QUY CHẾ PHỐI HỢP TRONG ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 72/2006/QĐ-UBND ngày 16 tháng 5 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thành phố)

Chương 1:

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi áp dụng

Quy chế này quy định về thành lập Hội đồng định giá; trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan nhằm thực hiện có hiệu quả công tác định giá tài sản trong thi hành án dân sự trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Điều 2. Đối tượng thực hiện

Các cơ quan tổ chức quy định trong Quy chế này bao gồm: Sở Tư pháp, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Thi hành án dân sự thành phố, Thi hành án dân sự quận – huyện, Cơ quan tài chính quận – huyện; Phòng Tài nguyên và Môi trường; Cơ quan quản lý xây dựng quận – huyện và các cơ quan, tổ chức chuyên môn khác có liên quan đến công tác định giá tài sản.

Điều 3. Nguyên tắc phối hợp

1. Các cơ quan, tổ chức phối hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm đảm bảo việc đánh giá, định giá lại tài sản để thi hành án đúng quy định pháp luật.

2. Việc phối hợp hoạt động trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, Quy chế hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức và các quy định của pháp luật, không làm cản trở đến hoạt động của từng cơ quan, tổ chức và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, người phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

3. Việc phối hợp của các cơ quan, tổ chức trong định giá tài sản phải tuân thủ quy định về trình tự, thủ tục, thời gian và các quy định khác của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Thực hiện kiểm tra, giám sát, trao đổi thông tin kịp thời để phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh xử lý các vi phạm trong quá trình định giá, định giá lại tài sản.

5. Việc thành lập Hội đồng định giá được tiến hành trong trường hợp người được thi hành án, người phải thi hành án và chủ sở hữu tài sản chung (trường hợp kê biên tài sản thuộc sở hữu chung) không thỏa thuận được về giá tài sản kê biên hoặc việc định giá tài sản cần thiết phải có sự tham gia của cán bộ chuyên môn hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

6. Việc thành lập Hội đồng định giá tuân theo các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Hội đồng định giá tự giải tán sau khi hoàn thành việc định giá tài sản.

7. Các thành viên tham gia Hội đồng định giá được hưởng tiền bồi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Chương 2:

HỘI ĐỒNG ĐỊNH GIÁ

Điều 4. Thành lập Hội đồng định giá

1. Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án ra quyết định thành lập Hội đồng định giá để định giá tài sản đã kê biên trong vụ án mà Chấp hành viên đó đang thi hành trong thời gian không quá 15 ngày, kể từ ngày tài sản được kê biên.

2. Trường hợp tổ chức định giá lại theo khoản 5 Điều 43 Pháp lệnh thi hành án dân sự và Điều 7 Quy chế này thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự đang giải quyết việc thi hành án có thẩm quyền thành lập Hội đồng định giá.

Điều 5. Thành phần của Hội đồng định giá

1. Thành phần Hội đồng định giá bao gồm:

a) Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng;

b) Đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là ủy viên;

c) Đại dịên cơ quan chuyên môn có liên quan là ủy viên.

2. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất đã kê biên thì thành phần Hội đồng định giá bao gồm:

a) Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng;

b) Đại diện cơ quan tài chính cùng cấp là ủy viên;

c) Đại diện cơ quan quản lý đất đai cùng cấp là ủy viên;

d) Đại diện Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cùng cấp là ủy viên;

e) Đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan (nếu có) là ủy viên.

3. Trường hợp tài sản định giá bao gồm cả đất và công trình xây dựng (như nhà ở, trụ sở văn phòng, nhà xưởng và các công trình xây dựng khác) thì ngoài các thành viên theo khoản 2 Điều này phải có đại diện cơ quan quản lý xây dựng tham gia Hội đồng định giá.

Điều 6. Định giá tài sản

1. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày được thành lập, Hội đồng định giá phải tiến hành việc định giá; người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền, nghĩa vụ liên quan được tham gia ý kiến vào việc định giá nhưng quyền quyết định thuộc về Hội đồng định giá.

2. Việc định giá tài sản căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm định giá và ý kiến chuyên môn của các cơ quan, tổ chức giám định tài sản để xác định giá. Nguyên tắc, phương pháp và các tiêu chuẩn để xác định giá trị tài sản thực hiện theo các quy định pháp luật hiện hành. Đối với tài sản do nhà nước thống nhất quản lý về giá thì việc định giá dựa trên cơ sở giá do nhà nước quy định.

3. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất đã kê biên:

a) Hội đồng định giá quyết định về giá quyền sử dụng đất bị kê biên căn cứ giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế tại địa phương tại thời điểm định giá, nhưng không thấp hơn giá do Ủy ban nhân dân thành phố quy định áp dụng tại thời điểm định giá.

b) Trường hợp không xác định được giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế ở địa phưong thì Hội đồng định giá quyết định về giá quyền sử dụng đất đã kê biên theo giá do Ủy ban nhân dân thành phố quy định áp dụng tại thời điểm định giá.

c) Đối với đất thuê của nhà nước thì định giá theo giá thuê do Ủy ban nhân dân thành phố quy định áp dụng tại thời điểm định giá đối với thời gian thuê đất còn lại và các chi phí hợp pháp, hợp lệ về đền bù, san ủi mặt bằng, chi phí đầu tư vào đất đã bỏ ra (nếu có).

4. Trong trường hợp cần thiết, chấp hành viên trực tiếp giải quyết việc thi hành án có quyền thuê hoặc trưng cầu giám định về giá trị tài sản.

5. Hội đồng định giá quyết định về giá của tài sản theo nguyên tắc đa số, trường hợp có ý kiến ngang nhau thì bên có biểu quyết của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định. Trong trường hợp không đồng ý với giá tài sản do Hội đồng quyết định, thành viên Hội đồng định giá có quyền bảo lưu ý kiến, ý kiến đó được ghi vào Biên bản định giá tài sản.

6. Định giá tài sản được thực hiện bằng tiền đồng Việt Nam, có thể ghi thêm giá trị tài sản bằng vàng để tham khảo (quy đổi theo tỷ giá do Ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm định giá).

7. Biên bản định giá: việc định giá tài sản phải thể hiện bằng Biên bản định giá tài sản. Biên bản định giá phải ghi nhận kịp thời, đầy đủ và trung thực toàn bộ quá trình định giá và phải được lưu trong hồ sơ định giá tài sản.

Biên bản định giá tài sản phải có các nội dung chính sau đây: họ, tên của Chủ tịch Hội đồng định giá và các thành viên Hội đồng định giá; họ, tên những người tham dự phiên họp định giá tài sản; thời gian, địa điểm tiến hành việc định giá tài sản; tên tài sản cần định giá; thông tin, tài liệu có liên quan đến tài sản cần định giá; kết quả khảo sát giá trị tài sản của tài sản; ý kiến của thành viên Hội đồng định giá và những người tham dự phiên họp định giá tài sản; kết quả biểu quyết của Hội đồng định giá về giá trị tài sản; kết luận về giá của tài sản định giá; thời gian, địa điểm hoàn thành việc định giá; chữ ký của các thành viên Hội đồng định giá.

8. Hồ sơ định giá tài sản: hồ sơ định giá tài sản do Hội đồng định giá lập, bao gồm các tài liệu sau: Quyết định thành lập Hội đồng định giá, Biên bản định giá tài sản, các tài liệu khác có liên quan đến việc định giá tài sản.

Điều 7. Định giá lại tài sản

1. Việc định giá lại tài sản được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

a) Có căn cứ xác định việc định giá tài sản vi phạm thủ tục định giá theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ;

b) Có biến động lớn về giá theo quy định tại khoản 2 Điều 24 Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/9/2004 của Chính phủ, trước khi có thông báo công khai đối với tài sản được bán đấu giá;

c) Quá thời hạn 6 tháng, kể từ ngày định giá mà tài sản chưa bán;

d) Tài sản kê biên không bán được theo quy định tại Điều 48 Pháp lệnh thi hành án dân sự.

2. Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự đang giải quyết việc thi hành án tổ chức định giá lại tài sản trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày có sự kiện pháp lý nêu ở khoản 1 Điều này.

3. Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự ra quyết định thành lập Hội đồng định giá lại tài sản với thành phần theo quy định tại Điều 5 Quy chế này và giao cho Chấp hành viên đang giải quyết việc thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng.

4. Việc định giá lại tài sản thực hiện theo các quy định của pháp luật về định giá tài sản.

Chương 3:

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CÁC THÀNH VIÊN TRONG HỘI ĐỒNG ĐỊNH GIÁ

Điều 8. Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án

1. Ra quyết định thành lập Hội đồng định giá theo quy định của pháp luật, giữ vai trò Chủ tịch Hội đồng định giá.

2. Yêu cầu các cơ quan có liên quan cử cán bộ có năng lực và chuyên môn tham gia Hội đồng định giá.

3. Quyết định thuê hoặc trưng cầu giám định về giá trị tài sản trong trường hợp cần thiết.

4. Xử lý tài sản kê biên không bán được theo quy định tại Điều 48 Pháp lệnh thi hành án dân sự và quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Quy chế này.

5. Kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp tổ chức định giá lại tài sản khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 7 Quy chế này.

6. Đảm bảo việc định giá tài sản, định giá lại tài sản theo đúng quy định của pháp luật.

7. Kịp thời báo cáo Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp những vấn đề khó khăn, vướng mắc trong quá trình định giá.

Điều 9. Đại diện cơ quan tài chính

1. Tham gia Hội đồng định giá đầy đủ, có trách nhiệm theo quyết định thành lập Hội đồng định giá và quy định của pháp luật.

2. Tiến hành định giá tài sản theo các quy định pháp luật; chịu trách nhiệm áp dụng đúng các nguyên tắc, phương pháp và các tiêu chuẩn xác định giá theo quy định của Chính phủ và Bộ Tài chính để xác định giá trị tài sản theo giá thị trường; áp dụng đúng các quy định về giá trong trường hợp tài sản do nhà nước thống nhất quản lý về giá.

3. Xác định trường hợp có biến động lớn về giá để làm căn cứ định giá lại tài sản đã kê biên; kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự tổ chức định giá lại tài sản khi có căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Quy chế này.

4. Được bảo lưu ý kiến khi không đồng ý với ý kiến chung của Hội đồng định giá, kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét lại việc định giá.

5. Thực hiện một số nhiệm vụ khác có liên quan đến việc định giá tài sản theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng định giá.

Điều 10. Đại diện các cơ quan có liên quan

1. Tham gia Hội đồng định giá đầy đủ, có trách nhiệm theo quyết định thành lập Hội đồng định giá và theo quy định của pháp luật.

2. Tiến hành định giá tài sản theo đúng quy định pháp luật; có ý kiến về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thuộc chuyên môn của mình theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng định giá.

3. Chịu trách nhiệm về các thông tin cung cấp cho Hội đồng định giá.

4. Được bảo lưu ý kiến khi không đồng ý với ý kiến chung của Hội đồng định giá, kiến nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự xem xét lại việc định giá.

5. Thực hiện một số nhiệm vụ khác có liên quan đến việc định giá tài sản theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng định giá.

Chương 4:

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN LIÊN QUAN

Điều 11. Cơ quan Thi hành án dân sự

1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm tổ chức định giá lại tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 43 Pháp lệnh thi hành án dân sự và theo Điều 7 Quy chế này.

2. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Chấp hành viên và cán bộ thi hành án trong việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về định giá tài sản.

3. Giải quyết khiếu nại về định giá tài sản theo quy định pháp luật.

4. Tổng hợp các vướng mắc trong công tác định giá tài sản, đề xuất biện pháp giải quyết, trình cơ quan có thẩm quyền xin ý kiến.

Điều 12. Cơ quan tài chính

1. Cử cán bộ có năng lực và chuyên môn tham gia Hội đồng định giá bằng văn bản chậm nhất là 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án. Trường hợp cán bộ được cử không thể tham gia Hội đồng định giá thì kịp thời cử cán bộ khác thay thế trước khi Hội đồng định giá tiến hành việc định giá ít nhất 01 ngày.

2. Theo dõi, kiểm tra cán bộ tham gia Hội đồng định giá trong việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về giá, quản lý ngân sách trong việc định giá tài sản.

3. Cung cấp các hồ sơ, văn bản liên quan về tài chính khi có yêu cầu của Hội đồng định giá.

4. Trả lời bằng văn bản về các vấn đề liên quan trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án.

Điều 13. Cơ quan quản lý nhà nước về nhà, đất và các cơ quan khác có liên quan

1. Cử cán bộ có năng lực và chuyên môn tham gia Hội đồng định giá chậm nhất là 03 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án. Trường hợp cán bộ được cử không thể tham gia Hội đồng định giá thì kịp thời cử cán bộ khác thay thế trước khi Hội đồng định giá tiến hành việc định giá ít nhất 01 ngày.

2. Theo dõi, kiểm tra cán bộ tham gia Hội đồng định giá trong việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực được phân công.

3. Cung cấp các hồ sơ, văn bản liên quan khi có yêu cầu của Hội đồng định giá hoặc Chấp hành viên giải quyết việc thi hành án.

4. Trả lời bằng văn bản về các vấn đề liên quan trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án.

Điều 14. Ủy ban nhân dân quận – huyện

1. Chỉ đạo công tác định giá tài sản, yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự quận – huyện báo cáo công tác định giá tài sản.

2. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp dưới, cơ quan thi hành án dân sự quận – huyện, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận – huyện phối hợp với các tổ chức liên quan trên địa bàn trong công tác định giá tài sản.

3. Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự quận – huyện tổ chức kiểm tra, thanh tra; chỉ đạo các cơ quan hữu quan phối hợp kiểm tra, thanh tra công tác định giá tài sản.

4. Chỉ đạo Ủy ban nhân dân phường – xã, thị trấn hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự trong việc định giá tài sản.

Điều 15. Ủy ban nhân dân phường – xã, thị trấn

1. Hỗ trợ Hội đồng định giá trong việc niêm yết các thông tin liên quan đến tài sản định giá, gửi thư mời và tài liệu đến các bên liên quan đến việc định giá; phối hợp để đảm bảo trật tư; an toàn trong khi Hội đồng định giá làm nhiệm vụ.

2. Cung cấp các thông tin có liên quan đến tài sản theo yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng định giá; cung cấp thông tin về giá thị trường của bất động sản liền kề để Hội đồng định giá tham khảo; hỗ trợ Hội đồng định giá trong việc xác minh tài sản trên địa bàn.

3. Chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức ở địa phương hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh theo yêu cầu của Hội đồng định giá.

Chương 5:

QUAN HỆ CÔNG TÁC

Điều 16. Mối quan hệ phối hợp

1. Mối quan hệ công tác giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan là quan hệ phối hợp, dựa trên nguyên tắc hợp tác, tôn trọng lẫn nhau để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật.

2. Trong những trường hợp cần thiết có thể phối hợp công tác bằng các hình thức như: hội nghị liên tịch; ký kết văn bản liên tịch; thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để giám sát, thanh tra, kiểm tra hoặc khảo sát tình hình tại cơ sở.

Điều 17. Chế độ thông tin, báo cáo

1. Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự thành phố thực hiện việc thống kê, báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố và Sở Tư pháp. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự các quận – huyện thực hiện thống kê, báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo Ủy ban nhân dân, Phòng Tư pháp cùng cấp và Thi hành án dân sự thành phố về công tác định giá tài sản.

2. Các cơ quan, tổ chức tại Điều 2 Quy chế này khi báo cáo định kỳ hoặc đột xuất những vấn đề có liên quan đến công tác định giá tài sản cho cơ quan có thẩm quyền thì đồng thời gửi cơ quan Thi hành án dân sự thành phố một bản để theo dõi.

Chương 6:

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 18.

1. Các cơ quan, tổ chức theo trách nhiệm được phân công, tổ chức triển khai thực hiện Quy chế này và các văn bản pháp luật có liên quan.

2. Trong quá trình thực hiện, những nội dung chưa phù hợp hoặc khó khăn, vướng mắc phát sinh, cơ quan Thi hành án dân sự thành phố tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố để bổ sung, sửa đổi Quy chế cho phù hợp. Trường hợp vượt thẩm quyền thì cơ quan Thi hành án dân sự thành phố tổng hợp, đề xuất biện pháp thực hiện để Ủy ban nhân dân thành phố xin ý kiến

THỎA THUẬN HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

THỎA THUẬN

HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Sau đây gọi là “Việt Nam”) và

CHÍNH PHỦ QUÉBEC
(Sau đây gọi là “Québec”)

Dưới đây được chỉ định là các Bên,

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong một môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Bên phải có những biện pháp thích hợp cho phép trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình của mình và bảo đảm gia đình thay thế cho trẻ em không có môi trường gia đình gốc;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho trẻ em đó tại Nước gốc của mình;

Dựa trên các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20 tháng 11 năm 1989, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi;

Mong muốn thiết lập các quy định chung nhằm bảo đảm việc tôn trọng những quyền của trẻ em thường trú tại Việt Nam được những ngươi cư trú tại Québec nhận làm con nuôi và nhằm phòng ngừa việc thu lợi vật chất bất chính, bắt cóc trẻ em, bán và buôn bán trẻ em từ việc nuôi con nuôi;

Căn cứ vào Thỏa thuận hợp tác kinh tế và kỹ thuật giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Québec được ký ngày 16 tháng 01 năm 1992 và Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Canada ký ngày 27 tháng 6 năm 2005,

Thỏa thuận các quy định sau:

Chương 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Đối tượng

Thỏa thuận này nhằm thiết lập cơ chế hợp tác giữa Việt Nam và Québec và thủ tục giải quyết yêu cầu xin con nuôi quy định tại Thỏa thuận này, cấu thành khuôn khổ theo đó cha mẹ nuôi người Québec có thể thực hiện việc xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

2. Phạm vi của Thỏa thuận

Thỏa thuận này được áp dụng đối với việc nuôi con nuôi, do những người cư trú tại Québec xin nhận trẻ em thường trú tại Việt Nam không quá độ tuổi cho làm con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam.

3. Những biện pháp phòng ngừa

1. Các Bên tiến hành các biện pháp thích hợp, phù hợp với pháp luật của mình, nhằm phòng ngừa việc thu lợi bất chính từ việc nuôi con nuôi được quy định tại Thỏa thuận này.

2. Các Cơ quan Trung ương, các tổ chức được cấp phép và các cơ quan có thẩm quyền khác trong lĩnh vực nuôi con nuôi, trong quá trình hoạt động, phải tuân thủ các quy định nhằm phòng ngừa việc bắt cóc, bán hoặc buôn bán trẻ em, các hình thức bóc lột gây tổn hại cho trẻ em cũng như nhằm thu các nguồn lợi bất chính.

Chương 2

CÁC CƠ QUAN VÀ TỔ CHỨC CÓ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH THỎA THUẬN

4. Cơ quan Trung ương

Cơ quan Trung ương của các Bên được chỉ định nhằm thi hành Thỏa thuận này: về phía Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Cục Con nuôi quốc tế thuộc Bộ Tư pháp và về phía Québec là Ban Thư ký về nuôi con nuôi quốc tế thuộc Bộ Y tế và các Dịch vụ xã hội.

5. Các cơ quan có thẩm quyền và các tổ chức

1. Để áp dụng Thỏa thuận này, các Cơ quan Trung ương có quyền hành động, trực tiếp hoặc thông qua sự trợ giúp của các cơ quan có thẩm quyền của mỗi Bên, cũng như các tổ chức được cấp phép trong lĩnh vực nuôi con nuôi, phù hợp với pháp luật của nước mình.

2. Đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ họ hàng, trong những trường hợp đặc biệt hoặc khi có quy định của pháp luật, những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của tổ chức được cấp phép theo quy định của Thỏa thuận này sẽ do chính những người xin con nuôi hoặc Cơ quan Trung ương Québec thực hiện, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế và các Dịch vụ xã hội Québec.

6. Các tổ chức được cấp phép

1. Tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ các quyền của trẻ em, đề cao các quyền lợi trẻ em hoặc cải thiện các điều kiện sống của trẻ em, được Bộ trưởng Bộ Y tế và các Dịch vụ xã hội Québec cấp phép, sau khi nhận được Giấy phép của Bộ Tư pháp Việt Nam, có quyền tiến hành tại Việt Nam các hoạt động nhân đạo và phi lợi nhuận nhằm hỗ trợ những người cư trú tại Québec nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

2. Tổ chức được cấp phép tiến hành những thủ tục trên phù hợp với các quy định của Thỏa thuận này và pháp luật hiện hành của Việt Nam và Québec.

Chương 3

THỦ TỤC NUÔI CON NUÔI

7. Trách nhiệm của Cơ quan Trung ương Québec

1. Cơ quan Trung ương Québec bảo đảm rằng người xin nhận con nuôi có đủ điều kiện và phù hợp để nhận con nuôi, và cấp thư xác nhận, nhất là cam kết của người xin nhận con nuôi và khả năng nuôi con nuôi.

2. Cơ quan này bảo đảm việc người xin con nuôi đã tiếp cận những thông tin sẵn có về trẻ em ở Nước gốc, đặc biệt về tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh cá nhân, gia đình, xã hội và tâm sinh lý, và các thông tin về cha mẹ đẻ, nếu có thể.

3. Cơ quan Trung ương Québec cũng bảo đảm, trước khi cho phép người xin con nuôi tiếp tục những thủ tục xin con nuôi, căn cứ vào kết quả đánh giá tâm sinh lý và xã hội và các thông tin do Cơ quan trung ương Việt Nam chuyển đến, những người xin con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện để nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi.

8. Trách nhiệm của tổ chức được cấp phép

1. Tổ chức được cấp phép chuyển cho Cơ quan Trung ương Việt Nam hồ sơ của người xin con nuôi, kèm theo thư của Cơ quan Trung ương Québec xác nhận, nhất là cam kết và khả năng nhận con nuôi của người xin con nuôi và công hàm gồm các thông tin, tài liệu sau về người xin con nuôi:

a) Họ và tên, giới tính, ngày sinh, số hộ chiếu hoặc thẻ căn cước, nơi cư trú, nghề nghiệp, địa chỉ liên lạc;

b) Năng lực pháp luật dân sự;

c) Khả năng nuôi con nuôi, đặc biệt là các điều kiện về kinh tế, hoàn cảnh cá nhân, gia đình, sức khỏe và môi trường xã hội;

d) Lý do xin nhận con nuôi;

e) Đặc điểm của trẻ em mà người xin con nuôi có khả năng nhận làm con nuôi (độ tuổi, giới tính và các đặc điểm khác).

2. Tổ chức được cấp phép bảo đảm hồ sơ xin con nuôi đáp ứng tất cả các quy định theo pháp luật Việt Nam và Québec, và hồ sơ xin con nuôi phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được chứng thực phù hợp. Chi phí dịch thuật hồ sơ do người xin con nuôi chịu.

9. Trách nhiệm của Cơ quan Trương ương Việt Nam

1. Cơ quan Trung ương Việt Nam bảo đảm:

a) Trẻ em được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện được nhận làm con nuôi theo pháp luật Việt Nam;

b) Sau khi xem xét khả năng nuôi dưỡng trẻ em trong nước thì việc nuôi con nuôi quốc tế là giải pháp phù hợp nhất đối với quyền lợi của trẻ em;

c) Đã có sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi của các cá nhân, tổ chức, hoặc cơ quan được quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, những cá nhân, tổ chức đó phải được tư vấn và thông tin theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi về hệ quả của sự đồng ý đó và sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi chỉ được đưa ra sau khi trẻ em được sinh ra;

d) Căn cứ vào độ tuổi và sự trưởng thành của trẻ em, trẻ em đã được tư vấn và phải được thông tin theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi về hệ quả của việc đồng ý làm con nuôi, các mong muốn và ý kiến của trẻ em đã được xem xét và trẻ em đã đồng ý làm con nuôi khi pháp luật đòi hỏi;

e) Các cá nhân và tổ chức hoặc cơ quan quy định tại các điểm c) và d) của đoạn này phải được thông tin theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi về những sự lựa chọn khác và các hệ quả pháp lý của việc nhận nuôi con nuôi trọn vẹn, cá nhân và tổ chức hoặc các cơ quan tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi trọn vẹn bằng văn bản, theo mẫu quy định của pháp luật;

f) Không có bất kỳ một yêu cầu trả tiền hoặc sự đền bù nào được đưa ra để nhận được sự đồng ý chấp thuận cho trẻ em làm con nuôi theo quy định tại các điểm c) và d) của đoạn này.

2. Khi Cơ quan Trung ương Việt Nam xem xét khả năng được nhận làm con nuôi của trẻ em và các điều kiện quy định tại đoạn trên được đáp ứng, Cơ quan Trung ương Việt Nam chuyển hồ sơ người xin con nuôi cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để tiếp tục giải quyết việc xin con nuôi và thông báo cho tổ chức được cấp phép biết.

10. Giới thiệu trẻ em

1. Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, sau khi bảo đảm việc giới thiệu trẻ em phù hợp với ý kiến được nêu tại bản đánh giá tâm sinh lý và xã hội của người xin con nuôi, gửi cho tổ chức được cấp phép để tổ chức này chuyển lại cho người xin con nuôi bản báo cáo, trong đó bao gồm các thông tin sau về trẻ em được giới thiệu làm con nuôi:

a) Họ và tên, giới tính, ngày sinh, nơi cư trú;

b) Khả năng được nhận làm con nuôi;

c) Hoàn cảnh cá nhân, gia đình, xã hội và tâm sinh lý;

d) Tình hình sức khoẻ;

e) Các nhu cầu đặc biệt, nếu có.

2. Người xin con nuôi trong thời hạn sớm nhất, phải chuyển cho Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, qua tổ chức được cấp phép, trả lời về việc giới thiệu trẻ em.

3. Không có bất cứ sự tiếp xúc nào giữa người xin con nuôi với trẻ em hoặc với những người trông nom trẻ em trước khi Cơ quan Trung ương Việt Nam nhận được ý kiến trả lời đồng ý bằng văn bản của cha mẹ nuôi về việc giới thiệu trẻ em, trừ trường hợp nhận trẻ em có họ hàng làm con nuôi.

11. Bàn giao trẻ em cho cha mẹ nuôi

1. Quyết định giao trẻ em cho cha mẹ nuôi và việc bàn giao trẻ em đó cho cha mẹ nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Cơ quan Trung ương Việt Nam xác nhận bằng văn bản các điều kiện và thủ tục giải quyết việc cho, nhận con nuôi đã được thực hiện theo đúng các quy định của Thỏa thuận này.

3. Các cơ quan Trung ương của hai Bên giám sát để các cơ quan hành chính có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em xuất cảnh Nước gốc, cũng như là nhập cảnh và thường trú tại Québec.

Chương 4

PHÁP LUẬT ÁP DỤNG VÀ BẢO VỆ TRẺ EM ĐƯỢC NHẬN LÀM CON NUÔI

12. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi

1. Theo quy định của pháp luật Québec, Tòa án Québec công nhận hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi tuân theo pháp luật Québec.

2. Tổ chức được cấp phép thông báo cho Cơ quan Trung ương Việt Nam các quyết định do Tòa án Québec tuyên về việc nuôi con nuôi và gửi cho Cơ quan Trung ương Việt Nam bản sao quyết định đó.

3. Quyết định do Tòa án Québec tuyên đương nhiên được công nhận tại Việt Nam. Việc công nhận này bao gồm cả những hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Québec.

4. Tại Québec, việc nuôi con nuôi làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của con nuôi như con đẻ.

13. Bảo vệ trẻ em

1. Québec bảo đảm trẻ em do những người cư trú tại Québec nhận làm con nuôi theo các quy định của Thỏa thuận này và các quy định của pháp luật hiện hành được bảo vệ và hưởng những quyền như trẻ em ở Québec.

2. Khi việc chăm sóc trẻ em tại gia đình cha mẹ nuôi không còn phù hợp với quyền lợi tốt nhất của trẻ em, cơ quan có thẩm quyền Québec bảo đảm tất cả các biện pháp cần thiết được tiến hành nhằm bảo vệ trẻ em đó. Theo quy định của pháp luật Québec, các cơ quan có thẩm quyền của Québec chịu trách nhiệm chuyển trẻ em đến một môi trường phù hợp với sự phát triển của trẻ em. Khi trẻ em được giao cho một gia đình khác trước khi quyết định cho làm con nuôi phát sinh đầy đủ hiệu lực tại Québec, Cơ quan Trung ương Québec thông báo cho Cơ quan Trung ương Việt Nam.

Chương 5

HỢP TÁC

14. Trao đổi thông tin

1. Nhằm thực hiện tốt Thỏa thuận này và tuân thủ pháp luật của mỗi Bên, các Cơ quan Trung ương trao đổi thông tin về pháp luật áp dụng trong lĩnh vực nuôi con nuôi, đặc biệt các quy định liên quan đến người xin con nuôi, các số liệu thống kế và các thông tin hữu ích khác.

2. Khi Cơ quan Trung ương Bên này nhận được từ Cơ quan Trung ương Bên kia yêu cầu thông tin, có nêu rõ lý do, đối với một trường hợp cụ thể, Cơ quan Trung ương đó tiến hành những biện pháp thích hợp để đáp ứng yêu cầu trong chừng mực mà pháp luật cho phép. Cơ quan Trung ương đó chỉ được sử dụng các thông tin phục vụ vào mục đích đã nêu trong đơn yêu cầu và nhằm bảo vệ quyền lợi cao nhất của trẻ em. Cơ quan đó cũng bảo đảm tính bí mật của các thông tin.

15. Bảo vệ thông tin cá nhân

Tất cả các thông tin cá nhân liên quan đến việc nuôi con nuôi theo Thỏa thuận này phải được bảo vệ và giữ bí mật trong chừng mực pháp luật hiện hành của Việt Nam và Québec quy định.

16. Bảo quản thông tin sẵn có liên quan đến nguồn gốc trẻ em

Các Bên bảo quản thông tin sẵn có liên quan đến nguồn gốc của trẻ em, tình trạng sức khỏe trước đây và hoàn cảnh gia đình. Việc tiếp cận thông tin trên phải tuân thủ các điều kiện theo quy định pháp luật mỗi Bên.

17. Thực hiện Thỏa thuận

1. Việt Nam và Québec hợp tác nhằm thực hiện tốt Thỏa thuận này. Để thực hiện tốt, các Bên thành lập nhóm công tác hỗn hợp bao gồm đại diện của các Cơ quan Trung ương. Các đại diện của cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi ở Việt Nam và Québec và tổ chức được cấp phép của Québec có thể được mời, nếu cần thiết, tham gia các cuộc họp nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam và Québec.

2. Nhóm công tác hỗn hợp nhóm họp ít nhất hai năm một lần, theo cơ chế luân phiên tại Việt Nam và Québec, nhằm xem xét việc thực hiện Thỏa thuận này và đánh giá kết quả thực hiện, đề xuất giải quyết các vấn đề khó khăn có thể xảy ra.

3. Các Bên thông tin cho nhau về việc thực hiện Thỏa thuận và có các quy định cần thiết để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện, nếu có.

Chương 6

NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG

18. Miễn hợp pháp hóa

Các giấy tờ, tài liệu nhằm sử dụng cho việc nuôi con nuôi do các cơ quan có thẩm quyền của Bên này lập và chuyển cho Cơ quan Trung ương hoặc các cơ quan có thẩm quyền của Bên kia được miễn hợp pháp hóa lãnh sự.

19. Ngôn ngữ liên hệ

Các Cơ quan Trung ương trao đổi trực tiếp với nhau bằng ngôn ngữ của mỗi Bên.

20. Sửa đổi

1. Các Bên có thể sửa đổi Thỏa thuận này thông qua việc trao đổi công hàm, trong đó nói rõ ngày có hiệu lực của những sửa đổi đó. Tuy nhiên, những sửa đổi do hai Bên thống nhất không được ảnh hưởng tới các hồ sơ xin con nuôi đang được giải quyết.

2. Trong thời hạn ba tháng trước khi áp dụng Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, đối với những trường hợp nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người xin con nuôi Québec, các Bên sẽ xem xét lại các quy định của Thỏa thuận này.

3. Sau khi Công ước La Hay có hiệu lực tại Việt Nam và Québec, những quy định nào của Thỏa thuận này không phù hợp với Công ước sẽ bị đình chỉ áp dụng cho tới khi các quy định sửa đổi trong Thỏa thuận có hiệu lực.

21. Hiệu lực

Mỗi Bên thông báo cho nhau việc hoàn tất các thủ tục theo quy định trong nước để Thỏa thuận này có hiệu lực. Thỏa thuận này sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai sau khi nhận được văn bản thông báo sau cùng.

22. Thời hạn

1. Thỏa thuận này được ký kết cho thời hạn 5 năm và được mặc nhiên gia hạn mỗi lần 5 năm, trừ trường hợp ít nhất 6 tháng trước khi Thỏa thuận hết hiệu lực, một Bên thông báo cho Bên kia bằng văn bản ý định chấm dứt hiệu lực của Thỏa thuận này.

Thỏa thuận có thể bị chấm dứt vào bất kỳ thời điểm nào nếu một Bên chuyển cho Bên kia văn bản về ý định chấm dứt. Thỏa thuận sẽ chấm dứt vào ngày đầu tiên của tháng thứ sáu sau ngày nhận đựơc ý kiến trên.

2. Trong trường hợp chấm dứt hoặc không gia hạn Thỏa thuận, các Bên sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết để hoàn tất tất cả các hồ sơ xin con nuôi được Cơ quan Trung ương Québec hoặc tổ chức được cấp phép nộp tại Cơ quan Trung ương Việt Nam, trong khuôn khổ của Thỏa thuận này.

Để làm bằng, đại diện của các Bên đã ký Thỏa thuận này.

Làm tại Québec, ngày 15 tháng 9 năm 2005, thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau./.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ QUÉBEC
BỘ TRƯỞNG BỘ ĐỐI NGOẠI QUÉBEC
MONIQUE GAGNON – TREMBLAY
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ VÀ CÁC
DỊCH VỤ XÃ HỘI

Philippe Couillard
THAY MẶT CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐẠI SỨ ĐẶC MỆNH TOÀN QUYỀN VIỆT NAM TẠI CA-NA-ĐA

Nguyễn Thị Hồi

HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

1.1. Hợp đồng trong hoạt động xây dựng là hợp đồng dân sự.
Hợp đồng trong hoạt động xây dựng (sau đây gọi tắt là hợp đồng xây dựng) là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng. Hợp đồng xây dựng là văn bản pháp lý ràng buộc quyền và nghĩa vụ các bên tham gia hợp đồng; Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng được giải quyết trên cơ sở hợp đồng đã ký kết có hiệu lực pháp luật; Các tranh chấp chưa được thoả thuận trong hợp đồng thì giải quyết trên cơ sở qui định của pháp luật có liên quan.

1.2. Bên giao thầu là chủ đầu tư hoặc tổng thầu hoặc nhà thầu chính.

1.3. Bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính khi bên giao thầu là chủ đầu tư; là nhà thầu phụ khi bên giao thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính.

2. Phạm vi và đối tượng áp dụng

2.1. Phạm vi áp dụng

Các công việc xây dựng, các gói thầu thuộc dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng các nguồn vốn Nhà nước bao gồm: vốn ngân sách Nhà nước (kể cả vốn hỗ trợ phát triển chính thức gọi tắt là ODA); vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn đầu tư khác của Nhà nước.

Đối với các loại Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT), trong quá trình đầu tư xây dựng công trình, tuỳ theo mức độ tham gia góp vốn, chủ đầu tư các dự án nghiên cứu áp dụng hoặc vận dụng theo các hướng dẫn tại Thông tư này.

Đối với hợp đồng thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA, nếu điều ước Quốc tế mà cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có những qui định khác với các qui định tại Thông tư này thì thực hiện theo các qui định tại Điều ước Quốc tế đó.

2.2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với bên giao thầu và bên nhận thầu là tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có đủ điều kiện năng lực hoạt động, năng lực hành nghề khi tham gia ký kết hợp đồng thực hiện các hoạt động xây dựng tại Việt Nam.

Khuyến khích các tổ chức, cá nhân liên quan đến hợp đồng trong hoạt động xây dựng của các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng các nguồn vốn khác áp dụng các qui định trong Thông tư này.

3. Nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng

3.1. Hợp đồng được ký kết trên nguyên tắc: tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực, không được trái pháp luật, đạo đức xã hội và các thoả thuận phải được ghi trong hợp đồng.

3.2. Hợp đồng xây dựng chỉ được ký kết sau khi bên giao thầu hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu theo qui định và các bên tham gia đã kết thúc quá trình đàm phán hợp đồng.

3.3. Tuỳ thuộc vào mức độ phức tạp của hợp đồng, các bên tham gia hợp đồng có thể áp dụng các qui định tại Thông tư này để soạn thảo, đàm phán, ký kết hợp đồng. Đối với hợp đồng của các công việc, gói thầu đơn giản, qui mô nhỏ thì tất cả các nội dung liên quan đến hợp đồng các bên có thể ghi ngay trong hợp đồng. Đối với các hợp đồng của các gói thầu thuộc các dự án phức tạp, qui mô lớn thì các nội dung của hợp đồng có thể tách riêng thành điều kiện chung và điều kiện riêng (điều kiện cụ thể) của hợp đồng.

Điều kiện chung của hợp đồng là tài liệu qui định quyền, nghĩa vụ cơ bản và mối quan hệ của các bên hợp đồng.

Điều kiện riêng của hợp đồng là tài liệu để cụ thể hoá, bổ sung một số qui định của điều kiện chung áp dụng cho hợp đồng.

3.4. Giá hợp đồng (giá ký kết hợp đồng) không vượt giá trúng thầu (đối với trường hợp đấu thầu), không vượt dự toán gói thầu được duyệt (đối với trường hợp chỉ định thầu), trừ trường hợp khối lượng phát sinh ngoài gói thầu được Người có thẩm quyền cho phép.

3.5. Chủ đầu tư hoặc đại diện của chủ đầu tư được ký hợp đồng với một hay nhiều nhà thầu chính để thực hiện công việc. Trường hợp chủ đầu tư ký hợp đồng với nhiều nhà thầu chính thì nội dung của các hợp đồng này phải bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong quá trình thực hiện các công việc của hợp đồng để bảo đảm tiến độ, chất lượng của dự án.

3.6. Nhà thầu chính được ký hợp đồng với một hoặc một số nhà thầu phụ, nhưng các nhà thầu phụ này phải được chủ đầu tư chấp thuận, các hợp đồng thầu phụ này phải thống nhất, đồng bộ với hợp đồng mà nhà thầu chính đã ký với chủ đầu tư. Nhà thầu chính phải chịu trách nhiệm với chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng các công việc đã ký kết, kể cả các công việc do nhà thầu phụ thực hiện.

3.7. Trường hợp là nhà thầu liên danh thì các thành viên trong liên danh phải có thoả thuận liên danh, trong hợp đồng phải có chữ ký của tất cả các thành viên tham gia liên danh; Trường hợp, các thành viên trong liên danh thoả thuận uỷ quyền cho một nhà thầu đứng đầu liên danh ký hợp đồng trực tiếp với bên giao thầu, thì nhà thầu đứng đầu liên danh ký hợp đồng với bên giao thầu. 

3.8. Bên giao thầu, bên nhận thầu có thể cử đại diện để đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng:

– Người đại diện để đàm phán hợp đồng của các bên phải được toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong quá trình đàm phán hợp đồng. Trường hợp có những nội dung cần phải xin ý kiến của cấp có thẩm quyền thì các nội dung này phải được ghi trong biên bản đàm phán hợp đồng.

– Người đại diện để ký kết và thực hiện hợp đồng của các bên phải được toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trường hợp có những nội dung cần phải xin ý kiến của cấp có thẩm quyền thì các nội dung này phải được ghi trong hợp đồng.

4. Các loại hợp đồng trong hoạt động xây dựng

Tuỳ theo quy mô, tính chất, điều kiện thực hiện của dự án đầu tư xây dựng công trình, loại công việc, các mối quan hệ của các bên, hợp đồng trong hoạt động xây dựng có thể có nhiều loại với nội dung khác nhau.

4.1. Hợp đồng tư vấn xây dựng

Là hợp đồng xây dựng để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động xây dựng như: lập quy hoạch xây dựng; lập dự án đầu tư xây dựng công trình; khảo sát xây dựng; thiết kế xây dựng công trình; lựa chọn nhà thầu; giám sát thi công xây dựng công trình; quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình; thẩm tra thiết kế, tổng dự toán, dự toán và các hoạt động tư vấn khác có liên quan đến xây dựng công trình.

Hợp đồng tư vấn thực hiện toàn bộ công việc thiết kế xây dựng công trình của dự án là hợp đồng tổng thầu thiết kế.

4.2. Hợp đồng cung ứng vật tư, thiết bị xây dựng

Là hợp đồng xây dựng để thực hiện việc cung ứng vật tư, thiết bị nằm trong dây chuyền công nghệ được lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ cho dự án đầu tư xây dựng công trình.

4.3. Hợp đồng thi công xây dựng

Là hợp đồng xây dựng để thực hiện việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc xây dựng theo thiết kế xây dựng công trình.

Hợp đồng xây dựng thực hiện toàn bộ công việc thi công xây dựng công trình của dự án là hợp đồng tổng thầu thi công xây dựng công trình.

Hợp đồng thực hiện toàn bộ công việc thiết kế và thi công xây dựng công trình của dự án là hợp đồng tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình.

4.4. Hợp đồng thiết kế – cung ứng vật tư, thiết bị – thi công xây dựng (viết tắt theo tiếng Anh là EPC)

Hợp đồng EPC là hợp đồng xây dựng để thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình.

4.5. Hợp đồng chìa khoá trao tay

Là hợp đồng xây dựng để thực hiện trọn gói toàn bộ các công việc lập dự án, thiết kế, cung ứng vật tư, thiết bị và thi công xây dựng công trình.

5. Quản lý thực hiện hợp đồng

Bên giao thầu, bên nhận thầu, trong phạm vi quyền và nghĩa vụ của mình có trách nhiệm lập kế hoạch và biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp với nội dung của hợp đồng đã ký kết nhằm đạt được các thoả thuận trong hợp đồng. Nội dung quản lý thực hiện hợp đồng của các bên tham gia hợp đồng bao gồm: quản lý về chất lượng, tiến độ của công việc; khối lượng và quản lý giá hợp đồng; quản lý về an toàn lao động, vệ sinh môi trường và phòng chống cháy nổ; quản lý thay đổi và điều chỉnh hợp đồng, các nội dung khác được qui định trong hợp đồng xây dựng nhằm đạt được mục đích của hợp đồng đã ký kết.

Việc giám sát thực hiện hợp đồng thực hiện theo khoản 1, Điều 59 của Luật Đấu thầu.

Phần II. HỒ SƠ VÀ NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
1. Hồ sơ hợp đồng xây dựng

Hồ sơ hợp đồng xây dựng bao gồm hợp đồng xây dựng, các tài liệu kèm theo và tài liệu bổ sung trong quá trình thực hiện hợp đồng (sau đây gọi là tài liệu kèm theo hợp đồng).

Các tài liệu kèm theo hợp đồng là bộ phận không tách rời của hợp đồng xây dựng. Tuỳ theo qui mô, tính chất công việc, tài liệu kèm theo hợp đồng xây dựng có thể bao gồm toàn bộ hay một phần các tài liệu sau:

1.1. Thông báo trúng thầu hoặc văn bản chỉ định thầu;
1.2. Điều kiện hợp đồng (điều kiện chung và điều kiện riêng của hợp đồng);
1.3. Đề xuất của nhà thầu;
1.4. Các chỉ dẫn kỹ thuật, điều kiện tham chiếu;
1.5. Các bản vẽ thiết kế;
1.6. Các sửa đổi, bổ sung bằng văn bản, biên bản đàm phán hợp đồng;
1.7. Bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền tạm ứng và các loại bảo lãnh khác, nếu có;
1.8. Các tài liệu khác có liên quan.

Tuỳ từng hợp đồng cụ thể các bên tham gia hợp đồng thoả thuận thứ tự ưu tiên khi áp dụng các tài liệu hợp đồng nếu giữa các tài liệu này có các qui định mâu thuẫn khác nhau.

2. Nội dung của hợp đồng xây dựng

Tùy theo qui mô, đặc điểm, tính chất của từng công trình, từng gói thầu, từng công việc và từng loại hợp đồng xây dựng cụ thể mà hợp đồng xây dựng có thể bao gồm toàn bộ hay một phần các nội dung cơ bản sau: Thông tin về hợp đồng và các bên tham gia ký kết hợp đồng; Các định nghĩa và diễn giải; Luật và ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng; Loại tiền thanh toán; Khối lượng công việc; Giá hợp đồng xây dựng; Tạm ứng hợp đồng xây dựng; Thanh toán hợp đồng xây dựng; Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng; Tiến độ thực hiện và thời hạn hoàn thành công việc; Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng; Quyền và nghĩa vụ chung của bên nhận thầu; Quyền và nghĩa vụ chung của bên giao thầu; Nhà thầu phụ do chủ đầu tư chỉ định (nếu có); Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghiệm thu các công việc hoàn thành; Bảo hiểm và bảo hành công trình; Bảo vệ môi trường, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ; Điện, nước và an ninh công trường; Trách nhiệm đối với các sai sót; Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi bên giao thầu và bên nhận thầu; Rủi ro và trách nhiệm; Bất khả kháng; Thưởng, phạt vi phạm hợp đồng ; Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng; Quyết toán hợp đồng xây dựng; Thanh lý hợp đồng xây dựng.

2.1. Thông tin về hợp đồng và các bên tham gia ký kết hợp đồng

Trong hợp đồng phải ghi đầy đủ thông tin chung về hợp đồng và thông tin về các bên tham gia ký kết hợp đồng.

2.1.1. Thông tin chung về hợp đồng bao gồm: Số hợp đồng, tên gói thầu, tên dự án và các căn cứ ký kết hợp đồng;

2.1.2. Thông tin về các bên tham gia ký kết hợp đồng bao gồm : Tên giao dịch của bên tham gia ký kết hợp đồng; Đại diện của các bên; Địa chỉ đăng ký kinh doanh hay địa chỉ để giao dịch; Mã số thuế, giấy đăng ký kinh doanh, số tài khoản; Điện thoại, fax, e-mail; Giấy uỷ quyền (nếu ký theo uỷ quyền); Thời gian ký kết hợp đồng; Các thông tin liên quan khác.

2.2. Các định nghĩa và diễn giải

Một số từ ngữ cần phải được định nghĩa để áp dụng cho hợp đồng nhằm không hiểu theo nghĩa khác, thuận tiện, dễ hiểu trong soạn thảo, đàm phán và thực hiện hợp đồng, có thể bao gồm định nghĩa các từ ngữ sau: hợp đồng; thoả thuận hợp đồng; thư chấp thuận; thư dự thầu; đặc tính – tiêu chuẩn – thuyết minh kỹ thuật; bản vẽ; hồ sơ dự thầu; phụ lục của hồ sơ dự thầu; bảng tiên lượng và hao phí ngày công (nếu có); bên và các bên; chủ đầu tư; nhà thầu; nhà tư vấn; đại diện của chủ đầu tư; đại diện của nhà thầu; nhà thầu phụ, …

Trường hợp các từ ngữ này có nghĩa khác khi sử dụng cho từng điều, điều khoản, điều kiện cụ thể thì phải diễn giải nghĩa của các từ ngữ này trong điều, điều khoản, điều kiện đó.

2.3. Luật và ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng

2.3.1. Luật áp dụng: Hợp đồng chịu sự điều tiết của hệ thống Luật của Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đối với các dự án sử dụng vốn ODA thì thực hiện theo qui định tại điểm 2.1 Phần I của Thông tư này.

2.3.2. Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng: Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng là tiếng Việt. Trường hợp hợp đồng có sự tham gia của phía nước ngoài thì ngôn ngữ sử dụng là tiếng Việt và tiếng Anh.

2.4. Loại tiền thanh toán

Trong hợp đồng phải qui định rõ đồng tiền sử dụng để thanh toán. Có thể thanh toán bằng nhiều đồng tiền khác nhau trong cùng một hợp đồng trên nguyên tắc: thanh toán bằng đồng tiền chào thầu phù hợp với hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu. Phương thức thanh toán có thể là chuyển khoản, tiền mặt, điện chuyển khoản, … nhưng phải qui định cụ thể trong hợp đồng.

2.5. Khối lượng công việc

Trong hợp đồng cần mô tả rõ khối lượng, phạm vi công việc phải thực hiện. Khối lượng và phạm vi công việc được xác định căn cứ vào hồ sơ yêu cầu của chủ đầu tư (bên giao thầu) hoặc hồ sơ mời thầu và biên bản làm rõ các yêu cầu của chủ đầu tư ( bên giao thầu, nếu có), biên bản đàm phán có liên quan giữa các bên.

2.6. Giá hợp đồng xây dựng

Giá hợp đồng là khoản kinh phí bên giao thầu cam kết trả cho bên nhận thầu để thực hiện khối lượng công việc theo yêu cầu về chất lượng, tiến độ và các yêu cầu khác qui định trong hợp đồng xây dựng.

Trong hợp đồng các bên phải ghi rõ nội dung của giá hợp đồng, trong đó cần thể hiện các khoản thuế, phí, trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, phí có liên quan.

Các bên căn cứ hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và kết quả đàm phán hợp đồng để xác định giá hợp đồng. Giá hợp đồng có các hình thức sau:

2.6.1. Giá hợp đồng trọn gói (hình thức trọn gói và hình thức theo tỷ lệ phần trăm quy định trong Luật Đấu thầu): là giá hợp đồng xây dựng không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng đối với các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết, trừ các trường hợp được phép điều chỉnh có qui định trong hợp đồng (nếu có).

Giá hợp đồng trọn gói áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu đã xác định rõ về khối lượng, chất lượng, thời gian thực hiện hoặc trong một số trường hợp không xác định được khối lượng và bên nhận thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài liệu để tính toán, xác định giá trọn gói và chấp nhận các rủi ro liên quan đến việc xác định giá trọn gói.

Tất cả các loại hợp đồng xây dựng đều có thể áp dụng giá hợp đồng trọn gói khi đủ điều kiện xác định giá hợp đồng trước khi ký kết, kể cả hình thức giá hợp đồng xác định theo tỷ lệ (%) giá trị công trình hoặc khối lượng công việc tư vấn thông thường.

2.6.2. Giá hợp đồng theo đơn giá cố định (hình thức theo đơn giá và hình thức theo thời gian quy định trong Luật Đấu thầu): là giá hợp đồng xây dựng được xác định trên cơ sở khối lượng công việc tạm tính và đơn giá từng công việc trong hợp đồng là cố định và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ các trường hợp được phép điều chỉnh qui định trong hợp đồng (nếu có).

Giá hợp đồng theo đơn giá cố định áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu không đủ điều kiện xác định chính xác về khối lượng nhưng đủ điều kiện xác định về các đơn giá thực hiện công việc và bên nhận thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, tài liệu để tính toán, xác định đơn giá xây dựng công trình cố định và các rủi ro liên quan đến việc xác định đơn giá. Đơn giá cố định không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ các trường hợp được phép điều chỉnh đã ghi rõ trong hợp đồng.

Đơn giá cố định có thể là đơn giá đầy đủ đối với các công việc thi công xây dựng, đơn giá nhân công theo thời gian (tháng, tuần, ngày hoặc giờ) đối với một số công việc tư vấn.

2.6.3. Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh: là giá hợp đồng xây dựng mà khối lượng công việc và đơn giá cho công việc trong hợp đồng được phép điều chỉnh trong các trường hợp được qui định tại hợp đồng xây dựng.

Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu mà ở thời điểm ký kết hợp đồng xây dựng không đủ điều kiện xác định chính xác về khối lượng công việc cần thực hiện hoặc các yếu tố chi phí để xác định đơn giá thực hiện các công việc.

Giá hợp đồng theo giá điều chỉnh (tại thời điểm ký kết giá hợp đồng chỉ là tạm tính) sẽ được điều chỉnh thay đổi khi có đủ điều kiện xác định khối lượng, đơn giá thực hiện theo qui định trong hợp đồng.

2.6.4. Giá hợp đồng kết hợp: là giá hợp đồng được xác định theo các hình thức qui định tại điểm 2.6.1, 2.6.2 và 2.6.3 nêu trên.

Giá hợp đồng kết hợp áp dụng cho các công trình hoặc gói thầu có qui mô lớn, kỹ thuật phức tạm và thời gian thực hiện kéo dài. Bên giao thầu và bên nhận thầu căn cứ vào các loại công việc trong hợp đồng để thoả thuận, xác định các loại công việc áp dụng theo giá hợp đồng trọn gói, giá hợp đồng theo đơn giá cố định hay giá hợp đồng theo giá điều chỉnh cho phù hợp.

2.7. Tạm ứng hợp đồng xây dựng

Tạm ứng hợp đồng là khoản kinh phí mà bên giao thầu ứng trước cho bên nhận thầu để triển khai thực hiện các công việc theo hợp đồng.

Việc tạm ứng vốn đầu tư xây dựng công trình phải được qui định trong hợp đồng xây dựng và thực hiện ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực và sau khi bên giao thầu đã nhận được bảo đảm thực hiện hợp đồng (đối với trường hợp qui định phải có bảo đảm thực hiện hợp đồng theo điểm 2.11). Hợp đồng xây dựng phải qui định cụ thể về mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng, số lần tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng. Mức tạm ứng được qui định như sau:

– Đối với hợp đồng tư vấn, mức tạm ứng vốn tối thiểu là 25% giá hợp đồng;

– Đối với hợp đồng thi công xây dựng, mức tạm ứng vốn tối thiểu là 10% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị trên 50 tỷ đồng; tối thiểu 15% đối với hợp đồng có giá trị từ 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng và tối thiểu 20% đối với các hợp đồng có giá trị dưới 10 tỷ đồng;

– Đối với hợp đồng cung ứng vật tư, thiết bị tuỳ theo giá trị hợp đồng nhưng mức tạm ứng không thấp hơn 10% giá hợp đồng;

– Đối với hợp đồng thực hiện theo hình thức EPC, việc tạm ứng vốn để mua thiết bị được căn cứ theo tiến độ cung ứng trong hợp đồng; các công việc khác như thiết kế, xây dựng mức tạm ứng tối thiểu là 15% giá trị công việc đó trong hợp đồng.

– Đối với công việc giải phóng mặt bằng thực hiện theo kế hoạch giải phóng mặt bằng;

Vốn tạm ứng được thu hồi dần qua các lần thanh toán, việc thu hồi vốn tạm ứng được bắt đầu ngay khi thanh toán lần đầu và kết thúc khi khối lượng đã thanh toán đạt 80% giá trị hợp đồng. Đối với các công việc giải phóng mặt bằng, việc thu hồi vốn tạm ứng kết thúc sau khi đã thực hiện xong công việc giải phóng mặt bằng.

Các bên giao thầu, bên nhận thầu thống nhất kế hoạch tạm ứng và thu hồi vốn để sản xuất trước các cấu kiện, bán thành phẩm có giá trị lớn đảm bảo cho việc thi công hoặc mua một số vật tư phải dự trữ theo mùa.

Tuỳ theo quy mô, tính chất công việc trong hợp đồng, bên nhận thầu có thể đề xuất mức tạm ứng thấp hơn mức tạm ứng quy định trên.

2.8. Thanh toán hợp đồng xây dựng

2.8.1. Việc thanh toán hợp đồng phải phù hợp với loại hợp đồng, giá hợp đồng và các điều kiện trong hợp đồng mà các bên tham gia hợp đồng đã ký kết. Số lần thanh toán, giai đoạn thanh toán, thời điểm thanh toán và điều kiện thanh toán phải được ghi rõ trong hợp đồng.

2.8.2. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng trọn gói: việc thanh toán được thực hiện theo tỷ lệ (%) giá hợp đồng hoặc giá công trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc hoàn thành tương ứng với các giai đoạn thanh toán được ghi trong hợp đồng sau khi đã có hồ sơ thanh toán được kiểm tra, xác nhận của bên giao thầu. Bên nhận thầu được thanh toán toàn bộ giá hợp đồng đã ký với bên giao thầu và các khoản tiền được điều chỉnh giá (nếu có) sau khi hoàn thành hợp đồng và được nghiệm thu.

2.8.3. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng theo đơn giá cố định: việc thanh toán được thực hiện trên cơ sở khối lượng các công việc hoàn thành (kể cả khối lượng phát sinh (nếu có) được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán và đơn giá tương ứng với các công việc đó đã ghi trong hợp đồng hoặc phụ lục bổ sung trong hợp đồng.

2.8.4. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng theo giá điều chỉnh: việc thanh toán được thực hiện trên cơ sở khối lượng các công việc hoàn thành (kể cả khối lượng phát sinh (nếu có) được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán và đơn giá đã điều chỉnh theo qui định của hợp đồng. Trường hợp đến giai đoạn thanh toán chưa đủ điều kiện điều chỉnh đơn giá thì sử dụng đơn giá tạm tính khi ký kết hợp đồng để tạm thanh toán và điều chỉnh giá trị thanh toán khi có đơn giá điều chỉnh theo đúng qui định của hợp đồng.

2.8.5. Thanh toán hợp đồng đối với giá hợp đồng kết hợp: việc thanh toán thực hiện tương ứng với các qui định tại điểm 2.8.2, 2.8.3, 2.8.4 nêu trên.

2.8.6. Tuỳ theo qui mô, tính chất của gói thầu, công trình, hạng mục công trình; loại hợp đồng, giá hợp đồng mà các bên có thể thoả thuận thanh toán làm một lần hoặc nhiều lần. Trường hợp thanh toán làm nhiều lần, thì trong hợp đồng phải có qui định cụ thể về tiến độ thanh toán (có thể theo thời gian, tỷ lệ (%) hoặc theo khối lượng hoàn thành) và các mức thanh toán cho các đợt thanh toán (các mốc thanh toán). Việc thanh toán phải tuân theo các qui định của tiến độ thanh toán này; Trường hợp tiến độ thực hiện công việc thực tế chậm hơn tiến độ thanh toán, căn cứ vào đó bên giao thầu có thể đồng ý hoặc xác định các mức thanh toán sửa đổi có tính đến phạm vi, mức độ mà tiến độ thực hiện công việc thực tế đang chậm hơn so với tiến độ thực hiện công việc đã được xác định trong hợp đồng.

2.8.7. Hồ sơ thanh toán hợp đồng xây dựng

Trình tự, thủ tục, tài liệu, chứng nhận cần thiết trong hồ sơ thanh toán phải được ghi rõ trong hợp đồng (kể cả các biểu mẫu). Hồ sơ thanh toán do bên nhận thầu lập phù hợp với các biểu mẫu theo qui định của hợp đồng. Nội dung hồ sơ thanh toán bao gồm các tài liệu chủ yếu:

Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng trọn gói:

+ Biên bản nghiệm thu (biên bản nghiệm thu chất lượng, khối lượng): Tuỳ từng giai đoạn thanh toán mà có thể bao gồm một hoặc các loại biên bản nghiệm thu công trình, hạng mục công trình, khối lượng công việc hoàn thành cho giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu, nhưng không cần xác nhận khối lượng hoàn thành chi tiết. Hồ sơ hoàn công của các công việc được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán (nếu có);

+ Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng (theo phụ lục số 2);

+ Bảng xác định giá trị khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu (theo phụ lục số 4);

+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (theo phụ lục số 1) cần thể hiện các nội dung: Giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng, giá trị khối lượng các công việc phát sinh ngoài hợp đồng (nếu có), chiết khấu tiền tạm ứng, giá trị thanh toán sau khi đã bù trừ các khoản trên.

Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng theo đơn giá cố định:

+ Hồ sơ hoàn công của các công việc được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán; Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành (biên bản nghiệm thu chất lượng, khối lượng) tương ứng với các công việc theo hợp đồng đã ký cho giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu;

+ Bảng xác định giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng (phụ lục số 2);

+ Bảng xác định giá trị khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng (phụ lục số 4);

+ Bảng xác định đơn giá điều chỉnh theo qui định của hợp đồng (nếu có) (phụ lục số 3) có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu;

+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (phụ lục số 1) cần thể hiện các nội dung: Giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng, giá trị khối lượng các công việc phát sinh ngoài hợp đồng, chiết khấu tiền tạm ứng, giá trị thanh toán sau khi đã bù trừ các khoản trên.

Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng theo giá điều chỉnh:

+ Hồ sơ hoàn công của các công việc được nghiệm thu trong giai đoạn thanh toán; Biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành (biên bản nghiệm thu chất lượng, khối lượng) tương ứng với các công việc theo hợp đồng đã ký cho giai đoạn thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu;

+ Bảng xác định đơn giá điều chỉnh theo qui định của hợp đồng (theo phụ lục số 3) có xác nhận của đại diện bên giao thầu hoặc đại diện nhà tư vấn (nếu có) và đại diện bên nhận thầu;

+ Bảng xác định giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng (theo phụ lục số 2);

+ Bảng tính giá trị đề nghị thanh toán (theo phụ lục số 1) cần thể hiện các nội dung: Giá trị khối lượng hoàn thành theo hợp đồng, chiết khấu tiền tạm ứng, giá trị thanh toán sau khi đã bù trừ các khoản trên.

Hồ sơ thanh toán đối với giá hợp đồng kết hợp các loại giá: thực hiện theo các qui định tương ứng về hồ sơ thanh toán cho từng loại giá hợp đồng nêu trên.

2.8.8. Thời hạn thanh toán

Trong hợp đồng các bên phải qui định thời hạn bên giao thầu phải thanh toán cho bên nhận thầu sau khi đã nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ theo qui định của hợp đồng nhưng không được vượt quá 10 ngày làm việc.

Đối với các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thanh toán hợp lệ của nhà thầu, chủ đầu tư phải hoàn thành các thủ tục và chuyển đề nghị thanh toán tới cơ quan cấp phát, cho vay vốn. Trong năm kết thúc xây dựng hoặc năm đưa công trình vào sử dụng, chủ đầu tư phải thanh toán cho nhà thầu giá trị công việc hoàn thành trừ khoản tiền giữ lại để bảo hành công trình theo qui định.

2.8.9. Thanh toán bị chậm trễ

Trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể việc bồi thường về tài chính cho các khoản thanh toán bị chậm trễ tương ứng với các mức độ chậm trễ; mức bồi thường đối với mỗi mức độ chậm trễ là khác nhau, nhưng mức bồi thường lần đầu không nhỏ hơn lãi suất do Ngân hàng thương mại qui định tương ứng đối với từng thời kỳ.

2.8.10. Thanh toán tiền bị giữ lại

Trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể cho việc thanh toán tiền bị giữ lại khi bên nhận thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo qui định của hợp đồng như: các khoản tiền còn lại của các lần tạm thanh toán trước đó hay bất kỳ khoản thanh toán nào mà bên giao thầu chưa thanh toán cho bên nhận thầu kể cả tiền bảo hành công trình (nếu có).

2.9. Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng

2.9.1. Việc điều chỉnh giá hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng và phù hợp với hồ sơ mời thầu, hồ sơ dự thầu và kết quả đàm phán hợp đồng. Trong hợp đồng các bên qui định rõ các trường hợp được điều chỉnh hợp đồng, phương pháp, cách thức, phạm vi điều chỉnh giá hợp đồng.

2.9.2. Giá hợp đồng có thể được điều chỉnh một trong các trường hợp sau:

– Bổ sung công việc ngoài phạm vi qui định trong hợp đồng đã ký kết;

– Khi ký kết hợp đồng có sử dụng đơn giá tạm tính đối với những công việc hoặc khối lượng công việc mà ở thời điểm ký hợp đồng bên giao thầu và bên nhận thầu chưa đủ điều kiện xác định chính xác đơn giá và đồng ý điều chỉnh khi có đủ điều kiện;

– Khi khối lượng phát sinh lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng mà nhà thầu phải thực hiện theo hợp đồng thì xem xét điều chỉnh đơn giá của khối lượng phát sinh đó;

– Các đơn giá mà bên giao thầu và bên nhận thầu đồng ý xem xét, điều chỉnh lại sau khoảng thời gian nhất định kể từ khi thực hiện hợp đồng;

– Trường hợp giá nhiên liệu, vật tư, thiết bị nêu trong hợp đồng có biến động lớn, ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện hợp đồng hoặc khi Nhà nước thay đổi các chính sách có liên quan thì phải báo cáo Người có thẩm quyền xem xét quyết định;

– Do các trường hợp bất khả kháng qui định trong hợp đồng;

– Các khoản trượt giá đã qui định trong hợp đồng. Các căn cứ để tính trượt giá được xác định vào thời điểm 28 ngày trước ngày nhà thầu nộp hồ sơ thanh toán;

2.9.3. Phương pháp điều chỉnh giá hợp đồng

Khi điều chỉnh giá hợp đồng thì khối lượng công việc thanh toán được xác định trên cơ sở khối lượng các công việc hoàn thành được nghiệm thu, đơn giá thanh toán các công việc được xác định theo các điều khoản trong hợp đồng như việc xác định lại đơn giá hoặc điều chỉnh lại đơn giá trong hợp đồng theo hệ số điều chỉnh. Có thể tham khảo một hoặc kết hợp các phương pháp sau để điều chỉnh giá hợp đồng:

– Sử dụng các chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng, các Tổ chức tư vấn, Tổng cục Thống kê công bố;

– Phương pháp tính toán bù trừ trực tiếp;

– Công thức xác định hệ số điều chỉnh như Phụ lục số 5 kèm theo Thông tư này.

2.10. Tiến độ thực hiện và thời hạn hoàn thành công việc

2.10.1. Trong hợp đồng, các bên phải ghi rõ thời gian bắt đầu, kết thúc hợp đồng.

2.10.2. Bên nhận thầu có trách nhiệm lập tiến độ chi tiết trình bên giao thầu chấp thuận làm căn cứ thực hiện hợp đồng.

2.10.3. Các bên tham gia hợp đồng phải qui định cụ thể các tình huống và việc xử lý các tình huống có thể được kéo dài thời hạn hoàn thành công việc, ngoài những tình huống này các bên không được tự ý kéo dài thời hạn hoàn thành.

2.10.4. Các bên phải thoả thuận cụ thể về mức độ và phương thức xử lý những thiệt hại về việc chậm tiến độ do các bên gây ra.

2.11. Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng

2.11.1. Bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng là việc nhà thầu thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lónh để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng xây dựng của nhà thầu trúng thầu trong thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu.

2.11.2. Nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng trước khi hợp đồng xây dựng có hiệu lực, trừ lĩnh vực đấu thầu cung cấp dịch vụ tư vấn và hỡnh thức tự thực hiện.

2.11.3. Giá trị bảo đảm thực hiện hợp đồng được quy định trong hồ sơ mời thầu và tối đa bằng 10% giá hợp đồng xây dựng; trường hợp để phũng ngừa rủi ro cao thỡ giỏ trị bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng phải cao hơn nhưng không quá 30% giá hợp đồng xây dựng và phải được Người có thẩm quyền cho phép.

2.11.4. Thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng phải kéo dài cho đến khi chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành, nếu có.

2.11.5. Nhà thầu không được nhận lại bảo đảm thực hiện hợp đồng xây dựng trong trường hợp từ chối thực hiện hợp đồng xây dựng sau khi hợp đồng có hiệu lực.

2.12. Quyền và nghĩa vụ chung của bên nhận thầu

Tuỳ theo qui mô, tính chất công việc mà trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể về trách nhiệm chung của bên nhận thầu như:

2.12.1. Đại diện bên nhận thầu

Bên nhận thầu có thể chỉ định người đại diện của mình và uỷ quyền cho họ thực hiện một số công việc nhất định nhưng phải được qui định cụ thể trong Hợp đồng.

Trường hợp đại diện bên nhận thầu không được ghi cụ thể trong Hợp đồng, thì trước ngày khởi công, bên nhận thầu phải trình cho bên giao thầu tên và các thông tin chi tiết về người đại diện, cũng như quyền hạn và trách nhiệm của họ để xem xét và chấp thuận. Khi không có sự đồng ý trước của bên giao thầu, bên nhận thầu không được bãi nhiệm người đại diện của mình hoặc bổ nhiệm người khác thay thế.

2.12.2. Nhân lực chính của bên nhận thầu

Trong hợp đồng phải qui định cụ thể các vấn đề có liên quan đến nhân lực chính của bên nhận thầu bố trí, sử dụng cho công việc như:

– Nhân lực chính của bên nhận thầu tại công trường xây dựng và tại Văn phòng của bên nhận thầu;

– Báo cáo về nhân lực và thiết bị chính của bên nhận thầu;

– Sự giám sát của bên giao thầu đối với nhân lực chính của bên nhận thầu.

2.12.3. Ngoài ra trong hợp đồng còn phải qui định quyền và nghĩa vụ chung của bên nhận thầu đối với:

– Nhà thầu phụ (nếu có);

– Việc nhượng lại lợi ích của hợp đồng thầu phụ;

– Vấn đề hợp tác giữa các bên liên quan đến việc thực hiện hợp đồng;

– Định vị các mốc;

– Các qui định về an toàn;

– Dữ liệu (điều kiện) về công trường;

– Quyền về đường đi và phương tiện;

– Trách nhiệm đối với các công trình và dân cư;

– Đường vào công trường;

– Vận chuyển hàng hoá;

– Thiết bị chính của bên nhận thầu;

– Thiết bị và vật liệu do bên giao thầu cung cấp;

– Báo cáo tiến độ;

– Việc cung cấp và sử dụng tài liệu;

– Các bản vẽ hoặc chỉ dẫn bị chậm trễ;

– Việc bên nhận thầu sử dụng tài liệu của bên giao thầu;

– Các chi tiết bí mật;

– Đồng trách nhiệm và đa trách nhiệm;

– Việc di chuyển lực lượng của bên nhận thầu ra khỏi công trường sau khi đã được nghiệm thu công trình.

– Những vấn đề khác có liên quan (cổ vật, …)

2.13. Quyền và nghĩa vụ chung của bên giao thầu

Hợp đồng phải qui định quyền và nghĩa vụ chung của bên giao thầu đối với:

2.13.1. Nhân lực chính của bên giao thầu;

2.13.2. Trách nhiệm thu xếp tài chính của bên giao thầu;

2.13.3. Việc bên giao thầu sử dụng tài liệu của bên nhận thầu;

2.13.4. Khiếu nại của bên giao thầu.

Trường hợp bên giao thầu thuê các tổ chức, cá nhân có đủ năng lực để cung cấp cho bên giao thầu các dịch vụ tư vấn nhằm thực hiện tốt các công việc, thì trong hợp đồng phải qui định các vấn đề liên quan đến nhà tư vấn như:

– Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà tư vấn;

– Uỷ quyền của nhà tư vấn;

– Chỉ dẫn của nhà tư vấn;

– Thay thế nhà tư vấn;

– Việc quyết định của nhà tư vấn.

2.14. Nhà thầu phụ do chủ đầu tư chỉ định (nếu có)

Trường hợp có những phần việc mà các bên tham gia hợp đồng thống nhất có thể sử dụng nhà thầu phụ do chủ đầu tư chỉ định để thực hiện một số phần việc nhất định nhằm đạt được mục đích cuối cùng của công việc nhưng phải được sự chấp nhận của nhà thầu chính. Khi đó, trong hợp đồng phải qui định các vấn đề có liên quan đến nhà thầu phụ được chỉ định như:

2.14.1. Định nghĩa nhà thầu phụ được chỉ định;

2.14.2. Quyền phản đối của nhà thầu chính đối với nhà thầu phụ được chỉ định;

2.14.3. Việc thanh toán cho nhà thầu phụ được chỉ định.

2.15. Quản lý chất lượng công trình xây dựng

Việc quản lý chất lượng công trình phải tuân thủ đúng các qui định của Nhà nước về quản lý chất lượng công trình xây dựng. Hợp đồng phải qui định cụ thể đối với việc quản lý chất lượng công trình, bao gồm: Quản lý chất lượng của nhà thầu (bên nhận thầu); Quản lý chất lượng của chủ đầu tư (bên giao thầu) và nhà tư vấn (bao gồm cả tư vấn khảo sát xây dựng, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát và các nhà tư vấn khác có liên quan).

2.16. Nghiệm thu các công việc hoàn thành

Trong hợp đồng phải qui định trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên đối với việc nghiệm thu toàn bộ công việc, từng phần việc và những phần công việc cần nghiệm thu trước khi chuyển qua phần công việc khác, trong đó bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

– Nội dung những công việc cần nghiệm thu (nghiệm thu từng phần, nghiệm thu toàn bộ công việc);

– Thành phần nhân sự tham gia nghiệm thu, người ký biên bản nghiệm thu;

– Biểu mẫu biên bản nghiệm thu đối với từng đối tượng nghiệm thu, trong đó có đánh giá kết quả công việc được nghiệm thu;

– Các công việc cần đo lường để thanh toán, phương pháp đo lường;

2.17. Bảo hiểm và bảo hành công trình

2.17.1. Trong hợp đồng phải qui định trách nhiệm của các bên về bảo hiểm, bao gồm các nội dung chủ yếu như: Đối tượng bảo hiểm; Mức bảo hiểm; Thời gian bảo hiểm.

2.17.2. Bảo hiểm công trình xây dựng và các tài sản thuộc quyền sở hữu của bên giao thầu sẽ do bên giao thầu mua. Trường hợp, phí bảo hiểm này đã được tính vào giá trúng thầu thì bên nhận thầu thực hiện mua bảo hiểm.

2.17.3. Bên nhận thầu phải thực hiện mua các loại bảo hiểm cần thiết để bảo đảm cho hoạt động của chính mình theo qui định của pháp luật.

2.17.4. Bên giao thầu, bên nhận thầu thống nhất và qui định trong hợp đồng về điều kiện bảo hành, thời hạn bảo hành và trách nhiệm của các bên đối với việc bảo hành công trình xây dựng. Nội dung bảo hành công trình thực hiện theo các qui định về quản lý chất lượng công trình xây dựng.

2.18. Bảo vệ môi trường, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ

Trong hợp đồng các bên phải qui định rõ yêu cầu, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi bên về bảo vệ môi trường, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ trong quá trình thực hiện công việc.

Nội dung việc bảo vệ môi trường và an toàn lao động theo qui định của Nhà nước về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình.

2.19. Điện, nước và an ninh công trường

Hợp đồng phải qui định rõ quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc cung cấp, thanh toán chi phí điện, nước và cho an ninh công trường.

2.20. Trách nhiệm đối với các sai sót

Trong hợp đồng phải qui định rõ trách nhiệm của các bên đối với các sai sót trong quá trình thực hiện công việc như:

– Việc hoàn thành các công việc còn dở dang và sửa chữa sai sót, hư hỏng;

– Chi phí cho việc sửa chữa các sai sót;

– Thời gian thông báo sai sót;

– Không sửa chữa được sai sót;

– Di chuyển công việc bị sai sót ra khỏi công trường;

– Các kiểm định thêm đối với các sai sót sau sửa chữa;

– Nguyên nhân dẫn đến các sai sót;

– Những nghĩa vụ chưa được hoàn thành theo hợp đồng.

2.21. Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng bởi bên giao thầu và bên nhận thầu

Trong hợp đồng xây dựng các bên giao thầu, bên nhận thầu phải thoả thuận và qui định cụ thể về: các tình huống được tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng, quyền được tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng của các bên; trình tự thủ tục tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng bởi các bên; Việc xác định giá trị hợp đồng tại thời điểm chấm dứt; Trách nhiệm thanh toán sau khi chấm dứt hợp đồng của các bên.

2.21.1. Bên giao thầu, bên nhận thầu được quyền tạm ngừng hợp đồng xây dựng trong các trường hợp sau:

– Do lỗi của bên giao thầu hoặc bên nhận thầu gây ra;

– Các trường hợp bất khả kháng;

– Các trường hợp khác do các bên thoả thuận.

Trong các trường hợp này, mỗi bên đều có quyền tạm ngừng hợp đồng, nhưng phải báo cho bên kia biết bằng văn bản trước một khoảng thời gian nhất định do các bên tự thoả thuận và cùng bàn bạc giải quyết để tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng xây dựng đã ký kết.

Thời gian tạm ngừng và mức đền bù thiệt hại do tạm ngừng hợp đồng xây dựng do hai bên tự thoả thuận trong hợp đồng.

2.21.2. Chấm dứt hợp đồng xây dựng bởi bên giao thầu, bên nhận thầu:

– Mỗi bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng ở mức phải huỷ bỏ hợp đồng đã được các bên thoả thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật có qui định;

– Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng mà không phải do lỗi của bên kia gây ra, thì bên chấm dứt hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia;

– Trước khi chấm dứt hợp đồng xây dựng, các bên phải thông báo cho bên kia trước một khoảng thời gian nhất định do các bên tự thoả thuận, nếu không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia, thì bên chấm dứt hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia;

– Khi hợp đồng bị chấm dứt, thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm bị chấm dứt và các bên phải hoàn trả cho nhau tài sản hoặc tiền có liên quan.

2.22. Rủi ro và trách nhiệm của các bên

Trong hợp đồng phải qui định cụ thể trách nhiệm của các bên giao nhận thầu đối với các rủi ro như: Bồi thường đối với những thiệt hại do mỗi bên gây ra cho bên kia; Xử lý rủi ro khi xảy ra của mỗi bên.

2.23. Bất khả kháng

Trong hợp đồng các bên phải qui định cụ thể về: Các trường hợp được coi là bất khả kháng như: động đất, bão, lũ, lụt, lốc, sóng thần, lở đất; chiến tranh hoặc có nguy cơ xảy ra chiến tranh; Xử lý bất khả kháng.

2.24. Thưởng, phạt vi phạm hợp đồng

Việc thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng. Tuy nhiên, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm. Nguồn tiền thưởng được trích từ phần lợi nhuận do việc sớm đưa công trình bảo đảm chất lượng vào sử dụng, khai thác hoặc từ việc tiết kiệm hợp lý các khoản chi phí để thực hiện hợp đồng.

2.25. Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng

Trong trường hợp xảy ra tranh chấp hợp đồng xây dựng, các bên có trách nhiệm thương lượng giải quyết. Trường hợp không đạt được thoả thuận giữa các bên, việc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua hòa giải, Trọng tài hoặc Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

2.26. Quyết toán hợp đồng xây dựng

Trong hợp đồng phải qui định trình tự, thủ tục, thời hạn giao nộp quyết toán nhưng không quá 30 ngày, nội dung hồ sơ quyết toán hợp đồng, các biểu mẫu kèm theo (nếu có) cho việc quyết toán hợp đồng. Hồ sơ quyết toán hợp đồng do bên nhận thầu lập phù hợp với từng loại hợp đồng cụ thể trên nguyên tắc tài liệu đã có (biên bản nghiệm thu, hồ sơ thanh toán các giai đoạn) chỉ lập bảng thống kê, tài liệu nào chưa có thì làm mới. Nội dung chủ yếu của hồ sơ bao gồm:

– Hồ sơ hoàn công (đối với hợp đồng thi công xây dựng công trình) đã được các bên xác nhận;

– Các biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành;

– Biên bản xác nhận khối lượng công việc phát sinh;

– Biên bản nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng;

– Biên bản nghiệm thu thiết kế xây dựng công trình;

– Biên bản bàn giao công trình đưa vào sử dụng;

– Bản xác định giá trị quyết toán hợp đồng đã được các bên xác nhận;

– Các tài liệu khác có liên quan.

2.27. Thanh lý hợp đồng xây dựng

Ngay sau khi bên nhận thầu đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng, các bên tham gia tiến hành thanh lý và chấm dứt hiệu lực của hợp đồng cũng như mọi nghĩa vụ có liên quan khác.

Việc thanh lý hợp đồng phải được thực hiện xong trong thời hạn bốn mươi lăm (45) ngày kể từ ngày các bên tham gia hợp đồng hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng.

2.28. Hiệu lực của hợp đồng

Hợp đồng xây dựng có hiệu lực kể từ ngày các bên tham gia hợp đồng ký kết hợp đồng trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

SOURCE: THÔNG TƯ SỐ 06/2007/TT-BXD HƯỚNG DẪN HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN:1. CÔNG VĂN SỐ 4294/TNMT-TTDK CỦA UBNDTPHCM VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ĐĂNG KÝ THẾ CHẤP NHÀ Ở;2. CÔNG CỤ TÀI CHÍNH – TÍN DỤNG VỚI THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN;3. TRIỂN VỌNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN NĂM 2008 Ở VIỆT NAM;4. MỐI LIÊN HỆ TÀI CHÍNH – BẤT ĐỘNG SẢN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM;5. NHỮNG CON SỐ KINH HOÀNG VỀ GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH;6. Thị trường bất động sản của Việt Nam -Thực trạng và các giải pháp;7. TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: những khó khăn của khu vực doanh nghiệp tư nhânBÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG 12. CẦN SỬA ĐỔI MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CHO PHÙ HỢP VỚI THỂ CHẾ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI WTO; 13. VỀ CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN; 14. VẤN ĐỀ HỦY BỎ, ĐÌNH CHỈ HỢP ĐỒNG DO VI PHẠM; 15. HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH HỢP ĐỒNG; 16. GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ; 17. NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ ;18. HÌNH THỨC CỦA HỢP ĐỒNG KINH DOANH – YẾU TỐ KHÔNG THỂ XEM NHẸ

CHUYỂN GIAO QUYỀN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC

1. Đối tượng áp dụng:

Áp dụng cho việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp từ các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (dưới đây gọi tắt là Bộ, ngành), Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi tắt là UBND cấp tỉnh) về Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (dưới đây gọi tắt là Tổng công ty).

2. Phạm vi áp dụng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp:

2.1. Quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) nhà nước 1 thành viên được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập.

2.2. Quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các công ty TNHH có 2 thành viên trở lên được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập.

2.3. Quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư tại các công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập hoặc mới thành lập.

2.4. Các trường hợp khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

3. Nguyên tắc chuyển giao:

3.1. Chỉ chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Việc tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác và việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh đối với hoạt động của doanh nghiệp khác thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.

3.2. Việc chuyển giao được thực hiện giữa các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh với Tổng công ty, trong đó:

a) Bên chuyển giao là Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc người được ủy quyền bằng văn bản.

b) Bên nhận chuyển giao là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng công ty hoặc người được ủy quyền bằng văn bản.

3.3. Việc tổ chức chuyển giao được thực hiện theo từng doanh nghiệp có vốn nhà nước chuyển giao và sau khi có đầy đủ các hồ sơ, tài liệu theo quy định của pháp luật và hướng dẫn tại Thông tư này.

4. Nội dung chuyển giao:

4.1. Đối với công ty cổ phần là giá trị cổ phần nhà nước (tính theo mệnh giá) đầu tư tại doanh nghiệp và các khoản tiền của Nhà nước còn phải thu hồi.

4.2. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn là giá trị vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp.

5. Hồ sơ chuyển giao:

5.1. Hồ sơ chuyển giao được lập theo từng doanh nghiệp, bao gồm:

a) Báo cáo giá trị vốn (hoặc giá trị cổ phần) nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp (chi tiết theo Phụ lục số 1).

b) Báo cáo số tiền nhà nước còn phải thu hồi từ doanh nghiệp (chi tiết theo Phụ lục 2).

c) Báo cáo tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp (chi tiết theo Phụ lục số 3).

d) Danh sách và thông tin về người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (chi tiết theo Phụ lục số 4).

đ) Biên bản chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp từ các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh về Tổng công ty (mẫu theo Phụ lục số 5).

5.2. Các tài liệu pháp lý của Công ty kèm theo hồ sơ, bao gồm:

a) Quyết định thành lập công ty, hoặc quyết định chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước (bản sao).

b) Quyết định hoặc biên bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại giá trị phần vốn nhà nước tại thời điểm công ty cổ phần, công ty TNHH được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (bản sao nếu có). Trường hợp chưa có các tài liệu này thì vẫn thực hiện chuyển giao và bổ sung sau khi ký biên bản.

c) Văn bản xác nhận của Hội đồng quản trị doanh nghiệp về số vốn, số cổ phần đầu tư của nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phiếu hoặc giấy chứng nhận cổ đông hoặc sổ cổ đông của nhà nước (đối với công ty cổ phần); giấy chứng nhận góp vốn hoặc sổ thành viên của nhà nước (đối với công ty TNHH có hai thành viên trở lên).

d) Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu và bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại thời điểm gần nhất (nếu có).

đ) Danh sách Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty.

e) Điều lệ hiện hành về tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp (bản sao).

g) Báo cáo quyết toán tài chính Quý gần nhất của doanh nghiệp.

5.3. Hồ sơ chuyển giao được lập thành 04 bộ để gửi các bên có liên quan sau khi ký Biên bản bàn giao, trong đó:

a) 01 bộ gửi cho Bộ, ngành hoặc UBND cấp tỉnh (để chuyển giao).

b) 01 bộ gửi Tổng công ty (để nhận chuyển giao).

c) 01 bộ gửi Bộ Tài chính (để giám sát).

d) 01 bộ lưu tại doanh nghiệp chuyển giao.

6. Căn cứ xác định số liệu chuyển giao:

6.1. Đối với các doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thành việc chuyển đổi (đã chính thức chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, công ty TNHH) thì căn cứ xác định số liệu chuyển giao là số liệu trên báo cáo tài chính tại thời điểm gần nhất của doanh nghiệp.

6.2. Đối với những doanh nghiệp đang thực hiện chuyển đổi quy định tại điểm 8 Thông tư này: do các doanh nghiệp này chưa chính thức chuyển thành công ty cổ phần nên số liệu chuyển giao được xác định trên cơ sở số liệu vốn nhà nước theo Quyết định phê duyệt phương án chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần của Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và kết quả bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp. Đến thời điểm doanh nghiệp chính thức chuyển thành công ty cổ phần, cơ quan có thẩm quyền quyết định giá trị doanh nghiệp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Tổng công ty kiểm tra, xử lý những vấn đề về tài chính phát sinh từ thời điểm định giá đến thời điểm công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để xác định lại giá trị phần vốn nhà nước và điều chỉnh lại số liệu  nhận chuyển giao chính thức theo quy định.

6.3. Trường hợp sau khi bàn giao, nếu số liệu có thay đổi, Tổng công ty điều chỉnh lại số liệu nhận chuyển giao chính thức và thông báo cho Bộ Tài chính và bên chuyển giao.

7. Trình tự chuyển giao:

7.1. Căn cứ Hồ sơ chuyển giao do người đại diện lập theo quy định tại Thông tư này, Vụ Tài chính kế toán hoặc Vụ Tài chính kế hoạch các Bộ, ngành (đối với doanh nghiệp trung ương), Sở Tài chính (đối với doanh nghiệp địa phương) thẩm định hồ sơ, số liệu, lập Biên bản chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại từng doanh nghiệp (mẫu Phụ lục số 5) báo cáo lãnh đạo Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh hoặc người được uỷ quyền ký biên bản chuyển giao.

7.2. Sau khi ký Biên bản chuyển giao, các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh gửi Biên bản chuyển giao (kèm theo Hồ sơ chuyển giao) cho Tổng công ty để ký nhận chuyển giao.

7.3. Khi hoàn tất chuyển giao, Tổng công ty gửi Biên bản cho bên giao (01 bản), Bộ Tài chính (01 bản) và doanh nghiệp (01 bản).

7.4. Đối với các trường hợp chưa thống nhất về hồ sơ, số liệu, trong phạm vi 05 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận Biên bản chuyển giao, Tổng công ty phải có ý kiến bằng văn bản gửi cho các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh để bổ sung Hồ sơ và điều chỉnh lại số liệu chuyển giao chính thức, đồng thời thông báo cho Bộ Tài chính biết để theo dõi, giám sát.

7.5. Trường hợp cần thiết, Tổng công ty có thể phối hợp với các các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh họp, trao đổi thống nhất Biên bản và số liệu bàn giao.

8.  Chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước đang thực hiện cổ phần hoá:

8.1. Việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước đang thực hiện cổ phần hoá được triển khai đồng thời với tiến trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước.

Đối với những doanh nghiệp chuyển đổi thuộc đối tượng chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty: các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh, sau khi ban hành quyết định phê duyệt phương án chuyển đổi doanh nghiệp và hoàn tất việc bán cổ phần lần đầu, có trách nhiệm gửi công văn thông báo (kèm theo hồ sơ chuyển giao quy định tại điểm 8.2 Thông tư này) để Tổng công ty triển khai ngay việc tiếp nhận và thực hiện các quyền của đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước trước khi Đại hội cổ đông lần đầu như: cử người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tiếp nhận hồ sơ tài liệu đăng ký quyền cổ đông, tham gia xử lý các vấn đề hậu cổ phần hóa….

8.2. Hồ sơ chuyển giao đối với những doanh nghiệp đang chuyển đổi bao gồm:

a) Quyết định cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của cơ quan có thẩm quyền.

b) Hồ sơ xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa.

c) Quyết định công bố giá trị doanh nghiệp và quyết định phê duyệt phương án cổ phần hoá để chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.

d) Kết quả bán đấu giá cổ phần lần đầu.

đ) Danh sách các đơn vị thành viên và phần vốn góp của công ty tại từng đơn vị thành viên (trường hợp chuyển giao công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ – công ty con hoặc Tổng công ty cổ phần hóa toàn bộ).

e) Dự thảo Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty cổ phần (nếu có).

g) Các tài liệu khác (nếu có).

9. Tổ chức thực hiện:

9.1. Bộ Tài chính có trách nhiệm:

a) Giám sát quá trình chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh về Tổng công ty.

b) Phối hợp cùng các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh và Tổng công ty xử lý các vấn đề còn tồn tại chưa được giải quyết liên quan đến quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp.

9.2. Các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm:

a) Hoàn thành việc chuyển giao vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã hoàn thành cổ phần hoá và chuyển đổi từ năm 2006 về trước trong quý II năm 2007 theo đúng chỉ đạo của Chính phủ tại tiết b điểm 2 mục III Nghị quyết số 03/2007/NQ-CP ngày 19/01/2007 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2007. Đối với các doanh nghiệp thuộc đối tượng chuyển giao và đã hoàn thành cổ phần hoá và chuyển đổi từ ngày 01/01/2007 đến ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, phải hoàn thành công tác chuyển giao trong thời gian 01 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực.

b) Chỉ đạo người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp xử lý các tồn tại liên quan đến quyền đại diện chủ sở hữu trước khi chuyển giao và lập hồ sơ chuyển giao theo quy định tại Thông tư này.

c) Thẩm định hồ sơ, số liệu chuyển giao, lập và ký Biên bản chuyển giao (mẫu theo Phụ lục số 5) gửi Tổng công ty (để ký nhận) theo hướng dẫn tại Thông tư này.

d) Chủ trì, phối hợp cùng Bộ Tài chính, Tổng công ty tiếp tục xử lý các vấn đề tồn đọng chưa được giải quyết liên quan đến quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp phát sinh trước thời điểm ký Biên bản chuyển giao.

đ) Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp đã chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn Nhà nước. Nội dung quản lý nhà nước được quy định tại Điều 161, 162, 164, 165 Luật Doanh nghiệp năm 2005.

e) Giải quyết chế độ và bố trí công việc đối với người đại diện chuyên trách hoặc kiêm nhiệm khi không đảm nhiệm chức năng đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển giao.

g) Phối hợp, đề xuất với Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước về việc cử người thay thế người đại diện phần vốn nhà nước theo đề nghị của Tổng công ty.

h) Khi chưa chuyển giao, các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh không quyết định bán bớt vốn hoặc điều chỉnh vốn điều lệ của doanh nghiệp.

i) Trường hợp doanh nghiệp đã đủ điều kiện mà không thực hiện chuyển giao theo quy định tại Thông tư này phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về sự chậm trễ này cũng như những phát sinh về tài chính, tổn thất có liên quan đến doanh nghiệp này.

9.3. Trách nhiệm của người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp: 

a) Lập và chịu trách nhiệm về tính chính xác của số liệu tại các báo cáo: Báo cáo giá trị vốn (hoặc giá trị cổ phần) nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp (Phụ lục số 1); Báo cáo giá trị các khoản tiền nhà nước còn phải thu hồi (Phụ lục số 2); Báo cáo tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh (Phụ lục số 3); Báo cáo thông tin về người đại diện vốn nhà nước (Phụ lục số 4) và lập hồ sơ chuyển giao theo hướng dẫn tại Thông tư này.

b) Phối hợp với doanh nghiệp làm thủ tục đăng ký lại sở hữu cổ phần hoặc phần vốn góp của nhà nước từ Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh về Tổng công ty.

c) Đôn đốc doanh nghiệp nộp các khoản thu về cổ phần hoá và cổ tức thuộc phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp đã chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty.

d) Người đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp do các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh cử trước đây, sau khi chuyển giao vẫn tiếp tục thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của người đại diện theo quy định của pháp luật hiện hành và quy định của Tổng công ty cho đến khi Tổng công ty có quyết định thay thế.

đ) Trường hợp không thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao thì cơ quan có thẩm quyền xem xét thay thế người đại diện khác để thực hiện nhiệm vụ. Nếu cố tình chậm trễ trong việc triển khai các công việc có liên quan đến chuyển giao phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất phát sinh (nếu có).

9.4.  Trách nhiệm của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước:

a) Tiếp nhận, thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp kể từ thời điểm nhận chuyển giao.

b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh cử người đại diện phần vốn nhà nước bổ sung, thay thế khi cần thiết.

c) Thực hiện quyền chủ nợ trong việc theo dõi, đôn đốc các doanh nghiệp đã chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty nộp các khoản thu về cổ phần hoá và cổ tức thuộc phần vốn nhà nước về Tổng công ty (theo ủy quyền của Bộ Tài chính) và quyết toán việc thu nộp các khoản này với Bộ Tài chính.

d) Hàng quý báo cáo Bộ Tài chính hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Bộ Tài chính về:

– Tình hình thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ các Bộ, ngành, UBND cấp tỉnh về Tổng công ty.

– Tình hình bán bớt vốn nhà nước và đầu tư vốn tại các doanh nghiệp.

– Tình hình triển khai việc đưa doanh nghiệp tham gia niêm yết trên Thị trường chứng khoán.

– Tình hình thu các khoản nợ về bán cổ phần nhà nước và cổ tức thuộc phần vốn nhà nước còn phải thu phát sinh trước thời điểm chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước về Tổng công ty.

– Kế hoạch tổ chức chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước của quý tiếp theo.

đ) Định kỳ hàng năm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Tài chính tình hình thực hiện chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và việc triển khai thực hiện kế hoạch dài hạn, trung hạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

SOURCE:

THÔNG TƯ SỐ 47/2007/TT-BTC HƯỚNG DẪN VIỆC CHUYỂN GIAO QUYỀN ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƯỚC ĐẦU TƯ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỀ TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ KINH DOANH VỐN NHÀ NƯỚC

VÍ DỤ VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NUỚC

QUY ĐỊNH

VỀ PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP, TÀI SẢN ĐƯỢC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ NƯỚC ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
(Kèm theo Quyết định số 39/2007/QĐ-UBND ngày 13/11/2007 của UBND tỉnh Tây Ninh)

Chương 1:

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Quy định này quy định việc phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước giữa UBND tỉnh với Sở, ban, ngành thuộc tỉnh; giữa UBND tỉnh với UBND huyện, thị xã và UBND xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND huyện, xã);

2. Việc phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia; tài sản sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh quốc gia; tài sản dự trữ quốc gia; tài sản nhà nước tại doanh nghiệp; tài nguyên thiên nhiên và đất đai khác thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy định này.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng quy định này bao gồm:

1. Cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước gồm UBND tỉnh; Sở, ban, ngành tỉnh; UBND huyện, xã được giao nhiệm vụ quản lý tài sản theo phân cấp của UBND tỉnh.

2. Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập).

3. Các đối tượng khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước như: Các đơn vị, tổ chức trực thuộc các sở, ngành, đơn vị tương đương cấp sở và các đơn vị khác thuộc huyện, thị … có liên quan đến quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập là những tài sản Nhà nước giao cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng gồm:

a) Đất đai;

b) Nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai;

c) Các tài sản khác gắn liền với đất đai;

d) Phương tiện giao thông vận tải, máy móc, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác.

2. Tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật là tài sản không có nguồn gốc là tài sản của Nhà nước nhưng theo quy định của pháp luật đến thời điểm nhất định, tài sản này được xác lập là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước.

3. Tài sản chuyên dùng là những tài sản mà công dụng của nó chỉ dùng để phục vụ cho hoạt động đặc thù của một ngành, một lĩnh vực nhất định.

4. Đất đai khác là đất đai không thuộc khuôn viên trụ sở, cơ sở hoạt động của các cơ quan, đơn vị và tổ chức kinh tế của Nhà nước.

5. Đặc thù là đặc điểm riêng có của một ngành, một lĩnh vực, địa phương mà các ngành khác, lĩnh vực khác, địa phương khác không có.

6. Phương án xử lý tài sản nhà nước là tập hợp các đề xuất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hình thức xử lý đối với tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật: thu hồi, điều chuyển, chuyển đổi hình thức sở hữu, bán, thanh lý, tiêu huỷ.

Điều 4. Nội dung phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước, gồm:

1. Phân cấp về thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước.

2. Phân cấp về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý, xử lý tài sản nhà nước, gồm:

a) Đăng ký quyền quản lý, sử dụng tài sản nhà nước;

b) Quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản nhà nước;

c) Quyết định thu hồi, điều chuyển tài sản nhà nước;

d) Quyết định chuyển đổi hình thức sở hữu tài sản nhà nước;

đ) Quyết định bán tài sản nhà nước;

e) Quyết định thanh lý tài sản nhà nước;

g) Quản lý các nguồn tài chính phát sinh trong quá trình quản lý, xử lý tài sản nhà nước;

h) Kiểm kê, thống kê tài sản nhà nước;

i) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

3. Phân cấp về thẩm quyền xác lập quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản.

Điều 5. Tài sản nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý

1. Tài sản nhà nước do Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý bao gồm:

a) Tài sản nhà nước do cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức thuộc địa phương quản lý, sử dụng;

b) Tài sản được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc địa phương quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật.

2. Tài sản thuộc sở hữu nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp quản lý, sử dụng thì không thuộc quyền sở hữu của tổ chức đó. Tài sản này do Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Tài sản nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó.

Điều 6. Quyền hạn, trách nhiệm về quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước

1. Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm:

a) Thống nhất quản lý tài sản nhà nước do các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc địa phương quản lý, sử dụng;

b) Sau khi xin ý kiến và thống nhất với Hội đồng nhân dân tỉnh, quyết định phân cấp cho các cơ quan thuộc phạm vi quản lý; UBND huyện, xã thực hiện quản lý đối với tài sản nhà nước do địa phương quản lý.

2. Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước.

3. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức và UBND các huyện, xã có trách nhiệm tổ chức quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo phân cấp quy định tại Quy định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Chương 2:

PHÂN CẤP QUẢN LÝ TÀI SẢN NHÀ NƯỚC TẠI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH, ĐƠN VỊ  SỰ NGHIỆP

Điều 7. Đăng ký quyền quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Những tài sản phải đăng ký quyền quản lý, sử dụng bao gồm:

a) Trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp;

b) Xe ôtô các loại;

c) Các tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 500 triệu đồng trở lên/1 đơn vị tài sản.

2. Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý được Nhà nước giao trực tiếp quản lý, sử dụng những tài sản quy định tại khoản 1 Điều này phải đăng ký quyền quản lý, sử dụng tài sản nhà nước với Sở Tài chính. Trường hợp phát hiện đơn vị không thực hiện đăng ký, Sở Tài chính được phép ngừng cấp kinh phí phục vụ hoạt động của những tài sản phải đăng ký nhưng không đăng ký; đồng thời thực hiện chế độ xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

3. Đối với những tài sản cố định khác không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập phải lập Thẻ tài sản cố định để theo dõi, hạch toán và thực hiện chế độ quản lý tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật.

4. Tổ chức thực hiện đăng ký quyền quản lý, sử dụng tài sản nhà nước cụ thể như sau: Đối với tài sản quy định tại khoản 1 Điều này của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc địa phương quản lý đăng ký tại Sở Tài chính.

5. Giám đốc Sở Tài chính căn cứ theo Thông tư số 35/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính để hướng dẫn thực hiện nội dung, trình tự, thủ tục đăng ký tài sản theo quy định.

Điều 8. Thẩm quyền quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản nhà nước

1. Tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc, điện thoại, xe ô tô phục vụ công tác cho các chức danh lãnh đạo, xe ô tô phục vụ công tác chung của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập và một số tài sản khác khi thấy cần thiết, do Thủ tướng Chính phủ quy định. 

2. UBND tỉnh sau khi xin ý kiến của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng phục vụ cho hoạt động đặc thù ở địa phương mà trung ương chưa quy định.

Căn cứ vào tính chất hoạt động đặc thù, định mức kinh tế kỹ thuật của hoạt động đặc thù và nhu cầu sử dụng tài sản chuyên dùng phục vụ hoạt động đặc thù; Sở Tài chính phối hợp cùng các sở ngành có liên quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản chuyên dùng ở địa phương mà trung ương chưa quy định.

Điều 9. Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản nhà nước

1. Đối với tài sản là nhà, công trình kiến trúc và tài sản khác gắn liền với đất, thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng.

2. Đối với tài sản là phương tiện giao thông vận tải, xe chuyên dùng: Do Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định cụ thể sau khi thống nhất bằng văn bản với Thường trực HĐND tỉnh.

3. Đối với tài sản là máy móc, trang thiết bị làm việc và các động sản khác, thẩm quyền quyết định mua sắm được quy định như sau:

a) Căn cứ vào tiêu chuẩn, định mức quy định, Thủ trưởng cơ quan Sở, ban, ngành tỉnh; Tổ chức chính trị tỉnh; Tổ chức chính trị- xã hội tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, xã quyết định mua sắm tài sản cho các cơ quan hành chính thuộc phạm vi quản lý theo dự toán ngân sách hàng năm đã được giao;

b) Trong trường hợp cần thiết cấp bách (như thiên tai, địch họa, sự cố bất khả kháng hoặc đơn vị mới thành lập…) căn cứ quy định của Luật Ngân sách nhà nước cơ quan tài chính các cấp ở địa phương trình UBND cùng cấp có thẩm quyền quyết định bổ sung ngân sách để mua sắm tài sản nhà nước ngoài dự toán ngân sách năm được giao của cơ quan hành chính thuộc cấp mình quản lý;

c) Thẩm quyền quyết định việc mua sắm tài sản tại các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ;

d) Tiêu chuẩn định mức sử dụng tài sản là cơ sở để các cơ quan, đơn vị, tổ chức lập kế hoạch mua sắm ngay từ đầu năm. Cơ quan tài chính xem xét khả năng ngân sách để phân bổ kinh phí mua sắm tài sản trong dự toán ngân sách hàng năm cho phù hợp, từng bước bảo đảm mua sắm trang bị tài sản cho đúng đủ theo tiêu chuẩn định mức;

đ) Căn cứ vào dự toán ngân sách được duyệt, các cơ quan, đơn vị, tổ chức tiến hành mua sắm tài sản theo thẩm quyền quy định;

e) Đối với tài sản không được cấp có thẩm quyền quy định về tiêu chuẩn, định mức, thì việc đầu tư, mua sắm mới được căn cứ vào chức năng nhiệm vụ và tình hình thực tế, cơ quan, đơn vị, tổ chức lập kế hoạch đầu tư, mua sắm cho phù hợp với khả năng ngân sách. Theo phân cấp, UBND các cấp ở địa phương xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở thẩm định đề xuất của cơ quan tài chính cùng cấp, nhưng phải bảo đảm nguyên tắc tiết kiệm, có hiệu quả.

Điều 10. Thẩm quyền thu hồi tài sản nhà nước

1. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền thu hồi tài sản nhà nước:

a) Khi phát hiện có sai phạm cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị sử dụng phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp, kiến nghị với cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thu hồi tài sản. Trường hợp cơ quan tài chính kiểm tra phát hiện sai phạm thì thông báo cho cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của đơn vị sử dụng; đồng thời có văn bản kiến nghị với cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thu hồi tài sản;

b) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thu hồi trụ sở làm việc và phương tiện giao thông vận tải, xe chuyên dùng của các cơ quan, đơn vị, tổ chức hiện đang quản lý, theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính;

c). Thủ trưởng các sở, ban, ngành, tổ chức ở tỉnh và Chủ tịch UBND huyện, xã quyết định thu hồi đối với những tài sản là động sản không thuộc điểm b, d khoản 1 Điều này bị sử dụng không đúng mục đích, sử dụng vượt tiêu chuẩn định mức do Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh quy định của các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc cấp mình quản lý;

d) Giám đốc Sở Tài chính quyết định thu hồi đối với những tài sản là động sản không thuộc điểm b khỏan 1 Điều này bị sử dụng không đúng mục đích, sử dụng vượt tiêu chuẩn định mức do Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh quy định mà Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, tổ chức ở tỉnh và Chủ tịch UBND huyện, xã không xử lý;

đ) Sở Tài chính hướng dẫn cụ thể việc xử lý tài sản nhà nước bị thu hồi theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

2. Tài sản nhà nước bị thu hồi trong các trường hợp:

a. Đầu tư xây dựng mới, mua sắm, điều chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi sở hữu, vượt tiêu chuẩn định mức, không đúng thẩm quyền do nhà nước quy định;

b. Không sử dụng mà đơn vị sử dụng không đề nghị phương án xử lý có hiệu quả;

c. Sử dụng sai mục đích, sai chế độ quy định, bán, chuyển nhượng, cho, tặng không đúng thẩm quyền;

d. Các trường hợp phải thu hồi khác theo quy định của pháp luật.

Điều 11. Thẩm quyền điều chuyển tài sản nhà nước

1. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định điều chuyển tài sản là bất động sản (bao gồm cả quyền sử dụng đất) và phương tiện giao thông vận tải, xe chuyên dùng:

a) Giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh, theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan thuộc tỉnh và Giám đốc Sở Tài chính;

b) Giữa các cơ quan tỉnh với huyện, xã theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã có liên quan và Giám đốc Sở Tài chính;

c) Giữa các huyện, xã sau khi có sự thống nhất và đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã có liên quan và Giám đốc Sở Tài chính;

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định chuyển giao quyền quản lý, sử dụng trụ sở làm việc (có nguồn gốc là tài sản nhà nước, tài sản được xác lập sở hữu của nhà nước) cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc trung ương quản lý, đang trực tiếp sử dụng (đang ký hợp đồng thuê nhà với Công ty kinh doanh nhà của địa phương), trên cơ sở phương án tổng thể về xử lý, bố trí, sắp xếp lại các cơ sở nhà đất, trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh của Bộ, cơ quan chủ quản.

3. Giám đốc Sở Tài chính quyết định điều chuyển đối với những tài sản nhà nước không thuộc phạm vi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này:

a) Giữa các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh có liên quan;

b) Giữa các cơ quan tỉnh với huyện, xã theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã có liên quan;

c) Giữa các huyện, xã sau khi có sự thống nhất và đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã có liên quan.

4. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Chủ tịch UBND huyện xã quyết định điều chuyển tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật giữa cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi nội bộ cơ quan, đơn vị, tổ chức cấp mình quản lý.

Điều 12. Bán, chuyển đổi hình thức sở hữu tài sản nhà nước

1. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định bán, chuyển đổi hình thức sở hữu đối với tài sản là bất động sản (bao gồm cả quyền sử dụng đất) của các cơ quan, đơn vị, tổ chức theo đề nghị Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Giám đốc Sở Tài chính.

2. Giám đốc Sở Tài chính quyết định bán, chuyển đổi hình thức sở hữu theo quy định của pháp luật đối với tài sản là động sản thuộc phạm vi quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 10 Quy định này.

3. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã quyết định bán, chuyển đổi hình thức sở hữu theo quy định của pháp luật đối với những tài sản là động sản của các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi quản lý, trừ những tài sản là động sản quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 10 Quy định này.

4. Sở Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thực hiện bán, chuyển đổi hình thức sở hữu tài sản nhà nước và quản lý, sử dụng tiền thu được từ bán tài sản nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.

5. Thẩm quyền quyết định bán, chuyển đổi hình thức sở hữu tài sản nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ.

Điều 13. Thanh lý tài sản nhà nước

1. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định việc thanh lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý, gồm:

a) Nhà, công trình xây dựng phải phá dỡ để thực hiện dự án đầu tư xây dựng, giải phóng mặt bằng theo quy hoạch, dự án đã được phê duyệt và theo đề nghị của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức và Giám đốc Sở Tài chính;

b) Nhà, công trình xây dựng khác bị hư hỏng không còn sử dụng được hoặc nếu tiếp tục sử dụng phải chi phí lớn, không có hiệu quả theo đề nghị của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức và Giám đốc Sở Tài chính;

c) Phương tiện giao thông vận tải, xe chuyên dùng theo đề nghị của thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức và Giám đốc Sở Tài chính.

2. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã quyết định thanh lý tài sản nhà nước là động sản thuộc thẩm quyền quyết định, đầu tư mua sắm của mình đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi mình quản lý.

3. Thẩm quyền thanh lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định hiện hành của Thủ tướng Chính phủ.

4. Sở Tài chính hướng dẫn trình tự, thủ tục thực hiện thanh lý tài sản và quản lý, sử dụng số tiền thu được từ thanh lý tài sản nhà nước theo quy định của Bộ Tài chính.

Điều 14. Kiểm kê, thống kê tài sản nhà nước

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định việc điều tra thống kê tài sản nhà nước tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý theo quy định của pháp luật.

2. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh, Chủ tịch UBND huyện, xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện kiểm kê tài sản nhà nước tại đơn vị định kỳ hàng năm theo đúng quy định của pháp luật về kế toán, thống kê.

Điều 15. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Thẩm quyền quyết định thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được quy định như sau:

a) Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc cấp mình quản lý;

b) Giám đốc Sở Tài chính giúp Chủ tịch UBND cấp tỉnh thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong phạm vi toàn tỉnh;

c) Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, xã quyết định thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc cấp mình quản lý.

2. Khi thực hiện thanh tra, kiểm tra, cơ quan thanh tra, kiểm tra có quyền yêu cầu các tổ chức, cá nhân được thanh tra, kiểm tra xuất trình các hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc quản lý và sử dụng tài sản nhà nước. Nếu phát hiện vi phạm, có quyền xử lý hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Chương 3:

PHÂN CẤP QUẢN LÝ TÀI SẢN ĐƯỢC XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CỦA NHÀ NƯỚC THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Điều 16. Thẩm quyền xác lập quyền sở hữu tài sản của Nhà nước

1. Đối với tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật bị tịch thu sung quỹ nhà nước:

a) Thẩm quyền quyết định tịch thu sung quỹ đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

b) Thẩm quyền quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước đối với tài sản của người bị kết án được thực hiện theo quy định của pháp luật về hình sự;

c) Thẩm quyền quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước đối với vật chứng vụ án được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

2. Đối với các tài sản khác:

a) Căn cứ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được giao và các quy định khác của pháp luật có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân dân  tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; quyết định hoặc phân cấp quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với vật bị chôn dấu, chìm đắm, vật bị đánh rơi, bỏ quên được tìm thấy;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xác lập quyền sở hữu của Nhà nước theo quy định của pháp luật đối với:

– Bất động sản trên địa bàn được xác định là vô chủ hoặc không xác định được chủ sở hữu;

– Di sản không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng người đó không được quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền hưởng di sản;

– Tài sản của các dự án sử dụng vốn ngoài nước do địa phương quản lý sau khi kết thúc hoạt động được chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam;

– Tài sản được chủ sở hữu chuyển quyền sở hữu dưới hình thức biếu, tặng cho, đóng góp, viện trợ và các hình thức chuyển giao khác theo quy định của pháp luật cho các tổ chức thuộc địa phương.

Điều 17. Thẩm quyền lập, phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước

1. Thẩm quyền lập phương án xử lý tài sản:

Cơ quan đang quản lý hoặc được giao tạm quản lý tài sản có trách nhiệm lập phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản được quy định như sau:

Thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của nhà nước do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định phê duyệt trên cơ sở thẩm định, đề xuất của Giám đốc Sở Tài chính đối với:

– Tài sản quy định tại khoản 1 Điều 16 quy định này do cơ quan nhà nước ở địa phương quyết định xác lập quyền sở hữu nhà nước;

– Tài sản quy định tại khoản 2 Điều 16 Quy định này;

– Đối với tài sản của các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước khi dự án kết thúc thuộc địa phương quản lý bao gồm cả dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn viện trợ không hoàn lại đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước thì thực hiện theo thẩm quyền quy định tại Thông tư 116/2005/TT–BTC ngày 19/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và xử lý tài sản của các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước khi dự án kết thúc.

Điều 18. Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi liên quan đến việc xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước

1. Phân cấp nguồn thu từ việc xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước:

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản được xác lập sở hữu của Nhà nước ở địa phương theo phân cấp, sau khi trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan nộp toàn bộ vào ngân sách địa phương.

2. Phân cấp nhiệm vụ chi liên quan đến việc xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước:

a) Chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản xác lập quyền sở hữu của Nhà nước được sử dụng từ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản;

b) Trường hợp xử lý tài sản không có nguồn thu hoặc số thu không đủ bù đắp chi phí, thì chi phí do ngân sách nhà nước chi trả. Tài sản do cấp nào xử lý thì chi phí do ngân sách cấp đó chi trả;

c) Trường hợp tài sản điều chuyển cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức của Nhà nước, thì chi phí liên quan đến việc xử lý tài sản do cơ quan, đơn vị, tổ chức được tiếp nhận tài sản chi trả.

Chương 4:

TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Điều 19. Tổ chức thực hiện phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước

1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện phân cấp quản lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo quy định của Chính phủ.

2. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã, cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản nhà nước, thủ trưởng đơn vị sử dụng tài sản nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc quản lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của mình theo đúng quy định tại Quy định này.

Cơ quan tài chính giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện phân cấp quản lý tài sản, thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo phân cấp; báo cáo cơ quan có thẩm quyền tình hình thực hiện phân cấp và tình hình quản lý sử dụng tài sản nhà nước ở địa phương.

Điều 20. Trách nhiệm của Sở Tài chính

1. Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước do Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lý.

2. Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã triển khai thực hiện việc phân cấp quản lý tài sản nhà nước theo quy định tại Quy định này.

3. Tổ chức kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc chấp hành chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã. Kiến nghị xử lý hoặc xử lý theo thẩm quyền các trường hợp vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Điều 21. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã

1. Trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo phân cấp quy định tại Quy định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Quyết định việc đầu tư xây dựng, mua sắm, điều chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi sở hữu, góp vốn liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản nhà nước của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cấp mình quản lý, theo quy định của pháp luật và thẩm quyền quy định tại Quy định này.

3. Báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý của mình theo hướng dẫn của Sở Tài chính.

4. Căn cứ quyết định thu hồi hoặc điều chuyển tài sản của cấp có thẩm quyền quy định tại Quy định này, cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với phần diện tích đất gắn với tài sản nhà nước bị thu hồi hoặc điều chuyển (nếu có) theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.

Điều 22. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

1. Chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước.

2. Sử dụng tài sản nhà nước đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả.

3. Thực hiện kê khai đăng ký, báo cáo tài sản nhà nước theo đúng quy định hiện hành.

4. Công khai tiêu chuẩn, định mức, tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan, đơn vị.

5. Chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Chương 5:

XỬ LÝ VI PHẠM VÀ KHEN THƯỞNG

Điều 23. Hành vi bị coi là vi phạm pháp luật về phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước

1. Quyết định đầu tư xây dựng mới, mua sắm, điều chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi sở hữu, thanh lý tài sản nhà nước không đúng tiêu chuẩn định mức, không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

2. Không thực hiện chế độ kê khai đăng ký, báo cáo tài sản nhà nước theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Các hành vi khác vi phạm quy định tại Quy định này.

Điều 24. Xử lý vi phạm về phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước

1. Việc quyết định đầu tư xây dựng mới, mua sắm, điều chuyển, thu hồi, bán, chuyển đổi sở hữu, thanh lý tài sản nhà nước vượt tiêu chuẩn, định mức và không đúng thẩm quyền do Nhà nước quy định sẽ bị:

a) Thu hồi lại tài sản đã đầu tư xây dựng mới, mua sắm để điều chuyển cho các tổ chức, cá nhân có tiêu chuẩn, định mức được sử dụng;

b) Đình chỉ việc khởi công xây dựng hoặc đình chỉ xây dựng đối với công trình đang xây dựng nhưng mức đầu tư vượt quá tiêu chuẩn, định mức quy định của Nhà nước;

c) Người ra quyết định đầu tư xây dựng mới, mua sắm tài sản nhà nước vượt tiêu chuẩn, định mức phải chịu xử lý kỷ luật, phải chịu trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật đối với sai phạm mà mình gây ra. Kho bạc Nhà nước được quyền từ chối thanh toán đối với các trường hợp sai phạm này.

2. Cơ quan, tổ chức không thực hiện đăng ký, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định sẽ bị xử lý như sau:

a) Cơ quan Kế hoạch đầu tư, cơ quan Tài chính và các cơ quan khác theo thẩm quyền từ chối phê duyệt quyết định đầu tư, cải tạo nâng cấp, sửa chữa tài sản; từ chối cấp kinh phí để thực hiện việc đầu tư, cải tạo nâng cấp, sửa chữa, mua sắm tài sản của đơn vị;

b) Xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê;

c) Thu hồi những tài sản sử dụng sai chế độ, sai mục đích theo quy định tại Quy định này.

3. Cá nhân có hành vi vi phạm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Điều 25. Khen thưởng

Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc thực hiện phân cấp quản lý tài sản nhà nước, được khen thưởng theo quy định của pháp luật.

Điều 26. Khiếu nại

Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về phân cấp quản lý nhà nước đối với tài sản nhà nước bị xử lý, nếu không đồng ý với quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật. Việc giải quyết khiếu nại thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 27. Trách nhiệm thi hành

1. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan kiểm tra hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã tổ chức thi hành Quy định này.

2. Các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân huyện, xã và Thủ trưởng các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quy định này./.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT.CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH

Võ Hùng Việt

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở

Giấy tờ về tạo lập nhà ở trong hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Cá nhân trong nước có nhà ở được tạo lập từ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành khi đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có một trong những giấy tờ theo quy định sau:

a) Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng; giấy phép cho xây dựng nhà của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của chế độ cũ; giấy phép cho xây cất nhà của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban Xây dựng Cơ bản tỉnh, Ty Quản lý Nhà đất, Ty Xây dựng hoặc Sở Xây dựng cấp trước đây;

b) Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;

c) Giấy tờ về giao, tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;

d) Giấy tờ về sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ (giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do Ty Quản lý Nhà đất hoặc Ty Xây dựng hoặc Sở Xây dựng đã cấp trước đây) mà nhà đất đó không thuộc diện Nhà nước xác lập sở hữu toàn dân theo quy định Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội khóa XI “Về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”, Nghị quyết số 755/2005/NQ-UBTVQH11 ngày 02 tháng 4 năm 2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “Quy định việc giải quyết đối với một số trường hợp cụ thể về nhà đất trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01 tháng 7 năm 1991”;

đ) Giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đã có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên; hợp đồng mua bán, chuyển dịch quyền sở hữu nhà có chính quyền chế độ cũ thị thực hoặc chứng nhận đã trước bạ; giấy tờ của Tòa án hoặc cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật; trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở đã được hai bên ký kết (không cần phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp);

e) Các trường hợp tạo lập nhà ở trên đất đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được sử dụng vào mục đích làm đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai;

g) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo hướng dẫn tại Thông tư số 47/BXD-XDCBĐT ngày 05/08/1989 và Thông tư số 02/BXD-ĐT ngày 29/04/1992 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện ý kiến của Thường trực Hội đồng Bộ trưởng về hóa giá nhà cấp III, cấp IV tại các đô thị trước ngày 15/10/1993 hoặc từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 05/07/1994 mà trong giá nhà đã tính đến giá đất ở của nhà đó (cụ thể đối với tỉnh Đồng Nai là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được hóa giá theo Quyết định số 15/QĐ-UBT ngày 05/01/1990, Quyết định số 1238/QĐ-UBT ngày 10/09/1991, Quyết định số 1169/QĐ-UBT ngày 08/09/1992, Quyết định số 3408/QĐ-UBT ngày 30/12/1994 của UBND tỉnh Đồng Nai về việc hóa giá nhà cấp III và cấp IV);

h) Trường hợp mua nhà qua Trung tâm bán đấu giá thì ngoài các loại giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và điểm g (nếu có) khoản này, phải nộp thêm:

– Biên bản bán đấu giá;

– Biên lai nộp tiền vào ngân sách (Kho bạc);

i) Trường hợp mua nhà qua cơ quan thi hành án thì ngoài các loại giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g (nếu có) khoản này, phải nộp thêm:

– Quyết định hoặc bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, quyết định thi hành án và biên bản thi hành án;

– Biên bản bán đấu giá;

– Biên lai nộp tiền vào ngân sách (Kho bạc);

k) Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận có một trong những giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và điểm i khoản này nhưng không đúng tên trong các giấy tờ đó do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất hoặc nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất thì phải có thêm giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở được Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên xác nhận hoặc trong đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc có nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở theo quy định của pháp luật;

l) Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, và điểm g khoản này thì phải có giấy tờ được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về hiện trạng nhà ở, đất ở không có tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và nhà ở được xây dựng trước khi có quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật về xây dựng;

Trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận không có giấy tờ quy định tại điểm e khoản này thì phải có giấy tờ được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về hiện trạng nhà ở, đất ở không có tranh chấp về quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở và xác nhận về thời điểm sử dụng đất, thời điểm xây dựng nhà ở. Tùy theo từng thời điểm sử dụng đất sẽ được xử lý theo Điều 12 của Quy định này.

2. Cá nhân trong nước có nhà ở được tạo lập từ ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành khi đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có giấy tờ theo quy định sau:

a) Trường hợp nhà ở do xây dựng mới thì phải có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại điểm e khoản 1 Điều này. Trường hợp phải xin phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng thì phải có thêm giấy phép xây dựng;

b) Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế hoặc thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận cấp theo Nghị định số 60/CP) hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ghi nhận về nhà ở theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc một trong những giấy tờ về tạo lập nhà ở quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h và điểm i khoản 1 Điều này của bên chuyển nhượng;

c) Trường hợp mua nhà ở của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết, một trong những giấy tờ về dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

d) Trường hợp mua nhà ở đang thuê thuộc sở hữu Nhà nước có từ trước ngày Luật Nhà ở có hiệu lực thi hành thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở;

đ) Trường hợp thuê mua nhà ở xã hội thì phải có hợp đồng thuê mua nhà ở theo quy định Nghị định số 90/2006/NĐ-CP.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có giấy tờ theo quy định sau:

a) Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì phải có giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Trường hợp mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có giấy tờ về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị hoặc hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ghi nhận về nhà ở theo quy định của pháp luật về đất đai của bên chuyển nhượng.

4. Tổ chức trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài khi đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải có giấy tờ theo quy định sau:

a) Trường hợp đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê thì phải có một trong những giấy tờ về dự án nhà ở cho thuê (quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b) Trường hợp tổ chức trong nước mua, nhận  tặng cho, nhận thừa kế nhà ở hoặc được sở hữu nhà ở thông qua hình thức khác theo quy định của pháp luật thì phải có giấy tờ về giao dịch đó theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở kèm theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định Nghị định số 60/CP hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có ghi nhận về nhà ở theo quy định của pháp luật về đất đai của bên chuyển nhượng.

5. Các trường hợp chủ sở hữu nhà ở không đồng thời là chủ sử dụng đất ở khi đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì ngoài giấy tờ chứng minh về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều này, phải có thêm văn bản của chủ sử dụng đất đồng ý cho phép sử dụng đất xây dựng nhà ở đã được công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân từ cấp xã trở lên.

6. Tổ chức, cá nhân bị mất những giấy tờ về tạo lập nhà ở quy định tại Điều này hoặc bị mất giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khi đề nghị cấp lại thì phải có các giấy tờ sau:

a) Giấy tờ xác nhận về việc mất giấy chứng nhận của cơ quan công an cấp xã nơi mất giấy;

b) Các trường hợp mất giấy không phải do thiên tai, hỏa hoạn thì phải có giấy tờ chứng minh đã đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng một lần đối với khu vực đô thị (mẩu tin trên báo hoặc giấy xác nhận của cơ quan đăng tin) hoặc giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân xã về việc đã niêm yết thông báo mất giấy tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã trong thời hạn 10 ngày làm việc đối với khu vực nông thôn.

7. Tổ chức, cá nhân có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở bị hư hỏng, rách nát hoặc đã ghi hết trang xác nhận thay đổi, khi đề nghị cấp đổi phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cũ.

8. Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, trong quá trình sử dụng mà có sự thay đổi về diện tích, tầng cao, kết cấu chính của nhà ở; tách, nhập thửa đất đối với trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 của Luật Nhà ở so với những nội dung đã ghi trong giấy chứng nhận, khi đề nghị xác nhận thay đổi phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cũ và bản kê khai những nội dung thay đổi, trừ trường hợp trong đơn đề nghị xác nhận thay đổi đã có kê khai những nội dung thay đổi đó.

 Xử lý trường hợp người đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà không có một trong các loại giấy tờ về đất ở quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Đất đai

1. Đối với trường hợp đất do hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 2 Điều này, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về hiện trạng nhà ở, đất ở không có tranh chấp thì được xử lý theo quy định sau:

a) Tại thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với đất thuộc vùng đã có quy hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn (gọi chung là quy hoạch) được xét duyệt mà việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đó và chưa có quyết định thu hồi đất trong trường hợp đất phải thu hồi thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

b) Trường hợp tại thời điểm làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà chưa có quy hoạch được xét duyệt thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

c) Trường hợp nhà, đất đã được xây dựng và sử dụng trước thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà nhà, đất không phù hợp với quy hoạch và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản về chủ trương thu hồi đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

d) Trường hợp đất đã được sử dụng trước thời điểm quy hoạch, nhà xây dựng sau thời điểm quy hoạch được xét duyệt nhưng tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà nhà, đất không phù hợp với quy hoạch và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản về chủ trương thu hồi thì nhà sẽ không cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, còn đất thì vẫn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai;

đ) Trường hợp quy hoạch đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt điều chỉnh mà toàn bộ hoặc một phần thửa đất phù hợp với quy hoạch điều chỉnh đó hoặc trường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hủy quy hoạch thì được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại điểm a khoản này.

2. Hộ gia đình, cá nhân không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;

b) Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;

c) Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;

d) Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;

đ) Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.

3. Đối với trường hợp nhà, đất do hộ gia đình, cá nhân xây dựng và sử dụng trong khoảng thời gian từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà toàn bộ hoặc một phần nhà, đất không phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch hoặc tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có các hành vi vi phạm được quy định tại khoản 2 Điều này thì nhà ở không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; phần diện tích đất còn lại phù hợp quy hoạch thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

4. Nhà nước không cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và thu hồi toàn bộ diện tích đất do lấn, chiếm và đất được giao, được cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau.

Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở

Sơ đồ nhà ở là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận thể hiện bản vẽ trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Việc đo vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở được thực hiện như sau:

1. Bản vẽ sơ đồ nhà ở phải thể hiện được vị trí, hình dáng, kích thước, diện tích mặt bằng các tầng nhà ở; vị trí nhà ở trên khuôn viên đất, tường chung, tường riêng. Riêng đối với căn hộ trong nhà chung cư thì thể hiện vị trí ngôi nhà, hình dáng, kích thước mặt bằng tầng có căn hộ và vị trí, hình dáng, kích thước, diện tích của căn hộ đề nghị cấp giấy. Việc đo vẽ sơ đồ nhà ở được thực hiện như sau:

a) Đối với trường hợp đề nghị cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà chủ nhà đã có bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở và không có thay đổi nội dung giữ bản vẽ so với thực tế thì không phải đo vẽ lại;

b) Đối với trường hợp đề nghị cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mà chủ nhà chưa có bản vẽ hoặc đã có bản vẽ nhưng thực tế nhà ở, đất ở đã có thay đổi so với nội dung bản vẽ đã có thì phải đo vẽ lại;

c) Chủ nhà có thể tự đo vẽ hoặc thuê tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng đo đạc thực hiện đo vẽ hoặc do cơ quan cấp giấy chứng nhận đo vẽ. Trong trường hợp chủ nhà tự đo vẽ thì bản vẽ phải có chữ ký của chủ nhà và có kiểm tra xác nhận của Sở Xây dựng nếu là nhà ở của tổ chức; có kiểm tra xác nhận của phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là nhà ở cá nhân tại đô thị; có kiểm tra xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nếu là nhà ở cá nhân tại nông thôn. Các bản vẽ đã có kiểm tra xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nêu tại điểm này là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (không phải thẩm tra lại);

d) Đối với nhà ở có phần xây dựng trên đất của chủ sử dụng khác hoặc nhà ở riêng lẻ có chung tường, khung cột với nhà ở của chủ khác thì bản vẽ sơ đồ phải có xác nhận của các chủ đó. Nếu các chủ sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở có chung tường, khung cột không xác nhận thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà ở có trách nhiệm kiểm tra xác nhận vào bản vẽ làm cơ sở để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người đề nghị cấp giấy;

đ) Đối với nhà ở xây dựng mới trong các dự án nhà ở, dự án khu đô thị mới thì sử dụng bản vẽ do chủ đầu tư cung cấp.

2. Bản vẽ sơ đồ thửa đất phải được thể hiện chính xác về ranh giới, đỉnh thửa phải có tọa độ chính xác. Mỗi thửa đất phải kèm theo thông tin về số hiệu thửa đất, tờ bản đồ, diện tích thửa đất, quy hoạch và ký hiệu loại đất;

Bản vẽ sơ đồ thửa đất phải do các đơn vị được cấp giấy phép hành nghề hoặc được đăng ký hành nghề đo đạc bản đồ lập và có xác nhận của cơ quan Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc bản vẽ sơ đồ đất do cơ quan Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cung cấp.

Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với nhà ở được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lần đầu (sau đây gọi tắt là cấp mới)

1. Cá nhân đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp giấy và nộp cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện. Trường hợp là cá nhân trong nước ở khu vực nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã và trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện;

Tổ chức đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp giấy và nộp cho Sở Xây dựng;

Trường hợp doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở để bán thì doanh nghiệp có trách nhiệm thay mặt bên mua làm thủ tục để cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho người mua theo quy định của Điều này.

2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (lập 01 bản: Cơ quan cấp giấy lưu 01 bản);

b) Bản sao giấy tờ về tạo lập nhà ở theo quy định tại Điều 11 Quy định này (lập 02 bản: Cơ quan thuế lưu 01 bản, cơ quan cấp giấy chứng nhận lưu 01 bản);

Đối với tổ chức trong nước đề nghị cấp giấy chứng nhận thì phải có thêm bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc bản sao quyết định thành lập. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đề nghị cấp giấy chứng nhận thì phải có thêm bản sao giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam;

c) Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở (lập 02 bản: Cơ quan thuế lưu 01 bản, cơ quan cấp giấy chứng nhận lưu 01 bản).

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, đối chiếu các bản sao với giấy tờ gốc, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp giấy, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở do tổ chức, cá nhân tự đo vẽ mà chưa có thẩm tra xác nhận của Sở Xây dựng nếu là tổ chức, của phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân tại đô thị, của Ủy ban nhân dân cấp xã nếu là cá nhân khu vực nông thôn thì trong giấy biên nhận phải hẹn thời gian đến thẩm tra; thời gian hẹn thẩm tra không được quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy và không tính vào thời hạn cấp giấy chứng nhận;

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi nộp hồ sơ. Lệ phí cấp giấy được hoàn trả lại cho các trường hợp không được cấp giấy, trừ trường hợp người đề nghị cấp giấy kê khai hồ sơ không đúng sự thật hoặc không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

5. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Xây dựng; phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng-Kinh tế cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, ký hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, quyết định cấp giấy chứng nhận, thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này.

6. Hồ sơ thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật gồm:

– Thông báo chuyển thuế (theo mẫu);

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở;

– Bản sao giấy tờ về tạo lập nhà đất;

Cơ quan thuế có trách nhiệm tính toán và hướng dẫn thủ tục cho người đề nghị cấp giấy nộp các khoản nghĩa vụ tài chính. Người đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ tài chính xong mới được nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; trường hợp người đề nghị cấp giấy có nguyện vọng ghi nợ tiền sử dụng đất thì sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật về đất đai;

Thời hạn người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính sẽ không tính vào thời hạn cấp giấy chứng nhận.

7. Chủ sở hữu nhà ở nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ, trường hợp người khác nhận thay thì phải có giấy ủy quyền của chủ sở hữu nhà ở có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận giấy chứng nhận, chủ sở hữu phải nộp biên lai thu các khoản nghĩa vụ tài chính đã được thông báo, các giấy tờ gốc về tạo lập nhà ở mà trong hồ sơ là bản sao cho cơ quan giao trả giấy để lưu hồ sơ (trừ quyết định phê duyệt dự án phát triển nhà ở; giấy chứng nhận đầu tư; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở quy định tại khoản 2 Điều 6 của Quy định này; chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền nhận giấy phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

 Cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (lần đầu) đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định

1. Trường hợp người đang sử dụng nhà ở, đất ở do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi là người nhận chuyển quyền) trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nhưng có giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của bên chuyển quyền (không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc chuyển quyền) thì không phải thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại  Điều 14 của Quy định này.

2. Trường hợp chuyển quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở mà các bên đã lập xong hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền nhưng người chuyển quyền sử dụng đất không nộp giấy chứng nhận hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 5 Điều 50 của Luật Đất đai (gọi là giấy tờ về quyền sử dụng đất) để làm thủ tục chuyển quyền thì thực hiện như sau:

a) Người nhận chuyển quyền nộp hồ sơ gồm đơn xin cấp giấy chứng nhận và hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại  Điều 14 của Quy định này;

b) Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở căn cứ vào hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất, thông báo bằng văn bản cho người chuyển quyền, thông báo phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có nhà, đất về việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nhận chuyển quyền và việc hủy các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất nhưng chưa được giao cho người nhận chuyển quyền đối với trường hợp chuyển quyền toàn bộ diện tích đất; về việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nhận chuyển quyền và việc chỉnh lý hoặc cấp mới giấy chứng nhận đối với trường hợp chuyển quyền một phần diện tích đất; trường hợp không rõ địa chỉ của người chuyển quyền để thông báo thì phải đăng tin trên báo địa phương ba số liên tiếp (chi phí đăng báo do người xin cấp giấy chứng nhận trả);

c) Sau thời hạn ba mươi (30) ngày, kể từ ngày thông báo hoặc đăng tin lần đầu tiên trên báo địa phương về việc làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nhận chuyển quyền mà không có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại Điều 14 của Quy định này; Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyết định hủy giấy chứng nhận đã cấp cho bên chuyển quyền nếu bên chuyển quyền không nộp giấy chứng nhận; nếu bên chuyển quyền nộp giấy chứng nhận thì chỉnh lý hoặc cấp mới giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật;

Trường hợp có đơn đề nghị giải quyết tranh chấp thì hướng dẫn các bên nộp đơn đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

Trình tự, thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở kể cả giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định số 60/CP mà trong quá trình sử dụng bị mất thì chủ sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp lại nộp cho Sở Xây dựng nếu là tổ chức, nộp cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân;

2. Hồ sơ đề nghị cấp lại bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận, trong đó nêu rõ lý do mất giấy chứng nhận và cam đoan chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình (theo mẫu);

b) Giấy tờ xác nhận về việc mất giấy chứng nhận của cơ quan công an cấp xã nơi mất giấy kèm theo giấy tờ chứng minh đã đăng tin trên phương tiện thông tin đại chúng một lần đối với khu vực đô thị hoặc đã niêm yết thông báo mất giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã trong thời hạn 10 ngày làm việc đối với khu vực nông thôn, trừ trường hợp có căn cứ rõ ràng là giấy chứng nhận bị tiêu hủy do thiên tai, hỏa hoạn.

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp lại trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp lại giấy chứng nhận có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy và được hoàn trả lệ phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 14 của Quy định này.

5. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Xây dựng; phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, ký hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này.

6. Người đề nghị cấp lại giấy chứng nhận nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại Sở Xây dựng nếu là tổ chức; tại phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân và phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Trình tự, thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở kể cả giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định số 60/CP mà trong quá trình sử dụng giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở bị hư hỏng rách nát hoặc hết trang ghi thay đổi thì chủ sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp đổi nộp cho Sở Xây dựng nếu là tổ chức, nộp cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân.

2. Hồ sơ đề nghị cấp đổi bao gồm:

– Đơn đề nghị cấp lại giấy chứng nhận (theo mẫu); Đơn được lập 01 bản (cơ quan cấp giấy lưu 01 bản);

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cũ.

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp đổi, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận;

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy và được hoàn trả lệ phí đã nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 14 của Quy định này.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Xây dựng; phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, ký hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này.

6. Người đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại Sở Xây dựng nếu là tổ chức; tại phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân và phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Trình tự, thủ tục xác nhận thay đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở kể cả giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định số 60/CP mà trong quá trình sử dụng nhà ở, đất ở có sự thay đổi về diện tích, tầng cao, kết cấu chính nhà ở so với những nội dung đã ghi trong giấy chứng nhận thì chủ sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị xác nhận thay đổi nộp cho Sở Xây dựng nếu là tổ chức; nộp cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân.

2. Hồ sơ đề nghị xác nhận thay đổi bao gồm:

– Đơn đề nghị xác nhận thay đổi giấy chứng nhận (theo mẫu): 01 bản (Cơ quan cấp giấy lưu 01 bản);

– Giấy tờ liên quan đến việc thay đổi quy định tại Điều 11 của Quy định này: 01 bản chính (cơ quan cấp giấy lưu);

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (bản chính);

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở có thay đổi về diện tích, tầng cao, kết cấu chính nhà ở: Mỗi loại 01 bản (cơ quan cấp giấy lưu).

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị xác nhận thay đổi giấy chứng nhận, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp tổ chức, cá nhân tự đo vẽ thì phải hẹn thời gian đến thẩm tra; thời gian hẹn thẩm tra không được quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy và không tính vào thời hạn xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận;

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy, xác nhận thay đổi biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi nộp hồ sơ. Lệ phí cấp giấy được hoàn trả lại cho các trường hợp không được cấp giấy, trừ trường hợp người đề nghị cấp giấy kê khai hồ sơ không đúng sự thật hoặc không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Xây dựng; phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị xác nhận thay đổi, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này.

6. Người đề nghị xác nhận thay đổi giấy chứng nhận nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại Sở Xây dựng nếu là tổ chức; tại phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân và phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

 Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với các trường hợp chuyển nhượng nhà ở đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

1. Tổ chức, cá nhân mua, thuê mua, được tặng cho, đổi, được thừa kế nhà ở mà bên chuyển nhượng đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở cấp theo Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cấp theo Nghị định số 60/CP có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp giấy nộp cho Sở Xây dựng nếu là tổ chức, nộp cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện nếu là cá nhân. Trường hợp là cá nhân trong nước ở khu vực nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã và trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện.

2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở:

a) Đối với trường hợp chuyển nhượng toàn bộ nhà ở:

– Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu): 01 bản (cơ quan cấp giấy lưu 01 bản);

– Hợp đồng (văn bản) mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế nhà ở theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở đã được chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với nhà ở tại nông thôn: 02 bản (Cơ quan cấp giấy lưu 01 bản, cơ quan thuế lưu 01 bản);

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của bên chuyển nhượng: 01 bản chính và 01 bản sao (cơ quan cấp giấy lưu 01 bản chính, cơ quan thuế lưu 01 bản sao).

b) Đối với trường hợp chuyển nhượng một phần nhà ở:

– Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (theo mẫu): 01 bản (cơ quan cấp giấy lưu 01 bản);

– Hợp đồng (văn bản) mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế nhà ở theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở đã được chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với nhà ở tại nông thôn: 02 bản (cơ quan cấp giấy lưu 01 bản, cơ quan thuế lưu 01 bản);

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở của bên chuyển nhượng: 01 bản chính và 01 bản sao (cơ quan cấp giấy lưu 01 bản chính, cơ quan thuế lưu 01 bản sao);

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở có thể hiện phần diện tích nhà chuyển nhượng, bản vẽ sơ đồ đất đã tách thửa do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cung cấp: Mỗi loại 02 bản (cơ quan cấp giấy lưu mỗi loại 01 bản, cơ quan thuế lưu mỗi loại 01 bản). 

3. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, đối chiếu các bản sao với giấy tờ gốc, nếu hồ sơ đã có đủ các giấy tờ theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải viết giấy biên nhận cho người đề nghị cấp giấy, trong đó ghi rõ thời gian giao trả giấy chứng nhận. Trường hợp chỉ chuyển nhượng một phần nhà ở so với giấy chứng nhận đã được cấp mà bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở chưa có thẩm tra xác nhận của cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều 14 của Quy định này thì trong giấy biên nhận phải hẹn thời gian đến thẩm tra; thời gian hẹn thẩm tra không được quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy và không tính vào thời hạn cấp giấy chứng nhận;

Trường hợp hồ sơ không đủ các giấy tờ theo quy định thì người tiếp nhận hồ sơ phải nêu rõ lý do và có trách nhiệm hướng dẫn cụ thể ngay khi nhận hồ sơ để người đề nghị cấp giấy biết, bổ sung hồ sơ.

4. Tổ chức, cá nhân đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi nộp hồ sơ. Lệ phí cấp giấy được hoàn trả lại cho các trường hợp không được cấp giấy, trừ trường hợp người đề nghị cấp giấy kê khai hồ sơ không đúng sự thật hoặc không thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

5. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Xây dựng; phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, ký hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 1 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này;

Đối với trường hợp chuyển nhượng một phần nhà ở thì phần nhà đất còn lại thì sẽ thực hiện việc xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đã được cấp hoặc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở mới cho bên chuyển nhượng, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này. 

6. Hồ sơ thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật gồm:

– Thông báo chuyển thuế (theo mẫu);

– Hợp đồng (văn bản) mua bán, thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế nhà ở theo quy định tại Điều 93 của Luật Nhà ở đã được chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với nhà ở tại nông thôn;

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở;

– Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

Cơ quan thuế có trách nhiệm tính toán và hướng dẫn thủ tục cho người đề nghị cấp giấy nộp các khoản nghĩa vụ tài chính. Người đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp các khoản nghĩa vụ tài chính xong mới được nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở;

Thời hạn người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính sẽ không tính vào thời hạn cấp giấy chứng nhận.

7. Chủ sở hữu nhà ở nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở tại cơ quan đã tiếp nhận hồ sơ, trường hợp người khác nhận thay thì phải có giấy ủy quyền của chủ sở hữu nhà ở có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Khi nhận giấy chứng nhận, chủ sở hữu phải nộp biên lai thu các khoản nghĩa vụ tài chính đã được thông báo, chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền nhận giấy phải ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp mua nhà theo Nghị định số 61/CP ngày 05 tháng 07 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở (sau đây gọi tắt là Nghị định số 61/CP)

1. Cá nhân đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị cấp giấy và nộp cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện. Trường hợp là cá nhân trong nước ở khu vực nông thôn thì có thể nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã và trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện.

2. Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận bao gồm:

– Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở (lập 01 bản: Cơ quan cấp giấy lưu);

– Hợp đồng mua bán nhà ở, bản thanh lý hợp đồng mua bán nhà của Công ty Cổ phần Kinh doanh nhà Đồng Nai, biên lai nộp tiền mua nhà;

– Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở (lập 01 bản: Cơ quan cấp giấy chứng nhận lưu).

3. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, phòng Quản lý Đô thị, Hạ tầng – Kinh tế cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, thể hiện các nội dung trên giấy chứng nhận, trình cơ quan có thẩm quyền ký giấy chứng nhận, thông báo cho người đề nghị cấp giấy chứng nhận nộp các khoản nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở và giao trả giấy chứng nhận cho người đề nghị cấp giấy, đồng thời có trách nhiệm sao 01 bản giấy chứng nhận và bản vẽ sơ đồ đất chuyển cho cơ quan quản lý đất đai cùng cấp để lưu theo quy định tại khoản 7 Điều 6 của Quy định này;

Đối với trường hợp nhà ở trên khuôn viên đất diện tích lớn hơn hạn mức đất ở đã bán, nếu không chia tách được phần diện tích đất ở với phần diện tích đất khác thì sẽ cấp 2 giấy: Về nhà thì cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo mẫu giấy quy định tại khoản 2 Điều 44 của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, về đất sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

4. Cá nhân đề nghị cấp giấy có trách nhiệm nộp ngay lệ phí cấp giấy cho cơ quan tiếp nhận hồ sơ khi nộp hồ sơ.

5. Trước khi nhận giấy chứng nhận, chủ sở hữu phải nộp bản gốc Hợp đồng mua bán nhà đã được Công ty Kinh doanh nhà ký và ký nhận vào sổ đăng ký quyền sở hữu nhà ở.

SOURCE:

Luật Nhà ở ngày 29 tháng 11 năm 2005;
 Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai;
 Chỉ thị số 34/2006/CT-TTg ngày 26 tháng 09 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành Luật Nhà ở;
Thông tư số 05/2006/TT-BXD ngày 01/11/2006 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày 06/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;

Quyết định số 51/2007/qdd-ubnd BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT

1- Phương pháp so sánh trực tiếp

Việc định giá đất theo phương pháp so sánh trực tiếp phải tiến hành các bước sau đây:

a- Bước 1: Khảo sát và thu thập thông tin

– Xác định địa điểm của thửa đất, khu đất trống (đất chưa được đầu tư xây dựng các công trình trên đất) so sánh được với thửa đất, khu đất cần định giá để thu thập thông tin.

Mỗi loại đất cần định giá, phải lựa chọn từ 3 đến 5 thửa đất, khu đất trống ở khu vực liền kề hoặc khu vực lân cận với thửa đất, khu đất cần định giá đã được chuyển nhượng thành công trên thị trường (bao gồm giao dịch trực tiếp giữa các cá nhân, tổ chức với nhau; trúng đấu giá quyền sử dụng đất, giao dịch thành công trên sàn giao dịch bất động sản) có những đặc điểm tương tự với thửa đất, khu đất cần định giá về: loại đất, vị trí đất, qui mô diện tích, kết cấu hạ tầng, đặc điểm pháp lý và mục đích sử dụng đất.

– Thời gian thu thập thông tin:

Những thông tin cần thu thập phải diễn ra trong khoảng thời gian gần nhất với thời điểm khảo sát để xác định giá của thửa đất, khu đất cần định giá.

Trường hợp không thu thập được những thông tin trong khoảng thời gian gần nhất, thì có thể thu thập thông tin về các cuộc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời hạn 01 năm tính đến thời điểm khảo sát để xác định giá đất.

– Những thông tin cần thu thập:

+ Vị trí;

+ Hiện trạng sử dụng đất (loại đất, qui mô diện tích và kích thước các cạnh, địa hình, tài sản trên đất, mục đích sử dụng đất hiện tại, mục đích sử dụng đất theo quy hoạch);

+ Điều kiện về kết cấu hạ tầng;

+ Môi trường (bao gồm môi trường tự nhiên như cảnh quan, nguồn nước, không khí, tiếng ồn, v.v. và môi trường xã hội như trật tự và an ninh xã hội, trình độ dân trí);

+ Các đặc điểm về pháp lý (qui hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng nơi có thửa đất, khu đất; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; mức độ hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật, v.v.);

+ Thời điểm chuyển nhượng, giao dịch hoặc đấu giá quyền sử dụng đất thành công; mức giá chuyển nhượng, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất;

+ Thời gian, điều kiện giao dịch chuyển nhượng và thanh toán.

– Điều kiện của thông tin:

Những thông tin trên đây phải được thu thập từ kết quả những cuộc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường quy định tại khoản 2 Điều 1của Nghị định số 123/2007/NĐ-CP.

b- Bước 2: So sánh, phân tích thông tin:

Căn cứ những thông tin đã khảo sát, thu thập được ở Bước 1, tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh để lựa chọn những tiêu chí giống nhau và khác nhau giữa các thửa đất, khu đất so sánh với thửa đất, khu đất cần định giá. Trên cơ sở đó xác định các tiêu chí giống và khác biệt về giá để tính toán, xác định giá cho thửa đất, khu đất cần định giá.

c- Bước 3: Thực hiện điều chỉnh các yếu tố khác biệt về giá giữa các thửa đất, khu đất so sánh với thửa đất, khu đất cần định giá để xác định giá cho thửa đất cần định giá.

Giá trị ước tính của thửa đất, khu đất cần định giá được tính theo cách điều chỉnh các yếu tố khác biệt về giá với từng thửa đất, khu đất so sánh như sau:

Giá trị ước tính của thửa đất, khu đất cần định giá = Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của từng thửa đất, khu đất so sánh ± Mức tiền điều chỉnh về giá hình thành từ những yếu tố khác biệt của từng thửa đất, khu đất so sánh với thửa đất, khu đất cần định giá

Trong đó, mức tiền điều chỉnh về giá xuất phát từ những khác biệt về vị trí đất, kết cấu hạ tầng, đặc điểm pháp lý, mức độ ô nhiễm môi trường, v.v. của từng thửa đất, khu đất so sánh so với thửa đất, khu đất cần định giá. Mức tiền điều chỉnh về giá theo từng yếu tố khác biệt giữa thửa đất so sánh và thửa đất cần định giá (có thể tính theo giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm (%) của giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế của thửa đất so sánh trên thị trường trong điều kiện bình thường tại địa phương, sau đó tính thành tiền) được xác định căn cứ vào đánh giá của các tổ chức tư vấn hoặc các chuyên viên và cơ quan có nhiệm vụ trực tiếp xác định giá đất tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể tại địa phương căn cứ vào các chứng cứ thị trường.

Trường hợp giá đất có biến động trong khoảng thời gian từ thời điểm chuyển nhượng thành công quyền sử dụng đất của thửa đất so sánh đến thời điểm xác định giá của thửa đất cần định giá, thì trước khi thực hiện việc điều chỉnh mức giá của thửa đất so sánh theo công thức nêu trên, cần phải điều chỉnh (tăng hoặc giảm) mức giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất so sánh theo chỉ số biến động (tăng hoặc giảm) giá của loại đất đó trong khoảng thời gian này. Chỉ số biến động giá của từng loại đất có thể được tính toán từ những thông tin mà Sở Tài chính hoặc các tổ chức tư vấn về giá đất thu thập thông qua việc điều tra, khảo sát và thống kê giá đất theo hướng dẫn tại Thông tư số 80/2005/TT-BTC ngày 15/9/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc tổ chức mạng lưới thống kê và điều tra, khảo sát giá đất, thống kê báo cáo giá các loại đất theo quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP; hoặc số liệu thống kê của cơ quan thống kê (nếu có).

d- Bước 4: Xác định giá của thửa đất cần định giá bằng cách lấy số bình quân của các mức giá của 3 đến 5 thửa đất, khu đất so sánh đã tính toán điều chỉnh khác biệt về giá ở Bước 3.

Ví dụ về áp dụng phương pháp so sánh để xác định giá đất (xem Phụ lục 1).

2- Phương pháp thu nhập

Việc định giá đất theo phương pháp thu nhập phải tiến hành các bước sau:

a- Bước 1: Tính tổng thu nhập hàng năm thu được từ thửa đất, khu đất cần định giá

– Đối với đất trống hoặc đất có xây dựng công trình kiến trúc (nhà cửa) để cho thuê thì tổng thu nhập của thửa đất cần định giá chính là số tiền thuê đất hoặc số tiền thuê bất động sản (bao gồm đất và tài sản trên đất) thu được hàng năm. Tiền thuê đất hoặc tiền thuê bất động sản tính theo mặt bằng giá tiền thuê đất hoặc bất động sản trên thị trường tại thời điểm định giá đất.

– Đối với đất nông nghiệp mà người được giao đất tự tổ chức sản xuất thì tổng thu nhập được tính như sau:

+ Đối với đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản thì tổng thu nhập của thửa đất cần định giá chính là tổng doanh thu từ hoạt động sản xuất nói trên của thửa đất thu được hàng năm.

+ Đối với đất trồng cây lâu năm (cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lấy gỗ) thì tổng thu nhập được tính trên cơ sở doanh thu hàng năm, doanh thu theo giai đoạn, doanh thu một lần tùy theo đặc điểm của từng loại cây.

b- Bước 2: Tính tổng chi phí hàng năm phải chi ra hình thành tổng thu nhập

Tổng chi phí bao gồm các khoản chi phí cụ thể như thuế sử dụng đất, chi phí đầu tư cải tạo, chi phí sản xuất. Các khoản chi phí này được tính theo các quy định hiện hành của Nhà nước; khoản chi phí nào không có quy định của Nhà nước thì tính theo giá thực tế phổ biến tại thị trường địa phương mà cơ sở sản xuất, kinh doanh đã chi trả (qui định trong hợp đồng, hóa đơn mua bán hàng hóa do cơ quan tài chính có thẩm quyền phát hành).

Đối với trường hợp thửa đất cần định giá đã được đầu tư, xây dựng các tài sản trên đất, tổng chi phí hàng năm không bao gồm khoản trích khấu hao cơ bản của các tài sản trên đất.

c- Bước 3: Xác định thu nhập thuần túy hàng năm theo công thức sau:

Thu nhập thuần túy hàng năm = Tổng thu nhập hàng năm đã tính ở Bước 1 – Tổng chi phí đã tính ở Bước 2

d- Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức sau:

Giá đất ước tính = Thu nhập thuần túy hàng năm thu được từ thửa đất/Lãi suất tiền gửi tiết kiệm tiền đồng Việt Nam kỳ hạn 12 tháng

Khi định giá đất theo phương pháp thu nhập, tổng thu nhập, tổng chi phí xác định ở Bước 1, Bước 2 và thu nhập thuần túy xác định ở Bước 3 phải là tổng thu nhập, tổng chi phí và mức thu nhập thuần túy bình quân của vị trí đất của loại đất cần định giá và đúng với mục đích sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và được tính bình quân trong 3 năm ngay trước thời điểm xác định giá đất. Trường hợp không thu thập được số liệu trong 3 năm thì sử dụng số liệu của năm ngay trước thời điểm định giá đất. Việc tính tổng thu nhập, tổng chi phí phải tính theo mặt bằng giá tại thời điểm định giá đất bằng cách áp dụng đơn giá về hàng hóa, vật tư, dịch vụ, và tiền công lao động tại thời điểm định giá đất đối với khối lượng về chi phí theo khoản mục và khối lượng sản phẩm sản xuất của các năm (nếu loại chi phí có giá do Nhà nước quy định thì tính theo giá Nhà nước, nếu loại chi phí không có giá do Nhà nước quy định thì tính theo mặt bằng giá thị trường).

Lãi suất tiền gửi tiết kiệm tiền đồng Việt Nam (VNĐ) loại có kỳ hạn 12 tháng là mức lãi suất tại ngân hàng thương mại có mức lãi suất cao nhất tại địa phương.

Ví dụ về áp dụng phương pháp thu nhập để xác định giá đất (xem Phụ lục 2).

Đối với những thửa đất đã được đầu tư, xây dựng các tài sản trên đất (bao gồm công trình, nhà cửa, vật kiến trúc; hoặc trồng cây lâu năm như cao su, cà phê, chè, tiêu, điều, cây ăn quả, v.v.) để đưa vào kinh doanh, sản xuất thì trước hết áp dụng phương pháp thu nhập để ước tính giá trị của cả thửa đất và tài sản trên đất; sau đó thực hiện khấu trừ phần giá trị tài sản trên đất, phần còn lại là giá trị của thửa đất.

Phương pháp tính toán chiết trừ giá trị tài sản trên đất thực hiện như hướng dẫn tại điểm c, mục 3, Phần I của Thông tư này.

3. Phương pháp chiết trừ

Khi áp dụng phương pháp chiết trừ để định giá đất cho mỗi loại đất phải tiến hành các bước sau đây:

a- Bước 1: Thu thập thông tin trên thị trường để lựa chọn ít nhất 3 bất động sản (bao gồm đất và tài sản trên đất) đã chuyển nhượng thành công, mà thửa đất của các bất động sản đó có những đặc điểm tương tự với thửa đất cần định giá (vị trí, hiện trạng, điều kiện kết cấu hạ tầng, đặc điểm pháp lý, mục đích sử dụng, giá cả…).

Thời gian của những thông tin cần thu thập trên thị trường áp dụng như hướng dẫn tại Bước 1 của Phương pháp so sánh trực tiếp.

b- Bước 2: Khảo sát thực địa và mô tả đầy đủ, chính xác về các tài sản trên đất (bao gồm nhà cửa, vật kiến trúc, cây lâu năm) của các bất động sản nói trên.

c- Bước 3: Xác định giá trị hiện tại của các tài sản đã đầu tư xây dựng trên đất.

Giá trị hiện tại của các tài sản trên đất = Giá trị xây dựng mới tại thời điểm định giá – Phần giá trị hao mòn

Trong đó:

– Giá trị xây dựng mới tại thời điểm định giá được tính bằng chi phí thay thế để đầu tư xây dựng các tài sản mới có công dụng tương đương với các tài sản hiện có trên đất hoặc chi phí tái tạo (tức là, đầu tư xây dựng các tài sản mới giống y hệt) các tài sản trên đất đó. Giá trị xây dựng mới bao gồm các khoản chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và mức lãi hợp lý cho người đầu tư xây dựng.

– Giá trị hao mòn của các tài sản trên đất bao gồm cả hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình (bao gồm các hao mòn về mặt vật lý do hư hao dần trong quá trình khai thác sử dụng; hao mòn do lạc hậu về chức năng và do tác động của các yếu tố bên ngoài).

Phương pháp tính giá trị xây dựng mới và giá trị hao mòn của các tài sản trên đất thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính và những Tiêu chuẩn Thẩm định giá Việt Nam. Trường hợp chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về phương pháp tính giá trị xây dựng mới và giá trị hao mòn thì việc tính toán thực hiện theo đánh giá của chuyên gia tư vấn, của chuyên viên hoặc tổ chức trực tiếp xác định giá trên cơ sở những thông tin, số liệu thực tế thu thập được trên thị trường.

d- Bước 4: Tính toán giá trị của các thửa đất của các bất động sản đã lựa chọn ở Bước 1

Giá trị của thửa đất = Giá chuyển nhượng bất động sản – Giá trị hiện tại của các tài sản trên đất

Đơn giá của thửa đất = Giá trị của thửa đất/Diện tích thửa đất

e- Bước 5: Xác định giá trị của thửa đất cần định giá

Căn cứ vào những khác biệt chủ yếu giữa thửa đất cần định giá và các thửa đất của các bất động sản nêu trên, tiến hành điều chỉnh giá các thửa đất của các bất động sản (tương tự như Bước 3 của phương pháp so sánh trực tiếp).

Đơn giá của thửa đất cần định giá được xác định theo đơn giá bình quân của các đơn giá đất đã điều chỉnh của các bất động sản đó.

Ví dụ về áp dụng phương pháp chiết trừ để xác định giá đất (xem Phụ lục 3).

4. Phương pháp thặng dư

Khi áp dụng phương pháp thặng dư để định giá đất phải tiến hành các bước sau đây:

a- Bước 1: Xác định mục đích sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất của khu đất dựa vào các căn cứ sau:

– Đặc điểm của khu đất;

– Quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị; quy hoạch và các quy định về xây dựng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

b- Bước 2: Ước tính tổng giá trị phát triển của bất động sản.

Tổng giá trị phát triển của bất động sản bao gồm tổng giá trị nhà cửa, đất phân lô, v.v. dự kiến sẽ bán được khi hoàn thành dự án đầu tư vào khu đất.

Việc ước tính tổng giá trị phát triển phải tiến hành trên cơ sở điều tra, khảo sát giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường đối với nhà cửa, căn hộ, công trình kiến trúc, đất phân lô, v.v tại những dự án đã hoàn thành mà có những đặc điểm tương tự với dự án bất động sản dự kiến đầu tư xây dựng ở khu vực liền kề hoặc những khu vực lân cận có mức sinh lợi, có điều kiện kết cấu hạ tầng tương đương; có dự kiến và tính đến xu hướng và mức độ biến động của giá thị trường để ước tính mức giá dự kiến bán được cho phù hợp với thực tế.

c- Bước 3: Ước tính tổng chi phí phát triển.

Chi phí phát triển bao gồm tất cả các khoản chi phí mà nhà đầu tư bỏ ra để xây dựng kết cấu hạ tầng (bao gồm xây dựng đường sá, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống cung cấp điện, v.v.); tạo cảnh quan môi trường; xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc hoặc phân lô đất để bán theo đúng quy hoạch chi tiết đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; chi phí quảng cáo, bán hàng; chi phí quản lý chung; lợi nhuận của nhà đầu tư (có tính đến yếu tố rủi ro kinh doanh).

Việc ước tính tổng chi phí phát triển phải được xác định trên cơ sở đơn giá, suất vốn đầu tư, những định mức theo hướng dẫn hoặc theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trường hợp chưa được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định, hướng dẫn thì xác định theo mức chi phí thực tế phổ biến của các dự án tương tự ở khu vực liền kề hoặc khu vực lân cận.

Trường hợp dự án đầu tư phát triển bất động sản kéo dài trong nhiều năm, nhiều giai đoạn khác nhau và ước tính các khoản doanh thu và chi phí thực hiện theo từng năm thì phải chiết khấu các khoản doanh thu và chi phí về giá trị hiện tại tại thời điểm định giá đất theo công thức sau:

Tổng giá trị phát triển = Bị lỗi xem nội dung thông tư 145/2007/tt-btc

Tổng chi phí phát triển = Bị lỗi xem nội dung thông tư 145/2007/tt-btc

Trong đó:

– TRi là doanh thu năm thứ i của dự án

– Ci là chi phí năm thứ i của dự án

– r là tỷ lệ chiết khấu dòng tiền quy về giá trị thời điểm hiện tại (tính theo lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại cho vay để thực hiện dự án đầu tư phát triển bất động sản)

– n là số năm thực hiện dự án (từ khi khởi công đến khi hoàn thành dự án đầu tư phát triển bất động sản).

d- Bước 4: Xác định giá trị của thửa đất:

Giá trị ước tính của thửa đất = Tổng giá trị phát triển – Tổng chi phí phát triển

Ví dụ về áp dụng phương pháp thặng dư để xác định giá đất (xem Phụ lục 4).

5. Điều kiện áp dụng các phương pháp xác định giá đất

5.1. Khi áp dụng các phương pháp xác định giá đất các thông tin, số liệu cần thiết để tính toán đi đến kết luận về mức giá cụ thể đều phải thu thập trên thị trường trong điều kiện bình thường, đồng thời phải phân tích, lựa chọn các thông tin, số liệu chính xác và có độ tin cậy cao.

5.2. Trong trường hợp thu thập được đầy đủ thông tin, số liệu để có thể áp dụng cả bốn phương pháp xác định giá đất, thì sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp làm phương pháp chủ yếu để xác định giá đất.

5.3. Trong các trường hợp sau đây cần phải sử dụng kết hợp ít nhất hai phương pháp xác định giá đất quy định tại Thông tư này để kiểm tra, so sánh, đối chiếu các mức giá ước tính để quyết định mức giá cụ thể:

– Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa diễn ra phổ biến trên thị trường, số liệu thu thập được không có tính hệ thống;

– Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường biến động thất thường, không phản ánh đúng quan hệ cung – cầu về đất trong điều kiện bình thường.

– Mức giá đất ước tính bằng cách áp dụng một trong hai phương pháp xác định giá đất có kết quả cao hơn mức giá tối đa của khung giá do Chính phủ qui định tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP.

5.4- Các phương pháp xác định giá đất trên đây được áp dụng để xác định giá trị của thửa đất, khu đất cụ thể làm căn cứ để định giá đất hàng loạt cho từng vị trí đất theo hướng dẫn tại Phần II Thông tư này.

II. ĐỊNH GIÁ ĐẤT CỤ THỂ TẠI ĐỊA PHƯƠNG

1- Một số công việc chuẩn bị để tiến hành định giá đất

a- Tiến hành phân định ranh giới các vùng: đồng bằng, trung du và miền núi theo địa giới hành chính cấp xã để áp khung giá các loại đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn do Chính phủ qui định theo vùng: đồng bằng, trung du, miền núi vào từng loại xã tại địa phương (tỉnh, thành phố) cho phù hợp.

b- Quy định vị trí các loại đất nông nghiệp: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất nuôi trồng thủy sản; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng và đất nông nghiệp khác theo nguyên tắc quy định tại điểm b, khoản 7 Điều 1 của Nghị định 123/2007/NĐ-CP.

Vị trí của các loại đất nông nghiệp được phân thành các vị trí có số thứ tự từ thứ 1 trở đi. Việc xác định vị trí đất nông nghiệp chủ yếu căn cứ vào yếu tố khoảng cách so với nơi cư trú của người sử dụng đất, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, gần và thuận lợi về giao thông là những yếu tố tạo lợi thế cho người sản xuất giảm được chi phí đi lại, chi phí lưu thông (mua vật tư, bán sản phẩm), chi phí tiêu thụ sản phẩm nhưng có kết hợp với các yếu tố tạo lợi thế cho sản xuất như:

– Vị trí 1 bao gồm khu vực đất cùng điều kiện kinh tế – xã hội, cùng kết cấu hạ tầng, cùng mục đích sử dụng đất: có từ 1 đến 3 yếu tố về khoảng cách so với nơi cư trú, thị trường tiêu thụ, thị trường giao thông kết hợp với các lợi thế tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp quy định dưới đây:

+ Có khoảng cách liền kề hoặc gần nhất so với:

Nơi cư trú của người sử dụng đất, nơi cư trú được xác định là trung tâm của thôn (xóm, ấp, bản nơi có đất).

Thị trường tiêu thụ nông sản phẩm (chợ nông thôn, chợ đô thị, nơi thu mua nông sản tập trung).

Đường giao thông (giao thông đường bộ bao gồm quốc lộ, tỉnh lộ; đường liên huyện. Đối với nơi không có quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ thì căn cứ vào đường giao thông liên xã; giao thông đường thủy (ở những nơi sử dụng giao thông đường thủy là chủ yếu) bao gồm: sông, ngòi, kênh).

+ Có các yếu tố có lợi thế tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp bao gồm: địa hình bằng phẳng, điều kiện tưới tiêu chủ động, độ phì nhiêu của đất cao, thời tiết khí hậu thuận lợi cho sản xuất kinh doanh.

– Vị trí theo thứ tự từ thứ hai trở đi có các điều kiện kém hơn vị trí số 1 nêu trên.

Đối với một số trường hợp cụ thể, cách phân loại vị trí đất được áp dụng như sau:

+ Nếu khu đất có các yếu tố lợi thế tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp nhưng có từ 1 đến 3 yếu tố về khoảng cách xa hơn so với nơi cư trú của người sử dụng đất, thị trường tiêu thụ sản phẩm, đường giao thông thì vẫn phân thành các vị trí đất thấp hơn vị trí số 1.

+ Nếu khu đất có từ 1 đến 3 yếu tố về khoảng cách liền kề hoặc gần nhất so với nơi cư trú của người sử dụng đất, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, đường giao thông nhưng có một hoặc một số yếu tố lợi thế đối với sản xuất nông nghiệp chỉ đạt mức trung bình hoặc dưới mức trung bình vẫn được phân thành vị trí số 1.

Căn cứ vào đặc điểm của từng loại đất nông nghiệp và đặc điểm về sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp trong từng vùng, từng khu vực đất tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định các tiêu chí và khoảng cách cụ thể về vị trí đất theo thứ tự từ số 1 trở đi đến số cuối cùng và xác định số lượng vị trí từng khu vực đất để xác định vị trí từng loại đất nông nghiệp cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

c- Quy định các tiêu chí cụ thể về vị trí đất theo thứ tự từ số 1 trở đi đến số cuối cùng phù hợp với điều kiện của địa phương và xác định số lượng vị trí đất làm muối và vị trí của các loại đất phi nông nghiệp tại nông thôn để định giá đất theo các tiêu chí chung quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 9 Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, cụ thể sau:

– Đối với đất làm muối: Căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xếp loại vị trí theo tiêu chí dựa vào khoảng cách từ cánh đồng muối đến kho muối tập trung tại khu sản xuất hoặc khoảng cách từ đồng muối đến đường giao thông liên huyện (trường hợp không có đường giao thông liên huyện đi qua thì căn cứ vào khoảng cách với đường giao thông liên xã).

– Đối với đất ở; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn: Căn cứ vào điều kiện cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành xác định khu vực đất cần định giá; phân vị trí đất và quyết định số lượng vị trí đất của từng khu vực đất để định giá.

d- Quy định các tiêu chí cụ thể về vị trí đất để xếp loại vị trí đất và quyết định số lượng vị trí đất trong từng loại đường phố; phân loại đường phố và quyết định số lượng đường phố theo thứ tự từ số 1 trở đi đến số cuối cùng phù hợp với điều kiện của địa phương trong từng loại đô thị để định giá theo các tiêu thức chung quy định tại Điều 10, Nghị định số 188/2004/NĐ-CP.

Căn cứ điều kiện cụ thể tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể không xếp loại đường phố, mà phân loại vị trí đất và quy định số lượng vị trí đất cho từng đoạn phố, từng đường phố cụ thể để tiến hành định giá đất. Việc phân loại vị trí đất, phân chia từng đoạn phố, từng đường phố của từng loại đô thị để định giá cũng phải thực hiện theo các nguyên tắc chung quy định tại Điều 10 Nghị định số 188/2004/NĐ-CP.

e- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quyết định thành lập đô thị và xếp loại đô thị do cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với các đô thị thuộc địa bàn trong tỉnh để áp khung giá các loại đất ở và đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tại đô thị do Chính phủ qui định.

2- Định giá và điều chỉnh giá các loại đất cụ thể

a- Giá đất phải được quyết định theo đúng mục đích sử dụng đất được ghi tại một trong các loại văn bản sau:

– Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc ghi trong giấy tờ quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003; trường hợp không ghi rõ mục đích sử dụng đất thì mục đích sử dụng đất được xác định căn cứ vào mục đích sử dụng chính của thửa đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại thời điểm định giá đất;

– Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003; chưa có quy hoạch hoặc đã có quy hoạch sử dụng đất nhưng vẫn chưa được thực hiện, chưa đăng ký quyền sử dụng đất thì giá đất được quy định theo mục đích sử dụng hiện tại.

Trường hợp đối tượng sử dụng đất sử dụng toàn bộ hoặc một phần diện tích của thửa đất không đúng mục đích sử dụng đã được pháp luật công nhận hoặc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; sử dụng đất nông nghiệp bao gồm các loại đất quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật Đất đai năm 2003 để nuôi trồng xen canh, để kết hợp với việc tổ chức du lịch sinh thái và sử dụng đất phi nông nghiệp kết hợp với mục đích khác thì khi định giá đất vẫn theo mục đích sử dụng đất quy định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đăng ký quyền sử dụng đất nêu trên.

b- Mức giá cụ thể của từng vị trí đất của các loại đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định bằng đồng Việt Nam trên một đơn vị diện tích đất (m2) và không được vượt ra ngoài khung giá các loại đất và giới hạn cho phép do Chính phủ qui định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP; ngoại trừ những trường hợp sau đây:

– Trường hợp cá biệt khi quy định giá đất công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm, nếu trên địa bàn tỉnh (quy định tại điểm 3 khoản 5 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP) có các loại đất tại các vùng sâu, vùng xa thuộc các vùng đồng bằng, trung du, miền núi, hải đảo có điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn theo các tiêu chí do Nhà nước hướng dẫn hoặc do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, chưa được đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng hoặc kết cấu hạ tầng thấp kém; một số diện tích đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp hoặc đã được quy hoạch là đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại các phường thuộc các đô thị, tại các thị trấn nằm trên địa bàn miền núi, trung du nhưng chưa được đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng. Nếu giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường của các loại đất tại những khu vực trên thấp hơn mức giá tối thiểu của khung giá các loại đất và giới hạn cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định quy định tại khoản 5 Điều 1 của Nghị định số 123/2007/NĐ-CP thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định giá đất cụ thể thấp hơn cho phù hợp, đồng thời, gửi quyết định quy định giá đất đối với trường hợp cá biệt nói trên kèm theo bảng tổng hợp kết quả khảo sát giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại địa phương của những loại đất có mức giá thấp cá biệt đó về Bộ Tài chính để thực hiện việc kiểm tra (nếu thấy cần thiết).

– Đối với trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất không thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất, Nhà nước thu hồi đất và trường hợp doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa lựa chọn hình thức giao đất mà giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm dùng để áp giá cho những loại đất phải thực hiện các chính sách trên tại thời điểm giao đất, thời điểm có quyết định thu hồi đất, thời điểm tính giá đất vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại địa phương và các phương pháp xác định giá đất tại Thông tư này để điều chỉnh lại mức giá cụ thể thay thế mức giá đã quy định, công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm áp dụng đối với loại đất thực hiện chính sách trên cho phù hợp (sau khi đã xin ý kiến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp).

Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan xác định giá đất cụ thể trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định; trường hợp thuê tổ chức, doanh nghiệp có chức năng thẩm định giá, tổ chức tư vấn về giá đất để xác định giá đất thì Sở Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành liên quan thẩm định các mức giá đất do tổ chức, doanh nghiệp có chức năng thẩm định giá, tổ chức tư vấn về giá đất xác định và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức giá đất cụ thể của các thửa đất đảm bảo sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường.

Mức giá đất cụ thể quy định trong trường hợp này không bị giới hạn bởi khung giá đất do Chính phủ qui định tại khoản 5 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP; nhưng không được cao hơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường.

Việc quy định mức giá đất này chỉ áp dụng cá biệt trong phạm vi từng dự án, phục vụ cho các mục đích: để tính thu tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; để tính tiền bồi thường thiệt hại về đất khi Nhà nước thu hồi đất và để tính giá quyền sử dụng đất vào giá trị khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước lựa chọn hình thức giao đất. Đối với những mục đích khác ngoài các mục đích nêu trên thì áp dụng theo mức giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng chung cho từng vị trí đất tại khu vực đất đó.

– Các trường hợp quy định tại điểm 2: d và đ, khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 123/2007/NĐ-CP cũng được áp dụng khi quy định giá đất công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm.

Đối với đất ở và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn nằm ở các vị trí đặc biệt quy định tại điểm đ khoản 10 Điều 1 của Nghị định số 123/2007/NĐ-CP gồm các loại đất có vị trí mặt tiền liền cạnh với các trục đường giao thông chính (tỉnh lộ, quốc lộ) hoặc nằm tiếp giáp các đầu mối giao thông, khu thương mại, khu công nghiệp, khu du lịch thì Ủy ban nhân cấp tỉnh được quy định mức giá đất cụ thể cho vị trí tốt nhất của hai loại đất trên phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường địa phương trong điều kiện bình thường nhưng không được vượt quá 5 lần mức giá tối đa của khung giá đất ở tại nông thôn và không quá 3 lần mức giá tối đa của khung giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn do Chính phủ quy định tại Bảng 6 và Bảng 8 của các Bảng khung giá đất ban hành kèm theo Nghị định số 123/2007/NĐ-CP (không bao gồm phần giới hạn cho phép Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cao hơn 20% so với mức giá tối đa của khung giá các loại đất).

– Khi cấp có thẩm quyền thực hiện việc:

+ Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nếu giá đất trên thị trường của những loại đất ở những khu vực đất có thay đổi so với giá đất quy định công bố vào ngày 01 tháng 01 hàng năm thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh lại cho phù hợp theo các quy định hiện hành.

+ Quyết định cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh lại giá đất theo khung giá của mục đích sử dụng đất mới do Chính phủ quy định.

+ Quyết định nâng cấp đô thị từ loại thấp lên đô thị loại cao hơn thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều chỉnh giá các loại đất từ giá đất của đô thị loại thấp lên giá đất của đô thị loại cao hơn phù hợp với khung giá do Chính phủ quy định nhưng không được cao hơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm đó.

Tất cả các trường hợp điều chỉnh giá đất trong năm trên đây, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đều phải xin ý kiến thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp trước khi quyết định.

c- Định giá cụ thể cho từng vị trí đất của các loại đất mà Chính phủ có quy định khung giá đất:

– Đối với đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất rừng sản xuất, thực hiện định giá cho từng vị trí đất; đất tại vị trí số 1 có mức giá cao nhất, đất tại các vị trí tiếp sau có các mức giá thấp hơn.

Trường hợp cùng một loại đất nông nghiệp nói trên lại nuôi hoặc trồng nhiều loại cây, con khác nhau, thì chỉ qui định một mức giá đất thống nhất cho từng vị trí đất theo đất nuôi trồng loại cây, con chủ yếu trong vùng (ví dụ như đất trồng lúa của vùng đất trồng cây hàng năm); không qui định giá đất của cùng một vị trí đất của cùng một loại đất nông nghiệp trong cùng vùng đất khác biệt theo từng cây, con khác nhau.

– Đối với đất làm muối, thực hiện định giá theo vị trí đất. Đất tại vị trí số 1 có mức giá cao nhất, đất tại các vị trí tiếp sau có các mức giá thấp hơn.

– Đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại nông thôn, thực hiện định giá theo vị trí đất tại ba khu vực đất tại địa phương. Căn cứ vào tiêu chí xếp loại vị trí đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành xây dựng hệ số vị trí định giá đất cho từng khu vực đất theo nguyên tắc: Đất tại vị trí số 1 của khu vực nào có mức giá cao nhất tại khu vực đó, đất tại các vị trí tiếp sau của các khu vực đất tương ứng có các mức giá thấp hơn.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tiêu chí cụ thể và quy định số lượng ví trí đối với loại đất này để định giá.

– Đối với đất ở; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại đô thị, thực hiện định giá đất theo vị trí đất cho từng loại đường phố của các loại đô thị khác nhau.

Căn cứ vào điều kiện cụ thể tại địa phương, việc định giá hàng loạt cho từng vị trí đất có thể sử dụng một trong hai cách sau:

+ Cách thứ nhất: Định giá trực tiếp cho từng vị trí đất

Việc định giá hàng loạt cho từng vị trí đất được thực hiện dựa vào kết quả định giá một số thửa đất cụ thể của từng vị trí đất; phương pháp tiến hành như sau:

Trong mỗi vị trí đất của loại đất cụ thể lựa chọn ra tối thiểu ba (03) thửa đất tại các địa điểm khác nhau có tính đại diện cho vị trí đất đó. Sau đó, tiến hành xác định giá của từng thửa đất bằng cách áp dụng các phương pháp xác định giá đất như hướng dẫn tại Phần I Thông tư này và tính giá một đơn vị diện tích mét vuông (m2) của từng thửa đất.

Giá đất của từng vị trí đất (tính trên một mét vuông) được xác định là mức giá bình quân của các mức giá của các thửa đất đã lựa chọn nêu trên.

+ Cách thứ hai: Định giá đất vị trí 1, sau đó sử dụng hệ số vị trí đất để định giá cho các vị trí đất còn lại

Cách thức xác định giá đất vị trí 1 thực hiện như định giá trực tiếp cho từng vị trí đất ở cách thứ nhất.

Căn cứ vào tiêu chí xếp loại vị trí đất Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành xây dựng hệ số vị trí định giá đất cho từng loại đất theo từng khu vực, từng loại đường phố hoặc đường phố theo nguyên tắc: Đất tại vị trí số 1 có hệ số 1, đất tại các vị trí tiếp theo có hệ số thấp hơn ứng với các mức giá thấp hơn.

Hệ số vị trí định giá đất của tất cả các loại đất nêu trên là tỷ lệ so sánh giữa giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế phổ biến trên thị trường của từng vị trí đất so với vị trí số 1, hoặc tỷ lệ so sánh giữa các tiêu thức của từng vị trí đất.

Giá đất của tất cả các loại đất được định theo vị trí nêu trên được tính bằng cách lấy mức giá đất của vị trí đất đã xác định được (vị trí 1) nhân với hệ số vị trí định giá đất của từng loại đất.

Ví dụ: Cơ quan định giá đất đang tiến hành xác định giá đất ở tại đường phố H thuộc một đô thị đặc biệt để lập phương án giá đất trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định. Áp dụng các phương pháp xác định giá đất cơ quan định giá đất đã tính toán được giá đất vị trí 1 là 54.000.000 đồng/m2. Đất ở tại đường phố H được phân thành 4 vị trí đất khác nhau; căn cứ vào các tiêu chí phân loại vị trí đất và giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại khu vực đó, cơ quan định giá đã xây dựng được hệ số vị trí định giá đất từ vị trí 1 đến vị trí 4 tại đường phố H theo thứ tự là: 1; 0,45; 0,35; 0,30, giá đất của các vị trí tiếp theo vị trí số 1 được xác định như sau:

Đường phố H Hệ số vị trí định giá Giá đất vị trí 1 đã xác định được (1.000đ/m2) Giá các vị trí đất cụ thể (1.000đ/m2)
1 2 3 4 = 2 x 3
Vị trí số 1Vị trí số 2

Vị trí số 3

Vị trí số 4

1,000,45

0,35

0,30

54.000 54.00024.300

18.900

16.200

Đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại các thị xã, thị trấn chưa được xếp loại đô thị không nằm liền kề với các loại đô thị đã được cấp có thẩm quyền phân loại đô thị, khi định giá đất cụ thể được áp dụng khung giá đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại đô thị loại IV đối với thị xã và đô thị loại V đối với thị trấn nhưng không được vượt giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm định giá.

Đối với đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại các khu đô thị mới nằm liền kề với các đô thị đã được cấp có thẩm quyền phân loại đô thị, khi định giá đất cụ thể được áp dụng khung giá đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp tại đô thị của loại đô thị liền kề, hoặc loại đô thị lân cận gần nhất nhưng không được cao hơn giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường tại thời điểm định giá.

d- Định giá cụ thể đối với các loại đất mà Chính phủ không quy định khung giá đất:

– Đối với đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng: Căn cứ mức giá cụ thể mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quy định đối với đất rừng sản xuất để định giá đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Quy trình định giá đối với đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng thực hiện như quy trình định giá đối với đất rừng sản xuất hướng dẫn tại điểm c mục 2 Phần II Thông tư này.

Mức giá cụ thể cho từng vị trí đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng tối đa không vượt quá mức giá cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quy định cho từng vị trí đất rừng sản xuất.

Riêng đối với rừng đặc dụng mà nằm ở vị trí được kết hợp với cảnh quan, du lịch sinh thái – môi trường dưới tán rừng nếu được cấp có thẩm quyền cho thuê đất để tổ chức hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch, thì Ủy ban nhân cấp tỉnh, căn cứ vào hướng dẫn tại Thông tư này và quy định Nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28/3/2007 của Chính phủ về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng để quyết định mức giá đất cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

– Đối với đất nông nghiệp khác theo qui định tại điểm đ khoản 4 Điều 6 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 26 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai:

Giá các loại đất nông nghiệp khác được xác định căn cứ mức giá đất cụ thể mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quy định cho loại đất nông nghiệp liền kề hoặc ở khu vực lân cận trong cùng vùng (nếu không có đất liền kề).

Mức giá đất cụ thể qui định cho từng loại đất nông nghiệp khác tối đa không vượt quá mức giá cụ thể mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã qui định cho loại đất nông nghiệp liền kề, hoặc đất nông nghiệp ở khu vực lân cận.

– Đối với đất xây dựng trụ sở cơ quan và đất xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất tôn giáo tín ngưỡng (bao gồm đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng, đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ); đất phi nông nghiệp khác (gồm đất xây dựng nhà bảo tàng, nhà bảo tồn, nhà trưng bầy tác phẩm nghệ thuật, cơ sở sáng tác văn hóa nghệ thuật), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá đất ở liền kề hoặc giá đất ở tại vùng lân cận gần nhất (trường hợp không có đất liền kề) đã quyết định và căn cứ quy định tại khoản 10 Điều 1 Nghị định 123/2007/NĐ-CP để quy định mức giá đất cụ thể. Nếu các loại đất này nằm tại nông thôn thì căn cứ vào giá đất ở tại nông thôn khu vực đó; nếu nằm tại đô thị thì căn cứ vào giá đất ở tại đô thị đó.

Căn cứ vào đặc điểm của từng loại đất (qui mô diện tích, mật độ xây dựng, các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh qui định mức giá cụ thể cho từng vị trí đất của các loại đất này cho phù hợp nhưng không cao hơn mức giá cụ thể đã quy định cho vị trí đất tương tự của đất ở liền kề hoặc đất ở tại khu vực lân cận gần nhất (nếu không có liền kề).

– Đối với đất sử dụng vào các mục đích công cộng theo quy định của Chính phủ; các loại đất phi nông nghiệp khác (gồm đất cho các công trình xây dựng khác của tư nhân không nhằm mục đích kinh doanh và không gắn liền với đất ở; đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động; đất đô thị được sử dụng để xây dựng nhà phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; đất xây dựng chuồng trại chăn nuôi động vật được pháp luật cho phép; đất xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; đất xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp liền kề hoặc tại vùng lân cận gần nhất (trường hợp không có đất liền kề) đã quyết định và căn cứ quy định tại khoản 10 Điều 1 Nghị định 123/2007/NĐ-CP để quy định mức giá cụ thể.

Mức giá cụ thể quy định cho từng vị trí đất của các loại đất nói trên tối đa không cao hơn mức giá cụ thể mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã qui định cho vị trí tương tự của đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp liền kề hoặc tại vùng lân cận gần nhất (trường hợp không có đất liền kề).

– Đối với đất làm nghĩa trang, nghĩa địa: Căn cứ mức giá cụ thể mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quy định đối với giá các loại đất liền kề để định giá cho các loại đất trên. Trường hợp loại đất trên liền kề với nhiều loại đất khác nhau, thì căn cứ vào giá của loại đất có mức giá thấp nhất.

Mức giá cụ thể quy định cho từng vị trí đất của loại đất nói trên tối đa không cao hơn mức giá cụ thể mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã qui định cho vị trí tương tự của loại đất liền kề.

– Đối với đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản thì áp dụng khung giá đất nuôi trồng thủy sản; sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp hoặc sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp kết hợp với nuôi trồng khai thác thủy sản, thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào giá đất phi nông nghiệp liền kề hoặc tại vùng lân cận gần nhất (nếu không có liền kề) và căn cứ quy định tại khoản 10 Điều 1 Nghị định 123/2007/NĐ-CP để quy định mức giá cụ thể.

3- Định giá đất tại khu vực giáp ranh:

a- Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

– Trường hợp đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo qui hoạch thì việc quy định giá đất thực hiện như sau:

+ Quy định ranh giới các loại đất khu vực giáp ranh căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 188/2004/NĐ-CP và khoản 9 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP.

+ Trước khi quyết định giá đất tại khu vực giáp ranh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh của các tỉnh có đất giáp ranh theo hướng dẫn trên phải tham khảo, trao đổi và thỏa thuận với nhau về mức giá dự kiến ban hành để đảm bảo việc quyết định mức giá đất cụ thể tại khu vực giáp ranh theo đúng quy định tại khoản 11 Điều 1 Nghị định số 123/2007/NĐ-CP.

+ Trường hợp các địa phương không thỏa thuận được với nhau về mức giá tại khu vực đất giáp ranh, thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.

– Trường hợp đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng, mục đích sử dụng đất hiện tại, mục đích sử dụng đất theo qui hoạch khác nhau thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định giá đất cụ thể tại khu vực này căn cứ vào điều kiện thực tế của từng địa phương.

b- Giá đất tại khu vực giáp ranh giữa các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, quy định giá đất tại các khu vực đất giáp ranh cho phù hợp theo nguyên tắc: Khoảng cách đất giáp ranh do tỉnh quy định nếu có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau.

Trường hợp tại khu vực giáp ranh mà điều kiện kết cấu hạ tầng không như nhau thì giá đất tại khu vực đất giáp ranh được xác định căn cứ vào điều kiện thực tế của từng khu vực.

Đối với đất ở tại nông thôn ở các vùng ven đô thị (bao gồm các xã tiếp giáp với nội thành phố và thị trấn thuộc đô thị đặc biệt và đô thị loại I và các thôn (ấp) tiếp giáp với nội thành phố, thị xã thị trấn của các đô thị còn lại), thì giá đất tại khu vực này được xác định theo nguyên tắc định giá cho các thửa đất liền kề và được vận dụng khung giá đất do Chính phủ qui định cho loại đô thị nằm liền kề.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh qui định cụ thể về giá đất ở tại nông thôn ở các vùng ven đô thị.

SOURCE:

THÔNG TƯ SỐ 145/2007/TT-BTC HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 188/2004/NĐ-CP NGÀY 16/11/2004 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ ĐẤT VÀ KHUNG GIÁ CÁC LOẠI ĐẤT VÀ NGHỊ ĐỊNH SỐ 123/2007/NĐ-CP NGÀY 27/7/2007 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 188/2004/NĐ-CP

QUI TRÌNH CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

Bước 1: Chuẩn bị chuyển đổi

1- Căn cứ vào tiêu chí và phân loại doanh nghiệp Nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ:

a) Hội đồng quản trị Tổng công ty 90 dự kiến danh sách và kế hoạch chuyển các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty, gửi báo cáo bằng văn bản cho Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý Nhà nước đối với Tổng công ty 90 (sau đây gọi là Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh).

b) Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 dự kiến danh sách và kế hoạch chuyển các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty, gửi báo cáo bằng văn bản cho Thủ tướng Chính phủ.

c) Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp của Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dự kiến danh sách và kế hoạch chuyển các doanh nghiệp Nhà nước độc lập trực thuộc Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, gửi báo cáo bằng văn bản cho Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh.

2- Doanh nghiệp dự kiến chuyển đổi phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Là doanh nghiệp hợp đồng kinh doanh (loại trừ các doanh nghiệp công ích).

b) Do Nhà nước quyết định nắm giữ toàn bộ (100%) vốn điều lệ.

c) Không thuộc đối tượng giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, giải thể, phá sản hoặc không thuộc danh sách đã được phê duyệt để tiến hành cổ phần hoá.

3- Phê duyệt danh sách doanh nghiệp chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

a) Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định danh sách cụ thể từng doanh nghiệp Nhà nước độc lập chuyển đổi trong từng năm.

b) Thủ tướng Chính phủ quyết định danh sách cụ thể từng doanh nghiệp Nhà nước thành viên Tổng công ty 91 chuyển đổi trong từng năm.

c. Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sanh sách cụ thể từng doanh nghiệp Nhà nước thành viên Tổng công ty 90 chuyển đổi trong từng năm.

4- Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 thồng báo cho doanh nghiệp và tổ chức được uỷ quyền là chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp về kế hoạch chuyển đổi.

5- Thành lập Ban chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (sau đây gọi là Ban chuyển đổi doanh nghiệp) để giúp giám đốc thực hiện các công việc chuyển đổi.

a) Doanh nghiệp trong danh sách chuyển đổi báo cáo Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Tổng công ty dự kiến danh sách thành viên Ban chuyển đổi doanh nghiệp.

b) Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Ban chuyển đổi doanh nghiệp Nhà nước độc lập thuộc Bộ hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng quản trị Tổng công ty quyết định thành lập Ban chuyển đổi doanh nghiệp thành viên Tổng công ty.

Thành phần Ban chuyển đổi doanh nghiệp có thể gồm: giám đốc hoặc Phó giám đốc làm Trưởng ban; kế toán trưởng là uỷ viên thường trực; các trưởng phòng, ban: kế hoạch, sản xuất kinh doanh, tổ chức cán bộ làm uỷ viên và mời đồng chí Bí thư Đảng uỷ (hoặc chi bộ), Chủ tịch Công đoàn tham gia là uỷ viên Ban chuyển đổi doanh nghiệp.

6- Doanh nghiệp trong danh sách chuyển đổi gửi thông báo chuyển đổi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động trong doanh nghiệp biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định danh sách chuyển đổi.

Bước 2: Xây dựng phương án chuyển đổi:

1- Ban chuyển đổi doanh nghiệp:

a) Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đến chuyển đổi doanh nghiệp thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

b) Tiến hành kiểm kê, phân loại, xác định vốn, tài sản, công nợ của doanh nghiệp.

Tài sản hiện có thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp được kiểm kê, phân loại, xác định số lượng, thực trạng, bao gồm: Tài sản thuê, mượn, nhận giữ hộ, nhận ký gửi; tài sản không có nhu cầu sử dụng, tài sản ứ đọng chờ thanh lý; tài sản dôi thừa; tài sản hao hụt, mất mát và các tổn thất khác về tài sản của doanh nghiệp; các khoản phải thu; các khoản phải trả.

c) Phân loại, lập danh sách số lao động tiếp tục chuyển sang làm việc tại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, số lao động tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động.

2- Ban chuyển đổi doanh nghiệp phối hợp cùng ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng công ty:

a) Căn cứ vào báo cáo tài chính gần nhất lập phương án xử lý tài chính, phương án xử lý lao động, phương án chuyển giao doanh nghiệp, bao gồm chuyển giao quyền lợi, nghĩa vụ, tài sản, vốn, công nợ, lao động sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên kế thừa các quyền, lợi ích hợp pháp bao gồm cả quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất và chịu trách nhiệm kế thừa các khoản nợ chưa thanh toán, các hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp được chuyển đổi.

b) Xây dựng, đề xuất mô hình và cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

c) Xây dựng dự thảo điều lệ và dự kiến vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Nội dung điều lệ phải bao gồm: mục tiêu, ngành, nghề kinh doanh; vốn điều lệ; chủ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; cơ cấu tổ chức quản lý của công ty; người đại diện theo pháp luật ; nguyên tắc sử dụng lợi nhuận; các trường hợp giải thể và thủ tục thanh lý tài sản của công ty; thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty và các nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.

3- Doanh nghiệp chuyển đổi báo cáo Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng quản trị Tổng công ty về phương án chuyển giao doanh nghiệp, dự thảo điều lệ và dự kiến vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Bước 3: Thẩm định, phê duyệt phương án chuyển giao doanh nghiệp và triển khai thực hiện:

1- Cơ quan thẩm định và phê duyệt báo cáo tài chính, phương án chuyển giao doanh nghiệp, điều lệ doanh nghiệp.

a) Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định và phê duyệt báo cáo tài chính, phương án chuyển giao quyền lợi, nghĩa vụ, tài sản, vốn, công nợ, lao động; thẩm định và phê duỵệt vốn điều lệ, điều lệ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đối với doanh nghiệp Nhà nước độc lập.

b) Hội đồng quản trị Tổng công ty thẩm định và phê duỵệt báo cáo tài chính, phương án chuyển giao quyền lợi, nghĩa vụ, tài sản, vốn, công nợ, lao động, vốn điều lệ, điều lệ công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đối với doanh nghiệp Nhà nước thành viên Tổng công ty.

2- Tổ chức triển khai thực hiện phương án chuyển đổi:

a) Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo tổ chức, triển khai thực hiện chuyển đổi theo phương án đã được phê duyệt đối với doanh nghiệp Nhà nước độc lập.

b) Hội đồng quản trị Tổng công ty tổ chức triển khai thực hiện chuyển đổi theo phương án đã được phê duyệt đối với doanh nghiệp Nhà nước thành viên tổng công ty.

3- Xử lý các vấn đề tài sản, tài chính, lao động:

a) Doanh nghiệp chuyển đổi tiếp nhận tài sản hiện có thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp để chuyển giao sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

b) Doanh nghiệp chuyển đổi xử lý theo phương án chuyển đổi đã được phê duyệt đối với số tài sản thuê, mượn, nhận giữ hộ, nhận ký gửi; tài sản không có nhu cầu sử dụng, tài sản ứ đọng chờ thanh lý; xử lý tài chính và công nợ, bao gồm tài sản dôi thừa, tài sản hao hụt, mất mát và các tổn thất khác về tài sản của doanh nghiệp; xử lý đối với các khoản nợ phải thu, phải trả. Việc tăng, giảm và xử lý các biến động về tài sản, vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong quá trình chuyển đổi do Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tính, Hội đồng quản trị Tổng công ty quyết định.

c) Doanh nghiệp chuyển đổi tiếp nhận toàn bộ số lao động của doanh nghiệp, trừ số lao động tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động.

Bước 4: Quyết định chuyển đổi và đăng ký kinh doanh:

1- Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển đổi đối với doanh nghiệp Nhà nước thành viên Tổng công ty 91; Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển đổi đối với doanh nghiệp Nhà nước độc lập, doanh nghiệp Nhà nước thành viên tổng công ty 90.

Quyết định chuyển đổi phải ghi rõ: vốn điều lệ của công ty, thời hạn cam kết bổ sung vốn điều lệ, chủ sở hữu hoặc tổ chức được uỷ quyền là chủ sở hữu công ty, mô hình và cơ cấu tổ chức công ty, trách nhiệm của công ty đối với việc kế thừa các quyền, nghĩa vụ và xử lý những vấn đề tồn tại và mới phát sinh của doanh nghiệp được chuyển đổi. Thời điểm bắt đầu chuyển đổi là đầu tháng hoặc đầu quý.

2- Chủ sở hữu quyết định bổ nhiệm Chủ tịch, các thành viên Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

3- Doanh nghiệp thực hiện đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp. Hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm theo quyết định chuyển đổi. Doanh nghiệp chuyển đổi thông báo công khai quyết định chuyển đổi trên phương tiện thông tin đại chúng.

Doanh nghiệp chuyển đổi đăng ký lại quyển sở hữu tài sản được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp đăng ký.

SOURCE: THÔNG TƯ Số: 01/2002/TT-BK – BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

THÔNG TIN VỀ THÀNH LẬP, TỔ CHỨC LẠI PHÁP NHÂN LÀ TỔ CHỨC KINH TẾ THUỘC SỞ HỮU NHÀ NƯỚC

1. Từ 2007-2010, Hải Phòng chuyển đổi, cổ phần hóa 28 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước

(Website Chính phủ) – Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hải Phòng giai đoạn 2007-2010.

Theo đó, từ năm 2007-2010, 7 đơn vị được chuyển thành Công ty TNHH một thành viên, gồm: Công ty Xổ số kiến thiết (năm 2007); Công ty Quản lý khai thác công trình thủy lợi Đa Độ, Công ty Khai thác công trình thủy lợi An Hải (năm 2008); Công ty Khai thác công trình thủy lợi Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng và Công ty Thoát nước (năm 2009).

Theo Phương án đã được phê duyệt, Công ty Nam Triệu sẽ được sắp xếp theo doanh nghiệp an ninh, quốc phòng. Năm 2008, chuyển Công ty TNHH một thành viên Thương mại quốc tế Hải Phòng thành Công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Từ năm 2007-2009, Hải Phòng tiến hành cổ phần hóa 3 doanh nghiệp nhà nước trong đó Nhà nước nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần (gồm: Công ty Điện chiếu sáng đô thị, Công ty TNHH một thành viên Cấp nước Hải Phòng, Công ty Đảm bảo giao thông đường thủy Hải Phòng) và 10 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ dưới 50% tổng số cổ phần (gồm: Công ty Da giầy Hải Phòng, Công ty Thương mại dịch vụ và Xuất khẩu Hải Phòng, Công ty TNHH một thành viên Thanh niên, Công ty Thương mại đầu tư và Phát triển đô thị, Công ty Chế biến thủy sản xuất khẩu Hải Phòng, Công ty Đường bộ Hải Phòng, Công ty Công trình công cộng và Dịch vụ du lịch, Công ty Công trình công cộng và Xây dựng Hải Phòng, Công ty Môi trường đô thị và Công ty Kinh doanh nhà).

Năm 2009, chuyển 3 đơn vị sự nghiệp có thu: Công ty Bến xe khách, Công ty Công viên, Công ty Mai táng sang công ty cổ phần. Năm 2008, thực hiện sáp nhập, giao, bán, giải thể hoặc phá sản 3 công ty: Công ty Dược Hải Phòng, Công ty Xuất nhập khẩu Hải Phòng, Công ty Phát triển khu công nghiệp Hải Phòng.

Thủ tướng Chính phủ giao Chủ tịch UBND thành phố Hải Phòng xây dựng Đề án thí điểm cổ phần hóa Nông trường Quý Cao gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Nguồn: Quyết định 1587/QĐ-TTg

2. Trước 31/12/2007, giải quyết dứt điểm việc bàn giao vốn, tài sản cho Công ty cổ phần Phú Diễn

(Website Chính phủ) – Ngày 22/11, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã có ý kiến về việc xử lý vướng mắc trong quá trình cổ phần hóa Nhà máy Quy chế cơ khí xây dựng thuộc Tổng công ty Xây dựng công nghiệp Việt Nam.

Phó Thủ tướng giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng công ty Xây dựng Công nghiệp Việt Nam giải quyết dứt điểm việc bàn giao vốn, tài sản cho Công ty cổ phần Phú Diễn theo quy định của pháp luật trước ngày 31/12/2007. Đến thời điểm nêu trên, nếu vẫn chưa hoàn thành việc bàn giao thì xử lý theo quy định của pháp luật về việc kế thừa các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với số vốn, tài sản này.

Nguồn: Công văn 6791/VPCP-ĐMDN

3. Chuyển giao nguyên trạng Công ty Lâm nghiệp Sóc trăng về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 22/11, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý chuyển giao nguyên trạng Công ty Lâm nghiệp Sóc Trăng thuộc UBND tỉnh Sóc Trăng về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam.

Phó Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Sóc Trăng và các cơ quan liên quan, chỉ đạo thực hiện việc giao, nhận Công ty Lâm nghiệp Sóc Trăng về Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam, tiếp tục sắp xếp lại Công ty này theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Công văn 6790/VPCP-ĐMDN

4. Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước thuộc 3 tỉnh Điện Biên, Cà Mau, Đồng Tháp

(Website Chính phủ) – Ngày 29/11, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Phương án sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc UBND các tỉnh Điện Biên, Cà Mau và Đồng Tháp giai đoạn 2007-2009.

* Theo Quyết định 1626/QĐ-TTg, giữ nguyên là công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước công ty Xổ số kiến thiết Điện Biên. Năm 2007, chuyển Công ty Quản lý thủy nông Điện Biên và Công ty Xây dựng cấp nước Điện Biên thành công ty TNHH một thành viên, 100% vốn nhà nước. Năm 2008, Công ty TNHH Khoáng sản Điện Biên được giao cho tập thể người lao động.

Năm 2008, tiến hành cổ phần hóa, Nhà nước giữ trên 50% vốn điều lệ đối với 4 công ty: Xây dựng và Quản lý đường bộ I, Xây dựng và Quản lý đường bộ II, Giống nông nghiệp, Môi trường đô thị và Xây dựng Điện Biên; Nhà nước giữ dưới 50% vốn điều lệ Công ty TNHH Thương mại tổng hợp Mường Lay. Năm 2009, cổ phần hóa nhà nước giữ dưới 50% vốn điều lệ 3 công ty TNHH: Xây dựng và Cơ khí nông nghiệp, Sản xuất vật liệu và xây dựng Điện Biên, Bia và Kinh doanh tổng hợp tỉnh Điện Biên.

* Theo Quyết định 1627/QĐ-TTg, năm 2007-2008 Cà Mau tiến hành cổ phần hóa 3 doanh nghiệp (Công ty Phát triển nhà Minh Hải, Công ty Dịch vụ Thương mại Cà Mau, Công ty Thương nghiệp Cà Mau); chuyển Công ty Xổ số kiến thiết Cà Mau thành công ty TNHH một thành viên; hợp nhất 3 công ty lâm nghiệp Ngọc Hiển, Tam Giang III và 184 thành Công ty Lâm nghiệp Rừng Đước; hợp nhất 5 công ty lâm nghiệp 30/4, U Minh I, U Minh II, Trần Văn Thời, Sông Trẹm thành Công ty Lâm nghiệp Rừng Tràm. Cũng trong 2 năm này, tiến hành bán toàn bộ Nhà máy đường Thới Bình, trường hợp không thực hiện được thì chuyển sang hình thức phá sản.

Năm 2009-2010, cổ phần hóa Công ty Cấp thoát nước và Công trình đô thị Cà Mau, trong đó Nhà nước giữ trên 50% vốn điều lệ.

* Theo Quyết định 1628/QĐ-TTg, năm 2007, chuyển Công ty Thương mại-Dầu khí Đồng Tháp và Công ty Xây lắp-Vật liệu xây dựng Đồng Tháp sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con. Năm 2008, chuyển Công ty Xổ số kiến thiết Đồng Tháp thành công ty TNHH một thành viên.

Trong năm 2007-2008, cổ phần hóa 8 đơn vị hạch toán phụ thuộc của Công ty Thương mại-Dầu khí Đồng Tháp và 5 đơn vị hạch toán phụ thuộc của Công ty Xây lắp-Vật liệu xây dựng Đồng Tháp. Năm 2009 sẽ tiến hành cổ phần hóa hai công ty mẹ là Công ty Thương mại-Dầu khí Đồng Tháp và Xây lắp-Vật liệu xây dựng Đồng Tháp.

Nguồn: Quyết định 1626, 1627, 1628/QĐ-TTg


5. Từ 2007-2010, sắp xếp, đổi mới các doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 29/11, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch sắp xếp, đổi mới một số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam giai đoạn 2007-2010.

Theo đó, năm 2008-2009, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiến hành chuyển Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Công ty Ứng dụng và Phát triển công nghệ (thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam) thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; 2 doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, trong đó Nhà nước giữ cổ phần ở mức thấp hoặc không giữ gồm Công ty Công nghệ điện tử, cơ khí và Môi trường (năm 2007), Công ty Công nghệ và Phát triển (năm 2008).

Đối với các công ty nhà nước thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (KHCNVN), trong năm 2007 thực hiện cổ phần hóa Công ty Đầu tư phát triển điện lực và Hạ tầng (PIDI); Công ty NetNam, Công ty Phát triển Công nghệ (Imtech) thực hiện cổ phần hóa trong năm 2008; các Công ty Đầu tư phát triển công trình du lịch (Detourpro), Công ty Phát triển công nghệ sinh học (Dona-Techno) cổ phần hóa trong năm 2009.

Một số công ty thuộc Viện KHCNVN được giao cho tập thể người lao động như: Công ty Vật liệu và Công nghệ (Matech), Công ty Sản xuất dịch vụ xuất nhập khẩu khoa học và kỹ thuật (Scitechimex) trong năm 2007; Công ty Công nghệ mới (Cotec), Công ty Điện tử (Eleco), Công ty Hóa sinh và Phát triển Công nghệ mới (Vihitesco) trong năm 2008; Công ty Ứng dụng khoa học công nghệ và Chuyển giao công nghệ mới, Công ty Giám định và Chuyển giao công nghệ (ICT) và Công ty Xây dựng và Triển khai công nghệ mới trong năm 2009.

Tổng Công ty Ứng dụng công nghệ và Du lịch (Newtatco) và hai công ty thành viên trực thuộc (Công ty Phát triển công nghệ tin học và Cung ứng nhân lực, Công ty Du lịch và Thương mại) sẽ được tổ chức lại thành Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên Ứng dụng công nghệ và Du lịch.

Cũng trong năm 2008, làm thủ tục phá sản đối với Công ty Điện tử và Quang học-Elopi thuộc Viện KHCNVN.

Nguồn: Quyết định số 1624/QĐ-TTg và Quyết định số 1625/QĐ-TTg

6. Chuyển Công ty Vật tư nông nghiệp Yên Bái về Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 30/11, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đã đồng ý việc chuyển Công ty Vật tư nông nghiệp Yên Bái thuộc UBND tỉnh Yên Bái về làm thành viên của Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (CNTTVN).

Phó Thủ tướng giao Hội đồng quản trị Tập đoàn CNTTVN thống nhất với UBND tỉnh Yên Bái và các cơ quan liên quan trong việc làm lành mạnh hóa tài chính của Công ty Vật tư nông nghiệp Yên Bái và tổ chức, sắp xếp, có kế hoạch cổ phần hóa Công ty này, đảm bảo hiệu quả việc tiếp nhận thành viên mới trong chiến lược phát triển chung của Tập đoàn.

Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái và Hội đồng quản trị Tập đoàn CNTTVN thực hiện việc giao, nhận Công ty này theo quy định hiện hành.

Nguồn: Công văn số 6969/VPCP-ĐMDN

7. Tổng công ty Xi măng Việt Nam đổi tên thành Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam

(Website Chính phủ) – Ngày 6/12, Thủ tướng Chính phủ đã điều chỉnh một số nội dung của các Quyết định số 196/2006/QĐ-TTg ngày 29/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án chuyển Tổng công ty Xi măng Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con và Quyết định số 197/2006/QĐ-TTg ngày 29/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ-Tổng công ty Xi măng Việt Nam.

Theo đó, đổi tên gọi Tổng công ty Xi măng Việt Nam thành Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (VICEM), có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội.

Công ty mẹ-Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu, biểu tượng, Điều lệ tổ chức và hoạt động; có chức năng sản xuất, kinh doanh, đầu tư tài chính vào doanh nghiệp khác; giữ quyền chi phối các công ty con thông qua vốn, công nghệ, thương hiệu, thị trường; trực tiếp quản lý các nguồn tài chính và cung ứng các dịch vụ tư vấn, bí quyết sản xuất kinh doanh, đào tạo… cho các công ty con.

Thủ tướng Chính phủ cũng quyết định bổ sung thêm ngành, nghề kinh doanh của Công ty mẹ-Tổng công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam như sau: Xây dựng, quản lý, khai thác cảng biển, cảng sông, đường bộ cao tốc, đường biển, đường sắt; đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp và đô thị, kinh doanh bất động sản, cho thuê nhà xưởng, kho tàng, nhà ở, văn phòng; sản xuất, kinh doanh điện; trồng rừng, khai thác và chế biến cao su; xuất khẩu lao động; điều trị bệnh nghề nghiệp và phục hồi chức năng; du lịch, khách sạn, nhà hàng và các dịch vụ công cộng khác.

Thủ tướng Chính phủ đồng ý duy trì Công ty Xi măng Hoàng Thạch là công ty thành viên hạch toán độc lập và cổ phần hóa trong năm 2008; chuyển Công ty Tư vấn đầu tư phát triển xi măng thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên vào năm 2008.

Nguồn: Quyết định số 189/2007/QĐ-TTg

8. Hàng loạt công ty dệt may sẽ IPO

Trong 3 tháng qua, một loạt các doanh nghiệp dệt may đã tiến hành đấu giá cổ phiếu lần đầu (IPO) để cổ phần hóa.

Trong 2 tháng cuối năm và quý I/2008 sẽ có thêm khoảng hơn 20 doanh nghiệp ngành dệt may IPO. Cổ phiếu dệt may có phải đang là kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư?

Chỉ tính riêng 3 tháng qua đã có 4 doanh nghiệp thuộc ngành dệt may tiến hành IPO: Công ty Dệt gia dụng Phong Phú, Công ty Dệt vải Phong Phú, Tổng công ty May Việt Tiến và Tổng công ty Dệt – May Hà Nội. Sắp tới sẽ có Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Dệt Nam Định và Nhà máy Dệt Tân Tiến cũng tiến hành đấu giá trong tháng 11/2007.

Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 9 tháng đầu năm 2007 của cả nước tăng trưởng mạnh đạt 5,8 tỉ USD, dự kiến cả năm 2007 sẽ đạt 7,5 tỉ USD. Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, ngành dệt may Việt Nam có nhiều cơ hội như: Không bị áp dụng chế độ hạn ngạch vào thị trường Mỹ, vì vậy tạo nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp muốn phát triển hàng dệt may vào thị trường này.

Sự cạnh tranh trên thương trường dệt may sẽ phức tạp hơn nhưng sòng phẳng hơn và các sản phẩm dệt may Việt Nam trong tương lai sẽ thâm nhập sâu rộng hơn vào thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam cũng sẽ đối mặt với nhiều thách thức lớn trong thời gian tới như: ngành dệt may sử dụng một số nguyên phụ liệu chủ yếu như bông xơ… dựa vào nguồn nhập khẩu là chính, trong khi sản xuất trong nước về bông, xơ không đáp ứng được nhu cầu (bông chỉ đáp ứng được khoảng 5%, xơ tổng hợp khoảng 30%), cho nên các doanh nghiệp vẫn phải phụ thuộc lớn vào nhập khẩu để đảm bảo sản xuất.

Theo đánh giá của chuyên gia, hiện các doanh nghiệp sản xuất dệt – nhuộm chưa có hiệu quả, đặc biệt là chưa làm chủ được kỹ thuật, làm chất lượng vải không ổn định. Vì vậy, chưa được khách hàng tiêu thụ sản phẩm may đánh giá để có thể trở thành nhà cung cấp vải cho các doanh nghiệp may gia công trong nước chứ chưa nói đến việc gia tăng xuất khẩu vải.

Hiện vải dệt kim trong nước mới đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu, vải dệt thoi khoảng 30%. Cũng chính vì thế mà khách hàng Mỹ thường chỉ định nhà cung cấp vải từ các nơi (như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan…) để cung cấp cho các doanh nghiệp may Việt Nam.

Hơn nữa, từ ngày 1/6/2007, Chính phủ Mỹ bắt đầu áp dụng những biện pháp kiểm soát chặt chẽ hàng dệt may Việt Nam nhập khẩu. Điều này làm cho hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ gặp rất nhiều khó khăn.

Chính phủ Mỹ áp dụng chương trình giám sát đặc biệt, tự khởi xướng điều tra chống bán phá giá hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ gây ra tâm lý lo ngại, dè dặt cho khách hàng khi đặt hàng tại Việt Nam ngay từ đầu năm 2007. Giá đầu vào cao, chất lượng hàng dệt biến động, chính sách của Chính phủ Mỹ đối với hàng dệt may Việt Nam… sẽ ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh và sự phát triển của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

Tại thị trường trong nước, theo cam kết khi gia nhập WTO, các hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về xuất khẩu, hỗ trợ vay với lãi suất thấp đối với ngành dệt may sẽ không còn. Sức ép cạnh tranh về giá cả, chất lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng gay gắt, làm tăng chi phí sản xuất đầu vào.

Chưa hết, ngành dệt – may phải cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa với hàng hoá của các nước có nhiều lợi thế hơn Việt Nam về lao động, nguyên vật liệu, thiết kế và thương hiệu như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh…

Như vậy, có thể nhận định, các doanh nghiệp dệt may trong nước đứng trước nguy cơ lớn, muốn tiếp tục tồn tại bắt buộc phải đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong ngành nhằm tạo các lợi thế mới trong kinh doanh.

Nguồn: VnEconomy

9. Thành lập Công ty Tài chính cổ phần VINACONEX

(Website Chính phủ)- Ngày 30/11, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý việc Tổng công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam VINACONEX góp vốn thành lập Công ty Tài chính cổ phần VINACONEX theo quy định Luật Doanh nghiệp, pháp luật chuyên ngành về Tài chính, tín dụng.

Theo đó, Tổng công ty cổ phần VINACONEX được tham gia tối đa 40% vốn Điều lệ.

Thủ tướng giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, cấp phép thành lập và hoạt động cho Công ty Tài chính cổ phần VINACONEX theo quy định của luật pháp hiện hành.

Nguồn: Công văn 1877/TTg-ĐMDN

CÔNG CỤ PHÁI SINH: CƠ HỘI VÀ RỦI RO

Thống kê của ngân hàng thanh toán quốc tế cho thấy, đến hết 2006, số dư hợp đồng giao dịch phái sinh trên thị trường tài chính quốc tế tương đương 417 tỷ USD. Thế nhưng, con số này ở Việt Nam rất ít được nhắc tới vì quá khiêm tốn, mặc dù đây là công cụ bảo hiểm rủi ro tài chính phổ biến trên thế giới.

Trong khuôn khổ một hội thảo do Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) và Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank) phối hợp tổ chức mới đây, các chuyên gia ngành ngân hàng, tài chính đã cùng nhau chia sẻ thực trạng và tìm giải pháp phát triển thị trường phái sinh.

Vậy, công cụ phái sinh là gì? Công cụ này sẽ đem lại lợi ích gì cho ngân hàng cũng như doanh nghiệp?

Nói nôm na, công cụ phái sinh chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận của các giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên. Công cụ phái sinh gồm các công cụ giao dịch kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swaps), quyền chọn (Options) và tương lai (Futures).

Chia sẻ những lợi ích mà ngân hàng thương mại thu được khi thực hiện công cụ phái sinh, Ths. Nguyễn Quang Minh (Vietcombank) cho biết: Thực ra, mục đích của ngân hàng thương mại khi tham gia công cụ phái sinh là để bảo hiểm rủi ro giao dịch tài chính cho cả ngân hàng và khách hàng. Trong quá trình hoạt động, nếu có sinh lời thì bản chất vẫn là phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không hẳn là kiếm lời!

Vậy, doanh nghiệp sẽ được lợi gì? Ông Nguyễn Đại Lai, Phó Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển ngân hàng cho biết: xét tổng thể qua hàng năm, chỉ riêng doanh nghiệp nước ngoài khi đưa vốn ngoại tệ vào Việt Nam đầu tư, sau khi thu lợi nhuận và chuyển tiền về nước, nếu sử dụng công cụ phái sinh, họ sẽ tránh được thiệt hại khi có rủi ro về tỷ giá.

Tiếp đó là các dự án đầu tư với số vốn lớn. Các dự án này đều vay hay mua chịu một lượng lớn hàng hóa nước ngoài bằng USD, nếu sử dụng hoán đổi lãi suất (Swaps) thì có thể tránh được thiệt hại không nhỏ với những biến động khó lường của thị trường tiền tệ. Thế nhưng, chủ các dự án này gần như chưa bao giờ sử dụng công cụ phái sinh.

Ngay cả như quỹ dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước, tương đương với lượng ngoại tệ của vài chục tuần nhập khẩu cũng đang tồn tại như một thứ “quỹ chết trong ao tù”, mặc dù lượng dự trữ tăng lên và đồng USD đang yếu đi từng ngày. Giá như có một cơ chế rõ ràng, cho phép sử dụng quỹ này thích ứng với các công cụ phái sinh thì đồng vốn sẽ được sinh lời thay vì nằm im trong két sắt.

Mặc dù hữu ích là vậy nhưng công cụ phái sinh hiện phát triển khá khiêm tốn ở chi nhánh ngân hàng Citibank, Standard Chartered, BIDV, Vietcombank, HSBC với doanh số chưa đáng kể so với doanh số nghiệp vụ truyền thống. Ngay cả với HSBC, mặc dù hoạt động tại Việt Nam đã 6 năm với hơn 1.000 khách hàng, nhưng sau 2 năm triển khai dịch vụ, mới chỉ có vài doanh nghiệp sử dụng dịch vụ này.

Vì sao như vậy? Ông Nguyễn Đại Lai đưa ra một ví dụ: một doanh nghiệp biết rõ sẽ gặp rủi ro lãi suất khi đang vay tiền với lãi suất thả nổi, trong điều kiện lãi suất giao ngay đang tăng mạnh và biết rõ, nếu sử dụng Swaps để chuyển sang lãi suất cố định, doanh nghiệp sẽ giảm thiệt hại rủi ro nhưng chủ doanh nghiệp đã không dám hành động. Và thực tế này không chỉ xảy ra tại các doanh nghiệp mà còn hiện hữu ngay trong các ngân hàng thương mại, là nơi cung cấp dịch vụ. Vì vậy, không ít cán bộ ngân hàng thương mại nhiều khi vừa ký một hợp đồng bảo hiểm phái sinh vừa…run.

Một nhân tố khác cản trở đến sự phát triển của công cụ phái sinh là môi trường chính sách mà đầu tiên là việc tính thuế, chẳng hạn như quy định về mức thuế đánh trên lãi thu được từ việc thực hiện nghiệp vụ hoán đổi. Nhiều ý kiến bày tỏ, quy định này vừa kìm hãm vừa khó thực hiện vì lãi suất thả nổi biến động hàng ngày. Hơn nữa, công cụ phái sinh mang bản chất phòng ngừa rủi ro để tối đa hóa lợi nhuận chứ không phải vì mục đích kiếm lời.

Tiếp đó là vấn đề hạch toán kế toán. Ths. Trịnh Quỳnh Thành (BIDV) phân trần: “Hiện nay, trong hạch toán kế toán dường như chỉ chú trọng tới phần lãi/lỗ thực tế phát sinh, trong khi phần lãi/ lỗ dự kiến, chưa phát sinh thì dường như chưa được quan tâm”.

Chẳng hạn, doanh nghiệp mua một hợp đồng phái sinh trị giá 1 tỷ đồng và bút toán ghi sổ 1 tỷ đồng nhưng ngày mai, ngày kia, giá trị “hàng hóa” đã mua chỉ còn 800 triệu đồng hoặc lên 1,5 tỷ đồng thì sổ sách kế toán vẫn chỉ thể hiện 1 tỷ đồng. Thực tế này đã không những không phản ánh hết giá trị thực trong hệ thống sổ sách kế toán mà còn là kẽ hở của tình trạng “lãi giả, lỗ thật” và ngược lại trong báo cáo kế toán của doanh nghiệp.

Thiết nghĩ, từ thực tế này, để giải quyết những rào cản hiện nay đối với công cụ phái sinh, không chỉ xét từ góc độ từ các ngân hàng thương mại hay doanh nghiệp mà rất cần sự hợp lực từ phía các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính (tháo gỡ vướng mắc về thuế và chế độ ghi sổ kế toán) và của ngân hàng thương mại trong việc ban hành các văn bản pháp lý, tổ chức hội thảo hay hướng dẫn các nghiệp vụ cụ thể.

Theo TBKTVN ngày 08/11/2007

LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN: HỘI KHOA HỌC KINH TẾ VIỆT NAM "LÊN TIẾNG"

Những ý kiến đóng góp của Hội để Luật Thuế thu nhập cá nhân phù hợp hơn với điều kiện cụ thể trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay.

Mọi người đều nhất trí về sự cần thiết ban hành trong giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước hiện nay (1/1/2009) thay thế các thuế hiện hành về đánh thuế thu nhập cá nhân là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế thu nhập doanh nghiệp (phần cá nhân nộp thuế), thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Ban hành luật mới về thuế thu nhập cá nhân còn có tác dụng sửa lại những điều chưa hợp lý, chưa nhất quán với tính cách là thuế đánh vào thu nhập cá nhân tồn tại trong 3 luật thuế này. Đồng thời đưa sắc thuế mới lên tầm bao quát và nhất quán trong việc đánh thuế vào các loại thu nhập cá nhân trong điều kiện nước ta hiện nay, tạo ra mặt bằng mới, thực hiện công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi đối tượng có thu nhập cá nhân ở mức độ và loại thu nhập chịu thuế.

Điều này sẽ góp phần tăng cường công tác kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Hơn nữa, số người dân có thu nhập cao ngày càng tăng lên, nhất là số người nước ngoài đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam ngày càng nhiều, cần phải đánh thuế thu nhập cá nhân để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Trên thế giới hơn 100 nước trong đó có nước phát triển, đang phát triển và kém phát triển đã áp dụng sắc thuế thu nhập cá nhân, trong khi ở nước ta tổng thu Ngân sách Nhà nước hàng năm có đến 97% là nguồn từ thuế thì việc ban hành luật này ở thời điểm đầu năm 2009 là thoả đáng, góp phần tăng thêm nguồn thu cho Nhà nước, giảm bớt bội chi ngân sách, huy động nguồn thu nhập (thực chất là trung bình trở lên) là thoả đáng.

Điều này củng cố tính vững chắc cho nguồn thu ngân sách cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế trong những năm qua và triển vọng những năm tới. Hiện nay, thuế đánh vào thu nhập cá nhân qua 3 sắc thuế nói trên chỉ đóng góp được 4,1% tổng thu Ngân sách Nhà nước trong khi tỷ lệ đó ở một số nước Asean (Thái Lan, Philippines, Malaysia…) khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13 – 14%, các nước phát triển (Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức…) khoảng 30 – 40% tổng thu nhập ngân sách quốc gia.

Việc xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân ở nước ta cần quán triệt những quan điểm của Đại hội IX và X của Đảng.

Sau đây là một số vấn đề đề nghị Quốc hội xem xét để luật này phù hợp hơn với điều kiện cụ thể trong giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội nước ta hiện nay:

1. Đối với các điều quy định về đối tượng- thu nhập chịu thuế. Hiện nay và một số năm nữa chưa thể giữ tỷ lệ lạm phát ở mức phổ biến trong các nền kinh tế, ngay trong các nước ASEAN, các nước phát triển (1- 5% hàng năm) thì cần tính đến khả năng thực tế giá còn trượt hàng năm. Do đó, nên sửa chữa quy định trong dự thảo luật các đại lượng liên quan đến “gia cảnh”.

Dự luật quy định 4 triệu cho bản thân người có thu nhập chịu thuế, 1,6 triệu cho một suất người phụ thuộc là tính cho thời điểm 1/1/2009 tức là so với hiện nay (khi thông qua luật) chưa tính đến trượt giá năm 2007 – 2008 (chỉ 2 năm này cộng lại đã tới 15 – 20%). Vì vậy, các đại lượng này khi thực hiện đã “lạc hậu” so với thời giá của thu nhập và chỉ tiêu của người đóng thuế rồi.

Do đó, đề nghị xem xét việc công bố các đại lượng này nên tính theo giá so sánh nghĩa là khi giá tăng, thu nhập tăng nhưng chi tiêu cho khoảng “khấu trừ gia cảnh” cũng tăng. Có thể tính đến phương án quy định theo số lần của lương tối thiểu trong từng thời kỳ nhất định. Số tuyệt đối theo đó mà nhân lên.

Lương tối thiểu hiện nay và trong các năm tới (8-10 năm) theo dự kiến của các cơ quan hoạch định chính sách còn phải tăng hàng năm với mức độ đáng kể (tuỳ theo khả năng của ngân sách, thu nhập của các loại hình kinh doanh và nhu cầu tối thiểu của người lao động), trong đó do yêu cầu trượt giá hàng năm để bảo đảm thu nhập thực tế cho người lao động, chí ít không bị giảm đi theo tỷ lệ trượt giá.

Mức giảm trừ gia cảnh bản thân là 4 triệu đồng và cho một người phụ thuộc là 1,6 triệu đồng (điều 19) cũng chưa có căn cứ xác đáng. Bởi giá trượt hàng năm 7-8%; giá hàng tiêu dùng thiết yếu thường còn tăng cao hơn; mức thu nhập bình quân của dân cư ở thành thị và nông thôn, của các tầng lớp dân cư ở trong một vùng nhất định (nông thôn, thành thị) cũng khác nhau rất nhiều. Do đó, cần xem lại các mức khấu trừ này.

Đề nghị, tham khảo dự luật và lương tối thiểu đã công bố cho 2008, có thể xem xét công bố khoản giảm trừ gia cảnh bản thân là 8-10 mức lương tối thiểu và mức khấu trừ cho 1 người phụ thuộc là 3-5 lần lương tối thiểu. Khi tăng mức lương tối thiểu thì mức khấu trừ gia cảnh bản thân và người phụ thuộc cũng tăng theo. Hoặc, cũng có ý kiến là nếu tỷ lệ trượt giá trên 5% thì Nhà nước phải điều chỉnh tăng các mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp.

2. Thuế suất của 7 bậc thuế (điều 21) nên thiết kế lại theo nguyên tắc người có thu nhập (chịu thuế) thấp thì có thuế suất thấp hơn người có thu nhập (chịu thuế) cao, bảo đảm mức biến luỹ tiến từng phần nhưng giãn cánh các nhóm bậc không cần phải như nhau (dự luật áp dụng 5% cách bậc cho cả 7 bậc).

Ví dụ: Bậc 1 (khởi điểm) 5% – đề nghị giữ nguyên (5%). Bậc 2 dự luật 10% – đề nghị 8%. Bậc 3 dự luật 15% – đề nghị 12%. Bậc 4 dự luật 20% – đề nghị 17%. Bậc 5 dự luật 25% – đề nghị 23%. Bậc 6 dự luật 30% – đề nghị 29%. Bậc 7 dự luật 35% – đề nghị 35% (Mức khởi điểm và mức cao nhất đồng ý với dự thảo luật).

Điểm sửa đổi này phù hợp với mức thu nhập bình quân (số đông) ở nước ta hiện nay thể hiện tính “khoan sức dân” của luật thuế và sẽ được đại bộ phận người có thu nhập chịu thuế đồng tình. Giãn cách như vậy (đề nghị) nên giữ ít nhất 5 năm khi mức thu nhập bình quân (GDP) 1.500 USD/người có thể xem xét rút bớt chênh lệch giữa các bậc nhưng vẫn bảo đảm chức năng điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội của chính sách thuế này.

3. Nội dung các loại thu nhập chịu thuế suất toàn phần (điều 22). Thu nhập chịu thuế suất toàn phần: đồng ý 6 loại đã nêu trong dự luật. Nhưng cần đánh thuế thu nhập từ kiếu hối theo thuế suất luỹ tiến từng phần, khoản kiều hối càng lớn thuế suất càng cao. Khoản kiều hối do người xuất khẩu lao động có tổ chức thì miễn thu thuế thu nhập cá nhân. Đây là khoản thu ngân sách lớn hàng năm tăng khá nhanh. áp dụng chính sách thu thuế kiều hối còn giúp Nhà nước có thể kiểm soát được nguồn vào tốt hơn.

4. Khoản thu nhập lãi từ tiền gửi tiết kiệm không nên đánh thuế thu nhập cá nhân, vì gười gửi tiết kiệm phần lớn là không có khả năng đầu tư vốn để kinh doanh, tiền lãi này chủ yếu là để bảo toàn vốn trong điều kiện trượt giá còn là bất khả kháng hiện nay và nguyên tắc lãi suất dương ngân hàng đang áp dụng là bảo toàn giá trị đồng tiền gửi tiết kiệm, lợi nhuận không đáng kể.

Tiếp theo là tiền gửi tiết kiệm đưa ngân hàng thương mại, các quỹ tiết kiệm khách hàng kinh doanh đã đóng thuế thu nhập kinh doanh (tiền tệ) của các ngân hàng thương mại.

5. Không nên miễn trừ thuế đối với thu nhập từ lãi tức cổ phần của những người được ưu đãi khi cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Bởi khi mua cổ phần những người này đã được hưởng chính sách ưu đãi rồi.

6. Các biện pháp đưa Luật Thuế thu nhập cá nhân vào cuộc sống. Cần cụ thể hoá các quy định trong luật với nguyên tắc là luật đã cụ thể để ít phải ban hành quá nhiều Nghị định. Trong dự luật này còn quá nhiều vấn đề giao cho Chính phủ quy định. Một khi các cơ quan chính quyền phải giải thích nhiều, dễ dẫn tới áp dụng một cách tuỳ tiện, phát sinh lộn xộn, cũng là những nguyên nhân gân khiếu kiện của dân.

Tổ chức tuyên truyền phổ biến rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các trường học, các cơ quan, các đoàn thể, tổ chức xã hội…, vì luật này có phạm vi điều chỉnh rất rộng (rộng nhất trong tất cả các sắc thuế đã ban hành ở nước ta cho đến nay).

Phải làm tốt các khâu chuẩn bị (ban hành đầy đủ và cụ thể các văn bản cần thiết phải hướng dẫn thi hành luật, tổ chức tuyên truyền phổ biến trong nhân dana, tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên trong ngành thuế…).

Theo TBKTVN ngày 10/11/2007

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI & PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

(Tài liệu họp báo thường kỳ của Chính phủ tại TP.HCM ngày 14.9.2000)

I. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Mục tiêu tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước nhằm làm cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, chi phối được những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, bảo đảm được các lĩnh vực công ích thiết yếu của xã hội, góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; làm nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và xây dựng công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp sản xuất công nghêï cao, công nghiệp quốc phòng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh để cùng với các yếu tố khác của kinh tế nhà nước làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành phần có định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhiệm vụ trong 5 năm (2001 – 2005) phải hoàn thành cơ bản việc sắp xếp, cơ cấu lại và đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hiện có, giải quyết cơ bản nợ tồn đọng không có khả năng thanh toán và số lao động dôi dư; bổ sung, sửa đổi cơ chế, chính sách, hình thành khung pháp lý đồng bộ, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng trong cơ chế thị trường làm cho mọi thành phần kinh tế, trong đó doanh nghiệïp nhà nước phát huy được đầy đủ quyền tự chủ, tự chịu tách nhiệm và tạo được động lực mạnh mẽ trong sản xuất kinh doanh; kiện toàn và nâng cao hiệu quả của các tổng công ty nhà nước; đổi mới công nghệ và quản lý theo hướng tiên tiến đối với đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước; thực hiện xong cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn; hoàn thành việc sáp nhập, khoán, cho thuê và giao, bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhỏ, thua lỗ kéo dài mà nhà nước không cần nắm giữ; thành lập mới doanh nghiêïp nhà nước ở những lĩnh vực cần thiết và có đủ các điều kiện.

II. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1. Định hướng phát triển và phân định loại doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và hoạt động kinh doanh

1.1. Cần thống nhất về vai trò chi phối của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong quá trình đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước. Vai trò này không thể hiệïn ở số lượng nhiều, tỷ trọng lớn của doanh nghiệp nhà nước trong tất cả các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, mà chủ yếu là ở hiệu quả và sức cạnh tranh cao để chi phối những lĩnh vực then chốt; khống chế, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế theo những định hướng của nhà nước.

1.2. Doanh nghiệp nhà nứớc hoạt động công ích với hình thức nhà nước sở hữu 100% vốn, nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt trong các lĩnh vực công ích thiết yếu. Doanh nghiệp nhà nước công ích hoạt động không chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận, lấy kết quả thực hiện chính sách xã hội và nhiệm vụ được giao để đánh giá hiệu quả. Căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ mà nhà nước quyết định quy mô tổ chức của doanh nghiệp.

Những lĩnh vực công ích phục vụ đời sống mà nhân dân và các thành phần kinh tế khác làm được, làm có hiệu quả thì khuyến khích họ làm, trường hợp nào thấy cần thì nhà nước có thể tham gia cổ phần ở mức thấp. Nhà nước có chính sách ưu đãi chung đối với các sản phẩm và dịch vụ công ích, không phân biệt thành phần kinh tế.

1.3. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh với hình thức sở hữu 100% vốn nhà nước, nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt được kiện toàn và phát triển ở các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Việc phát triển sản xuất kinh doanh có vốn của nhà nước, nói chung, nên hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu, với nhiều hình thức kinh doanh đa dạng như: công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là nhà nước (100% vốn nhà nước), công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên, công ty cổ phần mà nhà nước có cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hoặc cổ phần ở mức thấp…đối với những lĩnh vực, những ngành, những sản phẩm và dịch vụ then chốt của nền kinh tế và quốc phòng, an ninh mà không thể để các thành phần kinh tế khác tham gia hoặc họ không thể làm được thì mới tổ chức doanh nghiệp nhà nước 100% vốn. Khuyến khích các thành phần kinh tế khác phát triển mạnh mẽ sản xuất kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực, các ngành nghề, các sản phẩm mà pháp luật không cấm.

Để doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh có hiệu quả và có sức cạnh tranh, đại bộ phận doanh nghiệp nhà nước phải có quy mô vừa và lớn, có công nghê tiên tiến.

1.4. Việc cơ cấu lại và thành lập mới doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh phải được xem xét chặt chẽ theo hướng nêu trên.

2. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước

2.1. Đối với doanh nghiệp hoạt động công ích

Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích theo hướng chuyển dần từ cơ chế quản lý doanh nghiệp hoạt động công ích sang cơ chế quản lý sản phẩm và dịch vụ công ích; chuyển từ cơ chế cấp vốn sang cơ chế đấu thầu thực hiện sản phẩm, dịch vụ công ích. Những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh làm các sản phẩm, dịch vụ công ích sẽ được hưởng mọi ưu đãi dành cho sản phẩm và dịch vụ công ích theo quy định chung.

Nhà nước cấp đủ vốn cho các doanh nghiệp đang hoạt động để đảm bảo doanh nghiệp hoạt động ổn định, thực hiện được nhiệm vụ công ích nhà nước giao. Đối với doanh nghiệp thành lập mới, nhất thiết phải theo quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, ngành và địa phương và phải do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và được cấp đủ vốn điều lệ.

Hàng năm, trên cơ sở chỉ tiêu lao động và quỹ tiền lương được duyệt, doanh nghiệp xây dựng và thực hiện quy chế trả lương cho người lao động gắn với kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền lựa chọn những người có đủ phẩm chất, đạo đức, trình độ chuyên môn để bổ nhiệm giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng. Giám đốc có quyền và trách nhiệm bố trí các chức danh quản lý khác trên cơ sở quy định của nhà nước đảm bảo để doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nếu sau 1 năm, doanh nghiệp không hoàn thành nhiệm vụ công ích được giao, thì giám đốc phải báo cáo, giải trình nguyên nhân và đề ra biện pháp khắc phục với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Nếu doanh nghiệp tiếp tục không hoàn thành nhiệm vụ công ích được giao 2 năm liền thì giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng sẽ bị miễn nhiệm.

Nhà nước thông qua các cơ quan chức năng, thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm doanh nghiệp hoạt động công ích thực hiện đúng mục tiêu thành lập, đối tượng phục vụ và phạm vi hoạt động.

2.2. Đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh

Xóa bỏ bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh. Nhà nước có chính sách ưu đãi chung đối với ngành, vùng và các sản phẩm cần ưu tiên khuyến khích, không phân biệt các thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong khung khổ một pháp luật chung. Có quy định kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước độc quyền và lợi nhuận do độc quyền đem lại. Doanh nghiệp nhà nước kinh doanh được nhà nước giao sản xuất những sản phẩm và dịch vụ thiết yếu cho nền kinh tế xã hội thì nhà nước có quy định chính sách cụ thể.

Chuyển tất cả các doanh nghiệp nhà nước giữ 100% vốn sang hoạt động theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn một sáng lập viên hoặc công ty cổ phần gồm các cổ đông là doanh nghiệp nhà nước.

Trên cơ sở cơ chế chính sách hiện hành, cần sửa đổi, bổ sung một số điểm cụ thể sau:

– Về vốn: đối với doanh nghiệp đang hoạt động, nhà nước có cơ chế để trong 5 năm tạo đủ vốn điều lệ cho doanh nghiệp. Đối với những tài sản do doanh nghiệp đầu tư hoàn toàn bằng vốn vay, sau khi đã trả hết nợ bằng nguồn khấu hao cơ bản và lợi nhuận do chính tài sản đó làm ra, thì người lao động trong doanh nghiệp được hưởng 50% giá trị của tài sản và lợi nhuận do phần tài sản đó tạo ra. Doanh nghiệp chủ động xây dựng cơ chế phân phối lợi ích này một cách hợp lý theo hướng khuyến khích tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh.

Nhà nước thực hiện phương thức đầu tư và quản lý vốn tại doanh nghiệp nhà nước thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước.

– Về đầu tư: trên cơ sở quy hoạch phát triển được cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt trong từng kế hoạch 5 năm, nhà nước giao quyền cho các doanh nghiệp nhà nước quyết định đầu tư dự án nhóm C, chủ đầu tư hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của dự án và tuân thủ các quy định của luật pháp về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

– Về lao động, tiền lương: doanh nghiệp quyết định việc tuyển chọn lao động, bố trí việc làm căn cứ vào yêu cầu sản xuất kinh doanh. Được trích lập quỹ giải quyết việc làm, được quyết định cho người lao động thôi việc và chịu trách nhiệm giải quyết chính sách theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở chính sách chung của nhà nước, doanh nghiệp được chủ động áp dụng hình thức trả lương và mức lương cho người lao động một cách hợp lý, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh.

– Về cán bộ quản lý doanh nghiệp: nhà nước quy định tiêu chuẩn và quy trình để doanh nghiệp chủ động lựa chọn và bố trí cán bộ quản lý của mình theo hướng chủ yếu là thi tuyển. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm lãnh đạo chủ chốt của doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước có cơ chế khuyến khích vật chất, tinh thần, đồng thời nâng cao trách nhiệm của cán bộ quản lý doanh nghiệp. Cán bộ đang quản lý doanh nghiệp có hiệu quả, thì không nhất thiết nghỉ hưu theo quy định. Nếu doanh nghiệp thua lỗ 1 năm, thì giám đốc phải báo cáo, giải trình nguyên nhân và đưa ra phương án khắc phục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét phê duyệt. Nếu doanh nghiệp tiếp tục thua lỗ 2 năm liền do chủ quan thì giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng sẽ bị miễn nhiệm và phải chịu trách nhiệm về vật chất, về pháp luật nếu như có quyết định sai trái.

– Về kiểm tra, kiểm soát: cần sửa đổi bổ sung theo hướng hàng năm doanh nghiệp phải được kiểm toán, kết quả kiểm toán là căn cứ pháp lý về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cơ quan kiểm toán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả kiểm toán của mình; cơ quan công an, kiểm sát, thanh tra nhà nước không đi vào kiểm tra hành chính và hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp, trừ khi doanh nghiệp đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật; các cơ quan tiến hành thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quản thanh tra, kiểm tra của mình.

3. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước

3.1. Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách đối với tổng công ty nhà nước

Ngoài việc thực hiện cơ chế chính sách chung đối với doanh nghiệp nhà nước, riêng đối với tổng công ty nhà nước, cần sửa đổi, bổ sung một số điểm như sau:

– Về tổ chức cán bộ:

+ Tổng công ty nhà nước cần thiết phải có hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là cơ quan của nhà nước đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại tổng công ty, chịu trách nhiệm về việc bảo toàn và phát triển vốn và tài sản nhà nước giao cho tổng công ty.

Chủ tịch hội đồng quản trị thay mặt hội đồng quản trị ký nhận vốn nhà nước giao cho tổng công ty.

+ Tổng giám đốc là thành viên hội đồng quản trị; là đại diện pháp nhân của tổng công ty, chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị, trước người ra quyết định bổ nhiệm và trước pháp luật về điều hành hoạt động của tổng công ty. Tổng giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong tổng công ty.

– Về cơ chế hoạt động của tổng công ty, cần tiến hành sửa đổi bổ sung luật doanh nghiệp nhà nước, điều lệ mẫu của tổng công ty nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 39/CP ngày 27.6.1995 của Chính phủ. Trong khi chờ sửa đổi, đề nghị cho phép thực hiện thí điểm những quy định đã nêu trên.

3.2. Đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn tổng công ty nhà nước và thành lập tập đoàn kinh tế

– Tổng công ty nhà nước được kiện toàn và phát triển với mục tiêu tập trung nguồn lực của nhà nước vào những ngành, lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế; làm lực lượng chủ lực trong việc đảm bảo các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô; cung ứng những sản phẩm trọng yếu cho nền kinh tế quốc dân và xuất khẩu, đóng góp lớn cho ngân sách; làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

– Tổng công ty nhà nước phải có quy mô vốn đủ lớn; có thể huy động từ nhiều nguồn, nhưng trong đó vốn nhà nước phải là chủ yếu với mức tối thiểu là 500 tỷ đồng (tương đương 40 triệu USD); có đủ số lượng thành viên cần thiết, thực hiện kinh doanh đa ngành trên cơ sở một ngành chính; có công nghệ, kỹ thuật và trình độ quản lý tiên tiến, có năng suất lao động cao, chất lượng sản phẩm tốt, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

– Căn cứ vào những yêu cầu trên, khẩn trương sắp xếp các tổng công ty nhà nước theo hướng: ngành nào, lĩnh vực nào cần có tổng công ty nhà nước thì nhà nước tạâp trung sức kiện toàn và phát triển; những tổng công ty nào hoạt động trong các ngành không cần có tổng công ty nhà nước và không hội đủ các điều kiện về quy mô vốn, trình độ công nghệ, quản lý, sản phẩm không có khả năng cạnh tranh và không có khả năng phát triển thì sáp nhập vào các tổng công ty khác cùng ngành nghề kinh doanh hoặc giải thể sau khi đã sắp xếp các đơn vị thành viên. Phấn đấu trong 3 năm tới hoàn thành việc sắp xếp các tổng công ty hiện có.

– Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Tổng công ty (công ty mẹ) quản lý và điều hành các doanh nghiệp thành viên (công ty con) chủ yếu bằng cơ chế tài chính theo hướng tạo mối liên kết bền vững về vốn, về đầu tư đổi mới công nghệ và sản phẩm, để vừa phát huy tính độc lập của các doanh nghiệp thành viên vừa tăng cường được sức mạnh tổng hợp của cả tổng công ty.

– Thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế trong một số lĩnh vực then chốt nhất của nền kinh tế mà ta có điều kiện, có thế mạnh, có khả năng phát triển để cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả như: bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực, hàng hải…tập đoàn kinh tế phải có quy mô rất lớn về vốn (tối thiểu 10.000 tỷ đồng), hoạt động xuyên quốc gia, có trình độ công nghệ và quản lý hiện đại, có sự gắn kết trực tiếp, chặt chẽ giữa khoa học công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản xuất kinh doanh; kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân.

4. Đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước mà nhà nước không cần giữa 100% vốn

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ tư (khoá VIII), cơ quan đại diện chủ sở hữu căn cứ vào lĩnh vực, mặt hàng đang sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp mà xác định mức độ cổ phần hóa cụ thể theo các loại hình: doanh nghiệp nhà nước có cổ phần chi phối, doanh nghiệp nhà nước có cổ phần đặc biệt và doanh nghiệp mà nhà nước chỉ giữ tỷ lệ cổ phần ở mức thấp. Sửa đổi, bổ sung cơ chế ưu tiên bán cổ phần cho người lao động trong doanh nghiệp để tạo động lực sản xuất kinh doanh và gắn bó người lao động với doanh nghiệp, đồng thời dành một tỷ lệ thích hợp bán ra ngoài doanh nghiệp để thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý của các cổ đông ngoài doanh nghiệp. Không hạn chế mức mua cổ phần lần đầu của nhà đầu tư. Nhà đầu tư nước ngoài mua không quá 30% tổng số cổ phần của doanh nghiệp.

Có quy định thích hợp để khắc phục tình trạng chênh lệch về cổ phần ưu đãi cho người lao động giữa các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa; sửa đổi cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp theo cơ chế thị trường để không làm thất thoát tài sản nhà nước, nhưng không gây chậm trễ, phiền hà, tiêu cực. Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp cổ phần hóa sử dụng nhiều lao động và quy định cho phép để chủ nợ chuyển vốn vay thành vốn góp cổ phần. Số tiền thu được từ bán cổ phần dành để đầu tư phát triển doanh nghiệp nhà nước.

Các đơn vị thành viên của tổng công ty nhà nước sau cổ phần hóa nếu nhà nước giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt, thì vẫn là thành viên của tổng công ty.

Về hình thức doanh nghiệp cổ phần hóa, cần căn cứ vào điều kiện thực tế của từng doanh nghiệp và yêu cầu trong sản xuất kinh doanh mà lựa chọn các hình thức: giữ nguyên doanh nghiệp phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn; bán một phần giá trị hiện có của doanh nghiệâp cho các cổ đông; tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hóa; nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước đầu tư một phần vốn để lập doanh nghiệp cổ phần mới.

5. Khẩn trương sáp nhập, khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản các doanh nghiệp nhà nước quy mô nhỏ, thua lỗ kéo dài không cổ phần hóa được và nhà nước không cần nắm giữ để sử dụng có hiệu quả tài sản của nhà nước, đảm bảo việc làm và thu nhập của người lao động

Đối với doanh nghiệp nhà nước có số vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng, làm ăn thua lỗ, nhà nước không cần nắm giữ và cũng không cổ phần hóa được, tùy thực tế của từng doanh nghiệp mà cơ quan nhà nước đại diện chủ sở hữu quyết định một trong các hình thức như sáp nhập, khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản.

Các bộ, ngành chức năng, các cơ quan nhà nước ở địa phương cần hướng dẫn, chỉ đạo giải quyết tốt những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện phương án nói trên đối với từng doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ, xác định giá trị thực tế của doanh nghiệp, bảo đảm việc làm ở các doanh nghiệp sáp nhập, giao, khoán kinh doanh, cho thuê và quyền lợi hợp pháp của người lao động ở các doanh nghiệp giải thể, phá sản. Số tiền thu được qua thực hiện phương án nói trên phải nộp vào ngân sách.

Sửa đổi, bổ sung Luật phá sản doanh nghiệp theo hưởng người quyết định thành lập doanh nghiệp có quyền đề nghị tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

6. Bổ sung chính sách đối với lao động trong sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

– Các doanh nghiệp nhà nước phải tiến hành rà soát định mức, định biên lao động để xác định số lượng lao động hợp lý.Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về hợp đồng lao đồng. Doanh nghiệp tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tuyển dụng lao động và thực hiện các chế độ đối với người lao động theo quy định của pháp luật. Sửa đổi, bổ sung chính sách về bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội phù hợp đối với người lao động tại doanh nghiệp.

– Khi thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, cần hết sức chú ý phương án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh để có thể duy trì tối đa và thu hút thêm người lao động vào làm việc ở doanh nghiệp. Trong trường hợp cần đào tạo lại mà doanh nghiệâp thiếu kinh phí, thì nhà nước trợ giúp một phần. Trường hợp người lao động tự nguyện thôi việc thì giải quyết theo chế độ hiện hành và sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để bổ sung. Khẩn trương thành lập quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Kết hợp việc giải quyết lao động dôi dư với thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động trong đó có lao động dôi dư.

– Sửa đổi, bổ sung chính sách về bảo hiểm xã hội và an ninh xã hội phù hợp đối với người lao động tại doanh nghiệp; nhà nước, doanh nghiệp và người lao động đều có trách nhiệm tham gia giải quyết:

Nguồn kinh phí để giải quyết chính sách cho số lao động dôi dư và không có việc làm, thì ngoài quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, còn được hỗ trợ thêm từ ngân sách và các nguồn tài chính vay ưu đãi của các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế. Dự tính tổng số tiền dành cho việc giải quyết lao động thôi việc, mất việc, dôi dư vào khoảng 5.000 tỷ đồng.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật lao động theo hướng cho phép áp dụng chế độ mất việc đối với số lao động dôi dư tại thời điểm cho thuê, khoán kinh doanh và bán doanh nghiệp nhà nước. Trong khi chờ sửa đổi luật, cho thực hiện chính sách nói trên.

7. Xử lý nợ không thanh toán được của các doanh nghiệp nhà nước

Làm rõ trách nhiệm của hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp nhà nước về các khoản nợ không có khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Sửa đổi cơ chế hạch toán để doanh nghiẹâp tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ đã quá hạn từ 5 năm thì phải hạch toán vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (các khoản lỗ) nhưng doanh nghiệp vẫn phải theo dõi và đòi nợ, khi đòi được nợ thì lại hạch toán vào lãi của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp bị thua lỗ liên tục từ 2 năm trở lên thì được xem xét giảm vốn, khi đòi được nợ thì tăng vốn trở lại cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp không được đi vay các khoản ngắn hạn để đầu tư cho các dự án trung và dài hạn, ngân hàng phải có cơ chế kiểm tra giám sát và cùng chịu trách nhiệm nếu để xảy ra các trường hợp nói trên.

Đối với nợ ngân hàng, thì giao cho ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm tổng hợp và phối hợp với các ngành đề xuất các trường hợp xóa nợ, khoanh nợ, giãn nợ, tham gia vốn với doanh nghiệp. Tăng cường cơ chế giám sát của cơ quan ngân hàng, cơ quan tài chính về công nợ của doanh nghiệp nhà nước. Thông báo về khả năng thanh toán của doanh nghiệp cho các bên tham gia ký kết hợp đồng kinh tế. Các ngân hàng thương mại quốc doanh phải thẩm định kỹ và tự chịu trách nhiệm trước khi cho các doanh nghiêïp vay vốn, chỉ cho vay đối với các khoản vay có khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Nghiên cứu lại thời hạn cho vay đầu tư trung và dài hạn phù hợp với thời gian thu hồi vốn của dự án.

Đối với các khoản nợ ngân sách (nợ thuế, tiền bán hàng theo nghị định thư và các khoản nợ khác) từ năm 1995 trở về trước, sớm kiểm tra và phân loại các khoản nợ để xử lý cụ thể cho từng doanh nghiệp. Đối với các khoản nợ ngân sách mà doanh nghiệp đã đầu tư vào tài sản thì tăng vốn cho doanh nghiệp; nếu doanh nghiêïp bị thua lỗ kéo dài, không có khả năng thanh toán thì xem xét cho xóa nợ nhưng phải có quy chế chặt chẽ, không gây thất thoát cho ngân sách nhà nước.

Đối với các khoản nợ nước ngoài mà có bảo lãnh của các bộ, ngành, địa phương thì cơ quan bảo lãnh chủ trì đàm phán với các chủ nợ để giảm số nợ đến mức thấp nhất và bố trí ngân sách để trả nợ, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả ngân sách.

Ban hành cơ chế kiểm tra giám soát tình hình nợ của doanh nghiệp nhà nước gắn với hiệu quả đầu tư nhưng vẫn đảm bảo quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh nghiệp của doanh nghiệp.

Đối với các khoản nợ do lịch sử để lại từ lâu không có khả năng thu hồi, cần có cơ chế cho xóa nợ, nhưng phải làm rõ trách nhiêïm và xử lý nghiêm các hành vi sai trái.

8. Đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước và bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước

– Đổi mới và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước. Phân định rõ chức năng quản lý nhà nước và chức năng quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quản lý nhà nước tập trung vào việc xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý và ban hành chính sách, cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích; chỉ đạo xây dựng quy hoạch và chiến lược phát triển của doanh nghiệp nhà nước trong tổng thể quy hoạch và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của ngành và địa phương; xây dựng quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho doanh nghiệp nhà nước; tổ chức kiển tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách, chế độ quy định của nhà nước tại doanh nghiệp.

Nhà nước tập trung chỉ đạo thúc đẩy phát triển đồng bộ các loại thị trường để tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ doanh nghiệp nghiên cứu và ứng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh; tạo ra sản phẩm mới, sản phẩm có chất lượng cao cạnh tranh được trên thị trường trong và ngoài nước.

Tiếp tục xóa bỏ chế độ cơ quan chủ quản và cấp hành chính chủ quản. Các cơ quan quản lý nhà nước phải căn cứ vào quy định của pháp luật và chức năng, nhiêïm vụ của mình mà ban hành đầy đủ, phù hợp hệ thống văn bản pháp quy để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Quản lý điều hành sản xuất kinh doanh là nhiệm vụ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thực hiện quản lý sản xuất kinh doanh trên cơ sở quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do nhà nước giao để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp; chủ động tổ chức bộ máy quản lý và nhân lực phù hợp nhiệm vụ và yêu cầu phát triển. Người lãnh đạo doanh nghiêïp chịu trách nhiệm đầy đủ về mọi quyết định của mình trong sản xuất kinh doanh.

– Phân định quyền của cơ quan nhà nước với tư cách là chủ sở hữu và trách nhiệm của người sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước.

+ Chủ sở hữu có quyền: quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp; quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược phát triển và định hướng kế hoạch kinh doanh trung hạn, dài hạn của doanh nghiệp; ban hành điều lệ mẫu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh quản lý chủ chốt; tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nhà nước giao và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

+ Người sử dụng vốn nhà nước có trách nhiệm: sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước để thực hiện các mục tiêu kinh doanh và nhiệm vụ do nhà nước giao; thực hiện đúng chế độ và các quy định về quản lý vốn, tài sản, các quỹ, về hạch toán kế toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do nhà nước quy định; chịu trách nhiệm về tính trung thực và hợp pháp của hoạt động tài chính, các báo cáo tài chính.

– Cán bộ quản lý doanh nghiệp không đáp ứng được yêu cầu mới về trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức là nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng doanh nghiệp hoạt động yếu kém, tiêu cực. Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước hiện nay đòi hỏi phải có chương trình kế hoạch đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng với nội dung sát hợp cho từng đối tượng cụ thể.

Kiện toàn và nâng cao năng lực của các cơ sở bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp. Kết hợp bồi dưỡng đào tạo trong nước và nước ngoài. Kết hợp việc đào tạo bồi dưỡng qua trường lớp với khuyến khích dám nghĩ, dám hành động và trưởng thành qua hoạt động thực tiễn.

Có chính sách khuyến khích vật chất và tinh thần cho những người có tay nghề cao, trình độ chuyên môn giỏi, đóng góp lớn để họ gắn bó lâu dài và cống hiến ngày càng nhiều cho doanh nghiệp.

9. Nâng cao vai trò của tổ chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước

Sự lãnh đạo của đảng đối với doanh nghiệp nhà nước là vấn đề có tính nguyên tắc. Thực tiễn cho thấy doanh nghiệp nhà nước nào có đảng bộ vững mạnh, chấp hành pháp luật, đảng viên gương mẫu, lãnh đạo doanh nghiệp và đảng ủy đoàn kéât, nhất trí, thì ở đó sản xuất kinh doanh phát triển.

Tổ chức đảng ở doanh nghiệp nhà nước tạâp trung lãnh đạo việc quán triệt và chấp hành nghị định, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước; lãnh đạo doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đúng luật pháp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp, phát huy dân chủ, tinh thần thi đua hoàn thành nhiệm vụ của người lao động; lãnh đạo đảm bảo việc bổ nhiệm cán bộ quản lý doanh nghiệp theo đúng tiêu chuẩn và quy trình; lãnh đạo xây dựng đạo đức, phẩm chất đội ngũ đảng viên và đấu tranh chống mọi hiện tượng tiêu cực, tham nhũng. Đảng viên trong doanh nghiệp phải gương mẫu thực hiện chủ trương, chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, điều lệ, quy chế của doanh nghiệp và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Tổ chức đảng tại doanh nghiệp nhà nước cần phải được kiện toàn phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý của doanh nghiệp trong điều kiện mới, đề nghị Bộ chính trị giao Ban tổ chức trung ương phối hợp với các cơ quan có liên quan sớm nghiên cứu để có mô hình tổ chức đảng phù hợp đối với từng loại hình doanh nghiệp ª

HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHƯỢNG QUYỀN TẠI VN

NGUYỄN THANH HƯƠNG

Cùng với xu thế toàn cầu hóa, VN đã gia nhập APEC và tổ chức thương mại thế giới (WTO). Qua hội nhập, nhiều vấn đề kinh tế nẩy sinh, đòi hỏi phải nghiên cứu giải quyết, trong đó nhưng quyền thương hiệu (NQTH) là một hoạt động thương mại hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) ở VN. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi đề cập đến NQTH dưới góc độ nhìn nhận các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.

1. Nhượng quyền thương hiệu – sự cần thiết khách quan

NQTH là một phát triển tất yếu và là yêu cầu của kinh tế thị trường. Mô hình này đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử các quốc gia có nền kinh tế phát triển. Theo quan điểm của Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế (The International Franchise Association): “Nhượng quyền kinh doanh là mối quan hệ được xác lập trên cơ sở hợp đồng giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền liên quan tới các khía cạnh như bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên; Bên nhận quyền hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới thương hiệu, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên nhượng quyền sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang hoặc sẽ tiến hành đầu tư vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”.

Sau hội nhập, VN phải mở cửa cho các nước thành viên được giao dịch thương mại tại đất nước mình và phải thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO. Mô hình kinh doanh NQTH là một trong những dự báo được nhiều thương hiệu nổi tiếng trên thế giới quan tâm và có kế hoạch phát triển tại VN, đây là một khó khăn mà các doanh nghiệp phải đối mặt.

Là một đất nước có nền kinh tế tăng trưởng cao suốt 5 năm năm qua, GDP bình quân 7,5%/năm, không có xung đột về tôn giáo, chính trị; một thị trường tiềm năng với dân số 84 triệu người, trong đó 70% số dân độ tuổi dưới 30, đa số thích mua sắm, tiêu dùng. Theo khảo sát của Tổng cục thống kê gần đây trong lĩnh vực tiêu dùng cho thấy, có 90% người tiêu dùng quyết định mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thông qua thương hiệu và theo số liệu của Hội đồng nhượng quyền thương mại thế giới – WFC, năm 2006 VN được xếp là thị trường bán lẻ đứng thứ ba thế giới với sức mua khoảng 21 tỷ USD, có trên 70 hệ thống nhượng quyền đang họat động với tốc độ tăng trưởng mỗi năm khoảng 15 – 20%. Đây là xu hướng và cũng là cơ hội cho những DNVVN muốn thử sức bằng các hình thức nhượng quyền.

Những năm gần đây, hình thức “NQTH” không còn xa lạ và trở thành vấn đề gây chú ý đối với các DNVVN ở VN. Nhìn một cách tổng quan, hoạt động nhượng quyền tại VN đã khởi sắc, hứa hẹn một thị trường đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh các thương hiệu nhượng quyền nổi tiếng như Cà phê Trung Nguyên, Phở 24, Kinh Đô, Vissan…đã xuất hiện các thương hiệu mới như thời trang Foci, Nino Max, chuỗi cửa hàng G7, Nước mía siêu

sạch…Ngoài những thương hiệu trong nước, các thương hiệu nổi tiếng ở nước ngoài cũng tham gia thị trường nhượng quyền tại VN như KFC, Lotteria, Jollibee đã chuyển nhượng thành công tại TP.HCM và Hà Nội. Đặc biệt sau hội nhập, NQTH đang nóng lên từng ngày, nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như Mc Donald’s, cà phê Starbucks, cửa hàng tiện lợi Seven-Eleven, tập đoàn bán lẻ hàng đầu của Mỹ – WalMart… đang có kế hoạch xâm nhập thị trường VN.

VN đang trong giai đoạn khởi động lĩnh vực NQTH nên tiềm năng phát triển trong lĩnh vực này còn rất lớn và chắc chắn sẽ tăng trưởng mạnh trong vài năm tới.

2. Các hình thức nhượng quyền thương hiệu

Trong thực tiễn, mô hình nhượng quyền là một mô hình kinh doanh có rất nhiều cách thức. Song, nếu chỉ căn cứ vào tính chất, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, xét về cơ bản , có các hình thức sau đây:

° Nhượng quyền đơn nhất hay nhượng quyền trực tiếp (Unit franchising)

Hình thức nhượng quyền này được áp dụng khi bên nhượng quyền và bên nhận quyền cùng hoạt động trong phạm vi một quốc gia nhằm đảm bảo quyền kiểm soát của bên nhượng quyền đối với việc tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của bên nhận quyền. Hình thức này thường không được ưu tiên lựa chọn áp dụng nếu như bên nhượng quyền và bên nhận quyền là những chủ thể kinh doanh ở tại những quốc gia khác nhau, có ngôn ngữ, văn hoá, hệ thống pháp luật, chính sách thương mại khác nhau. Trong những trường hợp như vậy, các bên có thể lựa chọn hình thức nhượng quyền khởi phát được trình bày ở phần sau.

° Nhượng quyền mở rộng (Franchise developer agreement)

Thực chất của hình thức này là bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền trách nhiệm mở rộng và điều hành một số lượng đơn vị kinh doanh theo đúng thỏa thuận trong phạm vi một lãnh thổ nhất định và không được nhượng quyền cho bên thứ ba. Bên nhận quyền sẽ thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch đã được bên nhượng quyền định trước. Mỗi đơn vị kinh doanh do bên nhận quyền thiết lập đều không có tư cách pháp nhân và hạch toán phụ thuộc vào bên nhận quyền.

° Nhượng quyền khởi phát (Nhượng quyền phụ – Master franchise)

Nhượng quyền khởi phát là nhượng quyền thương mại mang tính quốc tế. Nghĩa là, bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều ở các quốc gia khác nhau. Bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền, tiến hành kinh doanh theo theo hệ thống các phương thức, bí quyết kinh doanh của bên nhượng quyền và bên nhận quyền được phép nhượng quyền cho các bên thứ ba Điều này sẽ góp phần khai thác một cách triệt để tiềm năng kinh tế của các thị trường mới. Tuy vậy, đi đôi với nó cũng sẽ là những rủi ro rất lớn cho toàn bộ hệ thống kinh doanh.

Nếu căn cứ theo hình thức hoạt động kinh doanh thì nhượng quyền thương mại bao gồm:

° Nhượng quyền sản xuất (Processing franchise)

Là loại hình nhượng quyền cho phép bên nhận quyền được sản xuất và cung cấp ra thị trường các hàng hóa mang nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Trong nhượng quyền sản xuất, bên nhượng quyền còn cung cấp cho bên nhận quyền những thông tin liên quan tới bí mật thương mại hoặc những công nghệ hiện đại, thậm chí là cả những công nghệ đã được cấp bằng sáng chế. Ngoài ra, bên nhượng quyền còn có thể hỗ trợ bên nhận quyền ở một số khía cạnh như: hỗ trợ đào tạo, tiếp thị, phân phối và các dịch vụ hậu mãi.

° Nhượng quyền dịch vụ (Service franchise)

Nhượng quyền dịch vụ là nhượng quyền trong các lĩnh vực hoạt động có tính chất dịch vụ như: sửa chữa, bảo dưỡng ô tô, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng…..Bên nhượng quyền đã xây dựng và phát triển thành công một (hoặc một số) mô hình dịch vụ nhất định mang thương hiệu riêng, Bên nhận quyền sẽ được cung ứng các dịch vụ ra thị trường theo mô hình hình và với thương hiệu của bên nhượng quyền.

° Nhượng quyền phân phối (Distribution franchise)

Trong nhượng quyền phân phối, mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền có những điểm gần giống như mối quan hệ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối, tức là bên nhượng quyền sản xuất ra các sản phẩm sau đó bán lại sản phẩm cho bên nhận quyền và bên nhận quyền sẽ phân phối trực tiếp sản phẩm tới người tiêu dùng dưới thương hiệu của bên nhượng quyền. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nhượng quyền phân phối thường gặp trong các lĩnh vực như phân phối mỹ phẩm (Hệ thống cửa hàng phân phối mỹ phẩm VICHY, O’REAL…) hay phân phối nhiên liệu cho các loại xe máy, xe ô tô (cửa hàng phân phối dầu nhờn CASTROL, CALTEX, EXXON) Trong thực tiễn của hoạt động nhượng quyền thương mại, các doanh nghiệp có thể có sự lựa chọn một hình thức kết hợp của các hình thức nhượng quyền đã nêu trên, phù hợp với khả năng của mình và hoàn cảnh kinh tế cũng như yêu cầu vềmặt pháp lý của mỗi quốc gia.

3. Đôi điều suy nghĩ

Củng cố và định vị thương hiệu

Để nhượng quyền thương hiệu cần phải có thương hiệu. Song, yếu tố quyết định sự thành công của một thương hiệu chính là sức sống của sản phẩm và sự công nhận của người tiêu dùng.

Như chúng ta đã biết, tư bản công nghiệp phát triển đến một mức độ nhất định nào đó sẽ dẫn đến sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp. Bởi hoạt động của tư bản công nghiệp không chỉ lợi cho nhà sản xuất mà còn thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Sự ra đời hàng loạt các hệ thống siêu thị là kết quả phát triển tất yếu của kinh tế thị trường và chính các hệ thống siêu thị, kênh phân phối sẽ là những phương tiện quảng bá hình ảnh thương hiệu đến người tiêu dùng một cách hiệu quả và nhanh chóng nhất. Ngoài ra, xu hướng người tiêu dùng đi siêu thị mua sắm thay cho đi chợ ngày càng gia tăng – Điều đó cho thấy, mở rộng thị phần ở những nơi này là cách tốt nhất giúp người tiêu dùng dễ dàng nhận thấy hình ảnh thương hiệu và so sánh được chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.

Hình thành, phát triển và cải thiện hệ thống đại lý, nhà phân phối chính là tạo nên sức mạnh cạnh tranh của thương hiệu, giúp thương hiệu xây dựng nền móng vững chắc và làm chủ thị trường trước khi các đối thủ nhượng quyền nước ngoài muốn vào hoạt động tại VN. Điều cần lưu ý là các doanh nghiệp phải đăng ký bảo hộ thương hiệu ngay từ khi chưa đi ra thị trường thế giới.

Hoạt động marketing

Hoạt động marketing của cả đối tác và chủ thương hiệu đều ảnh hưởng trực tiếp đến cảm nhận của khách hàng đối với thương hiệu. Muốn làm tốt hoạt động này cần phải hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, thăm dò, khảo sát, thu thập ý kiến để có thể tiếp cận những phân khúc thị trường tiềm năng. Sự phân nhóm khách hàng sẽ giúp các công ty thấy đựơc sự gia tăng nhu cầu của thị trường và chú ý hơn vào những phân khúc thị trường nhỏ nhưng có triển vọng. Bên cạnh đó, để thu hút khách hàng mới và giữ được những khách hàng hiện có, nhân viên marketing phải cân đối ngân sách hợp lý để có thể tập trung nguồn lực vào những phân khúc khách hàng tiềm năng. Tiếp theo là xây dựng mối quan hệ vững chắc với khách hàng. Khi sản phẩm và dịch vụ đã thỏa mãn được khách hàng thì một trong những cách tạo ra sự khác biệt là thiết lập sự tác động qua lại giữa công ty và khách hàng. Điều này làm cho mối quan hệ với khách hàng bền chặt hơn, đồng thời giúp người làm marketing phân loại khách hàng của mình tốt hơn. Tạo sự thống nhất và ổn định thông qua những yếu tố nội lực là hết sức cần thiết để tác động tích cực đến khách hàng trong những phân khúc chính.

Bên cạnh đó, cần quán triệt quan điểm khách hàng là “Thượng đế”, là nguồn sống của các công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh. Để khách hàng trung thành hơn với mình, cần có những giải pháp chuyên nghiệp hơn như: cải thiện công tác marketing, bán hàng và dịch vụ. Tổ chức các cuộc họp thân mật, tạo điều kiện cho khách hàng gặp gỡ bộ phận nghiên cứu và phát triển để đóng góp ý kiến xây dựng và bày tỏ nhu cầu của mình. Tổ chức các cuộc thi thiết kế mẫu mã, bao bì nhằm có được những ý tưởng sáng tạo độc đáo, mới lạ, hấp dẫn, và bắt mắt.

Sản phẩm

Đa dạng hóa chủng loại sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu, sở thích của người tiêu dùng trong và ngoài nước; nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và nước ngoài. Để có được những sản phẩm chủ lực, độc đáo, có tính cạnh tranh cả về chất lượng lẫn giá cả, doanh nghiệp cần nâng cao trình độ đội ngũ lao động, cải tiến quy trình công nghệ cũ, tiếp cận những quy trình công nghệ mới nhằm đáp ứng được nhu cầu khách hàng, cung cấp cho thị trường cái mà khách hàng cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có.

Nguồn nhân lực

Nhân lực là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp, để tồn tại lâu dài các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đào tạo, tận dụng năng lực của đội ngũ nhân viên hiện tại mà còn quan tâm đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ kế thừa trong tương lai. Để phát triển mô hình NQTH được thuận lợi, các đơn vị cần phải xây dựng và đào tạo chuyên sâu một đội ngũ cán bộ chủ chốt, có năng lực và kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực kinh doanh nhượng quyền, đủ sức quản lý và điều hành một cửa hàng nhượng quyền. Đồng thời, đào tạo tại chỗ các bộ phận trực thuộc công ty: kinh doanh, tiếp thị, quảng cáo…về kiến thức nhượng quyền. Xây dựng chính sách lương, thưởng, thăng tiến hợp lý để khuyến khích tính năng động, sáng tạo của nhân viên và giữ chân nhân tài. Thực hiện chính sách luân chuyển nhân viên qua các bộ phận khác nhau nhằm phát hiện, khai thác, tận dụng thế mạnh của nhân viên.

Đối tác nhận quyền

Cũng như bất cứ các mối quan hệ thông thường khác, quan hệ giữa người nhượng và người nhận cũng cần xây dựng và giữ gìn trong suốt thời gian hợp tác với nhau. Vì đây là mối quan hệ hai bên cùng có lợi, bên nhượng quyền cần phát huy hơn nữa trong việc hỗ trợ, giúp đỡ người nhận quyền trong việc quản lýý cũng như trong họat động kinh doanh bằng cách cử chuyên viên đã thông thạo chuyên môn, am hiểu thị trường, có kinh nghiệm quản lý cùng điều hành với người nhận quyền nhằm giúp bên nhận quyền ngày càng lớn mạnh. Bên cạnh đó phải thường xuyên thiết lập kênh thông tin liên lạc giữa hai bên, hệ thống mạng Internet giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền, nhanh chóng giải quyết các trở ngại, khó khăn kịp thời, truyền đạt những thông tin liên quan cấp thiết. Tất cả những điều này đều hướng tới một mục tiêu duy nhất là làm sao góp phần nâng cao hiệu quả của bên nhận quyền, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp cho hiện tại và cho cả tương lai.

Kiến nghị

Trở thành thành viên của WTO, sau hội nhập, VN có rất nhiều cơ hội trong việc tham gia các hoạt động tự do hóa thương mại, được hưởng các chính sách ưu đãi thuế quan như các thành viên khác, do đó cần tận dụng lợi thế này để cải tạo môi trường kinh doanh và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Do đó xin đề xuất:

– Nhà nước cần chủ động xúc tiến và hỗ trợ các doanh nghiệp, chủ thương hiệu mở rộng cửa hàng nhượng quyền ở nước ngoài.

– Mở các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp về thông tin thị trường xuất khẩu trên thế giới, giúp doanh nghiệp có thể đối phó với những biến động bất ổn về giá cả làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

– Thành lập câu lạc bộ hoặc hiệp hội Franchise VN để các doanh nghiệp, các thương nhân giao lưu, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về Franchise và quảng bá mô hình Franchise.

NQTH là một vấn đề mới nẩy sinh nên bao giờ cũng là vấn đề phức tạp. Hy vọng trong tương lai, với nền tảng vững chắc hiện có, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ thực hiện thành công mô hình NQTH, nhanh chóng hội nhập nền kinh tế thế giới ª

Tài liệu tham khảo

1. Franchise – Bí quyết thành công bằng mô hình kinh doanh – TS.Lý Quý Trung – NXB trẻ 2006.

2. Mua Franchise – Cơ hội mới cho các doanh nghiệp Việt Nam – TS.Lý Quý Trung – NXB trẻ

2006.

3. Luật Thương mại 2005- Công ty luật hợp danh-NXB thống kê.

4. Các hình thức nhượng quyền được trích nguồn từ “Nhượng quyền thương mại và những mối quan tâm của doanh nghiệp” – Nguyễn Thanh Hằng – VP Luật Tân Hà – HN

5. Tạp chí tin tức và sự kiện.

6. Achieving weath through franchising – Robert

T.Justis & William Slater Vincent.

7. Các tra ng web: viet namnet. com, kinhdofood.com, trungnguyen.com, pho24.com, tanh alaw .com.vn , lanta bran d.com , vnexpress.net, thuonghieu.com và một số trang báo điện tử khác.

SOURCE: TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KINH TẾ SỐ 8 NĂM 2007

GIA ĐÌNH VIỆT NAM – BIẾN ĐỔI VÀ TRIỂN VỌNG

NGUYỄN LINH KHIẾU

Những biến đổi của gia đình Việt Nam thời gian qua đang tạo ra những băn khoăn, lo lắng cho không ít người về sự tác động của toàn cầu hóa đối với gia đình và văn hóa gia đình. Tuy nhiên, các nghiên cứu về gia đình cho thấy, mặc dù có những vấn đề cần đặc biệt quan tâm và sớm có giải pháp điều chỉnh, nhưng những biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay vẫn trong khung cảnh tôn vinh và làm mới những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, tiếp nhận một cách chủ động những giá trị văn hóa của gia đình hiện đại.

Vào những năm đầu đổi mới, “mở cửa”, với sự tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường và sự du nhập ồ ạt lối sống, phương thức sinh hoạt của xã hội phương Tây vào nước ta, trên các phương tiện thông tin đại chúng và diễn đàn khoa học, không ít người đã lên tiếng báo động về nguy cơ “khủng hoảng” của gia đình Việt Nam. Sự lo ngại ở thời điểm ấy không phải không có cơ sở. Tuy nhiên, cho đến nay, sau 20 năm đổi mới, gia đình Việt Nam không những không bị khủng hoảng mà ngày càng được củng cố và phát triển. Đó là một thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo.

Vào thời điểm hiện nay, con người Việt Nam vẫn coi hôn nhân là sự kiện trọng đại, thiêng liêng và gia đình là phương thức sinh sống quan trọng nhất của hầu như tất cả mọi người. Gia đình là một thiết chế xã hội. Nó là sản phẩm của lịch sử. Vì thế, gia đình bị quy định bởi điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tôn giáo… của một xã hội nhất định. Qua gia đình, chân dung của xã hội hiện ra một cách sinh động và toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, tư tưởng, tôn giáo, lối sống, phong tục, tập quán và tín ngưỡng… Gia đình là một nhóm xã hội đặc biệt được hình thành một cách tự nhiên bởi quan hệ hôn nhân và huyết thống, mọi thành viên cùng chung sống và có chung ngân sách.

Mặc dù chịu tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và toàn cầu hóa, nhưng hiện tại, gia đình Việt Nam vẫn là một giá trị bền vững và có sức sống mạnh mẽ. Nó vẫn là nền tảng, là tế bào của xã hội. Với tư cách là đơn vị kinh tế, đơn vị tiêu dùng của xã hội, một mặt, gia đình trực tiếp tham gia thúc đẩy sự phát triển của các quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông của đời sống kinh tế; mặt khác, là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, nương tựa của mỗi con người trong suốt cuộc đời. Gia đình cũng là nơi lưu giữ, truyền thụ, chuyển giao và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống quý báu của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Gia đình Việt Nam đang trong bước chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại trên nhiều phương diện và xu hướng khác nhau, cả tích cực và tiêu cực. Đó là sự biến đổi mang tính toàn diện cả về cơ cấu, các quan hệ, các chức năng và vai trò của người phụ nữ trong gia đình.

Sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay, trước hết, được thể hiện trong biến đổi cơ cấu gia đình. Loại hình gia đình rất phong phú, nhưng gia đình hạt nhân – loại hình gia đình tiên tiến, phù hợp với xã hội hiện đại – mang tính phổ biến. Quy mô của gia đình rất đa dạng, nhưng số gia đình hai thế hệ chiếm tỷ lệ cao nhất với số người trong gia đình trung bình là trên/dưới 4 người. Trong các mối quan hệ gia đình, quan hệ hôn nhân về cơ bản do tình yêu của đôi nam – nữ quyết định. Hôn nhân được sự đồng ý của cha mẹ, sự công nhận của pháp luật và được tổ chức cưới theo nghi thức đời sống mới. Tuổi kết hôn của cả nam và nữ đều có xu hướng tăng cao và sau khi kết hôn, đôi vợ chồng thường có nơi ở riêng và số con của mỗi cặp vợ chồng đa số chỉ là trên/dưới 2 con. Mặc dù trong gia đình người đàn ông vẫn thường được đề cao và cha mẹ vẫn có nhiều quyền uy với con cái nhưng nhìn chung, các mối quan hệ trong gia đình hiện nay đã mang tính chất tự do, dân chủ và bình đẳng.

Gia đình Việt Nam hiện nay, về cơ bản, vẫn là mô hình gia đình truyền thống đa chức năng. Các chức năng cơ bản của gia đình như: chức năng kinh tế; chức năng tái sản xuất con người và sức lao động; chức năng giáo dục – xã hội hóa; chức năng tâm – sinh lý, tình cảm… được phục hồi, có điều kiện thực hiện tốt hơn và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với từng thành viên gia đình mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội đất nước. Chức năng của gia đình được đề cao cũng có nghĩa gia đình đang có vai trò và vị thế quan trọng trong đời sống kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Bình đẳng giới trong gia đình là một nét mới trong biến đổi của gia đình Việt Nam và đã thu hút sự quan tâm, đồng tình thực hiện của cả xã hội. Đó là người phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng trong sản xuất, tái sản xuất, tiếp cận các nguồn lực phát triển, các quyết định, các sinh hoạt cộng đồng và thụ hưởng các lợi ích, phúc lợi gia đình; đồng thời, các thành viên gia đình và các dịch vụ xã hội cũng từng bước chia sẻ gánh nặng công việc nội trợ gia đình đối với người phụ nữ, góp phần thiết thực tạo điều kiện và cơ hội giúp phụ nữ phát huy mọi tiềm năng của mình trong hội nhập và phát triển.

Trong bối cảnh đổi mới và toàn cầu hóa hiện nay, gia đình Việt Nam đã biến đổi một cách toàn diện và ngày càng trở thành một thực thể hoàn thiện – năng động phù hợp với những điều kiện kinh tế – xã hội có nhiều biến động. Sự biến đổi ấy chính là một quá trình liên tục bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị của gia đình truyền thống; đồng thời, tiếp thu có chọn lọc và cải biến những giá trị tiên tiến, những tinh hóa của gia đình hiện đại. Có thể nói, gia đình Việt Nam hiện nay chính là sản phẩm của sự hiện đại hóa các giá trị cao quý của gia đình Việt Nam truyền thống và truyền thống hóa những giá trị, tinh hoa gia đình của các xã hội hiện đại.

Những giá trị truyền thống quý báu của gia đình Việt Nam truyền thống vẫn được bảo tồn và phát huy như: tình yêu lứa đôi trong sáng; lòng chung thủy, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh vô tận của cha mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ; con cháu kính trọng, biết ơn và quan tâm tới ông bà, tổ tiên; tình yêu thương, chăm lo và đùm bọc anh em, họ hàng; đề cao lợi ích chung của gia đình; tự hào truyền thống gia đình, dòng họ. Đồng thời, gia đình Việt Nam cũng tiếp thu nhiều tinh hoa, giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự do cá nhân; tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi người; tôn trọng lợi ích cá nhân; dân chủ trong mọi quan hệ; bình đẳng nam nữ; bình đẳng trong nghĩa vụ và trách nhiệm; bình đẳng trong thừa kế; không phân biệt đối xử đẳng cấp, thứ bậc giữa con trai và con gái, giữa anh và em… Đó chính là cùng với những đặc trưng của gia đình truyền thống được phát huy, gia đình Việt Nam hiện nay đang được củng cố và xây dựng theo xu hướng hiện đại hóa: dân chủ, bình đẳng, tự do và tiến bộ.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội và những điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, gia đình Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều nguy cơ và thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa nhiều biến động và bất trắc: đó là tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao; sống chung không kết hôn; tình trạng trẻ em nghiện hút; tệ nạn mại dâm; tình dục đồng giới; trẻ em lang thang; buôn bán phụ nữ qua biên giới; bạo lực trong gia đình; bất bình đẳng giới; ngoại tình; xu hướng đề cao tiền bạc trong quan hệ giữa người và người… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau.

Trong bối cảnh đó, để gia đình Việt Nam ngày càng giữ gìn và phát huy được những giá trị cao quý vốn có của mình, chủ động, tích cực tiếp thu được những tinh hoa, giá trị của gia đình các xã hội hiện đại; đồng thời, ngăn chặn một cách có hiệu quả sự tấn công của tệ nạn xã hội, những nguy cơ dẫn đến tan rã gia đình… Cần tập trung vào một số vấn đề sau: có hệ giải pháp thiết thực để thực hiện tốt nhất Chiến lược củng cố và xây dựng gia đình; có hệ chính sách hữu hiệu hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình; phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí; có chính sách tích cực tạo điều kiện để đoàn tụ gia đình, gắn bó các thành viên gia đình; đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo; tăng cường thực hiện công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình; đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống chính sách xã hội đối với các gia đình chính sách; tiếp tục mở rộng tuyên truyền, phổ biến kiến thức về giới góp phần thiết thực tạo lập sự bình đẳng giới trong gia đình và xã hội.

Thực hiện tốt những vấn đề trên, chúng ta sẽ tạo ra những điều kiện tốt nhất để gia đình Việt Nam ngày càng được củng cố và phát triển theo xu hướng ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Gia đình Việt Nam hiện nay và trong tương lai vẫn sẽ thực sự là tế bào của xã hội, là một thiết chế cơ bản của xã hội, là tổ ấm, nơi nương tựa quan trọng nhất của mỗi người. Gia đình Việt Nam là một nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với xã hội Việt Nam, gia đình bao giờ cũng gắn liền với xã hội, vì lẽ đó không thể có một xã hội phát triển nếu các gia đình bị suy sụp, khủng hoảng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “…nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Xã hội ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đó là cơ sở để khẳng định gia đình Việt Nam cũng đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 19 (139) NĂM 2007

ĐIỀU LỆ MẪU CỦA MỘT PHÁP NHÂN THEO MÔ HINH CÔNG TY MẸ

ĐIỀU LỆ

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY MẸ – TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM
(Ban hành theo Quyết định số 192/2007/QĐ-TTg ngày 12/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ)

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Giải thích từ ngữ

1. Trong Điều lệ này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a)“Công ty mẹ – Tổng công ty Hàng hải Việt Nam” (sau đây gọi tắt là VINALINES) là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân, được thành lập theo Quyết định số 217/2006/QĐ-TTg ngày 29 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.

b) “Đơn vị phụ thuộc VINALINES” là các đơn vị do Hội đồng quản trị VINALINES quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể, bao gồm: văn phòng đại diện, chi nhánh và đơn vị hạch toán phụ thuộc.

c) “Công ty con” là công ty do VINALINES đầu tư 100% vốn điều lệ hoặc giữ cổ phần chi phối, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty thành viên hạch toán độc lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài.

d)“Công ty liên kết” là công ty có cổ phần, vốn góp không chi phối của VINALINES, được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài.

Danh sách các đơn vị phụ thuộc, công ty con, công ty liên kết của VINALINES tại thời điểm phê duyệt Điều lệ được ghi tại Phụ lục kèm theo Điều lệ này.

đ)“Công ty tự nguyện tham gia liên kết với VINALINES” là công ty không có cổ phần, vốn góp của VINALINES nhưng tự nguyện trở thành thành viên liên kết trên cơ sở có quan hệ gắn bó về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác với VINALINES; chịu sự ràng buộc nhất định về quyền, nghĩa vụ với VINALINES theo hợp đồng liên kết hoặc theo thoả thuận giữa công ty đó với VINALINES.

e)“Quyền chi phối của VINALINES” là quyền quyết định hoặc tác động của VINALINES đến các công ty con, công ty bị chi phối về: điều lệ hoạt động, nhân sự chủ chốt, tổ chức bộ máy quản lý, bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường tiêu thụ, chiến lược kinh doanh, định hướng đầu tư và các vấn đề quan trọng khác được quy định tại điều lệ của công ty con, công ty bị chi phối đó hoặc theo thoả thuận giữa VINALINES với công ty con, công ty bị chi phối đó.

g) “Cổ phần chi phối, vốn góp chi phối của VINALINES” là cổ phần hoặc phần vốn góp của VINALINES chiếm trên 50% vốn điều lệ của công ty khác.

h)“Đầu tư vốn ra ngoài VINALINES” là hoạt động dùng vốn, tài sản hoặc thương hiệu của VINALINES để đầu tư, góp vốn vào doanh nghiệp khác ngoài VINALINES như: góp vốn liên doanh, liên kết, mua cổ phiếu, trái phiếu, đầu tư tăng vốn vào các công ty con, công ty liên kết, công ty khác.

i)“Tổ hợp công ty mẹ – công ty con” là tổ hợp các công ty bao gồm VINALINES và các công ty con.

2. Các từ ngữ khác trong Điều lệ này đã được giải nghĩa trong Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác thì có nghĩa tương tự như trong các văn bản pháp luật đó.

Điều 2. Tên gọi và địa chỉ trụ sở chính của VINALINES

1. Tên gọi:

– Tên gọi đầy đủ bằng tiếng Việt: Tổng công ty Hàng hải Việt Nam.

– Tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh: VIETNAM NATIONAL SHIPPING LINES.

– Tên viết tắt bằng tiếng Anh: VINALINES.

2. Địa chỉ trụ sở chính: số 1 Đào Duy Anh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (Toà nhà Ocean Park).

– Điện thoại: (84 – 4) 5770825 ~ 29.

– Fax : (84 – 4) 5770850.

– Email : vnl@VINALINES.com.vn.

– Website : http://www.VINALINES.com.vn.

– Logo của VINALINES:

Điều 3. Hình thức pháp lý và tư cách pháp nhân của VINALINES

1. VINALINES là công ty nhà nước, được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước.

2. VINALINES có:

a) Chức năng trực tiếp sản xuất, kinh doanh và đầu tư tài chính vào các công ty con, công ty liên kết; quản lý, chỉ đạo, chi phối các công ty con, công ty liên kết theo mức độ chiếm giữ vốn điều lệ của các công ty đó theo quy định của pháp luật và Điều lệ này;

b) Tư cách pháp nhân, con dấu riêng và được mở tài khoản tiền Đồng Việt Nam và ngoại tệ tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng trong nước và nước ngoài theo các quy định của pháp luật;

c) Vốn và tài sản riêng, chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác bằng toàn bộ tài sản của mình; chịu trách nhiệm dân sự và thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty con và công ty liên kết trong phạm vi số vốn do VINALINES đầu tư;

d) Quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt đối với tên gọi, thương hiệu, biểu tượng riêng của VINALINES theo quy định của pháp luật;

đ) Trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của Tổng công ty Hàng hải Việt Nam trước đây.

3. Tổ hợp công ty mẹ – công ty con không có tư cách pháp nhân.

Điều 4. Mục tiêu hoạt động và ngành, nghề kinh doanh của VINALINES

1. Mục tiêu hoạt động của VINALINES:

a) Thực hiện chiến lược kinh tế biển của quốc gia; thực hiện nhiệm vụ phát triển ngành hàng hải theo định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước, tiến tới xây dựng tổ hợp công ty mẹ – công ty con thành Tập đoàn Hàng hải, tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới;

b) Kinh doanh có lãi, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại VINALINES và các công ty con, công ty liên kết; hoàn thành các nhiệm vụ do Nhà nước giao, trong đó có chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước;

c) Tối đa hoá hiệu quả sản xuất, kinh doanh của tổ hợp công ty mẹ – công ty con;

d) Đa dạng hoá ngành, nghề sản xuất, kinh doanh, trong đó có ngành nghề chính là vận tải biển, khai thác cảng biển và các dịch vụ hàng hải.

2. Ngành, nghề kinh doanh của VINALINES bao gồm:

VINALINES thực hiện đầu tư, quản lý vốn đầu tư và trực tiếp sản xuất, kinh doanh trong các ngành, nghề, lĩnh vực:

– Kinh doanh vận tải đường biển, đường thuỷ, đường bộ;

– Kinh doanh vận tải hành khách bằng đường biển, đường thuỷ và đường bộ;

– Dịch vụ lai dắt tàu sông, tàu biển, các hoạt động phụ trợ cho vận tải;

– Dịch vụ Logistics; vận tải đa phương thức;

– Quản lý, khai thác cảng biển, sửa chữa tàu biển, đại lý môi giới cung ứng dịch vụ hàng hải;

– Xuất nhập khẩu phương tiện, vật tư, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu chuyên ngành hàng hải;

– Đào tạo, xuất khẩu, cung ứng lao động hàng hải cho các tổ chức trong và ngoài nước;

– Sản xuất, mua bán, cho thuê phương tiện và thiết bị vận tải, bốc xếp chuyên ngành; phá dỡ phương tiện vận tải, bốc xếp cũ;

– Xây dựng, lắp đặt trang thiết bị và hoàn thiện các công trình chuyên ngành;

– Đại lý giao nhận, bán buôn, bán lẻ hàng hoá, chất đốt; kinh doanh cửa hàng miễn thuế;

– Kinh doanh kho ngoại quan, thông tin chuyên ngành;

– Kinh doanh khách sạn, nhà hàng; dịch vụ du lịch, vui chơi, giải trí; cho thuê nhà phục vụ các mục đích kinh doanh (kiốt, trung tâm thương mại);

– Kinh doanh bất động sản và hạ tầng giao thông;

– Gia công chế biến hàng xuất khẩu;

– Tổ chức nạo vét lòng sông, lòng hồ theo hợp đồng;

– Các ngành, nghề khác mà pháp luật không cấm.

Điều 5. Vốn điều lệ của VINALINES

1. Vốn điều lệ của VINALINES tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006 là: 4.130.540.925.668 đồng (Bốn nghìn một trăm ba mươi tỷ, năm trăm bốn mươi triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn, sáu trăm sáu mươi tám đồng).

2. Khi tăng hoặc giảm vốn điều lệ, VINALINES đăng ký lại với cơ quan đăng ký kinh doanh và công bố vốn điều lệ đã điều chỉnh.

Điều 6. Đại diện theo pháp luật của VINALINES

Tổng giám đốc VINALINES là người đại diện theo pháp luật của VINALINES.

Điều 7. Chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu của VINALINES

1. Nhà nước là chủ sở hữu VINALINES. Chính phủ thống nhất quản lý và tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với VINALINES. Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là các Bộ), Hội đồng quản trị VINALINES thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với VINALINES.

2. Hội đồng quản trị VINALINES là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại VINALINES và là đại diện chủ sở hữu đối với các công ty do mình đầu tư toàn bộ vốn điều lệ.

Điều 8. Quan hệ của VINALINES với các cơ quan quản lý nhà nước

1. VINALINES chịu sự quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước các cấp theo quy định của pháp luật.

2. VINALINES thực hiện các nghĩa vụ với chính quyền địa phương nơi đặt trụ sở của mình theo quy định của pháp luật.

Điều 9. Tổ chức Đảng và các tổ chức chính trị – xã hội trong VINALINES

1. Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong VINALINES hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Các tổ chức chính trị – xã hội khác trong VINALINES hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ của các tổ chức chính trị – xã hội phù hợp với quy định của pháp luật.

Chương 2:

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VINALINES

Điều 10. Quyền của VINALINES đối với vốn và tài sản

1. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt vốn và tài sản của VINALINES để kinh doanh và thực hiện các lợi ích hợp pháp từ vốn và tài sản của VINALINES theo quy định của pháp luật.

2. Sử dụng và quản lý các tài sản Nhà nước giao, cho thuê là đất đai, tài nguyên theo quy định của pháp luật về đất đai, tài nguyên để hoạt động kinh doanh và thực hiện các hoạt động công ích khi được Nhà nước yêu cầu.

3. Chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thế chấp, cầm cố tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của VINALINES, trừ những tài sản thuộc quyền quyết định của chủ sở hữu nhà nước theo quy định của pháp luật.

4. Quyết định tỷ lệ sở hữu của VINALINES khi thực hiện chuyển đổi sở hữu các công ty thành viên hạch toán độc lập chưa thực hiện chuyển đổi theo quy định của pháp luật.

5. Đầu tư ra ngoài VINALINES dưới các hình thức mua trái phiếu, cổ phiếu, liên doanh, góp vốn, chuyển nhượng vốn và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

6. Thực hiện quyền chủ sở hữu đối với phần vốn đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết theo quy định của Điều lệ này, Quy chế quản lý tài chính của VINALINES, điều lệ của các công ty con, công ty liên kết và quy định của pháp luật.

7. Thực hiện các quyền và hưởng lợi ích khác đối với vốn và tài sản của VINALINES theo quy định của pháp luật.

Điều 11. Nghĩa vụ của VINALINES đối với vốn và tài sản

1. Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước đầu tư tại VINALINES và vốn VINALINES tự huy động, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của VINALINES trong phạm vi số tài sản của VINALINES.

2. Định kỳ đánh giá lại tài sản của VINALINES theo quy định của Chính phủ.

3. Thực hiện các nghĩa vụ khác đối với vốn và tài sản của VINALINES theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Quyền của VINALINES trong kinh doanh

1. Kinh doanh những ngành, nghề, lĩnh vực mà pháp luật không cấm; mở rộng phạm vi, quy mô kinh doanh theo khả năng của VINALINES và nhu cầu của thị trường trong nước và ngoài nước phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Chủ động tổ chức thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; kế hoạch phối hợp kinh doanh. Quyết định tổ chức bộ máy quản lý phù hợp với chiến lược phát triển của VINALINES và mục tiêu, nhiệm vụ được Nhà nước giao.

3. Chủ động lựa chọn thị trường, khách hàng trong nước và ngoài nước, ký kết hợp đồng.

4. Quyết định giá trị thương hiệu; giá mua, giá bán sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ, trừ những sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước định giá.

5. Mở chi nhánh, văn phòng đại diện của VINALINES ở trong nước, ở nước ngoài phù hợp với các quy định của pháp luật.

6. Quyết định các dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư và các quy định khác có liên quan; sử dụng vốn và tài sản của VINALINES để liên doanh, liên kết, góp vốn vào doanh nghiệp khác ở trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật; thuê, mua một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp khác.

7. Được quyền sử dụng vốn thu về từ cổ phần hoá công ty thành viên hạch toán độc lập, đơn vị phụ thuộc của VINALINES và từ chuyển nhượng, bán một phần hoặc toàn bộ công ty con, công ty liên kết theo quy định của pháp luật cho mục đích đầu tư, sản xuất, kinh doanh của VINALINES.

8. Sử dụng vốn của VINALINES hoặc vốn huy động để đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; cùng với nhà đầu tư khác thành lập công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

9. Quyết định phương án mua, bán, thuê, cho thuê tàu biển và các tài sản vật tư chuyên dùng khác theo quy định của pháp luật.

10. Quyết định giá cước vận chuyển, bốc xếp hàng hoá; khung giá hoặc giá mua, giá bán vật tư, nguyên liệu, sản phẩm và dịch vụ chủ yếu theo quy định của pháp luật.

11. Quyết định đổi mới, hiện đại hoá công nghệ và phương thức quản lý để đảm bảo an toàn, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh.

12. Xây dựng và áp dụng các định mức lao động, vật tư, đơn giá tiền lương và chi phí khác trên cơ sở bảo đảm hiệu quả kinh doanh của VINALINES và phù hợp với các quy định của pháp luật.

13. Tuyển chọn, thuê lao động trong nước và nước ngoài; bố trí, sử dụng, đào tạo, khen thưởng, kỷ luật, cho thôi việc đối với lao động; lựa chọn các hình thức trả lương, thưởng, quyết định mức lương, thưởng cho người lao động theo cống hiến và hiệu quả lao động; xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy lao động, đăng ký với cơ quan quản lý lao động địa phương; thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác của người sử dụng lao động không trái với các quy định của pháp luật về lao động.

14. Được bảo hộ về thương hiệu, quyền sở hữu công nghiệp, bao gồm các sáng chế, giải pháp hữu hiệu, nhãn hiệu sản phẩm, kiểu dáng công nghiệp, tên gọi, xuất xứ hàng hoá theo các quy định của pháp luật.

15. Quan hệ với các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; mời, làm việc với các đối tác nước ngoài của VINALINES; quyết định cử cán bộ, nhân viên của VINALINES và cán bộ do VINALINES cử tham gia quản lý vốn tại các doanh nghiệp khác ra nước ngoài công tác, học tập, tham quan, khảo sát, đàm phán, ký hợp đồng kinh tế theo quy định của Nhà nước. Đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc VINALINES đi công tác nước ngoài, thực hiện theo quy định của Chính phủ.

16. Từ chối và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kỳ cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào; trừ những khoản tự nguyện đóng góp vì mục đích nhân đạo và công ích.

17. Có quyền khước từ việc thanh tra, kiểm tra không đúng theo quy định của pháp luật.

18. Khi tham gia hoạt động công ích, có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

19. Các quyền kinh doanh khác theo nhu cầu của thị trường phù hợp với quy định của pháp luật.

Điều 13. Nghĩa vụ của VINALINES trong kinh doanh

1. Đăng ký kinh doanh và kinh doanh đúng ngành, nghề đã đăng ký; bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ do VINALINES thực hiện theo tiêu chuẩn đã đăng ký.

2. Đổi mới, hiện đại hoá công nghệ và phương thức quản lý để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh.

3. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh doanh, kế hoạch 5 năm và hàng năm của VINALINES; định hướng chiến lược của các công ty con của VINALINES phù hợp với nhu cầu của thị trường, quy hoạch của Nhà nước và chiến lược của VINALINES.

4. Bảo đảm quyền và lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, bảo đảm quyền tham gia quản lý VINALINES của người lao động theo các quy định của pháp luật và Điều lệ này.

5. Thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh – an toàn lao động; bảo vệ an ninh, quốc phòng; trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ tài nguyên, môi trường; di tích lịch sử, văn hoá, danh lam, thắng cảnh.

6. Thực hiện chế độ kế toán, kiểm toán và báo cáo tài chính, báo cáo thống kê theo quy định của pháp luật và báo cáo bất thường theo yêu cầu của chủ sở hữu nhà nước.

7. Chịu sự giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu nhà nước; chấp hành các quyết định về thanh tra của cơ quan tài chính, kiểm toán nhà nước và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

8. Chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu nhà nước về việc sử dụng vốn của VINALINES để đầu tư các dự án, tham gia thành lập các doanh nghiệp khác.

9. Thực hiện các nghĩa vụ khác trong kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Điều 14. Quyền của VINALINES về tài chính

1. Huy động vốn để kinh doanh dưới các hình thức phát hành trái phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu của VINALINES hoặc công trình; vay vốn của tổ chức ngân hàng, tín dụng, các tổ chức tài chính khác, của cá nhân, tổ chức ngoài VINALINES; vay vốn của người lao động trong VINALINES và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của pháp luật.

Việc huy động vốn để kinh doanh thực hiện theo nguyên tắc tự chịu trách nhiệm hoàn trả, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn huy động, không được làm thay đổi hình thức sở hữu đối với VINALINES.

Việc huy động vốn của các cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý vay nợ nước ngoài.

2. Chủ động sử dụng vốn cho hoạt động kinh doanh của VINALINES; được sử dụng và quản lý các quỹ của VINALINES theo quy định của pháp luật.

3. Quyết định trích khấu hao tài sản cố định theo nguyên tắc mức trích khấu hao tối thiểu phải bảo đảm bù đắp hao mòn hữu hình, hao mòn vô hình của tài sản cố định và không thấp hơn tỷ lệ trích khấu hao tối thiểu theo quy định của pháp luật.

4. Được hưởng các chế độ ưu đãi đầu tư hoặc tái đầu tư theo quy định của pháp luật.

5. Được hưởng các chế độ trợ cấp, trợ giá hoặc các chế độ ưu đãi khác của Nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ hoạt động công ích, quốc phòng, an ninh, phòng chống thiên tai hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ theo chính sách giá của Nhà nước mà không đủ bù đắp chi phí sản phẩm, dịch vụ này của VINALINES.

6. Được chi thưởng sáng kiến đổi mới, cải tiến kỹ thuật, quản lý và công nghệ; thưởng tăng năng suất lao động; thưởng tiết kiệm vật tư và chi phí. Các khoản tiền thưởng này được hạch toán vào chi phí kinh doanh trên cơ sở bảo đảm hiệu quả kinh doanh của VINALINES do các sáng kiến đổi mới, cải tiến kỹ thuật, quản lý, công nghệ, tăng năng suất lao động, tiết kiệm vật tư, chi phí đem lại.

7. Quyết định cử, thay đổi, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, phụ cấp và các lợi ích khác có liên quan đối với người đại diện quản lý phần vốn góp của VINALINES tại các công ty con, công ty liên kết theo quy định của Điều lệ này và quy định của pháp luật.

8. Quyết định việc đầu tư góp vốn; điều chỉnh tỷ lệ vốn đầu tư, vốn góp của VINALINES tại các công ty con, công ty liên kết.

9. Giám sát, kiểm tra việc sử dụng vốn đầu tư của VINALINES tại các công ty con, công ty liên kết; chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển phần vốn đầu tư ra ngoài VINALINES.

10. Thu lợi tức và chịu rủi ro từ phần vốn đầu tư ở các công ty con, công ty liên kết.

11. Không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận thu được từ phần vốn góp vào các công ty con, công ty liên kết nếu các đơn vị này đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trước khi chia lãi cho các bên góp vốn.

12. Sau khi hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, chuyển lỗ theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật, trích lập quỹ dự phòng tài chính; phần lợi nhuận thực hiện còn lại được phân chia theo nguồn vốn nhà nước đầu tư và nguồn vốn VINALINES tự huy động như sau:

– Phần lợi nhuận phân chia theo nguồn vốn nhà nước đầu tư được dùng để tái đầu tư tăng vốn nhà nước tại VINALINES hoặc hình thành quỹ tập trung để đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước khác thuộc lĩnh vực Nhà nước cần phát triển hoặc chi phối theo quy định của pháp luật;

– Phần lợi nhuận phân chia theo nguồn vốn VINALINES tự huy động được trích lập quỹ đầu tư phát triển theo quy định của pháp luật; phần còn lại do VINALINES tự quyết định việc trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi. Trường hợp VINALINES còn nợ đến hạn phải trả mà chưa trả hết thì chỉ được tăng lương, trích thưởng cho công nhân viên của VINALINES, kể cả người quản lý sau khi đã trả hết nợ đến hạn.

13. Được bảo lãnh, thế chấp và tín chấp cho các công ty con vay vốn của các tổ chức tín dụng, ngân hàng ở trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

14. Các quyền tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Điều 15. Nghĩa vụ của VINALINES về tài chính

1. Tự chủ về tài chính, tự cân đối các khoản thu chi; kinh doanh có lãi, bảo đảm chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư do đại diện chủ sở hữu giao; đăng ký kê khai và nộp đủ thuế; thực hiện nghĩa vụ đối với chủ sở hữu và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

2. Quản lý, sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh bao gồm cả phần vốn đầu tư vào công ty khác, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do Nhà nước giao, cho thuê.

3. Sử dụng vốn và các nguồn lực khác để thực hiện các hoạt động công ích và các nhiệm vụ đặc biệt khác khi Nhà nước yêu cầu.

4. Chấp hành đầy đủ chế độ về quản lý vốn, tài sản, các quỹ; chế độ hạch toán kế toán, kiểm toán theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm về tính trung thực và hợp pháp đối với các hoạt động tài chính của VINALINES.

5. Thực hiện chế độ báo cáo tài chính của VINALINES; báo cáo tài chính hợp nhất của VINALINES và các công ty con; công khai tài chính hàng năm và cung cấp các thông tin khác để đánh giá trung thực về hoạt động của VINALINES.

6. Các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Nghĩa vụ và trách nhiệm của VINALINES đối với các công ty con, công ty liên kết trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con

1. VINALINES có nghĩa vụ với các công ty con, công ty liên kết như sau:

a) VINALINES định hướng chiến lược kinh doanh chung của tổ hợp công ty mẹ – công ty con phù hợp với Điều lệ của VINALINES và điều lệ của các công ty con;

VINALINES không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của các công ty con, công ty liên kết mà thực hiện quyền, nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn thông qua người đại diện quản lý phần vốn góp của VINALINES tại các công ty đó để đảm bảo hiệu quả đầu tư vốn và thực hiện mục tiêu, chiến lược phát triển chung của tổ hợp công ty mẹ – công ty con;

b) Hướng dẫn và phối hợp hoạt động kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con để tìm kiếm, cung cấp nguồn đầu vào, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ mà từng công ty đơn lẻ không có khả năng thực hiện hoặc thực hiện kém hiệu quả; hạn chế tình trạng đầu tư, kinh doanh trùng lặp vào một số sản phẩm, dịch vụ dẫn đến sự cạnh tranh trong nội bộ, phân tán, lãng phí nguồn lực, giảm hiệu quả kinh doanh chung của tổ hợp công ty mẹ – công ty con; phối hợp các công ty con, công ty liên kết trong việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của nhau khi có nhu cầu;

c) VINALINES thực hiện các nhiệm vụ mà các công ty con, công ty liên kết không có khả năng thực hiện như: thu xếp vốn; đầu tư, xây dựng các cảng nước sâu; mua hoặc đóng mới các tàu cỡ lớn; chủ đạo trong công tác đổi mới trang thiết bị hàng hải; phân công, chuyên môn hoá, chỉ đạo các công ty trong tổ hợp ưu tiên sử dụng các dịch vụ của nhau;

d) Thực hiện hoạt động nghiên cứu, tiếp thị, xúc tiến thương mại, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong tổ hợp công ty mẹ – công ty con mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh;

đ) Thực hiện các quyền chi phối của VINALINES đối với công ty con theo điều lệ của công ty bị chi phối. VINALINES không được lạm dụng quyền chi phối theo vốn góp làm tổn hại đến lợi ích của các công ty con, chủ nợ, cổ đông, thành viên góp vốn khác và các bên có liên quan. VINALINES phải tôn trọng quyền của cổ đông, bên có vốn góp thiểu số trong các công ty con, công ty liên kết, phù hợp với điều lệ của các doanh nghiệp đó.

2. Trường hợp thực hiện các hoạt động sau đây mà không có thoả thuận với công ty con, gây thiệt hại cho công ty con và các bên liên quan thì VINALINES phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho các công ty đó và các bên liên quan:

a) Buộc công ty con phải ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế không bình đẳng và bất lợi đối với các công ty này;

b) Điều chuyển vốn, tài sản của công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên gây thiệt hại cho công ty bị điều chuyển, trừ các trường hợp: điều chuyển theo phương thức thanh toán; quyết định tổ chức lại công ty; thực hiện mục tiêu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích;

c) Điều chuyển một số hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có lãi từ công ty con này sang công ty con khác không có sự thoả thuận với công ty bị điều chuyển, dẫn đến công ty bị điều chuyển bị lỗ hoặc lợi nhuận bị giảm sút nghiêm trọng;

d) Quyết định các nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh đối với các công ty con trái với điều lệ và pháp luật; giao nhiệm vụ của VINALINES cho công ty con, công ty liên kết không dựa trên cơ sở ký kết hợp đồng kinh tế với các công ty con, công ty liên kết;

đ) Buộc công ty con cho VINALINES hoặc công ty con khác vay vốn với lãi suất thấp, điều kiện vay và thanh toán không hợp lý hoặc phải cung cấp các khoản tiền vay để VINALINES, công ty con khác thực hiện các hợp đồng kinh tế có nhiều rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của công ty con đó.

Chương 3:

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VINALINES

Điều 17. Quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với VINALINES

1. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với VINALINES như sau:

a) Quyết định việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu và cơ cấu tổ chức quản lý của VINALINES; thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo đề nghị của Hội đồng quản trị VINALINES và ý kiến các Bộ: Giao thông vận tải, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư;

b) Phê duyệt Điều lệ, phê duyệt sửa đổi và bổ sung Điều lệ VINALINES theo đề nghị của Hội đồng quản trị VINALINES và ý kiến các Bộ: Giao thông vận tải, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư;

c) Phê duyệt mục tiêu, chiến lược, kế hoạch dài hạn và ngành, nghề kinh doanh của VINALINES theo đề nghị của Hội đồng quản trị VINALINES và ý kiến các Bộ: Giao thông vận tải, Kế hoạch và Đầu tư;

d) Quyết định đầu tư vốn để hình thành vốn điều lệ và điều chỉnh vốn điều lệ trong quá trình hoạt động của VINALINES theo đề nghị của Hội đồng quản trị và ý kiến các Bộ: Tài chính, Giao thông vận tải;

đ) Quyết định việc đầu tư, góp vốn đầu tư, liên doanh, liên kết theo thẩm quyền; phê duyệt chủ trương bán tài sản, vay, cho vay, thuê, cho thuê của VINALINES, phương án mua công ty thuộc thành phần kinh tế khác theo đề nghị của Hội đồng quản trị VINALINES theo quy định của pháp luật;

e) Chấp thuận để Hội đồng quản trị VINALINES tiếp nhận doanh nghiệp tự nguyện tham gia làm thành viên của VINALINES;

g) Trình Quốc hội phê chuẩn các dự án đầu tư của VINALINES thuộc thẩm quyền của Quốc hội;

h) Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị VINALINES theo đề nghị của Bộ Giao thông vận tải và thẩm định của Bộ Nội vụ; chấp thuận để Hội đồng quản trị VINALINES quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, ký hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật đối với Tổng giám đốc của VINALINES;

i) Quy định chế độ kiểm tra, giám sát VINALINES thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ được giao; chế độ kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn ở VINALINES; các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của VINALINES, hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị và điều hành của Tổng giám đốc;

k) Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Bộ Giao thông vận tải thực hiện một số quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với VINALINES như sau:

a) Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các vấn đề của VINALINES theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;

b) Trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị VINALINES;

c) Quyết định xếp lương, nâng lương, phụ cấp lương đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị và thành viên Hội đồng quản trị VINALINES;

d) Thẩm định việc thực hiện quy trình, thủ tục, tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng đối với Tổng giám đốc VINALINES do Hội đồng quản trị VINALINES trình Thủ tướng Chính phủ;

đ) Tham gia kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn, đánh giá kết quả kinh doanh của VINALINES;

e) Quyết định các vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Bộ quản lý ngành theo quy định của pháp luật.

3. Bộ Tài chính thực hiện một số quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với VINALINES như sau:

a) Xác định vốn, tài nguyên và các nguồn lực khác mà Nhà nước giao cho VINALINES quản lý, sử dụng; đầu tư bổ sung vốn điều lệ cho VINALINES theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

b) Tham gia đánh giá kết quả hoạt động và quản lý của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc VINALINES theo quy định của pháp luật;

c) Tổ chức kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng vốn, phân phối thu nhập, trích lập và sử dụng các quỹ của VINALINES;

d) Thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.

4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đối với VINALINES đã được pháp luật quy định cho các cơ quan này.

5. VINALINES chịu sự quản lý nhà nước và chấp hành các quy định, nghĩa vụ về hành chính của chính quyền địa phương các cấp theo quy định của pháp luật.

Điều 18. Nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với VINALINES

1. Tuân thủ các điều đã quy định tại Điều lệ VINALINES liên quan đến chủ sở hữu.

2. Đầu tư đủ vốn điều lệ cho VINALINES.

3. Chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của VINALINES trong phạm vi số vốn điều lệ của VINALINES.

4. Đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm theo pháp luật của VINALINES; không can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kinh doanh của VINALINES.

5. Tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê giữa VINALINES và chủ sở hữu.

6. Không điều chuyển vốn nhà nước đầu tư tại VINALINES và vốn, tài sản khác của VINALINES theo phương thức không thanh toán, trừ trường hợp quyết định tổ chức lại VINALINES hoặc thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích.

7. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Chương 4:

TỔ CHỨC QUẢN LÝ VINALINES

Điều 19. Cơ cấu tổ chức quản lý

1. Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của VINALINES gồm: Hội đồng quản trị; Ban kiểm soát; Tổng giám đốc; các Phó Tổng giám đốc; Kế toán trưởng và bộ máy giúp việc.

2. Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của VINALINES có thể thay đổi để phù hợp với yêu cầu kinh doanh trong quá trình hoạt động. VINALINES phải trình Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều lệ khi thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành quy định tại khoản 1 Điều này.

Mục 1 :

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

Điều 20. Chức năng của Hội đồng quản trị

1. Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại VINALINES, có quyền nhân danh VINALINES để quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của VINALINES, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu phân cấp cho các cơ quan, tổ chức khác là đại diện chủ sở hữu thực hiện.

2. Hội đồng quản trị thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu các công ty con do VINALINES sở hữu toàn bộ vốn điều lệ và đối với phần vốn góp của VINALINES ở các doanh nghiệp khác.

3. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về mọi hoạt động của VINALINES.

Điều 21. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị

1. Nhận, quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do chủ sở hữu nhà nước đầu tư cho VINALINES.

2. Quyết định chiến lược, kế hoạch dài hạn, kế hoạch kinh doanh hàng năm, ngành, nghề kinh doanh của VINALINES và các công ty con do VINALINES sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; quyết định phương án phối hợp kinh doanh của VINALINES với các công ty con.

3. Quyết định hoặc phân cấp cho Tổng giám đốc quyết định:

a) Các dự án đầu tư, góp vốn, mua cổ phần của các công ty khác, bán tài sản của VINALINES có giá trị đến 50% tổng giá trị tài sản còn lại trên sổ sách kế toán của VINALINES và thực hiện các quy định khác của pháp luật về đầu tư, trừ những tài sản thuộc quyền quyết định của chủ sở hữu tại VINALINES theo quy định của pháp luật;

b) Các hợp đồng vay, cho vay, thuê, cho thuê và hợp đồng kinh tế khác có giá trị vượt quá mức vốn điều lệ của VINALINES.

4. Quyết định hoặc phân cấp, uỷ quyền cho Tổng giám đốc quyết định các dự án góp vốn liên doanh với chủ đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư ra nước ngoài của công ty con do VINALINES sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; phê duyệt đề án góp vốn của các công ty con do VINALINES sở hữu toàn bộ vốn điều lệ để thành lập mới các công ty cổ phần nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

5. Quyết định phương án tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh, biên chế và sử dụng bộ máy quản lý, quy chế quản lý nội bộ VINALINES, quy hoạch và đào tạo lao động, lập chi nhánh, văn phòng đại diện của VINALINES theo đề nghị của Tổng giám đốc VINALINES.

6. Quyết định tuyển chọn, ký hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối với Tổng giám đốc VINALINES sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận và quyết định mức lương của Tổng giám đốc VINALINES; tuyển chọn, ký hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và quyết định mức lương đối với Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng VINALINES theo đề nghị của Tổng giám đốc VINALINES.

7. Thông qua để Tổng giám đốc VINALINES bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và quyết định mức lương đối với Giám đốc, Kế toán trưởng công ty thành viên hạch toán độc lập chưa chuyển đổi hình thức pháp lý hay sở hữu, đơn vị hạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp VINALINES.

8. Quyết định tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và quyết định mức lương đối với Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên của công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo đề nghị của Tổng giám đốc VINALINES.

9. Quyết định cử, thay thế, khen thưởng, kỷ luật đối với người đại diện phần vốn góp của VINALINES tại các doanh nghiệp khác theo đề nghị của Tổng giám đốc VINALINES. Hội đồng quản trị không thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với phần vốn góp của công ty con ở các công ty khác.

10. Quyết định đầu tư, điều chỉnh vốn và các nguồn lực khác do VINALINES đầu tư giữa các đơn vị thành viên và công ty con do VINALINES sở hữu toàn bộ vốn điều lệ theo điều lệ của công ty đó.

11. Quyết định hoặc phân cấp cho Tổng giám đốc quyết định phương án huy động vốn để hoạt động kinh doanh nhưng không làm thay đổi hình thức sở hữu.

12. Quyết định sử dụng vốn của VINALINES để đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và mua cổ phần, góp vốn vào doanh nghiệp khác nhưng không vượt quá mức vốn đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị quy định tại điểm a khoản 3 Điều này và quy định của pháp luật có liên quan; quyết định tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

13. Quyết định tiếp nhận doanh nghiệp làm công ty con, công ty liên kết của VINALINES theo quy định của pháp luật.

14. Quyết định tăng vốn điều lệ, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại Điều 64 Luật Doanh nghiệp.

15. Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý của công ty thành viên hạch toán độc lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty tài chính (nếu có).

16. Quyết định thành lập Hội đồng tư vấn của VINALINES để xây dựng các dự án, đề án thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng quản trị hoặc trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đề nghị của Tổng giám đốc VINALINES.

17. Quyết định những nội dung do Tổng giám đốc VINALINES, Chủ tịch công ty hoặc Hội đồng thành viên công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, người đại diện phần vốn góp của VINALINES ở doanh nghiệp khác trình hoặc do thủ trưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu theo quy định của pháp luật.

18. Phê duyệt Quy chế quản lý tài chính của VINALINES trên cơ sở đề nghị của Tổng giám đốc và sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính.

19. Phê duyệt điều lệ của các công ty con do VINALINES sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; điều lệ hoặc quy chế hoạt động của các đơn vị phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp; thông qua dự thảo điều lệ của công ty tài chính (nếu có) trình Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y.

20. Thông qua báo cáo tài chính hàng năm của VINALINES, công ty thành viên hạch toán độc lập, công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; báo cáo tài chính hợp nhất, báo cáo tổng hợp kết quả kinh doanh hàng năm và báo cáo tổng hợp công tác quản lý, điều hành tổ hợp công ty mẹ – công ty con; phê duyệt phương án sử dụng lợi nhuận sau thuế của công ty thành viên hạch toán độc lập, công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

21. Kiểm tra, giám sát Chủ tịch và các thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc, Kiểm soát viên của công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; Giám đốc các công ty hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp; người đại diện phần vốn góp của VINALINES ở các doanh nghiệp khác trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp và Điều lệ này.

22. Thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo quy định tại Điều 43 của Điều lệ này.

23. Thực hiện quyền hạn, nghĩa vụ của cổ đông, thành viên ở các công ty có cổ phần, vốn góp của VINALINES theo quy định tại Điều 44, 45 của Điều lệ này.

24. Trình Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền quyết định những vấn đề của VINALINES thuộc thẩm quyền quyết định của chủ sở hữu nhà nước theo quy định tại Điều 17 của Điều lệ này.

25. Yêu cầu Tổng giám đốc nộp đơn yêu cầu phá sản khi VINALINES lâm vào tình trạng phá sản theo quy định của pháp luật.

26. Chịu trách nhiệm thực hiện đúng thẩm quyền, đúng pháp luật và hiệu quả về những quyết định, phê duyệt của mình trong quản lý, điều hành VINALINES; có trách nhiệm giám sát việc thực hiện các quyết định và phê duyệt của mình.

27. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định tại Điều lệ này và quy định của pháp luật.

Điều 22. Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên Hội đồng quản trị

Thành viên Hội đồng quản trị phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

1. Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam;

2. Có trình độ đại học, năng lực quản lý và kinh doanh. Chủ tịch Hội đồng quản trị phải có kinh nghiệm ít nhất 03 (ba) năm quản lý, điều hành doanh nghiệp thuộc ngành, nghề kinh doanh chính của VINALINES;

3. Có sức khoẻ, phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết, hiểu biết và có ý thức chấp hành pháp luật;

4. Không thuộc đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Điều 23. Cơ cấu thành viên, bổ nhiệm, miễn nhiệm, thay thế thành viên Hội đồng quản trị

1. Hội đồng quản trị có không quá 07 (bảy) thành viên, trong đó ít nhất 02 (hai) thành viên chuyên trách. Chủ tịch Hội đồng quản trị và thành viên được bầu làm Trưởng Ban kiểm soát phải là thành viên chuyên trách. Số lượng thành viên Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

2. Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc thay thế, khen thưởng, kỷ luật. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá 05 (năm) năm. Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bổ nhiệm lại.

3. Thành viên Hội đồng quản trị bị miễn nhiệm trong trường hợp sau đây:

a) Bị Toà án kết án bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

b) Không đủ năng lực, trình độ đảm nhận công việc được giao, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

c) Không trung thực trong thực thi nhiệm vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi cho bản thân hoặc cho người khác; báo cáo không trung thực tình hình tài chính của VINALINES;

d) Để VINALINES lỗ 02 (hai) năm liên tiếp hoặc không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư 02 (hai) năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ lãi đan xen nhau nhưng không khắc phục được, trừ các trường hợp lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư có lý do khách quan được giải trình và đã được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận; đầu tư mới mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ.

4. Thành viên Hội đồng quản trị được thay thế, bổ sung trong những trường hợp sau đây:

a) Bị miễn nhiệm theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Xin từ chức và được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản theo đúng trình tự pháp luật;

c) Khi có quyết định điều chuyển hoặc bố trí công việc khác.

Trường hợp Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị bị thay thế thì trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày Hội đồng quản trị phải tổ chức họp để đề nghị Bộ Giao thông vận tải trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc bổ nhiệm người thay thế.

Điều 24. Chủ tịch Hội đồng quản trị

1. Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc VINALINES.

2. Chủ tịch Hội đồng quản trị có các quyền hạn và nhiệm vụ sau đây:

a) Thay mặt Hội đồng quản trị ký nhận vốn, đất đai, tài nguyên và các nguồn lực khác do chủ sở hữu nhà nước đầu tư hoặc giao cho VINALINES; quản lý VINALINES theo quyết định của Hội đồng quản trị;

b) Tổ chức nghiên cứu chiến lược phát triển, kế hoạch dài hạn, dự án đầu tư quy mô lớn, phương án đổi mới tổ chức, nhân sự chủ chốt của VINALINES để trình Hội đồng quản trị;

c) Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng quản trị; quyết định chương trình, nội dung họp và tài liệu phục vụ cuộc họp; triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị;

d) Thay mặt Hội đồng quản trị ký các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị;

đ) Tổ chức theo dõi và giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; có quyền đình chỉ các quyết định của Tổng giám đốc trái với nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị;

e) Thực hiện các quyền khác theo phân cấp, uỷ quyền của Hội đồng quản trị và Thủ tướng Chính phủ.

3. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với Chủ tịch Hội đồng quản trị, được thực hiện như đối với các thành viên Hội đồng quản trị.

Điều 25. Chế độ làm việc của Hội đồng quản trị

1. Hội đồng quản trị làm việc theo chế độ tập thể; họp ít nhất 01 (một) lần trong 01 (một) quý để xem xét và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình; đối với những vấn đề không yêu cầu thảo luận thì Hội đồng quản trị có thể lấy ý kiến các thành viên bằng văn bản. Hội đồng quản trị có thể họp bất thường để giải quyết những vấn đề cấp bách của VINALINES do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc trên 50% tổng số thành viên Hội đồng quản trị đề nghị hoặc để bàn về những vấn đề cấp bách khác theo yêu cầu của chủ sở hữu nhà nước.

2. Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Hội đồng quản trị. Trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị vắng mặt thì uỷ quyền cho thành viên khác trong Hội đồng quản trị để chủ trì cuộc họp. Trong trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị không uỷ quyền thì các thành viên sẽ lựa chọn một thành viên Hội đồng quản trị chủ trì cuộc họp.

3. Nội dung và các tài liệu cuộc họp Hội đồng quản trị phải được gửi đến các thành viên Hội đồng quản trị và các đại biểu được mời dự họp (nếu có) trước ngày họp ít nhất 05 (năm) ngày làm việc, trừ trường hợp họp đột xuất.

4. Các cuộc họp hoặc lấy ý kiến bằng văn bản các thành viên của Hội đồng quản trị được coi là hợp lệ khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số thành viên Hội đồng quản trị tham dự hoặc có ý kiến bằng văn bản. Nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị có hiệu lực khi có trên 50% tổng số thành viên Hội đồng quản trị biểu quyết tán thành. Trường hợp có số phiếu ngang nhau thì bên có phiếu của Chủ tịch Hội đồng quản trị là quyết định. Thành viên Hội đồng quản trị có quyền bảo lưu ý kiến của mình nhưng vẫn phải chấp hành nghị quyết, quyết định đã được Hội đồng quản trị thông qua.

5. Khi bàn về nội dung công việc của VINALINES có liên quan đến các vấn đề quan trọng của địa phương nào thì Hội đồng quản trị phải mời đại diện của cấp chính quyền địa phương có liên quan đó dự họp; trường hợp có liên quan tới quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động trong VINALINES phải mời đại diện Công đoàn VINALINES dự họp. Đại diện các cơ quan, tổ chức được mời dự họp có quyền phát biểu ý kiến nhưng không tham gia biểu quyết.

6. Đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị cần phải giải quyết ngay mà không thể triệu tập họp Hội đồng quản trị hoặc không thể lấy ý kiến bằng văn bản thì Chủ tịch Hội đồng quản trị hội ý với Tổng giám đốc và các thành viên chuyên trách có mặt để quyết định, sau đó báo cáo lại Hội đồng quản trị.

7. Nội dung các vấn đề thảo luận, các ý kiến phát biểu, kết quả biểu quyết, các quyết định được Hội đồng quản trị thông qua và các kết luận của cuộc họp Hội đồng quản trị phải được ghi thành biên bản. Chủ tọa và thư ký cuộc họp phải liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của biên bản họp Hội đồng quản trị. Nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị có tính bắt buộc thi hành đối với toàn bộ VINALINES.

8. Thành viên Hội đồng quản trị có quyền yêu cầu Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, cán bộ quản lý của VINALINES cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình tài chính, hoạt động của VINALINES theo quy chế thông tin do Hội đồng quản trị quy định hoặc theo nghị quyết của Hội đồng quản trị. Người được yêu cầu cung cấp thông tin phải cung cấp thông tin kịp thời đầy đủ và chính xác theo đúng yêu cầu của thành viên Hội đồng quản trị, trừ trường hợp Hội đồng quản trị có quyết định khác.

9. Hội đồng quản trị sử dụng bộ máy giúp việc, con dấu của VINALINES để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

10. Hội đồng quản trị được thành lập bộ phận giúp việc để trực tiếp giúp việc cho Hội đồng quản trị.

11. Chi phí hoạt động của Hội đồng quản trị và của các cơ quan thuộc Hội đồng quản trị, kể cả tiền lương, phụ cấp và thù lao được tính vào chi phí quản lý của VINALINES theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng quản trị được quyền tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia tư vấn trong và ngoài nước trước khi quyết định các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền Hội đồng quản trị. Chi phí lấy ý kiến chuyên gia, tư vấn được quy định tại Quy chế quản lý tài chính của VINALINES.

Điều 26. Chế độ lương, phụ cấp, thưởng của thành viên chuyên trách và thành viên không chuyên trách của Hội đồng quản trị

1. Các thành viên chuyên trách của Hội đồng quản trị hưởng chế độ lương theo năm và tiền thưởng tương ứng với kết quả sản xuất, kinh doanh của VINALINES. Tiền lương được tạm ứng hàng tháng, quyết toán hàng năm. Tiền thưởng hàng năm được tính trên cơ sở kết quả kinh doanh năm của VINALINES, chi trả một phần vào cuối năm, phần còn lại được chi trả sau khi kết thúc nhiệm kỳ; riêng tiền thưởng năm cuối nhiệm kỳ được tính dựa trên kết quả năm đó và kết quả tăng trưởng của cả nhiệm kỳ.

2. Các thành viên không chuyên trách của Hội đồng quản trị hưởng phụ cấp trách nhiệm và tiền thưởng như cơ chế như đối với các thành viên chuyên trách.

3. Chế độ lương, thưởng, phụ cấp trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Mục 2 :

BAN KIỂM SOÁT

Điều 27. Ban kiểm soát

1. Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị thành lập; có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quy định tại Điều 28 Điều lệ này.

2. Ban kiểm soát có không quá 05 (năm) thành viên. Hội đồng quản trị quyết định cử 01 (một) thành viên Hội đồng quản trị làm Trưởng Ban kiểm soát. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc không được kiêm Trưởng Ban kiểm soát. Các thành viên khác của Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị lựa chọn, bổ nhiệm và miễn nhiệm, trong đó có 01 (một) thành viên do tổ chức Công đoàn VINALINES cử.

3. Hội đồng quản trị ban hành quy chế cụ thể về hoạt động của Ban kiểm soát. Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng quản trị giao, báo cáo và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về hoạt động của mình.

4. Tiêu chuẩn và điều kiện của người được cử làm thành viên Ban kiểm soát:

a) Thường trú tại Việt Nam;

b) Có sức khỏe, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết, hiểu biết và có ý thức chấp hành pháp luật;

c) Có trình độ về nghiệp vụ kinh tế, tài chính, kế toán, kiểm toán hoặc chuyên môn, nghiệp vụ;

d) Không được là Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, thủ quỹ tại VINALINES; không có vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Kế toán trưởng, thủ quỹ tại VINALINES;

đ) Thành viên Ban kiểm soát làm việc theo chế độ chuyên trách, không đồng thời đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo trong bộ máy Nhà nước.

5. Nhiệm kỳ của thành viên Ban kiểm soát theo nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị. Thành viên Ban kiểm soát có thể được bổ nhiệm lại.

6. Thành viên Ban kiểm soát được hưởng tiền lương, tiền thưởng do Hội đồng quản trị quyết định theo quy định của pháp luật về chế độ lương, thưởng và Luật Doanh nghiệp nhà nước.

7. Chi phí hoạt động, điều kiện làm việc của Ban kiểm soát do VINALINES đảm bảo theo quyết định của Hội đồng quản trị.

Điều 28. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Ban kiểm soát

1. Kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong việc ghi chép sổ sách kế toán, báo cáo tài chính và việc chấp hành Điều lệ, Quy chế quản lý tài chính VINALINES, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, quyết định của Chủ tịch Hội đồng quản trị VINALINES đối với VINALINES và các công ty con do VINALINES đầu tư toàn bộ vốn điều lệ.

2. Thực hiện nhiệm vụ do Hội đồng quản trị giao; báo cáo Hội đồng quản trị định kỳ hàng tháng, quý, năm và theo vụ việc về kết quả kiểm tra, giám sát của mình; kịp thời phát hiện và báo cáo Hội đồng quản trị về những hoạt động không bình thường, trái với quy định về quản trị doanh nghiệp hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật.

3. Không được tiết lộ kết quả kiểm tra, giám sát khi chưa được Hội đồng quản trị cho phép; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về các hành vi cố ý bỏ qua hoặc bao che cho các vi phạm.

4. Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Ban kiểm soát.

Mục 3:

TỔNG GIÁM ĐỐC

Điều 29. Chức năng của Tổng giám đốc

Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng ngày của VINALINES theo mục tiêu, kế hoạch, phù hợp với Điều lệ của VINALINES và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.

Điều 30. Tuyển chọn, bổ nhiệm, ký hợp đồng với Tổng giám đốc

1. Tổng giám đốc do Hội đồng quản trị tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.

2. Tổng giám đốc được bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng với nhiệm kỳ không quá 05 (năm) năm. Hội đồng quản trị quyết định việc bổ nhiệm lại hoặc ký tiếp hợp đồng với Tổng giám đốc sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản.

3. Người được tuyển chọn làm Tổng giám đốc phải đáp ứng các tiêu chuẩn và điều kiện sau:

a) Thường trú tại Việt Nam;

b) Có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý; có trình độ đại học trở lên; có chuyên môn thuộc lĩnh vực kinh doanh chính của VINALINES; có ít nhất 03 (ba) năm kinh nghiệm tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp thuộc ngành, nghề kinh doanh chính của VINALINES;

c) Có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết; hiểu biết pháp luật và có ý thức chấp hành pháp luật.

4. Những đối tượng sau đây không được tuyển chọn để bổ nhiệm, ký hợp đồng làm Tổng giám đốc VINALINES:

a) Người đã làm Tổng giám đốc (Giám đốc) công ty nhà nước nhưng vi phạm kỷ luật đến mức bị cách chức, miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn hoặc để công ty lâm vào tình trạng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 25 Luật Doanh nghiệp nhà nước;

b) Thuộc đối tượng bị cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

Điều 31. Thay thế, miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng với Tổng giám đốc

1. Hội đồng quản trị quyết định việc miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn với Tổng giám đốc sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trên cơ sở các quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổng giám đốc bị miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng trước thời hạn trong các trường hợp sau:

a) Để VINALINES lỗ 02 (hai) năm liên tiếp hoặc không đạt chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư 02 (hai) năm liên tiếp hoặc ở trong tình trạng lỗ lãi đan xen nhau nhưng không khắc phục được, trừ các trường hợp lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt; lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư có lý do khách quan được giải trình và đã được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận; lỗ hoặc giảm tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước đầu tư do đầu tư mới mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ;

b) VINALINES lâm vào tình trạng phá sản nhưng không nộp đơn yêu cầu phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản; VINALINES thuộc diện tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu mà không tiến hành các thủ tục để tổ chức lại, giải thể hoặc chuyển đổi sở hữu theo quy định của pháp luật;

c) Không hoàn thành các nhiệm vụ hoặc chỉ tiêu do Hội đồng quản trị giao hoặc không hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký với Hội đồng quản trị;

d) Không trung thực trong thực thi nhiệm vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thu lợi cho bản thân hoặc cho người khác; báo cáo không trung thực tình hình tài chính của VINALINES;

đ) Bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự;

e) Bị Tòa án kết án bằng bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

3. Tổng giám đốc được thay thế trong các trường hợp sau:

a) Xin từ chức, tự nguyện chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật;

b) Khi có quyết định điều chuyển hoặc bố trí công việc khác.

Điều 32. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng giám đốc

1. Tổng giám đốc có quyền điều hành cao nhất trong việc thực hiện các dự án đầu tư, hoạt động kinh doanh của VINALINES để thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh do Hội đồng quản trị quy định.

2. Xây dựng kế hoạch hàng năm của VINALINES, phương án huy động vốn, dự án đầu tư, phương án liên doanh, đề án tổ chức quản lý, quy chế quản lý nội bộ của VINALINES, quy hoạch đào tạo lao động, phương án phối hợp kinh doanh giữa VINALINES với các công ty con và các công ty khác, giữa các công ty con với nhau hoặc với các công ty khác trình Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng quản trị.

3. Quyết định các dự án đầu tư, các hợp đồng bán tài sản của VINALINES theo phân cấp hoặc uỷ quyền của Hội đồng quản trị và theo quy định của pháp luật.

4. Quyết định các hợp đồng vay, cho vay, thuê, cho thuê và các hợp đồng kinh tế, thương mại khác có giá trị không quá mức vốn điều lệ của VINALINES.

5. Quyết định các vấn đề không thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị VINALINES nhằm phục vụ cho hoạt động tổ chức và điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày của VINALINES phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với những hợp đồng, giao dịch thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc VINALINES chỉ được ký kết sau khi có nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị phê chuẩn.

6. Quyết định phương án sử dụng vốn, tài sản của VINALINES để góp vốn, mua cổ phần của các công ty trong nước theo phân cấp hoặc uỷ quyền của Hội đồng quản trị và theo quy định của pháp luật.

7. Quyết định tuyển chọn, ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, mức lương và phụ cấp đối với các chức danh:

a) Giám đốc, Kế toán trưởng công ty thành viên hạch toán độc lập chưa chuyển đổi hình thức pháp lý hay sở hữu, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp của VINALINES sau khi có sự phê duyệt của Hội đồng quản trị;

b) Trưởng/Phó ban và các các chức danh tương đương của VINALINES;

c) Phó Giám đốc công ty thành viên hạch toán độc lập chưa chuyển đổi hình thức pháp lý hay sở hữu, đơn vị hạch toán phụ thuộc, đơn vị sự nghiệp của VINALINES theo đề nghị của Giám đốc công ty, đơn vị đó;

d) Các chức danh quản lý khác của VINALINES.

8. Đề nghị Hội đồng quản trị: bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật, quyết định mức lương đối với Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng VINALINES; Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, kiểm soát viên của công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; quyết định cử người đại diện phần vốn góp của VINALINES ở doanh nghiệp khác.

9. Chấp thuận việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo đề nghị của Chủ tịch công ty, Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

10. Trình Hội đồng quản trị thông qua phương án tổ chức quản lý, kinh doanh, biên chế và sử dụng bộ máy quản lý, quy chế quản lý, quy hoạch, đào tạo lao động và phương án lập chi nhánh, văn phòng đại diện của VINALINES.

11. Đề nghị Hội đồng quản trị VINALINES thông qua Quy chế quản lý tài chính sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ Tài chính.

12. Tuyển dụng và bố trí sử dụng lao động theo yêu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh của VINALINES; quyết định mức lương, trợ cấp, lợi ích cho người lao động và các điều khoản khác có liên quan đến hợp đồng lao động được ký kết với người lao động.

13. Xây dựng các định mức kinh tế – kỹ thuật, định mức lao động, tiêu chuẩn sản phẩm, đơn giá tiền lương phù hợp với các quy định của Nhà nước trình Hội đồng quản trị phê duyệt và tổ chức thực hiện; kiểm tra các đơn vị thuộc VINALINES thực hiện các định mức, tiêu chuẩn đơn giá quy định trong nội bộ VINALINES.

14. Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư; quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ; điều hành hoạt động của VINALINES và kế hoạch phối hợp kinh doanh giữa VINALINES với các công ty con, công ty liên kết nhằm thực hiện các nghị quyết và quyết định của Hội đồng quản trị.

15. Tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị, báo cáo Hội đồng quản trị và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về kết quả hoạt động kinh doanh của VINALINES; thực hiện việc công bố công khai các báo cáo tài chính của VINALINES theo quy định của pháp luật.

16. Chịu sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại Điều lệ của VINALINES và quy định của pháp luật.

17. Được áp dụng các biện pháp cần thiết vượt thẩm quyền trong trường hợp khẩn cấp và phải báo cáo ngay với Hội đồng quản trị và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

18. Có các quyền hạn và nghĩa vụ khác theo quy định của Điều lệ này, theo nghị quyết, quyết định và phân cấp của Hội đồng quản trị, các quy chế của VINALINES và theo quy định của pháp luật.

Điều 33. Chế độ lương, thưởng của Tổng giám đốc

1. Tổng giám đốc được hưởng chế độ lương theo năm. Mức tiền lương và tiền thưởng tương ứng với hiệu quả kinh doanh của VINALINES do Hội đồng quản trị quyết định hoặc theo hợp đồng đã ký.

2. Chế độ thanh toán, quyết toán tiền lương, tiền thưởng được thực hiện như đối với các thành viên chuyên trách của Hội đồng quản trị.

Mục 4:

NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM VÀ QUAN HỆ GIỮA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ TỔNG GIÁM ĐỐC

Điều 34. Quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành VINALINES

1. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý cao nhất của VINALINES có quyền chỉ đạo, giám sát toàn bộ hoạt động trong VINALINES; kiểm tra, kiểm soát và giám sát hoạt động điều hành của Tổng giám đốc.

2. Hội đồng quản trị ban hành các nghị quyết, quyết định, các văn bản quản lý và Tổng giám đốc có trách nhiệm tổ chức thực hiện.

3. Khi tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, nếu phát hiện vấn đề không có lợi cho VINALINES thì Tổng giám đốc phải báo cáo với Hội đồng quản trị để xem xét điều chỉnh lại nghị quyết, quyết định. Hội đồng quản trị phải xem xét đề nghị của Tổng giám đốc. Trường hợp Hội đồng quản trị không điều chỉnh lại nghị quyết, quyết định thì Tổng giám đốc vẫn phải thực hiện nhưng có quyền bảo lưu ý kiến và kiến nghị lên Thủ tướng Chính phủ.

4. Tổng giám đốc có trách nhiệm báo cáo Hội đồng quản trị bằng văn bản về tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng tháng, quý, năm và đột xuất theo quy định của pháp luật.

5. Chủ tịch Hội đồng quản trị tham dự hoặc cử đại diện của Hội đồng quản trị tham dự các cuộc họp giao ban, các cuộc họp chuẩn bị các đề án trình Hội đồng quản trị do Tổng giám đốc chủ trì; tham dự các cuộc họp ký kết các hợp đồng kinh tế của VINALINES thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị và của Thủ tướng Chính phủ. Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc người đại diện Hội đồng quản trị dự họp có quyền phát biểu đóng góp ý kiến, nhưng không có quyền kết luận cuộc họp.

6. Tổng giám đốc không là thành viên Hội đồng quản trị được mời tham dự cuộc họp Hội đồng quản trị, được quyền phát biểu nhưng không có quyền biểu quyết.

Điều 35. Nghĩa vụ, trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc

1. Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về điều hành hoạt động hàng ngày của VINALINES, về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.

2. Các thành viên Hội đồng quản trị phải cùng chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, kết quả và hiệu quả hoạt động của VINALINES.

3. Chủ tịch Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc có nghĩa vụ sau:

a) Thực hiện trung thực, có trách nhiệm các quyền hạn và nhiệm vụ được giao vì lợi ích của VINALINES và của Nhà nước;

b) Không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng vốn và tài sản của VINALINES để thu lợi riêng cho bản thân và người khác; không được đem tài sản của VINALINES cho người khác;

c) Trong thời gian đang thực hiện chức trách là Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc và trong thời hạn là 03 (ba) năm sau khi thôi làm Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc, không được tiết lộ bí mật của VINALINES, trừ trường hợp được Hội đồng quản trị đương nhiệm chấp thuận;

d) Khi VINALINES không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả thì: Tổng giám đốc phải báo cáo Hội đồng quản trị, tìm biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính và thông báo tình hình tài chính của VINALINES cho tất cả chủ nợ biết; Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc không được quyết định tăng tiền lương, không được trích lợi nhuận trả tiền thưởng cho cán bộ quản lý và người lao động;

đ) Khi VINALINES không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả mà không thực hiện các quy định tại điểm d khoản này thì phải chịu trách nhiệm cá nhân về thiệt hại xảy ra đối với chủ nợ theo quy định của pháp luật;

e) Trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Tổng giám đốc vi phạm Điều lệ này, quyết định vượt thẩm quyền, lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây thiệt hại cho VINALINES và Nhà nước thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

4. Khi vi phạm một trong các trường hợp sau đây nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Chủ tịch Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc không được thưởng, không được nâng lương và bị xử lý kỷ luật tùy theo mức độ vi phạm:

a) Để VINALINES lỗ trong các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này;

b) Để mất vốn nhà nước;

c) Quyết định dự án đầu tư không hiệu quả, không thu hồi được vốn đầu tư, không trả được nợ;

d) Không bảo đảm tiền lương và các chế độ khác cho người lao động ở VINALINES theo quy định của pháp luật về lao động;

đ) Để xảy ra các sai phạm về quản lý vốn, tài sản, về chế độ kế toán, kiểm toán và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.

5. Chủ tịch Hội đồng quản trị thiếu trách nhiệm, không thực hiện đúng các quy định tại khoản 2 Điều 24 của Điều lệ này mà để dẫn đến một trong các vi phạm tại khoản 4 của Điều này thì bị miễn nhiệm; tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp để VINALINES lâm vào tình trạng quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 31 Điều lệ này thì tuỳ theo mức độ vi phạm và hậu quả, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc bị hạ lương hoặc bị cách chức, đồng thời phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

7. VINALINES lâm vào tình trạng phá sản mà Tổng giám đốc không nộp đơn yêu cầu phá sản thì bị miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật; nếu Tổng giám đốc không nộp đơn mà Hội đồng quản trị không yêu cầu Tổng giám đốc nộp đơn yêu cầu phá sản thì Chủ tịch Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc bị miễm nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng.

8. Trường hợp VINALINES thuộc diện tổ chức lại, giải thể hoặc chuyển đổi sở hữu mà không tiến hành các thủ tục tổ chức lại, giải thể hoặc chuyển đổi sở hữu thì Chủ tịch Hội đồng quản trị, các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc bị miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng.

9. Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc VINALINES chỉ được giữ các chức danh quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài khi được VINALINES hoặc tổ chức nhà nước có thẩm quyền giới thiệu ứng cử vào các chức danh quản lý hoặc cử làm đại diện của VINALINES đối với phần vốn góp vào các công ty đó.

10. Không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức danh Kế toán trưởng, thủ quỹ tại VINALINES; hoặc nếu để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức danh kế toán trưởng, thủ quỹ tại VINALINES, thì phải thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc VINALINES.

11. Các hợp đồng kinh tế, lao động, dân sự của VINALINES ký kết với thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, với vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh chị em ruột của Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc phải được thông báo cho người bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc biết. Trường hợp người bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc phát hiện hợp đồng có mục đích tư lợi mà hợp đồng chưa ký kết thì có quyền yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc không được ký kết hợp đồng đó; nếu hợp đồng đã được ký kết thì bị coi là vô hiệu, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc phải bồi thường thiệt hại cho VINALINES và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Mục 5:

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC, KẾ TOÁN TRƯỞNG VÀ BỘ MÁY GIÚP VIỆC

Điều 36. Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng

1. VINALINES có 05 (năm) Phó Tổng giám đốc và 01 (một) kế toán trưởng. Số lượng các Phó Tổng giám đốc có thể thay đổi phù hợp với tình hình sản xuất, kinh doanh của VINALINES sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo đề nghị của Hội đồng quản trị.

Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng do Tổng giám đốc đề nghị để Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật, quyết định mức lương.

2. Các Phó Tổng giám đốc giúp Tổng giám đốc điều hành VINALINES theo phân công và ủy quyền của Tổng giám đốc; chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được Tổng giám đốc phân công hoặc ủy quyền. Việc ủy quyền có liên quan đến ký kết hợp đồng hoặc liên quan tới việc sử dụng con dấu của VINALINES đều phải được thực hiện bằng văn bản.

3. Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán của VINALINES; đề xuất các giải pháp và điều kiện tạo nguồn vốn cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh, đầu tư phát triển VINALINES; giúp Tổng giám đốc giám sát tài chính và phát huy các nguồn lực tài chính tại VINALINES theo pháp luật về tài chính, kế toán; có các quyền hạn, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công hoặc ủy quyền. Tiêu chuẩn tuyển chọn Kế toán trưởng VINALINES được thực hiện theo quy định của Luật Kế toán và các quy định của pháp luật.

4. Thời hạn bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng với Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng do Hội đồng quản trị quyết định, nhưng không quá 05 (năm) năm. Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng có thể được bổ nhiệm lại hoặc ký tiếp hợp đồng.

5. Chế độ lương, phụ cấp trách nhiệm, tiền thưởng của các Phó Tổng giám đốc và Kế toán trưởng do Hội đồng quản trị quyết định theo quy định của pháp luật.

Điều 37. Bộ máy giúp việc

1. Bộ máy giúp việc gồm văn phòng, các ban (phòng) chuyên môn, nghiệp vụ của VINALINES có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành công việc.

2. Chức năng, nhiệm vụ của văn phòng, các ban (phòng) chuyên môn, nghiệp vụ được quy định tại quyết định thành lập, quyết định giao nhiệm vụ của Hội đồng quản trị hoặc của Tổng giám đốc và theo quy chế quản lý nội bộ do Tổng giám đốc xây dựng trình Hội đồng quản trị phê duyệt, Chủ tịch Hội đồng quản trị ký quyết định ban hành.

3. Trong quá trình hoạt động, Tổng giám đốc có quyền đề nghị Hội đồng quản trị thay đổi cơ cấu, biên chế, số lượng và chức năng, nhiệm vụ của các ban (phòng) chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh của VINALINES và quy định pháp luật.

Mục 6 :

HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG THAM GIA QUẢN LÝ VINALINES CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

Điều 38. Hình thức tham gia quản lý VINALINES của người lao động

Người lao động tham gia quản lý VINALINES thông qua các hình thức, tổ chức sau đây:

1. Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu công nhân viên chức VINALINES.

2. Tổ chức Công đoàn của VINALINES.

3. Ban Thanh tra nhân dân.

4. Thực hiện quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.

Điều 39. Nội dung tham gia quản lý VINALINES của người lao động

1. Người lao động có quyền tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến trước khi cấp có thẩm quyền quyết định các vấn đề sau:

a) Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch, biện pháp phát triển sản xuất, kinh doanh, tổ chức lại sản xuất của VINALINES;

b) Phương án cổ phần hóa, đa dạng hóa sở hữu VINALINES;

c) Các nội quy, quy định, quy chế của VINALINES liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động;

d) Các biện pháp bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, đời sống vật chất và tinh thần, vệ sinh môi trường, đào tạo và đào tạo lại người lao động của VINALINES;

đ) Bỏ phiếu thăm dò tín nhiệm đối với các chức danh là Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng VINALINES khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu.

2. Thông qua Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu công nhân viên chức và tổ chức Công đoàn, người lao động có quyền thảo luận và biểu quyết quyết định các vấn đề sau:

a) Nội dung hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa ước lao động tập thể để đại diện tập thể người lao động ký kết với Tổng giám đốc;

b) Quy chế sử dụng các quỹ phúc lợi, khen thưởng và các chỉ tiêu kế hoạch của VINALINES có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động phù hợp với quy định của Nhà nước;

c) Bầu Ban Thanh tra nhân dân; thông qua chương trình hoạt động và đánh giá kết quả hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân.

3. Tổ chức Công đoàn tại VINALINES giới thiệu 01 (một) đại diện có đủ tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 27 Điều lệ này tham gia vào Ban kiểm soát VINALINES để Hội đồng quản trị xem xét, quyết định.

Chương 5:

QUAN HỆ CỦA VINALINES VỚI ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC, ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP, CÔNG TY CON, CÔNG TY LIÊN KẾT VÀ CÔNG TY TỰ NGUYỆN THAM GIA LIÊN KẾT VỚI VINALINES

Điều 40. Đơn vị phụ thuộc

1. VINALINES có các đơn vị phụ thuộc do Hội đồng quản trị VINALINES quyết định thành lập, tổ chức, giải thể, bao gồm: văn phòng đại diện, chi nhánh và các công ty hạch toán phụ thuộc; được tổ chức, quản lý theo quy định của VINALINES và quy định của pháp luật; hoạt động theo Điều lệ hoặc Quy chế của đơn vị do Tổng giám đốc trình Hội đồng quản trị phê duyệt.

2. Văn phòng đại diện của VINALINES được thành lập ở trong nước hoặc ở nước ngoài để thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi quy định của pháp luật; có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của VINALINES và bảo vệ các lợi ích đó; có trụ sở, được mở tài khoản, có con dấu mang tên văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật có liên quan; có Quy chế tổ chức và hoạt động theo quy định của VINALINES.

3. Chi nhánh của VINALINES được thành lập ở trong nước hoặc ở nước ngoài để thực hiện các hoạt động thương mại, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của VINALINES, kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền; có ngành, nghề kinh doanh phù hợp với ngành, nghề kinh doanh của VINALINES; có Điều lệ tổ chức và hoạt động theo quy định của VINALINES; tổ chức hạch toán kinh doanh theo phân cấp của VINALINES và theo quy định của pháp luật.

4. Công ty hạch toán phụ thuộc của VINALINES được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh theo phân cấp của VINALINES; có tên gọi, trụ sở, con dấu và tài khoản riêng; có Điều lệ tổ chức và hoạt động theo quy định của VINALINES; tổ chức hạch toán kinh doanh theo phân cấp của VINALINES và theo quy định của pháp luật. Đơn vị hạch toán phụ thuộc VINALINES có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm như sau:

a) Được giao quản lý, sử dụng vốn, tài sản và các nguồn lực khác để kinh doanh; có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp của VINALINES; chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với VINALINES; VINALINES chịu trách nhiệm cuối cùng về các nghĩa vụ tài chính phát sinh đối với các cam kết của đơn vị;

b) Được ký kết các hợp đồng kinh tế, được chủ động thực hiện các hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động đầu tư không trái với sự phân cấp, uỷ quyền của VINALINES và quy định của pháp luật; được tổ chức hạch toán phụ thuộc và lập các quỹ theo quy định của VINALINES và theo quy định của pháp luật; tổ chức và nhân sự theo phân cấp của VINALINES quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của đơn vị;

c) Có trách nhiệm quản lý, tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ do VINALINES giao và thực hiện nghĩa vụ với VINALINES theo quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của đơn vị; chấp hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của đơn vị, Điều lệ của VINALINES và pháp luật của Nhà nước;

d) Các quyền và nghĩa vụ khác theo sự phân cấp, uỷ quyền của VINALINES và quy định của pháp luật.

Điều 41. Đơn vị sự nghiệp

1. Đơn vị sự nghiệp hoạt động theo chế độ Nhà nước quy định và Quy chế do Tổng giám đốc trình Hội đồng quản trị phê duyệt.

2. Đơn vị sự nghiệp được VINALINES đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, cấp kinh phí sự nghiệp nằm trong chi phí chung của VINALINES và được tổ chức thực hiện chế độ lấy thu bù chi; thực hiện chế độ phân cấp hạch toán do VINALINES quy định; được tạo nguồn thu từ việc thực hiện các nhiệm vụ do VINALINES giao, thực hiện các hợp đồng cung cấp dịch vụ, nghiên cứu khoa học và đào tạo, chuyển giao công nghệ với các đơn vị trong và ngoài VINALINES; được hưởng quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi theo chế độ; được VINALINES quyết định những vấn đề khác liên quan trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đơn vị sự nghiệp.

Điều 42. Công ty thành viên hạch toán độc lập

1. Công ty thành viên hạch toán độc lập (trong khi chưa thực hiện cổ phần hoá, chuyển đổi sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước và các quy định pháp luật có liên quan. Chịu sự kiểm tra, giám sát, hướng dẫn của VINALINES.

2. Hội đồng quản trị VINALINES là chủ sở hữu nhà nước đối với công ty. Hội đồng quản trị thực hiện các quyền và nghĩa vụ sau đây đối với công ty thành viên hạch toán độc lập:

a) Quyết định chiến lược phát triển, cơ cấu tổ chức quản lý của công ty; phê duyệt Điều lệ và sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty theo đề nghị của Giám đốc công ty;

b) Thông qua để Tổng giám đốc VINALINES bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, quyết định mức tiền lương, tiền thưởng và các lợi ích khác đối với Giám đốc và Kế toán trưởng công ty;

c) Quyết định các dự án đầu tư, hợp đồng mua, bán, vay, cho vay vượt quá mức phân cấp cho Giám đốc công ty theo Quy chế quản lý tài chính của VINALINES và quy định của pháp luật;

d) Tổ chức giám sát, theo dõi và đánh giá hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý theo điều lệ của công ty;

đ) Thông qua báo cáo tài chính hàng năm và quyết định phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ của công ty;

e) Quyết định các hình thức và biện pháp tổ chức lại công ty;

g) Thực hiện các quyền khác quy định tại Điều lệ công ty và quy định của pháp luật.

Điều 43. Công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

1. Công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, quy định của Chính phủ về chuyển đổi công ty nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và các quy định pháp luật khác có liên quan.

2. Hội đồng quản trị VINALINES là đại diện chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do VINALINES sở hữu 100% vốn điều lệ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ sau đây đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

a) Phê duyệt điều lệ công ty khi thành lập; quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;

b) Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty;

c) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, quyết định mức lương, tiền thưởng và các lợi ích khác của Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và các Kiểm soát viên của công ty theo đề nghị của Tổng giám đốc VINALINES;

d) Quyết định các dự án đầu tư có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty;

đ) Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ công ty cho tổ chức, cá nhân khác. Việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty;

e) Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;

g) Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại điều lệ công ty, trừ những tài sản theo quy định của Chính phủ;

h) Quyết định thành lập công ty con của công ty, việc công ty góp vốn vào công ty khác;

i) Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do điều lệ công ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn được quy định tại điều lệ công ty;

k) Phân cấp cho Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, quyết định lương, thưởng và lợi ích khác đối với Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng công ty sau khi được VINALINES chấp thuận phù hợp với quy định của Điều lệ này và quy định của pháp luật;

l) Tổ chức giám sát, theo dõi và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty, hoạt động quản lý của Hội đồng thành viên hoặc của Chủ tịch công ty theo Điều lệ của công ty;

m) Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;

n) Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản;

o) Đầu tư vốn đúng cam kết; chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty; trường hợp không đầu tư đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty;

p) Tuân thủ điều lệ công ty; các quy định của pháp luật về hợp đồng và pháp luật có liên quan trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê và các giao dịch khác giữa công ty và VINALINES;

q) Thông qua báo cáo tài chính hàng năm và quyết định phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý lỗ của công ty theo văn bản trình của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty;

r) Xác định và tách biệt tài sản của VINALINES và tài sản của công ty;

s) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

3. Khi có yêu cầu của Tổng giám đốc VINALINES, người đại diện theo pháp luật của công ty phải cung cấp các thông tin cần thiết để lập báo cáo tài chính hợp nhất và báo cáo tổng hợp của tổ hợp.

Điều 44. Công ty con là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty liên doanh và công ty ở nước ngoài

1. Công ty con là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty ở nước ngoài có cổ phần, vốn góp chi phối của VINALINES, được thành lập, tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, pháp luật nước ngoài và các quy định của pháp luật có liên quan.

2. VINALINES thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cổ đông, thành viên, bên liên doanh, bên góp vốn chi phối theo quy định của pháp luật và Điều lệ của công ty con đó.

3. VINALINES trực tiếp quản lý cổ phần, vốn góp chi phối ở công ty con thông qua người đại diện phần vốn góp của VINALINES tại công ty đó.

4. VINALINES có quyền và nghĩa vụ chủ yếu sau:

a) Cử, bãi miễn, khen thưởng, kỷ luật, quyết định phụ cấp và lợi ích của người đại diện phần vốn góp;

b) Yêu cầu người đại diện phần vốn góp báo cáo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các nội dung khác của công ty con;

c) Giao nhiệm vụ và yêu cầu người đại diện phần vốn góp xin ý kiến về những vấn đề quan trọng theo quy định tại quy chế quản lý vốn góp của VINALINES ở doanh nghiệp khác do Hội đồng quản trị VINALINES ban hành trước khi biểu quyết tại công ty con; báo cáo việc sử dụng cổ phần, vốn góp chi phối để phục vụ định hướng phát triển và mục tiêu của VINALINES;

d) Thu lợi tức và chịu rủi ro từ phần vốn góp của mình tại các công ty con;

đ) Giám sát, kiểm tra việc sử dụng phần vốn đã góp vào các công ty con;

e) Chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển phần vốn đã góp vào các công ty con;

g) Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 45. Công ty liên kết

1. Công ty liên kết được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định pháp luật tương ứng với hình thức pháp lý của công ty đó.

2. VINALINES cử người đại diện quản lý phần vốn góp của mình tại các công ty này để thực hiện các quyền hạn và nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn, bên liên doanh theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty đó hoặc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo hợp đồng liên kết.

Điều 46. Công ty tự nguyện tham gia liên kết với VINALINES

Công ty tự nguyện tham gia liên kết với VINALINES được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định pháp luật, không có cổ phần, vốn góp của VINALINES, chịu sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ với VINALINES theo hợp đồng liên kết hoặc theo thoả thuận giữa công ty đó với VINALINES.

Điều 47. Tiêu chuẩn, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người đại diện phần vốn góp của VINALINES

1. Người đại diện phần vốn góp của VINALINES phải đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện sau đây:

a) Là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam, là người của VINALINES;

b) Có sức khoẻ, phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, liêm khiết;

c) Hiểu biết pháp luật, có ý thức chấp hành pháp luật;

d) Có trình độ đại học về kinh tế, tài chính, kế toán hoặc trong lĩnh vực kinh doanh chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư của VINALINES; có năng lực kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp. Người đại diện phần vốn góp của VINALINES tại các công ty liên doanh với nước ngoài phải có thêm trình độ ngoại ngữ đủ để làm việc với người nước ngoài trong liên doanh không cần phiên dịch;

đ) Không là bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột của những người là đại diện chủ sở hữu, người trong Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Giám đốc, Kế toán trưởng của doanh nghiệp có vốn đầu tư của VINALINES mà người đó được giao làm đại diện phần vốn góp của VINALINES; không có quan hệ (với tư cách cá nhân) góp vốn thành lập doanh nghiệp, cho vay vốn, ký kết hợp đồng mua, bán với doanh nghiệp có vốn đầu tư của VINALINES mà người đó được giao đại diện phần vốn góp, trừ trường hợp có cổ phần tại doanh nghiệp được cổ phần hoá.

2. Người đại diện phần vốn góp của VINALINES tại công ty con, công ty liên kết được đề cử hoặc tham gia ứng cử vào Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Giám đốc của doanh nghiệp đó phải có đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định của pháp luật và điều lệ của doanh nghiệp đó.

3. Người đại diện phần vốn góp của VINALINES tại các doanh nghiệp có vốn của VINALINES có các quyền và nghĩa vụ sau:

a) Đại diện cho VINALINES thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cổ đông, thành viên góp vốn, bên liên doanh tại các công ty con, công ty liên kết. Sử dụng quyền của người có cổ phần, vốn góp chi phối để định hướng công ty con thực hiện chiến lược, mục tiêu của VINALINES;

b) Tham gia ứng cử vào bộ máy quản lý, điều hành của công ty có vốn góp của VINALINES theo quy định của điều lệ công ty đó;

c) Theo dõi, giám sát tình hình tài chính và kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty có vốn góp của VINALINES;

d) Thực hiện báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc VINALINES về tình hình tài chính, kết quả sản xuất, kinh doanh của công ty có vốn góp của VINALINES; về hiệu quả sử dụng phần vốn góp của VINALINES và việc thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng quản trị VINALINES giao;

đ) Xin ý kiến Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc VINALINES trước khi tham gia biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông, tại cuộc họp Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên của công ty con, công ty liên kết về: phương hướng, chiến lược, kế hoạch kinh doanh; kế hoạch đầu tư, dự án đầu tư; sửa đổi, bổ sung điều lệ; tăng, giảm vốn điều lệ; chia lợi tức; bán tài sản có giá trị lớn và các vấn đề quan trọng khác. Trường hợp nhiều người được giao trực tiếp quản lý phần vốn góp cùng tham gia Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban Giám đốc của công ty con, công ty liên kết thì phải cùng nhau bàn bạc và thống nhất ý kiến khi phát biểu và biểu quyết, nếu không thống nhất ý kiến phải báo cáo VINALINES để chỉ đạo;

e) Chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị VINALINES về quản lý phần vốn góp, hiệu quả sử dụng phần vốn góp của VINALINES tại các công ty con, công ty liên kết mà mình được giao trực tiếp quản lý. Trường hợp không thực hiện chế độ báo cáo theo quy định, thiếu trách nhiệm, lợi dụng quyền hạn gây thiệt hại cho công ty và VINALINES thì phải chịu trách nhiệm, bồi thường thiệt hại và bị xử lý theo quy định của pháp luật và Quy chế quản lý tài chính của VINALINES;

g) Có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định tại các Quy chế và Điều lệ VINALINES và quy định của pháp luật;

h) Người đại diện phần vốn góp của VINALINES hưởng chế độ lương, thưởng hoặc thù lao, phụ cấp trách nhiệm và các lợi ích khác theo quyết định của Hội đồng quản trị VINALINES phù hợp với các quy định của pháp luật.

Chương 6 :

CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH

Điều 48. Điều chỉnh vốn điều lệ của VINALINES

1. Trong quá trình hoạt động, vốn điều lệ của VINALINES có thể tăng lên từ các nguồn sau:

a) Lợi nhuận sau thuế bổ sung vào vốn điều lệ, kể cả lợi nhuận sau thuế của các công ty con do VINALINES sở hữu 100% vốn điều lệ và cổ tức được chia từ các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của VINALINES;

b) Vốn do chủ sở hữu nhà nước bổ sung cho VINALINES từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn khác;

c) Chủ sở hữu nhà nước giao hoặc ủy quyền cho VINALINES thực hiện chức năng chủ sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của một doanh nghiệp khác tham gia làm đơn vị thành viên của VINALINES.

2. Việc điều chỉnh tăng hay giảm vốn điều lệ của VINALINES do Thủ tướng Chính phủ quyết định hoặc uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định theo đề nghị của Hội đồng quản trị.

3. Mọi trường hợp tăng, giảm vốn điều lệ, VINALINES phải tiến hành điều chỉnh kịp thời trong bảng cân đối kế toán, công bố vốn điều lệ và làm thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ trong Điều lệ này.

4. Chủ sở hữu nhà nước chỉ được rút vốn đã đầu tư tại VINALINES khi tổ chức lại VINALINES hoặc điều chỉnh giảm vốn điều lệ của VINALINES. Việc rút vốn chỉ được thực hiện nếu vẫn đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả của VINALINES.

5. Đối với vốn chủ sở hữu nhà nước đã cam kết bổ sung cho VINALINES thì chủ sở hữu nhà nước có trách nhiệm đầu tư đủ vốn theo đúng thời hạn đã cam kết. Trường hợp sau 02 (hai) năm chủ sở hữu nhà nước không đầu tư đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì chủ sở hữu nhà nước phải điều chỉnh vốn điều lệ của VINALINES.

Điều 49. Quản lý vốn, tài sản, doanh thu, chi phí, giá thành và phân phối lợi nhuận của VINALINES

1. Việc quản lý vốn, tài sản, doanh thu, chi phí, giá thành và phân phối lợi nhuận của VINALINES thực hiện theo Quy chế quản lý tài chính của VINALINES.

2. Nội dung Quy chế quản lý tài chính của VINALINES được xây dựng dựa trên các nguyên tắc quản lý tài chính công ty nhà nước theo quy định của Nhà nước. Quy chế quản lý tài chính tối thiểu phải gồm những nội dung chủ yếu sau:

a) Cơ chế quản lý vốn và tài sản của VINALINES;

b) Cơ chế quản lý doanh thu, chi phí, giá thành của VINALINES, trong đó quy định cụ thể thẩm quyền Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quyết định giá mua, giá bán sản phẩm, dịch vụ của VINALINES; quyết định việc mua trái phiếu, tín phiếu; quyết định mức chi phí giao dịch, môi giới, quảng cáo, tiếp khách, mức thu phí bản quyền, mức chi phí tiếp thị khuyến mại, hội họp, mức trích khấu hao tài sản cố định không thấp hơn mức tối thiểu do Bộ Tài chính quy định;

c) Cơ chế quản lý kết quả hoạt động kinh doanh, phân phối lợi nhuận, các quỹ và mục đích sử dụng các quỹ của VINALINES;

d) Mối quan hệ về tài chính giữa VINALINES với các công ty con và công ty liên kết.

Điều 50. Kế hoạch tài chính, kế toán, kiểm toán

1. Năm tài chính của VINALINES bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 dương lịch và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 dương lịch cùng năm.

2. Trước ngày 15 tháng 12 hàng năm, Tổng giám đốc trình Hội đồng quản trị phê duyệt kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính cho năm sau của VINALINES, của tổ hợp công ty mẹ – công ty con, công ty liên kết. Hội đồng quản trị có trách nhiệm báo cáo chủ sở hữu nhà nước kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính hàng năm của VINALINES làm căn cứ để giám sát và đánh giá kết quả quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc.

3. Trong vòng 90 (chín mươi) ngày sau khi kết thúc năm và 45 (bốn mươi lăm) ngày sau khi kết thúc quý, Tổng giám đốc phải trình Hội đồng quản trị báo cáo tài chính trong kỳ báo cáo của VINALINES và báo cáo hợp nhất của tổ hợp công ty mẹ – công ty con. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ thông qua các báo cáo tài chính, chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu báo cáo tài chính và gửi đến các cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật.

4. VINALINES thực hiện công tác kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật. Mục tiêu kiểm toán nội bộ nhằm phục vụ cho công tác điều hành của Tổng giám đốc và công tác kiểm tra, kiểm soát, giám sát của Hội đồng quản trị.

5. VINALINES thực hiện công khai tình hình tài chính theo quy chế dân chủ ở cơ sở và quy định của Nhà nước.

6. VINALINES chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát của cơ quan tài chính có thẩm quyền đối với công tác tài chính của VINALINES theo quy định của pháp luật.

Chương 7 :

TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN VINALINES

Điều 51. Tổ chức lại VINALINES

1. Việc tổ chức lại, hình thức tổ chức lại VINALINES do Thủ tướng Chính phủ quyết định. VINALINES thực hiện tổ chức lại theo trình tự, thủ tục của pháp luật.

2. Khi được tổ chức lại, VINALINES có nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 52. Chuyển đổi sở hữu VINALINES

Khi có quyết định chuyển đổi sở hữu, VINALINES tiến hành chuyển đổi theo trình tự, thủ tục của pháp luật về chuyển đổi sở hữu.

Điều 53. Giải thể VINALINES

1. VINALINES bị giải thể trong các trường hợp sau:

a) VINALINES kinh doanh thua lỗ kéo dài nhưng chưa lâm vào tình trạng phá sản;

b) VINALINES không thực hiện được các nhiệm vụ do Nhà nước quy định sau khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết;

c) Việc tiếp tục duy trì VINALINES là không cần thiết.

2. VINALINES thực hiện việc giải thể theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Điều 54. Phá sản VINALINES

Khi chủ nợ có yêu cầu thanh toán nợ đến hạn mà VINALINES lâm vào tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn, thì Tổng giám đốc VINALINES phải nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với VINALINES. VINALINES tiến hành các thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản.

Chương 8 :

SỔ SÁCH VÀ HỒ SƠ VINALINES

Điều 55. Sổ sách, hồ sơ của VINALINES và quyền tiếp cận

1. Định kỳ hàng năm, Hội đồng quản trị có trách nhiệm gửi cho đại diện chủ sở hữu nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan những tài liệu theo quy định hiện hành.

2. Trong trường hợp đột xuất, chủ sở hữu có quyền yêu cầu bằng văn bản Hội đồng quản trị cung cấp bất kỳ hồ sơ, tài liệu nào liên quan đến việc tổ chức thực hiện quyền của chủ sở hữu quy định tại Điều lệ này.

3. Tổng giám đốc có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị và báo cáo để Hội đồng quản trị cung cấp hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của chủ sở hữu.

Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị được Tổng giám đốc cung cấp hồ sơ, tài liệu chuẩn bị cho các cuộc họp thường kỳ của Hội đồng quản trị. Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị có quyền yêu cầu Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, các cán bộ quản lý của VINALINES cung cấp mọi hồ sơ, tài liệu liên quan đến tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quản trị.

4. Việc quản lý hồ sơ, tài liệu thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm tổ chức việc lưu giữ và bảo mật hồ sơ, tài liệu của VINALINES.

5. Người lao động trong VINALINES có quyền tìm hiểu thông tin về VINALINES thông qua Đại hội công nhân viên chức, Ban Thanh tra nhân dân.

Điều 56. Công khai thông tin

1. Tổng giám đốc là người thực hiện các quy định của pháp luật và Điều lệ VINALINES về công khai thông tin và chịu trách nhiệm về việc thực hiện các quy định này. Bộ phận lưu giữ hồ sơ, tài liệu của VINALINES chỉ được cung cấp thông tin ra bên ngoài theo quyết định của Tổng giám đốc hoặc người được Tổng giám đốc ủy quyền.

2. Biểu mẫu, nội dung và nơi gửi thông tin thực hiện theo các quy định của pháp luật.

3. Trường hợp có yêu cầu thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, Tổng giám đốc là người chịu trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin theo quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra.

Chương 9 :

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ SỬA ĐỔI ĐIỀU LỆ VINALINES

Điều 57. Giải quyết tranh chấp

1. Việc giải quyết tranh chấp nội bộ VINALINES hoặc tranh chấp liên quan đến quan hệ giữa đại diện chủ sở hữu và VINALINES, giữa đại diện chủ sở hữu và Hội đồng quản trị, giữa Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc, bộ máy giúp việc được căn cứ theo Điều lệ này.

2. Trường hợp giải quyết tranh chấp theo Điều lệ này không được các bên chấp thuận, thì bất kỳ bên nào cũng có thể đưa ra các cơ quan có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp để giải quyết.

Điều 58. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ

1. Mọi sửa đổi, bổ sung Điều lệ này do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

2. Hội đồng quản trị VINALINES có quyền kiến nghị Thủ tướng Chính phủ về phương án sửa đổi, bổ sung Điều lệ.

Chương 10 :

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 59. Hiệu lực thi hành

1. Điều lệ này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

2. Tất cả các đơn vị và cá nhân thuộc VINALINES có trách nhiệm tuân thủ các quy định tại Điều lệ này.

Điều lệ này được ban hành tại thành phố Hà Nội./.

THỦ TƯỚNG
Nguyễn Tấn Dũng

PHỤ LỤC

DANH SÁCH CÁC ĐƠN VỊ PHỤ THUỘC VÀ CÁC CÔNG TY CON, CÔNG TY LIÊN KẾT THUỘC CÔNG TY MẸ – TỔNG CÔNG TY HÀNG HẢI VIỆT NAM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 192/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 12 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ)

A. CÁC CÔNG TY CON

I. Công ty thành viên hạch toán độc lập

1. Công ty Thương mại và Dịch vụ Cảng Sài Gòn;

2. Công ty Xuất nhập khẩu vật tư đường biển.

II. Công ty TNHH một thành viên

1. Công ty TNHH một thành viên Cảng Sài Gòn;

2. Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng;

3. Công ty TNHH một thành viên Cảng Đà Nẵng;

4. Công ty TNHH một thành viên Cảng Quảng Ninh.

III. Công ty cổ phần

1. Công ty cổ phần Vận tải biển Việt Nam;

2. Công ty cổ phần Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam;

3. Công ty cổ phần Vận tải biển Vinaship;

4. Công ty cổ phần Vận tải biển Bắc;

5. Công ty cổ phần Vận tải biển và Hợp tác lao động quốc tế;

6. Công ty cổ phần Vận tải biển Falcon;

7. Công ty cổ phần Hàng hải Đông Đô;

8. Công ty cổ phần Đại lý hàng hải Việt Nam;

9. Công ty cổ phần Cảng Đoạn Xá;

10. Công ty cổ phần Phát triển hàng hải;

11. Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng công trình hàng hải;

12. Công ty cổ phần VINALINES Logistics – Việt Nam;

13. Công ty cổ phần Bất động sản VINALINES Vĩnh Phúc.

IV. Công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty liên doanh

1. Công ty liên doanh Vận tải biển Việt Pháp;

2. Công ty liên doanh Khai thác container Việt Nam;

3. Công ty liên doanh Tiếp vận Alhers – Vina;

4. Công ty trách nhiệm hữu hạn Vận tải hàng công nghệ cao.

B. CÔNG TY LIÊN KẾT

1. Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển;

2. Công ty cổ phần Đại lý vận tải;

3. Công ty cổ phần Hợp tác lao động với nư­ớc ngoài;

4. Công ty cổ phần Container phía Nam;

5. Công ty cổ phần Dịch vụ vận tải và Th­ương mại;

6. Công ty cổ phần Vận tải biển Hải Âu;

7. Công ty cổ phần Hàng hải Hà Nội;

8. Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu cung ứng vận tải hàng hải;

9. Công ty cổ phần Th­ương mại và Dịch vụ cảng Hải Phòng;

10. Công ty cổ phần Tin học và Công nghệ hàng hải;

11. Công ty cổ phần Container Việt Nam;

12. Công ty cổ phần Vận tải và Cung ứng xăng dầu;

13. Công ty cổ phần Hàng hải Sài Gòn;

14. Công ty cổ phần Cảng Vật Cách;

15. Công ty cổ phần Dịch vụ tổng hợp cảng Đà Nẵng;

16. Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Dịch vụ cảng Sài Gòn;

17. Công ty cổ phần Cung ứng và Dịch vụ kỹ thuật Hàng hải;

18. Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật cảng Hải Phòng;

19. Công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật hàng hải;

20. Công ty cổ phần Dịch vụ công nghiệp hàng hải;

21. Công ty cổ phần Chứng khoán Thủ Đô;

22. Công ty cổ phần Đầu tư dầu khí Sao Mai – Bến Đình;

23. Công ty cổ phần Cảng Sài Gòn – Hiệp Phước;

24. Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam;

25. Công ty liên doanh Vận tải quốc tế Nhật – Việt;

26. Công ty liên doanh Container WV – Waterfront Vietnam;

27. Công ty liên doanh Dịch vụ container quốc tế SP – PSA;

28. Công ty TNHH Cảng quốc tế SP – PSA;

29. Công ty TNHH Cảng quốc tế Cái Mép;

30. Trung tâm Nhân lực hàng hải Đông Nam Á;

31. Công ty cổ phần Bất động sản VINALINES.

C. ĐƠN VỊ HẠCH TOÁN PHỤ THUỘC

1. Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh;

2. Chi nhánh tại thành phố Hải Phòng;

3. Công ty Vận tải biển VINALINES;

4. Công ty Hàng hải VINALINES Nha Trang;

5. Công ty Hàng hải VINALINES Cần Thơ;

6. Công ty Tư vấn hàng hải;

7. Công ty Xuất khẩu lao động hàng hải;

8. Công ty Thương mại xăng dầu đường biển;

9.Cảng Khuyến Lương;

10. Cảng Cần Thơ;

11. Trung tâm Nghiên cứu chiến lược phát triển.

VĂN BẢN MẪU VỀ MỨC LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
                 *****
      Số: 2881/QĐ-NHNN
          CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
               Độc lập  –  Tự do  –  Hạnh phúc
                              ******
         Hà Nội, ngày  30 tháng 11 năm 2007

QUYẾT ĐỊNH

VỀ MỨC LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG ĐỒNG VIỆT NAM

THỐNG ĐỐC NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 52/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Nay công bố mức lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam là 8,25%/năm.

Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2007 và thay thế Quyết định số 2538/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 10 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt Nam.

Điều 3. Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ và Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc (Giám đốc) các tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:
Như điều 3;
– Ban lãnh đạo NHNN;
– Lưu: VP, VỤ CSTT, CSTT3.
THỐNG ĐỐC

LÁ THƯ TỔNG THỐNG LINCOLN GỞI THẦY GIÁO DẠY CON TRAI CỦA ÔNG

Image

Abraham Lincoln Tổng thống thứ 16 của Hợp chủng quốc Hoa Kì (1861-1865) nổi tiếng là một diễn giả tài giỏi. Ngay sau khi ông qua đời ngày 15-4-1865 do bị ám sát, rất nhiều người đã tiến hành sưu tầm những bài diễn văn,bài phát biểu, những lá thư của ông. Số di cảo này giúp người đọc hiểu được nhiều sự kiện lịch sử và mang lại một hình ảnh sâu đậm về cuộc đời và sự nghiệp của Abraham Lincoln. Ngoài bộ tiểu sử Abraham Lincoln gồm 6 tập của Carl Sandburg, thì những công trình được thực hiện công phu là The Papers of Abraham Lincoln do Ilinois Historic Preervation Agency thực hiện, Cllected Works of Abraham Lincoln của Hiệp hội Abraham Lincoln và Virginia Fehrenbacher (Staord, năm 1996).Riêng Hiệp hội Abraham Lincoln không chỉ sưu tập biên soạn thư và những bài phát biểu của ông mà còn đưa ra danh sách những câu nói, những bài phát biểu, những lá thư gây nhiêu tranh cãi là có phải của ông hay không. Lá thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai do Abraham Lincoln viết mặc dù còn gây nhiều tranh cãi, nhưng rất phổ biến và được nhiều người biết đến.

Kính gửi Thầy

Con tôi sẽ phải học tất cả những điều này, rằng không phải tất cả mọi người đều công bằng, tất cả mọi người đều chân thật. Nhưng xin Thầy hãy dạy cho cháu biết: cứ mỗi một kẻ vô lại ta gặp trên đường phố thì ở đâu đó sẽ có một người chính trực; cứ mỗi một chính trị gia ích kỷ ta sẽ có một nhà lãnh đạo tận tâm.

Xin thầy hãy dạy cháu biết cứ mỗi kẻ ghét bỏ ta thì ta lại tìm thấy một người bạn. Bài học này sẽ mất nhiều thời gian, tôi biết, nhưng xin thầy hãy dạy cho cháu hiểu rằng một đồng đô la kiếm được do công sức lao động của mình bỏ ra còn quý giá hơn nhiều so với năm đô la nhặt được trên hè phố.

Xin thầy hãy dạy cho cháu biết cách chấp nhận thất bại và cách tận hưởng niềm vui chiến thắng. Xin hãy dạy cháu tránh xa sự đố kỵ.

Xin dạy cho cháu biết được bí quyết của niềm vui thầm lặng. Dạy cho cháu biết được rằng những kẻ hay bắt nạt người khác nhất lại là những kẻ dễ bị đánh bại nhất.

Xin hãy giúp cháu nhìn thấy thế giới kỳ diệu của sách nhưng cũng cho cháu có đủ thời gian để lặng lẽ suy tư về sự bí ẩn muôn thuở của cuộc sống: đàn chim tung cánh bay trên bầu trời, đàn ong bay lượn trong nắng và những bông hoa nở ngát bên đồi xanh.

Xin thầy hãy dạy cho cháu biết rằng thà bị điểm kém còn hơn gian lận trong thi cử.

Xin hãy tạo cho cháu có niềm tin vào ý kiến riêng của bản thân, cho dù tất cả mọi người xung quanh đều cho rằng ý kiến đó hoàn toàn sai lầm.

Xin hãy dạy cho cháu biết cách đối xử dịu dàng với những người hòa nhã, và cứng rắn với những kẻ thô bạo. Xin tạo cho cháu sức mạnh để không chạy theo đám đông khi tất cả mọi người đều chạy theo thời thế.

Xin hãy dạy cho cháu biết, phải lắng nghe tất cả mọi người, nhưng cũng xin thầy dạy cho cháu biết cần phải sàng lọc lấy những gì tốt đẹp…

Xin hãy dạy cho cháu biết cách mỉm cười khi buồn bã… Xin hãy dạy cho cháu biết rằng không có sự xấu hổ trong những giọt nước mắt.

Xin hãy dạy cho cháu biết chế diễu những kẻ yếm thế và cẩn trọng trước sự ngọt ngào đầy cạm bẫy.

Xin hãy dạy cho cháu rằng có thể bán cơ bắp và trí tuệ cho người trả giá cao nhất, nhưng không bao giờ cho phép ai ra giá mua trái tim và tâm hồn mình.

Xin hãy dạy cho cháu biết ngoảnh tai làm ngơ trước một đám đông gào thét… và đứng thẳng người bảo vệ những gì cháu cho là đúng.

Xin hãy đối xử với cháu nhẹ nhàng nhưng đừng vuốt ve nuông chiều cháu, bởi vì chỉ có sự thử thách của lửa mới tôi luyện nên một con người cứng rắn.

Xin hãy giúp cháu có được sự can đảm để không dung thứ sự sai trái, và giúp cho cháu có đủ sự bền chí để là người dũng cảm.

Xin hãy dạy cho cháu biết rằng, cháu phải luôn có niềm tin tuyệt đối vào bản thân, bởi vì khi đó cháu sẽ có niềm tin tuyệt đối vào nhân loại.

Đây quả là một yêu cầu quá lớn, tôi biết, thưa thầy. Nhưng xin thầy cố gắng hết sức mình, nếu được vậy con trai tôi quả là một cậu bé hạnh phúc và may mắn!

SƯU TẦM

MỸ: VÔ SINH ĐƯỢC BỒI THƯỜNG

Giữa tháng 11-2007, tòa phúc thẩm Los Angeles (bang California) đã phán quyết Công ty thực phẩm Dole phải bồi thường thêm 2,5 triệu USD (40 tỷ đồng VN) cho năm công nhân đồn điền trồng chuối ở Nicaragua vì họ đã bị vô sinh sau khi sử dụng thuốc trừ sâu DBCP do công ty cung cấp.

Dole là công ty rau quả lớn nhất nước Mỹ, hiện đang sử dụng 75.000 công nhân trên toàn thế giới. Trong những năm 1970-1980, các đồn điền chuối của công ty ở Nicaragua có sử dụng thuốc trừ sâu DBCP. Sau đó, 12 công nhân bị vô sinh đã đi kiện Công ty Dole và hai công ty hóa chất sản xuất thuốc DBCP là Dow và Amvac với lý do các công ty biết sử dụng thuốc trừ sâu sẽ có nguy cơ gây vô sinh nhưng vẫn che giấu thông tin.

Trước đó 10 ngày, tòa phúc thẩm Los Angeles cũng đã buộc Công ty Dole và Công ty hóa chất Dow bồi thường 3,2 triệu USD (51 tỷ đồng VN) cho năm công nhân nêu trên và một công nhân khác với lý do tương tự. Riêng Công ty Amvac đã thỏa thuận bồi thường 0,3 triệu USD (4,8 tỷ đồng VN) cho nhóm công nhân này trước khi phiên tòa diễn ra.

Theo hồ sơ vụ kiện, giữa những năm 1970, Công ty hóa chất Dow đã cảnh báo Công ty Dole về những nguy hiểm của thuốc trừ sâu DBCP và đã ngưng sản xuất DBCP.

Tuy nhiên, Công ty Dole lại dọa sẽ đi kiện nếu Công ty Dow chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Sau đó, Công ty Dole vẫn tiếp tục đưa thuốc DBCP sang các đồn điền chuối ở Trung Mỹ. Trong khi đó, thuốc DBCP đã ngưng sử dụng ở Mỹ vào năm 1977 vì công nhân sản xuất thuốc ở bang Califorinia đã bị giảm tinh trùng hoặc không còn tinh trùng. Hiện nay, thuốc DBCP đã bị cấm sử dụng trên toàn thế giới.

Phán quyết của tòa có ý nghĩa rất lớn vì đây là lần đầu tiên tòa án ở Mỹ buộc Công ty Dole phải bồi thường cho những tác hại gây ra ở nước ngoài. Đây là vụ kiện đầu tiên trong năm vụ kiện có liên quan đến 5.000 công nhân nông nghiệp ở Ecuador, Nicaragua, Costa Rica, Guatemala, Honduras và Panama bị vô sinh do sử dụng thuốc trừ sâu DBCP. Ngoài Công ty Dole còn có nhiều công ty khác trong danh sách bị đơn.

Trước đây, tòa án ở Nicaragua đã phán quyết buộc Công ty Dole và một số công ty khác phải bồi thường 600 triệu USD (9.600 tỷ đồng VN) cho công nhân đồn điền trồng chuối ở Nicaragua. Tuy nhiên đến nay, phán quyết vẫn chưa được thi hành.

Nguồn: THUVIENPHAPLUAT.COM – LÊ LINH (Theo Latimes, AP, AFP)

NƯỚC MẮT BÀ MẸ 75 TUỔI KIỆN CON TRAI

Mái tóc bạc phơ run rẩy bám vào thành ghế, bà cụ thều thào với Hội đồng xét xử trong tiếng nấc nghẹn: “Xin tòa bảo nó trả phần đất mồ mả tổ tiên để tôi được chăm sóc thờ cúng cho trọn đạo làm người”. Khán phòng yên lặng, những cặp mắt đỏ hoe, nhưng Tuấn vẫn lặng thinh, ngước mắt nhìn trần nhà lơ đễnh…

Trước những lời khẩn thiết của người mẹ già ấy, tất cả mọi người dự khán trong phiên tòa không khỏi chạnh lòng. Thế nhưng, con trai bà vẫn thờ ơ, ngẩng mặt lên như chẳng nghe thấy, chẳng nhìn thấy gì trước sự việc xung quanh. Chỉ có đám con cháu của bà cụ và cũng là ruột rà với bị đơn là không cầm được nước mắt…

Luật sư an ủi bà Vui. Ảnh: V.M

Bà tên Trần Thị Vui, 75 tuổi đang định cư tại Mỹ. Ở cái tuổi xế chiều mà phải lọ mọ đi tìm công lý đã là rất hiếm, hơn thế nữa người bà kiện lại là đứa con trai ruột nên càng thấy đau đớn bội phần.

Xa quê đã lâu, sống nơi đất khách phồn hoa nhưng trong thâm tâm bà lão luôn hướng về quê hương nguồn cuội, nơi chôn rau cắt rốn của mình. Vì muốn đóng góp một phần cho dòng tộc nên bà nghĩ nhiều tới việc thành lập khu mộ làm nơi an nghỉ cuối cùng cho tất cả các thành viên trong họ. Bà còn quan niệm rằng “người đã khuất có nơi an nghỉ ổn định thì linh hồn của họ mới sớm siêu sinh về miền cực lạc”.

Năm 2001, bà bàn với các con về ý định của mình và được các con nhiệt liệt hoan nghênh. Con cái tuy đông nhưng tất cả đã có gia đình riêng và lập nghiệp xa vùng quê Bến Tre, hơn nữa lúc bấy giờ pháp luật Việt Nam chưa cho phép Việt kiều được đứng tên sở hữu nhà đất. Cuối cùng bà thấy “chỉ có mỗi thằng Tuấn là ở quê, nó lại là bác sĩ và được mẹ giúp đỡ tài chính nhiều nhất từ xưa đến giờ nên mẹ sẽ nhờ Tuấn lo hết thủ tục mua bán và đứng tên giấy tờ phần đất thổ mộ này giùm mẹ…”.

Thế rồi mọi chuyện cũng diễn ra xuôi chèo mát mái, bà đã có một khu đất rộng gần 1.000 m2. Tranh thủ thời gian, bà về nước chuyển toàn bộ phần mộ của người thân, tổ tiên về cải táng tại khu “thổ mộ” này.

Nhưng đến năm 2006, trong quá trình tìm kiếm phần mộ cho bà nội Tuấn để mang về yên tịnh tại đây thì bất ngờ thằng con trai ngăn cản. Sau đó, Tuấn khóa cổng rào không cho bất kỳ ai thăm viếng mộ với lý luận: “Tôi đứng tên sổ bộ nên cho hay không là quyền của tôi”.

Quá ngạc nhiên trước thái độ của con trai, bà Vui lật đật bay về nước tìm hiểu sự tình thì Tuấn ngang ngược: “Hồi đó con nghĩ mua miếng đất để làm của chung, nhưng bây giờ quay ngược lại thì là của con chứ không của ai hết…”. Và bà càng đau đớn hơn khi thằng con trai chìa ra tờ giấy chủ quyền của miếng đất, đã bị Tuấn chuyển đổi đứng tên cả vợ con vào từ bao giờ.

“Thôi thì nó đã thế tôi cũng chẳng tính toán, tốt xấu gì cũng là con của mình, có làm ầm lên chỉ tổ xấu hổ thêm. Nhưng tôi thật không ngờ nó cấm cửa cả tôi vào thắp nhang cho tổ tiên dòng họ. Giận quá nên tôi mới làm đơn kiện nó ra tòa đòi lại đất…”, bà lão vừa đưa khăn chậm nước mắt vừa giải thích.

Tại phiên tòa sơ thẩm, tòa án tỉnh Bến Tre cho rằng phía bà Vui không có chứng cứ gì chứng minh bà đã đưa tiền cho ông Tuấn mua giúp đất. Tòa cũng căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử đất mà UBND huyện Giồng Trôm đã cấp cho Tuấn năm 2004 để bác yêu cầu “đòi lại đất” của bà Vui.

“Nó là con của tôi nên có bao giờ tôi nghĩ khi đưa tiền bắt nó ký nhận, hay phải viết bản thỏa thuận đứng tên? Bây giờ ra tòa tôi lấy đâu ra bằng chứng đây?”, bà Vui đau đớn nói. Thế nhưng bà vẫn làm đơn kháng cáo lên tòa Tối cao.

Tại phiên xử ngày 8/12, sau khi nghe hai bên đương sự trình bày, vị chủ tọa cứ đau đáu lập đi lập lại câu hỏi: “Bà là mẹ của bị đơn ư? Mẹ ruột hả?”. Rồi khi nhận được sự khẳng định của bà lão, cả Hội đồng xét xử đưa ánh mắt ái ngại nhìn nhau.

Hồ sơ vụ án vẫn thế, nguyên đơn cũng không xuất trình thêm chứng cứ mới nào chứng tỏ nguồn tiền mua đất là của mình, vị chủ tọa nói như chia sẻ với bà cụ: “Tòa chỉ căn cứ trên pháp lý xem ai là chủ của miếng đất. Bà đã đưa tiền nhưng nó chối thì phải chịu… Nếu nó thật sự lật lọng như vậy tòa cũng chịu thua, không tòa nào có thể xử được. Đây là phạm trù đạo đức của con người, đạo đức của gia đình…”.

Bà cụ với mái tóc bạc phơ run rẩy đứng bám vào thành ghế, miệng cố thều thào với Hội đồng xét xử trong tiếng nấc nghẹn “xin tòa bảo nó trả cho tôi phần đất thổ mộ tổ tiên thôi (hơn 100 m2), để tôi được chăm sóc thờ cúng cho trọn đạo làm người. Còn bao nhiêu nó có thể lấy hết…”.

Cả khán phòng yên lặng, không ai nói với ai một lời. Chỉ có những cặp mắt đỏ hoe và những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt người thân của bà lão. Còn Tuấn vẫn lặng thinh, ngước mắt nhìn trần nhà lơ đễnh…

Dường như bất bình trước thái độ của bị đơn, vị nữ thẩm phán chau mày: “Yêu cầu của mẹ ông là chính đáng, ông là một thành viên trong gia đình chẳng lẽ ông không nhận ra điều đó? Ông cũng có con mà… Tòa chỉ nói về khía cạnh đạo đức cho ông nghe rồi tự lương tâm ông phán xét”. Thế nhưng, người đàn ông ấy vẫn chỉ im lặng.

Tòa phúc thẩm nhận định: “Không có chứng cứ cho thấy bà Vui đã gửi tiền cho Tuấn mua đất… bác yêu cầu của bà Vui, giữ nguyên án sơ thẩm”.

Phiên tòa kết thúc, Tuấn đi như chạy ra khỏi phòng xử, bỏ lại người mẹ già đang từ từ quỵ xuống, khuôn mặt già nua nhạt nhòe nước mắt.

Nguồn: Vũ Mai- VnExpres.NET