VAY VỐN THEO HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN LÃI SUẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN

Việt Nam đã gia nhập WTO. Thị trường tài chính sẽ phát triển rất mạnh. Điều đó sẽ mang lại cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính nhiều cơ hội vay và cho vay vốn. Bên cạnh đó, do sự biến động của lãi suất trên thị trường tài chính sẽ mang đến cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính rủi ro lớn khi vay vốn đặc biệt là vay dài hạn. Để hạn chế những rủi ro này, các doanh nghiệp khi vay vốn có thể sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất.

Hợp đồng quyền chọn lãi suất là giao dịch quyền chọn lãi suất vay hoặc cho vay đối với các khoản vay hoặc cho vay dựa trên lãi suất tại ngày đáo hạn hợp đồng.

Hiện nay, họat động cho vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất chủ yếu được áp dụng đối với các khoản vay trung hạn và vay bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp có thể kết hợp cả hợp đồng vay vốn theo quyền chọn lãi suất và hợp đồng quyền chọn thanh toán bằng ngoại tệ.

Vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất có đặc điểm:

            – Tại ngày vay, doanh nghiệp có quyền lựa chọn thanh toán tiền lãi vay khi đáo hạn bằng một tỷ lệ lãi suất định trước tại ngày đáo hạn hay thanh toán theo lãi suất trên thị trường tài chính. Để có được quyền này, doanh nghiệp phải trả quyền phí.

            – Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn thì doanh nghiệp sẽ thanh toán lãi vay cho các tổ chức tài chính theo lãi suất trong hợp đồng quyền chọn.

            – Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn, doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng quyền chọn mà sẽ thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính.

            – Hợp đồng quyền chọn lãi suất có hai dạng:

            + Hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa: Là loại hợp đồng được áp dụng khi khách hàng vay vốn theo lãi suất thả nổi nhưng không phải trả vượt quá một mức lãi suất được xác định trước trong hợp đồng. Trường hợp lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất xác định trước khách hàng trả theo lãi suất trên thị trường.

            + Hợp đồng quyền chọn hai đầu: Là loại hợp đồng được áp dụng khi khách hàng vay lãi suất thả nổi nhưng với mong muốn phải trả lãi suất trong một khung xác định trước.

            Trong hai loại hợp đồng trên, hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa được sử dụng phổ biến hơn.

            Từ những đặc điểm trên của hợp đồng quyền chọn lãi suất khi vay vốn, trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập đến phương pháp hạch toán trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất tối đa.

1. Nguyên tắc hạch toán

            – Chi phí quyền chọn được hạch toán vào chi phí tài chính theo nguyên tắc kỳ kế toán.

            – Lãi vay phải trả được hạch toán vào chi phí tài chính.

            – Nếu chi phí lãi vay và phí quyền chọn thỏa mãn các điều kiện được vốn hóa theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số … “Chi phí đi vay” sẽ được tính vào giá trị thực tế của tài sản.

            – Doanh nghiệp được quyền trích trước chi phí lãi vay theo đúng quy định.

            – Các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến ngoại tệ khi thực hiện hợp đồng vay vốn được hạch toán dựa trên các nguyên tắc sau:

            + Đối với vật tư, hàng hóa, tài sản, chi phí, thuế phải được quy đổi theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh.

            + Bên Có của tài khoản nợ vay phải được quy đổi theo tỷ giá thực tế.

            + Bên Nợ của tài khoản nợ vay phải được quy đổi theo tỷ giá ghi sổ kế toán.

            + Bên Có của tài khoản tiền phải được quy đổi theo tỷ giá ghi sổ kế toán (tỷ giá ghi sổ kế toán được xác định theo một trong bốn phương pháp: bình quân gia quyền, Nhập trước – Xuất trước, Nhập sau – Xuất trước và thực tế đích danh).

            + Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi thanh toán nợ vay và lãi vay được ghi nhận vào doanh thu tài chính (nếu lãi tỷ giá) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá).

            + Cuối kỳ kế toán, kế toán phải đánh giá lại nợ vay có gốc bằng ngoại tệ theo tỷ giá thực tế vào lúc cuối kỳ. Chênh lệch tỷ giá được hạch toán vào bên Có TK4131 (nếu lãi tỷ giá) hoặc bên Nợ TK4131 (nếu lỗ tỷ giá).

            + Cuối niên độ kế toán, kế toán tiến hành xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá được ghi nhận vào doanh thu tài chính (nếu lãi tỷ giá) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá).

2. Phương pháp hạch toán

2.1. Khi giao địch ký kết hợp đồng

            Trong giai đoạn này phát sinh các chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng và quyền phí, kế toán định khoản như sau:

            Nợ TK142-Chi phí trả trước ngắn hạn (Chi phí giao dịch, quyền phí)

                        Có TK111, 112

2.2. Khi thực hiện hợp đồng vay vốn

a. Phản ánh nợ gốc vay:

            Nợ TK112(2)-Nếu nhập vào tài khoản tiền gởi (Theo tỷ giá thực tế)

            Nợ TK151,152,153,211,213.. Nếu mua vật tư, tài sản (Theo tỷ giá thực tế)

            Nợ TK315, 331, 342 – Nếu  thanh toán nợ (Theo tỷ giá ghi sổ kế toán)

            Nợ TK635 – Chi phí tài chính (Tỷ giá ghi sổ kế toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế)

                        Có TK341 – Vay dài hạn (Theo tỷ giá thực tế)

                        Có TK515-D.thu tài chính (Tỷ giá ghi sổ kế toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế)

b. Trích trước chi phí lãi vay

            Nợ TK635

                        Có TK335 – Chi phí lãi vay trích trước

c. Kết chuyển quyền phí, chi phí giao dịch

            Nợ TK635 – Nếu không được vốn hóa

                        Có TK142

2.3. Cuối kỳ, tiền hành đánh giá nợ gốc vay theo tỷ giá thực tế cuối kỳ

            – Nếu tỷ giá cuối kỳ lớn hơn tỷ giá ghi sổ kế toán của khoản vay, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái kế toán định khoản:

            Nợ TK413(1) – Chênh lệch tỷ giá hối đoái

                        Có TK341

            – Nếu tỷ giá cuối kỳ nhỏ hơn tỷ giá ghi sổ kế toán của khoản vay, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái kế toán định khoản:

            Nợ TK341

                        Có TK413(1) – Chênh lệch tỷ giá hối đoái

2.4. Khi đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp thanh toán nợ gốc và lãi

a./ Trường hợp lãi suất trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất vay vốn xác định trước trong hợp đồng, doanh nghiệp thanh toán lãi vay theo lãi suất định trước trong hợp đồng. Phần chênh lệch giữa lãi suất trên thị và lãi suất được xác định trong hợp đồng được ghi nhận là một khoản lãi. Kế toán định khoản:

            Nợ TK341 – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán

            Nợ TK335, 635 – Tiền lãi vay tính theo lãi suất thị trường tài chính

                        Có TK112(2) – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán (cả gốc và lãi, lãi được xác định theo lãi suất trong hợp đồng)

                        Có TK711 – Chênh lệch giữa lãi suất trên thị trường tài chính và lãi suất trong hợp đồng.

            Bên cạnh đó, lãi hoặc lỗ tỷ giá hối đoái kế toán phản ánh vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính.

b./ Trường hợp lãi suất trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất vay vốn xác định trước trong hợp đồng, doanh nghiệp không thanh toán lãi vay theo lãi suất định trước trong hợp đồng mà thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính. Kế toán định khoản:

            Nợ TK341 – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán

            Nợ TK335, 635 – Tiền lãi vay tính theo lãi suất thị trường tài chính

                        Có TK112(2) – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán (cả gốc và lãi, lãi được xác định theo lãi suất trên thị trường tài chính)

            Bên cạnh đó, lãi hoặc lỗ tỷ giá hối đoái kế toán phản ánh vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính.

            Trên đây là một số nôị dung bàn về nghiệp vụ vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất và phương pháp hạch toán mà chúng tôi trao đổi cùng bạn đọc.

Nguyễn Trung Lập – Đại học Duy Tân

(tapchiketoan.com)

BỐI CẢNH HOÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1. Tình hình xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam trong những năm qua:

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh XNK. Nhờ đó, một số sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của nước ta không những đứng vững ở thị trường trong nước, mà còn có khả năng vươn ra thị trường nước ngoài, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu. Kể từ năm 1991 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng nhanh, trung bình khoảng 19,6%/năm; năm 1991 đạt 2,087 tỷ Đôla Mỹ, năm 2001 tăng lên 15,1 tỷ Đôla, gấp 7 lần so với năm 1991. Đặc biệt, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của nước ta đạt 180 Đôla/năm, mức chuẩn quốc gia có nền ngoại thương phát triển bình thường.
Song song với chủ trương khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu cũng được xác định có vai trò hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm, hướng mục tiêu phục vụ cho sự phát triển thị trường nội địa, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu giai đoạn 1991-2000 đạt trung bình khoảng 29%/năm. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu có sự chuyển biến theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất, giảm dần tỷ trọng hàng tiêu dùng.
Có thể nói, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, hình thành nhiều ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động, tạo cơ sở và khuyến khích các nước hợp tác kinh tế và đầu tư vào Việt Nam. Hoạt động xuất nhập khẩu từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thực trạng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Lịch sử bảo hiểm hàng hóa XNK của Việt Nam đã có từ lâu. Ngay từ khi thành lập, ngày 15/1/1965, Công ty bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã được giao nhiệm vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động bảo hiểm cho hàng hóa XNK do các công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành vẫn còn ở mức rất hạn chế, tốc độ tăng trưởng không cao, có giai đoạn theo chiều hướng giảm xuống. Tính đến cuối năm 2000, các nhà bảo hiểm Việt Nam mới chỉ bảo hiểm được 4,7% kim ngạch hàng xuất khẩu và 23,26% kim ngạch hàng nhập khẩu. Đây là con số nhỏ bé không phản ánh đúng tiềm năng XNK của nước ta. Thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Hoạt động XNK của nước ta chủ yếu áp dụng phương thức xuất khẩu theo điều kiện giao hàng FOB và nhập khẩu theo điều kiện giao hàng CIF. Với các phương thức XNK trên đã hạn chế khả năng ký kết của các công ty bảo hiểm Việt Nam.
Theo Incoterms 2000 có tất thảy 13 điều kiện mua bán được quốc tế hoá bằng tiếng Anh, áp dụng chung cho hoạt động thương mại quốc tế, trong đó hai điều kiện giao hàng FOB và CIF thường được các bên tham gia sử dụng. Điều kiện giao hàng FOB quy trình người mua chịu mọi phí tổn và để đảm bảo an toàn cho tài sản của mình, bên nhập khẩu sẽ mua bảo hiểm, đồng thời có nghĩa vụ thuê tàu và trả cước phí vận chuyển. Điều kiện giao hàng CIF cũng quy định trách nhiệm của người bán kết thúc khi hàng đã qua khỏi lan can tàu tại cảng gửi, nhưng xác định cụ thể người bán phải trả cước vận chuyển và ký hợp đồng bảo hiểm hàng hải tránh cho bên mua những rủi ro đối với hàng hóa có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển. Đơn bảo hiểm này được phía xuất khẩu ký hậu và chuyển giao cho phía nhập khẩu.
Như vậy, đối với hoạt động nhập khẩu nếu nhập theo điều kiện CIF, quyền vận tải và quyền bảo hiểm thuộc phía nước ngoài. Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tùy ý thuê tàu và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường họ ký hợp đồng với các công ty của nước mình. Các công ty bảo hiểm nước ngoài vì thế có điều kiện phát triển hơn.
Hai là: Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, chưa mang tầm quốc tế. Ngoại trừ Bảo Việt thành lập năm 1965 có vốn lớn, các công ty bảo hiểm khác đều vừa mới được thành lập sau Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993, với mức vốn kinh doanh chưa tới 80 tỷ đồng, trong khi đó, nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài ra đời cách đây hàng trăm năm, vốn kinh doanh hàng tỷ Đôla Mỹ. Thêm vào đó, trình độ cán bộ làm công tác bảo hiểm nói chung còn bất cập so với đòi hỏi của thị trường mà còn non yếu so với mặt bằng thế giới. Theo đánh giá khách quan, các nhà XNK nước ngoài chưa thực sự yên tâm khi mua bảo hiểm của Việt Nam và điều này làm giảm sức thuyết phục khi các nhà đàm phán ngoại thương yêu cầu đối tác nước ngoài trao cho ta quyền mua bảo hiểm.
Ba là: Các nhà XNK Việt Nam đã quen với tập quán thương mại xuất khẩu theo điều kiện FOB, nhập khẩu theo điều kiện CIF. Việc thay đổi tập quán cũ này khó thực hiện trong một sớm một chiều. Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định với phương thức giao hàng như trên, phía Việt Nam sẽ tránh được nghĩa vụ thuê tàu và mua bảo hiểm, đôi khi công việc này khó thực hiện do phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đối tác nước ngoài trong bối cảnh năng lực hoạt động của các công ty bảo hiểm và đội tàu biển Việt Nam còn hạn chế.
Tại sao lại phải nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước?
ở tầm vĩ mô, nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước có tác dụng góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc gia. Với hoạt động xuất khẩu theo điều kiện CIF, hàng hóa được chuyên chở bằng tàu trong nước và được công ty bảo hiểm trong nước bảo hiểm sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ vì chi phí vận tải và phí bảo hiểm về thực chất được tính vào giá hàng và do phía nước ngoài trả. Nhập khẩu theo điều kiện FOB có tác dụng giảm chi ngoại tệ, trong trường hợp này chúng ta chỉ phải chi ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa, mà không phải chi tiền nhập dịch vụ vận tải đường biển và dịch vụ bảo hiểm của nước ngoài như trước đây. Số ngoại tệ chi cho mỗi hợp đồng ngoại thương giảm sẽ cải thiện tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài trong nhiều năm như hiện nay của nước ta.
Đối với các công ty XNK nếu đơn bảo hiểm được ký kết với các công ty bảo hiểm Việt Nam, công ty XNK tránh được những phiền phức về thủ tục pháp lý, ngôn ngữ, địa lý… có thể sẽ gặp phải khi sự cố bảo hiểm xảy ra. Trong trường hợp công ty bảo hiểm Việt Nam không đủ năng lực bảo hiểm, phía Việt Nam vẫn có lợi do chúng ta có điều kiện lựa chọn công ty bảo hiểm uy tín bảo hiểm cho hàng hóa của mình, đồng thời lựa chọn các điều khoản bảo hiểm phù hợp với tình hình tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của công ty. Hơn nữa, tập quán thương mại quốc tế chỉ yêu cầu bên xuất khẩu mua bảo hiểm ở mức độ tối thiểu. Nhà nhập khẩu muốn an toàn hơn cho tài sản của mình phải ký các hợp đồng bổ sung. Như thế, suy cho cùng, công ty nhập khẩu Việt Nam vẫn phải mua bảo hiểm trong trường hợp nhập khẩu CIF. Công ty sẽ chủ động hơn nếu giành được quyền mua bảo hiểm thông qua hợp đồng nhập khẩu FOB hoặc C&F.
Kim ngạch hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước tăng có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy ngành bảo hiểm phát triển. Theo nguyên lý số đông, lượng khách hàng tham gia càng lớn công ty bảo hiểm càng có điều kiện phân chia rủi ro giữa các đối tượng bảo hiểm, tranh cho công ty trước những tổn thất lớn ảnh hưởng không tốt đến tình hình tài chính công ty. Và điều này càng có ý nghĩa hơn khi mà tỷ lệ bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK nước ta trong những năm qua luôn ở mức cao, khoarng 65-70%. Mức bồi thường này đặt công ty bảo hiểm trước những nguy cơ tiềm ẩn không lường trước được.
2. Một số đề xuất nhằm nâng cao kim ngạch hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước.
Để nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK được bảo hiểm trong nước trước tiên cần có sự cố gắng nỗ lực của chính các công ty bảo hiểm. Trong những năm qua, ngành bảo hiểm Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong việc khai thác khách hàng mới. Chất lượng phục vụ được nâng lên rõ rệt. Ngoài việc cung cấp sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chủ động tăng cường tiếp cận khách hàng để tư vấn kỹ thuật chuyên môn, giúp khách hàng lựa chọn rủi ro tham gia bảo hiểm cho phù hợp và đạt hiệu quả. Tuy vậy, trong thời gian tới, ngành bảo hiểm Việt Nam cần không ngừng hơn nữa nâng cao năng lực bảo hiểm lên ngang tầm quốc tế. Phải có chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ tinh thông kỹ thuật nghiệp vụ, hiểu luật pháp quốc gia, quốc tế, có nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trước khách hàng; phải đa dạng hóa sản phẩm, khai thác triệt để thị trường trong nước; phải có chiến lwuwocj nâng cao năng lực tài chính của các công ty bảo hiểm để các công ty bảo hiểm Việt Nam có khả năng ký các hợp đồng bảo hiểm cho những tài sản có giá trị lớn, đối với các công ty bảo hiểm nhỏ cần mạnh bạo sáp nhập lại thành các công ty lớn, nhà nước cần tăng cường cung cấp vốn cho công ty Bảo Việt để nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty này với các công ty bảo hiểm nước ngoài, tạo uy tín với các công ty XNK nước ngoài khi họ ký hợp đồng bảo hiểm với ta.
Nhà nước cần có cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích các công ty XNK ký kết hợp đồng theo điều kiện xuất khẩu CIF, nhập khẩu FOB hoặc C&F như: giảm thuế XNK cho chủ hàng nào tham gia bảo hiểm tại Việt Nam, hoặc giảm thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng, giảm thủ tục hải quan, hoặc chủ hàng được giao hạn ngạch XNK cao hơn so với những chủ hàng không tham gia bảo hiểm tại Việt Nam… Như trên đã phân tích, điều kiện giao hàng có tác dụng chủ yếu đến phân định trách nhiệm giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại, còn ý nghĩa kinh tế không rõ ràng. Với các chính sách ưu đãi trên, các công ty XNK sẽ chủ động hơn trong đàm phán ký kết, thực hiện phương thức xuất khẩu theo điều kiện CIF, nhập khẩu theo điều kiện FOB hoặc C&F tạo cơ sở nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước, đồng thời thúc đẩy ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển.
Đối với các công ty XNK cần nhanh chóng thay đổi tập quán thương mại cũ. Chuyển dần từ phương thức xuất khẩu FOB, nhập khẩu CIF sang xuất khẩu theo điều kiện CIF, nhập khẩu theo điều kiện FOB. Điều này xét về toàn cục có lợi cho nền kinh tế quốc dân do đã tạo cơ hội cho ngành bảo hiểm hàng hải và ngành vận tải biển phát triển. Và chính sự phát triển của hai ngành này có tác động ngược trở lại góp phần mở rộng không ngừng hoạt động kinh tế đối ngoại. Sự phối kết hợp hỗ trợ nhau cùng phát triển của ba lĩnh vực XNK, bảo hiểm hàng hải, và vận tải đường biển có một ý nghĩa quan trọng. Sẽ là rất khó cho hoạt động XNK nếu ngành bảo hiểm và vận tải biển kém phát triển, và ngành bảo hiểm và vận tải biển cũng không thể phát triển mạnh được trong điều kiện kim ngạch XNK thấp.
Tóm lại, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt nền kinh tế nước ta trước những thời cơ mới và thách thức mới. Trong bối cảnh đó, ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải nói riêng cần chủ động hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, tăng cường tiềm lực tài chính… để hội nhập thành công và cạnh tranh có hiệu quả với các công ty bảo hiểm nước ngoài, tạo cơ sở nâng cao tỷ trọng kim ngạch hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước.
Nguyễn Hữu Hiểu
Bao viet.COM.VN

THỂ LỆ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH ĐƯỜNG THUỶ NỘI ĐỊA

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 1866/1999/QĐ- BGTVT ngày 30/7/1999 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích, đối tượng, phạm vi áp dụng

1. Mục đích: Thể lệ này quy định các nguyên tắc về kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa; xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan.

2. Đối tượng áp dụng: Thể lệ này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế kể cả các tổ chức, cá nhân có vốn đầu tư nước ngoài đã được phép kinh doanh tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Phạm vi áp dụng: Thể lệ này được áp dụng đối với việc vận chuyển hành khách trên đường thuỷ nội địa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; liên vận hành khách trong nước và quốc tế nếu không trái với điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Vận chuyển hành khách ngang luồng đường thuỷ nội địa có quy định riêng.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thể lệ này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người vận chuyển” là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện thuộc sở hữu của mình hoặc thuê phương tiện thuộc sở hữu của người khác để kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa.

2. “Hành khách” là người ở trên phương tiện chở khách trừ thuyền viên, những người thuộc gia đình thuyền viên cùng sinh sống trên phương tiện và những người được phân công làm nhiệm vụ trên phương tiện.

3. “Hành lý” là vật dùng, hàng hoá của hành khách mang theo trong cùng chuyến đi bao gồm hành lý xách tay và hành lý ký gửi.

4. “Hành lý xách tay” là phần hành lý do hành khách tự bảo quản trong suốt chuyến đi.

5. “Hành lý ký gửi” là phần hành lý gửi cho phương tiện bảo quản trong chuyến đi.

6. “Bao gửi” là vật dùng, hàng hoá của hành khách gửi theo bất kỳ chuyến tầu nào mà người gửi không đi cùng chuyến tầu đó.

7. “Hàng nguy hiểm” là các loại chất độc, dễ cháy, dễ nổ gây nguy hiểm cho người, phương tiện và môi trường.

8.”Trường hợp bất khả kháng” là trường hợp xẩy ra do thiên tai, dịch bệnh, địch họa, tắc luồng vận chuyển.

Điều 3. Điều kiện kinh doanh vận chuyển hành khách; kinh doanh cảng, bến hành khách (sau đây gọi chung là bến tầu khách)

1. Người kinh doanh vận chuyển hành khách phải được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa.

2. Phương tiện vận chuyển hành khách phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định; phải có thuốc cấp cứu; thường xuyên giữ vệ sinh sạch đẹp. Đối với phương tiện chạy xa, chạy đêm phải tổ chức phục vụ sinh hoạt cho hành khách;

3. Các bến tầu khách phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép theo quy định.

Bến tầu khách có 2 loại: Bến chính và bến phụ.

a) Bến chính: Là nơi xuất phát và kết thúc hành trình của phương tiện.

Bến chính tối thiểu phải có ban quản lý bến, có nhà chờ cho khách, có phòng bán vé, có cầu cho khách lên xuống an toàn, có trang thiết bị phục vụ sinh hoạt cần thiết cho hành khách (nhà vệ sinh, ánh sáng, loa phóng thanh, các bảng thông báo…).

b) Bến phụ: Là các bến phương tiện đón và trả khách dọc đường.

Bến phụ tối thiểu phải có cầu cho hành khách lên xuống an toàn thuận tiện, có đèn đủ độ sáng nếu hoạt động ban đêm.

Chương II

VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH

Điều 4. Nghĩa vụ của người vận chuyển

Người vận chuyển có các nghĩa vụ sau đây:

1. Có biểu đồ hành trình và nội quy an toàn đối với từng phương tiện;

2. Tổ chức vận chuyển, nhận, trả hành khách an toàn từ nơi xuất phát đến nơi trả hành khách đúng giờ, đúng tuyến đường theo biểu đồ hành trình đã được quy định.

Trường hợp có thay đổi biểu đồ hành trình, người vận chuyển có trách nhiệm thông báo trước cho hành khách ít nhất 10 ngày. Trường hợp thay đổi giờ khởi hành phải thông báo trước cho hành khách ít nhất 24 giờ;

3. Đảm bảo đủ chỗ ngồi cho hành khách theo số ghế đã quy định;

4. Đón tiếp hành khách văn minh, lịch sự;

5. Các bến chính phải mở cửa nhận khách xuống phương tiện ít nhất 30 phút trước khi phương tiện rời bến.

Sắp tới bến, thuyền trưởng phải thông báo cho hành khách biết tên bến, thời gian đỗ tại bến ít nhất 10 phút trước khi phương tiện cập bến.

6. Phổ biến cho hành khách nội quy đi tầu, cách sử dụng phao cứu sinh và các trang bị an toàn khác;

7. Phải có bảo hiểm hành khách;

8. Trong mùa lũ, người vận chuyển phải thực hiện giảm tải theo quy định.

Điều 5. Quyền của người vận chuyển

Người vận chuyển có quyền sau đây:

1. Người vận chuyển được thu cước vận chuyển hành khách, phần hành lý quá mức quy định miễn cước, bao gửi và các khoản thu dịch vụ khác nếu hành khách có yêu cầu;

2. Người vận chuyển có quyền từ chối vận chuyển trong các trường hợp sau:

Người có hành vi làm mất trật tự công cộng, vi phạm nội quy an toàn, cản trở công việc điều hành phương tiện;

Người say rượu có thể gây nguy hại trong quá trình vận chuyển;

Người có bệnh động kinh, bệnh tâm thần mà không có người đi kèm;

Người có mang theo các loại hàng quy định tại Khoản 3, Điều 11;

Người có hành vi trốn, lậu vé;

Bao gửi khai không đúng sự thật.

Điều 6. Nghiêm cấm đối với người vận chuyển

Nghiêm cấm người vận chuyển:

1. Bán vé quá giá quy định;

2. Cho phương tiện khác cập vào tầu khách để đưa đón hành khách trong khi tầu đang chạy;

3. Nhân viên trên tầu uống rượu, bia; cho người không có trách nhiệm vào phòng làm việc của mình trong khi làm nhiệm vụ.

Điều 7. Nghĩa vụ của hành khách

Hành khách có nghĩa vụ sau đây:

1. Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy đi tầu, mua vé và trả cước phí đầy đủ, lên xuống đúng bến, đúng giờ quy định, không gây mất trật tự trong bến tầu khách và trên phương tiện;

2. Tự bảo quản hành lý xách tay;

3. Giữ gìn tài sản chung trên phương tiện; phải bồi thường nếu làm hỏng, mất trang thiết bị trên phương tiện;

4. Chịu trách nhiệm trong việc khai tên, địa chỉ của mình và trẻ em đi kèm khi người bán vé lập danh sách hành khách.

Điều 8. Quyền của hành khách

Hành khách có quyền sau đây:

1. Yêu cầu được vận chuyển đúng loại phương tiện, đúng thời gian và hành trình đã thông báo;

2. Yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh hoặc bồi thường thiệt hại nếu người vận chuyển không chuyên chở đúng thời hạn, địa điểm đã thoả thuận; làm mất mát, hư hỏng hành lý ký gửi, bao gửi;

3. Hành khách được quyền nhận lại toàn bộ hoặc một phần tiền vé tương ứng với quãng đường chưa đi nếu do lỗi của người vận chuyển gây ra.

Điều 9. Vé hành khách

1. Vé hành khách là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa hành khách và người vận chuyển. Vé hành khách phải theo mẫu quy định, nội dung vé gồm: Tên hoặc số đăng ký của phương tiện; tên bến đi, bến đến; ngày giờ phương tiện xuất phát; giá vé.

2. Tổ chức bán vé: Các bến phải căn cứ số lượng hành khách và hàng hoá đối với mỗi chuyến tầu mà quy định thời gian bán vé cho phù hợp. Giờ bán vé phải được thông báo tại các cửa bán vé và nơi hành khách chờ đợi. Thời gian đóng cửa bán vé chậm nhất là 15 phút trước giờ phương tiện rời bến.

Số lượng vé bán trong mỗi chuyến tầu không được vượt quá số ghế do cơ quan đăng kiểm quy định và phải thông báo cho hành khách biết. Khi bán vé, người bán vé phải lập danh sách hành khách đi tầu. Danh sách được lập thành 2 bản, 1 bản lưu tại bến, 1 bản giao cho thuyền trưởng để bổ sung vào danh sách hành khách lên tại các bến phụ.

3. Miễn giảm giá vé:

Trẻ em dưới 5 tuổi được miễn vé nhưng phải ngồi chung chỗ ngồi với người lớn đi kèm;

Trẻ em trên 5 tuổi đến 10 tuổi được miễn 50% giá vé và cứ 2 em được chiếm 1 chỗ ngồi.

4. Ưu tiên mua vé:

Hành khách thuộc các đối tượng dưới đây được ưu tiên mua vé, thứ tự ưu tiên như sau:

Người bệnh có yêu cầu của cơ quan y tế phải nhanh chóng chuyển đi;

Thương bệnh binh hạng 1 và hạng 2;

Người già trên 65 tuổi;

Phụ nữ kèm theo con nhỏ dưới 24 tháng tuổi;

Phụ nữ có thai;

Nhà báo;

Cán bộ công nhân viên, lực luợng vũ trang có công tác khẩn cấp.

5. Kiểm soát vé: Trước khi đón và trả khách, người phục vụ phải kiểm soát vé của hành khách, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp không có vé hoặc nhầm lẫn tuyến đường, bến đến.

Điều 10. Xử lý về vé của hành khách

1. Hành khách đi quá bến phải mua vé bổ sung quãng đường đi thêm.

2. Hành khách đã mua vé cả chặng đường nhưng lên bờ ở bến dọc đường, không được hoàn lại tiền vé đoạn đường không đi.

3. Hành khách trả lại vé, trước khi phương tiện rời bến không chậm quá 1 giờ thì được hoàn lại 90% tiền vé.

4. Hành khách tới trễ giờ sau khi phương tiện đã khởi hành theo lịch hành trình đã thông báo, nếu hành khách muốn đi tiếp thì người vận chuyển bố trí cho hành khách đi chuyến tiếp theo và thu thêm 50% tiền vé. Nếu hành khách không đi nữa thì vé không còn giá trị.

Điều 11. Hành lý

1. Mỗi hành khách được miễn cước 20 kg hành lý xách tay.

2. Hành khách thuộc đối tượng được giảm 50% giá vé được miễn cước 10 kg hành lý xách tay.

3. Các loại hành lý xách tay cấm mang lên tàu:

Hàng nguy hiểm; hàng cấm lưu thông;

Tử thi hài cốt, chất hôi thối;

Động vật sống;

Hàng cồng kềnh làm trở ngại việc đi lại trên phương tiện.

Điều 12. Trường hợp không vận chuyển được do lỗi của người vận chuyển

1. Sau khi đã bán vé, nếu tầu chạy không đúng giờ quy định, hành khách phải chờ đợi qua đêm thì người vận chuyển phải chịu mọi chi phí phát sinh. Nếu hành khách không muốn đi, trả lại vé thì người vận chuyển phải hoàn lại toàn bộ tiền vé, cước (nếu có) cho hành khách.

2. Trường hợp đang trên đường vận chuyển, tầu khách bị hỏng không chạy tiếp được, thuyền trưởng phải tìm mọi biện pháp đưa khách tới bến đến an toàn.

Nếu hành khách phải chờ đợi qua đêm thì người vận chuyển tìm nơi ăn nghỉ cho hành khách và chịu mọi chi phí phát sinh;

Nếu hành khách không muốn chờ đợi để đi tiếp thì người vận chuyển phải trả lại tiền vé, cước đoạn đường còn lại cho hành khách;

Nếu thuyền trưởng bố trí được phương tiện khác quay về bến xuất phát thì hành khách quay về không phải trả tiền vé, cước và được hoàn lại tiền vé, cước hàng hoá hành khách đã mua.

Điều 13. Trường hợp bất khả kháng

Các trường hợp bất khả kháng được giải quyết như sau:

1. Nếu phương tiện chưa xuất phát, người vận chuyển phải thông báo ngay việc huỷ bỏ hoặc tạm dừng chuyến đi cho hành khách biết và hoàn lại toàn bộ tiền vé, cước cho hành khách;

2. Nếu phương tiện đang trên đường hành trình:

a) Trường hợp phương tiện phải đi luồng khác dài hơn luồng thường lệ thì không thu thêm tiền vé của hành khách;

b) Trường hợp phương tiện không thể chờ đợi giao thông phục hồi, phải quay về nơi xuất phát thì hành khách không phải trả tiền vé, cước lượt về và được trả lại số tiền vé, cước đoạn đường chưa đi.

Điều 14. Trường hợp xảy ra trên đường đối với hành khách

Các trường hợp xảy ra trên đường hành trình được giải quyết như sau:

1. Hành khách rơi xuống nước, thuyền trưởng có trách nhiệm tổ chức cứu vớt nhanh chóng. Nếu đã làm hết khả năng mà không cứu được phải lập biên bản có sự chứng kiến của đại diện hành khách và thân nhân nạn nhân (nếu có), đồng thời báo cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn; trường hợp không có thân nhân đi theo thì phải báo cho gia đình, thân nhân hoặc cơ quan nạn nhân để giải quyết hậu quả.

2. Hành khách chết trên phương tiện, thuyền trưởng cùng với thân nhân người chết (nếu có) và đại diện hành khách trên phương tiện lập biên bản và đưa lên bến gần nhất. Nếu hành khách chết không có thân nhân đi theo thì thuyền trưởng đưa lên bến gần nhất, cử người ở lại liên hệ với chính quyền địa phương và cơ quan bảo hiểm để làm các thủ tục cần thiết đồng thời báo cho gia đình, thân nhân hoặc cơ quan người chết tới để phối hợp giải quyết. Hành lý của người chết phải được kiểm kê, lập biên bản giao lại cho gia đình, thân nhân hoặc cơ quan của người chết.

3. Hành khách bị ốm đau trên đường hành trình:

Nếu bị đau ốm đột xuất nguy hiểm đến tính mạng, thuyền trưởng có trách nhiệm giúp đỡ hành khách việc cấp cứu và đưa hành khách tới bến gần nhất để lên bờ chữa trị.

Nếu sức khoẻ của hành khách bị thiệt hại do lỗi của người vận chuyển thì người vận chuyển phải bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Chương III

VẬN CHUYỂN VÀ BẢO QUẢN HÀNH LÝ KÝ GỬI, BAO GỬI

Điều 15. Điều kiện nhận chở hành lý ký gửi, bao gửi

1. Hành lý ký gửi và bao gửi chỉ được nhận vận chuyển khi có đủ các điều kiện sau:

Có kích thước, trọng lượng phù hợp với từng loại phương tiện chuyên chở và điều kiện xếp dỡ hai đầu bến;

Được đóng gói đúng quy định;

Không thuộc loại hàng nêu tại Khoản 2 Điều này;

Phải trả tiền cước vận chuyển theo quy định.

Đối với hành lý ký gửi còn cần các điều kiện sau:

Hành khách đã có vé đi tàu;

Hành khách mua vé đến bến nào thì nhận gửi hành lý đến bến đó;

Hành lý phải đi cùng một chuyến với người gửi kể cả trường hợp phải chuyển sang một phương tiện khác trong quá trình vận chuyển.

2. Không nhận vận chuyển các loại hành lý ký gửi, bao gửi sau đây:

Hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông;

Linh cữu, thi hài (trừ trường hợp hài cốt có giấy phép cho di chuyển hợp lệ);

Động vật sống (trừ trường hợp động vật nhỏ được nhốt trong rọ và phương tiện có khoang giành riêng cho loại này);

Hàng quý hiếm như vàng, bạc, đá quý.

Điều 16. Thủ tục nhận gửi và bảo quản hành lý ký gửi, bao gửi

1. Hành khách có hành lý ký gửi phải mua vé cước của phần quá mức quy định miễn cước và giao cho người vận chuyển ít nhất 30 phút trước khi phương tiện khởi hành.

2. Người có bao gửi phải lập tờ khai gửi hàng, trong đó kê khai từng loại hàng gửi: Số lượng, khối lượng hàng, tên người gửi, tên người nhận.

3. Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hàng trong bao gửi và phải gửi bản sao các giấy tờ có giá trị pháp lý cho người vận chuyển để trình báo khi cần thiết.

4. Người vận chuyển có trách nhiệm kiểm tra bao bì, số lượng, nhãn mác hàng hoá và xác nhận vào tờ khai gửi hàng. Tờ khai gửi hàng gồm 2 bản: hành khách và người vận chuyển mỗi bên 1 bản. Trường hợp thanh toán qua ngân hàng, thêm mỗi bên 1 bản.

Người vận chuyển tuỳ theo khả năng phương tiện, kho bãi của mình mà công bố nhận bao gửi trên các tuyến thích hợp.

5. Đối với vận chuyển liên vận, việc bảo quản và chuyển hành lý ký gửi, bao gửi sang phương tiện khác do người vận chuyển đảm nhiệm. Người vận chuyển và người có hàng bao gửi phải ký hợp đồng vận chuyển.

Điều 17. Giao trả hành lý ký gửi, bao gửi

1. Hành khách có hành lý ký gửi khi nhận hàng phải xuất trình vé; chứng từ thu cước.

2. Hành khách có bao gửi khi nhận hàng phải xuất trình chứng từ thu cước; tờ khai gửi hàng và giấy tờ tuỳ thân. Nếu người khác nhận thay phải có giấy uỷ quyền hợp pháp theo luật định.Trường hợp người nhận bao gửi tới nhận chậm quá thờì hạn quy định từ 1 ngày trở lên thì phải chịu phí lưu kho, bãi.

3. Hành khách phải kiểm tra lại hàng của mình tại nơi giao hàng. Sau khi hành khách nhận xong, người vận chuyển không chịu trách nhiệm về hàng bị mất mát hoặc hư hỏng.

Điều 18. Phát hiện người có hàng bao gửi khai không đúng sự thật

Khi phát hiện người có hàng bao gửi khai không đúng sự thật nếu:

1. Phát hiện trước khi vận chuyển:

Người gửi hàng phải khai lại hàng. Nếu là hàng thuộc loại nguy hiểm, hàng cấm lưu thông thì phải bốc lên bờ, người gửi hàng phải chịu mọi chi phí phát sinh.

2. Phát hiện trên đường vận chuyển:

a) Nếu không phải là hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông, người vận chuyển báo cho người thuê vận chuyển biết và tiếp tục vận chuyển tới nơi trả hàng, mọi chi phí phát sinh (nếu có) người thuê vận chuyển phải chịu;

b) Nếu là hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông, người vận chuyển phải báo cho cơ quan chức năng để xử lý đồng thời báo cho người gửi hàng biết. Người gửi hàng ngoài việc chịu chi phí phát sinh, còn phải chịu tiền phạt bằng 3 lần tiền cước.

Điều 19. Bồi thường hành lý ký gửi, bao gửi bị mất mát hư hỏng

Trong quá trình xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản hành lý ký gửi, bao gửi bị hư hỏng, mất mát, người vận chuyển phải bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm và địa điểm nơi trả hàng. Trường hợp hai bên không thống nhất được mức bồi thường thì bên bị thiệt hại có thể gửi đơn yêu cầu trọng tài kinh tế hoặc toà án kinh tế để giải quyết theo qui định của pháp luật.

Chương IV

HỢP ĐỒNG THUÊ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ KINH DOANH

Điều 20. Hợp đồng thuê phương tiện

Hợp đồng thuê phương tiện là hợp đồng được ký kết giữa người cho thuê phương tiện và người thuê phương tiện, sau đây gọi chung là các bên ký hợp đồng, theo đó người thuê phương tiện sử dụng phương tiện để kinh doanh vận chuyển hành khách trong một thời hạn hoặc một số chuyến nhất định. Giá thuê phương tiện do hai bên thoả thuận trong hợp đồng (nếu không có quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

Trường hợp người kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa thuê phương tiện của nước ngoài, phải được Bộ Giao thông vận tải chấp thuận.

Điều 21. Các hình thức thuê phương tiện

Có các hình thức thuê phương tiện sau đây:

1. Thuê phương tiện định hạn: Người cho thuê giao quyền sử dụng phương tiện cho người thuê cùng với kíp thuyền viên;

2. Thuê phương tiện trần: Người cho thuê giao quyền sử dụng phương tiện cho người thuê không cùng với kíp thuyền viên.

Điều 22. Nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng

Các bên ký hợp đồng thuê phương tiện có nghĩa vụ sau:

1. Người cho thuê phương tiện:

a) Giao phương tiện cùng các giấy tờ hợp pháp của phương tiện cho bên thuê đúng thời gian, địa điểm đã ghi trong hợp đồng;

b) Trường hợp cho thuê phương tiện định hạn, phải cung cấp kíp thuyền viên có bằng cấp phù hợp với loại phương tiện theo quy định, thực hiện việc quản lý lao động và hoàn toàn chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến kíp thuyền viên đó;

c) Trả tiền sửa chữa phương tiện nếu các tổn thất phát sinh ngoài trách nhiệm của người thuê phương tiện;

2. Người thuê phương tiện:

a) Sử dụng phương tiện đúng công dụng, mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng;

b) Bảo dưỡng phương tiện và các trang thiết bị khác nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng;

c) Khi hết thời hạn thuê phương tiện, phải giao trả phương tiện đúng địa điểm, thời điểm và trạng thái kỹ thuật như đã thoả thuận.

Điều 23. Quyền của các bên ký kết hợp đồng

Các bên ký kết hợp đồng thuê phương tiện có quyền sau:

1. Người cho thuê phương tiện:

a) Trường hợp cho thuê phương tiện trần, có quyền cử người đại diện để kiểm tra bất thường việc chấp hành nghĩa vụ của người thuê phương tiện nhưng không gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh của người thuê phương tiện;

b) Được quyền thu hồi phương tiện và chấm dứt hợp đồng nếu người thuê phương tiện vi phạm nghiêm trọng các điều khoản mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng.

2. Người thuê phương tiện:

a) Được quyền sử dụng phương tiện và kíp thuyền viên để thực hiện các mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng;

b) Trường hợp phương tiện bị trưng dụng do lệnh của cơ quan có thẩm quyền, phải báo cho người cho thuê phương tiện biết và được quyền đề nghị cơ quan ký lệnh trưng dụng phải sử dụng đúng công dụng phương tiện và thanh toán cước phí, phụ phí do việc trưng dụng gây ra.

Điều 24. Chấm dứt hợp đồng

1. Hai bên chấm dứt hợp đồng nếu phương tiện mất tích, chìm đắm, bị tịch thu hoặc hư hỏng không sửa chữa được, lỗi thuộc bên nào, bên đó chịu trách nhiệm bồi thường.

2. Hợp đồng thuê phương tiện đương nhiên chấm dứt nếu xẩy ra chiến tranh, thiên tai không thể tiếp tục thực hiện được. Hai bên xác định thời hạn đã sử dụng phương tiện để thanh toán./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Đào Đình Bình

ĐIỀU KIỆN HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÓM TẮT CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG QUỐC GIA VIỆT NAM (VNA)

Bản Điều kiện hợp đồng vận chuyển này là một bộ phận không tách rời của vé. Xin hành khách lưu ý đến mọi điều kiện hợp đồng vận chuyển và chỉ dẫn được ghi trên vé.

Hành khách bỏ chỗ:
Trên chuyến bay của các Hãng Hàng không (kể cả HKVN) nhiều khách đã giữ chỗ nhưng không có mặt lúc chuyến bay khởi hành. Nếu quý khách đã đặt chỗ trên chuyến bay của HKVN, sau đó thay đổi hoặc không thực hiện chuyến bay đã đặt, quý khách cần thông báo sớm để HKVN chuyển chỗ quý khách không sử dụng cho khách chưa có chỗ.
Xin quý khách lưu ý: Đôi khi quý khách rất cần chỗ trên chuyến bay đã đầy chỗ trong khi vẫn có khách bỏ chỗ mà quên không báo trước.

Đặt chỗ hơn tải:
Quý khách bỏ chỗ không những gây khó khăn cho Hãng Hàng không mà còn ảnh hưởng tới những khách cần đặt chỗ khác. Do vậy, như các Hãng Hàng không khác, HKVN áp dụng chính sách: Cho phép đặt chỗ hơn số chỗ thực tế có trên chuyến bay. Việc đặt chỗ hơn tải được quản lý chặt chẽ (Số chỗ đặt quá tương ứng với số khách dự đoán sẽ bỏ chỗ trên chuyến bay). Tuy nhiên, đôi khi số khách có mặt tại sân bay vượt quá số chỗ thực tế do áp dụng chính sách này. HKVN hiểu rằng: Quý khách bị nhỡ chuyến do đặt quá chỗ sẽ gặp nhiều bất tiện. Với mong muốn bù đắp một phần cho khách, HKVN đã áp dụng chính sách bồi thường cho khách nhỡ chuyến. Xin quý khách vui lòng liên hệ với các Văn phòng Đại diện của HKVN để biết thêm chi tiết.

CHÚ Ý
Nếu hành trình của hành khách có điểm đến cuối cùng hoặc điểm dừng giữa chặng nằm trên một nước không phải là nước khởi hành thì có thể áp dụng Công ước Vác-Xa-Va, Công ước này điều chỉnh, và trong hầu hết các trường hợp, giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển đối với tử vong và thương tật của hành khách cũng như đối với việc mất mát và hư hỏng hành lý.

ĐIỀU KIỆN HỢP ĐỒNG
1. Trong hợp đồng này, “Vé” có nghĩa là chiếc Vé giấy hành khách và hành lý hoặc Vé điện tử, mà các điều kiện và thông báo này là một bộ phận của nó; “vận chuyển” đồng nghĩa với “chuyên chở”; “người vận chuyển” là tất cả những người chuyên chở hàng không thực hiện việc chuyên chở hoặc cam kết chuyên chở khách hoặc hành lý của khách theo hợp đồng này, hoặc thực hiện bất kỳ một dịch vụ nào khác cho việc chuyên chở hàng không đó; “Công ước Vác-Xa-Va” là Công ước thống nhất một số quy tắc liên quan đến việc chuyên chở hàng không quốc tế được ký tại Vác-Xa-Va ngày 2 tháng 10 năm 1929, hoặc là Công ước đó đã được sửa đổi tại La-Hay ngày 28 tháng 9 năm 1955, tuỳ theo công ước nào được áp dụng.
2. Việc vận chuyển theo hợp đồng này được điều chỉnh bởi các quy tắc và các giới hạn liên quan đến trách nhiệm được thiết lập bởi Công ước Vác-Xa-Va, trừ trường hợp việc vận chuyển không phải là “vận chuyển quốc tế” như được quy định trong Công ước.
3. Trong phạm vi không trái với các quy định nêu trên, việc vận chuyển và các dịch vụ khác do mỗi người chuyên chở thực hiện sẽ tuân thủ theo: (I) các quy định trong vé này, (II) các biểu giá cước áp dụng, (III) các điều kiện vận chuyển và các quy tắc liên quan của người vận chuyển được làm thành một bộ phận của hợp đồng này (và được công bố tại các văn phòng của người vận chuyển). Đối với việc vận chuyển giữa một điểm nằm trong Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ hoặc Canada và một điểm nằm ngoài các nước đó sẽ áp dụng các biểu giá cước có hiệu lực tại các nước đó.
4. Tên của người vận chuyển có thể được viết tắt trong vé, tên viết đầy đủ và tên viết tắt được ghi trong các biểu giá cước, điều kiện vận chuyển, quy tắc hoặc lịch bay của người vận chuyển. Địa chỉ của người vận chuyển là sân bay khởi hành được ghi trong vé đối diện với tên viết tắt thứ nhất của người vận chuyển. Những điểm dừng giữa chặng được thoả thuận là những điểm ghi trong vé hoặc được chỉ ra trong lịch bay của người vận chuyển như là các điểm dừng giữa chặng thường lệ trên hành trình của hành khách. Việc vận chuyển được thực hiện theo hợp đồng này bởi nhiều nhà vận chuyển liên tiếp được coi như là một hành trình duy nhất.
5. Người vận chuyển hàng không xuất vé để vận chuyển trên đường bay của người vận chuyển hàng không khác chỉ được coi là đại lý của người vận chuyển đó.
6. Mọi sự miễn hoặc giảm trách nhiệm của người vận chuyển đều được áp dụng đối với những đại lý, nhân viên và đại diện của người vận chuyển đó, hoặc bất kỳ người nào cho người vận chuyển sử dụng máy bay của minh để chuyên chở cũng như những đại lý, nhân viên và đại diện của họ.
7. Hành lý ký gửi sẽ được giao lại cho người có thẻ hành lý. Trong trường hợp hành lý bị hư hỏng trong vận chuyển quốc tế, đơn khiếu nại phải được gửi cho người vận chuyển ngay sau khi phát hiện hư hỏng và chậm nhất là trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận hành lý. Trong trường hợp hành lý bị chậm, đơn khiếu nại phải được gửi cho người vận chuyển chậm nhất là trong vòng 21 ngày kể từ ngày hành lý được giao. Xem các biểu giá cước hoặc điều kiện vận chuyển đối với việc vận chuyển không phải là vận chuyển quốc tế.
8. Vé có giá trị một năm kể từ ngày xuất, trừ trường hợp có quy định khác trong vé, trong các biểu giá cước, điều kiện vận chuyển hoặc các quy tắc có liên quan của người vận chuyển. Giá cước chuyên chở theo hợp đồng này có thể được thay đổi trước khi bắt đầu vận chuyển. Người vận chuyển có thể từ chối chuyên chở nếu giá giá cước áp dụng chưa được trả đủ.
9. Người vận chuyển cam kết cố gắng hết sức mình để chuyên chở một cách nhanh chóng hợp lý. Thời gian ghi trong lịch bay hoặc bất cứ đâu đều không được đảm bảo và không phải là một bộ phận của hợp đồng này. Trong trường hợp cần thiết người vận chuyển có thể để những người vận chuyển khác vận chuyển thay mình, thay đổi máy bay, và có thể thay đổi hoặc bỏ điểm dừng giữa chặng được ghi trong vé mà không phải báo trước. Lịch bay có thể thay đổi mà không phải báo trước. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về việc nối chuyến.
10. Hành khách phải thực hiện các quy định Chính phủ đối với việc đi lại, phải xuất trình các giấy tờ về xuất nhập cảnh cũng như các giấy tờ quy định khác và phải đến sân bay và thời gian do người vận chuyển quy định hoặc đến đủ sớm để làm các thủ tục khởi hành nếu không có quy định rõ về thời gian.
11. Không một đại lý, nhân viên hoặc đại diện nào của người vận chuyển có quyền thay đổi, sửa đổi hoặc huỷ bỏ bất cứ quy định nào của hợp đồng này.
THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH KHÁCH
TRÊN CHUYẾN BAY QUỐC TẾ
Xin thông báo với hành khách bay theo hành trình có điểm đến cuối cùng hoặc điểm dừng thoả thuận nằm trên một nước không phải là nước khởi hành rằng: Các quy định của công ước Vac-Xa-Va có thể được áp dụng đối với toàn bộ hành trình, kể cả bất kỳ chặng nào hoàn toàn nằm trên lãnh thổ của nước khởi hành hoặc của nước đến. Đối với các hành khách bay theo các hành trình có điểm đến, điểm xuất phát hoặc có một điểm dừng thoả thuận nằm trong lãnh thổ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì Công ước Vác-Xa-Va và các hợp đồng đặc biệt nằm trong các biểu giá cước áp dụng quy định rằng trách nhiệm của những người vận chuyển tham gia các hợp đồng đặc biệt đó đối với tử vong hoặc thương tật của hành khách trong hầu hết các trường hợp được giới hạn căn cứ vào tổn thất được xác định nhưng không vượt quá 75.000,00 Đô la Mỹ cho mỗi hành khách *, và trách nhiệm bồi thường tới giới hạn đó không phụ thuộc vào sơ suất từ phía người vận chuyển. Đối với hành khách đi trên chuyến bay của người vận chuyển không tham gia các hợp đồng vận chuyển đó hoặc bay theo các hành trình không có điểm đến, điểm xuất phát hoặc một điểm dừng thoả thuận nằm trong lãnh thổ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì trách nhiệm của người vận chuyển đối với tử vong hoặc thương tật của hành khách trong hầu hết các trường hợp được giới hạn tới mức khoảng 10.000,00 Đô la Mỹ hoặc 20.000,00 Đô la Mỹ. Tên của những người vận chuyển tham gia các hợp đồng đặc biệt như vậy được thông báo ở tất cả các phòng vé của những người vận chuyển đó và có thể được trả lời theo yêu cầu.
Việc đảm bảo phụ thường được hành khách thực hiện bằng cách ký bảo hiểm với một hãng bảo hiểm. Giới hạn trách nhiệm theo Công ước Vác-Xa-va không hề ảnh hưởng đến việc bảo hiểm đó. Về các tin tức khác đề nghị hỏi tại cơ quan đại diện của hãng hàng không hoặc của hãng bảo hiểm.
* Ghi chú: Giới hạn trách nhiệm 75.000,00 Đô la Mỹ nêu trên bao gồm cả chi phí toà án. Trường hợp đơn kiện được gửi tới nước có quy định rằng chi phí toà án được tính riêng thì giới hạn trách nhiệm sẽ là 58.000,00 Đô la Mỹ không bao gồm chi phí toà án.

THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH LÝ
Trách nhiệm do làm mất, vận chuyển chậm hoặc làm hư hỏng đối với hành lý được giới hạn trừ trường hợp hành khách có thông báo trước về giá trị cao hơn của hành lý và trả một khoản cước phí phụ tương ứng. Đối với nhiều hành trình quốc tế, công ước Vác-Xa-Va sẽ áp dụng với trách nhiệm bồi thường được giới hạn bằng khoảng 9,07 Đô la Mỹ cho mỗi Pao (20,00 Đô la Mỹ cho mỗi kilôgam) đối với hành lý ký gửi và 400,00 Đô la Mỹ cho mỗi hành khách đối với hành lý không ký gửi. Đối với hành trình giữa hai điểm nằm trong lãnh thổ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Luật lệ Liên bang quy định rằng giới hạn trách nhiệm đối với hành lý tối thiểu là 2.800,00 Đô la Mỹ cho một hành khách. Đối với một số mặt hàng, người vận chuyển không chấp nhận việc thông báo về giá trị cao hơn. Một số người vận chuyển không chịu trách nhiệm về các loại hàng dễ vỡ, dễ thối, dễ hỏng hoặc hàng có giá trị.

NHỮNG GHI CHÚ QUAN TRỌNG
1. Yêu cầu về vé: Hành khách không được vận chuyển trên chuyến bay trừ khi hành khách xuất trình vé còn giá trị và được xuất theo đúng quy định của nhà vận chuyển và còn đủ tờ vận chuyển của chuyến bay đó và tất cả các tờ vận chuyển chưa sử dụng khác cùng với tờ hành khách. Hơn nữa hành khách cũng không được vận chuyển nếu như vé giấy xuất trình bị rách nát hoặc bị người khác không phải là người vận chuyển hoặc các đại lý được uỷ quyền sửa đổi. Trường hợp hành khách sử dụng vé điện tử, phải xuất trình giấy tờ tuỳ thân hợp lệ và vé điện tử còn hiệu lực sử dụng.
Vé sẽ không có giá trị và không được chấp nhận chuyên chở nếu nơi xuất vé không phải là văn phòng hoặc đại lý hợp pháp của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam.
2. Trình tự sử dụng tờ vận chuyển: Người vận chuyển chỉ chấp nhận các tờ vận chuyển chỉ theo thứ tự từ nơi khởi hành như đã nêu trên vé. 
3. Xác nhận lại việc giữ chỗ: Nếu hành khách dừng lại tại bất kỳ điểm nào trong hành trình quá 72 giờ, hành khách phải xác nhận lại chỗ đi tiếp hoặc quay lại. Để xác nhận lại chỗ đã đặt, hành khách phải thông báo cho Văn phòng của HKVN nơi hành khách tiếp tục cuộc hành trình của mình chậm nhất là 72 giờ trước khi máy bay xuất phát. Nếu hành khách không xác nhận lại ý định đó trong thời gian trên, chỗ đã đặt trước cho hành khách coi như bị huỷ.
4. Thời gian làm thủ tục tại sân bay: hành khách cần có mặt tại sân bay để làm thủ tục trong khoảng thời gian nêu dưới đây:
• Chuyến bay quốc tế: Từ 2 giờ 30 phút đến 01 giờ trước giờ khởi hành.
• Chuyến bay nội địa: Từ 02 giờ đến 01 giờ trước giờ khởi hành.
5. Hạn chế ghi trên vé: Một số loại giá cước hạn chế thời gian có giá trị của vé, ngày của hành trình, việc thay đổi hành trình hay hoàn vé…v.v. Việc hành khách không tuân thủ theo hạn chế ghi trên vé sẽ được coi như vi phạm điều kiện vận chuyển.
6. Quyền từ chối hoàn trả: HKVN có quyền từ chối việc hoàn trả nếu yêu cầu hoàn trả được đưa ra chậm hơn 30 ngày kể từ ngày vé hết giá trị.
7. Giấy tờ tuỳ thân: Hành khách phải xuất trình tất cả các giấy tờ theo yêu cầu của pháp luật của các nước có liên quan như giấy nhập cảnh, xuất cảnh, giấy chứng nhận y tế và các giấy tờ khác. Người vận chuyển có quyền từ chối vận chuyển bất kỳ hành khách nào nếu họ không chấp hành đầy đủ các luật lệ, quy định, yêu cầu, đòi hỏi hiện hành, hoặc không có đủ giấy tờ cần thiết. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về những thiệt hại hay những phí tổn do việc hành khách không thực hiện những yêu cầu này.
8. Miễn trừ trách nhiệm: Ngoài giới hạn trách nhiệm ở phần “THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH KHÁCH TRÊN CHUYẾN BAY QUỐC TẾ”, THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH LÝ”, HKVN không chịu trách nhiệm đối với tổn thất, hoặc hư hỏng của các vật dễ vỡ, dễ thối, dễ hỏng (thực phẩm, rau quả…), tiền, đồ trang sức, kim loại quý, đồ bạc, giấy tờ chuyển nhượng có giá trị tiền, chứng khoán, hoặc các vật có giá trị khác, tài liệu công tác, hộ chiếu và các giấy tờ tuỳ thân khác, hoặc hàng mẫu được để trong hành lý ký gửi của hành khách.
Mọi thông tin khác được cung cấp theo yêu cầu.

BÍ CHÚ VỀ CÁC KHOẢN THUẾ VÀ LỆ PHÍ DO CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH
Giá của vé này có thể gồm các khoản thuế và lệ phí do các cơ quan nhà nước quy định đối với việc vận chuyển hàng không. Các khoản thuế và lệ phí này, là khoản có thể chiếm một phần khá lớn của chi phí đi lại bằng đường hàng không, có thể đã được bao gồm trong giá vé hoặc được ghi riêng trong ô THUẾ/LỆ PHÍ của chiếc vé này. Quý khách còn có thể phải trả các khoản thuế hay lệ phí chưa được thu.
HÀNH KHÁCH KHÔNG ĐƯỢC CHO VÀO HÀNH LÝ
• Các loại khí nén (bình khí phun, chai ô xy), bình dưỡng khí.
• Chất nổ (các loại pháo, đạn dược).
• Các loại chất rắn, chất lỏng dễ cháy (benzene, cồn, diêm).
• Các chất ăn mòn.
• Các chất ô xy hoá.
• Các loại chất độc và hơi cay.
• Các chất phóng xạ.
• Thuỷ ngân.
• Các chất có từ tính.
• Các loại súng đạn.
• Cặp có gắn thiết bị báo động.
• Các hạn chế mang chất lỏng lên máy bay theo quy định của nhà chức trách Hàng không.

dkvc.JPG

CÁC VẬT DỤNG Y TẾ HOẶC VỆ SINH ĐƯỢC CHUYÊN CHỞ DƯỚI DẠNG HÀNH LÝ GỬI HOẶC HÀNH LÝ XÁCH TAY – TỐI ĐA 2 LÍT HOẶC 2KG VÀ TRỌNG LƯỢNG CỦA MỖI BÌNH KHÔNG VƯỢT QUÁ 0,5KG HOẶC 0,5 LÍT.

SOURCE: WWW.VIETNAMAIRLINES.COM.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

"GIẤY TRẮNG" HẾT HIỆU LỰC TỪ 1.1.2008: GIAO DỊCH NHÀ ĐẤT SẼ BỊ "TREO"?

 NGỌC HÀ

Theo Nghị định 84 của Chính phủ, đến ngày 1.1.2008, những giấy tờ nhà, đất hợp lệ cấp theo các quy định trước đây (hay còn gọi là “giấy trắng”) sẽ hết hiệu lực giao dịch. Điều này đồng nghĩa với việc hàng chục ngàn “giấy trắng” của người dân tại TP.HCM chưa kịp đổi sang giấy chủ quyền mới sẽ bị “treo” giao dịch. Nhiều ý kiến cho rằng, nên gia hạn thời gian để người dân kịp đổi “giấy trắng” sang “giấy hồng”, vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa thuận tiện cho công tác quản lý.

Muốn giao dịch phải đổi sang “giấy hồng”

Từ 1.1.2008, gần 60 loại giấy chủ quyền nhà, đất- “giấy trắng”- đã cấp qua các thời kỳ bằng khoán, văn tự mua bán nhà, quyết định giao đất… mới hết giá trị giao dịch. Thế nhưng, nhiều trường hợp khi ra công chứng hợp đồng chuyển dịch lại không được chấp thuận bởi cán bộ cho rằng một số loại giấy chỉ mang tính tham khảo chứ không có giá trị giao dịch, do không thể hiện quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Theo đó, đất chủ quyền “giấy trắng” muốn giao dịch phải xin cấp đổi sang “giấy hồng” mới nếu không muốn bị làm khó.

Từ đầu tháng 12 đến nay, nhiều người dân đã tranh thủ đi làm “giấy hồng” khiến lượng hồ sơ nhận vào tăng đáng kể. Phần lớn số hồ sơ xin cấp “giấy hồng” đã có “giấy trắng” và rơi vào những trường hợp đang thế chấp nhà, đất tại ngân hàng. Theo các chuyên gia nhà đất, trước đây đối với loại nhà, đất có “giấy trắng”, việc giao dịch đơn giản, sau khi hai bên ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì nộp hồ sơ tại cơ quan chức năng để sang tên. Còn hiện nay, đầu tiên chủ nhà cũ phải cấp đổi từ “giấy trắng” sang “giấy hồng”, sau khi công chứng nộp hồ sơ cho cơ quan chức năng để cấp đổi giấy chủ quyền từ chủ cũ sang chủ mới. Như vậy, về thủ tục phải mất gấp 2 lần, về thời gian phải 3- 4 lần so với trước. Trong khi đó, hiện chưa có một quy định nào bắt buộc nhà, đất đã có “giấy trắng” phải cấp đổi sang “giấy hồng”, “giấy đỏ” mới được sang nhượng!?.

Theo quy định, thời gian cấp đổi là 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện cấp giấy hoặc cần bổ sung, trong thời hạn 15 ngày làm việc. Nhưng trên thực tế, khi xin cấp đổi “giấy trắng” sang “giấy hồng”, người dân gặp không ít khó khăn. Nhiều nhà tách thửa, nhập thửa, mua bán qua nhiều đời chủ nên hiện trạng không còn y như trong “giấy trắng”. Vì vậy, quy trình cấp “giấy hồng” cho những loại nhà này không thể đơn giản và rất khó làm nhanh. Nếu chênh lệch diện tích thì phải tìm hiểu kỹ phần đất dôi ra, phải niêm yết và được phường kiểm tra, xác nhận… Một vướng mắc khác liên quan đến trường hợp cấp đổi “giấy trắng” là trường hợp người dân đang thế chấp tại ngân hàng. Muốn được giải quyết, người dân phải trả hết vốn vay cho ngân hàng rồi mới được làm thủ tục cấp đổi sau. Tất cả những lý do này khiến thời gian cấp đổi “giấy trắng” kéo dài hơn nhiều so với trường hợp cấp “giấy hồng” thông thường. Theo các chuyên gia, với quy trình thủ tục như hiện nay, người dân nên mua bán, chuyển nhượng trước, rồi sau đó khi sang tên hẳn chuyển sang thủ tục cấp đổi “giấy hồng”. Bởi việc này thủ tục đơn giản và mất ít thời gian hơn so với việc xin cấp “giấy hồng” rồi chuyển nhượng.

“Giấy trắng” có thể được gia hạn đến 2010

Theo ước tính của cơ quan chức năng, TP.HCM còn khoảng 100.000 căn nhà có “giấy trắng” các loại, trong đó có hàng ngàn giấy đang nằm tại các ngân hàng (thậm chí nhiều giấy thế chấp đến năm 2009 mới đáo hạn). Nếu các quận, huyện chưa kịp làm “giấy hồng” thì sau ngày 1.1.2008, chắc chắn người dân sẽ gặp nhiều khó khăn khi muốn giao dịch. Được biết, hiện nay số lượng “giấy trắng” chiếm khoảng 30-40% tổng số giao dịch nhà, đất tại các ngân hàng. Nhiều công chứng viên lo ngại nếu thực hiện theo đúng Nghị định 84, tức không công chứng giao dịch nhà đất có “giấy trắng” vào đầu năm 2008, các giao dịch loại này sẽ bị ách tắc. Do vậy đổi sang “giấy hồng” là giải pháp mà nhiều ngân hàng chọn lựa.

Từ nhiều tháng qua, các quận huyện đã đề xuất thành phố xin gia hạn thêm thời gian giao dịch “giấy trắng”. Nhiều ý kiến cho rằng, nên công nhận hiệu lực của “giấy trắng” để giảm bớt gánh nặng về giấy tờ nhà đất cho người dân. Chấm dứt giao dịch “giấy trắng” sẽ gây ra sự xáo trộn lớn, nhất là vào thời điểm cuối năm, nhiều người dân có nhu cầu mua bán, thế chấp nhà đất để vay vốn làm ăn. Tuy nhiên, theo các cán bộ ngành TN -MT, giấy trắng chỉ là chứng nhận tạm thời của riêng TP.HCM trong một giai đoạn nhất định, trên giấy cũng không thể hiện số thửa, số tờ, không có tọa độ… nên rất khó cho việc quản lý. Hơn nữa, nghị định 84 chỉ qui định hết hiệu lực giao dịch của “giấy trắng” nhưng vẫn còn giá trị chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của người dân. Thế nhưng, tại một số phòng công chứng, khi người dân nộp hồ sơ có liên quan đến “giấy trắng”, công chứng viên đã đề nghị nên cấp đổi sang “giấy hồng” trước khi thực hiện giao dịch. Bởi theo họ, có một số loại “giấy trắng” không thể hiện được quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà!?

ông Bùi Ngọc Tuân, Vụ phó Vụ Đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cho biết: “Theo tinh thần của Nghị quyết 07 năm 2007 của Quốc hội, “giấy trắng” có thể được gia hạn đến hết năm 2010. Hiện tại, bộ này đang dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Đất đai, trong đó có nội dung gia hạn nói trên để Chính phủ có thể ban hành vào tháng 1.2008″. Như vậy trong vòng 3 năm tới, nhiều khả năng các loại “giấy trắng” sẽ kịp đổi sang giấy chủ quyền mới, vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa thuận tiện cho công tác quản lý.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG

Tranh chấp tài sản thuộc quyền sở hữu chung tại xã phước lộc, huyện tuy phước, bình định: Không yêu cầu vẫn… "bị" cấp sổ đỏ (!?)

Bà Đễ trên phần đất đang tranh chấp

Văn phòng đại diện báo Đời sống & Pháp luật tại Bình Định vừa nhận được đơn của bà Trần Thị Đễ ở thôn Trung Thành, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, Bình Định, khiếu nại về việc gia đình bà không yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) nhưng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tuy Phước vẫn… tự ý cấp sổ đỏ (?).

Từ những vụ việc

Theo đơn trình bày của gia đình bà Trần Thị Đễ và anh Bùi Văn Bảy (con bà Đễ), với PV báo ĐS &PL, nguyên thửa đất đang tranh chấp giữa Đễ và Đào Thị Ngọc Lan là do cha mẹ chồng bà là Bùi Xí và bà Nguyễn Thị Chín, lúc sinh thời tạo lập. Hai ông bà sinh được 3 người con. Trưởng nam là ông Bùi Xuân (chồng bà Đào Thị Ngọc Lan), trưởng nữ là Bùi Thị Nhơn và chồng bà là Bùi Nhứt. Sau khi cha mẹ chồng bà qua đời thì ông Bùi Xuân lấy quyền là trưởng nam chiếm hết nhà, đất vườn của hai em, ép vợ chồng ông Bùi Nhứt ra ở góc vườn. Lúc đầu chia cho vợ chồng bà 200m2 nhưng sau khi ông Bùi Xuân chết, thì vợ ông Bùi Xuân là bà Đào Thị Ngọc Lan làm sổ đỏ chỉ để mẹ con bà 100m2 đất ở (gia đình bà ở ổn định từ 1965 đến nay), còn 100m2 là đất dùng chung.

Đến năm 1994, bà Lan mời địa chính xã về đo lại khoảnh đất, đo trùm lên 200m2 đất của bà đang sử dụng và đo bao luôn phần đất phía sau có thửa số 442 là đất gò mả có diện tích 104m2 (hiện nay bà Lan đang quản lý) và đứng tên chủ sử dụng thửa đất 425 là đất thổ cư với phần diện tích 1.279m2. Vô tình chính quyền địa phương đã “biếu luôn” cho bà Lan phần đất 104m2 của Nhà nước đang quản lý mà không tốn một xu nào (!?).

Không bằng lòng với quyết định của chính quyền địa phương và việc làm sai trái của bà Lan từ năm 1984, gia đình bà Đễ gửi đơn đến các cơ quan chức năng nhờ can thiệp, giải quyết.

UBND huyện Tuy Phước tiến hành xác minh và ra Quyết định số 707/1998/QĐ- CT ngày 15.10.1998 nêu rõ: “…thừa nhận quyền sử dụng thửa đất có số hiệu 551, tờ bản đồ số 9 với diện tích 100m2 của bà Trần Thị Đễ đã sử dụng từ năm 1965 cho tới nay là hợp pháp… Phần diện tích phía trước nhà bà Đễ có diện tích 90, 65m2 trong đó có một giếng nước, hai gia đình sử dụng chung từ năm 1965 đến nay được giữ nguyên hiện trạng để sử dụng chung”. Ngày 15.1.1999, UBND huyện Tuy Phước tiếp tục ra Quyết định số 17/1999/QĐ-UB giữ nguyên điểm 1, điểm 2 Điều I, điều chỉnh lại điểm 2 Điều I, của Quyết định số 707/1998/QĐ-CT ngày 15.10.1998: “…diện tích phía trước nhà bà Đễ có diện tích là 90,65m2, nay xác định là 79m2 …”.

Trên cơ sở kiểm tra hiện trạng và hồ sơ thu thập được, Sở Địa chính đã đi đến kết luận trình lên UBND tỉnh và đề xuất: Thống nhất với Quyết định số 17/1999/QĐ-UB ngày 15.01.1999, của UBND huyện Tuy Phước “Khu đất nói trên là do cha mẹ để lại cho con chứ không phải đất của bà Lan cho vợ chồng bà Trần Thị Đễ và ông Bùi Nhứt xây dựng nhà ở. Việc bà Đào Thị Ngọc Lan đòi lại đất bà Đễ ở ổn định từ năm 1965 đến nay là trái với Điều 2 khoản 2 Luật Đất đai năm 1993”.

Đùng một cái, ngày 30.4.2007, bà Lan khởi kiện ra TAND huyện Tuy Phước đòi đất của gia đình bà Đễ kèm theo đơn bà nộp cho Toà án hai sổ đỏ, một sổ mang tên bà với diện tích 1.226m2, còn một sổ mang tên Trần Thị Đễ với diện tích 100m2 (trong khi gia đình bà Đễ không yêu cầu làm sổ đỏ, và bà Đễ cũng chưa bao giờ ký vào hồ sơ xin cấp sổ đỏ).

Trao đổi với chúng tôi, bà Võ Thị Thanh Thuỷ – chuyên viên phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Tuy Phước cho rằng: “Trong thời điểm đó (2001- 2002), việc làm sổ đỏ mang tính đại trà nên hộ bà Lan vẫn được xét cấp còn trường hợp bà Đễ khi xem xét chữ ký, qua hai lần ký (phiếu đăng ký và biên nhận hồ sơ nhà ở, đất ở và đơn xin đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà Đễ – PV) đều khác nhau. Do đó, vấn đề cấp giấy chứng nhận cho bà Trần Thị Đễ là vi phạm về thủ tục. Hiện nay, giấy chứng nhận QSD đất của bà Trần Thị Đễ còn lưu giữ tại phòng Tài nguyên và Môi trường, chúng tôi đã báo cáo vụ việc lên Trưởng phòng nhưng vẫn chưa giải quyết vì còn đang chờ xem lại quyết định của UBND tỉnh về vụ việc tranh chấp giữa gia đình bà Đễ và bà Lan”.

Xử… nhưng không xét!

Ngày 05.9.2007, TAND huyện Tuy Phước đã mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án “tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung và quyền sử dụng đất”, tuyên: “…diện tích thực tế phù hợp với diện tích trên bản đồ là 56m2, có giới cận như sau: Tây giáp nhà bà Trần Thị Đễ dài 8m, Nam giáp nhà bà Đào Thị Ngọc Lan dài 8m, Bắc giáp thổ cư ông Phạm Sỹ Chương dài 6m, Đông giáp đường đi trong xóm dài 2,8 m; hiện tại anh Bảy đã xây chuồng bò 9,52 m2, nhà tắm 2, 8m2 trên phần đất này. Nếu chia đôi phần đất này sẽ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt cho gia đình bà Đễ. Tại phiên toõ, bà Lan đồng ý chia theo giá trị bằng tiền là hợp tình, hợp lý nên toà chấp nhận …”.

Vì sao gia đình bà Đễ không có đơn yêu cầu cấp sổ đỏ nhưng vẫn được cấp? Sổ đỏ đã cấp chính quyền địa phương lại không giao cho bà Đễ mà lại đưa cho bà Lan? Bà Đễ đã có đơn yêu cầu UBND huyện Tuy Phước thu hồi hai sổ đỏ nhưng UBND huyện không trả lời thẳng vào khiếu nại của gia đình bà Đễ mà lại trả lời việc bà Đễ kiện ra Toà chia tài sản chung? Điều đáng nói hơn nữa là tại sao TAND huyện Tuy Phước khi xử lại căn cứ hai sổ đỏ này để buộc gia đình bà Đễ phải chia phần tài sản trước mặt nhà là 56m2 (nguyên thuỷ là 90,65m2) cho bà Lan mà không tìm hiểu rõ nguồn gốc?

Trao đổi với PV báo ĐS &PL, luật sư Ngô Xuân Đào – Đoàn Luật sư Bình Định nhận xét: “Thứ nhất: Gia đình bà Đễ không yêu cầu cấp sổ đỏ vì vụ việc đang tranh chấp nhưng không hiểu sao chính quyền địa phương lại cấp sổ đỏ cho bà Đễ nhưng lại giao cho bà Lan cất giữ (?),đến khi bà Lan kiện bà Đễ ra toà bà Đễ mới biết phần đất mình đã có sổ đỏ. Thứ haià: Bản thân bà Đễ không biết chữ, biết viết, đơn xin cấp sổ đỏ là hoàn toàn giả mạo. Bởi vì, đơn xin cấp sổ đỏ của bà Đễ và bà Lan là cùng một chữ viết, ký cùng một ngày. Hơn nữa, bản thân bà Đễ không biết chữ nhưng trong đơn chữ viết, chữ ký lại chân phương, rõ ràng… (?)”.

Hy vọng, tại phiên toà phúc thẩm tới đây, TAND tỉnh Bình Định sẽ có một phán quyết khách quan, đúng pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi cho công dân.

Đ.K

Báo đời sống và pháp luật