TÌM KIẾM THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE

summer2004_tennis.gif

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM

TS. CHU TIẾN QUANG – CN. LÊ XUÂN QUỲNH – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW

Trong những năm gần đây, kể từ khi Luật HTX ra đời (3/1996) và chính thức có hiệu lực từ 1/1/1997 khu vực kinh tế hợp tác và HTX ở nước ta đã thay đổi rất cơ bản cả về lượng và chất. Số lượng các đơn vị HTX tuy tăng không nhiều, nhưng đã từng bước được củng cố về chất, lấy lại uy tín và vai trò đối với người lao động, trên cơ sở đó phát triển và ngày càng thu hút các đối tượng khác nhau tham gia, không chỉ là người lao động như những năm trước khi có luật. HTX đã đóng góp tích cực hơn vào sức mạnh chung của kinh tế nhiều thành phần và làm rõ hơn bản chất của Kinh tế tập thể mà Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển.

Để đánh giá lại những đổi mới của khu vực kinh tế này trong những năm qua và nhìn nhận sự phát triển của nó trong những năm tới, bài viết này đề cập những điểm cơ bản trong đổi mới về tư duy, nội dung và phương thức hoạt động của các HTX, với ý nghĩa vừa là bộ phận nòng cốt, vừa thể hiện một cách đầy đủ nhất những tố chất của kinh tế tập thể.

I. Luật HTX và sự đổi mới tư duy về kinh tế hợp tác và HTX.

Sau nhiều năm tiến hành củng cố, hoàn thiện tổ chức và quản lý khu vực HTX bằng các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ thì năm 1996 Luật HTX đã ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy về bản chất của loại hình tổ chức kinh tế này. Điểm cơ bản nhất mà Luật HTX năm 1996 đã đổi mới tư duy về bản chất HTX được thông qua định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động SXKD dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước…”.

Định nghĩa này khẳng định những người lao động có nhu cầu và tự nguyện tuân thủ các nguyên tắc HTX đều có thể thành lập và tham gia HTX.Các nguyên tắc cơ bản để thành lập và phát triển HTX là: Tự nguyện gia nhập và ra HTX; Quản lý dân chủ và bình đẳng; Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng.

Với sự khẳng định HTX là “tổ chức kinh tế tự chủ” thì HTX được hiểu là tổ chức kinh tế của chính những người lập và tham gia là xã viên, HTX không phải do Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị-xã hội nào đó lập ra. Sự khẳng định này đã từng bước giúp các HTX cũ thoát khỏi tư duy xem HTX nặng về chức năng xã hội, đồng thời giúp các HTX được giải phóng khỏi những can thiệp hành chính và không đúng của các cơ quan Đảng và chính quyền vào công việc nội bộ của nó. Luật HTX ra đời còn thúc đẩy đổi mới tư duy không coi các Bộ ngành, Chính quyền địa phương các cấp là “cơ các quan chủ quản HTX”. Sự vận động và phát triển của HTX được điều chỉnh bởi khung luật pháp chặt chẽ, trong đó quy định rõ về nguyên tắc tổ chức, các quan hệ nội bộ và vị trí của HTX trong quan hệ với các tổ chức kinh tế khác..

Có thể nói rằng sự ra đời của Luật HTX năm 1996 đã tạo ra động lực và sức sống mới cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX. Các HTX cũ đã chuyển đổi và bắt đầu hồi phục, phát triển với các nguyên tắc được đông đảo xã viên đồng tình, ủng hộ. Bên cạnh các HTX cũ chuyển đổi đã thành lập hàng nghìn HTX mới trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, những HTX này tuy còn nhỏ về quy mô vốn, số lượng xã viên… nhưng đã tạo ra những mẫu hình HTX mới, đích thực, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động của mình như các loại hình tổ chức kinh tế khác, những HTX này có động lực và sức sống, mạnh dạn tham gia thị trường để phát triển trong điều kiện mới.

II. Tình hình cơ bản của kinh tế hợp tác và HTX ở Việt Nam thời kỳ 1997 – 2003.

2.1. Về số lượng HTX: Sau gần 6 thực hiện Luật, đến 31 tháng 6 năm 2003 số lượng HTX của cả nước là 14.207. Theo Liên minh HTX trong số này có khoảng 5.800 HTX thành lập mới (riêng lĩnh vực nông nghiệp khoảng 2139 HTX, chiếm tỷ lệ 37%); khoảng 8.400 là các HTX chuyển đổi từ mô hình cũ sang. Trong thời gian này Luật DN cũng đã được ban hành và số lượng các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân được thành lập theo luật này ở khu vực nông nghiệp, nông thôn chỉ có 2613 doanh nghiệp, bằng khoảng 36% so với số lượng các HTX hoạt động trong lĩnh vực này. (Tóm tắt kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, Tổng cục Thống kê, 10/2003). Những con số này cho thấy đối với khu vực nông nghiệp và nông thôn thì HTX có vai trò và vị trí vô cùng to lớn.

Các HTX chuyển đổi và thành lập mới theo luật đã phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, như vùng trung du miền núi phía Bắc có 4.034 HTX( 28%); vùng đồng bằng sông Hồng 5.063 HTX(36%); ở các vùng phát triển của sản xuất hàng hoá cao như Đông Nam Bộ số lượng HTX chỉ có 642 HTX (4,5%).

Số lượng HTX cũ chưa được xử lý đã giảm đáng kể. Chỉ trong 2 năm 2001 – 2002 đã giải thể được 2.271 HTX, đưa số lượng HTX yếu kém, hình thức xuống còn khoảng 500 HTX. Có thể coi đây là thành công trong việc xử lý các HTX yếu kém, không có khả năng phát triển mà trong nhiều năm trước vì những lý do chủ quan và khách quan khác nhau đã không xử lý được. Việc mạnh dạn xử lý các HTX hình thức dựa trên cơ sở thực hiện Luật HTX đã phản ánh kết quả tích cực trong đổi mới tư duy và hành động củng cố và phát triển khu vực kinh tế này.

2.2. Về xã viên và lao động: Cho đến nay, chưa có số liệu thống kê đầy đủ về số lượng xã viên và lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế hợp tác và HTX. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng hợp của Ban chỉ đạo tổng kết kinh tế hợp tác và HTX( năm 2001) thì số lượng xã viên của 4.876 HTX đã chuyển đổi và thành lập mới có báo cáo là 3.171.576 người, chiếm khoảng 8% lực lượng lao động của cả nước, nếu suy rộng cho đầy đủ 14.207HTX thì lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực HTX sẽ là 24% (8%* 3). Đây là một con số đáng kể thể hiện vai trò to lớn của khu vực kinh tế hợp tác và HTX trong việc giải quyết công ăn việc làm, đặc biệt là cho lao động ở khu vực nông thôn. Vai trò của HTX trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động thể hiện rất rõ ở các HTX điển hình tiên tiến trên cả nước. Có những HTX đã thu hút phần lớn số hộ trong thôn, trong xã tham gia vào HTX như: HTX Thiệu Hưng – Thanh Hoá có 830 hộ với 1.010 xã viên tham gia HTX, chiếm 50.6% tổng số hộ của toàn xã; HTX nông nghiệp An Mỹ – Hà Tây có tới 3.277 xã viên; HTX nông nghiệp Đại Đồng – Hà Tây có số xã viên lên đến 4.687 xã viên…Đây đều là các HTX làm ăn khá giỏi và đã tham gia giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho phần lớn lao động trên địa bàn (kết quả điều tra kinh nghiệm hoạt động của 33 HTX, Viện NCQLKTTƯ thực hiện trong năm 2003).

Số lượng xã viên ở các loại hình HTX cũng rất khác nhau. Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là nơi thu hút nhiều xã viên nhất(trung bình 960 xã viên/QTDND); tiếp đó là HTX nông nghiệp (953 xã viên/HTX) và ít nhất là HTX thương mại (43 xã viên/HTX). Điều đó cho thấy mô hình QTDND đã có sức hấp dẫn cao đối người tham gia trong điều kiện hiện nay. Các HTX dịch vụ tổng hợp và dịch vụ chuyên ngành cho sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả thuỷ sản và diêm nghiệp) vẫn là mô hình tổ chức kinh tế phù hợp nhất đối với các vùng nông thôn hiện nay.

HTX nông nghiệp và Quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu sử dụng xã viên vào các hoạt động của mình, ít thuê lao động ngoài vào làm việc do lực lượng xã viên quá đông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê từ kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản năm 2001, lao động làm việc trong các HTX nông nghiệp là 213.383 người, trong khi lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp( bao gồm 3599 DN, kể cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nông thôn) chỉ là 289.001 người. Mặc dù số lượng lao động của khu vực doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nhiều hơn so với các HTX nông nghiệp song các HTX nông nghiệp lại là nơi tạo được nhiều việc làm hơn. Bởi ngoài số lao động làm thuê, các HTX nông nghiệp còn giải quyết việc làm cho số lượng xã viên đông đảo của họ.

Ngược lại, các HTX phi nông nghiệp thường thuê số lượng lao động lớn hơn nhiều so với số lượng xã viên HTX. HTX Hiệp Lực – Đồng Nai chỉ có 28 xã viên nhưng đã thu hút và giải quyết việc làm cho 300 lao động, HTX

2.3. Về vốn hoạt động: Khu vực HTX hiện vẫn đang nắm giữ một lượng vốn đầu tư không nhỏ. Theo điều tra của Ban Kinh tế TW tháng 8 năm 2001, đến 31/12/2000 tổng số vốn của 5.052 HTX có báo cáo là 5.018.994 triệu đồng (hơn 5 nghìn tỉ đồng), trong đó gần 2.000 tỉ đồng là vốn tự có của các HTX. Số liệu tổng hợp của Viện QLKTTƯ từ báo cáo của 51 Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh/thành phố đến 31/6/2002 cho kết quả về quy mô vốn hoạt động trung bình như sau: HTX dịch vụ thương mại-438,7triệuđồng/HTX (thấp nhất); QTDND-2684,5 triệu đồng (cao nhất).

Xã viên tham gia HTX đã có ý thức góp vốn để HTX có thể hoạt động theo nhu cầu của chính các xã viên. Số lượng vốn góp của các xã viên trong từng HTX chuyển đổi đã tăng bình quân từ 1,5 đến 2 lần. Mặc dù mức góp còn rất nhỏ, song đó là sự thể hiện nhận thức của xã viên về trách nhiệm của mình đối với HTX. Tuy nhiên việc góp vốn của các xã viên, đặc biệt là ở các HTX nông nghiệp đã chưa căn cứ vào nhu cầu hoạt động của HTX, ở các HTX này việc góp vốn mới chỉ đơn thuần là để thực hiện theo đúng quy định của Luật và bước đầu xác định trách nhiệm của xã viên đối với HTX. Chính vì vậy, lượng vốn thực tế của các HTX thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu về vốn để duy trì và phát triển các hoạt động của HTX. Cho đến nay còn rất ít HTX dịch vụ nông nghiệp xác định được lượng vốn cần thiết để phát triển và mở rộng các hoạt động của mình. Hầu hết các HTX nói rằng thiếu vốn để hoạt động nhưng chưa tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng, kể cả tín dụng ngân hàng và các nguồn vốn tín dụng khác. Chỉ có khoảng 11% tổng số HTX thống kê được vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

2.4..Kết quả sản xuất, kinh doanh: nhìn chung đã tiến bộ hơn so với trước khi đăng ký hoạt động theo luật. Giá trị sản xuất bình quân của các HTX chuyển đổi đã tăng 2,18 lần trong giai đoạn 1997-2002; các HTX thành lập mới chỉ tăng 1,3 lần (năm 2001 so với năm 1997).

Mặc dù đã có sự tăng trưởng nhất định trong sản xuất, kinh doanh song khu vực HTX vẫn còn yếu về kinh tế và khả năng tham gia thị trường. Tỷ lệ các HTX thua lỗ, làm ăn kém hiệu quả đã giảm nhưng chưa nhiều, vẫn còn khoảng 45-50% số HTX được thống kê hoạt động không có lãi. Đối với các HTX có lãi thì số lãi cũng không lớn. Tổng số lãi của 1.998 HTX từ tất cả các ngành được thống kê đến 31/12/2000 là 106.841 triệu đồng, bình quân mỗi HTX lãi khoảng 60,5 triệu đồng/năm.

2.5. Phân phối lãi và thu nhập của xã viên: Hầu hết các HTX đã thực hiện phân phối lãi theo đúng Luật quy định. Ngoài khoản thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước, các HTX đã phân phối lãi theo quy định của luật: như trích quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và chia lãi cho xã viên theo vốn góp, chia theo mức độ sử dụng dịch vụ. Theo số liệu tổng hợp của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từ 51 tỉnh/thành phố, thu nhập bình quân của xã viên đạt khoảng 4 triệu đồng/năm. Trong đó các ngành công nghiệp, xây dựng, GTVT có mức thu nhập cao nhất (khoảng từ 5 đến 9 triệu đồng), các ngành nông nghiệp, tín dụng và thuỷ sản mức thu nhập thấp nhất (từ trên 1 triệu đến dưới 3 triệu đồng). Tuy nhiên,có một bộ phận HTX đã bảo đảm được mức thu nhập ổn định cho xã viên từ 300 đến 500 nghìn đồng/tháng đối với các HTX nông nghiệp, và từ 500 đến 1.000 nghìn đồng/xã viên/tháng đối với các HTX phi nông nghiệp. Nhìn chung, các HTX trong lĩnh vực phi nông nghiệp đã ngày càng nâng cao thu nhập cho xã viên. Thu nhập bình quân của xã viên HTX đan len Chiến thắng – Tiền Giang năm 2000 chỉ đạt 450 nghìn đồng/tháng, đến năm 2002 đã tăng lên 550 nghìn đống/tháng; HTX Thương mại Quận 3 – TP. Hồ Chí Minh năm 1997 lương bình quân của xã viên đạt 1,055 triệu đồng đến năm 2002 đã tăng lên đến 1,378 triệu đồng… Ngoài lương cho xã viên, các HTX còn chăm lo cho xã viên về mặt tinh thần những lúc ma chay, cưới hỏi, ốm đau, các dịp Tết, ngày lễ…

Bên cạnh đó, các HTX đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển chung của cộng đồng như xây dựng trường học, trạm y tế, đường giao thông, thuỷ lợi, nhà văn hoá… trên địa bàn, điển hình như HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp Bình Tây – Tiền Giang… đặc biệt là các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù còn nhiều khó khăn những đã cố gắng chăm sóc các gia đình chính sách, tạo điều kiện cho con em của các gia đình chính sách tham gia lao động cho HTX để có thu nhập…

2.6..Đóng góp của kinh tế hợp tác và HTX vào tăng trưởng kinh tế: Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế song khu vực KTTT đã có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng GDP chung của toàn nền kinh tế. Nhìn chung, hàng năm tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của khu vực KTTT đóng góp vào GDP của cả nước khoảng 8%. Trong đó các HTX của ngành GTVT có đóng góp nhiều nhất so với các ngành khác. Năm 2001, khối lượng hành khách do KTTT vận chuyển chiếm 27,4% tổng khối lượng hành khách luân chuyển của cả nước, khối lượng hành hoá luân chuyển chiếm 18,5% .

Trong các ngành khác như thương mại, công nghiệp, khu vực KTTT đóng góp không nhiều, trung bình dưới 1% GDP của từng ngành.

Trong lĩnh vực nông nghiệp HTX không trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hoá, mà làm dịch vụ đầu vào đầu ra cho các hộ nông dân là xã viên và cả các hộ nông dân không là xã viên HTX trong sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia tăng sản lượng hàng hoá nông lâm thuỷ sản, vì vậy có thể coi sự đóng góp của KTTT vào tăng trưởng nông nghiệp và vào nền kinh tế nói chung là rất quan trọng.

Đánh giá tổng quát: nhìn lại toàn bộ quá trình phát triển của HTX giai đoạn vừa qua có thể thấy rằng vai trò, vị trí của HTX đã được Đảng và Nhà nước xác định là thành phần kinh quan trọng cùng với thành phần kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trên thực tế vai trò, vị trí của khu vực này còn bị lu mờ và khu vực HTX vẫn chưa thực sự khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. HTX sẽ khẳng định được vai trò, vị trí của mình khi nó thực sự phát huy được sức mạnh tập thể, sự cố kết của từng thành viên tham gia và thực sự mạnh dạn tham gia gia cạnh tranh và hợp tác với nhau và hợp tác chặt chẽ với các loại hình DN khác, thực sự lấy hiệu quả hoạt động làm cơ sở để tồn tại và phát triển.

III. Những vấn đề đặt ra đối với kinh tế hợp tác và HTX giai đoạn tới.

3.1. Về nhận thức: Hiện nay nhận thức về kinh tế hợp tác và HTX vẫn chưa có sự thống nhất. Một bộ phận không nhỏ cán bộ nhà nước vẫn chưa hiểu đúng về bản chất và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của mô hình HTX kiểu mới, dẫn đến vừa coi thường vừa can thiệp không đúng vào quyền tự chủ, tự quyết của từng HTX.

Bản thân những thành viên tham gia HTX cũng chưa nhận thức hết các mặt trách nhiệm xây dựng và phát triển tổ chức kinh tế này. Phần đông các xã viên chỉ thấy lợi ích, đòi hỏi nhiều mà quên đi trách nhiệm phải đóng góp để cho tổ chức kinh tế hợp tác và HTX mà họ tham gia không ngừng lớn mạnh về kinh tế, trên cơ sở đó mới đem lại lợi ích lớn hơn cho chính mình.

3.2. Về Tổ chức thực hiện Luật: Luật HTX ra đời trong điều kiện đất nước đang chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trương có sự quản lý của Nhà nước, đã tạo khung pháp lý thống nhất và bình đẳng cho khu vực kinh tế hợp tác xã tự quyền tự chủ tự quyết trong hoạt động. Tuy nhiên, muốn đưa luật vào cuộc sống thì phải tuyên truyền luật một cách đầy đủ toíư từng người xã viên HTX, nhưng việc tập huấn, tuyên truyền, phổ biến Luật HTX chưa được thực hiện tốt. Công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến Luật chỉ mới được thực hiện trong phạm vi bó hẹp một số cán bộ Đảng, chính quyền và một số cán bộ HTX. Việc đưa các nội dung, tư tưởng của Luật đến với mỗi xã viên HTX, với mỗi người dân không được quan tâm đúng mức, vì vậy còn một bộ phận xã viên vẫn chưa thực sự hiểu về mô hình HTX kiểu mới, vẫn bị nhầm lẫn với mô hình HTX kiểu cũ. Việc chuyển đổi HTX cũ cũng vì vậy mà mang tính hình thức. Chúng ta đã cho chuyển đổi cả các HTX yếu kém, chưa đủ điều kiện chín muồi; chưa xử lý chưa dứt điểm các vấn đề tồn đọng của HTX cũ. Chính sự tồn tại của các HTX yếu kém này đã là nguyên nhân lớn gây ra những cách hiểu sai về kinh tế hợp tác và HTX và làm cho tính không hiệu quả của khu vực kinh tế này vẫn đeo bám.

3.3. Buông lỏng quản lý nhà nước, thiếu hỗ trợ giúp đỡ HTX sau chuyển đổi: Việc tiếp tục xử lý các tồn đọng và hỗ trợ các HTX về định hướng phát triển, tổ chức quản lý nội bộ sau chuyển đổi là công việc rất quan trọng những đã chưa được coi trọng vì cho rằng chuyển đổi xong là xong. Điều này làm cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX sau 6 năm thực hiện Luật vẫn chưa có được những bước phát triển đáng kể về chất và chưa khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Hạn chế lớn nhất trong quản lý nhà nước đối với khu vực HTX là chúng ta vẫn chưa xác định được liều lượng tác động trong quản lý nhà nước đối với khu vực này. Có thời kỳ chúng ta quá thắt chặt quản lý nhà nước đối với HTX, làm cho khu vực này trở nên bị hành chính hoá trong các quan hệ, kể cả quan hệ trong nội bộ HTX. Khi chúng ta nhận thức được rằng Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ của HTX thì sự quản lý của Nhà nước đối với khu vực này đã giảm đi. Song sự giảm đi quá nhiều này lại làm cho vai trò quản lý nhà nước bị buông lỏng, khu vực HTX không có nơi để tìm sự giúp đỡ, hướng dẫn khi cần thiết. Ngay trong một thời kỳ, nhận thức về vai trò quản lý nhà nước của các cán bộ cũng khác nhau. Nơi can thiệp quá sâu vào hoạt động của HTX (có tới 47,5% trong tổng số 1275 HTX được điều tra trả lời có sự can thiệp của chính quyền địa phương vào việc bầu Chủ nhiệm, quyết định mức lương của Chủ nhiệm HTX…), nơi lại buông lỏng để cho khu vực này tự bươn chải. Dẫn đến, cơ quan quản lý nhà nước lại không nắm rõ được tình hình phát triển của khu vực kinh tế này gây ra nhiều khó khăn trong việc phân tích, đánh giá và đưa ra các chính sách phù hợp.

Đối với các HTX vấn đề lớn đặt ra hiện nay là sự yếu kém về nội lực kinh tế, về định hướng phát triển và tổ chức quản lý nội bộ của bản thân các HTX mang tính phổ biến. Phần lớn HTX chưa phát huy được ưu thế của sức mạnh tập thể, chưa biết sử dụng sức mạnh tập thể để tìm ra tài năng và đào thải những các nhân tiêu cực, vì vậy hiệu quả hoạt động của HTX thấp, động lực của từng thành viên tham gia chưa được khơi.

Nhiều HTX chưa có hướng sản xuất, kinh doanh lâu dài. Hoạt động của đa số các HTX hiện nay chỉ mang tính ngắn hạn. Hầu hết các HTX chưa có sự tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu của thị trường, sản xuất, kinh doanh vẫn dựa trên những cái mình đã có, mà không chú trọng đến việc xác định mình nên sản xuất, kinh doanh cái gì để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho HTX.

Một hạn chế rất lớn của khu vực HTX đó là trình độ, năng lực hạn chế của cán bộ quản lý HTX. Hạn chế này có nguyên nhân sâu xa: HTX chưa thu hút và huy động được các nguồn lực về con người, về vốn. Đây có thể chính là một cái vòng luẩn quẩn trong việc phát triển của khu vực HTX, đặc biệt là các HTX thời gian qua.

3.4. Triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước đối vớiHTX: Trong quá trình phát triển HTX, Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi cho khu vực này. Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi này hoặc không được hướng dẫn triển khai hoặc nếu có thì chưa phù hợp, hoặc trên thực tế không có đối tượng được hưởng lợi. chẳng hạn như vấn đề về đất đai: Nhà nước quy định HTX được giao hoặc cho thuê đất nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí như thế nào thì được giao, như thế nào thì được cho thuê. Việc miễn, giảm tiền thuê đất cho HTX tuy được Bộ Tài chính hướng dẫn nhưng trên thực tế khi các HTX chưa được thuê đất thì không thể được miễn, giảm tiền thuê đất. Chính sách về thuế ưu đãi cho các HTX ở vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng dân tộc nhưng trê thực tế khi thực hiện Luật ở những nơi này hầu như đã không còn tồn tại các HTX nữa. Nhiều chính sách đáng lẽ sẽ có tác động rất lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế hợp tác và HTX nếu được thực hiện đúng theo tinh thần, tư tưởng của chính sách đề ra, như chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho HTX, chính sách về vay vốn tín dụng, chính sách bảo hiểm xã hội cho xã viên và cán bộ quản lý HTX. Tuy nhiên, các chính sách này thiếu các hướng dẫn cụ thể vì vậy trên thực tế đã không triển khai được. Như vậy, có thể thấy rằng, về mặt tư tưởng, chính sách thì khu vực HTX được hưởng khá nhiều ưu đãi nhưng trên thực tế lại không có gì cả. Đây cũng là một nguyên nhân gây ra những đánh giá sai lệch về khu vực kinh tế này của không ít người. Họ cho rằng, kinh tế hợp tác và HTX được hưởng rất nhiều ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước nhưng lại hoạt động không có hiệu quả, còn thành phần kinh tế dân doanh không có sự ưu đãi nào của Nhà nước nhưng hoạt động đã đem lại hiệu quả đáng kể trong phát triển kinh tế đất nước. Và cũng từ đó, những người này phủ nhận vai trò, vị trí của khu vực kinh tế này. Chúng ta cũng nên nhìn nhận một cách khách quan rằng, không giống như khu vực dân doanh, khu vực kinh tế hợp tác và HTX đã bị sức ép tâm lý nặng nề do mô hình HTX cũ để lại. Và cho đến nay, mặc cảm về mô hình HTX nói chung vẫn còn in đậm trong suy nghĩ của nhiều người đã là cản trở lớn cho kinh tế hợp tác và HTX phát triển.

IV. Quan điểm và định hướng phát triển kinh tế hợp tác và HTX trong giai đoạn tới

4.1. Về quan điểm:

Nghị quyết số 13 Hội nghị BCH TƯ lần thứ năm đã thống nhất nhận thức về kinh tế tập thể: “Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là các HTX dựa trên sở hữu của cacs thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn… thành viên kinh tế tập thể bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ”. Đây là kết quả của quá trình tiếp tục đổi mới tư duy về phát triển kinh tế tập thể với HTX là nòng cốt được đúc rút từ thực tiễn sau một thời gian ngắn thực hiện Luật HTX (năm 1996).

Từ thống nhất nhận thức trên đây, Luật HTX đã được sửa đổi và được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2003, tạo khung pháp lý phù hợp hơn cho các HTX tiếp tục phát triển trong điều kiện mới. Luật HTX sửa đổi đã làm rõ hơn các nguyên tắc tổ chức và quản lý HTX, đồng thời xác định HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có nghĩa là các HTX được tổ chức theo những quy định đặc thù của loại hình kinh tế tuy mang tính dân chủ và tập thể rất cao, nhưng hoạt động thị phải tuân thủ các quy luật thị trường, chấp nhận cạnh tranh như các doanh nghiệp khác để không ngừng vươn lên nâng cao hiệu quả về mọi mặt.

Để cụ thể hoá những nội dung cơ bản mà Nghị quyết số 13 của BCH TƯ và Luật HTX sửa đổi nhằm phát triển mạnh hơn nữa kinh tế tập thể trong những năm tới, chúng tôi kiến nghị một số quan điểm sau:

4.1.1. Phát triển KTTT, trong đó HTX là nòng cốt phải lấy hiệu quả kinh tế làm nền tảng, đồng thời thực hiện đúng các nguyên tắc HTX được quy định trong Luật và không ngừng nâng cao vai trò xã hội của mình.

Hiệu quả kinh tế là thước đo đánh giá sự phát triển của một tổ chức kinh tế. Những HTX hoạt động không hiệu quả sẽ không có điều kiện để phát triển, đồng thời cũng không thể hỗ trợ tốt cho kinh tế xã viên và không thể có các tác động tích cực cho cộng đồng. Vì vậy các HTX phải luôn coi trọng hiệu quả kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế làm căn cứ quyết định các hoạt động của mình.

Cùng với hiệu quả kinh tế, HTX cần phải thực hiện đúng các nguyên tắc HTX đã được quy định trong Luật HTX sửa đổi. Điều này có nghĩa là HTX phải bảo đảm: tính dân chủ, bình đẳng; sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của xã viên với lợi ích của HTX và lợi ích của cộng động; thực hiện đúng các quy định của Luật về vốn góp tối thiểu, tối đa, về tổ chức bộ máy tổ chức quản lý HTX, về Đại hội xã viên… Đồng thời, HTX luôn phải chú ý nâng cao vai trò xã hội của mình đối với xã viên, gắn lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội là một nhân tố quan trọng để HTX phát triển bền vững.

4.1.2 Phải tôn trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các HTX: Một thời gian dài khu vực kinh tế hợp tác và HTX được sự bao cấp, trợ giúp của Nhà nước, nhưng lại không rõ ràng. Chính điều này đã làm cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX hoạt động một cách thụ động, phụ thuộc rất nhiều vào sự chỉ đạo, lãnh đạo và sự hỗ trợ của Nhà nước, của các cấp chính quyền. Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của một tổ chức kinh tế đã hầu như rất hạn chế. Vì luôn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước nên vấn đề hiệu quả hoạt động đã không được đặt lên hàng đầu. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho khu vực này hoạt động yếu kém. Luật HTX năm 1996 đã chưa xoá bỏ tồn tại cố hữu này trong suy nghĩ của nhiều HTX dẫn đến hiệu quả hoạt động của khu vực này chưa chuyển biến theo đúng tiềm năng của nó. Do đó, việc bảo đảm và phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các HTX và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là nhân tố chủ yếu tạo sự chuyển biến tích cực trong khu vực kinh tế hợp tác và HTX trong thời gian tới.

4.1.3. Các HTX điển hình tiên tiến phải là tấm gương sinh động cho phong trào HTX và có tinh thần hợp tác với các HTX khác để thúc đẩy, mở rộng sự hỗ trợ, giúp đỡ các hợp tác xã trong cả nước:

Để có bước tiến vượt bậc của khu vực này trong thời gian tới thì điểm đột phá là các HTX điển hình tiên tiến phải là động lực thúc đẩy toàn bộ phong trào HTX, nghĩa là các HTX này vừa phát triển, vừa phải tạo ra được sức hút, sức lan toả đối với các HTX khác. Do đó, đỏi hỏi các HTX điển hình tiên tiến phải tham gia tích cực vào phong trào HTX của địa phương, của vùng và của cả nước. HTX tiên tiến phải trao đổi, chia sẽ và giúp đỡ các HTX yếu hơn về kinh nghiệm phát huy sức mạnh của tập thể và sức mạnh của từng xã viên trong HTX. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho các HTX yếu hơn trong việc học tập, tham khảo kinh nghiệm của những HTX tiên tiến để tìm hướng phát triển thành công cho mình và cho phong trào HTX của cả nước.

4.1.4. Các HTX phải gắn với việc hình thành và mở rộng quan hệ hợp tác với phong trào HTX quốc tế: Phát triển mô hình các HTX hiện nay phải coi trọng việc hình thành và mở rộng các quan hệ hợp tác. Trong điều kiện hội nhập, một tổ chức kinh tế nếu chỉ hoạt động bó hẹp trong phạm vi nội địa thì cơ hội phát triển lâu dài rất khó khăn. Vì vậy, để phát triển mô hình HTX trong nền kinh tế thị trường mở thì HTX Việt nam cần phải gắn với phong trào HTX quốc tế, tạo ra mối quan hệ đa dạng để tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ của các HTX nước ngoài, nhất là các HTX ở các nước phát triển cao cao tình cảm và có lòng giúp các HTX của Việt nam. Việc mở rộng quan hệ với phong trào HTX quốc tế là cơ hội để HTX học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, kiến thức và là cơ hội đóng góp cho phong trào hợp tác xã quốc tế ngày càng lớn rộng.

4.1.5. Nhà nước hỗ trợ và thúc đẩy HTX phát triển nhưng không can thiệp trái luật vào công việc nội bộ của HTX:

Các HTX ngoài việc đem lại lợi ích kinh tế cho các xã viên còn có vai trò rất lớn trong việc thực hiện các hoạt động xã hội của địa phương, góp phần ổn định tình hình chính trị – xã hội trên địa bàn. Nhưng đại bộ phận HTX vẫn đang còn nhiều khó khăn, vì vậy HTX trong giai đoạn này rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước. Các chính sách ưu đãi hợp lý của Nhà nước sẽ là động lực khuyến khích, thúc đẩy các HTX phát triển và phát huy tối đa đặc điểm, lợi thế của loại hình tổ chức kinh tế này. Từ thực tiễn phát triển của các HTX cho thấy HTX nào được chính quyền địa phương hỗ trợ tốt, đúng hướng thì HTX đó sẽ phát triển tốt và mang lại lợi ích nhiều hơn cho cộng đồng địa phương. Để tránh tình trạng hành chính hoá trong hoạt động của HTX, cần xoá bỏ sự can thiệp của chính quyền vào các hoạt động nội bộ của các HTX như can thiệp vào nhân sự, vào lương và giá dịch vụ do các HTX tạo ra.

4.1.6. Coi trọng chất lượng trong phát triển HTX :

Hiện nay vẫn còn tồn tại một bộ phận HTX trá danh để hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước với một bộ phận HTX hình thức do xã viên chưa toàn tâm, toàn ý xây dựng HTX. Mục tiêu của các tổ chức này chỉ là nhằm thu lợi nhuận cho cá nhân hoặc một nhóm nhỏ các thành viên của nó mà không chú ý tới nguyên tắc hợp tác, chú trọng lợi ích của tất cả các xã viên tham gia. Nếu tiếp tục phát triển các HTX kiểu này sẽ khó có phong trào HTX lành mạnh và là nguy cơ tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Do đó cần xoá bỏ các tổ chức kinh tế nóp danh nghĩa HTX để hoạt động. Các tổ chức này cần phải được chuyển sang các hình thức doanh nghiệp khác phù hợp với bản chất của nó, chịu sự điều chỉnh và tác động của khung pháp lý và chính sách phù hợp.

4.2. Hướng phát triển các HTX trong giai đoạn tới

4.2.1 Về mặt tổ chức:

Xã viên HTX: Phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ xã viên có tinh thần cao và tư tưởng HTX, tức là xã viên phải ý thức được tinh thần hợp tác, có trách nhiệm cao, phải xác định mình là những người chủ thực sự của HTX. Chỉ khi xã viên có được những phẩm chất ấy thì HTX mới là một tổ chức kinh tế tập thể thực sự, có niềm tin và mới có thể phát huy được sức mạnh tập thể. Thực tiễn của các HTX điển hình tiên tiến cho thấy tính tập thể cao trong HTX là yếu tố quan trọng giúp Ban quản trị và Chủ nhiệm thành công trong hoạt động quản lý và điều hành HTX, là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của một HTX. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn xã viên các HTX chưa có được phẩm chất này. Chính sự tham gia “hình thức” và thiếu tinh thần hợp tác của xã viên đã làm cho HTX không phát huy được ưu thế của mô hình tổ chức kinh tế này. Do đó, làm cho xã viên hiểu và có tinh thần hợp tác cộng đồng, tinh thần xây dựng và làm chủ HTX là một tiền đề để phát triển HTX bền vững.

Đại hội xã viên: Các HTX cần phải nhận thức được tầm quan trọng của Đại hội xã viên trên cơ sở đó phải tổ chức tốt Đại hội xã viên theo Luật, bảo đảm cho xã viên làm chủ và bình đẳng trong Đại hội để xã viên thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình, thể hiện vai trò làm chủ đối với HTX. Không giống như Đại hội cổ đông của các công ty cổ phần, Đại hội xã viên của HTX bảo đảm quyền biểu quyết ngang nhau cho mỗi xã viên không phụ thuộc vào mức vốn góp. Đây cũng là một nhân tố bảo đảm quyền và lợi ích bình đẳng giữa các xã viên trong HTX.

Bộ máy quản lý và bộ máy điều hành: Trong giai đoạn tới HTX phải xác định mô hình tổ chức quản lý nào là phù hợp với điều kiện cụ thể của HTX mình.

Các HTX có quy mô hoạt động nhỏ về xã viên, về vốn góp, phạm vi hoạt động hẹp về địa giới hành chính, về ngành, nghề… thì nên xây dựng bộ máy tổ chức theo hướng chỉ có 1 Ban quản trị vừa giữ chức năng quản lý vừa giữ chức năng điều hành. Mô hình này sẽ tạo cho HTX sự gọn nhẹ trong tổ chức, giảm bớt các chi phí quản lý và tạo sự tập trung, thống nhất cao trong quyết định các vấn đề của HTX.

Các HTX có quy mô hoạt động lớn, phạm vi hoạt động rộng trong nhiều ngành, nghề, mở rộng cả các hoạt động liên kết, liên doanh, hợp tác với các cá nhân, tổ chức bên ngoài, xuất khẩu các sản phẩm ra các thị trường lớn trên toàn quốc và quốc tế… thì nên tổ chức riêng 2 bộ máy quản lý và bộ máy điều hành. Việc tổ chức riêng 2 cơ quan này tạo ra sự chuyên môn hoá trong quản lý và điều hành. Đồng thời, mô hình này cũng tạo sự chủ động, phát huy khả năng sáng tạo, tính linh hoạt, quyết đoán của người điều hành. Do đó giúp HTX có khả năng đón nhận và nắm bắt các cơ hội một cách kịp thời.

Ban kiểm soát: Hiện nay, Ban kiểm soát hầu như chưa được coi trọng trong các hoạt động HTX. Điều này cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả, yếu kém của các HTX. Do vậy, trong giai đoạn tới, cần xây dựng và củng cố Ban kiểm soát trong các HTX. Tất cả các HTX đều phải thành lập Ban kiểm soát và có những quy định, chế tài cụ thể để Ban kiểm soát hoạt động. Ban kiểm soát phải thực sự là cơ quan kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX của các xã viên để bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch trong quản lý, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho xã viên và bảo đảm các nguyên tắc HTX được thực hiện, trên cơ sở đó tạo ra lòng tin lẫn nhau trong HTX.

Phân phối lợi ích: Các HTX trong giai đoạn tới phải bảo đảm kết hợp được lợi ích của từng xã viên với lợi ích của HTX. Bên cạnh việc phân phối lãi cho xã viên, HTX cũng phải chú trọng việc xây dựng và phát triển các quỹ sản xuất và quỹ dự phòng, hình thành tài sản chung không chia của HTX. Các quỹ này sẽ giúp HTX duy trì, đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh cho các năm tiếp theo. Đồng thời cũng giúp HTX vượt qua những khó khăn khi gặp rủi ro. Đây chính là nền tảng để HTX có thể phát triển vững mạnh, lâu bền.

4.2.2. Phải năng động, tự chủ trong hoạt động SXKD.

Không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của các HTX: để đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường, các HTX phải không ngừng đổi mới, cải tiến kỹ thuật, cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ quản lý, điều hành của cán bộ HTX. Khả năng cạnh tranh của một tổ chức kinh tế phụ thuộc vào cách thức, quy mô tổ chức sản xuất, tiêu thụ của sản phẩm và dịch vụ. Nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ giúp HTX khẳng định được vị thế trên thương trường.

Đa dạng hoá ngành, nghề hoạt động: Hiện nay, việc cung cấp các dịch vụ đầu vào cho sản xuất đã phát triển khá mạnh trên thị trường. Do vậy, nếu chỉ thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng đầu vào thông thường thì giá trị sản xuất sẽ thấp và phải cạnh tranh rất ác liệt với các loại hình kinh tế khác, đặc biệt là với kinh tế tư nhân. Hơn nữa, việc nâng cao giá trị của sản phẩm và việc tìm thị trường để tiêu thụ sản phẩm là công việc mà từng cá nhân riêng lẻ khó có thể thực hiện thành công. Vì vậy, để vươn ra thị trường và giảm tác động của các rủi ro, tăng hiệu quả kinh tế, các HTX, đặc biệt là các HTX nông nghiệp, cần mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình, như phát triển các ngành, nghề truyền thống; đa dạng các mặt hàng; đảm nhận những khâu quan trọng như chế biến nông sản, tiêu thụ sản phẩm… /.

—————————————————————-

source: www.ciem.org.vn

NHỮNG YẾU TỐ BẤT LỢI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DÂN DOANH VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

TS. NGUYỄN ĐÌNH TÀI

1. Một vài nét về sự phát triển khu vực kinh tế dân doanh

Việc ban hành Luật doanh nghiệp mới đầy đủ và hoàn thiện hơn cho khu vực kinh tế tư nhân vào tháng 6 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2000 đã tạo ra một bước đột phá trong công cuộc cải cách kinh tế đang diễn ra tại Việt Nam. Nhờ vào việc xoá bỏ thủ tục cấp phép thành lập doanh nghiệp, huỷ bỏ 152 loại giấy phép kinh doanh, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong khâu đăng ký kính doanh nên chỉ trong vòng 4 năm qua (2000-2003) đã có 76.000 doanh nghiệp mới thành lập (trong khi đó trong 9 năm 1991-1999 chỉ có 45.000 doanh nghiệp thành lập); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở VN lên trên 120.000 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập trung bình hàng năm hiện nay bằng 3,75 lần so với trung bình hàng năm của thời kỳ 1991-1999. Cũng trong 4 năm qua, số vốn đăng ký huy động được gần 120.000 tỉ đồng, khoảng 1,6 triệu chỗ làm việc mới đã được tạo ra nhờ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể mới thành lập và mở rộng quy mô kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp dân doanh xấp xỉ bằng tổng số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước[1]; và tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp của tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng hơn 6 triệu người, chiếm hơn 16% lực lượng lao động xã hội.

Tuy nhiên, doanh nghiệp dân doanh nói chung còn nhỏ và phát triển không đồng đều cả về vùng lãnh thổ và ngành, nghề kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp bình quân đầu người cũng còn rất thấp, bình quân gần 800 người dân mới có một doanh nghiệp (gồm cả DNNN và doanh nghiệp FDI). Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam vẫn còn nhỏ, non nớt, thiếu vốn, công nghệ và chưa có sức cạnh tranh.

Để khu vực kinh tế này phát triển lớn mạnh hơn, cần phải giải quyết ba nhóm vấn đề sau: (1) Tạo ra một môi trường mở hơn thông qua các chính sách và các biện pháp hỗ trợ đa dạng cho khu vực kinh tế này; (2) Nâng cao năng lực hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, công ty tư nhân; (3) Giúp khu vực kinh tế còn non trẻ này có đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2. Những yếu tố bất lợi đối với môi trường kinh doanh

2.1. Những vấn đề còn tồn tại trong thủ tục thành lập doanh nghiệp và cấp phép

Mặc dù các thủ tục thành lập doanh nghiệp cũng như các thủ tục đăng ký đã được đơn giản hoá nhưng không phải mọi chuyện đã trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn. Dưới đây là một số những trở ngại còn tồn tại và những vướng mắc do hướng dẫn dưới luật gây ra:

– Một số điều khoản trong Luật và trong các thông tư hướng dẫn không rõ ràng và không phù hợp, đặc biệt là các qui định về các hộ gia đình kinh doanh, qui định về cấp giấy chứng nhận cho tư vấn pháp lý, qui định về cơ quan có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định’.

– Hồ sơ đăng ký kinh doanh của các hợp tác xã phức tạp hơn nhiều so với hồ sơ đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. (Chẳng hạn như, khi đăng ký kinh doanh, một hợp tác xã phải đệ trình sáu loại hồ sơ trong khi một công ty theo Luật Doanh Nghiệp chỉ cần có ba loại hồ sơ) .

2.2. Những khó khăn để nhận được ưu đãi đầu tư

Luật khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành để cung cấp một loạt các biện pháp ưu đãi và khuyến khích về đất đai, tín dụng, lao động và các nhân tố sản xuất khác cho các nhà đầu tư trong nước mà có các dự án được Nhà nước khuyến khích. Thủ tục để nhận được Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã được đơn giản hóa và trở nên khá dễ dàng cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, sau khi có giấy này, để nhận được những ưu đãi đó, các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty tư nhân phải “vượt qua” không ít trở ngại do các cơ quan thi hành luật gây ra. Sự “gây khó” này, trong nhiều trường hợp, đã làm vô hiệu hóa Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư do chính Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư. cấp, và kết quả là làm cho Luật kém hấp dẫn.

Theo Nghị định 51, các hộ kinh doanh (các doanh nghiệp nhỏ) cũng có thể nhận được những ưu đãi đầu tư nếu họ có các dự án đầu tư được Nhà nước khuyến khích. Tuy nhiên, chỉ có vài chục hộ trong số hơn 2 triệu hộ tiếp cận được đến những ưu đãi của Luật. Lý do của tình trạng này hết sức đơn giản: để được ưu đãi thuế các hộ kinh doanh phải tuân thủ nghiêm chỉnh chế độ kế toán của Bộ Tài chính, phải có sổ sách hóa đơn đầy đủ như áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, điều mà các hộ kinh doanh không buộc phải có, hay nói đúng hơn, khu vực hộ kinh doanh được Bộ Tài chính cho phép áp dụng một chế độ kế toán giản đơn (thuế khoán).

Quỹ hỗ trợ phát triển đã đi vào hoạt động hơn 3 năm, tuy nhiên, các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân hầu như không tiếp cận được đến nguồn vốn của Quỹ do không thể vượt qua được những quy định của Nghị định 43/1999/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và các thủ tục của Quỹ. Chẳng hạn, để được cấp tín dụng ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển, theo Nghị định 43, doanh nghiệp phải có tư cách pháp nhân. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp tư nhân một chủ và các hộ kinh doanh cá thể không thể là đối tượng của Quỹ, vì chúng không có tư cách pháp nhân theo tiêu chí của Bộ luật dân sự Việt Nam.

2.3. Còn nhiều khó khăn trong việc vay vốn

Vẫn còn tồn tại một hiện tượng là trong khi các ngân hàng dư thừa vốn không tìm được các dự án đầu tư thì các công ty tư nhân lại thiếu vốn và phải đi vay ở thị trường không chính thức với lãi suất cao. Sự phân biệt đối xử trong vây vốn vẫn còn tồn tại trong Nghị định số 43/9991/NĐ-CP về tín dụng đầu tư. Theo đó, các doanh nghiệp nhà nước có thể vay tín dụng đầu tư của nhà nước mà không cần phải thế chấp, còn các nhà đầu tư tư nhân muốn vay vốn phải thế chấp.

Vốn vay từ các ngân hàng thương mại chủ yếu là vốn ngắn hạn. Chỉ có 30% trong vay tồn đọng là khoản vay trung và dài hạn và hầu hết các loại tín dụng này là dành cho các doanh nghiệp nhà nước. Thậm chí các ngân hàng thương mại quốc doanh còn dành riêng 30% vốn để cho các doanh nghiệp nhà nước vay. Các thủ tục vay ngân hàng cũng khá phức tạp. Thêm vào đó là các qui định về yêu cầu thế chấp vẫn chưa được hoàn thiện: ít tài sản có thể được sử dụng để thế chấp hợp lệ, quyền sử dụng đất được hợp pháp hoá bằng việc cấp phép sử dụng đất, các ngân hàng thường đánh giá thấp giá trị thế chấp dể bảo đảm an toàn.

Thế chấp quyền sử dụng đất là một vấn đề phức tạp và không rõ ràng do đặc điểm của các quy định của Việt Nam về đất và sở hữu tài sản. Đánh giá quyền sử dụng đất là vướng mắc chính hiện nay. Trên thực tế, các kết quả tố tụng và phán quyết tại toà án cho thấy các cơ quan pháp lý ở các tỉnh đánh giá giá trị quyền sử dụng đất không nhất quán. ở một số tỉnh, các cơ quan có thẩm quyền pháp lý đánh giá giá trị quyền sử dụng đất dựa trên khung giá đất do Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định. Nhưng ở một số tỉnh khác các cơ quan có thẩm quyền pháp lý lại đánh giá giá trị quyền sử dụng đất dựa trên giá của quyền sử dụng đất ở thị trường địa phương. Vì vậy, trong một số trường hợp, quyền hợp pháp và lợi ích của người đi thế chấp và người nhận thế chấp không được bảo vệ.

2.4. Mặt bằng kinh doanh vấn đề nan giải nhất

Hầu hết các doanh nghiệp và các công ty tư nhân đều phải sử dụng nhà cửa, đất vườn làm mặt bằng kinh doanh. Mặc dù Luật Đất đai mới được sửa đổi đã có một số thay đổi quan trọng có lợi cho các nhà đầu tư, nhưng tình trạng thiếu đất cho sản xuất cũng như đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn còn phổ biến trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Do hệ quả của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây, phần lớn đất giao cho các doanh nghiệp nhà nước hiện đang bị lạm dụng hoặc để không rất lãng phí. Trong khi đó, nhiều công ty tư nhân mới nổi lên đang thực sự cần đất để bắt đầu hoặc mở rộng kinh doanh lại không có cách nào để có đất trừ khi đi thuê lại đất của các doanh nghiệp nhà nước ở mức giá cao hơn rất nhiều so với mức giá do các cơ quan thẩm quyền nhà nước qui định.

2.5. Những yếu tố bất lợi trong hệ thống thuế hiện hành

Sự khác nhau trong xác định các chi phí biến đổi và không đổi để được khấu trừ từ lợi tức chịu thuế và thuế thu nhập bổ sung gây khó khăn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Một chế độ ưu đãi được áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước: mỗi lần khi có sự tăng lên về giá mua nguyên liệu thô, trang thiết bị, hàng hoá bằng ngoại tệ hoặc khi tỷ giá hối đoái thay đổi thì chi phí để mua những mặt hàng trên và chi phí cho các mặt hàng chưa bán được sẽ được xác định lại để bảo toàn vốn. Như vậy, rõ ràng là do không được áp dụng qui định này nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cho dù có hay không có lợi nhuận vẫn phải bỏ vốn của doanh nghiệp ra để nộp thuế.

Đối với các doanh nghiệp nhà nước, lương trả cho công nhân được coi là chi phí không đổi theo mức giá thống nhất đã được thông qua trong khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải tuân thủ qui định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về mức lương trung bình cho mỗi ngành công nghiệp (mức lương này thường rất thấp).

Trong trường hợp có thêm thu nhập hoặc phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung thì khi tính mức thuế này các doanh nghiệp nhà nước cũng có lợi thế về mức lãi suất được trừ và họ cũng được hưởng mức thuế bổ sung thấp hơn so với các doanh nghiệp tư nhân.

2.6. Những khó khăn đối với các nhà xuất khẩu

Về xuất khẩu, những vấn đề mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang phải đối mặt với bao gồm:

-Việc tiếp cận với hạn ngạch xuất-nhập khẩu bị hạn chế và trên thực tế các doanh nghiệp nhà nước vẫn giành được sự ưu tiên.

-Thiếu thông tin về thị trường của đối tác, về khách hàng nước ngoài và thiếu mạng lưới marketing.

-Tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm xuất khẩu không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.

-Thủ tục hải quan phức tạp, rườm rà; thuế xuất-nhập khẩu được áp dụng tuỳ tiện do hệ thống mã thuế chưa chuẩn.

2.7. Yếu kém của hệ thống các dịch vụ phát triển kinh doanh

Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã đưa ra một số các biện pháp chính sách hỗ trợ phát triển các dịch vụ kinh doanh cho các doanh nghiệp. Các chính sách này nhằm khuyến khích các hoạt động tư vấn, đào tạo; nâng cao kỹ năng quản lý, thị trường, cung cấp thông tin khoa học công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, marketing, thúc đẩy thương mại, thiết lập liên minh và giao lưu, ưu đãi trong thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất, tiền thuê đất và phí sử dụng đất.

Các biện pháp khuyến khích nói trên rất được các nhà đầu tư hoan nghênh. Tuy nhiên, chúng không đến hoặc đến rất ít với các nhà đầu tư tư nhân do những cản trở từ các cơ quan thi hành luật và sự kém hiểu biết của các chủ doanh nghiệp. Dưới đây sẽ điểm qua các vấn đề của từng loại dịch vụ chính.

2.7.1. Về dịch vụ tư vấn

Phí dịch vụ tư vấn quá cao vượt quá khả năng thanh toán của các doanh nghiệp nhỏ. Do qui mô nhỏ, nguồn lực hạn chế và ít chính sách ưu đãi nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiếm có cơ hội sừ dụng các nhà tư vấn có năng lực để tiếp cận thị trường thông tin, các thành tựu khoa học, công nghệ và quản lý mới. Trên thực tế, đây là rào cản cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh hiện nay.

2.7.2. Về chuyển giao công nghệ

Qui chế hiện thời không cung cấp đầy đủ thông tin chơ các hoạt động chuyển giao công nghệ, ví dụ như các hoạt động có liên quan đến việc thực thi công nghệ, ứng dụng các công nghệ nghiên cứu vào sản xuất và kinh doanh. Trong bối cảnh các qui định hiện nay, các hợp đồng về ứng dụng công nghệ được cho là không có hiệu quả do không thoả mãn các điều kiện chuyển giao công nghệ.

Các qui định về hợp đồng chuyển giao công nghệ qui định quá chi tiết về hình thức và nội dung với nhiều điều kiện ràng buộc (ví dụ như thời hạn chuyển giao, mức giá, các điều kiện chuyển giao và bảo hành, v…v) đã tạo ra rào cản và không khuyến khích các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ.

Cơ chế thẩm định, phê chuẩn và ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ chứng tỏ sự quản lý cứng nhắc. Cơ chế này đã khiến cho các qui định về chuyển giao công nghệ không những không thể thực hiện được mà còn hạn chế các hoạt động chuyển giao công nghệ thông thường. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp liên doanh đã cố gắng để tránh hoặc hạn chế đến mức có thể những khó khăn trong quá trình ký kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Hầu hết các doanh nghiệp đều không đăng ký các hợp đồng chuyển giao công nghệ vì họ sợ những thủ tục quan liêu và chậm trê.

2.7.3. Về đào tạo

ở Việt Nam lực lượng lao động tăng nhanh, dự đoán tới năm 2005 lực lượng lao động sẽ chiếm 59% dân số. Vấn đề ở đây là chỉ dưới 20% lực lượng lao động được đào tạo, khoảng 56% công nhân không có kỹ thuật hoặc kỹ thuật thấp. Đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng ở nông thôn: 71% lao động làm việc ở các vùng nông thôn nhưng chỉ 10% trong số họ được đào tạo.

Nền giáo dục của Việt Nam chưa hướng vào nhu cầu của kinh doanh thương mại. Đào tạo kỹ thuật ở Việt Nam chủ yếu thuộc trách nhiệm của các trường dạy nghề quốc lập và các trường cao đẳng để đáp ứng nhu cầu đào tạo của các DNNN. Chính phủ đang giảm dần sự hỗ trợ cho một số lượng lớn các trung tâm đào tạo chuyên nghành công nghiệp trên toàn đất nước. Mặc dù chất lượng đào tạo của các trung tâm này chỉ tập trung đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hiện đại, song các trung tâm này chỉ có các thiết bị đào tạo lạc hậu và tương lai của họ là không bảo đảm.

Những lý do chính của các trở ngại là:

– Với các doanh nghiệp tư nhân, việc tiếp cận các dịch vụ đào tạo nguồn nhân lực của nhà nước bị hạn chế chủ yếu do họ không có đủ vốn để làm việc đó.

– Chương trình đào tạo hiện nay tại các trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo công nhân kỹ thuật không thể đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp bởi vì nó quá tập trung vào lý thuyết mà quên đi thực hành, nội dung đào tạo thi cũ kỹ không theo kịp những yêu cầu thực tiễn. Hiện tại chỉ có vài trung tâm đào tạo công nhân kỹ thuật được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại cũng như có nội dung chương trình đào tạo hợp lý.

2.7.4. Về sở hữu công nghiệp

Về địa vị pháp lý, không thấy có sự phân biệt đối xử nào giữa các khu vực kinh tế trong những vấn đề liên quan đến sở hữu công nghiệp. Đó là lý do vì sao mà các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp lại có ảnh hưởng ngày càng tích cực đến việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, khuyến khích hoạt động sáng tạo, cạnh tranh bình đẳng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế. Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ không được bao quát hết mà chỉ được quy định trong một số điều khoản của Bộ luật dân sự, vì bằng sáng chế, thiết kế kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu sản phẩm không chỉ là tài sản của một cá nhân, mà còn liên quan tới nhiều người khác. Rõ ràng, một hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chỉ dựa vào toàn bộ Phần VI của Bộ luật dân sự đã dẫn đến những hạn chế sau:

– Các mối quan hệ về sở hữu trí tuệ được chú trọng đến chủ yếu ở khía cạnh dân sự và được bảo hộ theo các thủ tục dân sự, trong khi đó việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đôi khi cũng cần đến các biện pháp hành chính và hình sự để cưỡng chế;

– Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đòi hỏi phải chặt chẽ, rõ ràng, đầy đủ và phải phù hợp với trình tự, thủ tục. Một việc như vậy lẽ ra phải được quy định ngay trong luật, chứ không phải thông qua các văn bản dưới luật như hiện nay;

– Vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp mà chưa được luật quy định. Đó là: Bảo hộ bí mật kinh doanh; bảo hộ quyền đấu tranh chống lại cạnh tranh không bình đẳng trong lĩnh vực công nghiệp; bảo hộ kỹ thuật sinh học trong việc lai tạo các giống cây trồng; bảo hộ những biện pháp phòng ngừa, chữa bệnh cho cây trồng;.và các bảo hộ khác; thiếu quy định về tiêu chuẩn để phân biệt nhãn hiệu sản phẩm đã đăng ký với những chỉ dẫn về địa lý của hàng hoá được bảo hộ; và thiếu quy định về việc bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng.

– Mặc dù được bình đẳng trước pháp luật, song các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam vẫn gặp phải nhiều khó khăn trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp do năng lực tài chính hạn chế, thiếu kinh nghiệm và cán bộ chuyên môn trình độ cao. Phần lớn các doanh nghiệp này không đủ khả năng tự tiến hành các hoạt động liên quan đến sở hữu công nghiệp.

2.8. Chốt lại những điểm chính

Từ những phân tích trên, có thể thấy rõ sự phân biệt đối xử mà các doanh nghiệp khu vực tư nhân đang còn phải chịu qua nhiều khía cạnh thậm chí ngay cả trong chính sách và trong việc thực thi chính sách. Chẳng hạn, đó là:

Ø Các doanh nghiệp nhà nước có thuận lợi hơn trong việc vay tín dụng ngân hàng. Trong khi các doanh nghiệp dân doanh phải tuân thủ nghiêm chỉnh yêu cầu thế chấp thì các doanh nghiệp nhà nước lại không cần quan tâm tới điều này.

Ø Các doanh nghiệp nhà nước có thể thuê đất dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp dân doanh.

Ø Các doanh nghiệp nhà nước dễ dàng tiếp cận với tín dụng ưu đãi của chính phủ hơn là các doanh nghiệp dân doanh.

Ø Các cơ quan có thẩm quyền dường như quan tâm và hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước nhiều hơn so với các doanh dân doanh.

Ø Các doanh nghiệp nhà nước có được nhiều thông tin từ các cơ quan có thẩm quyền hơn các doanh nghiệp dân doanh.

Ø So với các doanh nghiệp dân doanh, đội ngũ công nhân và cán bộ quản lý ớ các doanh nghiệp nhà nước có thể tiếp cận đễ dàng hơn với các dịch vụ đào tạo ngắn hạn miễn phí của các tổ chức nhà nước.

3. Một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh

3.1. Đảm bảo tính đồng bộ giữa quyền tự do, tự chủ kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường

Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế, tự do hoá quyền kinh doanh, tự do hoá gia nhập thị trường mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để huy động và phát huy hết nguồn lực hiện có, tận dụng được các cơ hội phát triển, và giải quyết được các vấn đề cơ cấu vùng và cơ cấu ngành, nghề của quá trình phát triển. Các giải pháp mở rộng quy mô “thị trường hoá” nền kinh tế như xây dựng kết cấu hạ tầng, cung cấp thông tin, hỗ trợ phát triển và nâng cao năng lực của các tác nhân thị trường sẽ góp phần “hiện thực hoá” quyền tự do kinh doanh. Thiếu thể chế mở rộng quy mô thị trường, thì quyền tự do kinh doanh chỉ phát huy tác dụng tự phát ở những vùng có kinh tế thị trường phát triển ở mức cao hơn.

3.2. Tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp

Trước hết, đó là vấn đề mặt bằng kinh doanh. Tuy có cải thiện so với trước đây, nhưng việc tiếp cận với quyền sử dụng đất làm mặt bằng kinh doanh vẫn là vấn đề khó khăn nhất, là cản trở lớn nhất đối với đầu tư mới cũng như đầu tư mở rộng. Số đất nhà nước có để cho thuê là quá ít so với nhu cầu.[2]

Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng kinh doanh cùng các dịch vụ hạ tầng với thủ tục nhanh chóng và chi phí hợp lý thông qua xây dựng khu và cụm công nghiệp vừa và nhỏ đã trở thành biện pháp tương đối có hiệu quả trong “cạnh tranh” thu hút đầu tư.

3.3. Tạo lập môi trường thuận lợi đi cùng với các điều kiện trợ giúp doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tạo lập môi trường thuận lợi là chưa đủ cho sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng, mà phải có trợ giúp tích cực nhiều mặt của nhà nước, nhất là đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp v.v… Các trợ giúp của cơ quan nhà nước các cấp không thể chỉ dựa vào lòng nhiệt tình, hăng hái, làm theo “phong trào”, mà phải có tính chuyên môn, chuyên nghiệp cao.

Thực tế, mấy năm qua cho thấy chỉ có nỗ lực của Nhà nước, của các cơ quan và công chức nhà nước là chưa đủ, mà phải tạo cơ chế huy động được sự tham gia của các tổ chức xã hội như hiệp hội, các tổ chức quần chúng, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn vào hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; đồng thời, sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng chỉ có hiệu quả, phát huy được tác dụng như mong muốn, khi doanh nghiệp được tổ chức theo loại hình hiện đại với địa vị pháp lý rõ ràng, được quản lý một cách minh bạch, tuân thủ pháp luật, tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, văn hoá kinh doanh.

3.4. Giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp để tăng sức cạnh tranh

Hiện tại, chi phí kinh doanh ở Việt nam cao hơn khá nhiều so với các nước khác trong khu vực. Giá điện cao hơn các nước ASEAN khác từ 45% đến 220%, trong khi chất lượng điện cung ứng cũng kém hơn (thường xuyên không bảo đảm điện áp, việc cắt điện diễn ra thường xuyên[3]). Chi phí vận tải, bốc xếp ở VN cao hơn các nước trong khu vực (bình quân 1 DN xuất nhập khẩu theo đường hàng không hoặc đường biển phải chịu 20 loại phí khác nhau). Chi phí giao dịch, xin phép chiếm đến 8-10% chi phí của công trình. Chi phí sản xuất của ngành dệt may VN cao hơn Trung quốc 25-30% do năng suất lao động thấp và hầu hết nguyên phụ liệu đầu vào và máy móc phải nhập khẩu. Năm 2003, cước phí viễn thông đã giảm từ 30% đến 40%, nhưng cước phí điện thoại quốc tế vẫn cao hơn 9 lần so với Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngoài ra, còn một loạt chi phí cao bất thường làm giảm sức cạnh tranh của ngành du lịch VN như cước phí Internet, giá vé máy bay, phí xin visa…

Hầu hết các dịch vụ trên đều do các DNNN độc quyền cung ứng, cộng thêm việc chưa có Luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, nên tình hình chưa được cải thiệt nhiều. Do vậy, giải pháp trước mắt đòi hỏi sự nỗ lực lớn của bộ máy nhà nước là giảm mạnh và kiểm soát độc quyền của các DNNN, giảm mạnh các chi phí trong kinh doanh để bảo đảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ.

3.5. Hoàn thiện khung pháp lý theo hướng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế

Để môi trường kinh doanh trong sạch, khung pháp lý đồng nhất, tránh đối xử không công bằng giữa các khu vực kinh tế, một trong những việc sớm muộn gì cũng cần phải hình thành một luật doanh nghiệp chung cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và một luật khuyến khích và bảo hộ đầu tư chung trên cơ sở Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước hiện hành.

Loại bỏ một cách kiên quyết và đồng bộ các rào cản pháp lý đã phân tích ở trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cáo doanh nghiệp tư nhân dễ dàng tiếp cận với các nhân tố sản xuất như vốn vay, đất vốn công nghệ, thị trường, v…v.

Tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách hệ thống thuế, điều chỉnh mức thu nhập chịu thuế khởi điểm đối với người có thu nhập cao và mức thu nhập chịu thuế thu nhập bổ sung./.


[1] Số lao động trong DNNN đến 1/7/2002 là 1.845.200 người.[2] Một số khu công nghiệp đầu tư qua công ty phát triển hạ tầng sau nhiều năm xây dựng, vẫn còn nhiều đất để cho thuê, nhưng chi phí thuê đất quá cao, vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở trong nước. Có nơi, chi phí thuê đất quá cao, nhu cầu thuê đất thấp, Uỷ ban nhân dân địa phương đã xin chuyển đổi đất công nghiệp thành đất ở, chia lô để bán.[3] Theo kết quả điều tra của Đề án “Phát triển kết cấu hạ tầng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh” của CIEM, 36% khách hàng bị cắt điện dưới 3 lần/năm; 25% bị cắt dưới 10 lần/năm và 56% khách hàng bị “chết bất đắc kỳ tử” do cắt điện không thông báo.

——————————–

SOURCE: WWW.CIEM.ORG.VN