DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

DỰ THẢO ngày 05 tháng 9 năm 2007

NGHỊ ĐỊNH

Về chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ

_____________

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 26 tháng 02 năm 1998; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 28 tháng 4 năm 2000; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29 tháng 4 năm 2003;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong các cơ quan nhà nước sau:

a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

b) Các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;

c) Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng;

d) Tòa án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp;

đ) Cơ quan đại diện nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam ở nước ngoài;

e) Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

2. Những người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này cũng phải thực hiện chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. ”Chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức”: là các quy định của Nhà nước yêu cầu cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ phải làm và những việc cán bộ, công chức không được làm, nếu cán bộ, công chức vi phạm thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2. ”Nhiệm vụ, công vụ”: là những hoạt động do cán bộ, công chức, viên chức tiến hành theo quy định của pháp luật được cấp có thẩm quyền phân công.

Điều 3. Căn cứ xác định trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

1. Nghĩa vụ và những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm quy định tại Pháp lệnh cán bộ, công chức;

2. Chức trách, nhiệm vụ cụ thể và quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền giao và phân công;

3. Nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Nghị định này.

Điều 4. Các hình thức trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức khi có hành vi vi phạm

1. Cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ phải chịu một hoặc nhiều hình thức trách nhiệm sau đây:

a) Trách nhiệm kỷ luật;

b) Trách nhiệm dân sự;

c) Trách nhiệm vật chất;

d) Trách nhiệm hình sự;

đ) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

2. Trách nhiệm kỷ luật: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải bị xử lý kỷ luật theo các quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức.

3. Trách nhiệm dân sự: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ gây thiệt hại, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, uy tín của cơ quan, tổ chức, đơn vị đến mức phải chịu trách nhiệm dân sự thì ngoài việc xử lý kỷ luật phải bị xử lý về trách nhiệm dân sự. Việc xử lý trách nhiệm dân sự đối với cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo quy định của pháp luật dân sự.

4. Trách nhiệm vật chất: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ làm mất mát, hư hỏng trang bị, thiết bị hoặc gây ra thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị, nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật.

5. Trách nhiệm hình sự: cán bộ, công chức, viên chức nếu có hành vi vi phạm pháp luật trong thi hành nhiệm vụ, công vụ có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với cán bộ, công chức, viên chức phải tuân theo quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự.

Chương II

CHẾ ĐỘ TRÁCH NHIỆM

ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

Điều 5. Nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

Cán bộ, công chức, viên chức khi thực thi nhiệm vụ, công vụ phải chịu trách nhiệm về các nội dung sau:

1. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức và chấp hành nghiêm những việc cán bộ, công chức, viên chức không được làm do pháp luật quy định;

2. Tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ, công vụ được cấp trên giao theo đúng quy định của pháp luật; bảo đảm nhiệm vụ, công vụ được thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ, đúng thời gian, thời hạn quy định; bảo đảm số lượng và chất lượng đồng thời chịu trách nhiệm về kết quả nhiệm vụ, công vụ đã thực hiện. Trường hợp khi giải quyết công việc cần thiết phải kéo dài thời gian quy định thì phải có trách nhiệm báo cáo cho cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc công dân liên quan biết rõ lý do;

3. Tổng hợp, tham mưu, đề xuất các ý kiến để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định đúng quy định của pháp luật;

4. Thực hiện đúng quyền hạn, chức trách và nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm chấp hành nội quy, quy chế, quy trình và phối hợp đối với đồng nghiệp khi thực thi nhiệm vụ, công vụ;

5. Bảo vệ và quản lý tài sản công, tài chính công, trang thiết bị được giao sử dụng trong và sau khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ, không để xảy ra hư hỏng, mất mát, thất thoát và không sử dụng vào việc riêng;

6. Tuân thủ và bảo đảm an ninh, phòng chống cháy nổ và an toàn lao động tại cơ quan; thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;

7. Thực hiện các quy tắc ứng xử và văn hóa công sở, đấu tranh chống mọi biểu hiện hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân, tổ chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ;

8. Thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật;

9. Tích cực tham gia thực hiện Quy chế dân chủ trong cơ quan, bảo đảm đoàn kết, thực hiện việc khiếu nại, tố cáo và phát ngôn theo đúng quy định của pháp luật.

Điều 6. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc phân công, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức

1. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị (sau đây gọi chung là người đứng đầu) phải có trách nhiệm phân công, bố trí và sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phù hợp với phẩm chất, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức.

2. Khi phân công và bố trí cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người đứng đầu phải quy định và thông báo rõ ràng, cụ thể quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ của người được bố trí;

3. Khi phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải bảo đảm các điều kiện về chế độ, chính sách, về trang, thiết bị và điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao;

4. Khi phân công nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức, người đứng đầu phải thông báo rõ yêu cầu chất lượng, thời hạn hoàn thành và các yêu cầu khác (nếu có) để cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm thực hiện.

Điều 7. Những trường hợp xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

Cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

1. Vi phạm nội dung chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức quy định tại Điều 5 Nghị định này;

2. Vi phạm pháp luật khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ để xảy ra hậu quả;

3. Đề xuất, tham mưu, trình lãnh đạo ký và ban hành văn bản trái pháp luật;

4. Không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hoặc báo cáo sai sự thật;

Điều 8. Trách nhiệm khi thực thi nhiệm vụ, công vụ theo nhóm

Trong trường hợp nhiệm vụ, công vụ được giao cho một nhóm cán bộ, công chức, viên chức (từ hai người trở lên) thực hiện, nếu vi phạm chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này thì xử lý vi phạm đối với từng cán bộ, công chức, viên chức trong nhóm theo quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của từng người.

Chương III

KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 9. Khen thưởng

Cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, công vụ thì được xem xét khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 10. Xử lý vi phạm

1. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định này thì tuỳ theo mức độ nặng, nhẹ phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

2. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ nếu gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc phải xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này còn phải hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Điều 11. Nguyên tắc xem xét xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm

Khi xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm, ngoài việc thực hiện theo các nguyên tắc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật hiện hiện hành, còn thực hiện theo các nguyên tắc sau:

1. Căn cứ sự phân công, phân cấp của cơ quan quản lý và sử dụng để xác định mức độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức;

2. Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được giao.

Điều 12. Trường hợp loại trừ, giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức

1. Cán bộ, công chức, viên chức được loại trừ trách nhiệm trong các trường hợp sau:

a) Trường hợp bất khả kháng như thiên tai, địch họa, tai nạn rủi ro: cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ đã có biện pháp phòng chống nhưng vẫn bị ảnh hưởng đến kết quả thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức vắng mặt tại cơ quan, đơn vị có lý do chính đáng và được cấp có thẩm quyền đồng ý;

c) Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức phải chấp hành quyết định của cấp trên; khi có căn cứ để cho là quyết định đó trái pháp luật đã báo cáo ngay với người ra quyết định; nếu vẫn phải chấp hành quyết định đã báo cáo lên cấp trên trực tiếp của người ra quyết định và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành quyết định đó.

2. Cán bộ, công chức vi phạm chế độ trách nhiệm được xem xét giảm nhẹ một hình thức ký luật khi xử lý kỷ luật nếu người đó có thái độ thành khẩn, có bản tự kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và đã kịp thời khắc phục hậu quả.

3. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm bị xem xét tăng nặng khi xử lý kỷ luật trong các trường hợp sau:

a) Khi phát hiện cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm chế độ trách nhiệm, cấp trên đã chỉ đạo kịp thời nhưng cán bộ, công chức, viên chức không thực hiện hoặc không chấm dứt hành vi vi phạm chế độ trách nhiệm;

b) Cán bộ, công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật về vi phạm chế độ trách nhiệm mà lại tái phạm hoặc thiếu trung thực, không tiếp thu phê bình, kiểm điểm, cố tình né tránh, đùn đẩy trách nhiệm;

c) Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm, lợi dụng vị trí công tác và nhiệm vụ được giao để tham mưu hoặc ra quyết định trái với các quy định của pháp luật.

Điều 13. Thẩm quyền xử lý vi phạm chế độ trách nhiệm đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ

Việc xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức vi phạm chế độ trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, công vụ thực hiện theo phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

Chương IV

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 14. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 15. Trách nhiệm quy định cụ thể và kiểm tra

1. Bộ trưởng Bộ Nội vụ kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại các cơ quan thuộc bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra việc thi hành Nghị định này đối với cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã;

3. Người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước (Văn phòng Quốc Hội, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) quy định cụ thể và kiểm tra việc thi hành Nghị định này tại cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc quyền quản lý.

4. Cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị hướng dẫn việc áp dụng Nghị định này đối với cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội.

Điều 16. Trách nhiệm thi hành

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, người đứng đầu các cơ quan nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này và cán bộ, công chức, viên chức chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG MÔ VÀ TRUNG TÂM ĐIỀU PHỐI QUỐC GIA VỀ GHÉP BỘ PHÂN CƠ THỂ NGƯỜI

NGHị địNH (DỰ THẢO)

Quy định về tổ chức, hoạt động của ngân hàng mô

và Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người

CHíNH PHủ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

Nghị định:

Chương I

Ngân hàng mô

Mục I

thành lập Ngân hàng mô

Điều 1. Địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng mô

Ngân hàng mô có địa vị pháp lý, chức năng và nhiệm vụ theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 35 của Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác.

Điều 2. Loại hình ngân hàng mô

1. Ngân hàng mô trực thuộc Bộ Y tế.

2. Ngân hàng mô thuộc bệnh viện, trường đại học y, dược trực thuộc Bộ Y tế hoặc thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ.

3. Ngân hàng mô trực thuộc Sở Y tế.

4. Ngân hàng mô thuộc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế.

5. Ngân hàng mô tư nhân; ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục.

Điều 3. Thẩm quyền thành lập và cho phép thành lập ngân hàng mô

1. Thẩm quyền thành lập ngân hàng mô

a) Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định thành lập ngân hàng mô trực thuộc Bộ Y tế, ngân hàng mô thuộc bệnh viện, viện, trường trực thuộc Bộ Y tế hoặc thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ;

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập ngân hàng mô trực thuộc Sở Y tế, ngân hàng mô thuộc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế.

2. Thẩm quyền cho phép thành lập ngân hàng mô

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cho phép thành lập Ngân hàng mô tư nhân; ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục trên địa bàn quản lý.

Điều 4. Hồ sơ, thủ tục thành lập và cho phép thành lập Ngân hàng mô

1. Hồ sơ thành lập và cho phép thành lập ngân hàng mô:

a) Đề án thành lập ngân hàng mô bao gồm các nội dung chính sau đây:

– Sự cần thiết và cơ sở pháp lý thành lập ngân hàng mô;

– Mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của ngân hàng mô;

– Loại hình ngân hàng mô cần thành lập;

– Cơ cấu của ngân hàng mô;

– Các yếu tố cần thiết bảo đảm cho ngân hàng mô hoạt động, trong đó dự kiến về nhân sự, biên chế, kinh phí hoạt động, trụ sở làm việc và trang thiết bị chuyên môn, các phương tiện cần thiết khác của ngân hàng mô;

– Phương án thành lập và lộ trình hoạt động của ngân hàng mô;

– Kiến nghị của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân xây dựng đề án thành lập ngân hàng mô;

b) Tờ trình đề nghị thành lập ngân hàng mô bao gồm các nội dung chính sau đây:

– Sự cần thiết và cơ sở pháp lý của việc thành lập ngân hàng mô;

– Những nội dung chính của đề án thành lập ngân hàng mô;

– Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau và những vấn đề cần xin ý kiến của cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập ngân hàng mô.

2. Thủ tục thành lập và cho phép thành lập ngân hàng mô

a) Đối với ngân hàng mô trực thuộc Bộ Y tế hoặc ngân hàng mô thuộc bệnh viện, viện, trường trực thuộc Bộ Y tế hoặc thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ;

– Hồ sơ đề nghị thành lập Ngân hàng mô được gửi về Bộ Y tế.

– Trong thời hạn 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, Bộ Y tế ra quyết định thành lập ngân hàng mô; nếu không ra quyết định thành lập thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

b) Đối với ngân hàng mô trực thuộc Sở Y tế, ngân hàng mô thuộc bệnh viện trực thuộc Sở Y tế;

– Hồ sơ thành lập gửi về Sở Y tế nơi ngân hàng mô đặt trụ sở.

– Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, Sở Y tế trình ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thành lập ngân hàng mô trong vòng 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp; nếu không ra quyết định thành lập thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

c) Đối với ngân hàng mô tư nhân, ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục;

– Hồ sơ thành lập gửi về Sở Y tế nơi ngân hàng mô đặt trụ sở.

– Trong thời hạn 20 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp, Sở Y tế trình ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định cho phép thành lập ngân hàng mô tư nhân, ngân hàng mô thuộc bệnh viện tư nhân, trường đại học y, dược tư thục trên địa bàn quản lý trong vòng 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp pháp; nếu không cho phép thành lập thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Mục 2

Hoạt động của ngân hàng mô

Điều 5. Địa điểm, đối tượng lấy mô và điều kiện cần thiết khác:

1. Lấy mô ở người hiến chết:

a) Việc lấy mô được thực hiện trong phòng mổ, nhà xác hoặc nơi có thi thể của người hiến mô;

b) Trước khi lấy mô, các thiết bị, dụng cụ phục vụ việc lấy mô phải được tiệt trùng theo quy trình vệ sinh chuyên môn của cơ sở y tế; mô được lấy phải bảo đảm vô trùng theo kỹ thuật phẫu thuật chuẩn;

2. Lấy mô ở người hiến sống:

a) Việc lấy mô ở người hiến sống được thực hiện tại phòng mổ của cơ sở y tế có đủ điều kiện, chức năng lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người;

b) Trước khi lấy mô phải tiến hành kiểm tra các thông số kỹ thuật, tư vấn đầy đủ cho người hiến theo quy định của Bộ Y tế;

c) Các thiết bị, dụng cụ phục vụ việc lấy mô phải được tiệt trùng; mô được lấy phải bảo đảm vô trùng theo kỹ thuật phẫu thuật chuẩn.

Điều 6. Đóng gói, bảo quản và vận chuyển mô sau khi lấy đến ngân hàng mô

1. Mô phải được đóng gói ngay sau khi được lấy; được để trong hộp đựng mô vô trùng, được bảo quản bằng hóa chất hoặc dung dịch; được lưu giữ ở nhiệt độ thích hợp và không được phép mở cho đến khi được giao cho ngân hàng mô.

2. Hộp đựng mô phải được dán nhãn có tên loại mô; tên người cho; tên, địa chỉ của cơ sở lấy mô và ngân hàng mô.

Điều 7. Tiếp nhận mô

1. Trước khi tiếp nhận mô từ cơ sở y tế đã lấy mô, ngân hàng mô phải:

a) Kiểm tra hồ sơ do cơ sở y tế đã lấy mô chuyển đến bao gồm các thông tin về tên người cho; ngày, giờ và nơi thực hiện lấy mô; tên của người trực tiếp lấy mô; loại mô và các thông tin y tế liên quan đến người hiến và mô đã lấy;

b) Kiểm tra hộp đựng mô về sự nguyên vẹn, so sánh nhãn với hồ sơ quy định tại điểm a, khoản này.

2. Sau khi kiểm tra hồ sơ, thùng đựng mô, nếu bảo đảm các quy định tại khoản 1 Điều này, ngân hàng mô sẽ tiếp nhận, đánh giá chất lượng và xử lý mô.

Đối với các mô được chuyển tới từ các ngân hàng mô khác hoặc từ hợp tác hoặc viện trợ quốc tế, ngân hàng mô kiểm tra, đối chiếu với các thông tin trên hồ sơ và thùng đựng mô và thời hạn sử dụng để xác định sơ bộ chất lượng mô trước khi tiếp nhận mô.

Điều 8. Đánh giá chất lượng và xử lý mô

1. Sau khi tiếp nhận, trước khi xử lý, mô phải được đánh giá chất lượng nhằm loại bỏ những mô không bảo đảm chất lượng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

2. Các phương pháp xử lý mô bao gồm:

a) Ngâm chất tẩy hoặc dung dịch bảo quản có kháng sinh;

b) Bảo quản lạnh;

c) Đông lạnh;

d) Khử nước hoàn toàn;

đ) Chiếu xạ;

e) Tiệt trùng bằng Ethylene Oxide;

g) Đông khô;

h) Các phương pháp xử lý khác.

3. Bộ Y tế xây dựng, ban hành quy trình xử lý mô thích ứng với từng phương pháp quy định tại khoản 2 Điều này.

Điều 9. Đóng gói và dán nhãn mô đã qua xử lý

1. Mô đã qua xử lý đều phải được đóng gói riêng và được để trong thùng chứa mô.

2. Mỗi sản phẩm mô, thùng đựng mô đều phải được dán nhãn với đầy đủ các thông số sau:

a) Loại mô;

b) Tên, địa chỉ ngân hàng mô;

c) Số nhận dạng mô;

d) Ngày hết hạn.

3. Mỗi thùng đựng mô, bên cạnh việc dán nhãn phải có tài liệu đính kèm, bao gồm các nội dung sau:

a) Số lượng, khối lượng hoặc kích thước hoặc tất cả những thông số trên khi cần thiết;

b) Phương pháp xử lý;

c) Số lô, nếu được áp dụng;

d) Các dư chất tiềm năng của hóa chất, dung dịch được đưa thêm vào quá trình xử lý và bảo quản;

đ) Các điều kiện lưu giữ được khuyến cáo;

e) Các chỉ định và chống chỉ định cho sử dụng mô khi cần thiết;

g) Các nội dung có liên quan khác.

Điều 10. Mã hoá thông tin về mô

1. Mọi thông tin về nguồn gốc mô phải được mã hoá trên nguyên tắc vô danh; không ghi tên, tuổi, địa chỉ của người hiến; mỗi lần lấy mô của người hiến sẽ được cấp một mã xác định riêng.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mã số cho việc mã hóa thông tin đối với từng ngân hàng mô.

Điều 11. Lưu giữ

1. Việc lưu giữ mô phải bảo đảm điều kiện về nhiệt độ, tại khu vực riêng biệt, cách ly hoàn toàn với mô chưa qua xử lý và trong môi trường sạch, không có sự lây nhiễm vi sinh vật.

2. Ngân hàng mô phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình lưu giữ mô.

3. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định cụ thể quy trình lưu giữ mô.

Điều 12. Phân phối

1. Việc phân phối mô phải bảo đảm tra cứu được nguồn gốc giữa người cho, ngân hàng mô và người nhận, kể cả giữa các ngân hàng mô.

2. Ngân hàng mô phải có phương tiện chuyên dụng vận chuyển phù hợp để vận chuyển mô đến tận nơi nhận bảo đảm chất lượng.

Điều 13. Chế độ lưu trữ hồ sơ và báo cáo.

1. Ngân hàng mô phải lập và lưu trữ toàn bộ hồ sơ có liên quan đến mô từ khâu tiếp nhận, xử lý, đóng gói, lưu giữ cho đến khâu vận chuyển, phân phối mô.

2. Sáu tháng một lần, các ngân hàng mô phải báo cáo Bộ Y tế về tình hình hoạt động của ngân hàng mô.

Trường hợp có sự cố không mong muốn hoặc phản ứng phụ nghiêm trọng xảy ra trong quá trình tiếp nhận, lấy, lưu giữ, cung cấp và ghép mô, giám đốc cơ sở y tế có chức năng ghép mô có trách nhiệm thông báo cho Ngân hàng mô để báo cáo ngay cho Bộ Y tế.

Điều 14. Trách nhiệm trong việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hoạt động chuyên môn của ngân hàng mô

Trên cơ sở các điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định này, Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hoạt động chuyên môn của ngân hàng mô để áp dụng thống nhất trong cả nước.

Điều 15. Nguyên tắc xác định chi phí hoạt động của ngân hàng mô

Ngân hàng mô được phép thu giá dịch vụ trên nguyên tắc không vì mục đích thương mại nhằm lấy thu bù chi bao gồm các chi phí sau:

1. Tiếp nhận, xử lý, đánh giá, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển mô.

2. Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp.

3. Khấu hao cơ sở vật chất, tài sản, trang thiết bị và các chi phí phát sinh hợp lý khác.

Chương II

Trung tâm điều phối quốc gia

về ghép bộ phận cơ thể người

Điều 16. Tổ chức Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người

1. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người là tổ chức sự nghiệp, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng, trực thuộc Bộ Y tế.

2. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác và các nhiệm vụ cụ thể khác như sau:

a) Tiếp nhận lập danh sách người đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống và ở người sau khi chết. Quản lý việc cấp thẻ và danh sách người hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống và ở người sau khi chết đã được cấp thẻ;

b) Quản lý các thông tin về sức khỏe và các thông tin khác có liên quan đến người hiến, người có chỉ định ghép mô, bộ phận cơ thể người;

c) Lập và quản lý danh sách người có chỉ định ghép mô, bộ phận cơ thể trong toàn quốc;

d) Đối chiếu với danh sách đăng ký hiến và danh sách đăng ký ghép để điều phối việc lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người giữa các cơ sở y tế.

3. Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.

Điều 17. Mối quan hệ điều phối giữa Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người và các cơ sở y tế

1. Cơ sở y tế khi nhận được đơn của người tình nguyện hiến bộ phận cơ thể người có trách nhiệm thông báo tên, tuổi, địa chỉ cùng các chỉ số y học liên quan đến tình trạng sức khỏe của người đó với Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người để đưa vào danh sách người hiến bộ phận cơ thể người.

2. Cơ sở y tế khi khám bệnh, chữa bệnh mà có chỉ định ghép bộ phận cơ thể cho người bệnh có trách nhiệm thông báo tên, tuổi, địa chỉ cùng các chỉ số y học liên quan đến tình trạng sức khỏe của người đó với Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người để đưa vào danh sách người có chỉ định ghép bộ phận cơ thể người.

3. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người tiếp nhận các thông tin quy định tại khoản 1 và 2 Điều này và chịu trách nhiệm điều phối hoạt động ghép bộ phận cơ thể người trong toàn quốc theo các nguyên tắc quy định tại Điều 37, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phân cơ thể người và hiến, lấy xác.

Điều 18. Mối quan hệ điều phối giữa Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người và các ngân hàng mô

1. Ngân hàng mô có trách nhiệm thông báo số lượng, chủng loại mô hiện có với Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.

2. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người, căn cứ theo số lượng, chủng loại mô của các ngân hàng mô trên cả nước chịu trách nhiệm điều phối hoạt động trong việc cung cấp mô.

Chương III

Điều khoản thi hành

Điều 19. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 20. Hướng dẫn thi hành

1. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn thực hiện Nghị định này.

2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

QUẢNG BÌNH: THI HÀNH ÁN THEO KIỂU “SỐNG CHẾT MẶC BAY”

 DƯƠNG SÔNG LAM

Một vụ tranh chấp đất giữa hai người dân nghèo không đến mức căng thẳng. Nhưng vì tòa phán quyết theo kiểu “cho xong chuyện”, nên thi hành án cũng “sống chết mặc bay”. Hậu quả để lại làm cho những người dân nghèo rơi hết nước mắt vì chạy theo bản án.

Tòa xử di dời cây

Vào tháng 5/2001, vợ chồng anh Lưu Đức Tiến, ở xã Phú Định, huyện Bố Trạch, Quảng Bình thấy khoảnh đất đồi gần nhà mình bỏ hoang lâu ngày, anh Tiến xin phép trưởng thôn được khai hoang để trồng mía, sau đó anh trồng cao su và bạch đàn.

Sau hơn 3 năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, hơn 1ha cao su của vợ chồng anh đã lên xanh tốt chuẩn bị cho thu hoạch. Nhưng niềm vui của vợ chồng anh Tiến chỉ thoảng qua khi vợ chồng anh Lê Văn Dương cùng thôn đem sổ đỏ đến và nói miếng đất mà vợ chồng anh Tiến trồng cao su là của anh Dương. Hai bên đưa nhau ra tòa.

Tòa sơ thẩm và phúc thẩm ở Quảng Bình đều xử án rằng: Gia đình anh Tiến đã khai hoang trái phép trên đất của gia đình anh Dương, vậy nên tòa hai cấp đã tuyên án gia đình anh Tiến trả lại đất cho gia đình anh Dương. Cả hai gia đình đều đồng thuận sự việc này.

Tuy nhiên vụ án chưa kết thúc bởi sự phán quyết lạ đời của tòa ở chỗ: Vợ chồng anh Tiến đã trồng 325 cây cao su và 571 cây bạch đàn chuẩn bị thu hoạch, toà phán: Buộc gia đình anh Tiến phải di dời ngay số cây cao su và bạch đàn trên ra khỏi diện tích đất phải trả.

Tòa cũng tính luôn công khai hoang 1ha cho gia đình anh Tiến là 4,5 triệu đồng và buộc gia đình anh Dương sau khi lấy lại đất phải hoàn trả tiền công khai hoang này. Riêng tiền giống, công chăm bón 3 năm của vợ chồng anh Tiến, Tòa nói không có cơ sở tính đến.

Làm sao có thể di dời ngay 325 cây cao su và 571 cây bạch đàn ra khỏi khu đất tranh chấp được khi mà nó đang xanh tốt? Bản án phi thực tế đó đã để lại những hậu quả mà tòa không tính đến.

Thi hành án tùy tiện

Cán bộ thi hành án huyện Bố Trạch thừa nhận bản án tòa tuyên không thể thực thi được, nhưng nhiệm vụ thi hành án vẫn phải thực hiện. Vậy nên ngày 17/10, lực lượng thi hành án kéo nhau rầm rộ hàng chục người vừa lập biên bản vừa tiến hành di dời cây bằng cách chặt phá cả ha cao su, bạch đàn của vợ chồng anh Tiến.

Nhiều người dân ở xã Phú Định cho biết: Có gần 30 người làm nghề xe ôm, lao động tự do ở thị trấn Hoàn Lão, Bố Trạch cũng được huy động lên chặt phá cao su của anh Tiến. Giờ đây số người trên anh Dương cho là của Đội Thi hành án thuê, còn cơ quan thi hành án lại cho là người nhà của anh Dương.

Thấy đám người hung hăng chặt phá, còn vợ chồng anh Tiến lạy xin nên một số người dân xung quanh rất bức xúc đã vào can ngăn. Còn chính quyền lại như vô cảm.

Ai cũng cho rằng bản án tòa tuyên là phi thực tế, song chính quyền xã Phú Định, lãnh đạo huyện Bố Trạch và Đội Thi hành án hiểu vấn đề nhưng lại làm theo kiểu “sống chết mặc bay”, không hề có một bản kiến nghị để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người dân, mà lại nhắm mắt cho di dời bằng cách chặt phá.

Kiểu làm việc tắc trách nói trên của các cơ quan chức năng ở Quảng Bình đang đẩy vợ chồng anh Lưu Đức Tiến cùng đường khốn khó, buộc anh phải tiếp tục đi gõ cửa các cơ quan chức năng để tìm sự công bằng

SOURCE: BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN

CẦN CHẤN CHỈNH CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ, QUẢN LÝ HỘ TỊCH, HỘ KHẨU VÀ GIẤY KHAI SINH

 THÁI BÌNH

Nhà anh H. ở tận Xẻo Nhàu A, xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang) được một người quen trong ngành giáo dục cho nhiều bản sao giấy khai sinh khống có đóng dấu và chữ ký của Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh, huyện An Minh. Thấy bất thường, anh H. đi hỏi một số người mới biết làm vậy là sai luật. Cũng may là anh đã cẩn thận…

Vất vả vì chuyện ngày, tháng, năm sinh…

Những ngày đầu tháng 12, chúng tôi có chuyến công tác đến Cà Mau – một trong những địa phương thời gian qua có án hiếp dâm trẻ em xảy ra khá cao so với các tỉnh khác cùng khu vực ĐBSCL.

Trung tá Đoàn Trọng Phúc – Phó Trưởng phòng CSĐT tội phạm về TTXH (PC14) Công an tỉnh cho biết, anh vừa ký văn bản số 260 đề xuất lãnh đạo Công an tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục & Đào tạo, Sở Tư pháp chỉ đạo rà soát lại công tác đăng ký quản lý hộ tịch, hộ khẩu trên địa bàn một cách chặt chẽ.

Lật hồ sơ dày cộm trên bàn cho tôi xem, Trung tá Phúc nói: “Nếu không sớm khắc phục tình trạng này thì công việc của những điều tra viên như chúng tôi lại tiếp tục phải thường xuyên đối mặt với thực tế vất vả”.

Võ Trung Ngươn (24 tuổi) hiếp dâm em Nguyễn Cẩm T. Vụ án xảy ra đầu năm 2007 từng gây xôn xao dư luận tại xã Khánh Hội, huyện U Minh (Cà Mau). Các điều tra viên đề nghị gia đình nạn nhân cung cấp tất cả các giấy tờ có liên quan nhưng thật bất ngờ, chẳng có giấy tờ nào thể hiện ngày, tháng, năm sinh của em này. Theo quy định, cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định tuổi cho em T.

Tương tự, vụ tên Nguyễn Trọng Nguyễn (16 tuổi, ngụ tại xã Phú Hưng, huyện Cái Nước, Cà Mau) hiếp dâm em Nguyễn Cẩm N. vào ngày 13/8. Vì các giấy tờ có liên quan đến em N. không thể hiện ngày tháng sinh nên buộc phải trưng cầu giám định độ tuổi. Kết quả giám định, em N. có độ tuổi từ 12 năm 6 tháng đến 13 năm tuổi.  

Còn vụ Chung Văn Kết hiếp dâm Ngô Bảo N. (7 tuổi) xảy ra ngày 11/3/2006 ở Lương Thế Trân, huyện Cái Nước. Thật vất vả cho cơ quan điều tra vì kiểm tra giấy tờ của tên Kết, có rất nhiều ngày, tháng, năm sinh khác nhau. Trường hợp này cũng giống như vụ Lê Quốc Khánh (ngụ thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời). khi xâm hại Lê Thị Bé T. (14 tuổi) vào ngày 3/4. Kết luận giám định độ tuổi cho biết Khánh khoảng 16 năm 6 tháng đến 17 năm tuổi.

Không phải chỉ gặp khó trong những vụ án hiếp dâm, cơ quan điều tra cũng gặp rắc rối trong những vụ trọng án khác. Lãnh đạo Phòng PC14 Công an Cà Mau cho tôi xem hồ sơ vụ cướp tài sản xảy ra ngày 7/4, tại xã Việt Thắng, huyện Phú Tân (Cà Mau). Vụ này do tên Huỳnh Vũ Ca, có tên khác là Vũ “ca nhỏ” (15 tuổi) cùng với 2 tên khác gần nhà là Võ Văn Cỏl (13 tuổi) và Võ Văn Kiệt (26 tuổi) thực hiện. Bị hại là Đặng Hoàng Giang (24 tuổi) và Trương Văn Minh (19 tuổi).

Kết quả giám định độ tuổi, tên Vũ Ca ở tuổi 14 năm 9 tháng đến 15 năm 2 tháng; còn tên Cỏl khoảng 13 năm 9 tháng đến 14 năm 3 tháng tuổi. Do các giấy tờ có liên quan của 2 đối tượng kể trên không thể hiện rõ ngày, tháng, năm sinh, vì vậy, tính theo nguyên tắc có lợi cho bị can thì Cỏl không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Một điều tra viên của PC14 Công an Bạc Liêu cho biết: “Trong thực tế công tác điều tra xử lý tội phạm ở các vụ án đã xảy ra bao gồm trẻ em và người chưa thành niên phạm tội, người trên 16 đến dưới 18 tuổi, người có tuổi cặp kê 13 – 14 tuổi, 15 – 16 tuổi, chúng tôi thường gặp đa số khai sinh, hộ khẩu không được ghi đầy đủ ngày tháng sinh, hoặc không khai sinh, không hộ khẩu nên buộc phải giám định.

Có rất nhiều trường hợp thể hiện cán bộ làm công tác đăng ký không ghi đầy đủ, chính xác ngày, tháng sinh, giữa giấy khai sinh và hộ khẩu, học bạ không khớp độ tuổi với nhau. Các giấy tờ phổ biến như văn bằng, chứng chỉ, kể cả CMND… cũng không khớp với hộ khẩu, giấy khai sinh, học bạ. Có những trường hợp có đến 3 – 4 năm sinh khác nhau, đều do người, cơ quan có thẩm quyền ký tên, đóng dấu. Đó chính là cái khó cho cơ quan điều tra nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng”.

Tại Cần Thơ, hẳn nhiều người còn nhớ vụ nhân viên làm thuê giết chết bà chủ. Đó là tên Nguyễn Văn Tuấn (22 tuổi, quê Cà Mau) dùng dao đâm chết bà Khưu Lái Huê (57 tuổi) – chủ Trung tâm điện máy điện lạnh Tân Phước vào lúc 1h ngày 5/5/2005. Tại phiên tòa xét xử, luật sư bào chữa cho Tuấn đã chứng minh được rằng, khi gây án Tuấn chưa đủ 18 tuổi. Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Tuấn được tuyên án có thời hạn là 18 năm. 

Chính quyền xã làm liều

Đó là ông Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh ký hàng loạt giấy khai sinh (bản sao) khống rồi giao cho cha mẹ đứa bé muốn điền sao thì điền. Tìm hiểu việc khó tin này, tôi được giới thiệu gặp một người dân tên H.

Nhà anh H. ở tận Xẻo Nhàu A, xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang). Anh kể, anh được một người quen trong ngành giáo dục cho nhiều bản sao giấy khai sinh (bản sao) khống có đóng dấu và chữ ký của ông Lê Văn Dần – Chủ tịch UBND xã Đông Thạnh, huyện An Minh.

Người đưa bản sao giấy khai sinh trên cho anh H. căn dặn rằng: “Anh cầm giấy này muốn đánh máy điền tên con, sinh ngày, tháng, năm nào cũng được”(?). Thấy việc này có vấn đề gì đó bất thường nên anh H. đi hỏi một số người mới biết, nếu làm như vậy là sai pháp luật. Vì vậy anh H. đã từ bỏ ý định ghi tên cho con vào những tờ giấy khai sinh được ký khống này.

Chúng tôi mới biết xã Đông Thạnh hiện nay đã được tách ra thành Tân Thạnh và Đông Thạnh. Một người dân gần nhà anh H. từng làm giấy khai sinh cho con mình kể: “Lúc đó do bận việc nhà nên tới ngày xin con đi học tôi đã nhờ người đến UBND xã Đông Thạnh làm giúp giấy khai sinh. Tôi cũng nhận được tờ giấy khai sinh được ông Dần – Chủ tịch UBND xã ký khống như vậy. Khi về, tôi mướn người đánh máy nội dung vào. Ngày sinh tháng đẻ, tên tuổi địa chỉ của mình, con mình muốn đánh sao thì đánh”(?)

Trung tá Đoàn Trọng Phúc cho biết, ngành chức năng cần chỉ đạo ngay việc đăng ký khai sinh, đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, CMND, học bạ, bằng cấp, chứng chỉ. Những loại giấy tờ quan trọng này phải được ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh và các tiêu chí cần thiết theo yêu cầu của biểu mẫu; quản lý chặt chẽ, hồ sơ, sổ sách, hộ tịch, hộ khẩu để quản lý xã hội.

Đây cũng là biện pháp góp phần vào công tác cải cách hành chính mà cả nước đang quan tâm thực hiện

SOURCE: BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN