10 LOẠI GIẤY TỜ ĐỂ XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM BẮT ĐẦU SỬ DỤNG ĐẤT

Trong trường hợp xác định quyền sở hữu đối với quyền sử dụng đất tính theo thời hiệu, quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc cung cấp chứng cứ trong các tranh chấp về quyền sử dụng đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…, các bạn cần có 10 loại giấy tờ sau để xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất:

1. Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;
2. Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;
3. Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;
4. Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất;
5. Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;
6. Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn liền với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh có ghi địa chỉ của nhà ở liên quan đến thửa đất;
7. Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;
8. Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan (không cần có chứng nhận của cơ quan, tổ chức);
9. Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;
10. Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của UBND cấp xã tại thời điểm kê khai.

Tham khảo từ tri-luat.com

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

CAO HUY THUẦN

“Nhà nước pháp quyền” đã được chính thức du nhập vào Việt Nam từ cuối năm 1991. Chính Tổng bí thư Đỗ Mười đã nêu lên khái niệm này trước tiên trong một bài nói tại hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành trung ương khóa 7 ngày 29-11-1991. Mười sáu năm trôi qua, dư luận vẫn còn tự hỏi: “Nhà nước pháp quyền” là gì? Hỏi như vậy, khác gì xác nhận vấn đề hãy còn là thời sự? Mà lại là thời sự nóng hổi! Trong nước, vi phạm luật là tin tức hàng ngày trên báo chí. Ngoài nước, các tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia không ngớt đòi hỏi “Nhà nước pháp quyền” như một điều kiện phải thực hiện. Thực hiện thế nào trước mắt dân và trước mắt quốc tế, nếu trước hết không định nghĩa cho rõ khái niệm này? Đã đành Việt Nam không bắt buộc phải theo quan niệm của ai, nhưng mơ hồ về chính khái niệm mà mình đã thừa nhận là chuyện không ổn.
Bài viết này bắt đầu từ chỗ bắt đầu, nghĩa là từ lịch sử phát sinh ra khái niệm. Gạn lọc hết những phức tạp không cần thiết, tác giả tóm lược ba quan điểm đại diện cho ba hệ thống pháp lý lớn nhất tại châu Âu: Đức, Pháp và Anh. Mỗi quan điểm dính liền với hoàn cảnh chính trị của mỗi nước: nước Đức đang tìm cách thống nhất dưới uy quyền của một Nhà nước mạnh; nước Pháp vẫn còn giữ cuốn rốn của Cách Mạng 1789; nước Anh chung thủy với tập tục bất thành văn mà tòa án là người bảo vệ. Không ai giống ai, nhưng quan tâm không xa nhau mấy.

1. Rechtsstaat của Đức.
Tiếng Đức, Recht là luật pháp, Staat là Nhà nước, Rechtsstaat là Nhà nước luật pháp, nhưng tôi đề nghị giữ nguyên không dịch, để phân biệt với cách gọi của Pháp (Etat de droit) và cách gọi của Anh (Rule of law). Học thuyết về Rechtsstaat xuất hiện từ giữa thế kỷ 19, trước khi Bismarck thống nhất nước Đức năm 1871, thành lập Đế chế. Nhà nước vững mạnh được xem như giải pháp cho nhu cầu thống nhất mà giới tư sản, giai cấp tiến bộ lúc đó, muốn thực hiện, nhưng đồng thời họ cũng muốn Nhà nước đó tôn trọng tự do của các tầng lớp đang lên: hai nhu cầu đưa đến quan niệm Nhà nước luật pháp. Nhà nước được đồng hóa với một người, vua, và vua chỉ có thể thi hành nhiệm vụ của mình bằng phương tiện luật pháp và bằng cách tôn trọng luật pháp.
Hiểu như vậy, mục đích của Rechtsstaat là hạn chế quyền lực của Nhà nước bằng luật pháp. Trong quan hệ giữa Nhà nước và người dân, cũng như đối với tất cả những gì liên quan đến đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, Nhà nước phải hành động theo những quy tắc tổng quát, những nguyên tắc đã vạch ra từ trước. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa Nhà nước luật pháp (Rechtsstaat) và Nhà nước cảnh sát (Polizeistaat).
Nhà nước cảnh sát đã là một bước tiến so với Nhà nước chuyên chế hoặc tùy tiện, bởi vì đã biết công nhận và dành cho luật pháp một địa vị khá rộng. Thế nhưng luật pháp ở đây chỉ là một thứ luật có tính thuần túy phương tiện, luật mà chính quyền hoàn toàn làm chủ, luật được dùng để buộc dân thi hành nhiệm vụ chứ không ràng buộc chính quyền: luật pháp kiểu này biểu hiện quyền uy của người cầm quyền, khí cụ để đạt những mục đích mà chính quyền vạch ra.
Nhà nước luật pháp Rechtsstaat vượt lên trên Nhà nước cảnh sát: luật pháp không phải chỉ là phương tiện hành động của Nhà nước, mà còn là cái khung giới hạn quyền lực của Nhà nước. Do đó, luật pháp có hai bộ mặt đối với các cơ quan hành chánh: vừa tạo khả năng cho bộ máy hành chánh hành động, vừa tạo ràng buộc trên cơ quan hành chánh. Chính quyền không thể buộc ai làm điều gì mà luật đã không minh bạch cho phép, và người dân có thể viện dẫn trước một cơ quan tài phán luật đã làm ra để đòi hủy bỏ, tu chính, hoặc không áp dụng những quyết định hành chánh đã vi phạm luật. Trong thực tế, học thuyết Rechtsstaat nhằm xác nhận ưu thế của luật trên bộ máy hành chánh. Hành chánh không những không được hành động trái luật mà làm gì cũng phải được luật cho phép. Chỉ luật mới có thể tạo ra những nguyên tắc tổng quát, hành chánh chỉ có thể áp dụng những nguyên tắc tổng quát đó cho từng trường hợp cá biệt.
Như vậy, phải nói thêm: Rechtsstaat không những chỉ có nghĩa là Nhà nước phải hành động theo luật pháp, mà Nhà nước còn phải được đặt dưới luật pháp. Vì vậy, vấn đế lý thuyết là phải cắt nghĩa tại sao Nhà nước đặt dưới pháp luật? Chẳng phải là trước đó, Nhà nước vẫn được hiểu như là quyền uy thống trị, dọc ngang nào biết trên đầu có ai hay sao? Trên đầu đã không có ai ngoài tóc, thì làm gì có những nguyên tắc có trước, ở ngoài, và ở trên Nhà nước? Mà ví thử những nguyên tắc ấy có chăng nữa, nếu không có Nhà nước thì lấy ai áp dụng, lấy ai chế tài, có cũng như không? Chẳng phải Nhà nước là điều kiện sinh tồn của nó, cho nó ra đời, làm ông tạo hóa của nó hay sao? Cho nên, trong quan niệm trước đó, chỉ những nguyên tắc nào được Nhà nước ban ra và chế tài mới có tính pháp lý. Làm sao dám nói Nhà nước nằm dưới luật pháp được?

——————————————————————–

Trong lịch sử của bất cứ nước phát triển nào, dù ở phương Tây hay ở phương Nam, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển xã hội, phát triển chính trị, phát triển gì gì đi nữa, cũng phải dựa trên phát triển ý thức tôn trọng luật pháp, bắt đầu từ chính quyền để thấm vào người dân.

——————————————————————–

Để bênh vực Rechtsstaat, học thuyết Đức sáng tạo ra thuyết “Nhà nước tự giới hạn”. Một mặt, thuyết này thừa nhận truyền thống tư tưởng trước đây: Nhà nước là nguồn gốc của luật pháp, luật pháp không áp đặt trên Nhà nước một ràng buộc từ bên ngoài, một giới hạn khách quan. Một mặt, thuyết này nói thêm: điều đó không có nghĩa rằng quyền uy của Nhà nước là vô hạn, mà chỉ có nghĩa rằng Nhà nước có một đặc quyền – đặc quyền tự mình đặt ra cho mình những nguyên tắc tạo khung cho việc thực hiện quyền lực của mình. Vị thế đặc biệt đó của Nhà nước trong mối tương quan với luật pháp cắt nghĩa tại sao Nhà nước không bị chi phối bởi cùng những nguyên tắc như những cá nhân thông thường: Nhà nước được đặt dưới một luật pháp đặc biệt, luật hành chánh, bảo vệ Nhà nước hơn.
Mặc dầu có châm chước như vậy, các lý thuyết gia của thuyết tự giới hạn vẫn xem luật pháp như thực sự ràng buộc Nhà nước: Nhà nước không những không thể tự mình hủy bỏ trật tự pháp lý mà không làm rạn nứt nền móng của chính mình, mà Nhà nước còn phải tôn trọng luật pháp một cách tự nhiên. Tại sao? Vì hai lẽ. Một, là vì Nhà nước có lợi để làm như thế: chính mình tôn trọng luật thì luật do mình làm ra càng tăng thêm giá trị, càng được mọi người tôn trọng. Hai, là vì áp lực của xã hội thúc đấy Nhà nước phải tôn trọng. Dù giải thích như vậy có vững hay không, trong lý thuyết tự hạn chế, ý chính là luật pháp không phải nằm ở ngoài Nhà nước, không phải hạn chế từ bên ngoài, không phải ràng buộc từ bên ngoài, mà nằm ở bên trong Nhà nước, do chính ý muốn của Nhà nước. Quan niệm này phản ánh triết lý truyền thống của Đức về Nhà nước, đặc biệt là từ Kant, Fichte, Hegel, và phản ánh chế đô chính trị của Đức hồi đó, cần một Nhà nước để thống nhất.
Do đó, học thuyết Rechtsstaat không được tiếp nhận trọng đãi ở Pháp. Một mặt, các tác giả Pháp xem đó như là cách biện minh cho chế độ chính trị của Đức; một mặt, lý thuyết tự hạn chế bị chê là lừng khừng, cố ý tránh né để khỏi hạn chế thực sự Nhà nước bằng luật pháp. Thêm nữa, lý thuyết của Đức cũng trái hẳn với quan niệm của Pháp về Nhà nước: một bên xem Nhà nước như một thực thể trừu tượng, độc lập; một bên xem Nhà nước như một phương tiên pháp lý để Dân Tộc tự tổ chức. Đây là quan niệm đặc thù của Pháp, thừa kế từ Cách Mạng 1789, xem Nhà nước là Nhà nước-Dân Tộc (Etat-Nation) hoặc Quốc Dân. Bởi vậy, tuy ra đời trước Pháp, học thuyết của Đức phải đợi đến khoảng 1920 mới thực sự được du nhập vào Pháp, rồi được nhào nặn, sửa đổi để trở thành học thuyết của Pháp, mang tên là Etat de droit, dịch sát nguyên văn Rechtsstaat.

2. Etat de droit của Pháp.

Miếng đất chính trị của Pháp đã được Cách Mạng 1789 cày bừa trước khi nhận hạt giống Rechtsstaat. Thay đổi toàn bộ hệ thống pháp lý có trước, Cách Mạng lập ra một thứ bậc pháp lý rất chặt chẽ, phân minh. Trên tột cao là “những quyền tự nhiên, không thể chuyển nhượng, và thiêng liêng của con người”. Dưới đó là hiến pháp mà mục tiêu là bảo đảm  những quyền vừa nói và thực hiện sự phân quyền giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp. Dưới nữa là luật do Quốc hội biểu quyết. Dưới cùng là những văn kiện của chính phủ mà nhiệm vụ là ban hành và áp dụng luật. Bộ máy hành chánh, không có tư cách đại diện ai cả, không được xen lấn vào việc sử dụng quyền lập pháp và cũng không được ngưng hoãn việc áp dụng luật.

——————————————————————–

 


Giữa thế kỷ 20, có một nước thuộc địa anh hùng vùng lên viết trên lịch sử dành độc lập của thế giới quật khởi ba chữ tiên phong: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc. Tự do là gì nếu không phải là quyền của người dân buộc chính quyền phải tôn trọng luật pháp? Hạnh phúc là gì nếu trước hết không phải là quyền của người dân không bị nhũng nhiễu quấy rầy? Nhà nước pháp quyền có lạ lùng gì đâu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh- người khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?

——————————————————————–

Thứ bậc pháp lý đó, rõ ràng trên lý thuyết, lại sơ hở cả trên lý thuyết lẫn thực tế. Nguyên nhân là Rousseau.- là lý thuyết quá nặng ảnh hưởng của Rousseau về luật và về Quốc Dân. Quốc Dân, trong tư tưởng của Rousseau, là một thực thể trừu tượng, độc lập, không đồng hóa với từng cá nhân cụ thể. Vì trừu tượng, Quốc Dân không có miệng để nói lên trực tiếp ý muốn của mình, phải nói qua miệng của những người đại diện được bầu lên: tiếng nói của họ, ý muốn của họ phát biểu ý muốn của chính Quốc Dân. Ý muốn đó diễn dịch ra thành luật. Luật, “biểu hiện ý muốn của toàn thể“, chói lọi hào quang. Hào quang đó làm mờ nhạt thứ bậc pháp lý vừa sắp đặt, cụ thể là hiến pháp. Tình trạng chính trị thiếu ổn định sau 1789, chế độ này đổ, chế độ khác lên, Cộng hòa rồi lại quân chủ, quân chủ rồi lại Cộng hòa, rồi quân chủ, rồi Đế chế, hiến pháp thay đổi năm lần bảy lượt, mất uy thế trước luật. Là tối thượng trong thực tế, luật mang áo bào tối thượng khoác lên vai cơ quan làm ra luật, tức là Quốc hội. Khác hẳn Đức, Quốc hội làm mưa làm gió trong lịch sử chính trị Pháp, lật hết chính phủ này đến chính phủ khác trong suốt giai đoạn Đệ Tam, Đệ Tứ Cộng Hòa, từ 1875 đến tận 1958. Và cũng vì luật chói sáng hào quang như thế, cho đến 1958, Pháp không giải quyết nổi mâu thuẫn căn bản trong đẳng cấp pháp lý: không thành lập được một cơ quan nào để hủy bỏ luật trong trường hợp luật vi phạm hiến pháp. Ngược lại, Pháp rất tinh vi trong việc kiểm soát tính cách hợp luật của các quyết định hành chánh. Ngăn cấm không để cho các cơ quan hành chánh vi phạm luật là quan tâm chính của hệ thống pháp lý Pháp.
Bởi vậy, trong suốt giai đoạn Đệ Tam Cộng Hòa (1875-1940), người dân không được bảo vệ nếu quyền của mình bị chính luật của Quốc hội làm ra vi phạm. Đâu có phải luật nào cũng tốt? Đâu có phải làm nhiều luật là tốt? Thiếu gì luật vi phạm quyền và tự do của dân chúng? Thiếu gì luật gây nhiễu cho dân? “Hợp pháp” với thứ luật đó lại hóa ra nối dáo cho giặc. Làm sao chống lại thứ luật như vậy?
Lý thuyết Nhà nước pháp luật (Etat de droit) được du nhập từ Đức và được triển khai chính là khí giới tư tưởng để chống lại Nhà nước hợp pháp (Etat légal). Vấn đề là phải quan niệm lại địa vị hào quang của luật và xác nhận lại vị thế cao nhất của hiến pháp so với luật của Quốc hội. Cụ thể, tranh luận diễn ra trên tính pháp lý của Tuyên Ngôn về quyền của con người và công dân 1789. Một số tác giả lớn xem Tuyên Ngôn đó như một văn kiện luật pháp thực sự, cao hơn luật và cao hơn cả hiến pháp. Một số khác chủ trương phải tu chính hiến pháp 1875, đưa những quyền mà Tuyên Ngôn công nhận vào trong hiến pháp, để cơ quan làm luật không được vi phạm. Dù khác nhau, cả hai ý kiến đều nhất trí trên cùng một nhận định: phải quy định bằng hiến pháp những bảo đảm cho quyền của người dân chống lại một cơ quan làm luật xét ra còn nguy hiểm cho tự do của người dân hơn cả quyền lực hành chánh. Có hai cách để thực hiện bảo đảm: hoặc trao cho các tòa án quyền kiểm soát hiến tính các đạo luật như ở Mỹ, hoặc thành lập một Tòa án đặc biệt như ở Pháp hiện nay.
Du nhập Rechtsstaat, các lý thuyết gia của Pháp cũng phải giải quyết vấn đề lý thuyết hóc búa về tương quan giữa Nhà nước và luật pháp. Nhà nước ở trên hay luật pháp ở trên? Giải pháp hàng hai tự hạn chế của Đức là đề tài tranh luận sôi nổi. Hai phe chống đối nhau trên giá trị pháp lý của Tuyên Ngôn 1789. Khuynh hướng chủ trương địa vị tối ưu của Tuyên Ngôn bênh vực ý kiến theo đó Nhà nước, cơ quan nói lên ý muốn của nhà cầm quyền, phải được đặt dưới một trật tự khách quan mà chính mình không lập ra. Khuynh hướng đối lập, chủ trương Tuyên Ngôn không có giá trị pháp lý, bênh vực quan điểm theo đó Nhà nước chủ tể chỉ có thể bị hạn chế bằng những nguyên tắc do chính mình tạo lập.
Thủy thổ của nước Pháp cách mạng rốt cục không hợp với khuynh hướng thứ hai, chịu ảnh hưởng của Đức: nhiều tác giả lớn chỉ trích kịch liệt thuyết tự hạn chế, xem như biện minh cho quyền lực toàn trị của Nhà nước, đặt Nhà nước trên luật pháp. Vậy, theo họ, nếu luật pháp không do Nhà nước mà ra thì do đâu? Trả lời: do một nguyên tắc có trước và trên Nhà nước. Nguyên tắc gì? Thuở trước là Thượng đế: luật pháp được xem như xây dựng trên trật tự do Thượng đế an bài. Bây giờ là Thiên Nhiên, là Người, là Xã Hội, là trật tự thiên nhiên, trật tự nhân bản, trật tự xã hội mà Nhà nước chỉ diễn dịch ra như một thông dịch viên. Khi Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ  tuyên bố: “Chúng tôi cho rằng những chân lý sau đây là hiển nhiên tự bản thân: tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng; được Tạo Hóa ban cho một số quyền không thể chuyển nhượng trong đó có quyền sống, tự do và mưu cấu hạnh phúc…”, bản Tuyên Ngôn đã viện dẫn nguồn gốc thiêng liêng. Khi Tuyên Ngôn 1789 của Pháp tuyên bố về những quyền thiên nhiên bất khả xâm phạm, văn kiện đó tiếp thu máu mủ từ triết lý quyền thiên nhiên phổ biến từ thế kỷ 17. Đến đầu thế kỷ 20, triết lý quyền thiên nhiên bị lu mờ trước cao trào của xã hội học, nhường chỗ cho triết lý ý thức xã hội. Phân biệt cái “có sẵn” và cái “được xây dựng”, các tác giả lớn không xem luật pháp như nằm trọn gói trong lĩnh vực thứ hai, nghĩa là do Nhà nước tạo dựng ra: đàng sau những quy tắc tạo dựng đó đã có sẵn một thực tại pháp lý sâu xa, hiện hữu dưới dạng chưa khai thác trong cộng đồng xã hội. Nhà nước, xét cho cùng, chỉ là một thực thể trừu tượng, nấp sau những người cai trị có xương có thịt, để tạo cơ sở chính đáng cho việc sử dụng quyền lực cưỡng bách. Hành động gọi là của Nhà nước thật ra chỉ do từ ý muốn cá nhân của nhà cầm quyền: sau lưng Nhà nước là những người có tên có tuổi muốn thế này, hành động thế kia, áp đặt thế nọ. Vấn đề là hạn chế việc sử dụng quyền uy đó bằng luật pháp.
Tác giả Duguit, một trong những ngôi sao bắc đẩu của luật học Pháp đầu thế kỷ 20, giải thích “ý thức xã hội” thế này: trong đám đông cá nhân tập hợp lại thành một nhóm xã hội nào đó, luật pháp hiện hữu khi đám đông đó “hiểu và công nhận rằng một phản ứng chống lại những người vi phạm nguyên tắc có thể được tổ chức từ xã hội“: tình trạng ý thức đó là “nguồn gốc sáng tạo ra luật pháp”. Chính từ cái lúc chính xác đó, một nguyên tắc xã hội, xây dựng trên tính liên đới và quan hệ hỗ tương, biến thành nguyên tắc luật pháp. Do đó, luật pháp không phải từ Nhà nước mà ra, hiện thân của địa vị tối thượng của Nhà nước, mà là một “hiện tượng xã hội“, được tạo thành “một cách tự nhiên trong đầu óc của con người” dưới ảnh hưởng của hai tình cảm: tính xã hội, thúc đẩy việc chế tài mọi hành vi xâm phạm đến liên đới xã hội, và tính công lý, buộc phải bảo vệ bình đẳng cho tất cả mọi người trong tương quan giữa họ với nhau và giữa họ với tập thể.
Cùng đi đến một kết luận, một ngôi sao bắc đẩu khác, Hauriou, giải thích một cách khác. Nhà nước, theo ông, vẫn là cơ sở của quyền lực, nhưng người dân không tuân lệnh nhà cầm quyền như là những người có xương có thịt, mà là vì tư cách đại diện của Nhà nước. Quyền hành của họ chỉ chính đáng vì được hành xử nhân danh Nhà nước, hiện thân của ý muốn sống chung. Luật pháp, vì vậy, không phải nằm ở ngoài Nhà nước như Duguit chủ trương, mà đúng là do Nhà nước tạo ra nhân danh mình. Tuy vậy điều đó không có nghĩa là Nhà nước toàn trị, muốn làm gì thì làm. Giống như mọi định chế khác, Nhà nước được xây dựng trên sự thỏa thuận của tập tục: chính Dân Tộc thỏa thuận và thúc ép việc xây dựng một quyền hành có tính cưỡng bách, nhưng quyền hành đó không thể tồn tại nếu không thường xuyên dựa trên sự gắn bó của thành viên. Ý tưởng này chứa đựng sẵn mầm mống của nguyên tắc giới hạn Nhà nước: người dân không từ bỏ toàn thể tự do của mình vào tay Nhà nước, và nếu sự thỏa thuận của người dân tiêu tan thì Nhà nước sẽ không còn chính đáng. Từ điểm đó, Nhà nước không thể được xem như là nguồn gốc duy nhất của luật pháp.
Tranh luận trên đúng sai của những lý thuyết này thì vô cùng, chỉ cần ghi rằng ý chính của mọi lý thuyết về Nhà nước luật pháp là hạn chế quyền lực của Nhà nước để bảo vệ quyền của người dân. Nhà nước không phải muốn làm gì thì làm mà nhất nhất phải hành động đúng luật pháp, nghĩa là: tôn trọng những văn bản luật pháp quy định thẩm quyền của mình, tôn trọng những nguyên tắc luật pháp do cơ quan cấp trên của mình làm ra, và tôn trọng những nguyên tắc do chính mình làm ra. Đây là điều cực kỳ quan trọng, bởi vì chính sự tôn trọng luật pháp của chính quyền tạo ra một quyền thực sự của người dân: quyền buộc chính quyền, buộc cơ quan hành chánh phải tôn trọng luật. Nhiệm vụ của tư pháp là chế tài mọi vi phạm nguyên tắc đó, kể cả vi phạm của chính quyền. Trên điểm này, Rule of law của Anh tự hào giải quyết vấn đề gọn nhất, hữu hiệu nhất, ít lý thuyết nhất, cụ thể nhất.

3. Rule of law của Anh.
Trong quan niệm của Anh, Rule of law không phải chỉ có nghĩa luật là cao nhất và mọi công dân đều bình đẳng trước luật, mà còn có nghĩa luật pháp hàm chứa những tính chất căn bản trong nội dung: chỉ nhắm đến tương lai mà quy định, không trở lui quá khứ; phải được công bố; phải rõ ràng, phân minh, vững bền; phải có tính tiên liệu; phải tôn trọng quyền và tự do của công dân… Quan niệm luật tối thượng của Pháp chủ yếu nhắm tối thượng qua đẳng cấp, nghĩa là trọng hình thức; quan niệm luật tối thượng của Anh còn bao hàm một định nghĩa về luật xét trên nội dung. Cùng một quan niệm tương tự, due process of law của Mỹ, do tu chính Hiến pháp thứ 14 (1868) thiết lập, dần dần được hiểu theo nghĩa rộng, không phải chỉ buộc chính quyền tôn trọng đúng thể thức khi áp dụng luật (procedural due process), ví dụ phải bảo đảm  tổ chức vụ kiện cho đúng đắn, mà còn buộc xét luật về mặt nội dung (substantive due process). Cả hai tính chất “nội dung” và “thể thức” đều không có mặt trong quan niệm của Pháp.
Dicey, trong quyển sách “Introduction to the Study of the Law of the Constitution” (1885) cắt nghĩa rõ thế nào là Rule of Law.
Thứ nhất, Rule of Law có nghĩa: luật là cao nhất, cao tuyệt đối, chống lại ảnh hưởng của quyền lực tùy tiện, của đặc quyền, của quyền uy phân biệt đối xử về phía chính quyền. “Người dân Anh được cai trị bởi luật, và chỉ duy nhất bởi luật mà thôi; một người có thể bị trừng phạt vì vi phạm luật nhưng không thể bị trừng phạt vì bất cứ lý do gì khác”.
Thứ hai, Rule of Law có nghĩa là: mọi người dân đều bình đẳng trước luật pháp, trước luật thông thường được áp dụng trước các tòa án thông thường. Điều này loại trừ ý nghĩ các viên chức Nhà nước hay ai đó có thể thoát ra khỏi bổn phận tuân theo luật áp dụng cho các công dân khác trước các tòa án thông thường. Câu nói này vạch ra điểm khác biệt căn bản giữa hệ thống pháp lý Anh và Pháp: ở Pháp, người dân kiện chính quyền trước các tòa án hành chánh; ở Anh, trước các tòa án thường, không phân biệt. Nhà nước, trong chuyện đáo tụng đình, và người dân không ai hơn ai.
Thứ ba, Rule of Law có nghĩa: luật của hiến pháp, những nguyên tắc mà các nước khác quy định trong hiến pháp, không phải là nguồn gốc mà là hậu quả của những quyền của cá nhân như các tòa án đã định nghĩa và đã thực hiện. Ai học luật đều biết: nước Anh không có hiến pháp thành văn; những nguyên tắc có tính hiến pháp ở Anh được tạo ra do tập tục và luật thông thường mà thành. Trước mắt Dicey, nghĩa là của người Anh, khi một nước Âu châu khác “bảo đảm quyền của người dân”, quyền này được xem như một đặc ân, do một quyền lực trên cao bảo vệ. Ở Anh, việc bảo vệ quyền và tự do của người dân được thực hiện một cách bình thường, do việc áp dụng luật lệ bình thường, trước các tòa án bình thường.

Điểm qua ba học thuyết chính ở châu Âu về Nhà nước luật pháp, có thể tóm gọn thêm một lần nữa ý chính. Khái niệm Nhà nước luật pháp bao gồm ba chiều hướng, ba cấp bậc xen kẽ với nhau.
* Cấp bậc thứ nhất, tối thiểu, Nhà nước luật pháp có nghĩa là nhà cầm quyền phải đặt mình dưới luật pháp. Cụ thể, trật tự pháp lý phải được tôn trọng, luật pháp phải được bảo đảm áp dụng cho tất cả mọi người, dân cũng như quan chức, do một cơ quan tư pháp đôc lập. Ở cấp bậc này, sự tôn trọng luật của chính quyền được xem như phát xuất từ ý muốn tự chế, tự tuân theo kỷ luật của chính quyền – một quá trình lý trí hóa trong tiến bộ của một xã hội về cách hành động của guồng máy Nhà nước nhắm loại trừ tùy tiện.
* Cấp bậc “tối thiểu” này, một Nhà nước độc quyền, nếu hành động theo đúng luật, cũng có thể gọi là Nhà nước luật pháp. Tất nhiên, xét về mặt nội dung, luật có thể cho phép chính quyền làm bất cứ biện pháp gì, tốt cũng như xấu cho người dân, nhưng “Nhà nước luật pháp ở cấp tối thiểu” cũng đã khác với Nhà nước toàn trị rồi: Nhà nước toàn trị thì bất chấp luật pháp.
* Cấp bậc cao hơn, Nhà nước phải đặt mình dưới luật pháp và không được làm ra những luật, những nguyên tắc pháp lý trái với những nguyên tắc tổng quát cao hơn mà hiến pháp có thể công nhận tinh túy. Ở cấp bậc này, luật pháp được xem như có trước và cao hơn Nhà nước, tạo giới hạn cho hành động của chính Nhà nước. Tất cả vấn đề là tìm cách cắt nghĩa trên lý thuyết giới hạn đó.
* Cấp bậc thứ ba, Nhà nước luật pháp là Nhà nước trong đó người dân được bảo đảm những quyền và tự do một cách hữu hiệu. Quyền của con người và dân chủ trong chính trị là hậu quả của bảo đảm này. Quyền của con người bảo đảm cho người dân không bị chính quyền vi phạm; dân chủ bảo đảm cho đa số được nắm quyền và cho thiểu số đủ mọi tự do để trở thành đa số trong lần bầu cử kế tiếp. Ở đây, Nhà nước cũng bị giới hạn: giới hạn bởi quyền của công dân, trong đó có quyền thay đổi ý kiến về việc lựa chọn người cầm quyền. Rộng hơn, Nhà nước bị giới hạn vì một nguyên tắc chung: những gì không liên quan đến lĩnh vực công thì thuộc lĩnh vực tư; những gì không cần Nhà nước phải nhất thiết nắm, hãy để cho xã hội tự quản. Phân biệt giữa công / tư và Nhà nước / xã hội dân sự là đặc điểm của một xã hội tiến bộ, văn minh.

***
Trong ngôn ngữ của thế giới, sau Rechtsstaat, Etat de droit, Rule of Law, Việt Nam có “Nhà nước pháp quyền”. Tên gọi thật hay. Vừa “pháp”, nghĩa là luật pháp; vừa “quyền”, nghĩa là… quyền. Chưa biết quyền của ai, nhưng chắc chắn không phải là quyền của Nhà nước, vì Nhà nước cần gì phải đòi quyền – đòi một cái đã có. Thiện chí tôn trọng pháp luật của nhà cầm quyền Việt Nam đã có từ 1991 và tiếp tục được phát huy cho đến nay, không ai chối cãi được. Nhà nước Việt Nam thừa biết: một nước đang phát triển mà luật pháp không được tôn trọng thực sự không thể nào tránh khỏi hỗn loạn, dẫn đến cái họa diệt vong. Trong lịch sử của bất cứ nước phát triển nào, dù ở phương Tây hay ở phương Nam, phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, phát triển xã hội, phát triển chính trị, phát triển gì gì đi nữa, cũng phải dựa trên phát triển ý thức tôn trọng luật pháp, bắt đầu từ chính quyền để thấm vào người dân. Làm gì có ổn định xã hội nếu không có ổn định luật pháp? Làm gì có ổn định luật pháp nếu luật không được áp dụng nghiêm minh? Làm gì có áp dụng nghiêm minh luật nếu tòa án không độc lập? Nếu người xử án không có trình độ? Nếu người dân không tin tưởng ở công lý? Nếu chính quyền không tự mình nêu gương tôn trọng luật pháp trước tiên?
Không ai dại dột đòi “Nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam phải nhảy vọt lên nấc thang cuối cùng. Nhưng trong ba nấc thang vạch ra trên đây để bước lên xã hội văn minh, đáng lẽ bước đầu không phải chỉ là những bước dọ dẫm. Xét cho cùng, Nhà nước pháp quyền thì có gì lạ đâu với chúng ta! Đầu thế kỷ 20, Tôn Dật Tiên đã giương cao tiêu chí “Dân Tộc – Dân Quyền –  Dân Sinh”.  Dân quyền là gì nếu không phải là hệ quả của tôn trọng luật pháp? Quyền của dân được xem như mục tiêu của Nhà nước từ 1911! Giữa thế kỷ 20, có một nước thuộc địa anh hùng vùng lên viết trên lịch sử dành độc lập của thế giới quật khởi ba chữ tiên phong: Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc. Tự do là gì nếu không phải là quyền của người dân buộc chính quyền phải tôn trọng luật pháp? Hạnh phúc là gì nếu trước hết không phải là quyền của người dân không bị nhũng nhiễu quấy rầy? Nhà nước pháp quyền có lạ lùng gì đâu đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh- người khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

CÂU CHUYỆN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN MINH

Rửa tiền Có hay không chuyện rửa tiền trên sàn chứng khoán Việt Nam? Có. Và đó không phải là ý kiến riêng của tôi mà chính ông Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phùng Khắc Kế đã cảnh báo. Đây cũng là chuyện bình thường. Khu vực kinh tế ngầm ở Việt Nam, theo một nghiên cứu của WB, có thể đạt tới giá trị 50% GDP, tức không dưới 25 tỷ USD1. Đã ngầm nghĩa là tiền không sạch, nên nhu cầu rửa là chuyện tất nhiên.

Nguyên tắc cơ bản trong đầu tư tài chính là phải sinh lời: tiền đẻ ra tiền. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư tìm mọi cách, huy động mọi nguồn lực để xác định cho mình một chiến lược đầu tư hợp lý. Nhưng rửa tiền thì không theo nguyên tắc này. Người ta sẵn sàng mất một nửa để biến tiền bẩn thành sạch. Thử hỏi bạn sẽ buôn bán như thế nào với người có rất nhiều tiền, nhưng cốt yếu đi buôn là để tiêu tiền chứ không làm tiền. Thị trường sẽ biến động liên tục, thất thường không theo một qui luật nào. Và người chịu thiệt hại nhiều nhất chính là các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Họ thiếu thông tin, họ mua bán theo phong trào, nhưng khổ nhất là họ phải kết bè, kết bạn với những người không cùng mục đích kinh doanh.
Mới đây, khi Thủ Tướng chính thức có yêu cầu tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm, kiểm soát nguồn vốn đầu tư, tăng tính công khai minh bạch, ngăn chặn có hiệu quả các hiện tượng lừa đảo, đầu cơ, thị trường đã có phản ứng tích cực – chỉ số VN-Index liên tục giảm trong sáu phiên liền (từ 19-03 đến 28-03), chấm dứt mối lo ngại về độ nóng không đáng có bấy lâu nay. Nhưng chúng tôi chỉ lo, khi ta thiết lập được các thể chế, chế tài đủ mạnh, ngăn chặn được tiêu cực thì tiền cần rửa người ta đã rửa xong.

Chứng khoán và ngân hàng, tuy hai mà một

Ai cũng biết chứng khoán và ngân hàng là hai kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế. Điểm khác biệt cơ bản là khi gửi tiền vào ngân hàng – chúng ta đang trao quyền quyết định đầu tư đồng vốn của mình cho một người hoặc một nhóm người (Tổng Giám đốc hay Hội đồng quản trị của ngân hàng); còn khi tham gia thị trường chứng khoán (TTCK)– chính chúng ta sẽ là người quyết định số phận đồng vốn của mình. Vì thế qui mô huy động vốn cũng như khả năng chia sẻ rủi ro trên TTCK sẽ cao hơn nhiều. Nền kinh tế tựa lưng vào TTCK sẽ vững chãi hơn nền kinh tế chỉ có hệ thống ngân hàng. Như vậy, từ nay chúng ta có thể yên tâm vì nền kinh tế Việt Nam đã có cả ngân hàng lẫn TTCK.
Không hẳn như vậy. Thay vì là đối trọng chiến lược của TTCK, hệ thống ngân hàng thương mại hiện nay đang bị guồng quay lợi nhuận của chứng khoán cuốn theo. Ngân hàng đang trở thành người chơi đắc lực trên thị trường. Ngân hàng có tên tuổi thì đua nhau phát hành cổ phiếu, tăng vốn điều lệ; ngân hàng chưa có tên tuổi thì đua nhau đổi tên – đẹp hơn, kêu hơn, tung hoành ngang dọc trên thị trường OTC; ngân hàng đang thai nghén thì đua nhau tăng tốc cho sớm ra đời (chỉ tính đến cuối tháng 3-2007 đã có hơn 10 bộ hồ sợ nộp NHNN xin mở NHCPTM)2. Dường như người ta đang quên mất nhiệm vụ chính của ngân hàng là cung cấp dịch vụ tài chính phục vụ cộng đồng và điểm tựa về vốn cho nền kinh tế. Trong khi áp lực cạnh tranh ngày càng lớn. Theo các cam kết gia nhập WTO, kể từ ngày 01-04-2007, các ngân hàng có 100% vốn nước ngoài bắt đầu được hoạt động tại Việt Nam, được đối xử bình đẳng và được thực hiện phần lớn các nghiệp vụ như ngân hàng trong nước. Thiết tưởng, đây là lúc các ngân hàng Việt Nam phải vắt chân lên cổ mà chạy: mở rộng chi nhánh, tăng cường dịch vụ, nâng cấp chất lượng phục vụ… Đằng này, có vẻ như lợi ích của một nhóm người (một nhóm cổ đông nào đó) đang lấn át lợi ích cộng đồng. Cứ tưởng rằng, phát triển TTCK, nền kinh tế có thêm một chân cho vững, ai dè chân cũ lại dẫm lên chân mới – nguy cơ vấp ngã quá cao, làm sao yên tâm đây.

Bản sắc của thị trường
Người Việt mình làm gì cũng có bản sắc riêng, chơi chứng khoán cũng vậy. Lịch sử chứng khoán thế giới chưa từng ghi nhận một trường hợp nào mà thị trường biến động kỷ lục như ở ta. Chỉ riêng năm 2007, tính đến ngày 12/03 – VN-Index đã kịp tăng 56%, và ngay hai tuần tiếp sau đó đã cũng kịp giảm 12,5%. Thế mà mọi người xem đây là hiện tượng “hết sức bình thường” – thị trường chỉ điều chỉnh chút đỉnh cho phù hợp với thực tế. “Chút đỉnh” này đã kịp làm lao đao hàng loạt các nhà đầu tư nhỏ. Rõ ràng đây là những dấu hiệu của một thị trường tiềm ẩn quá nhiều rủi ro. Và nguyên nhân chính là tình trạng làm giá, thông tin nội gián, móc nối trục lợi. Có lẽ chưa một nơi nào mà các đại gia chứng khoán có thể thao túng và điều khiển thị trường dễ dàng như ở ta trong thời gian qua.
Chưa hết, cứ phải lên sàn bạn mới cảm nhận đủ sự khác biệt. Đầu giờ sáng, người ta chen nhau nộp tiền. Vào thời cao điểm, nhà đầu tư ùn nhau đặt lệnh mua bán, ngồi phệt cả ra nền nhà để xem các con số nhảy nhót, hay bày tiền tràn lan ra sàn mà đếm. Lúc lên giá thì đua nhau mua, lúc xuống sàn thì tìm không ra mẫu đơn để đặt lệnh bán. Nhộn nhịp và tấp nập. Tuy nhiên, quan sát cảnh này, không thể dứt bỏ được cảm giác, dòng người đang là con rối trong tay những kẻ điều khiển vô hình. Họ là ai? Là các đại gia? Là những nhà đầu tư nước ngoài? Là ai khác nữa? Hay là chính chúng ta đang tự biến mình thành con rối cho các con số giật dây?
Có lẽ vì thế mà gần đây, nhiều người đã lên tiếng nhận xét về tính phong trào, tính bầy đàn của thị trường chứng khoán Việt Nam. Tôi thì không nghĩ vậy. Chợ quê dĩ nhiên không thể bằng chợ phố: hàng hóa ít hơn, nghèo nàn về chủng loại, cách buôn bán, lối tổ chức cũng không thể nào so sánh. Nhưng chợ quê cũng có những nét đẹp mà chợ thành phố không thể nào có được, đó là chưa kể nếu đem so về giá trị đối với cộng đồng thì chưa biết chợ nào “ăn” chợ nào. Đơn giản là vì cộng đồng thế nào sẽ sản sinh ra chợ thế ấy. Nền kinh tế thị trường của chúng ta mới bước sang tuổi 20. Chứng khoán Việt Nam vừa lên bảy. Người chơi chứng khoán thì qua một đêm – nghiễm nhiên trở thành nhà đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước vừa làm vừa dò dẫm. Trong khi ở các nước tiên tiến kiểu thị trường này đã có cách đây hàng trăm năm (TTCK Philadelphia ra đời năm 1754, New York – 1792, London –1801, Tokyo – 1878), nên chúng ta có ngây ngô, nhà quê trước họ cũng là chuyện bình thường.
Nhưng quan trọng hơn tất cả, theo tôi, chính sự ngây thơ của chứng khoán đang thổi vào đời sống tinh thần xã hội một làn gió mới, một niềm tin mới. Tin rằng, không chỉ có chốn quan trường mới có thể làm nên phú quí. Vẫn còn nhiều con đường khác, sự giàu có và thành đạt thực sự đang ở rất gần, hoàn toàn nằm trong tầm với của rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ tuổi có tri thức. Và niềm tin đã thôi thúc dòng người sáng sáng từ thứ 2 tới thứ 6 nối đuôi nhau lên sàn tìm cơ hội. Và tôi hiểu rằng niềm tin này với ai đó (không phải là với tất cả) là hoàn toàn không ngây thơ chút nào.
——————
1 Stoyan Tenev, Amanda Carlier, Omar Chaudry, Nguyễn Quỳnh Trang. “Hoạt động không chính thức và môi trường kinh doanh ở Việt Nam”. IFC, Ngân hàng Thế giới và MPDF. Hà Nội, Thông tấn, 2003. tr. 18
2 Hàng loạt NH cổ phần nông thôn trước đây tưởng như đã giải thể, nay đã được các tập đoàn kinh tế lớn đổ vốn và nâng cấp thành NH đô thị, mở rộng quy mô, mạng lưới hoạt động. NH TMCP Nông thôn Đồng Tháp Mười đã công bố chuyển đổi mô hình hoạt động thành NH đô thị và đổi tên thành NH TMCP Xăng dầu Petrolimex (PG Bank). Nhiều tập đoàn lớn trong nước cũng đã góp vốn để trở thành cổ đông chính của các NH. NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã thỏa thuận hợp tác chiến lược toàn diện với Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tập đoàn công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG). Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) cũng đã ký thoả thuận hợp tác chiến lược với VNPT. EVN và Petro VN hiện đã có cổ phần lớn trong NH cổ phần An Bình (ABBank) và Toàn Cầu (G-Bank). Nhiều NHTMCP cũng thi nhau đổi tên cho “đẹp” hơn như NHTMCP Nông thôn Ninh Bình đổi thành NHTMCP Toàn Cầu (G-Bank); NHTMCP Nông thôn Sông Kiên đổi thành NHTMCP Nam Việt (Navibank) – cổ phần của các ngân hàng này hiện giao dịch rất sôi động trên thị trường OTC.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

TƯ HỮU HÓA THEO CÁCH NGA VÀ BÀI HỌC CHO CHÚNG TA

NGUYỄN VĂN MINH

Gần đây nói tới việc đẩy nhanh quá trình tư nhân hóa, giảm tỉ trọng cổ phần của nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần. Vì vậy việc tìm hiểu kinh nghiệm tư hữu hóa (THH) của nước Nga là một việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực.

Trước hết, cần phải nói ngay, THH và cổ phần hóa là hai khái niệm khác nhau. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi cơ cấu quản trị: từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần. Còn THH là quá trình chuyển đổi sở hữu: từ sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể sang sở hữu tư nhân. Như vậy, cổ phần hóa và THH sẽ có điểm gặp nhau khi quá trình thay đổi cơ cấu quản trị làm chuyển đổi cơ cấu sở hữu từ nhà nước sang tư nhân. Hiện nay, quá trình tư nhân hóa ở nước ta chưa diễn ra mạnh mẽ, nhưng đây sẽ là một làn sóng tất yếu trong tương lai không xa. Vì không cần chứng minh thì ai cũng biết sở hữu tư nhân là động lực cơ bản để phát triển kinh tế thị trường.

Tư hữu hóa ở Nga
Nhận thức rõ điều này, Chính phủ Nga ngay trong giai đoạn đầu cải cách 1990-1994 đã xem THH là một trong 4 nhiệm vụ cơ bản. Tuy nhiên, ngay từ đầu công cuộc THH ở Nga đã gây nhiều tranh cãi. Các nhà cải cách đứng trước hai lựa chọn. Một, sẽ tiến hành THH từ từ, từng bước, trao tài sản vào tay chủ sở hữu mới, thực sự sử dụng tài sản hiệu quả, với giá cao nhất có thể. Hai, tiến hành THH “chớp nhoáng”, nhanh chóng, phân phát không tài sản quốc hữu cho toàn dân. Dĩ nhiên, ai cũng hiểu cách làm thứ nhất sẽ mang lại cho quốc gia nhiều lợi ích hơn, nhưng nó lại đòi hỏi thời gian và một hệ thống chính trị ổn định. Cả hai thứ mà vào thời điểm đó (1990-1991) nước Nga non trẻ đều không có. Dưới nhiều áp lực về kinh tế, chính trị, thậm chí không ngoại trừ động cơ cá nhân và tác động mạnh mẽ của phương Tây, các nhà cải cách trẻ ở Nga đã quyết định lựa chọn phương án hai.
Kết quả là từ năm 1992-1994 trên toàn Nga đã có 125.514 doanh nghiệp nhà nước đăng ký THH, trong đó đã thực hiện chuyển đổi sở hữu được 88.814 doanh nghiệp. Nhà nước thu về 760 tỷ rúp (tương đương – 3.7 tỷ USD với giá cuối năm 1992) – một con số quá ít ỏi so với giá trị thực của tổng tài sản đã đưa ra chào bán. Sở hữu của nhà nước được chia nhỏ cho một nhóm người, tạo nên một giới kinh tế thượng lưu bao gồm các nhà tài phiệt và các ông trùm kinh tế “đen”. Có thể nhận thấy rõ điều này khi phân tích dữ liệu về thu nhập và tích luỹ xã hội. Theo đó 5% dân số thuộc tầng lớp giàu và rất giàu chiếm 73% tích luỹ toàn xã hội và 80% ngoại tệ lưu hành dưới dạng tiền mặt. Chênh lệch trong thu nhập giữa tầng lớp giàu – nghèo có lúc lên đến hàng nghìn lần (1360 lần theo số liệu năm 1997). Việc hóa giá các tài sản quốc gia, cố tình tạo quá trình phá sản ảo để giảm giá thành các nhà máy, tổ hợp kinh tế nhà nước đã trở thành bước đi quen thuộc của quá trình THH. Ví dụ: Tập đoàn khí đốt lớn nhất thế giới ROS “Gazprom” được định giá khoảng 300 tỷ rúp (tương đương 12 tỷ USD, trong khi giá của công ty Mỹ tương đương “Chevron Corp.” là 123 tỷ); ngân hàng tín dụng “Sberbank”, với hàng nghìn chi nhánh trên khắp nước Nga được đánh giá bằng 230 triệu USD, trong khi chi phí ngân hàng này bỏ ra để xây dựng trụ sở chính tại đường 60 năm Cách mạng tháng 10, Matxcơva (chỉ là một trong hàng nghìn trụ sở) đã vượt quá con số 300 triệu USD (!!!).
Điều đáng lưu ý là quá trình THH đã đưa đến kết cục: toàn bộ số lợi tức từ sử dụng tài nguyên thiên nhiên của Nga tập trung trong tay các nhà tài phiệt, các tập đoàn tài chính thân Chính phủ hoặc các tổ chức kinh tế “đen” – lực lượng này chiếm khoảng 7-10% dân số đất nước.

Bài học cho Việt Nam
Tất nhiên, hoàn cảnh kinh tế, chính trị của nước ta hôm nay khác nhiều so với nước Nga vào những năm 1990. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta không học hỏi được gì từ những kinh nghiệm xương máu trong quá trình THH của nước Nga xa xôi. Những bài học đó là gì?
THH chỉ là công cụ chứ không thể là mục đích. THH trên con đường phát triển kinh tế thị trường, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế là công việc tất yếu cần làm. Nhưng THH chỉ là một trong số nhiều công cụ để chúng ta tìm và tạo cho được các chủ sở hữu làm việc hiệu quả vì lợi ích cộng đồng. Việc chúng ta quên đi nhiệm vụ chính của quá trình THH là tìm cho được chủ sở hữu có đủ năng lực sử dụng tài sản quốc gia hiệu quả nhất là một sai lầm nghiêm trọng.
Muốn THH thành công cần thiết lập được một cơ chế định giá tài sản minh bạch và công khai. Việc hàng nghìn doanh nghiệp nhà nước của Nga đã được định giá thấp hơn hàng chục lần so với giá trị thực khi đem ra đấu giá là một minh chứng hùng hồn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với hoàn cảnh kinh tế nước ta hiện nay. Các bạn chắc còn nhớ kết quả xếp hạng về chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản (REIT-2006) do LaSalle Investment Management/Jones Lang LaSalle công bố cách đây không lâu. Theo đó, Việt Nam được xếp vào hàng thấp nhất của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đạt 4.69 điểm – thuộc loại không minh bạch (hạng dưới cùng của bảng xếp hạng). Mà bất động sản chỉ là một lĩnh vực trong vô số các lĩnh vực “nhạy cảm” khác còn chưa có điều kiện và khả năng để xếp hạng như: đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…
Tích lũy tư bản và trách nhiệm đối với lợi ích cộng đồng. Nếu chính phủ không hình thành được một cơ chế kiểm soát hữu hiệu thì có thể dễ dàng hình thành lên một lớp chủ sở hữu tư nhân mới, giàu có nhưng chỉ biết lo cho túi tiền của mình và hoàn toàn vô trách nhiệm (nếu không nói là quay lưng lại) với sự phát triển của cộng đồng. Điều này đặc biệt rất dễ xảy ra nếu một lúc nào đó chúng ta quyết định THH các doanh nghiệp khai thác tài nguyên thiên nhiên. Lợi tức có được từ khai thác khoáng sản sẽ không quay lại phục vụ cộng đồng mà thông thường sẽ được chuyển ra nằm im tích lũy ở các ngân hàng nước ngoài.
Chỉ giao tài sản vào tay những người chủ hiểu, quí trọng và biết cách ứng xử với tài sản. Mơ ước sau một đêm sẽ hình thành hơn 40 triệu chủ sở hữu của A. Chubaiz đã không thể thành hiện thực, bởi một lý do hết sức đơn giản. Làm chủ cũng là một nghề, mà là một nghề không đơn giản. Muốn làm chủ hiệu quả thì ngoài rất nhiều yếu tố cần thiết khác, người chủ trước hết phải biết quí trọng và hiểu được giá trị tài sản mà mình đang sở hữu. Và quan trọng hơn chính anh ta phải bỏ sức lao động ra để có được tài sản đó.
Quan hệ giữa nhóm lợi ích, giới quan chức và người dân. THH là một quá trình phức tạp, liên quan đến những tài sản khổng lồ. Lợi ích càng nhiều, nhóm lợi ích càng đa dạng và phong phú. Kết quả THH sẽ biến dạng hoàn toàn nếu các nhóm lợi ích cá nhân này phối hợp chặt chẽ, cùng chia sẻ quyền lợi với giới quan chức tham nhũng. Tài sản quốc gia sẽ dễ dàng trao không một cách đàng hoàng vào tay chủ sở hữu mới bất chấp lợi ích cộng đồng. Quá trình THH ở Nga đã diễn ra gần như thế và kết quả thế nào thì các bạn đã thấy. Và đây cũng là điều mà chúng ta lo ngại nhất. Nền kinh tế thiếu minh bạch, tham nhũng không thể đẩy lùi, vận động hành lang trục lợi ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ… đó là những dấu hiệu của một môi trường không thuận lợi chút nào cho quá trình THH.
Có thể thấy, quá trình THH ở nước ta hiện nay đang đi theo một lộ trình khác hẳn với nước Nga. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta sẽ không gặp phải những vấn đề như người Nga đã từng gặp.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

CÔNG TY GIA ĐÌNH KHÔNG QUYỀN NĂNG THẾ TỤC

TRẦN NGỌC THƠ

Khái niệm công ty gia đình “không quyền năng thế tục” trong bài viết này được hiểu theo nghĩa như một dạng công ty gia đình chân chính. Nó khác với khái niệm công ty gia đình mà báo chí trong nước thường dùng trong thời gian qua với hàm ý như là hệ quả tất yếu của một lỗ hổng chính sách trong các quy định pháp luật hiện hành.

Nếu xét theo quá trình phát triển, hầu hết các công ty gia đình trên thế giới đều bắt đầu với một doanh nhân sáng lập, họ kiêm luôn các công việc quản trị, là chủ sở hữu tuyệt đối và điều hành luôn doanh nghiệp. Khi quy mô kinh doanh ngày càng mở rộng, tính phức tạp ngày càng tăng lên và quyền sở hữu truyền lại qua nhiều thế hệ, tỷ lệ sở hữu của các thành viên gia đình có khả năng ngày càng không được tập trung như trước đây. Hệ thống quản trị gia đình lúc bấy giờ phức tạp hơn nhiều, gắn liền với hệ thống quản trị doanh nghiệp. Thường thì trong giai đoạn này, công ty đã trở thành công ty cổ phần. Mặc dù vậy, các thành viên gia đình vẫn nắm giữ cổ phần tập trung và kiểm soát được hoạt động của công ty.
Như vậy, có thể hiểu công ty gia đình là dạng công ty mà quyền sở hữu tập trung vào một hoặc một số thành viên trong gia đình. Ở một mức phát triển cao, công ty gia đình hàm ý đến các công ty “gia tộc”. Các công ty gia tộc có thể hoạt động dưới dạng một công ty cổ phần. Như Hàn Quốc, chẳng hạn, có các công ty gia tộc Samsung, Hyundai v.v. (gọi là các Chaebol). Các công ty gia tộc này có tới hàng trăm công ty con là công ty cổ phần, nhưng các công ty con này đặt ra điều lệ và khuyến khích mua lại cổ phần lẫn nhau để ngăn cản các nhà đầu tư bên ngoài tham gia vào công ty. Tài sản quý nhất của công ty gia đình là danh tiếng, là truyền thống và bản sắc độc đáo riêng của dòng tộc, họ không dễ gì để cho các thành viên ngoài gia đình sở hữu phần lớn cổ phần.
Do kiểm soát được quyền sở hữu, công ty gia đình có thuận lợi cơ bản là có thể dễ dàng đưa ra các quyết định có lợi cho dài hạn, điều mà các công ty cổ phần đại chúng (CTCP) có thể không dễ gì đạt được, do phải chạy theo các quyết định ngắn hạn để phục vụ quyền lợi trước mắt của một số cổ đông nào đó. Chẳng hạn như Joerg Bucherer, người được mệnh danh là ông vua của đồng hồ Thụy Sĩ, là thế hệ thứ ba của gia đình và chủ tịch hội đồng quản trị của công ty. Ông chỉ có một mục tiêu rất cụ thể và rõ ràng: phải trở thành người quản lý cao cấp để kế tục mục đích và triết lý kinh doanh của dòng họ Bucherer.
Thêm nữa, công ty gia đình ít khi gặp phải vấn đề rắc rối hơn so với CTCP, đó là vấn đề mâu thuẫn giữa ông chủ và người quản lý (các giám đốc là người làm thuê). Trong CTCP, do ông chủ sở hữu không có quyền quản lý, mà quyền này giao cho các giám đốc để tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi. Chính vì sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý như thế, cho nên nảy sinh ra các mâu thuẫn mục tiêu trong một CTCP. Có khả năng mục tiêu của những người làm thuê (các giám đốc) không đồng nhất với mục tiêu của ông chủ. Ví dụ, những giám đốc chỉ có mục tiêu là làm sao mau chóng nổi tiếng (để chuyển sang công ty khác) và vì thế có thể họ chỉ lao vào các dự án mang lại đầy rủi ro cho các ông chủ. Vì vậy CTCP phải tốn kém rất nhiều thời gian, công sức và chi phí để giám sát các mâu thuẫn như thế, như chi phí kiểm toán, chi phí để thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu… rất tốn kém.
Công ty gia đình ít gặp phải những rắc rối đến như thế và đó là thuận lợi để tăng khả năng cạnh tranh và triển khai thuận lợi các chiến lược phát triển dài hạn. Quản lý trong các công ty gia đình hướng tới sự đồng thuận, chứ không phải là theo đuổi một hệ thống giám sát đầy tốn kém như trong các CTCP.
Mặc dù vậy công ty gia đình không phải không có nhược điểm. Do bị kiểm soát bởi một nhóm nhỏ các thành viên gia đình, các thành viên có khả năng không theo kịp với những diễn biến của thị trường trong một thế giới ngày càng bất ổn để có thể thiết lập những chiến lược kinh doanh mới, hoặc những chương trình phòng ngừa và quản trị rủi ro hữu hiệu. Nói cách khác, công ty gia đình ít phải chịu sự kiểm soát của thị trường và của các cổ đông, vì thế có thể họ không dễ dàng tự nhận thấy hết các khuyết tật của mình.
Đó chính là nguy cơ tiềm ẩn của công ty gia đình. Ngoài ra, công ty gia đình cũng chịu nhiều rủi ro hơn, do phải luôn theo đuổi những dự án truyền thống và khó có điều kiện để đa dạng hóa rủi ro. Trong khi đó, các nhà đầu tư ở các CTCP dễ có điều kiện đa dạng hóa rủi ro của mình hơn bằng cách nắm giữ cùng lúc nhiều tài sản ở các thị trường khác nhau (chứng khoán, bất động sản, ngoại tệ), hoặc có thể họ sẽ bán cổ phiếu đi nếu CTCP hoạt động có vấn đề.
Các công ty gia đình có tổ chức khép kín nên vấn đề minh bạch thông tin không cao, hiện tượng các công ty con mua bán cổ phiếu bất hợp pháp diễn ra rất khó kiểm soát. Tình trạng lập sổ đen trong các công ty gia tộc để hối lộ các quan chức chính phủ cũng phổ biến không kém.
Đối với Việt Nam, việc phát triển công ty gia đình cần phải được nhà nước chú ý nhiều hơn nữa để có những chính sách hợp lý nhằm phát triển hơn nữa đối với loại hình công ty này. Nhưng trước hết, để có thể tồn tại trong đấu trường WTO, một trong những vấn đề có tính sống còn là các doanh nghiệp phải biết cách tạo ra những khác biệt, mà đây lại chính là ưu thế của công ty gia đình. Kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới cho thấy muốn tạo ra những khác biệt thì ngoài việc phải có một triết lý và mục tiêu kinh doanh rõ ràng, điều quan trọng nhất là những người dự kiến kế thừa trong gia đình phải được trang bị một hệ thống các kiến thức hoàn chỉnh từ học nghề (kỹ thuật), sản xuất, thương mại đến quản lý tài chính và điều hành doanh nghiệp.
Chắc do nhận thức được tầm quan trọng của kiến thức nên ngay từ những ngày đầu của chương trình đào tạo 1000 Giám đốc liên kết giữa Đại Học Kinh Tế TP.HCM và Ủy Ban nhân dân TP.HCM cách đây gần 10 năm cho đến nay, chỉ thấy toàn là các gia đình Gạch, Gốm sứ, Bánh kẹo, Nước mắm, Nước tương… từ anh, em, vợ chồng đều đi học đông đủ, sau đó họ lại còn tiếp tục bỏ tiền túi ra tận nước ngoài học tập nữa chứ. Chẳng bù lại hầu như không có ai trong hằng hà vô số giám đốc các DNNN Rượu bia, Gia súc… lai vãng đến các lớp học này (chỉ có khoảng 1% giám đốc DNNN là đến học).
Thật tự hào đối với những doanh nhân ở các công ty gia đình. Nguời ta không nhắc đến các vị này như là những tỷ phú sở hữu bao nhiêu bất động sản hay họ có bao nhiêu tiền, mà những doanh nhân này được người đời nhớ đến ở chỗ họ đã tạo ra cho đời những thương hiệu là niềm tự hào của dân tộc, là nói đến những bức tranh thêu hay những viên gạch đậm tình quê hương, là nói đến bản sắc và tính cần cù của một dân tộc chịu thương chịu khó.
Nhắc đến các doanh nhân này là nhắc đến nhiều đời gia tộc trước đây của họ, thật vô cùng tự hào khi so với nhan nhản các “công ty gia đình” hiện nay ra đời là sân sau của ông này bà nọ, hay chỉ là “thứ phẩm” của một thứ quyền năng thế tục nào đó./.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

CÁC KIỂU ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ, quan hệ giữa đạo đức với các hình thái xã hội khác

NHÓM TÁC GIẢ: TS. Đinh Ngọc Quyên, Ths. Hồ Thị Thảo & Ts. Lê Ngọc Triết

CÁC KIỂU ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ, TÍNH KẾ THỪA CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC.

Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, qui định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu…

Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế – xã hội quyết định.

Ngay từ chế độ cộng sản nguyên thủy ý thức của con người mong muốn đã được hình thành, từ đó được phát triển hoàn thiện dần trên cơ sở phát triển của hình thái kinh tế – xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao.

Đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thủy.

Ý thức đạo đức phụ thuộc vào những điều kiện sinh hoạt vật chất, phương thức tìm kiếm và phân phối những phúc lợi cần thiết đến trình độ thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của con người.

Dưới chế độ công xã nguyên thủy, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Tài sản cá nhân của người nguyên thủy chỉ là một số công cụ và đồ tiêu dùng của mỗi người chế tạo lấy.

Trong xã hội không có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượng người bóc lột người, không có đầu óc làm giàu. Họ cùng nhau hái quả, đánh bắt cá, làm nhà, kỷ luật và quy tắc lao động được duy trì bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, của dư luận xã hội, bằng uy tín và sự tôn kính đối với người tộc trưởng hay người phụ nữ.

Gắn liền với đời sống tinh thần là tôn giáo nguyên thủy, được sinh ra từ những hiểu biết hết sức mông muội, tối tăm và nguyên thủy của con người về bản thân họ và về tự nhiên bao quanh họ.

Tôn giáo nguyên thủy can thiệp vào toàn bộ hoạt động của công xã thị tộc và trở thành yếu tố cấu thành hoạt động thực tiễn và ý thức của người nguyên thủy. Trong những điều kiện đó, các dấu hiệu đạo đức xuất hiện.

Ví dụ: các qui định trong săn bắn (do kinh nghiệm đã tích lũy được) không những có ý nghĩa đối với nhu cầu sinh sống, còn đối với các yêu cầu tương trợ, đoàn kết cộng đồng cũng như việc giữ gìn tình ruột thịt trong thị tộc.

Như vậy, đạo đức ra đời rất sớm, xuất phát từ chính các hoạt động chung của thị tộc với những chế độ tự nhiên của chúng.

Nó có những đặc điểm sau:

– Tính cụ thể ­- cảm tính, trực quan và kinh nghiệm của đạo đức nguyên thủy.

Việc coi trọng, tuân thủ các hành vi giao tiếp, ứng xử và hoạt động cụ thể của cộng đồng là biểu hiện ý thức đạo đức của người nguyên thủy. Mọi thành viên thực hiện bất kỳ một hành vi đạo nào bao giờ cũng theo thói quan, đối với họ việc bắt chước các mẫu hoạt động đạo đức là một yêu cầu bắt buộc. Nhờ đó các tập quán, phong tục, các điều cấm kị, lễ nghi, các định kiến, dư luận xã hội đã tồn tại rất dai dẳng trong các hiện tượng cụ thể – cảm tính.

– Các bộ lạc còn lại đến nay ở Châu Mỹ, Châu Phi còn giữ nguyên truyền thống không cãi cọ nhau, biết nghe lời người lớn tuổi và xem đó là cái thiện. Ngược lại bất kỳ hành vi nào không theo đúng phong tục, tập quán đều bị xem là ác.

– Trình độ phát triển rất thấp về kinh tế – xã hội và văn hóa của con người nguyên thủy đã làm cho họ có một số đặc điểm gần giống như một loài động vật như hoạt động ăn thịt người ở thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyên thủy, hoạt động đó chỉ mất khi nền kinh tế và văn hóa của xã hội phát triển cao hơn, và chỉ đến đó nó mới trở thành một việc thất đức.

– Tính hợp tác, tính công bằng, thông cảm, tương trợ của đạo đức nguyên thủy.

Trong điều kiện sản xuất thấp kém, sự hợp tác là yếu tố hàng đầu tạo nên hiệu quả trong lao động tập thể.

Sự hợp tác ở đây là hợp tác giản đơn trong điều kiện kinh tế tự nhiên chưa có sự khác biệt giữa lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng.

Tính công bằng – bằng nhau không chỉ trong hưởng thụ mà còn trong tất cả quan hệ khác. Tất cả những gì có ích cho bộ lạc được coi là điều thiện, có hại bị coi là điều ác.

Điều này tạo ra sự ổn định hợp lý và bình đẳng xã hội trong điều kiện con người chưa sản xuất ra sản phẩm dư thừa, đời sống còn quá thấp. Khả năng tồn tại của đạo đức giai cấp cũng như của đạo đức có ý nghĩa nhân loại phổ biến có cơ sở ở nguyến tắc này.

Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ

Sự xuất hiện của giai cấp dẫn tới sự tan vỡ của ý thức đạo đức thống nhất trong nội bộ cộng đồng xã hội. Nhưng so với chế độ công xã nguyên thủy, thì xã hội chiếm hữu nô lệ tiến hơn một bậc.

Phù hợp với sức sản xuất tiến bộ hơn của chế độ chiếm hữu nô lệ là quan hệ sản xuất mới, mà cơ sở là chủ nô chiếm hữu tư liệu sản xuất và người nô lệ. Loài người đã bắt đầu hình thành một nền đạo đức mới. Cụ thể là:

– Tính chất đối kháng đạo đức:

Đó là đạo đức của nô lệ và đạo đức của chủ nô, hai nền đạo đức này đối lập với nhau về cơ bản. Những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị.

Tầng lớp người có đặc quyền, đặc lợi cho phép mình được là người “có đức hạnh, người thượng lưu, quí tộc” còn những người nô lệ là những người “không có phẩm hạnh, người thấp hèn, hạ đẳng”.

Sự nô dịch của số ít (do giàu có mà trở thành mạnh) đối với số đông (do nghèo khổ mà trở thành yếu) giờ đây được bảo đảm bởi một lực lượng xã hội mới – nhà nước, tình trạng bình đẳng nhường chỗ cho đẳng cấp. Nó quy định nội dung cơ bản của đạo đức, đẩy tới hai cực đối lập gay gắt: chủ – tớ, trên – dưới, mệnh lệnh – phục tùng.

Tính chất đó quy định các nội dung khác nhau của quan niệm về tốt – xấu trong giai cấp này hay giai cấp kia. Cuộc sống tôi tớ chỉ được đánh giá ngang với giá trị của các vật dụng, các con vật.

Chế độ nô lệ dạy người nô lệ phải phục tùng tuyệt đối. Những đạo đức cao cả của người nô lệ như: lòng dũng cảm, chí khí, nhân phẩm…đã bị chủ nô xem như lời thách thức, sự bất kính.

  • Tính mâu thuẫn của “phẩm hạnh” trong đạo đức chiếm hữu nô lệ:

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ đạo đức của kẻ chiếm hữu nô lệ và đạo đức của người bị nô lệ tạo thành hai mặt của một mâu thuẫn lớn nhất, tập trung nhất đầu tiên trong văn hóa tinh thần nhân loại.

+ Chế độ chiếm hữu nô lệ, việc phân công lao động, phát triển sản xuất và đẻ ra một nền văn hóa vĩ đại của thế giới cổ đại – nền văn hóa Hy Lạp – đứng về phía bản thân người nô lệ, Ănghen đã nói – chế độ nô lệ với ý nghĩa nhất định vẫn là sự tiến bộ, tù binh chiến tranh trở thành nguồn lớn những nô lệ, họ được bảo tồn không bị giết, không bị ăn thịt như trước nữa.

+ Mặt trái của sự tiến bộ đó là đông đảo quần chúng nhân dân chưa hề biết áp bức và bóc lột giai cấp là gì, giờ họ bổng nhiên trở nên bị áp bức.

Bọn chủ nô có quyền mua bán, quyền sinh sát, đe dọa nô lệ bằng roi vọt, chúng thường xích nô lệ vào nơi làm việc hoặc công cụ lao động. Pháp luật và đạo đức của chủ nô tha hồ hành hạ, giết chóc nô lệ. Chúng gây chiến tranh để chiếm thêm đất đai, bắt tù binh để tăng thêm nô lệ, cảnh giác và thẳng tay đàn áp đối với sự phản kháng chống đối của nô lệ.

+ Cùng với sự xuất hiện giai cấp, phụ nữ cũng mất quyền bình đẳng trước kia và trở thành nô lệ của người chồng. Chế độ một vợ một chồng là một bước tiến của lịch sử, nó ra đời trên cơ sở chế độ tư hữu chiến thắng chế độ công hữu, nhưng nó mang theo một điều không thể tránh khỏi: sự nô dịch phụ nữ, nạn mãi dâm…

Đạo đức trong xã hội phong kiến

Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất lớn. Khác với nô lệ, người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết. Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông dân ra khỏi lãnh đại của mình, nhưng không có quyền giết họ.

Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội, thật ra địa vị người nông dân cũng chẳng hơn bao nhiêu so với nô lệ. Sự phụ thuộc về kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địa chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến.

Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động.

Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trước hết và đạo đức học của gai cấp phong kiến. Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức học ở phương Tây thường xuất phát từ những tín điều của tôn giáo.

Ở phương Đông đạo đức học không hoàn toàn lệ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát từ quan hệ giữa người và người được nhìn qua lăng kính của học thuyết nho giáo. Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ.

Đạo đức trong xã hội tư bản:

Chế độ tư bản là một bước tiến của xã hội, vì nó đập tan xiềng xích của chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng cát cứ của phong kiến, mở ra thị trường trong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiến lên.

Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản dẫn đến biến đổi cả hệ thống đạo đức xã hội. Chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tắc cơ bản của đạo đức tư sản. quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã kích thích các nhà tư bản làm giàu và đã định hướng trong ý thức và hành vi đạo đức của họ. Họ coi việc làm giàu với mọi cách và mọi giá là hoạt động chính, là mục đích cao nhất của cuộc sống.

Trong quá trình tích lũy tư bản, với máu và mồ hôi sự bóc lột lao động làm thuê, chủ nghĩa cá nhân đã chiến thắng quan hệ chật hẹp đẳng cấp phong kiến dưới khầu hiệu cách mạng tư sản là tự do, bình đẳng, bác ái.

Sự hoạt động tích cực của nền kinh tế công nghiệp có tác động mạnh mẽ đến tính cách cá nhân con người. Lênin nhận xét, trong thời kỳ thiết lập tư bản chủ nghĩa, con người được giải phóng và phát triển, đó là một tiến bộ vĩ đại.

Nhưng sự bình đẳng ở đây chỉ là sự bình đẳng hình thức chứ không phải là bình đẳng trong thực tế cuộc sống xã hội. Nhà tư bản bốc lột người công nhân trên cơ sở bốc lột giá trị thặng dư bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.

Sự che đậy mối quan hệ bản chất của xã hội tư bản bằng những “hình mẫu đạo đức tất yếu” của gia cấp tư sản để mọi người noi theo là “hết sức lộ liễu”, làm sao có sự bình đẳng trong quan hệ và thực tiễn đạo đức khi mà xã hội còn tồn tại và thừa nhận quan hệ bóc lột giá trị thặng dư và bằng những thủ đoạn đê hèn, tàn bạo.

Vấn đề trách nhiệm đạo đức cá nhân chỉ là sự “bắt buộc” từ phía xã hội chứ không là từ ý muốn bên trong của cá nhân, nên trách nhiệm đạo đức cũng trở thành thuần túy hình thức phô trương bên ngoài nhằm che đậy sự giả dối bên trong.

Đó là lý do dẫn đến tình trạng biệt lập nhân cách, một trạng thái tâm lý lạnh lẽo, xa lánh nhau, thậm chí trở nên thù ghét nhau.

Tóm lại, xã hội tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nền sản xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động phát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt. Ngoài những mặt tích cực đó, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm.

Đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Đạo đức trong xã hội tư bản bao gồm nhiều kiểu đạo đức khác nhau. Đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức của những lực lượng xã hội khác các kiểu đạo đức này thường xâm nhập vào nhau, đan xen và không ngừng đấu tranh với nhau, tạo nên con đường phát triển xã hội trên cơ sở khẳng định mặt tích cực, tiến bộ, triệt tiêu mặt lạc hậu, mở rộng khả năng phát triển đạo đức trong tương lai của một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.

Khi chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi và các giai cấp bóc lột trong xã hội đã bị tiêu diệt, thì đạo đức cộng sản cũng được toàn dân thừa nhận, nó trở thành đạo đức thống trị.

Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạo đức loài người. So với đạo đức tiên tiến trước đây, đạo đức cộng sản là một thứ chất mới. Nó biểu hiện những đặc điểm mới vì bộ mặt tinh thần của những con người đã tiêu diệt thế giới bóc lột và đã lập nên chủ nghĩa cộng sản.

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC VỚI MỘT SỐ HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI KHÁC.

Đạo đức là một hình thái ý thứa xã hội đặc thù, là sự phản ánh tồn tại xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật.

Mối quan hệ giữa đạo đức và chính trị.

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp đối với vấn đề nhà nước, đứng về mặt lịch sử chính trị chỉ xuất hiện khi có nhà nước còn đạo đức xuất hiện rất sớm cùng với sự xuất hiện xã hội loài người.

Trong xã hội có giai cấp, đạo đức cũng như chính trị đều là sản phẩm của một cơ sở kinh tế xã hội nhất định. Do đó giữa đạo đức và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau, dưới những hình thức khác nhau, đạo đức là chính trị biểu hiện lợi ích kinh tế của một giai cấp nhất định và phục vụ mục đích của nó. Nhiều khi các quan hệ đạo đức thường lẫn vào chính trị, ngược lại có những quan điểm chính trị phản ánh những giá trị đạo đức.

Đối với giai cấp và nhà nước tiên tiến thì nó thường gắn liền với những quan điểm đạo đức tiến bộ, ngược lại giai cấp suy tàn thì gắn liền với quan điểm đạo đức lạc hậu, bảo thủ kiềm hãm sự phát triển của xã hội.

Đạo đức chúng ta ngày nay, đạo đức tiên tiến là đạo đức của giai cấp vô sản, đạo đức phục vụ cho sự nghiệp thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Sự thống nhất biện chứng giữa chính trị và đạo đức còn được thể hiện cụ thể trong việc xây dựng con người mới, trong đó tài và đức phải kết hợp chặt chẽ và lấy đức làm gốc.

Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật.

Ý thức đạo đức và ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau và có chức năng chung là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm bảo toàn và phát triển xã hội. Tuy nhiên giữa chúng có những điểm khác nhau

Pháp luật thường được thực hiện thông qua nhà nước, do nhà nước soạn thảo, phổ biến và thi hành trong toàn xã hội. Còn đạo đức được bảo đảm do lương tâm con người do sự phê phán của dư luận xã hội.

Phạm vi đạo đức có nội dung bao quát và rộng hơn pháp luật. Luật pháp điều chỉnh một số mặt của đời sống xã hội, đạo đức xâm nhập vào tất cả các hoạt động xã hội, trong mọi quan hệ kể cả đối với chính bản thân mỗi người.

Trong thực tế có những hiện tượng pháp luật trừng trị nhưng đạo đức không lên án và có hiện tượng đạo đức lên án nhưng pháp luật không trừng trị.

Luật pháp căn cứ vào kết quả hành vi còn đạo đức căn cứ vào động cơ hành vi.

Để đảm bảo cho luật pháp được chấp hành nhà nước áp dụng chủ yếu các hình thức cưỡng bức hình phạt, còn đạo đức thì được bảo đảm bằng giáo dục, thuyết phục, ủng hộ hoặc lên án của dư luật xã hội và sự kiểm soát của lương tâm con người.

– Quan hệ giữa đạo đức với luật pháp:

Đạo đức và pháp luật phù hợp với nhau khi ý chí của giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích xã hội và cộng đồng dân cư. Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì đạo đức và pháp luật thường có mâu thuẫn với nhau vì đạo đức phản ánh quan hệ lợi ích của quần chúng nhân dân lao động còn pháp luật bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị mà lợi ích của hai giai cấp đối kháng luôn mâu thuẫn với nhau.

Quan hệ giữa đạo đức và tôn giáo.

– Tôn giáo là một khái niệm huyền ảo và sai lệch của con người về hiện thực, trong khái niệm đó lực lượng ngoại giới (lúc đầu là lực lượng siêu tự nhiên về sau lại thêm lực lượng xã hội) chi phối đời sống hàng ngày của con người bằng hình thức siêu trần thế, siêu tự nhiên.

– Tôn giáo và đạo đức đều hướng con người tới những lý tưởng sống thiện, nhân đạo, tránh cái ác. Tuy nhiên chúng khác nhau về bản chất.

– Về mặt lịch sử, đạo đức xuất hiện cùng với sự xuất hiện xã hội loài người, trước rất lâu so với sự ra đời của các tôn giáo. Như vậy, đã có một giai đoạn lịch sử rất dài, đạo đức tồn tại không có tôn giáo. Điều đó cho thấy đạo đức không thể bắt nguồn từ tôn giáo và nó tồn tại như một đời sống tinh thần khác với niềm tin tôn giáo.

– Đạo đức phản ánh chân thực những nhu cầu khách quan, hiện thực còn tôn giáo lại phản ánh thế giới một cách hư ảo với những khát vọng tự giải thoát trong thế giới tinh thần mà hiện thực tỏ ra hoàn toàn bất lực.

– Đạo đức và tôn giáo đều thấy được nỗi đau khổ của con người và hướng tới việc phấn đấu làm giảm nỗi đau khổ ấy để con người đi đến hạnh phúc. Nhưng đạo đức xem nỗi đau khổ của con người trong tính lịch sử hiện thực của nó và tin tưởng chắc rằng chính con người là động lực duy nhất giải thoát con người khỏi nỗi đau khổ và tự xây dựng hạnh phúc của mình trong đời sống hiện thực thông qua hoạt động lao động của mình. Còn tôn giáo tin rằng, chỉ có những lực lượng siêu nhiên, thần linh, thượng đế mới có khả năng cứu vớt con người ra khỏi nỗi đau khổ và điều đó chỉ có thể xảy ra trong thế giới khác, thế giới sau cái chết (phủ nhận vai trò của con người trong việc sáng tạo ra giá trị đạo đức của mình).

– Trong điều kiện nước ta Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Mỗi công dân đều có quyền tham gia hoặc không tham gia thực hiện tín ngưỡng của mình, đều có quyền tham gia hoặc không tham gia vào bất cứ tôn giáo nào. Các hoạt động tôn giáo đều được pháp luật bảo vệ và hoạt động theo hiến pháp.

Để đảm bảo cho các tôn giáo thực hiện được những lý tưởng tôn giáo chân chính của mình, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước và phụng sự tín ngưỡng tôn giáo, pháp luật nước ta nghiêm cấm việc lợi dụng tôn giáo để kích động nhân dân gây rối loạn trật tự xã hội nhằm thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối.

Mối quan hệ giữa đạo đức và nghệ thuật.

Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội. Trung tâm mà nghệ thuật phản ánh là phản ánh cái đẹp, nghệ thuật là nơi hội tụ cái đẹp. Nghệ thuật đem lại cho con người những khoái cảm thẩm mỹ, những giá trị tinh thần.

Do vậy, giữa đạo đức và nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ nhau. Cái đẹp là hiện tượng của cái thiện và chỉ có cái thiện mới có thể đẹp. Thậm chí, khi nghệ thuật miêu tả cái ác, cái xấu xa cũng nhằm mục đích đạt đến cái đẹp, cái thiện.

Nghệ thuật là phương thức tồn tại của ý thức, một hoạt động sáng tạo độc đáo, một hình thức giao tiếp đặc biệt của con người, nó có tác dụng định hướng, thay đổi, tô điểm làm đẹp cho bản thân con người, các chuẩn mực đạo đức xã hội tạo nên thị hiếu thẩm mỹ của con người.

Ví dụ: “tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Xấu người, đẹp nết còn hơn đẹp người”, “Chồng lớn, vợ bé thì xinh, chồng nhỏ vợ lớn ra tình chị em”.

– Nghệ thuật gắn liền với tâm tư, tình cảm, khơi dậy những ước mơ, khát vọng tốt đẹp, trang phục, giao tiếp.

– Nghệ thuật là hoạt động sáng tạo, tác giả không chỉ đổ mồ hôi, công sức mà còn thể hiện cả: tư tưởng tình cảm, sự nghiền ngẫm về cuộc đời, là phương tiện giao tiếp làm đẹp cho quan hệ người – người ngày càng đẹp hơn. Nghệ thuật có tác dụng giáo dục sâu sắc và nghỉ ngơi giải trí độc đáo.

– Đạo đức đặt ra cho nghệ thuật một nhiệm vụ:

Nghệ thuật có nhiệm vụ quan trọng là giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người. Nghệ thuật sở dĩ sống được, đứng vững được là do nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất là hướng thiện, đề cao cái thiện.

Cái thiện là khao khát của nhân dân lao động. Do đó tác phẩm nghệ thuật nào làm tốt giáo dục đạo đức thì sẽ tồn tại mãi.

– Nghệ thuật có tác dụng trở lại đạo đức:

Nghệ thuật cung cấp cho con người tình cảm đạo đức tốt đẹp. Nghệ thuật có lợi thế là phản ánh bằng hình tượng nghệ thuật, do vậy nó sẽ dễ đi vào lòng người. Đối tượng và mục đích phản ánh của nghệ thuật là con người, nên nó rất gần với đạo đức, ảnh hưởng đến đạo đức.

Đạo đức và nghệ thuật giúp cho con người tránh cái xấu, học hỏi hướng tới cái đẹp và làm theo cái đẹp, tiến tới tự giác làm điều tốt. Tương quan giữa đạo đức và nghệ thuật là mối tương quan giữa cái thiện và cái đẹp. Cái này làm tiền đề cho cái kia và bổ sung cho nhau cùng phát triển. Nghệ thuật còn làm chức năng giáo dục chân chính, giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người, ngược lại đời sống đạo đức là nguồn chất liệu làm nền móng cho sáng tác nghệ thuật.

Nghệ thuật chân chính phải lấy cuộc sống, lấy đạo đức làm điểm xuất phát vì nó là cơ sở, là nguồn cảm hứng của nghệ thuật phát triển.

– Lịch sử đã cho thấy, những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, bất tử với con người cả về không gian và thời gian là những tác phẩm chứa đựng các giá trị cao cả về con người. Nó là biểu tượng kiệt xuất về con người, về lý tưởng, lòng nhân ái, về số phận, về sức mạnh tinh thần và phẩm chất của con người và xã hội con người của từng thời đại cụ thể.

Trong điều kiện của đất nước, Đảng ta chủ trương lãnh đạo nhân dân ta xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là hoàn toàn phù hợp với điều kiện và nguyện vọng tha thiết của nhân dân. Trong nền văn hóa ấy giữa truyền thống và hiện đại được kết hợp với nhau một cách hài hòa trên cơ sở gắn liền đạo đức cách mạng và nghệ thuật cách mạng. Chỉ có đạo đức cách mạng và nghệ thuật cách mạng mới đủ sức bao chứa trong mình những giá trị tiên tiến của thời đại và những giá trị quý báu mang đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời nâng cao giá trị đó, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

Mối quan hệ giữa đạo đức với khoa học.

Vấn đề đạo đức và khoa học có mối quan hệ gắn bó nhau, không thể tách rời nhau, vì khoa học luôn là cơ sở cho nền đạo đức thực sự của con người.

Mục đích của khoa học và đạo đức có sự thống nhất hài hòa. Khoa học và đạo đức là điều kiện để con người cải biến xã hội, xây dựng cuộc sống hạnh phúc.

Thực tế lịch sử đã chứng tỏ những thành quả của khoa học và công nghệ đã ngày càng giữ vai trò cơ bản, chủ đạo nâng cao cuộc sống của con người cũng nhờ những thành tựu vĩ đại đó mà con người đã ngày càng xây dựng được những quy luật tự nhiên, quy luật xã hội để thực hiện những ước mơ, khát vọng của mình.

Như vậy khoa học chẳng những đã chứa đựng trong bản thân nó những lý tưởng đạo đức mà còn là một phương thức mà nhờ đó con người biến những lý tưởng, ước mơ của mình thành hiện thực đời sống. Chính những lý tưởng đạo đức đã đóng vai trò không nhỏ làm thành một trong những động lực của sự phát triển khoa học.

Nhiều phát minh khoa học vĩ đại đó được sinh ra từ chính nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu cải thiện đời sống con người, nhu cầu bảo vệ con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, nhu cầu hạnh phúc của con người.

So với ý thức đạo đức, ý thức khoa học thường mang tính vượt trước và mang tính biến đối, tính cách mạng mau lẹ hơn. Khoa học còn làm cho những lý tưởng, ước mơ đạo đức biến đổi ngày càng gắn với cuộc sống và góp phần loại bỏ những nhân tố lạc hậu, bảo thủ trong đạo đức, làm cho cái thiện trong đạo đức ngày càng gắn liền với cái chân lý trong khoa học.

Khoa học công nghệ đóng vai trò quyết định nâng cao lực lượng sản xuất và do nâng cao lực lượng sản xuất đó dẫn tới thay đổi các quan hệ sản xuất. Nhưng khi các quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho tất cả các quan hệ xã hội đều phải thay đổi, trong đó có các quan hệ đạo đức.

Sự thay đổi đó không phải diễn ra theo một quá trình giản đơn, trực tiếp mà nó diễn ra dưới ảnh hưởng của những kết cấu lợi ích xã hội, đặc biệt là lợi ích giai cấp.

Dưới chủ nghĩa tư bản, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển, lẽ ra nhân loại bước vào vào một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn nhưng trong thực tế, cứ một bước tiến của khoa học và công nghiệp thì nhân dân lao động lại đẩy thêm một bước vào vòng đói khổ và ngu tối, con người lại lâm vào cảnh khốn khổ, bất hạnh. Vì những lợi ích ích kỷ của mình, giai cấp tư sản đã độc chiếm toàn bộ những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghiệp, biến chúng thành công cụ bóc lột nhân dân lao động, đàn áp con người, hủy hoại mọi giá trị của xã hội đã có được, phục vụ cho mục đích vì mục đích lợi nhuận tối đa của mình.

Theo quan điểm đạo đức học Mác-xít, giữa đạo đức và khoa học luôn có mối quan hệ biện chứng khăng khít. Những mâu thuẫn, những xung đột giữa tiến bộ khoa học công nghệ và tiến bộ đạo đức trong xã hội tư bản đang diễn ra ngày càng gay gắt là sự phản ánh những mâu thuẫn ngày sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Chính trong các xã hội tư sản, giai cấp tư sản một mặt sử dụng các thành quả của khao học công nghệ như một công cụ xâm lược, đàn áp, bóc lột, nhưng mặt khác họ cũng đang lợi dụng những thành quả đó để mong điều hòa làm giảm bớt những mâu thuẫn xã hội nhằm củng cố địa vị thống trị của mình.

Như vậy, việc giải quyết cơ bản và toàn diện những xung đột gay gắt giữa tiến bộ khoa học công nghệ và tiến bộ đạo đức chỉ diễn ra trong điều kiện một xã hội không có giai cấp đối kháng, không có chế độ người bóc lột người, chế độ sở hữu cá nhân.

Ở đó những thành quả của khoa học công nghệ sẽ để xã hội sử dụng như một phương thức giải phóng con người, nâng cao các giá trị nhân phẩm, làm cho con người được sống ngày càng tự do, hạnh phúc hơn, đồng thời hạn chế những tác động bất lợi được cuộc sống của xã hội con người mang tính tự phát từ bản thân tiến bộ khoa học công nghệ.

Trong điều kiện nước ta, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đưa nước ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong thời kỳ này, khoa học công nghệ đóng vai trò hết sức cơ bản. Để phát huy những thành quả của khoa học công nghệ trong điều kiện mới, tất cả các tiến bộ khoa học công nghệ đều được diễn ra trong phạm vi của chiến lược chính sách phát triển khoa học công nghệ quốc gia một cách toàn diện.

Chiến lược này đi từ phát triển tiềm lực con người, sử dụng phân phối các nguồn lực tài nguyên quốc gia, kết hợp phát triển toàn diện với lựa chọn các ngành mũi nhọn, kết hợp giữa chính sách phát triển công nghiệp với bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Do đó, nghệ thuật mang chức năng giáo dục, trong đó có cả vị trí hết sức quan trọng trong giáo dục đạo đức, làm cho việc chuyển tải các lý tưởng, nguyên tắc đạo đức tới mọi đối tượng một cách nhẹ nhàng, nhưng lại hết sức sâu sắc.

SOURCE: Vietnam OpenCourseWare

CÁC KIỂU ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ, QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC VỚI CÁC HÌNH THÁI XÃ HỘI KHÁC

TS. Đinh Ngọc Quyên, ThS Hồ Thị Thảo, TS Lê Ngọc Triết

CÁC KIỂU ĐẠO ĐỨC TRONG LỊCH SỬ, TÍNH KẾ THỪA CỦA SỰ PHÁT TRIỂN ĐẠO ĐỨC.

Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, qui định, chuẩn mực nhằm định hướng con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ, chống lại cái giả, cái ác, cái xấu…

Đạo đức nảy sinh do nhu cầu đời sống xã hội, là sản phẩm của lịch sử xã hội, do cơ sở kinh tế – xã hội quyết định.

Ngay từ chế độ cộng sản nguyên thủy ý thức của con người mong muốn đã được hình thành, từ đó được phát triển hoàn thiện dần trên cơ sở phát triển của hình thái kinh tế – xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao.

Đạo đức trong xã hội cộng sản nguyên thủy.

 

Ý thức đạo đức phụ thuộc vào những điều kiện sinh hoạt vật chất, phương thức tìm kiếm và phân phối những phúc lợi cần thiết đến trình độ thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt của con người.

Dưới chế độ công xã nguyên thủy, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Tài sản cá nhân của người nguyên thủy chỉ là một số công cụ và đồ tiêu dùng của mỗi người chế tạo lấy.

Trong xã hội không có sự phân chia giai cấp, không có hiện tượng người bóc lột người, không có đầu óc làm giàu. Họ cùng nhau hái quả, đánh bắt cá, làm nhà, kỷ luật và quy tắc lao động được duy trì bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, của dư luận xã hội, bằng uy tín và sự tôn kính đối với người tộc trưởng hay người phụ nữ.

Gắn liền với đời sống tinh thần là tôn giáo nguyên thủy, được sinh ra từ những hiểu biết hết sức mông muội, tối tăm và nguyên thủy của con người về bản thân họ và về tự nhiên bao quanh họ.

Tôn giáo nguyên thủy can thiệp vào toàn bộ hoạt động của công xã thị tộc và trở thành yếu tố cấu thành hoạt động thực tiễn và ý thức của người nguyên thủy. Trong những điều kiện đó, các dấu hiệu đạo đức xuất hiện.

Ví dụ: các qui định trong săn bắn (do kinh nghiệm đã tích lũy được) không những có ý nghĩa đối với nhu cầu sinh sống, còn đối với các yêu cầu tương trợ, đoàn kết cộng đồng cũng như việc giữ gìn tình ruột thịt trong thị tộc.

Như vậy, đạo đức ra đời rất sớm, xuất phát từ chính các hoạt động chung của thị tộc với những chế độ tự nhiên của chúng.

Nó có những đặc điểm sau:

– Tính cụ thể ­- cảm tính, trực quan và kinh nghiệm của đạo đức nguyên thủy.

Việc coi trọng, tuân thủ các hành vi giao tiếp, ứng xử và hoạt động cụ thể của cộng đồng là biểu hiện ý thức đạo đức của người nguyên thủy. Mọi thành viên thực hiện bất kỳ một hành vi đạo nào bao giờ cũng theo thói quan, đối với họ việc bắt chước các mẫu hoạt động đạo đức là một yêu cầu bắt buộc. Nhờ đó các tập quán, phong tục, các điều cấm kị, lễ nghi, các định kiến, dư luận xã hội đã tồn tại rất dai dẳng trong các hiện tượng cụ thể – cảm tính.

– Các bộ lạc còn lại đến nay ở Châu Mỹ, Châu Phi còn giữ nguyên truyền thống không cãi cọ nhau, biết nghe lời người lớn tuổi và xem đó là cái thiện. Ngược lại bất kỳ hành vi nào không theo đúng phong tục, tập quán đều bị xem là ác.

– Trình độ phát triển rất thấp về kinh tế – xã hội và văn hóa của con người nguyên thủy đã làm cho họ có một số đặc điểm gần giống như một loài động vật như hoạt động ăn thịt người ở thời kỳ đầu của chế độ công xã nguyên thủy, hoạt động đó chỉ mất khi nền kinh tế và văn hóa của xã hội phát triển cao hơn, và chỉ đến đó nó mới trở thành một việc thất đức.

– Tính hợp tác, tính công bằng, thông cảm, tương trợ của đạo đức nguyên thủy.

Trong điều kiện sản xuất thấp kém, sự hợp tác là yếu tố hàng đầu tạo nên hiệu quả trong lao động tập thể.

Sự hợp tác ở đây là hợp tác giản đơn trong điều kiện kinh tế tự nhiên chưa có sự khác biệt giữa lợi ích cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng.

Tính công bằng – bằng nhau không chỉ trong hưởng thụ mà còn trong tất cả quan hệ khác. Tất cả những gì có ích cho bộ lạc được coi là điều thiện, có hại bị coi là điều ác.

Điều này tạo ra sự ổn định hợp lý và bình đẳng xã hội trong điều kiện con người chưa sản xuất ra sản phẩm dư thừa, đời sống còn quá thấp. Khả năng tồn tại của đạo đức giai cấp cũng như của đạo đức có ý nghĩa nhân loại phổ biến có cơ sở ở nguyến tắc này.

Đạo đức trong xã hội chiếm hữu nô lệ

 

Sự xuất hiện của giai cấp dẫn tới sự tan vỡ của ý thức đạo đức thống nhất trong nội bộ cộng đồng xã hội. Nhưng so với chế độ công xã nguyên thủy, thì xã hội chiếm hữu nô lệ tiến hơn một bậc.

Phù hợp với sức sản xuất tiến bộ hơn của chế độ chiếm hữu nô lệ là quan hệ sản xuất mới, mà cơ sở là chủ nô chiếm hữu tư liệu sản xuất và người nô lệ. Loài người đã bắt đầu hình thành một nền đạo đức mới. Cụ thể là:

– Tính chất đối kháng đạo đức:

Đó là đạo đức của nô lệ và đạo đức của chủ nô, hai nền đạo đức này đối lập với nhau về cơ bản. Những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị, giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị.

Tầng lớp người có đặc quyền, đặc lợi cho phép mình được là người “có đức hạnh, người thượng lưu, quí tộc” còn những người nô lệ là những người “không có phẩm hạnh, người thấp hèn, hạ đẳng”.

Sự nô dịch của số ít (do giàu có mà trở thành mạnh) đối với số đông (do nghèo khổ mà trở thành yếu) giờ đây được bảo đảm bởi một lực lượng xã hội mới – nhà nước, tình trạng bình đẳng nhường chỗ cho đẳng cấp. Nó quy định nội dung cơ bản của đạo đức, đẩy tới hai cực đối lập gay gắt: chủ – tớ, trên – dưới, mệnh lệnh – phục tùng.

Tính chất đó quy định các nội dung khác nhau của quan niệm về tốt – xấu trong giai cấp này hay giai cấp kia. Cuộc sống tôi tớ chỉ được đánh giá ngang với giá trị của các vật dụng, các con vật.

Chế độ nô lệ dạy người nô lệ phải phục tùng tuyệt đối. Những đạo đức cao cả của người nô lệ như: lòng dũng cảm, chí khí, nhân phẩm…đã bị chủ nô xem như lời thách thức, sự bất kính.

  • Tính mâu thuẫn của “phẩm hạnh” trong đạo đức chiếm hữu nô lệ:

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ đạo đức của kẻ chiếm hữu nô lệ và đạo đức của người bị nô lệ tạo thành hai mặt của một mâu thuẫn lớn nhất, tập trung nhất đầu tiên trong văn hóa tinh thần nhân loại.

+ Chế độ chiếm hữu nô lệ, việc phân công lao động, phát triển sản xuất và đẻ ra một nền văn hóa vĩ đại của thế giới cổ đại – nền văn hóa Hy Lạp – đứng về phía bản thân người nô lệ, Ănghen đã nói – chế độ nô lệ với ý nghĩa nhất định vẫn là sự tiến bộ, tù binh chiến tranh trở thành nguồn lớn những nô lệ, họ được bảo tồn không bị giết, không bị ăn thịt như trước nữa.

+ Mặt trái của sự tiến bộ đó là đông đảo quần chúng nhân dân chưa hề biết áp bức và bóc lột giai cấp là gì, giờ họ bổng nhiên trở nên bị áp bức.

Bọn chủ nô có quyền mua bán, quyền sinh sát, đe dọa nô lệ bằng roi vọt, chúng thường xích nô lệ vào nơi làm việc hoặc công cụ lao động. Pháp luật và đạo đức của chủ nô tha hồ hành hạ, giết chóc nô lệ. Chúng gây chiến tranh để chiếm thêm đất đai, bắt tù binh để tăng thêm nô lệ, cảnh giác và thẳng tay đàn áp đối với sự phản kháng chống đối của nô lệ.

+ Cùng với sự xuất hiện giai cấp, phụ nữ cũng mất quyền bình đẳng trước kia và trở thành nô lệ của người chồng. Chế độ một vợ một chồng là một bước tiến của lịch sử, nó ra đời trên cơ sở chế độ tư hữu chiến thắng chế độ công hữu, nhưng nó mang theo một điều không thể tránh khỏi: sự nô dịch phụ nữ, nạn mãi dâm…

Đạo đức trong xã hội phong kiến

 

Chế độ phong kiến dựa trên cơ sở sở hữu ruộng đất lớn. Khác với nô lệ, người nông dân có công cụ sản xuất riêng và có nền kinh tế riêng dựa vào lao động cá nhân và đem lại cho họ những điều kiện sinh sống cần thiết. Bọn địa chủ vẫn có quyền điều nông dân ra khỏi lãnh đại của mình, nhưng không có quyền giết họ.

Đó là một bước tiến của đạo đức xã hội, thật ra địa vị người nông dân cũng chẳng hơn bao nhiêu so với nô lệ. Sự phụ thuộc về kinh tế và sự cưỡng ép trực tiếp đã buộc họ phải cày cấy ruộng đất của địa chủ và làm trăm nghìn công việc có lợi cho giai cấp phong kiến.

Ở đây, tồn tại nhiều kiểu đạo đạo đức, có cả đạo đức của chính giai cấp phong kiến lại có đạo đức của giai cấp nông dân và nhân dân lao động.

Đạo đức thống trị trong xã hội phong kiến trước hết và đạo đức học của gai cấp phong kiến. Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức học ở phương Tây thường xuất phát từ những tín điều của tôn giáo.

Ở phương Đông đạo đức học không hoàn toàn lệ thuộc vào tôn giáo mà thường xuất phát từ quan hệ giữa người và người được nhìn qua lăng kính của học thuyết nho giáo. Yêu cầu chung của đạo đức thống trị là bầy tôi phải trung với vua, chư hầu phải trung với thiên tử, nông dân phải trung với địa chủ.

Đạo đức trong xã hội tư bản:

 

Chế độ tư bản là một bước tiến của xã hội, vì nó đập tan xiềng xích của chế độ nông nô, xóa bỏ tình trạng cát cứ của phong kiến, mở ra thị trường trong nước và thế giới, phát triển sản xuất, thúc đẩy khoa học kỹ thuật tiến lên.

Sự thay thế quan hệ sản xuất phong kiến bằng quan hệ sản xuất tư bản dẫn đến biến đổi cả hệ thống đạo đức xã hội. Chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tắc cơ bản của đạo đức tư sản. quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã kích thích các nhà tư bản làm giàu và đã định hướng trong ý thức và hành vi đạo đức của họ. Họ coi việc làm giàu với mọi cách và mọi giá là hoạt động chính, là mục đích cao nhất của cuộc sống.

Trong quá trình tích lũy tư bản, với máu và mồ hôi sự bóc lột lao động làm thuê, chủ nghĩa cá nhân đã chiến thắng quan hệ chật hẹp đẳng cấp phong kiến dưới khầu hiệu cách mạng tư sản là tự do, bình đẳng, bác ái.

Sự hoạt động tích cực của nền kinh tế công nghiệp có tác động mạnh mẽ đến tính cách cá nhân con người. Lênin nhận xét, trong thời kỳ thiết lập tư bản chủ nghĩa, con người được giải phóng và phát triển, đó là một tiến bộ vĩ đại.

Nhưng sự bình đẳng ở đây chỉ là sự bình đẳng hình thức chứ không phải là bình đẳng trong thực tế cuộc sống xã hội. Nhà tư bản bốc lột người công nhân trên cơ sở bốc lột giá trị thặng dư bằng nhiều thủ đoạn khác nhau.

Sự che đậy mối quan hệ bản chất của xã hội tư bản bằng những “hình mẫu đạo đức tất yếu” của gia cấp tư sản để mọi người noi theo là “hết sức lộ liễu”, làm sao có sự bình đẳng trong quan hệ và thực tiễn đạo đức khi mà xã hội còn tồn tại và thừa nhận quan hệ bóc lột giá trị thặng dư và bằng những thủ đoạn đê hèn, tàn bạo.

Vấn đề trách nhiệm đạo đức cá nhân chỉ là sự “bắt buộc” từ phía xã hội chứ không là từ ý muốn bên trong của cá nhân, nên trách nhiệm đạo đức cũng trở thành thuần túy hình thức phô trương bên ngoài nhằm che đậy sự giả dối bên trong.

Đó là lý do dẫn đến tình trạng biệt lập nhân cách, một trạng thái tâm lý lạnh lẽo, xa lánh nhau, thậm chí trở nên thù ghét nhau.

Tóm lại, xã hội tư bản đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh, cùng nền sản xuất nhỏ phân tán được xã hội hóa ngày càng cao, phân công lao động phát triển, năng suất lao động có hiệu quả rõ rệt. Ngoài những mặt tích cực đó, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực: vấn đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm.

Đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

 

Đạo đức trong xã hội tư bản bao gồm nhiều kiểu đạo đức khác nhau. Đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức của giai cấp công nhân, đạo đức của những lực lượng xã hội khác các kiểu đạo đức này thường xâm nhập vào nhau, đan xen và không ngừng đấu tranh với nhau, tạo nên con đường phát triển xã hội trên cơ sở khẳng định mặt tích cực, tiến bộ, triệt tiêu mặt lạc hậu, mở rộng khả năng phát triển đạo đức trong tương lai của một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.

Khi chủ nghĩa xã hội đã thắng lợi và các giai cấp bóc lột trong xã hội đã bị tiêu diệt, thì đạo đức cộng sản cũng được toàn dân thừa nhận, nó trở thành đạo đức thống trị.

Đạo đức cộng sản là giai đoạn cao nhất trên con đường tiến lên của đạo đức loài người. So với đạo đức tiên tiến trước đây, đạo đức cộng sản là một thứ chất mới. Nó biểu hiện những đặc điểm mới vì bộ mặt tinh thần của những con người đã tiêu diệt thế giới bóc lột và đã lập nên chủ nghĩa cộng sản.

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC VỚI MỘT SỐ HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI KHÁC.

 

Đạo đức là một hình thái ý thứa xã hội đặc thù, là sự phản ánh tồn tại xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng như chính trị, pháp luật, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật.

Mối quan hệ giữa đạo đức và chính trị.

 

Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp đối với vấn đề nhà nước, đứng về mặt lịch sử chính trị chỉ xuất hiện khi có nhà nước còn đạo đức xuất hiện rất sớm cùng với sự xuất hiện xã hội loài người.

Trong xã hội có giai cấp, đạo đức cũng như chính trị đều là sản phẩm của một cơ sở kinh tế xã hội nhất định. Do đó giữa đạo đức và chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau, dưới những hình thức khác nhau, đạo đức là chính trị biểu hiện lợi ích kinh tế của một giai cấp nhất định và phục vụ mục đích của nó. Nhiều khi các quan hệ đạo đức thường lẫn vào chính trị, ngược lại có những quan điểm chính trị phản ánh những giá trị đạo đức.

Đối với giai cấp và nhà nước tiên tiến thì nó thường gắn liền với những quan điểm đạo đức tiến bộ, ngược lại giai cấp suy tàn thì gắn liền với quan điểm đạo đức lạc hậu, bảo thủ kiềm hãm sự phát triển của xã hội.

Đạo đức chúng ta ngày nay, đạo đức tiên tiến là đạo đức của giai cấp vô sản, đạo đức phục vụ cho sự nghiệp thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Sự thống nhất biện chứng giữa chính trị và đạo đức còn được thể hiện cụ thể trong việc xây dựng con người mới, trong đó tài và đức phải kết hợp chặt chẽ và lấy đức làm gốc.

Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật.

 

Ý thức đạo đức và ý thức pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau và có chức năng chung là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội nhằm bảo toàn và phát triển xã hội. Tuy nhiên giữa chúng có những điểm khác nhau

Pháp luật thường được thực hiện thông qua nhà nước, do nhà nước soạn thảo, phổ biến và thi hành trong toàn xã hội. Còn đạo đức được bảo đảm do lương tâm con người do sự phê phán của dư luận xã hội.

Phạm vi đạo đức có nội dung bao quát và rộng hơn pháp luật. Luật pháp điều chỉnh một số mặt của đời sống xã hội, đạo đức xâm nhập vào tất cả các hoạt động xã hội, trong mọi quan hệ kể cả đối với chính bản thân mỗi người.

Trong thực tế có những hiện tượng pháp luật trừng trị nhưng đạo đức không lên án và có hiện tượng đạo đức lên án nhưng pháp luật không trừng trị.

Luật pháp căn cứ vào kết quả hành vi còn đạo đức căn cứ vào động cơ hành vi.

Để đảm bảo cho luật pháp được chấp hành nhà nước áp dụng chủ yếu các hình thức cưỡng bức hình phạt, còn đạo đức thì được bảo đảm bằng giáo dục, thuyết phục, ủng hộ hoặc lên án của dư luật xã hội và sự kiểm soát của lương tâm con người.

– Quan hệ giữa đạo đức với luật pháp:

Đạo đức và pháp luật phù hợp với nhau khi ý chí của giai cấp thống trị phù hợp với lợi ích xã hội và cộng đồng dân cư. Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì đạo đức và pháp luật thường có mâu thuẫn với nhau vì đạo đức phản ánh quan hệ lợi ích của quần chúng nhân dân lao động còn pháp luật bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị mà lợi ích của hai giai cấp đối kháng luôn mâu thuẫn với nhau.

Quan hệ giữa đạo đức và tôn giáo.

 

– Tôn giáo là một khái niệm huyền ảo và sai lệch của con người về hiện thực, trong khái niệm đó lực lượng ngoại giới (lúc đầu là lực lượng siêu tự nhiên về sau lại thêm lực lượng xã hội) chi phối đời sống hàng ngày của con người bằng hình thức siêu trần thế, siêu tự nhiên.

– Tôn giáo và đạo đức đều hướng con người tới những lý tưởng sống thiện, nhân đạo, tránh cái ác. Tuy nhiên chúng khác nhau về bản chất.

– Về mặt lịch sử, đạo đức xuất hiện cùng với sự xuất hiện xã hội loài người, trước rất lâu so với sự ra đời của các tôn giáo. Như vậy, đã có một giai đoạn lịch sử rất dài, đạo đức tồn tại không có tôn giáo. Điều đó cho thấy đạo đức không thể bắt nguồn từ tôn giáo và nó tồn tại như một đời sống tinh thần khác với niềm tin tôn giáo.

– Đạo đức phản ánh chân thực những nhu cầu khách quan, hiện thực còn tôn giáo lại phản ánh thế giới một cách hư ảo với những khát vọng tự giải thoát trong thế giới tinh thần mà hiện thực tỏ ra hoàn toàn bất lực.

– Đạo đức và tôn giáo đều thấy được nỗi đau khổ của con người và hướng tới việc phấn đấu làm giảm nỗi đau khổ ấy để con người đi đến hạnh phúc. Nhưng đạo đức xem nỗi đau khổ của con người trong tính lịch sử hiện thực của nó và tin tưởng chắc rằng chính con người là động lực duy nhất giải thoát con người khỏi nỗi đau khổ và tự xây dựng hạnh phúc của mình trong đời sống hiện thực thông qua hoạt động lao động của mình. Còn tôn giáo tin rằng, chỉ có những lực lượng siêu nhiên, thần linh, thượng đế mới có khả năng cứu vớt con người ra khỏi nỗi đau khổ và điều đó chỉ có thể xảy ra trong thế giới khác, thế giới sau cái chết (phủ nhận vai trò của con người trong việc sáng tạo ra giá trị đạo đức của mình).

– Trong điều kiện nước ta Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Mỗi công dân đều có quyền tham gia hoặc không tham gia thực hiện tín ngưỡng của mình, đều có quyền tham gia hoặc không tham gia vào bất cứ tôn giáo nào. Các hoạt động tôn giáo đều được pháp luật bảo vệ và hoạt động theo hiến pháp.

Để đảm bảo cho các tôn giáo thực hiện được những lý tưởng tôn giáo chân chính của mình, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước và phụng sự tín ngưỡng tôn giáo, pháp luật nước ta nghiêm cấm việc lợi dụng tôn giáo để kích động nhân dân gây rối loạn trật tự xã hội nhằm thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối.

Mối quan hệ giữa đạo đức và nghệ thuật.

 

Nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh tồn tại xã hội. Trung tâm mà nghệ thuật phản ánh là phản ánh cái đẹp, nghệ thuật là nơi hội tụ cái đẹp. Nghệ thuật đem lại cho con người những khoái cảm thẩm mỹ, những giá trị tinh thần.

Do vậy, giữa đạo đức và nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ nhau. Cái đẹp là hiện tượng của cái thiện và chỉ có cái thiện mới có thể đẹp. Thậm chí, khi nghệ thuật miêu tả cái ác, cái xấu xa cũng nhằm mục đích đạt đến cái đẹp, cái thiện.

Nghệ thuật là phương thức tồn tại của ý thức, một hoạt động sáng tạo độc đáo, một hình thức giao tiếp đặc biệt của con người, nó có tác dụng định hướng, thay đổi, tô điểm làm đẹp cho bản thân con người, các chuẩn mực đạo đức xã hội tạo nên thị hiếu thẩm mỹ của con người.

Ví dụ: “tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Xấu người, đẹp nết còn hơn đẹp người”, “Chồng lớn, vợ bé thì xinh, chồng nhỏ vợ lớn ra tình chị em”.

– Nghệ thuật gắn liền với tâm tư, tình cảm, khơi dậy những ước mơ, khát vọng tốt đẹp, trang phục, giao tiếp.

– Nghệ thuật là hoạt động sáng tạo, tác giả không chỉ đổ mồ hôi, công sức mà còn thể hiện cả: tư tưởng tình cảm, sự nghiền ngẫm về cuộc đời, là phương tiện giao tiếp làm đẹp cho quan hệ người – người ngày càng đẹp hơn. Nghệ thuật có tác dụng giáo dục sâu sắc và nghỉ ngơi giải trí độc đáo.

– Đạo đức đặt ra cho nghệ thuật một nhiệm vụ:

Nghệ thuật có nhiệm vụ quan trọng là giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người. Nghệ thuật sở dĩ sống được, đứng vững được là do nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất là hướng thiện, đề cao cái thiện.

Cái thiện là khao khát của nhân dân lao động. Do đó tác phẩm nghệ thuật nào làm tốt giáo dục đạo đức thì sẽ tồn tại mãi.

– Nghệ thuật có tác dụng trở lại đạo đức:

Nghệ thuật cung cấp cho con người tình cảm đạo đức tốt đẹp. Nghệ thuật có lợi thế là phản ánh bằng hình tượng nghệ thuật, do vậy nó sẽ dễ đi vào lòng người. Đối tượng và mục đích phản ánh của nghệ thuật là con người, nên nó rất gần với đạo đức, ảnh hưởng đến đạo đức.

Đạo đức và nghệ thuật giúp cho con người tránh cái xấu, học hỏi hướng tới cái đẹp và làm theo cái đẹp, tiến tới tự giác làm điều tốt. Tương quan giữa đạo đức và nghệ thuật là mối tương quan giữa cái thiện và cái đẹp. Cái này làm tiền đề cho cái kia và bổ sung cho nhau cùng phát triển. Nghệ thuật còn làm chức năng giáo dục chân chính, giáo dục và hoàn thiện nhân cách con người, ngược lại đời sống đạo đức là nguồn chất liệu làm nền móng cho sáng tác nghệ thuật.

Nghệ thuật chân chính phải lấy cuộc sống, lấy đạo đức làm điểm xuất phát vì nó là cơ sở, là nguồn cảm hứng của nghệ thuật phát triển.

– Lịch sử đã cho thấy, những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu, bất tử với con người cả về không gian và thời gian là những tác phẩm chứa đựng các giá trị cao cả về con người. Nó là biểu tượng kiệt xuất về con người, về lý tưởng, lòng nhân ái, về số phận, về sức mạnh tinh thần và phẩm chất của con người và xã hội con người của từng thời đại cụ thể.

Trong điều kiện của đất nước, Đảng ta chủ trương lãnh đạo nhân dân ta xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là hoàn toàn phù hợp với điều kiện và nguyện vọng tha thiết của nhân dân. Trong nền văn hóa ấy giữa truyền thống và hiện đại được kết hợp với nhau một cách hài hòa trên cơ sở gắn liền đạo đức cách mạng và nghệ thuật cách mạng. Chỉ có đạo đức cách mạng và nghệ thuật cách mạng mới đủ sức bao chứa trong mình những giá trị tiên tiến của thời đại và những giá trị quý báu mang đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời nâng cao giá trị đó, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.

Mối quan hệ giữa đạo đức với khoa học.

 

Vấn đề đạo đức và khoa học có mối quan hệ gắn bó nhau, không thể tách rời nhau, vì khoa học luôn là cơ sở cho nền đạo đức thực sự của con người.

Mục đích của khoa học và đạo đức có sự thống nhất hài hòa. Khoa học và đạo đức là điều kiện để con người cải biến xã hội, xây dựng cuộc sống hạnh phúc.

Thực tế lịch sử đã chứng tỏ những thành quả của khoa học và công nghệ đã ngày càng giữ vai trò cơ bản, chủ đạo nâng cao cuộc sống của con người cũng nhờ những thành tựu vĩ đại đó mà con người đã ngày càng xây dựng được những quy luật tự nhiên, quy luật xã hội để thực hiện những ước mơ, khát vọng của mình.

Như vậy khoa học chẳng những đã chứa đựng trong bản thân nó những lý tưởng đạo đức mà còn là một phương thức mà nhờ đó con người biến những lý tưởng, ước mơ của mình thành hiện thực đời sống. Chính những lý tưởng đạo đức đã đóng vai trò không nhỏ làm thành một trong những động lực của sự phát triển khoa học.

Nhiều phát minh khoa học vĩ đại đó được sinh ra từ chính nhu cầu của cuộc sống, nhu cầu cải thiện đời sống con người, nhu cầu bảo vệ con người trước thiên nhiên khắc nghiệt, nhu cầu hạnh phúc của con người.

So với ý thức đạo đức, ý thức khoa học thường mang tính vượt trước và mang tính biến đối, tính cách mạng mau lẹ hơn. Khoa học còn làm cho những lý tưởng, ước mơ đạo đức biến đổi ngày càng gắn với cuộc sống và góp phần loại bỏ những nhân tố lạc hậu, bảo thủ trong đạo đức, làm cho cái thiện trong đạo đức ngày càng gắn liền với cái chân lý trong khoa học.

Khoa học công nghệ đóng vai trò quyết định nâng cao lực lượng sản xuất và do nâng cao lực lượng sản xuất đó dẫn tới thay đổi các quan hệ sản xuất. Nhưng khi các quan hệ sản xuất thay đổi sẽ làm cho tất cả các quan hệ xã hội đều phải thay đổi, trong đó có các quan hệ đạo đức.

Sự thay đổi đó không phải diễn ra theo một quá trình giản đơn, trực tiếp mà nó diễn ra dưới ảnh hưởng của những kết cấu lợi ích xã hội, đặc biệt là lợi ích giai cấp.

Dưới chủ nghĩa tư bản, với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, lực lượng sản xuất phát triển, lẽ ra nhân loại bước vào vào một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn nhưng trong thực tế, cứ một bước tiến của khoa học và công nghiệp thì nhân dân lao động lại đẩy thêm một bước vào vòng đói khổ và ngu tối, con người lại lâm vào cảnh khốn khổ, bất hạnh. Vì những lợi ích ích kỷ của mình, giai cấp tư sản đã độc chiếm toàn bộ những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghiệp, biến chúng thành công cụ bóc lột nhân dân lao động, đàn áp con người, hủy hoại mọi giá trị của xã hội đã có được, phục vụ cho mục đích vì mục đích lợi nhuận tối đa của mình.

Theo quan điểm đạo đức học Mác-xít, giữa đạo đức và khoa học luôn có mối quan hệ biện chứng khăng khít. Những mâu thuẫn, những xung đột giữa tiến bộ khoa học công nghệ và tiến bộ đạo đức trong xã hội tư bản đang diễn ra ngày càng gay gắt là sự phản ánh những mâu thuẫn ngày sâu sắc giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.

Chính trong các xã hội tư sản, giai cấp tư sản một mặt sử dụng các thành quả của khao học công nghệ như một công cụ xâm lược, đàn áp, bóc lột, nhưng mặt khác họ cũng đang lợi dụng những thành quả đó để mong điều hòa làm giảm bớt những mâu thuẫn xã hội nhằm củng cố địa vị thống trị của mình.

Như vậy, việc giải quyết cơ bản và toàn diện những xung đột gay gắt giữa tiến bộ khoa học công nghệ và tiến bộ đạo đức chỉ diễn ra trong điều kiện một xã hội không có giai cấp đối kháng, không có chế độ người bóc lột người, chế độ sở hữu cá nhân.

Ở đó những thành quả của khoa học công nghệ sẽ để xã hội sử dụng như một phương thức giải phóng con người, nâng cao các giá trị nhân phẩm, làm cho con người được sống ngày càng tự do, hạnh phúc hơn, đồng thời hạn chế những tác động bất lợi được cuộc sống của xã hội con người mang tính tự phát từ bản thân tiến bộ khoa học công nghệ.

Trong điều kiện nước ta, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đưa nước ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong thời kỳ này, khoa học công nghệ đóng vai trò hết sức cơ bản. Để phát huy những thành quả của khoa học công nghệ trong điều kiện mới, tất cả các tiến bộ khoa học công nghệ đều được diễn ra trong phạm vi của chiến lược chính sách phát triển khoa học công nghệ quốc gia một cách toàn diện.

Chiến lược này đi từ phát triển tiềm lực con người, sử dụng phân phối các nguồn lực tài nguyên quốc gia, kết hợp phát triển toàn diện với lựa chọn các ngành mũi nhọn, kết hợp giữa chính sách phát triển công nghiệp với bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Do đó, nghệ thuật mang chức năng giáo dục, trong đó có cả vị trí hết sức quan trọng trong giáo dục đạo đức, làm cho việc chuyển tải các lý tưởng, nguyên tắc đạo đức tới mọi đối tượng một cách nhẹ nhàng, nhưng lại hết sức sâu sắc.

SOURCE: Vietnam OpenCourseWare

HỌC THUYẾT NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

LS. LÊ CÔNG ĐỊNH

Trong bài diễn văn tại phiên khai mạc kỳ họp đầu tiên của QH khóa XII vào ngày 19/7/2007, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã lần đầu tiên chính thức công bố nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Học thuyết này khác với học thuyết tam quyền phân lập vốn là nền tảng của mọi thể chế pháp trị trên thế giới, là không có sự phân lập giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, mà chỉ có sự phân nhiệm trong nội bộ các cơ quan nhà nước để đảm nhiệm chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Học thuyết này là sự sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc vận dụng thuyết tam quyền phân lập vào bối cảnh chính trị một đảng cầm quyền đặc biệt ở Việt Nam. Có thể tóm lược những điểm chính của học thuyết như sau:
1. Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp.
2. Nhà nước quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật do Quốc hội ban hành, trong đó hiến pháp và luật pháp là kết quả của sự thể chế hóa đường lối, quan điểm, chủ trương và chính sách của Đảng.
3. Thẩm quyền của Chính phủ được xác định trên cơ sở phân định những loại việc Chính phủ chủ động quyết định với những loại việc Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư trực tiếp quyết định hoặc cho ý kiến định hướng. Cũng tương tự như vậy, thẩm quyền của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định những loại việc do hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân chủ động quyết định với những loại việc ban chấp hành và ban thường vụ đảng bộ quyết định hoặc cho ý kiến để hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân thực hiện.
4. Hoạt động tư pháp, kể cả việc đào tạo, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, do Đảng lãnh đạo thông qua vai trò của cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp căn cứ quy định của Đảng.
Vì quyền lực nhà nước tập trung và không phân lập nên Quốc hội và Tòa án chỉ là hai bộ phận của hệ thống cơ quan nhà nước thống nhất, chứ không độc lập tuyệt đối như cách tổ chức chính thể ở các nước khác.  Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa khẳng định toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trên cơ sở xác lập vai trò đại diện mặc nhiên của Đảng đối với nhân dân nhằm thực thi và bảo vệ quyền lực đó. Toàn bộ hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp tập trung vào việc bảo đảm và củng cố vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Đối với hoạt động quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương, Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa đề xuất một sự phân định thẩm quyền cụ thể và tương ứng giữa chính quyền và các tổ chức Đảng cấp trung ương và địa phương.  Như vậy, có hai hệ thống cùng tồn tại để điều hành và cai trị quốc gia, đó là chính quyền và Đảng, trong đó Đảng vừa lãnh đạo, vừa trực tiếp quyết định.
Hoạt động của các cơ quan tư pháp, tức là tòa án, được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng trên cơ sở quy định của Ðảng. Cấp ủy Đảng ở địa phương đảm nhiệm việc lựa chọn để giới thiệu bổ nhiệm thẩm phán cho tòa án các cấp.  Thẩm phán do vậy vừa là đảng viên vừa là công chức trong bộ máy nhà nước. Vì lẽ đó, việc xét xử của thẩm phán không chỉ dựa vào luật và các bản văn lập pháp khác, mà còn dựa vào các bản văn lập quy của Chính phủ, Bộ và Ủy ban nhân dân địa phương.
Với sự công bố minh bạch và dứt khoát nội dung của Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa như đã nêu trên, vị trí và vai trò của Đảng và Nhà nước trong chính thể hiện tại được xác lập rõ ràng, giúp tránh tình trạng can thiệp hoặc chồng lấn công việc giữa hai thiết chế như từ trước đến nay.  Tuy nhiên, sự áp dụng học thuyết này cũng đặt ra những vấn đề mới đối với bản Hiến pháp hiện hành.
Thứ nhất, nếu luật pháp là sự thể chế hóa đường lối và chủ trương của Đảng, thì vai trò của các đại biểu quốc hội ngoài Đảng trong việc xây dựng luật cần phải xác định cụ thể. Về mặt pháp lý, những đại biểu ngoài Đảng không có nghĩa vụ tuân thủ đường lối và chủ trương của Đảng. Vậy để những đại biểu này hành xử quyền hạn của mình, cần phải có cơ chế giúp họ hiểu và thấm nhuần quan điểm của Đảng đến mức có thể thể chế hóa thành luật, tất nhiên không chỉ đơn thuần qua vận động, mà phải bằng con đường hiến định. 

Mặt khác, do vai trò chính của các đại biểu quốc hội là đại diện nguyện vọng của nhân dân, nên vào một thời điểm nào đó và liên quan đến một vấn đề nhất định, chính sách của Đảng có thể không phản ánh được thực tiễn phát triển của xã hội, thì các đại biểu quốc hội sẽ thể chế hóa nguyện vọng của nhân dân hay chính sách của Đảng?  Đây là tình huống cần tiên liệu cho hoạt động lập pháp tương lai.
Thứ hai, tuy vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi nhận tại Điều 4 của Hiến pháp 1992, nhưng cần phải xác định phạm vi vấn đề nào các tổ chức Đảng trực tiếp quyết định và vấn đề nào chỉ cho ý kiến định hướng.  Điều này sẽ giúp tăng cường hơn nữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối và chủ trương đối với các vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng, và tránh ý kiến dị nghị về mối quan hệ của Đảng và Nhà nước trong điều hành và quản lý quốc gia.
Thứ ba, nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo luật có thể gặp nhiều trở ngại khi trên thực tế sự bổ nhiệm và miễn nhiệm thẩm phán do cấp ủy và ban cán sự đảng ở các cơ quan tư pháp quyết định căn cứ quy định của Đảng, thay vì chỉ dựa vào Hiến pháp và luật pháp. Điều này sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực cải cách tư pháp của Chính phủ vì mục tiêu hàng đầu của chương trình cải cách là bảo đảm sự độc lập của hệ thống tài phán.
Cần phải xác định phạm vi lãnh đạo của Đảng và hiến định các quy định nội bộ của Đảng để bảo đảm tôn trọng nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập. Điều này cũng sẽ giúp các thẩm phán có thể chuyên tâm trao dồi nghiệp vụ lâu dài sau khi được bổ nhiệm, thay vì chỉ tìm cách làm hài lòng một cách ngắn hạn cấp ủy và ban cán sự đảng để chuẩn bị cho lần xem xét tái bổ nhiệm kế tiếp.
Một điều quan trọng khác là nên tập trung quyết liệt vào việc loại trừ sự buôn bán và ngả giá công lý giữa các bên tranh tụng. Đừng để người dân nghèo ngay tình chỉ biết mơ những giấc mơ công lý xa xăm mỗi khi bước chân đến cổng tòa của chính nhân dân. Điều chúng ta hiện nay thiếu là một công cụ hiến định giúp thanh lọc một số thẩm phán vừa bất tài vừa tham nhũng.
Cuối cùng, cần nghĩ đến khả năng tu chính Hiến pháp hiện hành để hiến định mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và Nhà nước mà Học thuyết Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa đã xác lập, nếu không mối quan hệ đó trở nên vi hiến.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

NÂNG CAO QUYỀN UY CỦA TÒA ÁN VÀ UY TÍN CỦA THẨM PHÁN

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH

Tất cả những ai nằm trong phạm vi thẩm quyền của pháp luật Việt Nam đều trông đợi những biện pháp cần thiết để nâng chất lượng hoạt động của ngành tòa án lên. Nếu ở quân đội người ta trông đợi sự anh dũng và chiến thắng thì công dân Việt nam trông đợi ở tòa án sự công minh trong xét xử và nhất quán trong các quyết định. Sự trông đợi đó là nhu cầu nhân bản của mỗi người. Nó là tâm lý con người và có tính bền bỉ, chứ không phải là khẩu hiệu chính trị có tính nhất thời; hơn nữa, nó tồn tại ở bất cứ chế độ chính trị nào. Và nó chỉ có thể thành hiện thực khi chúng ta nâng cao quyền uy của tòa án và uy tín của thẩm phán.

Hai việc làm này là một vì tòa án là cái vỏ, công việc của thẩm phán là cái ruột. Khi thẩm phán có uy tín thì tòa ắt có quyền uy, cái này là hệ quả của cái kia; còn nếu thẩm phán không có uy tín thì chẳng ai sợ tòa án cả. Vì thế ở đây, tôi sẽ đề cập đến thẩm phán và có ba điểm.
A. Dựa vào bên ngoài để nâng năng lực của thẩm phán
Nếu câu tục ngữ “học thầy không tày học bạn” đúng thì nhận định “tự một mình mình các thẩm phán không thể nâng cao năng lực xét xử của họ” cũng đúng. Đây là một sự thật nhưng nói ra có thể có nhiều thẩm phán không đồng ý. Sở dĩ vậy là vì cách hoạt động của các tòa án ở hệ thống khác ít được mình xem đến khi thiết lập; hơn nữa tòa án là một cơ quan quyền lực, nó ban phát công lý và đứng trước nó, tất cả mọi người phải khuất phục; do sức mạnh này một số thẩm phán dễ lập luận “khác biệt cơ bản về quan điểm”. Vậy đã là quan tòa thì đương nhiên có quyền và không cần phải nghe ai. Thực tế cho thấy một luận điểm đưa ra phải được phản biện thì nó mới có giá trị để được nhìn nhận. Bản án đáng lẽ cũng phải trải qua một quá trình như thế; nhưng thẩm phán có thể dùng quyền hành để không nghe quan điểm trái ngược. Tôi nhấn mạnh đến việc chỉ nghe thôi, còn chấp nhận là một bước khác.
Quyền hành mà thẩm phán có, ngăn chặn sự gia tăng về năng lực của họ; có nghĩa là nó không khuyến khích thẩm phán gia tăng năng lực. Vậy phải thiết lập một cơ chế để giảm thiểu thái độ đó, nếu nó chưa có, hay phải thúc đẩy nếu đã có rồi. Trong trường hợp của ta, tôi đề nghị công việc sau.
Thành quả công việc của một thẩm phán là các bản án họ viết ra. Năng lực của thẩm phán nằm ở đây. Một bản án không chỉ giải quyết vụ tranh chấp trước mắt mà nó còn là giải pháp cho các vụ tương tự trong tương lai tùy theo tính chất bản án là hình sự hay phi hình sự. Có sự khác biệt giữa tính chất của hai loại bản án này. Bản án hình sự có tính trừng phạt trong hiện tại và răn đe trong tương lai. Tính chất của nó là hành động. Bản án phi hình sự giải quyết nội vụ bây giờ và thiết lập một trật tự lâu dài cho xã hội. Tính chất của nó là thời gian. Sự khác nhau đó xuất phát từ số người có liên quan. Số người tham gia các hoạt động dân sự và thương mại có nhiều gấp bội so với những người vi phạm luật hình. Vì lẽ này, bản án cho một vụ phi hình sự phải phản ánh những ý kiến, những quan điểm khác nhau để từ đó thẩm phán chọn lựa giải pháp nào công minh nhất; chứ không phải dùng quyền hành để khư khư giữ quan điểm của mình. Cái gì công minh thì sẽ tồn tại lâu dài.
Trong một vụ án, những lập luận khác nhau được nguyên đơn, bị đơn, kiểm sát viên, luật sư đưa ra. Họ tranh luận bằng lời hay đối đáp với nhau bằng văn bản. Thường thường tòa và viện kiểm sát dễ đồng ý với nhau; kiểm sát viên dễ “ăn theo” tòa; như nhận xét của một vị cựu chánh án đã nêu ra gần đây. Các ý kiến có khác nhau là do luật sư nêu ra. Lập luận của mỗi bên là “chân lý” của vụ việc nhìn theo con mắt của mỗi người; giống như các cạnh của một viên kim cương. Mỗi người cố gắng thuyết phục người khác ủng hộ “chân lý” của mình. Và thẩm phán là người quyết định cuối cùng. Thẩm phán xem xét các “chân lý” đó rồi đưa ra “chân lý” của riêng mình tức là ra bản án. Nếu “chân lý” của thẩm phán rút ra từ, hay cọ sát với, những “chân lý” khác nhau thì “chân lý” của thẩm phán sẽ vững chắc. Nó được thử thách về mặt lý luận và được củng cố nhờ quyền uy của toà án, nhân danh quốc gia. Nếu “chân lý” của thẩm phán không bị cọ sát bởi các “chân lý” khác, thì ông ta cũng không tin chắc vào “chân lý” của mình. Đã tuyên đấy nhưng còn e ngại, nó đã thực sự công minh chưa. Không tin vào công việc của mình, và cũng để tránh rắc rối, thẩm phán có khuynh hướng không muốn phổ biến bản án rộng, viện cớ điều khoản về cấp trích lục bản án hiện có. Khi ấy sự quan tâm của thẩm phán không phải là sự công minh, tức là chất lượng, mà là cấp trên, tòa trên của họ.
Đến tòa cấp trên, nếu “chân lý” của thẩm phán ở đó không bị mài dũa bởi các ý kiến khác thì bản án phúc thẩm cũng sẽ như ở tòa dưới. Thẩm phán quyết định một mình. Nếu họ chấp nhận quan điểm của tòa sơ thẩm thì ấy là “con hát mẹ khen hay”; còn nếu bác thì cũng chỉ là vì tòa dưới làm không “đúng quan điểm” của mình. Tuy nhiên tòa dưới cũng không bị buộc phải theo khi xử lại. “Chân lý” đơn phương ở hai cấp như thế thì năng lực xét xử của tòa án nói chung khó tăng lên được để đáp ứng sự phát triển của xã hội. Luật lệ có thể đi sau thực tế, nhưng bản án phải đi trước và hướng dẫn thực tế.
Khi tòa án cứ duy trì tình trạng hiện nay thì sinh viên luật không có luật pháp trong thực tiễn để học hỏi; luật sư không thấy “sự công minh được trải dài” để mà góp ý kiến hoặc để khuyến cáo thân chủ tuân theo. Hiệu quả lâu dài của bản án không có; chất lượng của nó sẽ thấp mãi.
Để gia tăng cơ hội cọ sát “chân lý” của thẩm phán, phải nâng vai trò của luật sư lên. Luật sư của cả hai bên tranh chấp sẽ đưa ra những bằng chứng khác nhau, quan điểm khác nhau để bênh vực thân chủ mình; họ bày ra, thẩm phán xem xét, chấp nhận hay bác bỏ lý lẽ nào đó và cho biết tại sao trong bản án. Đó là mâm cỗ dọn sẵn cho thẩm phán tùy ý lựa chọn, thêm bớt để ra bản án. Lựa chọn của thẩm phán như thế sẽ là lựa chọn có cân nhắc và đã được thử thách. Luật sư vì được các bên tranh chấp thuê nên họ bị áp lực phải tìm tòi lý lẽ để thắng; do đó họ có động lực nâng cao chất lượng của bản án. Vấn đề chỉ là thẩm phán lắng nghe dù thấy nó trái ý mình.
Về luật sư, Bộ Tư pháp muốn nâng số luật sư cả nước lên 20.000 vào năm 2010. ý định của Bộ tôi không rõ; nhưng tôi cho rằng đấy là cách nâng trình độ của ngành tư pháp qua sự tranh luận tại tòa của luật sư. Việc này không gây tốn kém cho ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên dự định ấy, nếu có, sẽ không dễ dàng nếu thẩm phán không bị buộc phải nghe. Hơn nữa, luật sư có ba hạn chế lớn. Một là họ không thể nâng tài năng lên được nếu không có khách thuê khiến họ phải nỗ lực. Hai là, dù lập luận của họ có sắc bén mà tòa án không nghe, không chấp nhận thì cũng vô nghĩa. Ba là, vai trò của họ rất thụ động. Theo Luật luật sư, họ tham gia vào công việc tố tụng, theo sự lựa chọn của khách hàng và được cấp giấy chứng nhận cho phép tham gia.
Để thực hiện điều trên trong tình hình của luật tố tụng hiện nay, đề nghị Ông chánh án ra chỉ thị các thẩm phán, nếu chỉ thị nằm trong thẩm quyền của mình, còn không thì khuyến khích các thẩm phán, sử dụng ý kiến của luật sư nhiều hơn, hiểu rằng họ giúp mình chứ không ép buộc mình, nghe họ để so sánh, để mài dũa “chân lý” của mình cho nó chắc chắn và sáng chói. Gần đây tòa phúc thẩm có trả lại những vụ án không có luật sư tham dự khi mà luật đòi hỏi. Việc này rất đáng ca ngợi. Nhưng đó là tòa “khiển trách” cơ quan điều tra, còn về phần mình thì sao? Tòa có sẵn sàng nghe ý kiến của luật sư và có cho các vị thẩm phán ký tên trong bản án không? Điều này không phải vì lợi ích của luật sư mà là cho sự công minh của bản án.

B. Lập ra cơ chế để giảm bớt công việc cho tòa án
Hiện nay, khi muốn tăng cường tính hữu hiệu của tòa án thì cách làm, trong khuôn khổ cải cách tư pháp, là gia tăng số thẩm phán, giao bớt việc về cho các tòa quận/huyện để giải quyết các vụ khiếu kiện của dân chúng. Tôi xin dùng hình ảnh này để cho dễ hiểu. Khiếu kiện, khởi tố của dân chúng ra tòa giống như một dòng nước lớn ùa tới. Để giải quyết, người ta có hai cách làm: một là đào thêm hồ, thêm ao để chứa nước; hai là không đào hồ mà đặt ra các vật cản dòng nước lại. Cải cách tư pháp ở ta làm theo cách đầu. Nó sẽ không hiệu nghiệm vì chỉ làm cho dòng nước kia lớn tràn đến mạnh hơn mà thôi, vì dòng nước là tâm lý của những người “khôn ngoan” mà nó lôi cuốn theo nhiều người khác làm vì thấy lợi. Hồ đào sẽ không kịp. ở các nước khác vì quan niệm tòa ban phát công lý nên họ làm theo cách thứ hai. Và về mặt tâm lý khi bị cản trở người ta sẽ ngại đi đòi, hay phải suy tính kỹ trước khi đòi. Họ đặt ra các “đê chặn” để cản bớt việc kiện cáo và khuyến khích giải quyết tranh chấp bên ngoài tòa án, qua các ủy ban trọng tài, hiệp hội chuyên ngành… Khi tòa xử ít đi thì sẽ trở nên công minh và hữu hiệu; còn cứ tìm cách giải quyết hết như ta hiện nay thì công việc sẽ luôn luôn ối đọng và trước áp lực đó thì sẽ xử sai, xử sót.


Các luật sư tham gia một phiên tòa ở TP. HCM
Ảnh: Lê Toàn

Ở Mỹ tòa án không cho đương đơn trực tiếp trình bày trước tòa mà buộc phải sử dụng luật sư. Thủ tục giải quyết các vụ dân sự ở Mỹ được trao cho luật sư hai bên. Họ nghe lý lẽ khiếu kiện của thân chủ mình, rồi hai người xem xét để bàn với nhau các vấn đề nào có thể tự giải quyết được; đem ra thuyết phục thân chủ; chỉ những vấn đề hai luật sư không giải quyết được theo yêu cầu của thân chủ họ mới đem ra tòa để xin xử. Tòa chỉ xử một hai vấn đề quan trọng sau khi hai bên đã chọn lọc chứ không phải nguyên đơn muốn gì tòa cũng xử. Ngoài ra, trong hệ thống thông luật, người ta coi công dân đến tòa là nhờ vả tòa và tòa có quyền đặt ra các điều kiện để mình thụ lý. ở bên Pháp tòa để cho hai bên cứ lời qua tiếng lại bằng lý đoán; khi nào hết lẽ thì xin tòa xử. Bằng cách làm này họ đẩy trách nhiệm cho công dân. “Các anh phải tự xử với nhau, cuối cùng tòa mới can dự”. Tòa có thái độ như thế nên các bên tranh chấp suy nghĩ kỹ càng trước khi định đưa ra tòa; còn không thì nghe luật sư hay nhờ một cơ quan trọng tài.
Người Mỹ không ngại tranh chấp, thích kiện cáo, mà tòa “sử dụng quyền” theo kiểu kia nên đội ngũ luật sư đông! Luật sư đông chứ không phải thẩm phán đông. Luật sư chính là “đê chặn”. Luật sư giảng giải cho khách hàng để làm giảm sự thiếu chính đáng, không phù hợp luật pháp trong các đòi hỏi của khách. Vì vậy, việc đến tòa án ít. Tòa xử vụ nào ra vụ ấy, không sợ mất thời gian như ở ta như trong vụ PMU 18 vừa rồi. Một vụ xét xử công minh sẽ tạo nên nề nếp trong xã hội. Nó đưa hoạt động của xã hội vào một trật tự mà mọi người mong đợi và đáp ứng, tranh chấp ít xẩy ra, nếu có thì luật sư giải quyết.
Ngoài việc sử dụng lực lượng luật sư, cơ chế của họ còn khuyến khích sự dàn xếp bên ngoài tòa qua các “giải pháp thay thế để giải quyết tranh chấp” (alternative dispute resolution – ADR). Việc này do các tổ chức trọng tài, các hiệp hội đứng ra làm. Tòa án chỉ xem lại nếu thủ tục làm sai và có bên xin phúc thẩm.
Bên ta, thì ngược lại. Tòa ôm hết. Chẳng bao lâu nữa các tòa quận cũng sẽ bị quá tải. Đang khi ấy lại vẫn có ý kiến trên báo chí cho rằng quy định về chứng cứ ban đầu trong luật tố tụng dân sự cần phải bỏ, vì nó chỉ làm khó người khởi kiện! Lý do nêu lên là quyền khởi kiện là quyền của công dân, được pháp luật bảo vệ. Hoặc có ý kiến khác cho rằng khi luật cho phép trong những trường hợp nhất định đương sự có quyền yêu cầu tòa thu thập giúp chứng cứ giải quyết vụ kiện; như vậy tại sao lại bắt đương sự đưa ra chứng cứ ban đầu để tước đi quyền khởi kiện của họ? Thậm chí lại có ý kiến bảo bỏ thời hiệu. Những ý kiến này có thiện ý, nhưng không thực tế, không hiểu sức tòa… có hạn.
Một điểm nhận xét nữa là dường như tòa án ta nghĩ rằng mình sẽ có quyền lực nhiều nếu xử nhiều, vì nhiều người cần đến mình. Ai thưa cũng xử; nơi khác mà xử thì sẽ dùng quyền của mình để loại họ ra.
Thực ra tòa sẽ có quyền uy, thẩm phán sẽ có uy tín, nếu bản án tòa tuyên công minh. Muốn công minh thì chỉ xử ít. Khi xử ít thì sẽ mất giờ tức là không bị áp lực về thời gian. Nhìn vào một phiên tòa người ta cần thấy công lý được thực hiện, sự công minh được trải dài; chứ không cần biết tòa xử bao nhiêu vụ trong một năm như thường được báo cáo trong các phiên họp của Quốc hội. Muốn xử ít thì phải có cơ chế để làm như các nước phát triển. Họ cũng đã trải qua như chúng ta hiện nay và họ đã giải quyết được.
Thủ tục tố tụng dân sự của chúng ta không du nhập những nguyên tắc đã có từ thời La mã để ngăn chặn lòng tham và sự không công bằng với chính mình của con người. Khi thiết lập chế độ, chúng ta mong muốn là sẽ lo hết mọi thứ cho dân vì nghĩ rằng sẽ công hữu hóa được tư liệu sản xuất. Điều đó đã không thực hiện được. Hệ quả của hoài bão đó là người dân cảm thấy mình có quyền đòi theo tâm lý “nhờ ơn nọ ơn kia”. Chúng ta không có quan niệm là luật pháp chỉ bảo vệ và có thể bảo vệ cái mà một người đã mong đợi khi bắt đầu giao dịch, chứ không thể bảo vệ lòng tham của họ. Các định chế tài chính đang tồn tại như thị trường hàng hóa giao sau, quyền lựa chọn, chứng quyền, các quỹ hắt rủi ro (hedge fund) đều hoạt động trên căn bản này. Không ai có thể bảo vệ lòng tham của người khác vì nó vô giới hạn. Khi chúng ta ước mong lo hết mọi thứ cho dân để chứng tỏ mình hơn hẳn, chúng ta đã vô tình bảo vệ “sự khôn ngoan hay nhất định không chịu thua” của một số không ít người trong dân chúng. Nền kinh tế đã thay đổi, nhưng số người đó vẫn giữ tâm lý kia vì có lợi. Trong hoàn cảnh như thế tòa án phải thay đổi tư duy để đổi cách làm.
Hiện nay bên phía luật tố cáo và khiếu nại đang có thay đổi theo hướng mới. Luật sư được cho phép làm đại diện hay tháp tùng người khiếu nại để cho thỉnh cầu của người khiếu nại với cơ quan xử lý được giải quyết dễ dàng. Hai người hiểu biết nói chuyện với nhau rất dễ giải quyết. Giải quyết công việc với người cãi chầy cãi cối mệt lắm.
Việc lọc bớt vụ việc chuyển đến tòa chưa thể làm ngay được vì còn luật pháp hiện hành; nhưng cần được quan tâm khi luật về tổ chức tòa án được soạn thảo; hoặc ít ra phải có sự thay đổi về tư duy vốn không bị luật pháp cản trở.
C. Tạo phương tiện cho thẩm phán ra phán quyết nhất quán trong các vụ dân sự có tình tiết giống nhau
Hiện nay, các thẩm phán xét xử theo luật pháp mà luật pháp thì có nhiều cách giải thích, khi rộng, khi hẹp tùy người; cho nên, trong các vụ có cùng tình tiết, án tuyên ở các tòa các nơi khác nhau; thậm chí trong cùng một vụ, quan điểm của tòa phúc thẩm không được tòa sơ thẩm xử lại tuân theo. Lý do là vì luật tố tụng của ta không qui định giá trị bằng chứng, phân định tòa dưới xử gì, tòa trên xử gì. Khi luật tố tụng chủ trương công lý tối đa thì việc xét xử trở thành không có điểm dừng.
Sự không nhất quán trong các biện pháp đưa ra cho các vụ phi hình sự có cùng tình tiết làm cho dân chúng bất an. Người nhát thì không dám làm vì không biết tòa sẽ xử ra sao nếu có tranh chấp sau này; kẻ bạo thì cứ làm bừa với hy vọng tòa sẽ xử khác. Khi dân chúng có thái độ khác nhau về uy lực của luật pháp thì họ sẽ khó cam kết gì với nhau vì sợ rằng nếu trục trặc xảy ra thì không biết hậu quả thế nào. Người tốt lại hay có tâm lý này. Tòa án hoạt động như thế thì, về mặt tâm lý, nó không tạo trong lòng người dân một sự ổn định và tiên đoán được.
Trong các vụ hình sự, khi ra hình phạt khác nhau cho các vi phạm giống nhau thì không quan trọng lắm vì chúng bị chi phối bởi sự khác biệt trong yếu tố chủ quan và chủ thể của các đương sự trong mỗi vụ. Hơn nữa, đối với những người xấu trong xã hội, vốn không nhiều, thì phải làm cho họ sợ bằng cách không cho biết nếu vi phạm họ sẽ bị trừng phạt như thế nào; có khi vì không biết nên họ không dám phạm. Trái lại, những bản án của các vụ phi hình sự tác động đến nhiều người ngay, và số này lại chiếm đa số trong xã hội; họ đòi hỏi luật pháp phải ổn định và tiên đoán được để còn tính chuyện lâu dài cho cuộc đời.
Bàn về sự nhất quán của các vụ án có cùng tình tiết thì ở các nước phát triển họ có một cơ chế giúp thực hiện: án lệ và chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm thẩm phán; khiến cho thẩm phán không bị ảnh hưởng bởi các áp lực trực tiếp trong mỗi vụ mà mình xét xử.
ở Mỹ, các thẩm phán, khi xem xét một vụ án để đưa ra quyết định, họ bị chi phối bởi hai yếu tố phụ (sub-culture) nằm trong văn hóa pháp lý (legal culture): (i) tư duy pháp lý (hay cách suy nghĩ theo kiểu của pháp lý – legal reasoning) và (ii) văn hóa của nền dân chủ. Trong yếu tố đầu họ suy luận bằng cách dùng các gương người xưa. Đó là một quá trình có ba bước của học thuyết về tiền lệ: tìm sự tương đồng giữa các vụ án – nêu lên quy tắc luật pháp nằm ẩn trong các vụ án trước – quy tắc luật pháp áp dụng cho vụ án đang xử lý. Tư duy này được duy trì trong cộng đồng luật pháp gồm tòa án, các trường luật, các đoàn luật sư và các hội luật gia. Mảng thứ hai là các yêu cầu chính trị. Họ cân bằng hai thứ này trong quyết định của mình.
Tôi nêu lên điểm trên để nói rằng, để đạt được sự nhất quán, trong các quyết định đưa ra trong các vụ án khác nhau mà có cùng tình tiết, thì nó sẽ đòi hỏi thẩm phán phải được hỗ trợ theo một định chế. ở ta không có định chế này. Tiền lệ thì có, nhưng không bị bắt buộc phải theo, cho nên không có đơn vị nào trong tòa án đứng ra duy trì. Năm 2004, với sự giúp đỡ của cơ quan STAR có hai quyển sách về các vụ án giám đốc thẩm được Tòa tối cao xuất bản, hai năm vừa rồi không còn nữa. Khi không dùng án lệ và tập tục, thì nó có cái lợi trong ngắn hạn là giới cầm quyền có thể ra lệnh cho mỗi vụ án phải xử như thế nào (chẳng hạn vụ ở Đồ Sơn), nhưng nó gây ra thiệt hại lâu dài về mặt tâm lý là người dân không biết phải ứng xử như thế nào trong những trường hợp nhất định; và xã hội có tiềm ẩn một sự bất an về mặt pháp lý.
Những điều tôi đề nghị trên các nước khác họ đã giải quyết xong từ lâu rồi. Ta cần biết về chúng để từ từ du nhập vào hệ thống của mình.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

VAI TRÒ LẬP PHÁP CỦA CHÍNH PHỦ?

TS. NGUYỄN SỸ DŨNG

Ở nước ta, trên dưới 95% các văn bản pháp luật là do Chính phủ soạn thảo và trình Quốc hội thông qua. Ở nhiều nước trên thế giới tỷ lệ này còn cao hơn nữa- thường lên đến 97-98%. Như vậy, nghịch lý lớn nhất của chuyện làm luật là cơ quan có quyền lập pháp (Quốc hội trong trường hợp của nước ta) chưa chắc đã là cơ quan làm luật nhiều nhất. Nhưng chính đó lại phản ánh bản chất và động lực của hoạt động sáng tạo pháp luật trong cuộc sống.

Trước hết, phần lớn các nước trên thế giới hiện nay đều được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền (và nước ta cũng vậy). Mà một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là: người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm, còn các quan chức nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép. Từ nguyên tắc này, trong mọi hành xử, các cơ quan của Chính phủ đều bắt buộc phải chỉ ra được cơ sở pháp lý cho hành động của mình. Chúng ta vẫn thường nghe thấy các quan chức ở cả trung ương lẫn ở địa phương bày tỏ sự bất lực trước các hành vi gây ô nhiễm môi trường, làm tổn hại đến sức khỏe của cộng đồng và trật tự công cộng… vì họ không có đủ chế tài. Điều này không hẳn chỉ phản ánh sự yếu kém của các quan chức, mà còn phản ánh sự thiếu hụt các công cụ pháp lý.  Như vậy, động lực tự nhiên của hành pháp là muốn có công cụ pháp lý, muốn được pháp luật trao quyền. Đây cũng là động lực của việc hành pháp luôn luôn tận dụng quyền sáng kiến pháp luật để có thêm công cụ cho hoạt động quản lý của mình.

————————————————————————-

Động lực tự nhiên của hành pháp là muốn có công cụ pháp lý, muốn được pháp luật trao quyền. Đây cũng là động lực của việc hành pháp luôn luôn tận dụng quyền sáng kiến pháp luật để có thêm công cụ cho hoạt động quản lý của mình.

—————————————————————

Ngoài ra, Chính phủ thường chủ động soạn thảo và đệ trình các dự luật còn vì một lý do hoàn toàn mang tính kỹ thuật. Chính phủ, bao gồm cả các bộ, là những cơ quan điều hành công việc hàng ngày của đất nước. Do vậy, các cơ quan này thường phát hiện ra các vấn đề của cuộc sống trước tiên. Rất nhiều vấn đề của cuộc sống lại do những hành vi có vấn đề của con người gây ra. Trong những trường hợp như vậy, không uốn nắn được (không điều chỉnh được) những hành vi có vấn đề của các đối tượng có liên quan, không thể giải quyết được các vấn đề của cuộc sống. (Ví dụ, không uốn nắn được những hành vi vi phạm luật lệ giao thông, không thể giải quyết được vấn đề tai nạn giao thông). Mà để điều chỉnh hành vi của con người, thì trong nhiều trường hợp, thiếu các công cụ pháp lý là không thể thực hiện được. Như vậy, nhiều khi để giải quyết các vấn đề của cuộc sống, Chính phủ cần phải có luật (Tất nhiên, là thứ luật mà Chính phủ cần, chứ không phải là bất kỳ thứ luật nào mà Quốc hội cho).
Việc soạn thảo văn bản pháp luật thường do các cơ quan của Chính phủ đảm nhận còn có nguyên nhân liên quan đến đòi hỏi về chuyên môn. Rất nhiều vấn đề của cuộc sống hiện đại (ví dụ như thị trường chứng khoán, hoạt động tài chính-ngân hàng, thương mại điện tử v.v.) là những vấn đề kỹ thuật chuyên sâu. Chính phủ mới có đủ lực lượng chuyên gia để hiểu và thiết kế được những thiết chế vận hành trên thực tế. Quốc hội sẽ không bao giờ có đủ một lực lượng chuyên gia như vậy cả.
Hiện nay, nhiều người cho rằng Quốc hội là cơ quan có quyền lập pháp, thì Quốc hội phải chủ động vươn lên đảm nhận toàn bộ các công việc liên quan đến chuyện làm luật, đặc biệt là khâu soạn thảo văn bản. Nếu không, việc giao quyền soạn thảo văn bản pháp luật cho các bộ sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan này cài cắm các quyền năng của mình vào luật. Mà như vậy, thì càng nhiều luật, càng khổ cho dân. Loại ý kiến này không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, bản chất sâu xa của vấn đề lại nằm ở chỗ khác. 

———————————————————————-

Động lực của quy trình lập pháp cụ thể như sau: Chính phủ có động lực trình các dự luật; Quốc hội có động lực thẩm định các dự luật. Chính phủ và Quốc hội chỉ là hai phần cấu thành của một nền quản trị quốc gia thống nhất. Mỗi cơ quan đều có vai trò quan trọng như nhau trong quá trình lập pháp.

———————————————————————-

Trước hết, các vị đại biểu Quốc hội là những người đại diện cho dân. Người dân thì ai cũng muốn có quyền tự do nhiều hơn là bị điều chỉnh (mặc dù trong nhiều trường hợp một sự điều chỉnh là rất cần thiết). Mà như vậy, thì quả thực các vị đại diện cho dân không chắc đã có động lực để làm luật. (Động lực của các vị đại biểu chỉ có trong những sáng kiến lập pháp nhằm hạn chế quyền can thiệp của các quan chức hành chính vào cuộc sống của người dân). Để dễ cảm nhận hơn, xin lấy dự Luật thuế thu nhập cá nhân để làm ví dụ. Đây là một dự luật rất cần thiết để bảo đảm nguồn thu cho ngân sách trong điều kiện của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Chính phủ chắc chắn có động lực to lớn trong việc ban hành một đạo luật như vậy. Tuy nhiên, bất cứ một đại biểu Quốc hội nào quá hăng hái trong việc thu tiền của dân thì sẽ rất dễ bị mất phiếu trong đợt bầu cử tới. Rõ ràng, động lực của các vị đại biểu là phản đối dự luật thuế, chứ không phải là đấu tranh để ban hành nó. (Mặc dù, về mặt lý thuyết, đại biểu Quốc hội được coi là nhận ủy quyền của dân theo nguyên tắc tín thác. Nghĩa là, các vị đại biểu được quyền tự lựa chọn phương án mà theo họ là có lợi nhất cho nước, cho dân. Tuy nhiên, động lực thì vẫn là tránh làm những việc mà vì chúng các vị dân biểu có thể bị mất phiếu của cử tri).
Việc các bộ, ngành tìm cách cài cắm quyền năng của mình vào trong luật, có thể, đúng là một vấn đề. Thế nhưng, tại sao Quốc hội lại không thể thẩm định các dự luật để loại bỏ điều đó đi? Làm việc này chắc chắn sẽ dễ hơn việc soạn thảo một dự luật ngay từ đầu rất nhiều. Dù sao, việc thẩm định dự luật để loại bỏ sự lạm quyền thì vẫn dễ hơn là việc soạn thảo cả dự luật. Đó là chưa nói tới tình trạng, các chuyên gia soạn thảo của Quốc hội rồi cũng sẽ phải liên hệ với các bộ hữu quan của Chính phủ để được hỗ trợ trong việc soạn thảo văn bản. Trong trường hợp này, các quyền năng vẫn có thể được cài vào văn bản. Tuy nhiên, rủi ro cho dân thì sẽ lớn hơn, bởi vì Quốc hội đã soạn thảo thì không còn có một cơ quan nào khác có đủ động lực và có đủ thẩm quyền để giám sát về khả năng lạm quyền.
Trong thực tế, đã có hai dự luật được các cơ quan của Quốc hội soạn thảo. Đó là dự Luật giao dịch điện tử và dự Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Đây là những cố gắng rất đáng hoan nghênh của các Ủy ban hữu quan của Quốc hội. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng phần lớn đội ngũ chuyên gia tham gia vào việc soạn thảo những văn bản nói trên thì đều là người của Chính phủ. Sau khi các cơ quan này soạn thảo xong văn bản thì một vấn đề pháp lý đặt ra là ai sẽ phải thẩm tra các văn bản đó? Về mặt nguyên tắc, nếu Chính phủ soạn thảo Quốc hội thẩm tra, thì Quốc hội soạn thảo Chính phủ phải thẩm tra. Ít nhất, Chính phủ cũng cần thẩm tra xem về mặt kỹ thuật những chính sách được đề ra trong dự luật có thể triển khai được trong cuộc sống hay không? Vì trong trường hợp cụ thể như trên, cơ quan hoạch định và đề ra chính sách là Quốc hội chứ không phải là Chính phủ. Ở đây hình thành nên một quy trình ngược. Vì quy trình thuận thì phải như sau: Chính phủ đều ra chính sách, soạn thảo thành dự luật trình Quốc hội phê chuẩn và thông qua, sau đó Chính phủ triển khai chính sách đã được thông qua vào cuộc sống. Quốc hội giám sát xem Chính phủ có thực hiện đúng những gì đã được Quốc hội thông qua hay không.
Đối với hai trường hợp cụ thể nói trên, các cơ quan thẩm tra lại là các Ủy ban khác của Quốc hội. Hình thành lên chuyện Quốc hội thẩm định Quốc hội. Việc này chẳng bị luật nào cấm. Tuy nhiên, động lực của việc thẩm định sẽ không dễ được bảo đảm.
Tóm lại, Trái đất quay xung quanh Mặt trời là vì lực hấp dẫn. Đó là động lực tự nhiên của đất trời. Việc sáng tạo pháp luật cũng phải có động lực của nó. Động lực của quy trình lập pháp cụ thể như sau: Chính phủ có động lực trình các dự luật; Quốc hội có động lực thẩm định các dự luật. Chính phủ và Quốc hội chỉ là hai phần cấu thành của một nền quản trị quốc gia thống nhất. Mỗi cơ quan đều có vai trò quan trọng như nhau trong quá trình lập pháp.
———
SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

TÒA ÁN PHẢI ĐỘC LẬP XÉT XỬ

LƯU TIẾN DŨNGLuật sư Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, hiện đang công tác tại Văn phòng Luật sư YKVN của Việt Nam.

Trong buổi làm việc với Tòa án nhân dân tối cao gần đây, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã yêu cầu Tòa án phải độc lập khi xét xử và khẳng định các cơ quan, cũng như những nhà lãnh đạo cấp cao không can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án.
Vấn đề đặt ra là, cần phải làm những gì để cam kết chính trị đó của Chủ tịch nước trở thành hiện thực trong công cuộc xây dựng Nhà nước Pháp quyền.

Một nhà nước pháp quyền theo đúng nghĩa của nó không thể thiếu được một nền tư pháp độc lập bởi lẽ tính tối thượng của pháp luật chỉ có thể được thực hiện khi có các vị quan tòa áp dụng pháp luật một cách độc lập. Độc lập xét xử cùng có ý nghĩa rất quan trọng để bảo đảm một môi trường đầu tư và kinh doanh lành mạnh vì khi đó các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ yên tâm rằng những tranh chấp đầu tư và hợp đồng kinh doanh của họ sẽ được bảo vệ bởi một cơ chế phán xét độc lập, vô tư và khách quan. Các quyền cơ bản của mỗi con người trong xã hội cũng sẽ được bảo đảm khi những người cầm cân nảy mực thực sự độc lập xét xử những hành vi vi phạm các quyền đó. Độc lập xét xử cũng là điều rất quan trọng để bảo đảm sự thành công của việc phòng và chống tham nhũng bởi lẽ những kẻ tham nhũng sẽ không có cơ hội được bao che bởi sự can thiệp hoặc tác động vào quá trình xét xử của Tòa án.
Thông điệp của vị lãnh đạo cao cấp nhất của đất nước chắc chắn sẽ gợi mở những suy nghĩ nghiêm túc: làm thế nào để bảo đảm sự độc lập xét xử trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay. Những bước đi mạnh mẽ trong việc cải thiện khuôn khổ pháp lý và cơ chế liên quan đến độc lập xét xử là điều quan trọng để bảo đảm thực thi nguyên tắc hiến định và cam kết chính trị này.
Trước hết, để bảo đảm độc lập xét xử thì cần phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo đảm cho sự độc lập của ngành tòa án. Hay nói cách khác, sẽ khó có thể tránh khỏi sự can thiệp từ các thiết chế quyền lực ngoài ngành Tòa án nếu như họ có quyền ảnh hưởng lớn đến việc quyết định ngân sách và cung cấp các cơ sở vật chất duy trì hoạt động của Tòa án. Mặt khác, nếu việc phân bổ ngân sách cho Tòa án cấp dưới còn lệ thuộc vào Tòa án cấp trên như hiện nay cũng khó có thể bảo đảm sự độc lập của Tòa án cấp dưới với Tòa án cấp trên. Nhiều nước trên thế giới đã quy định một tỷ lệ phần trăm nhất định của ngân sách quốc gia, địa phương đương nhiên phải “cắt” cho hoạt động của Tòa án để bảo đảm rằng Tòa án không phải phụ thuộc vào các cơ quan bên ngoài cũng như của Tòa án cấp trên.
Điều quan trọng hơn cả là phải có được một cơ chế để bảo đảm sự độc lập của từng cá nhân thẩm phán trước sự tác động trong nội bộ cũng như ngoài cơ quan tòa án. Phải thừa nhận rằng hiện nay chúng ta vẫn coi Tòa án như một cơ quan hành chính và người thẩm phán như là một công chức trong hệ thống hành chính. Phải thay đổi nhận thức theo hướng thừa nhận vị trí đặc biệt của Tòa án và của người thẩm phán. Từ đó mới có thể thay đổi được một loạt các yếu tố bảo đảm sự độc lập của cá nhân thẩm phán, ví dụ: quan niệm về mối quan hệ “trên – dưới” giữa lãnh đạo Tòa và người thẩm phán, giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên và giữa những người thẩm phán đồng nghiệp cũng như việc áp dụng chế độ đãi ngộ lương và các điều kiện vật chất khác đối với Thẩm phán…
Với cơ chế hiện nay, người thẩm phán khó có thể có đủ bản lĩnh để độc lập. Lãnh đạo Tòa án vẫn được coi là thủ trưởng của họ trong khá nhiều mối quan hệ ‘ngoài tố tụng”. Vẫn còn phổ biến việc áp dụng những quy tắc “bất thành văn” như báo cáo án, thỉnh thị án, duyệt án… cho dù việc đó được “núp” sau sự biện hộ chỉ là sự “tham khảo” về chuyên môn nhưng người thẩm phán khó mà không tuân thủ vì “số phận” của họ phụ thuộc khá nhiều vào những người cho ý kiến đó. Đó là chưa nói đến việc nếu vị Chánh án của Tòa không vô tư và khách quan? Ngay việc phân công xét xử cũng do lãnh đạo Tòa quyết định cũng là một việc cần xem xét lại khi đại đa số các nền tư pháp khác áp dụng chế độ phân công án một cách ngẫu nhiên để tránh những “những đường dây chạy án.”
Cơ chế bổ nhiệm và nhiệm kỳ thẩm phán hiện nay cũng cần phải suy nghĩ một cách nghiêm túc. Quy trình tuyển chọn và bổ nhiệm, tái nhiệm của thẩm phán hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào lãnh đạo của Tòa án nơi thư ký, thẩm tra viên và người thẩm phán công tác và của Tòa án cấp trên. Việc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao bổ nhiệm toàn bộ thẩm phán địa phương cũng nên cân nhắc lại. Ý kiến cho rằng việc bổ nhiệm thẩm phán địa phương bởi Chủ tịch Nước theo quy định trước đây mang tính “hình thức” nên được nhìn nhận lại từ khía cạnh bảo đảm độc lập của cá nhân người thẩm phán, đó là chưa nói đến việc người thẩm phán nhân danh đất nước khi ra phán quyết. Không phải không có lý khi nhiều quốc gia quy định việc bổ nhiệm thẩm phán phải được thông qua bởi cơ quan dân cử, đại diện cho ý chí của dân. Nhiệm kỳ thẩm phán cũng không nằm ngoài những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm độc lập xét xử. Rõ ràng rằng cứ năm năm một lần lo tái bổ nhiệm sẽ khó có thể làm an lòng người thẩm phán. Liệu họ có đủ bản lĩnh trước những ý kiến dù rất tế nhị của lãnh đạo, của những người có quyền tái bổ nhiệm họ?
Không kém phần quan trọng là chế độ đãi ngộ vật chất đối với thẩm phán. Với điều kiện đất nước còn chưa giàu, dù khó có thể có thể so sánh như Singapore với mức lương thẩm phán vài trăm ngàn USD một tháng nhưng với mức lương vài triệu đồng hiện nay của các vị thẩm phán nước nhà thì đó không chỉ còn là sự ưu tư của riêng họ nữa. Xã hội cần đầu tư cho họ bởi lẽ đó là sự đầu tư công khai và minh bạch cho việc duy trì nền công lý thay vì những “đầu tư ngầm” bởi đương sự cho một số cá nhân thẩm phán hiện nay.
Tuy nhiên, sẽ là chưa đủ nếu không nói đến những cơ chế giám sát hữu hiệu vừa bảo đảm độc lập xét xử vừa tăng cường tính chịu trách nhiệm của người thẩm phán, bao gồm cả những quy định về kỷ luật, bãi nhiệm thẩm phán khi họ lạm dụng quyền lực của mình. Quá nhiều “trách nhiệm” sẽ có thể ảnh hưởng đến sự độc lập của người thẩm phán. Việc quy định trách nhiệm bồi hoàn về vật chất của thẩm phán khi xét xử oan sai cho dù nhằm tăng cường trách nhiệm của thẩm phán, nhưng điều đó hoàn toàn có khả năng dẫn đến việc người thẩm phán sẽ ‘san sẻ’ trách nhiệm với tập thể thông qua việc duyệt án, thỉnh thị án, hoặc việc Tòa án cấp trên ngại ngần khi cải sửa án của Tòa án cấp dưới. Bất kỳ việc tạo nên sự “lo ngại” không cần thiết của Tòa án cấp dưới, của Thẩm phán, kể cả việc lo ngại về “thành tích” cũng đều có thể ảnh hưởng đến sự độc lập của thẩm phán. Thiết nghĩ, những sự quan ngại về trách nhiệm của Thẩm phán sẽ bớt đi khi chúng ta có một cơ chế nâng được vị thế, hình ảnh và sự thừa nhận của người thẩm phán, kể cả những yếu tố vật chất, bởi lẽ khi đó người thẩm phán sẽ phải cân nhắc rất thận trọng trước khi đánh đổi những gì mình đang có vì những lợi ích trước mắt.
Như vậy, với thông điệp mạnh mẽ và rõ ràng của vị Chủ tịch nước và cũng là Trưởng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp thì vấn đề còn lại là việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện những bước đi chiến lược, tổng thể, quyết liệt và mạnh mẽ để bảo đảm nguyên tắc hiến định về độc lập xét xử. Con đường còn dài, nhưng có lẽ nên bắt đầu từ việc nghiêm túc nhìn nhận lại vấn đề ta đang ở đâu trong việc tôn trọng nguyên tắc này, những rào cản hữu hình hay vô hình nào, nếu có, đang cản trở con đường đi tìm công lý một cách độc lập?
———–
TẠP CHÍ TIA SÁNG

NHÀ CHỨC TRÁCH CŨNG CẦN XỬ SỰ THEO CHUẨN MỰC CHUNG

NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Cuối cùng, dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm đã bước vào thời kỳ bị dập tắt… về mặt pháp lý, nghĩa là do hiệu lực của một tuyên bố hết dịch của nhà chức trách.

Cho đến bây giờ, người ta vẫn chưa làm rõ được nguồn gốc đích thực của dịch, dù lúc đầu, các nguồn tin chính thức (xuất xứ từ nhà chức trách y tế) đã khẳng định rằng mắm tôm là thủ phạm. Cũng do quy kết lúc ban đầu đó mà mắm tôm đã bị cấm sản xuất, cũng như bị một bộ phận lớn của xã hội tẩy chay, ít nhất là trong một giai đoạn, và, tất nhiên, các nhà sản xuất, nói chung, những người sinh sống bằng công việc tạo ra thứ mắm đó,  phải lãnh trọn hậu quả thiệt hại vật chất trực tiếp. Sự đối xử tệ hại và những mất mát ấy phải bị coi là không công bằng, trong điều kiện người chịu mất mát và món nước chấm ấy, cũng được ví như một con người, đều chưa bị tuyên bố có lỗi trên cơ sở những bằng chứng có căn cứ khoa học và thuyết phục.
Vấn đề là nhà chức trách luôn giữ thái độ của một người không có trách nhiệm gì đối với những chuyện này. Bộ trưởng Y tế, khi trả lời chất vấn trong kỳ họp vừa qua của Quốc hội, đã lên tiếng yêu cầu người dân nên thông cảm với Nhà nước mà tạm ngưng sản xuất, tiêu dùng chất nước chấm bị nghi là “có tội” đó, cho đến khi hết dịch. Ông Bộ trưởng hoàn toàn không đả động đến vấn đề liệu trong thời gian tạm nghỉ theo khuyến cáo, những người tham gia sản xuất, đặc biệt là các công nhân làm thuê và gia đình họ, làm gì khác để sống; ông cũng không hề nhắc đến chuyện bù đắp thiệt hại cho những người này, trong trường hợp theo kết luận cuối cùng, sản phẩm họ làm ra không phải là tác nhân gây dịch.     
Ứng xử của các đại diện quyền lực công hoàn toàn trái với các nguyên tắc cơ bản được thiết lập trong tất cả các hệ thống chuẩn mực pháp lý của xã hội có tổ chức. Đáng lý ra, nếu  gây thiệt hại cho một người khác mà không phải để bảo vệ một lợi ích chính đáng nào đó và người bị thiệt hại không có lỗi, thì người gây thiệt hại phải bồi thường. Quy tắc này được áp dụng mà không phân biệt người gây thiệt hại là nhà chức trách hay thường dân.   
Tất nhiên, trong trường hợp nghi vấn về khả năng gây tác hại của một thứ gì đó, nhà chức trách có quyền tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm kiểm soát, hạn chế, thậm chí đình chỉ sự vận hành của nó, để ngăn chặn tác hại. Thế nhưng, một khi mọi chuyện đã rõ ràng, thì việc giải quyết hậu quả thiệt hại, do biện pháp ngăn chặn gây ra, phải được thực hiện một cách sòng phẳng, theo luật chung về trách nhiệm dân sự.  
Đây không phải là lần đầu tiên, nhà chức trách lẫn tránh trách nhiệm đối với dân. Trong một câu chuyện khác, xảy ra cách nay không lâu, một người bị chó cắn được tiêm vaccine phòng dại, sau đó bị tai biến liệt não; loại vaccine gây tai họa ấy được Bộ Y tế cho phép sản xuất và lưu hành trong nước ở thời điểm đó, dù, đã từ lâu, có khuyến cáo ngưng sử dụng của Tổ chức Y tế Thế giới. Nạn nhân đã gần như bị bỏ mặc, cùng với gia đình, trong cuộc vật lộn với cái chết. Phải đợi đến khi họ khởi kiện trước tòa án và báo chí lên tiếng, một vài cơ quan (được chỉ định) mới thực hiện các giao tiếp ngoại tư pháp để khắc phục hậu quả. Tuyệt đối, không một lời xin lỗi chính thức nào được đưa ra.
Đáng chú ý là những người có thẩm quyền đều có nhận thức rất tốt về sự cần thiết của việc quy trách nhiệm đối với các hành vi quảng bá, cho lưu hành những thông tin không đúng sự thật hoặc đề ra những quyết định sai lầm, mà dẫn đến hậu quả thiệt hại vật chất cho xã hội. Bằng chứng là trong vụ một số tờ báo đưa thông tin sai lệch về tác dụng của bưởi đối với sức khoẻ con người, các cơ quan chức năng đã vào cuộc rất nhanh chóng, xác định chủ thể của trách nhiệm, mức độ sai phạm, đánh giá hậu quả thiệt hại và, sau đó, đã đưa ra các quyết định chế tài nghiêm khắc.  
Tích cực, mẫn cán trong việc quy trách nhiệm cho người dân về hành vi sai trái, nhưng lại không biết hoặc không muốn quy trách nhiệm cho mình, nhà chức trách có thiên hướng tự xây dựng thành một siêu chủ thể đứng trên các khuôn mẫu ứng xử.    
Cần nhấn mạnh rằng nguyên tắc bình đẳng giữa mọi chủ thể trong xã hội có tổ chức đòi hỏi Nhà nước cũng được đặt dưới sự chi phối của hệ thống chuẩn mực khách quan, như bất kỳ chủ thể nào khác, trong giao tiếp nhân văn. Được nhân cách hóa, Nhà nước-chủ thể, cũng như một con người, có thể được xã hội giám sát, đánh giá về mặt đạo đức, hạnh kiểm và được uốn nắn khi cần thiết, để cư xử đúng mực. Ở góc độ  pháp lý, Nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm, bằng tài sản của mình, về hệ luỵ của những hành vi do mình thực hiện, cũng như có quyền đòi hỏi lập lại sự công bằng, nhất là trong khuôn khổ một vụ kiện trước tòa án, trong trường hợp bị thiệt hại do hành vi của chủ thể khác.        
Sòng phẳng và sẵn sàng nhận trách nhiệm, Nhà nước không hề bị giảm sút uy tín đối với dân trong những trường hợp phạm sai lầm. Trái lại, thái độ xử sự ấy giúp chủ thể quyền lực công tạo dựng được hình ảnh tốt đẹp về nhà chức trách trung thực, dũng cảm và lương thiện, qua đó, mới tỏ ra xứng đáng nhận lấy sứ mạng dẫn dắt toàn xã hội trong công cuộc kiến tạo trật tự, công lý và bảo vệ lẽ phải.       

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG