt là trong bán hàng và do đó rất cần đề cập ở đây. Thư tín dụng là cam kết của một ngân hàng thanh toán cho đối tượng được chỉ định cụ thể của khách hàng sau khi xuất trình các giấy tờ phù hợp. Một giao dịch thư tín dụng điển hình gồm người mua chỉ thị cho ngân hàng của mình mở thư tín dụng cho người thụ hưởng là người bán ở xa và người bán này sẽ được thanh toán tại ngân hàng đó (hay một ngân hàng thành viên gần địa điểm của người bán) sau khi chuyển cho ngân hàng đó những giấy tờ cho phép người mua nhận hàng. Thông thường, những giấy tờ này sẽ được bên giao hàng phát hành, ở đây họ cam kết sẽ giao hàng cho người mua. Thư tín dụng cũng dựa trên hợp đồng, song việc chuẩn hoá các điều khoản tạo điều kiện cho các bên sử dụng công cụ hữu ích này mà không phải thương lượng chi tiết giữa các bên trong một hợp đồng theo tập quán.

Kỳ phiếu có thể Chuyển nhượng được (Negotiable Notes) (KPCTCNÐ). Loại giấy này được định nghĩa là một loại văn bản tượng trưng cho nghĩa vụ thanh toán của người vay đối với người cho vay một khoản tiền theo yêu cầu hoặc tại một thời điểm nào đó. Dĩ nhiên, các KPCTCNÐ thường dựa trên những hợp đồng mà thông qua đó một bên cho bên kia vay tín dụng. Ðiều mang lại tư cách đặc biệt cho các KPCTCNÐ đó là “tính chuyển đổi”, có nghĩa là người nắm giữ KPCTCNÐ có thể chuyển cho một người khác và trao quyền cho người đó được đòi người vay thanh toán mà không cần phải xem xét những biện hộ của người vay chống lại bên cho vay đầu tiên. Do đó, KPCTCNÐ là “toàn quyền” được thanh toán và có thể chuyển nhượng tự do giữa các bên sẵn sàng chấp nhận giấy đó để thanh toán. KPCTCNÐ không còn nhiều ý nghĩa trong thương mại vì các hình thức thanh toán khác nêu trên ngày càng chiếm ưu thế, nhưng tầm quan trọng lớn lao của nó trong quá khứ (tiền hiện đại cũng phát triển từ KPCTCNÐ do các ngân hàng phát hành) đã hình thành nên những khái niệm pháp lý phổ biến trong luật thương mại ngày nay.

Các Văn tự Sở hữu. Luật về Chứng từ Sở hữu tạo thuận lợi cho các giao dịch hàng hoá. Chứng từ này phần lớn là giấy biên nhận hàng hoá do những người chiếm hữu hàng hoá đó (“người nhận giữ”) cấp vì mục đích thương mại; người cấp thường là người chuyên chở hay người vận hành kho. Bên nhận hàng sẽ nhận hàng khi có chứng từ này. Dĩ nhiên, cơ sở của giao dịch này là hợp đồng giữa bên giao hàng và bên nhận giữ.

Luật thương mại cho phép chuyển nhượng những chứng từ này, do đó ai nắm giữ các chứng từ này một cách phù hợp sẽ có quyền đối với hàng hoá mà họ mô tả mà không bị ảnh hưởng bởi những khiếu nại hay biện hộ của bên đã gửi hàng cho bên nhận gửi nhằm chống lại người nắm giữ chứng từ. Do đó, những chứng từ này tượng trưng cho quyền hàng hoá và sở hữu chứng từ có nghĩa là sở hữu hàng hoá. Trong những trường hợp giao dịch thương mại khác, việc có luật nhằm chuẩn hoá quyền của các bên đối với các loại chứng từ khác nhau sẽ cho phép các bên thương mại hiểu rõ và có thể dựa vào các quyền nêu trong các chứng từ đó mà không phải mất nhiều chi phí.

Lợi quyền Bảo đảm. Lợi quyền bảo đảm là quyền dựa trên hợp đồng đối với một tài sản nhằm bảo đảm việc thanh toán nghĩa vụ. Nếu bên đi vay không thanh toán theo các điều khoản của hợp đồng, thì bên cho vay có lợi quyền bảo đảm (thường gọi là chủ nợ có bảo đảm) có quyền được giữ tài sản chỉ định đó (tài sản thế chấp) và bán đi để lấy tiền bù vào khoản nợ. Việc ký kết hợp đồng cho phép bên cho vay có quyền đối với bên đi vay. Các quy định về thông báo theo thủ tục áp dụng với bên cho vay có bảo đảm khi nắm giữ tài sản hay khi nộp giấy thông báo cho một cơ quan nhà nước sẽ xác lập quyền của bên cho vay đối trong các hàng hoá thế chấp đó đối với bên đứng ngoài hợp đồng. Do đó, cần coi lợi quyền bảo đảm là sự trao quyền tài sản cho bên cho vay có bảo đảm và có giá trị pháp lý về mặt nội dung như những quyền tài sản khác, ví dụ như quyền sở hữu.

Lợi quyền bảo đảm có thể áp dụng với hầu hết tất cả các hình thức tài sản. Lợi quyền bảo đảm đối với tài sản hữu hình tuy rất quan trọng trong giao dịch thương mại bất động sản, song không được luật thương mại của nước đó điều chỉnh. Lợi quyền bảo đảm đối với hàng hoá thương mại cũng được áp dụng đối với các tư liệu sản xuất, như các thiết bị công nghiệp. Nó cũng có thể được áp dụng đối với hàng hoá để bán lại (“hàng lưu kho”) và đối với các khoản nợ của bên thứ ba đối với bên đi vay (“các khoản phải thu”). Ðặc biệt, luật Hoa Kỳ đã đi tiên phong trong các khái niệm pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho lợi quyền bảo đảm đối với hàng lưu kho và các khoản phải thu. Lợi quyền bảo đảm cũng áp dụng đối với các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và tài khoản ngân hàng cũng như đối với tài sản vô hình như nhãn hiệu hàng hoá và quyền tác giả.

Lợi quyền bảo đảm làm giảm rủi ro và phí tổn trong việc cho vay của bên có bảo đảm. Bên cho vay có bảo đảm có thể tin tưởng vào việc được thanh toán, dù cho bên vay không thanh toán được, chừng nào tài sản thế chấp vẫn còn đủ giá trị bán được; nói chung lợi quyền bảo đảm được tôn trọng trong trình tự giải quyết việc mất khả năng thanh toán. Do đó, bên cho vay có bảo đảm không cần phải giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế của bên đi vay để xác định xem nguy cơ làm ăn thua lỗ có tăng lên hay không. Chừng nào bên cho vay vẫn biết chắc giá trị của tài sản thế chấp, thì chừng đó họ vẫn tin tưởng vào việc thu hồi toàn bộ nợ. Biện pháp bảo đảm này có thể sẽ làm giảm lãi suất cho bên đi vay và khuyến khích hơn việc cho các doanh nghiệp nhỏ mới thành lập vay. Ðồng thời, các doanh nghiệp đi vay theo một thoả thuận bảo đảm không chiếm hữu tài sản có thể vẫn nắm giữ tài sản thế chấp để phục vụ sản xuất. Chỉ khi bên đi vay không trả được nợ, thì bên cho vay có bảo đảm mới nắm giữ tài sản thế chấp để thực hiện quyền được thanh toán. Ðóng góp của nhà nước đối với việc tạo lập quyền hưởng lợi này đó là quản lý hiệu quả các giấy thông báo được nộp lên hoặc được tìm thấy.

Hợp đồng cho thuê. Hợp đồng cho thuê là việc chuyển giao các quyền tài sản cụ thể trong một thời gian nhất định, đổi lại được hưởng một số tiền. Thông thường, bên cho thuê nhận các khoản thanh toán tiền thuê định kỳ trong suốt thời gian cho thuê và nhận lại tài sản vào cuối giai đoạn cho thuê. Khi bên thuê không trả được tiền thuê đúng hạn, thì bên cho thuê có quyền lấy lại tài sản ngay lập tức.

Hoạt động cho thuê đất đai hay các toà nhà thương mại do luật bất động sản chứ không phải do luật thương mại điều chỉnh. Hoạt động cho thuê hàng hoá đã trở thành một hoạt động thương mại rất quan trọng. Phương thức cho thuê là hình thức khác của việc cấp tín dụng bán hàng có giấy tờ bảo đảm, trong đó việc thanh toán tiền thuê thay thế cho việc thanh toán định kỳ các khoản đến hạn theo một thoả thuận có bảo đảm. Tất nhiên, sự khác biệt chính là bên thuê phải trả lại hàng hoá sau khi thời gian thuê kết thúc, trong khi bên đi vay được sở hữu hàng hoá hoàn toàn sau khi đã thanh toán xong nợ cho bên cho vay có đảm bảo. Thông thường, bên đi thuê không muốn hoặc không cần thiết phải sở hữu lâu dài các tài sản kinh doanh vốn dĩ có thể hao mòn hay lạc hậu. Ngoài ra, bên cho thuê có thể được hưởng các ưu đãi về thuế mà bên có đảm bảo không được hưởng và có thể chia sẻ những ưu đãi đó với bên đi thuê.

Cho đến gần đây, hoạt động cho thuê hàng hoá tại nhiều nước mới được điều chỉnh bằng luật tài sản và hợp đồng chung. Nhưng khi hoạt động cho thuê trở nên phổ biến và các bên thuê ngày càng sáng tạo trong việc xây dựng các điều khoản mới về cho thuê, thì các nước ngày càng áp dụng rộng rãi luật chuyên ngành để điều chỉnh các giao dịch cho thuê. Ðây là một minh chứng khác của quá trình phát triển chuyên biệt hoá của luật thương mại khi các loại hình giao dịch đặc thù trở nên phổ biến nhằm tạo thuận lợi cho các bên tham gia các quan hệ thương mại chuẩn mực như mong muốn.

Phá sản. Luật phá sản điều chỉnh việc bên mắc nợ mất khả năng thanh toán tất cả các nghĩa vụ, thông thường được hiểu là số nợ lớn hơn giá trị tài sản. Ban đầu phá sản là một thủ tục chỉ giới hạn áp dụng với các thương nhân, hiện tại một số nước vẫn tiếp tục duy trì giới hạn áp dụng này, song tại nhiều nước khác phá sản đã trở thành một giải pháp quan trọng cho người tiêu dùng bị mắc nợ quá nhiều. Luật phá sản rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường vì nó quy định thủ tục buộc chấm dứt các công ty mất khả năng thanh toán và thực hiện các quyền của chủ nợ ở mức độ cho phép. Do đó, việc ra đời luật phá sản sẽ khuyến khích chủ nợ cho vay tiền do cảm thấy yên tâm vì pháp luật sẽ bảo vệ quyền được thanh toán của họ và họ có thể ước tính chính xác mức độ rủi ro xảy ra.

Bản chất của phá sản là mang lại sự phân chia công bằng các tài sản không đủ trả nợ của bên mắc nợ cho các chủ nợ. Thông thường, một người có chuyên môn đủ điều kiện (thường gọi là “người thanh lý tài sản”) được toà án uỷ quyền tiến hành thu hồi và thanh lý phần lớn các tài sản của bên mắc nợ, thẩm định tính hợp pháp các khiếu kiện của chủ nợ và phân chia các tài sản đó theo các quy định pháp luật về phân chia tài sản. Toà án chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan. Quy định về phân chia tài sản có khác nhau giữa các nước, song nói chung các chủ nợ có bảo đảm có quyền nhận tài sản thế chấp trước tiên, tiếp đến là các chủ nợ được ưu tiên thanh toán theo quy định pháp luật (như người lao động hoặc cơ quan thuế). Tiếp đến, các chủ nợ thường sẽ phân chia số tiền còn lại theo tỷ lệ tương ứng với khoản cho vay của họ. Sự thiên vị quá đáng lợi ích dành cho một số chủ nợ có thể khiến các chủ nợ này gây áp lực đòi con nợ phá sản nhằm hưởng lợi trong việc phân chia tài sản nằm ngoài phạm vi phá sản.

Luật phá sản tồn tại là nhờ có một hệ thống các đạo luật thực thi các quyền của chủ nợ không được thanh toán để thoả mãn các khiếu kiện hợp pháp của họ đối với các bên mắc nợ mất khả năng thanh toán, thông thường bằng cách cho phép thu giữ tài sản của bên mắc nợ hoặc bằng lệnh buộc thanh toán. Ðiều quan trọng đối với nền kinh tế thị trường là các đạo luật này phải công bằng, đáng tin cậy và được các cán bộ toà án thực thi hiệu quả vì đây là những chế tài thực tiễn bảo vệ các quyền hợp pháp. Phá sản là một giải pháp phù hợp có khả năng thay thế cho các chế tài riêng rẽ nói chung trong trường hợp bên mắc nợ mất khả năng thanh toán và có quá nhiều chủ nợ. Trong những trường hợp như vậy, việc tranh giành thực hiện các chế tài của mình giữa các chủ nợ sẽ gây lãng phí tiền của cho họ và có thể phá hoại giá trị tài sản của bên mắc nợ do tiến hành phân chia hay thanh lý tài sản quá sớm và dẫn tới nguy cơ các chủ nợ được bên mắc nợ ưu tiên không được hưởng các ưu đãi công bằng.

Luật phá sản thường là một giải pháp khác cho việc thanh lý bên mắc nợ bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được một thoả thuận thoả hiệp giữa bên mắc nợ và các chủ nợ. Những thỏa thuận như vậy có thể là kéo dài thời hạn thanh toán nợ, xoá một phần nợ, chuyển đổi nợ thành cổ phần hay các quy định khác về tài chính mà chủ nợ hi vọng sẽ thu hồi nợ tốt hơn so với khi tiến hành thanh lý ngay lập tức.

Một số luật hiện đại không chỉ cho phép các thoả hiệp như vậy, mà còn tích cực khuyến khích bằng cách cho phép một khoảng thời gian để bên mắc nợ tiến hành thương lượng trước khi thanh lý, cho phép các thoả thuận ràng buộc không cần sự đồng thuận hoặc đình hoãn quyền thu giữ tài sản thế chấp của chủ nợ. Các luật như vậy nhằm bảo đảm giá trị sản xuất của các doanh nghiệp để bồi hoàn tốt hơn cho các chủ nợ và bảo vệ người lao động và cộng đồng chống lại việc sa thải lao động không cần thiết. Chương 11 của Luật Phá sản Hoa Kỳ vẫn là quy định về vấn đề tổ chức lại có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Chương 11 này đã gây ra nhiều tranh cãi trong nước do chỉ có rất ít các công ty có thể vươn lên thành công (khoảng 25%) và do nó gây trì hoãn và phát sinh chi phí cho các chủ nợ trong một số vụ nổi tiếng.

(Hết)

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_prospe

TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH

Bạn đã từng bao giờ xem xét việc khiếu kiện một ai đó vì họ đã không thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng? Hoặc bạn đã từng bị người khác kiện chưa? Bất kể có kinh doanh hay không, rất nhiều khả năng, sẽ có lúc bạn phải tham dự như một đối tác trong một hợp đồng kinh doanh. Tuy nhiên, rất ít người trong số chúng ta nắm vững những cơ sở pháp lý của một hợp đồng kinh doanh nói chung.

shake-hand.jpgVề cơ bản, một hợp đồng là một sự thỏa thuận về việc sẽ thực hiện hay không thực hiện một điều gì đó. Một hợp đồng có tính logic có nghĩa là nó có sự ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực. Mỗi điểm thỏa thuận trong hợp đồng đều phải rõ ràng, có chủ thể đi kèm để tránh những tranh chấp và kiện tụng có thể xảy ra. Nếu hỏi bất cứ một luật sư nào, họ sẽ trả lời bạn rằng việc kiện cáo rất tốn kém nhưng lại không hiệu quả để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng. Hơn nữa, bạn sẽ mất đi quyền kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến tranh chấp khi với sự xuất hiện toà án.
Bạn cũng nên biết một điều quan trọng là không phải mọi hợp đồng đều phải được thể hiện trên giấy tờ. Có thể lấy bang California làm ví dụ, ở đây các thỏa thuận có thể thực hiện bằng miệng, và vẫn có hiệu lực pháp lý. Dù hợp đồng thể hiện bằng cách nào, muốn đảm bảo hiệu lực về pháp lý, nó đều phải bao gồm những yếu tố sau đây:
– Năng lực của các bên tham gia hợp đồng;
– Sự đồng tâm, nhất trí của các bên;
– Tính hợp pháp của khách thể trong hợp đồng (hay nội dung công việc của các bên tham gia thỏa thuận thực hiện trong hợp đồng không vi phạm luật pháp);
– Thể hiện sự kỹ lưỡng.
Nội dung cụ thể của các yếu tố này như sau:

1. Năng lực của các bên tham gia hợp đồng

Bất cứ ai cũng có thể tham gia k‎ý kết hợp đồng, trừ những đối tượng sau đây:
– Trẻ vị thành niên;
– Những người phạm tội – được coi là không có năng lực pháp lý để tham gia ký kết hợp đồng;
– Những người không đủ năng lực về trí tuệ.
Nội dung hợp đồng phải xác định rõ những bên tham gia thực hiện là ai, thông thường phải ghi đầy đủ tên họ. Địa chỉ và chức danh thì không nhất thiết mọi trường hợp đều phải ghi rõ. Ví dụ, trong một hợp đồng mua bán, bên cạnh việc ghi tên, thì cần xác định rõ thêm ai là người bán, ai là người mua, để mô tả rõ hơn về các bên tham gia thực hiện hợp đồng.
2. Tính nhất trí
Một hợp đồng được đảm bảo về mặt pháp lý yêu cầu phải thể hiện sự đồng tâm, nhất trí của các bên. Sự nhất trí này phải vừa thể hiện sự tự nguyện, lại vừa thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các bên. Sự nhất trí không được coi là tự nguyện khi mà nó đạt được bằng cách ép buộc, đe dọa, lừa gạt, những tác động phi lý khác. Nhiều cuốn sách đã viết về những tính chất phức tạp của các nhân tố này.
Tuy nhiên, chắc chắn khi một người tham gia ký kết hợp đồng, họ cũng đã dự tính những điều không đi đến sự nhất trí trong quá trình thực hiện, và trong trường hợp đó, có thể hủy bỏ hợp đồng và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Mặc dù trong mọi trường hợp, tuy không thể hiện một cách rõ ràng, nhưng đều đề cập đến sự can thiệp của luật pháp trong từng trường hợp cụ thể. Nói chung, hợp đồng là phải có sự đưa ra bàn bạc và chấp thuận bởi các bên.
3. Khách thể hay mục tiêu, mục đích của hợp đồng
Một hợp đồng bao giờ cũng bao gồm chủ thể và khách thể. Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia thực hiện cam kết, khách thể là nội dung mà các bên cam kết thực hiện, còn được gọi là mục tiêu hay mục đích của hợp đồng. Khách thể của hợp đồng phải có tính hợp pháp, có thể thực hiện được và có hạn định rõ ràng. Quan tòa sẽ tuyên bố một hợp đồng không có hiệu lực pháp lý khi nó được tạo thành bởi một hành động phi pháp. Ví dụ, việc buôn bán ma tuý là vi phạm pháp luật, và đương nhiên một người trả tiền để mua ma tuý sẽ không thoát tội cũng như không thể tìm kiếm sự giúp đỡ của quan tòa để lấy lại số tiền mà họ đã bỏ ra.
4. Tính kỹ lưỡng
Tất cả các hợp đồng đều yêu cầu phải được xem xét một cách kỹ lưỡng tất cả các điều khoản. Điều này cũng có nghĩa là mỗi bên đều phải đạt được một điều gì đó, thể hiện mối quan hệ giữa “cho” và “nhận”, “mất” và “được”.
contract.500.jpgKhi một bên đồng ý làm một điều gì đó (ví dụ như sơn toàn bộ ngôi nhà) hoặc không làm một điều gì đó (không bán ngôi nhà này cho bất cứ ai trong vòng 30 ngày), họ đều phải đạt được một điều gì đó hay có mục đích nào đó. Nói chung, nếu như bạn nói sẽ sơn toàn bộ ngôi nhà cho một ai đó, và muốn nhận được ở anh ta một số tiền trả công hay một cái gì đó đổi lại, nhất thiết phải được thỏa thuận rõ ràng, kỹ lưỡng và có ràng buộc. Bởi vì, nếu như không thể hiện sự ràng buộc này, bạn cứ sơn nhà và sau đó không đạt được mục đích mà bạn muốn đổi lại, bạn kiện anh ta ra tòa, anh ta hoàn toàn có thể nói trước tòa rằng anh ta không hứa hẹn và cam kết điều gì với bạn.
Một hợp đồng tất nhiên không được coi là logic và được luật pháp bảo vệ nếu như không được thể hiện bằng văn bản. Bởi vì, nó còn liên quan đến bất động sản, các khoản nợ nần và lợi nhuận. Đồng thời cũng cần phải lưu ý đến thời hạn thực hiện, vì quá thời hạn đó, hợp đồng sẽ hết giá trị pháp lý. Tuy nhiên, một số trường hợp ngoại lệ vẫn được sự bảo hộ của luật pháp.
Thông thường, khi các bên giao dịch với nhau và đi đến sự thỏa thuận đều dựa trên sự tin tưởng ở nhau. Tuy nhiên, cần lưu ý là một hợp đồng được soạn thảo tốt sẽ là sự bảo vệ tốt nhất cho bạn trong trường hợp nảy sinh tranh chấp. Trong thế giới kinh doanh hiện đại, bạn nên liên lạc với luật sư trước khi đặt bút ký vào bất kỳ một hợp đồng nào.
Để tránh bị mất thời gian và tiền bạc, bạn có thể có một luật sư riêng cho công ty để xem xét và tư vấn về mặt pháp luật đối với các vụ làm ăn kinh doanh mà bạn sẽ tiến hành. Tuy nhiên, nếu giá trị hợp đồng nhỏ, ví dụ chỉ khoảng 100 đô-la, và hợp đồng tuơng đối đơn giản, thì bạn chỉ cần tới sự trợ giúp của các văn phòng luật tại địa phương là đủ. Giá trị hợp đồng càng nhỏ, nội dung hợp đồng càng đơn giản, thì càng ít cần sự giúp đỡ của luật sư. Bạn có thể sử dụng những sự tư vấn đưa ra trong bài viết này.

SAGA.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG:

NGHIÊN CỨU MỘT VỤ TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG

Diễn biến của một vụ kiện do trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thụ lý. Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu và thảo luận.
Nguyên đơn: Công ty TNHH THÉP THÀNH LONG (Người mua Việt Nam).
Bị đơn: Công ty XINXIN TRADING DEVELOPMENT CO.,LTD (Người bán Trung Quốc).
Ngày 15/5/2006 Nguyên đơn ký hợp đồng số TL/XX0306 mua của Bị đơn 750MT thép góc Q235 (+/- 10%) giá 445 USD/MT CNF FO cảng Hải Phòng theo Incoterms 2000.

  • Giao hàng chậm nhất 30/6/2006.
  • Thanh toán bằng L/C không huỷ ngang trả tiền ngay.
  • Điều 8 của hợp đồng quy định: trong trường hợp chất lượng của hàng ở cảng đến không phù hợp với hợp đồng, Người mua có thể khiếu nại Người bán bằng biên bản giám định do SGS cấp và gửi cho Người bán trong vòng 40 ngày kể từ ngày hàng đến cảng đến.

Ngày 17/5/2006, Nguyên đơn mở L/C số 009LC01061370002 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á cho Bị đơn hưởng lợi.
Ngày 8/6/2006 lô hàng đầu tiên 436,484 MT đã cập cảng Hải Phòng. Nguyên đơn tự thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng nên đã không nhận hàng và thông báo cho Bị đơn về những khiếm khuyết của lô hàng.
Ngày 25/7/2006, Nguyên đơn đã kiện Bị đơn lên VIAC. Trong đơn kiện Nguyên đơn đưa ra bằng chứng nói Bị đơn thừa nhận lô hàng “có vấn đề nghiêm trọng” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 23/6/2006) và cam kết “sớm giải quyết vấn đề tái xuất hàng trong thời gian sớm nhất” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 27/6/2006).
Đồng thời trong công văn gửi cho Hải quan Việt Nam và cho Nguyên đơn, Bị đơn đã thừa nhận lô hàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo hợp đồng, và cam kết sẽ thay thế hàng trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên đến nay Bị đơn vẫn chưa thực hiện việc thay thế lô hàng.
Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải trả khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% giá trị toàn bộ lô hàng, tương đương 26.700 USD, cộng với các khoản thiệt hại khác sẽ tính toán sau.
Trong bản tự bảo vệ ngày 1/10/2006 Bị đơn khẳng định đã giao hàng đúng hợp đồng là loại thép Q235B, cho rằng “dù mặt lô thép có vết chân chim trong phạm vi cho phép, nhưng không hề ảnh hưởng đến việc sử dung nó một cách bình thường”.
Bị đơn cho rằng Nguyên đơn đã đặt nhầm hàng vì sau đó ngày 2/8/2006 lại kí hợp đồng mua của Bị đơn thép Q345 với cung quy cách như hợp đồng TL/XX0306, nên không có thiện chí nhận hàng.
Lô hàng thứ hai 286,898 MT đưa lên thuyền ngày 18/6/2006 cập cảng Hải Phòng ngày 28/6/2006 nhưng Nguyên đơn không đến xem hàng. Bị đơn nhiều lần đề nghị Ngân hàng thanh toán nhưng không được thanh toán. Đồng thời Bị đơn đưa ra văn bản Nguyên đơn gửi cho Ngân hàng Đông Á trong đó đề nghị huỷ L/C ngày 20/6/2006.
Bị đơn cũng đưa ra lí do đã hơn 80 ngày nhưng chưa nhận được bất kì chứng từ nào của SGS tức là Nguyên đơn đã tự mình từ chối quyền yêu cầu bồi thường theo hợp đồng.
Trong văn bản trả lời Nguyên đơn phủ nhận việc mua nhầm hàng và nói rằng chất lượng lô hàng Bị đơn cung cấp là quá kém. Giám đốc bên Bị đơn cũng thừa nhận “hàng có vấn đề nghiêm trọng về chất lượng” nên không cần mời SGS giám định.
Nguyên đơn cũng khẳng định việc Ngân hàng Đông Á không tiến hành thanh toán là theo yêu cầu của Ngân hàng của Bị đơn. Nguyên đơn cho rằng việc Ngân hàng này yêu cầu Ngân hàng Đông Á ngừng việc thanh toán và trả lại bộ chứng từ là do họ cũng đã nhận ra bộ chứng từ không phù hợp với chất lượng của lô hàng trên thực tế và không phù hợp với quy định của hợp đồng.
Chúng ta có thể thấy rõ ràng là phía Trung Quốc đã vi phạm hợp đồng, tuy nhiên, với những hành vi dẫn tới hậu quả tước bỏ quyền lợi của Việt Nam, liệu phía Việt Nam có được bồi thường đầy đủ. Xin các Saganor nêu ra ý kiến của mình.

SAGA.VN – S.T

VÀO WTO, ĐẤT ĐAI CÒN THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN?

Khi hội nhập WTO, pháp luật về đất đai của Việt Nam sẽ có đổi mới? Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của Việt Nam sẽ ảnh hưởng tới cơ chế thị trường ra sao?

Trao đổi về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Hùng Võ nói: ”Một trong những quan điểm quan trọng của đề án xây dựng Luật Đất đai mới trình Quốc hội là bảo đảm tính tương thích về pháp luật trong quá trình hội nhập quốc tế, trong đó đã tính tới việc nước ta sẽ gia nhập WTO trong thời gian trước mắt”.

Đất đai: 1 trong 3 yếu tố đầu vào khi hội nhập

Thưa Thứ trưởng, ông có thể đưa ra những quy định nào trong Luật Đất đai năm 2003 để chứng minh về quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế của Luật này?

Chứng minh việc này không khó. Thứ nhất, trong Luật Đất đai năm 1993 có một Chương riêng để quy định về quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài, nhưng trong Luật Đất đai năm 2003 không còn Chương này nữa. Nhà đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam được pháp luật cư xử bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước.

Thứ hai, Luật Đất đai năm 2003 đã cắt phần lớn cơ chế bao cấp về đất của Nhà nước, áp dụng hệ thống tài chính đất đai 1 giá đất phù hợp với giá thị trường.

Thứ ba, không có bất kỳ một quy định nào mang lại ưu đãi về đất cho các tổ chức kinh tế của Nhà nước, các thành phần kinh tế trong nước hoàn toàn bình đẳng về quyền sử dụng đất.

Thứ tư, quyền sử dụng đối với thửa đất là tài sản của người sử dụng đất, quyền tài sản đó được pháp luật dân sự bảo hộ như các tài sản khác và được tham gia thị trường bất động sản.

Thứ năm, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai được cải cách triệt để theo hướng phục vụ người sử dụng đất thông qua hệ thống dịch vụ công của các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai của Việt Nam có gì khác so với các nước thành viên khác của WTO, thưa Thứ trưởng?

Trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO, có một số việc chúng ta phải thực hiện ngay như bổ sung một số luật chưa có, đa số việc là phải cam kết thực hiện trong một thời gian nhất định (Việt Nam được 12 năm thực hiện các cam kết).

Mục tiêu đặt ra là sau thời gian đó chúng ta phải có một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh theo chuẩn mực của WTO và hệ thống thương mại phải tuân thủ các hiệp định của WTO dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là: “Tối huệ quốc đa phương”; “Ưu đãi quốc gia cho hàng hoá trong nước ngang bằng với hàng hoá nhập khẩu”; “Mở cửa thị trường cho hàng nhập khẩu”; “Cạnh tranh công bằng”.

Đối tượng điều chỉnh của các hiệp định này là hàng hoá vật thể, hàng hoá dịch vụ và hàng hoá trí tuệ. Cơ chế tác động trực tiếp lên hàng hoá mà các nước thành viên của WTO quan tâm là hải quan, hàng rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan.

Với những điểm cốt yếu như trên khi hội nhập kinh tế quốc tế trong WTO, tưởng như vấn đề đất đai không có gì liên quan lắm. Lúc này, cần nhìn đất đai là 1 trong 3 yếu tố đầu vào của quá trình phát triển kinh tế – xã hội (đất đai, lao động, vốn). Đất đai có liên quan tới cơ chế ưu đãi cho đầu tư (giữa nước ngoài và trong nước); mở cửa thị trường cho đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản; mở cửa thị trường dịch vụ trong đó có dịch vụ ngân hàng trong thế chấp bằng đất; bảo đảm tính công bằng về quyền tiếp cận đến quỹ đất của các thành phần kinh tế.

Hệ thống chính sách đất đai phải bảo đảm tính công bằng đối với mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài. Hệ thống pháp luật đất đai phải tương thích với pháp luật đất đai của các nước đã thực hiện xong các cam kết trong lộ trình hội nhập. So với các nước này, pháp luật về đất đai của nước ta còn một số điểm khác cần tiếp tục đổi mới.

Cụ thể: chúng ta chỉ công nhận 1 hình thức sở hữu toàn dân về đất đai (các nước công nhận đa sở hữu về đất đai); cơ chế Nhà nước thu hồi đất và giao hoặc cho thuê đất chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường; doanh nghiệp nước ngoài chỉ được thuê đất của Nhà nước hoặc của tổ chức kinh tế trong nước, không được Nhà nước giao đất, không được thuê đất của hộ gia đình và cá nhân, không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thế chấp bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện với các tổ chức tín dụng nước ngoài có pháp nhân ở Việt Nam.

Quyền lợi, nghĩa vụ người sử dụng đất Việt Nam không khác thế giới

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ảnh hưởng như thế nào đến quá trình hội nhập kinh tế của nước ta, thưa Thứ trưởng?

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ. Bản chất các quyền năng về sở hữu đối với đất đai đã được thể hiện rất rõ trong Luật Đất đai năm 2003. Sở hữu về đất đai có đặc thù riêng, có phần “của riêng” và có phần “của chung”, không giống sở hữu đối với các đối tượng khác.

Chúng ta tiếp cận đến sở hữu đất đai bằng con đường chỉ công nhận hình thức sở hữu toàn dân và giao một số quyền năng sở hữu cho người sử dụng. Các nước khác lại sử dụng cách tiếp cận là công nhận nhiều hình thức sở hữu nhưng hạn chế lại để chuyển một số quyền năng sở hữu cho Nhà nước.

Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước. Về điều này, chúng tôi đã có dịp chứng minh về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của nước ta không gây bất kỳ ảnh hưởng nào tới cơ chế thị trường trong vụ kiện xuất khẩu cá basa, tôm, hàng dệt may của nước ta. Các chuyên gia, các nhà đầu tư nước ngoài đã công nhận. Như vậy, điểm đến của ta và các nước khác là trùng nhau, chỉ khác nhau về giải thích thuật ngữ thôi. Tôi cho rằng đây là một ví dụ điển hình về phân tích cặp phạm trù “nội dung và hình thức”.

Một sự khác nhau quan trọng nữa, như Thứ trưởng đã nói ở trên, là có sự phân biệt về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là tổ chức nước ngoài, chúng ta đổi mới điểm này như thế nào trong lộ trình hội nhập?

Pháp luật về đất đai nước ta có đặt ra một nguyên tắc là tổ chức, cá nhân nước ngoài không được sở hữu quyền sử dụng đất ở Việt Nam.

Tôi cho rằng đây cũng chỉ mang tính hình thức vì tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất của Nhà nước có thời hạn có quyền và nghĩa vụ trong thời hạn đó như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước giao đất có thời hạn. Như vậy chỉ còn gọi tên động tác này là “Nhà nước giao đất” hay “Nhà nước cho thuê đất”. Lại cũng là cùng nội dung nhưng khác nhau về hình thức. Nếu sửa hình thức thuật ngữ mà không ảnh hưởng đến nội dung thì cũng nên làm.

Khi hình thức “Nhà nước giao đất có thời hạn cho tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài” được pháp luật thừa nhận thì vấn đề tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài nhận chuyển nhượng có thời hạn đối với quyền sử dụng đất; thuê đất của hộ gia đình, cá nhân; nhận thế chấp bằng đất đai cũng sẽ được pháp luật thừa nhận.

(Theo Vietnam Net tháng5/2006)

SỬ DỤNG ẢNH ĐỜI TƯ CÁ NHÂN PHẢI XIN PHÉP

Cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc

Quy định sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó, nếu dưới 15 tuổi thì phải có sự đồng ý của gia đình… có khả thi, thưa ông?

 

– Quy định như thế là chặt chẽ, phản ánh tình trạng lâu nay sử dụng hình ảnh cá nhân hơi dễ dãi. Nhưng theo tôi, đúng là phải tính đến tính khả thi. Hình ảnh trong sinh hoạt bình thường, chẳng hạn tường thuật về một hội thảo nào đó, mình lên phát biểu, người ta chụp đưa lên báo thì cũng phải xin phép à? Hoặc trong sinh hoạt nào đấy có hình ảnh cá nhân như lễ hội, mít tinh… thì như thế nào?

Thật ra sử dụng hình ảnh phải xin phép là thuộc về đời tư của người ta. Bộ luật Dân sự hiện hành cũng đã quy định rồi nhưng chưa nghiêm.

Nhưng với quy định như vậy cũng chưa đầy đủ và chưa thực hiện được?

Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính;

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

(Điều 25, dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi)

– Ý tôi muốn nói là tính khả thi. Tức là có chuyện phiền phức cho người có hình ảnh. Chẳng hạn bây giờ hình ảnh của một đồng chí lãnh đạo, hàng chục báo đưa thì đều phải đến xin phép à?– Quy định trong dự thảo Bộ luật về quyền của cá nhân đối với hình ảnh có ”đuôi” là ”trừ trường hợp pháp luật quy định”, vậy pháp luật quy định ở đâu?

– Cái đó tôi không thích lắm! Như thế người sử dụng luôn luôn ở trong tình trạng nơm nớp không biết đã hết các quy định chưa. Một người làm thế nào theo dõi hết những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề ấy? Rồi thì hôm nay quy định thế này mai còn bổ sung thế khác? Như thế tạo ra tình trạng không ổn định về mặt tâm trạng giữa người trong giao lưu dân sự với nhau. Tôi rất mong là nên bỏ cách quy định ấy đi.

Hiện nay đã có quy định trường hợp nào sử dụng hình ảnh cá nhân không phải xin phép?

– Chưa, cho đến bây giờ chưa có. Hôm qua (Quốc hội thảo luận về dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi), có đồng chí phát biểu, kỳ này cái số ”theo quy định của pháp luật” còn hơn bộ luật hiện hành. Bằng cách đó chúng ta biến luật thành luật khung trong khi trên thực tế không có luật nào quy định thêm nữa. Nhưng như thế tạo nên tâm trạng: ”À, luật này vẫn đang là luật khung! Mới khung thế này còn chờ quy định cụ thể”.

– Theo ông, những trường hợp nào sử dụng hình ảnh không phải xin phép?

– Đấy là tuỳ vào  tính chất của việc sử dụng hình ảnh. Có lẽ được sử dụng là những hình ảnh trong sinh hoạt chung như tôi đã nói. Trường hợp sử dụng hình ảnh cá nhân đụng chạm đến đời tư người ta thì phải xin phép.

Vừa qua, có việc sử dụng hình ảnh đời tư của cá nhân, người mẫu đưa lên lên mạng Internet…?

– Cái đó là ”trộm” rồi! Cách làm không đẹp và động cơ không tốt! Như thế có thể bị kiện. Báo chí lâu nay cũng phải nghĩ mình chưa chặt chẽ với bản thân mình lắm!

Tương tự, bảo vệ quyền bí mật đời tư lâu nay đã làm khó các nhà văn, nhà báo, nhà viết sử sử dụng tư liệu về cá nhân trong lịch sử?

– Vấn đề là phải có thời hiệu của nó. Ngay bây giờ quyền xuất bản cũng thế! Tác giả đã chết bao năm rồi thì tác phẩm tự nhiên trở thành một tài sản chung và mọi người đều có thể sử dụng. Chẳng hạn, giữ bí mật đời tư thì làm sao tìm ra người thân. Chẳng hạn trước ở Việt Nam sau người ta sang Mỹ thì tìm thế nào?

– Hiện nay đã có quy định thời hiệu…?

– Mới quyền sử dụng tác phẩm có quy định thời hiệu trong luật về quyền tác giả.

Nhưng còn tư liệu lịch sử về đời tư của cá nhân?

– Tư liệu lịch sử thì dùng tư nhiên chứ việc gì phải xin phép ai nữa! Vấn đề là anh trích, nói từ đâu, nguồn gốc thế nào. Trừ tài liệu mật lại khác.

Nhưng có chuyện người viết sử về dòng họ, cá nhân nào đó nhưng con cháu của họ kiện xâm phạm bí mật đời tư?

– Vấn đề là anh tìm, trích tư liệu đó từ đâu. Nếu nó là nguồn tài liệu bí mật anh trích không xin phép ai cả, không xin phép gia đình thì rõ ràng trái luật. Nhưng còn tài liệu mọi người được sử dụng được thì việc gì phải xin phép. Chẳng hạn, tư liệu để trong thư viện mà lâu nay không ai đụng chạm tự nhiên anh lục ra thì anh sử dụng bình thường.

Trong luật, có trường hợp thu thập, công bố, sử dụng thông tin về bí mật đời tư theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, là cơ quan nào?

– Phải chờ luật quy định. Cơ quan có thẩm quyền là cơ quan trực tiếp quản lý vấn đề đó. Có thể là Bộ Văn hoá Thông tin.

Đó là công thức rất chung. Cái gọi là cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ là cách gọi cho nói qua mà thôi, chứ chưa đề cao đầy đủ trách nhiệm của người quy định.

Tới đây mình phải cụ thể hoá?

– Trong trường hợp đó phải rất cụ thể! Vì dân có thể làm tất cả những gì pháp luật không cấm.

Xin cảm ơn ông!

Điều 31: Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điều 38: Quyền bí mật đời tư

Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

(Trích dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi)

Theo Vietnamnet 7/5/2005

CÁC THÔNG TIN KHÁC CÓ LIÊN QUAN

1. HIẾN XÁC PHẢI ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA GIA ĐÌNH

”Việc hiến xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện với sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên của người đó”.

Đây là nội dung quan trọng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp thu, đưa vào dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trình Quốc hội xem xét sáng 6/5.

Lý do, theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Vũ Đức Khiển, mặc dù hiến xác, hiến bộ phận cơ thể là quyền nhân thân nhưng việc thực hiện quyền này lại phụ thuộc rất nhiều vào cha, mẹ, vợ, chồng, con của người đã chết. Quy định này cũng để bảo đảm quyền này được thực hiện trên thực tế và phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc ta.

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể phục vụ chữa bệnh, nghiên cứu khoa học là vấn đề còn rất mới, trong thực tế chưa phát sinh nhiều. Cho nên dự thảo Bộ luật dân sự chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc với tư cách là quyền dân sự về nhân thân. Còn các vấn đề cụ thể về trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng bộ phận cơ thể người, xác của người chết sẽ được cụ thể hoá và quy định tại các văn bản khác.

Về quyền xác định lại giới tính, có ý kiến đề nghị không nên quy định quyền này trong Bộ luật Dân sự vì đây là vấn đề rất mới, chưa phổ biến, không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cũng như truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Nhưng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không đồng tình với lý do: ”Quyền xác định lại giới tính là một trong các quyền nhân thân, quyền tự do của mỗi cá nhân khi người đó do khuyết tật bẩm sinh, chưa định hình chính xác giới tính mà cần xác định lại giới tính nhờ sự can thiệp của y học”.

Do đó, quyền xác định lại giới tính được ghi nhận trong dự thảo Bộ luật nhưng chỉ mang tính nguyên tắc về quyền dân sự còn các nội dung cụ thể sẽ được hướng dẫn sau. Các khái niệm ”khuyết tật bẩm sinh”, ”chưa định hình chính xác” giới tính trên cơ thể người cũng sẽ được làm rõ trong văn bản pháp luật chuyên ngành.

Theo ông Vũ Đức Khiển, các quyền nhân thân khác như cho phôi, quyền mang thai hộ, quyền được chết đã không được ghi nhận trong dự thảo Bộ luật. Về quyền cho phôi, nội dung này rất mới, xuất hiện cùng với sự phát triển của khoa học, nên cần thời gian nghiên cứu kỹ hơn. Về quyền được chết, theo phong tục tập quán, truyền thống căn hoá của Việt Nam và ngay cả ở nhiều nước phát triển khác thì thừa nhận quyền này trong điều kiện hiện nay là không phù hợp.

Bộ luật Dân sự là đạo luật quan trọng, liên quan sát sườn đến mọi người dân, có nhiều vấn đề nhạy cảm. Vì vậy, thảo luận của Quốc hội về Bộ luật này (cả ngày hôm nay 6/5 và sáng mai) sẽ được truyền hình trực tiếp cho cử tri cả nước theo dõi.
Theo Vietnamnet ngày 6/5/2005

2. QUI ĐỊNH BẤT KHẢ THI VỀ QUYỀN HIẾN XÁC HOẶC MỘT BỘ PHẬN CƠ THỂ

Kỳ họp thứ 7 – Quốc hội khoá XI đã dành nhiều thời gian thảo luận dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi). Nhưng đến nay, không khí thảo luận về những vấn đề còn gây nhiều tranh cãi vẫn chưa lắng xuống, đặc biệt là quyền hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể người. Liên quan đến quyền này, ĐB Nguyễn Tài Lương (GS – Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật HN) đã dành cho phóng viên Báo Lao Động một cuộc phỏng vấn.
*Thưa GS, trong dự án Bộ luật Dân sự sửa đổi lần này có quy định người hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể phải có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên của người đó. Quy định như vậy liệu có khả thi?

– Việc hiến bộ phận cơ thể, hiến xác đó là quyền cá nhân người đó. Nếu như phải có sự đồng ý của thân nhân người đó thì không khả thi – đưa ra quy định trong luật nhưng lại không thể thực hiện được. Theo tôi, chỉ cần hỏi ý kiến của một đại diện gia đình và người đại diện đó phải được các thành viên trong gia đình uỷ quyền quyết định việc này. Những công việc đó phải được thực hiện khi người hiến xác hoặc bộ phận cơ thể còn minh mẫn, tỉnh táo.
* Như GS vừa nói thì có thể coi ý nguyện của người hiến xác, hoặc bộ phận cơ thể cho khoa học như một di chúc? Và như vậy, quyền để lại di chúc là quyền nhân thân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ?

– Cần phải coi đó là một di chúc, mà đã là di chúc thì được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, hoặc nói cách khác đó là quyền nhân thân bất khả xâm phạm.
* Xin GS cho biết ý kiến của mình về vấn đề này – nhìn ở góc độ khoa học và tính nhân đạo?

– Tôi chỉ nói đơn giản, nếu sinh viên không được học tập nghiên cứu trên cơ thể con người, thì làm sao có đủ kiến thức thực tiễn để khi ra trường có thể trị bệnh cứu người tốt được? Khoa học không có những thực nghiệm trên cơ thể người thì làm sao có những nghiên cứu khả thi để phục vụ lại con người?
* Nhưng thưa GS, ở góc độ đạo lý khác làm chúng ta phải suy nghĩ. Nếu người con có nguyện vọng hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể mà bất chấp sự đồng ý hay không đồng ý của cha mẹ, như vậy đã phải đạo lý chưa?
– Trường hợp này, cha mẹ là người dưỡng dục, sinh thành mà không đồng ý thì cũng phải chịu thôi chứ biết làm thế nào.
* Vậy thì về vấn đề hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể không thể tách bạch được giữa quy định của luật pháp và đạo lý. Thưa GS, cũng phải có cách ứng xử thế nào cho trọn vẹn?

– Như tôi đã nói, cần thiết phải có ý kiến của 1 người đại diện gia đình chứ không phải tất cả những người thân trong gia đình như dự án Bộ luật Dân sự đã quy định. Nhưng, quan trọng nhất là công tác tuyên truyền, giải thích cho gia đình và mọi người dân thấy được việc hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể là việc làm mang ý nghĩa nhân đạo rất lớn, đó là sự cống hiến cho khoa học, cho sự phát triển nền y học của đất nước…
Theo Lao động

3. DANH DỰ, NHÂN PHẨM BỊ XÂM HẠI: BỒI THƯỜNG THẾ NÀO?

Tại hội thảo khoa học đóng góp ý kiến về dự thảo Bộ luật Dân sự do Trung tâm Thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học (Văn phòng Quốc hội) tổ chức, đa số các ý kiến đều thống nhất: danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính được bằng tiền và không thể xác định được mức đọ bị thiệt hại khi có hành vi xâm phạm, đồng thời các ý kiến cũng thống nhất rằng những khoản thiệt hại này buộc phải bồi thường. Bồi thường như thế nào thì ý kiến lại rất khác nhau. Thạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn (ĐH Luật Hà Nội) đề nghị: “Kể từ ngày vi phạm đến ngày bồi thường thực tế, mỗi ngày phải bồi thường bằng một (hai) ngày lương cơ bản. Trường hợp xâm phạm đến tính mạng thì cha mẹ, vợ chồng, con sẽ được hưởng tiền bồi thường tính từ ngày có hành vi xâm phạm đến hết thời gian chịu tang (ba năm)/một người thân thích”.

Phó Giáo sư-Tiến sĩ Hà Thị Mai Hiên, Viện Nhà nước và Pháp luật lại cho rằng: “Trước hết cần đề cao việc để các bên tự thoả thuận. Luật không thể định lượng được việc bồi thường mà cần xác định nguyên tắc chung: bồi thường đủ những thiệt hại vật chất và tinh thần; còn tuỳ từng trường hợp cụ thể, mức bồi thường sẽ căn cứ vào những tình tiết, điều kiện của hai bên.”

Việc hiến các bộ phận cơ thể và hiến xác, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Đinh Văn Thanh (TANDTC) không đồng ý với việc “phải tôn trọng và phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc”. Ông Thanh nói: “Quan niệm tập quán ngày nay cũng đã có sự thay đổi, đó là việc hoả táng sau khi chết. Vì vậy, quan niệm về thân xác người chết phải toàn vẹn cũng chỉ có tính chất tương đối”. Ông cũng cho rằng việc dự thảo quy định “việc hiến xác chỉ được thực hiện với sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng và con đã thành niên của người đó” chỉ nên áp dụng trong trường hợp người bị tai nạn hoặc đột tử. Còn trường hợp do ý nguyện của người đó thì không nhất thiết phải có sự đồng ý nói trên. “Ví dụ, một tử tù trước khi ra pháp trường muốn làm một việc cuối cùng có ý nghĩa là xin được hiến xác thì chúng ta có đáp ứng không? Trường hợp này phải có sự đồng ý của thân nhân không?” ông Thanh nói.

Khi tranh luận về các hình thức sở hữu, một số đại biểu yêu cầu đưa vào dự án hình thức sở hữu cá nhân. Phó Giáo sư – Tiến sĩ Dương Đăng Huệ (Bộ Tư pháp) nói: “Từ hơn 10 năm nay, trong pháp luật không thấy nhắc đến khái niệm này. Theo tôi, hiện nay những điều kiện kinh tế – xã hội khách quan cho việc tồn tại của sở hữu cá nhân vẫn còn.” Nhiều ý kiến đồng tình, như Thạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn cho rằng: “Trên thực tế thì người lao động, cán bộ, công chức cũng có thể mua cổ phần tại các doanh nghiệp niêm yết cố phiếu trên thị trường chứng khoán… Như vậy họ có thể sở hữu về vốn”. Giáo sư Huệ nhấn mạnh: “Cá nhân có quyền là chủ sở hữu đối với những tài sản mà họ muốn có và pháp luật không cấm. Tóm lại, quyền có tài sản của mỗi một cá nhân là quyền nhân thân, quyền con người, do đó phải được nhà nước thừa nhận”.

Theo Báo Pháp luật TP.HCM ngày 23/3/2005

NHU CẦU LUẬT SƯ

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – WaShington DC

Luật sư không chỉ là một chuyên viên luật, mà còn phải là một partner (đối tác) của thân chủ trong các kế hoạch kinh tế thưong mại cũng như kế hoạch tranh tụng. Hiểu đựợc partner của mình, hiểu được công việc của partner, hiểu luật và dùng luật để giúp partner hoạch định công việc một cách hợp pháp và hiệu quả, đó chính là công việc của luật sư.

Ngoài việc hiểu biết luật, luật sư cần có một số kỹ năng tối thiểu như sau:
Khả năng phân tích vấn đề:  Điều quan trọng nhất mà trường luật cần dạy là kỹ năng “suy nghĩ như luật sư”. Đó là kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng đặt câu hỏi như một người điều tra. Ví dụ: “Nếu giết người trong khi tự phòng vệ một cách hợp lý thì không có tội”.  Thế nào là “tự phòng vệ”? Thế nào là “hợp lý”?   Ai làm gì ai?  Ai bị điều gì mà phải tự phòng vệ?  Thực ra có cần phải tự phòng vệ lúc đó không? Tự phòng vệ bằng cách nào? Vũ khí nào?   Vũ khí đó có hợp lý không? 
Có hằng trăm câu hỏi cho một vụ việc mà một điều tra viên hay luật sư sẽ phải hỏi. Kỹ năng phân tích vấn đề là kỹ năng quan trọng nhất cho một luật gia. Rất tiếc là các trường luật của ta thường thích dạy từ chương hơn là đào tạo sinh viên đặt cậu hỏi để phân tích vấn đề một cách rốt ráo.
Lawyer-AllPosters.jpgKhả năng nghiên cứu và sưu tầm:  Là khả năng đi tìm các câu trả lời sau khi đã có câu hỏi. Đây là khả năng tìm tòi luật pháp và án lệ Việt Nam, cũng như luật pháp và án lệ các nước trong những vấn đề mà Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm. Trong thời đại hiện nay nó còn có nghĩa là khả năng tìm tòi trên mạng toàn cầu.
Khả năng am hiểu các hoạt động kinh tế xã hội mà mình tư vấn  
Khả năng đón đường: Một hợp đồng ký ngày hôm nay là để phòng ngừa những bất trắc có thể xảy ra vài năm sau. Người luật sư phải dự đoán trước được những bất trắc này, càng nhiều càng tốt.  
Thưc ra, nhiều Cty cũng chỉ nhờ đến luật sư khi bị kiện ra toà.  Các công ty cũng nên tập thói quen dùng luật sư để phòng bệnh hơn là chữa bệnh. Tư vấn một hợp đồng trước khi chưa ký tốn chỉ một tí tiền mà có thể tránh được tranh tụng sau này, rẻ rất nhiều so với việc đưa nhau ra toà khi hợp đồng có vấn đề.

Đạo đức nghề nghiệp:
Đòi hỏi luật sư phục vụ thân chủ tối đa, trong giới hạn luật pháp cho phép. “Phục vụ thân chủ tối đa” đòi hỏi người luật sư tìm các biện pháp tốt nhất cho thân chủ dù rằng đôi khi các biện pháp này có thể không tốt cho luật sư, chẳng hạn ra trọng tài kinh tế cho đỡ tốn kém thay vì ra toà.”Trong giới hạn luật pháp cho phép” có nghĩa là luật sư không thể tư vấn thân chủ làm những việc phi pháp.  Các trường luật cũng nên có môn đạo đức nghề nghiệp trong chương trình giáo dục sinh viên luật.

Lao Động số 236 Ngày 11/10/2007 – SAGA.VN

TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH HÌNH THỨC SỞ HỮU

PGS TS. DƯƠNG ĐĂNG HUỆ (Bộ Tư pháp) 

Hiện nay, theo Hiến pháp 1992 thì ở nước ta có 3 hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước), sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Theo Bộ luật dân sự 1995(BLDS) thì ngoài 3 hình thức sở hữu trên còn có: sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp và sở hữu chung.

Như vậy là, theo quy định của BLDS thì ở nước ta có 7 hình thức sở hữu. Sở hữu cá nhân với tư cách là một hình thức sở hữu đã từng tồn tại trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây đẫ không được nhắc lại trong BLDS và điều đó đồng nghĩa với việc có lẽ nó đã không được thừa nhận về mặt pháp lý. Số lượng các hình thức sở hữu được ghi nhận trong pháp luật hiện hành nhiều hay ít là điều không mấy quan trọng và do đó không đáng phải quan tâm nhiều. Điều đáng lưu ý nhất mà chúng ta phải quan tâm giải quyết trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã dựa vào cái gì, căn cứ vào tiêu chí nào để có thể phân loại sở hữu thành các hình thức như vậy. Tuy nhiên, sự quan tâm chính đáng này của chúng ta đã chưa được thực tiễn và lý luận đáp ứng vì khi xếp loại các hình thức sở hữu như vừa nêu trên thì không ai và chưa ở đâu có lời giải thích thoả đáng về việc tại sao và căn cứ vào cái gì mà người ta có thể chia sở hữu thành 7 hình thức như vậy. Vì vậy, vấn đề đầu tiên mà chúng ta hiện nay cần quan tâm giải quyết là việc phải tìm ra căn cứ đó và chỉ có thể dựa vào căn cứ đó thì mới có thể tiến hành việc phân loại hình thức sở hữu một cách khoa học được. Hiện nay theo tôi chúng ta đang đồng thời dựa vào 2 tiêu chí để thực hiện việc phân loại này. Căn cứ thứ nhất là tính chất chính trị (công hay tư) của việc chiếm hữu tài sản. Chính vì căn cứ vào tiêu chí này mà chúng ta đã chia sở hữu thành sở hữu xã hội chủ nghĩa (với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và sở hữu phi xã hội chủ nghĩa mà sở hữu tư nhân là đại diện chủ yếu. Căn cứ thứ hai là dựa vào yếu tố ai là người được coi là chủ sở hữu của tài sản. Nếu toàn dân là chủ sở hữu thì có sở hữu toàn dân; nếu hợp tác xã là chủ sở hữu thì có sở hữu tập thể, nếu hai người trở lên cùng sở hữu một tài sản thì có sở hữu chung; nếu một người (cá nhân) sở hữu thì có sở hữu cá nhân và cuối cùng nếu một tổ chức là chủ sở hữu thì có sở hữu của tổ chức đó (sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội…). Việc phân loại sở hữu như hiện nay xem ra không mấy khoa học vì nó tiến hành trên cơ sở áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí nêu trên và hậu quả là các hình thức sở hữu ở nước ta được xác định một cách, vừa thừa lại vừa thiếu, không phù hợp với thực tiễn khách quan. Việc phân loại hình thức sở hữu trong BLDS là một minh chứng cho cách làm này.

Vậy từ nay cần phải căn cứ vào tiêu chí gì để phân loại (xác định) các hình thức sở hữu? Theo tôi, chỉ nên dùng một yếu tố duy nhất, theo đó chủ thể nào có quyền trực tiếp chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản thì người đó được coi là sở hữu chủ và căn cứ vào cách thực hiện quyền của người đó đối với tài sản mà xác định tên gọi của hình thức sở hữu cho phù hợp. Ví dụ khi một cá nhân duy nhất là chủ sở hữu tài sản thì đó là sở hữu cá nhân; khi nhiều người tập hợp lại thành một tổ chức có tư cách pháp nhân (trong đó có hợp tác xã) và chính pháp nhân đó thực hiện các quyền chủ sở hữu thì đó là sở hữu pháp nhân; khi hai người (cá nhân, tổ chức) trở lên có quyền cùng nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản thì đó là một sở hữu chung và khi Nhà nước được trao quyền chủ sở hữu tài sản, mặc dù tài sản đó là của toàn thể nhân dân thì đó là sở hữu nhà nước.

Trên cơ sở quan niệm như vậy, tôi không đồng ý với cả hai phương án đã được nêu ra trong bản xin ý kiến nhân dân về các loại hình sở hữu ở VN. Theo tôi, căn cứ vào tiêu chí như vừa nêu trên thì ở nước ta có 4 hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước; sở hữu pháp nhân; sở hữu cá nhân và sở hữu chung.

BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP số 24/3/2005

KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH

“Nếu điều bạn muốn làm là đúng, và bạn tin vào nó, bạn hãy thẳng tiến và thực hiện ngay đi! Hãy thực hiện cho bằng được giấc mơ của bạn, và đừng bận tâm đến những gì “họ” nói nếu bạn vấp phải sự thất bại tạm thời, vì có lẽ “họ” không biết rằng mỗi một thất bại đều mang theo nó hạt mầm của thành công tương đương"

NAPOLEON HILL

 

PHẦN 1. BẢY NGUYÊN TẮC CƠ BẢN NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG

QUỲNH ĐAN (Theo Forbes)

Bảy nguyên tắc cơ bản không thể bỏ qua nếu muốn thành công khi nói trước công chúng. Nhìn thấy người này diễn thuyết một cách tự tin, người kia trả lời câu hỏi của các nhà báo một cách lưu loát trên truyền hình, chắc hẳn có lúc bạn đã tự hỏi họ có năng khiếu bẩm sinh hay phải luyện tập để làm được như vậy?

Câu trả lời của Richard Zeoli, một chuyên gia trong lĩnh vực này, là: “Năng khiếu, nếu có chỉ là một phần, tất cả đều do khổ luyện mà thành!”.

Trong một bài viết mới đây đăng trên trang web của Forbes, Richard Zeoli đã chỉ ra bảy nguyên tắc cơ bản cần phải tuân thủ nếu muốn thành công khi nói trước công chúng.

Nguyên tắc thứ nhất: Đừng cố gắng trở thành nhà diễn thuyết đại tài

Trong giao tiếp hàng ngày bạn thường nói năng thoải mái, nhẹ nhàng, nhưng khi nói trước đám đông, hình như mọi chuyện trở thành ngược lại. Quá chú ý đến công chúng sẽ làm hại đến khả năng diễn thuyết. Để trở thành một diễn giả thu hút thì hãy chú ý đến những điều bạn nói. Dù cử tọa của bạn là vài ba người hay cả ngàn người, dù bạn đang nói về công việc của mình hay về một bước đột phá trong y khoa thì hãy luôn là chính mình, và thiết lập sự kết nối với cử tọa. Hãy nhớ cử tọa chỉ muốn nghe người nào nói chuyện nhẹ nhàng, cuốn hút. Thế thôi.

Nguyên tắc thứ hai: Đừng cố gắng trở nên hoàn hảo

Khi bạn mắc lỗi, đừng lo lắng vì chẳng ai để ý nhiều đến việc đó, ngoại trừ bạn.

Ngay cả đến những nhà hùng biện tài danh cũng sẽ mắc lỗi. Sự chú ý của con người thường bị phân tán. Trên thực tế, người ta chỉ thực sự nghe khoảng 20% những gì diễn giả nói, còn lại 80% họ tiếp thu qua hình ảnh. Khi bạn mắc lỗi, hiếm khi cử tọa để ý đến việc đó, vì vậy điều quan trọng bạn có thể làm là cứ tiếp tục. Đừng ngừng lại, và đừng xin lỗi, chỉ trừ khi đó là một lỗi quá nghiêm trọng.

Hãy nhớ, ai cũng có thể mắc lỗi. Đó là một phần của con người, và chính phần con người này làm cho chúng ta kết nối được với cử tọa, giúp ta trở thành những nhà hùng biện.

Cử tọa không muốn nghe ở một người quá hoàn hảo, họ chỉ muốn nghe một diễn giả đời thường.

Người ta chỉ thực sự nghe khoảng 20% những gì diễn giả nói, còn lại 80% họ tiếp thu qua hình ảnh. Khi bạn mắc lỗi, hiếm khi cử tọa để ý đến việc đó, vì vậy điều quan trọng bạn có thể làm là cứ tiếp tục. Đừng ngừng lại, và đừng xin lỗi, chỉ trừ khi đó là một lỗi quá nghiêm trọng.

Nguyên tắc thứ ba: Hãy hình dung mình đang diễn thuyết

Bạn có biết là những người thành công rực rỡ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, đều phải sử dụng đến sức mạnh của việc tưởng tượng. Các nhân viên bán hàng hình dung ra việc mình ký được hợp đồng, các nhà quản lý hình dung ra viễn cảnh phát triển những dự án đầu tư mới, các vận động viên nhắm mắt lại và hình dung ra cảnh họ đã về đích… Trong nghệ thuật nói trước đám đông, cách tốt nhất để chống lại sự lo lắng và trở nên thư thái là hãy tưởng tượng trong đầu về buổi nói chuyện của mình.

Nếu bạn có đề tài phải trình bày trước nhiều người, hãy dành ra 30 phút mỗi ngày để hình dung việc mình đang làm, hình dung càng chi tiết càng tốt. Hãy hình dung bạn đang ở trên diễn đàn với cảm giác thư thái và dễ chịu, diễn đạt tốt và kết nối được với cử tọa. Nếu bạn thực hành điều này mỗi ngày, thì đến lúc trình bày trước đám đông, trí óc của bạn sẽ trở nên quen thuộc với tình huống đó. Bạn sẽ không còn cảm giác lo lắng, sợ hãi, thay vào đó là sự thư thái và tự tin hơn nhiều trước cử tọa.

Nguyên tắc thứ tư: Giữ kỷ luật

Mục tiêu của chúng ta không phải là trở thành một diễn giả hoàn hảo, bởi vì không có một diễn giả như vậy, chúng ta chỉ có thể trở thành một diễn giả thuyết phục. Và diễn thuyết cũng cần phải thực tập. Giao tiếp là chuyện đương nhiên, bởi chúng ta sống để nói với người khác. Nhưng khi vốn liếng, thế mạnh của mình được gắn trực tiếp với việc chúng ta có thuyết phục được đám đông hay không, chúng ta cần phải chú ý đến công việc này một cách nghiêm túc.

Cách thực hành tốt nhất là trình bày bài diễn văn một cách thoải mái tại nhà hay trong văn phòng của mình.Càng thực hành nhiều, bạn sẽ càng sẵn sàng, điều đó dẫn đến sự tự tin. Nếu bạn có bài diễn văn phải trình bày trong một tuần lễ nữa, hãy thực tập nó mỗi ngày. Đọc lớn lên ngay khi bạn thức dậy mỗi buổi sáng, ít nhất một lần vào buổi trưa và hai lần trước khi đi ngủ. Thực hành đều đặn như thế, đến khi chính thức thực hiện, bạn sẽ cảm thấy được chuẩn bị sẵn sàng vì đã biết rõ tất cả.

Cùng với nguyên tắc thứ ba ở trên, đây là cách tốt nhất để vượt qua sự lo lắng và có được sự tự tin trước cử tọa.

Nguyên tắc thứ năm: Hãy làm cho câu chuyện trở nên gần gũi

Đối với bất kỳ đề tài nào, cử tọa chỉ phản hồi tốt nhất khi diễn giả làm cho sự giao tiếp có tính gắn bó với con người. Hãy sử dụng mọi cơ hội để biến thông tin trở nên gần gũi với người nghe. Người ta thích nghe về những người khác, những bi kịch, những chiến thắng, những câu chuyện vui xảy ra hàng ngày trong chính cuộc sống của họ… Bất kỳ lúc nào có thể, bạn hãy đem chính mình vào bài diễn thuyết. Điều này không chỉ giúp cử tọa gần gũi với bạn hơn mà còn giúp bạn nói năng tự nhiên trước đám đông. Còn gì quen thuộc hơn là chủ đề về chính bản thân bạn?

Nguyên tắc thứ sáu: Cảm nhận được người nghe

Nói về bạn, nhưng trọng tâm không phải về cá nhân bạn mà về cử tọa. Bởi mục tiêu chính của một bài diễn thuyết không phải là làm lợi cho diễn giả mà là phục vụ cử tọa. Vì thế trong tất cả các giai đoạn chuẩn bị, và trình bày, bạn hãy luôn nghĩ bằng cách nào bạn có thể giúp cử tọa đạt được những gì họ mong muốn từ diễn giả. Khi thực hiện điều này, vai trò diễn giả của bạn sẽ trở thành vai trò thỏa mãn yêu cầu của cử tọa, điều này chắc chắn sẽ làm giảm bớt sự e dè trong việc diễn thuyết trước đám đông.

Nguyên tắc thứ bảy: Làm cho cử tọa mong đợi nhiều hơn

Một trong những bài học giá trị nhất trong nghệ thuật diễn thuyết trước đám đông là “ít hơn lại có nghĩa là nhiều hơn”. Hiếm khi chúng ta rời khỏi một buổi diễn thuyết và nghe người ta nói rằng: “Tôi mong rằng diễn giả đó nói dài hơn!”. Ngược lại, không biết bao nhiêu lần chúng ta nghe mãi câu: “Thật là mừng vì bài diễn thuyết đã kết thúc!”.

Hãy làm cho cử tọa ngạc nhiên. Luôn luôn làm cho phần trình bày của mình ngắn hơn một chút so với những gì mà cử tọa nghĩ. Nếu bạn tuân thủ sáu nguyên tắc trên, thì bạn đã chiếm được sự chú ý và sự quan tâm của cử tọa. Vì thế cách tốt nhất là làm cho cử tọa trông đợi bạn tiếp tục thêm vài phút nữa hơn là khiến họ ngọ nguậy trong ghế để đợi bạn kết thúc bài diễn thuyết.

SOURCE: THESAIGONTIMES.COM.VN

PHẦN 2. KỸ NĂNG NÓI TRƯỚC ĐÁM ĐÔNG

Ông bà ta có câu “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Xem ra lời nói có vẻ là thứ "rẻ" nhất mà ai cũng có và có thể sử dụng. Và điều đó gần như là đúng hoàn toàn. Nếu bạn ra ngoài đường thì đâu đâu cũng thấy nói chuyện, cửa hàng thì có người mua kẻ bán nói chuyện, trong quán nước thì từng đôi, từng nhóm nói chuyện…. Thế nhưng đó là khi tất cả mọi người cùng nói, bạn nói, tôi nói tất cả chúng ta cùng nói, thật đơn giản. Còn bây giờ khi mà trước mặt bạn là hàng trăm con mắt đổ dồn vào bạn, một bầu không khí im phăng phắc, tất cả mọi người đều chờ để nghe bạn nói. Vâng, lúc này chỉ có một mình bạn nói mà thôi. Liệu bạn có còn thấy lời nói lúc này thật rẻ, và cần là sử dụng ngay được không?

Tôi dám cam đoan với bạn rằng, khi phải đặt mình vào tình thế này, không ít người mặt đỏ tía tai, người run lẩy bẩy, nói lắp bắp. Đó là triệu chứng của căn bệnh “ngại tiếp xúc”. Tại sao vậy nhỉ? Khi tất cả mọi người đều nói, ta cũng nói, thì lời nói của chúng ta cũng chỉ có giá trị như lời nói của tất cả mọi người, sai cũng chả sao. Nhưng bây giờ, tất cả mọi người đều chờ để được nghe bạn nói. Thì lời nói của bạn lúc này có giá trị lắm, chắc chắn là nó cao hơn mọi người khác. Vì họ phải im lặng để nghe bạn nói cơ mà. Mà đã hơn người thì phải thật hoàn hảo, nói năng trôi chảy, nội dung hay, dễ hiểu,… nhưng khổ nỗi là từ bé đến giờ có mấy ai được đi học môn “nói trước đám đông” hay chỉ tự rèn rũa trong cuộc sống. Mà phàm đã việc gì làm mà chưa có một sự chuẩn bị kỹ càng thì đều tạo cho ta cảm giác bồn chồn bất an hết cả.

Do vậy, bài viết này mình đưa lên cho mọi người, hy vọng với một số đầu mục này có thể giúp bạn bớt được phần nào cảm giác căng thẳng trong lần diễn thuyết tới đây.

1. Trừ khi bạn là một nhà diễn thuyết nổi tiếng, chí ít cũng là cỡ quốc gia, còn lại, không ai quá kỳ vọng vào một bài phát biểu quá trơn tru, hoàn hảo từ bạn đâu.

noi03.gifThật sự ra mà nói thế nào là một bài phát biểu hoàn hảo theo đúng nghĩa thì đến giờ mình cũng không biết chính xác. Các bạn cứ thử nghĩ mà xem, ngay cả đến những tác phẩm bất hủ của các đại thi hào mà vẫn luôn có các nhà phê bình tác phẩm tìm ra được điểm chưa đạt ở góc độ này hoặc góc độ khác đấy thôi. Mà xin lưu ý mọi người, là một tác phẩm văn học đã phải trải qua rất nhiều bản nháp, nhiều đêm suy nghĩ của tác giả mới thành. Viết sai lại sửa, thế mà còn không hoàn hảo. Thì nói gì đến chuyện nói ra. Làm sao tránh được những sai sót cho dù bạn có chuẩn bị kỹ càng đến đâu. Hơn nữa là tâm lý của người đi nghe bạn nói là họ quan tâm nhất đến nội dung bài diễn thuyết của bạn. Đó mới là điều khiến họ tới nghe bạn nói. Chứ không ai mất công đến chỉ để nghe bạn nói trơn tru, không ngấp ứ mà nội dung lại chẳng có gì cả.

Do vậy nếu đã có một nội dung tốt thì bạn hãy cố gắng diễn đạt nó một cách đơn giản, trực tiếp chứ đừng cố tìm những mỹ từ trau truốt. Vì khi tìm kiếm bạn sẽ lại thấy không biết từ nào là hợp lý thích hợp, từ đó tạo ra cảm giác bất an, rất dễ suy nghĩ mọi người sẽ chê bai về từ ngữ đó. Và kết quả của sự căng thẳng sẽ làm bạn mất tự tin và hạn chế khả năng của bạn, đồng thời lấy mất cơ hội để bạn đưa ra những ý tưởng hay. (Nó có thể bất chợt tới do những yếu tố tác động trong buổi diễn thuyết mà bạn chỉ có thể biết sau khi diễn thuyết, không có sự chuẩn bị nào cho cơ hội đó đâu).

2. Đừng tự hỏi mình “có nên nói như thế hay không?”

Mình xin phép lấy một ví dụ có tính chất tương đồng cho dễ hiểu. Đó là câu chuyện “môn học tập làm văn ở trường học vậy”, không có một thầy cô giáo dạy văn nào lại khuyên bạn rằng viết trước bài ở nhà rồi học thuộc đi. Đến giờ kiểm tra chỉ viết ra thôi. Chắc chắn là không. Mà các thầy cô luôn nói rằng, các em về nhà tìm dẫn chứng để trích dẫn vào bài viết, hình thành và nắm chắc dàn ý đại cương, nội dung chính của bài viết.

noi02.gifViệc diễn thuyết cũng vậy thôi. Sẽ không có bài diễn thuyết nào lại chuẩn 100% y chang so với bài chuẩn bị cả. Có thể lúc tập ở nhà bạn nói như thế này, nhưng chắc chắn nó sẽ không được lặp lại y nguyên lúc bạn nói trước đám đông đâu. Đơn giản là vì “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” đâu bạn ạ. Nắm chắc được các ý chính cần trình bày cho bài diễn thuyết sẽ giúp bạn tổ chức tốt bài nói và định trước những câu hỏi mọi người có thể đặt ra cho bạn.

3. Chuẩn bị phong cách nói cho bản thân.

Tức là đối với mỗi buổi diễn thuyết, tùy vào từng trường hợp cụ thể, bạn nên tuân theo tiêu chuẩn chung về lối trình bày. Cái này thường đã có sẵn bạn chỉ cần tìm hiểu và áp dụng theo là được. Ví dụ như, trong buổi bảo vệ tốt nghiệp của bạn, bài luận văn có các chương mục nhỏ. Bạn có thể nói theo mẫu như : Bây giờ tôi xin giới thiệu đến chương hai…, chuyển qua vấn đề x, y ,…” Có một khung phù hợp với nội dung bài nói, sẽ giúp bạn có cách trình bày mạch lạc hơn.

4. Hãy chú ý tới giọng nói, nhịp thở và tư thế của bạn.

noi01.gifNhư vậy là đã xong nội dung, giờ chúng ta cũng nên chăm chút một chút cho mặt hình thức của mình trước đám đông. Tùy vào từng nội dung, bạn nên sử dụng giọng nói nhẹ nhàng ở đoạn nào, những đoạn nào trọng tâm, bạn có thể nói to hơn một chút, giọng chắc khỏe hơn một chút tạo sự chú ý của mọi người. (Cũng giống như trong văn viết chỗ nào bạn quan tâm thì viết đậm lên hoặc gạch chân vậy). Cơ thể nên thả lỏng thật thoải mái. Vì có thể bài nói của bạn sẽ kéo dài hơn bạn tưởng, một vị trí đứng và một tư thế hợp lý sẽ giúp bạn đỡ mệt, giữ được sự tập trung trong suốt buổi đối thoại của mình với mọi người.

5. Chú ý tới các nguyên nhân gây khiến cho bạn thiếu tự tin trước mặt mọi người.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho mất bình tĩnh mà tôi cũng không biết hết và không thể đề cập hết trong bài viết này. Có thể là do di truyền, giáo dục, văn hóa của từng người, mỗi người lại có một lý do khác nhau. Do vậy về việc này, chỉ có một lời khuyên nho nhỏ tới mọi người là khi đã biết được nguyên nhân rồi, thì hãy bớt chút thời gian để rèn luyện cải thiện bản thân mình. Bạn có thể tự giả định tình huống rồi tự mình tìm cách giải quyết, như vậy khi gặp ngoài việc thật bạn cũng không đến mức “lạc vào đảo hoang”.

6. Nắm lấy tất cả cơ hội được nói.

Chắc các bạn ai cũng đồng ý với mình rằng “trăm hay không bằng tay quen”. Đọc sách nhiều mà không bắt tay vào làm thử thì cũng như không. Hãy tận dụng mọi cơ hội có thể như trong cuộc họp gia đình, trò chuyện với bạn bè,….., để tập cho mình cách phát biểu và làm quen với những tình huống bất ngờ xảy ra khi mọi người chất vấn bạn hoặc giả dụ bạn có quên mất điều mình định nói thì phải làm sao.

© SAGA.VN

PHẦN 4: ĐỂ CHUẨN BỊ BÀI PHÁT BIỂU KHI KHÔNG CÓ THỜI GIAN

P.C.

Đối với những người sắp sửa nghe bạn nói thì việc bạn có 10 ngày hay chỉ có 10 phút để viết bài phát biểu cũng chẳng ảnh hưởng gì tới họ. Bạn sẽ vẫn phải phát biểu. Dưới đây là những mẹo giúp bạn chuẩn bị bài phát biểu của mình một cách nhanh chóng khi không có nhiều thời gian.

Bạn càng có địa vị cao, thì người ta càng trông chờ bạn sẽ có bài phát biểu trong những dịp xuất hiện trước công chúng, và thường trong những dịp như thế bạn có rất ít thời gian chuẩn bị. Vậy bí quyết để có một bài phát biểu hoàn hảo trong một thời gian ngắn là gì?

Điều đầu tiên bạn cần phải làm trước khi phát biểu là xác định được thông điệp chính bạn muốn đưa ra.

Thông điệp của bạn chính là những gì sẽ còn đọng lại trong người nghe sau khi bạn đã kết thúc bài thuyết trình đồng thời cũng là câu chốt lại những gì bạn đã trình bày. Họ sẽ có ấn tượng với những gì mà bạn nói. Ấn tượng đó có thể tốt hoặc không tốt. Người nghe có thể ấn tượng mạnh về bản thân bạn, phong cách phát biểu, hoặc nội dung bài phát biểu của bạn. Nếu bạn muốn họ nhận ra và ghi nhớ đúng thông điệp – tức là thông điệp chính mà bạn muốn đưa ra – trước hết bạn phải xác định được điều bạn tin tưởng và viết chúng ra.

Một khi đã viết được câu tóm tắt cho những gì mình muốn nói, tức là bạn đã sẵn sàng đưa ra những ý kiến, lý lẽ, các câu chuyện và thông tin làm dẫn chứng cho bài phát biểu của mình. Hãy loại bỏ những gì không phục vụ cho thông điệp của bạn.

Cuối cùng, hãy xây dựng những tài liệu bạn có theo các cấu trúc sau:

– Quan điểm – lý do – ví dụ – quan điểm. Bạn hãy đưa ra yêu cầu của bạn (có vẻ rất giống với thông điệp chính) và sau đó đưa ra những lý do để bạn yêu cầu như vậy. Tiếp đó bạn đưa ra một ví dụ thuyết phục và kết thúc bằng cách lặp lại quan điểm của bạn.

– Quá khứ – hiện tại – tương lai, bạn trình bày ý tưởng theo trình tự thời gian.

Nếu bạn đang cố gắng ủng hộ việc đưa một sản phẩm mới chưa được thử nghiệm vào một thị trường mới, bạn có thể bắt đầu bằng cách kể về những kinh nghiệm tiếp thị thành công của công ty, và cho đến nay vẫn đạt được nhiều thành công với hướng đi đó và hãy kết luận bằng cách đưa ra những đánh giá của mình về thành công của việc tiếp thị sản phẩm mới này trong tương lai.

– Vấn đề – nguyên nhân – giải pháp. Cấu trúc này áp dụng hiệu quả đối với các lý lẽ và các tình huống kinh doanh. Bạn đặt vấn đề – ví dụ như lượng hàng bán ra giảm – và sau đó phân tích nguyên nhân. Từ phân tích của mình, bạn sẽ đưa ra kiến nghị về giải pháp.

Cấu trúc này có lợi thế là nó tuân theo cách nghĩ tự nhiên của thế giới kinh doanh trong khi giải quyết vấn đề. Chúng ta nhn ra rằng chúng ta gặp rắc rối. Chúng ta tìm ra nguyên nhân. Sau đó chúng ta đưa ra giải pháp. Đó là cách mà hầu hết mọi người thường nghĩ. Vì vậy mô hình này rất có hiệu quả trong khi thuyết trình.

– Gây chú ý – đưa ra lợi ích – mong muốn – hành động, cấu trúc này có hiệu quả nhất khi bạn cố gắng để thuyết phục mọi người về điều gì đó. Trước hết, bạn hãy thu hút sự chú ý vào bạn bằng thông tin thống kê, một câu chuyện nào đó hoặc tuyên bố gây ngạc nhiên đến mức khán giả của bạn phải chuyển mối quan tâm của họ sang mối quan tâm của bạn. Sau đó, hãy tạo hứng thú cho người nghe bằng cách đề cập tới những lợi ích của quan điểm bạn đang nói đến.

Nếu thành công, bạn sẽ khiến người nghe muốn mua, muốn thay đổi, hoặc nghĩ khác đi. Đó là thời điểm bạn kết thúc việc giao dịch bằng cách có được cam kết nào đó từ khán giả của mình – đó là hành động.

– "Đề cập đến những gì mà bạn định nói, sau đó hãy trình bày những điều đó, rồi hãy nói về những gì bạn vừa trình bày". Đây là cấu trúc có tính quy ước nhất mặc dù nó chỉ xuất hiện tức thời. Ngày nay các khán giả rất thường thiếu kiên nhẫn và mọi người cũng luôn bận rộn, vì vậy người ta vẫn đang tranh luận xem liệu đây có phải vẫn là một cấu trúc hùng biện hiệu quả hay không.

Nếu bạn sử dụng cấu trúc này, bạn hãy kiểm tra lại một lần, tóm tắt ngắn gọn và súc tích, vì những khán giả của bạn vốn đã bị quá tải về thông tin. Sử dụng những kỹ năng này sẽ không đảm bảo rằng bạn sẽ có một bài phát biểu hoàn hảo; mà điều này lại phụ thuộc vào người nói. Nhưng kỹ thuật này sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian trong khi chuẩn bị – có nghĩa là bạn thực sự chuẩn bị chứ không phải là cứ nói vo.  Và bản thân điều này đã có nghĩa là bạn sẽ có một bài thuyết trình tốt hơn rồi.

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ

PHẦN 4: THUYẾT TRÌNH SAU THUYẾT TRÌNH

MINH AN (Dịch từ Business Know-how)

Việc người nghe đặt ra các câu hỏi sau bài thuyết trình được xem như cách thức hữu hiệu giúp củng cố thông điệp và tiếp tục truyền tải ý tưởng của bạn. Giai đoạn không kém phần quan trọng này chính là Thuyết trình sau thuyết trình.

Nếu người nghe có cơ hội được làm rõ những điểm còn chưa hiểu, thì họ sẽ không rời buổi thuyết trình với những hiểu biết sai về các khái niệm bạn đã trình bày. Quãng thời gian mọi người đặt câu hỏi và bạn trả lời lại là một lần thuyết trình quan trọng nữa.

Trước hết để Thuyết trình sau thuyết trình đạt được hiệu quả cao nhất, bạn cần giúp mọi người có sự chuẩn bị tốt bằng việc nói với họ rằng sau buổi thuyết trình sẽ có quãng thời gian để mọi người đặt câu hỏi và bạn trả lời. Nếu bạn có một người giới thiệu, hãy nói với người này đề cập việc bạn sẵn lòng trả lời mọi câu hỏi từ phía người nghe. Mọi người sẽ đặt ra nhiều câu hỏi hơn nếu ngay từ đầu họ được thông báo về điều này.

Một trật tự hợp lý là rất quan trọng. Hãy nói: “Ai có câu hỏi đầu tiên?” và sau đó tìm kiếm những cánh tay giơ lên. Hoặc để khơi mở, bạn có thể nói: “Một câu hỏi mà tôi thường được hỏi là…” và trả lời nó. Nếu sau đó vẫn không có câu hỏi nào, bạn có thể nói: “Không biết có còn câu hỏi nào không?”.

Sự nhiệt tình của bạn sẽ mất nếu bạn không nhận được câu hỏi nào từ phía người nghe. Thông thường, hành động “mồi nước” sẽ khích lệ người nghe đặt các câu hỏi khác nhau.

Khi một ai đó đặt ra câu hỏi, bạn hãy nhìn thẳng vào họ và lặp lại nó, đặc biệt nếu có một số lượng lớn người nghe hay nếu bạn cần đôi chút thời gian để suy nghĩ. Bằng việc lặp lai câu hỏi, bạn sẽ đảm bảo rằng mình đã hiểu đúng câu hỏi.

Tuy nhiên, đừng tiếp tục nhìn vào người đó khi bạn bắt đầu trả lời câu hỏi. Hãy nhớ bạn vẫn đang nói chuyện trước công chúng và tất cả mọi người nên nghe rõ câu trả lời của bạn chứ không riêng người đặt ra câu hỏi.

Thêm vào đó, bạn cần tiếp tục đứng ở một nơi mà tất cả mọi người đều trông thấy rõ bạn nhất. Tránh việc đi trực tiếp tới cạnh người đặt câu hỏi. Hình ảnh đó sẽ khiến những người nghe khác cảm thấy “mất bạn”. Khi bạn kết thúc câu trả lời chính là lúc bạn nhìn lại người đặt câu hỏi và nét mặt của người này sẽ nói với bạn câu trả lời của bạn đã thoả mãn hay chưa.

Những câu trả lời ngắn gọn và có trọng điểm sẽ đem lại sự thoả mãn nhiều nhất cho người nghe. Đừng tiếp tục một bài diễn thuyết mới. Mọi người sẽ cảm thấy nhàm chán nếu bạn mất quá nhiều thời gian trả lời câu hỏi. Không những vậy, rất có thể chỉ có duy nhất người đặt ra câu hỏi mới thực sự quan tâm tới những gì bạn đang nói! Nếu bạn có thể trả lời “có” hay “không”, hãy làm như vậy. Hành động này giữ vững sự chú ý của mọi người tới bạn.

Một trong những thách thức thực sự nếu có những câu hỏi nặng nề. Hãy xoa dịu nó trước khi trả lời. Chẳng hạn đối với những câu hỏi kiểu như: “Bạn sẽ làm gì với tất cả số tiền kiếm được từ mức giá cả gia tăng?”, hãy xoa dịu nó bằng việc nói rõ: “Tôi hiểu được sự thất vọng của anh trước sự leo thang giá cả đến chóng mặt. Tôi biết anh định hỏi: Tại sao giá cả lại tăng bất thường như vậy?”.

Sau đó, bạn mới trả lời cho câu hỏi này. Bạn sẽ rơi vào tranh luận nếu cho phép bản thân trực tiếp trả lời các câu hỏi nặng nề kiểu trên. Nếu một cá nhân không thoả mãn với việc thay đổi ngôn ngữ câu hỏi như vậy, bạn hãy nói với anh ta rằng bạn rất vui được bàn thảo về vấn đề này sau buổi thuyết trình hôm nay và rồi nhanh chóng chuyển sang câu hỏi kế tiếp.

Đôi lúc sẽ có một người nghe giơ tay nhưng thay vì đặt câu hỏi người này lại đưa ra những bình luận khá dài dòng hay thậm chí một bài diễn thuyết. Một cách để xử trí là nhìn vào tốc độ nói của người này và khi anh ta/cô ta dừng lại lấy hơi chuẩn bị nói tiếp, bạn ngắt quãng bằng “Xin cảm ơn ý kiến của anh/chị… Câu hỏi kế tiếp là gì ạ?”. Bạn nhìn xung quanh căn phòng và người nói chuyện dài dòng này sẽ không biết bạn ngắt lời họ hay bạn thực sự nghĩ rằng họ đã kết thúc. Đừng để người này tiếp tục “bài diễn thuyết” bởi vì nó sẽ làm hỏng cơ hội được hỏi của những người khác.

Điều quan trọng tiếp theo là bạn đừng đánh giá các câu hỏi. Hãy tránh xa những bình luận kiểu: “Đó là một câu hỏi tuyệt vời” hay “Câu hỏi hay”. Nếu người tiếp theo đặt ra một câu hỏi và bạn không có nhận xét tích cực tương tự, người này có thể nghĩ rằng bạn không tán thành câu hỏi và điều đó sẽ kiềm chế những người khác đưa ra câu hỏi. Nếu bạn muốn xác nhận một câu hỏi cụ thể, hãy nói đơn giản: “Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi”. Bạn cần làm sao để mọi người cảm thấy sự công bằng như nhau về những câu hỏi được đặt ra.

Ngoài ra, bạn không thể bỏ qua yếu tố kiểm soát tình huống cuộc nói chuyện. Khi bạn thuyết trình trước mọi người, luôn rình dập rủi ro của việc đánh mất sự kiểm soát tình hình. Do vậy, bạn cần lường trước những tình huống bất ngờ, càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Hãy xem xét nội dung thuyết trình của bạn và suy nghĩ về những câu hỏi mà người nghe sẽ có thể đặt ra. Đồng thời, bạn hãy chuẩn bị các câu hỏi của bản thân bạn để hỏi. Đừng ngại nói: “Tôi không biết” và chuyển sang câu hỏi tiếp theo (Bạn có thể bổ sung rằng bạn sẽ rất vui được gặp lại họ với câu trả lời đầy đủ trong lần tiếp theo).

Nên thẳng thắn với những người đặt câu hỏi nếu bạn nghĩ rằng câu hỏi không mấy thích hợp. Câu trả lời của bạn có thể là: “Thực tế, câu hỏi này không mấy thích hợp với nội dung buổi thảo luận hôm nay”.

Vào cuối giai đoạn Thuyết trình sau thuyết trình, bạn cần có một kết luận cụ thể. Kỹ thuật này sẽ cho phép bạn kiểm soát tốt quãng thời gian cuối cùng với người nghe. Thay vì câu hỏi cuối cùng, người nghe sẽ nhận được một kết luận thích hợp từ bạn.

Hãy nói: “Trước khi tôi tổng kết đôi điều, không biết còn ai có câu hỏi không ạ?”. Sau đó, nếu không có ai có câu hỏi nào, bạn mới bắt đầu nói. Nhờ đó, bạn có thể kết thúc theo một cách thức hiệu quả và vui vẻ hơn là hết sức cộc lốc với câu nói: “Vậy nếu không còn câu hỏi nữa, tôi xin kết thúc…”.

Sau cùng, bạn cần nhớ rằng rất nhiều buổi nói chuyện sẽ bao hàm hai giai đoạn thuyết trình: Thuyết trình chính thức và Thuyết trình sau thuyết trình. Hãy đảm bảo thành công trọn vẹn cho buổi thuyết trình của bạn bằng việc sử dụng các kỹ thuật trên trong quãng thời gian trả lời các câu hỏi từ phía người nghe.

SOURCE: http://www.bwportal.com.vn

CÔNG TY TƯ NHÂN (Private company/privately held company)

Thuật ngữ Công ty tư nhân được hiểu theo hai cách:

  • Thứ nhất: Đó là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước
  • Thứ hai: Đó là những công ty có cổ phần được nắm giữ bởi một số ít các cổ đông và các cổ đông đó không bán cổ phiếu trên thị trường.

Công ty tư nhân có hai nghĩa khác nhau như vậy, nên việc sử dụng thuật ngữ cần thận trọng vì có thể gây hiểu nhầm.

Ở nước xã hội chủ nghĩa như nước ta, công ty tư nhân được hiểu là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Còn ở Mỹ, công ty tư nhân thường là những công ty kinh doanh có cổ phiếu không được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Chính vì những nghĩa trên, công ty tư nhân có thể là Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, tờ-rớt (trust), hoặc những tên khác.

——————————

CÁC THUẬT NGỮ GIẢI THÍCH HỖ TRỢ

1. Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một dạng tương tự giống công ty hợp danh nhưng vốn được hình thành do các cá nhân đóng được gọi là các cổ đông. Chứng nhận về quyền sở hữu và phần vốn góp được cấp bởi công ty, và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng lợi ích sở hữu của họ cho người khác bằng cách bán các cổ phần cho người khác.

Theo luật doanh nghiệp năm 2006 của Việt Nam, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:

  • Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
  1. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
  2. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
  3. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
  4. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật doanh nghiệp.
  • Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
  • Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.

2. Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship/single proprietorship)

Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2006, Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Và mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng kí, và có quyền tăng hoặc giảm trong quá trình hoạt động kinh doanh và phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính. Doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân do không đáp ứng đủ 4 điều kiện để trở thành pháp nhân.

Cần lưu ý rằng trong Luật Doanh nghiệp năm 2006, không có khái niệm Công ty tư nhân. Chính vì vậy cần phân biệt sự khác nhau giữa Doanh nghiệp tư nhân (đã nêu ở trên) và công ty tư nhân.

Trong phạm vi nước ta, khi nói đến công ty tư nhân, chúng ta hiểu là các loại hình công ty không phải là công ty nhà nước.

3. Công ty hợp danh (Partnership)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào.

Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược.

Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần.

Hình thức  cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các “thành viên trách nhiệm hữu hạn”, những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy “trách nhiệm hữu hạn” đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.

4. Thị trường chứng khoán (Stock market)

Thị trường chứng khoán là thị trường trên đó giao dịch các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ phái sinh… bao gồm cả chứng khoán niêm yết công khai trên sàn giao dịch chứng khoán và chứng khoán giao dịch không công khai.

Hàng hoá chủ yếu trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn thường là cổ phiếu, còn trái phiếu và các công cụ phái sinh khác hay được mua bán trên thị trường OTC hơn. Qui mô của thị trường trái phiếu toàn cầu được ước tính vào khoảng 45.000 tỷ USD, còn qui mô của thị trường cổ phiếu vào khoảng phân nửa con số đó. Qui mô của thị trường các chứng khoán phái sinh vào khoảng 300.000 tỷ USD, tuy nhiên người ta không so sánh trực tiếp nó với 2 thị trường trên vì đó chỉ là giá trị danh nghĩa của chúng, trong khi các con số nói trước đó là giá trị thực của cổ phiếu trái phiếu.

Những người tham gia vào thị trường chứng khoán vô cùng đa dạng, nhưng tựu trung lại có thể chia ra làm 2 loại chính: nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư, trong đó các tổ chức chiếm đa số tính theo khối lượng giao dịch. Giao dịch của các nhà đầu tư này thường không được thực hiện một cách trực tiếp mà thông qua những người môi giới chứng khoán chuyên nghiệp.

Các sàn giao dịch chứng khoán có thể là những sàn giao dịch thực, nơi các giao dịch được thực hiện theo phương thức đấu giá mở bằng lời, NYSE là ví dụ điển hình của một sàn giao dịch loại này. Các sàn giao dịch chứng khoán cũng có thể là những sàn giao dịch ảo, dưới dạng một mạng máy tính lớn, trong đó các giao dịch hoàn toàn được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, NASDAQ là sàn giao dịch ảo lớn nhất thế giới.

Phương thức giao dịch chủ yếu của thị trường chứng khoán là phương thức đấu giá, những người tham gia sẽ tiến hành đặt lệnh, trong đó nêu rõ mức giá mong muốn của mình. Phương thức này giúp đảm bảo tính công bằng cao nhất cho mọi đối tượng tham gia. Khi giá chào mua phù hợp với giá chào bán thì giao dịch sẽ được thực hiện, hay nói cách khác là được “khớp lệnh”.

Mục đích của sàn giao dịch chứng khoán là tạo thuận lợi cho việc giao dịch các loại chứng khoán giữa người mua với người bán, qua đó tạo lập nên một thị trường cho thứ hàng hoá đặc biệt này.

Theo nhà sử học nổi tiếng người Pháp Fernand Braudel, ngay từ thế kỉ 11, ở Cairo, những thương nhân người Hồi giáo và Do Thái đã xây dựng nên những hiệp hội thương nghiệp đầu tiên và có những hiểu biết về các phương thức tín dụng và thanh toán, là những mầm mống cho thị trường chứng khoán sau này. Giữa thế kỉ 13 những nhà ngân hàng ở Venetia bắt đầu tiến hành những giao dịch đối với các chứng khoán do Chính phủ phát hành, tuy nhiên năm 1351, chính quyền Venetia đã ra lệnh nghiêm cấm việc phổ biến những tin đồn có mục đích là giảm giá trị các quỹ do Chính quyền sở hữu. Những nhà ngân hàng ở Pisa, Verona, Genoa và Florence thuộc Italy đã bắt đầu tiến hành mua bán chứng khoán do Chính phủ phát hành từ thế kỷ 14, điều này thực hiện được là vì đây là những thành bang độc lập, không nằm dưới quyền cai trị của một công tước nào mà bởi một hội đồng những người có ảnh hưởng.

Sau đó, chính người Hà Lan khởi xướng ra các công ty cổ phần, mà cổ đông có thể đầu tư vào để chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn đã phát hành những cổ phiếu đầu tiên ra Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đó là công ty đầu tiên trên thế giới phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam cũng được coi là sàn giao dịch đầu tiên trên thế giới hoạt động một cách liên tục. Chính người Hà Lan là những người nghĩ ra những nghiệp vụ giao dịch chứng khoán như “bán khống”, “giao dịch quyền chọn”, “nghiệp vụ swap nợ-cổ phần”, “nghiệp vụ ngân hàng thương mại” và nhiều công cụ đầu cơ khác mà cho đến ngày nay người ta vẫn còn sử dụng.

Ngày nay thì mọi quốc gia phát triển và hầu hết các nước đang phát triển đều có thị trường chứng khoán, một thị trường không thể thiếu với mọi nền kinh tế muốn phát triển vững mạnh vì các lý do sau:

Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một trong những kênh huy động vốn quan trọng nhất của các công ty, giúp các công ty có thể niêm yết công khai, tăng thêm vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tính thanh khoản mà thị trường chứng khoán tạo ra cho phép các nhà đầu tư nhanh chóng va dễ dàng bán các loại chứng khoán khi có nhu cầu. Đó chính là một nét hấp dẫn của việc đầu tư vào cổ phiếu so với các hình thức đầu tư kém thanh khoản khác như đầu tư vào bất động sản chẳng hạn.

Thứ hai, thị trường chứng khoán được coi là một chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế. Lịch sử đã chỉ ra rằng, giá cổ phiếu và các loại tài sản tài chính khác là một phần quan trọng của hoạt động kinh tế và nó có thể gây ảnh hưởng hoặc là một thước đo đánh giá kỳ vọng của xã hội. Giá ổ phiếu tăng thường liên quan đến việc tăng lượng vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh và ngược lại. Do đó, các ngân hàng trung ương luôn để mắt tới việc kiểm soát và ứng xử của thị trường chứng khoán và đến sự hoạt động trơn tru của hệ thống tài chính vì sự ổn định tài chính luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của các ngân hàng trung ương.

5. Cổ phần (Stock; Share)

Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó. Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng cho phép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là:

* Hưởng một phần tương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế gọi là Cổ tức;
* Quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thường niên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ;
* Quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn;
* Và một số quyền khác tùy theo qui định pháp luật.

Cổ phần có giá trị và có thể được trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung, tùy loại hình doanh nghiệp và trạng thái cổ phần đã được niêm yết hay chưa. Giá của cổ phần trên thị trường nhìn chung là liên tục thay đổi tùy thuộc vào quan hệ cung-cầu, lòng tham-sợ hãi, và nhận thức chung liên tục thay đổi của cả thị trường về các điều kiện thương mại cũng như hướng phát triển của doanh nghiệp, của nền kinh tế, sự ổn định chính trị và nhiều yếu tố liên quan mật thiết khác nữa.

Các dao động liên tục của giá cổ phần có một phần nguyên nhân do các lực lượng thị trường liên tục tương tác để tìm kiếm (còn gọi là hình thành) một giá trị cân bằng, biểu hiện qua “giá cân bằng.”

Trong các nền kinh tế phát triển nơi mà các thị trường tài chính và thị trường vốn vận hành hiệu quả, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp, và từ đó có thể đánh giá giá trị của cả một nền kinh tế. 

6. Cổ đông (Shareholder)

Cổ đông có thể là một cá nhân hoặc một công ty sở hữu hợp pháp một lượng cổ phiếu nhất định của một công ty cổ phần. Các cổ đông thường được hưởng một số đặc quyền nhất định tùy thuộc vào loại cổ phiếu mà họ nắm giữ, trong đó có quyền biếu quyết đối với các vấn đề liên quan đến bầu cử hội đồng quản trị, quyền được hưởng thu nhập từ hoạt động của công ty, quyền được mua cổ phiếu mới phát hành của công ty, và quyền đối với tài sản của công ty nếu công ty tiến hành giải thể. Tuy nhiên quyền của cổ đông đối với tài sản của một công ty chỉ được xét đến sau khi công ty thanh toán xong với các chủ nợ. Điều đó có nghĩa là cổ đông có thể sẽ không nhận được gì nếu như công ty giải thể sau khi phá sản, không có khả năng trả nợ, cho dù sau đó cổ phiếu có thể sẽ lại có giá trị nếu công ty tiến hành cơ cấu lại nợ. Cổ đông hay người nắm giữ cổ phần cũng có thể được coi là một bộ phận nhỏ trong số các stakeholders. Stakeholder có thể là bất cứ ai có quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp tới một thực thể kinh doanh.

Mặc dù các giám đốc và nhân viên của một công ty luôn luôn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hoạt động nhằm đem lại lợi ích lớn nhất cho cổ đông, nhưng thường các cổ đông lại không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ tương tự. Tuy nhiên trong một vài trường hợp, một số tòa án có thể sẽ ràng buộc trách nhiệm giữa các cổ đông. Ví dụ ở California, các cổ đông lớn của công ty bi ràng buộc bởi trách nhiệm không được có các hành động gây ảnh hưởng xấu đến giá trị cổ phiếu của các cổ đông nhỏ. Cổ đông lớn nhất (xét về tỉ lệ sở hữu công ty) thường là các quỹ tương hỗ (mutual funds).

© SAGA – saga.vn

TÀI SẢN VÔ HÌNH (Intangible asset) VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH XÁC ĐỊNH (Identifiable intangible assets)

LÊ PHƯƠNG TRANG 

Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất cụ thể. Ngày nay quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền, bí quyết kĩ thuật, thương hiệu, uy tín… là những tài sản vô hình phổ biến của doanh nghiệp. Có thể phân biệt được một cách rõ ràng một tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp hay không thì phụ thuộc vào các đặc tính của tài sản đó. Uy tín của công ty có thể coi là một tài sản không xác định vì nó luôn gắn liền với sự tồn tại của công ty chừng nào công ty còn tồn tại. Tuy nhiên nếu công ty kí kết hợp đồng sử dụng bằng phát minh sáng chế của một công ty khác và không có ý định kéo dài hiệu lực của hợp đồng thì công ty chỉ được sử dụng bằng phát minh sáng chế này trong một thời hạn xác định. Khi đó bằng phát minh sáng chế trở thành một tài sản vô hình của công ty.

Mặc dù tài sản vô hình không có hình thái vật chất cụ thể như các trang thiết bị máy móc nhà xưởng khác của công ty nhưng nó lại rất có giá trị đối với công ty và có thể trở thành nhân tố quan trọng trong sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Ví dụ một công ty như Coca-Cola khó có thể đạt được vị trí như hiện tại nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các nhãn hiệu. Nhãn hiệu này dù không có hình thái vật chất cụ thể để có thể cầm nắm được song nó lại được thừa nhận, được nhiều người biết đến, và có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng doanh số bán hàng trên phạm vi toàn cầu. Chính vì thế việc sở hữu một nhãn hiệu mạnh là điều rất có ý nghĩa đối với các công ty lớn như Coca-Cola.

——————————-

Tài sản vô hình xác định là loại tài sản mà giá trị của chúng có thể được định rõ thông qua những nguyên tắc của kế toán. Chúng có thể được vốn hóa trực tiếp từ những khoản chi phí đã chi ra (trường hợp phát triển nội bộ) hoặc ghi theo giá mua (trường hợp mua ngoài). Dù được hình thành từ nguồn nào thì cũng được kế toán ghi nhận là một tài sản của doanh nghiệp.
Những cơ sở để ghi nhận tài sản vô hình xác định:
– Tài sản đó phải được xác định và nhận biết một cách cụ thể
– Tài sản đó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về tài sản vô hình đã quy định trong chế độ kế toán hiện hành của nước sở tại.
– Tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể chuyển giao tài sản cho bên thứ 2 một cách hợp pháp.
– Phải có bằng chứng đáng tin cậy về sự tồn tại của tài sản đó trong doanh nghiệp
– Những tài sản này thường mang lại lợi ích lớn hơn giá trị của bản thân tài sản đó (tức số chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được tài sản).

Một số tài sản vô hình xác định như:
– Tài sản vô hình liên quan tới hoạt động Marketing: thương hiệu, nhãn hiệu, logo…
– Tài sản vô hình liên quan tới kỹ thuật công nghệ: giấy đăng ký quy trình sản xuất, giấy đăng ký bản quyền, tài liệu về kỹ thuật công nghê ( những ghi chép trong phòng thí nghiệm, bí quyết kỹ thuật…)
–  Những tài sản vô hình liên quan tới nghệ thuật như: Các tác phẩm hay bản quyền tác giả…
– Tài sản vô hình liên quan tới việc xử lý dữ liệu: Những phần mềm máy tính có bản quyền, cơ sở dữ liệu số, Phần mềm kiểm soát mạng tích hợp nội bộ…
– Tài sản vô hình liên quan tới công việc thiết kế kỹ thuật: Kiểu dáng công nghiệp, đăng ký bản quyền sản phẩm, bí quyết thương hiệu, bản vẽ và biểu đồ kỹ thuật, bản thiết kế, chứng nhận quyền sở hữu…
– Tài sản vô hình liên quan tới khách hàng: danh sách khác hàng, các hợp đồng với khách hàng, quan hệ khách hàng…
– Tài sản vô hình về nguồn lực: đội ngũ lao động lành nghề, hợp đồng lai động, hợp đồng liên kết v.v…
Trên thị trường chứng khoán, tài sản vô hình xác định có thể được coi là một trong những nhân tố tác động tới thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Chẳng hạn một doanh nghiệp bỏ ra lượng chi phí nhất định cho việc nghiên cứu khoa học để có thể tìm ra một bí quyết mà nhờ đó lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên đáng kể (bí quyết sản xuất nước giải khát Cocacola là một điển hình). Động thái này sẽ làm giá cổ phiếu tăng vì người nắm giữ cổ phiếu có khả năng thu được những khoản lợi tức cao hơn trước.

© saga.vn

HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT)

TRẦN TRÍ DŨNG

Giả sử S là giá trị của một tài sản và S dao động bất định phụ thuộc vào tác động của thị trường. T là thời gian đáo hạn. Một quyền chọn là một hợp đồng giữa người nắm giữ và người viết, bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm t = 0, trong đó người nắm giữ quyền chọn có quyền đòi một lợi nhuận X ngẫu nhiên nào đó. X phụ thuộc vào sự tiến triển của S tại một thời điểm trong tương lai, bao gồm cả thời điểm T.

Như vậy, quyền chọn bản chất là một vụ cá cược tinh vi và có thể kết luận: hợp đồng quyền chọn phải có một giá trị nhất định đối với người nắm giữ nó. Người viết hợp đồng có thể đánh phí rất cao để phòng vệ nhằm chống lại rủi ro chi trả nhiều một cách thường xuyên. Nhưng nếu như vậy thì người viết hợp đồng quyền chọn dường như có lợi hơn và thị trường sẽ đổ xô bán quyền chọn chứ không mua. Ngược lại, nếu người bán quyền chọn không đưa ra một mức giá đủ cao thì những khách hàng tham vọng sẽ tìm cơ hội mua quyền chọn đó với số lượng lớn. Cả hai trường hợp trên đều là ví dụ về đầu cơ, trong khi những nhà đầu tư khác trên thị trường thì đều mong muốn một cơ chế xác lập giá công bằng.

Bản chất là một công cụ tài chính, ưu điểm của quyền chọn thể hiện trong 3 hình thức giao dịch của 3 nhóm người trên thị trường quyền chọn:

Người phòng hộ. Những người này mua quyền chọn như một dạng hợp đồng bảo hiểm trước những thay đổi bất thường của thị trường. Nếu một công ty có quan hệ ngoại thương thì nó sẽ mua hợp đồng quyền chọn tiền tệ để được chi trả một khoản chắc chắn khi tỷ giá hối đoái trở nên bất lợi. Theo cách này, bạn có thể phòng vệ nhiều hay ít tùy thuộc vào việc bạn mua quyền chọn trị giá bao nhiêu. Ví dụ, nếu ta muốn nhập khẩu 1 tỷ yên hàng điện tử của Nhật trong thời hạn 1 năm kể từ bây giờ với tỷ giá 200 yên/bảng, có thể thực hiện một quyền chọn cam kết chi trả cho bạn 1 tỷ yên sau một năm nếu tỷ giá hối đoái chỉ còn 181.23 yên/bảng tại bất kỳ thời điểm nào trong 1 năm đó.

Điều này có nghĩa là, khi giá đồng yên tăng tương đối với đồng bảng thì có thể thực thi quyền chọn và mua hàng hóa. Còn nếu tỷ giá tiếp tục duy trì ở mức thấp thì sẽ mất số tiền bỏ ra để mua quyền chọn và sẽ mua hàng tại tỷ giá đã được sẵn sàng chi trả. Chi phí của chiến lược phòng hộ này chỉ là mua một quyền chọn với giá tương đối rẻ so với những biến động lớn của thị trường tiền tệ.

Nhà đầu cơ. Là những người đánh cược vào sự biến động của giá các loại tài sản. Họ tham gia vào một vị thế nhất định thị trường tùy thuộc vào niềm tin của mình, lỗ hoặc lãi hoàn toàn ngẫu nhiên. Họ coi chứng khoán phái sinh như một công cụ tăng ga cho hoạt động đầu tư của họ. Bởi vì các sản phẩm phái sinh từ các tài sản cơ sở có khả năng mang lại lợi nhuận nhiều hơn chính các tài sản cơ sở đó.

Ví dụ, bạn đầu tư 10.000 bảng vào một cổ phiếu trị giá 10 bảng để mua 1.000 cổ phiếu đó. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng trong vòng một năm, bạn lãi được 1.000 bảng. Còn nếu bạn mua một hợp đồng quyền chọn để được quyền mua cổ phiếu trên với giá 10 bảng trong một năm, và bạn phải mất chi phí, giả sử, 0.5 bảng một cổ phiếu, bạn có thể mua được 20.000 nghìn cổ phiếu. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng, bạn thực thi quyền chọn, mua 20.000 cổ phiếu với giá 10 bảng và bán lại chúng trên thị trường với giá 11 bảng, bạn sẽ lãi 10.000 bảng. Đương nhiên, nếu giá cổ phiếu tụt xuống chỉ 9.99 bảng, bạn sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua quyền chọn.

Nhà cơ lợi phi rủi ro. Là những người quan sát thị trường và cố gắng tìm ra những tình huống thu lời phi rủi ro. Họ kết hợp việc mua hàng hóa tại một thị trường này và bán lại tại một thị trường khác sao cho độ chênh lệch giá đảm bảo một khoản lãi.

Một ví dụ đơn giản là khi một cổ phiếu được giao dịch tại hai mức giá khác nhau trên hai thị trường. Nếu một cổ phiếu được giao dịch tại London với giá 100 bảng và 285 mác Đức tại Frankfurt, trong khi tỷ giá hối đoái là 2.82 mác/bảng, thì cổ phiếu đó rẻ hơn tương đối ở London. Bạn có thể mua 1.000 cổ phiếu tại London và bán lại chúng tại Frankfurt rồi đổi mác Đức sang bảng và thu được một khoản 1063.3 bảng mà không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Những cơ hội như vậy là vô cùng hiếm và ngay lập tức nó bị chộp mất bởi những người săn cơ hội kiếm lời. Khi mọi người mua cổ phiếu thì giá sẽ tăng trên thị trường London và khi mọi người bán cổ phiếu đó tại Frankfurt thì giá ở đây cũng sẽ giảm đi cho đến khi nào giá ở hai nơi được xác lập cân bằng.

SOURCE: SAGA.VN

ĐẤU GIÁ HÀ LAN – LỊCH SỬ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG

Đấu giá là quá trình mua và bán hàng hóa bằng cách đưa các mức giá cao dần, nhận giá đặt và bán cho bên nào có giá đặt tốt nhất. Trong lý thuyết kinh tế, đấu giá là phương pháp xác định giá trị của một hàng hóa có mức giá không thể xác định hoặc biến đổi quá nhiều. Bán đấu giá được thực hiện công khai.
Những hình thức đấu giá đầu tiên có thể tính về những năm 500 B.C. Cuộc đấu giá có thể là đấu giá đặt trước có hoặc không có mức tối thiểu, đấu giá tuyệt đối,… Chẳng hạn trong đấu giá đặt trước, sẽ có lệnh tối thiểu hoặc giá đặt trước, nếu quá trình đặt giá không đạt đến mức tối thiểu đó, sẽ không có giao dịch (nhưng người muốn đưa sản phẩm/hàng hóa ra đấu giá sẽ phải trả phí cho bên tổ chức). Trong đấu giá tuyệt đối hoặc đấu giá không đặt trước, việc bán là chắc chắn, chỉ có duy nhất ở mức giá nào là cần xác định qua đấu giá.

auction1.jpgỞ Hà Lan, đấu giá có một truyền thống lâu đời. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, những nhà cầm quyền địa phương, quyền của các lãnh chúa như quyền đánh bắt cá, đã được phân xử theo hình thức đấu giá. Phiên đấu giá hàng hóa đầu tiên được tổ chức dành cho các loại hàng hóa nhanh hỏng, có thời gian tồn tại ngắn, cần được lưu thông ngay, tuy nhiên giá của chúng rất khó được thiết lập. Từ giữa thế kỷ thứ 15, hầu hết các cuộc đấu giá được thực hiện tại các chợ cá. Các tác phẩm nghệ thuật hoặc các hàng hóa cao cấp chỉ được bắt đầu được bán đấu giá từ thế kỷ 17.
Trong xã hội của Hà Lan, đấu giá đã trở nên rất phổ biến. Gần như tất cả mọi thứ đều được bán theo phương thức đấu giá: cá voi được bắt từ biển, lâu đài, biệt thự, các thiết bị, máy móc, các bộ phận của một con tàu, chiến lợi phẩm từ chiến tranh, các trang trại của các ông chủ trang trại bị vỡ nợ, các vật bị cầm cố quá hạn, củ hoa Tulip, hay các vật liệu có nguồn gốc từ động vật, đến các loại hàng hóa cao cấp như các sáng tác văn chương hay các tác phẩm hội họa. Thật ấn tượng khi chúng ta liệt kê được một danh mục các loại hàng hóa mà người Hà Lan đem đi đấu giá. Chỉ cần xem qua một tờ báo địa phương của Hà Lan, mỗi ngày có nhiều rất nhiều thành phố ngoài bốn thành phố lớn của Hà Lan là Amsterdam, The Hague, Leyden và Rotterdam tổ chức vài cuộc đấu giá.Vào năm 1720, xuất khẩu của Hà Lan tăng lên 10%, mà trong đó đấu giá chiếm một tỷ lệ rất lớn. Về cơ bản, các mặt hàng như cá, rượu, đường, gỗ, đã tăng lên rõ rệt. Nguyên nhân chính của việc đấu giá trở nên phổ biến chính là lý thuyết của Ricard đã được công nhận vào đầu thế kỷ 18.
Khi bắt đầu, các cuộc đấu giá có thủ tục rất phức tạp. Thông thường khi nhắc tới một cuộc đấu giá, người ta thường nghĩ ngay tới một số lượng người đặt giá (bidders) cạnh tranh nhau và tăng giá tới mức khi một người thắng và kết thúc với việc trả giá cao nhất cho món hàng được đem ra đấu giá. Hình thức này còn được gọi là đấu giá tăng dần hay đấu giá mức một. Đấu giá mức thứ 1, đấu giá giảm dần, người thắng cuộc sẽ là người trả giá cao nhất (ngày nay được biết đến là đấu giá kiểu Anh) là một hình thức đấu giá dường như phổ biến nhất.
Đấu giá giảm dần (hay còn được gọi là “mineing”, đấu giá mức hai), trong đó người thằng cuộc là người khẳng định hàng hóa đang được đấu giá là của mình, hình thức này thường được sử dụng phổ biến để bán cá, cũng như các loại mặt hàng khác. Đấu giá giảm dần đã và đang tiếp tục được xem như một hiện tượng đặc trưng của Hà Lan và hình thức đấu giá này đã được người Hà Lan giới thiệu rộng rãi. Ở Amsterdam, vào giữa thế kỷ thứ 17, loại đấu giá mức hai này mới được sử dụng để bán các hàng hóa như: tàu, gỗ, cá…
Khái niệm về đấu giá Hà Lan:
bid.jpgĐấu giá Hà Lan là một hình thức đấu giá mà trong cuộc đấu giá này, một món hàng được chào với một mức giá rất cao. Giá ban đầu được đưa ra này cao hơn rất nhiều giá trị món hàng và chẳng có người bán nào hy vọng bán được món hàng với giá cao như vậy. Vì bidders biết số lượng của lệnh đặt giá (bids), bids không được đóng dấu như trong các hình thức đấu giá khác.Giá được giảm xuống từ từ cho đến khi một bidder quyết định cái giá hiện tại đó. Bidders sẽ trả cái giá đó và trở thành người thắng cuộc.
Ví dụ: Một công ty tiến hành bán một chiếc xe công đã dùng theo hình thức đấu giá Hà Lan, giá ban đầu được ra là 15000 USD, bidders sẽ đợi đến khi giá giảm dần xuống tới 14000 USD, 13000 USD… 9000USD. Khi mà sự ra giá đạt tới 9000 USD mà có một bidder nào đó quyết định mua và ông ta là người đầu tiên làm thế thì ông ta thắng cuộc.
Đấu giá Hà Lan (Dutch Auction) có thể được biết đến trên thế giới với các tên như:

  • Đấu giá giảm dần (descending- price auction)
  • Dutch Tulip Auction: đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán các loại hoa ở Hà Lan mà đặc biệt là hoa Tulip.
  • Tulip Auction
  • Vickrey Auction: William Vickrey là nhà kinh tế nhận được giải Nobel kinh tế năm 1996, ông đã phát minh ra Vickrey Auction, nó cũng được coi là một dạng của đấu giá Hà Lan.

Quy trình một cuộc đấu giá Hà Lan:

Đấu giá Hà Lan thường được tổ chức bởi các nhà tổ chức đấu giá lớn và có nhiều kinh nghiệm.

  • Thông thường cuộc đấu giá thường được thông báo cho bidders. Họ sẽ tiến hành trưng bày các hàng hóa được đấu giá để những người tham gia đấu giá có cơ hội xem xét các hàng hóa mà họ sẽ mua. Trước mỗi cuộc đấu giá, người tổ chức sẽ công bố số lượng gói hàng đem bán, giá trị bán lẻ, giá cược thế chấp, độ giảm giá cược, và thời gian đóng cửa đấu giá.
  • Bằng việc đặt cược giá, bạn đồng ý rằng bạn có thể và dự định mua.
  • Đầu tiên, hàng hóa được chia nhỏ thành các. Ví dụ: Auctioners muốn bán 5 thùng hoa Tulip với một mức giá X, và người mua đầu tiên chỉ mua 3 thùng.
  • Trong cuộc đấu giá, giá mở đầu thường được đưa ra rất cao. Mức giá này thường không có người nào mua nổi.Tiếp theo mức giá này được giảm dần với một mức định trước. Mức định trước này có thể hiều là một mức giảm định trước, một mức thời gian định trước, tùy theo cuộc đấu giá khác nhau mà các mức quy định này khác nhau. Auctioners đưa ra giá và chờ người nào đó đồng ý. Nếu không có ai đồng ý thì anh ta sẽ giảm giá theo mức đã định và hỏi lại các bidders. Mức giá cứ giảm dần cho đến khi một người mua xác nhận sản phẩm là của ông ta bằng cách kêu lên “mine”, hoặc ấn một cái nút để dừng một cái đồng hồ tự động đang chạy. Nếu bidder là người đầu tiên ra quyết định thì anh ta là người thắng cuộc. Người mua phải trả mức giá mà anh ta quyết định với một lượng hàng xác định. Cuộc đấu giá sẽ tiếp tục nếu vẫn còn hàng hóa cùng loại. Bidders còn lại tiếp tục tham gia đấu giá. Kết quả của quá trình đấu giá này, hàng hóa sẽ được bán với các mức giá khác nhau, các bidders khác nhau, và số lượng khác nhau, mà người đầu tiên quyết định giá sẽ là người trả giá cao nhất và người thắng cuộc cuối cùng là người trả giá thấp nhất. Ví dụ: Công ty trên không phải bán 1 ôtô mà là 3 chiếc ôtô đã dùng. Bidder A là người quyết định mua đầu tiên với mức giá là 9000 USD, tuy nhiên anh ta chỉ mua một chiếc ôtô, điều đó có nghĩa là phiên đấu giá chưa kết thúc. Bidder B có thể chờ mứ c giá giảm xuống 8000 USD thì ông ta mới ra quyết định. Lúc này còn một chiếc xe và một bidder nào đó có thể chờ giá giảm xuống 7000 USD và ra quyết định. Như vậy, bidder A đã mua chiếc xe với giá là 9000 USD- cao nhất và Bidder C mua chiếc xe với giá thấp nhất 7000 USD. Lưu ý là những chiếc xe này tương tự nhau.
  • Thời gian diễn ra cuộc đấu giá rất ngắn, mọi người tham gia cuộc đấu giá thường im lặng để chờ đến mức giá mà họ có thể quyết định mua. Điều này hoàn toàn ngược lại với không khí cạnh tranh sôi nổi của đấu giá tăng dần.
  • Khi hàng hóa đã được đem ra đấu giá và được mua hết thì cuộc đấu giá kết thúc.

auction2.jpg

Đặc điểm của đấu giá Hà Lan:

  • Hàng hóa được bán theo hình thức này thường là các hàng hóa giống nhau, có số lượng lớn hoặc hàng hóa mau hỏng.
  • Đấu giá Hà Lan có điểm đặc biệt là có nhiều hơn một gói hàng được đem ra bán, và có thể có nhiều người chiến thắng

Ưu điểm của Đấu giá Hà Lan :

Theo quy trình của đấu giá Hà Lan có thể khiến chúng ta nghĩ rằng người bán có thể bị lỗ tiền, nhưng sự thực thì họ thường được nhiều tiền hơn kiểu đấu giá leo thang truyền thống. Với một cuộc đấu giá leo thang, bidders tăng giá nhưng hiếm khi họ đạt đến mức giá trị thực của hàng hóa. Họ không có lý do để phải hành động thật nhanh vì họ biết chính xác khi nào thì cuộc đấu giá kết thúc và họ thường đợi đến phút cuối và chỉ tăng giá một chút. Tuy nhiên trong đấu giá Hà Lan, bidders sẽ hành động thật nhanh vì họ không biết khi nào thì cuốc đấu giá kết thúc. Vì vậy dù giá đang giảm thay vì tăng giá, bidders sẽ kết thúc việc trả giá với giá thậm chí cao hơn giá trị món hàng.
Tính cạnh tranh trong đấu giá Hà Lan là cạnh tranh ngầm giữa bidders muốn sở hữu món hàng diễn ra rất mạnh mẽ. Mức giá càng giảm thì bidders càng muốn mua và tính cạnh tranh ngày càng tăng.
Nhược điểm của Đấu giá Hà Lan :

  • Vì tính chất đặc biệt của đấu giá Hà Lan nên các cuộc đấu giá rất khó tổ chức. Auctioner phải là những người có kinh nghiệm và chuyên nghiệp thì mới điều hành được phiên đấu giá.
  • Số lượng Bidders tham gia cuộc đấu giá thường bị hạn chế.

Trường hợp sử dụng:
Thông thường, đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán các loại hàng hóa có giới hạn tồn tại có nghĩa là các loại hàng hóa nhanh hỏng. Bên cạnh đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán hoa tại Hà Lan, còn được sử dụng để bán cá tại Anh và Isarel, thị trường tín dụng ở Rumani, trao đổi ngoại thương ở Bolivia, Jamaca, Zambia…
Đấu giá Hà Lan thường được áp dụng trong trường hợp một hàng hóa không được chấp nhận khi đưa ra một mức giá cao hoặc một hàng hóa muốn được bán đi thật nhanh.
Trong giai đoạn hiện nay , đấu giá Hà Lan còn được xem là kiểu đấu giá trực tuyến và trở nên khá thịnh hành trên các trang web như Ebay, Google…

Boddie © SAGA 12/2007 – http://www.saga.vn