ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ Ở MỸ

NGUYỄN HỮU VIỆT HƯNG

Khi học hết bậc phổ thông, ở lứa tuổi 18, nói chung người ta khó có thể đưa ra một lựa chọn nghề nghiệp mà sau đó người ta thấy là đúng đắn trong suốt cả cuộc đời. Khi buộc phải chọn, nhiều người có thể chọn sai, và một số năm sau đó họ có nhu cầu chọn lại. Hệ thống đào tạo theo tín chỉ có ưu điểm rõ rệt là nó dành cho người học một sự tự chủ và quyền tự quyết rất lớn.

Đặc điểm có lẽ là lớn nhất của đào tạo theo tín chỉ là: Phần lớn sinh viên trong những năm học đầu đều chưa biết và không nhất thiết phải xác định họ sẽ theo học ngành nào (Khoa học cơ bản, Công nghệ, Kinh tế, Luật, Y, Dược, Kiến trúc, Nông nghiệp…) Họ cứ vừa học vừa tự tìm hiểu thiên hướng nghề nghiệp của chính mình. Chỉ tới khoảng cuối năm thứ hai hoặc năm thứ ba họ mới cần định hướng ngành học của mình bằng những tín chỉ nhất định mà họ chọn lựa. Cứ có “đủ bộ” tín chỉ của một ngành học nào đó thì họ được cấp bằng tốt nghiệp của ngành học ấy. Nếu muốn chuyển từ một ngành này sang một ngành khác, họ chỉ cần tự thay đổi một số tín chỉ, chứ không phải học lại từ đầu.
Ở nước ta, dù đang định triển khai đào tạo theo tín chỉ, nhưng đặc điểm mấu chốt này của hệ thống đào tạo đó lại chưa bao giờ được ý thức, bàn thảo, nhằm thực thi đầy đủ.

Bắt đầu một học kỳ của sinh viên
Ở Mỹ, bắt đầu một học kỳ mỗi sinh viên tự quyết định các môn mà mình sẽ theo học trong học kỳ đó, nhằm thu được một số tín chỉ nhất định. Nếu học ít môn quá, thì thời gian học sẽ kéo dài, tăng phí tổn, và khó được nhận học bổng. (Học bổng được quyết định trên cơ sở số tín chỉ và kết quả của các tín chỉ mà sinh viên thu được trong học kỳ trước.) Nếu học nhiều môn quá thì sinh viên không đủ sức lực và thời gian. Tất nhiên, mỗi môn học đều có đòi hỏi tiên quyết về những môn sinh viên phải học trước đó. Trong mỗi học kỳ, mỗi môn học đều được giảng bởi nhiều giáo sư khác nhau, ở nhiều lớp khác nhau, tại nhiều thời điểm khác nhau. Sinh viên được quyền đăng ký vào học ở một trong các lớp này, chủ yếu dựa trên sự phù hợp về thời gian của họ với thời gian biểu của lớp học. Nhớ rằng nhiều sinh viên vừa đi làm (full time hoặc part time) vừa đi học. Số sinh viên của mỗi lớp học thường được giữ cho không vượt quá 40 hoặc 50 người (tùy đại học). Vì thế, nếu đăng ký muộn, sinh viên có thể không được xếp vào lớp mà anh ta muốn. Sinh viên được quyền học thử trong khoảng 1-2 tuần (tùy từng đại học), sau thời gian thử đó, sinh viên có thể xin đổi lớp (để có thời gian biểu phù hợp hơn, hoặc để được học một giáo sư mà người đó thích), hoặc xin thôi học môn này mà vẫn được hoàn lại học phí. Việc xin đổi lớp phải được sự đồng ý của giáo sư dạy ở lớp mà sinh viên muốn chuyển tới, và phải được giáo vụ chuẩn y.

null

Những ràng buộc và hỗ trợ đối với giáo sư khi nhận một môn học
Mỗi môn học đều có Đề cương (syllabus) do Khoa quy định và được đưa lên mạng từ trước. Đề cương này nêu rõ: Học theo sách nào, học những chương nào, những tiết nào bắt buộc, những tiết nào tùy chọn, mỗi chương và mỗi tiết chiếm thời lượng xấp xỉ bao nhiêu… Trên thực tế, nếu làm đúng như đề cương đòi hỏi, thì bài giảng của các giáo sư khác nhau cũng không khác nhau nhiều, và chất lượng của môn học đã được đảm bảo chắc chắn. Khoa cử một giáo sư có nhiều kinh nghiệm làm điều phối viên cho mỗi môn học. Nhiệm vụ của người này là trả lời những thắc mắc của các giáo sư ít kinh nghiệm hơn, thống nhất quan điểm của các giáo sư cùng dạy môn này, và nhắc nhở mọi người về thời gian các kỳ thi giữa và cuối kỳ. Họ thường làm tất cả những trao đổi này qua email, chứ không cần họp hành.
Khi nhận phân công giảng dạy một môn học, mỗi giáo sư được thông báo thông qua mạng thời gian và địa điểm dạy, thời gian và địa điểm thi hết môn. Giáo vụ của cả đại học lập ra lịch thi theo nguyên tắc rất công nghiệp, kiểu như sau: tất cả những môn (trong toàn trường) học vào lúc T giờ các ngày Thứ A và Thứ B đều thi vào ngày X lúc Y giờ.
Mỗi giáo sư được giao một trợ lý, làm việc chấm bài tập về nhà cho môn học mà mình dạy. Người này thường là sinh viên giỏi của năm trên, được đại học thuê làm một phần thời gian. Nhiệm vụ của người này là chấm bài tập và lên điểm. Cuối học kỳ giáo sư đánh giá chất lượng công việc của người trợ lý. Trên cơ sở đó, Khoa sẽ quyết định có tiếp tục thuê người này nữa hay thôi.

Đề cương (syllabus) môn học của giáo sư
Trước khi môn học bắt đầu, giáo sư phải soạn một đề cương chi tiết, phát bản in của nó cho mỗi sinh viên trong buổi học đầu tiên và đưa nó lên trên mạng. Nội dung của đề cương ngoài những quy định chung của đại học (chẳng hạn như nội dung của môn học, sách tham khảo chính, thời gian và địa điểm kỳ thi hết môn…) là những quy định riêng của giáo sư đó đối với sinh viên. Đề cương môn học của giáo sư khác với đề cương môn học của Khoa và phải chi tiết hơn.
Điểm của môn học được quyết định dựa trên điểm bài tập về nhà, điểm của hai kỳ thi giữa học kỳ, và điểm kỳ thi hết môn. Giáo sư được quyền quyết định tỷ lệ phần trăm của những điểm thành phần nói trên trong điểm của môn học. Thời điểm thi của các kỳ thi giữa học kỳ do giáo sư tự quyết định, và thường được thông báo ngay từ đầu học kỳ, trong syllabus của giáo sư.
Giáo sư phải bố trí cho mỗi lớp mình dạy mỗi tuần khoảng 2-3 lần, mỗi lần 1 giờ, cái gọi là “thời gian văn phòng”. Đó là lúc mà giáo sư có nghĩa vụ phải ở phòng làm việc của mình, để cho sinh viên có thể tới hỏi bài. Mỗi giáo sư ở Mỹ đều có phòng làm việc riêng, nên chuyện này không có gì phiền phức. Sinh viên cũng có thể liên hệ với giáo sư qua email hoặc điện thoại để hẹn giờ hỏi bài riêng, nếu họ bận đột xuất vào “thời gian văn phòng”.
Giáo sư thông báo địa chỉ trang web cá nhân, nơi sinh viên nhận bài tập và những lời dặn mỗi tuần, thông báo thời gian nhận và trả bài tập về nhà hàng tuần.
Tất cả những thông tin trên đây đều được viết rõ ràng và chi tiết trong đề cương môn học của riêng giáo sư, và được đưa lên mạng từ đầu học kỳ.

Việc dạy và học
Một số đại học của Mỹ chia một năm thành 4 học kỳ, gọi là semester hay quarter, mỗi học kỳ 3 tháng (bao gồm 10 tuần học, 2 tuần thi, chấm thi và lên điểm, 1 tuần nghỉ chuyển tiếp, tổng cộng 13 tuần). Sinh viên có thể học 3 hoặc 4 học kỳ một năm. Một số đại học khác lại chia một năm thành 3 học kỳ, gọi là semester, mỗi học kỳ 4 tháng (bao gồm 14 tuần học, 2 tuần thi, chấm thi và lên điểm, 1 tuần nghỉ chuyển tiếp, tổng cộng 17 tuần). Sinh viên có thể học 2 hoặc 3 học kỳ một năm.
Trên nguyên tắc, người ta khuyến khích giáo sư đối thoại với sinh viên trong lúc giảng bài, nhưng việc giảng bài trên lớp tại Mỹ về cơ bản không khác với việc giảng bài tại Việt Nam (ít nhất là về môn toán). Điểm khác căn bản có thể là ở chỗ sinh viên Mỹ không thích nói quá nhiều về lý thuyết, họ quan tâm và đòi hỏi bài giảng lý giải ý nghĩa và ứng dụng thực tế của vấn đề. Họ cũng chú trọng các kỹ năng thực hành. Họ có thể bình tĩnh khi chưa thấu đáo ý nghĩa lý thuyết của vấn đề, nhưng nếu họ không làm được bài tập thì họ sẽ kéo đến rất đông trong giờ văn phòng của giáo sư.
Hàng tuần sinh viên nhận bài tập được giao trên mạng. Bài tập có thể gồm 2 loại, một loại dành cho luyện tập và không phải nộp, một loại khác sinh viên phải nộp lại cho giáo sư vào thời điểm đã hẹn của tuần tiếp theo. Giáo sư chuyển các bài tập vào hòm thư của mình để người trợ lý tới lấy, chấm bài, lên điểm và chuyển lại vào hòm thư cho giáo sư.
Việc thường xuyên có mặt tại lớp không phải một nghĩa vụ của sinh viên. Do đó, việc điểm danh sinh viên đi học tự nó trở nên vô nghĩa.
Giáo sư có thể giao một vài vấn đề cho sinh viên tự đọc. Tuy nhiên, ít nhất là đối với môn toán, những vấn đề này thường là không cốt yếu, và không cần dùng tới trong phần còn lại của giáo trình.
Tôi không hề thấy giờ tự học của sinh viên được ghi trong chương trình của đại học. Sinh viên ở bất cứ đâu, bất cứ thời đại nào cũng phải tự học. Nhưng việc tự học của sinh viên không phải là một bộ phận của chương trình giảng dạy của đại học. Đáng tiếc là ở ĐHQG Hà Nội người ta đang định xếp giờ tự học của sinh viên thành một bộ phận của giờ học chính thức.

Việc thi và chấm thi
Giáo sư tự ra đề, tự coi thi và tự chấm thi tất cả các lần thi giữa kỳ và hết môn. Phòng thi không cần tới 2 người coi. Bài thi không cần dọc phách. Cũng có đại học quy định kỳ thi hết môn đối với các môn học ở năm học đầu do một hội đồng của Khoa ra đề chung. Khi đó, điều kiện cần để hoàn thành môn học này là sinh viên phải đạt ít nhất 50% số điểm của kỳ thi hết môn. Điều kiện đủ thì do giáo sư tự quyết định.
Tất cả các bài thi đều là tự luận, không thấy dùng hình thức thi trắc nghiệm.

Quyết định điểm của môn học
Như trên đã nói, mỗi giáo sư được quyền tự quyết định tỷ trọng của điểm bài tập về nhà, điểm của hai kỳ thi giữa học kỳ, và điểm kỳ thi hết môn. trong điểm của môn học. Chẳng hạn, tôi đã cho bài tập về nhà 50 điểm, mỗi trong 2 kỳ thi giữa học kỳ 100 điểm, kỳ thi hết môn 150 điểm, trong tổng số 400 điểm của môn học. Giáo sư cũng có quyền cho phép hoặc không cho phép sinh viên được làm lại bài thi giữa kỳ và nộp cho giáo sư, nhằm ghi thêm điểm. Chẳng hạn, tôi cho phép sinh viên làm như thế để ghi thêm tối đa là 1/3 số điểm mà sinh viên đó bị trừ trong lần thi giữa kỳ chính thức. Tôi nhận thấy rằng làm như thế sinh viên tự nhận ra sai lầm mà họ có thể đã mắc phải trong kỳ thi tốt hơn là để họ theo dõi đáp án của tôi.
Một số đại học ghi điểm cuối cùng của môn học bằng 11 bậc, dùng các chữ cái A, B, C, D, kèm theo có thể các dấu cộng hoặc trừ (nhưng không có A+). Một số đại học khác ghi điểm cuối cùng của môn học bằng 41 bậc, từ 0.0 tới 4.0. Việc chuyển thế nào từ điểm cuối cùng (bằng số thông thường) của môn học (chẳng hạn 355/400 điểm) sang thang ghi điểm này cũng do giáo sư tự quyết định.
Giáo sư tự lên điểm và gửi bảng điểm cho giáo vụ của đại học một cách trực tiếp, hoặc qua hệ thống thư tín trong đại học, đôi khi cũng có thể gửi qua thư ký của Khoa. Nếu còn lưỡng lự trong việc có nên đánh trượt hay không một sinh viên, giáo sư có thể thông báo trong bảng điểm nộp cho giáo vụ rằng trường hợp này chưa hoàn tất. Sau đó, giáo sư có quyền đòi hỏi sinh viên ấy làm một số bài tập bổ sung, hoặc viết thu hoạch về một vấn đề liên quan đến môn học, trên cơ sở đó mà quyết định điểm môn học cho sinh viên này, rồi thông báo kết quả cho giáo vụ. Nếu bị đánh trượt, sinh viên sẽ phải học lại cả môn, không có chuyện thi lại.
Điểm là bí mật cá nhân của mỗi sinh viên. Điểm của mỗi sinh viên được giáo vụ chuyển vào trương mục riêng của sinh viên đó trong hệ thống internet của đại học. Giáo sư có thể thông báo điểm cho từng sinh viên, nhưng không được báo điểm của người này cho người khác.

Sinh viên đánh giá giảng dạy
Cuối học kỳ, trước kỳ thi hết môn, mỗi sinh viên được phát một mẫu “đánh giá giảng dạy”. Sinh viên được nhận xét về những điều bổ ích hay chưa bổ ích của môn học, ưu điểm và nhược điểm của môn học, ưu điểm và nhược điểm của người giảng dạy. Giáo sư không được can thiệp vào đánh giá này. Đây là một hình thức xả “stress” mà các đại học Mỹ dành cho sinh viên. Đại học cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, dựa trên những đánh giá của sinh viên để thay đổi một phần nội dung môn học, khiến cho nó dễ được thu nhận hơn. Một số đại học thông báo lại cho giáo sư bản tổng hợp những đánh giá của sinh viên đối với bài giảng của giáo sư này.
Tôi có hỏi một giáo sư người Mỹ: “Nếu một đồng nghiệp mà anh vốn trân trọng bị sinh viên nhận xét là kém, thì anh có tin nhận xét đó không?” Trả lời: “Đương nhiên là không”. Lại hỏi: “Thế thì việc để cho sinh viên đánh giá giảng dạy có phải là một hành động mị dân hay không?”. Trả lời: “Việc này có khởi nguồn liên quan đến cuộc chiến tranh (của Mỹ) ở Việt Nam. Bấy giờ vào khoảng 1967-68, sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam đang đi vào ngõ cụt, cả xã hội Mỹ như một thùng thuốc súng, lúc nào cũng chỉ chực nổ tung. Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội. Hàng ngày, họ biểu tình, bãi khóa, đốt quốc kỳ, đốt hình tổng thống… Trong bối cảnh đó, các đại học Mỹ nghĩ ra chuyện cho phép sinh viên đánh giá giảng dạy của các giáo sư như một giải pháp nhằm hạ nhiệt cái thùng thuốc súng nói trên. Từ đó, việc này hình thành và tồn tại như một thói quen”. Tôi không rõ lý giải trên của ông bạn đồng nghiệp của tôi có được tất cả nước Mỹ chấp thuận không. Dù sao, tôi cũng ghi lại để mọi người tham khảo.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

SUY NGHĨ TỪ HÌNH THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ

HẠNH NGUYÊN

Từ năm 2001, Bộ GD&ĐT đã quyết định tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy cho sinh viên theo học chế tín chỉ. Và Bộ cũng đã yêu cầu các trường đại học, cao đẳng trong cả nước, đến năm 2010 hoàn thiện chương trình đào tạo mới này để thay thế cho hình thức đào tạo theo niên chế hiện nay. Tuy nhiên, tính đến năm học 2006 – 2007, trong cả nước có khoảng 6 trường đại học áp dụng theo hình thức tín chỉ này (ở Hà Nội có 2 trường là ĐH Xây dựng, ĐH Dân lập Thăng Long, 4 trường còn lại của thành phố Hồ Chí Minh là ĐH Thủy sản Nha Trang, ĐH Đà Lạt, ĐH Khoa học tự nhiên- ĐHQG, ĐH Bách Khoa). Bởi thế cho nên cũng không có gì ngạc nhiên khi người dân và một phần sinh viên đến thời điểm này vẫn còn bỡ ngỡ, chưa hiểu (thậm chí xa lạ) với hình thức đào tạo mới này. Vậy tín chỉ là gì? Nền giáo dục nước ta sẽ gặp những thuận lợi và khó khăn nào khi thực hiện công cuộc chuyển đổi này?

Tín chỉ (credit), theo Hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo của ĐHQG Hà Nội, là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học, bao gồm:
(1). Thời gian học tập trên lớp
(2). Thời gian học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác đã được quy định ở đề cương môn học
(3). Thời gian dành cho việc tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài.

Như vậy, căn cứ vào tình hình, nhiệm vụ đào tạo của từng khoa, từng trường, mỗi sinh viên phải hoàn thành ít nhất từ 120 – 140 tín chỉ. Ở trường ĐH Tokyo Nhật Bản, sinh viên ngành khoa học nhân văn phải hoàn thành 136 tín chỉ, với sinh viên khoa học tự nhiên là 144 tín chỉ. Một tín chỉ tương đương với 15 tiết học lý thuyết, 30 tiết thảo luận và làm bài tập, thí nghiệm, 45 – 60 tiết thực tập (như khung đào tạo của ĐH Xây dựng). Lượng kiến thức dành cho sinh viên gồm 2 khối cơ bản: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên môn. Mỗi khối kiến thức ấy cụ thể chia thành 2 nhóm học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn. Học phần bắt buộc là khối kiến thức tiên quyết bắt buộc sinh viên phải học và thi đạt mới được học tiếp sang học phần khác. Và học phần tự chọn là những kiến thức cần thiết nhưng sinh viên được chọn theo hướng dẫn của nhà trường.
Hiện nay, học chế tín chỉ là hình thức đào tạo được xem là tiên tiến trên thế giới vì mục đích đào tạo của nó là hướng vào sinh viên, coi người học là trung tâm trong quá trình dạy – học. Với hình thức này, người học chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian (chủ động lựa chọn môn học, giáo viên, giờ học…), nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu. Đồng thời đào tạo theo học chế tín chỉ sẽ hạn chế được tình trạng dạy và học theo lối kinh viện (điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương đổi mới phương pháp dạy và học, đẩy nhanh quá trình hội nhập thế giới). Đây là một phương thức đào tạo đem lại hiệu quả giáo dục cao, tạo tính mềm dẻo và khả năng thích ứng, hơn nữa cũng tạo được hiệu quả cao về quản lý và giảm được giá thành đào tạo.
Tuy nhiên, đứng trước công cuộc cách mạng giáo dục này, chúng ta không thể không có những băn khoăn, trăn trở xung quanh việc chuyển đổi hình thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ. Bài viết xin xin đề cập một số giả định:
Thứ nhất, đào tạo tín chỉ có phải là hình thức đào tạo duy nhất và tân tiến nhất hiện nay hay không? Xin trả lời ngay, ít nhất, duy nhất thì không. Bởi trên thực tế toàn bộ nền giáo dục của châu Âu vẫn đào tạo theo kiểu niên chế. Trung Quốc và Nga cũng vậy. Còn ưu việt nhất? Không phủ nhận là Mỹ và Nhật rất thành công. Nhưng cũng không thể phủ nhận được là giáo dục đại học của những nước không tín chỉ là không thành công. Vậy có thể khẳng định: tín chỉ không phải là con đường duy nhất dẫn đến thành công của giáo dục đại học. Từ những lập luận ấy dẫn đến chuyện chúng ta phải lựa chọn. Nếu chỉ có một thành tố mà cái đó thành công thì tất yếu không phải chọn. Còn nếu có hai thành tố mà cả hai đều thành công thì bắt buộc phải có sự cân nhắc, chọn lựa. Và nguyên tắc là chọn cái nào hợp với mình.
Thứ hai, về nguyên tắc lựa chọn, có mấy tiêu chí:
(1). Hình thức nào thành công hơn?
(2). Hình thức nào phù hợp với mình hơn?
(3). Hình thức nào mình có thể làm được?
– Ở tiêu chí thứ nhất, không thể nói là giáo dục của Pháp thì tốt hơn của Mỹ hay ngược lại. Chỉ có điều khi chúng ta quyết định từ bỏ cái cũ để chuyển sang cái mới thì chúng ta phải trả lời được câu hỏi: Tại sao phải có sự thay đổi đó? Không thể trả lời một cách chung chung bằng những câu như “để đuổi kịp thế giới” vì hiện nay trên thế giới có những nước không đào tạo theo hình thức học chế tín chỉ (như trên đã nói). Và hơn nữa đuổi kịp đâu đơn giản chỉ là đuổi phương thức đào tạo mà quan trọng hơn cả là phải đuổi chất lượng đào tạo. Cũng không thể trả lời rằng “để nâng chất lượng giáo dục”. Một câu hỏi đặt ra là chất lượng kém thực chất ở đâu? Cần thẳng thắn nhìn nhận sự thực là trước hết ở chính  giáo viên. Một giáo viên cả quãng đời dạy học không viết, không tham gia một báo cáo khoa học nào thì tín chỉ hay không tín chỉ chất lượng cũng vẫn dẫm chân tại chỗ, không thể thay đổi được. Nói rộng ra, một trường đào tạo khoa học cơ bản, muốn nâng chất lượng thì mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu là đào tạo phải đi đôi với nghiên cứu. Nghiên cứu kém thì đào tạo cái gì. Gốc của vấn đề là ở đấy chứ không phải ở việc đào tạo theo hình thức nào, tín chỉ hay không tín chỉ. Đuổi theo tín chỉ để mong chất lượng nâng lên là một sự lừa dối, là “đuổi mồi bắt bóng”, là làm ngược vì lẽ ra phải nâng đội ngũ cán bộ, chuẩn hóa trước để khi đã “có bột” rồi thì “gột hồ” gì chả được và chả tốt.
– Ở tiêu chí thứ hai, về chuyện có hợp với mình hay không thì phải đặt giáo dục đại học trong quan hệ với tổng thể nền giáo dục và tổng thể xã hội. Cả nền giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 có đào tạo con người chủ động không mà lại yêu cầu lên đại học sinh viên phải chủ động? Đào tạo tín chỉ chỉ thực sự đem lại kết quả tối ưu khi nó phù hợp với những nước mà nền giáo dục gắn chặt với thị trường lao động và tính thực chất của học vấn (học thật, thi thật, điểm thật, kiến thức thật). Ở một nước như Việt Nam (học để lấy bằng) thì e rằng khó có thể nghĩ đến chuyện thành công. Nếu áp dụng phương pháp này, khi đó kết cục tất yếu là đào tạo tín chỉ sẽ phát huy cái tiêu cực. Phần lớn sinh viên sẽ chọn môn nào dễ, thầy nào dễ để học, để có một kết quả cao, một tấm bằng “đẹp” khi đi xin việc chứ không chọn môn có hàm lượng khoa học cao và thầy giỏi để học.
– Ở tiêu chí thứ ba, đào tạo tín chỉ đòi hỏi phải có những yêu cầu về vật chất và nguồn nhân lực thỏa mãn cho nó. Như quy định về giờ tín chỉ, giờ học lý thuyết chỉ chiếm 1/3, còn lại là giờ thực hành, tự học của sinh viên. Bởi vậy nhà trường phải có hệ thống hỗ trợ sinh viên tự học rất mạnh như thư viện, phòng vi tính, phòng học và phòng tự học…, những điều kiện về cơ sở vật chất ấy chúng ta đã có đủ chưa? Bên cạnh đó là phải có hệ thống quản lý, chúng ta đã có chưa? (Thực ra yêu cầu này không khó, các trường có thể khắc phục được). Và một điều nhức nhối nữa cần nhìn nhận lại là các cơ quan có thẩm quyền đã trả lương cho giáo viên thích đáng chưa? Nếu nói rằng mỗi giáo viên dạy một môn học phải soạn giáo trình, xây dựng đề cương môn học, lên lớp, kiểm tra, phải chấm rất nhiều bài để đánh giá kết quả học tập của sinh viên… song họ lại chỉ được trả một đồng lương rẻ mạt (15000đ/ tiết, không bằng cấp III) thì ai sẽ làm tốt từng ấy công việc?
Nhắc đến lựa chọn thì chúng ta phải biết đầy đủ về cái hay cũng như cái dở của cả 2 hình thức đào tạo: tín chỉ và niên chế. Khi quyết định chuyển đổi, dường như không một báo cáo nào nói đến cái dở của hình thức mới. Phải chăng nó không có cái dở? Hay là chúng ta không dám nhìn thẳng vào cái dở, trốn tránh cái dở? Và nếu thế thì sự lựa chọn trong điều kiện thiếu thông tin có công bằng, hợp lí hay không, có dẫn đến thành công hay không?
Thứ ba, một hệ thống đem ra thí nghiệm thì phải có một lộ trình bao gồm: làm thử – rút kinh nghiệm – làm thật. Chúng ta đã làm đúng lộ trình ấy chưa? Không thể nói là người khác làm thành công nên chúng ta có thể yên tâm. Một sự thật hiển nhiên là người khác có thể thành nhưng chúng ta vẫn có thể thất bại. Đấy là tư duy biện chứng. Trên thế giới, các nước đều mất khoảng gần 10 năm để chuyển đổi nhưng ở nước ta thì sao? Như ĐHQG Hà Nội, từ khi tổ chức tập huấn về chuyển đổi, hoàn chỉnh các chương trình, thẩm định và đến khi áp dụng chỉ vẻn vẹn có 2 – 3 năm. Hay như một chương trình phân ban cũng còn phải làm thí điểm vậy tại sao đào tạo tín chỉ không qua bước thí điểm, rút kinh nghiệm mà làm thật luôn? Đấy có phải là một cách làm khoa học? Và nếu nó thất bại thì sao? Câu hỏi này đã được đặt ra trong rất nhiều cuộc họp triển khai chuyển đổi hình thức đào tạo song không hiểu sao các nhà lãnh đạo có trách nhiệm vẫn im hơi lặng tiếng (nếu không muốn nói thẳng là họ đã lấp liếm đi). Từ trước đến nay, ở các trường đã có bao nhiêu cuộc thí nghiệm? Cả nền giáo dục đã có bao nhiêu cuộc thí nghiệm? Và cuối cùng thì thế nào? Không nói cũng đủ biết.
Trước thực tế đặt ra như vậy, vấn đề có nên áp dụng hình thức đào tạo tín chỉ hay không, cho đến nay, vẫn là một bài toán khó mà các nhà quản lý giáo dục chưa tìm được đáp án.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ: MUỐN LÀM PHẢI "TRỊ TỪ GỐC"

 Gần đây, Bộ GD&ĐT quyết định chuyển toàn bộ hệ thống đào tạo đại học ở nước ta thành đào tạo theo tín chỉ. Với kinh nghiệm giảng dạy và hợp tác nghiên cứu tại một số đại học có thứ hạng của Mỹ, như ĐH California (Berkeley), ĐH Johns Hopkins (Baltimore), ĐH Wayne State (Detroit), ĐH Washington (Seattle), GS.TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng (Đại học Quốc Gia Hà Nội) trong cuộc phỏng vấn với Tia Sáng đã nêu những điều kiện cần thiết của đào tạo theo tín chỉ và những tác động của nó tới môi trường đại học “đặc thù” của Việt Nam hiện nay.

Chắc GS đã nghe nhận định của những người được cử đi “thám thính” hệ thống đào tạo theo tín chi của Mỹ…
Nhiều đoàn đại biểu từ cấp Bộ cho tới cấp các đại học, các khoa… được cử đi tham quan trong thời gian từ một vài ngày cho tới 1-2 tuần tại một số đại học (thường là có thứ hạng không cao) ở Mỹ. Khi về nước, nhiều vị đã có những phát biểu, nhận định về hệ thống đào tạo theo tín chỉ. Nhưng vì thời gian tham quan quá ngắn, lại không trực tiếp tham gia giảng dạy, nên không có gì ngạc nhiên là các vị này thường đưa ra những thông tin không rõ ràng, nhiều khi trái ngược nhau. Chuyện này khiến người nghe nhớ đến cảnh “thầy bói xem voi”.
Hệ thống đại học của Mỹ là một bí ẩn rất hấp dẫn. Từ lâu, tôi tự đặt cho mình câu hỏi: Vì sao hệ thống đại học của Mỹ có thể đào tạo các sinh viên có trình độ ở đầu vào nói chung không cao, thành những chuyên gia giỏi chỉ trong vòng 4 năm (đối với cử nhân) hoặc 8 năm (đối với tiến sĩ). Tôi đã cố gắng tự trả lời nhiều lần, nhưng chưa bao giờ hài lòng với câu trả lời của mình. Theo tôi, ta nên trao đổi vấn đề này trên tinh thần mà Khổng Tử đã bàn: “Biết thì nhận là biết, không biết nhận là không biết, thế mới thực là biết”.

Theo GS, tác động của việc chuyển từ đào tạo theo niên chế sang tín chỉ với hệ thống đại học nước ta sẽ như thế nào?

Câu trả lời của tôi, có thể hơi bất ngờ, là thế này: Đào tạo theo tín chỉ chắc chắn sẽ dẫn tới bãi bỏ kỳ thi vào đại học, nhằm duy trì một số lượng sinh viên rất lớn. Bởi vì nếu mỗi môn học không có nhiều sinh viên theo học, và vẫn chỉ tổ chức được 1-2 lớp, thì sinh viên không có gì để chọn. Do đó, những người theo học cùng một ngành thì chỉ có khả năng chọn cùng một lớp như nhau. Vì thế, tiếng là đào tạo theo tín chỉ, thực ra vẫn không khác gì đào tạo theo niên chế. Đó thực sự là một trở ngại lớn trước mắt.

Tôi không nói nhập hai kỳ thi Tốt nghiệp phổ thông và Tuyển sinh vào đại học làm một. Tôi nói: Bỏ kỳ thi vào đại học. Bỏ thi vào đại học ngay trong tình trạng hiện nay thì mạo hiểm, và cầm chắc thất bại. Nhưng đó là chuyện đương nhiên của thế giới, là mô hình tất yếu của tương lai chúng ta, mà ta phải chủ động chuẩn bị cho nó. Tôi cho rằng học đại học là quyền lợi của tất cả mọi người. Thi vào đại học cũng giống như chế độ tem phiếu. Khi xã hội còn nghèo thì tem phiếu có thể là một giải pháp. Nhưng nó sẽ trở thành rào cản sự phát triển xã hội. Bỏ thi vào đại học cũng như bỏ chế độ tem phiếu, lúc đầu dễ gây hoảng loạn, tạo tâm lý bất an, e ngại xã hội sẽ mất kỷ cương. Nhưng nếu được thực hiện với sự chuẩn bị chu đáo, nó sẽ trở thành động lực phát triển xã hội. Trong số những người phản đối bỏ thi vào đại học, có nhiều người vô tư, nhưng cũng có những người do được hưởng lợi từ kỳ thi này, chẳng hạn một số ông thầy vẫn luyện thi vào đại học, hay một số cổ đông lớn của những trường phổ thông (dân lập) vẫn được tiếng là có tỷ lệ học sinh đỗ vào đại học cao. Việc bỏ kỳ thi vào đại học, và trước đó bỏ kỳ thi vào trung học phổ thông, sẽ xóa tận gốc nạn dạy thêm và học thêm đang tràn lan như cỏ dại.

Vậy khi nào thì ta có đủ điều kiện chín muồi cho việc bãi bỏ kỳ thi vào đại học?

Bãi bỏ kỳ thi vào đại học không có nghĩa là ai muốn học ở đại học nào cũng được. Học sinh được chọn vào học ở đại học nào là tùy theo nguyện vọng của họ, tùy theo hồ sơ học tập bậc phổ thông của họ, và tùy theo việc họ có trả nổi học phí hay không. Trong khi hầu hết các đại học không thi tuyển, thì một số đại học có đẳng cấp cao vẫn có kỳ thi tuyển riêng. Mặc dù vậy, cuối cùng thì ai cũng chọn được đại học phù hợp với mình. Nếu họ không may chọn nhầm (đại học có trình độ cao quá hoặc thấp quá so với khả năng của họ) thì hệ thống liên thông mềm dẻo của các đại học cũng tạo điều kiện cho họ được chuyển tới một đại học thích hợp hơn.
Cho nên, theo tôi, ta có thể bãi bỏ kỳ thi vào đại học khi nào ta đủ sức mở đủ các trường đại học để cho mọi người dân đã học xong bậc phổ thông, có nhu cầu học đại học, và có khả năng đóng học phí (một thứ học phí hợp lý, chứ không phải học phí ở trên trời), đều được nhận vào học ở một đại học phù hợp với mình. Đừng nghĩ rằng điều ấy là viển vông. Mỹ và nhiều nước Châu Âu đã làm được điều đó từ lâu. Mặt khác, ở những nước đã phát triển như vậy, số người có nhu cầu học đại học cũng không nhiều như ta tưởng. Việc phát triển các trường dạy nghề, và thái độ nhìn nhận “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” của xã hội cho phép người ta có thể chọn nhiều nghề không cần bằng đại học nhưng có thu nhập cao hơn người tốt nghiệp đại học.
Hãy nhớ lại, dưới thời bao cấp, biết bao người nghĩ rằng nếu bỏ chế độ tem phiếu thì chết đói hết. Nhưng xã hội ta đã dũng cảm bỏ tem phiếu. Kết quả là không những không ai chết đói, trái lại xã hội về mặt vật chất đã phát triển lên một đẳng cấp mới.
Tôi vẫn xin nhắc lại rằng Bỏ thi vào đại học ngay trong tình trạng hiện nay thì mạo hiểm, và cầm chắc thất bại. Nhưng ta phải chủ động chuẩn bị cho nó.
Đào tạo theo tín chỉ, nhưng lại chưa bỏ kỳ thi vào đại học, ta lấy đâu ra nhiều sinh viên, để tổ chức nhiều lớp cho họ được lựa chọn? Không được lựa chọn những cách tổ hợp môn học khác nhau thì, tiếng là học theo tín chỉ, khác gì học theo niên chế. Chúng ta đang định cứ đi khập khiễng như vậy đấy.

Nhưng nếu bỏ kỳ thi vào đại học, thì chất lượng đào tạo đại học ở nước ta sẽ ra sao?

Chất lượng đào tạo thấp kém không phải vấn đề chỉ do ngành giáo dục gây ra, thậm chí không phải chủ yếu do ngành giáo dục. Đây là một vấn đề có nguyên nhân xã hội sâu xa hơn nhiều: vấn đề xã hội dùng người như thế nào, có đúng với khả năng của người đó hay không. Xưa nay xã hội dùng người như thế nào thì việc học tập định hình theo như thế. Nếu các nghề nghiệp tốt phần nhiều dành cho con ông cháu cha, hoặc kẻ có tiền đút lót, không cần biết có đủ năng lực hay không, miễn là có một mảnh bằng, thì nạn “học giả” đương nhiên sẽ tràn lan. Nếu trái lại, mọi vị trí đều chọn người có đủ năng lực, bằng cấp chỉ là một điều kiện tối thiểu, có bằng cấp mà không đủ năng lực thì không ai dùng, khi đó mọi người sẽ tự khắc đua nhau học thật. Là một người trực tiếp giảng dạy đại học hơn 30 năm qua, tôi đau xót nhận ra rằng phần lớn thanh niên của chúng ta không còn động lực học tập khi đã bước chân vào đại học. Họ hỏi: học để làm gì khi mà dù có học rất giỏi thì những vị trí làm việc tốt cũng không tới tay họ. Xem ra, “nói không với tiêu cực trong giáo dục” chỉ là chữa phần ngọn, thay đổi cách dùng người của xã hội mới là trị bệnh từ gốc.
Về mặt phương pháp luận, tôi muốn nhắc tới Định lý về Tính không đầy đủ của nhà Toán học và Triết học Kurt Godel, người có ảnh hưởng sâu đậm tới tư duy khoa học của Thế kỷ 20. Đại thể định lý này có thể diễn đạt như sau: “Bất kỳ hệ thống lôgic nào đều chứa trong lòng nó những mệnh đề không thể chứng minh hay bác bỏ chỉ bằng những phương tiện của chính hệ thống đó”. Nói cách khác, mọi hệ thống đều không đầy đủ, đều cần được lý giải trong mối quan hệ của nó với một hệ thống lớn hơn. Nói riêng, nếu cứ tìm nguyên nhân xuống cấp của nền Giáo dục nước ta bằng cách chỉ suy xét trong nội bộ nền giáo dục đó, thì tìm mãi không ra là chuyện hiểu được, theo quan điểm của Kurt Godel. Phải nhìn sự xuống cấp của Giáo dục trong mối quan hệ của nó với một hệ thống lớn hơn, là toàn Xã hội, xem Xã hội đã cư xử với những sản phẩm của nền Giáo dục đó như thế nào, thì mới tìm thấy nguyên nhân của sự xuống cấp đó.
Trong khi nhiều môn phái triết học lo khẳng định sự toàn năng của mình, thì triết học Godel lại chỉ ra tính khiếm khuyết không tránh khỏi của bất kỳ hệ thống nào. Tính thức tỉnh của nó chính là ở chỗ đó.


Theo quan điểm của tôi, việc tổ chức thi trắc nghiệm tràn lan chắc chắn sẽ dẫn đến thất bại. Điều này đúng ở cả bậc phổ thông lẫn bậc đại học, không phụ thuộc vào việc ta có sử dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ hay không. Tôi có hỏi một số đồng nghiệp Mỹ về chuyện thi trắc nghiệm và được họ cho biết: Từ bé họ chưa bao giờ gặp một kỳ thi trắc nghiệm ở bất kỳ cấp học nào. Tôi hỏi: Vậy thi trắc nghiệm được sử dụng ở đâu và trong những trường hợp nào ở nước Mỹ? Họ đáp: Thi trắc nghiệm chỉ được sử dụng ở những trình độ và đẳng cấp rất thấp. Tôi kinh hoàng nghĩ về tình trạng thi trắc nghiệm đang được áp dụng tràn lan ở nước ta, với lập luận rằng ở Mỹ họ làm như thế. Có lẽ chỉ vài năm nữa thôi, do cách học để thi trắc nghiệm, chúng ta sẽ đào tạo ra không chỉ những tú tài, mà hàng loạt những cử nhân, có khi cả tiến sĩ nữa, không thể tự viết bất kỳ một câu văn hoặc một lời giải đơn giản nào. Khi mà thi trắc nghiệm đã thất bại thì (cũng như việc cải cách chữ viết trước đây) sẽ không một ai chịu đứng ra nhận trách nhiệm. Vì thế, tôi khuyên các nhà chép sử, hãy ghi chép kỹ ngay từ bây giờ những ai tự xưng là cha đẻ của thi trắc nghiệm ở Việt Nam, hoặc hết lòng cổ súy cho nó. Những ghi chép như vậy hẳn là sẽ bổ ích nay mai. Dù sao, tôi hy vọng rằng đào tạo theo tín chỉ sẽ không bị gắn với thi trắc nghiệm.

Một số trường đại học đã triển khai hình thức thi trắc nghiệm cho một số môn học, khi áp dụng đào tạo theo tín chỉ thì hình thức thi trắc nghiệm này sẽ có tác động như thế nào, thưa GS?

 

Với nguyên nguồn nhân lực của các trường đại học như hiện nay, muốn chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, theo GS, việc làm cấp bách nhất là gì?
Để chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, việc dạy của các giáo sư sẽ không phải thay đổi nhiều, nhưng công việc quản lý hành chính sẽ thay đổi căn bản, theo hướng nặng lên rất nhiều. Nó đòi hỏi phải có một đội ngũ quản lý và nhân viên hành chính rất chuyên nghiệp. Trách nhiệm của những người quản lý và nhân viên hành chính trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ, bên cạnh hàng núi công việc khác, là giúp cho sinh viên (trong đó có những người quay lại học tập sau nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm gián đoạn) nhận ra đúng thiên hướng và trình độ học lực của mình, đăng ký vào đúng lớp mình có thể và cần phải học. Ở Mỹ những người quản lý và nhân viên hành chính đều được đào tạo rất bài bản, khác với ở Việt Nam ta, bất kỳ con ông cháu cha nào cũng đều làm được việc này. Ta có đủ can đảm và sức lực để thay đổi hệ thống quản lý và nhân viên hành chính hay không? Theo tôi, những tranh luận gần đây về “đại học đẳng cấp quốc tế” hoặc “đại học hoa tiêu” đều chưa thấy tầm quan trọng của việc cần làm trước tiên, nếu thành lập một đại học như vậy, là thay đổi hệ thống quản lý và tổ chức hành chính.

Ngoài việc thay đổi hệ thống quản lý hành chính thì yếu tố nào GS đánh giá là có vai trò quyết định sự thành bại của đào tạo theo tín chỉ?

Giáo dục theo kiểu gì thì cũng cần đội ngũ giáo sư giỏi. Đó là yếu tố mấu chốt quyết định thành bại của nền giáo dục. Các đại học Mỹ đòi hỏi sinh viên đầu vào không cao. Nhưng chỉ sau 4 năm học, họ đã trở thành những chuyên gia vững vàng. Điều này có được chủ yếu là nhờ nước Mỹ có một đội ngũ giáo sư rất giỏi, rất chuyên nghiệp, được trả lương cao, tương xứng với lao động của họ. Chúng ta có trả được lương đủ sống cho các giáo sư hay không?
Ở Mỹ, giáo sư hướng dẫn nghiên cứu sinh làm luận án tiến sĩ đương nhiên là chủ tịch Hội đồng chấm cái luận án ấy. Việc đào tạo của ông ta hay dở thế nào do ông ta tự định đoạt là chính. Ở Việt Nam, khoảng mươi năm gần đây, giáo sư không được phép là ủy viên Hội đồng chấm luận án tiến sĩ do chính mình hướng dẫn. Không được tin cậy, giáo sư nước ta suốt đời sống trong tâm trạng kẻ làm thuê.
Tôi muốn nói thêm về “thời gian văn phòng”, là lúc giáo sư có nghĩa vụ phải ở phòng làm việc của mình, để sinh viên có thể tới hỏi bài. Mỗi giáo sư ở Mỹ đều có phòng làm việc riêng. Ở nước ta không giáo sư nào có phòng làm việc riêng, trừ các giáo sư làm quan. Không có phòng làm việc riêng, các giáo sư sẽ đứng ở đâu để giải đáp thắc mắc của sinh viên? Giảng đường thì vốn đã không đủ cho việc bố trí các lớp học. Để chuyển sang đào tạo theo tín chỉ, ta có đủ sức cấp cho mỗi giáo sư một phòng làm việc không? Nếu ta chỉ học những cái có thể học được, và bỏ qua những cái ta không muốn học, thì trên thực tế ta không học gì cả. Người Nhật học cái gì cũng bắt đầu bằng việc sao chép y nguyên, khi nào thực sự làm chủ được đối tượng đó thì họ mới bàn tới chuyện cải biến. Chúng ta thường làm hỏng việc vì học cái gì cũng không đến nơi đến chốn, “chưa học làm thầy đã đòi ăn bớt”, và ngộ nhận cái sự láu cá ấy của mình là trí thông minh.
Xin cảm ơn giáo sư!

Đức Phường thực hiện

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

CHUYỆN HỌC VÀ THI

GIÁO SƯ HOÀNG TỤY

 Một điều đáng mừng là kỳ thi tốt nghiệp THPT năm nay có tiến bộ nhiều. Sau hàng chục năm, lần đầu tiên mới có một kỳ thi trung thực, nghiêm túc. Song mừng vui cũng chỉ mới được một nửa. Vì sao?

Vì tuy thi cử có cải tiến nhưng cũng chỉ mới là cải tiến để bảo đảm tính nghiêm túc, chứ chưa thật sự có đổi mới căn bản. Không ở đâu trên thế giới, đặc biệt ở những nước văn minh, có những kiểu thi kỳ lạ như ở nước ta trong hơn chục năm qua. Mất biết bao thời gian bàn thảo về thi cử,  về cải cách, hiện đại hóa giáo dục, nhưng rốt cuộc thi cử vẫn cứ loay hoay ba chung, hai chung, rồi trắc nghiệm, tự luận… mà không kỳ thi nào cho nghiêm túc, và kỳ thi nào cũng cực kỳ tốn kém, cả cho Nhà Nước và cho nhân dân. Khó hiểu tại sao ta cứ duy trì mãi kiểu thi cử căng thẳng đó, mà không chịu khó suy nghĩ xem có cần thiết phải thi kiểu này không, tại sao các nước văn minh không có nhiều kỳ thi như ta, mà học hành tốt hơn? Sau nhiều buổi tranh cãi trong Quốc hội, mãi đến gần đây mới bỏ được hai kỳ thi Tiểu học và THCS, bây giờ còn lại kỳ thi THPT và thi tuyển ĐH, CĐ. Vì thi cử quá nhiêu khê như thế nên cách đây một năm tôi có đề nghị nên theo kinh nghiệm nhiều nước bỏ hẳn kỳ thi THPT, thay vào đó học hành nghiêm chỉnh ngay từ những lớp dưới, học tới đâu kiểm tra tới đó, theo dõi từng học kỳ, từng lớp, không cho lên lớp bừa bãi, đến cuối lớp 12 học sinh nào đủ điểm thì được cấp bằng tốt nghiệp. Làm được như vậy thì tỉ lệ tốt nghiệp càng cao càng tốt chứ đâu sợ bệnh thành tích! Còn làm như ta, cứ để ngồi nhầm lớp thoải mái, rồi kết thúc bằng kỳ thi dối trá như mọi năm thì tai hại đã đành, mà dù có thi nghiêm túc như năm nay cũng chỉ vớt vát được một phần.   

Bộ GD và ĐT có kế hoạch vài năm tới sẽ hợp nhất hai kỳ thi THPT với tuyển sinh ĐH, CĐ thành một, nhưng theo tôi thi tuyển vào ĐH thì dù thi riêng hay thi chung với THPT cũng bất cập. Dựa theo kinh nghiệm các nước,  tôi đã nhiều lần đề nghị chỉ nên có một kỳ thi sơ tuyển nhẹ nhàng để loại bớt những người quá kém, sau đó việc xét tuyển vào đại học giao cho từng đại học quyết định, dựa trên kết quả điểm số trong kỳ thi sơ tuyển, kết hợp với xem xét học bạ ba năm cuối THPT. Trên thế giới phần lớn đại học không tổ chức thi tuyển sinh, chỉ trừ những trường rất danh tiếng ở một số nước thì phải thi vào, nhưng thi của họ cũng không giống mình. Kỳ thi sơ tuyển ở Mỹ như SAT chỉ chủ yếu kiểm tra năng lực diễn đạt, phân tích, suy luận lôgíc, rất cần thiết để học đại học. Vượt qua được kỳ thi đó không có nghĩa đã trúng tuyển vào đại học, mà cùng với kết quả tốt ở kỳ thi SAT còn phải có học bạ tốt ở phổ thông, đáp ứng được yêu cầu của trường thì mới được nhận. Cách làm như thế ít tốn kém mà chọn được người học đúng yêu cầu đào tạo hơn là thi tuyển. 
Vừa qua thi THPT nghiêm túc là một dịp bộc lộ rõ thực trạng yếu kém của giáo dục. Nhớ lại những năm trước, hiện tượng đáng xấu hổ phao rải trắng sân trường sau mỗi buổi thi, còn trong khi thi thì quang cảnh nhốn nháo, người dân bắc thang qua tường, trèo tường, ném bài giải vào phòng thi. Để ngăn chặn cảnh đó năm nay có nơi như Hà Tây xây tường rất cao quanh một số trường thi, làm cho các trường trông giống nhà tù hay trại tập trung hơn là trường học. Tốn kém xây bức tường có nơi lên tới cả mấy trăm triệu đồng. Thật kỳ quái, chống tiêu cực thi cử bằng biện pháp xây tường cao cũng chẳng khác nào thời bao cấp chống nạn ăn cắp thìa trong các quán ăn mậu dịch bằng cách đục lỗ tất cả các thìa. Để bảo đảm kỳ thi nghiêm túc chẳng lẽ phải trả bằng cái giá hạ thấp văn hóa như thế ư?
Với phần đông thí sinh, 12 năm đèn sách được kết quả gì? Đề thi dễ thế mà cũng chỉ 2/3 đỗ, nhiều người đánh giá nếu đề thi thật sự nghiêm túc thì tỉ lệ đỗ có lẽ chỉ khoảng 30 đến 40%. Như vậy một nửa số thí sinh đươc cấp bằng tốt nghiệp không xứng đáng với tấm bằng. Cái ý tốt cấp bằng xứng đáng cuối cùng chỉ mới thực hiện nửa vời.

Không biết kỳ thi lần II sắp tới sẽ như thế nào nhưng khi đã đặt thêm một kỳ thi tốn kém thì chắc người ta cũng phải hy vọng vớt thêm được một số đáng kể thí sinh nữa. Thực ra đấy cũng là cách làm rất hình thức. Đề thi lần I dễ như vậy mà không qua nổi, làm sao chỉ học thêm vài tháng mà khá được.
Đã lâu quá rồi chúng ta quen cho lên lớp thoải mái, thi cử lấy lệ, không nghiêm túc. Bây giờ sít chặt thì đúng, nhưng cũng chỉ mới nghiêm túc ở đoạn cuối. Khác nào một qui trình sản xuất gồm nhiều công đoạn mà chỉ đến khi ra thành phẩm mới kiểm tra chất lượng thì hết sức lãng phí. Dẫu sao cái tốt là bây giờ thấy rõ chất lượng tồi tệ của giáo dục. Điều này trước đây cũng đã có nhiều người cảnh báo, nhưng nhiều vị lãnh đạo, nhiều quan chức cấp cao, cứ một mực khẳng định thành tựu tuyệt vời, thành tựu vĩ đại của giáo dục, cho nên mới đến nông nỗi  này. Âu cũng là bài học.
Đương nhiên tình trạng này không thể chấn chỉnh một sớm một chiều. Khi chúng ta đã vô trách nhiệm để chất lượng sút kém kéo dài tích lũy qua nhiều năm, thì bây giờ có hậu quả đó,  cần phải nghĩ cách khắc phục cho hợp lý, chứ không nên đổ hết tai họa lên đầu học sinh và cha mẹ các em. Đối với cả hệ thống quản lý, đương nhiên phải chấn chỉnh nghiêm túc ngay từ lớp 1. Chúng ta nói hai không rất hay nhưng thiếu kiểm tra ráo riết mọi khâu mà chỉ tập trung lo cho kỳ thi nghiêm túc, trong khi đáng ra phải theo dõi chỉ đạo việc học tập thường xuyên trong từng trường theo tinh thần nghiêm túc ngay từ đầu năm, ngay từ lớp dưới. Việc tổ chức thi kỳ II xuất phát từ ý tốt, song sẽ tốn kém, căng thẳng, mà kết quả có thể nhìn thấy trước sẽ chẳng bao nhiêu, trừ khi lại ra đề thật dễ để vớt hết đa số. Bấy nhiêu vấn đề phức tạp, căn bản đều do vẫn cố bám những quan niệm cũ kỹ về học và thi. Vì vậy, tuy những cải tiến vừa qua rất đáng trân trọng, nhưng thật lòng tôi vẫn cảm thấy chưa ổn. Trong thời buổi hội nhập và cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu chúng ta cứ mải mê luyến tiếc những cái cũ kỹ, lỗi thời, không chịu bứt ra để có những đột phá lớn thì bao giờ mới theo kịp thiên hạ. Còn nhớ cách đây khoảng 8, 9 năm có vị ở bộ giáo dục còn lớn tiếng tuyên bố thi cử như chúng ta làm là tối ưu rồi ! Không hiểu các vị ấy giờ đây nghĩ thế nào. Muốn thật sự chấn hưng giáo dục thì trước hết lãnh đạo cấp cao phải có quyết tâm thay đổi tư duy, xác định lại quan niệm về dạy, học, thi cử  cho hợp với xu thế thời đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Người ta đi nhanh thì ít ra mình cũng phải cố chạy, đừng ai nghĩ trong cuộc chạy đua này người ta đều là thỏ con ham chơi, còn mình là rùa già kiên nhẫn bò từng bước chắc ăn.
Đối với số học sinh thi trượt cả lần II nghe nói sẽ có thể có ba giải pháp: hoặc là cho học lại lớp 12, hoặc chuyển qua học ở các trường bổ túc, hoặc tập trung lại để dạy thêm (bao lâu ?).  Song giải pháp nào là tốt nhất không phải là vấn đề chính. Căn bản là quan niệm học hành và thi cử như thế nào, từ đó mới có hướng xử lý đúng đắn các vấn đề cụ thể. Còn trong khuôn khổ hiện tại, giải quyết mấy vấn đề trên theo cách này hay cách khác, nếu có tốt hơn thì cũng chỉ tốt hơn một tí chút chứ chẳng có ý nghĩa gì lớn. Đề thi dễ thế mà không qua được tức là đã mất cơ bản rồi, dù có học lại phổ thông hay bổ túc thêm môt  năm cũng chẳng mấy hy vọng, tốt hơn nên để các em ấy học nghề rồi ra làm việc, sau này khi đủ điều kiện và nếu muốn vẫn còn có cơ hội học thêm lên đại học qua các hình thức đào tạo liên thông hoặc giáo dục thường xuyên. Khó khăn ở đây là không có đủ trường dạy nghề đàng hoàng. Lẽ ra trong một đất nước như ta, phải chăm lo phát triển từ sớm để có được những trường dạy nghề hiện đại, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Học nghề để có nghề vững vàng giúp ích cho xã hội còn tốt hơn nhiều lần học đi học lại phổ thông để cố vào đại học, trở thành những ông cử ông nghè dỏm.
Mặc dù tất cả những điều không hay nói trên, tôi vẫn mừng rằng từ một năm nay ngành giáo dục đã có một số chuyển biến rõ, nhờ người lãnh đạo năng nổ và có tinh thần phụ trách. Tuy nhiên vẫn còn quá nhiều cái đáng lo. Muốn thay đổi mạnh theo hướng đúng đắn còn quá nhiều việc phải làm, nhiều quan niệm phải xác định lại, nhiều tổ chức phải sửa đổi, nhiều chức trách phải thay người, chỉ sợ một mình ông bộ trưởng khó kham nổi, nếu thiếu sự hỗ trợ tích cực và đầy đủ từ cấp lãnh đạo cao nhất. Tôi tin rằng trước xu thế hội nhập, muốn hay không giáo dục phổ thông rồi cũng phải sớm ổn định và đi vào quỹ đạo đúng đắn. Mối lo lớn nhất hiện nay tập trung vào dạy nghề và đại học gắn liền với nghiên cứu mà xem ra ta đang có nguy cơ bỏ lỡ nhiều cơ hội phát triển quý báu.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

VỀ HỌC CHẾ TÍN CHỈ VÀ VIỆC ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

GS LÂM QUANG THIỆP

Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 2.11.2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam giai đoạn 2006-2020 nêu rõ: “Xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đào tạo theo hệ thống tín chỉ (TC), tạo điều kiện thuận lợi để người học tích lũy kiến thức, chuyển đổi ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài”. Tuy nhiên, để thực hiện đào tạo theo TC ở nước ta theo lộ trình trên, có nhiều vấn đề liên quan cần được nhìn nhận lại và phải chuẩn bị chu đáo một số công việc.

Vài nét về học chế TC

Sự ra đời và lan tỏa của học chế TC

Hiện nay, tuy “sinh sau đẻ muộn” so với châu âu, nhưng hệ thống GDĐH Hoa Kỳ phát triển mạnh và có sức hấp dẫn bậc nhất, được hình thành dựa trên những nét độc đáo của nền kinh tế – xã hội. ý tưởng về một nền GDĐH cho số đông người (đại chúng) nảy sinh đầu tiên vào cuối thế kỷ XIX và trở thành hiện thực ở Hoa Kỳ vào giữa thế kỷ XX. Trong một nền GDĐH cho số đông người như vậy phải đảm bảo cá nhân hoá được việc học tập của từng sinh viên (SV) Với mục tiêu đó, vào năm 1872, Charle Eliot, Viện trưởng Viện Đại học Harvard đã đề xuất một quy trình đào tạo mới gọi là giải pháp mô đun hoá các môn học (học chế TC) được cung cấp trong trường ĐH để SV có thể lựa chọn một tổ hợp môn học thích hợp nhằm cấu thành một chương trình đào tạo để có thể nhận được văn bằng tốt nghiệp.

Vào đầu thế kỷ XX, học chế TC được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường ĐH ở Hoa Kỳ. Tiếp đó, nó được lan toả ra nhiều nước như: Canađa, Nhật Bản, Philippin, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia, ấn Độ, Sênêgan, Môzămbích, Nigêria, Uganđa, Camơrun… Tại Trung Quốc, từ cuối thập niên 80 (thế kỷ XX) đến nay, hệ thống học chế TC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường ĐH. ở châu âu, Tuyên ngôn Boglona được đề xướng (năm 1999) đến nay đã được ký bởi Bộ trưởng của 45 nền GDĐH (mà một trong các nội dung quan trọng là triển khai áp dụng học chế TC trong toàn hệ thống GDĐH) nhằm tạo thuận lợi cho việc cơ động, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu âu và trên thế giới.

Đặc điểm của học chế TC

TC là khối lượng học tập gồm 1 tiết học lý thuyết (50 phút) trong 1 tuần và kéo dài 1 học kỳ (15-18 tuần). Thông thường, các tiết học loại khác như: Thực tập thí nghiệm, đi thực địa, vẽ, nhạc, thực hành nghệ thuật, thể dục…, cứ 3 tiết trong 1 tuần (kéo dài 1 học kỳ) được tính một TC. Ngoài ra, còn có quy định: Để chuẩn bị cho 1 tiết lên lớp, SV phải bỏ ra ít nhất 2 giờ làm việc ở ngoài lớp. Như vậy, lao động học tập của SV có một phần “nổi” tính theo tiết học ở lớp và một phần “chìm” là thời gian tự học.

Để đạt bằng cử nhân, SV thường phải tích lũy 120-136 TC (Hoa Kỳ), 120-135 TC (Nhật Bản), 120-150 TC (Thái Lan)… Đối với bằng thạc sỹ, học viên phải tích luỹ 30-36 TC (Hoa Kỳ), 30 TC (Nhật Bản), 36 TC (Thái Lan)… Theo quy ước của hệ thống TC châu âu, khối lượng lao động học tập của một SV chính quy trung bình được tính bằng 60 TC /1 năm học. Khi tổ chức giảng dạy theo TC, đầu mỗi học kỳ, SV được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ, đồng thời phù hợp với quy định chung nhằm đạt được kiến thức theo một ngành đào tạo nào đó. Sự lựa chọn các môn học rất rộng rãi, SV có thể ghi tên học các môn liên ngành nếu họ thích. SV không chỉ giới hạn học các môn chuyên môn của mình mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực. Ví dụ: SV ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật vẫn cần phải học một số môn khoa học xã hội, nhân văn và ngược lại. Về kết quả học tập ĐH, hệ thống TC dùng cách đánh giá thường xuyên và đối với các chương trình đào tạo sau ĐH còn có thêm các kỳ thi tổng hợp và các luận văn.

Các ưu điểm của học chế TC

Học chế TC được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi nhờ có nhiều ưu điểm sau:

– Có hiệu quả đào tạo cao: Học chế TC cho phép ghi nhận kịp thời tiến trình tích luỹ kiến thức và kỹ năng của SV để nhận được văn bằng. SV được chủ động thiết kế kế hoạch học tập cho mình, được quyền lựa chọn tiến độ học tập thích hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh riêng của mình. Điều đó đảm bảo cho quá trình đào tạo trong các trường ĐH trở nên mềm dẻo hơn, đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp đào tạo ĐH và giữa các ngành đào tạo khác nhau. Học chế TC cho phép ghi nhận cả những kiến thức và khả năng tích luỹ được ngoài trường lớp để dẫn tới văn bằng, khuyến khích SV từ nhiều nguồn gốc khác nhau có thể tham gia học một cách thuận lợi. Về phương diện này, có thể nói, học chế TC là một trong những công cụ quan trọng để chuyển từ nền ĐH mang tính tinh hoa thành nền ĐH mang tính đại chúng.

– Có tính mềm dẻo và khả năng thích ứng cao: Với học chế TC, SV có thể chủ động ghi tên học các học phần (HP) khác nhau dựa theo những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức. Nó cho phép SV dễ dàng thay đổi ngành chuyên môn trong tiến trình học tập khi thấy cần thiết mà không phải học lại từ đầu. Cũng do vậy, với học chế TC, các trường ĐH có thể mở thêm ngành học mới một cách dễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV. Học chế TC còn cung cấp cho các trường một ngôn ngữ chung, tạo thuận lợi cho SV khi cần chuyển trường cả trong nước cũng như ngoài nước.

– Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: Với học chế TC, kết quả học tập của SV được tính theo từng HP chứ không phải theo năm học, do đó, việc hỏng một HP nào đó không cản trở quá trình học tiếp tục, SV không bị buộc phải quay lại học từ đầu. Chính vì vậy, giá thành đào tạo theo học chế TC thấp hơn so với đào tạo theo niên chế.

Nếu triển khai học chế TC, các trường ĐH lớn đa lĩnh vực có thể tổ chức những môn học chung cho SV nhiều trường, nhiều khoa, tránh các môn học trùng lặp ở nhiều nơi; ngoài ra, SV có thể học những môn học lựa chọn ở các khoa khác nhau. Cách tổ chức trên cho phép sử dụng được đội ngũ giảng viên giỏi nhất và phương tiện tốt nhất cho từng môn học. Kết hợp với học chế TC, nếu trường ĐH tổ chức thêm những kỳ thi đánh giá kiến thức và kỹ năng của người học tích luỹ được bên ngoài nhà trường hoặc bằng con đường tự học để cấp cho họ một TC tương đương, thì sẽ tạo thêm cơ hội cho họ đạt văn bằng ĐH. ở Hoa Kỳ, trên 1.000 trường ĐH chấp nhận cung cấp TC cho những kiến thức và kỹ năng mà người học đã tích luỹ được ngoài nhà trường.

Nhược điểm của học chế TC và cách khắc phục

– Học chế TC cắt vụn kiến thức: Phần lớn các mô đun trong học chế TC được quy định tương đối nhỏ, 3 hoặc 4 TC. Do vậy, sẽ không đủ thời gian để trình bày kiến thức thực sự có đầu, đuôi theo một trình tự diễn biến liên tục. Từ đó, gây cảm giác kiến thức bị cắt vụn. Người ta khắc phục nhược điểm này bằng cách không thiết kế các mô đun quá nhỏ dưới 3 TC và trong những năm cuối, thường thiết kế các môn học /tổ chức các kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết, tổng hợp các kiến thức đã học.

– Khó tạo nên sự gắn kết trong SV: Vì các lớp học theo mô đun không ổn định nên khó xây dựng các tập thể gắn kết chặt chẽ như các lớp theo khóa học, việc tổ chức sinh hoạt đoàn thể của SV cũng khó khăn (có người nói: Học chế TC “khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, không coi trọng tính cộng đồng”). Tuy nhiên, bằng cách xây dựng các tập thể tương đối ổn định qua các lớp, khoá học trong năm thứ nhất (khi SV học chung phần lớn các mô đun kiến thức), sắp xếp một số buổi xác định không bố trí thời khóa biểu để họ có thể cùng tham gia các sinh hoạt đoàn thể chung… thì sẽ khắc phục được nhược điểm này.

Về việc áp dụng học chế TC ở nước ta

Về áp dụng học chế TC ở Việt Nam và bản chất của học chế HP

Trước 1975, một số trường ĐH ở miền Nam đã áp dụng học chế TC như: Viện ĐH Cần Thơ (nay là ĐH Cần Thơ), Viện ĐH Thủ Đức… Vào năm 1987, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương triển khai trong các trường ĐH theo quy trình đào tạo 2 giai đoạn và mô đun hoá kiến thức. Theo đó, học chế HP ra đời và chính thức được triển khai trong toàn bộ hệ thống các trường ĐH và cao đẳng nước ta từ năm 1988 đến nay.

Học chế HP có các đặc điểm cơ bản là tích luỹ dần kiến thức. Mô đun hoá kiến thức thành các HP một cách khá trọn vẹn và không quá lớn để có thể lắp ghép với nhauH, tạo nên một chương trình đào tạo dẫn đến một văn bằng mà người học có thể tích luỹ dần trong quá trình học tập. Để đo lường kiến thức theo khối lượng lao động học tập của người học, khái niệm đơn vị học trình (ĐVHT) được đưa vào. Nhằm làm cho các chương trình đào tạo mềm dẻo, có 3 loại HP được quy định: HP bắt buộc phải học, HP lựa chọn theo hướng dẫn của nhà trường và HP tự chọn. Mỗi HP được đánh giá bằng một con điểm (tổng hợp của các đánh giá bộ phận và một kỳ thi kết thúc). Kết quả học tập chung của học kỳ, năm học (hoặc khoá học) được đánh giá bằng điểm trung bình chung; đó là điểm trung bình của các HP đã tích luỹ.

Học chế HP (Việt Nam) và TC (Hoa Kỳ)

Điểm tương đồng: Đều dựa vào sự tích luỹ dần các mô đun kiến thức để đạt được văn bằng; SV được lựa chọn một số mô đun cho chương trình học của mình; việc đánh giá kết quả học tập được thực hiện nhờ điểm trung bình chung với trọng số là số lượng TC của các mô đun.

Khác nhau: Các mô đun kiến thức trong TC được thiết kế theo trình độ năm học của SV, tạo thuận lợi cho lựa chọn và lắp ghép. Mỗi mô đun bao gồm 3 hoặc 4 TC trong khi các HP đôi khi được thiết kế theo kiểu chia cắt cơ giới, có một số HP quá dài (hơn 4 ĐVHT) hoặc quá ngắn (1 đến trên 2 ĐVHT);

– Chương trình đào tạo của Hoa Kỳ có nhiều mô đun khác nhau được đưa ra để SV lựa chọn nên mức độ tự do lựa chọn cao hơn; trong khi các chương trình đào tạo của các trường ĐH nước ta thường có rất ít mô đun để lựa chọn.

– Lớp học theo TC ở Hoa Kỳ thường được sắp xếp theo môn học, còn lớp học trong học chế HP ở Việt Nam vẫn sắp xếp theo khoá học.

– Hoa Kỳ có một hệ thống cố vấn học tập đầy đủ để tư vấn cho SV lựa chọn mô đun và thiết kế quy trình học tập, mỗi SV vào trường được gắn với một cố vấn biên tập (nước ta chưa có).

– TC ở Hoa Kỳ được quy định theo số giờ học mỗi tuần kéo dài trong một học kỳ, trong khi ĐVHT ở ta được quy định bằng tổng số 15 tiết học lý thuyết ở lớp mà không nói rõ số giờ học trong tuần. Như vậy, trong học chế TC có quy định số giờ lao động học tập tối thiểu cần thiết của SV cho một giờ lên lớp (thường là 2/1). ở Việt Nam, thực tế thời gian SV chuẩn bị cho mỗi tiết học ở lớp thường không quá 1/1. Như vậy, tính theo khối lượng lao động học tập của SV, 1 TC của Hoa Kỳ bằng khoảng 1, 5 ĐVHT của Việt Nam.

– ở các trường ĐH Hoa Kỳ, việc cung cấp thông tin về chương trình và lịch trình giảng dạy, thi, kiểm tra cho SV đầy đủ, đặc biệt thể hiện ở niên lịch giảng dạy được công bố chính thức trước mỗi năm học. Thời gian biểu học và thi đã công bố được thực hiện nghiêm chỉnh.

– Việc đánh giá kết quả học tập của SV đối với mỗi mô đun ở các trường ĐH Hoa Kỳ được thực hiện liên tục trong cả quá trình giảng dạy mô đun đó, do đó, thời gian dành để thi học kỳ cho các môn học thường chỉ có một tuần; còn ở các trường ĐH nước ta, việc đánh giá từng phần môn học ít diễn ra thường xuyên trong quá trình giảng dạy (mà chủ yếu được thực hiện vào cuối mỗi học kỳ, kéo dài trong khoảng 4 tuần).

Như vậy, qua so sánh có thể thấy, học chế HP ở Việt Nam cũng có cùng bản chất như học chế TC của Mỹ, đó là tích luỹ dần kiến thức được mô đun hoá. Nói cách khác, học chế HP ở nước ta đã chứa một số yếu tố của học chế TC của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tính mềm dẻo của học chế HP (Việt Nam) chưa cao như học chế TC (Hoa Kỳ), nói cách khác, chúng ta chưa tận dụng triệt để các ý tưởng làm mềm dẻo quy trình đào tạo của học chế TC của Hoa Kỳ.

Thực hiện, mở rộng và cải tiến học chế TC ở nước ta

Để thực hiện được chủ trương về mở rộng học chế TC, chúng ta cần khẩn trương xây dựng một lộ trình chuyển đổi từ học chế HP hiện nay sang học chế TC trong toàn hệ thống GDĐH. Việc chuyển đổi sang học chế TC nhằm: Tạo một học chế mềm dẻo hướng về SV để tăng cường tính chủ động và khả năng cơ động của SV, đảm bảo sự liên thông dễ dàng trong quá trình học tập và tạo ra những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường sức lao động trong nước. Đồng thời, trong xu thế toàn cầu hóa, đào tạo theo TC cho phép hệ thống GDĐH nước ta hội nhập được với khu vực và thế giới.

Để chuyển đổi sang học chế TC ở nước ta, một mặt cần phải cải tiến học chế HP tạo nên sự mềm dẻo, cơ động như TC, mặt khác, cần kết hợp một cách lô gic với việc phát triển và hiện đại hoá chương trình đào tạo, bao gồm việc đổi mới mục tiêu, nội dung đào tạo, tổ chức và quản lý lớp học, đặc biệt là cải tiến phương pháp dạy và học cũng như việc đánh giá kết quả học tập của SV. Để thực hiện, cần phát huy tối đa tính chủ động tích cực của SV, nâng cao trình độ giảng dạy và quản lý của đội ngũ giáo chức và điều kiện cơ sở vật chất (đảm bảo đầy đủ tài liệu học tập, phòng học, thư viện, phòng thí nghiệm…); quy định cụ thể khối lượng tài liệu học tập và tham khảo mà SV bắt buộc phải đọc đối với mỗi mô đun, HP. Ngoài ra, đề thi từng HP phải dựa vào yêu cầu của chính HP và khối lượng tài liệu quy định chứ không chỉ dựa vào những điều mà giảng viên đã trình bày ở lớp như lâu nay. Điều đó sẽ cho phép kiểm tra việc chuẩn bị ngoài giờ học của SV (so với số giờ lên lớp phải tương đương 1/1).

Như vậy, trước mắt, ngoài lộ trình cụ thể của Chính phủ, cần có lộ trình cụ thể của từng trường ĐH để thực hiện tốt việc chuyển đổi từ học chế HP sang học chế TC. Có thể khó tìm được một sự nhất trí tuyệt đối về vấn đề này nhưng sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng, phải coi đây là một nhiệm vụ bắt buộc phải thực hiện vì chỉ có như vậy mới thúc đẩy cả hệ thống GDĐH Việt Nam phát triển nhanh chóng và sớm hội nhập với khu vực và thế giới.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HOC SỐ 3/2007

TÍNH CÁCH VIỆT

LÊ ĐẠT

Hãy đắp điếm nhớ thương phủ nhiều hoa lên dĩ vãng. Rồi biên chế ba lô cho nhẹ gánh lên đường.

1. Những đặc tính của một dân tộc không phải trời cho ngay một lúc, mà được hình thành dần trong những điều kiện đặc biệt về không gian (hay địa lý) và thời gian (hay lịch sử). Có thể nói đặc tính nổi bật nhất của người Việt là đặc tính chống (hay tự vệ¬). Câu hỏi Tồn tại hay không tồn tại luôn được đặt ra với chúng ta một cách bức thiết trong suốt chiều dài của lịch sử. Và chỉ riêng việc tồn tại của một nước Việt Nam trên bản đồ thế giới đã có thể coi là một kì tích. Trải đằng đẵng hàng nghìn năm Bắc thuộc từ thuở còn trứng nước mà không bị tiệt giống (hay đồng hóa) bản thân nó đã nói lên sức sống “bất trị” của các dân tộc Việt. Một số nước lớn có một thói quen rất du đãng của bọn xã hội đen là bắt nạt các nước yếu. Và luôn nhận vơ lãnh thổ của họ bất chấp lẽ phải và đạo lý. Việc dám “chơi nhau” tay bo với các “bố già” sừng sỏ nhất đến từ phương Bắc, từ phía mặt trời mọc, từ châu Âu và cả châu Mỹ xa xôi cho họ phơi bụng đã chứng tỏ bản lĩnh thiện chiến của “nhược tiểu” Việt Nam. Nó được gói gọn trong hai câu ca dao tuyệt vời hào khí dưới đây: Nực cười châu chấu đá xe Tưởng rằng chấu nát dè đâu xe kềnh Nếu chúng ta có một truyền thống “chống” number – one, chúng ta chưa có đủ điều kiện và thời gian để tự tạo cho mình một truyền thống “xây” cân xứng. Hay nói như các nhà khoa học nhân văn, Việt Nam có một truyền thống tự vệ hàng đầu nhưng còn thiếu truyền thống “phát triển”. Nói thế không có nghĩa là ta không có khả năng phát triển mà chỉ có nghĩa rằng đó là một sở đoản, cần phải nỗ lực học tập, rèn luyện trường kì để biến nó thành sở trường.

2. Đã có một thời nhận xét sau đây rất được truyền tụng: “Ta đã thắng đế quốc Mỹ thì khó khăn nào ta cũng thắng được”. Nhận xét này không hoàn toàn sai, nhưng không đủ, và hơi vội. Đánh Mỹ oanh liệt trong chiến tranh giải phóng dân tộc và phát triển bền vững đất nước thành một quốc gia công nghiệp tiền tiến là hai việc khác nhau, đòi hỏi những kinh nghiệm khác nhau.

Trong những điều kiện đã thay đổi, những ưu điểm của thời trước có thể trở thành nhược điểm thậm chí, trở ngại của thời kì sau.

Trong chiến tranh du kích, một đặc tính tối cần thiết là sự đối phó mau lẹ, một khả năng “tháo vát”, “giật gấu vá vai”, “hoạt trí” hơn là những suy tính dài hơi, có tính hệ thống. Đó là nguyên nhân chính (ở đây tôi không đề cập đến tệ tham nhũng) của những kế hoạch kinh tế vội vàng, “chụp giật” làm tốn kém tài sản nhiều khi tới mức kếch xù của nhân dân. Một kế hoạch tốt không đòi hỏi một sự ứng phó nhanh mà đòi hỏi một suy tính bình tĩnh, bao quát, xây dựng trên những thông tin đầy đủ và những luận chứng xác đáng. Xuất phát từ một trình độ tri thức của những chuyên viên tinh thông. Vì thiếu cái khả năng này nên chúng ta thường đưa ra những kế hoạch vội vàng, “ăn đong”, phải liên tục sửa chữa, càng sửa chữa càng rối, càng nát.

3. Những tính cách của một dân tộc có thể coi là vốn xã hội của dân tộc đó, mà đã nói đến vốn, thì phải nói đến việc sử dụng vốn đó một cách tối ưu. Muốn đạt được sự tối ưu đó, cần phải xây dựng một lớp người quản lí xã hội có tri thức, nghĩa là hiểu biết dựa trên một hệ thống thông tin minh bạch và trung thực. Không ít người thường lẫn lộn một thông tin khoa học với một thông tin quảng cáo. Ở ta, có một thói quen rất không tốt là coi những người nói về những khuyết điểm của cộng đồng là kém yêu nước hơn những người nói về ưu điểm. Người ta sẵn sàng chấp nhận những ưu điểm “ảo” và dị ứng những khuyết điểm “thật”. Trong một xã hội trung thực nói những ưu điểm “ảo”, hoang đường sai lệch nhằm những mục đích vụ lợi cần phải được phê phán nghiêm khắc như một hành động vu cáo. Quảng cáo cần thông tin đẹp để quyến rũ, khoa học cần thông tin xác thực để hiểu biết và thức tỉnh. Đó là hai chuyên ngành khác nhau.

4. Ai cũng biết nông dân Việt Nam nổi tiếng là cần cù, hay lam hay làm. Chính những người nông dân cần cù này đã một thời trở thành những kẻ chây lười, tắc trách do tác động một số chính sách nông nghiệp sai lầm của chúng ta về hợp tác hóa. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc nổi tiếng có truyền thống hiếu học. Chúng ta đã sử dụng vốn đó thế nào khiến nạn chạy bằng, chạy điểm, chạy lớp lan tràn khắp nước, đến mức người phụ trách cao nhất của ngành Giáo dục phải lớn tiếng kêu gọi: “Nói không với tiêu cực trong học đường”. Trong ngôn ngữ thông dụng của hoạt động kinh tế thị trường, người ta gọi đó là “buôn thua bán lỗ”, là ăn vào vốn. Đã có một thời người ta ca ngợi tính cách “phép vua thua lệ làng”, quan hệ làng xóm “tối lửa tắt đèn”, “chín bỏ làm mười” của người Việt như một ưu điểm trong việc xây dựng một nền dân chủ của xã hội. Phải biết rằng trong quá trình xây dựng một nhà nước pháp quyền, đó là một điều tối kị, nó dẫn đến tình trạng “trên bảo dưới không nghe”, ảnh hưởng rất xấu đến sự thực thi của pháp luật. Một xã hội văn minh phải là một xã hội có kỉ cương thông suốt từ trên xuống dưới. Việc chấp hành kỉ luật một cách thoải mái, thân thiện với một cộng đồng làng xã có thể rất dễ chịu nhưng nó tiềm ẩn một nguy cơ rất lớn khi ta xây dựng một xã hội công nghiệp kỹ thuật cao, chẳng hạn công nghệ nguyên tử. Một nhà báo đã nói đùa: Đứng về mặt giao thông đô thị thì Việt Nam là nước tự do nhất thế giới. Chúng ta thường tự hào đất nước có hàng nghìn cây số bờ biển nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được một nền văn minh biển. Không xây dựng được một nền văn minh biển thì làm sao ra biển lớn được? Các nhà sử học đều biết rằng, biển đóng một vai trò lớn như thế nào trong việc xây dựng một nền văn minh năng động và hiện đại. Một nhà văn hài hước đã bình luận câu hát rất phổ biến “Biển một bên và em một bên” như sau: Đó là tấn bi kịch của anh nằm giữa, quay sang Đông thì bên Tây hứ, quay sang Tây thì bên Đông hừ. Bao giờ thì chúng ta thực sự ra biển? Mong ước đau đáu suốt đời và sau đời của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam to đẹp, đàng hoàng phát triển cả về mặt GDP lẫn nhân phẩm. Khi nghiên cứu những tính cách của dân tộc, chúng ta nhất thiết không được đãng trí mục tiêu trên. Cần phải thẳng thắn nhận thức rằng, muốn xây dựng một quốc gia tiên tiến chỉ có sự thông minh, tháo vát, nhiệt tình thôi không đủ. Mà cần, rất cần một cái nhìn bao quát, có hệ thống và tầm xa của tri thức. Việc nâng cao dân trí cũng như quan trí đã trở thành một đòi hỏi sống còn, bức bách đối với sự phát triển của đất nước Việt Nam.

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

BÀN VỀ BỔ NHIỆM, MIỄN NHIỆM CHỨC DANH GIÁO SƯ, PHÓ GIÁO SƯ

NGUYỄN NGỌC TRÂN

Việc bổ nhiệm giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS) từ trước tới nay được xã hội xem là cao quý, phải là một công đoạn quan trọng đóng góp thiết thực cho nền giáo dục đại học của nước nhà. Tuy nhiên, cho đến nay GS, PGS là hàm, là chức danh hay chức vụ vẫn chưa rõ và còn nhiều ý kiến khác nhau ngay cả trong các cơ quan nhà nước có liên quan. Bài viết dưới đây của tác giả nêu lên một số ý kiến về vấn đề này.

Nghị định số 20/2001/NĐ-CP ngày 17.5.2001 của Chính phủ “Quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh GS và PGS” đã đặt ra 3 khái niệm: Bổ nhiệm chức danh, công nhận chức danh, và bổ nhiệm vào các ngạch. Theo Điều 2 của Nghị định, khái niệm bổ nhiệm chức danh đã bao gồm cả hai khái niệm còn lại. Nghị định không đề cập đến khái niệm chức vụ. Phải chăng Nghị định 20 đã dẫn đến thực tế hiện nay là chỉ có một số người có chức trong số những người có danh, và vì thế mà nhiều GS, PGS có danh (đã được công nhận) nhưng lương vẫn không có gì thay đổi, thậm chí không có chỗ ngồi làm việc, không biết mình đang ở đâu trong các bậc thang giảng viên, giảng viên chính hay giảng viên cao cấp?

Điều 8 của Nghị định 20: Công nhận các chức danh và bổ nhiệm vào ngạch GS, PGS đã quy định về việc công nhận chức danh (khoản 1) và bổ nhiệm vào ngạch (khoản 2). Việc thứ nhất căn cứ vào tiêu chuẩn (theo lô-gíc, chuyên môn là cơ bản). Còn việc thứ hai tuỳ thuộc vào một số điều kiện được ghi rõ: Nhu cầu công việc, vị trí công tác, cơ cấu các chức danh công chức, và chỉ tiêu biên chế. Nhưng những điều kiện này cụ thể là gì? cơ cấu các chức danh công chức, và chỉ tiêu biên chế khi áp dụng vào một trường đại học vốn không phải là cơ quan hành chính thuần túy, các GS, PGS vốn không phải là những viên chức hành chính đơn thuần, liệu có phù hợp? Nếu không làm rõ những nội dung trên đây, e rằng chúng ta sẽ vẫn vướng mắc như trong những năm qua. Vì vậy, chúng ta cần phải có những quy định, cách làm với lộ trình và bước đi thích hợp thì mới nâng cao được chất lượng, số lượng đội ngũ GS, PGS trong thời gian tới, sánh được với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Từ cách làm của một số nước…

ở hầu hết các nước trên thế giới, một tiến sỹ giảng dạy ở bậc đại học một số năm có được công nhận là GS, PGS hay không tùy thuộc vào hai điều kiện: Một là số lượng, chất lượng các công trình nghiên cứu (được đăng trên các tạp chí có tiếng trong nước và quốc tế) và kết quả công tác đào tạo của cá nhân người đó; hai là tỷ lệ sinh viên theo học trong bộ môn, tỷ lệ nghiên cứu sinh đang làm luận án tại nơi người đó đang giảng dạy. Bởi lẽ, càng nhiều sinh viên theo học, càng nhiều nghiên cứu sinh làm luận án, bộ môn càng có nhiều chỉ tiêu GS, PGS. Tỷ lệ GS, PGS trên số sinh viên và nghiên cứu sinh được quy định chung, có dao động trong một biên độ nhất định tùy theo điều kiện cụ thể của từng trường.

ở hầu hết các nước châu âu, khi được công nhận GS, PGS là đương nhiên được hưởng các quyền và nghĩa vụ của GS, PGS. Có nghĩa là họ không nằm ngoài hệ thống “giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp”. Quá trình nâng bậc tùy thuộc vào kết quả công tác và thời gian nâng bậc bình quân do ngành đại học quyết định. Việc xét nâng bậc hàng năm là do Hội đồng khoa học của trường đại học xét và đề nghị lên Bộ chủ quản. Hội đồng ở Bộ, gồm các GS của một số trường đại học được chọn, xem xét và đề xuất ý kiến lên Bộ trưởng, đảm bảo tính khách quan và các đề xuất là phù hợp với các quy định chung. Những trường hợp xuất sắc, hoặc không đạt yêu cầu được xem xét kỹ.

Trước đây, phổ biến tại các trường đại học, mỗi bộ môn chỉ có một GS chủ nhiệm bộ môn. Khi GS chủ nhiệm bộ môn khuyết thì mới bầu chọn người mới. Chỗ khuyết phải được đăng công báo của ngành giáo dục trong một khoảng thời gian xác định rồi mới tiến hành bầu. ứng cử viên không bó hẹp trong phạm vi trường đó. Hiện nay, ở hầu hết các nước, chủ nhiệm bộ môn được bầu theo nhiệm kỳ (tối đa là hai nhiệm kỳ). Lý do là vì khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh, đảm đương công tác quản lý quá lâu sẽ bị lạc hậu và đó là điều mà hầu hết các nhà khoa học đều không muốn.

Để khuyến khích thay đổi vị trí công tác, di chuyển từ trường này đến trường khác (khi có yêu cầu), GS hoặc PGS chấp nhận di chuyển được tạo điều kiện thuận lợi, và có những ưu đãi để thực hiện giảng dạy và nghiên cứu tốt, thể hiện năng lực và khả năng thích nghi trong môi trường mới.

Bên cạnh mô hình trên, ở một số nước, như Hoa Kỳ chẳng hạn, nhất là tại các đại học tư, các GS và PGS không phải đã “vào ngạch” là xong, mà định kỳ đều phải xét lại. Một trong các tiêu chuẩn được đánh giá cao là số lượng hợp đồng mà người được xét đã ký được với bên ngoài trường, vì số lượng hợp đồng cho phép tuyển thêm nghiên cứu sinh, uy tín của trường, của bộ môn được nâng cao hơn, từ đó thu hút sinh viên theo học ngày càng đông.

Liên hệ đến thực tiễn Việt Nam và đề xuất

Theo chúng tôi, hai mô hình trên đều có mặt tích cực và hạn chế. Mô hình thứ nhất tạo được sự yên tâm nghiên cứu, giảng dạy nhưng hàm chứa tình trạng “công chức hóa” đội ngũ GS, PGS một khi đã được bổ nhiệm. Mô hình thứ hai “vắt kiệt” sức của các GS, PGS nhưng tạo được sự năng động, gắn kết nghiên cứu, giảng dạy với sản xuất và đời sống.

Từ hai mô hình trên, Việt Nam có thể tham khảo và nên suy nghĩ cách làm của mình từ thực tiễn của đất nước, của nền giáo dục và đội ngũ GS, PGS, tiến sỹ hiện có, những cái được và chưa được trong việc “công nhận chức danh”, “bổ nhiệm chức danh” và “bổ nhiệm vào ngạch” đã được áp dụng từ nhiều năm nay.

Thực tế ở nước ta hiện nay, việc công nhận chức danh, hay bổ nhiệm chức danh… cần được phân tích kỹ, hiểu rõ các khái niệm, từ đó có lộ trình và bước đi thích hợp để việc bổ nhiệm bảo đảm được cả về chất và lượng – một trong những điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng giáo dục đại học của nước nhà sớm ngang bằng với các nước.

Hiện nay, đội ngũ GS, PGS ở nước ta tuổi bình quân khá cao. áp dụng tuổi về hưu như thế nào là hợp lý, nhất là tạo điều kiện để họ cống hiến cho nền giáo dục nước nhà (chứ không phải kéo dài chuỗi ngày làm việc như hiện nay) là một vấn đề cần được quan tâm. Đội ngũ giảng viên đại học là tiến sỹ hiện nay chưa nhiều so với số sinh viên, nhưng chất lượng nhìn chung mà nói chưa đạt được trình độ quốc tế. Bằng tiến sỹ “dởm” không ít do mua bằng tiền, bằng quan hệ hoặc bằng cả hai. Nhà nước nên có quy định rà soát lại những trường hợp này, tiến hành triệt để và chấn chỉnh ngay từ việc học đến bảo vệ luận án tiến sỹ để đảm bảo chất lượng.

Lãnh đạo trường, khoa, bộ môn là những nhiệm vụ quản lý. Không thể vì số lượng các nhiệm vụ quản lý mà quy định số lượng GS, PGS. Làm như vậy là kìm hãm, làm thui chột một đội ngũ là tinh hoa của nền giáo dục đại học. Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là các vị lãnh đạo này cần được bầu chọn từ các GS, PGS không chỉ tại trường đó mà ở nhiều trường trong cả nước để chọn ra những người giỏi và thích hợp nhất.

Cơ sở nào để xác định số GS, PGS của một khoa, một trường, và ai quy định những tiêu chí đó?… Theo tôi, đó nên là tỷ lệ trên số sinh viên và số nghiên cứu sinh tại trường, thể hiện ở hai nhiệm vụ quan trọng của một trường đại học. Tỷ lệ này có thể được gia giảm trong một biên độ nhất định cho các trường, trong một số trường hợp đặc biệt, trong một thời gian nhất định và được công bố công khai để có sự giám sát trong và ngoài ngành.

Hiện nay đang “nở rộ” các trường đại học trong cả nước như một phong trào, đi kèm theo đó là nguy cơ “thương mại hóa” giáo dục đại học. Thêm nhiều trường đại học là tốt, nhưng với điều kiện phải bảo đảm những yêu cầu tối thiểu để không làm tổn thương đến chất lượng của nền đại học và đến xã hội. Vì vậy, theo chúng tôi, để việc bổ nhiệm GS, PGS đạt hiệu quả cần: Bảo đảm chất lượng của hội đồng ở cấp cơ sở đúng theo quy định chung cho cả nước; có những tiêu chí rõ ràng, công khai, và phải được áp dụng nghiêm túc; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 9/2007

VỐN XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN

LUẬT SƯ NGUYỄN NGỌC BÍCH

Trong bài này chúng tôi sẽ tóm lược các điểm chính của vốn xã hội như được trình bày theo một số nhà nghiên cứu trên thế giới. Sau đó đề cập đến sự nghiên cứu của ông Fukuyama và liên hệ một số điểm chính yếu của ông với thực tế của nước ta để tìm xem vốn xã hội của chúng ta cao hay thấp. Thực tế được chọn lựa là sáu vấn đề nằm trong cơ cấu tổ chức xã hội và công việc xây dựng con người ở ta.

I. Khái niệm về vốn xã hội
Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms) hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống.
Những giá trị này được nhà xã hội học Jane Jacobs nêu lên năm 1961, Bourdieu năm 1986, sau đó được Coleman đặt cho một khuôn khổ lý thuyết rõ ràng năm 1989; rồi được Putnam phổ biến trên công luận năm 1993.  Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những thứ gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng hầu thực hiện những lợi ích riêng tư của họ. Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thì giờ vừa tốn kém. Tiêu biểu cho cái vốn kia là hàng xóm đồng ý với nhau nếu nhà nào đi vắng cả thì nhà bên cạnh thỉnh thoảng ngó mắt giùm; những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không; hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web… Đó là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action). Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung. Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế; và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng.

Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới. Thí dụ như việc chơi hụi (họ) ở nước ta. Bạn, tôi và vài người quen rủ nhau chơi hụi, chúng ta là một cộng đồng địa phương (bước 4); chúng ta tin nhau là ai cũng đàng hoàng (bước 1); bạn hốt hụi kỳ đầu, tôi kỳ sau (bước 2); muốn hốt hụi phải bỏ giá, ai cao nhất sẽ hốt; hốt xong thì từ đó trở đi phải đóng đủ, ai giật là sẽ bị đòi (bước 3). Vậy chơi hụi là một định chế xã hội, nó có tính địa phương (local institution), giúp cho người cần tiền vay mượn tiền của người khác mà không phải thế chấp tài sản và góp phần vào hoạt động kinh tế. Đó là một sự đóng góp hữu hiệu và hiệu quả cho nền kinh tế.
Lý giải từng bước, ta thấy dễ chịu khi làm ăn với ai mà mình tin, không mất công, chẳng mất giờ, vốn là của cải có sẵn (tài nguyên) và không nên phí phạm. Khi mình tin người khác họ cũng sẽ tin mình và như thế niềm tin tạo nên một nghĩa vụ. Nếu đứng trong vị trí của từng cá nhân một, ta có sự tin cẩn nhau; lúc nhìn cả hai người một lần thì đó là niềm tin hay sự tin tưởng. Có hai loại tin tưởng: một là tin vào những người mà mình biết rõ; hai là tin vào những người mình chưa biết rõ nhưng vì họ đứng trong một cơ cấu, một tổ chức mà mình tin tưởng nên mình cũng tin họ luôn. Xây dựng niềm tin thì mất nhiều thời gian và công sức nhưng để mất nó thì rất dễ. Một xã hội đầy rẫy sự bất tín thì khó có sự hợp tác (Baland and Platteau, 1998).
Về sự có đi có lại, hay sự tương tác, thì khi diễn ra chúng sẽ làm gia tăng niềm tin. Có hai loại tương tác (Coleman, Putnam): (i) nhận ngay tức khắc (specific reciprocity) là hai bên cùng trao đổi tức thời hai thứ có giá trị ngang nhau, và (ii) sẽ nhận sau này (diffuse reciprocity) là một bên cứ làm lâu dài và liên tục; không trông đợi sự đáp lại, nhưng qua thời gian thì sẽ được trả lại hay bù đắp tương xứng. Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các bên.
Quy tắc (rules) là những sự bó buộc mà mỗi người phải theo khi làm một việc gì đó. Quy tắc chính thức là luật pháp do nhà cầm quyền ban hành. Luật lệ luôn đi kèm với sự trừng phạt tinh thần hay vật chất. Quy tắc không chính thức là những điều mà các cá nhân áp dụng để đóng khuôn hành vi hàng ngày của họ.

Hành vi mẫu mực (norms), trái lại, là một việc làm theo một cung cách nào đó phù hợp với sự mong mỏi, sự ưa thích. Về mặt ngữ nghĩa, “norm” là hành vi mẫu mực hay các tiêu chuẩn được xã hội, hoặc các nhóm chấp nhận (tự nguyện hay không) và dựa trên đó, xã hội đánh giá một người hay một việc. Khi dịch từ “norm” sang tiếng Việt là “chuẩn mực” thì nó chỉ còn có nghĩa là một cái gì được chọn để làm căn cứ đối chiếu. Quy tắc và hành vi mẫu mực là những điều được đồng thuận hay được đưa từ trên xuống để làm lợi ích của tập thể được đặt cao hơn lợi ích cá nhân. Chúng giúp cho cá nhân tin tưởng và bỏ sức tham gia việc chung hay hoạt động của nhóm, vì biết rằng những người khác cũng sẽ làm như thế.
Những điều trên cũng còn được gọi là luật chơi hay là luân lý nội tại của một hệ thống xã hội (Coleman, 1990), ximăng của xã hội (Elster, 1989) hay những giá trị căn bản tạo nên lòng tin (Collins và Chippendale, 1991). Chúng phản ánh mức độ của một cá nhân bằng lòng hòa giải với người khác hay kiểm soát hành vi của mình. Khi nói vốn xã hội cao thì có nghĩa là trong xã hội đó có một nền luân lý nội tại cao, với các cá nhân biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân của mình và trách nhiệm với tập thể.
Cuối cùng là sự liên kết, mạng lưới hay nhóm. Đó là thành tố quan trọng của vốn xã hội. Có nhiều loại liên kết khác nhau giữa các nhóm (mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin, giúp đỡ lẫn nhau, cho vay, cử hành các nghi lễ chung, đọc kinh, đám cưới, đám ma…) Chúng có thể diễn ra theo nhiều hướng, chiều ngang, chiều dọc hay đứng một mình.

Do các hình thức liên kết này, giáo sư Robert Putnam (2000) phân biệt ra hai loại vốn xã hội: loại co cụm vào nhau (bonding social capital) và loại vươn ra bên ngoài (bridging social capital). Loại trước tạo nên các nhóm như Mafia ở Ý; loại sau tạo nên các ban hợp xướng, dàn nhạc, các tổ chức phi chính phủ hay các hội từ thiện. Khi trong nước có nhiều đoàn thể thành lập do sự tự nguyện để bảo vệ lợi ích cục bộ của mình và tìm cách tác động vào luật pháp thì những việc ấy sẽ tạo nên một xã hội dân sự. Xã hội này là một xã hội trong đó các nhóm, các đoàn thể góp tay với chính quyền chăm lo mọi mặt của đời sống xã hội mà một mình chính quyền không làm xuể.
Tùy hình thức của vốn, cái co cụm không đem lại lợi ích cho xã hội, chỉ có những tổ chức hay mạng lưới phát triển theo chiều ngang do các cá nhân kết hợp với nhau một cách tự nguyện tạo nên mới làm gia tăng năng suất của xã hội và tạo ra sự gắn bó trong đó. Trong những xã hội mà sự tin cẩn nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi chính trị với những hệ cấp của nó đi theo hàng dọc thì không có vốn xã hội và cũng chẳng có bao nhiêu hoạt động dân sự (Putnam, 1998).

II. Vốn xã hội và sự phát triển kinh tế
Trong quyển “Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity” xuất bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau. Vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội. Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc săn sóc con cái, và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ.

Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của người khác. Ông nói thẳng: “Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội.”  Để minh chứng, ông cho rằng Trung Quốc, Pháp, Ý vì có mức tin cẩn lẫn nhau thấp nên đã mất thế cạnh tranh với Mỹ, Nhật và Đức là những nước có mức tin cẩn nhau cao. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao.
5 năm sau khi viết như thế, trong một bài tham luận trình bày tại Quỹ Tiền tệ quốc tế, ông định nghĩa: “Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal) phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người (nhường chỗ ngồi cho người già). Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo. Hành vi mẫu mực phải bung ra ngay lập tức (tức thời) trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể. Hành vi mẫu mực có đi có lại nằm ẩn trong mọi giao dịch của tôi đối với mọi người, và chỉ trở thành cụ thể trong sự giao dịch của tôi đối với những bạn của tôi.” 
Không phải mọi hành vi mẫu mực phát sinh tức thời đều sẽ tạo nên vốn xã hội. Trái lại chỉ có những cái nào giúp cho các nhóm trong xã hội hợp tác với nhau, hay tạo nên sự hợp tác, thì đó mới là hành vi mẫu mực. Đa phần chúng lại là các đức tính truyền thống như lòng trung thực, sự giữ lời hứa, việc thi hành bổn phận một cách đáng tin cậy, sự tương tác và tinh thần trách nhiệm.
Vốn xã hội sẽ làm giảm chi phí khi thực hiện các công việc phát sinh từ các hành vi trang trọng như hợp đồng, mối tương quan giữa các cấp, hay từ quy định của các cơ quan… Thí dụ, hợp đồng bảo rằng phải làm thế này, thế nọ; nhưng nếu hai bên tin nhau thì có thể cắt giảm chúng. Tương tự, trong các nơi không sử dụng kỹ thuật cao, vốn xã hội sẽ tạo ra một hiệu quả cao hơn khi so sánh nó với các kỹ thuật chính thức hiện dùng để phối hợp công việc. Điển hình là phương pháp sản xuất theo dây chuyền của Taylor. Nó được lập tại các xưởng, rất tập trung, lắm giấy tờ, và không hữu hiệu lắm vì các quyết định đưa ra bị đình trệ, hay thông tin bị bóp méo khi đi qua các cấp chỉ huy. Ngày nay, trong nhiều doanh nghiệp, phương pháp Taylor đã bị thay thế bằng một cơ cấu quản trị đơn giản, chú trọng việc chuyển giao trách nhiệm xuống cho các tổ trưởng ở dưới cùng. Các công nhân hiểu biết tình trạng nơi mình làm việc được phép tự quyết định thay vì trình lên trên. Cách này làm cho công việc được thực hiện nhanh chóng hơn, ít tốn kém hơn so với cách làm cũ và nó hoàn toàn tùy thuộc vào vốn xã hội của lực lượng lao động.
Theo ông, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn. Thứ nhất, như các nhà kinh tế đã nêu, là từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải chứng tỏ mình là người trung thực và giữ lời hứa. Thứ hai, là từ các tôn giáo hay hệ thống luân lý. Đó là nguồn gốc của một quyền uy, nó ấn định các hành vi mẫu mực và trông đợi sự tuân thủ không cần suy nghĩ. Những mẫu mực đó không chỉ diễn ra trong các cuộc thương thảo riêng lẻ mà còn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua các qui trình đã được xã hội hóa sử dụng tập quán và thói quen nhiều hơn là lý lẽ. Thứ ba, sự chia sẻ các kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những hành vi mẫu mực một cách không chính thức và do đó cũng tạo nên vốn xã hội. Thí dụ, cả Đức và Nhật đều đã trải qua các cuộc đình công của thợ thuyền, rồi xung đột chủ thợ với chính quyền trong những năm 1920, 30. Hai chính quyền ấy đã phải trấn áp các nghiệp đoàn lao động độc lập và thay thế họ bằng công đoàn “vàng”. Sau khi hai nước bại trận, họ có cách tiếp cận mềm dẻo hơn đối với việc quản lý các quan hệ lao động; kết quả là ở Đức đã có chính sách kinh tế thị trường xã hội (Sozialmarktwirtschaft) còn ở Nhật là chế độ làm việc suốt đời. Dẫu cũng còn những bất cập, hai định chế này đã đóng vai trò quan trọng trong sự phục hồi kinh tế của hai nước kia và tạo nên một loại vốn xã hội.  Thu gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với nhau để làm một công việc chung nào đó. Xin  gọi chúng là các yếu tố tinh thần. Mối tương quan giữa các công trình trong xã hội với vốn xã hội và các yếu tố tinh thần có thể thấy qua một thí dụ là công tác đắp đê chống lụt. Công tác này chính là một công trình của xã hội – mọi người chung sức làm, kẻ cuốc, người đào, ai cũng chăm chỉ (đó là vốn xã hội) – sở dĩ họ làm được như thế vì mỗi người tham gia ý thức được mối lo chung và bổn phận của mình (đó là các yếu tố tinh thần). Xã hội sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện một mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.

Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.

III. Vốn xã hội ở ta
Trên cơ sở của các mối tương quan nêu trên, ta sẽ tìm xem vốn xã hội của chúng ta có cao không, bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin. Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác. Chúng ta sẽ tìm xem cơ cấu xã hội và việc xây dựng con người của chúng ta có giúp làm nảy sinh, duy trì, phát triển những đức tính tốt kia không; chúng có hiện diện trong hai lĩnh vực mà ta xem xét hay không, nếu có thì nhiều hay ít.
Cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội là điều kiện bên ngoài, là môi trường, giúp tạo nên, nuôi dưỡng những đức tính tốt của một cá nhân. Ở đây chúng tôi chọn hai khía cạnh nằm trong cơ cấu xã hội để xem xét là: việc đoàn ngũ hóa các thành phần dân chúng và cấu trúc Đảng – chính quyền.
Việc đoàn ngũ hóa.
Ở ta, dân chúng được thúc đẩy gia nhập các tổ chức quần chúng do Đảng lập ra và lãnh đạo (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân…). Đó là các tổ chức xã hội chính trị truyền thống. Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các cơ quan chính quyền hay tư nhân lập.  Cuối cùng là các nhóm tự phát của quần chúng (hội đồng hương, hội ái hữu, cựu học sinh…) Sự hiện hữu của các hội đoàn này có đóng góp vào việc tạo ra các đức tính giúp gây dựng vốn xã hội không?
Đối với các tổ chức truyền thống thì tính chất của chúng cũng giống như các hội đoàn của giáo hội Công giáo tại các nhà thờ. Sự khác biệt chỉ là người Công giáo khi sinh hoạt trong các đoàn thể kia thì họ có giáo lý trong lòng mình cùng nội quy của hội; trong khi các hội viên của các đoàn thể của Nhà nước chỉ có nội quy. Giống như các hội đoàn của đạo Công giáo, sự hoạt động của các đoàn thể truyền thống không tạo nên vốn xã hội góp vào việc phát triển kinh tế. Có vài lý do. Thứ nhất, mục đích của các hội này là chính trị, mà chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, trong khi kinh tế là hạ tầng. Thứ hai, người lãnh đạo các đoàn thể không do đoàn viên bầu mà do Đảng cử vào; nên lo cho hội viên thì ít mà cho mình thì nhiều; thành thử các tổ chức đó đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa. Cuối cùng trong các đoàn viên có những người không hẳn là tự nguyện. Hiệu quả của các hội đoàn này có thể thấy qua sự thất bại của công đoàn trong các cuộc đình công gần đây, hay vai trò của Hội Nông dân trong việc hướng dẫn nông dân trồng trọt. Do mục đích của chúng, các đoàn thể này không giao tiếp với nhau theo chiều ngang mà chỉ theo chiều dọc, từ trên đi xuống; do đó hiệu quả của các hoạt động của chúng không tác động gì đến vốn xã hội. 

 

Về các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trừ các hội do tư nhân lập ra thì hoạt động của họ có hiệu quả nhất định đối với ngành nghề của họ, còn các hội do các cơ quan chính quyền là chủ quản thì hiệu quả hoạt động của chúng không cao. Điều đó cũng có những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất các hội viên có những lợi ích khác nhau khi tham gia. Thứ hai, lãnh đạo của các hội đoàn đó do cơ quan chủ quản cử; họ không cần sự ủng hộ của hội viên nên không quan tâm đến lợi ích của hội viên. Chỉ trong những trường hợp do áp lực từ bên ngoài vào, như các vụ bán phá giá; họ mới hoạt động hiệu quả trong tư thế tự vệ nhiều hơn là phát triển ngành nghề của mình.
Riêng các hội ái hữu, đồng hương thì hoạt động của chúng có tính tương tế, hiếu hỷ nên không đóng góp vào vốn xã hội. So với trước năm 1975, những người trong bang Triều Châu ở Sài Gòn đã lập ra bệnh viện với hàng trăm giường thì hiệu quả hoạt động của các hội trên không có gì để so sánh.
Gần đây trong các cuộc thảo luận về “Luật về Hội” đã có nhận xét về các hội đoàn ở ta thì tính chất tự nguyện, tự quản của chúng hầu như không có. Ý nghĩa và vai trò của chúng đã bị nhà nước hóa nên sự thu hút của hội đối với quần chúng chẳng là bao. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng cần xác định các đoàn thể quần chúng là một định chế nằm trong xã hội dân sự, bên cạnh những định chế khác như nhà trường, giáo hội, truyền thông báo chí. Những sự kiện này chứng tỏ sự đóng góp của các hội đoàn ở ta cho vốn xã hội đang còn là điều ao ước.
Cấu trúc Đảng- chính quyền.
Trong một xã hội mà dân trí chưa cao, nền kinh tế còn đang ở giai đoạn phát triển thì quan niệm “quan chi phụ mẫu” vẫn còn nặng trong dân chúng. Hơn nữa, một vị lãnh đạo chính quyền có thể lên hệ thống truyền thông khuyên bảo dân chúng như một phần trong nhiệm vụ của họ. Vì thế dân chúng vẫn nhìn vào lời nói, việc làm của những quan chức kia như là tấm gương; mà những quan chức ấy lại xuất phát từ cấu trúc Đảng-chính quyền nên ta xem cấu trúc này. 
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, do vậy Đảng lãnh đạo chính quyền một cách toàn diện và triệt để. Nhân sự do Đảng cử, chính quyền nhận và sử dụng. Trong chiến tranh, cơ chế này rất hữu hiệu vì thua thắng rõ ràng nên trách nhiệm dễ được phân định. Thế nhưng, khi điều hành nền kinh tế trong thời bình thì sự đúng sai của các biện pháp kinh tế đã áp dụng khó biết ngay nên việc ấn định trách nhiệm rất khó. Hơn nữa trong cơ chế Đảng-chính quyền thì người quyết định không làm, còn người làm thì không được quyết định rồi cấp thừa hành của người làm không do người này chọn nên việc quy trách nhiệm lại càng khó hơn. Hậu quả là cái cấu trúc hợp lý trong lý thuyết thì trong thực tế đã tạo ra sự lẫn lộn về trách nhiệm. Các sai phạm của viên chức chính quyền ít bị trừng phạt. Nếu có thì họ chỉ chịu kỷ luật dành cho đảng viên, một thứ hình phạt được ấn định theo sự nhận thức của người sai phạm, chứ không phải bị áp đặt luật như ở tòa án.
Việc xây dựng con người
Việc xây dựng con người ở đây không được nhìn theo giáo dục hay văn hóa mà theo khía cạnh là: (1) trang bị cho con người những đức tính tốt – (2) để họ có khả năng ngồi lại với nhau – (3) hầu làm được

những công việc nhất định nào đó. Đảo ngược ba vế kia để nói về điều chúng ta đang quan tâm thì: để cho kinh tế phát triển phải có việc (3) – việc đó thành hiện thực nhờ (2), đó là vốn xã hội – và muốn có cái vốn đó thì phải có (1). Xây dựng con người ở đây nhắm vào vế (1). Và ta sẽ xem xét ba vấn đề: tinh thần tập thể; việc tạo lập các đức tính tốt và cách thực hiện óc tư lợi.
Tinh thần tập thể
Có một thời tập thể là nền tảng của xã hội ta. Cá nhân phải đứng dưới tập thể. Đại đa số cá nhân được đưa vào đội ngũ một cách này hay cách khác, mà không có sự chọn lựa, theo nguyên tắc “tất nhiên phải thế” vì đó là khuôn mẫu của chế độ chính trị. Ngày nay việc đoàn ngũ hóa giảm nên tinh thần tập thể cũng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, não trạng tập thể với những lợi ích tinh thần mà nó đã từng đem lại cho con người sẽ không bao giờ mất; bởi vì người ta chỉ bỏ những gì bất lợi, còn giữ mãi những gì có lợi cho mình dù hoàn cảnh có đổi thay. Ta có thể nêu vài thứ.
Bản ngã bị mất đi
Là một nhân vị, một bản ngã, mỗi cá nhân phải được tự do quyết định, chịu trách nhiệm và được khen ngợi hay tôn vinh. Thế nhưng, khi tham gia vào một tập thể – vì cơ cấu xã hội không cho phép làm khác – thì cá nhân bị mất bản ngã. Họ không thể tách biệt, sống khác với tập thể. Họ không còn tự do, phải làm theo quyết định của tập thể; nếu còn thì chỉ được ghi nhận theo quyền bảo lưu và quyền này không bao giờ biến thành hiện thực. Khi họ phải làm theo người khác thì không thể bắt họ chịu trách nhiệm cá nhân được. Khi người khác đã nghĩ cho mình thì họ trở nên ỷ lại. Vậy là họ mất đi cái bản ngã của mình, luôn cả tinh thần trách nhiệm cá nhân! Dù có vậy, thì nhu cầu được tôn vinh của họ không hề mất; kẻo họ không còn cảm thấy mình là người nữa; nhu cầu ấy đã biến thể thành chủ nghĩa thành tích mà ta sẽ đề cập sau này.
Lợi ích nằm dưới chiêu bài tập thể
Khi sinh hoạt theo tập thể, cá nhân có những mối lợi nhất định cho riêng mình nhân danh tập thể. Họ có một chiêu bài tốt của người khác để mình có thể làm xấu. Ví dụ sau đây sẽ làm rõ điều này.
Bạn chơi chung với một nhóm người – đó là một tập thể – nếu lúc nãy bạn để cái bút cho anh em dùng mà nay cần nó, bạn hỏi: “Có bạn nào thấy nó không?” thì có thể không ai trả lời. Thậm chí một người tên A đang cầm nó thì anh ta cũng không cảm thấy phải trả lời; vì bạn không hỏi thẳng anh ta. Điều này cho thấy trong tập thể thì không thể đặt ra trách nhiệm cá nhân.Và anh A kia đã che chắn trách nhiệm cá nhân mình dưới danh nghĩa tập thể. Thế nhưng khi không nghe ai trả lời mà bạn có buột miệng nói: “Tập thể gì mà xấu thế!” thì ngay lập tức có thể anh A kia sẽ đứng ra sừng sộ với bạn: “Mày dám bảo tập thể xấu”; hay có giọng nói: “Này nói thế động chạm lắm nghe!” Có thể người sừng sộ với bạn không thích bạn; nhưng anh ta làm không phải vì không thích bạn, mà vì bạn xúc phạm đến tập thể đấy!
Với đủ loại che chắn dành cho cá nhân như thế, tính tập thể làm cho ý thức phạm tội của cá nhân mất đi và do đó cũng làm mất đi sự xấu hổ trong họ. Điều này có thể thấy qua hình phạt tập thể. Một người trong tập thể làm điều gì sai trái, hình phạt sẽ được áp dụng cho tập thể với ý nghĩa “phạt vì không biết bảo nhau”. Do tính lây lan của tình cảm con người nên khi tất cả bị phạt thì không ai còn cảm thấy bị phạt. Đứa bên cạnh cũng bị như mình, ôi có gì đâu mà phải xấu hổ!
Tạo lập các đức tính tốt của con người
Con người ai cũng có vật chất và tinh thần. Tinh thần thúc đẩy, ngăn cản và hướng dẫn hành động của con người. Tạo lập các đức tính tốt cho con người là ngay từ lúc nhỏ. Ở trong gia đình và nhà trường, người ta dạy cho con người các đức tính phổ biến là: sự tự chế, lòng thương người, trách nhiệm, tình bạn bè, sự làm việc, can đảm, kiên nhẫn, thật thà, trung thành và niềm tin tôn giáo. Vậy ta có thể hỏi việc tạo lập các đức tính tốt cho con người trong xã hội của ta được làm như thế nào? Chúng ta có một tập hợp (một bộ) các đức tính tốt để cho một người cư xử với người khác, những người không phải là thân thích với mình, không?
Câu trả lời là đối với những người nắm chức vụ công quyền thì có. Thí dụ cho công chức là “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”; cho công an có 6 điều, cho phụ nữ có 8 chữ… Những đức tính này được trang bị cho những người có chức vụ xã hội nhất định chứ không phải cho mọi người bình thường trong xã  hội; chúng là đạo đức nghề nghiệp nên không giúp nhiều vào việc tạo nên vốn xã hội giúp kinh tế phát triển.
Đối với những người bình thường và chiếm đa số trong dân chúng thì trong một thời gian rất dài trên các phương tiện truyền thông và giáo dục chúng ta ít nghe đến giáo dục gia đình, đến việc cha mẹ dạy dỗ con cái trong nhà, đến phép lịch sự của một cá nhân bình thường; mà nghe nhiều đến sinh hoạt của các tổ chức chính trị truyền thống trong đó hội viên được khuyến khích, giúp đỡ để coi trọng quyền lợi chính trị. Ý thức về quyền lợi chính trị là biết cách giữ, biết cách đòi để không làm mất quyền lợi của mình, để hơn người; chứ không phải để cư xử ra sao với người hàng xóm. 
Về cách thức phải đối xử với người hàng xóm thì những đức tính tốt dạy cho con người cũng ít. Ngoài năm điều Bác Hồ dạy cho trẻ em trong đó những đức tính có thể dùng một cách phổ quát là “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” thì chỉ có một khẩu hiệu đạo đức tổng quát “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Thế nhưng đoàn kết tốt là phải làm gì? Mình vì mọi người thì phải làm sao? Tất cả không được triển khai, không có gương soi chung. Trong các đoàn thể có các nội quy, nhưng chúng là những gì từ bên ngoài áp đặt vào con người. Nội quy là một loại luật pháp, nó đòi hỏi phải có người khác canh chừng; chứ không phải là những gì nằm sẵn bên trong con người, được hun đúc lên, hay được thấm nhuần vào trong họ để rồi họ tự mình kiểm soát mình. Trong các tổ chức nêu trên chắc chắn không có những đức tính tốt nằm trong đạo đức cổ truyền mà đã bị phá hủy qua các phong trào “bài phong đả thực”.

 

Do cách giáo dục áp đặt từ bên ngoài vào và nặng về việc đòi ăn trên ngồi trốc (quyền lợi chính trị) nên một số không nhỏ những người ở xã hội ta, bắt đầu từ giới có chức có quyền sau lan rộng ra dân chúng, khi đánh giá theo khía cạnh đạo đức, thì họ cũng giống như một cột xi măng không có cốt sắt bên trong. Sự tự chế của họ, sự kiểm soát chính mình, để ngăn họ không làm điều xấu hầu như không có. Nhiều người trong giới cầm quyền đã đầu hàng tiền bạc. Họ không làm điều xấu vì thấy có người khác biết hoặc sợ bị phê bình; chứ không phải từ ý thức của họ rằng việc ấy xấu. Những câu chuyện “quá xá” của các con dòng cháu giống nêu trên báo cho thấy sự thiếu tiết chế này. Khi một người không tự ngăn chặn mình làm xấu thì chuyện họ ngồi chung với người khác rất khó; vì họ không thích, hay người khác không thích họ. Trong thời kỳ chiến tranh, hội viên của các tổ chức chính trị truyền thống hoạt động rất tốt, rất thành công; dẫu cũng chịu những gì áp đặt từ bên ngoài vào, lý do là vì hồi đó có mục tiêu rõ ràng và nó đứng ngay trước mặt (giải phóng vùng địch chiếm). Trong sự phát triển kinh tế ngày nay, mục tiêu không rõ ràng nên rất khó huy động hội viên bằng áp lực bên ngoài. Họ không làm nhưng nói rất hay, rất hợp thời.
Cách thực hiện óc tư lợi
Lợi ích mà mỗi người chúng ta theo đuổi là lợi ích vật chất hay tinh thần. Đi tìm nó thì ai cũng làm nhưng cách làm khác nhau tùy theo đức tính của mỗi người. Vậy vấn đề là làm như thế nào để có nó? Có ba cách làm chính: đòi theo lợi thế chính trị, theo sự công bằng và theo đạo đức. Ở xã hội ta, cách đầu khá phổ biến, nó bắt nguồn từ giới nắm quyền lực sau đó lan rộng ra theo tâm lý “sở dĩ tôi làm cho anh như thế vì người ta đã đối xử với tôi như vậy.” Ta xem xét cách thực hiện óc tư lợi qua hai kiểu phổ biến ở ta.
Đòi theo lợi thế chính trị
Đòi theo cách này là dựa vào quyền hạn của mình để đòi hỏi hạch sách. Thí dụ cấp giấy phép. Cách đòi này không tạo ra sự hợp tác, vì người bị đòi chỉ có bỏ ra mà không lấy về. Cái mà họ lấy về là nhiệm vụ mà người cấp phép phải làm.
Ở ta sự đòi hỏi theo lợi thế chính trị rất thịnh hành, đến mức người ta đòi trước rồi làm sau. Nạn tham nhũng là do nguồn gốc này. Nguyên do là từ cách đào tạo đoàn viên thanh niên, lực lượng dự bị của Đảng – những người sẽ cầm quyền sau này. Ngay từ khi học ở trung học, chỉ có ai vào Đoàn mới được làm lớp trưởng. Điều này đúng về mặt chính trị, chọn người mình tin tưởng: là đoàn viên – mới được giao; nhưng sai lầm về mặt đạo đức vì trong suy nghĩ của em được chọn nó trở thành: là đoàn viên thì sẽ có. Và em phấn đấu vào Đoàn để nhắm một lợi ích cho mình, chứ không phải dùng Đoàn để phục vụ người khác. Đối với em, Đoàn là bữa tiệc, là một mục tiêu tự thân. Và sau này khi anh ta vào Đảng, lên nắm quyền, cách suy nghĩ kia đã ăn sâu vào lòng. Đây là một thí dụ đơn giản để làm rõ vấn đề. Trên thực tế sự tính toán của các người có quyền lực phức tạp hơn nhiều. Ngày xưa đoàn viên Hướng đạo tham gia tổ chức này là để phục vụ người khác; vì tổ chức đó không có quyền lực chính trị. Tổ chức Đoàn gắn với chính trị nên nó cho đoàn viên một lợi thế chính trị và vào đó là được hưởng ngay. Vì quyền lợi bày trước mắt nên trước khi làm bao giờ họ cũng hỏi: “Làm việc ấy ta sẽ được gì ?”. Họ không còn tự nguyện chịu thiệt thòi để mà có thể hợp tác với người khác. 
Chủ nghĩa thành tích
Ta biết cá nhân bị xóa nhòa trong tập thể. Không còn tự do thì chẳng có trách nhiệm; thế nhưng họ không thể bỏ được nhu cầu muốn được tôn vinh; mà muốn được thế thì phải có thành tích. Đây là nguồn gốc thứ nhất của chủ nghĩa thành tích. Trong tập thể, khi một cá nhân phạm lỗi thì họ biết, dẫu không bị quy trách; nhưng ít nhiều họ xấu hổ, và để khỏa lấp sự xấu hổ kia họ phải đi tìm thành tích. Đây là nguồn gốc thứ hai. Trong lĩnh vực cá nhân, muốn kiếm thành tích thì cách an nhàn nhất là nhận vơ, làm lẫn lộn thành tích của người khác với mình, thay đổi quan điểm theo kẻ thắng, hoặc bảo là người khác xấu để chứng minh mình tốt.
Về mặt tập thể, khi cá nhân không được tôn vinh thì mọi người trong tập thể đều muốn tập thể của mình được tôn vinh. Ước mong cá nhân trở thành đòi hỏi của tập thể. Đây là lý do thứ ba. Vậy tập thể được tặng huy chương phải là chủ trương của người lãnh đạo. Tập thể ở đây là một đơn vị chính trị, vậy thành tích của nó phải là vật chất, cái gì thấy ngay, chụp ảnh được. Người lãnh đạo tập thể không đi tìm lợi ích tinh thần vì nó không giúp họ tranh cử trong nhiệm kỳ sau. Vì vậy, lấy ngành giáo dục làm thí dụ, họ quan tâm đến số học sinh tốt nghiệp mỗi kỳ thi; chứ không phải chuyện các em có giỏi hay không. Khi tập thể cao nhất, to nhất (cấp tỉnh) lấy số học sinh tốt nghiệp làm thành tích, thì họ sẽ chỉ thị cho các tập thể trung gian (quận) phải đạt được thành tích ấy; các quận bèn chỉ thị cụ thể cho mỗi trường (một tập thể) tỷ lệ học sinh phải đỗ. Các giáo viên, ngoài thành tích cho cá nhân mình, còn bị áp lực thành tích từ trên ấn xuống; do vậy họ không ngại ngần hay cảm thấy sai khi cho học sinh thuộc bài mẫu trước khi thi, hay cứ cho điểm cao dẫu học sinh kém. Các tỉnh vùng sâu, vùng xa mà điểm thi tốt nghiệp của học sinh ở đó cao hơn thành phố lớn là vì vậy. 
Chủ nghĩa thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả của hiện tại mà nó đề cao không thật. Khi cá nhân theo đuổi chủ nghĩa này họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không  họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác để làm việc chung, để có sự tự nguyện.
Kết luận
Cho câu hỏi vốn xã hội ở ta có cao không, chúng ta vừa xem qua các yếu tố giúp tạo nên vốn đó, chú trọng vào một vài đức tính, xem nó có thể nảy sinh từ cơ cấu xã hội và trong việc xây dựng con người. Khi xem xét như thế chúng ta đã có câu trả lời.

Như đã đề cập, bài này nhằm gợi lên một số đề tài liên quan đến vốn xã hội tại Việt Nam để rồi rút ra một số vấn đề sẽ thảo luận sau này; vì thế những gì nêu ở trên, trả lời ở đó, chưa chắc đã đúng. Do đó, chúng sẽ là những đề tài để thảo luận một cách rộng rãi. Có thể độc giả sẽ bác bỏ, sẽ đặt ra những vấn đề khác với những kết luận khác. Điều đó sẽ rất hữu ích cho tất cả chúng ta, những người quan tâm đến tiền đồ của đất nước, tương lai của dân tộc.   

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG

TRẦN VIỆT HÙNG

Từ nhiều năm nay, ở nước ta việc bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng đã được quy định trong các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) và đã được thực thi trong thực tiễn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tiếp tục hoàn thiện về cơ chế chính sách, đồng thời các doanh nghiệp cũng cần biết được lợi ích và phương cách để xây dựng nhãn hiệu của mình trở nên nổi tiếng cũng như bảo hộ chúng một cách hữu hiệu.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới

Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các loại hàng hóa và dịch vụ cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay, vai trò của nhãn hiệu – một trong những đối tượng truyền thống và chủ yếu của sở hữu công nghiệp (SHCN) – ngày càng trở nên quan trọng.

Với chức năng ban đầu là giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau, qua quá trình sử dụng và phát triển, nhãn hiệu đã trở thành một công cụ hữu hiệu cho một doanh nghiệp (dù lớn hay nhỏ) tiếp cận, phát triển và bảo vệ thị phần hàng hóa và dịch vụ của mình. Vì vậy, từ hàng trăm năm về trước luật bảo hộ nhãn hiệu đã ra đời tại một số quốc gia phát triển. Những nguyên tắc cơ bản của các luật nhãn hiệu ban đầu tỏ ra hợp lý và có sức sống đến tận ngày nay. Đó là việc nhãn hiệu được ưu tiên đăng ký bảo hộ cho người đăng ký trước (hoặc sử dụng trước), đó là việc nhãn hiệu được bảo hộ chống lại các hành vi của người khác sử dụng một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự cho các sản phẩm hàng hóa trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu và sản phẩm của chủ nhãn hiệu… Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường đã xuất hiện những nhãn hiệu hàng hóa nổi trội hơn vô vàn những nhãn hiệu khác nhờ được sử dụng lâu dài trên thị trường, với chất lượng, tính chất đặc trưng, cũng như uy tín mà hàng hóa mang lại. Những nhãn hiệu như vậy là sự kết tinh nỗ lực kinh doanh của một doanh nghiệp cả về vật chất lẫn trí tuệ, thường có giá trị tài sản rất lớn. Tất nhiên, những nhãn hiệu như vậy cũng luôn trở thành mục tiêu cho sự làm giả, sao chép, lợi dụng uy tín của các đối thủ cạnh tranh cũng như những kẻ làm ăn bất chính. Từ đây xuất hiện nhu cầu đòi hỏi phải tạo lập một chế độ bảo hộ đặc biệt hơn cho loại nhãn hiệu này – các nhãn hiệu nổi tiếng (well-known marks, marques bien-connues).

Ngay từ năm 1883, một số quốc gia đã cùng ký kết Công ước Paris về bảo hộ SHCN, trong đó đưa ra những nguyên tắc chính mang tính hợp tác quốc tế về bảo hộ các đối tượng SHCN. Điều 6 bis của Công ước này đã chính thức quy định việc bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng. Các nguyên tắc chính của Điều 6 bis này là: 1) Các thành viên của Công ước có trách nhiệm từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó là sự sao chép, bắt chước, biên dịch và có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nước sử dụng coi là nổi tiếng tại nước đó trên các loại hàng hóa giống hoặc tương tự; 2) Thời hạn yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu như vậy là không ít hơn 5 năm kể từ ngày đăng ký nhãn hiệu. Tuy nhiên, thời hạn này không được quy định đối với những nhãn hiệu được đăng ký hoặc sử dụng với dụng ý xấu.

Qua thời gian, ngày càng có nhiều nước tham gia vào Công ước Paris và cho đến nay đã có hơn 170 nước tham gia Công ước này. Các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đã phát huy tác dụng trên bình diện quốc tế rộng rãi nhằm bảo hộ hiệu quả cho các nhãn hiệu nổi tiếng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Năm 1994 (110 năm sau khi Công ước Paris ra đời), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) đã được ký kết và có hiệu lực từ ngày 1.1.1995 cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Hiệp định này quy định các quy chuẩn về bảo hộ quyền SHTT đối với các nước thành viên WTO. Điều 16 của TRIPS đã tái khẳng định các quy định bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mà Điều 6 bis của Công ước Paris đã quy định, đồng thời đưa việc bảo hộ nhãn hiệu này lên một mức cao hơn và cụ thể hơn. Đó là: 1) Không chỉ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng mà áp dụng cho cả nhãn hiệu dịch vụ nổi tiếng; 2) Việc xác định nhãn hiệu có nổi tiếng hay không phải xem xét danh tiếng của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước thành viên tương ứng nhờ hoạt động quảng cáo nhãn hiệu; 3) Một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng có thể coi là xâm phạm nhãn hiệu này kể cả trường hợp hàng hóa, dịch vụ được sử dụng không trùng với hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu nổi tiếng nếu có nguy cơ làm hiểu lầm là có sự liên quan với chủ nhãn hiệu nổi tiếng và có nguy cơ gây tổn hại cho chủ thể này.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam

 

Những nguyên tắc trên đã được Việt Nam áp dụng trong các quy định của luật pháp về bảo vệ quyền SHTT và trong thực tiễn, kể cả khi nước ta chưa trở thành thành viên chính thức của WTO.

Cách đây nhiều năm, Cục SHTT đã áp dụng các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để giải quyết thành công một số vụ việc điển hình: 1) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của ôxtrâylia nộp đơn đăng ký các nhãn hiệu “Mc Donald”, “KFC”, “PIZZA HUT” cho dịch vụ “cung cấp thức ăn nhanh” (nhóm 43). Lý do, trùng với các nhãn hiệu nổi tiếng của Hoa Kỳ; 2) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Nhật Bản xin đăng ký nhãn hiệu “TOYOTA” cho sản phẩm máy công cụ (nhóm 7). Lý do, trùng với nhãn hiệu nổi tiếng “TOYOTA” của Công ty TOYOTA (Nhật Bản) tuy không cho cùng sản phẩm; 3) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Inđônêxia xin đăng ký nhãn hiệu “VINATABA” cho sản phẩm “quần áo, giầy dép” (nhóm 25). Lý do, trùng với nhãn hiệu nổi tiếng “VINATABA” của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, tuy không cho cùng sản phẩm.

Việc áp dụng quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc bảo hộ nhãn hiệu được nhiều người ưa chuộng của Việt Nam và nước ngoài cũng như bảo hộ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều khó khăn và sự không đồng nhất của việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong phạm vi Việt Nam và trên thế giới. Đó là các thủ tục cụ thể công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, việc thống nhất các tiêu chí công nhận nhãn hiệu nổi tiếng và việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu. Chính vì vậy, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần thấy được lợi ích và phương cách xây dựng nhãn hiệu của mình trở nên nổi tiếng cũng như bảo hộ hữu hiệu chúng, mặt khác tránh được sự vi phạm các nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác trong quá trình kinh doanh ở nội địa cũng như trên thị trường quốc tế.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 11/2007

HỌC LÀM NGƯỜI – HỌC LÀM NGHỀ

Nhân kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, vừa qua, Tạp chí Tia Sáng phối hợp với Đoàn Thanh niên khoa Luật – ĐHQG Hà Nội tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: Học làm người – học làm nghề. Trước những thắc mắc, băn khoăn của một số sinh viên, các nhà giáo: GS. Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đã có những ý kiến trao đổi chân tình, cởi mở. Tia Sáng xin trích lược một phần nội dung của buổi tọa đàm.

GS. Hoàng Tụy: Giáo dục bằng hình mẫu
Bàn về chuyện Học làm người, học làm nghề, trước tiên là bàn chuyện học. Muốn học thì phải có hình mẫu để học. Xã hội ta trước kia có hình mẫu vừa “hồng” vừa “chuyên”. “Chuyên” là nghề. “Hồng” là làm người. Nhưng ở xã hội nào có có hình mẫu ấy đồng thuận tùy theo lý tưởng của từng thời. “Hồng” trong nội dung xã hội hiện đại khác hẳn thời xưa. Đó là điều hiển nhiên đúng vì xã hội đã thay đổi. Ngày nay, trong xã hội ta không có hình mẫu, mà hình mẫu ngược lại có khi nhiều hơn. Điều này đúng bởi xã hội ta đang trong giai đoạn khủng hoảng. Tôi đồng ý với các bạn phải học làm người nhưng người như thế nào mới học được chứ. Tôi đã sống, học ở trường thực dân Pháp, tôi đã dạy trong thời kỳ kháng chiến, và cũng có thời gian dạy ở Châu Âu, Mỹ, Nhật, Úc, ở những nước xã hội chủ nghĩa trước kia cũng như ở các nước tư bản sau này. Dù đó là một đất nước hiện đại, một quốc gia siêu cường hay chỉ là một nước nhỏ, thì ở xã hội ấy, dù nói hay không nói, người ta vẫn tôn thờ, lý tưởng một hình mẫu nào đó. Và dĩ nhiên lý tưởng ấy thay đổi tùy theo thời đại, mang tính thời đại.
Một trong những ưu điểm của giáo dục thời xưa (mà bây giờ thiếu) là giáo dục nghề (hay giáo dục người nói chung) và hết sức đề cao lương tâm nhà nghề. Lần đầu tiên tôi sang Đông Đức, hồi ấy là thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa xã hội, người ta nói công nhân Đức sở dĩ họ làm tốt kỹ thuật là nhờ lương tâm nhà nghề. 99% được giao việc đều cố gắng làm cho đầy đủ bổn phận. Đó là do tác dụng của giáo dục. Cách giáo dục cứng nhắc của chúng ta đè nén con người quá sức. Một mặt, nền giáo dục ấy “nặn” được những con người răm rắp theo tổ chức, đó là sức mạnh. Song mặt khác lại khiến cho con người mất lòng tin. Muốn học làm người, đầu tiên phải chú trọng đến tổ chức, quản lý xã hội, làm sao thấy được mẫu người tốt để noi theo.
Gần đây trên báo chí có nêu lên vấn đề đạo đức thầy giáo sa sút, phát hiện nhiều tiêu cực trong ngành giáo dục. Có ý kiến cho rằng sự sa sút của đạo đức trong giáo dục là do lương thấp. Người ta lí giải rằng: do đồng lương thấp nên giáo viên phải xoay xở để kiếm sống, khó mà không phạm lỗi này hay lỗi khác. Có người gay gắt hơn thì cho rằng không phải do đồng lương thấp mà cái chính là do tư cách, đạo đức của người thầy xuống cấp. Nhưng theo tôi, nguyên nhân sâu xa là do quản lý. Tiêu cực trong giáo dục thực chất không nghiêm trọng bằng tiêu cực trong nhiều cơ quan công quyền khác, nhưng sở dĩ nó nổi lên thành vấn đề xã hội cấp thiết là do giáo dục liên quan, tác động đến mọi gia đình.
Quay trở lại với việc giáo dục. Khi giáo dục, nhà trường chú ý nhiều đến giáo dục kiến thức, kỹ năng nhưng có điều tôi nghĩ thiếu sót là kỹ năng sống, sống để làm người. Tôi thống nhất với TS Phạm Duy Nghĩa là giáo dục cảm xúc là một bộ phận quan trọng trong giáo dục. Con người không có cảm xúc, không rung động, vô cảm trước mọi việc thì không thể làm được bất cứ việc gì. Mỗi bạn trưởng thành, chuẩn bị bước vào đời, cần phải hình dung trước tương lai của mình, đề ra lý tưởng sống cho bản thân và cố gắng thực hiện để đạt được lý tưởng ấy.

PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa: Giáo dục con người biết xấu hổ
Nền giáo dục Việt Nam hiện nay mang đậm tính hành chính. Tính hành chính ấy thể hiện ngay trong kiến trúc trường học. Nếu ở phương Tây, trong những trường danh tiếng, chỗ đẹp nhất, trang trọng nhất bao giờ cũng là nhà thờ, thư viện. Còn ở Việt Nam, “nổi” nhất bao giờ cũng là cái cổng, đằng sau cái cổng ấy là cả hệ thống nào gác cổng, bảo vệ, nào xe cộ, hiệu bộ…Về việc học, sinh viên được học chữ, học kĩ năng, học chính trị, học quản lý Nhà nước… nhưng rốt cuộc là học để lấy bằng. Việt Nam là như vậy. Có được mảnh bằng trong tay, cộng với một khoản nào đó hay một mối quan hệ nào đó, kiếm được một chỗ làm và chính chỗ làm ấy dạy con người thành nghề. Ở Việt Nam không học lấy chữ, không học lấy đức mà học lấy bằng. Và hệ lụy của việc học lấy bằng vô cùng tệ hại. Nó làm cho chữ phải biến dạng, đức phải méo mó. Với một nền học vấn hành chính hóa cao độ ấy, giáo viên trở thành những cỗ máy còn học sinh chưa bao giờ được đặt ở vị trí trung tâm. Chưa hề. Trong khi đó, nền giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới luôn coi trọng người học, đặt người học ở vị trí trung tâm theo đúng nghĩa. Bởi vậy, thứ nhất, giảng đường phương Tây thường được thiết kế tạo độ dốc, sinh viên ngồi bên trên cao vòi vọi, thầy giáo đứng dưới phải nhìn lên thuyết trình. Thứ hai, cuối năm bao giờ sinh viên cũng được quyền đánh giá thầy: Thầy ăn mặc có chỉn chu không, thầy đi dạy có đúng giờ không, thầy dạy có nghiên túc không… Nhưng ở Việt Nam, sinh viên không được phép chấm điểm thầy, mà ngược lại chỉ có thầy chấm điểm sinh viên và không hiếm trường hợp chấm điểm kèm mặc cả.
Đó còn là một nền giáo dục mang tính lễ nghi. Mỗi dịp 20/11, ngày Nhà giáo Việt Nam, hàng tá sơ mi, kẹo sôcôla, rượu tây “chạy” một chu trình: từ cửa hàng đến nhà thầy rồi từ nhà thầy lộn lại cửa hàng. Tôi bắt đầu thấy chán, thấy hoảng về một sự lễ nghi mà đằng sau là sự còi cọc về đạo đức, nhân cách ở nhiều phương diện. Đằng sau lễ lạt 20/11 là những phân tâm rất ghê gớm, nhất là trong bối cảnh của năm nay, 2006. Đó là bức tranh pha tạp màu sắc trong nền giáo dục Việt Nam: ở đâu đó có hiện tượng thầy “ăn tiền” chạy trường, ở đâu đó có hiện tượng thầy “đòi tình” con trẻ, ở đâu đó có thầy say xỉn với sinh viên, ở đâu đó có thầy hăng hái “chỉ tội” đồng nghiệp…
Một nền giáo dục đúng nghĩa, theo tôi, bên cạnh truyền thụ tri thức phải dạy người ta biết xấu hổ. Tại sao nhà thờ lại là nơi trang trọng nhất trong các trường đại học nổi tiếng của thế giới? Bởi, giáo dục phải bắt đầu bằng niềm tin, không có niềm tin không thể có giáo dục. Tôn giáo, tín ngưỡng, những giá trị về tâm linh… là nguồn động lực mạnh mẽ, làm cho con người biết xấu hổ. Học làm người phải bắt đầu bằng học xấu hổ. Người nào còn xấu hổ nhiều, người ấy còn có thể giáo dục được. Chừng nào mất hết dây thần kinh xấu hổ, chừng ấy mất khả năng dạy học làm người. Muốn xấu hổ phải bắt đầu từ xã hội, bắt đầu từ nghĩa vụ của mình với tập thể, với cộng đồng. Ví như cái ô tô thì nhập về rất nhanh nhưng còn văn hóa của người ngồi đằng sau vô lăng lại là điều cần xem xét lại. Giả thử chị bán rau đánh rơi cân cà chua xuống đường, hàng loạt cái ô tô sẽ đè bẹp dúm cà chua của chị mà không ai xuống để nhặt lên. Liêm sỉ phải bắt đầu bằng giáo dục, bắt đầu bằng việc xấu hổ với chính mình, xấu hổ với việc mình lái ô tô sang trọng như vậy mà đè bẹp lên cà chua của những người dạy từ 2 – 3 giờ sáng, đi bộ 40 – 50 cây số từ ngoại ô vào thành phố cho kịp buổi chợ sáng. Sự giáo dục như vậy làm con người xấu hổ trước những điều không phải, xấu hổ trước cái ác. Tính hướng thiện, suy cho cùng, bắt đầu từ xấu hổ. Song giáo dục Việt Nam dường như thiếu hẳn, nhất là ở quan chức đôi khi mất luôn khả năng xấu hổ.


Từ xưa đến nay, trường học của ta dạy đủ thứ đạo đức, việc dạy làm người có từ cấp học phổ thông. Vấn đề là ở chỗ ta dạy quá nhiều nhưng không trúng. Mà nguyên nhân của hiện tượng này, theo tôi, do trong một thời kỳ, một giai đoạn nào đó trên con đường đi của mình, trên sự tiếp nhận – lựa chọn của mình, chính chúng ta đã phá vỡ đi những giá trị cơ bản nhất của xã hội. Đó là do bước ngoặt. Và 1950 là một bước ngoặt như thế. Trước 1950, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dù đời sống của chúng ta còn chật vật, khó khăn, thiếu thốn song con người sống với nhau rất tình cảm, rất đẹp. Tôi còn nhớ, ra trận mà người ta vẫn còn hát “Thiên thai”, “Cô lái đò”… Vậy mà sau giải phóng biên giới 1950, sau thành công của Cách mạng Trung Quốc năm 1949, xã hội ta có sự chuyển hướng quan trọng về đạo đức, kéo theo sự thay đổi hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng Trung Hoa tràn vào nước ta và ít nhiều để lại những ảnh hưởng không tốt. Nói như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn: Cải cách ruộng đất phá vỡ làng Việt Nam, đánh tan làng Việt Nam, một tế bào cơ bản của xã hội Việt Nam. Nhưng tôi thấy nó còn phá luôn một tế bào cơ bản là gia đình. Cải cách ruộng đất sinh ra chuyện con tố cha, vợ tố chồng…, những thứ mà trong hàng nghìn năm trước cha ông ta không bao giờ làm vậy. Điều này đã để lại hậu quả nặng nề, một vết thương khó lành, phá vỡ xã hội Việt Nam với bao truyền thống tốt đẹp. Đã đến lúc phải nghiêm túc suy nghĩ về chuyện này. Chừng nào chưa có sự tự vấn sâu sắc, chưa có sự nhìn lại, sám hối của mỗi cá nhân, của xã hội, chừng ấy chưa có nền tảng cơ bản để thay đổi. Hiện nay chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức mà sức đề kháng của xã hội lại đã suy yếu. Bởi thế con người càng phải phát huy khả năng độc lập của bản thân. Giáo dục đóng vai trò cải tạo xã hội chứ không chỉ là sản phẩm bị động của xã hội, con người phải là tác giả của chính mình. Nghĩa là phải có sự tự do bên trong để cắt đứt, phá vỡ mọi giáo điều áp đặt, ràng buộc lên mỗi người. Theo tôi, mỗi bạn sinh viên ngồi đây cần phải chiếm lấy cái tự do của mình, suy nghĩ tự do, hành động tự do, để biết sống độc lập, dám sống độc lập.         

Nhà văn Nguyên Ngọc: Giáo dục con người biết tự vấn

 

HẠNH NGUYÊN ghi