CÔNG TY TƯ NHÂN (Private company/privately held company)

Thuật ngữ Công ty tư nhân được hiểu theo hai cách:

  • Thứ nhất: Đó là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước
  • Thứ hai: Đó là những công ty có cổ phần được nắm giữ bởi một số ít các cổ đông và các cổ đông đó không bán cổ phiếu trên thị trường.

Công ty tư nhân có hai nghĩa khác nhau như vậy, nên việc sử dụng thuật ngữ cần thận trọng vì có thể gây hiểu nhầm.

Ở nước xã hội chủ nghĩa như nước ta, công ty tư nhân được hiểu là công ty không thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Còn ở Mỹ, công ty tư nhân thường là những công ty kinh doanh có cổ phiếu không được giao dịch trên thị trường chứng khoán. Chính vì những nghĩa trên, công ty tư nhân có thể là Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, tờ-rớt (trust), hoặc những tên khác.

——————————

CÁC THUẬT NGỮ GIẢI THÍCH HỖ TRỢ

1. Công ty cổ phần

Công ty cổ phần là một dạng tương tự giống công ty hợp danh nhưng vốn được hình thành do các cá nhân đóng được gọi là các cổ đông. Chứng nhận về quyền sở hữu và phần vốn góp được cấp bởi công ty, và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng lợi ích sở hữu của họ cho người khác bằng cách bán các cổ phần cho người khác.

Theo luật doanh nghiệp năm 2006 của Việt Nam, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:

  • Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
  1. Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
  2. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa;
  3. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
  4. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật doanh nghiệp.
  • Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
  • Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.

2. Doanh nghiệp tư nhân (Sole proprietorship/single proprietorship)

Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2006, Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Và mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng kí, và có quyền tăng hoặc giảm trong quá trình hoạt động kinh doanh và phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính. Doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân do không đáp ứng đủ 4 điều kiện để trở thành pháp nhân.

Cần lưu ý rằng trong Luật Doanh nghiệp năm 2006, không có khái niệm Công ty tư nhân. Chính vì vậy cần phân biệt sự khác nhau giữa Doanh nghiệp tư nhân (đã nêu ở trên) và công ty tư nhân.

Trong phạm vi nước ta, khi nói đến công ty tư nhân, chúng ta hiểu là các loại hình công ty không phải là công ty nhà nước.

3. Công ty hợp danh (Partnership)

Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào.

Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược.

Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần.

Hình thức  cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các “thành viên trách nhiệm hữu hạn”, những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy “trách nhiệm hữu hạn” đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.

4. Thị trường chứng khoán (Stock market)

Thị trường chứng khoán là thị trường trên đó giao dịch các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ phái sinh… bao gồm cả chứng khoán niêm yết công khai trên sàn giao dịch chứng khoán và chứng khoán giao dịch không công khai.

Hàng hoá chủ yếu trên các sàn giao dịch chứng khoán lớn thường là cổ phiếu, còn trái phiếu và các công cụ phái sinh khác hay được mua bán trên thị trường OTC hơn. Qui mô của thị trường trái phiếu toàn cầu được ước tính vào khoảng 45.000 tỷ USD, còn qui mô của thị trường cổ phiếu vào khoảng phân nửa con số đó. Qui mô của thị trường các chứng khoán phái sinh vào khoảng 300.000 tỷ USD, tuy nhiên người ta không so sánh trực tiếp nó với 2 thị trường trên vì đó chỉ là giá trị danh nghĩa của chúng, trong khi các con số nói trước đó là giá trị thực của cổ phiếu trái phiếu.

Những người tham gia vào thị trường chứng khoán vô cùng đa dạng, nhưng tựu trung lại có thể chia ra làm 2 loại chính: nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư, trong đó các tổ chức chiếm đa số tính theo khối lượng giao dịch. Giao dịch của các nhà đầu tư này thường không được thực hiện một cách trực tiếp mà thông qua những người môi giới chứng khoán chuyên nghiệp.

Các sàn giao dịch chứng khoán có thể là những sàn giao dịch thực, nơi các giao dịch được thực hiện theo phương thức đấu giá mở bằng lời, NYSE là ví dụ điển hình của một sàn giao dịch loại này. Các sàn giao dịch chứng khoán cũng có thể là những sàn giao dịch ảo, dưới dạng một mạng máy tính lớn, trong đó các giao dịch hoàn toàn được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, NASDAQ là sàn giao dịch ảo lớn nhất thế giới.

Phương thức giao dịch chủ yếu của thị trường chứng khoán là phương thức đấu giá, những người tham gia sẽ tiến hành đặt lệnh, trong đó nêu rõ mức giá mong muốn của mình. Phương thức này giúp đảm bảo tính công bằng cao nhất cho mọi đối tượng tham gia. Khi giá chào mua phù hợp với giá chào bán thì giao dịch sẽ được thực hiện, hay nói cách khác là được “khớp lệnh”.

Mục đích của sàn giao dịch chứng khoán là tạo thuận lợi cho việc giao dịch các loại chứng khoán giữa người mua với người bán, qua đó tạo lập nên một thị trường cho thứ hàng hoá đặc biệt này.

Theo nhà sử học nổi tiếng người Pháp Fernand Braudel, ngay từ thế kỉ 11, ở Cairo, những thương nhân người Hồi giáo và Do Thái đã xây dựng nên những hiệp hội thương nghiệp đầu tiên và có những hiểu biết về các phương thức tín dụng và thanh toán, là những mầm mống cho thị trường chứng khoán sau này. Giữa thế kỉ 13 những nhà ngân hàng ở Venetia bắt đầu tiến hành những giao dịch đối với các chứng khoán do Chính phủ phát hành, tuy nhiên năm 1351, chính quyền Venetia đã ra lệnh nghiêm cấm việc phổ biến những tin đồn có mục đích là giảm giá trị các quỹ do Chính quyền sở hữu. Những nhà ngân hàng ở Pisa, Verona, Genoa và Florence thuộc Italy đã bắt đầu tiến hành mua bán chứng khoán do Chính phủ phát hành từ thế kỷ 14, điều này thực hiện được là vì đây là những thành bang độc lập, không nằm dưới quyền cai trị của một công tước nào mà bởi một hội đồng những người có ảnh hưởng.

Sau đó, chính người Hà Lan khởi xướng ra các công ty cổ phần, mà cổ đông có thể đầu tư vào để chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ. Năm 1602, Công ty Đông Ấn đã phát hành những cổ phiếu đầu tiên ra Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam. Đó là công ty đầu tiên trên thế giới phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam cũng được coi là sàn giao dịch đầu tiên trên thế giới hoạt động một cách liên tục. Chính người Hà Lan là những người nghĩ ra những nghiệp vụ giao dịch chứng khoán như “bán khống”, “giao dịch quyền chọn”, “nghiệp vụ swap nợ-cổ phần”, “nghiệp vụ ngân hàng thương mại” và nhiều công cụ đầu cơ khác mà cho đến ngày nay người ta vẫn còn sử dụng.

Ngày nay thì mọi quốc gia phát triển và hầu hết các nước đang phát triển đều có thị trường chứng khoán, một thị trường không thể thiếu với mọi nền kinh tế muốn phát triển vững mạnh vì các lý do sau:

Thứ nhất, thị trường chứng khoán là một trong những kênh huy động vốn quan trọng nhất của các công ty, giúp các công ty có thể niêm yết công khai, tăng thêm vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh. Tính thanh khoản mà thị trường chứng khoán tạo ra cho phép các nhà đầu tư nhanh chóng va dễ dàng bán các loại chứng khoán khi có nhu cầu. Đó chính là một nét hấp dẫn của việc đầu tư vào cổ phiếu so với các hình thức đầu tư kém thanh khoản khác như đầu tư vào bất động sản chẳng hạn.

Thứ hai, thị trường chứng khoán được coi là một chiếc phong vũ biểu của nền kinh tế. Lịch sử đã chỉ ra rằng, giá cổ phiếu và các loại tài sản tài chính khác là một phần quan trọng của hoạt động kinh tế và nó có thể gây ảnh hưởng hoặc là một thước đo đánh giá kỳ vọng của xã hội. Giá ổ phiếu tăng thường liên quan đến việc tăng lượng vốn đầu tư vào các hoạt động kinh doanh và ngược lại. Do đó, các ngân hàng trung ương luôn để mắt tới việc kiểm soát và ứng xử của thị trường chứng khoán và đến sự hoạt động trơn tru của hệ thống tài chính vì sự ổn định tài chính luôn là một trong những chức năng quan trọng nhất của các ngân hàng trung ương.

5. Cổ phần (Stock; Share)

Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó. Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng cho phép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là:

* Hưởng một phần tương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế gọi là Cổ tức;
* Quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thường niên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ;
* Quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn;
* Và một số quyền khác tùy theo qui định pháp luật.

Cổ phần có giá trị và có thể được trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung, tùy loại hình doanh nghiệp và trạng thái cổ phần đã được niêm yết hay chưa. Giá của cổ phần trên thị trường nhìn chung là liên tục thay đổi tùy thuộc vào quan hệ cung-cầu, lòng tham-sợ hãi, và nhận thức chung liên tục thay đổi của cả thị trường về các điều kiện thương mại cũng như hướng phát triển của doanh nghiệp, của nền kinh tế, sự ổn định chính trị và nhiều yếu tố liên quan mật thiết khác nữa.

Các dao động liên tục của giá cổ phần có một phần nguyên nhân do các lực lượng thị trường liên tục tương tác để tìm kiếm (còn gọi là hình thành) một giá trị cân bằng, biểu hiện qua “giá cân bằng.”

Trong các nền kinh tế phát triển nơi mà các thị trường tài chính và thị trường vốn vận hành hiệu quả, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp, và từ đó có thể đánh giá giá trị của cả một nền kinh tế. 

6. Cổ đông (Shareholder)

Cổ đông có thể là một cá nhân hoặc một công ty sở hữu hợp pháp một lượng cổ phiếu nhất định của một công ty cổ phần. Các cổ đông thường được hưởng một số đặc quyền nhất định tùy thuộc vào loại cổ phiếu mà họ nắm giữ, trong đó có quyền biếu quyết đối với các vấn đề liên quan đến bầu cử hội đồng quản trị, quyền được hưởng thu nhập từ hoạt động của công ty, quyền được mua cổ phiếu mới phát hành của công ty, và quyền đối với tài sản của công ty nếu công ty tiến hành giải thể. Tuy nhiên quyền của cổ đông đối với tài sản của một công ty chỉ được xét đến sau khi công ty thanh toán xong với các chủ nợ. Điều đó có nghĩa là cổ đông có thể sẽ không nhận được gì nếu như công ty giải thể sau khi phá sản, không có khả năng trả nợ, cho dù sau đó cổ phiếu có thể sẽ lại có giá trị nếu công ty tiến hành cơ cấu lại nợ. Cổ đông hay người nắm giữ cổ phần cũng có thể được coi là một bộ phận nhỏ trong số các stakeholders. Stakeholder có thể là bất cứ ai có quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp tới một thực thể kinh doanh.

Mặc dù các giám đốc và nhân viên của một công ty luôn luôn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hoạt động nhằm đem lại lợi ích lớn nhất cho cổ đông, nhưng thường các cổ đông lại không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ tương tự. Tuy nhiên trong một vài trường hợp, một số tòa án có thể sẽ ràng buộc trách nhiệm giữa các cổ đông. Ví dụ ở California, các cổ đông lớn của công ty bi ràng buộc bởi trách nhiệm không được có các hành động gây ảnh hưởng xấu đến giá trị cổ phiếu của các cổ đông nhỏ. Cổ đông lớn nhất (xét về tỉ lệ sở hữu công ty) thường là các quỹ tương hỗ (mutual funds).

© SAGA – saga.vn

TÀI SẢN VÔ HÌNH (Intangible asset) VÀ TÀI SẢN VÔ HÌNH XÁC ĐỊNH (Identifiable intangible assets)

LÊ PHƯƠNG TRANG 

Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất cụ thể. Ngày nay quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu, bản quyền, bí quyết kĩ thuật, thương hiệu, uy tín… là những tài sản vô hình phổ biến của doanh nghiệp. Có thể phân biệt được một cách rõ ràng một tài sản cố định vô hình của doanh nghiệp hay không thì phụ thuộc vào các đặc tính của tài sản đó. Uy tín của công ty có thể coi là một tài sản không xác định vì nó luôn gắn liền với sự tồn tại của công ty chừng nào công ty còn tồn tại. Tuy nhiên nếu công ty kí kết hợp đồng sử dụng bằng phát minh sáng chế của một công ty khác và không có ý định kéo dài hiệu lực của hợp đồng thì công ty chỉ được sử dụng bằng phát minh sáng chế này trong một thời hạn xác định. Khi đó bằng phát minh sáng chế trở thành một tài sản vô hình của công ty.

Mặc dù tài sản vô hình không có hình thái vật chất cụ thể như các trang thiết bị máy móc nhà xưởng khác của công ty nhưng nó lại rất có giá trị đối với công ty và có thể trở thành nhân tố quan trọng trong sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Ví dụ một công ty như Coca-Cola khó có thể đạt được vị trí như hiện tại nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các nhãn hiệu. Nhãn hiệu này dù không có hình thái vật chất cụ thể để có thể cầm nắm được song nó lại được thừa nhận, được nhiều người biết đến, và có tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, làm tăng doanh số bán hàng trên phạm vi toàn cầu. Chính vì thế việc sở hữu một nhãn hiệu mạnh là điều rất có ý nghĩa đối với các công ty lớn như Coca-Cola.

——————————-

Tài sản vô hình xác định là loại tài sản mà giá trị của chúng có thể được định rõ thông qua những nguyên tắc của kế toán. Chúng có thể được vốn hóa trực tiếp từ những khoản chi phí đã chi ra (trường hợp phát triển nội bộ) hoặc ghi theo giá mua (trường hợp mua ngoài). Dù được hình thành từ nguồn nào thì cũng được kế toán ghi nhận là một tài sản của doanh nghiệp.
Những cơ sở để ghi nhận tài sản vô hình xác định:
– Tài sản đó phải được xác định và nhận biết một cách cụ thể
– Tài sản đó phải đáp ứng được các tiêu chuẩn về tài sản vô hình đã quy định trong chế độ kế toán hiện hành của nước sở tại.
– Tài sản đó phải thuộc quyền sở hữu hợp pháp của doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể chuyển giao tài sản cho bên thứ 2 một cách hợp pháp.
– Phải có bằng chứng đáng tin cậy về sự tồn tại của tài sản đó trong doanh nghiệp
– Những tài sản này thường mang lại lợi ích lớn hơn giá trị của bản thân tài sản đó (tức số chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được tài sản).

Một số tài sản vô hình xác định như:
– Tài sản vô hình liên quan tới hoạt động Marketing: thương hiệu, nhãn hiệu, logo…
– Tài sản vô hình liên quan tới kỹ thuật công nghệ: giấy đăng ký quy trình sản xuất, giấy đăng ký bản quyền, tài liệu về kỹ thuật công nghê ( những ghi chép trong phòng thí nghiệm, bí quyết kỹ thuật…)
–  Những tài sản vô hình liên quan tới nghệ thuật như: Các tác phẩm hay bản quyền tác giả…
– Tài sản vô hình liên quan tới việc xử lý dữ liệu: Những phần mềm máy tính có bản quyền, cơ sở dữ liệu số, Phần mềm kiểm soát mạng tích hợp nội bộ…
– Tài sản vô hình liên quan tới công việc thiết kế kỹ thuật: Kiểu dáng công nghiệp, đăng ký bản quyền sản phẩm, bí quyết thương hiệu, bản vẽ và biểu đồ kỹ thuật, bản thiết kế, chứng nhận quyền sở hữu…
– Tài sản vô hình liên quan tới khách hàng: danh sách khác hàng, các hợp đồng với khách hàng, quan hệ khách hàng…
– Tài sản vô hình về nguồn lực: đội ngũ lao động lành nghề, hợp đồng lai động, hợp đồng liên kết v.v…
Trên thị trường chứng khoán, tài sản vô hình xác định có thể được coi là một trong những nhân tố tác động tới thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Chẳng hạn một doanh nghiệp bỏ ra lượng chi phí nhất định cho việc nghiên cứu khoa học để có thể tìm ra một bí quyết mà nhờ đó lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên đáng kể (bí quyết sản xuất nước giải khát Cocacola là một điển hình). Động thái này sẽ làm giá cổ phiếu tăng vì người nắm giữ cổ phiếu có khả năng thu được những khoản lợi tức cao hơn trước.

© saga.vn

HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT)

TRẦN TRÍ DŨNG

Giả sử S là giá trị của một tài sản và S dao động bất định phụ thuộc vào tác động của thị trường. T là thời gian đáo hạn. Một quyền chọn là một hợp đồng giữa người nắm giữ và người viết, bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm t = 0, trong đó người nắm giữ quyền chọn có quyền đòi một lợi nhuận X ngẫu nhiên nào đó. X phụ thuộc vào sự tiến triển của S tại một thời điểm trong tương lai, bao gồm cả thời điểm T.

Như vậy, quyền chọn bản chất là một vụ cá cược tinh vi và có thể kết luận: hợp đồng quyền chọn phải có một giá trị nhất định đối với người nắm giữ nó. Người viết hợp đồng có thể đánh phí rất cao để phòng vệ nhằm chống lại rủi ro chi trả nhiều một cách thường xuyên. Nhưng nếu như vậy thì người viết hợp đồng quyền chọn dường như có lợi hơn và thị trường sẽ đổ xô bán quyền chọn chứ không mua. Ngược lại, nếu người bán quyền chọn không đưa ra một mức giá đủ cao thì những khách hàng tham vọng sẽ tìm cơ hội mua quyền chọn đó với số lượng lớn. Cả hai trường hợp trên đều là ví dụ về đầu cơ, trong khi những nhà đầu tư khác trên thị trường thì đều mong muốn một cơ chế xác lập giá công bằng.

Bản chất là một công cụ tài chính, ưu điểm của quyền chọn thể hiện trong 3 hình thức giao dịch của 3 nhóm người trên thị trường quyền chọn:

Người phòng hộ. Những người này mua quyền chọn như một dạng hợp đồng bảo hiểm trước những thay đổi bất thường của thị trường. Nếu một công ty có quan hệ ngoại thương thì nó sẽ mua hợp đồng quyền chọn tiền tệ để được chi trả một khoản chắc chắn khi tỷ giá hối đoái trở nên bất lợi. Theo cách này, bạn có thể phòng vệ nhiều hay ít tùy thuộc vào việc bạn mua quyền chọn trị giá bao nhiêu. Ví dụ, nếu ta muốn nhập khẩu 1 tỷ yên hàng điện tử của Nhật trong thời hạn 1 năm kể từ bây giờ với tỷ giá 200 yên/bảng, có thể thực hiện một quyền chọn cam kết chi trả cho bạn 1 tỷ yên sau một năm nếu tỷ giá hối đoái chỉ còn 181.23 yên/bảng tại bất kỳ thời điểm nào trong 1 năm đó.

Điều này có nghĩa là, khi giá đồng yên tăng tương đối với đồng bảng thì có thể thực thi quyền chọn và mua hàng hóa. Còn nếu tỷ giá tiếp tục duy trì ở mức thấp thì sẽ mất số tiền bỏ ra để mua quyền chọn và sẽ mua hàng tại tỷ giá đã được sẵn sàng chi trả. Chi phí của chiến lược phòng hộ này chỉ là mua một quyền chọn với giá tương đối rẻ so với những biến động lớn của thị trường tiền tệ.

Nhà đầu cơ. Là những người đánh cược vào sự biến động của giá các loại tài sản. Họ tham gia vào một vị thế nhất định thị trường tùy thuộc vào niềm tin của mình, lỗ hoặc lãi hoàn toàn ngẫu nhiên. Họ coi chứng khoán phái sinh như một công cụ tăng ga cho hoạt động đầu tư của họ. Bởi vì các sản phẩm phái sinh từ các tài sản cơ sở có khả năng mang lại lợi nhuận nhiều hơn chính các tài sản cơ sở đó.

Ví dụ, bạn đầu tư 10.000 bảng vào một cổ phiếu trị giá 10 bảng để mua 1.000 cổ phiếu đó. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng trong vòng một năm, bạn lãi được 1.000 bảng. Còn nếu bạn mua một hợp đồng quyền chọn để được quyền mua cổ phiếu trên với giá 10 bảng trong một năm, và bạn phải mất chi phí, giả sử, 0.5 bảng một cổ phiếu, bạn có thể mua được 20.000 nghìn cổ phiếu. Nếu giá cổ phiếu tăng lên 11 bảng, bạn thực thi quyền chọn, mua 20.000 cổ phiếu với giá 10 bảng và bán lại chúng trên thị trường với giá 11 bảng, bạn sẽ lãi 10.000 bảng. Đương nhiên, nếu giá cổ phiếu tụt xuống chỉ 9.99 bảng, bạn sẽ mất toàn bộ số tiền bỏ ra mua quyền chọn.

Nhà cơ lợi phi rủi ro. Là những người quan sát thị trường và cố gắng tìm ra những tình huống thu lời phi rủi ro. Họ kết hợp việc mua hàng hóa tại một thị trường này và bán lại tại một thị trường khác sao cho độ chênh lệch giá đảm bảo một khoản lãi.

Một ví dụ đơn giản là khi một cổ phiếu được giao dịch tại hai mức giá khác nhau trên hai thị trường. Nếu một cổ phiếu được giao dịch tại London với giá 100 bảng và 285 mác Đức tại Frankfurt, trong khi tỷ giá hối đoái là 2.82 mác/bảng, thì cổ phiếu đó rẻ hơn tương đối ở London. Bạn có thể mua 1.000 cổ phiếu tại London và bán lại chúng tại Frankfurt rồi đổi mác Đức sang bảng và thu được một khoản 1063.3 bảng mà không phải chịu bất kỳ rủi ro nào. Những cơ hội như vậy là vô cùng hiếm và ngay lập tức nó bị chộp mất bởi những người săn cơ hội kiếm lời. Khi mọi người mua cổ phiếu thì giá sẽ tăng trên thị trường London và khi mọi người bán cổ phiếu đó tại Frankfurt thì giá ở đây cũng sẽ giảm đi cho đến khi nào giá ở hai nơi được xác lập cân bằng.

SOURCE: SAGA.VN

ĐẤU GIÁ HÀ LAN – LỊCH SỬ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG

Đấu giá là quá trình mua và bán hàng hóa bằng cách đưa các mức giá cao dần, nhận giá đặt và bán cho bên nào có giá đặt tốt nhất. Trong lý thuyết kinh tế, đấu giá là phương pháp xác định giá trị của một hàng hóa có mức giá không thể xác định hoặc biến đổi quá nhiều. Bán đấu giá được thực hiện công khai.
Những hình thức đấu giá đầu tiên có thể tính về những năm 500 B.C. Cuộc đấu giá có thể là đấu giá đặt trước có hoặc không có mức tối thiểu, đấu giá tuyệt đối,… Chẳng hạn trong đấu giá đặt trước, sẽ có lệnh tối thiểu hoặc giá đặt trước, nếu quá trình đặt giá không đạt đến mức tối thiểu đó, sẽ không có giao dịch (nhưng người muốn đưa sản phẩm/hàng hóa ra đấu giá sẽ phải trả phí cho bên tổ chức). Trong đấu giá tuyệt đối hoặc đấu giá không đặt trước, việc bán là chắc chắn, chỉ có duy nhất ở mức giá nào là cần xác định qua đấu giá.

auction1.jpgỞ Hà Lan, đấu giá có một truyền thống lâu đời. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, những nhà cầm quyền địa phương, quyền của các lãnh chúa như quyền đánh bắt cá, đã được phân xử theo hình thức đấu giá. Phiên đấu giá hàng hóa đầu tiên được tổ chức dành cho các loại hàng hóa nhanh hỏng, có thời gian tồn tại ngắn, cần được lưu thông ngay, tuy nhiên giá của chúng rất khó được thiết lập. Từ giữa thế kỷ thứ 15, hầu hết các cuộc đấu giá được thực hiện tại các chợ cá. Các tác phẩm nghệ thuật hoặc các hàng hóa cao cấp chỉ được bắt đầu được bán đấu giá từ thế kỷ 17.
Trong xã hội của Hà Lan, đấu giá đã trở nên rất phổ biến. Gần như tất cả mọi thứ đều được bán theo phương thức đấu giá: cá voi được bắt từ biển, lâu đài, biệt thự, các thiết bị, máy móc, các bộ phận của một con tàu, chiến lợi phẩm từ chiến tranh, các trang trại của các ông chủ trang trại bị vỡ nợ, các vật bị cầm cố quá hạn, củ hoa Tulip, hay các vật liệu có nguồn gốc từ động vật, đến các loại hàng hóa cao cấp như các sáng tác văn chương hay các tác phẩm hội họa. Thật ấn tượng khi chúng ta liệt kê được một danh mục các loại hàng hóa mà người Hà Lan đem đi đấu giá. Chỉ cần xem qua một tờ báo địa phương của Hà Lan, mỗi ngày có nhiều rất nhiều thành phố ngoài bốn thành phố lớn của Hà Lan là Amsterdam, The Hague, Leyden và Rotterdam tổ chức vài cuộc đấu giá.Vào năm 1720, xuất khẩu của Hà Lan tăng lên 10%, mà trong đó đấu giá chiếm một tỷ lệ rất lớn. Về cơ bản, các mặt hàng như cá, rượu, đường, gỗ, đã tăng lên rõ rệt. Nguyên nhân chính của việc đấu giá trở nên phổ biến chính là lý thuyết của Ricard đã được công nhận vào đầu thế kỷ 18.
Khi bắt đầu, các cuộc đấu giá có thủ tục rất phức tạp. Thông thường khi nhắc tới một cuộc đấu giá, người ta thường nghĩ ngay tới một số lượng người đặt giá (bidders) cạnh tranh nhau và tăng giá tới mức khi một người thắng và kết thúc với việc trả giá cao nhất cho món hàng được đem ra đấu giá. Hình thức này còn được gọi là đấu giá tăng dần hay đấu giá mức một. Đấu giá mức thứ 1, đấu giá giảm dần, người thắng cuộc sẽ là người trả giá cao nhất (ngày nay được biết đến là đấu giá kiểu Anh) là một hình thức đấu giá dường như phổ biến nhất.
Đấu giá giảm dần (hay còn được gọi là “mineing”, đấu giá mức hai), trong đó người thằng cuộc là người khẳng định hàng hóa đang được đấu giá là của mình, hình thức này thường được sử dụng phổ biến để bán cá, cũng như các loại mặt hàng khác. Đấu giá giảm dần đã và đang tiếp tục được xem như một hiện tượng đặc trưng của Hà Lan và hình thức đấu giá này đã được người Hà Lan giới thiệu rộng rãi. Ở Amsterdam, vào giữa thế kỷ thứ 17, loại đấu giá mức hai này mới được sử dụng để bán các hàng hóa như: tàu, gỗ, cá…
Khái niệm về đấu giá Hà Lan:
bid.jpgĐấu giá Hà Lan là một hình thức đấu giá mà trong cuộc đấu giá này, một món hàng được chào với một mức giá rất cao. Giá ban đầu được đưa ra này cao hơn rất nhiều giá trị món hàng và chẳng có người bán nào hy vọng bán được món hàng với giá cao như vậy. Vì bidders biết số lượng của lệnh đặt giá (bids), bids không được đóng dấu như trong các hình thức đấu giá khác.Giá được giảm xuống từ từ cho đến khi một bidder quyết định cái giá hiện tại đó. Bidders sẽ trả cái giá đó và trở thành người thắng cuộc.
Ví dụ: Một công ty tiến hành bán một chiếc xe công đã dùng theo hình thức đấu giá Hà Lan, giá ban đầu được ra là 15000 USD, bidders sẽ đợi đến khi giá giảm dần xuống tới 14000 USD, 13000 USD… 9000USD. Khi mà sự ra giá đạt tới 9000 USD mà có một bidder nào đó quyết định mua và ông ta là người đầu tiên làm thế thì ông ta thắng cuộc.
Đấu giá Hà Lan (Dutch Auction) có thể được biết đến trên thế giới với các tên như:

  • Đấu giá giảm dần (descending- price auction)
  • Dutch Tulip Auction: đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán các loại hoa ở Hà Lan mà đặc biệt là hoa Tulip.
  • Tulip Auction
  • Vickrey Auction: William Vickrey là nhà kinh tế nhận được giải Nobel kinh tế năm 1996, ông đã phát minh ra Vickrey Auction, nó cũng được coi là một dạng của đấu giá Hà Lan.

Quy trình một cuộc đấu giá Hà Lan:

Đấu giá Hà Lan thường được tổ chức bởi các nhà tổ chức đấu giá lớn và có nhiều kinh nghiệm.

  • Thông thường cuộc đấu giá thường được thông báo cho bidders. Họ sẽ tiến hành trưng bày các hàng hóa được đấu giá để những người tham gia đấu giá có cơ hội xem xét các hàng hóa mà họ sẽ mua. Trước mỗi cuộc đấu giá, người tổ chức sẽ công bố số lượng gói hàng đem bán, giá trị bán lẻ, giá cược thế chấp, độ giảm giá cược, và thời gian đóng cửa đấu giá.
  • Bằng việc đặt cược giá, bạn đồng ý rằng bạn có thể và dự định mua.
  • Đầu tiên, hàng hóa được chia nhỏ thành các. Ví dụ: Auctioners muốn bán 5 thùng hoa Tulip với một mức giá X, và người mua đầu tiên chỉ mua 3 thùng.
  • Trong cuộc đấu giá, giá mở đầu thường được đưa ra rất cao. Mức giá này thường không có người nào mua nổi.Tiếp theo mức giá này được giảm dần với một mức định trước. Mức định trước này có thể hiều là một mức giảm định trước, một mức thời gian định trước, tùy theo cuộc đấu giá khác nhau mà các mức quy định này khác nhau. Auctioners đưa ra giá và chờ người nào đó đồng ý. Nếu không có ai đồng ý thì anh ta sẽ giảm giá theo mức đã định và hỏi lại các bidders. Mức giá cứ giảm dần cho đến khi một người mua xác nhận sản phẩm là của ông ta bằng cách kêu lên “mine”, hoặc ấn một cái nút để dừng một cái đồng hồ tự động đang chạy. Nếu bidder là người đầu tiên ra quyết định thì anh ta là người thắng cuộc. Người mua phải trả mức giá mà anh ta quyết định với một lượng hàng xác định. Cuộc đấu giá sẽ tiếp tục nếu vẫn còn hàng hóa cùng loại. Bidders còn lại tiếp tục tham gia đấu giá. Kết quả của quá trình đấu giá này, hàng hóa sẽ được bán với các mức giá khác nhau, các bidders khác nhau, và số lượng khác nhau, mà người đầu tiên quyết định giá sẽ là người trả giá cao nhất và người thắng cuộc cuối cùng là người trả giá thấp nhất. Ví dụ: Công ty trên không phải bán 1 ôtô mà là 3 chiếc ôtô đã dùng. Bidder A là người quyết định mua đầu tiên với mức giá là 9000 USD, tuy nhiên anh ta chỉ mua một chiếc ôtô, điều đó có nghĩa là phiên đấu giá chưa kết thúc. Bidder B có thể chờ mứ c giá giảm xuống 8000 USD thì ông ta mới ra quyết định. Lúc này còn một chiếc xe và một bidder nào đó có thể chờ giá giảm xuống 7000 USD và ra quyết định. Như vậy, bidder A đã mua chiếc xe với giá là 9000 USD- cao nhất và Bidder C mua chiếc xe với giá thấp nhất 7000 USD. Lưu ý là những chiếc xe này tương tự nhau.
  • Thời gian diễn ra cuộc đấu giá rất ngắn, mọi người tham gia cuộc đấu giá thường im lặng để chờ đến mức giá mà họ có thể quyết định mua. Điều này hoàn toàn ngược lại với không khí cạnh tranh sôi nổi của đấu giá tăng dần.
  • Khi hàng hóa đã được đem ra đấu giá và được mua hết thì cuộc đấu giá kết thúc.

auction2.jpg

Đặc điểm của đấu giá Hà Lan:

  • Hàng hóa được bán theo hình thức này thường là các hàng hóa giống nhau, có số lượng lớn hoặc hàng hóa mau hỏng.
  • Đấu giá Hà Lan có điểm đặc biệt là có nhiều hơn một gói hàng được đem ra bán, và có thể có nhiều người chiến thắng

Ưu điểm của Đấu giá Hà Lan :

Theo quy trình của đấu giá Hà Lan có thể khiến chúng ta nghĩ rằng người bán có thể bị lỗ tiền, nhưng sự thực thì họ thường được nhiều tiền hơn kiểu đấu giá leo thang truyền thống. Với một cuộc đấu giá leo thang, bidders tăng giá nhưng hiếm khi họ đạt đến mức giá trị thực của hàng hóa. Họ không có lý do để phải hành động thật nhanh vì họ biết chính xác khi nào thì cuộc đấu giá kết thúc và họ thường đợi đến phút cuối và chỉ tăng giá một chút. Tuy nhiên trong đấu giá Hà Lan, bidders sẽ hành động thật nhanh vì họ không biết khi nào thì cuốc đấu giá kết thúc. Vì vậy dù giá đang giảm thay vì tăng giá, bidders sẽ kết thúc việc trả giá với giá thậm chí cao hơn giá trị món hàng.
Tính cạnh tranh trong đấu giá Hà Lan là cạnh tranh ngầm giữa bidders muốn sở hữu món hàng diễn ra rất mạnh mẽ. Mức giá càng giảm thì bidders càng muốn mua và tính cạnh tranh ngày càng tăng.
Nhược điểm của Đấu giá Hà Lan :

  • Vì tính chất đặc biệt của đấu giá Hà Lan nên các cuộc đấu giá rất khó tổ chức. Auctioner phải là những người có kinh nghiệm và chuyên nghiệp thì mới điều hành được phiên đấu giá.
  • Số lượng Bidders tham gia cuộc đấu giá thường bị hạn chế.

Trường hợp sử dụng:
Thông thường, đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán các loại hàng hóa có giới hạn tồn tại có nghĩa là các loại hàng hóa nhanh hỏng. Bên cạnh đấu giá Hà Lan thường được sử dụng để bán hoa tại Hà Lan, còn được sử dụng để bán cá tại Anh và Isarel, thị trường tín dụng ở Rumani, trao đổi ngoại thương ở Bolivia, Jamaca, Zambia…
Đấu giá Hà Lan thường được áp dụng trong trường hợp một hàng hóa không được chấp nhận khi đưa ra một mức giá cao hoặc một hàng hóa muốn được bán đi thật nhanh.
Trong giai đoạn hiện nay , đấu giá Hà Lan còn được xem là kiểu đấu giá trực tuyến và trở nên khá thịnh hành trên các trang web như Ebay, Google…

Boddie © SAGA 12/2007 – http://www.saga.vn

THỰC TRẠNG TỰ DO HÓA LÃI SUẤT TỪ KHI ÁP DỤNG CƠ CHẾ LÃI SUẤT THỎA THUẬN

Lộ trình tự do hoá lãi suất
Năm 2006, ngành ngân hàng đã có bước tiến dài về môi trường pháp lý. Cơ chế tín dụng, cơ chế bảo đảm tiền vay được hoàn thiện theo hướng một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp vay vốn. Mặt khác, mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn cho toàn hệ thống. Chính sách tiền tệ được điều hành một cách thận trọng, linh hoạt và phù hợp với diễn biến thực tế. Chính vì vậy việc cho áp dụng lãi suất thỏa thuận, bước đột phá thực hiện tự do hóa lãi suất, lãi suất trên thị trường vẫn tương đối ổn định. Lãi suất VND có xu hướng tăng nhẹ phản ánh đúng quan hệ cung cầu. Mức tăng khoảng 0,05 – 0,15%/tháng đối với các kỳ hạn, lãi suất ngoại tệ có xu hướng giảm nhẹ phù hợp với lãi suất thị trường quốc tế. Chênh lệch giữa VND và USD khá rộng, khoảng 5%/năm, nhờ đó đã hạn chế chuyển dịch từ VND sang USD.
Một tháng sau khi áp dụng cơ chế lãi suất thoả thuận, mục tiêu điều hành tỉ giá linh hoạt sát thực với diễn biến thị trường. Biên độ tỉ giá mua bán giao ngay giữa VND với USD so với tỉ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng được nới lỏng từ +0,1% lên +-0,25%.
Tuy được nới lỏng, song tỉ giá biến động không nhiều. Tỉ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng chỉ tăng 1,97% so với năm 2005. Điều đó cho thấy việc điều hành tỉ giá vừa phản ánh xu hướng biến động của đồng USD trên thị trường quốc tế,vừa phản ánh sát thực sức mua của VND. Cùng với việc giảm tỉ lệ kết hối từ 40% xuống còn 30% năm 2005 và giảm xuống bằng 0% năm 2006, việc đổi mới cơ chế quản lý ngoại hối theo hướng thông thoáng nhất là đối với chính sách kiều hối đã góp phần ổn định thị trường ngoại hối. Theo đó, doanh nghiệp có quyền chủ động bán ngoại tệ cho ngân hàng thương mại hay để trên tài khoản theo yêu cầu kinh doanh. Ngân hàng nhà nước cũng sửa đổi bổ sung quy định về trạng thái ngoại hối của ngân hàng thương mại; sửa đổi bổ sung quyết định hoạt động của bàn thu đổi ngoại tệ…đảm bảo phù hợp hơn với thực tiễn hiện nay. Tác động tích cực vào ổn định tỷ giá trên thị trường đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp.
Trong điều kiện cung cầu ngoại tệ còn mất cân đối. Việc thu hút được hơn 2,4 tỉ USD kiều hối và lượng ngoại tệ các ngân hàng thương mại mua được của khách hàng tăng khoảng 28% so với năm 2005 đã việc làm giảm tâm lý nắm giữ USD, doanh nghiệp xuất khẩu tháo gỡ được khó khăn…
Một vấn đề được đặt ra là sau khi thực hiện cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận thì làm thế nào để ngân hàng nhà tác động có hiệu quả vào lãi suất trong nền kinh tế. Còn đối với các tổ chức tín dụng, trong quá trình hoạt động kinh doanh tiền tệ có lúc thừa vốn chưa cho vay ra được, hay thiếu vốn để cho vay. Số vốn thừa hay thiếu đó gọi là vốn khả dụng. Nếu để tỉ lệ vốn khả dụng quá lớn sẽ dẫn đến kinh doanh thua lỗ, nếu để tỷ lệ quá thấp sẽ giảm khả năng thanh toán. Vì vậy, làm thế nào để quản trị và điều hành có hiệu quả số vốn này.
Việc tác động vào lãi suất trong nền kinh tế cũng như vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng có nhiều nghiệp vụ là: cho vay tái cấp vốn, cho vay tái chiết khấu, nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ SWAP… Đặc biệt có hai thị trường để tác động hữu hiệu vào cơ chế điều hành lãi suất nói trên là: thị trường mở và thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc do ngân hàng nhà nước tổ chức và vận hành. Đây cũng là thị trường mà thông qua đó, ngân hàng nhà nước can thiệp gián tiếp vào thị trường tiền tệ, tác động đến tình hình lãi suất trong nền kinh tế .
a) Về nghiệp vụ thị trường mở (TTM)
Thị trường mở được ngân hàng nhà nước đưa vào hoạt động từ tháng 7/2000 đến năm 2003 được coi là phát triển cao và hoàn thiện một bước quá trình nghiệp vụ thị trường này. Trên cơ sở dự báo vốn khả dụng của các ngân hàng thương mại, ngân hàng nhà nước đã chủ động điều hành thị trường mở để thu tiền về hay bơm tiền ra lưu thông trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường, trong đó chủ yếu là chào mua nhằm tạo diều kiện cho các tổ chức tín dụng có thể mở rộng đầu tư tín dụng. Tuy mới hoạt động được hơn hai năm nhưng công cụ nghiệp vụ thị trường mở đã tỏ ra có hiệu quả trong việc điều hành chính sách tiền tệ, chất lượng đã được nâng lên rõ rệt.
Tính đến đầu năm 2007, có 32 tổ chức tín dụng tham gia thị trường .Từ tháng 7/2005 đến đầu tháng 2/2007, ngân hàng nhà nước đã tổ chức được 64 phiên đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở, với tổng doanh số giao dịch là 5.636 tỉ đồng, trong đó có 24 phiên thực hiện đấu thầu lãi suất, 40 phiên đấu thầu khối lượng. Tổng khối lượng giấy tờ có giá ngân hàng nhà nước đã mua lại trị giá 4.466 tỉ đồng, ngân hàng nhà nước bán ra 1.170 tỉ đồng. Lãi suất hình thành trên thị trường mở bám sát lãi suất thị trường. Lãi suất trong năm 2006 dao động trong khoảng từ 4.9%- 6.3%/năm .Đặc biệt với việc ngân hàng nhà nước thông qua nghiệp vụ thị trường mở cung ứng hơn 5.000 tỉ đồng cho các tổ chức tín dụng đã góp phần thực hiện, chủ trương kích cầu của Chính phủ.
Nếu tính riêng năm 2005, ngân hàng nhà nước đã tổ chức được 48 phiên giao dịch thị trường mở, với tổng khối lượng vốn chính thức giao dịch mua bán là 3833,81 tỉ đồng, trong đó mua có kì hạn 3253,81 tỉ đồng, bán hẳn 470 tỉ đồng, bán có kỳ hạn 150 tỉ đồng và mua hẳn 60 tỉ đồng .
Trong năm 2006, bằng cách tiếp tục duy trì hai phương thức giao dịch là mua có kỳ hạn và bán hẳn, ngân hàng nhà nước đã tổ chức được 85 phiên dịch thị trường mở, gấp 1,3 lần số phiên của hai năm trước đó với tổng khối lượng giao dịch là 9145.53 tỉ đồng, bằng 232.48% so với năm 2005.
Lãi suất trúng thầu trên thị trường mở trong năm 2006 bình quân khi mua vào là 4,9%/năm, tăng 0,09% so với năm 2001 và lãi suất trúng thầu bán ra là 4,7%/năm, giảm 0,54% so với năm trước. Tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp và khách hàng.
Trong 11 tháng đầu năm 2006 , bằng cách tiếp tục duy trì 2 phương thức giao dịch là mua có kỳ hạn và bán hẳn, ngân hàng nhà nước đã tổ chức được 97 phiên giao dịch thị trường mở, với tổng khối lượng trúng thầu là 14428 tỉ đồng, trong đó khối lượng giấy tờ có giá ngân hàng nhà nước mua có kì hạn là 7988,15 tỉ đồng, bán hẳn là 11340 tỉ đồng. Đây là năm có tần suất hoạt động thường xuyên hơn và sôi động nhất có kết quả đạt được cao nhất. Xu hướng đó một mặt cho thấy nghiệp vụ thị trường mở thực sự có hiệu quả trong việc tác động vào vốn khả dụng của ngân hàng nhà nước; mặt khác cũng chứng tỏ thị trường mở hấp dẫn đối với các ngân hàng thương mại trong việc năng động và linh hoạt trên thị trường tiền tệ.
Lãi suất trên thị trường mở cũng giảm dần, phản ánh lãi suất trong nền kinh tế. Trong phiên giao dịch tháng 1/2007, lãi suất trúng thầu xoay quanh mức 4,8%-5,0%/năm, tháng 2/2007 thì xoay quanh mức 4,6%-4,8%/năm thì các phiên giao dịch trong tháng 5/2007 giảm xuống chỉ còn 2,3% – 2,7%/năm.
Mặc dù hoạt động của thị trường mở được đánh giá là sôi động nhất trên thị trường tiền tệ và đã có những thành công nhất định trong hơn 2 năm qua nhưng đến nay việc tổ chức và điều hành thị trường vẫn còn một số tồn tại. Ngân hàng nhà nước đã áp dụng tất cả các phương thức đấu thầu (đấu thầu khối lượng, đấu thầu lãi suất) mà quy chế cho phép. Nhưng việc chỉ đạo lãi suất và khối lượng tại các phiên đấu thầu lãi suất vẫn chưa linh hoạt khiến nhiều tổ chức tín dụng còn dự thầu với tính thăm dò, chỉ có một số ngân hàng bắt đầu có những chuyển biến trong việc đánh giá nhận định thị trường để định lãi suất đặt thầu nhằm đạt kết quả theo mong muốn khi tham gia các phiên giao dịch.
Tốc độ tăng trưởng cung ứng vốn tại nghiệp vụ thị trường mở thấp hơn so với nghiệp vụ cho vay có đảm bảo bằng giấy tờ có giá. Cụ thể là trong khi lãi suất cho vay cầm cố chỉ ở mức 4.8%/năm (được giữ nguyên từ tháng 7/2006 đến nay) thì lãi suất mua các giấy tờ có giá thời hạn 30 ngày trên thị trường mở không ngừng tăng: 4,9; 4,95; 4,99 và 5,01%/năm. Như vậy lãi suất này đã mời các tổ chức tín dụng vay cầm cố bằng giấy tờ có giá chứ không dại gì mà tham gia “mua bán “ trên thị trường mở cho… phức tạp.
Một vấn đề không có trong hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở là sự không tập trung của hệ thống chương trình phần mềm giữa trung tâm thị trường và các thành viên.Khi tham gia đấu thầu trên mạng thường khó thao tác và không thể tự khắc phục mỗi khi có sự cố .
b) Về thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước
Năm 2006 là năm thứ 11 ngân hàng nhà nước đưa vào hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước. Trong năm 2006 qua, ngân hàng nhà nước đã tổ chức được 70 phiên đấu thầu, với tổng số kết quả trúng thầu đạt 12.410 tỉ đồng, chiếm 62% tổng nguồn vốn huy động được của kho bạc nhà nước, gấp hơn 2 lần so với kế hoạch và bằng 214,8% so với năm 2005, đạt mức cao nhất trong 11 năm qua.
Tín phiếu kho bạc qua đấu thầu tại ngân hàng nhà nước không chỉ huy động được hơn 8.400 tỉ đồng vốn, mà lãi suất thấp và chi phí huy động vốn cũng thấp. Nếu như lãi suất bán lẻ trái phiếu kho bạc trong dân hay lãi suất đấu thầu qua Trung tâm giao dịch chứng khoán lên tới 8,1% – 8,6%/năm thì lãi suất đấu thầu tín phiếu kho bạc qua ngân hàng nhà nước chỉ có 5,8% – 5,9%/năm, cao nhất cũng chỉ có 6,1%/năm. Đồng thời chỉ trong 1 – 2 ngày có ngay được 300 – 400 tỉ đồng vốn giải ngân cho các dự án của doanh nghiệp được nhà nước hỗ trợ vốn. Tính đến năm 2006, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước do ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính phối hợp tổ chức đã đạt được thành công lớn ngoài dự kiến.
Phiên đấu thầu thứ 47 trong năm 2006 (tổ chức ngày 1/12/2006) đã có tổng số 15.051,5 tỉ đồng tín phiếu kho bạc nhà nước trúng thầu, so với dự kiến đầu năm khoảng 10.000 – 12.000 tỉ đồng với lãi suất thấp, chi phí giảm thiểu tối đa. Năm 2006, ngân sách nhà nước huy động được gần 160.00 tỉ đồng. Đây là khoảng thời gian có khối lượng trúng thầu lớn nhất trong gần 13 năm qua kể từ năm 1994, khi thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước bắt đầu hoạt động.
Lãi suất trúng thầu tiếp tục có xu hướng giảm dần. Nếu như lãi suất trúng thầu trong quý I/2006 từ 6,1%/năm đến 6,25%/năm, bình quân 6,189%/năm trong cả quý II/2006 đều thường xuyên ở mức 6,25%/năm, đầu quý III là 6,2%/ năm thì liên tục giảm dần xuống còn 4,7%/năm cuối tháng 4/2007 và xoay quanh mức 5%/năm trong các phiên gần đây.
Việc tổ chức thành công hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc nhà nước không chỉ dừng lại ở kết quả trên, mà nó còn cho thấy sự phối hợp chặt chẽ trong việc điều hành chính sách tài chính và chính sách tiền tệ. Nhờ việc linh hoạt trong chỉ đạo lãi suất đấu thầu theo tín hiệu thị trường, không áp đặt như trước đây, linh hoạt trong đưa khối lượng tín phiếu ra đấu thầu thay cho việc cứng nhắc,… đã tạo nên sự hấp dẫn và tham gia nhiệt tình của các ngân hàng thương mại.
Tuy nhiên, cho đến năm 2006, trong tổng số 44 thành viên của thị trường thì mới chỉ 8 thành viên tham gia dự thầu. Nhìn chung khối ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn dè dặt. Một số khối lượng trúng thầu những năm trước nay đã chuyển sang đầu tư vào trái phiếu chính phủ trung và dài hạn cho Quỹ hổ trợ phát triển vay, hay gửi tại các ngân hàng thương mại có lãi suất hấp dẫn hơn. Một mặt do thị trường không sôi động, có một số phiên không có thành viên mua. Hàng hoá giao dịch trên thị trường còn nghèo nàn, kì hạn không đa dạng.

Bảng 3.22. Lãi suất thị trường liên ngân hàng

Chỉ tiêu 01/06/05 31/12/05 31/03/06 30/06/06 30/09/06 31/12/06
LSVNIBOR 1 tháng 6,57 6,71 7,30 6,68 5,36 5,20
Lãi suất TPKB 5,90 6,12 6,25 6,25 4,98 5,10
Lãi suất TTM 4,90 5,00 4,90 4,75 1,59 3,00

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Theo số liệu trên, về cơ bản lãi suất thị trường mở và đấu thầu tín phiếu kho bạc có chiều hướng biến động cùng với lãi suất kinh doanh của các ngân hàng thương mại nhưng có sự chêch lệch về khoảng thời gian và mức độ biến động. Lãi suất VNIBOR, lãi suất trúng thầu tín phiếu kho bạc và lãi suất trúng thầu mua, nghiệp vụ thị trường mở đạt mức cao cuối tháng 3/2006 ,sau đó biến động giảm dần với mức 1%-2%/năm, lớn hơn mức giảm lãi suất tiền gửi của ngân hàng thương mại so với thời điểm 1/6/2005, các lãi suất nói trên đều giảm.
c) Diễn biến trái chiều trên thị trường tiền tệ
Từ tháng 6/2001, lãi suất ngoại tệ đã được tự do hoá, nên theo sát diễn biến trên thị trường thế giới. Trong khoảng thời gian từ thời điểm đó đến nay, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã 4 lần giảm lãi suất chủ đạo đồng USD, từ 1.75%/năm xuống 1.25%/năm , rồi giảm xuống 1%/năm , thấp nhất trong 46 năm của lịch sử nền kinh tế Mỹ.
Ngân hàng Trung Ương Châu Âu cắt giảm lãi suất, mặt bằng lãi suất trên thị trường ngân hàng Việt Nam đã có nhiều biến động. Lãi suất tiền gửi và lãi suất USD ở nước ta liên tục giảm xuống. Lãi suất USD của hầu hết các ngân hàng thương mại đã được cắt giảm mạnh. Ngân hàng Ngoại thương, ngân hàng có lượng giao dịch nhiều nhất (chiếm khoảng 65% toàn hệ thống) hiện nay có mức lãi suất kì hạn 12 tháng là 2,2%. Các ngân hàng lớn như ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Á Châu… đều giảm lãi suất huy động xuống ở mức phổ biến từ 2-2,2%/năm đối với kì hạn tiết kiệm 12 tháng, cho dù vừa qua đã có một số ngân hàng tăng nhẹ lãi suất huy động ngoại tệ, nhưng nhìn chung mức lãi suất huy động ngoại tệ đang ở mức thấp trong nhiều năm gần đây .

Bảng 3.23:Lãi suất tiền gửi USD

  2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Lãi suất tiền gửi USD cao nhất (5/năm) 6,0 4,5 2,2 2,2 2,1 2,3 2,2

Nguồn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Tuy lãi suất ngoại tệ giảm nhưng lãi suất VND torng những tháng đầu năm lại có dấu hiệu tăng nhẹ. Đặc biệt từ nữa cuối năm 2006 sau khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận VND của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, trong 4 tháng đầu năm 2007 lãi suất tiền gửi ngân hàng bằng nội tệ – VNĐ tăng cao lên đến 0,7%/tháng, một số ngân hàng thương mại cổ phần tăng lên tới 0,73%-0,75%/tháng, thậm chí 0,78%/tháng. Sau đó từ tháng 5/2007 lãi suất giảm xuống, giảm nhiều chủ yếu là đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh, còn các ngân hàng cổ phần lãi suất vẫn ở mức khá.
Nhận xét sự biến động trái chiều, cho ta thấy rằng hầu hết các ngân hàng thương mại nước ta tiếp tục có nhu cầu huy động tiền đồng. Đặc biệt vào thời điểm dịp tết Nguyên Đán, nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế tăng, bên cạnh đó lượng khách hàng rút tiền gửi về để phục vụ cho việc chi tiêu trong tết cũng tăng, do đó các ngân hàng phải thực hiện việc tăng lãi suất để “bù đắp” phần vốn đang thiếu hụt chuẩn bị cho những dự án cho vay mới. Một điểm đáng chú ý nữa, cho dù lãi suất USD đang ở mức thấp, các ngân hàng thương mại đều khá “dư giả” về ngoại tệ do đang có một lượng ngoại tệ dự trữ từ trước.
Bên cạnh đó việc giảm lãi suất lần này lại đúng vào dịp cuối năm nên cung ngoại tệ tăng lên nhờ lượng ngoại tệ thu được từ xuất khẩu và kiều hối tăng (đạt khoảng 2,4 tỉ trong năm 2006). Ngoài ra, lượng ngoại tệ của khách du lịch và người Việt Nam ở nước ngoài về quê ăn tết tăng mạnh đã góp phần làm cho cung về USD trên thị trường tiếp tục ổn định.
Việc cắt giảm lãi suất huy động USD trong thời gian qua đã khiến cho mức chênh lệch về lãi suất giữa VND và USD ngày càng nới rộng. Do đó, từ giữa năm 2005, trong năm 2006 và đến đầu năm 2007, người dân thích gửi tiết kiệm bằng VNĐ hơn vì lãi suất cao, còn các doanh nghiệp thì thích vay ngoại tệ hơn vì lãi suất thấp. Điều này còn do tác động của diễn biến tỉ giá ở mức thấp.
Về tỉ giá giữa VND/USD, năm 2005 chỉ tăng có 2,1%. Trong 9 tháng đầu năm 2006 tỉ giá ổn định, chỉ tăng có 1% nhưng trong 3 tháng cuối năm 2006 thì tăng khá. Tính chung cả năm 2006 , đồng đô la Mỹ tăng giá 1,7% so với đồng VN. Tháng 1/2007, tỉ giá cũng chỉ tăng có 0,1%. Đây là khoảng thời gian có mức tăng giá thấp trong nhiều năm qua. Do đó nếu có gửi tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ thì chỉ được hưởng lãi suất 2,0% – 2,5%/năm, cộng với đô la Mỹ lên giá thì tổng cộng chỉ có mức lợi tối đa là 4,0%/năm, trong đó gửi tiền VNĐ có lãi suất tới 9,0%/năm. Hay mua trái phiếu Chính phủ, công trái giáo dục cũng ở mức lãi suất trên 8,4%/năm. Ngược lại, vay vốn ngoại tệ được lợi hơn vì lãi suất tiền vay chỉ có 3,5% – 4,0%/năm, cộng với tỉ lệ trượt giá thì tổng cộng tối đa chỉ có 5,0%/năm, so với lãi suất vay vốn VNĐ lên tới 10%/năm. Điều này cũng giải thích tại sao trong khoảng thời gian từ giữa năm 2005, trong năm 2006 và tháng đầu năm 2007 thị trường tiền tệ diễn biến trái chiều, vốn huy động nội tệ của các ngân hàng tăng nhanh, vốn huy động ngoại tệ tăng chậm và ngược lại.
Tuy nhiên trong những tháng đầu năm 2007 gần đây, lại có hiện tượng đầu tư ngoại tệ tăng nhiệt.Ngay từ đầu tháng 5, khi chỉ số giá bốn tháng đầu năm được công bố là 5,4% thị trường có phản ứng. Tiền gửi bằng VNĐ tại các ngân hàng tuy không giảm nhưng không còn tăng cao như trước, trong khi tiền gửi bằng USD tăng khá nhanh. Xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục khi chỉ số giá của tháng 5 lại tăng thêm 0,9%.
Thực trạng tự do hoá lãi suất
Sự kiện đáng chú ý trong hoạt động của thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung là diễn biến của cuộc đua tăng lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thương mại. Những dấu hiệu của lãi suất quá cao, tín dụng “nóng” được thể hiện ở 3 mặt:

Thứ nhất: khối lượng tiền lưu thông và dư nợ tín dụng tăng cao;

Thứ hai: lãi suất huy động vốn và cho vay vốn liên tục tăng;

Thứ ba: kinh doanh tiền tệ luôn sôi động.

Trong 6 tháng đầu năm 2006, dư nợ cho vay của nền kinh tế chỉ tăng 13,8% đến 30/04/2007, tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng và tín dụng đã lên tới 328,490 tỉ đồng, tăng 15,3% so với 31/12/2006. Trong khi đó, tổng dư nợ tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức ngân hàng và tín dụng chỉ đạt 321,280 tỉ đồng, tăng 9,43% so với cuối năm 2006.
Các ngân hàng thương mại liên tục tung ra các chiến dịch huy động vốn với lãi suất cao , hình thức đa dạng kèm theo khuyến mãi hấp dẫn. Chiếm trên 70% thị phần huy động vốn là các ngân hàng thương mại nhà nước với mức lãi suất lên tới 0,7 – 0,72%/tháng. Chỉ vài ngày sau khi ngân hàng công thương “khai hoả” đợt phát hành kì phiếu đầu tiên của mình trong năm 2003, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển đã tiếp nối bằng cách tung ra một sản phẩm huy động vốn còn ấn tượng hơn với lãi suất huy động (tính theo năm) hấp dẫn hơn, đó là chứng chỉ tiền gửi. Với mức lãi suất trả trước đối với chứng chỉ tiền gửi bằng VNĐ cho các kì hạn từ 12 triệu đến 24 triệu quy theo lãi trả sau vào khoảng 8,4% – 9%/năm, chỉ trong vòng 20 ngày làm việc, tức là chưa đầy một nửa thời gian dự kiến phát hành, ngân hàng này đã “ẵm trọn” 3000 tỉ đồng và phải chấm dứt phát hành vì đã “hoàn thành kế hoạch” theo sự cho phép của ngân hàng nhà nước.
Nhiều tính ưu việt của chứng chỉ tiền gửi và uy tín của ngân hàng là yếu tố đóng vai trò quan trọng vào thành công, nhưng không phủ nhận lãi suất hấp dẫn của chứng chỉ tiền gửi. Sau khi ngân hàng Đầu tư và Phát triển chấm dứt phát hành chứng chỉ tiền gửi, ngày 5/3, Ngân hàng Ngoại Thương thông báo phát hành “Đợt kì phiếu đặc biệt” với lãi suất bậc thang hấp dẫn, số tiền mua kì phiếu được phân thành các mức và càng mua nhiều được hưởng lãi suất càng cao từ 8,49%/ năm, 8,55%/năm đến 8,61%/năm đối với từng mức tiền cho kì hạn 1 năm.
Các ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động vốn tuỳ thuộc vào nhu cầu vốn của họ và là quyền của họ. Tuy nhiên, một khi cuộc chiến đã được khơi ra thì dù muốn hay không muốn cũng phải theo nhưng chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra trở nên đáng lo ngại. Tình trạng thiếu vốn, đặc biệt là vốn dài hạn cho các dự án lớn đã được kí kết, buộc các ngấn hàng phải gia tăng lãi suất huuy động vốn thực tế. Tuy nhiên, nguy cơ tiềm ẩn vẫn có thể xảy ra khi mặt bằng lãi suất huy động vốn tăng nhanh trong khi mặt bằng lãi suất cho vay tăng chậm.
Ngay từ đầu năm nay, lãi suất huy động tiền gởi tiết kiệm đã được các ngân hàng, liêm tục điều chỉnh lãi suất cơ bản, thông tin do cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ tiếp tục điều chỉnh lãi suất cơ bản của đồng USD lên vượt mức 4,5% hiệnnay. Song theo nhìn nhận của các chuyên gia tài chính ngân hàng thì lại không hẳn như vậy. Ngân hàng thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) vừa tăng lãi suất tiền gởi bằng USD ở tất cả các kì hạn từ 0,3%/năm đến 0,85%/năm kể từ ngày 3/3. Ngân hàng Ngoại Thương (Vietcombank) cũng quyết định tăg lãi suất tiền gởi VND lên ở tất cả kì hạn với mức tăng 0,2 – 0,6%/năm từ cuối tháng 2. Nhiều ngân hàng cũng đang rình rập điều chỉnh lãi suất huy động tiền gởi đối với cả VNĐ và USD.
Thực tế, nhiều ngân hàng bất đắt dĩ bước vào cuộc đua này. Theo ông Sơn, phó tổng giám đốc ngân hàng thương mại CP Quốc Tế (VIbank), với các ngân hàngCP mới xuất hiện trên thương trường, lãi suất là công cụ chủ yếu để huy động vốn. Các ngân hàng bạn điều chỉnh tăng lãi suất, không lẽ mình lại đứng yên.
Với việc liên tục đẩy lãi suất tăng cao như hiện nay, các ngân hàng đã tự nay mình vào tình thế khó khăn. Mặt bằng lãi suất huy động chung của các ngân hàng hiện nay ở mức 8,5%/năm, trong khi lãi suất cho vay ở mức hơn 9%/năm. Rõ ràng hiệu quả kinh doanh rất thấp.
Khi tăng lãi suất huy động thì đương nhiên các ngân hàng phải cho đầu ra tăng theo, theo đó các doanh nghiệp đi vay buộc lòng phải cho tăng sản phẩm đầu ra theo tỷ lệ thuận. Do vậy, lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm đi, kéo theo đó là kinh doanh dễ gặp rủi ro, và cuối cùng người cho vay là ngân hàng sẽ gặp rủi ro rất lớn. Tình trạng này sẽ dẫn tới nợ quá hạn trong các ngân hàng tăng lên. Nhu cầu vốn trong nền kinh tế tăng là điều tốt. Người gởi tiền được hưởng lãi suất cao cũng là điều tốt nhưng nếu lãi suất huy động tăng mà lãi suất cho vay không tăng được thì các các trung gian tài chính cần xem xét lại.

Đề tài NCKH- Giải cấp trường – Đỗ Lương Trường

Bản quyền © Đỗ Lương Trường – SAGA, 11/2007- saga.vn

NHỮNG CON SỐ KINH HOÀNG VỀ GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Gọi là các căn nhà dát vàng cũng không xa sự thật, cho dù giá vàng có tăng lên tới 1.000$/oz. (Theo qui cách bọc vàng của đồng hồ cao cấp Thụy Sĩ, Gold-filled cũng chỉ bọc cỡ 8-15 micron độ dày mà thôi!)

Những con số kinh hoàng về giá bất động sản TP.HCM có thể khiến nhiều người không tin. Nhưng bài báo của Tiền Phong (24/12/2007) sẽ buộc chúng ta phải tin! Xin trích lược tóm tắt bài báo dưới đây, có tiêu đề: “1m2 đất đòi giá hơn 1,7 tỷ đồng!

Theo Tiền Phong – Căn nhà mặt tiền đường Đồng Khởi (TP Hồ Chí Minh) có chiều ngang 4m, dài 8 m (32m2), một trệt một lầu nhưng giá bán lên tới 55 tỷ đồng, hơn 1,7 tỷ đồng/m2!

Cuối tháng 12/2007, Địa ốc Việt Phát (TPHCM) rao bán nhiều căn nhà có giá trên 3.000 lượng vàng/căn, trong đó đáng chú ý nhất là căn nhà trên. Đây được xem là giá nhà cao nhất từ trước đến nay tại TP HCM (tính trên m2), cao hơn 700 triệu đồng/m2 so với căn nhà 105 m2 có giá 1 tỷ đồng/m2 rao bán hồi tháng 4/2007…

Nhiều người đã tỏ ra không tin vào khi nhìn thấy giá “khủng khiếp” trên, nhưng đại diện Cty Việt Phát khẳng định thông tin trên là hoàn toàn chính xác! Căn nhà này nằm trong khu bán đồ lưu niệm cho du khách (đoạn từ Lê Lợi đến Ngô Đức Kế Q.1 TPHCM), diện tích sử dụng khoảng 60m2 và đã sửa chữa nhiều lần, từ nhiều năm nay đã có người hỏi mua nhưng chủ nhân chần chừ mãi đến gần đây mới nhờ Việt Phát bán hộ. Giám đốc một Cty địa ốc cho biết:

Căn nhà này chủ yếu mua đất chứ phần xây dựng chỉ khoảng 200 triệu đồng. Tôi cũng nghe nói, chủ nhà chỉ đồng ý bớt nhiều nhất là một tỷ đồng lấy hên cho người mua”.

Tuy nhiên, hỏi thì nhiều nhưng đến nay vẫn chưa có “đại gia” nào tỏ ý định mua thực sự căn nhà siêu đắt trên. Với giá 1,7 tỷ đồng/m2 (hơn 100.000USD/m2), ngôi nhà 32m2 này tương đương với 32 căn hộ cao cấp, bằng giá của biệt thự Phú Gia hơn 300m2 đẹp nhất khu Phú Mỹ Hưng, mua được 3 căn hộ loại đắt nhất ngay trung tâm TPHCM…

Nói cách khác, cứ mỗi mét vuông trong ngôi nhà này có giá trị bằng một căn nhà trung bình tại TPHCM. Theo nhiều chuyên gia địa ốc, thì giá trên tương đương với những căn hộ hàng trăm mét vuông của các siêu sao tại khu Mahattan (New York), một trong vài nơi có giá nhà đắt nhất thế giới! Theo một chuyên gia địa ốc thì ngay tại Hà Nội, nơi giá đất cao hơn TPHCM cũng chưa có nơi nào có giá cao như vậy nên có thể xem đây là căn nhà có giá đắt nhất Việt Nam (tính theo mét vuông).

Với diện tích quá nhỏ trên, căn nhà chỉ có thể ở hoặc cho thuê và chủ nhân cũng đang đồng ý cho thuê với giá 1.200 USD/tháng. Ông Lê Đình Phúc, Phó giám đốc Cty địa ốc Phúc Minh cho biết: “Theo tôi thì rất khó tìm người mua do số tiền quá lớn mà có mua được cũng rất khó sử dụng ngoài cho thuê với giá trên hay để gia đình ở”. Ông Phúc nói thêm rằng với 55 tỷ đồng, khả năng sinh lợi với căn nhà trên không hấp dẫn do giá nhà thuê ở đây khó lên cao hơn được nữa do xu hướng tập trung về các trung tâm thương mại…

NhaDatVangHCMC.jpgCăn nhà 105m2 có giá 1 tỷ/m2 từng làm dư luận xôn xao hồi tháng 4/2007 cũng tọa lạc tại đường Đồng Khởi, gần căn nhà trên hiện nay cũng chưa bán được dù chủ nhân đã hạ giá tính theo vàng từ 8.000 lượng xuống còn 7.000 lượng (nhưng tính theo tiền thì vẫn xấp xỉ 1tỷ đồng/m2). Sở dĩ căn nhà 32m2 được rao bán với giá ngất trời là do từ 5 năm nay, chỉ có khoảng 2-3 căn tại đây chào bán, khu vực này từ hàng chục năm nay luôn là nơi đắt giá nhất TPHCM, buôn bán hàng cao cấp rất sầm uất, sang trọng và hiện còn rất ít nhà tư nhân, bất cứ căn nhà nào cũng đều có giá hàng chục tỷ.

Hàng loạt thương hiệu lớn của thế giới như Louis Vuitton, Gucci, Furla, Omega, Lacoste, Milano, CK… cũng đã tập trung về đây mở cửa hiệu. Hiện nay tìm thuê cho được mặt bằng khoảng 20-30m2 ở đây rất khó khăn, nhiều Cty môi giới dù được các nhãn hiệu thời trang lớn hứa hẹn hoa hồng hàng chục ngàn USD/căn nhưng tìm 4-5 tháng trời không có.

London, Tokyo, New York cũng kinh hãi

Ông Võ Đình Quốc, Phó TGĐ Cty địa ốc ACB cho biết căn nhà đắt nhất mà nơi này từng bán là căn hơn 1.000m2 trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1, giá bán hơn 9.300 lượng vàng, tính theo mét vuông thì chỉ chưa đến 150 triệu/m2.

Tuy nhiên những căn nhà trị giá hàng ngàn lượng vàng thì chủ nhà thường giấu kín danh tính vì lý do an toàn, không muốn lộ tài sản và bán qua các công ty môi giới. Thường chỉ khi nào khách có thành ý mua thật sự, đặt cọc một số tiền nhất định thì bên môi giới mới cho gặp chủ nhà. Việt Phát cũng đề nghị giữ kín thông tin của chủ nhân ngôi nhà 55 tỷ trên.

Giới đầu tư và kinh doanh địa ốc nhận định căn nhà trên không dễ bán vì với 55 tỷ hiện nay kinh doanh những khu nhà, đất, căn hộ khác sinh lợi hơn, dễ bán lại và phân tán được rủi ro hơn. So với các con đường lân cận, vị trí đẹp như Lê Thánh Tôn, Hai Bà Trưng, Ngô Đức Kế, Đông Du… thì giá bằng 30% nhưng giá cho thuê lại tương đương 70-80%. Riêng căn nhà 55 tỷ này chỉ cho thuê được 1.200 USD/m2 (khoảng 20 triệu đồng) – quá ít so với số vốn khổng lồ trên. Còn mua để làm của hay kiếm lời sau này thì “năm ăn, năm thua” bởi giá đã quá cao. Chưa kể nhà riêng lẻ khu vực Đồng Khởi có nhiều khả năng “nhường chỗ” cho các dự án lớn, cao ốc, trung tâm thương mại, văn phòng trong tương lai. Hiện nay giá đất tại đây theo bảng giá mới có hiệu lực từ 1/1/2008 chỉ được tính 67 triệu đồng/m2.

Ông Trần Văn Tài, Giám đốc Địa ốc Tài Lợi nhận định: “Những cơn sốt vừa qua đã đẩy giá nhiều bất động sản đến mức không thể tưởng tượng. Ngay cả những khu sang trọng nhất tại Tokyo, London, New York… người ta cũng choáng váng với giá tại Việt Nam, một đất nước có giá bất động sản phi lý nếu so với mức sống và thu nhập”.

Một số căn nhà giá đặc biệt cao tại Q.1 (TPHCM) đang rao bán:

  • Nhà mặt tiền (MT) Đồng Khởi 4,6m x 23m giá 7.000 lượng
  • MT Phạm Ngũ Lão 8×31 m giá 3.400 lượng
  • MT Mạc Đĩnh Chi 1.500m2 giá 22.500 lượng
  • MT Võ Thị Sáu 1.400m2 giá 22.400 lượng
  • MT Trần Hưng Đạo 7,2 mx20m giá 2.700 lượng
  • MT số 60 Lê Thánh Tôn 4,1x25m giá 1.500 lượng
  • MT 86 Ngô Đức Kế 4x15m giá 1.400 lượng
  • MT số 91 Sương Ngọc Ánh 4,3×19 m giá 1.430 lượng
  • MT 224 Cống Quỳnh 4,03x 24m giá 1.280 lượng…

Giá bất động sản cao có thể là niềm vui của người sở hữu (ở góc độ tài sản sinh lợi), nhưng đối với nền kinh tế, có thể gây ra nhiều hiệu ứng rất trái ngược. Năm 1996, Nhật Bản, mà cụ thể nhất là Tokyo, đã chứng kiến vụ sụt giá bất động sản thê thảm, dẫn tới các thị trường chứng khoán, vốn, tiền tệ chao đảo, mà tới hơn 10 năm sau sự gượng dậy còn hết sức yếu ớt. Nay giá bất động sản Việt Nam còn “tìm đường” phá các kỷ lục Tokyo, thật là chuyện khó tin, nhưng vẫn phải tin.

Không riêng TP.HCM, Hà Nội và các đô thị khác cũng chứng kiến nhà đất tăng giá nhanh chóng, kèm theo đó là sự đồng biến của giá các văn phòng cho thuê. Nếu lấy mức chuẩn là tốc độ tăng của giá nhà đất, văn phòng, nền kinh tế Việt Nam khó kiếm được mảng kinh doanh nào đạt mức lợi suất như vậy. Nếu nền kinh tế lấy số đo lợi suất theo cách “tìm kiếm địa tô” thì đa số các ngành đều thấp xa so với mức hoa lợi từ đất đai, bất động sản hiện tại.

Những băn khoăn tiếp theo sẽ là hình thù của các kịch bản trông ra sao “WHAT IF” nếu quá trình hiệu chỉnh giá xảy ra. Khi đó, các quá trình điều chỉnh quy mô rộng khắp của nền kinh tế sẽ như thế nào và chi phí ở mức nào?!

SAGA.VN (tham khảo Tiền Phong và các nguồn khác)

MỘT SỐ SAI LẦM CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ CHỨNG KHÓAN VIỆT NAM

Trong không khí nóng bỏng của TTCK Việt Nam, tôi xin mạn phép trình bày một số sai lầm của các nhà đầu tư chứng khoán. Cái này đúc kết từ kinh nghiệm và quan sát. Tôi viết bài này với tất cả sự kính trọng các nhà đầu tư vì dám mạo hiểm đầu tư vào một loại sản phẩm cao cấp, trên một thị trường có tính đặc thù cao. Nhưng sự thật là sự thật, vì một thị trường lành mạnh và bền vững, tôi sẽ rất trung thực.

1. Nghe hơi nồi chõ. Thông tin rất quan trọng trên thị trường, nhưng vì thiếu hiểu biết, nhiều nhà đầu tư có xu hướng nghe ngóng. Tin thì đủ loại, trên trời, dưới biển, vận hành, tài chính, tổ chức… Có điều chẳng mấy ai có khả năng kiểm định. Vì vậy, cái sự nghe trở nên láng máng, truyền tai nhau hết sức nguy hiểm.

Thông thường, họ tìm một số nhân vật có khả năng “hót hay như khướu” hoặc tìm một vài cán bộ môi giới-tư vấn của chính các công ty chứng khoán. Cái này có mấy điểm hại sau:

* Không khách quan vì bản chất là xung đột lợi ích.
* Không đảm bảo chính xác vì có khi người nói cũng không biết mình đang nói gì.
* Không có bộ lọc vì thế không thể biết cái vừa nhận được là vàng hay thực tế là rác.
* Luôn luôn muộn, vì khi nghe được thì cũng rất nhiều người khác đã nghe được.

2. Không có kỳ vọng đầu tư riêng. Nói giản dị là không biết mình muốn gì, ngoài một nguyện vọng ngất trời cao là Lợi Nhuận.

Các nhà đầu tư nước ngoài chẳng hạn, họ biết rất chính xác điều họ muốn, và vì phần lớn là các quỹ dạng Mutual Fund, nên các chính sách của họ tương đối nhất quán, ổn định. Họ không nhảy ra nhảy vào thị trường liên hồi, gây ra các chi phí giao dịch lớn trong khi hiệu quả chưa đo đếm được.

Việc không đặt kỳ vọng đầu tư cho mình cũng có nghĩa là để ước muốn trôi theo diễn biến thị trường. Ví dụ, lãi 20% trong vòng 3 tháng đã là tốt, nhưng vì ước muốn 40% trong vòng 4 tháng nên kết cục có khi chỉ là không bán được cả “hàng” và chết tắc với số tiền đầu tư.

Không có kỳ vọng còn liên quan tới một hiện tượng nữa là kỳ vọng bị bóp méo hoặc chèn ép.

3. Tâm lý bầy đàn. Tôi đã cùng GS. André Farber chứng minh bằng số liệu và mô hình thống kê toán rằng Hiệu ứng bầy đàn rất mạnh ở Việt Nam, và theo số liệu của chúng tôi là mạnh nhất thế giới. Hiệu ứng này đặc biệt mạnh khi giá thị trường tăng trong một khoảng thời gian liên tiếp khá dài.

Hệ quả trực tiếp là người đầu tư từ bỏ cả kỳ vọng cá nhân, để theo đuổi mức kỳ vọng của đám đông trên thị trường, khiến cho khoảng cách chiến lược đầu tư tiến dần tới epsilon bé tí. Trong khi đó, tính thanh khoản tạo ra do các Delta >> epsilon, và con người có các xu hướng giao dịch trái chiều.

Hệ quả thứ hai, cũng trực tiếp, là tính thanh khoản giảm dần. Mà tính thanh khoản chính là giá trị lớn nhất, duy nhất của TTCK (chứ không phải theo quan niệm sai lầm chung là tính năng huy động vốn đâu!) Khi tính thanh khoản trở nên “hàng hiếm” thị trường biến thành Casino. Thực sự là Casino vì mọi người cho rằng nó là cỗ máy kiếm tiền, xay ra tiền, nhào ra tiền, và đâu cũng là tiền… Chúng ta bằng sự nhìn nhận bình thường sẽ hiểu rằng điều này quá sai lầm và hoàn toàn tự huyễn hoặc.

4. Quan tâm tới lợi nhuận nhưng không quan tâm tới bổ sung kiến thức. Phần lớn nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận, và thuộc một bài vỡ lòng rằng đào bới được thông tin mật “rò rỉ” đâu đó chính là cách làm giàu kiến thức. Điều này sai. Kiến thức khác thông tin. Kiến thức là một bộ lọc thông tin có phương hướng, có chủ đích và có phương pháp. Tôi dám cam đoan rằng việc chỉ chăm chắm đào bới các thông tin vốn nhiều như rác không làm các nhà đầu tư khôn ngoan hơn, có khi là tình tiết tăng nặng của các vấn đề tồn tại ở trên.

Chính vì không bổ sung kiến thức, nên thị trường hỗn loạn trong các dòng chảy thông tin. Mệt mỏi với thông tin càng khiến cho người ta dễ từ bỏ các kỳ vọng cá nhân, để hào hứng đi theo sự vẫy gọi của “hiệu ứng bầy đàn.”

5. Tin rằng “mình khôn ngoan nhất”. Họ cho rằng chỉ có họ mới là khôn ngoan nhất, đó là biểu hiện của thiếu kiến thức. Chính vì thiếu kiến thức, nhà đầu tư cũng không mấy khi quan tâm thực sự tới các cách thức tính toán, quản trị và phân tán rủi ro của rổ tài sản.

Ôi cái sự đời mới trớ trêu làm sao. Tôi sẽ xin lược trích một số ý kiến sau này của GS. Farber một trong những chuyên gia tài chính hàng đầu thế giới về hiện trạng mà 5 năm qua hầu như chưa thay đổi gì.

Chúng tôi cũng đầu tư, cũng hoạt động, cũng cung cấp dịch vụ tài chính… với cả một đội ngũ cộng sự dày công chăm chỉ rèn luyện… chứ không ầm ờ, bát nháo đâu. Và vì thế, chúng tôi hiểu thị trường nó không như phần lớn các nhà đầu tư nghĩ.

Nhiều người có thể không đồng tình, nhưng tôi đã nói từ trước là sẽ rất trung thực, vì thế, sẵn sàng chấp nhận phản hồi khắc nghiệt nhất của độc giả.

Vương Quân Hoàng – http://www.saga.vn

CÁC TRANH LUẬN XUNH QUANH VẤN ĐỀ NÀY

Báo Thị trường số 258 ra ngày 26/09/2007 có đăng lại toàn bộ ý kiến của tác giả Vương Quân Hoàng về các sai lầm của nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam. Đây là một cách nhắc nhở, cảnh báo rất hữu ích về các vấn đề mang tính chất nguyên lý cho nhà đầu tư tại Việt Nam.

Thị trường trong thời gian vừa qua đã – đang được chứng minh những vấn đề anh Hoàng nêu ra trong bài viết trên!

Mọi người nghĩ sao về vai trò của báo chí trong thời gian thị trường đang “sốt”, và trong thời gian gần đây?

TranTriDung (23/04/2007

 

Cổ phiếu ngân hàng luôn thu hút quan tâm của nhà đầu tư như một lĩnh vực đầu tư giàu tiềm năng mặc dù các khả năng kinh doanh ngoại hối thua lỗ, nhân viên thụt két đã từng xảy ra. Bài viết dưới đây cũng cho thấy rủi ro tiềm tàng của lĩnh vực kinh doanh này. Một cá nhân và 3 chủ doanh nghiệp đã qua mắt ngân hàng.
====
TTXVN- Bắt khẩn cấp 3 giám đốc “móc” tiền ngân hàng
Từ 19 đến 22/4, Công an TPHCM đã khám nhà, bắt khẩn cấp 3 giám đốc và một cá nhân là Trần Minh Lộc để điều tra hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xảy ra tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam chi nhánh TPHCM. Ba giám đốc là Dương Huy Chí (Công ty cổ phần TMDV tổng hợp Thành Trung), Lương Văn Hiền (Công ty TNHH Nhà Đẹp), Trương Xuân Vinh (Công ty Công ty TNHH Hà Phong).

Điều tra cho thấy, do thua lỗ, Hiền bàn với Lộc lập các hợp đồng kinh tế mua bán khống, chứng thư bảo lãnh thanh toán khống để lừa đảo, chiếm đoạt tiền vay vốn tại Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh TPHCM. Vào tháng 12/2006 và tháng 3/2007, Lộc hướng dẫn Hiền móc nối với Chí và Vinh lập các hợp đồng mua bán vật tư trả chậm, khống với số lượng 400 tấn thép xây dựng (trị giá hơn 3,4 tỷ đồng). Sau đó, Lộc lập chứng thư bảo lãnh thanh toán giả để Công ty Nhà Đẹp vay tiền. Theo thỏa thuận, sau khi giải ngân, Hiền phải chi cho Lộc 10% số tiền được vay.

Tại cơ quan điều tra, Hiền thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt số tiền vay là 2,83 tỉ đồng của Ngân hàng TMCP Hàng Hải chi nhánh TPHCM. Vụ án đang được tiếp tục điều tra mở rộng.

Các nhà đầu tư nước ngoài họ tính toán đầu tư trong chục năm. Còn các nhà đầu tư Việt Nam dự tính đầu tư trong 2 tuần. Khi thị trường biến động, bản lĩnh của nhà đầu tư được thể hiện. Ở đây không thể hiện khi giá tăng, mà thể hiện khi giá cổ phiếu giảm. Khi giá giảm, hầu hết các nhà đầu tư trong nước tỏ ra thụ động với thị trường, họ lo sợ, càng lo sợ lại càng không dám bán những cổ phiếu đó. Cứ chờ và phụ thuộc vào thị trường. Và cuối cùng chết tắc với đống tiền đã bỏ ra.

Chính vì lợi nhuận cao làm mờ mắt, nên các nhà đầu tư trong nước thi nhau đổ tiền vào thị trường này mà không có sự tính toán trước gây ra hiện tượng bong bóng như hiện nay. Đến một lúc nào đó, mà tôi tin không xa, khi bong bóng vỡ, thì số người nhảy lầu tự tử không phải ít. Và chính họ đã tự đào mồ chôn mình bởi sự mù tịt về kiến thức của mình. Tôi đồng ý hoàn toàn với ý kiến của Mr. Vương.

MaiAnh (23/02/2007 03:10 PM)

Tiếp theo bình luận “Thị trường chứng khoán Việt Nam vượt quá giá trị 30%” (Vietnam stocks ‘30% overvalued’). Financial Times tiếp tục có bài viết về thị trường chứng khoán tại Việt Nam với tiêu đề “Cơn sốt trên thị trường chứng khoán đang túm chặt lấy tầng lớp trung lưu Việt Nam” (Stock market mania- nghĩa tiếng Anh là cơn điên- grips Vietnam’s middle classes).

Bài viết mở đầu với câu chuyện góp vốn buôn cổ phiếu của một học viên MBA. Kinh nghiệm lần đầu tham gia thị trường chứng khoán của anh chàng này là “Tại Việt Nam, thị trường chứng khoán biến đổi từng ngày. Ai có được thông tin chính xác, người đó kiếm tiền dễ dàng“.

Tốc độ tăng trưởng 249 phần trăm trong hơn 13 tháng đã khiến tầng lớp trung lưu mới nổi của Việt Nam phát sốt với chứng khoán. Sinh viên, công chức, quản lý doanh nghiệp đều dồn tất cả tiền tiết kiệm và huy động được từ mọi nguồn có thể để mua cổ phiếu và mơ tới mức lợi nhuận từ trên trời rớt xuống.

Các chuyên gia kinh tế quốc tế có mặt tại Việt Nam nhận định thế nào với hiện tượng này?

pincus.jpgJonathan Pincus, Kinh tế trưởng của LQH tại Hà Nội- Đó là một sự điên cuồng. Mọi câu chuyện tại Hà Nội lúc này đều về những người đang đầu tư trên thị trường. Tôi không rõ liệu có ai hiểu được các công ty có giá trị thế nào nhưng họ đang mua những tờ giấy”.

Li Houng Lee, Đại diện thường trú của IMF tại Hà Nội- Chính phủ thực sự quan ngại với việc giá chứng khoán liên tục tăng và nhiều nhà quan sát có chung quan điểm rằng thị trường đang được đánh giá quá cao. Điều này sẽ dẫn tới nhiều vấn đề khi có sự điều chỉnh nhanh chóng về giá, đặc biệt khi có rất nhiều nhà đầu tư địa phương tham gia thị trường chứng khoán”

Sriyan Pietersz, Trưởng bộ phận nghiên cứu tại JPMorgan- Có một thực tế rằng các khoản lãi đó có thể bốc hơi, bạn đang lao vào rủi ro của tình trạng đầu tư quá thấp cho doanh nghiệp của mình do bộ phận quản lý quá bận với việc… cắm rễ trước màn hình Bloomberg”

Các công ty môi giới chứng khoán mọc lên như nấm. Hiện tại đã có 56 công ty được cấp giấy phép. Con số này vào đầu năm 2006 là 16 công ty. Mọi công ty đều có gắng tranh phần miếng bánh hấp dẫn này. Vinatex, một công ty dệt may quốc doanh, mới đây cũng tuyên bố sẽ triển khai hoạt động môi giới chứng khoán.

TranTriDung

Báo Tuổi trẻ số ra ngày 26/01/2007 có bài “Chứng khoán VN vượt quá giá trị thật“:

Tờ Thời báo Tài Chính (Anh) (Financial Times) mới đây dẫn lời các nhà quản lý tài chính nước ngoài cảnh báo thị trường chứng khoán TP.HCM đang rơi vào tình trạng quá nóng và vượt quá giá trị thật.

Chỉ số chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP.HCM tăng 38% trong năm nay, sau khi tăng 114% trong năm 2006. Theo các chuyên gia tài chính, nguyên nhân dẫn tới tình trạng quá nóng là do các khoản tiền “nóng” từ nước ngoài đổ vào. Tỉ lệ đầu tư trên lãi suất (P/E) của VN hiện lên đến 25-30, vượt xa mức trung bình 18-20 của khu vực.

Tuy nhiên, ông Peter Ryder, giám đốc Quĩ Indochina Capital, nhận định đây là tình trạng thường thấy ở các thị trường mới thành lập, và nhà nước nên để thị trường tự điều chỉnh thay vì can thiệp.

hamy

Mới nhất thì có bài của tác giả TS. Phan Minh Ngọc, trên TBKTVN (TTOL Chủ Nhật, 28/01/2007 đưa) viết về “Chứng khoán Việt Nam qua cái nhìn của một nhà đầu tư nước ngoài“. Bài viết như sau:

————————————–

Mới hôm rồi nhận được email của một người quen, ông Yoshiaki Ueda, giáo sư kinh tế tại một đại học của Nhật, thông báo rằng ông vừa cho đăng một bài báo trên NNA (một tờ báo điện tử chuyên về châu Á của Nhật) về thị trường chứng khoán Việt Nam, ngày 22-1. Vào xem mới biết ông cũng đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Tư vấn đầu tư của Công ty Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Lotus (mà theo ông thì mới được UBCKNN cấp phép hoạt động tại Việt Nam gần đây).

Vì đây là một bài viết của một nhà đầu tư nước ngoài với những nhận định rất chuyên nghiệp, nhưng cụ thể hơn và chứa những khác biệt so với những gì mà báo chí trong nước hay đăng khi nói về đánh giá của giới đầu tư nước ngoài về triển vọng của thị trường Việt Nam (thường chỉ thấy sự lạc quan chung chung về triển vọng) nên tôi mạn phép ông Ueda tóm tắt, lược dịch và giới thiệu với bạn đọc, không ngoài mục đích giúp bạn đọc hiểu đầy đủ hơn về những nhận định đa chiều của giới đầu tư nước ngoài về thị trường Việt Nam. Bài viết của ông có tiêu đề, tạm dịch, là “Cao trào của thị trường chứng khoán Việt Nam: Sốt nhưng có đúng 100% là “không có vấn đề gì”?”. Ông vào đề với việc thuật lại chỉ số VN-Index đã tăng 39,96 điểm vào ngày 19-1 so với hôm trước đó, đạt kỷ lục 1023,05 điểm, và là lần đầu tiên vượt mức 1000. So với phiên đầu năm, mức này đã tăng tới 38%.

Sau đó, ông bình luận ngay rằng 100% là thị trường đang lên cơn sốt, nhiệt độ tăng từng ngày từng giờ; bầu không khí hiện nay giống hệt của Nhật ngay trước thời điểm nước này bước vào thời kỳ tăng trưởng bong bóng trước đây. Nếu so sánh một cách tương đối với Nhật thời kỳ cho đến cuối năm 1989, thì cần phải nhìn vào động hướng của dân chúng (ý nói những nhà đầu tư “tay mơ”) để xác định thời điểm mà cao trào của thị trường chứng khoán bước vào vùng nguy hiểm. Ông minh họa rằng trong các đại học ở Hà Nội hay TP.HCM, nào là người ta lập ra các “hội nghiên cứu chứng khoán”, nào là với suy nghĩ cứ đầu tư vào chứng khoán là có lãi nên sinh viên từ các vùng nghèo khó của đất nước bắt đầu góp vốn để đầu tư chứng khoán chung với nhau. Trong khách sạn ông ở, có một nữ quản lý trung niên với khuôn mặt gợi những nét điển hình của “thần giữ của” nhưng cũng cho biết bắt đầu chơi chứng khoán. Lái xe taxi cũng hả hê tiết lộ “tôi cũng kiếm bộn từ chứng khoán”.

Cứ như vậy, cơn sốt chứng khoán đang dần tiến đến hồi kết. Khi sinh viên, các bà nội trợ, và dân thường lao vào chơi chứng khoán, điều này có nghĩa là cung vốn đổ vào thị trường chứng khoán tiến gần đến giới hạn. Trong chừng mực vốn tiếp tục được rót vào thị trường thì giá còn tiếp tục tăng. Ở trên giác độ này, để tránh các tổn thất to lớn từ sự sụp đổ của thị trường thì cần phải đặc biệt chú ý đến động hướng của nguồn vốn rót vào thị trường. Các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam thông qua mua bán thực tế hàng ngày có thể cảm nhận được chiều hướng xoay chuyển của đường cung này. Ngoài ra, họ cũng để mắt chăm chú vào động hướng đầu tư của dân chúng như nói ở trên để phán định tình hình. (Như vậy có nghĩa là nhà đầu tư cá nhân chắc sẽ là nạn nhân đầu tiên và nặng nề nhất?)

Vấn đề đáng lo ngại nhất trong việc đầu tư vào chứng khoán Việt Nam thời gian tới là liệu việc chuyển nhượng chứng khoán đang sở hữu với khối lượng lớn giữa các quỹ đầu tư quy mô lớn có diễn ra suôn sẻ hay không. Các quỹ đầu tư nước ngoài với tiềm lực vốn cực lớn vẫn phải bán chứng khoán đang sở hữu để thu hồi vốn đầu tư. Vậy vấn đề là ai đủ tiềm lực để mua lượng chứng khoán với khối lượng lớn như thế này (nếu không phải là các quỹ đầu tư nước ngoài khác)? Để TTCKVN phát triển lành mạnh thì cục diện này là điểm trọng yếu.

Theo ông, từ nay cho đến lúc thị trường thoái trào (có lẽ ý nói là để kéo dài thời kỳ phát triển sôi động của TTCKVN) thì điều lý tưởng là phải tăng được mức thu nhập của dân chúng và doanh nghiệp (chắc ý nói là để “làm giàu” nguồn vốn đổ vào thị trường), và dịch chuyển sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư nước ngoài vào tay các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong nước (chắc ý nói nhằm tránh một sự xáo động mạnh khi các quỹ tiến hành hiện thực hóa lợi nhuận). Tất nhiên, theo ông, sự tham gia của các quỹ đầu tư nước ngoài mới cũng là điều có ích.

Ông Ueda thêm rằng chắc chắn trong thời gian tới, các cơ quan hữu trách của chính phủ sẽ có thể liên tục đưa ra những cảnh báo về bong bóng chứng khoán. Tỷ suất thu lợi từ chứng khoán cũng có thể sẽ tăng cao hơn nữa. Nhưng chừng nào vốn còn tiếp tục đổ dồn vào thị trường chứng khoán thì chừng đó giá chứng khoán Việt Nam còn tiếp tục thăng hoa, và sẽ không có vấn đề gì. Với ý nghĩa này, đối với nhà đầu tư vào TTCKVN, hiện tại đang là thời kỳ hạnh phúc nhất. Nhưng tiếp theo lộ trình thăng hoa sẽ chỉ là lộ trình suy thoái/tháo chạy (chứ không có giai đoạn chuyển tiếp/điều chỉnh dần dần). Vấn đề là kịch bản suy thoái/tháo chạy sẽ là kịch bản nào mà thôi.

hamy

Các chuyên gia kỳ cựu về thị trường vốn nước ngoài cũng không phát biểu khác là bao nhiêu, như trong bài tham khảo dưới đây:

——————————————-

Ngày 24/01/2007 Thông tấn xã Việt Nam trích bài viết của AMCHAM nói rằng TTCKVN “thăng hoa thiếu cơ sở”

Phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AMCHAM) vừa đăng tải trên website của họ bài viết về thị trường chứng khoán Việt Nam “thăng hoa thiếu cơ sở”. Mục đích của AMCHAM cốt để khuyến cáo giới đầu tư rằng các tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam thấy cổ phiếu Việt Nam đang sốt ở mức không bình thường. Kinh tế gia chuyên về lĩnh vực tài chính của Ngân hàng Thế giới tại Hà Nội, ông Noritaka Akematsu, được trích lời, nói rằng “hiện đang có sự phấn khích quá mức vượt quá khuôn khổ của thị trường, vượt quá sự kiểm soát của cơ quan điều tiết vào thời điểm này. Nhà chức trách Việt Nam không thể đảm bảo báo cáo kinh doanh của các công ty niêm yết là hoàn toàn chính xác, các giao dịch buôn bán chứng khoán được thực hiện theo đúng chuẩn mực”. Ông khuyến cáo giới đầu tư nên cẩn trọng.

Ông David Knapp, Chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ cho rằng, sự thiếu vắng tính minh bạch và chuẩn mực quốc tế trong báo cáo tài chính của các công ty có nghĩa là người ta khó thực hiện việc phân tích năng lực thực sự của các công ty niêm yết. Giới phân tích tài chính và chứng khoán tại Hà Nội cho rằng khác với giới đầu tư vào cổ phiếu ở thị trường chứng khoán ở nước ngoài, đa số người mua chứng khoán tại Việt Nam không sử dụng các công ty nghiên cứu thực trạng của công ty niêm yết mà mua chứng khoán theo kiểu “mua bán theo cảm tính”.

Số liệu cho thấy hiện có khoảng 1700 nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Theo ông David Knapp, các nhà đầu tư mà ông gọi là các ông lớn đã có kinh nghiệm về biến động của thị trường và khi thị trường điều chỉnh cho đúng giá thực của cổ phiếu, người thiệt thường là các nhà đầu tư cá nhân. Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh: “Chúng tôi không nói rằng quá trình này sẽ xảy ra mà chỉ muốn nói rằng đây là một trong những thực tế mà các nhà đầu tư cá nhân nên để tâm tới. Tôi cũng khuyến cáo với các nhà đầu tư rằng hiện nay giá chứng khoán Việt Nam khá cao so với các nước trong khu vực. Thế nhưng nếu cứ nghĩ rằng mua là được thì đó cũng là điều khá nguy hiểm bởi sẽ tới thời điểm thị trường sẽ điều chỉnh ở mức nào đó”.

“Đầu tư tại Việt Nam không thể là bài toán ngắn hạn và tôi cũng như các khách hàng của chúng tôi thấy đầu tư dài hạn mới là đầu tư có lợi và vững vàng nhất. Là nhà đầu tư tìm kiếm môi trường tương đối ổn định, có tiềm năng về dài hạn và tôi tìm thấy những điều đó ở Việt Nam”. Thế nhưng tìm được sự ổn định trong các biến động tài chính không phải là điều dễ dàng và cũng như bất kỳ hình thức đầu tư nào thì đầu tư vào chứng khoán cũng có yếu tố khó định lượng được, đó là rủi ro.

TranTriDung

Bài viết này sáng nay tôi có được đọc lại trên báo Tiền phong, số ra ngày 23/12/2006. Cám ơn bài viết của a VQH và các trao đổi rất hữu ích của các bạn.

QuangNam

Tôi hoàn toàn đồng tình với Dr. Hoang. Bản thân tôi cũng vừa là nhà đầu tư vừa là nhà tư vấn dạng “Private fund”, cũng đã từng IPO chứng khoán trên sàn từ năm 2000 đến nay. Tôi tiếp xúc rất nhiều “đối tượng tham gia chứng khoán” từ công ty chứng khoán, nhà đầu tư, quỹ đầu tư, cả “các chuyên gia bói chứng khoán” và cả “những” người ngoại đạo của trò chơi “đầy tính chất của người trong đạo” này. Có hai khía cạnh tôi muốn được chia. Một là: cách ra quyết định đầu tư “mua chứng khoán” của một nhà đầu tư là thế này “Lúc cổ phiếu STB-Sacombank chuẩn bị niêm yết” sau khi được UBCK chấp thuận (12/07/06), thì trong khoảng thời gian này trước khi chốt sổ cổ đông để niêm yết, thì khối lượng giao dịch qua thị trường OTC rất nhiều, không có thống kê chính thức nhưng tôi quan sát, dự đoán riêng cá nhân thì chắc khoảng 5-10%/số lượng cổ phần niêm yết giao dịch diễn ra trong thời gian này, tôi có bán một lượng cổ phiếu tương đối lớn STB cho một khách hàng với giá “hot” lúc đó 88.000đ/cp. Tôi hỏi người mua là sao anh mua STB- trả lời tĩnh ru là: Tôi đang làm việc vợ tôi giục nói anh về mua ngay STB vì nó “tốt” lắm và sắp niêm yết. Anh ta làm từ ngành dầu khí- tuổi khoảng 35. Trường hợp 2: tôi biết có 10 nhà đầu tư cá nhân thì 6 người trong số đó họ lấy tiền từ 2 nguồn sau cho việc mua tiếp: cầm cố số chứng khoán hiện đang có (niêm yết) mua tiếp và có thể mang nhà cầm cố!

Bình luận: Khía cạnh 1: Thì cách mua trên theo “bầy đàn và thiếu thông tin, không có kỳ vọng đầu tư” giống Dr. Vuong nói trên. Còn khía cạnh 2 thì: tính rủi ro “nó thường trực” và quá lớn khi kỳ vọng lợi nhuận lại do ‘bầy đàn” hay “cơ chế nhóm lớn” quyết định. Nếu cầm cố chứng khoán thì hầu hầu như các công ty chứng khoán có buộc điều khoản “ký quỹ bổ xung-margin call” khi giá chứng của cổ phiều cầm cố rớt xuống mức biên an toàn thì các công tychứng khoán buộc nhà đầu tư thực hiện margin call bằng tiền hoặc không các công ty chứng khoán này “thanh lý-bán” để bù vào. Nếu cầm cố nhà, thì có thể xem việc đầu tư chứng khoán hiện nay của các nhà đầu tư cá nhân trên là “ngắn hạn theo từng phiên” (có thể gọi là tài trợ ngắn hạn) nên lợi nhuận/lỗ cũng sẽ rất ngắn hạn và bấp bên. Điều này hòm chứa một rủi ro rất lớn “và vô hình dung tạo một lượng cầu giả tạo” cho giá trị giao dịch từng phiên trên thị trường chứng khoán hiện nay. Có bong bóng hay không “thời gian” là việc chứng minh tốt nhất.

Hơn nữa, cũng có thể chia sẻ thêm thông tin là các quỹ đầu tư nói chung ‘đánh giá hiệu quả quản lý” các nhà quản lý quỹ theo “giá trị thị trường danh mục đầu tư” của quỹ đó. Do vậy, thời điểm cuối năm cũng là “thời điểm” đánh giá “hiệu quả” để thưởng hay “lãi lỗ” cho các nhà quản lý, việc tạo cơ chế tăng giá “cuối năm tài chính” là động thái cũng rất đáng quan tâm! -:)

TranTriDung

Ông Trần Đắc Sinh – giám đốc TTGDCK TP.HCM: Giá cổ phiếu đã cao hơn giá trị thật

– Trong gần một tháng qua, chỉ số chứng khoán VN đã tăng liên tục, nếu cuối tháng mười một chỉ ở mức 633,05 điểm thì đến ngày 20-12 đã tăng lên 809,86 điểm. Diễn biến này cho thấy TTCK đang phát triển rất nóng. Giá của hầu hết các loại chứng khoán đều tăng mạnh, khối lượng giao dịch cũng tăng cao, cho thấy một lượng vốn lớn đã được đổ vào TTCK.

Chúng ta không thể phủ nhận đã có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến TTCK, tạo tâm lý hưng phấn nơi nhà đầu tư, trong đó đặc biệt là việc VN hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới với vị thế cao hơn. Bên cạnh đó, một lượng vốn đầu tư nước ngoài cũng đã đổ vào VN trong thời gian gần đây.

Tuy nhiên, tôi e ngại một diễn biến thị trường như trong tháng 4-2006 có thể lặp lại. Theo các tính toán, chỉ số P/E (tỉ lệ phần trăm giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập trên một cổ phiếu) bình quân của các công ty niêm yết cổ phiếu trên TTCK VN hiện là 38,18 lần, trong khi so sánh với mức trung bình của các thị trường khác P/E chỉ dao động 10-17 lần.

Với tương quan như vậy, tôi lo ngại giá cổ phiếu hiện nay đã vượt quá cao so với giá trị thật của nó, tạo ra một “hàm ếch” mà thị trường sẽ tự điều chỉnh bất cứ lúc nào.

* Thưa ông, cũng có ý kiến cho rằng sau sáu năm và trải qua nhiều thăng trầm, nhà đầu tư trong nước đã có nhiều kinh nghiệm hơn, do vậy cũng chưa hẳn thời gian qua họ đã đầu tư theo kiểu phong trào?

– Đúng là nhà đầu tư trong nước đã có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về TTCK, tuy nhiên việc giá chứng khoán liên tục tăng ở mức cao đã tạo ra những cám dỗ khó dừng đối với các nhà đầu tư. Tôi nghĩ nếu giá tiếp tục tăng như hiện nay cũng có nghĩa là chúng ta phải đối mặt với sự điều chỉnh càng lớn.

* Ông có lời khuyên gì với các nhà đầu tư?

– Đầu tiên, để có thể tham gia TTCK thì nhà đầu tư phải tự tin và có hứng thú với TTCK. Muốn vậy, họ phải có kiến thức và ý niệm căn bản về chứng khoán và TTCK. Nhà đầu tư cũng phải biết lựa chọn loại chứng khoán phù hợp với khả năng đầu tư của mình. Người không ngại rủi ro có thể chọn cổ phiếu, người thận trọng có thể chọn trái phiếu… Quan trọng nhất vẫn là phải tự tin khi ra quyết định đầu tư, không nên đầu tư theo đám đông mà phải có chính kiến của riêng mình.

theo Tuổi trẻ

TranTriDung

Ông Đặng Văn Thành – chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank): Đúng ra giá còn nóng hơn

Theo tôi, đúng ra giá chứng khoán còn nóng hơn nữa, nhưng rất may điều này đã được hóa giải khi hàng loạt công ty đã niêm yết cổ phiếu để kịp hưởng ưu đãi thuế trước khi chính sách này hết hiệu lực từ cuối năm 2006.

Mặc dù đã có hàng loạt công ty niêm yết cổ phiếu được cấp phép, giúp tăng lượng cung chứng khoán nhưng vẫn không đủ trước cầu về chứng khoán quá lớn đã đẩy giá chứng khoán tăng cao. Tôi tin rằng về lâu dài TTCK sẽ còn phát triển, giá sẽ còn tăng.

Tuy nhiên, trước mắt sẽ ít nhiều có điều chỉnh, giá chứng khoán có thể giảm nhưng khó có thể xảy ra một đợt giảm giá mang tính sốc như đã từng xảy ra trong năm 2003.

theo Tuổi trẻ

TranTriDung

Cảnh báo giá chứng khoán quá nóng (trích bài viết trên Tuổi trẻ)

Ngày giao dịch 20-12 tại TTGDCK TP.HCM, một kỷ lục mới đã được lập: chỉ số chứng khoán VN đã vượt qua mức 800 điểm, mức kỷ lục kể từ khi có thị trường chứng khoán (TTCK). Kết thúc phiên giao dịch ngày 21-12, chỉ còn 13 chứng khoán tăng giá, 11 chứng khoán đứng giá, 54 chứng khoán còn lại giảm giá. Chỉ số chứng khoán VN đã giảm 30,98 điểm (tương đương 3,83%), xuống dưới ngưỡng 800 điểm, chỉ còn 778,88 điểm.

Ngay trong ngày giao dịch 21-12, trong các phiên giao dịch một và hai của ngày giao dịch, giá một số loại cổ phiếu vẫn tăng khá và chỉ “rớt sàn” ở phiên giao dịch cuối ngày. 4-2006, khi đó lượng vốn để đầu tư cổ phiếu không dồi dào, trong khi nhiều nhà đầu tư đã cầm cố cổ phiếu để tiếp tục mua cổ phiếu mới đến hạn phải trả nợ.

Theo nhận định của một số công ty chứng khoán, vẫn chưa quá lo với diễn biến trong ngày 21-12. Trong phiên này, nhà đầu tư chưa bán tháo cổ phiếu, đây chỉ là một phiên mà ở đó thị trường điều chỉnh sau khi chỉ số chứng khoán VN vượt qua ngưỡng 800 điểm đồng thời có cảnh báo từ TTGDCK TP.HCM. Cũng theo các công ty chứng khoán, trước mắt thị trường còn điều chỉnh thêm một số phiên và lời cảnh báo của TTGDCK TP.HCM là cần thiết để những nhà đầu tư “non tay” thận trọng hơn.

Ha Hoang

 

Theo mình biết thì có rất nhiều các nhà đầu tư sộp đang rất sốt ruột nhưng chưa dám đầu tư vì còn chưa thật sự hiểu hết chứng khoán là gì? Chơi như thế nào và rủi ro ra sao? Họ thường xuyên hỏi mình là có sách nào hay ho về kinh doanh chứng khoán không? Vậy rất mong Dr.Vương cùng các chuyên gia của SAGA sẽ liên tục bổ xung kiến thức về vấn đề này và tất nhiên mình sẽ refer các đại gia này xem SAGA. Good deal hah!

Phuong

 

Rõ ràng đầu tư chứng khoán là không hề đơn giản, cũng có nghĩa là để đầu tư có lợi nhuận thì khó khăn hơn nhiều. Vậy có thể giải thích ra sao về một số nhà đầu tư trong giai đoạn này, những người mà có thể khẳng định là họ không có nhiều kiến thức về lĩnh vực đầu tư cao cấp này, lại có thể kiếm được lợi nhuận, thậm chí không hề ít. Ta có thể thấy rõ những dòng tiền, rất lớn, chảy liên tục trên thị trường. Vậy cuối cùng tiền sẽ về tay ai? phải chẳng là về những người may mắn hơn người khác.
Tính bày đàn thể hiện rõ nét trong biến động gần như giống hệt nhau của VN-Index và những cổ phiếu giao dịch nhiều. Trong khoảng 2 tháng VNI tăng đến 60%. Nhiều nhận định cho rằng thị trường quá nhạy cảm. Vậy kết cục cho trái bóng quá căng này sẽ thiên về hướng vỡ tan hay chỉ dần dần xì hơi.
Rất mong mọi người trên Saga cùng thảo luận.

TuanPhuc

Khả năng TTCK Việt Nam hiện nay đúng hơn là một sòng bạc lớn. Rất nhiều người thực ra không có kiến thức về chứng khoán nhưng vẫn cứ tham gia. Bởi vì sẵn có máu cờ bạc trong người. Cái tâm lý mà Dr Vuong nói trên đây đúng là tâm lý của một người chơi số đề vậy. Trông chờ vào may rủi, chứ không có một căn cứ khoa học về phân tích số liệu. Mong Saga sắp tới sẽ cung cấp cho cộng đồng kiến thức về chứng khoán nhiều hơn nữa để các nhà đầu tư có thể tham khảo và có các quyết định chuẩn xác hơn về cách sử dụng đồng tiền của mình sao cho hiệu quả nhất.

SOURCE: SAGA.VN

TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CHO NHỮNG NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHÓAN

1. Cẩm nang cho nhà đầu tư mới vào nghề

Trên thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều nhà đầu tư giao dịch cổ phiếu (CP) xuất phát từ những mẹo do bạn bè mách bảo, các cú điện thoại của nhà môi giới hay nhưng đề xuất của một nhà phân tích nào đó. Họ thường mua CP khi thị trường đang trong giai doạn nóng bỏng, đến lúc thị trường trở lạnh, họ rất dễ hoảng loạn, bán tháo số CP nắm giữ để rồi hứng chịu một khoản thua lỗ. Đó là câu chuyện rất điển hình về những nhà đầu tư mới vào nghề.
Đầu tư chứng khoán về cơ bản là một quá trình bao gồm 4 bước như sau:
Bước 1: Chọn lựa CP
Bước đầu tiên trong việc chọn lựa một CP là bắt đầu theo dõi diễn biến các CP. Đặt một CP vào danh sách theo dõi (Watch list) sẽ làm tăng sự chú ý của bạn đối với CP đó. Thật hiếm khi bạn tìm được một CP nào đó rồi mua ngay tức thì. Một danh sách quan sát là mấu chốt để lựa chọn CP thành công.
Nếu bạn theo trường phái phân tích kĩ thuật, thì khi đó diễn biến giá CP là lý do chính của việc lựa chọn một CP đó để theo dõi.
Còn nếu bạn theo trường phái phân tích cơ bản, thì tin tức về thu nhập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là lý do chính để bạn quan tâm đến CP này. Một khi CP đã nằm trong danh sách theo dõi, bạn có thể so sánh diễn tiến giá cả của CP đó với diễn tiến giá cả của các CP khác. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin khác liên quan đến CP đó nhằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định.
Nhà đầu tư theo trường phái phân tích kĩ thuật có thể quan tâm đến việc tìm kiếm các thông tin có tính kỹ thuật về CP. Liệu CP có diễn biến giá cả giống như trong quá khứ không? Xu hướng giá CP trong 13 tuần, 26 tuần hay 52 tuần gần đây nhất là đi lên hay đi xuống? So với lúc bắt đầu được đưa vào danh sách, CP đó tăng hay giảm bao nhiêu phần trăm?
Nhà đầu tư theo trường phái phân tích cơ bản sẽ tìm kiếm tin tức, các bản bảo cáo thu nhập, báo cáo ngành hay báo cáo của nhà phân tích nhằm tìm kiếm thông tin. Tuy nhiên, khi chọn lựa CP để theo dõi, cách tốt nhất là các nhà đầu tư nên kết hợp các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu CP đó có đáng được theo dõi hay không.
May mắn lắm bạn cũng chỉ chọn được 2 đến 3 CP tốt trong số 10 lần chọn. Bởi vậy, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy các CP giảm giá sẽ chiếm đa số trong danh sách theo dõi. Cần lưu ý rằng, chỉ nên đưa những CP tốt nhất trong danh sách theo dõi vào danh mục đầu tư của bạn.
Bước 2: Chấp nhận vị thế
Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, bạn chỉ cần liên hệ với nhà môi giới và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số điều. Trước tiên là loại giao dịch mà bạn thực hiện: đoản hay trường (short or long). Mặc dù xu hướng chung của giá CP là di lên nhưng bất kỳ ai dã từng mắc phải một vị thế thua lỗ đều có thể hiểu rằng, trong ngắn hạn CP có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên. Nhìn chung, bạn nên tránh nhưng vị thế đoản (vị thế bán non). Chúng ngốn rất nhiều thời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho vị thế đoản lại rất hiếm hoi. Nếu bạn thực hiện vị thế đoản, bạn cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế trường.
Kế đến là việc chọn lựa nhà môi giới. Nếu bạn là một nhà đầu tư tư nhân bạn có lẽ chỉ cần đến một nhà môi giới phần dịch vụ (discount broker). Đây là nhà môi giới cung cấp dịch vụ cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng.
Bước 3: Giám sát vị thế
Giám sát các vị thế đã thực hiện là phần quan trọng nhất của quá trình đầu tư. Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đưa bạn đến chỗ ra quyết định giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dõi và đánh giá quyết dịnh đầu tư của mình. Khi vị thế đó nằm ở vị trí bấp bênh giữa lỗ và lãi, bạn cần phải hết sức chú ý đến những vị thế này. Khi CP mà bạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng, đó là CP tốt thì bạn nên tính đến chuyện mua thêm CP này. Nếu CP mà bạn chọn giảm giá liên tục bạn cũng nên cân nhắc bán đi CP đó nhằm hạn chế thua lỗ.
Bước 4: Kết thúc vị thế
Nhà đầu tư thường bán CP khi giá CP đạt đến mức giá mục tiêu (target price) hay CP không diễn biến theo như mong đợi của anh ta. Tuy nhiên, rất nhiều nhà đầu tư không biết bán khi nào và bán như thế nào để kết thúc một vị thế và mang lại kết quả tốt nhất. Thông thường, bạn nên bán CP khi những nhân tố cơ bản cho thấy sự sa sút đáng kể, chắng hạn như, thu nhập và lợi nhuận công ty giảm sút trong nhiều năm liền, thị phần thu hẹp dần do cạnh tranh gay gắt hay nội bộ ban giám đốc luôn lục đục…

———————————————————-

2. Nên quan tâm đến gì trước khi đầu tư?

Tôi đã đầu tư vào hàng nghìn công ty khác nhau trên thị trường chứng khoán. Thành công không bao giờ đến từ những điều thần kỳ hay sự nỗ lực ít ỏi. Luôn có một công thức hướng tới lợi nhuận. Điều quan trọng là bạn cần biết nhìn vào đâu trước mỗi quyết định đầu tư”. Đó là nhận định của Doug Richard, một trong những nhà đầu tư chứng khoán hàng đầu trên thế giới.
Năm 2004, Doug Richard đã được tạp chí BBC bầu chọn là nhà đầu tư có cái nhìn sắc sảo nhất trong giới đầu tư chứng khoán Anh. Những khoản đầu tư cổ phiếu, trái phiếu của Doug luôn có tỷ lệ sinh lời trên 20%. Mặc dù lựa chọn phương thức đầu tư mạo hiểm nhưng dường như chưa bao giờ Doug phải đương đầu với thua lỗ. Nhiều người băn khoăn tự hỏi: Đâu là “người bảo vệ” cho những khoản đầu tư mạo hiểm của Doug Richard?
Sự thật rất đơn giản! Doug Richard dành khá nhiều thời gian phân tích kỹ lưỡng trong giai đoạn tiền đầu tư. Với Doug, luôn có 5 nhân tố then chốt cần phải quan tâm trước khi đầu tư tiền bạc vào một loại cổ phiếu nào đó:
1. Đảm bảo an toàn vốn
Để kế hoạch đầu tư không đương đầu với rủi ro lớn, điều đầu tiên mà các nhà đầu tư cần quan tâm là đảm bảo đồng vốn của mình được an toàn, không bị giảm sút. Các nhà đầu tư nên xây dựng danh mục đầu tư đa đạng. Ðầu tư đôi khi cũng có nhầm lẫn, sự nhầm lẫn này có thể làm các nhà đầu tư phá sản. Vì vậy khi đầu tư chứng khoán nên tránh tập trung vào một loại chứng khoán mà cần chia ra nhiều loại chứng khoán khác nhau, tức là phân tán rủi ro. Mọi người biết rằng những công ty lớn nhất trên thị trường cũng có thể phá sản, vì vậy một danh mục đầu tư càng đa dạng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, những “cổ phiếu thắng cuộc” sẽ bù đắp cho những “cổ phiếu thua cuộc”. Nếu số tiền ít thì nên mua chứng khoán của công ty mà chúng ta đang làm việc, gia nhập các hội đầu tư hoặc là mua cổ phiếu của các Quỹ hỗ tương.
Không chỉ có vậy, giá cổ phiếu tăng liên tục trong một thời gian nhất định sẽ mang lại cho các nhà đầu tư những khoản lời lớn hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chính sự tăng giá này đã đẩy giá các loại cổ phiếu lên mức giá quá cao. Vậy nên mua vào hay bán ra cổ phiếu nào vào thời điểm này? “Không nên tham quá khi cố găm giữ cổ phiếu để chờ nó tăng giá cao hơn nữa. Cái quan trọng là phải biết khi nào nó chuẩn bị mất giá để kịp thời bán ra, chứ để khi giá đã xuống thấp thì cho dù có muốn bán cũng chẳng có ai mua”, Doug cho biết.
2. Sự đổi mới và cách tân
Sự đổi mới không chỉ đơn thuần là những phát minh sáng chế. Nó có thể là những cách thức mới để tiến hành các hoạt động kinh doanh cũ. Một công ty nhiệt huyết với sự đổi mới thì cổ phiếu của những công ty đó sẽ hứa hẹn tiềm năng tăng trưởng rất lớn. Trong khi, một công ty quá bảo thủ với những phương thức truyền thống thì cổ phiếu của công ty đó cũng trở nên trì trệ và kém năng động.
Điều quan trọng để chiến lược đầu tư được thành công là việc nắm bắt rõ tính năng động của cổ phiếu. Do đó, các nhà đầu tư nên tìm hiểu xem công ty mà mình dự định đầu tư có thực sự hướng đến những phương pháp kinh doanh mới khi gặp khó khăn hay không.
3. Tình hình nhân sự
Hoạt động kinh doanh đều do con người thực hiện. Do vậy, việc nắm bắt tình hình nhân sự của công ty mà bạn dự định đầu tư là rất cần thiết”, Doug nói. Theo ông, việc tìm hiểu tình hình nhân sự không phải là công việc quá khó khăn. Không ai có tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm và danh tiếng để điều hành các hoạt động kinh doanh, điều quan trọng chính là ở chỗ họ có nhiệt huyết với công việc hay không.
“Khi tôi nhìn vào tình hình nhân sự, tôi muốn thấy sự nỗ lực công việc của các nhân viên trong công ty mà tôi dự định đầu tư”, Dough nói, “Một công ty có tình hình nhân sự không ổn định, thường xuyên thay đổi nhân viên không phải là một công ty tốt để đầu tư”.
Hơn thế nữa, với Doug, tình hình nhân sự cũng là yếu tố quyết định để bán cổ phiếu. Nếu những nhà quản lý hàng đầu của công ty (những người chịu trách nhiệm về sự thành công của công ty) bắt đầu rời bỏ công ty thì có thể xem đó là dấu hiệu bất lợi cho tương lai của công ty. Khi đó cần phải theo dõi và phát hiện xem tại sao lại có những thay đổi như vậy. Đặc biệt, khi phát hiện ra những dấu hiệu cho thấy công ty đang trở nên suy yếu trong lĩnh vực kinh doanh chính thì tốt nhất nên bán cổ phiếu của công ty đó đi và thay vào đó là tìm mua cổ phiếu của công ty khác trong cùng lĩnh vực đó nhưng mạnh hơn và có Ban quản trị ổn định hơn.

4. Bản cáo bạch

Bản cáo bạch luôn được xem như một tài liệu then chốt. Đối các nhà đầu tư, Bản báo bạch là phương tiện giúp họ đánh giá mức độ sinh lời và triển vọng của công ty trước khi quyết định có đầu tư vào công ty hay không. Một quyết định thiếu thông tin có thể làm các nhà đầu tư phải trả giá đắt.
Bởi vậy, các nhà đầu tư nên đọc Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng và tìm hiểu rõ những may rủi thực sự của công ty trước khi ra quyết định đầu tư. Nên đánh giá cẩn thận những yếu tố cơ bản của công ty dự định đầu tư thông qua việc nghiên cứu các thông tin trong Bản cáo bạch. Mặc dù những đợt chào bán lần đầu ra công chúng dường như là cơ hội đầu tư tốt vì chúng thường mang lại lợi nhuận ban đầu cao, tức là tiền chênh lệch, do cổ phiếu tăng giá; nhưng rủi ro vẫn tồn tại và không có gì bảo đảm là sẽ thu được tiền chênh lệch hoặc tiền chênh lệch sẽ được như mức mà bạn trông đợi.
“Tôi luôn bắt đầu phân tích một công ty phát hành bằng Bản cáo bạch của công ty. Trong quá trình thực hiện, tôi tự đặt ra cho mình một số mục đích quan trọng như tìm hiểu xem việc kinh doanh của công ty có tiến triển hay không, lợi nhuận trung bình như thế nào, nợ nần ra sao,… Doanh thu tăng có nghĩa là lợi nhuận cũng tăng và dẫn tới giá cổ phiếu tăng. Nhưng các con số chưa phải là nói lên tất cả. Do vậy, sẽ rất cần thiết khi nghiên cứu Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng để tìm ra những dấu hiệu tăng trưởng của công ty”, Doug nói.
Các nhà đầu tư cũng nên tìm hiểu về các sản phẩm công ty kinh doanh, khách hàng của công ty, đặt ra câu hỏi liệu các sản phẩm này có tiếp tục bán được nữa không. Các thông tin chính về các vấn đề này nằm trong các phần khác nhau của Bản cáo bạch.

5. Kế hoạch kinh doanh

“Nếu công ty mà bạn dự định đầu tư không có những kế hoạch kinh doanh tốt thì triển vọng lợi nhuận của cổ phiếu gần như bằng không. Bạn đừng mắc phải sai lầm này, kinh doanh là một cuộc chiến. Để kiếm lời từ cổ phiếu bạn cần hiểu cổ phiếu đó đang làm những gì và có kế hoạch như thế nào”, Doug nói.
Tất cả các hoạt động kinh doanh đều có những kế hoạch và mục tiêu. Kế hoạch kinh doanh sẽ tạo ra những trọng điểm mà công ty cần tập trung vào. Các nhà đầu tư không thể bỏ qua việc nghiên cứu các kế hoạch kinh doanh nếu muốn có được những khoản đầu tư sinh lời.
Việc tìm hiểu kế hoạch kinh doanh của các công ty không quá dễ nhưng cũng không quá khó. Các nhà đầu tư có thể tìm hiểu từ chính những nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu của công ty đó. Họ là những người am hiểu về cổ phiếu này hơn ai hết.
Tạp chí BBC đã có một cuộc phỏng vấn ngắn với Doug Richard về công việc đầu tư chứng khoán của ông:
BBC: Giới đầu tư chứng khoán đồn rằng, khi bắt đầu, mới “chơi” cổ phiếu có hơn 5 tháng mà ông lãi cả triệu bảng Anh?

Doug Richard:
Tôi không tranh cãi chuyện thiên hạ đồn đại về mình, bạn bè vẫn quen gọi tôi là “trùm cổ phiếu”. Điều mà tôi cảm thấy yên tâm và hài lòng sau một thời gian tham gia đầu tư cổ phiếu là đã chọn đúng nhà môi giới. Tôi cho rằng, từ cơ sở hạ tầng đến đội ngũ nhân viên môi giới của Công ty môi giới Nicleway, nơi tôi đang mở tài khoản là đáng tin cậy.

BBC:
Cơ sở nào tạo cho ông sự tin cậy này?

Doug Richard:
Theo đánh giá của tôi, ở Nicleway khả năng của nhà môi giới là vượt trội. Điều này thể hiện qua cách trả lời chính xác, dễ hiểu, mức độ tinh thông nghiệp vụ, tính trung thực, tinh thần phục vụ và tính bảo mật khách hàng của đội ngũ nhân viên làm việc ở đây. Nhờ vậy, khả năng truyền thông giữa các nhân viên môi giới tại sàn của công ty chứng khoán và tại Sở Giao dịch chứng khoán thường rất nhanh chóng, chính xác. Ngoài ra, Nicleway còn có những dịch vụ hỗ trợ khác như có thể cho khách hàng thế chấp chứng khoán ở ngân hàng mẹ để vay tiền mua chứng khoán hoặc để làm việc khác…

BBC:
Có phải ông gián tiếp cho rằng trong đầu tư chứng khoán thì điều đầu tiên cần quan tâm là việc chọn công ty chứng khoán?

Doug Richard:
Điều này đã từng được các chuyên gia về chứng khoán khuyến cáo. Thực tế trong thời gian qua lời khuyên này là hoàn toàn chính xác. Có thể thấy, trong điều kiện đặt lệnh giao dịch qua nhân viên môi giới tại các công ty chứng khoán như hiện nay, khả năng xử lý lệnh nhanh nhạy của nhân viên môi giới là hết sức quan trọng, bởi vì nếu bạn đặt lệnh cùng với giá của người khác mà nhân viên môi giới lại nhập lệnh chậm hơn đối thủ cạnh tranh thì bạn đã mất quyền ưu tiên và khả năng lệnh của bạn được thực hiện rõ ràng nhỏ hơn người kia.

BBC:
Việc chọn đúng nhà môi giới là một lợi thế nhưng để mua hoặc bán được cổ phiếu ở mức giá vừa ý lại do nhà đầu tư quyết định. Với kinh nghiệm của mình, ông có thể “bật mí” một vài bí quyết?

Doug Richard:
Phương pháp mà tôi sử dụng để xây dựng “danh mục đầu tư” của mình là dựa vào những nhận định của bản thân. Nhận định này được tính theo mức lợi tức kỳ vọng cho mỗi giả định đầu tư của mình và so sánh chúng với nhau để tìm ra danh mục tối ưu về mặt số lượng và chủng loại chứng khoán (tức là danh mục có kỳ vọng cao nhất).
Tôi cho rằng, phương pháp tính lợi tức kỳ vọng này phụ thuộc chủ yếu vào đánh giá chủ quan của mỗi nhà đầu tư dựa trên các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp hàng tháng, hàng tuần, thậm chí hàng ngày. Việc đánh giá xác suất và tỷ lệ lợi nhuận được chia tuy cùng dựa trên cơ sở thực tế là bản cáo bạch, báo cáo về việc phân chia cổ tức, thông tin đại chúng, thông tin không chính thức mà nhà kinh doanh thu thập được nhưng người nào có nhiều thông tin chính xác và có khả năng dự đoán tốt hơn sẽ có nhiều cơ hội thành công. Điều này đòi hỏi người tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải luôn động não, cần khả năng tư duy, thậm chí đòi hỏi họ cả ý chí và bản lĩnh.

BBC:
Nhà đầu tư có nên một lúc đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu?

Doug Richard:
Có một nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh chứng khoán là đừng bao giờ “bỏ tất cả trứng vào một rổ”. Tuy vậy, việc đầu tư dàn trải vào quá nhiều danh mục đầu tư cũng có thể không mang lại hiệu quả mong đợi. Người đầu tư vừa mất sức lực lại vừa không kiểm soát được đối tượng đầu tư của mình. Theo tôi, nhà đầu tư nên tìm hiểu nhiều loại chứng khoán nhưng chỉ nên đầu tư vào một số loại chứng khoán mà họ tin tưởng nhất.

BBC:
Lời khuyên nào với các nhà đầu tư chứng khoán mới vào nghề?
Doug Richard: Trong mua bán chứng khoán, điều quan trọng là nhà đầu tư phải biết tự bảo vệ mình và đưa ra những phương pháp đầu tư phù hợp nhất với từng loại chứng khoán.. Một số biện pháp an toàn cơ bản mà các chuyên gia chứng khoán đã khuyến cáo có thể được tham khảo như hãy cảnh giác với những tin đồn, những người bán đang gây sức ép buộc mình phải hành động tức thời hoặc những sự bảo đảm hay lời hứa về lợi nhuận nhanh chóng; phải chắc chắn hiểu rõ về sự mạo hiểm, rủi ro phát sinh trong mua bán chứng khoán. Ngoài ra cũng cần hiểu bản chất của thị trường chứng khoán là luôn biến động, điều quan trọng mà các nhà đầu tư nên nhớ là thành công trước đây không phải là sự bảo đảm cho thành công trong tương lai đối với một phi vụ đầu tư.
BBC: Xin cảm ơn ông!
Được mệnh danh là một nhà đầu tư được coi là “có máu mặt” tại Anh, kinh nghiệm và những lời khuyên của Doug Richard chắc chắn sẽ rất hữu ích trong thời buổi thị trường có nhiều biến động như hiện nay, đặc biệt là đối với những nhà đầu tư mới vào nghề. Để rồi, “chính sự cẩn trọng và nhanh chóng nắm bắt kinh nghiệm đầu tư chứng khoán sẽ đưa đến bí quyết thành công trên thị trường chứng khoán”, Doug Richard nhận định.

Những nhân vật không thể thiếu trên thị trường chứng khoán

Trải qua hàng trăm năm lịch sử hình thành, thị trường chứng khoán đến nay vẫn không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định là một kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế. Cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và yêu cầu về sự đa dạng trong các hoạt động đầu t¬ư, đến nay nhiều loại thị trường đã ra đời với các hình thức tổ chức thị trường từ đơn giản đến hiện đại và hết sức chặt chẽ.
Thị trường chứng khoán không thể thiếu những thành viên hoạt động của mình. Khi đề cập đến các hình thức tổ chức thị trường không thể không nhắc đến vai trò của các chuyên gia và các nhà tạo tập thị trường trong việc tạo lập sự công bằng, hiệu quả và trật tự trên mỗi thị trường này.

——————————————-

3. Vai trò của chuyên gia chứng khoán trên thị trường chứng khoán giao dịch tập trung.

Mục tiêu của các Sở giao dịch là tạo lập một môi trường giao dịch chứng khoán (chứng khoán) an toàn và hiệu quả, trong đó các nhà đầu tư phải được đối xử công bằng, được cung cấp thông tin tương xứng nhằm hỗ trợ kịp thời cho các quyết định đầu tư.
Trên thị trường chứng khoán giao dịch tập trung, chuyên gia chứng khoán là những người hoạt động chuyên môn nhằm duy trì sự công bằng, cạnh tranh và hiệu quả về một loại chứng khoán đã niêm yết. Ngoài ra, các chuyên gia còn là sự kết nối giữa các nhà môi giới với các lệnh đặt mua và bán trên thị trường chứng khoán, hỗ trợ cho các giao dịch được thực hiện an toàn và hiệu quả.
Một giao dịch được thực hiện khi giá cả đã hợp lý, để đạt được mức giá hợp lý thì các lệnh đều phải chuyển qua các chuyên gia phụ trách. Vai trò của các chuyên gia được thể hiện qua các hoạt động sau:

  • Vai trò là đại lý của các nhà môi giới: Công việc của chuyên gia là thực hiện lệnh cho các nhà môi giới đối với loại chứng khoán mà họ phụ trách. Nếu một khách hàng tiến hành đặt lệnh thông qua nhà môi giới, trong trường hợp lệnh giới hạn không thể thực hiện được, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này sang các chuyên gia, các chuyên gia sẽ trở thành người đại diện cho nhà môi giới đối với lệnh đó tại sàn giao dịch.
  • Vai trò là nhà đấu giá: Trong toàn bộ phiên giao dịch, các chuyên gia sẽ đưa ra một mức giá chào mua – chào bán tốt nhất, trên cơ sở đó đến đầu mỗi phiên giao dịch họ thiết lập một mức giá giao dịch hợp lý đối với từng loại chứng khoán trên cơ sở cung – cầu về loại chứng khoán đó. Hoạt động này nhằm bảo đảm trật tự thị trường đối với từng loại chứng khoán mà họ phụ trách, đồng thời hạn chế sự dao động về giá cả của chứng khoán đó.
  • Vai trò là nhà kinh doanh: Các chuyên gia thực hiện giao dịch tại một mức giá nằm trong khoảng giá chào mua cao nhất và giá chào bán thấp nhất. Họ là người chịu trách nhiệm giảm thiểu sự chênh lệch giữa lệnh mua và lệnh bán. Việc mua và bán này được thực hiện theo hướng của thị trường cho đến khi sự chênh lệch được cân bằng trở lại.
  • Trong trường hợp xảy ra biến cố về lệnh, về giá cả… tại thị trường giao dịch tập trung, vai trò của các chuyên gia trở nên rất quan trọng trong việc chủ động điều chỉnh các biến cố về trạng thái cân bằng và ổn định.

—————————————————-
4. Vai trò của các nhà tạo lập thị trường trên thị trường phi tập trung.

Nhà tạo lập thị trường là người thực hiện chức năng duy trì thị trường cho một loại chứng khoán. Chẳng hạn, đối với chứng khoán A là chứng khoán không niêm yết và được mua bán trên thị trường phi tập trung (OTC). Nhà tạo lập thị trường là người đặt ra mức giá bán chứng khoán A cho bên mua với sự thách giá trên cơ sở tương ứng với mức giá mà bên bán (khách hàng của họ) yêu cầu.
Sau khi nhà đầu tư đặt lệnh mua bán chứng khoán A trên thị trường OTC, nhà môi giới sẽ chuyển lệnh này tới nhà kinh doanh (thuộc bộ phận kinh doanh của công ty môi giới). Nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm người có thể bán số chứng khoán A (nhà môi giới bên bán). Lúc này, nhà môi giới bên bán đóng vai trò là người tạo lập thị trường cho chứng khoán A.
Thực tế là có nhiều nhà môi giới sẵn sàng bán chứng khoán A và như vậy sẽ có rất nhiều nhà tạo lập thị trường đối với chứng khoán A tương đương với các mức “thách giá” khác nhau. Nhà kinh doanh bắt đầu tiến hành thương lượng về giá cả của chứng khoán A với các nhà tạo lập thị trường để có thể đạt được mức giá tối ưu. Giao dịch sẽ được thực hiện khi nhà kinh doanh tìm được nhà tạo lập thị trường bán số chứng khoán A với mức giá thấp nhất.
Thông thường các nhà tạo lập thị trường là những nhà môi giới đã được đăng ký. Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà môi giới đã đăng ký đều là những nhà tạo lập thị trường. Để có thể trở thành một nhà tạo lập thị trường thì người môi giới phải thực sự quan tâm đến việc tạo dựng thị trường cho một loại chứng khoán.
Vai trò của các nhà tạo lập thị trường được thể hiện thông qua các hoạt động sau:

  • Duy trì tính thanh khoản của thị trường đối với một loại chứng khoán khi chứng khoán đó được phát hành ra thị trường.
  • Tăng khả năng thực hiện giao dịch một loại chứng khoán có thể sinh lời do sự cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau đối với cùng loại chứng khoán đó.
  • Thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tới một loại chứng khoán không niêm yết trên thị trường.
  • Tăng tính thanh khoản của thị trường đối với một loại chứng khoán khi tăng số lượng các nhà tạo lập thị trường.

Các chuyên gia cũng có thể trở thành “nhà tạo lập thị trường” đối với một loại chứng khoán cụ thể trong điều kiện phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ. Sự kiểm soát này sẽ hạn chế được các sai phạm nếu họ lạm dụng quyền hành độc quyền của mình tại Sở giao dịch.
Bên cạnh đó, các nhà tạo lập thị trường có xu hướng cạnh tranh với nhau do luôn có nhiều nhà tạo lập thị trường đối với một chứng khoán, do đó thị trường OTC được đánh giá là có khả năng tự điều chỉnh tốt hơn thị trường giao dịch chứng khoán tập trung.
Cả chuyên gia chứng khoán và nhà tạo lập thị trường đều được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do họ thường xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên sổ lệnh, vì vậy họ có nhiều khả năng bị “rò rỉ” thông tin khi có sự biến động thị trường. Nếu không bị cấm, các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường có thể sử dụng các thông tin này (bao gồm các thông tin nội bộ) để thực hiện kinh doanh cho chính họ nhằm thu lợi nhuận. Đó cũng chính là lý do tại sao những đối tượng này bị kiểm soát chặt chẽ. Một yêu cầu khác nữa là họ phải công bằng với tất cả các nhà đầu tư, không được phép thiên vị bất cứ bên nào.
Ngày nay, trên thế giới có nhiều loại thị trường mới ra đời như thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường hợp đồng tương lai, thị trường quyền chọn… cùng với sự hỗ trợ của các phương thức giao dịch đa dạng đã không ngừng thúc đẩy sự phát triển của hệ thống thị trường chứng khoán, góp phần vào sự công bằng, hiệu quả và trật tự đối với các giao dịch tại các thị trường này… Vì vậy vai trò của các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường là luôn được khẳng định.

—————————————-

5. Cẩn trọng khi giao dịch với các Công ty chứng khoán

Hiện tại, cách tiếp cận dễ nhất của nhà đầu tư với thị trường chứng khoán là qua các công ty chứng khoán. Tại các thị trường chứng khoán lớn trên thế giới, các hình thức đầu tư chứng khoán cũng đã “xâm nhập” vào tư duy của mọi người. Trên những thị trường này, có thể thấy lượng khách hàng đến các công ty chứng khoán mở tài khoản giao dịch nói riêng hay lượng người quan tâm đến chứng khoán nói chung ngày một tăng
Các công ty chứng khoán có thể cung cấp những nghiệp vụ như môi giới, tư vấn, quản lý danh mục đầu tư, tự doanh, bảo lãnh phát hành,.
Khi tiến hành tư vấn đầu tư chứng khoán trực tiếp cho khách hàng, các công ty này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình và bồi thường thiệt hại cho người sử dụng nếu vi phạm các cam kết. Trong trường hợp thực hiện tư vấn cho doanh nghiệp trong việc niêm yết chứng khoán, các công ty phải liên đới chịu trách nhiệm về nội dung trong hồ sơ xin niêm yết. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều công ty chứng khoán lợi dụng những khe hở của pháp luật để tiến hành các hành vi tiêu cực mà nếu không cẩn thận các nhà đầu tư rất dễ gặp rủi ro.

1. Tư vấn vì lợi ích cá nhân của các công ty chứng khoán:

Do ý đồ cá nhân, công ty chứng khoán có thể sẽ tư vấn đầu tư không phù hợp với nhu cầu, khản năng tài chính và mục tiêu của khách hàng. Do đó, khách hàng cần nhận thức rằng, mình muốn được hướng dẫn đầu tư phù hợp với bản thân mình chứ không phải phù hợp với người môi giới. Mỗi khoản đầu tư được tư vấn đều cần có lời giải thích cặn kẽ, gồm cả việc khuyến cáo các rủi ro.

2. Vi phạm quy định giao dịch công bằng:

Các hoạt động sau đây của các công ty chứng khoán bị xem là vi phạm những quy định liên quan đến giao dịch công bằng:

  • Đề nghị thực hiện việc đầu cơ chứng khoán mà không xem xét tình hình tài chính của khách hàng và đảm bảo khách hàng không chịu rủi ro.
  • Mở tài khoản khống chế thực hiện việc kinh doanh chứng khoán trái phép.
  • Thực hiện các giao dịch ngoài thẩm quyền được giao.
  • Đề nghị mua chứng khoán không thích hợp với khả năng chi trả của khách hàng.
  • Các hoạt động lừa đảo (chẳng hạn như giả mạo và cung cấp không đầy đủ hoặc không cung cấp số liệu thực tế).

3. Giao dịch thái quá:


Hành vi giao dịch thái quá có nghĩa là giao dịch thường xuyên và với số lượng lớn trên tài khoản của khách hàng nhằm mục đích nhận hoa hồng mà không nhằm đạt được các mục tiêu khách hàng đã đề ra. Đây là hành vi lạm dụng trách nhiệm uỷ quyền của khách hàng.
Một trong những biện pháp để ngăn chặn hành vi lạm dụng này là nhà đầu tư cần phải yêu cầu tất cả tài khoản mà mình uỷ quyền cho công ty chứng khoán phải được giám sát viên của công ty chứng khoán xem xét thường xuyên.
4. Vay và cho vay tiền và chứng khoán:

  • Vay tiền và vay chứng khoán của khách hàng: Các công ty chứng khoán bị cấm vay tiền hay chứng khoán từ khách hàng trừ phi khách hàng là ngân hàng hay các tổ chức tài chính có chức nang thực hiện việc cho vay tiền và chứng khoán.
  • Cho khách hàng vay tiền và chứng khoán: Các công ty chứng khoán cũng bị cấm cho khách hàng vay tiền hay chứng khoán. Quy định này không áp dụng cho nghiệp vụ vay bảo chứng của các công ty chứng khoán hay việc các nhà môi giới chứng khoán cho vay theo nghiệp vụ thông thường.

5. Xuyên tạc:
Các công ty chứng khoán có thể xuyên tạc, nói không đúng về bản thân hay về các dịch vụ của công ty mình đối với khách hàng tiềm năng. Do đó, theo quy định, Công ty chứng khoán không được phép xuyên tạc về:

  • Trình độ, kinh nghiệm và học vấn.
  • Loại hình dịch vụ phục vụ khách hàng.
  • Các loại phí.

Việc công bố không chính xác hay không công bố các sự kiện quan trọng liên quan đến những vấn đề trên cũng bị coi là xuyên tạc. Khách hàng sẽ phải khó khăn khi so sánh chất lượng dịch vụ giữa các công ty chứng khoán nếu khách hàng không được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác liên quan đến vấn đề chuyên môn.
6. Sử dụng các báo cáo, công trình nghiên cứu của công ty hoặc cá nhân khách hàng:
Công ty chứng khoán không được phép sử dụng các nghiên cứu phân tích hay đề nghị do cá nhân hay công ty khác tiến hành mà không công bố rằng, các báo cáo này không phải do chính họ thực hiện. Công ty chứng khoán có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu trong các báo cáo hay phân tích của người khác nhưng không được tự nhận rằng, các báo cáo, nghiên cứu đó là của mình.
Có thể nói, nhà đầu tư đến bất kỳ Công ty chứng khoán nào cũng đều dễ dàng được tiếp cận với những thông tin thị trường, những lời khuyên của nhà môi giới, hoặc tư vấn của các chuyên gia… Đó là tại những thị trường lâu đời như phố Wall, Nhật Bản, Hồng Kông. Tuy nhiên, tại những thị trường chứng khoán còn rất mới và sơ khai như thị trường Việt Nam, các chủ thể hoạt động trên thị trường vẫn trong giai đoạn vừa làm vừa bổ sung và củng cố nên nhà đầu tư chưa thể có cơ sở để đặt niềm tin tuyệt đối vào bất kỳ một định chế tài chính nào.
Nhà đầu tư cần ý thức rằng dù có biết được một tin tức tốt lành đến đâu đi nữa thì quyết định mua hay bán vẫn cần cân nhắc kỹ bởi mua chứng khoán là mua bằng tiền của chính mình, được hay mất đều tác động trực tiếp đến ngân sách của nhà đầu tư. Đặc biệt cần thận trọng với trào lưu thị trường vì trong trào lưu thị trường hiện tại, nhà đầu tư bỏ tiền mua chứng khoán nhìn chung vẫn theo xu hướng kỳ vọng giá lên chứ không mấy ai có những phân tích sát thực tình hình hoạt động của công ty niêm yết để tìm ra một mức giá hợp lý.
Nhiều chuyên gia chứng khoán cho rằng rất khó dự đoán xu thế biến chuyển của giá chứng khoán vì hai nguyên nhân:
Thứ nhất, các thông tin về công ty niêm yết chưa thực sự được công bố thường xuyên và đầy đủ.
Thứ hai, do hình thức đầu tư chứng khoán còn rất mới mẻ đối với công chúng nên việc quyết định mua, bán chứng khoán của nhiều nhà đầu tư vẫn mang tính tự phát theo trào lưu, chưa có sự phân tích đánh giá nên không ổn định trong tâm lý đầu tư.
Có một vài điều nhà đầu tư cần lưu ý khi giao dịch với các Công ty chứng khoán, cụ thể:

  • Hãy yêu cầu Công ty chứng khoán cho bạn biết về tình hình thị trường hiện tại, bạn cũng có thể yêu cầu họ cung cấp các tài liệu về tình hình của các công ty niêm yết. Hãy quan tâm đến những quy định cơ bản về hoạt động của công ty và thị trường như giới hạn khoản tiền mở tài khoản, mức phí môi giới, biên độ dao động giá…
  • Cần thận trọng đối với những nhà tư vấn đầu tư cung cấp thông tin không khớp với các thông tin trong tài liệu. Trong trường hợp có nhiều điểm không giống hãy xin tư vấn dưới dạng văn bản về những gợi ý đầu tư và lý do đầu tư. Điều này sẽ hỗ trợ bạn trong trường hợp phát sinh các vấn đề sau khi bạn được tư vấn.
  • Các Công ty chứng khoán hứa hẹn lợi nhuận nhanh chóng và dễ dàng cũng là điều bạn cần cân nhắc Hãy nhớ là điều gì quá tốt, quá thuận lợi đều cần phải xem lại. Nên cân nhắc kỹ càng, nếu bạn còn băn khoăn điều gì hãy tìm lời khuyên của người tư vấn khác.
  • Đừng để bị thuyết phục dẫn đến những quyết định hấp tấp dựa trên các thông tin “nội gián”, thông tin “tuyệt mật”, “khả năng hợp nhất” hoặc “bị thâu tóm” hay những tin về “sản phẩm mới hấp dẫn”…
  • Khi đầu tư vào chứng khoán, nên hiểu rằng các điều kiện cấp phép do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đặt ra là nhằm bảo đảm cho các Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cũng như các nhân viên được cấp phép có đủ khả năng hoạt động trong lĩnh vực được cấp phép. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các loại giấy phép do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp sẽ đảm bảo tính trung thực đối với hành vi của người hoặc đơn vị được cấp phép hay chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp.Mua chứng khoán một cách khôn ngoanBắt đầu hoạt động đầu tư vào thị trường chứng khoán quả là không mấy dễ dàng. Mở tài khoản ở hãng tư vấn đầu tư sẽ rất tốn kém. Mua các loại chứng khoán khác nhau cũng đòi hỏi phải xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng.

    Cách tốt nhất để bắt đầu “buôn” chứng khoán là dùng chiến lược gọi là bình quân giá chi phí đôla (dollar-cost averaging). Đây là một thuật ngữ thường dùng để thực hiện các khoản đầu tư vào một chứng khoán thường xuyên và có hệ thống mà không tính đến yếu tố giá cả.

    Các cuộc nghiên cứu đã cho thấy rằng các nhà đầu tư theo chiến lược đó thường có khuynh hướng phải trả mức giá thấp hơn những người mua chứng khoán theo số lượng lớn. Chiến lược này khá hữu hiệu, đặc biệt đối với ngành có độ giao động cao như ngành công nghệ. Sở dĩ như vậy là bởi vì cùng 100$ một tháng có thể mua được nhiều chứng khoán hơn khi giá xuống và sẽ mua được ít chứng khoán hơn khi giá lên.

    Có rất nhiều cách để thiết lập nên những khoản đầu tư chứng khoán theo hệ thống. Cách thứ nhất có thể là thực hiện việc mua vào chứng khoán liên tục thông qua một nhà môi giới giảm giá trên mạng. Hoặc là nhà đầu tư có thể sử dụng dịch vụ của các nhóm hỗ trợ nhà đầu tư về chứng khoán.

    Nguyên tắc quan trọng nhất khi đầu tư chứng khoán là phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy tắc đã đề ra và thiết lập những khoản đầu tư thường xuyên trong quỹ chứng khoán của bạn mỗi tháng, bất kể là khoản đầu tư ấy nhỏ đến mức nào. Và sau đó, bạn hãy bình tĩnh vượt qua những “thử thách cam go” của thị trường.

—————————————————-
6. Định hướng tài sản trong đầu tư chứng khoán

Thế nào là tài sản thực và thế nào là tài sản tài chính? Nhà đầu tư nên đầu tư vào loại tài sản nào trên thị trường chứng khoán? Đó là câu hỏi mà các nhà đầu tư chứng khoán cần trả lời trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư chứng khoán. Có một số nhà đầu tư đã nhầm lẫn khi trả lời câu hỏi trên. Kết quả là họ phải chịu những khoản thua lỗ không đáng có.

Tài sản thực là các loại tài sản trực tiếp tham gia quá trình sản xuất hàng hóa – dịch vụ của nền kinh tế như: đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, chất xám,…

Ngược lại, tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp quá trình sản xuất hàng hóa – dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có giá,… Các loại tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thể chỉ là những dữ liệu trong máy tính, sổ sách.

Tài sản tài chính yêu cầu cao về lợi tức mà các tài sản thực tạo ra. Nói cách khác, tài sản thực tạo ra lợi tức thuần cho nền kinh tế, còn tài sản tài chính thì định ra sự phân phối lợi tức hoặc của cải giữa các nhà đầu tư.

Các nhà đầu tư đem của cải của mình đi mua các loại chứng khoán (tài sản tài chính). Những người phát hành chứng khoán (công ty, chính phủ,…) sử dụng số tiền huy động được từ việc phát hành chứng khoán để đầu tư mua tài sản thực như nhà xưởng, máy móc thiết bị, công nghệ, hàng hoá và thương hiệu. Khi đó, thu nhập từ chứng khoán của các nhà đầu tư chủ yếu từ lợi tức do các tài sản thực tạo ra và các tài sản thực này thì được tài trợ chủ yếu bằng việc phát hành chứng khoán.

Hàng hóa giao dịch trên thị trường chứng khoán là các tài sản tài chính, không là tài sản thực. Tùy theo ý chí và mục đích đầu tư, các nhà đầu tư có thể lựa chọn đầu tư vào các loại chứng khoán sau:

Chứng khoán lợi tức cố định:

Chứng khoán này được trả lợi tức cố định hàng năm như trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty,… Thông thường, lợi tức thấp do rủi ro rất thấp nếu tình hình tài chính của công ty tốt và lành mạnh.

Chứng khoán vốn (cổ phiếu thường):

Cổ tức tùy thuộc vào kết qủa hoạt động kinh doanh của công ty hàng năm. Nếu công ty hoạt động hiệu quả, giá trị cổ phần vốn tăng, ngược lại nếu hiệu quả kém thì giá trị cổ phần vốn sẽ giảm. Do vậy, đầu tư vào loại chứng khoán này luôn gắn liền với hiệu quả kinh doanh và tài sản thực của công ty. Do đó, mức độ rủi ro khá cao. Tuy nhiên, nếu phân tích và dự đoán chính xác hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty thì mức lợi nhuận thu được từ cổ tức và giá trị cổ phần đầu tư có thể rất cao, đôi khi trong khoảng thời gian rất ngắn.

Chứng khoán có điều kiện:

Chứng khoán này là các hợp đồng quyền chọn (option) và các hợp đồng tương lai (future), cung cấp những khoản thanh toán được xác định trước theo giá của các tài sản khác như giá trái phiếu, cổ phiếu hay hàng hoá. Loại chứng khoán này hiện nay rất thông dụng trên thị trường chứng khoán các nước do được sử dụng linh động và thuận tiện trong các giao dịch trên thị trường.

Đầu tư bất hợp pháp, biết để tránh!

Để đảm bảo một môi trường đầu tư lành mạnh, thị trường chứng khoán cần được xây dựng trên nền tảng thi hành trung thực và công bằng. Nhà đầu tư phải được bảo vệ tối đa. Sự an toàn chính là nhân tố thuyết phục cho thị trường tồn tại và được duy trì bởi: một hành lang pháp luật, một hệ thống quy chuẩn và nghiệp vụ được chuẩn hoá chi li và những điều cấm kỵ có tính nguyên tắc.
Trên thị trường có một số hoạt động bất hợp pháp mà điều này đôi khi ảnh hưởng đến quyền lợi của những nhà đầu tư. Những nhà đầu tư kinh nghiệm thường biết để hạn chế tối đa rủi ro cho mình. Tuy nhiên đối với những nhà đầu tư mới vào nghề thì vấn đề này vẫn còn rất mới mẻ. Và nếu không cẩn thận, nhà đầu tư sẽ “sập bẫy” trên thị trường chứng khoán
Giao dịch giả tạo
Tương tự như việc đưa ra chào mua, chào bán ảo, việc dựng lên các giao dịch nguỵ tạo có thể được một sổ người sử dụng nhằm tạo các đột biến thị trường cho một loại chứng khoán nào đó ngõ hầu phục vụ cho dụng ý cá nhân. Các động tác giả (artificial transactions) này dù được vận dụng dưới bất cứ hình thức nào đều bị nghiêm cấm.
Gài thế
Cũng nhằm ngụy tạo cảm giác thị trường của một chứng khoán nào đó sôi động, cùng lúc có hai người đưa ra hai lệnh mua và bán giống hệt nhau thông qua cùng một công ty môi giới và được thực hiện. Kết quả mua bán được báo cáo trên các hệ thống thông tin nhưng kỳ thực đây chỉ là một một mánh khoé tạo xung động giá chứ không có mua bán theo cung cầu trung thực.
Các cá nhân cũng có thể tự thực hiện thủ thuật này hoặc do các nhóm cùng cánh làm ăn bất chính tạo ra. Các công ty chứng khoán buộc phải lưu ý và phát hiện các lệnh đối ứng kiểu này và không được thực hiện nghiệp vụ khi biết rằng đó là một hoạt động gài thế (matching). Ví dụ mua và bán cùng loại chứng khoán, cùng số lượng, gần như cùng giá tại cùng thời điểm,…
Mua bán đột biến
Mua bán đột biến tăng lên được xác định khi một thành viên có thể cấu kết với khách hàng – thực hiện các lượng mua bán một lượng chứng khoán vượt trội, tại một thời điềm nào đó, khác xa với diễn biến bình thường, hoặc vượt quá sự cân đối nguồn tài chính của mình một cách lộ liễu. Hoạt động này có thể bị kết tội hoặc bị truy cứu đã gây nhiễu loạn thị trường.
Dùng các phương tiện truyền thông để gây ảnh hưởng thị trường
Các công ty chứng khoán, hoặc các cá nhân, đơn vị liên quan, không được dùng tiền mua chuộc và tạo ra các bài viết, các nhận định thuận lợi theo ý mình hoặc các đề cập có dụng ý khác trên báo chí, các ấn phẩm tài chính,… Tất nhiên điều cấm kỵ này không bao gồm các quảng cáo bình thường trên các phương tiện truyền thông và được phân biệt rõ như vậy.
Phao tin thất thiết hay gây lạc hướng
Các nhà kinh doanh giao dịch chứng khoán bị cấm sử dụng vị thế của mình để tạo ra các trung tâm ảnh hưởng và nơi đưa ra ý kiến nhằm lung lạc khách hàng bằng việc truyền bá hoặc cung cấp các thông tin sai lạc hoặc thất thiệt phục vụ cho mục tiêu lôi kéo quần chúng mua hay bán một loại cố phiếu cụ thể nào đó.
Chạy trước
Hành động chạy trước liên quan tới những tình huống theo đó một nhà kinh doanh môi giới chứng khoán trong khi đang giữ một lệnh mua hay bán của khách hàng đặc biệt là các khối lượng lớn có chiều hướng làm biến đổi thị trường lại thực hiện mua hoặc bán cho mình cùng phía với lệnh của khách hàng, trước khi đưa lệnh đó ra thị trường.
Nếu là lệnh mua, nhà kinh doanh môi giới không được mua riêng cho mình với giá bằng hay thấp hơn giá sau đó sẽ thực hiện cho khách hàng.
Tương tự trường hợp khách hàng ra lệnh bán thì công ty đó không được bán chứng khoán cùng loại cho tài khoản công ty mình bằng hoặc cao hơn giá sau đó sẽ thực hiện cho khách hàng.
Ép giá, trợ giá, chốt giá
Bất cứ nỗ lực chủ quan nào nhằm để tạo một áp lực làm cho giá một chứng khoán nào đó bị hãm lại ở mức thấp, hoặc đẩy giá xuống thấp hơn, được xem là hành động ép giá. Điều này bị lên án và cấm kỵ trong thị trường chứng khoán.
Tương tự các tác động chủ ý nhằm để duy trì một giá cao giả tạo hoặc chốt giá ổn định một cách không bình thường đối với một chứng khoán đều là các hành vi sai phạm và bị cấm.
Bên cạnh các biện pháp giám sát và duy trì sự tuân thủ các điều cấm cụ thể trên đây, có thể nói, toàn bộ thị trường chứng khoán được vận hành dựa vào một hệ thống nghiệp vụ, kỹ thuật, quy phạm,… được chuẩn hoá cao độ. Các hoạt động trong thị trường chứng khoán hầu như tất cả đều dựa trên những ‘đường ray’ theo một trật tự ăn khớp nhau. Sự tinh tế và nhạy cảm phát đi từ hiệu lực của hệ thống. .. giúp cho người ta có thể đo được độ trung thực theo yêu cầu “fair play” cho cả những thương vụ cực kỳ ngắn dù phải tính bằng giây.
Tính kỷ luật trong thị trường chứng khoán do được thể hiện từ các chuẩn mực chuyên sâu và cương kỷ như vậy, người đầu tư khi giao dịch trong thị trường này cần thiết phái nhờ đến chuyên viên tư vấn hoặc các nhà môi giới.

  • Có nên chuyển đổi mục tiêu đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận khác? Chuyển đổi mục tiêu đầu tư để tìm kiếm những khoản lợi nhuận khác lớn hơn luôn là lẽ thường trong hoạt động của các nhà đầu tư. Thị trường chứng khoán không phải lúc nào cũng dễ dàng như mong muốn: có những lúc thị trường chứng khoán lên giá khiến nhiều nhà đầu tư “mừng ra mặt”, nhưng cũng có khi thị trường sụt giảm làm không ít nhà đầu tư “mất ăn mất ngủ”. Nhiều người đã chuyển hướng đầu tư để tránh thua lỗ. Nhưng liệu những hành động như vậy có phải vào thời điểm nào cũng được coi là thích hợp?
    Câu hỏi đặt ra với các nhà đầu tư chứng khoán là họ có nên rút tiền đầu tư để mua trái phiếu, vàng hoặc ngoại tệ mạnh trước việc giá cổ phiếu sụt giảm không? Câu trả lời không dễ dàng chút nào, bởi vì có một điều không thể phủ nhận đó là yếu tố bất ổn tâm lý luôn là kẻ thù của các nhà đầu tư.
    Một quyết định mua hay bán ở thị trường chứng khoán có thể ảnh hưởng rất lớn đến toàn bộ quá trình đầu tư của bạn. Tại Mỹ và châu Âu, rất nhiều nhà đầu tư cá nhân đã tìm đến các chuyên gia tư vấn, những nhà môi giới chuyên nghiệp trước khi quyết định đầu tư. Điều này gần như đã trở thành đương nhiên, bởi nếu bạn có một quyết định đầu tư không sáng suốt thì việc khắc phục hậu quả sẽ làm bạn đau đầu hơn nhiều. Tất nhiên, khi bị thua lỗ thì nhiều nhà đầu tư tỏ ra chán nản với thị trường chứng khoán. Thực tế, nếu thị trường chứng khoán có thể đem lại lợi nhuận lớn trong một thời gian ngắn thì cũng có thể làm cho nhà đầu tư chứng khoán thua lỗ lớn cũng trong một thời gian như vậy. Do vậy, những nhà đầu tư tham gia vào thị trường cần phải chấp nhận luật chơi đó.
    Patrick W Cabe, phó tổng giám đốc Citibank, ngân hàng lớn nhất nước Mỹ, khi nhận xét về sự tăng giảm giá các loại cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đã cho biết: “Thị trường biến động quá nhanh và tính ổn định kém. Đây là những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán của các công ty niêm yết. Một số nhà đầu tư đã rút tiền khỏi tài khoản để mua vàng khi giá vàng tăng khá mạnh trong thời gian gần đây. Tôi cho rằng, các nhà đầu tư này nếu bắt chước một số khách hàng của ngân hàng rút đô la Mỹ (USD) bán lấy đồng nội tệ rồi đi mua vàng, thì họ sẽ bị thua thiệt”.
    Dự trữ vàng có điều bất lợi là không sinh lời như kiểu cho vay. Nó có điều lợi duy nhất là trong thời gian dài vừa qua giá vàng đã tăng lên đáng kể. Vậy đầu tư vào vàng nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào sự tiên đoán về biến chuyển của giá vàng trên thị trường quốc tế. Biến động này thay đổi tuỳ theo ba thời kỳ như sau:
    • Từ năm 1930-1968: giá vàng trên thị trường thế giới gần như ổn định ở mức 35 USD/Ounce = 35 USD / 31,103 gr. Bất cứ ai tích trữ vàng cũng đều mất một khoản tiền lời và những khoản lợi tức, trong khi họ có thể dùng vốn đầu tư vàng vào việc đầu tư thứ khác. Trong thời kỳ này đầu tư vàng bất lợi hơn so với đầu tư ngoại tệ.
    • Từ 1968 – tháng 7 năm 1973: Giá vàng đã bắt đầu chuyển biến mạnh, nhất là từ ngày 15-08-1971 khi Mỹ quyết định thả nổi đồng USD, để cho giá vàng biến chuyển theo luật cung cầu trên thị trường. Vì vậy, giá vàng từ dưới 40 USD/ ounce lên tới 130 USD/ounce vào tháng 7 năm 1973, rồi cứ thế thăng trầm theo chiều hướng đi lên theo đà mất giá của đồng Mỹ kim, xuất phát từ tình trạng lạm phát và thâm thủng trong cán cân thanh toán của Mỹ. Tình trạng đó kéo dài tới 1980 với giá gần 700 USD/ounce.
    • Từ năm 1988 cho tới nay dưới tác động của sự hoà dịu giữa Đông và Tây, giá vàng đã giảm mạnh, từ 460 USD (tháng 5 năm 1988) lại thăng trầm theo chiều hướng đi xuống tới mức chỉ còn 370 USD (tháng 5 năm 1989), tăng lên 400 USD vào cuối năm 1989 và đầu năm 1990 nhưng rồi dần dần giảm xuống mức 350 USD vào tháng 6 năm 1998, đến nay giá vàng đang trong xu hướng tăng trở lại. Giá vàng trong năm 2006 này có nhiều khả năng sẽ phá vỡ các kỷ lục trước đó. Hiện nay mức cản kỹ thuật 575 USD/ounce đã bị phá vỡ và thị trường đang nhắm đến mức 600USD/ounce. Tuy nhiên, dự đoán trong tương lai giá vàng không thể lên cao được như trước đây mà sẽ có khuynh hướng ổn định lâu dài

    Giá vàng tăng chỉ là nhất thời do yếu tố tâm lý, do vậy khi cú sốc tâm lý qua đi thì sẽ bình ổn trở lại và có thể giá vàng sẽ thấp hơn thời điểm hiện nay. Những người rút tiền đi mua vàng sẽ chịu thiệt bởi phải mua đắt bán rẻ và thiệt hại này sẽ lớn hơn bình thường khi họ mua đúng vào thời điểm vàng đang “sốt”.
    Đối với việc đầu tư ngoại tệ, hình thức này có điểm lợi hơn so với đầu tư vàng là có thể dùng ngoại tệ để mua những trái phiếu ngắn hạn trên thị trường quốc tế. Số thặng dư ngoại tệ dùng vào mục đích sinh lợi nói trên bao gồm những ngoại tệ mạnh được tự do chuyển đổi. Căn cứ mọi diễn biến của thanh toán quốc tế, các nhà đầu tư sẽ phân tích, tính toán để có thể chuyển đổi từ một thứ ngoại tệ đang mất giá sang thứ ngoại tệ mạnh khác đang tăng giá. Không nên đầu tư vào những ngoại tệ không chuyển đổi tự do được.
    Patrick khuyên rằng để hạn chế bớt rủi ro, những nhà đầu tư nhỏ cần quan tâm đến các loại trái phiếu vì trái phiếu có độ an toàn và tính ổn định cao hơn. Thuật ngữ “Corporate bond” đã không còn xa lạ với nhiều nhà đầu tư ngày nay, bởi đây là một trong những phương thức đầu tư an toàn và hiệu quả. Hiện nay, trái phiếu ngoại tệ mà các ngân hàng thương mại đang phát hành có thể coi là một cơ hội rất tốt cho những nhà đầu tư muốn tìm kiếm một công cụ đầu tư tài chính thích hợp.
    Mặc dù vậy, theo Patrick thì mặc dù đầu tư vào trái phiếu không thể đem lại lợi nhuận như đầu tư cổ phiếu, nhưng các nhà đầu tư cần hiểu rằng, lợi nhuận lớn luôn đi kèm với mức độ rủi ro cao và trong một thị trường có tính ổn định kém thì rủi ro sẽ càng lớn, chẳng hạn như rủi ro về lãi suất thị trường, giá của một trái phiếu công ty sẽ thay đổi theo hướng ngược lại với lãi suất thị trường. Khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu sẽ giảm và ngược lại. Hay khi bán một trái phiếu trước ngày đáo hạn, thì khi lãi suất thị trường tăng, nhà đầu tư sẽ lỗ vốn, có nghĩa là bán trái phiếu thấp hơn giá mua vào. Trái phiếu còn vướng phải rủi ro về lạm phát. Rủi ro này xuất hiện khi trị giá lưu lượng tiền mặt của một trái phiếu thay đổi do lạm phát. Ví dụ, nếu nhà đầu tư mua một trái phiếu có lãi suất 8%/năm, nhưng tỷ lệ lạm phát là 9%/năm, thì thực tế, sức mua lưu lượng tiền mặt đã giảm. Ngoại trừ trái phiếu lãi suất thả nổi, còn đầu tư vào tất cả trái phiếu khác đều chịu rủi ro lạm phát, vì mức lãi suất được công ty phát hành cam kết sẽ cố định trong suốt kỳ hạn của trái phiếu.

    Có thể nói, không có hình thức đầu tư nào là an toàn và hiệu quả tuyệt đối cả. Trước đây, khi nói về kinh nghiệm đầu tư của mình, các nhà đầu tư thành đạt nhất trên thế giới như W.Buffet hay G.Soros… đều hay nhắc đến hai kẻ thù mà họ cho rằng không thể đội trời chung, đó là “lòng tham” và “nỗi sợ hãi”. Hai kẻ thù này nằm ngay trong con người các nhà đầu tư mà chính họ lại không biết, hay có biết thì cũng hết sức chủ quan không để ý cho đến khi thất bại xảy ra. Điều quan trọng nằm ở chính là sự bình tĩnh, biết kiềm chế để có những tính toán hợp lý của các nhà đầu tư.
    Sẽ là quá muộn nếu các nhà đầu tư không nhận ra rằng thị trường chứng khoán không phải là nơi tiêu tiền nhanh và vô bổ nhất, cũng như không phải là nơi kiếm tiền dễ dàng và nhàn nhã nhất. Và chỉ có những nhà đầu tư biết có cái đầu lạnh và sáng suốt mới tránh được sự hối tiếc, nếu một ngày kia giá chứng khoán tăng trở lại.

——————————

    7. Giá cả biến động – nguyên nhân từ đâu?
    Giá chứng khoán thay đổi hàng ngày bởi các lực lượng thị trường – tác động từ hai phía: cung và cầu. Nếu có nhiều người muốn mua (cầu) hơn muốn bán (cung), giá sẽ tăng. Ngược lại, nếu có nhiều người muốn bán hơn là muốn mua (cung lớn hơn cầu), giá chứng khoán sẽ giảm.
    Hiểu được cung và cầu là điều không có gì là khó khăn. Điều khó khăn là nhận biết được cái gì là nguyên nhân khiến người ta thích một cổ phiếu đặc thù hoặc không thích một cổ phiếu khác. Kết quả là, khó khăn trên trở lại vấn đề: thông tin nào là tích cực, thông tin nào là tiêu cực với một công ty. Có rất nhiều câu trả lời cho vấn đề này và chỉ xoay quanh việc bất cứ nhà đầu tư nào bạn gặp cũng có quan điểm và chiến lược riêng.
    Người ta nói rằng, nguyên tắc lý thuyết là vận động của giá cả một cổ phiếu cho thấy điều gì khiến nhà đầu tư cảm thấy công ty mình lựa chọn là hợp lý. Giá trị công ty là mức vốn hóa thị trường (bằng giá cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phát hành). Giá cổ phiếu không chỉ phản ánh giá trị hiện tại của công ty, mà còn phản ánh mức (tốc độ) tăng trưởng mà nhà đầu tư kì vọng trong tương lai.
    Nhân tố quan trọng nhất phản ánh giá trị công ty là lợi nhuận thu được – trong dài hạn, không một công ty nào có thể tồn tại mà không cần tới nó. Các công ty cổ phần phải có trách nhiệm báo cáo thường kỳ tình hình lợi nhuận của mình. Từ đó, nếu kết quả đạt hay vượt kì vọng, giá cổ phiếu sẽ tăng, và ngược lại.
    Tất nhiên, không phải chỉ có lợi nhuận mới có thể khiến dự cảm về một cổ phiếu thay đổi (nhân tố khiến giá cổ phiếu thay đổi). Chẳng hạn, có hàng tá công ty coi Internet là một thành tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh (dot-com company) có thể gia tăng giá trị thị trường lên hàng tỉ USD mà thậm chí không kiếm được một đồng lợi nhuận nào.
    Tất cả chúng ta đều biết rằng, những giá trị trên không thể kéo dài mãi, và hầu hết các công ty như vậy nhận thấy giá trị của họ giảm mạnh. Cho đến giờ, sự thật là giá cả không biến động phụ thuộc vào nhiều nhân tố chứ không chỉ có lợi nhuận hiện tại. Các nhà đầu tư đã hình thành hàng trăm biến số, tỉ lệ và chỉ số. Nhiều chỉ số bạn đã từng biết tới, như P/E, Chaikin Oscillator hoặc MACD.
    Vậy thì tại sao giá cổ phiếu thay đổi ? Câu trả lời thoả đáng nhất là, không ai biết chắc chắn. Nhiều người tin rằng, không thể dự đoán giá cổ phiếu sẽ biến động ra sao, trong khi những người khác cho rằng, bằng việc xây dựng các biểu đồ và nhìn vào xu hướng giá trong quá khứ, bạn có thể xác định khi nào thì nên mua, khi nào nên bán. Điều duy nhất chúng ta biết chắc chắn là giá cả thay đổi hết sức mau lẹ.
    Có nhiều lí thuyết nhằm giải thích cách thức giá cổ phiếu biến động, nhưng chẳng có lí thuyết nào có thể giải thích tất cả.
    “Luật chơi” của các nhà tạo giá trên thị trường chứng khoán
    Các nhà tạo giá khi đưa ra các báo giá cho một chứng khoán nào đó ngoài mục đích kinh doanh còn có yêu cầu giúp cho thị trường đạt được một giá giao dịch tốt nhất (giá thu vào cao nhất và giá bán ra thấp nhất). Tuy nhiên trong quá trình cạnh tranh và thực hiện ý chí chủ quan của mình, do say sưa muốn giành ảnh hưởng với các đối tác khác, họ có thể làm cho thị trường bị trở ngại kỹ thuật. Do đó một số luật lệ được đặt ra nhằm duy trì trật tự thị trường và loại bỏ các sự cố do nhầm lẫn.
    Hai tình huống được nêu sau đây lưu ý các nhà tạo giá không được đưa giá cài khoá (gọi là locked market) và giá vượt chéo (crossed market) vào hệ thống.
    Thế nào là thị trường bị cài khoá?
    Ta biết rằng một báo giá của các nhà tạo giá đưa vào hệ thống gồm có giá chào mua (bid) và giá chào bán (offer). Giá sẽ bị cài khoá khi nào hai giá dùng để tham khảo (giá tốt nhất) không có khoản chênh lệch giá. Cụ thể, một nhà tạo giá đưa ra giá thu vào (bid) bằng đúng với giá bán ra (offer/ask) đã được một nhà tạo giá khác chào trước đó sẽ làm thị trường bị cài vào thế khoá lại.
    Ví dụ, giả định lúc đầu chỉ có mỗi một nhà tạo giá ALFA đưa báo giá vào hệ thống báo giá cho chứng khoán TNA (một chứng khoán OTC giả định). Đến lượt công ty chứng khoán khác, công ty DELTA tham gia tạo giá cho chứng khoán TNA và đã khoanh thị trường lại đối với chứng khoán đang được tạo giá này.
    Thị trường bị cài khoá hay bị khoanh lại chỉ để “hai ta” làm ăn với nhau thôi (có thể vô hình). Trường hợp trên đây giá bán ra của công ty CK ALFA và giá mua vào của công ty chứng khoán DELTA bằng nhau, là 20,5 USD. Do trong báo giá còn nêu cả số lượng sẵn sàng giao dịch, gọi là “firm bid” và “firm ask”, (nếu không ghi thì mặc nhiên đó là 1 lô = 100 cổ phần), cho nên, theo nguyên lý hai công ty này sẽ giao dịch với nhau cho đến khi cạn hết lượng chào bán “cứng” đó. Kết quả cạn kiệt này rốt cuộc có thể giải toả thị trường, nhưng lúc đó thị trường sẽ có một tình huống giá tệ hơn (khoảng chênh lệch lớn hơn).
    Thế nào là một thị trường bị vượt chéo?
    Một thị trường bị gọi là vượt chéo khi một nhà tạo giá đưa ra giá chào mua (bid) cho một chứng khoán ở mức cao hơn giá chào bán (offer/ask) do một nhà tạo giá khác đã nhập vào hệ thống (ví dụ hệ thống Nasdaq). Tương tự nếu có một giá bán ra (ask) thấp hơn giá thu vào (bid) trong hệ thống đối với chứng khoán cùng loại, thì thị trường này cũng bị “tréo ngoe”. Tình huống này làm cho thị trường tắc tị, cho nên tất cả các hệ thống giao dịch thị trường OTC đều không cho phép các thành viên báo giá có thể gây vượt chéo cho thị trường.
    Một thị trường giá vượt chéo cho hậu quả còn tệ hơn trường hợp nó bị cài khoá. Bắt đầu là chào giá của công ty ALFA. Sau đó, công ty chứng khoán DELTA tham gia đưa tiếp giá của mình vào hệ thống, mà không cần tham khảo chào giá của công ty ALFA, kết quả: Giá thu vào (bid) của DELTA lúc này là 21 USD đã vượt chéo so với giá bán ra (ask) của công ty ALFA đang là 20.5 USD. Hậu quả của việc đưa giá tuỳ tiện này làm cho giá thị trường đang bình thường vọt lên một giá mới khá cao. Trong ví dụ trên đây, với giá rao mua (bid) của DELTA (21 USD) sẽ kích bán, và theo nguyên lý, giá đó cùng với giá chào bán 20.5 USD của ALFA, sẽ nhanh chóng biến mất, khoét rộng khoảng cách giữa giá thu vào và bán ra sẽ được hệ thống ghi nhận tiếp sau đó là “bid 20 – ask 22”. Khoản lệch giá lúc này là 2 USD, còn xấu hơn khoản lệch giá trong trường hợp thị trường bị cài khoá như đã khảo sát ở trên. Trong thị trường chứng khoán, đặc biệt là thị trường giao dịch OTC, khi giá chứng khoán bị kích lên hoặc dìm xuống, mà không xuất phát từ vận động cung cầu hợp lý của thị trường, thì các nhà tạo giá có thể bị quy trách nhiệm đã dùng thủ thuật vận hành giá (manipulation).
    Tóm lại, để tránh tình trạng thị trường bị cài khoá hoặc bị vượt chéo, luật lệ giao dịch OTC cấm các nhà tạo giá không được đưa vào hệ thống:

  • Giá thu vào (bid) bằng hoặc lớn hơn giá bán ra (ask) của một nhà tạo giá khác đã nhập vào cho cùng một chứng khoán.
  • Giá bán ra (ask) bằng hoặc nhỏ hơn giá thu vào (bid) của một nhà tạo giá khác đã nhập sẵn vào, đối với cùng một chứng khoán.

Các nhà tạo giá cũng được lưu ý rằng, các chứng khoán được báo giá và đưa vào hệ thống phải là loại hợp lệ và đưa vào đầu tư cần tham khảo thông tin về chủ thể phát hành loại chứng khoán đó họ sẽ thực hiện dễ dàng.
Những lưu ý đặc biệt khác về báo giá trên OTC:
Các báo giá phải đảm bảo thoả mãn cung cầu một lượng chứng khoán ít nhất bằng một lô tròn (100 cổ phần). Đây là một chào giá có cam kết chắc chắn (firm).
Một báo giá thông thường được yêu cầu phải kèm theo số lượng. Tất cả các chào giá được xem là có cam kết cứng ngoại trừ có chỉ định khác rõ ràng kèm theo. Các chỉ định không chắc chắn đó như: “vào khoảng” (around), “còn tuỳ thuộc” (subject), “theo tính toán” (work out), … sẽ phải được ghi trước hay sau một báo giá.
Vì những lý do nghiệp vụ và kỹ thuật, hệ thống báo giá và xác nhận phải được thực hiện bằng mạng truyền in được và hiển thị lên màn ảnh, chứ không thể làm việc này chỉ bằng điện thoại.

    ==========================

    SOURCE: SAGA.VN

LÀM ĂN VỚI MỸ PHẢI BIẾT LOBBY

Làm ăn với Mỹ phải biết lobby vì đó là cái thế chính trị mà người Mỹ thường vận dụng tối đa để tranh thủ quyền lợi kinh tế thương mại khi giao dịch với nhau và với người nước ngoài.
Từ ngày lập quốc, những cha đẻ của nước Mỹ đã hình dung một xã hội dân chủ trong đó tiếng nói của người dân phải được chuyển tải một cách đầy đủ nhất đến chính quyền. Một trong những công thần lập quốc của nước Mỹ là ông James Madison (sau này trở thành Tổng thống thứ tư của Mỹ vào năm 1809) là người phổ biến cái thuyết “bàn tay vô hình” trong chính trường, tương tự như thuyết bàn tay vô hình trong kinh tế thị trường của Adam Smith. Theo ông, thì chính trường cũng như thương trường, nếu thông tin được lưu hành tốt thì cung sẽ gặp cầu, chính trường sẽ ổn định vì Nhà nước có đủ thông tin (và yêu cầu, áp lực từ dân) để biết và cung được cái gì dân cầu. Từ đó, vai trò của lobbyist (tạm dịch là người vận động hành lang) trong chính trường Mỹ được xem là cần thiết như vai trò của những người làm dịch vụ thông tin, tiếp thị, môi giới, trung gian… trong thương trường.
lobby2.jpgNgười lobbyist ở Mỹ có thể đại diện bất cứ một cá nhân, tập thể, chính trị, xã hội, kinh tế, thương mại nào, kể cả những cá nhân, tập thể Chính phủ nước ngoài, chỉ với điều kiện là họ đăng ký minh bạch với chính quyền Mỹ. Phần lớn những người lobby là những quan chức hồi hưu, những chuyên viên từng làm việc ở Quốc Hội, một số luật sư có kinh nghiệm chuyên ngành (của thân chủ họ). Những người lobby có tên tuổi lớn thường là những cựu bộ trưởng, thủ trưởng, tướng lãnh (sao nào cũng có), cố vấn, trợ lý của tổng thống, dân biểu, thượng nghị sĩ đã từng nắm những chức vụ chủ chốt ở Quốc Hội, ngay cả những cựu Tổng Giám Đốc Cục Trung Ương Tình Báo Mỹ.
Tại sao cần đến hoạt đông lobby?
Khi đã có các quan hệ chính trị, thương mại, kinh tế, xã hội là tất sẽ có nhiều vấn đề phức tạp, xung đột từ những tranh chấp quyền lợi đơn thuần, hoặc từ những cảm nhận sai lệch, những sự hiểu lầm khó tránh được và thường xảy ra, đặc biệt là khi hai bên có sự khác nhau trong văn hóa xã hội, chính trị, cách làm ăn. Nói chung, tính công bằng của người Mỹ theo nghĩa tốt nhất là khá cao. Tuy nhiên, nhiều người nước ngoài thường ngộ nhận điều này vì thấy người Mỹ luôn nói theo luật, sống theo luật nên họ cứ ngỡ rằng làm việc với người Mỹ chỉ cần nói lý là đủ.
Công bằng đối với người Mỹ có nghĩa “sòng phẳng” nhiều hơn là “đúng” theo nghĩa đạo đức. Nghĩa là, nếu tôi đẩy được anh làm chuyện gì mà anh đồng ý, dù không thật sự hài lòng, hoặc anh bị tòa xử thiệt hại cho anh vì anh không có người biện hộ tốt, thì cũng là “fair” (sòng phẳng), mặc dù anh có thể “bị” phải đồng ý. Như vậy, thì dù khi chính quyền Mỹ có áp lực từ Hiệp hội Thủy sản Mỹ (trực tiếp hoặc gián tiếp qua các dân biểu của họ), lấy lý do nào đó để ngăn chặn một nước XYZ nào đó đưa tôm, cá vào Mỹ, mà nếu nước xuất khẩu không có tiếng nói và một phần lực mạnh mẽ thì sẽ bị thiệt thòi và đó là chuyện của anh. Nguyên tắc này áp dụng cho cả người Mỹ với nhau.
Chính trường Mỹ tương đối minh bạch, nhưng hệ thống vận hành lại chằng chịt, phức tạp, không phải lúc nào cũng công bằng. Trong lĩnh vực chính trị, ngay cả những nước thân thiện với Mỹ và có văn hóa gần gũi với Mỹ như Anh, Pháp, Đức, Úc cũng phải cần chuyên gia lobby để vận động thường xuyên với chính khách Mỹ. Ở Á châu, các nước đồng minh của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng phải có một đội lobby hùng hậu ở Mỹ. Chính quyền Đài Loan nhờ có lobby giỏi mới có được sự hậu thuẫn trong chính giới Mỹ để giúp họ quản lý được nhiều vấn đề cực kỳ phức tạp trong quan hệ tay ba giữa họ với Mỹ và Trung Quốc. Trong mười năm qua, Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều cho nhu cầu hiểu biết về người Mỹ đồng thời thực hiện các hoạt động lobby rấtlobbying.jpg tinh vi ở Mỹ. Do vậy Trung Quốc có được một quan hệ tương đối tốt và ổn định với nước này, mặc dù quan hệ song phương giữa Mỹ và Trung Quốc đã đến mức rất lớn và cực kỳ phức tạp.
Hoạt động lobby ở Mỹ, tuy là hợp pháp, công khai nhưng giá trị chính của nó là ở những hoạt động “hậu trường”, vì các cuộc gặp gỡ, hoạt động giữa chính phủ và chính phủ thường có giá trị rất giới hạn. Các chính khách khi gặp nhau thường phải giữ kẽ, ít cởi mở, phải theo bài và không quan chức nào muốn bị xem là vì áp lực trực tiếp của một chính phủ nước khác mà phải thay đổi chính sách. Cho nên những nước khôn khéo biết làm việc với Mỹ thường cật lực lobby chính trường Mỹ và đã thương lượng dàn xếp được một tính thế tối ưu trước khi họ gặp nhau chỉ để chính thức hóa câu chuyện.
Hệ thống vận hành quyền lực
Cơ quan quyền lực cao nhất và mạnh nhất ở Mỹ là Quốc hội, gồm có Hạ viện với 435 Dân Biểu (DB), nhiệm kỳ hai năm và Thượng viện với 100 Thượng nghị sĩ (TNS), nhiệm kỳ sáu năm. Hiến pháp Mỹ quy định nhiệm kỳ hai năm cho dân biểu là để các vị này luôn bị áp lực phải phục vụ dân vì phải đi năn nỉ dân bầu lại cho mình hai năm một lần. Vai trò của Thượng nghị sĩ là để cân bằng những đòi hỏi, nhu cầu quá đáng từ Hạ viện vì các TNS không bị áp lực tranh cử nặng nề như các dân biểu. Quyền lực của Quốc hội phần lớn dựa trên vai trò hiến định là làm luật (từ nhu cầu, nguyện vọng của dân) và chuẩn chi ngân sách Nhà nước. Do Quốc hội Mỹ nắm hầu bao nên cơ quan này có quyền và ảnh hưởng, chi phối mọi hoạt động của Hành pháp. Tổng thống có muốn làm gì mà Quốc hội không duyệt thì cũng không xong. Tổng thống có ký hiệp định gì với ai mà Quốc hội không duyệt thì cũng không có hiệu lực. Quốc hội muốn gì, nếu không có ảnh hưởng lớn đến an ninh quyền lợi chiến lược của quốc gia, thì phía hành pháp thường cũng xuôi theo. Quốc hội là cái cửa để doanh nghiệp, tập thể, hội đoàn tác động trực tiếp để can thiệp cho quyền lợi của họ.
Một ông cựu chủ tịch Hạ viện Mỹ là ông Thomas O’Neil đã nói một câu bất hủ: “Chính trị là việc địa phương” (“All politics is local”). Ý nghĩa của câu nói này là các dân biểu bị áp lực trực tiếp và thường xuyên từ cử tri của mình, và phải ưu tiên phục vụ đòi hỏi của họ. Nếu không thì sẽ thất cử, khi ấy cho dù người dân biểu có mục tiêu phục vụ lý tưởng tốt đến đâu cũng không có đất để hoạt động. Chính vì vậy mà bất cứ một doanh nghiệp, hiệp hội, đoàn thể nào cũng có thể đòi hỏi người dân biểu của mình áp lực chính trị với các cơ quan hành pháp để đòi cho được quyền lợi về phía mình.
Tại đất nước này khi có xung đột quyền lợi thì một trong những nguyên tắc chính để tạo cân bằng và ổn định chung là thương lượng, qua đó hy vọng tìm được sự nhượng bộ của cả hai bên, mỗi bên có lợi một ít, không bên nào được lợi hết hoặc thiệt hết. Khi hai bên không thể tự giải quyết ổn thỏa thì mới “đụng trận” đem nhau ra tòa hay để cho một phía thứ ba đứng ra giải quyết giùm. Đây là giải pháp cuối cùng vì rất tốn kém chi phí cũng như thời gian. Cho nên vai trò người lobby ở đây rất quan trọng: giúp thân chủ tránh được những đối đầu không cần thiết và chỉ đến khi không còn đường giải quyết nữa mới nói đến vấn đề tranh tụng. Muốn đối thủ của mình chịu nhượng bộ thì mình phải tạo được cái thế chính trị, cái lực (thực hoặc ảo) để đối thủ phải cân nhắc, chịu thương lượng trước khi “ra tay”. Đó là nghệ thuật của lobby. Muốn có được cái thế lực cần thiết để thủ thân thì cần phải có một chiến lược lobby ở tầm quốc gia (về mặt chính trị) và ở tầm doanh nghiệp / hiệp hội (về mặt kinh tế thương mại).
Dù tốn kém cũng phải làm
lobby.jpgĐầu tư vào các hoạt động lobby khá tốn kém nhưng đây là phương pháp ngừa bệnh và giảm đau. Cho nên dù có tốn kém nhưng còn rẻ hơn nhiều so với chi phí chữa bệnh. Kinh nghiệm của các nước làm lobby hữu hiệu với Mỹ là dùng các chuyên gia lobby có kinh nghiệm và thế lực ở Mỹ. Người nước ngoài khó có kiến thức, quan hệ, tư cách và pháp nhân cần thiết để tiếp cận dễ dàng với chính giới Mỹ. Những chuyên gia này đã chi trả những phí “lót đường” hợp pháp để khi gõ cửa thì được người ta mời vào. Và họ cũng là người có phương tiện và khả năng “có qua có lại” để có được ảnh hưởng với các dân biểu. Những nước thường gặp trở ngại trong quan hệ với Mỹ là những nước chủ quan, không chịu đầu tư nghiêm túc để hiểu người Mỹ và biết cách vận hành của hệ thống quyền lực của họ hoặc đặt quá nhiều trách nhiệm và kỳ vọng vào khả năng của các viên chức ngoại giao ở sứ quán của mình.
Trên thực tế, hầu hết các viên chức ngoại giao sứ quán có kiến thức không sâu về nước mà mình đang làm việc, đơn giản là do nhiệm kỳ của họ chỉ có ba hoặc bốn năm. Mặc dù phần lớn đều có một số chuẩn bị cơ bản trước khi nhận nhiệm vụ nhưng họ không đủ khả năng (kể cả vấn đề ngoại ngữ) để tự tin và năng nổ xông vào chính trường Mỹ (ngoài nhiệm vụ ngoại giao truyền thống). Trong tất cả các sứ quán Á châu ở Mỹ chỉ có Singapore là có một đội ngũ nhân viên tương đối nhỏ nhưng có khả năng cao trong quan hệ với nước sở tại vì họ được đào tạo chuyên về Mỹ, có khả năng giao tiếp tốt. Nhờ vậy họ có được sự tự tin để “mòn gót giày” trên các hành lang Quốc hội thay vì thụ động ngồi trong văn phòng sứ quán như phần lớn nhân viên của các sứ quán khác. Thế mà, Singapore vẫn có một nhóm chuyên gia lobby để giúp họ “bắt mạch” nhịp đập của chính trường Mỹ, hoạch định kế hoạch chiến lược, duy trì những quan hệ ưu tiên trong chính giới Mỹ.
Trong phạm trù kinh tế thương mại, nếu muốn làm ăn trên quy mô lớn và lâu dài với Mỹ thì cần phải có một chiến lược và kế hoạch, chương trình lobby cụ thể với Mỹ. Phần lớn doanh nghiệp trong nước chưa có thói quen làm việc với luật sư và chuyên gia lobby vì không thấy được những hiệu quả rõ ràng trước mắt. Nếu vai trò của người luật sư là cần thiết trong làm ăn với Mỹ thì vai trò của người lobby cũng quan trọng không kém, vì họ là người giúp ngừa những căn bệnh lớn có tầm chiến lược và giúp giảm đau, chóng hồi phục khi bị bệnh. Kinh nghiệm làm ăn với Mỹ của một số doanh nghiệp trong nước mấy năm qua có thể cho thấy khá rõ vấn đề này.
Trong quan hệ song phương giữa hai nước, quyền lợi chính trị và kinh tế có nhiều lĩnh vực tương đồng do đó nên có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp/hiệp hội với nhà nước để chia sẻ thông tin, chi phí hỗ trợ nhau trong công tác lobby để tạo nên một cái thế lớn hơn. Các hiệp hội ngành nghề và các hiệp hội doanh nghiệp nên xem đây là vấn đề ưu tiên trong quan hệ làm ăn với Mỹ để hợp lực tạo cái thế cho hoạt động lobby ở Mỹ khi cần. Không có phương tiện lobby thì doanh nghiệp trong nước sẽ không có khả năng tiên đoán những hậu quả không lường được, cũng sẽ không có khả năng trở tay một cách bài bản và có hiệu quả khi bị gây sự từ những nhóm đặc quyền ở Mỹ. Lobby ở Mỹ là một vấn đề mà nếu không biết lo xa tất sẽ có buồn gần. Cái giá phải trả sẽ rất lớn, từ những thiệt hại cụ thể đến những hệ quả lâu dài hơn.

SAGA.VN – Theo DNSGCT

6 ĐỐI TƯỢNG NƯỚC NGOÀI ĐƯỢC MÙA NHÀ TẠI VIỆT NAM

Theo dự thảo đề án thí điểm về chính sách nhà ở cho người nước ngoài tại Việt Nam đang được Bộ Xây dựng soạn thảo, dự kiến có 6 đối tượng nước ngoài được mua nhà ở tại Việt Nam, trong đó có 5 đối tượng là cá nhân, 1 đối tượng là tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài.

Các đối tượng được mua nhà gồm

  1. Những người trực tiếp hoạt động đầu tư tại Việt Nam theo qui định của pháp luật đầu tư;
  2. Những người nước ngoài có công đóng góp với đất nước được Chủ tịch nước, Chính phủ tặng huân chương, huy chương, được Thủ tướng tặng bằng khen, được chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tặng kỷ niệm chương về sự nghiệp của ngành đó;
  3. Các nhà hoạt động văn hóa, khoa học đang làm việc tại Việt Nam, các chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, công nhân có tay nghề cao được nước ngoài công nhận và đang làm việc tại Việt Nam;
  4. Những người kết hôn với công dân Việt Nam và đang sinh sống tại Việt Nam;
  5. Những người được Chủ tịch nước công nhận là công dân danh dự của Việt Nam;
  6. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam theo pháp luật đầu tư được mua nhà ở cho những người nước ngoài đang làm việc tại doanh nghiệp đó thuê trong thời gian họ làm việc tại Việt Nam (bao gồm doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp có người nước ngoài làm việc trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh).

Điều kiện để được mua nhà

vista.jpgĐể được mua nhà ở tại Việt Nam, các đối tượng trên phải đáp ứng đủ bốn điều kiện:

  1. 1. Đã vào Việt Nam, được phép cư trú, hoạt động tại Việt Nam từ một năm liên tục trở lên và có các giấy tờ chứng minh thuộc đối tượng được mua nhà ở tại Việt Nam;
  2. Đang hoạt động, làm việc và sinh sống tại Việt Nam và không phải là tội phạm quốc tế, không thuộc đối tượng truy nã của Interpol;
  3. Mua nhà để cho bản thân và gia đình ở phù hợp với nơi làm việc, sinh sống và phù hợp với các qui định của pháp luật về cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam;
  4. Phải có giấy chứng nhận được mua nhà ở do cơ quan quản lý nhà ở trung ương cấp, trừ trường hợp người mua nhà ở là công dân danh dự của Việt Nam hoặc các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu hợp lệ do nước ngoài cấp (được coi là người nước ngoài) vào Việt Nam làm việc thì chỉ được chọn một trong hai qui định để áp dụng: hoặc mua nhà theo qui định của Luật nhà ở, hoặc mua nhà theo cơ chế thí điểm này.

Hiện tại người nước ngoài sinh sống, làm việc ở Việt Nam khoảng 81.000 người nhưng đối tượng đủ điều kiện mua nhà chỉ chiếm khoảng 20% nên số lượng nhà bán cho người nước ngoài là 16.000 nhà. Dự kiến chính sách này sẽ chính thức được áp dụng từ năm 2008.

Được bán, tặng, cho nhà

Mỗi đối tượng chỉ được sở hữu một đơn vị nhà (căn hộ chung cư, nhà ở liền kề, nhà vườn, biệt thự) trong thời gian sinh sống, làm việc tại Việt Nam và thời gian sở hữu nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở tối đa là 50 năm (qui định này không áp dụng đối với công dân danh dự của Việt Nam hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).

Sau 50 năm phải thực hiện bán, tặng, cho nhà ở đó trước khi về nước nếu không được gia hạn. Các đối tượng này được quyền bán, tặng, cho nhà ở đó sau khi mua một năm nếu xuất cảnh về nước.themanorhn.JPG

Theo Bộ Xây dựng, nếu giá thuê bình quân đối với một căn hộ khoảng 800 USD/tháng thì trong năm năm tại Việt Nam người nước ngoài phải trả gần 50.000 USD tiền thuê nhà.

Nếu người nước ngoài được mua nhà với giá khoảng 70.000 USD/căn thì dù giá cao hơn nhưng sau năm năm sử dụng, nếu chỉ tính thu hồi được 70% giá trị nhà ở thì việc mua nhà cũng sẽ giảm bớt một khoản chi phí quan trọng cho người nước ngoài.

Theo Tuổi trẻ

KINH DOANH TẠI HOA KỲ – ĐIỀU KIỆN XUẤT KHẨU MỘT SẢN PHẨM SANG HOA KỲ

new york.jpgHoa Kỳ là một thị trường tiêu thụ giàu có nhất thế giới. Nếu bạn có một sản phẩm tốt, có giá cạnh tranh muốn xuất khẩu tới một nhà nhập khẩu Hoa Kỳ để bán cho người tiêu thụ hay các doanh nghiệp Hoa Kỳ để thu lợi nhuận. Ðiều đó có thể không dễ dàng, bởi vì đây là một thị trường khổng lồ nên có nhiều đối thủ cạnh tranh cũng đang cố gắng thâm nhập và bán sản phẩm của họ. Thế giới đã trở thành một nền kinh tế toàn cầu, nơi mà những biến động thị trường và cơ hội buôn bán thường xuyên xuất hiện và biến mất. Tuy nhiên với sự cố gắng và kiên nhẫn vẫn có thể xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ.

Có rất nhiều phương pháp khác nhau để nhận diện ra những triển vọng của bạn như: nghiên cứu, gửi thư trực tiếp, quảng cáo và trưng bày, triển lãm thương mại.

WTC.jpgMạng lưới quốc tế của các Trung tâm thương mại quốc tế (World Trade Centers) đã đưa ra một phương pháp không tốn kém nhưng hiệu quả về việc liên kết với những người mua ở Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới.

Rất hữu ích để phân biệt giữa “Selling to” (bán tới) Hoa Kỳ và “selling in” (bán ở) Hoa Kỳ. “Selling to” là bán thẳng với giá FOB. Bạn thương lượng giá cả, các điều kiện với người mua Hoa Kỳ giao hàng hóa của bạn tới bến cảng hoặc sân bay, chuyển vận đơn tới ngân hàng và nhận tiền mặt theo L/C của bạn. ‘ Selling in” có nghĩa là nhận thêm nhiều trách nhiệm, chi phí và rủi ro hơn. Phải đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn là ở thị trường của nước bạn; phải thiết lập hệ thống phân phối, quan hệ với người bán lẻ hay người tiêu dùng, triển khai và thực hiện kế hoạch tiếp thị, lập văn phòng, và đôi khi phải thuê người và phải dính líu đến các quy định và luật lệ của Chính phủ Hoa Kỳ.

Ðối với hầu hết những nhà xuất khẩu, trước tiên phải thử nghiệm sự tiếp nhận của thị trường đối với sản phẩm của bạn qua việc bán cho người mua. Sau đó nếu sản phẩm của bạn được tiếp nhận tốt ở Hoa Kỳ, bạn có thể thăm dò khả năng phát triển vào thị trường.

Ðiều này có thể được thực hiện thông qua việc thuê những chuyên gia phân phối và tiếp thị, qua những đại lí huê hồng, các liên doanh hay những công ty có liên quan đến lĩnh vực của bạn. hãy để nhu cầu xác định đường lối hành động và mức độ cam kết về tài chính của bạn.

Nghiên cứu thị trường:walmart.jpg

Các nhà sản xuất hay các nhà thương mại khôn ngoan đang quan tâm đến thị trường Hoa Kỳ rộng lớn để xem xét sử dụng một công ty nghiên cứu tốt để khảo sát tiềm năng trước khi tìm kiếm người mua có triển vọng. Ðây là một chi phí bổ sung ban đầu và một khảo sát thị trường xuyên suốt như thế tương đối tốn kém. Mặt khác nó có thể tiết kiệm một khối lượng lớn tiền bạc, thời gian cho việc mở một chiến dịch thử nghiệm và điều chỉnh mà nhiều năm sau bạn mới nhận ra rằng không có một thị trường quan trọng cho hàng hóa của bạn ở Hoa Kỳ. Nhiều công ty Hoa Kỳ cung cấp các dịch vụ nghiên cứu toàn diện cho các công ty nước ngoài, các công ty kế toán chính như : Dun & Bradstreet có nhiều nguồn để khảo sát triển vọng bán cho sản phẩm của bạn, đối thủ cạnh tranh, những rào cản mà bạn phải đương đầu khi thâm nhập vào thi trường. Trung tâm thương mại Hoa Kỳ hoặc thương vụ tại Sứ quán Hoa Kỳ ở nước bạn có thể có một danh sách các công ty nghiên cứu và kế toán cung cấp loại dịch vụ này.

Trung tâm thông tin tiếp thị Thomas (The Thomas Marketing Information Center TMIC), ở New York là một công ty có môí liên hệ mật thiết với công ty xuất bản Thomas, công ty chịu trách nhiệm về cuốn “Thomas Register of American Manufactures”.

Nhờ thế, TMIC có thể tiếp cận thông tin chi tiết về hàng chục ngàn công ty Hoa Kỳ trong hàng ngàn máy tính riêng của họ.

Dữ liệu chuyên sâu này cùng với những phương pháp nghiên cứu hiện tại sẽ đánh giá sản phẩm hay dịch vụ của bạn và khả năng sống còn của nó ở thị trường đẩy tính cạnh tranh của Hoa Kỳ. Sau đó, có thể trợ giúp trong việc sàng lọc hay triển khai những mục tiêu tiếp thị, xác định nhu cầu cho nghiên cứu sâu hơn và triển khai kế hoạch tiếp thị toàn diện.

Thomas Marketing lnformation Center (TMIC) Five Penn Plaza, 8th Floor, New York 10001

Tel : 212/629 – 1111 – Fax : 212/629 – 1584

Một công ty nghiên cứu khác cũng chuyên khảo sát thị trường là bộ phận nghiên cứu chiến advertising_blimp.jpglược của Find/SVP, được đặt tại Paris có văn phòng ở 17 nước. Find/SVP là một tổ chức tình báo kinh doanh được thành lập năm 1969 và bộ phận nghiên cứu chiến lược là một nhóm tư vấn của nó. Bộ phận nghiên cứu được chia thành 6 phòng riêng biệt. Mỗi phòng tư vấn về một lĩnh vực khác nhau. Nó có thể cung cấp những nghiên cứu để nhận diện những cơ hội thị trường, mở rộng kế hoạch và các chương trình hành động để đạt được mục tiêu đánh giá môi trường cạnh tranh, cải tiến luồng phân phối, hoặc phân tích những động thái hiện tại của bất cứ ngành nào.

Find/SVP Strategic Research Division

625 Avenue of the Americas

NY – New York 10011 – 2002

Tel : 212/645 – 4500

Fax : 212/645 – 7681

Thực hiện việc nghiên cứu tiếp thị trước trong một nỗ lực xuất khẩu luôn luôn là một ý tưởng tốt. Không những nó có thể rọi sáng những bóng tôí của một thị trường rộng lớn chưa được biết rõ mà còn giúp cảnh giác với những cạm bẫy mà bạn không bao giờ nghĩ đến.

Việc nghiên cứu không phải rẻ, thậm chí một khảo sát cơ bản phải chi phí nhiều ngàn USD; nhưng nó có thể bảo vệ bạn không lãng phí chi thêm hàng ngàn USD nữa.

Việc sử dụng Directory

(Niên giám kinh doanh của Hoa Kỳ)

Một hình thức nghiên cứu khác đỡ tốn kém hơn thuê các nhà tư vấn là xác định công ty Hoa Kỳ nào sẵn sàng nhập khẩu loại sản phẩm bạn muốn bán. Có nhiều loại niên giám trong đó liệt kê danh sách của các công ty Hoa Kỳ liên quan đến sản phẩm của bạn. Có thể cho bạn biết ai sẽ nhập khẩu, nhập bao nhiêu, khi nào và ở đâu.

juney.jpgTờ Journal of Commerce có một phụ lục tập hợp dữ liệu gọi là PIERS (Port Import/ Export Reporting Service) thu nhập thông tin về những chuyến hàng đến hay đi ở 120 cảng của Hoa Kỳ. Dịch vụ này bắt đầu từ năm 1827 với việc công bố đơn giản các bảng liệt kê hàng hoá trên tờ Journal of Commerce và ngày nay nó đã phát triển thành một hệ thống dữ liệu chi tiết hoàn thiện toàn quốc. Nó đã ghi nhận khoảng 6 triệu thương vụ xuất nhập khẩu mỗi năm.

Nỗ lực thu thập này được sự trợ giúp của cả Hải quan Hoa Kỳ, hiện nay những bản lược khai hàng hóa được chuyển bằng hệ thống điện tử trực tiếp từ Hải quan đến các máy tính của PIERS điện tử (Electronically transmits).

PIERS đã thương mại hóa những thông tin sẵn có này theo nhiều cách khác nhau. Bất kỳ sự phối hợp nào gồm những yếu tố sau đây cũng có thể được sử dụng để đáp ứng yêu cầu cho từng cá nhân.

* Người chủ hàng hay người ký thác Hoa Kỳ.

* Nhà xuất khẩu nước ngoài.

* Các mặt hàng theo mã SIC.

* Cảng xếp hàng.

* Cảng bốc hàng.

* Quốc gia gốc.

* Tuyến tàu đi.

* Ðặc tính của container : kích cỡ, số lượng, khối lượng.

* Ngày đến và đi của tàu.

Rõ ràng những thông tin toàn diện như vậy có thể vô giá và áp dụng được cho bất cứ mục đích nghiên cứu kinh doanh nào. Những minh họa bao gồm những nhà sản xuất muốn nghiên cứu tiềm năng thị trường xuất khẩu hay theo dõi sự cạnh tranh của họ. Các ngân hàng muốn xác minh các khách hàng triển vọng ở các cảng khác nhau trên thế giới, các nhà kinh tế muốn dự đoán về các luỗng mậu dịch, những nhà vận chuyển đường biển muốn phân tích thị trường của các công ty đường sắt, muốn nghiên cứu vế khối lượng hàng hóa được vận chuyển từ cảng này đến cảng khác, các phái đoàn thương mại muốn nhận diện các đối tác thương mại tương lai.

PIERS có sẵn nhiều dạng và loại báo cáo không phải trả chi phí, ngoài ra đối với những báo cáo khó sao chép, dữ liệu có thể được cung cấp trên các đơn vị tính hoặc :

PIERS

Journal of Commerce, Inc.

27/F, 2 World Trade Center. NY,

New York 10048

Tel : 212/837 – 7054 Fax : 212/ 837 – 7070

PIERS cũng có văn phòng ở California, London và Belgium.

TRINET, Inc. là một công ty nghiên cứu về nhân khẩu học nhận thông tin từ các bảng liệt kê hàng hóa (Mainfests) do PIERS cung cấp và sau đó bổ sung thêm chi tiết về quy mô, công ty, doanh số bán, nhân công và công ty mẹ.

Ngoài ra để xuất khẩu một sản phẩm sang Hoa Kỳ, chúng ta cần phải tuân theo các đạo luật buôn bán của Hoa Kỳ.

SAGA.VN – Theo: BVOM.COM

XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2)

TRẦN CHÍ DŨNG

Mở rộng quan hệ làm ăn với đối tác là xu thế tất yếu và mang lại nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều vấn đề phức tạp cũng phát sinh từ đây. Một vài sự kiện được biết tới nhiều ở Việt Nam như tranh chấp thương hiệu ở nước ngoài, tài khoản của doanh nghiệp Việt Nam bị phong toả, đại diện doanh nghiệp Việt Nam bị giữ lại tại châu Âu do tranh chấp… Bài viết trình bày một số điểm liên quan tới xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế, mong các bạn cùng bổ sung và trao đổi.

Bài viết trình bày một số điểm liên quan tới xung đột pháp luật trong hợp đồng thương mại quốc tế, mong các bạn cùng bổ sung và trao đổi.

1) Xung đột trong hợp đồng thương mại:
Xung đột trong hợp đồng thương mại xảy ra khi một trong các bên tham gia ký kết hợp đồng không thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ đã qui định trong hợp đồng, ví dụ: giao hàng sai qui cách, giao hàng chậm, nhận hàng không trả tiền. Bên kia không chịu. Hai phía đôi co, lời qua tiếng lại dẫn tới xung đột. Thông thường khi xảy ra xung đột có một vài phương pháp giải quyết:

– Đầu tiên là hòa giải. Tốt nhất là hai bên ngồi lại nói phải trái với nhau, vừa rẻ vừa đỡ phải dính vào kiện tụng. Cái này thường có ghi ở phần cuối của hợp đồng.

– Nếu hòa giải bất thành, thì hoặc là đem nhau ra tòa, hoặc ra trọng tài kinh tế. Tòa án có sức mạnh của pháp luật và là phán quyết cuối cùng. Nhưng trong nhiều trường hợp cũng đưa nhau ra trọng tài, lý do là vì: không phải đụng chạm đến pháp luật, để giữ chữ tín hai bên cũng cần tôn trọng phán quyết của trọng tài, cuối cùng nếu trọng tài phán vẫn không chấp nhận được thì mới đem nhau ra công đường.

2) Yếu tố quốc tế:
Ngay hợp đồng và giao dịch thương mại nội địa đã dễ có xung đột rồi, huống hồ lại dính đến cái vấn đề quốc tế ở đây.

Yếu tố quốc tế xuất hiện khi:

– Các bên tham gia ký kết hợp đồng (pháp nhân hay thể nhân) có quốc tịch khác nhau; ví dụ: DN Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu với DN Trung Quốc

– Hàng hóa hay dịch vụ là đối tượng của hợp đồng nằm ngoài lãnh thổ của một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng; ví dụ: hai đối tác Việt Nam nhưng lại mua bán một cái nhà bên Mỹ.

– Đồng tiền thanh toán là đồng ngoại tệ đối với một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng; hai đối tác Việt Nam thanh toán với nhau bằng tiền Cămpuchia.

3) Dẫn chiếu pháp luật:
Chính vì có yếu tố quốc tế nên đòi hỏi phải dẫn chiếu pháp luật khi có xung đột.

Ví dụ như Luật VN qui định nhà nhập khẩu phải thanh toán sau 60 ngày kể từ ngày nhận hàng nhưng Luật Mỹ lại qui định nhà nhập khẩu phải thanh toán sau 60 ngày kể từ ngày bán hết hàng nhập khẩu. Ở đây, nếu khi ký kết hợp đồng hai bên không làm chặt chẽ ngay từ đầu thì sẽ dẫn đến tranh chấp vì anh xuất khẩu (giả sử là VN) cứ đòi thanh toán trong khi anh nhập khẩu (Mỹ) lại bảo là từ từ đợi tớ bán xong đã. Lúc đó sẽ phải dẫn chiếu luật Mỹ hoặc luật VN xem ai sai ai đúng.

Một số nguyên tắc về việc dẫn chiếu:

– Qui định rõ luật dẫn chiếu trong trường hợp có xung đột ngay trong hợp đồng, lúc đó thì “NO TABLE” (KHÔNG BÀN), cứ theo hợp đồng mà luận.

– Áp dụng luật dẫn chiếu là luật tại nơi ký kết hợp đồng,

– Áp dụng luật dẫn chiếu là luật của một nước thứ ba;

– Áp dụng luật dẫn chiếu là luật nơi có trụ sở chính của một trong hai bên tham gia ký kết hợp đồng.

Trần Trí Dũng- saga.vn

XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT về hợp đồng thương mại quốc tế

VSM

Sự phát triển kinh tế kéo theo sự không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật quốc gia cũng như quốc tế. Các nước luôn mong muốn xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, tiến bộ và ngày càng xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, bản chất của pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật do điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội quyết định đã không cho phép các quốc gia dễ dàng làm được điều đó. Sự ảnh hưởng của các tư tưởng đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán và đặc biệt là sự phát triển không đồng đều đã tạo nên sự khác biệt trong cách tư duy của các nhà lập pháp của các quốc gia khác nhau. Xung đột pháp luật là hệ quả tất yếu của sự khác nhau về tư duy đó.

Vậy xung đột pháp luật là gì? Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế được biểu hiện như thế nào và làm sao để giải quyết được những xung đột pháp luật đó? Đó là những vấn đề mà bài viết này đề cập tới, mong được sự góp ý, trao đổi của các bạn.

1. Xung đột pháp luật – một hiện tượng
Xung đột pháp luật là hiện tượng phổ biến trong tư pháp quốc tế (là ngành luật điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…) giữa công dân và pháp nhân của các quốc gia với nhau).

Khi tham gia vào tư pháp quốc tế, luật pháp của các quốc gia khác nhau thường có cách hiểu không giống nhau về cùng một vấn đề. Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nu công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn với nam – 20 tuổi, nữ – 18 tuổi). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật.

Từ đó, có thể hiểu, xung đột pháp luật là hiện tượng hệ thống pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể tham gia để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nhưng lại có cách hiểu, cách quy định không giống nhau và cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật phải chọn 1 trong các hệ thống pháp luật đó.

Rõ ràng, không phải lúc nào cũng có xung đột pháp luật, xung đột pháp luật chỉ là hiện tượng, tức là chỉ xuất hiện khi một quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh và pháp luật của các quốc gia đều có thể tham gia điều chỉnh cho quan hệ đó nhưng lại có cách hiểu không giống nhau.
Nguyên nhân của sự xung đột pháp luật thì có nhiều nhưng chủ yếu là do: (1) không có quy phạm pháp luật thực chất thống nhất; (2) nội dung pháp luật của các quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, trong lĩnh vực hành chính và hình sự thì không có hiệu tượng xung đột pháp luật. Vì hai ngành luật này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nguyên tắc lãnh thổ, tức là nó chỉ có tác động đối với những hành vi xảy ra trong phạm vi lãnh thổ, chứ không vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, trừ một số trường hợp nhất định.

2. Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế.
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyên giao công nghệ…(vấn đề về hợp đồng hy vọng sẽ trinh bày vào một dịp khác).

Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế là cách hiểu, cách quy định khác nhau của hai hay nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế về một vấn đề cụ thể nào đó liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Chẳng hạn, về hình thức hợp đông thương mại quốc tế, luật của Việt Nam bắt buộc phải lập dưới hình thức văn bản nhưng luật của Mỹ thì cho phép bằng hình thức văn bản đối với những hợp đồng có trị giá trên 500 USD hoặc bằng lời nói – dưới 500 USD. Nếu doanh nghiệp Việt Nam giao kết hợp đồng với DN của Mỹ mà không thỏa thuận luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng là luật nào thì sẽ dẫn đến tình trạng hợp đồng sẽ vô hiệu theo luật pháp của Việt Nam nếu nó được giao kết bằng lời nói.

3. Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, sở dĩ có xung đột về hợp đồng thương mại quốc tế là do khi giao kết hợp đồng, các bên tham gia giao kết đã không dự liệu trước luật nào sẽ áp dụng cho hợp đồng. Đấy là cách hữu hiệu để không dẫn đến xung đột pháp luật.
Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, các bên tham gia giao kết hợp đồng không thỏa thuận, không quy định trong hợp đồng sẽ áp dụng luật nào thì khi có tranh chấp xảy ra, không biết dẫn chiếu luật pháp nước nào (nước người mua, người bán hay người thứ ba), xung đột pháp luật có thể xảy ra nếu quốc gia của 2 chủ thể ký kết hợp đồng này chưa tham gia điều ước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.

Lúc đó, việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế, có thể sử dụng những gợi ý sau:

  • Nếu xung đột về hình thức của hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật (Tòa án hoặc Trọng tài) sẽ áp dụng luật nơi giao kết hợp đồng. Tức là hợp đồng được giao kết ở đâu thì lấy luật nơi đó điều chỉnh hợp đồng.
  • Nếu xung đột về nội dung hợp đồng – luật nước người bán, luật nới thực hiện nghĩa vụ, luật lựa chọn…
  • Nếu xung đột về địa vị pháp lý của các bên ký kết hợp đồng – luật quốc tịch, luật nơi cư trú.

VSM – SAGA.VN

XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

VSM

Sự phát triển kinh tế kéo theo sự không ngừng bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật quốc gia cũng như quốc tế. Các nước luôn mong muốn xây dựng một hệ thống pháp luật thống nhất, tiến bộ và ngày càng xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, bản chất của pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật do điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội quyết định đã không cho phép các quốc gia dễ dàng làm được điều đó. Sự ảnh hưởng của các tư tưởng đạo đức, văn hóa, phong tục tập quán và đặc biệt là sự phát triển không đồng đều đã tạo nên sự khác biệt trong cách tư duy của các nhà lập pháp của các quốc gia khác nhau. Xung đột pháp luật là hệ quả tất yếu của sự khác nhau về tư duy đó.

Vậy xung đột pháp luật là gì? Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế được biểu hiện như thế nào và làm sao để giải quyết được những xung đột pháp luật đó? Đó là những vấn đề mà bài viết này đề cập tới, mong được sự góp ý, trao đổi của các bạn.

1. Xung đột pháp luật – một hiện tượng
Xung đột pháp luật là hiện tượng phổ biến trong tư pháp quốc tế (là ngành luật điều chỉnh các mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…) giữa công dân và pháp nhân của các quốc gia với nhau).

Khi tham gia vào tư pháp quốc tế, luật pháp của các quốc gia khác nhau thường có cách hiểu không giống nhau về cùng một vấn đề. Ví dụ: Một nam công dân Việt Nam muốn kết hôn với một nu công dân Anh. Lúc này, những vấn đề cần giải quyết là luật pháp nước nào sẽ điều chỉnh quan hệ hôn nhân này hay nói chính xác hơn là họ sẽ tiến hành các thủ tục kết hôn theo luật nước nào. Câu trả lời là hoặc luật của Anh hoặc luật của Việt Nam. Giả sử, hai công dân này đều thỏa mãn các điều kiện về kết hôn của pháp luật Anh và Việt Nam, lúc đó, vấn đề chọn luật nước nào không còn quan trọng. Bởi vì, luật nào thì họ cũng được phép kết hôn. Nhưng, nếu nam công dân Việt Nam mới chỉ 19 tuổi, nu công dân Anh 17 tuổi thì theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam, cả hai đều chưa đủ độ tuổi kết hôn (Điều 9, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định độ tuổi kết hôn với nam – 20 tuổi, nữ – 18 tuổi). Trong khi đó, luật hôn nhân của Anh thì quy định độ tuổi được phép kết hôn đối với nam và nữ là 16 tuổi. Như vậy, đều về độ tuổi được phép kết hôn nhưng pháp luật của cả hai quốc gia đều hiểu không giống nhau. Đấy chính là xung đột pháp luật.

Từ đó, có thể hiểu, xung đột pháp luật là hiện tượng hệ thống pháp luật của hai hay nhiều nước khác nhau cùng có thể tham gia để điều chỉnh một quan hệ dân sự theo nghĩa rộng nhưng lại có cách hiểu, cách quy định không giống nhau và cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật phải chọn 1 trong các hệ thống pháp luật đó.

Rõ ràng, không phải lúc nào cũng có xung đột pháp luật, xung đột pháp luật chỉ là hiện tượng, tức là chỉ xuất hiện khi một quan hệ pháp luật cụ thể phát sinh và pháp luật của các quốc gia đều có thể tham gia điều chỉnh cho quan hệ đó nhưng lại có cách hiểu không giống nhau.
Nguyên nhân của sự xung đột pháp luật thì có nhiều nhưng chủ yếu là do: (1) không có quy phạm pháp luật thực chất thống nhất; (2) nội dung pháp luật của các quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, trong lĩnh vực hành chính và hình sự thì không có hiệu tượng xung đột pháp luật. Vì hai ngành luật này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nguyên tắc lãnh thổ, tức là nó chỉ có tác động đối với những hành vi xảy ra trong phạm vi lãnh thổ, chứ không vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ, trừ một số trường hợp nhất định.

2. Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế.
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại quốc tế. Hợp đồng thương mại quốc tế có rất nhiều loại, chẳng hạn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng cung ứng dịch vụ, hợp đồng chuyên giao công nghệ…(vấn đề về hợp đồng hy vọng sẽ trinh bày vào một dịp khác).

Xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế là cách hiểu, cách quy định khác nhau của hai hay nhiều hệ thống pháp luật tham gia điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế về một vấn đề cụ thể nào đó liên quan đến hợp đồng thương mại quốc tế. Chẳng hạn, về hình thức hợp đông thương mại quốc tế, luật của Việt Nam bắt buộc phải lập dưới hình thức văn bản nhưng luật của Mỹ thì cho phép bằng hình thức văn bản đối với những hợp đồng có trị giá trên 500 USD hoặc bằng lời nói – dưới 500 USD. Nếu doanh nghiệp Việt Nam giao kết hợp đồng với DN của Mỹ mà không thỏa thuận luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng là luật nào thì sẽ dẫn đến tình trạng hợp đồng sẽ vô hiệu theo luật pháp của Việt Nam nếu nó được giao kết bằng lời nói.

3. Giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế

Ở đây, cần nhấn mạnh rằng, sở dĩ có xung đột về hợp đồng thương mại quốc tế là do khi giao kết hợp đồng, các bên tham gia giao kết đã không dự liệu trước luật nào sẽ áp dụng cho hợp đồng. Đấy là cách hữu hiệu để không dẫn đến xung đột pháp luật.
Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó, các bên tham gia giao kết hợp đồng không thỏa thuận, không quy định trong hợp đồng sẽ áp dụng luật nào thì khi có tranh chấp xảy ra, không biết dẫn chiếu luật pháp nước nào (nước người mua, người bán hay người thứ ba), xung đột pháp luật có thể xảy ra nếu quốc gia của 2 chủ thể ký kết hợp đồng này chưa tham gia điều ước quốc tế nào trực tiếp điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế.

Lúc đó, việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng thương mại quốc tế, có thể sử dụng những gợi ý sau:

  • Nếu xung đột về hình thức của hợp đồng thì cơ quan có thẩm quyền lựa chọn luật (Tòa án hoặc Trọng tài) sẽ áp dụng luật nơi giao kết hợp đồng. Tức là hợp đồng được giao kết ở đâu thì lấy luật nơi đó điều chỉnh hợp đồng.
  • Nếu xung đột về nội dung hợp đồng – luật nước người bán, luật nới thực hiện nghĩa vụ, luật lựa chọn…
  • Nếu xung đột về địa vị pháp lý của các bên ký kết hợp đồng – luật quốc tịch, luật nơi cư trú.

VSM – SAGA.VN

Đào tạo Luật sở hữu trí tuệ trong các trường Đại học, BAO GIỜ ĐƯỢC BÀI BẢN?

MẠNH ĐỒNG

Ở nhiều nước trên thế giới, việc giảng dạy về Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) trong các trường đại học, cao đẳng, nhất là những trường đào tạo sinh viên ngành luật rất được chú trọng. Trong khi đó, ở Việt Nam, việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT trong các trường đại học chưa được triển khai, giảng dạy về SHTT chưa trở thành hướng đào tạo được coi trọng, do vậy cũng chưa xây dựng được các chuẩn mực trong chương trình đào tạo, khung chương trình và nội dung cụ thể.

Từ khi thành lập (1968) đến nay, Viện SHTT liên bang Nga đã đào tạo được 30.000 chuyên gia SHTT, 500 người đại diện sáng chế, 350 chuyên gia đánh giá đối tượng SHTT. Không chỉ khoa Luật của Viện đào tạo luật gia chuyên ngành về SHTT với thời gian đào tạo kéo dài 5 năm, Viện còn có khoa Kinh tế đào tạo chuyên ngành về Quản lý SHTT, Sáng chế và li – xăng quốc tế.

Ở Ucraina, Bộ Giáo dục và Khoa học đã thành lập tổ hợp đào tạo – khoa học- sản xuất “học viện SHTT” để đào tạo chuyên  gia, đào tạo lại và nâng cao trình độ cho chuyên gia trong lĩnh vực SHTT. Học viên của Viện là những công chức nhà nước, thẩm phán của Tòa án kinh tế và Tòa án tối cao Ucraina, đại diện của các Phòng thương mại công nghiệp ở các tỉnh và những người đến từ các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp… Ngoài ra, ở 12 cơ sở đào tạo đại học của Ucraina cũng đều có chuyên ngành đào tạo về Luật SHTT.

Tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Singapore có khóa Luật SHTT cơ bản và khóa luật SHTT nâng cao. Môn học kéo dài từ 1 học kỳ 13 tuần với 3 – 6 giờ  tín chỉ/tuần. Phương pháp giảng dạy ở đây chủ yếu là bài giảng kết hợp với thảo luận, thuyết trình trên lớp.

Trong khi đó, ở Việt Nam cũng có nhiều cơ sở đào tạo chuyên ngành luật như: Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Tp.HCM,  Khoa Luật trường đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật Đại học Cần Thơ… Các cơ sở đào tạo luật ở trình độ đại học đều cấp một bằng cử nhân luật theo mã số do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp. Tuy nhiên, nội dung chương trình đào tạo các chuyên ngành về cơ bản giống nhau, giữa các ngành hẹp có khác nhau về thời lượng. Đối với khoa chuyên ngành như luật kinh tế thì học các môn về kinh tế nhiều hơn các khoa khác khoảng 20%. Quan niệm về chuyên ngành được phân biệt bởi số lượng tiết học về các môn học khác nhau mà không dựa vào đặc thù nghề nghiệp, chuyên môn của từng chuyên ngành đào tạo. Vì vậy, mỗi trường có phương pháp tiếp cận và giảng dạy Luật SHTT khác nhau. Pgs.Ts. Nguyễn Quốc Thịnh, giám đốc Trung tâm thương hiệu, Đại hoc Thương mại cho biết: Trường Đại học Thương mại mới chỉ có 4 chuyên ngành Quản trị thương hiệu, quản trị thương hiệu dịch vụ, quản trị thương hiệu điện tử và tổng quan thương mại các hoạt động SHTT, nhưng chủ yếu vẫn theo hình thức tự học là chủ yếu.

Thực trạng trên cũng diễn ra ở trường đại học Luật Tp.HCM. Ts. Nguyễn Thị Bích Ngọc, trường đại học Luật Tp. HCM cho biết, Luật SHTT đã được đưa vào chương trình giảng dạy dưới hình thức kiến thức tự chọn và bắt buộc. Các vấn đề liên quan đến SHTT được giảng dạy tại 3 khoa: Luật Dân sự, khoa Quốc tế và khoa Thương mại. Tuy nhiên, thời lượng tiết học cho cả kiến thức bắt buộc và tự chọn ở cả 3 khoa còn rất khiêm tốn so với các môn học khác. Mặt khác, giữa các khoa lại không có sự kết nối kiến thức về SHTT một cách có hệ thống để người học có thể vận dụng và phát triển kiến thức đã học nên tuy đã được giảng dạy về SHTT nhưng sinh viên chỉ có thể có các hiểu biết thông thường về SHTT, khả năng làm việc trong những lĩnh vực liên quan tới SHTT hầu như không có. Sinh viên cũng chưa có nhận thức đúng mức về lợi ích có thể khai thác được từ kiến thức về SHTT cho hoạt động nghề nghiệp sau này.

Có thể thay đổi thực trạng giảng dạy SHTT trong các trường đại học, cao đẳng và mục đích đào tạo là gì?

Trả lời câu hỏi này, nhiều cán bộ giảng dạy trong các trường đại học đều cho rằng trở ngại lớn nhất để thay đổi và nâng cao vị thế của môn SHTT trong các trường đại học chủ yếu phụ thuộc vào cách nhìn, quan niệm về việc giảng dạy lĩnh vực này như một chuyên ngành riêng biệt. Để thực hiện được điều này cần có sự quan tâm của nhà nước, đặc biệt là Bộ Giáo dục và Đào tạo với vai trò là Bộ chủ quản của các trường đại học và sự quan tâm, quyết tâm của lãnh đạo các trường. Ts. Nguyễn Minh Tuấn, Phó Chủ nhiệm khoa Luật Dân sự, Trường đại học Luật Hà Nội cũng cho rằng Luật SHTT là một ngành trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, không nên thiết kế chương trình môn học theo một chuyên ngành hẹp. Hệ đào tạo sau đại học cần mở chuyên ngành luật SHTT như các ngành khác bởi lẽ ngành luật SHTT mới được xây dựng, nhu cầu nghiênc ứu pháp luật về SHTT là cần thiết để đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực này.

Trước mắt, các trường có thể sử dụng đội ngũ giảng viên dạy Luật dân sự đảm đương nhiệm vụ Luật SHTT. Tuy nhiên, về lâu dài, cần mở rộng đội ngũ chuyên gia có học vị tiến sỹ, học vị Giáo sư, phó giáo sư để đảm nhiệm việc đào tạo ngành sở hữu trí tuệ trong các trường đại học, cao đẳng.

Mạnh Đồng – BÁO KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

ĐÀO TẠO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, BAO GIỜ ĐƯỢC BÀI BẢN?

MẠNH ĐỒNG

Ở nhiều nước trên thế giới, việc giảng dạy về Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) trong các trường đại học, cao đẳng, nhất là những trường đào tạo sinh viên ngành luật rất được chú trọng. Trong khi đó, ở Việt Nam, việc đào tạo bài bản và có hệ thống về SHTT trong các trường đại học chưa được triển khai, giảng dạy về SHTT chưa trở thành hướng đào tạo được coi trọng, do vậy cũng chưa xây dựng được các chuẩn mực trong chương trình đào tạo, khung chương trình và nội dung cụ thể.

Từ khi thành lập (1968) đến nay, Viện SHTT liên bang Nga đã đào tạo được 30.000 chuyên gia SHTT, 500 người đại diện sáng chế, 350 chuyên gia đánh giá đối tượng SHTT. Không chỉ khoa Luật của Viện đào tạo luật gia chuyên ngành về SHTT với thời gian đào tạo kéo dài 5 năm, Viện còn có khoa Kinh tế đào tạo chuyên ngành về Quản lý SHTT, Sáng chế và li – xăng quốc tế.

Ở Ucraina, Bộ Giáo dục và Khoa học đã thành lập tổ hợp đào tạo – khoa học- sản xuất “học viện SHTT” để đào tạo chuyên  gia, đào tạo lại và nâng cao trình độ cho chuyên gia trong lĩnh vực SHTT. Học viên của Viện là những công chức nhà nước, thẩm phán của Tòa án kinh tế và Tòa án tối cao Ucraina, đại diện của các Phòng thương mại công nghiệp ở các tỉnh và những người đến từ các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp… Ngoài ra, ở 12 cơ sở đào tạo đại học của Ucraina cũng đều có chuyên ngành đào tạo về Luật SHTT.

Tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Singapore có khóa Luật SHTT cơ bản và khóa luật SHTT nâng cao. Môn học kéo dài từ 1 học kỳ 13 tuần với 3 – 6 giờ  tín chỉ/tuần. Phương pháp giảng dạy ở đây chủ yếu là bài giảng kết hợp với thảo luận, thuyết trình trên lớp.

Trong khi đó, ở Việt Nam cũng có nhiều cơ sở đào tạo chuyên ngành luật như: Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Tp.HCM,  Khoa Luật trường đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Luật Đại học Cần Thơ… Các cơ sở đào tạo luật ở trình độ đại học đều cấp một bằng cử nhân luật theo mã số do Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp. Tuy nhiên, nội dung chương trình đào tạo các chuyên ngành về cơ bản giống nhau, giữa các ngành hẹp có khác nhau về thời lượng. Đối với khoa chuyên ngành như luật kinh tế thì học các môn về kinh tế nhiều hơn các khoa khác khoảng 20%. Quan niệm về chuyên ngành được phân biệt bởi số lượng tiết học về các môn học khác nhau mà không dựa vào đặc thù nghề nghiệp, chuyên môn của từng chuyên ngành đào tạo. Vì vậy, mỗi trường có phương pháp tiếp cận và giảng dạy Luật SHTT khác nhau. Pgs.Ts. Nguyễn Quốc Thịnh, giám đốc Trung tâm thương hiệu, Đại hoc Thương mại cho biết: Trường Đại học Thương mại mới chỉ có 4 chuyên ngành Quản trị thương hiệu, quản trị thương hiệu dịch vụ, quản trị thương hiệu điện tử và tổng quan thương mại các hoạt động SHTT, nhưng chủ yếu vẫn theo hình thức tự học là chủ yếu.

Thực trạng trên cũng diễn ra ở trường đại học Luật Tp.HCM. Ts. Nguyễn Thị Bích Ngọc, trường đại học Luật Tp. HCM cho biết, Luật SHTT đã được đưa vào chương trình giảng dạy dưới hình thức kiến thức tự chọn và bắt buộc. Các vấn đề liên quan đến SHTT được giảng dạy tại 3 khoa: Luật Dân sự, khoa Quốc tế và khoa Thương mại. Tuy nhiên, thời lượng tiết học cho cả kiến thức bắt buộc và tự chọn ở cả 3 khoa còn rất khiêm tốn so với các môn học khác. Mặt khác, giữa các khoa lại không có sự kết nối kiến thức về SHTT một cách có hệ thống để người học có thể vận dụng và phát triển kiến thức đã học nên tuy đã được giảng dạy về SHTT nhưng sinh viên chỉ có thể có các hiểu biết thông thường về SHTT, khả năng làm việc trong những lĩnh vực liên quan tới SHTT hầu như không có. Sinh viên cũng chưa có nhận thức đúng mức về lợi ích có thể khai thác được từ kiến thức về SHTT cho hoạt động nghề nghiệp sau này.

Có thể thay đổi thực trạng giảng dạy SHTT trong các trường đại học, cao đẳng và mục đích đào tạo là gì?

Trả lời câu hỏi này, nhiều cán bộ giảng dạy trong các trường đại học đều cho rằng trở ngại lớn nhất để thay đổi và nâng cao vị thế của môn SHTT trong các trường đại học chủ yếu phụ thuộc vào cách nhìn, quan niệm về việc giảng dạy lĩnh vực này như một chuyên ngành riêng biệt. Để thực hiện được điều này cần có sự quan tâm của nhà nước, đặc biệt là Bộ Giáo dục và Đào tạo với vai trò là Bộ chủ quản của các trường đại học và sự quan tâm, quyết tâm của lãnh đạo các trường. Ts. Nguyễn Minh Tuấn, Phó Chủ nhiệm khoa Luật Dân sự, Trường đại học Luật Hà Nội cũng cho rằng Luật SHTT là một ngành trong hệ thống pháp luật của Nhà nước, không nên thiết kế chương trình môn học theo một chuyên ngành hẹp. Hệ đào tạo sau đại học cần mở chuyên ngành luật SHTT như các ngành khác bởi lẽ ngành luật SHTT mới được xây dựng, nhu cầu nghiênc ứu pháp luật về SHTT là cần thiết để đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực này.

Trước mắt, các trường có thể sử dụng đội ngũ giảng viên dạy Luật dân sự đảm đương nhiệm vụ Luật SHTT. Tuy nhiên, về lâu dài, cần mở rộng đội ngũ chuyên gia có học vị tiến sỹ, học vị Giáo sư, phó giáo sư để đảm nhiệm việc đào tạo ngành sở hữu trí tuệ trong các trường đại học, cao đẳng.

Mạnh Đồng – BÁO KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

I. NGƯỜI XIN NHẬN CON NUÔI, TRẺ EM ĐƯỢC CHO LÀM CON NUÔI

1. Người xin nhận con nuôi

Theo Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), người xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi bao gồm:

1.1. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi (danh mục các nước kèm Thông tư này). Người thuộc đối tượng này được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi.

1.2. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi:

a) Người có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. Thời gian 06 tháng được tính theo một lần nhập – xuất cảnh Việt Nam; nếu hai vợ chồng xin nhận con nuôi thì chỉ cần một người đáp ứng điều kiện này;

b) Người có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam. Người gốc Việt Nam được hiểu theo quy định tại Thông tư số 2461/2001/TT-BNG ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Bộ Ngoại giao, là người hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam; người có cha đẻ, mẹ đẻ hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam;

c) Người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.

Quan hệ họ hàng được hiểu là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác với trẻ em là cháu được xin làm con nuôi (theo bên nội hoặc bên ngoại). Trường hợp người có quan hệ họ hàng là ông, bà xin nhận cháu hoặc anh, chị em xin nhận nhau làm con nuôi, thì không giải quyết.

Quan hệ thân thích là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là chồng với con riêng của vợ hoặc vợ với con riêng của chồng.

1.3. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi và cũng không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), thì chỉ được xin nhận con nuôi là trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em mất năng lực hành vi dân sự, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo khác đang sống tại gia đình hoặc tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, hoặc trẻ em mồ côi đang sống tại gia đình.

1.4. Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi, không phụ thuộc vào việc Việt Nam với nước ngoài nơi người đó định cư cùng hoặc không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi.

Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể người đó đã nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa.

2. Trẻ em được cho làm con nuôi

Theo Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trẻ em được cho làm con nuôi bao gồm:

2.1. Trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam. Cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp được hiểu là cơ sở bảo trợ xã hội được thành lập theo Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31/5/2001 của Chính phủ (sau đây gọi là cơ sở nuôi dưỡng). Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thông báo cho Cục Con nuôi quốc tế danh sách các cơ sở nuôi dưỡng này và danh sách trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng đó có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi.

Việc giới thiệu trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi phải tuân thủ các quy định sau:

a) Ưu tiên giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở trong nước; việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, khi không thể tìm được mái ấm gia đình cho trẻ em ở trong nước;

b) Chỉ được giới thiệu trẻ em làm con nuôi sau 30 ngày, kể từ ngày trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng; đối với trẻ sơ sinh bị bỏ rơi thì chỉ được giới thiệu làm con nuôi sau 60 ngày, kể từ ngày phát hiện trẻ em bị bỏ rơi;

c) Trẻ em bị bỏ rơi đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng chỉ được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cấp tỉnh trở lên mà không có thân nhân đến nhận và cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi (nội dung thông báo theo mẫu kèm Thông tư này).

2.2. Trẻ em đang sống tại gia đình được cho làm con nuôi người nước ngoài nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

Đối với trẻ em có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, thì chỉ được giải quyết cho làm con nuôi của cô, cậu, dì, chú, bác (bên nội hoặc bên ngoại) ở nước ngoài, nếu trẻ em đó bị mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị mồ côi mẹ hoặc cha, còn người kia không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó; trường hợp trẻ em còn cha, mẹ nhưng cả cha và mẹ đều không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó, thì trẻ em cũng được giải quyết cho làm con nuôi.

Trong trường hợp trẻ em tuy có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, nhưng trẻ em đó còn cả cha và mẹ, sức khoẻ của trẻ em và của cha mẹ bình thường, cha mẹ vẫn có khả năng lao động và có điều kiện để bảo đảm chăm sóc con mình tại Việt Nam, thì không giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài.

2.3. Trẻ em khuyết tật, tàn tật, là nạn nhân của chất độc hoá học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo khác (trước đây sống tại cơ sở nuôi dưỡng hoặc sống tại gia đình) đang được chữa trị ở nước ngoài, nếu được người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận làm con nuôi, thì được xem xét giải quyết tại Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài như đối với trẻ em không còn hộ khẩu thường trú ở trong nước.

II. MỘT SỐ HƯỚNG DẪN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON NUÔI

1. Hồ sơ của người xin nhận con nuôi

Hồ sơ của người xin nhận con nuôi gồm các giấy tờ theo quy định tại Điều 41 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần chú ý một số điểm sau:

a) Đơn xin nhận trẻ em làm con nuôi phải ghi đầy đủ theo mẫu quy định, trong đó nguyện vọng của người xin nhận con nuôi về trẻ em cần xin làm con nuôi (như số lượng trẻ, độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ) phải phù hợp với giấy phép hoặc bản điều tra về hoàn cảnh gia đình, xã hội do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

b) Trong trường hợp khi nộp hồ sơ mà người xin nhận con nuôi chưa có hộ chiếu, chỉ có bản sao có công chứng giấy chứng minh nhân dân, giấy thông hành hoặc thẻ cư trú và trên các giấy tờ của Việt Nam đều ghi họ tên, ngày tháng năm sinh của người đó theo loại giấy tờ này, thì khi đến Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, người xin nhận con nuôi không phải nộp bản sao hộ chiếu;

c) Đối với người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung):

– Nếu thuộc điểm a thì phải có bản chụp thị thực nhập – xuất cảnh Việt Nam (01 lần) hoặc giấy tờ khác để chứng minh việc đã ở Việt Nam từ 06 tháng trở lên.

– Nếu thuộc điểm b thì phải có giấy tờ phù hợp để chứng minh (có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam).

– Nếu thuộc điểm c thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của trẻ em xác nhận người đó có quan hệ họ hàng với trẻ em được xin làm con nuôi; bản chụp giấy chứng nhận kết hôn của người xin con nuôi với cha hoặc mẹ của trẻ em được xin làm con nuôi và giấy khai sinh của trẻ em đó để chứng minh quan hệ thân thích; bản chụp quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho nhận con nuôi, giấy khai sinh của con nuôi và của trẻ em được xin làm con nuôi để chứng minh người đó đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin làm con nuôi;

d) Đối với trường hợp người xin nhận con nuôi là vợ chồng, nhưng trong quá trình giải quyết hồ sơ, một trong hai bên vợ hoặc chồng chết, nếu người kia muốn tiếp tục xin nhận con nuôi, thì phải làm lại những giấy tờ nói tại các điểm a, c, và d khoản 1 Điều 41 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

2. Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ

Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ của người xin nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần lưu ý một số điểm như sau:

2.1. Trước khi tiếp nhận hồ sơ, Cục Con nuôi quốc tế phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về việc người xin nhận con nuôi thuộc đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và hướng dẫn tại điểm 1 mục II Thông tư này.

2.2. Việc nộp hồ sơ được thực hiện như sau:

a) Người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) nộp hồ sơ xin nhận con nuôi thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hữu quan.

Người đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài, nhân viên của Văn phòng con nuôi nước ngoài được uỷ quyền hợp lệ hoặc người đại diện của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phải trực tiếp nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại Cục Con nuôi quốc tế;

b) Người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) trực tiếp nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại Cục Con nuôi quốc tế, nếu xin nhận trẻ em tại Việt Nam làm con nuôi hoặc tại Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, nếu xin nhận trẻ em Việt Nam ở nước ngoài làm con nuôi.

2.3. Sau khi kiểm tra thấy hồ sơ của người xin nhận con nuôi đầy đủ và hợp lệ, Cục Con nuôi quốc tế cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ (theo mẫu kèm Thông tư này) cho người nộp hồ sơ; thời gian thụ lý hồ sơ được tính kể từ ngày cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ.

3. Trường hợp xin đích danh

Việc xin đích danh trẻ em Việt Nam làm con nuôi chỉ được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Người xin nhận con nuôi thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung);

b) Người xin nhận con nuôi quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) mà thuộc một trong các trường hợp:

– Có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên;

– Có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam;

– Có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.

4. Hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi

Hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài gồm các giấy tờ quy định tại Điều 44 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần lưu ý một số giấy tờ sau:

4.1. Đối với Giấy khai sinh của trẻ em, có thể nộp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao công chứng, chứng thực từ bản chính.

4.2. Đối với giấy xác nhận sức khoẻ, có thể nộp giấy do tổ chức y tế cấp huyện trở lên của Việt Nam cấp; khuyến khích nộp giấy xác nhận sức khoẻ của trẻ em do tổ chức y tế chất lượng cao hoặc tổ chức y tế cấp tỉnh trở lên cấp.

4.3. Đối với trẻ em có cha, mẹ thuộc diện không còn khả năng lao động hoặc không có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con, thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha, mẹ trẻ em.

4.4. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, để bảo đảm nguồn gốc rõ ràng của trẻ em, cần phải có:

a) Bản tường trình của người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi, trong đó thể hiện rõ ràng, đầy đủ các thông tin về người phát hiện (họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ liên lạc, nghề nghiệp, số chứng minh nhân dân) và chữ ký của người đó; nếu người đó không biết chữ thì phải điểm chỉ nhưng phải ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ;

b) Biên bản về việc trẻ em bị bỏ rơi, trong đó ghi rõ ngày tháng năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi, giới tính, đặc điểm nhận dạng, tài sản và các đồ vật khác của trẻ em (nếu có), có đủ chữ ký của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người lập biên bản và những người khác có liên quan, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan Công an nơi trẻ em bị bỏ rơi.

c) Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi;

d) Văn bản cam đoan của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.

4.5. Đối với giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, phải bảo đảm rằng:

a) Việc đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài phải hoàn toàn tự nguyện, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; tuyệt đối nghiêm cấm việc người xin nhận con nuôi gặp gỡ, tiếp xúc với người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em để đưa ra những thoả thuận về tài chính, lợi ích vật chất khác hoặc bất kỳ mục đích vụ lợi nào để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;

b) Trước khi tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em phải nhận thức một cách rõ ràng và đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi theo hình thức trọn vẹn/vĩnh viễn và có thể dẫn đến việc chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha, mẹ đẻ theo pháp luật nước ngoài; sự đồng ý này không thể bị rút lại;

c) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà không xác định được cha, mẹ đẻ do cha, mẹ cố tình giấu địa chỉ, cung cấp địa chỉ giả hoặc tuy có địa chỉ của cha, mẹ nhưng vào thời điểm xác minh, cha, mẹ có lý do chính đáng yêu cầu giữ kín thông tin hoặc cha, mẹ đã chuyển đi nơi khác không rõ địa chỉ, thì chỉ cần sự tự nguyện đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó;

d) Trong trường hợp trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng mà cha, mẹ đẻ chưa thể hiện rõ nguyện vọng cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, nhưng xác định được địa chỉ của cha, mẹ đẻ, thì còn phải có văn bản tự nguyện đồng ý của cha, mẹ đẻ cho con làm con nuôi người nước ngoài; nếu cha, mẹ đẻ chưa đủ 18 tuổi, thì còn phải có sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ của cha, mẹ trẻ em đó; nếu những người này không biết chữ, thì phải điểm chỉ vào văn bản tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ.

5. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi trong trường hợp xin không đích danh

Mọi trường hợp xin nhận trẻ em làm con nuôi thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam (không thuộc diện quy định tại điểm 3.1, tiểu mục 3 mục III Thông tư này) được áp dụng như trường hợp xin không đích danh theo quy định tại Điều 51 Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi được thực hiện như sau:

5.1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người xin nhận con nuôi, căn cứ vào danh sách trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng, đặc điểm và các điều kiện của trẻ em, nguyện vọng của người xin nhận con nuôi, Cục Con nuôi quốc tế có công văn kèm theo bản chụp Phiếu tiếp nhận hồ sơ và đơn của người xin nhận con nuôi gửi Sở Tư pháp để Sở hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng xem xét giới thiệu trẻ em.

5.2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Cục Con nuôi quốc tế, Sở Tư pháp có công văn đề nghị cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện (thuộc danh sách trẻ em đã báo cáo), phù hợp với nguyện vọng của người xin nhận con nuôi để giới thiệu làm con nuôi và trả lời bằng văn bản cho Cục Con nuôi quốc tế, kèm theo các giấy tờ nói tại điểm 5.3, tiểu mục 3, mục III Thông tư này.

5.3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Sở Tư pháp, cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi và có công văn (theo mẫu kèm Thông tư này) trả lời cho Sở Tư pháp, kèm theo các giấy tờ sau:

a) Bản chụp Giấy khai sinh (kèm 02 ảnh 9×12 hoặc 10×15) của trẻ em;

b) Bản chụp Biên bản bàn giao trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng; trường hợp trẻ em bị bỏ rơi tại cơ sở nuôi dưỡng thì chỉ cần bản tường trình của người phát hiện;

c) Bản chụp quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;

d) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có:

– Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi (như báo tỉnh hoặc giấy xác nhận về việc đã đưa tin trên đài phát thanh, truyền hình tỉnh).

– Văn bản của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng (theo mẫu kèm Thông tư này) khẳng định về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.

5.4. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Sở Tư pháp, Cục Con nuôi quốc tế thông báo cho người xin nhận con nuôi về kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi (thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam).

5.5. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Con nuôi quốc tế, người xin nhận con nuôi phải trả lời bằng văn bản cho Cục Con nuôi quốc tế về việc đồng ý hay không đồng ý nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi (thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam).

5.6. Chỉ sau khi nhận được văn bản đồng ý của người xin nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu theo thủ tục trên đây, Cục Con nuôi quốc tế mới có Công văn gửi Sở Tư pháp để hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ cho trẻ em được giới thiệu làm con nuôi (Công văn 1); lúc này cơ sở nuôi dưỡng mới chính thức lập hồ sơ cho trẻ em.

Trong trường hợp người xin nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu, Cục Con nuôi quốc tế có công văn gửi Sở Tư pháp để Sở thông báo cho cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu cho người khác; người xin nhận con nuôi chỉ được giới thiệu trẻ em khác sau 12 tháng, kể từ ngày có văn bản từ chối.

6. Thủ tục kiểm tra hồ sơ của trẻ em

6.1. Sau khi nhận đủ 04 bộ hồ sơ của trẻ em do cơ sở nuôi dưỡng chuyển đến, Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra toàn bộ các giấy trong hồ sơ, thẩm tra tính hợp pháp của các giấy tờ và xác minh làm rõ về nguồn gốc của trẻ em theo quy định tại Điều 45 Nghị định 68/2002/NĐ-CP, đặc biệt lưu ý đối với những giấy tờ như đã nêu tại điểm 4 mục III Thông tư này.

Trong trường hợp yêu cầu cơ quan Công an xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định 68/2002/NĐ-CP, thì Sở Tư pháp phải gửi bản chụp kết quả xác minh của cơ quan Công an kèm theo 01 bộ hồ sơ của trẻ em cho Cục Con nuôi quốc tế.

6.2. Cục Con nuôi quốc tế kiểm tra toàn bộ hồ sơ của trẻ em theo quy định tại Điều 46 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và chỉ gửi công văn cho ý kiến đồng ý giải quyết việc người nước ngoài xin nhận trẻ em làm con nuôi (Công văn 2), kèm theo 01 bộ hồ sơ của người xin nhận con nuôi gửi Sở Tư pháp để trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, nếu xét thấy hồ sơ của trẻ em đã bảo đảm đầy đủ, hợp lệ theo đúng quy định của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và hướng dẫn tại Thông tư này.

7. Hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi

Việc hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 47 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần chú ý một số điểm sau:

Trường hợp có lý do chính đáng mà người xin nhận con nuôi không thể có mặt tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, thì người đó phải có văn bản đề nghị Sở Tư pháp cho gia hạn. Nếu đồng ý cho gia hạn, Sở Tư pháp thông báo cho Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam để Văn phòng báo cho người xin nhận con nuôi; thời gian gia hạn không quá 60 ngày kể từ ngày có văn bản của Sở Tư pháp cho phép gia hạn.

Trường hợp có lý do chính đáng mà người xin nhận con nuôi không thể có mặt tại Việt Nam trong thời hạn trên, thì người đó phải uỷ quyền bằng văn bản cho Văn phòng con nuôi nước ngoài đến Sở Tư pháp nộp lệ phí và bản cam kết (theo mẫu quy định) về việc thông báo định kỳ 06 tháng một lần cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Cục Con nuôi quốc tế về tình hình phát triển của con nuôi trong 03 năm đầu tiên, sau đó mỗi năm tiếp theo, thông báo một lần cho đến khi con nuôi đủ 18 tuổi; trong văn bản uỷ quyền người xin nhận con nuôi phải cam đoan không được từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu; văn bản uỷ quyền phải có chữ ký của người xin nhận con nuôi, không cần công chứng hay chứng thực.

8. Hoàn tất thủ tục xuất cảnh Việt Nam cho trẻ em

8.1. Sau khi có quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi và việc giao nhận con nuôi đã được tiến hành tại Sở Tư pháp, các cơ quan chức năng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để hoàn tất thủ tục cho trẻ em xuất cảnh Việt Nam, nhập cảnh và cư trú tại nước tiếp nhận.

8.2. Trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi là trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng, thì tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em phải do Giám đốc Sở Tư pháp ký xác nhận; trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi là trẻ em sống tại gia đình, thì tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em phải do Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ em có hộ khẩu thường trú, ký xác nhận.

9. Cha, mẹ nuôi xin huỷ quyết định cho nhận con nuôi

Trường hợp đã có quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi và việc giao nhận con nuôi đã được tiến hành tại Sở Tư pháp nhưng trẻ em chưa xuất cảnh Việt Nam, cha mẹ nuôi có đơn xin huỷ quyết định nuôi con nuôi vì lý do chính đáng (như việc cha, mẹ nuôi đột nhiên mắc bệnh hiểm nghèo, không đủ sức khoẻ để chăm sóc con nuôi; con nuôi mắc bệnh hiểm nghèo không thể xuất cảnh Việt Nam vì nguy hiểm đến tính mạng; con nuôi không thể hoà nhập được với cha, mẹ nuôi và đòi ở lại Việt Nam hoặc vì lý do chính đáng khác), Cục Con nuôi quốc tế có trách nhiệm báo cáo trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp để phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét giải quyết.

Nếu xét thấy lý do xin huỷ quyết định cho nhận con nuôi là chính đáng, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành huỷ/thu hồi quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và chỉ đạo việc nhận lại trẻ em về cơ sở nuôi dưỡng hoặc về gia đình để tiếp tục nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

SOURCE: Thông tư số 08/2006/TT-BTP về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài do Bộ Tư Pháp ban hành

CÔNG VĂN SỐ 100/2004/KHXX CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO V/v giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

Hà Nội, ngày 03 tháng 6 năm 2004

Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu

Sau khi nghiên cứu Công văn số 39/2004/CV-TDS ngày 06/4/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Dân sự thì người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết. Theo quy định của pháp luật thì cha, mẹ và con, anh chị em ruột với nhau bao giờ cũng có quyền, lợi ích liên quan đối với nhau; do đó, về nguyên tắc chung họ có thể yêu cầu Toà án quyết định tuyên bố người kia là đã chết theo quy định của pháp luật.

2. Để xác định Toà án nhân dân cấp huyện hay Toà án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là đã chết phải căn cứ vào quy định tại Điều 11 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; cụ thể là:

– Trong trường hợp người yêu cầu Toà án tuyên bố một người là đã chết cư trú ở Việt Nam (không có sự tham gia của người Việt Nam ở nước ngoài…) thì đây là loại việc dân sự không có yếu tố nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện. Đối với trường hợp quý Toà nêu trong Công văn số 39/2004/CV-TDS mà chỉ có một mình anh Nguyễn Việt Kiều có đơn yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Hữu Trúc Khanh là đã chết thì Toà án nhân dân huyện Giá Rai có thẩm quyền giải quyết.

– Đối với trường hợp trong số những người có đơn yêu cầu gửi Toà án vừa có người cư trú ở Việt Nam vừa có người định cư ở nước ngoài thì đây là loại việc dân sự có yếu tố nước ngoài, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp tỉnh. Đối với trường hợp quý Toà nêu trong Công văn số 39/2004/CV-TDS mà cả anh Nguyễn Việt Kiều và bố mẹ anh định cư ở nước ngoài đều có đơn yêu cầu Toà án ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Hữu Trúc Khanh là đã chết thì Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu có thẩm quyền giải quyết.

Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong việc giải quyết vụ án cụ thể tại địa phương.

KT. CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN
Đặng Quang Phương

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 112/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 9 NĂM 2001 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI ĐIỂM THỤ LÝ VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Kính gửi :

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương – Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc xác định thời điểm thụ lý vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp cụ thể. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 2337/CV-VKSTC ngày 12 tháng 9 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

1. Khi giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thời điểm thụ lý vụ án được xác định là trước ngày 01 tháng 01 năm 2001 và áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 để giải quyết có xem xét, tham khảo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 về vấn đề mà Toà án đang giải quyết như hướng dẫn tại điểm c mục 4 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QHl0 ngày 9/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình".

a. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001 mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử sơ thẩm;

b. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm;

c Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm bị kháng nghị mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;

d. Vụ án được Toà án cấp sơ thẩm thụ lý trước ngày 01/01/2001, nhưng bản án, quyết định phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bị huỷ để xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại mà từ ngày 01/01/2001 trở đi mới xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm lại.

2. Trong trường hợp khi xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án về hôn nhân và gia đình mà Toà án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ toàn bộ các bản án hoặc quyết định về vụ án và giao hồ sơ vụ án cho Toà án có thẩm quyền (có thể chính Toà án đã giải quyết sơ thẩm vụ án đó; có thể là Toà án khác cùng cấp; có thể là Toà án trên một cấp hoặc dưới một cấp) giải quyết lại vụ án từ giai đoạn sơ thẩm theo thủ tục chung, thì thời điểm thụ lý vụ án là ngày Toà án có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm lại nhận được hồ sơ vụ án. Nếu từ ngày 01/01/2001 trở đi mới thụ lý, thì áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

3. Đối với vụ án về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội "Về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình", thì trong mọi trường hợp đều áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Trong quá trình thực hiện, nếu có gì vướng mắc, đề nghị phản ánh cho Toà án nhân dân tối cao để có hướng dẫn sửa đổi hoặc bổ sung.

Đặng Quang Phương

(Đã ký)