XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2)

TRẦN CHÍ DŨNG

Mở rộng quan hệ làm ăn với đối tác là xu thế tất yếu và mang lại nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều vấn đề phức tạp cũng phát sinh từ đây. Một vài sự kiện được biết tới nhiều ở Việt Nam như tranh chấp thương hiệu ở nước ngoài, tài khoản của doanh nghiệp Việt Nam bị phong toả, đại diện doanh nghiệp Việt Nam bị giữ lại tại châu Âu do tranh chấp… Bài viết trình bày một số điểm liên quan tới xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế, mong các bạn cùng bổ sung và trao đổi.

Bài viết trình bày một số điểm liên quan tới xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế, mong các bạn cùng bổ sung và trao đổi.

1) Xung đột trong hợp đồng thương mại:
Xung đột trong hợp đồng thương mại xảy ra khi một trong các bên tham gia ký kết hợp đồng không thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ đã qui định trong hợp đồng, ví dụ: giao hàng sai qui cách, giao hàng chậm, nhận hàng không trả tiền. Bên kia không chịu. Hai phía đôi co, lời qua tiếng lại dẫn tới xung đột. Thông thường khi xảy ra xung đột có một vài phương pháp giải quyết:

– Đầu tiên là hòa giải. Tốt nhất là hai bên ngồi lại nói phải trái với nhau, vừa rẻ vừa đỡ phải dính vào kiện tụng. Cái này thường có ghi ở phần cuối của hợp đồng.

– Nếu hòa giải bất thành, thì hoặc là đem nhau ra tòa, hoặc ra trọng tài kinh tế. Tòa án có sức mạnh của pháp luật và là phán quyết cuối cùng. Nhưng trong nhiều trường hợp cũng đưa nhau ra trọng tài, lý do là vì: không phải đụng chạm đến pháp luật, để giữ chữ tín hai bên cũng cần tôn trọng phán quyết của trọng tài, cuối cùng nếu trọng tài phán vẫn không chấp nhận được thì mới đem nhau ra công đường.

2) Yếu tố quốc tế:
Ngay hợp đồng và giao dịch thương mại nội địa đã dễ có xung đột rồi, huống hồ lại dính đến cái vấn đề quốc tế ở đây.

Yếu tố quốc tế xuất hiện khi:

– Các bên tham gia ký kết hợp đồng (pháp nhân hay thể nhân) có quốc tịch khác nhau; ví dụ: DN Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu với DN Trung Quốc

– Hàng hóa hay dịch vụ là đối tượng của hợp đồng nằm ngoài lãnh thổ của một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng; ví dụ: hai đối tác Việt Nam nhưng lại mua bán một cái nhà bên Mỹ.

– Đồng tiền thanh toán là đồng ngoại tệ đối với một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng; hai đối tác Việt Nam thanh toán với nhau bằng tiền Cămpuchia.

3) Dẫn chiếu pháp luật:
Chính vì có yếu tố quốc tế nên đòi hỏi phải dẫn chiếu pháp luật khi có xung đột.

Ví dụ như Luật VN qui định nhà nhập khẩu phải thanh toán sau 60 ngày kể từ ngày nhận hàng nhưng Luật Mỹ lại qui định nhà nhập khẩu phải thanh toán sau 60 ngày kể từ ngày bán hết hàng nhập khẩu. Ở đây, nếu khi ký kết hợp đồng hai bên không làm chặt chẽ ngay từ đầu thì sẽ dẫn đến tranh chấp vì anh xuất khẩu (giả sử là VN) cứ đòi thanh toán trong khi anh nhập khẩu (Mỹ) lại bảo là từ từ đợi tớ bán xong đã. Lúc đó sẽ phải dẫn chiếu luật Mỹ hoặc luật VN xem ai sai ai đúng.

Một số nguyên tắc về việc dẫn chiếu:

– Qui định rõ luật dẫn chiếu trong trường hợp có xung đột ngay trong hợp đồng, lúc đó thì “NO TABLE” (KHÔNG BÀN), cứ theo hợp đồng mà luận.

– Áp dụng luật dẫn chiếu là luật tại nơi ký kết hợp đồng,

– Áp dụng luật dẫn chiếu là luật của một nước thứ ba;

– Áp dụng luật dẫn chiếu là luật nơi có trụ sở chính của một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng.

Trần Trí Dũng- saga.vn

XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT về hợp đồng thương mại quốc tế

VSM

Sự phát triển kinh tế kéo theo sự không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật quốc gia cũng như quốc tế. Các nước luôn mong muốn xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, tiến bộ và ngày càng xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, bản chất của pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật do điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội quyết định đã không cho phép các quốc gia dễ dàng làm được điều đó. Sự ảnh hưởng của các tư tưởng đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán và đặc biệt là sự phát triển không đồng đều đã tạo nên sự khác biệt trong cách tư duy của các nhà lập pháp của các quốc gia khác nhau. Xung đột pháp luật là hệ quả tất yếu của sự khác nhau về tư duy đó.

Vậy xung đột pháp luật là gì? Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế được biểu hiện như thế nào và làm sao để giải quyết được những xung đột pháp luật đó? Đó là những vấn đề mà bài viết này đề cập tới, mong được sự góp ý, trao đổi của các bạn.

1. Xung đột pháp luật – một hiện tượng
Xung đột pháp luật là hiện tượng phổ biến trong tư pháp quốc tế (là ngành luật điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…) giữa công dân và pháp nhân của các quốc gia với nhau).

Khi tham gia vào tư pháp quốc tế, luật pháp của các quốc gia khác nhau thường có cách hiểu không giống nhau về cùng một vấn đề. Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nu công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn với nam – 20 tuổi, nữ – 18 tuổi). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật.

Từ đó, có thể hiểu, xung đột pháp luật là hiện tượng hệ thống pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể tham gia để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nhưng lại có cách hiểu, cách quy định không giống nhau và cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật phải chọn 1 trong các hệ thống pháp luật đó.

Rõ ràng, không phải lúc nào cũng có xung đột pháp luật, xung đột pháp luật chỉ là hiện tượng, tức là chỉ xuất hiện khi một quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh và pháp luật của các quốc gia đều có thể tham gia điều chỉnh cho quan hệ đó nhưng lại có cách hiểu không giống nhau.
Nguyên nhân của sự xung đột pháp luật thì có nhiều nhưng chủ yếu là do: (1) không có quy phạm pháp luật thực chất thống nhất; (2) nội dung pháp luật của các quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, trong lĩnh vực hành chính và hình sự thì không có hiệu tượng xung đột pháp luật. Vì hai ngành luật này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nguyên tắc lãnh thổ, tức là nó chỉ có tác động đối với những hành vi xảy ra trong phạm vi lãnh thổ, chứ không vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, trừ một số trường hợp nhất định.

2. Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế.
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyên giao công nghệ…(vấn đề về hợp đồng hy vọng sẽ trinh bày vào một dịp khác).

Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế là cách hiểu, cách quy định khác nhau của hai hay nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế về một vấn đề cụ thể nào đó liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Chẳng hạn, về hình thức hợp đông thương mại quốc tế, luật của Việt Nam bắt buộc phải lập dưới hình thức văn bản nhưng luật của Mỹ thì cho phép bằng hình thức văn bản đối với những hợp đồng có trị giá trên 500 USD hoặc bằng lời nói – dưới 500 USD. Nếu doanh nghiệp Việt Nam giao kết hợp đồng với DN của Mỹ mà không thỏa thuận luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng là luật nào thì sẽ dẫn đến tình trạng hợp đồng sẽ vô hiệu theo luật pháp của Việt Nam nếu nó được giao kết bằng lời nói.

3. Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, sở dĩ có xung đột về hợp đồng thương mại quốc tế là do khi giao kết hợp đồng, các bên tham gia giao kết đã không dự liệu trước luật nào sẽ áp dụng cho hợp đồng. Đấy là cách hữu hiệu để không dẫn đến xung đột pháp luật.
Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, các bên tham gia giao kết hợp đồng không thỏa thuận, không quy định trong hợp đồng sẽ áp dụng luật nào thì khi có tranh chấp xảy ra, không biết dẫn chiếu luật pháp nước nào (nước người mua, người bán hay người thứ ba), xung đột pháp luật có thể xảy ra nếu quốc gia của 2 chủ thể ký kết hợp đồng này chưa tham gia điều ước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.

Lúc đó, việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế, có thể sử dụng những gợi ý sau:

  • Nếu xung đột về hình thức của hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật (Tòa án hoặc Trọng tài) sẽ áp dụng luật nơi giao kết hợp đồng. Tức là hợp đồng được giao kết ở đâu thì lấy luật nơi đó điều chỉnh hợp đồng.
  • Nếu xung đột về nội dung hợp đồng – luật nước người bán, luật nới thực hiện nghĩa vụ, luật lựa chọn…
  • Nếu xung đột về địa vị pháp lý của các bên ký kết hợp đồng – luật quốc tịch, luật nơi cư trú.

VSM – SAGA.VN

XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

VSM

Sự phát triển kinh tế kéo theo sự không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật quốc gia cũng như quốc tế. Các nước luôn mong muốn xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, tiến bộ và ngày càng xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, bản chất của pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật do điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội quyết định đã không cho phép các quốc gia dễ dàng làm được điều đó. Sự ảnh hưởng của các tư tưởng đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán và đặc biệt là sự phát triển không đồng đều đã tạo nên sự khác biệt trong cách tư duy của các nhà lập pháp của các quốc gia khác nhau. Xung đột pháp luật là hệ quả tất yếu của sự khác nhau về tư duy đó.

Vậy xung đột pháp luật là gì? Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế được biểu hiện như thế nào và làm sao để giải quyết được những xung đột pháp luật đó? Đó là những vấn đề mà bài viết này đề cập tới, mong được sự góp ý, trao đổi của các bạn.

1. Xung đột pháp luật – một hiện tượng
Xung đột pháp luật là hiện tượng phổ biến trong tư pháp quốc tế (là ngành luật điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…) giữa công dân và pháp nhân của các quốc gia với nhau).

Khi tham gia vào tư pháp quốc tế, luật pháp của các quốc gia khác nhau thường có cách hiểu không giống nhau về cùng một vấn đề. Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nu công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn với nam – 20 tuổi, nữ – 18 tuổi). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật.

Từ đó, có thể hiểu, xung đột pháp luật là hiện tượng hệ thống pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể tham gia để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nhưng lại có cách hiểu, cách quy định không giống nhau và cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật phải chọn 1 trong các hệ thống pháp luật đó.

Rõ ràng, không phải lúc nào cũng có xung đột pháp luật, xung đột pháp luật chỉ là hiện tượng, tức là chỉ xuất hiện khi một quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh và pháp luật của các quốc gia đều có thể tham gia điều chỉnh cho quan hệ đó nhưng lại có cách hiểu không giống nhau.
Nguyên nhân của sự xung đột pháp luật thì có nhiều nhưng chủ yếu là do: (1) không có quy phạm pháp luật thực chất thống nhất; (2) nội dung pháp luật của các quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, trong lĩnh vực hành chính và hình sự thì không có hiệu tượng xung đột pháp luật. Vì hai ngành luật này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nguyên tắc lãnh thổ, tức là nó chỉ có tác động đối với những hành vi xảy ra trong phạm vi lãnh thổ, chứ không vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, trừ một số trường hợp nhất định.

2. Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế.
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyên giao công nghệ…(vấn đề về hợp đồng hy vọng sẽ trinh bày vào một dịp khác).

Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế là cách hiểu, cách quy định khác nhau của hai hay nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế về một vấn đề cụ thể nào đó liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Chẳng hạn, về hình thức hợp đông thương mại quốc tế, luật của Việt Nam bắt buộc phải lập dưới hình thức văn bản nhưng luật của Mỹ thì cho phép bằng hình thức văn bản đối với những hợp đồng có trị giá trên 500 USD hoặc bằng lời nói – dưới 500 USD. Nếu doanh nghiệp Việt Nam giao kết hợp đồng với DN của Mỹ mà không thỏa thuận luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng là luật nào thì sẽ dẫn đến tình trạng hợp đồng sẽ vô hiệu theo luật pháp của Việt Nam nếu nó được giao kết bằng lời nói.

3. Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, sở dĩ có xung đột về hợp đồng thương mại quốc tế là do khi giao kết hợp đồng, các bên tham gia giao kết đã không dự liệu trước luật nào sẽ áp dụng cho hợp đồng. Đấy là cách hữu hiệu để không dẫn đến xung đột pháp luật.
Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, các bên tham gia giao kết hợp đồng không thỏa thuận, không quy định trong hợp đồng sẽ áp dụng luật nào thì khi có tranh chấp xảy ra, không biết dẫn chiếu luật pháp nước nào (nước người mua, người bán hay người thứ ba), xung đột pháp luật có thể xảy ra nếu quốc gia của 2 chủ thể ký kết hợp đồng này chưa tham gia điều ước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.

Lúc đó, việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế, có thể sử dụng những gợi ý sau:

  • Nếu xung đột về hình thức của hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật (Tòa án hoặc Trọng tài) sẽ áp dụng luật nơi giao kết hợp đồng. Tức là hợp đồng được giao kết ở đâu thì lấy luật nơi đó điều chỉnh hợp đồng.
  • Nếu xung đột về nội dung hợp đồng – luật nước người bán, luật nới thực hiện nghĩa vụ, luật lựa chọn…
  • Nếu xung đột về địa vị pháp lý của các bên ký kết hợp đồng – luật quốc tịch, luật nơi cư trú.

VSM – SAGA.VN