VỐN XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN

LUẬT SƯ NGUYỄN NGỌC BÍCH

Trong bài này chúng tôi sẽ tóm lược các điểm chính của vốn xã hội như được trình bày theo một số nhà nghiên cứu trên thế giới. Sau đó đề cập đến sự nghiên cứu của ông Fukuyama và liên hệ một số điểm chính yếu của ông với thực tế của nước ta để tìm xem vốn xã hội của chúng ta cao hay thấp. Thực tế được chọn lựa là sáu vấn đề nằm trong cơ cấu tổ chức xã hội và công việc xây dựng con người ở ta.

I. Khái niệm về vốn xã hội
Vốn xã hội là những sự ràng buộc lẫn nhau do người ta đặt ra hay tuân giữ khi giao dịch hay khi chung sức làm một việc gì đó; nó còn được gọi là những ràng buộc xã hội (social bonds) hay các hành vi mẫu mực (norms) hoặc quy tắc (rules) xã hội và chúng là những yếu tố quan trọng cho sự bền vững của cuộc sống.
Những giá trị này được nhà xã hội học Jane Jacobs nêu lên năm 1961, Bourdieu năm 1986, sau đó được Coleman đặt cho một khuôn khổ lý thuyết rõ ràng năm 1989; rồi được Putnam phổ biến trên công luận năm 1993.  Coleman mô tả vốn xã hội là một cấu trúc, một khuôn khổ, cho sự giao dịch giữa những người hành động (actors) và trong họ với nhau; thúc đẩy các hoạt động sản xuất và trở thành những thứ gì có sẵn (tài nguyên) để cho một cá nhân sử dụng hầu thực hiện những lợi ích riêng tư của họ. Khi ấy người ta có thể sống với nhau mỗi ngày mà không phải mất công dàn xếp đi, dàn xếp lại vừa mất thì giờ vừa tốn kém. Tiêu biểu cho cái vốn kia là hàng xóm đồng ý với nhau nếu nhà nào đi vắng cả thì nhà bên cạnh thỉnh thoảng ngó mắt giùm; những người mua bán kim cương sẽ tự mình chọn lựa kỹ để khi giao không phải thử từng viên xem có bị trầy hay không; hội những người giúp nhau chữa bệnh ung thư qua trang web… Đó là sự hoạt động của vốn xã hội hay vốn xã hội trong hành động (social capital in action). Vốn xã hội tạo điều kiện cho các cá nhân hợp tác với nhau vì nó làm giảm khó khăn khi cùng làm một việc chung. Người này bỏ sức ra vì biết người khác cũng làm như thế; và họ sẽ không muốn làm chung với ai thích làm theo hứng.

Vốn xã hội được kết tinh sau một quá trình gồm có: (1) sự tin cẩn lẫn nhau (trust) hay niềm tin; (2) sự có đi có lại, hay sự hỗ tương; (3) những quy tắc hay hành vi mẫu mực chung và sự chế tài; (4) sự kết hợp lại với nhau thành một mạng lưới. Thí dụ như việc chơi hụi (họ) ở nước ta. Bạn, tôi và vài người quen rủ nhau chơi hụi, chúng ta là một cộng đồng địa phương (bước 4); chúng ta tin nhau là ai cũng đàng hoàng (bước 1); bạn hốt hụi kỳ đầu, tôi kỳ sau (bước 2); muốn hốt hụi phải bỏ giá, ai cao nhất sẽ hốt; hốt xong thì từ đó trở đi phải đóng đủ, ai giật là sẽ bị đòi (bước 3). Vậy chơi hụi là một định chế xã hội, nó có tính địa phương (local institution), giúp cho người cần tiền vay mượn tiền của người khác mà không phải thế chấp tài sản và góp phần vào hoạt động kinh tế. Đó là một sự đóng góp hữu hiệu và hiệu quả cho nền kinh tế.
Lý giải từng bước, ta thấy dễ chịu khi làm ăn với ai mà mình tin, không mất công, chẳng mất giờ, vốn là của cải có sẵn (tài nguyên) và không nên phí phạm. Khi mình tin người khác họ cũng sẽ tin mình và như thế niềm tin tạo nên một nghĩa vụ. Nếu đứng trong vị trí của từng cá nhân một, ta có sự tin cẩn nhau; lúc nhìn cả hai người một lần thì đó là niềm tin hay sự tin tưởng. Có hai loại tin tưởng: một là tin vào những người mà mình biết rõ; hai là tin vào những người mình chưa biết rõ nhưng vì họ đứng trong một cơ cấu, một tổ chức mà mình tin tưởng nên mình cũng tin họ luôn. Xây dựng niềm tin thì mất nhiều thời gian và công sức nhưng để mất nó thì rất dễ. Một xã hội đầy rẫy sự bất tín thì khó có sự hợp tác (Baland and Platteau, 1998).
Về sự có đi có lại, hay sự tương tác, thì khi diễn ra chúng sẽ làm gia tăng niềm tin. Có hai loại tương tác (Coleman, Putnam): (i) nhận ngay tức khắc (specific reciprocity) là hai bên cùng trao đổi tức thời hai thứ có giá trị ngang nhau, và (ii) sẽ nhận sau này (diffuse reciprocity) là một bên cứ làm lâu dài và liên tục; không trông đợi sự đáp lại, nhưng qua thời gian thì sẽ được trả lại hay bù đắp tương xứng. Sự tương tác cũng tạo ra nghĩa vụ lâu dài giữa các bên.
Quy tắc (rules) là những sự bó buộc mà mỗi người phải theo khi làm một việc gì đó. Quy tắc chính thức là luật pháp do nhà cầm quyền ban hành. Luật lệ luôn đi kèm với sự trừng phạt tinh thần hay vật chất. Quy tắc không chính thức là những điều mà các cá nhân áp dụng để đóng khuôn hành vi hàng ngày của họ.

Hành vi mẫu mực (norms), trái lại, là một việc làm theo một cung cách nào đó phù hợp với sự mong mỏi, sự ưa thích. Về mặt ngữ nghĩa, “norm” là hành vi mẫu mực hay các tiêu chuẩn được xã hội, hoặc các nhóm chấp nhận (tự nguyện hay không) và dựa trên đó, xã hội đánh giá một người hay một việc. Khi dịch từ “norm” sang tiếng Việt là “chuẩn mực” thì nó chỉ còn có nghĩa là một cái gì được chọn để làm căn cứ đối chiếu. Quy tắc và hành vi mẫu mực là những điều được đồng thuận hay được đưa từ trên xuống để làm lợi ích của tập thể được đặt cao hơn lợi ích cá nhân. Chúng giúp cho cá nhân tin tưởng và bỏ sức tham gia việc chung hay hoạt động của nhóm, vì biết rằng những người khác cũng sẽ làm như thế.
Những điều trên cũng còn được gọi là luật chơi hay là luân lý nội tại của một hệ thống xã hội (Coleman, 1990), ximăng của xã hội (Elster, 1989) hay những giá trị căn bản tạo nên lòng tin (Collins và Chippendale, 1991). Chúng phản ánh mức độ của một cá nhân bằng lòng hòa giải với người khác hay kiểm soát hành vi của mình. Khi nói vốn xã hội cao thì có nghĩa là trong xã hội đó có một nền luân lý nội tại cao, với các cá nhân biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân của mình và trách nhiệm với tập thể.
Cuối cùng là sự liên kết, mạng lưới hay nhóm. Đó là thành tố quan trọng của vốn xã hội. Có nhiều loại liên kết khác nhau giữa các nhóm (mua bán hàng hóa, trao đổi thông tin, giúp đỡ lẫn nhau, cho vay, cử hành các nghi lễ chung, đọc kinh, đám cưới, đám ma…) Chúng có thể diễn ra theo nhiều hướng, chiều ngang, chiều dọc hay đứng một mình.

Do các hình thức liên kết này, giáo sư Robert Putnam (2000) phân biệt ra hai loại vốn xã hội: loại co cụm vào nhau (bonding social capital) và loại vươn ra bên ngoài (bridging social capital). Loại trước tạo nên các nhóm như Mafia ở Ý; loại sau tạo nên các ban hợp xướng, dàn nhạc, các tổ chức phi chính phủ hay các hội từ thiện. Khi trong nước có nhiều đoàn thể thành lập do sự tự nguyện để bảo vệ lợi ích cục bộ của mình và tìm cách tác động vào luật pháp thì những việc ấy sẽ tạo nên một xã hội dân sự. Xã hội này là một xã hội trong đó các nhóm, các đoàn thể góp tay với chính quyền chăm lo mọi mặt của đời sống xã hội mà một mình chính quyền không làm xuể.
Tùy hình thức của vốn, cái co cụm không đem lại lợi ích cho xã hội, chỉ có những tổ chức hay mạng lưới phát triển theo chiều ngang do các cá nhân kết hợp với nhau một cách tự nguyện tạo nên mới làm gia tăng năng suất của xã hội và tạo ra sự gắn bó trong đó. Trong những xã hội mà sự tin cẩn nhau không cao, sự tương tác hàng ngang bị thay thế bởi chính trị với những hệ cấp của nó đi theo hàng dọc thì không có vốn xã hội và cũng chẳng có bao nhiêu hoạt động dân sự (Putnam, 1998).

II. Vốn xã hội và sự phát triển kinh tế
Trong quyển “Trust: The Social Virtues and the Creation of Prosperity” xuất bản năm 1995, giáo sư Fukuyama đã nghiên cứu niềm tin trong việc tạo nên vốn xã hội, và chú trọng đặc biệt đến sự phát triển kinh tế. Dùng niềm tin như là tiêu chí chính yếu để so sánh cơ cấu kinh tế và xã hội của các nước, ông cho rằng vốn con người và vốn xã hội ảnh hưởng lẫn nhau. Vốn con người có thể làm tăng vốn xã hội. Thí dụ, người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng của việc săn sóc con cái, và con cái sẽ cố gắng học hành, trau dồi vốn con người của mình để đáp lại cha mẹ.

Niềm tin có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt lợi ích của mình vào tay của người khác. Ông nói thẳng: “Chất lượng cuộc sống cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia tùy thuộc vào một đặc tính văn hóa độc đáo lan tỏa trong quốc gia ấy, đó là mức độ tin cẩn nhau trong xã hội.”  Để minh chứng, ông cho rằng Trung Quốc, Pháp, Ý vì có mức tin cẩn lẫn nhau thấp nên đã mất thế cạnh tranh với Mỹ, Nhật và Đức là những nước có mức tin cẩn nhau cao. Trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau thấp thì kinh doanh thường hạn chế trong phạm vi gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu không được nhà nước tổ chức hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng trong một xã hội mà mức tin cẩn nhau cao.
5 năm sau khi viết như thế, trong một bài tham luận trình bày tại Quỹ Tiền tệ quốc tế, ông định nghĩa: “Vốn xã hội là hành vi mẫu mực không chính thức (informal) phát sinh ngay lập tức và nó thúc đẩy sự hợp tác giữa hai người hay nhiều người (nhường chỗ ngồi cho người già). Các hành vi mẫu mực tạo nên vốn xã hội có thể bắt đầu từ một sự tương tác tự nhiên giữa hai người bạn lên cao cho đến tận các học thuyết phức tạp và tinh vi như Cơ đốc giáo và Phật giáo. Hành vi mẫu mực phải bung ra ngay lập tức (tức thời) trong các mối quan hệ cá nhân cụ thể. Hành vi mẫu mực có đi có lại nằm ẩn trong mọi giao dịch của tôi đối với mọi người, và chỉ trở thành cụ thể trong sự giao dịch của tôi đối với những bạn của tôi.” 
Không phải mọi hành vi mẫu mực phát sinh tức thời đều sẽ tạo nên vốn xã hội. Trái lại chỉ có những cái nào giúp cho các nhóm trong xã hội hợp tác với nhau, hay tạo nên sự hợp tác, thì đó mới là hành vi mẫu mực. Đa phần chúng lại là các đức tính truyền thống như lòng trung thực, sự giữ lời hứa, việc thi hành bổn phận một cách đáng tin cậy, sự tương tác và tinh thần trách nhiệm.
Vốn xã hội sẽ làm giảm chi phí khi thực hiện các công việc phát sinh từ các hành vi trang trọng như hợp đồng, mối tương quan giữa các cấp, hay từ quy định của các cơ quan… Thí dụ, hợp đồng bảo rằng phải làm thế này, thế nọ; nhưng nếu hai bên tin nhau thì có thể cắt giảm chúng. Tương tự, trong các nơi không sử dụng kỹ thuật cao, vốn xã hội sẽ tạo ra một hiệu quả cao hơn khi so sánh nó với các kỹ thuật chính thức hiện dùng để phối hợp công việc. Điển hình là phương pháp sản xuất theo dây chuyền của Taylor. Nó được lập tại các xưởng, rất tập trung, lắm giấy tờ, và không hữu hiệu lắm vì các quyết định đưa ra bị đình trệ, hay thông tin bị bóp méo khi đi qua các cấp chỉ huy. Ngày nay, trong nhiều doanh nghiệp, phương pháp Taylor đã bị thay thế bằng một cơ cấu quản trị đơn giản, chú trọng việc chuyển giao trách nhiệm xuống cho các tổ trưởng ở dưới cùng. Các công nhân hiểu biết tình trạng nơi mình làm việc được phép tự quyết định thay vì trình lên trên. Cách này làm cho công việc được thực hiện nhanh chóng hơn, ít tốn kém hơn so với cách làm cũ và nó hoàn toàn tùy thuộc vào vốn xã hội của lực lượng lao động.
Theo ông, vốn xã hội xuất phát từ ba nguồn. Thứ nhất, như các nhà kinh tế đã nêu, là từ sự giao tiếp với nhau liên tục; hai người giao dịch với nhau lâu sẽ thấy cần phải chứng tỏ mình là người trung thực và giữ lời hứa. Thứ hai, là từ các tôn giáo hay hệ thống luân lý. Đó là nguồn gốc của một quyền uy, nó ấn định các hành vi mẫu mực và trông đợi sự tuân thủ không cần suy nghĩ. Những mẫu mực đó không chỉ diễn ra trong các cuộc thương thảo riêng lẻ mà còn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua các qui trình đã được xã hội hóa sử dụng tập quán và thói quen nhiều hơn là lý lẽ. Thứ ba, sự chia sẻ các kinh nghiệm lịch sử cũng tạo nên những hành vi mẫu mực một cách không chính thức và do đó cũng tạo nên vốn xã hội. Thí dụ, cả Đức và Nhật đều đã trải qua các cuộc đình công của thợ thuyền, rồi xung đột chủ thợ với chính quyền trong những năm 1920, 30. Hai chính quyền ấy đã phải trấn áp các nghiệp đoàn lao động độc lập và thay thế họ bằng công đoàn “vàng”. Sau khi hai nước bại trận, họ có cách tiếp cận mềm dẻo hơn đối với việc quản lý các quan hệ lao động; kết quả là ở Đức đã có chính sách kinh tế thị trường xã hội (Sozialmarktwirtschaft) còn ở Nhật là chế độ làm việc suốt đời. Dẫu cũng còn những bất cập, hai định chế này đã đóng vai trò quan trọng trong sự phục hồi kinh tế của hai nước kia và tạo nên một loại vốn xã hội.  Thu gọn lại những điều trên, ta thấy vốn xã hội xuất phát từ các đức tính của mỗi cá nhân (trung thực, trách nhiệm, hợp tác…) khi họ tự nguyện kết hợp lại với nhau để làm một công việc chung nào đó. Xin  gọi chúng là các yếu tố tinh thần. Mối tương quan giữa các công trình trong xã hội với vốn xã hội và các yếu tố tinh thần có thể thấy qua một thí dụ là công tác đắp đê chống lụt. Công tác này chính là một công trình của xã hội – mọi người chung sức làm, kẻ cuốc, người đào, ai cũng chăm chỉ (đó là vốn xã hội) – sở dĩ họ làm được như thế vì mỗi người tham gia ý thức được mối lo chung và bổn phận của mình (đó là các yếu tố tinh thần). Xã hội sẽ hoạt động tốt đẹp nhất khi mọi công dân chung lưng đấu cật để thực hiện một mục tiêu chung và do đó chia sẻ một văn hóa của công dân (civic culture). Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.

Khi sự tin cẩn lẫn nhau được tích tụ lại nhờ các sinh hoạt tự nguyện, thì đó là vốn xã hội, và nó tạo ra những tài sản chung. Vốn đó làm cho các cố gắng của chính quyền trở nên hữu hiệu.

III. Vốn xã hội ở ta
Trên cơ sở của các mối tương quan nêu trên, ta sẽ tìm xem vốn xã hội của chúng ta có cao không, bằng cách xem xét các yếu tố tinh thần tạo nên niềm tin. Đó là sự trung thực, sự tương tác, tinh thần trách nhiệm và sự hợp tác. Chúng ta sẽ tìm xem cơ cấu xã hội và việc xây dựng con người của chúng ta có giúp làm nảy sinh, duy trì, phát triển những đức tính tốt kia không; chúng có hiện diện trong hai lĩnh vực mà ta xem xét hay không, nếu có thì nhiều hay ít.
Cơ cấu xã hội
Cơ cấu xã hội là điều kiện bên ngoài, là môi trường, giúp tạo nên, nuôi dưỡng những đức tính tốt của một cá nhân. Ở đây chúng tôi chọn hai khía cạnh nằm trong cơ cấu xã hội để xem xét là: việc đoàn ngũ hóa các thành phần dân chúng và cấu trúc Đảng – chính quyền.
Việc đoàn ngũ hóa.
Ở ta, dân chúng được thúc đẩy gia nhập các tổ chức quần chúng do Đảng lập ra và lãnh đạo (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội nông dân…). Đó là các tổ chức xã hội chính trị truyền thống. Ngoài ra, còn có các tổ chức xã hội nghề nghiệp do các cơ quan chính quyền hay tư nhân lập.  Cuối cùng là các nhóm tự phát của quần chúng (hội đồng hương, hội ái hữu, cựu học sinh…) Sự hiện hữu của các hội đoàn này có đóng góp vào việc tạo ra các đức tính giúp gây dựng vốn xã hội không?
Đối với các tổ chức truyền thống thì tính chất của chúng cũng giống như các hội đoàn của giáo hội Công giáo tại các nhà thờ. Sự khác biệt chỉ là người Công giáo khi sinh hoạt trong các đoàn thể kia thì họ có giáo lý trong lòng mình cùng nội quy của hội; trong khi các hội viên của các đoàn thể của Nhà nước chỉ có nội quy. Giống như các hội đoàn của đạo Công giáo, sự hoạt động của các đoàn thể truyền thống không tạo nên vốn xã hội góp vào việc phát triển kinh tế. Có vài lý do. Thứ nhất, mục đích của các hội này là chính trị, mà chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, trong khi kinh tế là hạ tầng. Thứ hai, người lãnh đạo các đoàn thể không do đoàn viên bầu mà do Đảng cử vào; nên lo cho hội viên thì ít mà cho mình thì nhiều; thành thử các tổ chức đó đã bị hành chính hóa và nhà nước hóa. Cuối cùng trong các đoàn viên có những người không hẳn là tự nguyện. Hiệu quả của các hội đoàn này có thể thấy qua sự thất bại của công đoàn trong các cuộc đình công gần đây, hay vai trò của Hội Nông dân trong việc hướng dẫn nông dân trồng trọt. Do mục đích của chúng, các đoàn thể này không giao tiếp với nhau theo chiều ngang mà chỉ theo chiều dọc, từ trên đi xuống; do đó hiệu quả của các hoạt động của chúng không tác động gì đến vốn xã hội. 

 

Về các tổ chức xã hội nghề nghiệp, trừ các hội do tư nhân lập ra thì hoạt động của họ có hiệu quả nhất định đối với ngành nghề của họ, còn các hội do các cơ quan chính quyền là chủ quản thì hiệu quả hoạt động của chúng không cao. Điều đó cũng có những nguyên nhân nhất định. Thứ nhất các hội viên có những lợi ích khác nhau khi tham gia. Thứ hai, lãnh đạo của các hội đoàn đó do cơ quan chủ quản cử; họ không cần sự ủng hộ của hội viên nên không quan tâm đến lợi ích của hội viên. Chỉ trong những trường hợp do áp lực từ bên ngoài vào, như các vụ bán phá giá; họ mới hoạt động hiệu quả trong tư thế tự vệ nhiều hơn là phát triển ngành nghề của mình.
Riêng các hội ái hữu, đồng hương thì hoạt động của chúng có tính tương tế, hiếu hỷ nên không đóng góp vào vốn xã hội. So với trước năm 1975, những người trong bang Triều Châu ở Sài Gòn đã lập ra bệnh viện với hàng trăm giường thì hiệu quả hoạt động của các hội trên không có gì để so sánh.
Gần đây trong các cuộc thảo luận về “Luật về Hội” đã có nhận xét về các hội đoàn ở ta thì tính chất tự nguyện, tự quản của chúng hầu như không có. Ý nghĩa và vai trò của chúng đã bị nhà nước hóa nên sự thu hút của hội đối với quần chúng chẳng là bao. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng cần xác định các đoàn thể quần chúng là một định chế nằm trong xã hội dân sự, bên cạnh những định chế khác như nhà trường, giáo hội, truyền thông báo chí. Những sự kiện này chứng tỏ sự đóng góp của các hội đoàn ở ta cho vốn xã hội đang còn là điều ao ước.
Cấu trúc Đảng- chính quyền.
Trong một xã hội mà dân trí chưa cao, nền kinh tế còn đang ở giai đoạn phát triển thì quan niệm “quan chi phụ mẫu” vẫn còn nặng trong dân chúng. Hơn nữa, một vị lãnh đạo chính quyền có thể lên hệ thống truyền thông khuyên bảo dân chúng như một phần trong nhiệm vụ của họ. Vì thế dân chúng vẫn nhìn vào lời nói, việc làm của những quan chức kia như là tấm gương; mà những quan chức ấy lại xuất phát từ cấu trúc Đảng-chính quyền nên ta xem cấu trúc này. 
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, do vậy Đảng lãnh đạo chính quyền một cách toàn diện và triệt để. Nhân sự do Đảng cử, chính quyền nhận và sử dụng. Trong chiến tranh, cơ chế này rất hữu hiệu vì thua thắng rõ ràng nên trách nhiệm dễ được phân định. Thế nhưng, khi điều hành nền kinh tế trong thời bình thì sự đúng sai của các biện pháp kinh tế đã áp dụng khó biết ngay nên việc ấn định trách nhiệm rất khó. Hơn nữa trong cơ chế Đảng-chính quyền thì người quyết định không làm, còn người làm thì không được quyết định rồi cấp thừa hành của người làm không do người này chọn nên việc quy trách nhiệm lại càng khó hơn. Hậu quả là cái cấu trúc hợp lý trong lý thuyết thì trong thực tế đã tạo ra sự lẫn lộn về trách nhiệm. Các sai phạm của viên chức chính quyền ít bị trừng phạt. Nếu có thì họ chỉ chịu kỷ luật dành cho đảng viên, một thứ hình phạt được ấn định theo sự nhận thức của người sai phạm, chứ không phải bị áp đặt luật như ở tòa án.
Việc xây dựng con người
Việc xây dựng con người ở đây không được nhìn theo giáo dục hay văn hóa mà theo khía cạnh là: (1) trang bị cho con người những đức tính tốt – (2) để họ có khả năng ngồi lại với nhau – (3) hầu làm được

những công việc nhất định nào đó. Đảo ngược ba vế kia để nói về điều chúng ta đang quan tâm thì: để cho kinh tế phát triển phải có việc (3) – việc đó thành hiện thực nhờ (2), đó là vốn xã hội – và muốn có cái vốn đó thì phải có (1). Xây dựng con người ở đây nhắm vào vế (1). Và ta sẽ xem xét ba vấn đề: tinh thần tập thể; việc tạo lập các đức tính tốt và cách thực hiện óc tư lợi.
Tinh thần tập thể
Có một thời tập thể là nền tảng của xã hội ta. Cá nhân phải đứng dưới tập thể. Đại đa số cá nhân được đưa vào đội ngũ một cách này hay cách khác, mà không có sự chọn lựa, theo nguyên tắc “tất nhiên phải thế” vì đó là khuôn mẫu của chế độ chính trị. Ngày nay việc đoàn ngũ hóa giảm nên tinh thần tập thể cũng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, não trạng tập thể với những lợi ích tinh thần mà nó đã từng đem lại cho con người sẽ không bao giờ mất; bởi vì người ta chỉ bỏ những gì bất lợi, còn giữ mãi những gì có lợi cho mình dù hoàn cảnh có đổi thay. Ta có thể nêu vài thứ.
Bản ngã bị mất đi
Là một nhân vị, một bản ngã, mỗi cá nhân phải được tự do quyết định, chịu trách nhiệm và được khen ngợi hay tôn vinh. Thế nhưng, khi tham gia vào một tập thể – vì cơ cấu xã hội không cho phép làm khác – thì cá nhân bị mất bản ngã. Họ không thể tách biệt, sống khác với tập thể. Họ không còn tự do, phải làm theo quyết định của tập thể; nếu còn thì chỉ được ghi nhận theo quyền bảo lưu và quyền này không bao giờ biến thành hiện thực. Khi họ phải làm theo người khác thì không thể bắt họ chịu trách nhiệm cá nhân được. Khi người khác đã nghĩ cho mình thì họ trở nên ỷ lại. Vậy là họ mất đi cái bản ngã của mình, luôn cả tinh thần trách nhiệm cá nhân! Dù có vậy, thì nhu cầu được tôn vinh của họ không hề mất; kẻo họ không còn cảm thấy mình là người nữa; nhu cầu ấy đã biến thể thành chủ nghĩa thành tích mà ta sẽ đề cập sau này.
Lợi ích nằm dưới chiêu bài tập thể
Khi sinh hoạt theo tập thể, cá nhân có những mối lợi nhất định cho riêng mình nhân danh tập thể. Họ có một chiêu bài tốt của người khác để mình có thể làm xấu. Ví dụ sau đây sẽ làm rõ điều này.
Bạn chơi chung với một nhóm người – đó là một tập thể – nếu lúc nãy bạn để cái bút cho anh em dùng mà nay cần nó, bạn hỏi: “Có bạn nào thấy nó không?” thì có thể không ai trả lời. Thậm chí một người tên A đang cầm nó thì anh ta cũng không cảm thấy phải trả lời; vì bạn không hỏi thẳng anh ta. Điều này cho thấy trong tập thể thì không thể đặt ra trách nhiệm cá nhân.Và anh A kia đã che chắn trách nhiệm cá nhân mình dưới danh nghĩa tập thể. Thế nhưng khi không nghe ai trả lời mà bạn có buột miệng nói: “Tập thể gì mà xấu thế!” thì ngay lập tức có thể anh A kia sẽ đứng ra sừng sộ với bạn: “Mày dám bảo tập thể xấu”; hay có giọng nói: “Này nói thế động chạm lắm nghe!” Có thể người sừng sộ với bạn không thích bạn; nhưng anh ta làm không phải vì không thích bạn, mà vì bạn xúc phạm đến tập thể đấy!
Với đủ loại che chắn dành cho cá nhân như thế, tính tập thể làm cho ý thức phạm tội của cá nhân mất đi và do đó cũng làm mất đi sự xấu hổ trong họ. Điều này có thể thấy qua hình phạt tập thể. Một người trong tập thể làm điều gì sai trái, hình phạt sẽ được áp dụng cho tập thể với ý nghĩa “phạt vì không biết bảo nhau”. Do tính lây lan của tình cảm con người nên khi tất cả bị phạt thì không ai còn cảm thấy bị phạt. Đứa bên cạnh cũng bị như mình, ôi có gì đâu mà phải xấu hổ!
Tạo lập các đức tính tốt của con người
Con người ai cũng có vật chất và tinh thần. Tinh thần thúc đẩy, ngăn cản và hướng dẫn hành động của con người. Tạo lập các đức tính tốt cho con người là ngay từ lúc nhỏ. Ở trong gia đình và nhà trường, người ta dạy cho con người các đức tính phổ biến là: sự tự chế, lòng thương người, trách nhiệm, tình bạn bè, sự làm việc, can đảm, kiên nhẫn, thật thà, trung thành và niềm tin tôn giáo. Vậy ta có thể hỏi việc tạo lập các đức tính tốt cho con người trong xã hội của ta được làm như thế nào? Chúng ta có một tập hợp (một bộ) các đức tính tốt để cho một người cư xử với người khác, những người không phải là thân thích với mình, không?
Câu trả lời là đối với những người nắm chức vụ công quyền thì có. Thí dụ cho công chức là “cần kiệm liêm chính chí công vô tư”; cho công an có 6 điều, cho phụ nữ có 8 chữ… Những đức tính này được trang bị cho những người có chức vụ xã hội nhất định chứ không phải cho mọi người bình thường trong xã  hội; chúng là đạo đức nghề nghiệp nên không giúp nhiều vào việc tạo nên vốn xã hội giúp kinh tế phát triển.
Đối với những người bình thường và chiếm đa số trong dân chúng thì trong một thời gian rất dài trên các phương tiện truyền thông và giáo dục chúng ta ít nghe đến giáo dục gia đình, đến việc cha mẹ dạy dỗ con cái trong nhà, đến phép lịch sự của một cá nhân bình thường; mà nghe nhiều đến sinh hoạt của các tổ chức chính trị truyền thống trong đó hội viên được khuyến khích, giúp đỡ để coi trọng quyền lợi chính trị. Ý thức về quyền lợi chính trị là biết cách giữ, biết cách đòi để không làm mất quyền lợi của mình, để hơn người; chứ không phải để cư xử ra sao với người hàng xóm. 
Về cách thức phải đối xử với người hàng xóm thì những đức tính tốt dạy cho con người cũng ít. Ngoài năm điều Bác Hồ dạy cho trẻ em trong đó những đức tính có thể dùng một cách phổ quát là “khiêm tốn, thật thà, dũng cảm, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt” thì chỉ có một khẩu hiệu đạo đức tổng quát “mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Thế nhưng đoàn kết tốt là phải làm gì? Mình vì mọi người thì phải làm sao? Tất cả không được triển khai, không có gương soi chung. Trong các đoàn thể có các nội quy, nhưng chúng là những gì từ bên ngoài áp đặt vào con người. Nội quy là một loại luật pháp, nó đòi hỏi phải có người khác canh chừng; chứ không phải là những gì nằm sẵn bên trong con người, được hun đúc lên, hay được thấm nhuần vào trong họ để rồi họ tự mình kiểm soát mình. Trong các tổ chức nêu trên chắc chắn không có những đức tính tốt nằm trong đạo đức cổ truyền mà đã bị phá hủy qua các phong trào “bài phong đả thực”.

 

Do cách giáo dục áp đặt từ bên ngoài vào và nặng về việc đòi ăn trên ngồi trốc (quyền lợi chính trị) nên một số không nhỏ những người ở xã hội ta, bắt đầu từ giới có chức có quyền sau lan rộng ra dân chúng, khi đánh giá theo khía cạnh đạo đức, thì họ cũng giống như một cột xi măng không có cốt sắt bên trong. Sự tự chế của họ, sự kiểm soát chính mình, để ngăn họ không làm điều xấu hầu như không có. Nhiều người trong giới cầm quyền đã đầu hàng tiền bạc. Họ không làm điều xấu vì thấy có người khác biết hoặc sợ bị phê bình; chứ không phải từ ý thức của họ rằng việc ấy xấu. Những câu chuyện “quá xá” của các con dòng cháu giống nêu trên báo cho thấy sự thiếu tiết chế này. Khi một người không tự ngăn chặn mình làm xấu thì chuyện họ ngồi chung với người khác rất khó; vì họ không thích, hay người khác không thích họ. Trong thời kỳ chiến tranh, hội viên của các tổ chức chính trị truyền thống hoạt động rất tốt, rất thành công; dẫu cũng chịu những gì áp đặt từ bên ngoài vào, lý do là vì hồi đó có mục tiêu rõ ràng và nó đứng ngay trước mặt (giải phóng vùng địch chiếm). Trong sự phát triển kinh tế ngày nay, mục tiêu không rõ ràng nên rất khó huy động hội viên bằng áp lực bên ngoài. Họ không làm nhưng nói rất hay, rất hợp thời.
Cách thực hiện óc tư lợi
Lợi ích mà mỗi người chúng ta theo đuổi là lợi ích vật chất hay tinh thần. Đi tìm nó thì ai cũng làm nhưng cách làm khác nhau tùy theo đức tính của mỗi người. Vậy vấn đề là làm như thế nào để có nó? Có ba cách làm chính: đòi theo lợi thế chính trị, theo sự công bằng và theo đạo đức. Ở xã hội ta, cách đầu khá phổ biến, nó bắt nguồn từ giới nắm quyền lực sau đó lan rộng ra theo tâm lý “sở dĩ tôi làm cho anh như thế vì người ta đã đối xử với tôi như vậy.” Ta xem xét cách thực hiện óc tư lợi qua hai kiểu phổ biến ở ta.
Đòi theo lợi thế chính trị
Đòi theo cách này là dựa vào quyền hạn của mình để đòi hỏi hạch sách. Thí dụ cấp giấy phép. Cách đòi này không tạo ra sự hợp tác, vì người bị đòi chỉ có bỏ ra mà không lấy về. Cái mà họ lấy về là nhiệm vụ mà người cấp phép phải làm.
Ở ta sự đòi hỏi theo lợi thế chính trị rất thịnh hành, đến mức người ta đòi trước rồi làm sau. Nạn tham nhũng là do nguồn gốc này. Nguyên do là từ cách đào tạo đoàn viên thanh niên, lực lượng dự bị của Đảng – những người sẽ cầm quyền sau này. Ngay từ khi học ở trung học, chỉ có ai vào Đoàn mới được làm lớp trưởng. Điều này đúng về mặt chính trị, chọn người mình tin tưởng: là đoàn viên – mới được giao; nhưng sai lầm về mặt đạo đức vì trong suy nghĩ của em được chọn nó trở thành: là đoàn viên thì sẽ có. Và em phấn đấu vào Đoàn để nhắm một lợi ích cho mình, chứ không phải dùng Đoàn để phục vụ người khác. Đối với em, Đoàn là bữa tiệc, là một mục tiêu tự thân. Và sau này khi anh ta vào Đảng, lên nắm quyền, cách suy nghĩ kia đã ăn sâu vào lòng. Đây là một thí dụ đơn giản để làm rõ vấn đề. Trên thực tế sự tính toán của các người có quyền lực phức tạp hơn nhiều. Ngày xưa đoàn viên Hướng đạo tham gia tổ chức này là để phục vụ người khác; vì tổ chức đó không có quyền lực chính trị. Tổ chức Đoàn gắn với chính trị nên nó cho đoàn viên một lợi thế chính trị và vào đó là được hưởng ngay. Vì quyền lợi bày trước mắt nên trước khi làm bao giờ họ cũng hỏi: “Làm việc ấy ta sẽ được gì ?”. Họ không còn tự nguyện chịu thiệt thòi để mà có thể hợp tác với người khác. 
Chủ nghĩa thành tích
Ta biết cá nhân bị xóa nhòa trong tập thể. Không còn tự do thì chẳng có trách nhiệm; thế nhưng họ không thể bỏ được nhu cầu muốn được tôn vinh; mà muốn được thế thì phải có thành tích. Đây là nguồn gốc thứ nhất của chủ nghĩa thành tích. Trong tập thể, khi một cá nhân phạm lỗi thì họ biết, dẫu không bị quy trách; nhưng ít nhiều họ xấu hổ, và để khỏa lấp sự xấu hổ kia họ phải đi tìm thành tích. Đây là nguồn gốc thứ hai. Trong lĩnh vực cá nhân, muốn kiếm thành tích thì cách an nhàn nhất là nhận vơ, làm lẫn lộn thành tích của người khác với mình, thay đổi quan điểm theo kẻ thắng, hoặc bảo là người khác xấu để chứng minh mình tốt.
Về mặt tập thể, khi cá nhân không được tôn vinh thì mọi người trong tập thể đều muốn tập thể của mình được tôn vinh. Ước mong cá nhân trở thành đòi hỏi của tập thể. Đây là lý do thứ ba. Vậy tập thể được tặng huy chương phải là chủ trương của người lãnh đạo. Tập thể ở đây là một đơn vị chính trị, vậy thành tích của nó phải là vật chất, cái gì thấy ngay, chụp ảnh được. Người lãnh đạo tập thể không đi tìm lợi ích tinh thần vì nó không giúp họ tranh cử trong nhiệm kỳ sau. Vì vậy, lấy ngành giáo dục làm thí dụ, họ quan tâm đến số học sinh tốt nghiệp mỗi kỳ thi; chứ không phải chuyện các em có giỏi hay không. Khi tập thể cao nhất, to nhất (cấp tỉnh) lấy số học sinh tốt nghiệp làm thành tích, thì họ sẽ chỉ thị cho các tập thể trung gian (quận) phải đạt được thành tích ấy; các quận bèn chỉ thị cụ thể cho mỗi trường (một tập thể) tỷ lệ học sinh phải đỗ. Các giáo viên, ngoài thành tích cho cá nhân mình, còn bị áp lực thành tích từ trên ấn xuống; do vậy họ không ngại ngần hay cảm thấy sai khi cho học sinh thuộc bài mẫu trước khi thi, hay cứ cho điểm cao dẫu học sinh kém. Các tỉnh vùng sâu, vùng xa mà điểm thi tốt nghiệp của học sinh ở đó cao hơn thành phố lớn là vì vậy. 
Chủ nghĩa thành tích phá hủy tương lai, vì thành quả của hiện tại mà nó đề cao không thật. Khi cá nhân theo đuổi chủ nghĩa này họ phải loại trừ người khác, phải đứng trên người khác, nếu không  họ sẽ bị lu mờ. Cách thức người ta dùng để thực hiện óc tư lợi không tạo nên sự hợp tác để làm việc chung, để có sự tự nguyện.
Kết luận
Cho câu hỏi vốn xã hội ở ta có cao không, chúng ta vừa xem qua các yếu tố giúp tạo nên vốn đó, chú trọng vào một vài đức tính, xem nó có thể nảy sinh từ cơ cấu xã hội và trong việc xây dựng con người. Khi xem xét như thế chúng ta đã có câu trả lời.

Như đã đề cập, bài này nhằm gợi lên một số đề tài liên quan đến vốn xã hội tại Việt Nam để rồi rút ra một số vấn đề sẽ thảo luận sau này; vì thế những gì nêu ở trên, trả lời ở đó, chưa chắc đã đúng. Do đó, chúng sẽ là những đề tài để thảo luận một cách rộng rãi. Có thể độc giả sẽ bác bỏ, sẽ đặt ra những vấn đề khác với những kết luận khác. Điều đó sẽ rất hữu ích cho tất cả chúng ta, những người quan tâm đến tiền đồ của đất nước, tương lai của dân tộc.   

SOURCE: TẠP CHÍ TIA SÁNG

VỀ VẤN ĐỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU NỔI TIẾNG

TRẦN VIỆT HÙNG

Từ nhiều năm nay, ở nước ta việc bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng đã được quy định trong các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT) và đã được thực thi trong thực tiễn. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần tiếp tục hoàn thiện về cơ chế chính sách, đồng thời các doanh nghiệp cũng cần biết được lợi ích và phương cách để xây dựng nhãn hiệu của mình trở nên nổi tiếng cũng như bảo hộ chúng một cách hữu hiệu.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới

Trong nền kinh tế thị trường, với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các loại hàng hóa và dịch vụ cũng như trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hiện nay, vai trò của nhãn hiệu – một trong những đối tượng truyền thống và chủ yếu của sở hữu công nghiệp (SHCN) – ngày càng trở nên quan trọng.

Với chức năng ban đầu là giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hóa cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau, qua quá trình sử dụng và phát triển, nhãn hiệu đã trở thành một công cụ hữu hiệu cho một doanh nghiệp (dù lớn hay nhỏ) tiếp cận, phát triển và bảo vệ thị phần hàng hóa và dịch vụ của mình. Vì vậy, từ hàng trăm năm về trước luật bảo hộ nhãn hiệu đã ra đời tại một số quốc gia phát triển. Những nguyên tắc cơ bản của các luật nhãn hiệu ban đầu tỏ ra hợp lý và có sức sống đến tận ngày nay. Đó là việc nhãn hiệu được ưu tiên đăng ký bảo hộ cho người đăng ký trước (hoặc sử dụng trước), đó là việc nhãn hiệu được bảo hộ chống lại các hành vi của người khác sử dụng một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự cho các sản phẩm hàng hóa trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu và sản phẩm của chủ nhãn hiệu… Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường đã xuất hiện những nhãn hiệu hàng hóa nổi trội hơn vô vàn những nhãn hiệu khác nhờ được sử dụng lâu dài trên thị trường, với chất lượng, tính chất đặc trưng, cũng như uy tín mà hàng hóa mang lại. Những nhãn hiệu như vậy là sự kết tinh nỗ lực kinh doanh của một doanh nghiệp cả về vật chất lẫn trí tuệ, thường có giá trị tài sản rất lớn. Tất nhiên, những nhãn hiệu như vậy cũng luôn trở thành mục tiêu cho sự làm giả, sao chép, lợi dụng uy tín của các đối thủ cạnh tranh cũng như những kẻ làm ăn bất chính. Từ đây xuất hiện nhu cầu đòi hỏi phải tạo lập một chế độ bảo hộ đặc biệt hơn cho loại nhãn hiệu này – các nhãn hiệu nổi tiếng (well-known marks, marques bien-connues).

Ngay từ năm 1883, một số quốc gia đã cùng ký kết Công ước Paris về bảo hộ SHCN, trong đó đưa ra những nguyên tắc chính mang tính hợp tác quốc tế về bảo hộ các đối tượng SHCN. Điều 6 bis của Công ước này đã chính thức quy định việc bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng. Các nguyên tắc chính của Điều 6 bis này là: 1) Các thành viên của Công ước có trách nhiệm từ chối hoặc hủy bỏ đăng ký, ngăn cấm việc sử dụng nhãn hiệu mà nhãn hiệu đó là sự sao chép, bắt chước, biên dịch và có khả năng gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được cơ quan có thẩm quyền của nước đăng ký hoặc nước sử dụng coi là nổi tiếng tại nước đó trên các loại hàng hóa giống hoặc tương tự; 2) Thời hạn yêu cầu hủy bỏ nhãn hiệu như vậy là không ít hơn 5 năm kể từ ngày đăng ký nhãn hiệu. Tuy nhiên, thời hạn này không được quy định đối với những nhãn hiệu được đăng ký hoặc sử dụng với dụng ý xấu.

Qua thời gian, ngày càng có nhiều nước tham gia vào Công ước Paris và cho đến nay đã có hơn 170 nước tham gia Công ước này. Các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đã phát huy tác dụng trên bình diện quốc tế rộng rãi nhằm bảo hộ hiệu quả cho các nhãn hiệu nổi tiếng và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Năm 1994 (110 năm sau khi Công ước Paris ra đời), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS) đã được ký kết và có hiệu lực từ ngày 1.1.1995 cùng với sự ra đời của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Hiệp định này quy định các quy chuẩn về bảo hộ quyền SHTT đối với các nước thành viên WTO. Điều 16 của TRIPS đã tái khẳng định các quy định bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng mà Điều 6 bis của Công ước Paris đã quy định, đồng thời đưa việc bảo hộ nhãn hiệu này lên một mức cao hơn và cụ thể hơn. Đó là: 1) Không chỉ nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng mà áp dụng cho cả nhãn hiệu dịch vụ nổi tiếng; 2) Việc xác định nhãn hiệu có nổi tiếng hay không phải xem xét danh tiếng của nhãn hiệu đó trong bộ phận công chúng có liên quan, kể cả danh tiếng tại nước thành viên tương ứng nhờ hoạt động quảng cáo nhãn hiệu; 3) Một nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng có thể coi là xâm phạm nhãn hiệu này kể cả trường hợp hàng hóa, dịch vụ được sử dụng không trùng với hàng hóa, dịch vụ của nhãn hiệu nổi tiếng nếu có nguy cơ làm hiểu lầm là có sự liên quan với chủ nhãn hiệu nổi tiếng và có nguy cơ gây tổn hại cho chủ thể này.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng ở Việt Nam

 

Những nguyên tắc trên đã được Việt Nam áp dụng trong các quy định của luật pháp về bảo vệ quyền SHTT và trong thực tiễn, kể cả khi nước ta chưa trở thành thành viên chính thức của WTO.

Cách đây nhiều năm, Cục SHTT đã áp dụng các nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng để giải quyết thành công một số vụ việc điển hình: 1) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của ôxtrâylia nộp đơn đăng ký các nhãn hiệu “Mc Donald”, “KFC”, “PIZZA HUT” cho dịch vụ “cung cấp thức ăn nhanh” (nhóm 43). Lý do, trùng với các nhãn hiệu nổi tiếng của Hoa Kỳ; 2) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Nhật Bản xin đăng ký nhãn hiệu “TOYOTA” cho sản phẩm máy công cụ (nhóm 7). Lý do, trùng với nhãn hiệu nổi tiếng “TOYOTA” của Công ty TOYOTA (Nhật Bản) tuy không cho cùng sản phẩm; 3) Không cấp đăng ký nhãn hiệu cho một công ty của Inđônêxia xin đăng ký nhãn hiệu “VINATABA” cho sản phẩm “quần áo, giầy dép” (nhóm 25). Lý do, trùng với nhãn hiệu nổi tiếng “VINATABA” của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam, tuy không cho cùng sản phẩm.

Việc áp dụng quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc bảo hộ nhãn hiệu được nhiều người ưa chuộng của Việt Nam và nước ngoài cũng như bảo hộ quyền lợi của người tiêu dùng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều khó khăn và sự không đồng nhất của việc bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng trong phạm vi Việt Nam và trên thế giới. Đó là các thủ tục cụ thể công nhận nhãn hiệu nổi tiếng, việc thống nhất các tiêu chí công nhận nhãn hiệu nổi tiếng và việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho phát triển kinh tế và xuất nhập khẩu. Chính vì vậy, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng cần thấy được lợi ích và phương cách xây dựng nhãn hiệu của mình trở nên nổi tiếng cũng như bảo hộ hữu hiệu chúng, mặt khác tránh được sự vi phạm các nhãn hiệu được coi là nổi tiếng của người khác trong quá trình kinh doanh ở nội địa cũng như trên thị trường quốc tế.

TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 11/2007

HỌC LÀM NGƯỜI – HỌC LÀM NGHỀ

Nhân kỉ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam, vừa qua, Tạp chí Tia Sáng phối hợp với Đoàn Thanh niên khoa Luật – ĐHQG Hà Nội tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề: Học làm người – học làm nghề. Trước những thắc mắc, băn khoăn của một số sinh viên, các nhà giáo: GS. Hoàng Tụy, nhà văn Nguyên Ngọc, PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa đã có những ý kiến trao đổi chân tình, cởi mở. Tia Sáng xin trích lược một phần nội dung của buổi tọa đàm.

GS. Hoàng Tụy: Giáo dục bằng hình mẫu
Bàn về chuyện Học làm người, học làm nghề, trước tiên là bàn chuyện học. Muốn học thì phải có hình mẫu để học. Xã hội ta trước kia có hình mẫu vừa “hồng” vừa “chuyên”. “Chuyên” là nghề. “Hồng” là làm người. Nhưng ở xã hội nào có có hình mẫu ấy đồng thuận tùy theo lý tưởng của từng thời. “Hồng” trong nội dung xã hội hiện đại khác hẳn thời xưa. Đó là điều hiển nhiên đúng vì xã hội đã thay đổi. Ngày nay, trong xã hội ta không có hình mẫu, mà hình mẫu ngược lại có khi nhiều hơn. Điều này đúng bởi xã hội ta đang trong giai đoạn khủng hoảng. Tôi đồng ý với các bạn phải học làm người nhưng người như thế nào mới học được chứ. Tôi đã sống, học ở trường thực dân Pháp, tôi đã dạy trong thời kỳ kháng chiến, và cũng có thời gian dạy ở Châu Âu, Mỹ, Nhật, Úc, ở những nước xã hội chủ nghĩa trước kia cũng như ở các nước tư bản sau này. Dù đó là một đất nước hiện đại, một quốc gia siêu cường hay chỉ là một nước nhỏ, thì ở xã hội ấy, dù nói hay không nói, người ta vẫn tôn thờ, lý tưởng một hình mẫu nào đó. Và dĩ nhiên lý tưởng ấy thay đổi tùy theo thời đại, mang tính thời đại.
Một trong những ưu điểm của giáo dục thời xưa (mà bây giờ thiếu) là giáo dục nghề (hay giáo dục người nói chung) và hết sức đề cao lương tâm nhà nghề. Lần đầu tiên tôi sang Đông Đức, hồi ấy là thời kỳ cực thịnh của chủ nghĩa xã hội, người ta nói công nhân Đức sở dĩ họ làm tốt kỹ thuật là nhờ lương tâm nhà nghề. 99% được giao việc đều cố gắng làm cho đầy đủ bổn phận. Đó là do tác dụng của giáo dục. Cách giáo dục cứng nhắc của chúng ta đè nén con người quá sức. Một mặt, nền giáo dục ấy “nặn” được những con người răm rắp theo tổ chức, đó là sức mạnh. Song mặt khác lại khiến cho con người mất lòng tin. Muốn học làm người, đầu tiên phải chú trọng đến tổ chức, quản lý xã hội, làm sao thấy được mẫu người tốt để noi theo.
Gần đây trên báo chí có nêu lên vấn đề đạo đức thầy giáo sa sút, phát hiện nhiều tiêu cực trong ngành giáo dục. Có ý kiến cho rằng sự sa sút của đạo đức trong giáo dục là do lương thấp. Người ta lí giải rằng: do đồng lương thấp nên giáo viên phải xoay xở để kiếm sống, khó mà không phạm lỗi này hay lỗi khác. Có người gay gắt hơn thì cho rằng không phải do đồng lương thấp mà cái chính là do tư cách, đạo đức của người thầy xuống cấp. Nhưng theo tôi, nguyên nhân sâu xa là do quản lý. Tiêu cực trong giáo dục thực chất không nghiêm trọng bằng tiêu cực trong nhiều cơ quan công quyền khác, nhưng sở dĩ nó nổi lên thành vấn đề xã hội cấp thiết là do giáo dục liên quan, tác động đến mọi gia đình.
Quay trở lại với việc giáo dục. Khi giáo dục, nhà trường chú ý nhiều đến giáo dục kiến thức, kỹ năng nhưng có điều tôi nghĩ thiếu sót là kỹ năng sống, sống để làm người. Tôi thống nhất với TS Phạm Duy Nghĩa là giáo dục cảm xúc là một bộ phận quan trọng trong giáo dục. Con người không có cảm xúc, không rung động, vô cảm trước mọi việc thì không thể làm được bất cứ việc gì. Mỗi bạn trưởng thành, chuẩn bị bước vào đời, cần phải hình dung trước tương lai của mình, đề ra lý tưởng sống cho bản thân và cố gắng thực hiện để đạt được lý tưởng ấy.

PGS. TS. Phạm Duy Nghĩa: Giáo dục con người biết xấu hổ
Nền giáo dục Việt Nam hiện nay mang đậm tính hành chính. Tính hành chính ấy thể hiện ngay trong kiến trúc trường học. Nếu ở phương Tây, trong những trường danh tiếng, chỗ đẹp nhất, trang trọng nhất bao giờ cũng là nhà thờ, thư viện. Còn ở Việt Nam, “nổi” nhất bao giờ cũng là cái cổng, đằng sau cái cổng ấy là cả hệ thống nào gác cổng, bảo vệ, nào xe cộ, hiệu bộ…Về việc học, sinh viên được học chữ, học kĩ năng, học chính trị, học quản lý Nhà nước… nhưng rốt cuộc là học để lấy bằng. Việt Nam là như vậy. Có được mảnh bằng trong tay, cộng với một khoản nào đó hay một mối quan hệ nào đó, kiếm được một chỗ làm và chính chỗ làm ấy dạy con người thành nghề. Ở Việt Nam không học lấy chữ, không học lấy đức mà học lấy bằng. Và hệ lụy của việc học lấy bằng vô cùng tệ hại. Nó làm cho chữ phải biến dạng, đức phải méo mó. Với một nền học vấn hành chính hóa cao độ ấy, giáo viên trở thành những cỗ máy còn học sinh chưa bao giờ được đặt ở vị trí trung tâm. Chưa hề. Trong khi đó, nền giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới luôn coi trọng người học, đặt người học ở vị trí trung tâm theo đúng nghĩa. Bởi vậy, thứ nhất, giảng đường phương Tây thường được thiết kế tạo độ dốc, sinh viên ngồi bên trên cao vòi vọi, thầy giáo đứng dưới phải nhìn lên thuyết trình. Thứ hai, cuối năm bao giờ sinh viên cũng được quyền đánh giá thầy: Thầy ăn mặc có chỉn chu không, thầy đi dạy có đúng giờ không, thầy dạy có nghiên túc không… Nhưng ở Việt Nam, sinh viên không được phép chấm điểm thầy, mà ngược lại chỉ có thầy chấm điểm sinh viên và không hiếm trường hợp chấm điểm kèm mặc cả.
Đó còn là một nền giáo dục mang tính lễ nghi. Mỗi dịp 20/11, ngày Nhà giáo Việt Nam, hàng tá sơ mi, kẹo sôcôla, rượu tây “chạy” một chu trình: từ cửa hàng đến nhà thầy rồi từ nhà thầy lộn lại cửa hàng. Tôi bắt đầu thấy chán, thấy hoảng về một sự lễ nghi mà đằng sau là sự còi cọc về đạo đức, nhân cách ở nhiều phương diện. Đằng sau lễ lạt 20/11 là những phân tâm rất ghê gớm, nhất là trong bối cảnh của năm nay, 2006. Đó là bức tranh pha tạp màu sắc trong nền giáo dục Việt Nam: ở đâu đó có hiện tượng thầy “ăn tiền” chạy trường, ở đâu đó có hiện tượng thầy “đòi tình” con trẻ, ở đâu đó có thầy say xỉn với sinh viên, ở đâu đó có thầy hăng hái “chỉ tội” đồng nghiệp…
Một nền giáo dục đúng nghĩa, theo tôi, bên cạnh truyền thụ tri thức phải dạy người ta biết xấu hổ. Tại sao nhà thờ lại là nơi trang trọng nhất trong các trường đại học nổi tiếng của thế giới? Bởi, giáo dục phải bắt đầu bằng niềm tin, không có niềm tin không thể có giáo dục. Tôn giáo, tín ngưỡng, những giá trị về tâm linh… là nguồn động lực mạnh mẽ, làm cho con người biết xấu hổ. Học làm người phải bắt đầu bằng học xấu hổ. Người nào còn xấu hổ nhiều, người ấy còn có thể giáo dục được. Chừng nào mất hết dây thần kinh xấu hổ, chừng ấy mất khả năng dạy học làm người. Muốn xấu hổ phải bắt đầu từ xã hội, bắt đầu từ nghĩa vụ của mình với tập thể, với cộng đồng. Ví như cái ô tô thì nhập về rất nhanh nhưng còn văn hóa của người ngồi đằng sau vô lăng lại là điều cần xem xét lại. Giả thử chị bán rau đánh rơi cân cà chua xuống đường, hàng loạt cái ô tô sẽ đè bẹp dúm cà chua của chị mà không ai xuống để nhặt lên. Liêm sỉ phải bắt đầu bằng giáo dục, bắt đầu bằng việc xấu hổ với chính mình, xấu hổ với việc mình lái ô tô sang trọng như vậy mà đè bẹp lên cà chua của những người dạy từ 2 – 3 giờ sáng, đi bộ 40 – 50 cây số từ ngoại ô vào thành phố cho kịp buổi chợ sáng. Sự giáo dục như vậy làm con người xấu hổ trước những điều không phải, xấu hổ trước cái ác. Tính hướng thiện, suy cho cùng, bắt đầu từ xấu hổ. Song giáo dục Việt Nam dường như thiếu hẳn, nhất là ở quan chức đôi khi mất luôn khả năng xấu hổ.


Từ xưa đến nay, trường học của ta dạy đủ thứ đạo đức, việc dạy làm người có từ cấp học phổ thông. Vấn đề là ở chỗ ta dạy quá nhiều nhưng không trúng. Mà nguyên nhân của hiện tượng này, theo tôi, do trong một thời kỳ, một giai đoạn nào đó trên con đường đi của mình, trên sự tiếp nhận – lựa chọn của mình, chính chúng ta đã phá vỡ đi những giá trị cơ bản nhất của xã hội. Đó là do bước ngoặt. Và 1950 là một bước ngoặt như thế. Trước 1950, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dù đời sống của chúng ta còn chật vật, khó khăn, thiếu thốn song con người sống với nhau rất tình cảm, rất đẹp. Tôi còn nhớ, ra trận mà người ta vẫn còn hát “Thiên thai”, “Cô lái đò”… Vậy mà sau giải phóng biên giới 1950, sau thành công của Cách mạng Trung Quốc năm 1949, xã hội ta có sự chuyển hướng quan trọng về đạo đức, kéo theo sự thay đổi hệ tư tưởng. Hệ tư tưởng Trung Hoa tràn vào nước ta và ít nhiều để lại những ảnh hưởng không tốt. Nói như Giáo sư Hoàng Xuân Hãn: Cải cách ruộng đất phá vỡ làng Việt Nam, đánh tan làng Việt Nam, một tế bào cơ bản của xã hội Việt Nam. Nhưng tôi thấy nó còn phá luôn một tế bào cơ bản là gia đình. Cải cách ruộng đất sinh ra chuyện con tố cha, vợ tố chồng…, những thứ mà trong hàng nghìn năm trước cha ông ta không bao giờ làm vậy. Điều này đã để lại hậu quả nặng nề, một vết thương khó lành, phá vỡ xã hội Việt Nam với bao truyền thống tốt đẹp. Đã đến lúc phải nghiêm túc suy nghĩ về chuyện này. Chừng nào chưa có sự tự vấn sâu sắc, chưa có sự nhìn lại, sám hối của mỗi cá nhân, của xã hội, chừng ấy chưa có nền tảng cơ bản để thay đổi. Hiện nay chúng ta đang đối mặt với nhiều thách thức mà sức đề kháng của xã hội lại đã suy yếu. Bởi thế con người càng phải phát huy khả năng độc lập của bản thân. Giáo dục đóng vai trò cải tạo xã hội chứ không chỉ là sản phẩm bị động của xã hội, con người phải là tác giả của chính mình. Nghĩa là phải có sự tự do bên trong để cắt đứt, phá vỡ mọi giáo điều áp đặt, ràng buộc lên mỗi người. Theo tôi, mỗi bạn sinh viên ngồi đây cần phải chiếm lấy cái tự do của mình, suy nghĩ tự do, hành động tự do, để biết sống độc lập, dám sống độc lập.         

Nhà văn Nguyên Ngọc: Giáo dục con người biết tự vấn

 

HẠNH NGUYÊN ghi

VAY VỐN THEO HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN LÃI SUẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN

Việt Nam đã gia nhập WTO. Thị trường tài chính sẽ phát triển rất mạnh. Điều đó sẽ mang lại cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính nhiều cơ hội vay và cho vay vốn. Bên cạnh đó, do sự biến động của lãi suất trên thị trường tài chính sẽ mang đến cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính rủi ro lớn khi vay vốn đặc biệt là vay dài hạn. Để hạn chế những rủi ro này, các doanh nghiệp khi vay vốn có thể sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất.

Hợp đồng quyền chọn lãi suất là giao dịch quyền chọn lãi suất vay hoặc cho vay đối với các khoản vay hoặc cho vay dựa trên lãi suất tại ngày đáo hạn hợp đồng.

Hiện nay, họat động cho vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất chủ yếu được áp dụng đối với các khoản vay trung hạn và vay bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp có thể kết hợp cả hợp đồng vay vốn theo quyền chọn lãi suất và hợp đồng quyền chọn thanh toán bằng ngoại tệ.

Vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất có đặc điểm:

            – Tại ngày vay, doanh nghiệp có quyền lựa chọn thanh toán tiền lãi vay khi đáo hạn bằng một tỷ lệ lãi suất định trước tại ngày đáo hạn hay thanh toán theo lãi suất trên thị trường tài chính. Để có được quyền này, doanh nghiệp phải trả quyền phí.

            – Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn thì doanh nghiệp sẽ thanh toán lãi vay cho các tổ chức tài chính theo lãi suất trong hợp đồng quyền chọn.

            – Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn, doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng quyền chọn mà sẽ thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính.

            – Hợp đồng quyền chọn lãi suất có hai dạng:

            + Hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa: Là loại hợp đồng được áp dụng khi khách hàng vay vốn theo lãi suất thả nổi nhưng không phải trả vượt quá một mức lãi suất được xác định trước trong hợp đồng. Trường hợp lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất xác định trước khách hàng trả theo lãi suất trên thị trường.

            + Hợp đồng quyền chọn hai đầu: Là loại hợp đồng được áp dụng khi khách hàng vay lãi suất thả nổi nhưng với mong muốn phải trả lãi suất trong một khung xác định trước.

            Trong hai loại hợp đồng trên, hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa được sử dụng phổ biến hơn.

            Từ những đặc điểm trên của hợp đồng quyền chọn lãi suất khi vay vốn, trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập đến phương pháp hạch toán trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất tối đa.

1. Nguyên tắc hạch toán

            – Chi phí quyền chọn được hạch toán vào chi phí tài chính theo nguyên tắc kỳ kế toán.

            – Lãi vay phải trả được hạch toán vào chi phí tài chính.

            – Nếu chi phí lãi vay và phí quyền chọn thỏa mãn các điều kiện được vốn hóa theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số … “Chi phí đi vay” sẽ được tính vào giá trị thực tế của tài sản.

            – Doanh nghiệp được quyền trích trước chi phí lãi vay theo đúng quy định.

            – Các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến ngoại tệ khi thực hiện hợp đồng vay vốn được hạch toán dựa trên các nguyên tắc sau:

            + Đối với vật tư, hàng hóa, tài sản, chi phí, thuế phải được quy đổi theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh.

            + Bên Có của tài khoản nợ vay phải được quy đổi theo tỷ giá thực tế.

            + Bên Nợ của tài khoản nợ vay phải được quy đổi theo tỷ giá ghi sổ kế toán.

            + Bên Có của tài khoản tiền phải được quy đổi theo tỷ giá ghi sổ kế toán (tỷ giá ghi sổ kế toán được xác định theo một trong bốn phương pháp: bình quân gia quyền, Nhập trước – Xuất trước, Nhập sau – Xuất trước và thực tế đích danh).

            + Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi thanh toán nợ vay và lãi vay được ghi nhận vào doanh thu tài chính (nếu lãi tỷ giá) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá).

            + Cuối kỳ kế toán, kế toán phải đánh giá lại nợ vay có gốc bằng ngoại tệ theo tỷ giá thực tế vào lúc cuối kỳ. Chênh lệch tỷ giá được hạch toán vào bên Có TK4131 (nếu lãi tỷ giá) hoặc bên Nợ TK4131 (nếu lỗ tỷ giá).

            + Cuối niên độ kế toán, kế toán tiến hành xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá được ghi nhận vào doanh thu tài chính (nếu lãi tỷ giá) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá).

2. Phương pháp hạch toán

2.1. Khi giao địch ký kết hợp đồng

            Trong giai đoạn này phát sinh các chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng và quyền phí, kế toán định khoản như sau:

            Nợ TK142-Chi phí trả trước ngắn hạn (Chi phí giao dịch, quyền phí)

                        Có TK111, 112

2.2. Khi thực hiện hợp đồng vay vốn

a. Phản ánh nợ gốc vay:

            Nợ TK112(2)-Nếu nhập vào tài khoản tiền gởi (Theo tỷ giá thực tế)

            Nợ TK151,152,153,211,213.. Nếu mua vật tư, tài sản (Theo tỷ giá thực tế)

            Nợ TK315, 331, 342 – Nếu  thanh toán nợ (Theo tỷ giá ghi sổ kế toán)

            Nợ TK635 – Chi phí tài chính (Tỷ giá ghi sổ kế toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế)

                        Có TK341 – Vay dài hạn (Theo tỷ giá thực tế)

                        Có TK515-D.thu tài chính (Tỷ giá ghi sổ kế toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế)

b. Trích trước chi phí lãi vay

            Nợ TK635

                        Có TK335 – Chi phí lãi vay trích trước

c. Kết chuyển quyền phí, chi phí giao dịch

            Nợ TK635 – Nếu không được vốn hóa

                        Có TK142

2.3. Cuối kỳ, tiền hành đánh giá nợ gốc vay theo tỷ giá thực tế cuối kỳ

            – Nếu tỷ giá cuối kỳ lớn hơn tỷ giá ghi sổ kế toán của khoản vay, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái kế toán định khoản:

            Nợ TK413(1) – Chênh lệch tỷ giá hối đoái

                        Có TK341

            – Nếu tỷ giá cuối kỳ nhỏ hơn tỷ giá ghi sổ kế toán của khoản vay, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái kế toán định khoản:

            Nợ TK341

                        Có TK413(1) – Chênh lệch tỷ giá hối đoái

2.4. Khi đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp thanh toán nợ gốc và lãi

a./ Trường hợp lãi suất trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất vay vốn xác định trước trong hợp đồng, doanh nghiệp thanh toán lãi vay theo lãi suất định trước trong hợp đồng. Phần chênh lệch giữa lãi suất trên thị và lãi suất được xác định trong hợp đồng được ghi nhận là một khoản lãi. Kế toán định khoản:

            Nợ TK341 – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán

            Nợ TK335, 635 – Tiền lãi vay tính theo lãi suất thị trường tài chính

                        Có TK112(2) – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán (cả gốc và lãi, lãi được xác định theo lãi suất trong hợp đồng)

                        Có TK711 – Chênh lệch giữa lãi suất trên thị trường tài chính và lãi suất trong hợp đồng.

            Bên cạnh đó, lãi hoặc lỗ tỷ giá hối đoái kế toán phản ánh vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính.

b./ Trường hợp lãi suất trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất vay vốn xác định trước trong hợp đồng, doanh nghiệp không thanh toán lãi vay theo lãi suất định trước trong hợp đồng mà thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính. Kế toán định khoản:

            Nợ TK341 – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán

            Nợ TK335, 635 – Tiền lãi vay tính theo lãi suất thị trường tài chính

                        Có TK112(2) – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán (cả gốc và lãi, lãi được xác định theo lãi suất trên thị trường tài chính)

            Bên cạnh đó, lãi hoặc lỗ tỷ giá hối đoái kế toán phản ánh vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính.

            Trên đây là một số nôị dung bàn về nghiệp vụ vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất và phương pháp hạch toán mà chúng tôi trao đổi cùng bạn đọc.

Nguyễn Trung Lập – Đại học Duy Tân

(tapchiketoan.com)

BỐI CẢNH HOÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1. Tình hình xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam trong những năm qua:

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia sản xuất, kinh doanh XNK. Nhờ đó, một số sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của nước ta không những đứng vững ở thị trường trong nước, mà còn có khả năng vươn ra thị trường nước ngoài, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu. Kể từ năm 1991 đến nay, kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng nhanh, trung bình khoảng 19,6%/năm; năm 1991 đạt 2,087 tỷ Đôla Mỹ, năm 2001 tăng lên 15,1 tỷ Đôla, gấp 7 lần so với năm 1991. Đặc biệt, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của nước ta đạt 180 Đôla/năm, mức chuẩn quốc gia có nền ngoại thương phát triển bình thường.
Song song với chủ trương khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu cũng được xác định có vai trò hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm, hướng mục tiêu phục vụ cho sự phát triển thị trường nội địa, cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới. Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu giai đoạn 1991-2000 đạt trung bình khoảng 29%/năm. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu có sự chuyển biến theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất, giảm dần tỷ trọng hàng tiêu dùng.
Có thể nói, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, hình thành nhiều ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động, tạo cơ sở và khuyến khích các nước hợp tác kinh tế và đầu tư vào Việt Nam. Hoạt động xuất nhập khẩu từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thực trạng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Lịch sử bảo hiểm hàng hóa XNK của Việt Nam đã có từ lâu. Ngay từ khi thành lập, ngày 15/1/1965, Công ty bảo hiểm Việt Nam nay là Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam đã được giao nhiệm vụ bảo hiểm cho hàng hóa xuất nhập khẩu của nước ta với các nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên cho đến nay, hoạt động bảo hiểm cho hàng hóa XNK do các công ty bảo hiểm Việt Nam tiến hành vẫn còn ở mức rất hạn chế, tốc độ tăng trưởng không cao, có giai đoạn theo chiều hướng giảm xuống. Tính đến cuối năm 2000, các nhà bảo hiểm Việt Nam mới chỉ bảo hiểm được 4,7% kim ngạch hàng xuất khẩu và 23,26% kim ngạch hàng nhập khẩu. Đây là con số nhỏ bé không phản ánh đúng tiềm năng XNK của nước ta. Thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Hoạt động XNK của nước ta chủ yếu áp dụng phương thức xuất khẩu theo điều kiện giao hàng FOB và nhập khẩu theo điều kiện giao hàng CIF. Với các phương thức XNK trên đã hạn chế khả năng ký kết của các công ty bảo hiểm Việt Nam.
Theo Incoterms 2000 có tất thảy 13 điều kiện mua bán được quốc tế hoá bằng tiếng Anh, áp dụng chung cho hoạt động thương mại quốc tế, trong đó hai điều kiện giao hàng FOB và CIF thường được các bên tham gia sử dụng. Điều kiện giao hàng FOB quy trình người mua chịu mọi phí tổn và để đảm bảo an toàn cho tài sản của mình, bên nhập khẩu sẽ mua bảo hiểm, đồng thời có nghĩa vụ thuê tàu và trả cước phí vận chuyển. Điều kiện giao hàng CIF cũng quy định trách nhiệm của người bán kết thúc khi hàng đã qua khỏi lan can tàu tại cảng gửi, nhưng xác định cụ thể người bán phải trả cước vận chuyển và ký hợp đồng bảo hiểm hàng hải tránh cho bên mua những rủi ro đối với hàng hóa có thể xảy ra trong quá trình vận chuyển. Đơn bảo hiểm này được phía xuất khẩu ký hậu và chuyển giao cho phía nhập khẩu.
Như vậy, đối với hoạt động nhập khẩu nếu nhập theo điều kiện CIF, quyền vận tải và quyền bảo hiểm thuộc phía nước ngoài. Với các quyền đó, đối tác nước ngoài tùy ý thuê tàu và mua bảo hiểm. Theo lẽ thường họ ký hợp đồng với các công ty của nước mình. Các công ty bảo hiểm nước ngoài vì thế có điều kiện phát triển hơn.
Hai là: Năng lực hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế, chưa mang tầm quốc tế. Ngoại trừ Bảo Việt thành lập năm 1965 có vốn lớn, các công ty bảo hiểm khác đều vừa mới được thành lập sau Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993, với mức vốn kinh doanh chưa tới 80 tỷ đồng, trong khi đó, nhiều công ty bảo hiểm nước ngoài ra đời cách đây hàng trăm năm, vốn kinh doanh hàng tỷ Đôla Mỹ. Thêm vào đó, trình độ cán bộ làm công tác bảo hiểm nói chung còn bất cập so với đòi hỏi của thị trường mà còn non yếu so với mặt bằng thế giới. Theo đánh giá khách quan, các nhà XNK nước ngoài chưa thực sự yên tâm khi mua bảo hiểm của Việt Nam và điều này làm giảm sức thuyết phục khi các nhà đàm phán ngoại thương yêu cầu đối tác nước ngoài trao cho ta quyền mua bảo hiểm.
Ba là: Các nhà XNK Việt Nam đã quen với tập quán thương mại xuất khẩu theo điều kiện FOB, nhập khẩu theo điều kiện CIF. Việc thay đổi tập quán cũ này khó thực hiện trong một sớm một chiều. Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định với phương thức giao hàng như trên, phía Việt Nam sẽ tránh được nghĩa vụ thuê tàu và mua bảo hiểm, đôi khi công việc này khó thực hiện do phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đối tác nước ngoài trong bối cảnh năng lực hoạt động của các công ty bảo hiểm và đội tàu biển Việt Nam còn hạn chế.
Tại sao lại phải nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước?
ở tầm vĩ mô, nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước có tác dụng góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc gia. Với hoạt động xuất khẩu theo điều kiện CIF, hàng hóa được chuyên chở bằng tàu trong nước và được công ty bảo hiểm trong nước bảo hiểm sẽ tạo nguồn thu ngoại tệ vì chi phí vận tải và phí bảo hiểm về thực chất được tính vào giá hàng và do phía nước ngoài trả. Nhập khẩu theo điều kiện FOB có tác dụng giảm chi ngoại tệ, trong trường hợp này chúng ta chỉ phải chi ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa, mà không phải chi tiền nhập dịch vụ vận tải đường biển và dịch vụ bảo hiểm của nước ngoài như trước đây. Số ngoại tệ chi cho mỗi hợp đồng ngoại thương giảm sẽ cải thiện tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai kéo dài trong nhiều năm như hiện nay của nước ta.
Đối với các công ty XNK nếu đơn bảo hiểm được ký kết với các công ty bảo hiểm Việt Nam, công ty XNK tránh được những phiền phức về thủ tục pháp lý, ngôn ngữ, địa lý… có thể sẽ gặp phải khi sự cố bảo hiểm xảy ra. Trong trường hợp công ty bảo hiểm Việt Nam không đủ năng lực bảo hiểm, phía Việt Nam vẫn có lợi do chúng ta có điều kiện lựa chọn công ty bảo hiểm uy tín bảo hiểm cho hàng hóa của mình, đồng thời lựa chọn các điều khoản bảo hiểm phù hợp với tình hình tài chính cũng như hoạt động kinh doanh của công ty. Hơn nữa, tập quán thương mại quốc tế chỉ yêu cầu bên xuất khẩu mua bảo hiểm ở mức độ tối thiểu. Nhà nhập khẩu muốn an toàn hơn cho tài sản của mình phải ký các hợp đồng bổ sung. Như thế, suy cho cùng, công ty nhập khẩu Việt Nam vẫn phải mua bảo hiểm trong trường hợp nhập khẩu CIF. Công ty sẽ chủ động hơn nếu giành được quyền mua bảo hiểm thông qua hợp đồng nhập khẩu FOB hoặc C&F.
Kim ngạch hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước tăng có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy ngành bảo hiểm phát triển. Theo nguyên lý số đông, lượng khách hàng tham gia càng lớn công ty bảo hiểm càng có điều kiện phân chia rủi ro giữa các đối tượng bảo hiểm, tranh cho công ty trước những tổn thất lớn ảnh hưởng không tốt đến tình hình tài chính công ty. Và điều này càng có ý nghĩa hơn khi mà tỷ lệ bồi thường của nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa XNK nước ta trong những năm qua luôn ở mức cao, khoarng 65-70%. Mức bồi thường này đặt công ty bảo hiểm trước những nguy cơ tiềm ẩn không lường trước được.
2. Một số đề xuất nhằm nâng cao kim ngạch hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước.
Để nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK được bảo hiểm trong nước trước tiên cần có sự cố gắng nỗ lực của chính các công ty bảo hiểm. Trong những năm qua, ngành bảo hiểm Việt Nam đã đạt được nhiều thành công trong việc khai thác khách hàng mới. Chất lượng phục vụ được nâng lên rõ rệt. Ngoài việc cung cấp sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp bảo hiểm đã chủ động tăng cường tiếp cận khách hàng để tư vấn kỹ thuật chuyên môn, giúp khách hàng lựa chọn rủi ro tham gia bảo hiểm cho phù hợp và đạt hiệu quả. Tuy vậy, trong thời gian tới, ngành bảo hiểm Việt Nam cần không ngừng hơn nữa nâng cao năng lực bảo hiểm lên ngang tầm quốc tế. Phải có chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ tinh thông kỹ thuật nghiệp vụ, hiểu luật pháp quốc gia, quốc tế, có nghệ thuật giao tiếp, ứng xử trước khách hàng; phải đa dạng hóa sản phẩm, khai thác triệt để thị trường trong nước; phải có chiến lwuwocj nâng cao năng lực tài chính của các công ty bảo hiểm để các công ty bảo hiểm Việt Nam có khả năng ký các hợp đồng bảo hiểm cho những tài sản có giá trị lớn, đối với các công ty bảo hiểm nhỏ cần mạnh bạo sáp nhập lại thành các công ty lớn, nhà nước cần tăng cường cung cấp vốn cho công ty Bảo Việt để nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty này với các công ty bảo hiểm nước ngoài, tạo uy tín với các công ty XNK nước ngoài khi họ ký hợp đồng bảo hiểm với ta.
Nhà nước cần có cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích các công ty XNK ký kết hợp đồng theo điều kiện xuất khẩu CIF, nhập khẩu FOB hoặc C&F như: giảm thuế XNK cho chủ hàng nào tham gia bảo hiểm tại Việt Nam, hoặc giảm thuế doanh thu hay thuế giá trị gia tăng, giảm thủ tục hải quan, hoặc chủ hàng được giao hạn ngạch XNK cao hơn so với những chủ hàng không tham gia bảo hiểm tại Việt Nam… Như trên đã phân tích, điều kiện giao hàng có tác dụng chủ yếu đến phân định trách nhiệm giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng thương mại, còn ý nghĩa kinh tế không rõ ràng. Với các chính sách ưu đãi trên, các công ty XNK sẽ chủ động hơn trong đàm phán ký kết, thực hiện phương thức xuất khẩu theo điều kiện CIF, nhập khẩu theo điều kiện FOB hoặc C&F tạo cơ sở nâng cao tỷ trọng hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước, đồng thời thúc đẩy ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển.
Đối với các công ty XNK cần nhanh chóng thay đổi tập quán thương mại cũ. Chuyển dần từ phương thức xuất khẩu FOB, nhập khẩu CIF sang xuất khẩu theo điều kiện CIF, nhập khẩu theo điều kiện FOB. Điều này xét về toàn cục có lợi cho nền kinh tế quốc dân do đã tạo cơ hội cho ngành bảo hiểm hàng hải và ngành vận tải biển phát triển. Và chính sự phát triển của hai ngành này có tác động ngược trở lại góp phần mở rộng không ngừng hoạt động kinh tế đối ngoại. Sự phối kết hợp hỗ trợ nhau cùng phát triển của ba lĩnh vực XNK, bảo hiểm hàng hải, và vận tải đường biển có một ý nghĩa quan trọng. Sẽ là rất khó cho hoạt động XNK nếu ngành bảo hiểm và vận tải biển kém phát triển, và ngành bảo hiểm và vận tải biển cũng không thể phát triển mạnh được trong điều kiện kim ngạch XNK thấp.
Tóm lại, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt nền kinh tế nước ta trước những thời cơ mới và thách thức mới. Trong bối cảnh đó, ngành bảo hiểm Việt Nam nói chung, nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải nói riêng cần chủ động hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, tăng cường tiềm lực tài chính… để hội nhập thành công và cạnh tranh có hiệu quả với các công ty bảo hiểm nước ngoài, tạo cơ sở nâng cao tỷ trọng kim ngạch hàng hóa XNK tham gia bảo hiểm trong nước.
Nguyễn Hữu Hiểu
Bao viet.COM.VN

THỂ LỆ VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH ĐƯỜNG THUỶ NỘI ĐỊA

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 1866/1999/QĐ- BGTVT ngày 30/7/1999 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Mục đích, đối tượng, phạm vi áp dụng

1. Mục đích: Thể lệ này quy định các nguyên tắc về kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa; xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan.

2. Đối tượng áp dụng: Thể lệ này áp dụng cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế kể cả các tổ chức, cá nhân có vốn đầu tư nước ngoài đã được phép kinh doanh tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

3. Phạm vi áp dụng: Thể lệ này được áp dụng đối với việc vận chuyển hành khách trên đường thuỷ nội địa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; liên vận hành khách trong nước và quốc tế nếu không trái với điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Vận chuyển hành khách ngang luồng đường thuỷ nội địa có quy định riêng.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Thể lệ này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người vận chuyển” là tổ chức, cá nhân dùng phương tiện thuộc sở hữu của mình hoặc thuê phương tiện thuộc sở hữu của người khác để kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa.

2. “Hành khách” là người ở trên phương tiện chở khách trừ thuyền viên, những người thuộc gia đình thuyền viên cùng sinh sống trên phương tiện và những người được phân công làm nhiệm vụ trên phương tiện.

3. “Hành lý” là vật dùng, hàng hoá của hành khách mang theo trong cùng chuyến đi bao gồm hành lý xách tay và hành lý ký gửi.

4. “Hành lý xách tay” là phần hành lý do hành khách tự bảo quản trong suốt chuyến đi.

5. “Hành lý ký gửi” là phần hành lý gửi cho phương tiện bảo quản trong chuyến đi.

6. “Bao gửi” là vật dùng, hàng hoá của hành khách gửi theo bất kỳ chuyến tầu nào mà người gửi không đi cùng chuyến tầu đó.

7. “Hàng nguy hiểm” là các loại chất độc, dễ cháy, dễ nổ gây nguy hiểm cho người, phương tiện và môi trường.

8.”Trường hợp bất khả kháng” là trường hợp xẩy ra do thiên tai, dịch bệnh, địch họa, tắc luồng vận chuyển.

Điều 3. Điều kiện kinh doanh vận chuyển hành khách; kinh doanh cảng, bến hành khách (sau đây gọi chung là bến tầu khách)

1. Người kinh doanh vận chuyển hành khách phải được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa.

2. Phương tiện vận chuyển hành khách phải có đầy đủ giấy tờ theo quy định; phải có thuốc cấp cứu; thường xuyên giữ vệ sinh sạch đẹp. Đối với phương tiện chạy xa, chạy đêm phải tổ chức phục vụ sinh hoạt cho hành khách;

3. Các bến tầu khách phải được cơ quan có thẩm quyền cấp phép theo quy định.

Bến tầu khách có 2 loại: Bến chính và bến phụ.

a) Bến chính: Là nơi xuất phát và kết thúc hành trình của phương tiện.

Bến chính tối thiểu phải có ban quản lý bến, có nhà chờ cho khách, có phòng bán vé, có cầu cho khách lên xuống an toàn, có trang thiết bị phục vụ sinh hoạt cần thiết cho hành khách (nhà vệ sinh, ánh sáng, loa phóng thanh, các bảng thông báo…).

b) Bến phụ: Là các bến phương tiện đón và trả khách dọc đường.

Bến phụ tối thiểu phải có cầu cho hành khách lên xuống an toàn thuận tiện, có đèn đủ độ sáng nếu hoạt động ban đêm.

Chương II

VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH

Điều 4. Nghĩa vụ của người vận chuyển

Người vận chuyển có các nghĩa vụ sau đây:

1. Có biểu đồ hành trình và nội quy an toàn đối với từng phương tiện;

2. Tổ chức vận chuyển, nhận, trả hành khách an toàn từ nơi xuất phát đến nơi trả hành khách đúng giờ, đúng tuyến đường theo biểu đồ hành trình đã được quy định.

Trường hợp có thay đổi biểu đồ hành trình, người vận chuyển có trách nhiệm thông báo trước cho hành khách ít nhất 10 ngày. Trường hợp thay đổi giờ khởi hành phải thông báo trước cho hành khách ít nhất 24 giờ;

3. Đảm bảo đủ chỗ ngồi cho hành khách theo số ghế đã quy định;

4. Đón tiếp hành khách văn minh, lịch sự;

5. Các bến chính phải mở cửa nhận khách xuống phương tiện ít nhất 30 phút trước khi phương tiện rời bến.

Sắp tới bến, thuyền trưởng phải thông báo cho hành khách biết tên bến, thời gian đỗ tại bến ít nhất 10 phút trước khi phương tiện cập bến.

6. Phổ biến cho hành khách nội quy đi tầu, cách sử dụng phao cứu sinh và các trang bị an toàn khác;

7. Phải có bảo hiểm hành khách;

8. Trong mùa lũ, người vận chuyển phải thực hiện giảm tải theo quy định.

Điều 5. Quyền của người vận chuyển

Người vận chuyển có quyền sau đây:

1. Người vận chuyển được thu cước vận chuyển hành khách, phần hành lý quá mức quy định miễn cước, bao gửi và các khoản thu dịch vụ khác nếu hành khách có yêu cầu;

2. Người vận chuyển có quyền từ chối vận chuyển trong các trường hợp sau:

Người có hành vi làm mất trật tự công cộng, vi phạm nội quy an toàn, cản trở công việc điều hành phương tiện;

Người say rượu có thể gây nguy hại trong quá trình vận chuyển;

Người có bệnh động kinh, bệnh tâm thần mà không có người đi kèm;

Người có mang theo các loại hàng quy định tại Khoản 3, Điều 11;

Người có hành vi trốn, lậu vé;

Bao gửi khai không đúng sự thật.

Điều 6. Nghiêm cấm đối với người vận chuyển

Nghiêm cấm người vận chuyển:

1. Bán vé quá giá quy định;

2. Cho phương tiện khác cập vào tầu khách để đưa đón hành khách trong khi tầu đang chạy;

3. Nhân viên trên tầu uống rượu, bia; cho người không có trách nhiệm vào phòng làm việc của mình trong khi làm nhiệm vụ.

Điều 7. Nghĩa vụ của hành khách

Hành khách có nghĩa vụ sau đây:

1. Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy đi tầu, mua vé và trả cước phí đầy đủ, lên xuống đúng bến, đúng giờ quy định, không gây mất trật tự trong bến tầu khách và trên phương tiện;

2. Tự bảo quản hành lý xách tay;

3. Giữ gìn tài sản chung trên phương tiện; phải bồi thường nếu làm hỏng, mất trang thiết bị trên phương tiện;

4. Chịu trách nhiệm trong việc khai tên, địa chỉ của mình và trẻ em đi kèm khi người bán vé lập danh sách hành khách.

Điều 8. Quyền của hành khách

Hành khách có quyền sau đây:

1. Yêu cầu được vận chuyển đúng loại phương tiện, đúng thời gian và hành trình đã thông báo;

2. Yêu cầu thanh toán chi phí phát sinh hoặc bồi thường thiệt hại nếu người vận chuyển không chuyên chở đúng thời hạn, địa điểm đã thoả thuận; làm mất mát, hư hỏng hành lý ký gửi, bao gửi;

3. Hành khách được quyền nhận lại toàn bộ hoặc một phần tiền vé tương ứng với quãng đường chưa đi nếu do lỗi của người vận chuyển gây ra.

Điều 9. Vé hành khách

1. Vé hành khách là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng giữa hành khách và người vận chuyển. Vé hành khách phải theo mẫu quy định, nội dung vé gồm: Tên hoặc số đăng ký của phương tiện; tên bến đi, bến đến; ngày giờ phương tiện xuất phát; giá vé.

2. Tổ chức bán vé: Các bến phải căn cứ số lượng hành khách và hàng hoá đối với mỗi chuyến tầu mà quy định thời gian bán vé cho phù hợp. Giờ bán vé phải được thông báo tại các cửa bán vé và nơi hành khách chờ đợi. Thời gian đóng cửa bán vé chậm nhất là 15 phút trước giờ phương tiện rời bến.

Số lượng vé bán trong mỗi chuyến tầu không được vượt quá số ghế do cơ quan đăng kiểm quy định và phải thông báo cho hành khách biết. Khi bán vé, người bán vé phải lập danh sách hành khách đi tầu. Danh sách được lập thành 2 bản, 1 bản lưu tại bến, 1 bản giao cho thuyền trưởng để bổ sung vào danh sách hành khách lên tại các bến phụ.

3. Miễn giảm giá vé:

Trẻ em dưới 5 tuổi được miễn vé nhưng phải ngồi chung chỗ ngồi với người lớn đi kèm;

Trẻ em trên 5 tuổi đến 10 tuổi được miễn 50% giá vé và cứ 2 em được chiếm 1 chỗ ngồi.

4. Ưu tiên mua vé:

Hành khách thuộc các đối tượng dưới đây được ưu tiên mua vé, thứ tự ưu tiên như sau:

Người bệnh có yêu cầu của cơ quan y tế phải nhanh chóng chuyển đi;

Thương bệnh binh hạng 1 và hạng 2;

Người già trên 65 tuổi;

Phụ nữ kèm theo con nhỏ dưới 24 tháng tuổi;

Phụ nữ có thai;

Nhà báo;

Cán bộ công nhân viên, lực luợng vũ trang có công tác khẩn cấp.

5. Kiểm soát vé: Trước khi đón và trả khách, người phục vụ phải kiểm soát vé của hành khách, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp không có vé hoặc nhầm lẫn tuyến đường, bến đến.

Điều 10. Xử lý về vé của hành khách

1. Hành khách đi quá bến phải mua vé bổ sung quãng đường đi thêm.

2. Hành khách đã mua vé cả chặng đường nhưng lên bờ ở bến dọc đường, không được hoàn lại tiền vé đoạn đường không đi.

3. Hành khách trả lại vé, trước khi phương tiện rời bến không chậm quá 1 giờ thì được hoàn lại 90% tiền vé.

4. Hành khách tới trễ giờ sau khi phương tiện đã khởi hành theo lịch hành trình đã thông báo, nếu hành khách muốn đi tiếp thì người vận chuyển bố trí cho hành khách đi chuyến tiếp theo và thu thêm 50% tiền vé. Nếu hành khách không đi nữa thì vé không còn giá trị.

Điều 11. Hành lý

1. Mỗi hành khách được miễn cước 20 kg hành lý xách tay.

2. Hành khách thuộc đối tượng được giảm 50% giá vé được miễn cước 10 kg hành lý xách tay.

3. Các loại hành lý xách tay cấm mang lên tàu:

Hàng nguy hiểm; hàng cấm lưu thông;

Tử thi hài cốt, chất hôi thối;

Động vật sống;

Hàng cồng kềnh làm trở ngại việc đi lại trên phương tiện.

Điều 12. Trường hợp không vận chuyển được do lỗi của người vận chuyển

1. Sau khi đã bán vé, nếu tầu chạy không đúng giờ quy định, hành khách phải chờ đợi qua đêm thì người vận chuyển phải chịu mọi chi phí phát sinh. Nếu hành khách không muốn đi, trả lại vé thì người vận chuyển phải hoàn lại toàn bộ tiền vé, cước (nếu có) cho hành khách.

2. Trường hợp đang trên đường vận chuyển, tầu khách bị hỏng không chạy tiếp được, thuyền trưởng phải tìm mọi biện pháp đưa khách tới bến đến an toàn.

Nếu hành khách phải chờ đợi qua đêm thì người vận chuyển tìm nơi ăn nghỉ cho hành khách và chịu mọi chi phí phát sinh;

Nếu hành khách không muốn chờ đợi để đi tiếp thì người vận chuyển phải trả lại tiền vé, cước đoạn đường còn lại cho hành khách;

Nếu thuyền trưởng bố trí được phương tiện khác quay về bến xuất phát thì hành khách quay về không phải trả tiền vé, cước và được hoàn lại tiền vé, cước hàng hoá hành khách đã mua.

Điều 13. Trường hợp bất khả kháng

Các trường hợp bất khả kháng được giải quyết như sau:

1. Nếu phương tiện chưa xuất phát, người vận chuyển phải thông báo ngay việc huỷ bỏ hoặc tạm dừng chuyến đi cho hành khách biết và hoàn lại toàn bộ tiền vé, cước cho hành khách;

2. Nếu phương tiện đang trên đường hành trình:

a) Trường hợp phương tiện phải đi luồng khác dài hơn luồng thường lệ thì không thu thêm tiền vé của hành khách;

b) Trường hợp phương tiện không thể chờ đợi giao thông phục hồi, phải quay về nơi xuất phát thì hành khách không phải trả tiền vé, cước lượt về và được trả lại số tiền vé, cước đoạn đường chưa đi.

Điều 14. Trường hợp xảy ra trên đường đối với hành khách

Các trường hợp xảy ra trên đường hành trình được giải quyết như sau:

1. Hành khách rơi xuống nước, thuyền trưởng có trách nhiệm tổ chức cứu vớt nhanh chóng. Nếu đã làm hết khả năng mà không cứu được phải lập biên bản có sự chứng kiến của đại diện hành khách và thân nhân nạn nhân (nếu có), đồng thời báo cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn; trường hợp không có thân nhân đi theo thì phải báo cho gia đình, thân nhân hoặc cơ quan nạn nhân để giải quyết hậu quả.

2. Hành khách chết trên phương tiện, thuyền trưởng cùng với thân nhân người chết (nếu có) và đại diện hành khách trên phương tiện lập biên bản và đưa lên bến gần nhất. Nếu hành khách chết không có thân nhân đi theo thì thuyền trưởng đưa lên bến gần nhất, cử người ở lại liên hệ với chính quyền địa phương và cơ quan bảo hiểm để làm các thủ tục cần thiết đồng thời báo cho gia đình, thân nhân hoặc cơ quan người chết tới để phối hợp giải quyết. Hành lý của người chết phải được kiểm kê, lập biên bản giao lại cho gia đình, thân nhân hoặc cơ quan của người chết.

3. Hành khách bị ốm đau trên đường hành trình:

Nếu bị đau ốm đột xuất nguy hiểm đến tính mạng, thuyền trưởng có trách nhiệm giúp đỡ hành khách việc cấp cứu và đưa hành khách tới bến gần nhất để lên bờ chữa trị.

Nếu sức khoẻ của hành khách bị thiệt hại do lỗi của người vận chuyển thì người vận chuyển phải bồi thường theo quy định của pháp luật hiện hành.

Chương III

VẬN CHUYỂN VÀ BẢO QUẢN HÀNH LÝ KÝ GỬI, BAO GỬI

Điều 15. Điều kiện nhận chở hành lý ký gửi, bao gửi

1. Hành lý ký gửi và bao gửi chỉ được nhận vận chuyển khi có đủ các điều kiện sau:

Có kích thước, trọng lượng phù hợp với từng loại phương tiện chuyên chở và điều kiện xếp dỡ hai đầu bến;

Được đóng gói đúng quy định;

Không thuộc loại hàng nêu tại Khoản 2 Điều này;

Phải trả tiền cước vận chuyển theo quy định.

Đối với hành lý ký gửi còn cần các điều kiện sau:

Hành khách đã có vé đi tàu;

Hành khách mua vé đến bến nào thì nhận gửi hành lý đến bến đó;

Hành lý phải đi cùng một chuyến với người gửi kể cả trường hợp phải chuyển sang một phương tiện khác trong quá trình vận chuyển.

2. Không nhận vận chuyển các loại hành lý ký gửi, bao gửi sau đây:

Hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông;

Linh cữu, thi hài (trừ trường hợp hài cốt có giấy phép cho di chuyển hợp lệ);

Động vật sống (trừ trường hợp động vật nhỏ được nhốt trong rọ và phương tiện có khoang giành riêng cho loại này);

Hàng quý hiếm như vàng, bạc, đá quý.

Điều 16. Thủ tục nhận gửi và bảo quản hành lý ký gửi, bao gửi

1. Hành khách có hành lý ký gửi phải mua vé cước của phần quá mức quy định miễn cước và giao cho người vận chuyển ít nhất 30 phút trước khi phương tiện khởi hành.

2. Người có bao gửi phải lập tờ khai gửi hàng, trong đó kê khai từng loại hàng gửi: Số lượng, khối lượng hàng, tên người gửi, tên người nhận.

3. Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hàng trong bao gửi và phải gửi bản sao các giấy tờ có giá trị pháp lý cho người vận chuyển để trình báo khi cần thiết.

4. Người vận chuyển có trách nhiệm kiểm tra bao bì, số lượng, nhãn mác hàng hoá và xác nhận vào tờ khai gửi hàng. Tờ khai gửi hàng gồm 2 bản: hành khách và người vận chuyển mỗi bên 1 bản. Trường hợp thanh toán qua ngân hàng, thêm mỗi bên 1 bản.

Người vận chuyển tuỳ theo khả năng phương tiện, kho bãi của mình mà công bố nhận bao gửi trên các tuyến thích hợp.

5. Đối với vận chuyển liên vận, việc bảo quản và chuyển hành lý ký gửi, bao gửi sang phương tiện khác do người vận chuyển đảm nhiệm. Người vận chuyển và người có hàng bao gửi phải ký hợp đồng vận chuyển.

Điều 17. Giao trả hành lý ký gửi, bao gửi

1. Hành khách có hành lý ký gửi khi nhận hàng phải xuất trình vé; chứng từ thu cước.

2. Hành khách có bao gửi khi nhận hàng phải xuất trình chứng từ thu cước; tờ khai gửi hàng và giấy tờ tuỳ thân. Nếu người khác nhận thay phải có giấy uỷ quyền hợp pháp theo luật định.Trường hợp người nhận bao gửi tới nhận chậm quá thờì hạn quy định từ 1 ngày trở lên thì phải chịu phí lưu kho, bãi.

3. Hành khách phải kiểm tra lại hàng của mình tại nơi giao hàng. Sau khi hành khách nhận xong, người vận chuyển không chịu trách nhiệm về hàng bị mất mát hoặc hư hỏng.

Điều 18. Phát hiện người có hàng bao gửi khai không đúng sự thật

Khi phát hiện người có hàng bao gửi khai không đúng sự thật nếu:

1. Phát hiện trước khi vận chuyển:

Người gửi hàng phải khai lại hàng. Nếu là hàng thuộc loại nguy hiểm, hàng cấm lưu thông thì phải bốc lên bờ, người gửi hàng phải chịu mọi chi phí phát sinh.

2. Phát hiện trên đường vận chuyển:

a) Nếu không phải là hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông, người vận chuyển báo cho người thuê vận chuyển biết và tiếp tục vận chuyển tới nơi trả hàng, mọi chi phí phát sinh (nếu có) người thuê vận chuyển phải chịu;

b) Nếu là hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông, người vận chuyển phải báo cho cơ quan chức năng để xử lý đồng thời báo cho người gửi hàng biết. Người gửi hàng ngoài việc chịu chi phí phát sinh, còn phải chịu tiền phạt bằng 3 lần tiền cước.

Điều 19. Bồi thường hành lý ký gửi, bao gửi bị mất mát hư hỏng

Trong quá trình xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản hành lý ký gửi, bao gửi bị hư hỏng, mất mát, người vận chuyển phải bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm và địa điểm nơi trả hàng. Trường hợp hai bên không thống nhất được mức bồi thường thì bên bị thiệt hại có thể gửi đơn yêu cầu trọng tài kinh tế hoặc toà án kinh tế để giải quyết theo qui định của pháp luật.

Chương IV

HỢP ĐỒNG THUÊ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ KINH DOANH

Điều 20. Hợp đồng thuê phương tiện

Hợp đồng thuê phương tiện là hợp đồng được ký kết giữa người cho thuê phương tiện và người thuê phương tiện, sau đây gọi chung là các bên ký hợp đồng, theo đó người thuê phương tiện sử dụng phương tiện để kinh doanh vận chuyển hành khách trong một thời hạn hoặc một số chuyến nhất định. Giá thuê phương tiện do hai bên thoả thuận trong hợp đồng (nếu không có quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền).

Trường hợp người kinh doanh vận chuyển hành khách đường thuỷ nội địa thuê phương tiện của nước ngoài, phải được Bộ Giao thông vận tải chấp thuận.

Điều 21. Các hình thức thuê phương tiện

Có các hình thức thuê phương tiện sau đây:

1. Thuê phương tiện định hạn: Người cho thuê giao quyền sử dụng phương tiện cho người thuê cùng với kíp thuyền viên;

2. Thuê phương tiện trần: Người cho thuê giao quyền sử dụng phương tiện cho người thuê không cùng với kíp thuyền viên.

Điều 22. Nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng

Các bên ký hợp đồng thuê phương tiện có nghĩa vụ sau:

1. Người cho thuê phương tiện:

a) Giao phương tiện cùng các giấy tờ hợp pháp của phương tiện cho bên thuê đúng thời gian, địa điểm đã ghi trong hợp đồng;

b) Trường hợp cho thuê phương tiện định hạn, phải cung cấp kíp thuyền viên có bằng cấp phù hợp với loại phương tiện theo quy định, thực hiện việc quản lý lao động và hoàn toàn chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến kíp thuyền viên đó;

c) Trả tiền sửa chữa phương tiện nếu các tổn thất phát sinh ngoài trách nhiệm của người thuê phương tiện;

2. Người thuê phương tiện:

a) Sử dụng phương tiện đúng công dụng, mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng;

b) Bảo dưỡng phương tiện và các trang thiết bị khác nếu không có thoả thuận khác trong hợp đồng;

c) Khi hết thời hạn thuê phương tiện, phải giao trả phương tiện đúng địa điểm, thời điểm và trạng thái kỹ thuật như đã thoả thuận.

Điều 23. Quyền của các bên ký kết hợp đồng

Các bên ký kết hợp đồng thuê phương tiện có quyền sau:

1. Người cho thuê phương tiện:

a) Trường hợp cho thuê phương tiện trần, có quyền cử người đại diện để kiểm tra bất thường việc chấp hành nghĩa vụ của người thuê phương tiện nhưng không gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh của người thuê phương tiện;

b) Được quyền thu hồi phương tiện và chấm dứt hợp đồng nếu người thuê phương tiện vi phạm nghiêm trọng các điều khoản mà hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng.

2. Người thuê phương tiện:

a) Được quyền sử dụng phương tiện và kíp thuyền viên để thực hiện các mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng;

b) Trường hợp phương tiện bị trưng dụng do lệnh của cơ quan có thẩm quyền, phải báo cho người cho thuê phương tiện biết và được quyền đề nghị cơ quan ký lệnh trưng dụng phải sử dụng đúng công dụng phương tiện và thanh toán cước phí, phụ phí do việc trưng dụng gây ra.

Điều 24. Chấm dứt hợp đồng

1. Hai bên chấm dứt hợp đồng nếu phương tiện mất tích, chìm đắm, bị tịch thu hoặc hư hỏng không sửa chữa được, lỗi thuộc bên nào, bên đó chịu trách nhiệm bồi thường.

2. Hợp đồng thuê phương tiện đương nhiên chấm dứt nếu xẩy ra chiến tranh, thiên tai không thể tiếp tục thực hiện được. Hai bên xác định thời hạn đã sử dụng phương tiện để thanh toán./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

(Đã ký)

Đào Đình Bình

ĐIỀU KIỆN HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TÓM TẮT CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG QUỐC GIA VIỆT NAM (VNA)

Bản Điều kiện hợp đồng vận chuyển này là một bộ phận không tách rời của vé. Xin hành khách lưu ý đến mọi điều kiện hợp đồng vận chuyển và chỉ dẫn được ghi trên vé.

Hành khách bỏ chỗ:
Trên chuyến bay của các Hãng Hàng không (kể cả HKVN) nhiều khách đã giữ chỗ nhưng không có mặt lúc chuyến bay khởi hành. Nếu quý khách đã đặt chỗ trên chuyến bay của HKVN, sau đó thay đổi hoặc không thực hiện chuyến bay đã đặt, quý khách cần thông báo sớm để HKVN chuyển chỗ quý khách không sử dụng cho khách chưa có chỗ.
Xin quý khách lưu ý: Đôi khi quý khách rất cần chỗ trên chuyến bay đã đầy chỗ trong khi vẫn có khách bỏ chỗ mà quên không báo trước.

Đặt chỗ hơn tải:
Quý khách bỏ chỗ không những gây khó khăn cho Hãng Hàng không mà còn ảnh hưởng tới những khách cần đặt chỗ khác. Do vậy, như các Hãng Hàng không khác, HKVN áp dụng chính sách: Cho phép đặt chỗ hơn số chỗ thực tế có trên chuyến bay. Việc đặt chỗ hơn tải được quản lý chặt chẽ (Số chỗ đặt quá tương ứng với số khách dự đoán sẽ bỏ chỗ trên chuyến bay). Tuy nhiên, đôi khi số khách có mặt tại sân bay vượt quá số chỗ thực tế do áp dụng chính sách này. HKVN hiểu rằng: Quý khách bị nhỡ chuyến do đặt quá chỗ sẽ gặp nhiều bất tiện. Với mong muốn bù đắp một phần cho khách, HKVN đã áp dụng chính sách bồi thường cho khách nhỡ chuyến. Xin quý khách vui lòng liên hệ với các Văn phòng Đại diện của HKVN để biết thêm chi tiết.

CHÚ Ý
Nếu hành trình của hành khách có điểm đến cuối cùng hoặc điểm dừng giữa chặng nằm trên một nước không phải là nước khởi hành thì có thể áp dụng Công ước Vác-Xa-Va, Công ước này điều chỉnh, và trong hầu hết các trường hợp, giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển đối với tử vong và thương tật của hành khách cũng như đối với việc mất mát và hư hỏng hành lý.

ĐIỀU KIỆN HỢP ĐỒNG
1. Trong hợp đồng này, “Vé” có nghĩa là chiếc Vé giấy hành khách và hành lý hoặc Vé điện tử, mà các điều kiện và thông báo này là một bộ phận của nó; “vận chuyển” đồng nghĩa với “chuyên chở”; “người vận chuyển” là tất cả những người chuyên chở hàng không thực hiện việc chuyên chở hoặc cam kết chuyên chở khách hoặc hành lý của khách theo hợp đồng này, hoặc thực hiện bất kỳ một dịch vụ nào khác cho việc chuyên chở hàng không đó; “Công ước Vác-Xa-Va” là Công ước thống nhất một số quy tắc liên quan đến việc chuyên chở hàng không quốc tế được ký tại Vác-Xa-Va ngày 2 tháng 10 năm 1929, hoặc là Công ước đó đã được sửa đổi tại La-Hay ngày 28 tháng 9 năm 1955, tuỳ theo công ước nào được áp dụng.
2. Việc vận chuyển theo hợp đồng này được điều chỉnh bởi các quy tắc và các giới hạn liên quan đến trách nhiệm được thiết lập bởi Công ước Vác-Xa-Va, trừ trường hợp việc vận chuyển không phải là “vận chuyển quốc tế” như được quy định trong Công ước.
3. Trong phạm vi không trái với các quy định nêu trên, việc vận chuyển và các dịch vụ khác do mỗi người chuyên chở thực hiện sẽ tuân thủ theo: (I) các quy định trong vé này, (II) các biểu giá cước áp dụng, (III) các điều kiện vận chuyển và các quy tắc liên quan của người vận chuyển được làm thành một bộ phận của hợp đồng này (và được công bố tại các văn phòng của người vận chuyển). Đối với việc vận chuyển giữa một điểm nằm trong Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ hoặc Canada và một điểm nằm ngoài các nước đó sẽ áp dụng các biểu giá cước có hiệu lực tại các nước đó.
4. Tên của người vận chuyển có thể được viết tắt trong vé, tên viết đầy đủ và tên viết tắt được ghi trong các biểu giá cước, điều kiện vận chuyển, quy tắc hoặc lịch bay của người vận chuyển. Địa chỉ của người vận chuyển là sân bay khởi hành được ghi trong vé đối diện với tên viết tắt thứ nhất của người vận chuyển. Những điểm dừng giữa chặng được thoả thuận là những điểm ghi trong vé hoặc được chỉ ra trong lịch bay của người vận chuyển như là các điểm dừng giữa chặng thường lệ trên hành trình của hành khách. Việc vận chuyển được thực hiện theo hợp đồng này bởi nhiều nhà vận chuyển liên tiếp được coi như là một hành trình duy nhất.
5. Người vận chuyển hàng không xuất vé để vận chuyển trên đường bay của người vận chuyển hàng không khác chỉ được coi là đại lý của người vận chuyển đó.
6. Mọi sự miễn hoặc giảm trách nhiệm của người vận chuyển đều được áp dụng đối với những đại lý, nhân viên và đại diện của người vận chuyển đó, hoặc bất kỳ người nào cho người vận chuyển sử dụng máy bay của minh để chuyên chở cũng như những đại lý, nhân viên và đại diện của họ.
7. Hành lý ký gửi sẽ được giao lại cho người có thẻ hành lý. Trong trường hợp hành lý bị hư hỏng trong vận chuyển quốc tế, đơn khiếu nại phải được gửi cho người vận chuyển ngay sau khi phát hiện hư hỏng và chậm nhất là trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận hành lý. Trong trường hợp hành lý bị chậm, đơn khiếu nại phải được gửi cho người vận chuyển chậm nhất là trong vòng 21 ngày kể từ ngày hành lý được giao. Xem các biểu giá cước hoặc điều kiện vận chuyển đối với việc vận chuyển không phải là vận chuyển quốc tế.
8. Vé có giá trị một năm kể từ ngày xuất, trừ trường hợp có quy định khác trong vé, trong các biểu giá cước, điều kiện vận chuyển hoặc các quy tắc có liên quan của người vận chuyển. Giá cước chuyên chở theo hợp đồng này có thể được thay đổi trước khi bắt đầu vận chuyển. Người vận chuyển có thể từ chối chuyên chở nếu giá giá cước áp dụng chưa được trả đủ.
9. Người vận chuyển cam kết cố gắng hết sức mình để chuyên chở một cách nhanh chóng hợp lý. Thời gian ghi trong lịch bay hoặc bất cứ đâu đều không được đảm bảo và không phải là một bộ phận của hợp đồng này. Trong trường hợp cần thiết người vận chuyển có thể để những người vận chuyển khác vận chuyển thay mình, thay đổi máy bay, và có thể thay đổi hoặc bỏ điểm dừng giữa chặng được ghi trong vé mà không phải báo trước. Lịch bay có thể thay đổi mà không phải báo trước. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về việc nối chuyến.
10. Hành khách phải thực hiện các quy định Chính phủ đối với việc đi lại, phải xuất trình các giấy tờ về xuất nhập cảnh cũng như các giấy tờ quy định khác và phải đến sân bay và thời gian do người vận chuyển quy định hoặc đến đủ sớm để làm các thủ tục khởi hành nếu không có quy định rõ về thời gian.
11. Không một đại lý, nhân viên hoặc đại diện nào của người vận chuyển có quyền thay đổi, sửa đổi hoặc huỷ bỏ bất cứ quy định nào của hợp đồng này.
THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH KHÁCH
TRÊN CHUYẾN BAY QUỐC TẾ
Xin thông báo với hành khách bay theo hành trình có điểm đến cuối cùng hoặc điểm dừng thoả thuận nằm trên một nước không phải là nước khởi hành rằng: Các quy định của công ước Vac-Xa-Va có thể được áp dụng đối với toàn bộ hành trình, kể cả bất kỳ chặng nào hoàn toàn nằm trên lãnh thổ của nước khởi hành hoặc của nước đến. Đối với các hành khách bay theo các hành trình có điểm đến, điểm xuất phát hoặc có một điểm dừng thoả thuận nằm trong lãnh thổ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì Công ước Vác-Xa-Va và các hợp đồng đặc biệt nằm trong các biểu giá cước áp dụng quy định rằng trách nhiệm của những người vận chuyển tham gia các hợp đồng đặc biệt đó đối với tử vong hoặc thương tật của hành khách trong hầu hết các trường hợp được giới hạn căn cứ vào tổn thất được xác định nhưng không vượt quá 75.000,00 Đô la Mỹ cho mỗi hành khách *, và trách nhiệm bồi thường tới giới hạn đó không phụ thuộc vào sơ suất từ phía người vận chuyển. Đối với hành khách đi trên chuyến bay của người vận chuyển không tham gia các hợp đồng vận chuyển đó hoặc bay theo các hành trình không có điểm đến, điểm xuất phát hoặc một điểm dừng thoả thuận nằm trong lãnh thổ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ thì trách nhiệm của người vận chuyển đối với tử vong hoặc thương tật của hành khách trong hầu hết các trường hợp được giới hạn tới mức khoảng 10.000,00 Đô la Mỹ hoặc 20.000,00 Đô la Mỹ. Tên của những người vận chuyển tham gia các hợp đồng đặc biệt như vậy được thông báo ở tất cả các phòng vé của những người vận chuyển đó và có thể được trả lời theo yêu cầu.
Việc đảm bảo phụ thường được hành khách thực hiện bằng cách ký bảo hiểm với một hãng bảo hiểm. Giới hạn trách nhiệm theo Công ước Vác-Xa-va không hề ảnh hưởng đến việc bảo hiểm đó. Về các tin tức khác đề nghị hỏi tại cơ quan đại diện của hãng hàng không hoặc của hãng bảo hiểm.
* Ghi chú: Giới hạn trách nhiệm 75.000,00 Đô la Mỹ nêu trên bao gồm cả chi phí toà án. Trường hợp đơn kiện được gửi tới nước có quy định rằng chi phí toà án được tính riêng thì giới hạn trách nhiệm sẽ là 58.000,00 Đô la Mỹ không bao gồm chi phí toà án.

THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH LÝ
Trách nhiệm do làm mất, vận chuyển chậm hoặc làm hư hỏng đối với hành lý được giới hạn trừ trường hợp hành khách có thông báo trước về giá trị cao hơn của hành lý và trả một khoản cước phí phụ tương ứng. Đối với nhiều hành trình quốc tế, công ước Vác-Xa-Va sẽ áp dụng với trách nhiệm bồi thường được giới hạn bằng khoảng 9,07 Đô la Mỹ cho mỗi Pao (20,00 Đô la Mỹ cho mỗi kilôgam) đối với hành lý ký gửi và 400,00 Đô la Mỹ cho mỗi hành khách đối với hành lý không ký gửi. Đối với hành trình giữa hai điểm nằm trong lãnh thổ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ, Luật lệ Liên bang quy định rằng giới hạn trách nhiệm đối với hành lý tối thiểu là 2.800,00 Đô la Mỹ cho một hành khách. Đối với một số mặt hàng, người vận chuyển không chấp nhận việc thông báo về giá trị cao hơn. Một số người vận chuyển không chịu trách nhiệm về các loại hàng dễ vỡ, dễ thối, dễ hỏng hoặc hàng có giá trị.

NHỮNG GHI CHÚ QUAN TRỌNG
1. Yêu cầu về vé: Hành khách không được vận chuyển trên chuyến bay trừ khi hành khách xuất trình vé còn giá trị và được xuất theo đúng quy định của nhà vận chuyển và còn đủ tờ vận chuyển của chuyến bay đó và tất cả các tờ vận chuyển chưa sử dụng khác cùng với tờ hành khách. Hơn nữa hành khách cũng không được vận chuyển nếu như vé giấy xuất trình bị rách nát hoặc bị người khác không phải là người vận chuyển hoặc các đại lý được uỷ quyền sửa đổi. Trường hợp hành khách sử dụng vé điện tử, phải xuất trình giấy tờ tuỳ thân hợp lệ và vé điện tử còn hiệu lực sử dụng.
Vé sẽ không có giá trị và không được chấp nhận chuyên chở nếu nơi xuất vé không phải là văn phòng hoặc đại lý hợp pháp của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam.
2. Trình tự sử dụng tờ vận chuyển: Người vận chuyển chỉ chấp nhận các tờ vận chuyển chỉ theo thứ tự từ nơi khởi hành như đã nêu trên vé. 
3. Xác nhận lại việc giữ chỗ: Nếu hành khách dừng lại tại bất kỳ điểm nào trong hành trình quá 72 giờ, hành khách phải xác nhận lại chỗ đi tiếp hoặc quay lại. Để xác nhận lại chỗ đã đặt, hành khách phải thông báo cho Văn phòng của HKVN nơi hành khách tiếp tục cuộc hành trình của mình chậm nhất là 72 giờ trước khi máy bay xuất phát. Nếu hành khách không xác nhận lại ý định đó trong thời gian trên, chỗ đã đặt trước cho hành khách coi như bị huỷ.
4. Thời gian làm thủ tục tại sân bay: hành khách cần có mặt tại sân bay để làm thủ tục trong khoảng thời gian nêu dưới đây:
• Chuyến bay quốc tế: Từ 2 giờ 30 phút đến 01 giờ trước giờ khởi hành.
• Chuyến bay nội địa: Từ 02 giờ đến 01 giờ trước giờ khởi hành.
5. Hạn chế ghi trên vé: Một số loại giá cước hạn chế thời gian có giá trị của vé, ngày của hành trình, việc thay đổi hành trình hay hoàn vé…v.v. Việc hành khách không tuân thủ theo hạn chế ghi trên vé sẽ được coi như vi phạm điều kiện vận chuyển.
6. Quyền từ chối hoàn trả: HKVN có quyền từ chối việc hoàn trả nếu yêu cầu hoàn trả được đưa ra chậm hơn 30 ngày kể từ ngày vé hết giá trị.
7. Giấy tờ tuỳ thân: Hành khách phải xuất trình tất cả các giấy tờ theo yêu cầu của pháp luật của các nước có liên quan như giấy nhập cảnh, xuất cảnh, giấy chứng nhận y tế và các giấy tờ khác. Người vận chuyển có quyền từ chối vận chuyển bất kỳ hành khách nào nếu họ không chấp hành đầy đủ các luật lệ, quy định, yêu cầu, đòi hỏi hiện hành, hoặc không có đủ giấy tờ cần thiết. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm về những thiệt hại hay những phí tổn do việc hành khách không thực hiện những yêu cầu này.
8. Miễn trừ trách nhiệm: Ngoài giới hạn trách nhiệm ở phần “THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH KHÁCH TRÊN CHUYẾN BAY QUỐC TẾ”, THÔNG BÁO VỀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI HÀNH LÝ”, HKVN không chịu trách nhiệm đối với tổn thất, hoặc hư hỏng của các vật dễ vỡ, dễ thối, dễ hỏng (thực phẩm, rau quả…), tiền, đồ trang sức, kim loại quý, đồ bạc, giấy tờ chuyển nhượng có giá trị tiền, chứng khoán, hoặc các vật có giá trị khác, tài liệu công tác, hộ chiếu và các giấy tờ tuỳ thân khác, hoặc hàng mẫu được để trong hành lý ký gửi của hành khách.
Mọi thông tin khác được cung cấp theo yêu cầu.

BÍ CHÚ VỀ CÁC KHOẢN THUẾ VÀ LỆ PHÍ DO CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH
Giá của vé này có thể gồm các khoản thuế và lệ phí do các cơ quan nhà nước quy định đối với việc vận chuyển hàng không. Các khoản thuế và lệ phí này, là khoản có thể chiếm một phần khá lớn của chi phí đi lại bằng đường hàng không, có thể đã được bao gồm trong giá vé hoặc được ghi riêng trong ô THUẾ/LỆ PHÍ của chiếc vé này. Quý khách còn có thể phải trả các khoản thuế hay lệ phí chưa được thu.
HÀNH KHÁCH KHÔNG ĐƯỢC CHO VÀO HÀNH LÝ
• Các loại khí nén (bình khí phun, chai ô xy), bình dưỡng khí.
• Chất nổ (các loại pháo, đạn dược).
• Các loại chất rắn, chất lỏng dễ cháy (benzene, cồn, diêm).
• Các chất ăn mòn.
• Các chất ô xy hoá.
• Các loại chất độc và hơi cay.
• Các chất phóng xạ.
• Thuỷ ngân.
• Các chất có từ tính.
• Các loại súng đạn.
• Cặp có gắn thiết bị báo động.
• Các hạn chế mang chất lỏng lên máy bay theo quy định của nhà chức trách Hàng không.

dkvc.JPG

CÁC VẬT DỤNG Y TẾ HOẶC VỆ SINH ĐƯỢC CHUYÊN CHỞ DƯỚI DẠNG HÀNH LÝ GỬI HOẶC HÀNH LÝ XÁCH TAY – TỐI ĐA 2 LÍT HOẶC 2KG VÀ TRỌNG LƯỢNG CỦA MỖI BÌNH KHÔNG VƯỢT QUÁ 0,5KG HOẶC 0,5 LÍT.

SOURCE: WWW.VIETNAMAIRLINES.COM.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG: 1. MỘT SỐ VƯỚNG MẮC LIÊN QUÁN ĐẾN HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ 2. MỐI QUAN HỆ GIỮA CHẾ ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ LUẬT HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG; 3. MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ HỢP ĐỒNG; 4. Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự (Dự thảo sửa đổi) và Luật Thương mại (Dự thảo sửa đổi); 5. HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH KHÔNG THỂ XEM LÀ HỢP ĐỒNG PHỤ CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG; 6. THỦ TỤC CÔNG CHỨNG CÁC HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH VỀ BẤT ĐỘNG SẢN – LIỆU ĐÃ PHÙ HỢP VỚI THỰC TẾ; 7. BÌNH LUẬN CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH VỀ NHÀ Ở TRONG LUẬT NHÀ Ở NĂM 2005; 8. TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH; 9.HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN (OPTION CONTRACT); 10. XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT TRONG HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (2); 11. HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

"GIẤY TRẮNG" HẾT HIỆU LỰC TỪ 1.1.2008: GIAO DỊCH NHÀ ĐẤT SẼ BỊ "TREO"?

 NGỌC HÀ

Theo Nghị định 84 của Chính phủ, đến ngày 1.1.2008, những giấy tờ nhà, đất hợp lệ cấp theo các quy định trước đây (hay còn gọi là “giấy trắng”) sẽ hết hiệu lực giao dịch. Điều này đồng nghĩa với việc hàng chục ngàn “giấy trắng” của người dân tại TP.HCM chưa kịp đổi sang giấy chủ quyền mới sẽ bị “treo” giao dịch. Nhiều ý kiến cho rằng, nên gia hạn thời gian để người dân kịp đổi “giấy trắng” sang “giấy hồng”, vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa thuận tiện cho công tác quản lý.

Muốn giao dịch phải đổi sang “giấy hồng”

Từ 1.1.2008, gần 60 loại giấy chủ quyền nhà, đất- “giấy trắng”- đã cấp qua các thời kỳ bằng khoán, văn tự mua bán nhà, quyết định giao đất… mới hết giá trị giao dịch. Thế nhưng, nhiều trường hợp khi ra công chứng hợp đồng chuyển dịch lại không được chấp thuận bởi cán bộ cho rằng một số loại giấy chỉ mang tính tham khảo chứ không có giá trị giao dịch, do không thể hiện quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà. Theo đó, đất chủ quyền “giấy trắng” muốn giao dịch phải xin cấp đổi sang “giấy hồng” mới nếu không muốn bị làm khó.

Từ đầu tháng 12 đến nay, nhiều người dân đã tranh thủ đi làm “giấy hồng” khiến lượng hồ sơ nhận vào tăng đáng kể. Phần lớn số hồ sơ xin cấp “giấy hồng” đã có “giấy trắng” và rơi vào những trường hợp đang thế chấp nhà, đất tại ngân hàng. Theo các chuyên gia nhà đất, trước đây đối với loại nhà, đất có “giấy trắng”, việc giao dịch đơn giản, sau khi hai bên ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì nộp hồ sơ tại cơ quan chức năng để sang tên. Còn hiện nay, đầu tiên chủ nhà cũ phải cấp đổi từ “giấy trắng” sang “giấy hồng”, sau khi công chứng nộp hồ sơ cho cơ quan chức năng để cấp đổi giấy chủ quyền từ chủ cũ sang chủ mới. Như vậy, về thủ tục phải mất gấp 2 lần, về thời gian phải 3- 4 lần so với trước. Trong khi đó, hiện chưa có một quy định nào bắt buộc nhà, đất đã có “giấy trắng” phải cấp đổi sang “giấy hồng”, “giấy đỏ” mới được sang nhượng!?.

Theo quy định, thời gian cấp đổi là 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trường hợp hồ sơ không đủ điều kiện cấp giấy hoặc cần bổ sung, trong thời hạn 15 ngày làm việc. Nhưng trên thực tế, khi xin cấp đổi “giấy trắng” sang “giấy hồng”, người dân gặp không ít khó khăn. Nhiều nhà tách thửa, nhập thửa, mua bán qua nhiều đời chủ nên hiện trạng không còn y như trong “giấy trắng”. Vì vậy, quy trình cấp “giấy hồng” cho những loại nhà này không thể đơn giản và rất khó làm nhanh. Nếu chênh lệch diện tích thì phải tìm hiểu kỹ phần đất dôi ra, phải niêm yết và được phường kiểm tra, xác nhận… Một vướng mắc khác liên quan đến trường hợp cấp đổi “giấy trắng” là trường hợp người dân đang thế chấp tại ngân hàng. Muốn được giải quyết, người dân phải trả hết vốn vay cho ngân hàng rồi mới được làm thủ tục cấp đổi sau. Tất cả những lý do này khiến thời gian cấp đổi “giấy trắng” kéo dài hơn nhiều so với trường hợp cấp “giấy hồng” thông thường. Theo các chuyên gia, với quy trình thủ tục như hiện nay, người dân nên mua bán, chuyển nhượng trước, rồi sau đó khi sang tên hẳn chuyển sang thủ tục cấp đổi “giấy hồng”. Bởi việc này thủ tục đơn giản và mất ít thời gian hơn so với việc xin cấp “giấy hồng” rồi chuyển nhượng.

“Giấy trắng” có thể được gia hạn đến 2010

Theo ước tính của cơ quan chức năng, TP.HCM còn khoảng 100.000 căn nhà có “giấy trắng” các loại, trong đó có hàng ngàn giấy đang nằm tại các ngân hàng (thậm chí nhiều giấy thế chấp đến năm 2009 mới đáo hạn). Nếu các quận, huyện chưa kịp làm “giấy hồng” thì sau ngày 1.1.2008, chắc chắn người dân sẽ gặp nhiều khó khăn khi muốn giao dịch. Được biết, hiện nay số lượng “giấy trắng” chiếm khoảng 30-40% tổng số giao dịch nhà, đất tại các ngân hàng. Nhiều công chứng viên lo ngại nếu thực hiện theo đúng Nghị định 84, tức không công chứng giao dịch nhà đất có “giấy trắng” vào đầu năm 2008, các giao dịch loại này sẽ bị ách tắc. Do vậy đổi sang “giấy hồng” là giải pháp mà nhiều ngân hàng chọn lựa.

Từ nhiều tháng qua, các quận huyện đã đề xuất thành phố xin gia hạn thêm thời gian giao dịch “giấy trắng”. Nhiều ý kiến cho rằng, nên công nhận hiệu lực của “giấy trắng” để giảm bớt gánh nặng về giấy tờ nhà đất cho người dân. Chấm dứt giao dịch “giấy trắng” sẽ gây ra sự xáo trộn lớn, nhất là vào thời điểm cuối năm, nhiều người dân có nhu cầu mua bán, thế chấp nhà đất để vay vốn làm ăn. Tuy nhiên, theo các cán bộ ngành TN -MT, giấy trắng chỉ là chứng nhận tạm thời của riêng TP.HCM trong một giai đoạn nhất định, trên giấy cũng không thể hiện số thửa, số tờ, không có tọa độ… nên rất khó cho việc quản lý. Hơn nữa, nghị định 84 chỉ qui định hết hiệu lực giao dịch của “giấy trắng” nhưng vẫn còn giá trị chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất của người dân. Thế nhưng, tại một số phòng công chứng, khi người dân nộp hồ sơ có liên quan đến “giấy trắng”, công chứng viên đã đề nghị nên cấp đổi sang “giấy hồng” trước khi thực hiện giao dịch. Bởi theo họ, có một số loại “giấy trắng” không thể hiện được quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà!?

ông Bùi Ngọc Tuân, Vụ phó Vụ Đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), cho biết: “Theo tinh thần của Nghị quyết 07 năm 2007 của Quốc hội, “giấy trắng” có thể được gia hạn đến hết năm 2010. Hiện tại, bộ này đang dự thảo nghị định hướng dẫn Luật Đất đai, trong đó có nội dung gia hạn nói trên để Chính phủ có thể ban hành vào tháng 1.2008″. Như vậy trong vòng 3 năm tới, nhiều khả năng các loại “giấy trắng” sẽ kịp đổi sang giấy chủ quyền mới, vừa đảm bảo tính pháp lý, vừa thuận tiện cho công tác quản lý.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT VÀ ĐỜI SỐNG

Tranh chấp tài sản thuộc quyền sở hữu chung tại xã phước lộc, huyện tuy phước, bình định: Không yêu cầu vẫn… "bị" cấp sổ đỏ (!?)

Bà Đễ trên phần đất đang tranh chấp

Văn phòng đại diện báo Đời sống & Pháp luật tại Bình Định vừa nhận được đơn của bà Trần Thị Đễ ở thôn Trung Thành, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, Bình Định, khiếu nại về việc gia đình bà không yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) nhưng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tuy Phước vẫn… tự ý cấp sổ đỏ (?).

Từ những vụ việc

Theo đơn trình bày của gia đình bà Trần Thị Đễ và anh Bùi Văn Bảy (con bà Đễ), với PV báo ĐS &PL, nguyên thửa đất đang tranh chấp giữa Đễ và Đào Thị Ngọc Lan là do cha mẹ chồng bà là Bùi Xí và bà Nguyễn Thị Chín, lúc sinh thời tạo lập. Hai ông bà sinh được 3 người con. Trưởng nam là ông Bùi Xuân (chồng bà Đào Thị Ngọc Lan), trưởng nữ là Bùi Thị Nhơn và chồng bà là Bùi Nhứt. Sau khi cha mẹ chồng bà qua đời thì ông Bùi Xuân lấy quyền là trưởng nam chiếm hết nhà, đất vườn của hai em, ép vợ chồng ông Bùi Nhứt ra ở góc vườn. Lúc đầu chia cho vợ chồng bà 200m2 nhưng sau khi ông Bùi Xuân chết, thì vợ ông Bùi Xuân là bà Đào Thị Ngọc Lan làm sổ đỏ chỉ để mẹ con bà 100m2 đất ở (gia đình bà ở ổn định từ 1965 đến nay), còn 100m2 là đất dùng chung.

Đến năm 1994, bà Lan mời địa chính xã về đo lại khoảnh đất, đo trùm lên 200m2 đất của bà đang sử dụng và đo bao luôn phần đất phía sau có thửa số 442 là đất gò mả có diện tích 104m2 (hiện nay bà Lan đang quản lý) và đứng tên chủ sử dụng thửa đất 425 là đất thổ cư với phần diện tích 1.279m2. Vô tình chính quyền địa phương đã “biếu luôn” cho bà Lan phần đất 104m2 của Nhà nước đang quản lý mà không tốn một xu nào (!?).

Không bằng lòng với quyết định của chính quyền địa phương và việc làm sai trái của bà Lan từ năm 1984, gia đình bà Đễ gửi đơn đến các cơ quan chức năng nhờ can thiệp, giải quyết.

UBND huyện Tuy Phước tiến hành xác minh và ra Quyết định số 707/1998/QĐ- CT ngày 15.10.1998 nêu rõ: “…thừa nhận quyền sử dụng thửa đất có số hiệu 551, tờ bản đồ số 9 với diện tích 100m2 của bà Trần Thị Đễ đã sử dụng từ năm 1965 cho tới nay là hợp pháp… Phần diện tích phía trước nhà bà Đễ có diện tích 90, 65m2 trong đó có một giếng nước, hai gia đình sử dụng chung từ năm 1965 đến nay được giữ nguyên hiện trạng để sử dụng chung”. Ngày 15.1.1999, UBND huyện Tuy Phước tiếp tục ra Quyết định số 17/1999/QĐ-UB giữ nguyên điểm 1, điểm 2 Điều I, điều chỉnh lại điểm 2 Điều I, của Quyết định số 707/1998/QĐ-CT ngày 15.10.1998: “…diện tích phía trước nhà bà Đễ có diện tích là 90,65m2, nay xác định là 79m2 …”.

Trên cơ sở kiểm tra hiện trạng và hồ sơ thu thập được, Sở Địa chính đã đi đến kết luận trình lên UBND tỉnh và đề xuất: Thống nhất với Quyết định số 17/1999/QĐ-UB ngày 15.01.1999, của UBND huyện Tuy Phước “Khu đất nói trên là do cha mẹ để lại cho con chứ không phải đất của bà Lan cho vợ chồng bà Trần Thị Đễ và ông Bùi Nhứt xây dựng nhà ở. Việc bà Đào Thị Ngọc Lan đòi lại đất bà Đễ ở ổn định từ năm 1965 đến nay là trái với Điều 2 khoản 2 Luật Đất đai năm 1993”.

Đùng một cái, ngày 30.4.2007, bà Lan khởi kiện ra TAND huyện Tuy Phước đòi đất của gia đình bà Đễ kèm theo đơn bà nộp cho Toà án hai sổ đỏ, một sổ mang tên bà với diện tích 1.226m2, còn một sổ mang tên Trần Thị Đễ với diện tích 100m2 (trong khi gia đình bà Đễ không yêu cầu làm sổ đỏ, và bà Đễ cũng chưa bao giờ ký vào hồ sơ xin cấp sổ đỏ).

Trao đổi với chúng tôi, bà Võ Thị Thanh Thuỷ – chuyên viên phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Tuy Phước cho rằng: “Trong thời điểm đó (2001- 2002), việc làm sổ đỏ mang tính đại trà nên hộ bà Lan vẫn được xét cấp còn trường hợp bà Đễ khi xem xét chữ ký, qua hai lần ký (phiếu đăng ký và biên nhận hồ sơ nhà ở, đất ở và đơn xin đăng ký và cấp giấy chứng nhận QSD đất cho bà Đễ – PV) đều khác nhau. Do đó, vấn đề cấp giấy chứng nhận cho bà Trần Thị Đễ là vi phạm về thủ tục. Hiện nay, giấy chứng nhận QSD đất của bà Trần Thị Đễ còn lưu giữ tại phòng Tài nguyên và Môi trường, chúng tôi đã báo cáo vụ việc lên Trưởng phòng nhưng vẫn chưa giải quyết vì còn đang chờ xem lại quyết định của UBND tỉnh về vụ việc tranh chấp giữa gia đình bà Đễ và bà Lan”.

Xử… nhưng không xét!

Ngày 05.9.2007, TAND huyện Tuy Phước đã mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án “tranh chấp tài sản thuộc sở hữu chung và quyền sử dụng đất”, tuyên: “…diện tích thực tế phù hợp với diện tích trên bản đồ là 56m2, có giới cận như sau: Tây giáp nhà bà Trần Thị Đễ dài 8m, Nam giáp nhà bà Đào Thị Ngọc Lan dài 8m, Bắc giáp thổ cư ông Phạm Sỹ Chương dài 6m, Đông giáp đường đi trong xóm dài 2,8 m; hiện tại anh Bảy đã xây chuồng bò 9,52 m2, nhà tắm 2, 8m2 trên phần đất này. Nếu chia đôi phần đất này sẽ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt cho gia đình bà Đễ. Tại phiên toõ, bà Lan đồng ý chia theo giá trị bằng tiền là hợp tình, hợp lý nên toà chấp nhận …”.

Vì sao gia đình bà Đễ không có đơn yêu cầu cấp sổ đỏ nhưng vẫn được cấp? Sổ đỏ đã cấp chính quyền địa phương lại không giao cho bà Đễ mà lại đưa cho bà Lan? Bà Đễ đã có đơn yêu cầu UBND huyện Tuy Phước thu hồi hai sổ đỏ nhưng UBND huyện không trả lời thẳng vào khiếu nại của gia đình bà Đễ mà lại trả lời việc bà Đễ kiện ra Toà chia tài sản chung? Điều đáng nói hơn nữa là tại sao TAND huyện Tuy Phước khi xử lại căn cứ hai sổ đỏ này để buộc gia đình bà Đễ phải chia phần tài sản trước mặt nhà là 56m2 (nguyên thuỷ là 90,65m2) cho bà Lan mà không tìm hiểu rõ nguồn gốc?

Trao đổi với PV báo ĐS &PL, luật sư Ngô Xuân Đào – Đoàn Luật sư Bình Định nhận xét: “Thứ nhất: Gia đình bà Đễ không yêu cầu cấp sổ đỏ vì vụ việc đang tranh chấp nhưng không hiểu sao chính quyền địa phương lại cấp sổ đỏ cho bà Đễ nhưng lại giao cho bà Lan cất giữ (?),đến khi bà Lan kiện bà Đễ ra toà bà Đễ mới biết phần đất mình đã có sổ đỏ. Thứ haià: Bản thân bà Đễ không biết chữ, biết viết, đơn xin cấp sổ đỏ là hoàn toàn giả mạo. Bởi vì, đơn xin cấp sổ đỏ của bà Đễ và bà Lan là cùng một chữ viết, ký cùng một ngày. Hơn nữa, bản thân bà Đễ không biết chữ nhưng trong đơn chữ viết, chữ ký lại chân phương, rõ ràng… (?)”.

Hy vọng, tại phiên toà phúc thẩm tới đây, TAND tỉnh Bình Định sẽ có một phán quyết khách quan, đúng pháp luật, nhằm bảo vệ quyền lợi cho công dân.

Đ.K

Báo đời sống và pháp luật

CỔ PHIẾU THƯỞNG: BẢN CHẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP HẠNH TÓAN

Phan Long, CPA
Monash University, Australia

Tại thời điểm đầu năm 2007 này, thị trường chứng khoán tại Việt Nam đang phát triển “nóng”. Giá thị trường của cổ phiếu tăng cao cùng với sự kỳ vọng lớn lao của nhà đầu tư trước những thông tin công bố chia cổ tức của các doanh nghiệp niêm yết theo quy định của Uỷ ban chứng khoán (trước ngày 20/1). Trong đó, giá thị trường của cổ phiếu của những công ty có kế hoạch chia cổ tức bằng cổ phiếu tăng vọt do nhà đầu tư hi vọng sẽ được sở hữu những cổ phiếu giá rẻ nếu nắm giữ cổ phần của các công ty này. Bài viết này nhằm cho độc giả thấy rõ bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu và đưa ra hướng xử lý kế toán đối với các bên liên quan.

Bản chất của cổ phiếu thưởng
Cổ phiếu được chia theo cổ tức thường được gọi là cổ phiếu thưởng. Cổ phiếu thưởng không được coi là cổ tức thực sự bởi vì cổ tức này không được thanh toán bằng tiền. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu chỉ làm tăng đến số lượng cổ phiếu lưu hành mà các cổ đông nắm giữ. Chính vì thế, về bản chất, nó làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu sau khi chia.
Thông thường cổ phiếu thưởng được chia theo một tỷ lệ nhất định. Ví dụ: Đại hội đồng cổ đông Công ty Cổ phần Tân Tạo nhất trí chia toàn bộ cổ tức bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 5:1 (vnexpress.net, 2007). Điều đó có nghĩa là cổ đông nắm giữ 05 cổ phiếu cũ sẽ được “thưởng” 01 cổ phiếu mới phát hành, và tổng số cổ phiếu lưu hành sẽ tăng lên 20%. Khi đó chúng ta có thể thấy kết quả của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu có thể dẫn đến giá trị của mỗi cổ phiếu giảm 20% do tổng giá trị vốn chủ sở hữu không thay đổi.
Xử lý kế toán
Cổ phiếu thưởng làm tăng số lượng cố phiếu lưu hành và làm giảm giá trị của mỗi cổ phiếu. Tuy nhiên, xử lý kế toán lại không giống nhau trong mọi trường hợp, và phụ thuộc vào yếu tố giá trị của cổ phiếu thưởng, có nghĩa là tỷ lệ chia. Theo thông lệ, khi tỷ lệ cổ phiếu thưởng nhỏ vào khoảng 20% – 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ. Xử lý kế toán trong trường hợp này sẽ được minh hoạ bởi ví dụ dưới đây. Những trường hợp tỷ lệ cổ phiếu thưởng lớn hơn 25% được gọi là phát hành cổ phiếu thưởng lớn, và trường hợp này ít xảy ra. Một ví dụ điển hình của phát hành cổ phiếu thưởng lớn là vào năm 1973, hãng Walt Diney công bố tỷ lệ cổ phiếu thưởng 100%, có nghĩa là cứ 01 cổ phiếu nắm giữ sẽ được nhận thêm 01 cổ phiếu mới và như thế số lượng cổ phiếu lưu hành tăng lên gấp đôi. Điều đó dẫn đến giá trị cổ phiếu bị “loãng”, làm cho giá thị trường của cổ phiếu bị sụt giảm.
Ví dụ minh hoạ trường hợp phát hành cổ phiếu thưởng nhỏ:
Công ty ABC có 100.000 cổ phiếu lưu hành với mệnh giá $1,00 và với giá thị trường là 6,60$. Như vậy tổng giá trị thị trường của ABC là 100.000 x $6,60 = $660.000.
Báo cáo tài chính ngày 31/12/XX của ABC có số liệu như sau:
– Vốn cổ phần thường lưu hành (100.000 cổ phiếu) $100.000
– Lợi nhuận chưa phân phối $200.000
Tổng vốn chủ sở hữu $300.000
Đại hội đồng cổ đông của ABC quyết định chia toàn bộ lợi nhuận bằng cổ phiếu theo tỷ lệ 10:1. Có nghĩa là sẽ ban hành 10.000 cổ phiếu mới. Sau khi chia, ABC sẽ có tổng cộng 110.000 cổ phiếu lưu hành.
Giá trị cổ phiếu mới phát hành là: $200.000 : 10.000 = $20
Giá trị cổ phiếu mới phát hành theo mệnh giá là: $1,00 x 10.000 = $10.000
Chênh lệch giữa giá trị cổ phiếu theo giá phát hành và theo mệnh giá = $200.000 – $10.000 = $190.000
Sau khi chia cổ phiếu thưởng Báo cáo tài chính của ABC có số liệu như sau:
– Vốn cổ phần thường lưu hành (110.000 cổ phiếu) $100.000 + $10.000 = $110.000
– Thặng dư vốn $190.000
Tổng vốn chủ sở hữu $300.000
Theo như ví dụ trên thì giá trị cổ phiếu mà cổ đông nắm giữ sau khi được chia sẽ không thay đổi so với trước khi được chia (đều bằng $300.000). Trường hợp này đã ngoại trừ các yếu tố tác động đến giá trị của cổ phiếu trên thị trường như cung – cầu, kỳ vọng của nhà đầu tư,… mà chỉ tập trung đến tác động của việc chia cổ phiếu thưởng.
Xử lý kế toán đối với trường hợp chia cổ phiếu thưởng lớn sẽ đề cập trong bài khác do việc “làm loãng” cổ phiếu quá lớn tác động đến giá trị cổ phiếu.
Tác động đến giá trị thị trường của cổ phiếu
Theo suy luận logic thông thường, cổ phiếu thưởng có thế:
(1) không làm ảnh hưởng đến giá trị của công ty
(2) làm tăng giá trị của công ty
(3) làm giảm giá trị của công ty
Quan niệm chuẩn về cổ phiếu thưởng là nó không làm thay đổi giá trị tài sản của nhà đầu tư cũng như của doanh nghiệp. Theo ví dụ trên, giá trị thị trường của ABC là $660.000. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, số cổ phiếu lưu hành là 110.000 cổ phiếu, và mỗi cổ phiếu có thế có giá trị là $660.000 : 110.000 = $6,00.
Trường hợp một cổ đông năm giữ 1000 cổ phiếu trước khi chia, có giá $6.600. Sau khi chia cổ phiếu thưởng, cổ đông đó có 1.100 cổ phiếu và tổng giá trị của nó có thể sẽ là 1.100 x $6,00 = $6.600. Như vậy, cổ phiếu thưởng, thực chất, không có ảnh hưởng về mặt kinh tế. Và trên lý thuyết, việc xác định tỷ lệ chia càng cao thì giá trị cổ phiếu càng giảm và sẽ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của số cổ phiếu ban đầu mà cổ đông nắm giữ.
Tuy nhiên, thực tế thị trường lại có khác biệt rất lớn. Việc chia cổ phiếu thưởng sẽ tác động đến tâm lý được mua “rẻ” của số đông nhà đầu tư, dẫn đến các nhà đầu tư tìm cách mua cổ phiếu trước khi chia cổ phiếu thưởng đã làm cho cầu về cổ phiếu tăng cao. Hơn nữa, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu được các nhà đầu tư Việt Nam “diễn giải” là doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận đạt được để tái đầu tư, cũng khiến cho kỳ vọng của nhà đầu tư về sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Các yếu tố này góp phần đẩy giá của cổ phiếu lên cao. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nơi các nhà đầu tư đầu tư theo phong trào và “mách nước” nhiều hơn là có sự phân tích kỹ càng nhiều yếu tố, và đặc biệt đúng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về lâu dài việc phát hành cổ phiếu thưởng tràn lan có thể dẫn tới làm giảm giá thị trường của cổ phiếu.

Tài liệu tham khảo:
– Black, F. (2004). Why firms pay dividends. fundamentals of corporate finance. M. Tully, McGraw-Hill. 3e: 657-659.
– vnexpress.net.(2007).”Cổ tức kích cổ phiếu tăng giá”.[Internet].
Link: http://www.vnexpress.net/Vietnam/Kinh-doanh/2007/01/3B9F2519/
– Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác

————————————-
Bản quyền http://www.kiemtoan.com.vn

KÍCH THÍCH BỘ NÃO SÁNG TẠO

Giống như những vận động viên leo núi, họ trèo lên đỉnh núi là để tìm kiếm lời giải cho những bài toán hóc búa về chinh phục đỉnh cao. Và chỉ khi đạt tới đỉnh, họ mới tìm thấy nó. Tuy nhiên, hết đỉnh cao này rồi lại đến đỉnh cao khác, con đường vươn tới sáng tạo không ngơi nghỉ.

“Văn hóa toán đố”
Bill Gates chưa bao giờ mất đi hứng thú đối với các bài toán đố. Không hiếm các buổi tối, Bill và vợ Melinda ở nhà chơi trò lắp hình làm từ những mảnh gỗ. Gia đình Bill thường mua hai bộ giống nhau và thi xem ai là người xếp xong trước. Trong bữa ăn tối, khi đang chờ người phục vụ đưa lên món tiếp theo, Bill hay đề ghị mọi người vẽ bản đồ nước Mỹ lên giấy ăn, người chiến thắng là người vẽ chính xác nhất.
Năm 1986, Bill Gates mua một quần thể gồm bốn nhà nghỉ nằm trên bờ biển Hood Canal ở vịnh Puget. Gia đình Bill và những nhân viên của Microsoft thường chơi “trò chơi vi mô” – một cuộc thi độc đáo và kỳ lạ, những người chiến thắng được đánh giá rất cao.
bill_gates1.jpgTrong trò “Chúng ta hát”, sau khi ai đó xướng lên một từ, mọi người phải hát bài hát trong đó có từ đó. Một lần, từ đưa ra là “biển”, đang chơi thì Bill đi ra bãi biển, một lúc sau mọi người nghe thấy từ trong bóng tối vang ra một giọng hát quen thuộc: “Từ biển xuất hiện một con rồng thần thoại…”.
Khi nhân viên của Microsoft đi công tác, họ có rất ít thời gian để thăm danh lam thắng cảnh, Microsoft luôn tổ chức sao cho mọi người luôn ở bên nhau và chơi các trò chơi có tính cạnh tranh quyết liệt. Khát vọng chiến thắng là đặc tính chung của tất cả mọi người trong Tập đoàn Microsoft. Để giành chiến thắng, Microsoft không dừng bước trước bất cứ một vật cản nào. Phương châm của Microsoft là “hành động quyết liệt”,”tiến hành các cuộc chiến cảm tử”, “chặn nguồn oxy” của các đối thủ cạnh tranh.
Một trong những khái niệm mà các nhân viên Microsoft thường dùng để tả về tập đoàn của mình là “trại toán học”. Lòng khao khát vượt lên trên thể hiện rõ nét trong những câu đố, các trò chơi đùa giải trí rất thông dụng ở Microsoft. Nghịch lý ở chỗ, các trò giải trí đáng ra là để nghỉ ngơi và giải tỏa căng thẳng thì lại trở thành điều gây áp lực nhất.
“Đế chế” của Microsoft tại Redmond (bang Washington, Mỹ) là một quần thể bao gồm 82 tòa nhà, rộng gấp chín lần Viện bảo tàng Louvre, tương đương diện tích của Lầu Năm Góc. Tại đây có cả bộ phận vận tải, thư viện, xưởng phim, bảo tàng, cửa hàng, sân đá bóng và bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật. Nhân viên được tự do hoàn toàn về mặt thời gian, chỉ cần họ làm tốt công việc của mình.
Những điều đối với các công ty khác bị coi là kỳ quặc và không được phép thì ở đây hoàn toàn là có thể.
Hãy luôn trong trạng thái bị đói
Phong cách phóng khoáng ngụy tạo này là đặc điểm chung của tất cả những người làm việcmicrosoft.jpg trong ngành công nghiệp phần mềm chứ không riêng gì ở Microsoft, nhưng nếu so sánh Microsoft với các công ty công nghệ cao khác thì Microsoft vẫn kỳ quái hơn nhiều.
Nhân viên Microsoft bay trên những chuyến bay bình thường, nghỉ ngơi ở những khách sạn được xếp vào loại tốt nhưng không quá xa xỉ. Tập đoàn không có phòng ăn trưa dành riêng cho lãnh đạo cao cấp.
Gần như phòng làm việc của mọi nhân viên đều có kích thước 3x4m, bên trong được trang bị bằng loại gỗ không đắt tiền. Phòng làm việc của Bill Gates rộng hơn, nhưng những phóng viên đã từng có mặt ở đây đều nhận xét rằng chỗ làm việc của nhà sáng lập ra Microsoft rất bình thường, không đá hoa cương và chẳng có gì đặc biệt cả. Nhân viên Microsoft thường nói tập đoàn này là nơi bạn phải trồng cây rồi mới mong được hái quả.
Cuốn sách Inside out (Mặt trái) xuất bản nhân dịp 25 năm thành lập Microsoft đã có đoạn minh họa rõ nét về chính sách tiết kiệm này: “Để phòng xa, xin nhắc lại một điểm quan trọng có thể giúp chúng ta lúc nào cũng giữ vững vị trí tiên phong: hãy cố gắng đừng “béo phì” mà “hãy nên ở trong trạng thái đói”. Khó khăn và thiếu thốn thường nảy sinh sáng tạo”. Trong cuốn sách này bạn có thể tìm được câu châm ngôn ngắn gọn hơn: “Sự thừa thãi sẽ cản trở thành công”.
Một trong những chủ đề bàn luận thường xuyên của những lãnh đạo cao cấp ở Microsoft là khả năng diệt vong của tập đoàn. Bill Gates nghiêm khắc cảnh báo trong lễ kỷ niệm 25 năm thành lập Microsoft: “Nếu chúng ta có những quyết định sai lầm thì tất cả những gì chúng ta tạo ra được trong 25 năm qua sẽ tan thành mây khói”.
microsoft1.jpg“Một lúc nào đấy sẽ có ai đó bất ngờ theo kịp được chúng ta”, Bill viết trong cuốn sách Business@ the speed of thought (Kinh doanh và tốc độ tư duy), “Một ngày nào đó, một công ty non trẻ và táo bạo sẽ xuất hiện hất cẳng Microsoft ra khỏi đấu trường kinh doanh”.
Đây không chỉ là sự e ngại của một mình Bill. Steve Ballmer – đồng sự của Bill – viết: “Đối thủ cạnh tranh mới của chúng ta có thể xuất hiện bất ngờ từ “hư vô” và chỉ trong một đêm đánh gục chúng ta”. Hoặc Jeff Raikes: “Nếu như chúng ta không luôn có những quyết định mới theo kịp nhu cầu của người tiêu dùng dựa vào những công nghệ tiên tiến nhất, thì bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể bị loại bỏ khỏi môi trường kinh doanh”.
Người ngoài cuộc có thể cười khẩy khi nghe vậy. Microsoft là một quả bóng bơm hơi quá lớn. Cho dù nếu như có ai đó dám chọc một lỗ vào quả bóng thì cũng phải rất lâu sau quả bóng mới xì hết hơi.
Mặc dù vậy, trên quan điểm lịch sử phát triển thì những gì mà Bill và Steve Ballmer nói là hoàn toàn có lý. Thông thường các công ty khó mà có thể giữ lâu được vị trí quán quân của mình, đặc biệt những công ty sống bằng công nghệ tân tiến sẽ tiêu vong nếu không kịp thời phản ứng trước sự thay đổi của công nghệ.
Chiến thắng hay chiến bại?
Những từ như “sáng tạo” và “tân tiến” là những khái niệm rất quan trọng đối với Microsoft. Mức độ sáng tạo của Microsoft, giống như ở bất cứ một công ty nào khác, phụ thuộc trước tiên vào khả năng sáng tạo và đổi mới của những nhân viên làm việc tại đây. Tập đoàn Microsoft biết rất rõ họ cần thu hút những người như thế nào và họ đủ tiềm lực vật chất để làm được điều này, mục tiêu là kích hoạt bộ não từng nhân viên sáng tạo.Xbox_360.jpg

Phương châm chính của Microsoft trong việc tuyển nhân sự là tìm được những “phiên bản của Bill”. Đây là ngôn ngữ lóng của Microsoft chỉ những người trẻ tuổi thông minh, khao khát vươn lên và đầy tham vọng nhưng lại chưa có kinh nghiệm thực tế, giống như Bill Gates trước đây. Các nhân viên tuyển nhân sự của Microsoft tự hào rằng không có ai xuất sắc hơn họ trong việc tìm được những người rất có tiềm năng, chứ không chỉ những người đã chứng tỏ được khả năng trong chuyên ngành của mình.
Trên quan điểm của Microsoft, các câu hỏi hóc búa không những chỉ kiểm tra được trí tuệ mà còn cả động cơ và ham muốn vươn lên của ứng viên. Cũng giống như kinh doanh hay thể thao, việc giải các bài toán đố có thể chia mọi người ra làm hai loại: chiến thắng và chiến bại. Chỉ có hai khả năng, bạn có thể tìm ra lời giải hoặc không.
Bất cứ một huấn luyện viên thể thao nào cũng có thể khẳng định với bạn rằng để giành được chiến thắng thì chỉ có khả năng thôi chưa đủ, bạn còn cần phải trở thành một kẻ “háu đói” ham muốn chiến thắng. Có cảm giác rằng những người biết cách giải những bài toán đố không những có trí tuệ cao mà còn chứa trong mình động lực sẵn sàng giải quyết tất cả những vấn đề đang thách thức họ.
Bằng cách đó, họ đã kích thích bộ não sáng tạo và những thành quả của họ tạo ra từ đó.

Tuổi trẻ

NHỮNG NGUYỄN TẮC CƠ BẢN CỦA LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI

Trước tiên, tài liệu này sẽ xem xét các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường và của hệ thống pháp lý được hình thành nhằm hỗ trợ nền kinh tế đó. Thứ hai, tài liệu này sẽ trình bày về các chủ thể chính của luật thương mại và mối quan hệ giữa các chủ thể đó. Cuối cùng, tài liệu sẽ đưa ra một số đề xuất thực tiễn nhằm cải cách luật thương mại một cách có hiệu quả.

1. LUẬT ÐIỀU CHỈNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Kinh tế thị trường tạo ra của cải cho xã hội thông qua việc trao đổi. Nhìn chung, các bên, vì mục đích riêng của mình, sẽ trao đổi hàng hoá và dịch vụ khi họ tin rằng việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ đó sẽ mang lại thêm lợi ích cho họ. Khi các bên đồng ý trao đổi, mỗi bên cần những gì mà họ nhận được hơn là những gì họ bỏ ra để trao đổi . Qua đó, các bên đều mong muốn được lợi hơn thông qua việc trao đổi. Nếu thị trường có thể vận hành một cách hoàn hảo, việc trao đổi không ngừng có thể phân bổ mọi nguồn lực tới các bên cần nó nhất, thúc đẩy tính hiệu quả trong việc tạo ra của cải xã hội và thỏa mãn mong muốn của mọi người.

Khác với nền kinh tế chịu sự quản lý của nhà nước, kinh tế thị trường dựa trên vô số các quyết định và sự nỗ lực của từng cá nhân. Các quyết định của người bán và người mua tạo ra cung và cầu, quyết định giá cả và cho biết số lượng hàng hoá cần sản xuất ra. Sự can thiệp quá lớn của chính phủ vào quá trình này sẽ dẫn tới sự thiếu hụt, dư thừa, hàng hóa kém chất lượng, lạc hậu và kém hiệu quả về kinh tế. Cơ chế can thiệp đó có thể còn không khuyến khích các cá nhân tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất.

Luật thương mại dành một phần rất lớn để thúc đẩy và bảo vệ cơ chế trao đổi thị trường nói trên. Bốn nguyên tắc cơ bản sau chi phối hầu hết các qui định của luật thương mại. Ðó là:

Quyền tự do hợp đồng. Quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý về các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lý của nền kinh tế thị trường. Từng cá nhân có thể tham gia vào các mối quan hệ pháp lý một cách nhanh chóng và trực tiếp mà không có bất kỳ sự can thiệp chính trị hay ngoại giao nào. Do vậy, các bên có thể đưa ra các quyết định kinh tế tức thì, có liên quan trực tiếp đến sự thành công của họ. Ngoài ra, các bên sẽ tự quyết định sự được mất trong phần lớn các cuộc thương lượng của họ (với điều kiện là không bên nào bị ở vị thế quá bất lợi).

Luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lý khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó. Một bộ luật thương mại có thể qui định cụ thể khi nào một bên đã thực sự gánh vác các nghĩa vụ pháp lý đó, ví dụ như là việc xác định ranh giới khi việc thỏa thuận về một thương vụ nào đó trở thành một cam kết mang tính hợp đồng. Nhưng các bên có thể tự thỏa thuận các điều khoản cho các cam kết của họ. Thậm chí ngay cả khi khi bộ luật thương mại có các qui định về việc thực hiện các giao dịch cụ thể nào đó, các bên vẫn có quyền tự do bãi bỏ hoặc thay đổi các quy tắc áp dụng. Một ví dụ điển hình là Ðiều 6 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Bán hàng hoá quốc tế, cho phép các bên “không phải áp dụng Công ước này hoặc…làm giảm bớt hay thay đổi hiệu lực của bất kỳ điều khoản nào của Công ước này,”

Tất nhiên, tự do hợp đồng cũng có những giới hạn của nó. Nhìn chung, các hợp đồng nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như buôn bán thuốc phiện bất hợp pháp, sẽ không xác lập các quyền hợp pháp. Bản thân các hợp đồng khác có thể có hiệu lực,song có thể dẫn tới các chế tài pháp lý độc lập, chẳng hạn như hợp đồng gây cản trở buôn bán cạnh tranh. Trong cả hai ví dụ trên, nói chung luật trước hết sẽ bảo vệ cho những người không phải là các bên của hợp đồng. Ngoài ra, một số bên như người tiêu dùng hay những nhóm đối tượng thiểu số có thể còn có những bảo vệ đặc biệt trong các đàm phán bất lợi với điều kiện là họ không thể tự bảo vệ đầy đủ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, các nước thường cho phép các bên mua bán tự đàm phán với nhau và không can thiệp sâu vào các hợp đồng riêng chẳng hạn như bằng cách ấn định mức giá “phải chăng” hay các tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc.

Bảo vệ các mong muốn hợp lý. Các bên tham gia các giao dịch thương mại thường dựa vào luật để bảo vệ các quyền của mình trong tương lai. Thường thì không thể hoặc không hiệu quả nếu các bên đồng thời ngừng việc thực hiện. Chẳng hạn, một người thợ thủ công nhận làm đồ đạc đặt đóng giờ đây sẽ dựa vào luật để buộc người mua thực hiện nghĩa vụ nhận đồ đạc và thanh toán tiền trong tương lai. Các quyền và nghĩa vụ đó có thể do luật áp dụng hay do thoả thuận giữa các bên xác lập. Toà án nên thận trọng khi thi hành các điều khoản trong thoả thuận, mà thông qua các điều khoản đó các bên đã thoả thuận bảo vệ mình trước những bất trắc trong tương lai.

Nhiều khi, khó có thể bảo vệ được các mong muốn của cả hai bên. chẳng hạn như người mua có thể ký hợp đồng với người bán buôn nào đó để mua cam vào một ngày nhất định theo mức giá nhất định. Thời tiết lạnh làm hỏng rất nhiều cam khiến cho mức giá hiện thời hay “giao ngay” tăng kỷ lục, khiến người bán giao cam bị lỗ lớn. Bên bán có thể đã không dự liệu được việc giá tăng cao như vậy, nhưng bên mua đã ký hợp đồng có kỳ hạn chủ yếu nhằm giúp họ tránh việc tăng giá đột ngột. Luật bán hàng của các nước khác nhau về cách thức giải quyết các tình huống bất ngờ này, song tất cả đều áp dụng việc phân bổ những rủi ro có thể thấy trong hợp đồng giữa các bên.

Ngăn chặn sự gian lận và lạm quyền. Các quyết định của thị trường không thể phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả trừ phi các quyết định đó là sản phẩm của sự lựa chọn tự do và được thông tin. Các giao dịch thương mại có sự gian lận hay cưỡng ép sẽ không có hiệu lực pháp luật. Những giao dịch đó còn làm mất đi lòng tin của mọi người vào thị trường và hệ thống pháp luật.

Không có gì ngạc nhiên khi luật thương mại nghiêm cấm sự gian lận và cưỡng ép. Chẳng hạn, các hợp đồng được xác lập trên cơ sở cưỡng ép hay gian lận của một bên nào đó sẽ không có hiệu lực, ký hậu giả mạo séc cũng không có hiệu lực và những con nợ đang trong quá trình phá sản không được hưởng các quyền lợi từ việc phá sản. Ðiều này chỉ áp dụng trong phạm vi nạn nhân của sự gian lận không thể bảo vệ mình mà không gây tổn hại đến bên thứ ba vô can. Ví dụ, theo luật của một số nước thì ai có được hàng hoá thông qua gian lận sẽ không có quyền sở hữu hợp pháp đối với hàng hoá đó, nhưng có thể chuyển quyền sở hữu hợp pháp hàng hoá đó cho một người mua vô can nào đó vì mục đích giá trị.

Giảm chi phí giao dịch. Luật thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia và thực hiện các giao dịch với chi phí thấp nhất cùng với hạn chế tối thiểu sự gian lận. Nếu chi phí thực hiện giao dịch cao thì các bên sẽ bỏ lỡ các cơ hội có lợi. Do vậy, các thủ tục cần thiết để xác lập một hợp đồng có hiệu lực, chẳng hạn như thủ tục chứng thực của cơ quan công chứng trong một số hệ thống pháp lý, đã không còn nữa. Một ví dụ khác nữa là hệ thống nộp thông báo về các giấy tờ bảo đảm theo Ðiều 9 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ đã được đơn giản hoá.

Có thể cách quan trọng nhất mà bộ luật thương mại hiện đại đã làm để giảm bớt các chi phí giao kết hợp đồng là quy định các điều kiện chuẩn cho những thoả thuận cụ thể. Chẳng hạn như các luật hiện đại điều chỉnh về mua bán hàng hoá chủ yếu là các quy định sẵn có về phân bổ rủi ro và hướng dẫn việc thực hiện, cho dù các bên vẫn có thể tự do thay đổi các quy định áp dụng thông qua thỏa thuận. Việc áp dụng các quy định đó hoàn toàn tiên liệu được khiến các bên không cần thiết phải quy định trong thoả thuận của mình những vấn đề và các trường hợp bất ngờ xa vời, từ đó đơn giản hoá đáng kể quá trình ký kết thoả thuận. Một ví dụ khác về việc đưa thêm điều khoản đó là luật điều chỉnh phương thức thanh toán bằng séc; mặc dù phần lớn các điều khoản về mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng có thể thay đổi theo thoả thuận, song việc sử dụng séc trong thương mại đã trở lên thuận lợi hơn thông qua việc tiêu chuẩn hoá pháp lý các quyền ghi trong loại séc thường thấy này.

2. CÁC LOẠI HÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI

Các quyền tài sản rõ ràng về đất đai, các tài sản kinh doanh hay sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Chủ sở hữu tài sản sẽ sẵn sàng hơn trong việc đầu tư để cải thiện khoản tài sản này nếu họ được đảm bảo là sẽ có lợi nhờ việc đầu tư. Tương tự như vậy, những nghi ngại về phạm vi hay thời hạn của quyền sở hữu sẽ gây cản trở lớn cho những cố gắng của các bên nhằm hợp tác hay trao đổi nguồn lực nhằm gia tăng giá trị của họ. Sự bình đẳng hay cơ sở của việc phân loại quyền tài sản đặt ra những vấn đề pháp lý vượt quá phạm vi điều chỉnh của luật thương mại, nhưng sự minh bạch của quyền tài sản có tác động rất lớn đến hiệu quả của các giao dịch thương mại.

Hợp đồng. Luật hợp đồng cơ bản là phương tiện để xác lập quan hệ hợp đồng, là những luật lệ quy định việc giải thích, thực hiện hợp đồng và quy định các chế tài giải quyết vi phạm. Luật hợp đồng không chỉ điều chỉnh các giao dịch thương mại mà còn mở rộng điều chỉnh nhiều hình thức cam kết nhất trí khác như giao dịch của người tiêu dùng, hợp đồng xây dựng và quan hệ lao động. Vì phạm vi điều chỉnh rộng, nên các thuật ngữ của luật rất khái quát.

Luật hợp đồng là nền tảng cho tất cả các hình thức luật thương mại khác vì mỗi luật thương mại trước hết là sự chi tiết hoá các dạng thoả thuận thương mại chuyên biệt. Những luật thương mại được cụ thể hoá này có thể được coi là luật lệ cho các hình thức giao dịch riêng biệt và được các thương gia lựa chọn do họ phải tốn nhiều thời gian để xem xét các vấn đề. Nhưng những luật thương mại chuyên biệt chi tiết hơn làm giảm bớt những khó khăn này bằng cách áp dụng những luật lệ này cho một kiểu giao dịch phù hợp mà không cần các bên phải dẫn ra các luật lệ đó. Tuy nhiên, tầm quan trọng của luật hợp đồng là rất rõ ràng vì các bên có thể tự do thay đổi các luật lệ bằng những điều khoản trong hợp đồng của riêng mình.

Bán hàng. Luật bán hàng là ví dụ điển hình của một lĩnh vực trong luật thương mại và là sự cụ thể hoá luật hợp đồng để điều chỉnh một loại hình giao dịch quan trọng cụ thể. Việc mua bán hàng hoá hữu hình trực tiếp thanh toán ngay không cần có bất kỳ một luật nào điều chỉnh. Thoả thuận mua bán một khối lượng hàng hoá trong tương lai với một mức giá nào đó được coi là một hợp đồng và dĩ nhiên do luật hợp đồng duy nhất điều chỉnh. Tuy nhiên, nhiều giao dịch bán hàng được thực hiện mà không có luật sư do các thương nhân bận rộn ở xa nhau, tiến hành giao dịch bằng thư từ, điện thoại, fax, sử dụng các đơn đặt hàng in sẵn, các mẫu vận đơn và hoá đơn. Do đó, cần có một luật bán hàng cụ thể để giải quyết những vấn đề như thời điểm và cách thức xác lập hợp đồng khi giao dịch diễn ra, bên nào phải chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hoá hay chịu rủi ro khi hàng hoá hư hỏng và chế tài nào sẽ được áp dụng khi hàng hoá không phù hợp với yêu cầu của bên mua hay khi bên mua không thanh toán. Như chúng tôi đã đề cập, các bên vẫn có thể tự do quy định các điều khoản điều chỉnh những vấn đề này, song hầu hết các giao dịch bán hàng diễn ra quá thường xuyên đến nỗi có lúc phát sinh chi phí khi giao kết hợp đồng theo tập quán gây ra.

Các công cụ thanh toán. Các giao dịch thương mại diễn ra thuận lợi nhờ có các hình thức thanh toán đa dạng và thuận tiện. Giao dịch bằng tiền mặt không còn phù hợp lắm trong các giao dịch thương mại. Kinh doanh hiện đại sử dụng nhiều công cụ thanh toán và hầu hết các công cụ này đều sử dụng các tiện ích ngân hàng. Mỗi giao dịch có thể được coi là một hợp đồng giữa người thanh toán, người được thanh toán và ngân hàng. Nhưng sẽ là không hiệu quả nếu phải xác lập một hợp đồng mới cho mỗi lần thanh toán, do đó các nước đề ra luật gồm các quy định hoàn toàn tiên liệu được để điều chỉnh các hình thức thanh toán. Thực tế, những giao dịch thanh toán này được quy định tỉ mỉ tạo điều kiện cho các giao dịch ngân hàng diễn ra hiệu quả và tăng mức độ an toàn cho người được thanh toán. Họ không còn nghi ngờ về hiệu lực của các hình thức thanh toán.

3. TÓM LƯỢC MỘT SỐ CÔNG CỤ THANH TOÁN

Séc. Séc là mệnh lệnh bằng văn bản đối với ngân hàng yêu cầu ngân hàng thanh toán cho ai một số tiền nhất định. Người viết séc (người ký phát) trước đó đã ký hợp đồng với ngân hàng (người bị ký phát) để ngân hàng có thể thanh toán cho người được thanh toán có tên trên séc. Thông thường người ký phát sẽ giao séc tận tay cho người được thanh toán, người này sẽ nạp séc vào tài khoản của mình ở ngân hàng và ngân hàng đó sẽ báo có vào tài khoản của người được thanh toán sau khi séc đó được gửi tới ngân hàng của người bị ký phát để thanh toán.

Chuyển khoản bằng Ðiện tử. Các bên mua bán và khách hàng đều thực hiện nhiều giao dịch thông qua thông tin điện tử hợp pháp. Hình thức phổ biến nhất là lệnh thanh toán của người thanh toán, người này gửi điện tín tới ngân hàng của mình để thanh toán cho người hưởng lợi thanh toán, thông thường thông qua việc báo có vào tài khoản của người được thanh toán. Cơ sở pháp lý của việc chuyển khoản bằng điện là hợp đồng giữa người thanh toán và ngân hàng, ở đây ngân hàng đồng ý tiến hành thanh toán sau khi nhận được điện tín phù hợp và an toàn. Tuy nhiên, những đạo luật và quy định hiện đại nhằm chuẩn hoá quyền và nghĩa vụ của người thanh toán, người được thanh toán và các ngân hàng của các bên đã hỗ trợ rất nhiều cho việc mở rộng hình thức thanh toán bằng điện bằng cách chỉ rõ những nguy cơ mà các bên thể gặp phải.

Thư tín dụng. Dù thực chất không phải là một công cụ thanh toán, nhưng thư tín dụng đóng một vai trò rất quan trọng trong cơ cấu thanh toán thương mại hiện đại, đặc biệt là trong bán hàng và do đó rất cần đề cập ở đây. Thư tín dụng là cam kết của một ngân hàng thanh toán cho đối tượng được chỉ định cụ thể của khách hàng sau khi xuất trình các giấy tờ phù hợp. Một giao dịch thư tín dụng điển hình gồm người mua chỉ thị cho ngân hàng của mình mở thư tín dụng cho người thụ hưởng là người bán ở xa và người bán này sẽ được thanh toán tại ngân hàng đó (hay một ngân hàng thành viên gần địa điểm của người bán) sau khi chuyển cho ngân hàng đó những giấy tờ cho phép người mua nhận hàng. Thông thường, những giấy tờ này sẽ được bên giao hàng phát hành, ở đây họ cam kết sẽ giao hàng cho người mua. Thư tín dụng cũng dựa trên hợp đồng, song việc chuẩn hoá các điều khoản tạo điều kiện cho các bên sử dụng công cụ hữu ích này mà không phải thương lượng chi tiết giữa các bên trong một hợp đồng theo tập quán.

Kỳ phiếu có thể Chuyển nhượng được (Negotiable Notes) (KPCTCNÐ). Loại giấy này được định nghĩa là một loại văn bản tượng trưng cho nghĩa vụ thanh toán của người vay đối với người cho vay một khoản tiền theo yêu cầu hoặc tại một thời điểm nào đó. Dĩ nhiên, các KPCTCNÐ thường dựa trên những hợp đồng mà thông qua đó một bên cho bên kia vay tín dụng. Ðiều mang lại tư cách đặc biệt cho các KPCTCNÐ đó là “tính chuyển đổi”, có nghĩa là người nắm giữ KPCTCNÐ có thể chuyển cho một người khác và trao quyền cho người đó được đòi người vay thanh toán mà không cần phải xem xét những biện hộ của người vay chống lại bên cho vay đầu tiên. Do đó, KPCTCNÐ là “toàn quyền” được thanh toán và có thể chuyển nhượng tự do giữa các bên sẵn sàng chấp nhận giấy đó để thanh toán. KPCTCNÐ không còn nhiều ý nghĩa trong thương mại vì các hình thức thanh toán khác nêu trên ngày càng chiếm ưu thế, nhưng tầm quan trọng lớn lao của nó trong quá khứ (tiền hiện đại cũng phát triển từ KPCTCNÐ do các ngân hàng phát hành) đã hình thành nên những khái niệm pháp lý phổ biến trong luật thương mại ngày nay.

Các Văn tự Sở hữu. Luật về Chứng từ Sở hữu tạo thuận lợi cho các giao dịch hàng hoá. Chứng từ này phần lớn là giấy biên nhận hàng hoá do những người chiếm hữu hàng hoá đó (“người nhận giữ”) cấp vì mục đích thương mại; người cấp thường là người chuyên chở hay người vận hành kho. Bên nhận hàng sẽ nhận hàng khi có chứng từ này. Dĩ nhiên, cơ sở của giao dịch này là hợp đồng giữa bên giao hàng và bên nhận giữ.

Luật thương mại cho phép chuyển nhượng những chứng từ này, do đó ai nắm giữ các chứng từ này một cách phù hợp sẽ có quyền đối với hàng hoá mà họ mô tả mà không bị ảnh hưởng bởi những khiếu nại hay biện hộ của bên đã gửi hàng cho bên nhận gửi nhằm chống lại người nắm giữ chứng từ. Do đó, những chứng từ này tượng trưng cho quyền hàng hoá và sở hữu chứng từ có nghĩa là sở hữu hàng hoá. Trong những trường hợp giao dịch thương mại khác, việc có luật nhằm chuẩn hoá quyền của các bên đối với các loại chứng từ khác nhau sẽ cho phép các bên thương mại hiểu rõ và có thể dựa vào các quyền nêu trong các chứng từ đó mà không phải mất nhiều chi phí.

Lợi quyền Bảo đảm. Lợi quyền bảo đảm là quyền dựa trên hợp đồng đối với một tài sản nhằm bảo đảm việc thanh toán nghĩa vụ. Nếu bên đi vay không thanh toán theo các điều khoản của hợp đồng, thì bên cho vay có lợi quyền bảo đảm (thường gọi là chủ nợ có bảo đảm) có quyền được giữ tài sản chỉ định đó (tài sản thế chấp) và bán đi để lấy tiền bù vào khoản nợ. Việc ký kết hợp đồng cho phép bên cho vay có quyền đối với bên đi vay. Các quy định về thông báo theo thủ tục áp dụng với bên cho vay có bảo đảm khi nắm giữ tài sản hay khi nộp giấy thông báo cho một cơ quan nhà nước sẽ xác lập quyền của bên cho vay đối trong các hàng hoá thế chấp đó đối với bên đứng ngoài hợp đồng. Do đó, cần coi lợi quyền bảo đảm là sự trao quyền tài sản cho bên cho vay có bảo đảm và có giá trị pháp lý về mặt nội dung như những quyền tài sản khác, ví dụ như quyền sở hữu.

Lợi quyền bảo đảm có thể áp dụng với hầu hết tất cả các hình thức tài sản. Lợi quyền bảo đảm đối với tài sản hữu hình tuy rất quan trọng trong giao dịch thương mại bất động sản, song không được luật thương mại của nước đó điều chỉnh. Lợi quyền bảo đảm đối với hàng hoá thương mại cũng được áp dụng đối với các tư liệu sản xuất, như các thiết bị công nghiệp. Nó cũng có thể được áp dụng đối với hàng hoá để bán lại (“hàng lưu kho”) và đối với các khoản nợ của bên thứ ba đối với bên đi vay (“các khoản phải thu”). Ðặc biệt, luật Hoa Kỳ đã đi tiên phong trong các khái niệm pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho lợi quyền bảo đảm đối với hàng lưu kho và các khoản phải thu. Lợi quyền bảo đảm cũng áp dụng đối với các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu và tài khoản ngân hàng cũng như đối với tài sản vô hình như nhãn hiệu hàng hoá và quyền tác giả.

Lợi quyền bảo đảm làm giảm rủi ro và phí tổn trong việc cho vay của bên có bảo đảm. Bên cho vay có bảo đảm có thể tin tưởng vào việc được thanh toán, dù cho bên vay không thanh toán được, chừng nào tài sản thế chấp vẫn còn đủ giá trị bán được; nói chung lợi quyền bảo đảm được tôn trọng trong trình tự giải quyết việc mất khả năng thanh toán. Do đó, bên cho vay có bảo đảm không cần phải giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế của bên đi vay để xác định xem nguy cơ làm ăn thua lỗ có tăng lên hay không. Chừng nào bên cho vay vẫn biết chắc giá trị của tài sản thế chấp, thì chừng đó họ vẫn tin tưởng vào việc thu hồi toàn bộ nợ. Biện pháp bảo đảm này có thể sẽ làm giảm lãi suất cho bên đi vay và khuyến khích hơn việc cho các doanh nghiệp nhỏ mới thành lập vay. Ðồng thời, các doanh nghiệp đi vay theo một thoả thuận bảo đảm không chiếm hữu tài sản có thể vẫn nắm giữ tài sản thế chấp để phục vụ sản xuất. Chỉ khi bên đi vay không trả được nợ, thì bên cho vay có bảo đảm mới nắm giữ tài sản thế chấp để thực hiện quyền được thanh toán. Ðóng góp của nhà nước đối với việc tạo lập quyền hưởng lợi này đó là quản lý hiệu quả các giấy thông báo được nộp lên hoặc được tìm thấy.

Hợp đồng cho thuê. Hợp đồng cho thuê là việc chuyển giao các quyền tài sản cụ thể trong một thời gian nhất định, đổi lại được hưởng một số tiền. Thông thường, bên cho thuê nhận các khoản thanh toán tiền thuê định kỳ trong suốt thời gian cho thuê và nhận lại tài sản vào cuối giai đoạn cho thuê. Khi bên thuê không trả được tiền thuê đúng hạn, thì bên cho thuê có quyền lấy lại tài sản ngay lập tức.

Hoạt động cho thuê đất đai hay các toà nhà thương mại do luật bất động sản chứ không phải do luật thương mại điều chỉnh. Hoạt động cho thuê hàng hoá đã trở thành một hoạt động thương mại rất quan trọng. Phương thức cho thuê là hình thức khác của việc cấp tín dụng bán hàng có giấy tờ bảo đảm, trong đó việc thanh toán tiền thuê thay thế cho việc thanh toán định kỳ các khoản đến hạn theo một thoả thuận có bảo đảm. Tất nhiên, sự khác biệt chính là bên thuê phải trả lại hàng hoá sau khi thời gian thuê kết thúc, trong khi bên đi vay được sở hữu hàng hoá hoàn toàn sau khi đã thanh toán xong nợ cho bên cho vay có đảm bảo. Thông thường, bên đi thuê không muốn hoặc không cần thiết phải sở hữu lâu dài các tài sản kinh doanh vốn dĩ có thể hao mòn hay lạc hậu. Ngoài ra, bên cho thuê có thể được hưởng các ưu đãi về thuế mà bên có đảm bảo không được hưởng và có thể chia sẻ những ưu đãi đó với bên đi thuê.

Cho đến gần đây, hoạt động cho thuê hàng hoá tại nhiều nước mới được điều chỉnh bằng luật tài sản và hợp đồng chung. Nhưng khi hoạt động cho thuê trở nên phổ biến và các bên thuê ngày càng sáng tạo trong việc xây dựng các điều khoản mới về cho thuê, thì các nước ngày càng áp dụng rộng rãi luật chuyên ngành để điều chỉnh các giao dịch cho thuê. Ðây là một minh chứng khác của quá trình phát triển chuyên biệt hoá của luật thương mại khi các loại hình giao dịch đặc thù trở nên phổ biến nhằm tạo thuận lợi cho các bên tham gia các quan hệ thương mại chuẩn mực như mong muốn.

Phá sản. Luật phá sản điều chỉnh việc bên mắc nợ mất khả năng thanh toán tất cả các nghĩa vụ, thông thường được hiểu là số nợ lớn hơn giá trị tài sản. Ban đầu phá sản là một thủ tục chỉ giới hạn áp dụng với các thương nhân, hiện tại một số nước vẫn tiếp tục duy trì giới hạn áp dụng này, song tại nhiều nước khác phá sản đã trở thành một giải pháp quan trọng cho người tiêu dùng bị mắc nợ quá nhiều. Luật phá sản rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường vì nó quy định thủ tục buộc chấm dứt các công ty mất khả năng thanh toán và thực hiện các quyền của chủ nợ ở mức độ cho phép. Do đó, việc ra đời luật phá sản sẽ khuyến khích chủ nợ cho vay tiền do cảm thấy yên tâm vì pháp luật sẽ bảo vệ quyền được thanh toán của họ và họ có thể ước tính chính xác mức độ rủi ro xảy ra.

Bản chất của phá sản là mang lại sự phân chia công bằng các tài sản không đủ trả nợ của bên mắc nợ cho các chủ nợ. Thông thường, một người có chuyên môn đủ điều kiện (thường gọi là “người thanh lý tài sản”) được toà án uỷ quyền tiến hành thu hồi và thanh lý phần lớn các tài sản của bên mắc nợ, thẩm định tính hợp pháp các khiếu kiện của chủ nợ và phân chia các tài sản đó theo các quy định pháp luật về phân chia tài sản. Toà án chịu trách nhiệm giải quyết tranh chấp giữa các bên liên quan. Quy định về phân chia tài sản có khác nhau giữa các nước, song nói chung các chủ nợ có bảo đảm có quyền nhận tài sản thế chấp trước tiên, tiếp đến là các chủ nợ được ưu tiên thanh toán theo quy định pháp luật (như người lao động hoặc cơ quan thuế). Tiếp đến, các chủ nợ thường sẽ phân chia số tiền còn lại theo tỷ lệ tương ứng với khoản cho vay của họ. Sự thiên vị quá đáng lợi ích dành cho một số chủ nợ có thể khiến các chủ nợ này gây áp lực đòi con nợ phá sản nhằm hưởng lợi trong việc phân chia tài sản nằm ngoài phạm vi phá sản.

Luật phá sản tồn tại là nhờ có một hệ thống các đạo luật thực thi các quyền của chủ nợ không được thanh toán để thoả mãn các khiếu kiện hợp pháp của họ đối với các bên mắc nợ mất khả năng thanh toán, thông thường bằng cách cho phép thu giữ tài sản của bên mắc nợ hoặc bằng lệnh buộc thanh toán. Ðiều quan trọng đối với nền kinh tế thị trường là các đạo luật này phải công bằng, đáng tin cậy và được các cán bộ toà án thực thi hiệu quả vì đây là những chế tài thực tiễn bảo vệ các quyền hợp pháp. Phá sản là một giải pháp phù hợp có khả năng thay thế cho các chế tài riêng rẽ nói chung trong trường hợp bên mắc nợ mất khả năng thanh toán và có quá nhiều chủ nợ. Trong những trường hợp như vậy, việc tranh giành thực hiện các chế tài của mình giữa các chủ nợ sẽ gây lãng phí tiền của cho họ và có thể phá hoại giá trị tài sản của bên mắc nợ do tiến hành phân chia hay thanh lý tài sản quá sớm và dẫn tới nguy cơ các chủ nợ được bên mắc nợ ưu tiên không được hưởng các ưu đãi công bằng.

Luật phá sản thường là một giải pháp khác cho việc thanh lý bên mắc nợ bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc đạt được một thoả thuận thoả hiệp giữa bên mắc nợ và các chủ nợ. Những thỏa thuận như vậy có thể là kéo dài thời hạn thanh toán nợ, xoá một phần nợ, chuyển đổi nợ thành cổ phần hay các quy định khác về tài chính mà chủ nợ hi vọng sẽ thu hồi nợ tốt hơn so với khi tiến hành thanh lý ngay lập tức.

Một số luật hiện đại không chỉ cho phép các thoả hiệp như vậy, mà còn tích cực khuyến khích bằng cách cho phép một khoảng thời gian để bên mắc nợ tiến hành thương lượng trước khi thanh lý, cho phép các thoả thuận ràng buộc không cần sự đồng thuận hoặc đình hoãn quyền thu giữ tài sản thế chấp của chủ nợ. Các luật như vậy nhằm bảo đảm giá trị sản xuất của các doanh nghiệp để bồi hoàn tốt hơn cho các chủ nợ và bảo vệ người lao động và cộng đồng chống lại việc sa thải lao động không cần thiết. Chương 11 của Luật Phá sản Hoa Kỳ vẫn là quy định về vấn đề tổ chức lại có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Chương 11 này đã gây ra nhiều tranh cãi trong nước do chỉ có rất ít các công ty có thể vươn lên thành công (khoảng 25%) và do nó gây trì hoãn và phát sinh chi phí cho các chủ nợ trong một số vụ nổi tiếng.

(Hết)

http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/doc_prospe

TÍNH LOGIC CỦA MỘT HỢP ĐỒNG KINH DOANH

Bạn đã từng bao giờ xem xét việc khiếu kiện một ai đó vì họ đã không thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng? Hoặc bạn đã từng bị người khác kiện chưa? Bất kể có kinh doanh hay không, rất nhiều khả năng, sẽ có lúc bạn phải tham dự như một đối tác trong một hợp đồng kinh doanh. Tuy nhiên, rất ít người trong số chúng ta nắm vững những cơ sở pháp lý của một hợp đồng kinh doanh nói chung.

shake-hand.jpgVề cơ bản, một hợp đồng là một sự thỏa thuận về việc sẽ thực hiện hay không thực hiện một điều gì đó. Một hợp đồng có tính logic có nghĩa là nó có sự ràng buộc về mặt pháp lý và có hiệu lực. Mỗi điểm thỏa thuận trong hợp đồng đều phải rõ ràng, có chủ thể đi kèm để tránh những tranh chấp và kiện tụng có thể xảy ra. Nếu hỏi bất cứ một luật sư nào, họ sẽ trả lời bạn rằng việc kiện cáo rất tốn kém nhưng lại không hiệu quả để giải quyết các tranh chấp về hợp đồng. Hơn nữa, bạn sẽ mất đi quyền kiểm soát mọi vấn đề liên quan đến tranh chấp khi với sự xuất hiện toà án.
Bạn cũng nên biết một điều quan trọng là không phải mọi hợp đồng đều phải được thể hiện trên giấy tờ. Có thể lấy bang California làm ví dụ, ở đây các thỏa thuận có thể thực hiện bằng miệng, và vẫn có hiệu lực pháp lý. Dù hợp đồng thể hiện bằng cách nào, muốn đảm bảo hiệu lực về pháp lý, nó đều phải bao gồm những yếu tố sau đây:
– Năng lực của các bên tham gia hợp đồng;
– Sự đồng tâm, nhất trí của các bên;
– Tính hợp pháp của khách thể trong hợp đồng (hay nội dung công việc của các bên tham gia thỏa thuận thực hiện trong hợp đồng không vi phạm luật pháp);
– Thể hiện sự kỹ lưỡng.
Nội dung cụ thể của các yếu tố này như sau:

1. Năng lực của các bên tham gia hợp đồng

Bất cứ ai cũng có thể tham gia k‎ý kết hợp đồng, trừ những đối tượng sau đây:
– Trẻ vị thành niên;
– Những người phạm tội – được coi là không có năng lực pháp lý để tham gia ký kết hợp đồng;
– Những người không đủ năng lực về trí tuệ.
Nội dung hợp đồng phải xác định rõ những bên tham gia thực hiện là ai, thông thường phải ghi đầy đủ tên họ. Địa chỉ và chức danh thì không nhất thiết mọi trường hợp đều phải ghi rõ. Ví dụ, trong một hợp đồng mua bán, bên cạnh việc ghi tên, thì cần xác định rõ thêm ai là người bán, ai là người mua, để mô tả rõ hơn về các bên tham gia thực hiện hợp đồng.
2. Tính nhất trí
Một hợp đồng được đảm bảo về mặt pháp lý yêu cầu phải thể hiện sự đồng tâm, nhất trí của các bên. Sự nhất trí này phải vừa thể hiện sự tự nguyện, lại vừa thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các bên. Sự nhất trí không được coi là tự nguyện khi mà nó đạt được bằng cách ép buộc, đe dọa, lừa gạt, những tác động phi lý khác. Nhiều cuốn sách đã viết về những tính chất phức tạp của các nhân tố này.
Tuy nhiên, chắc chắn khi một người tham gia ký kết hợp đồng, họ cũng đã dự tính những điều không đi đến sự nhất trí trong quá trình thực hiện, và trong trường hợp đó, có thể hủy bỏ hợp đồng và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Mặc dù trong mọi trường hợp, tuy không thể hiện một cách rõ ràng, nhưng đều đề cập đến sự can thiệp của luật pháp trong từng trường hợp cụ thể. Nói chung, hợp đồng là phải có sự đưa ra bàn bạc và chấp thuận bởi các bên.
3. Khách thể hay mục tiêu, mục đích của hợp đồng
Một hợp đồng bao giờ cũng bao gồm chủ thể và khách thể. Chủ thể của hợp đồng là các bên tham gia thực hiện cam kết, khách thể là nội dung mà các bên cam kết thực hiện, còn được gọi là mục tiêu hay mục đích của hợp đồng. Khách thể của hợp đồng phải có tính hợp pháp, có thể thực hiện được và có hạn định rõ ràng. Quan tòa sẽ tuyên bố một hợp đồng không có hiệu lực pháp lý khi nó được tạo thành bởi một hành động phi pháp. Ví dụ, việc buôn bán ma tuý là vi phạm pháp luật, và đương nhiên một người trả tiền để mua ma tuý sẽ không thoát tội cũng như không thể tìm kiếm sự giúp đỡ của quan tòa để lấy lại số tiền mà họ đã bỏ ra.
4. Tính kỹ lưỡng
Tất cả các hợp đồng đều yêu cầu phải được xem xét một cách kỹ lưỡng tất cả các điều khoản. Điều này cũng có nghĩa là mỗi bên đều phải đạt được một điều gì đó, thể hiện mối quan hệ giữa “cho” và “nhận”, “mất” và “được”.
contract.500.jpgKhi một bên đồng ý làm một điều gì đó (ví dụ như sơn toàn bộ ngôi nhà) hoặc không làm một điều gì đó (không bán ngôi nhà này cho bất cứ ai trong vòng 30 ngày), họ đều phải đạt được một điều gì đó hay có mục đích nào đó. Nói chung, nếu như bạn nói sẽ sơn toàn bộ ngôi nhà cho một ai đó, và muốn nhận được ở anh ta một số tiền trả công hay một cái gì đó đổi lại, nhất thiết phải được thỏa thuận rõ ràng, kỹ lưỡng và có ràng buộc. Bởi vì, nếu như không thể hiện sự ràng buộc này, bạn cứ sơn nhà và sau đó không đạt được mục đích mà bạn muốn đổi lại, bạn kiện anh ta ra tòa, anh ta hoàn toàn có thể nói trước tòa rằng anh ta không hứa hẹn và cam kết điều gì với bạn.
Một hợp đồng tất nhiên không được coi là logic và được luật pháp bảo vệ nếu như không được thể hiện bằng văn bản. Bởi vì, nó còn liên quan đến bất động sản, các khoản nợ nần và lợi nhuận. Đồng thời cũng cần phải lưu ý đến thời hạn thực hiện, vì quá thời hạn đó, hợp đồng sẽ hết giá trị pháp lý. Tuy nhiên, một số trường hợp ngoại lệ vẫn được sự bảo hộ của luật pháp.
Thông thường, khi các bên giao dịch với nhau và đi đến sự thỏa thuận đều dựa trên sự tin tưởng ở nhau. Tuy nhiên, cần lưu ý là một hợp đồng được soạn thảo tốt sẽ là sự bảo vệ tốt nhất cho bạn trong trường hợp nảy sinh tranh chấp. Trong thế giới kinh doanh hiện đại, bạn nên liên lạc với luật sư trước khi đặt bút ký vào bất kỳ một hợp đồng nào.
Để tránh bị mất thời gian và tiền bạc, bạn có thể có một luật sư riêng cho công ty để xem xét và tư vấn về mặt pháp luật đối với các vụ làm ăn kinh doanh mà bạn sẽ tiến hành. Tuy nhiên, nếu giá trị hợp đồng nhỏ, ví dụ chỉ khoảng 100 đô-la, và hợp đồng tuơng đối đơn giản, thì bạn chỉ cần tới sự trợ giúp của các văn phòng luật tại địa phương là đủ. Giá trị hợp đồng càng nhỏ, nội dung hợp đồng càng đơn giản, thì càng ít cần sự giúp đỡ của luật sư. Bạn có thể sử dụng những sự tư vấn đưa ra trong bài viết này.

SAGA.VN

BÀI VIẾT CÓ LIÊN QUAN VỀ HỢP ĐỒNG:

NGHIÊN CỨU MỘT VỤ TRANH CHẤP TRONG NGOẠI THƯƠNG

Diễn biến của một vụ kiện do trung tâm trọng tài quốc tế VIAC, bên cạnh phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam thụ lý. Chúng ta hãy cùng nhau nghiên cứu và thảo luận.
Nguyên đơn: Công ty TNHH THÉP THÀNH LONG (Người mua Việt Nam).
Bị đơn: Công ty XINXIN TRADING DEVELOPMENT CO.,LTD (Người bán Trung Quốc).
Ngày 15/5/2006 Nguyên đơn ký hợp đồng số TL/XX0306 mua của Bị đơn 750MT thép góc Q235 (+/- 10%) giá 445 USD/MT CNF FO cảng Hải Phòng theo Incoterms 2000.

  • Giao hàng chậm nhất 30/6/2006.
  • Thanh toán bằng L/C không huỷ ngang trả tiền ngay.
  • Điều 8 của hợp đồng quy định: trong trường hợp chất lượng của hàng ở cảng đến không phù hợp với hợp đồng, Người mua có thể khiếu nại Người bán bằng biên bản giám định do SGS cấp và gửi cho Người bán trong vòng 40 ngày kể từ ngày hàng đến cảng đến.

Ngày 17/5/2006, Nguyên đơn mở L/C số 009LC01061370002 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á cho Bị đơn hưởng lợi.
Ngày 8/6/2006 lô hàng đầu tiên 436,484 MT đã cập cảng Hải Phòng. Nguyên đơn tự thấy hàng không đủ tiêu chuẩn chất lượng nên đã không nhận hàng và thông báo cho Bị đơn về những khiếm khuyết của lô hàng.
Ngày 25/7/2006, Nguyên đơn đã kiện Bị đơn lên VIAC. Trong đơn kiện Nguyên đơn đưa ra bằng chứng nói Bị đơn thừa nhận lô hàng “có vấn đề nghiêm trọng” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 23/6/2006) và cam kết “sớm giải quyết vấn đề tái xuất hàng trong thời gian sớm nhất” (Trong công văn gửi Nguyên đơn ngày 27/6/2006).
Đồng thời trong công văn gửi cho Hải quan Việt Nam và cho Nguyên đơn, Bị đơn đã thừa nhận lô hàng không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo hợp đồng, và cam kết sẽ thay thế hàng trong thời hạn 10 ngày. Tuy nhiên đến nay Bị đơn vẫn chưa thực hiện việc thay thế lô hàng.
Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải trả khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% giá trị toàn bộ lô hàng, tương đương 26.700 USD, cộng với các khoản thiệt hại khác sẽ tính toán sau.
Trong bản tự bảo vệ ngày 1/10/2006 Bị đơn khẳng định đã giao hàng đúng hợp đồng là loại thép Q235B, cho rằng “dù mặt lô thép có vết chân chim trong phạm vi cho phép, nhưng không hề ảnh hưởng đến việc sử dung nó một cách bình thường”.
Bị đơn cho rằng Nguyên đơn đã đặt nhầm hàng vì sau đó ngày 2/8/2006 lại kí hợp đồng mua của Bị đơn thép Q345 với cung quy cách như hợp đồng TL/XX0306, nên không có thiện chí nhận hàng.
Lô hàng thứ hai 286,898 MT đưa lên thuyền ngày 18/6/2006 cập cảng Hải Phòng ngày 28/6/2006 nhưng Nguyên đơn không đến xem hàng. Bị đơn nhiều lần đề nghị Ngân hàng thanh toán nhưng không được thanh toán. Đồng thời Bị đơn đưa ra văn bản Nguyên đơn gửi cho Ngân hàng Đông Á trong đó đề nghị huỷ L/C ngày 20/6/2006.
Bị đơn cũng đưa ra lí do đã hơn 80 ngày nhưng chưa nhận được bất kì chứng từ nào của SGS tức là Nguyên đơn đã tự mình từ chối quyền yêu cầu bồi thường theo hợp đồng.
Trong văn bản trả lời Nguyên đơn phủ nhận việc mua nhầm hàng và nói rằng chất lượng lô hàng Bị đơn cung cấp là quá kém. Giám đốc bên Bị đơn cũng thừa nhận “hàng có vấn đề nghiêm trọng về chất lượng” nên không cần mời SGS giám định.
Nguyên đơn cũng khẳng định việc Ngân hàng Đông Á không tiến hành thanh toán là theo yêu cầu của Ngân hàng của Bị đơn. Nguyên đơn cho rằng việc Ngân hàng này yêu cầu Ngân hàng Đông Á ngừng việc thanh toán và trả lại bộ chứng từ là do họ cũng đã nhận ra bộ chứng từ không phù hợp với chất lượng của lô hàng trên thực tế và không phù hợp với quy định của hợp đồng.
Chúng ta có thể thấy rõ ràng là phía Trung Quốc đã vi phạm hợp đồng, tuy nhiên, với những hành vi dẫn tới hậu quả tước bỏ quyền lợi của Việt Nam, liệu phía Việt Nam có được bồi thường đầy đủ. Xin các Saganor nêu ra ý kiến của mình.

SAGA.VN – S.T

VÀO WTO, ĐẤT ĐAI CÒN THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN?

Khi hội nhập WTO, pháp luật về đất đai của Việt Nam sẽ có đổi mới? Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của Việt Nam sẽ ảnh hưởng tới cơ chế thị trường ra sao?

Trao đổi về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Hùng Võ nói: ”Một trong những quan điểm quan trọng của đề án xây dựng Luật Đất đai mới trình Quốc hội là bảo đảm tính tương thích về pháp luật trong quá trình hội nhập quốc tế, trong đó đã tính tới việc nước ta sẽ gia nhập WTO trong thời gian trước mắt”.

Đất đai: 1 trong 3 yếu tố đầu vào khi hội nhập

Thưa Thứ trưởng, ông có thể đưa ra những quy định nào trong Luật Đất đai năm 2003 để chứng minh về quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế của Luật này?

Chứng minh việc này không khó. Thứ nhất, trong Luật Đất đai năm 1993 có một Chương riêng để quy định về quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài, nhưng trong Luật Đất đai năm 2003 không còn Chương này nữa. Nhà đầu tư nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ở Việt Nam được pháp luật cư xử bình đẳng như các nhà đầu tư trong nước.

Thứ hai, Luật Đất đai năm 2003 đã cắt phần lớn cơ chế bao cấp về đất của Nhà nước, áp dụng hệ thống tài chính đất đai 1 giá đất phù hợp với giá thị trường.

Thứ ba, không có bất kỳ một quy định nào mang lại ưu đãi về đất cho các tổ chức kinh tế của Nhà nước, các thành phần kinh tế trong nước hoàn toàn bình đẳng về quyền sử dụng đất.

Thứ tư, quyền sử dụng đối với thửa đất là tài sản của người sử dụng đất, quyền tài sản đó được pháp luật dân sự bảo hộ như các tài sản khác và được tham gia thị trường bất động sản.

Thứ năm, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai được cải cách triệt để theo hướng phục vụ người sử dụng đất thông qua hệ thống dịch vụ công của các Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành về đất đai của Việt Nam có gì khác so với các nước thành viên khác của WTO, thưa Thứ trưởng?

Trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO, có một số việc chúng ta phải thực hiện ngay như bổ sung một số luật chưa có, đa số việc là phải cam kết thực hiện trong một thời gian nhất định (Việt Nam được 12 năm thực hiện các cam kết).

Mục tiêu đặt ra là sau thời gian đó chúng ta phải có một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh theo chuẩn mực của WTO và hệ thống thương mại phải tuân thủ các hiệp định của WTO dựa trên 4 nguyên tắc cơ bản là: “Tối huệ quốc đa phương”; “Ưu đãi quốc gia cho hàng hoá trong nước ngang bằng với hàng hoá nhập khẩu”; “Mở cửa thị trường cho hàng nhập khẩu”; “Cạnh tranh công bằng”.

Đối tượng điều chỉnh của các hiệp định này là hàng hoá vật thể, hàng hoá dịch vụ và hàng hoá trí tuệ. Cơ chế tác động trực tiếp lên hàng hoá mà các nước thành viên của WTO quan tâm là hải quan, hàng rào thuế quan, hàng rào phi thuế quan.

Với những điểm cốt yếu như trên khi hội nhập kinh tế quốc tế trong WTO, tưởng như vấn đề đất đai không có gì liên quan lắm. Lúc này, cần nhìn đất đai là 1 trong 3 yếu tố đầu vào của quá trình phát triển kinh tế – xã hội (đất đai, lao động, vốn). Đất đai có liên quan tới cơ chế ưu đãi cho đầu tư (giữa nước ngoài và trong nước); mở cửa thị trường cho đầu tư nước ngoài, trong đó có đầu tư xây dựng kinh doanh bất động sản; mở cửa thị trường dịch vụ trong đó có dịch vụ ngân hàng trong thế chấp bằng đất; bảo đảm tính công bằng về quyền tiếp cận đến quỹ đất của các thành phần kinh tế.

Hệ thống chính sách đất đai phải bảo đảm tính công bằng đối với mọi thành phần kinh tế trong nước và nước ngoài. Hệ thống pháp luật đất đai phải tương thích với pháp luật đất đai của các nước đã thực hiện xong các cam kết trong lộ trình hội nhập. So với các nước này, pháp luật về đất đai của nước ta còn một số điểm khác cần tiếp tục đổi mới.

Cụ thể: chúng ta chỉ công nhận 1 hình thức sở hữu toàn dân về đất đai (các nước công nhận đa sở hữu về đất đai); cơ chế Nhà nước thu hồi đất và giao hoặc cho thuê đất chưa thực sự phù hợp với cơ chế thị trường; doanh nghiệp nước ngoài chỉ được thuê đất của Nhà nước hoặc của tổ chức kinh tế trong nước, không được Nhà nước giao đất, không được thuê đất của hộ gia đình và cá nhân, không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thế chấp bằng quyền sử dụng đất chỉ được thực hiện với các tổ chức tín dụng nước ngoài có pháp nhân ở Việt Nam.

Quyền lợi, nghĩa vụ người sử dụng đất Việt Nam không khác thế giới

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ảnh hưởng như thế nào đến quá trình hội nhập kinh tế của nước ta, thưa Thứ trưởng?

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ. Bản chất các quyền năng về sở hữu đối với đất đai đã được thể hiện rất rõ trong Luật Đất đai năm 2003. Sở hữu về đất đai có đặc thù riêng, có phần “của riêng” và có phần “của chung”, không giống sở hữu đối với các đối tượng khác.

Chúng ta tiếp cận đến sở hữu đất đai bằng con đường chỉ công nhận hình thức sở hữu toàn dân và giao một số quyền năng sở hữu cho người sử dụng. Các nước khác lại sử dụng cách tiếp cận là công nhận nhiều hình thức sở hữu nhưng hạn chế lại để chuyển một số quyền năng sở hữu cho Nhà nước.

Quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai ở các nước. Về điều này, chúng tôi đã có dịp chứng minh về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai của nước ta không gây bất kỳ ảnh hưởng nào tới cơ chế thị trường trong vụ kiện xuất khẩu cá basa, tôm, hàng dệt may của nước ta. Các chuyên gia, các nhà đầu tư nước ngoài đã công nhận. Như vậy, điểm đến của ta và các nước khác là trùng nhau, chỉ khác nhau về giải thích thuật ngữ thôi. Tôi cho rằng đây là một ví dụ điển hình về phân tích cặp phạm trù “nội dung và hình thức”.

Một sự khác nhau quan trọng nữa, như Thứ trưởng đã nói ở trên, là có sự phân biệt về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là tổ chức nước ngoài, chúng ta đổi mới điểm này như thế nào trong lộ trình hội nhập?

Pháp luật về đất đai nước ta có đặt ra một nguyên tắc là tổ chức, cá nhân nước ngoài không được sở hữu quyền sử dụng đất ở Việt Nam.

Tôi cho rằng đây cũng chỉ mang tính hình thức vì tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất của Nhà nước có thời hạn có quyền và nghĩa vụ trong thời hạn đó như quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế trong nước được Nhà nước giao đất có thời hạn. Như vậy chỉ còn gọi tên động tác này là “Nhà nước giao đất” hay “Nhà nước cho thuê đất”. Lại cũng là cùng nội dung nhưng khác nhau về hình thức. Nếu sửa hình thức thuật ngữ mà không ảnh hưởng đến nội dung thì cũng nên làm.

Khi hình thức “Nhà nước giao đất có thời hạn cho tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài” được pháp luật thừa nhận thì vấn đề tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài nhận chuyển nhượng có thời hạn đối với quyền sử dụng đất; thuê đất của hộ gia đình, cá nhân; nhận thế chấp bằng đất đai cũng sẽ được pháp luật thừa nhận.

(Theo Vietnam Net tháng5/2006)

SỬ DỤNG ẢNH ĐỜI TƯ CÁ NHÂN PHẢI XIN PHÉP

Cựu Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc

Quy định sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được sự đồng ý của người đó, nếu dưới 15 tuổi thì phải có sự đồng ý của gia đình… có khả thi, thưa ông?

 

– Quy định như thế là chặt chẽ, phản ánh tình trạng lâu nay sử dụng hình ảnh cá nhân hơi dễ dãi. Nhưng theo tôi, đúng là phải tính đến tính khả thi. Hình ảnh trong sinh hoạt bình thường, chẳng hạn tường thuật về một hội thảo nào đó, mình lên phát biểu, người ta chụp đưa lên báo thì cũng phải xin phép à? Hoặc trong sinh hoạt nào đấy có hình ảnh cá nhân như lễ hội, mít tinh… thì như thế nào?

Thật ra sử dụng hình ảnh phải xin phép là thuộc về đời tư của người ta. Bộ luật Dân sự hiện hành cũng đã quy định rồi nhưng chưa nghiêm.

Nhưng với quy định như vậy cũng chưa đầy đủ và chưa thực hiện được?

Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có quyền:

1. Tự mình cải chính;

2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai;

3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

(Điều 25, dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi)

– Ý tôi muốn nói là tính khả thi. Tức là có chuyện phiền phức cho người có hình ảnh. Chẳng hạn bây giờ hình ảnh của một đồng chí lãnh đạo, hàng chục báo đưa thì đều phải đến xin phép à?– Quy định trong dự thảo Bộ luật về quyền của cá nhân đối với hình ảnh có ”đuôi” là ”trừ trường hợp pháp luật quy định”, vậy pháp luật quy định ở đâu?

– Cái đó tôi không thích lắm! Như thế người sử dụng luôn luôn ở trong tình trạng nơm nớp không biết đã hết các quy định chưa. Một người làm thế nào theo dõi hết những quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề ấy? Rồi thì hôm nay quy định thế này mai còn bổ sung thế khác? Như thế tạo ra tình trạng không ổn định về mặt tâm trạng giữa người trong giao lưu dân sự với nhau. Tôi rất mong là nên bỏ cách quy định ấy đi.

Hiện nay đã có quy định trường hợp nào sử dụng hình ảnh cá nhân không phải xin phép?

– Chưa, cho đến bây giờ chưa có. Hôm qua (Quốc hội thảo luận về dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi), có đồng chí phát biểu, kỳ này cái số ”theo quy định của pháp luật” còn hơn bộ luật hiện hành. Bằng cách đó chúng ta biến luật thành luật khung trong khi trên thực tế không có luật nào quy định thêm nữa. Nhưng như thế tạo nên tâm trạng: ”À, luật này vẫn đang là luật khung! Mới khung thế này còn chờ quy định cụ thể”.

– Theo ông, những trường hợp nào sử dụng hình ảnh không phải xin phép?

– Đấy là tuỳ vào  tính chất của việc sử dụng hình ảnh. Có lẽ được sử dụng là những hình ảnh trong sinh hoạt chung như tôi đã nói. Trường hợp sử dụng hình ảnh cá nhân đụng chạm đến đời tư người ta thì phải xin phép.

Vừa qua, có việc sử dụng hình ảnh đời tư của cá nhân, người mẫu đưa lên lên mạng Internet…?

– Cái đó là ”trộm” rồi! Cách làm không đẹp và động cơ không tốt! Như thế có thể bị kiện. Báo chí lâu nay cũng phải nghĩ mình chưa chặt chẽ với bản thân mình lắm!

Tương tự, bảo vệ quyền bí mật đời tư lâu nay đã làm khó các nhà văn, nhà báo, nhà viết sử sử dụng tư liệu về cá nhân trong lịch sử?

– Vấn đề là phải có thời hiệu của nó. Ngay bây giờ quyền xuất bản cũng thế! Tác giả đã chết bao năm rồi thì tác phẩm tự nhiên trở thành một tài sản chung và mọi người đều có thể sử dụng. Chẳng hạn, giữ bí mật đời tư thì làm sao tìm ra người thân. Chẳng hạn trước ở Việt Nam sau người ta sang Mỹ thì tìm thế nào?

– Hiện nay đã có quy định thời hiệu…?

– Mới quyền sử dụng tác phẩm có quy định thời hiệu trong luật về quyền tác giả.

Nhưng còn tư liệu lịch sử về đời tư của cá nhân?

– Tư liệu lịch sử thì dùng tư nhiên chứ việc gì phải xin phép ai nữa! Vấn đề là anh trích, nói từ đâu, nguồn gốc thế nào. Trừ tài liệu mật lại khác.

Nhưng có chuyện người viết sử về dòng họ, cá nhân nào đó nhưng con cháu của họ kiện xâm phạm bí mật đời tư?

– Vấn đề là anh tìm, trích tư liệu đó từ đâu. Nếu nó là nguồn tài liệu bí mật anh trích không xin phép ai cả, không xin phép gia đình thì rõ ràng trái luật. Nhưng còn tài liệu mọi người được sử dụng được thì việc gì phải xin phép. Chẳng hạn, tư liệu để trong thư viện mà lâu nay không ai đụng chạm tự nhiên anh lục ra thì anh sử dụng bình thường.

Trong luật, có trường hợp thu thập, công bố, sử dụng thông tin về bí mật đời tư theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, là cơ quan nào?

– Phải chờ luật quy định. Cơ quan có thẩm quyền là cơ quan trực tiếp quản lý vấn đề đó. Có thể là Bộ Văn hoá Thông tin.

Đó là công thức rất chung. Cái gọi là cơ quan có thẩm quyền cũng chỉ là cách gọi cho nói qua mà thôi, chứ chưa đề cao đầy đủ trách nhiệm của người quy định.

Tới đây mình phải cụ thể hoá?

– Trong trường hợp đó phải rất cụ thể! Vì dân có thể làm tất cả những gì pháp luật không cấm.

Xin cảm ơn ông!

Điều 31: Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điều 38: Quyền bí mật đời tư

Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

(Trích dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi)

Theo Vietnamnet 7/5/2005

CÁC THÔNG TIN KHÁC CÓ LIÊN QUAN

1. HIẾN XÁC PHẢI ĐƯỢC SỰ ĐỒNG Ý CỦA GIA ĐÌNH

”Việc hiến xác, bộ phận cơ thể của người chết được thực hiện với sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên của người đó”.

Đây là nội dung quan trọng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã tiếp thu, đưa vào dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), trình Quốc hội xem xét sáng 6/5.

Lý do, theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Vũ Đức Khiển, mặc dù hiến xác, hiến bộ phận cơ thể là quyền nhân thân nhưng việc thực hiện quyền này lại phụ thuộc rất nhiều vào cha, mẹ, vợ, chồng, con của người đã chết. Quy định này cũng để bảo đảm quyền này được thực hiện trên thực tế và phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc ta.

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy, quyền hiến xác, hiến bộ phận cơ thể phục vụ chữa bệnh, nghiên cứu khoa học là vấn đề còn rất mới, trong thực tế chưa phát sinh nhiều. Cho nên dự thảo Bộ luật dân sự chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc với tư cách là quyền dân sự về nhân thân. Còn các vấn đề cụ thể về trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể người, hiến xác, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng bộ phận cơ thể người, xác của người chết sẽ được cụ thể hoá và quy định tại các văn bản khác.

Về quyền xác định lại giới tính, có ý kiến đề nghị không nên quy định quyền này trong Bộ luật Dân sự vì đây là vấn đề rất mới, chưa phổ biến, không phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cũng như truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam. Nhưng Uỷ ban Thường vụ Quốc hội không đồng tình với lý do: ”Quyền xác định lại giới tính là một trong các quyền nhân thân, quyền tự do của mỗi cá nhân khi người đó do khuyết tật bẩm sinh, chưa định hình chính xác giới tính mà cần xác định lại giới tính nhờ sự can thiệp của y học”.

Do đó, quyền xác định lại giới tính được ghi nhận trong dự thảo Bộ luật nhưng chỉ mang tính nguyên tắc về quyền dân sự còn các nội dung cụ thể sẽ được hướng dẫn sau. Các khái niệm ”khuyết tật bẩm sinh”, ”chưa định hình chính xác” giới tính trên cơ thể người cũng sẽ được làm rõ trong văn bản pháp luật chuyên ngành.

Theo ông Vũ Đức Khiển, các quyền nhân thân khác như cho phôi, quyền mang thai hộ, quyền được chết đã không được ghi nhận trong dự thảo Bộ luật. Về quyền cho phôi, nội dung này rất mới, xuất hiện cùng với sự phát triển của khoa học, nên cần thời gian nghiên cứu kỹ hơn. Về quyền được chết, theo phong tục tập quán, truyền thống căn hoá của Việt Nam và ngay cả ở nhiều nước phát triển khác thì thừa nhận quyền này trong điều kiện hiện nay là không phù hợp.

Bộ luật Dân sự là đạo luật quan trọng, liên quan sát sườn đến mọi người dân, có nhiều vấn đề nhạy cảm. Vì vậy, thảo luận của Quốc hội về Bộ luật này (cả ngày hôm nay 6/5 và sáng mai) sẽ được truyền hình trực tiếp cho cử tri cả nước theo dõi.
Theo Vietnamnet ngày 6/5/2005

2. QUI ĐỊNH BẤT KHẢ THI VỀ QUYỀN HIẾN XÁC HOẶC MỘT BỘ PHẬN CƠ THỂ

Kỳ họp thứ 7 – Quốc hội khoá XI đã dành nhiều thời gian thảo luận dự án Bộ luật Dân sự (sửa đổi). Nhưng đến nay, không khí thảo luận về những vấn đề còn gây nhiều tranh cãi vẫn chưa lắng xuống, đặc biệt là quyền hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể người. Liên quan đến quyền này, ĐB Nguyễn Tài Lương (GS – Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật HN) đã dành cho phóng viên Báo Lao Động một cuộc phỏng vấn.
*Thưa GS, trong dự án Bộ luật Dân sự sửa đổi lần này có quy định người hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể phải có sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên của người đó. Quy định như vậy liệu có khả thi?

– Việc hiến bộ phận cơ thể, hiến xác đó là quyền cá nhân người đó. Nếu như phải có sự đồng ý của thân nhân người đó thì không khả thi – đưa ra quy định trong luật nhưng lại không thể thực hiện được. Theo tôi, chỉ cần hỏi ý kiến của một đại diện gia đình và người đại diện đó phải được các thành viên trong gia đình uỷ quyền quyết định việc này. Những công việc đó phải được thực hiện khi người hiến xác hoặc bộ phận cơ thể còn minh mẫn, tỉnh táo.
* Như GS vừa nói thì có thể coi ý nguyện của người hiến xác, hoặc bộ phận cơ thể cho khoa học như một di chúc? Và như vậy, quyền để lại di chúc là quyền nhân thân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ?

– Cần phải coi đó là một di chúc, mà đã là di chúc thì được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, hoặc nói cách khác đó là quyền nhân thân bất khả xâm phạm.
* Xin GS cho biết ý kiến của mình về vấn đề này – nhìn ở góc độ khoa học và tính nhân đạo?

– Tôi chỉ nói đơn giản, nếu sinh viên không được học tập nghiên cứu trên cơ thể con người, thì làm sao có đủ kiến thức thực tiễn để khi ra trường có thể trị bệnh cứu người tốt được? Khoa học không có những thực nghiệm trên cơ thể người thì làm sao có những nghiên cứu khả thi để phục vụ lại con người?
* Nhưng thưa GS, ở góc độ đạo lý khác làm chúng ta phải suy nghĩ. Nếu người con có nguyện vọng hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể mà bất chấp sự đồng ý hay không đồng ý của cha mẹ, như vậy đã phải đạo lý chưa?
– Trường hợp này, cha mẹ là người dưỡng dục, sinh thành mà không đồng ý thì cũng phải chịu thôi chứ biết làm thế nào.
* Vậy thì về vấn đề hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể không thể tách bạch được giữa quy định của luật pháp và đạo lý. Thưa GS, cũng phải có cách ứng xử thế nào cho trọn vẹn?

– Như tôi đã nói, cần thiết phải có ý kiến của 1 người đại diện gia đình chứ không phải tất cả những người thân trong gia đình như dự án Bộ luật Dân sự đã quy định. Nhưng, quan trọng nhất là công tác tuyên truyền, giải thích cho gia đình và mọi người dân thấy được việc hiến xác hoặc một bộ phận cơ thể là việc làm mang ý nghĩa nhân đạo rất lớn, đó là sự cống hiến cho khoa học, cho sự phát triển nền y học của đất nước…
Theo Lao động

3. DANH DỰ, NHÂN PHẨM BỊ XÂM HẠI: BỒI THƯỜNG THẾ NÀO?

Tại hội thảo khoa học đóng góp ý kiến về dự thảo Bộ luật Dân sự do Trung tâm Thông tin, thư viện và nghiên cứu khoa học (Văn phòng Quốc hội) tổ chức, đa số các ý kiến đều thống nhất: danh dự, nhân phẩm, uy tín không thể tính được bằng tiền và không thể xác định được mức đọ bị thiệt hại khi có hành vi xâm phạm, đồng thời các ý kiến cũng thống nhất rằng những khoản thiệt hại này buộc phải bồi thường. Bồi thường như thế nào thì ý kiến lại rất khác nhau. Thạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn (ĐH Luật Hà Nội) đề nghị: “Kể từ ngày vi phạm đến ngày bồi thường thực tế, mỗi ngày phải bồi thường bằng một (hai) ngày lương cơ bản. Trường hợp xâm phạm đến tính mạng thì cha mẹ, vợ chồng, con sẽ được hưởng tiền bồi thường tính từ ngày có hành vi xâm phạm đến hết thời gian chịu tang (ba năm)/một người thân thích”.

Phó Giáo sư-Tiến sĩ Hà Thị Mai Hiên, Viện Nhà nước và Pháp luật lại cho rằng: “Trước hết cần đề cao việc để các bên tự thoả thuận. Luật không thể định lượng được việc bồi thường mà cần xác định nguyên tắc chung: bồi thường đủ những thiệt hại vật chất và tinh thần; còn tuỳ từng trường hợp cụ thể, mức bồi thường sẽ căn cứ vào những tình tiết, điều kiện của hai bên.”

Việc hiến các bộ phận cơ thể và hiến xác, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Đinh Văn Thanh (TANDTC) không đồng ý với việc “phải tôn trọng và phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc”. Ông Thanh nói: “Quan niệm tập quán ngày nay cũng đã có sự thay đổi, đó là việc hoả táng sau khi chết. Vì vậy, quan niệm về thân xác người chết phải toàn vẹn cũng chỉ có tính chất tương đối”. Ông cũng cho rằng việc dự thảo quy định “việc hiến xác chỉ được thực hiện với sự đồng ý của cha, mẹ, vợ, chồng và con đã thành niên của người đó” chỉ nên áp dụng trong trường hợp người bị tai nạn hoặc đột tử. Còn trường hợp do ý nguyện của người đó thì không nhất thiết phải có sự đồng ý nói trên. “Ví dụ, một tử tù trước khi ra pháp trường muốn làm một việc cuối cùng có ý nghĩa là xin được hiến xác thì chúng ta có đáp ứng không? Trường hợp này phải có sự đồng ý của thân nhân không?” ông Thanh nói.

Khi tranh luận về các hình thức sở hữu, một số đại biểu yêu cầu đưa vào dự án hình thức sở hữu cá nhân. Phó Giáo sư – Tiến sĩ Dương Đăng Huệ (Bộ Tư pháp) nói: “Từ hơn 10 năm nay, trong pháp luật không thấy nhắc đến khái niệm này. Theo tôi, hiện nay những điều kiện kinh tế – xã hội khách quan cho việc tồn tại của sở hữu cá nhân vẫn còn.” Nhiều ý kiến đồng tình, như Thạc sĩ Nguyễn Minh Tuấn cho rằng: “Trên thực tế thì người lao động, cán bộ, công chức cũng có thể mua cổ phần tại các doanh nghiệp niêm yết cố phiếu trên thị trường chứng khoán… Như vậy họ có thể sở hữu về vốn”. Giáo sư Huệ nhấn mạnh: “Cá nhân có quyền là chủ sở hữu đối với những tài sản mà họ muốn có và pháp luật không cấm. Tóm lại, quyền có tài sản của mỗi một cá nhân là quyền nhân thân, quyền con người, do đó phải được nhà nước thừa nhận”.

Theo Báo Pháp luật TP.HCM ngày 23/3/2005

NHU CẦU LUẬT SƯ

TS. TRẦN ĐÌNH HOÀNH – WaShington DC

Luật sư không chỉ là một chuyên viên luật, mà còn phải là một partner (đối tác) của thân chủ trong các kế hoạch kinh tế thưong mại cũng như kế hoạch tranh tụng. Hiểu đựợc partner của mình, hiểu được công việc của partner, hiểu luật và dùng luật để giúp partner hoạch định công việc một cách hợp pháp và hiệu quả, đó chính là công việc của luật sư.

Ngoài việc hiểu biết luật, luật sư cần có một số kỹ năng tối thiểu như sau:
Khả năng phân tích vấn đề:  Điều quan trọng nhất mà trường luật cần dạy là kỹ năng “suy nghĩ như luật sư”. Đó là kỹ năng phân tích vấn đề, kỹ năng đặt câu hỏi như một người điều tra. Ví dụ: “Nếu giết người trong khi tự phòng vệ một cách hợp lý thì không có tội”.  Thế nào là “tự phòng vệ”? Thế nào là “hợp lý”?   Ai làm gì ai?  Ai bị điều gì mà phải tự phòng vệ?  Thực ra có cần phải tự phòng vệ lúc đó không? Tự phòng vệ bằng cách nào? Vũ khí nào?   Vũ khí đó có hợp lý không? 
Có hằng trăm câu hỏi cho một vụ việc mà một điều tra viên hay luật sư sẽ phải hỏi. Kỹ năng phân tích vấn đề là kỹ năng quan trọng nhất cho một luật gia. Rất tiếc là các trường luật của ta thường thích dạy từ chương hơn là đào tạo sinh viên đặt cậu hỏi để phân tích vấn đề một cách rốt ráo.
Lawyer-AllPosters.jpgKhả năng nghiên cứu và sưu tầm:  Là khả năng đi tìm các câu trả lời sau khi đã có câu hỏi. Đây là khả năng tìm tòi luật pháp và án lệ Việt Nam, cũng như luật pháp và án lệ các nước trong những vấn đề mà Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm. Trong thời đại hiện nay nó còn có nghĩa là khả năng tìm tòi trên mạng toàn cầu.
Khả năng am hiểu các hoạt động kinh tế xã hội mà mình tư vấn  
Khả năng đón đường: Một hợp đồng ký ngày hôm nay là để phòng ngừa những bất trắc có thể xảy ra vài năm sau. Người luật sư phải dự đoán trước được những bất trắc này, càng nhiều càng tốt.  
Thưc ra, nhiều Cty cũng chỉ nhờ đến luật sư khi bị kiện ra toà.  Các công ty cũng nên tập thói quen dùng luật sư để phòng bệnh hơn là chữa bệnh. Tư vấn một hợp đồng trước khi chưa ký tốn chỉ một tí tiền mà có thể tránh được tranh tụng sau này, rẻ rất nhiều so với việc đưa nhau ra toà khi hợp đồng có vấn đề.

Đạo đức nghề nghiệp:
Đòi hỏi luật sư phục vụ thân chủ tối đa, trong giới hạn luật pháp cho phép. “Phục vụ thân chủ tối đa” đòi hỏi người luật sư tìm các biện pháp tốt nhất cho thân chủ dù rằng đôi khi các biện pháp này có thể không tốt cho luật sư, chẳng hạn ra trọng tài kinh tế cho đỡ tốn kém thay vì ra toà.”Trong giới hạn luật pháp cho phép” có nghĩa là luật sư không thể tư vấn thân chủ làm những việc phi pháp.  Các trường luật cũng nên có môn đạo đức nghề nghiệp trong chương trình giáo dục sinh viên luật.

Lao Động số 236 Ngày 11/10/2007 – SAGA.VN

TIÊU CHÍ XÁC ĐỊNH HÌNH THỨC SỞ HỮU

PGS TS. DƯƠNG ĐĂNG HUỆ (Bộ Tư pháp) 

Hiện nay, theo Hiến pháp 1992 thì ở nước ta có 3 hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân (sở hữu nhà nước), sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Theo Bộ luật dân sự 1995(BLDS) thì ngoài 3 hình thức sở hữu trên còn có: sở hữu của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp và sở hữu chung.

Như vậy là, theo quy định của BLDS thì ở nước ta có 7 hình thức sở hữu. Sở hữu cá nhân với tư cách là một hình thức sở hữu đã từng tồn tại trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây đẫ không được nhắc lại trong BLDS và điều đó đồng nghĩa với việc có lẽ nó đã không được thừa nhận về mặt pháp lý. Số lượng các hình thức sở hữu được ghi nhận trong pháp luật hiện hành nhiều hay ít là điều không mấy quan trọng và do đó không đáng phải quan tâm nhiều. Điều đáng lưu ý nhất mà chúng ta phải quan tâm giải quyết trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã dựa vào cái gì, căn cứ vào tiêu chí nào để có thể phân loại sở hữu thành các hình thức như vậy. Tuy nhiên, sự quan tâm chính đáng này của chúng ta đã chưa được thực tiễn và lý luận đáp ứng vì khi xếp loại các hình thức sở hữu như vừa nêu trên thì không ai và chưa ở đâu có lời giải thích thoả đáng về việc tại sao và căn cứ vào cái gì mà người ta có thể chia sở hữu thành 7 hình thức như vậy. Vì vậy, vấn đề đầu tiên mà chúng ta hiện nay cần quan tâm giải quyết là việc phải tìm ra căn cứ đó và chỉ có thể dựa vào căn cứ đó thì mới có thể tiến hành việc phân loại hình thức sở hữu một cách khoa học được. Hiện nay theo tôi chúng ta đang đồng thời dựa vào 2 tiêu chí để thực hiện việc phân loại này. Căn cứ thứ nhất là tính chất chính trị (công hay tư) của việc chiếm hữu tài sản. Chính vì căn cứ vào tiêu chí này mà chúng ta đã chia sở hữu thành sở hữu xã hội chủ nghĩa (với hai hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể) và sở hữu phi xã hội chủ nghĩa mà sở hữu tư nhân là đại diện chủ yếu. Căn cứ thứ hai là dựa vào yếu tố ai là người được coi là chủ sở hữu của tài sản. Nếu toàn dân là chủ sở hữu thì có sở hữu toàn dân; nếu hợp tác xã là chủ sở hữu thì có sở hữu tập thể, nếu hai người trở lên cùng sở hữu một tài sản thì có sở hữu chung; nếu một người (cá nhân) sở hữu thì có sở hữu cá nhân và cuối cùng nếu một tổ chức là chủ sở hữu thì có sở hữu của tổ chức đó (sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội…). Việc phân loại sở hữu như hiện nay xem ra không mấy khoa học vì nó tiến hành trên cơ sở áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí nêu trên và hậu quả là các hình thức sở hữu ở nước ta được xác định một cách, vừa thừa lại vừa thiếu, không phù hợp với thực tiễn khách quan. Việc phân loại hình thức sở hữu trong BLDS là một minh chứng cho cách làm này.

Vậy từ nay cần phải căn cứ vào tiêu chí gì để phân loại (xác định) các hình thức sở hữu? Theo tôi, chỉ nên dùng một yếu tố duy nhất, theo đó chủ thể nào có quyền trực tiếp chiếm hữu sử dụng và định đoạt tài sản thì người đó được coi là sở hữu chủ và căn cứ vào cách thực hiện quyền của người đó đối với tài sản mà xác định tên gọi của hình thức sở hữu cho phù hợp. Ví dụ khi một cá nhân duy nhất là chủ sở hữu tài sản thì đó là sở hữu cá nhân; khi nhiều người tập hợp lại thành một tổ chức có tư cách pháp nhân (trong đó có hợp tác xã) và chính pháp nhân đó thực hiện các quyền chủ sở hữu thì đó là sở hữu pháp nhân; khi hai người (cá nhân, tổ chức) trở lên có quyền cùng nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với một tài sản thì đó là một sở hữu chung và khi Nhà nước được trao quyền chủ sở hữu tài sản, mặc dù tài sản đó là của toàn thể nhân dân thì đó là sở hữu nhà nước.

Trên cơ sở quan niệm như vậy, tôi không đồng ý với cả hai phương án đã được nêu ra trong bản xin ý kiến nhân dân về các loại hình sở hữu ở VN. Theo tôi, căn cứ vào tiêu chí như vừa nêu trên thì ở nước ta có 4 hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước; sở hữu pháp nhân; sở hữu cá nhân và sở hữu chung.

BÁO DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP số 24/3/2005

KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH

“Nếu điều bạn muốn làm là đúng, và bạn tin vào nó, bạn hãy thẳng tiến và thực hiện ngay đi! Hãy thực hiện cho bằng được giấc mơ của bạn, và đừng bận tâm đến những gì “họ” nói nếu bạn vấp phải sự thất bại tạm thời, vì có lẽ “họ” không biết rằng mỗi một thất bại đều mang theo nó hạt mầm của thành công tương đương"

NAPOLEON HILL

 

PHẦN 1. BẢY NGUYÊN TẮC CƠ BẢN NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG

QUỲNH ĐAN (Theo Forbes)

Bảy nguyên tắc cơ bản không thể bỏ qua nếu muốn thành công khi nói trước công chúng. Nhìn thấy người này diễn thuyết một cách tự tin, người kia trả lời câu hỏi của các nhà báo một cách lưu loát trên truyền hình, chắc hẳn có lúc bạn đã tự hỏi họ có năng khiếu bẩm sinh hay phải luyện tập để làm được như vậy?

Câu trả lời của Richard Zeoli, một chuyên gia trong lĩnh vực này, là: “Năng khiếu, nếu có chỉ là một phần, tất cả đều do khổ luyện mà thành!”.

Trong một bài viết mới đây đăng trên trang web của Forbes, Richard Zeoli đã chỉ ra bảy nguyên tắc cơ bản cần phải tuân thủ nếu muốn thành công khi nói trước công chúng.

Nguyên tắc thứ nhất: Đừng cố gắng trở thành nhà diễn thuyết đại tài

Trong giao tiếp hàng ngày bạn thường nói năng thoải mái, nhẹ nhàng, nhưng khi nói trước đám đông, hình như mọi chuyện trở thành ngược lại. Quá chú ý đến công chúng sẽ làm hại đến khả năng diễn thuyết. Để trở thành một diễn giả thu hút thì hãy chú ý đến những điều bạn nói. Dù cử tọa của bạn là vài ba người hay cả ngàn người, dù bạn đang nói về công việc của mình hay về một bước đột phá trong y khoa thì hãy luôn là chính mình, và thiết lập sự kết nối với cử tọa. Hãy nhớ cử tọa chỉ muốn nghe người nào nói chuyện nhẹ nhàng, cuốn hút. Thế thôi.

Nguyên tắc thứ hai: Đừng cố gắng trở nên hoàn hảo

Khi bạn mắc lỗi, đừng lo lắng vì chẳng ai để ý nhiều đến việc đó, ngoại trừ bạn.

Ngay cả đến những nhà hùng biện tài danh cũng sẽ mắc lỗi. Sự chú ý của con người thường bị phân tán. Trên thực tế, người ta chỉ thực sự nghe khoảng 20% những gì diễn giả nói, còn lại 80% họ tiếp thu qua hình ảnh. Khi bạn mắc lỗi, hiếm khi cử tọa để ý đến việc đó, vì vậy điều quan trọng bạn có thể làm là cứ tiếp tục. Đừng ngừng lại, và đừng xin lỗi, chỉ trừ khi đó là một lỗi quá nghiêm trọng.

Hãy nhớ, ai cũng có thể mắc lỗi. Đó là một phần của con người, và chính phần con người này làm cho chúng ta kết nối được với cử tọa, giúp ta trở thành những nhà hùng biện.

Cử tọa không muốn nghe ở một người quá hoàn hảo, họ chỉ muốn nghe một diễn giả đời thường.

Người ta chỉ thực sự nghe khoảng 20% những gì diễn giả nói, còn lại 80% họ tiếp thu qua hình ảnh. Khi bạn mắc lỗi, hiếm khi cử tọa để ý đến việc đó, vì vậy điều quan trọng bạn có thể làm là cứ tiếp tục. Đừng ngừng lại, và đừng xin lỗi, chỉ trừ khi đó là một lỗi quá nghiêm trọng.

Nguyên tắc thứ ba: Hãy hình dung mình đang diễn thuyết

Bạn có biết là những người thành công rực rỡ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, đều phải sử dụng đến sức mạnh của việc tưởng tượng. Các nhân viên bán hàng hình dung ra việc mình ký được hợp đồng, các nhà quản lý hình dung ra viễn cảnh phát triển những dự án đầu tư mới, các vận động viên nhắm mắt lại và hình dung ra cảnh họ đã về đích… Trong nghệ thuật nói trước đám đông, cách tốt nhất để chống lại sự lo lắng và trở nên thư thái là hãy tưởng tượng trong đầu về buổi nói chuyện của mình.

Nếu bạn có đề tài phải trình bày trước nhiều người, hãy dành ra 30 phút mỗi ngày để hình dung việc mình đang làm, hình dung càng chi tiết càng tốt. Hãy hình dung bạn đang ở trên diễn đàn với cảm giác thư thái và dễ chịu, diễn đạt tốt và kết nối được với cử tọa. Nếu bạn thực hành điều này mỗi ngày, thì đến lúc trình bày trước đám đông, trí óc của bạn sẽ trở nên quen thuộc với tình huống đó. Bạn sẽ không còn cảm giác lo lắng, sợ hãi, thay vào đó là sự thư thái và tự tin hơn nhiều trước cử tọa.

Nguyên tắc thứ tư: Giữ kỷ luật

Mục tiêu của chúng ta không phải là trở thành một diễn giả hoàn hảo, bởi vì không có một diễn giả như vậy, chúng ta chỉ có thể trở thành một diễn giả thuyết phục. Và diễn thuyết cũng cần phải thực tập. Giao tiếp là chuyện đương nhiên, bởi chúng ta sống để nói với người khác. Nhưng khi vốn liếng, thế mạnh của mình được gắn trực tiếp với việc chúng ta có thuyết phục được đám đông hay không, chúng ta cần phải chú ý đến công việc này một cách nghiêm túc.

Cách thực hành tốt nhất là trình bày bài diễn văn một cách thoải mái tại nhà hay trong văn phòng của mình.Càng thực hành nhiều, bạn sẽ càng sẵn sàng, điều đó dẫn đến sự tự tin. Nếu bạn có bài diễn văn phải trình bày trong một tuần lễ nữa, hãy thực tập nó mỗi ngày. Đọc lớn lên ngay khi bạn thức dậy mỗi buổi sáng, ít nhất một lần vào buổi trưa và hai lần trước khi đi ngủ. Thực hành đều đặn như thế, đến khi chính thức thực hiện, bạn sẽ cảm thấy được chuẩn bị sẵn sàng vì đã biết rõ tất cả.

Cùng với nguyên tắc thứ ba ở trên, đây là cách tốt nhất để vượt qua sự lo lắng và có được sự tự tin trước cử tọa.

Nguyên tắc thứ năm: Hãy làm cho câu chuyện trở nên gần gũi

Đối với bất kỳ đề tài nào, cử tọa chỉ phản hồi tốt nhất khi diễn giả làm cho sự giao tiếp có tính gắn bó với con người. Hãy sử dụng mọi cơ hội để biến thông tin trở nên gần gũi với người nghe. Người ta thích nghe về những người khác, những bi kịch, những chiến thắng, những câu chuyện vui xảy ra hàng ngày trong chính cuộc sống của họ… Bất kỳ lúc nào có thể, bạn hãy đem chính mình vào bài diễn thuyết. Điều này không chỉ giúp cử tọa gần gũi với bạn hơn mà còn giúp bạn nói năng tự nhiên trước đám đông. Còn gì quen thuộc hơn là chủ đề về chính bản thân bạn?

Nguyên tắc thứ sáu: Cảm nhận được người nghe

Nói về bạn, nhưng trọng tâm không phải về cá nhân bạn mà về cử tọa. Bởi mục tiêu chính của một bài diễn thuyết không phải là làm lợi cho diễn giả mà là phục vụ cử tọa. Vì thế trong tất cả các giai đoạn chuẩn bị, và trình bày, bạn hãy luôn nghĩ bằng cách nào bạn có thể giúp cử tọa đạt được những gì họ mong muốn từ diễn giả. Khi thực hiện điều này, vai trò diễn giả của bạn sẽ trở thành vai trò thỏa mãn yêu cầu của cử tọa, điều này chắc chắn sẽ làm giảm bớt sự e dè trong việc diễn thuyết trước đám đông.

Nguyên tắc thứ bảy: Làm cho cử tọa mong đợi nhiều hơn

Một trong những bài học giá trị nhất trong nghệ thuật diễn thuyết trước đám đông là “ít hơn lại có nghĩa là nhiều hơn”. Hiếm khi chúng ta rời khỏi một buổi diễn thuyết và nghe người ta nói rằng: “Tôi mong rằng diễn giả đó nói dài hơn!”. Ngược lại, không biết bao nhiêu lần chúng ta nghe mãi câu: “Thật là mừng vì bài diễn thuyết đã kết thúc!”.

Hãy làm cho cử tọa ngạc nhiên. Luôn luôn làm cho phần trình bày của mình ngắn hơn một chút so với những gì mà cử tọa nghĩ. Nếu bạn tuân thủ sáu nguyên tắc trên, thì bạn đã chiếm được sự chú ý và sự quan tâm của cử tọa. Vì thế cách tốt nhất là làm cho cử tọa trông đợi bạn tiếp tục thêm vài phút nữa hơn là khiến họ ngọ nguậy trong ghế để đợi bạn kết thúc bài diễn thuyết.

SOURCE: THESAIGONTIMES.COM.VN

PHẦN 2. KỸ NĂNG NÓI TRƯỚC ĐÁM ĐÔNG

Ông bà ta có câu “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Xem ra lời nói có vẻ là thứ "rẻ" nhất mà ai cũng có và có thể sử dụng. Và điều đó gần như là đúng hoàn toàn. Nếu bạn ra ngoài đường thì đâu đâu cũng thấy nói chuyện, cửa hàng thì có người mua kẻ bán nói chuyện, trong quán nước thì từng đôi, từng nhóm nói chuyện…. Thế nhưng đó là khi tất cả mọi người cùng nói, bạn nói, tôi nói tất cả chúng ta cùng nói, thật đơn giản. Còn bây giờ khi mà trước mặt bạn là hàng trăm con mắt đổ dồn vào bạn, một bầu không khí im phăng phắc, tất cả mọi người đều chờ để nghe bạn nói. Vâng, lúc này chỉ có một mình bạn nói mà thôi. Liệu bạn có còn thấy lời nói lúc này thật rẻ, và cần là sử dụng ngay được không?

Tôi dám cam đoan với bạn rằng, khi phải đặt mình vào tình thế này, không ít người mặt đỏ tía tai, người run lẩy bẩy, nói lắp bắp. Đó là triệu chứng của căn bệnh “ngại tiếp xúc”. Tại sao vậy nhỉ? Khi tất cả mọi người đều nói, ta cũng nói, thì lời nói của chúng ta cũng chỉ có giá trị như lời nói của tất cả mọi người, sai cũng chả sao. Nhưng bây giờ, tất cả mọi người đều chờ để được nghe bạn nói. Thì lời nói của bạn lúc này có giá trị lắm, chắc chắn là nó cao hơn mọi người khác. Vì họ phải im lặng để nghe bạn nói cơ mà. Mà đã hơn người thì phải thật hoàn hảo, nói năng trôi chảy, nội dung hay, dễ hiểu,… nhưng khổ nỗi là từ bé đến giờ có mấy ai được đi học môn “nói trước đám đông” hay chỉ tự rèn rũa trong cuộc sống. Mà phàm đã việc gì làm mà chưa có một sự chuẩn bị kỹ càng thì đều tạo cho ta cảm giác bồn chồn bất an hết cả.

Do vậy, bài viết này mình đưa lên cho mọi người, hy vọng với một số đầu mục này có thể giúp bạn bớt được phần nào cảm giác căng thẳng trong lần diễn thuyết tới đây.

1. Trừ khi bạn là một nhà diễn thuyết nổi tiếng, chí ít cũng là cỡ quốc gia, còn lại, không ai quá kỳ vọng vào một bài phát biểu quá trơn tru, hoàn hảo từ bạn đâu.

noi03.gifThật sự ra mà nói thế nào là một bài phát biểu hoàn hảo theo đúng nghĩa thì đến giờ mình cũng không biết chính xác. Các bạn cứ thử nghĩ mà xem, ngay cả đến những tác phẩm bất hủ của các đại thi hào mà vẫn luôn có các nhà phê bình tác phẩm tìm ra được điểm chưa đạt ở góc độ này hoặc góc độ khác đấy thôi. Mà xin lưu ý mọi người, là một tác phẩm văn học đã phải trải qua rất nhiều bản nháp, nhiều đêm suy nghĩ của tác giả mới thành. Viết sai lại sửa, thế mà còn không hoàn hảo. Thì nói gì đến chuyện nói ra. Làm sao tránh được những sai sót cho dù bạn có chuẩn bị kỹ càng đến đâu. Hơn nữa là tâm lý của người đi nghe bạn nói là họ quan tâm nhất đến nội dung bài diễn thuyết của bạn. Đó mới là điều khiến họ tới nghe bạn nói. Chứ không ai mất công đến chỉ để nghe bạn nói trơn tru, không ngấp ứ mà nội dung lại chẳng có gì cả.

Do vậy nếu đã có một nội dung tốt thì bạn hãy cố gắng diễn đạt nó một cách đơn giản, trực tiếp chứ đừng cố tìm những mỹ từ trau truốt. Vì khi tìm kiếm bạn sẽ lại thấy không biết từ nào là hợp lý thích hợp, từ đó tạo ra cảm giác bất an, rất dễ suy nghĩ mọi người sẽ chê bai về từ ngữ đó. Và kết quả của sự căng thẳng sẽ làm bạn mất tự tin và hạn chế khả năng của bạn, đồng thời lấy mất cơ hội để bạn đưa ra những ý tưởng hay. (Nó có thể bất chợt tới do những yếu tố tác động trong buổi diễn thuyết mà bạn chỉ có thể biết sau khi diễn thuyết, không có sự chuẩn bị nào cho cơ hội đó đâu).

2. Đừng tự hỏi mình “có nên nói như thế hay không?”

Mình xin phép lấy một ví dụ có tính chất tương đồng cho dễ hiểu. Đó là câu chuyện “môn học tập làm văn ở trường học vậy”, không có một thầy cô giáo dạy văn nào lại khuyên bạn rằng viết trước bài ở nhà rồi học thuộc đi. Đến giờ kiểm tra chỉ viết ra thôi. Chắc chắn là không. Mà các thầy cô luôn nói rằng, các em về nhà tìm dẫn chứng để trích dẫn vào bài viết, hình thành và nắm chắc dàn ý đại cương, nội dung chính của bài viết.

noi02.gifViệc diễn thuyết cũng vậy thôi. Sẽ không có bài diễn thuyết nào lại chuẩn 100% y chang so với bài chuẩn bị cả. Có thể lúc tập ở nhà bạn nói như thế này, nhưng chắc chắn nó sẽ không được lặp lại y nguyên lúc bạn nói trước đám đông đâu. Đơn giản là vì “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” đâu bạn ạ. Nắm chắc được các ý chính cần trình bày cho bài diễn thuyết sẽ giúp bạn tổ chức tốt bài nói và định trước những câu hỏi mọi người có thể đặt ra cho bạn.

3. Chuẩn bị phong cách nói cho bản thân.

Tức là đối với mỗi buổi diễn thuyết, tùy vào từng trường hợp cụ thể, bạn nên tuân theo tiêu chuẩn chung về lối trình bày. Cái này thường đã có sẵn bạn chỉ cần tìm hiểu và áp dụng theo là được. Ví dụ như, trong buổi bảo vệ tốt nghiệp của bạn, bài luận văn có các chương mục nhỏ. Bạn có thể nói theo mẫu như : Bây giờ tôi xin giới thiệu đến chương hai…, chuyển qua vấn đề x, y ,…” Có một khung phù hợp với nội dung bài nói, sẽ giúp bạn có cách trình bày mạch lạc hơn.

4. Hãy chú ý tới giọng nói, nhịp thở và tư thế của bạn.

noi01.gifNhư vậy là đã xong nội dung, giờ chúng ta cũng nên chăm chút một chút cho mặt hình thức của mình trước đám đông. Tùy vào từng nội dung, bạn nên sử dụng giọng nói nhẹ nhàng ở đoạn nào, những đoạn nào trọng tâm, bạn có thể nói to hơn một chút, giọng chắc khỏe hơn một chút tạo sự chú ý của mọi người. (Cũng giống như trong văn viết chỗ nào bạn quan tâm thì viết đậm lên hoặc gạch chân vậy). Cơ thể nên thả lỏng thật thoải mái. Vì có thể bài nói của bạn sẽ kéo dài hơn bạn tưởng, một vị trí đứng và một tư thế hợp lý sẽ giúp bạn đỡ mệt, giữ được sự tập trung trong suốt buổi đối thoại của mình với mọi người.

5. Chú ý tới các nguyên nhân gây khiến cho bạn thiếu tự tin trước mặt mọi người.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến cho mất bình tĩnh mà tôi cũng không biết hết và không thể đề cập hết trong bài viết này. Có thể là do di truyền, giáo dục, văn hóa của từng người, mỗi người lại có một lý do khác nhau. Do vậy về việc này, chỉ có một lời khuyên nho nhỏ tới mọi người là khi đã biết được nguyên nhân rồi, thì hãy bớt chút thời gian để rèn luyện cải thiện bản thân mình. Bạn có thể tự giả định tình huống rồi tự mình tìm cách giải quyết, như vậy khi gặp ngoài việc thật bạn cũng không đến mức “lạc vào đảo hoang”.

6. Nắm lấy tất cả cơ hội được nói.

Chắc các bạn ai cũng đồng ý với mình rằng “trăm hay không bằng tay quen”. Đọc sách nhiều mà không bắt tay vào làm thử thì cũng như không. Hãy tận dụng mọi cơ hội có thể như trong cuộc họp gia đình, trò chuyện với bạn bè,….., để tập cho mình cách phát biểu và làm quen với những tình huống bất ngờ xảy ra khi mọi người chất vấn bạn hoặc giả dụ bạn có quên mất điều mình định nói thì phải làm sao.

© SAGA.VN

PHẦN 4: ĐỂ CHUẨN BỊ BÀI PHÁT BIỂU KHI KHÔNG CÓ THỜI GIAN

P.C.

Đối với những người sắp sửa nghe bạn nói thì việc bạn có 10 ngày hay chỉ có 10 phút để viết bài phát biểu cũng chẳng ảnh hưởng gì tới họ. Bạn sẽ vẫn phải phát biểu. Dưới đây là những mẹo giúp bạn chuẩn bị bài phát biểu của mình một cách nhanh chóng khi không có nhiều thời gian.

Bạn càng có địa vị cao, thì người ta càng trông chờ bạn sẽ có bài phát biểu trong những dịp xuất hiện trước công chúng, và thường trong những dịp như thế bạn có rất ít thời gian chuẩn bị. Vậy bí quyết để có một bài phát biểu hoàn hảo trong một thời gian ngắn là gì?

Điều đầu tiên bạn cần phải làm trước khi phát biểu là xác định được thông điệp chính bạn muốn đưa ra.

Thông điệp của bạn chính là những gì sẽ còn đọng lại trong người nghe sau khi bạn đã kết thúc bài thuyết trình đồng thời cũng là câu chốt lại những gì bạn đã trình bày. Họ sẽ có ấn tượng với những gì mà bạn nói. Ấn tượng đó có thể tốt hoặc không tốt. Người nghe có thể ấn tượng mạnh về bản thân bạn, phong cách phát biểu, hoặc nội dung bài phát biểu của bạn. Nếu bạn muốn họ nhận ra và ghi nhớ đúng thông điệp – tức là thông điệp chính mà bạn muốn đưa ra – trước hết bạn phải xác định được điều bạn tin tưởng và viết chúng ra.

Một khi đã viết được câu tóm tắt cho những gì mình muốn nói, tức là bạn đã sẵn sàng đưa ra những ý kiến, lý lẽ, các câu chuyện và thông tin làm dẫn chứng cho bài phát biểu của mình. Hãy loại bỏ những gì không phục vụ cho thông điệp của bạn.

Cuối cùng, hãy xây dựng những tài liệu bạn có theo các cấu trúc sau:

– Quan điểm – lý do – ví dụ – quan điểm. Bạn hãy đưa ra yêu cầu của bạn (có vẻ rất giống với thông điệp chính) và sau đó đưa ra những lý do để bạn yêu cầu như vậy. Tiếp đó bạn đưa ra một ví dụ thuyết phục và kết thúc bằng cách lặp lại quan điểm của bạn.

– Quá khứ – hiện tại – tương lai, bạn trình bày ý tưởng theo trình tự thời gian.

Nếu bạn đang cố gắng ủng hộ việc đưa một sản phẩm mới chưa được thử nghiệm vào một thị trường mới, bạn có thể bắt đầu bằng cách kể về những kinh nghiệm tiếp thị thành công của công ty, và cho đến nay vẫn đạt được nhiều thành công với hướng đi đó và hãy kết luận bằng cách đưa ra những đánh giá của mình về thành công của việc tiếp thị sản phẩm mới này trong tương lai.

– Vấn đề – nguyên nhân – giải pháp. Cấu trúc này áp dụng hiệu quả đối với các lý lẽ và các tình huống kinh doanh. Bạn đặt vấn đề – ví dụ như lượng hàng bán ra giảm – và sau đó phân tích nguyên nhân. Từ phân tích của mình, bạn sẽ đưa ra kiến nghị về giải pháp.

Cấu trúc này có lợi thế là nó tuân theo cách nghĩ tự nhiên của thế giới kinh doanh trong khi giải quyết vấn đề. Chúng ta nhn ra rằng chúng ta gặp rắc rối. Chúng ta tìm ra nguyên nhân. Sau đó chúng ta đưa ra giải pháp. Đó là cách mà hầu hết mọi người thường nghĩ. Vì vậy mô hình này rất có hiệu quả trong khi thuyết trình.

– Gây chú ý – đưa ra lợi ích – mong muốn – hành động, cấu trúc này có hiệu quả nhất khi bạn cố gắng để thuyết phục mọi người về điều gì đó. Trước hết, bạn hãy thu hút sự chú ý vào bạn bằng thông tin thống kê, một câu chuyện nào đó hoặc tuyên bố gây ngạc nhiên đến mức khán giả của bạn phải chuyển mối quan tâm của họ sang mối quan tâm của bạn. Sau đó, hãy tạo hứng thú cho người nghe bằng cách đề cập tới những lợi ích của quan điểm bạn đang nói đến.

Nếu thành công, bạn sẽ khiến người nghe muốn mua, muốn thay đổi, hoặc nghĩ khác đi. Đó là thời điểm bạn kết thúc việc giao dịch bằng cách có được cam kết nào đó từ khán giả của mình – đó là hành động.

– "Đề cập đến những gì mà bạn định nói, sau đó hãy trình bày những điều đó, rồi hãy nói về những gì bạn vừa trình bày". Đây là cấu trúc có tính quy ước nhất mặc dù nó chỉ xuất hiện tức thời. Ngày nay các khán giả rất thường thiếu kiên nhẫn và mọi người cũng luôn bận rộn, vì vậy người ta vẫn đang tranh luận xem liệu đây có phải vẫn là một cấu trúc hùng biện hiệu quả hay không.

Nếu bạn sử dụng cấu trúc này, bạn hãy kiểm tra lại một lần, tóm tắt ngắn gọn và súc tích, vì những khán giả của bạn vốn đã bị quá tải về thông tin. Sử dụng những kỹ năng này sẽ không đảm bảo rằng bạn sẽ có một bài phát biểu hoàn hảo; mà điều này lại phụ thuộc vào người nói. Nhưng kỹ thuật này sẽ giúp bạn tiết kiệm thời gian trong khi chuẩn bị – có nghĩa là bạn thực sự chuẩn bị chứ không phải là cứ nói vo.  Và bản thân điều này đã có nghĩa là bạn sẽ có một bài thuyết trình tốt hơn rồi.

SOURCE: TẠP CHÍ NHÀ QUẢN LÝ

PHẦN 4: THUYẾT TRÌNH SAU THUYẾT TRÌNH

MINH AN (Dịch từ Business Know-how)

Việc người nghe đặt ra các câu hỏi sau bài thuyết trình được xem như cách thức hữu hiệu giúp củng cố thông điệp và tiếp tục truyền tải ý tưởng của bạn. Giai đoạn không kém phần quan trọng này chính là Thuyết trình sau thuyết trình.

Nếu người nghe có cơ hội được làm rõ những điểm còn chưa hiểu, thì họ sẽ không rời buổi thuyết trình với những hiểu biết sai về các khái niệm bạn đã trình bày. Quãng thời gian mọi người đặt câu hỏi và bạn trả lời lại là một lần thuyết trình quan trọng nữa.

Trước hết để Thuyết trình sau thuyết trình đạt được hiệu quả cao nhất, bạn cần giúp mọi người có sự chuẩn bị tốt bằng việc nói với họ rằng sau buổi thuyết trình sẽ có quãng thời gian để mọi người đặt câu hỏi và bạn trả lời. Nếu bạn có một người giới thiệu, hãy nói với người này đề cập việc bạn sẵn lòng trả lời mọi câu hỏi từ phía người nghe. Mọi người sẽ đặt ra nhiều câu hỏi hơn nếu ngay từ đầu họ được thông báo về điều này.

Một trật tự hợp lý là rất quan trọng. Hãy nói: “Ai có câu hỏi đầu tiên?” và sau đó tìm kiếm những cánh tay giơ lên. Hoặc để khơi mở, bạn có thể nói: “Một câu hỏi mà tôi thường được hỏi là…” và trả lời nó. Nếu sau đó vẫn không có câu hỏi nào, bạn có thể nói: “Không biết có còn câu hỏi nào không?”.

Sự nhiệt tình của bạn sẽ mất nếu bạn không nhận được câu hỏi nào từ phía người nghe. Thông thường, hành động “mồi nước” sẽ khích lệ người nghe đặt các câu hỏi khác nhau.

Khi một ai đó đặt ra câu hỏi, bạn hãy nhìn thẳng vào họ và lặp lại nó, đặc biệt nếu có một số lượng lớn người nghe hay nếu bạn cần đôi chút thời gian để suy nghĩ. Bằng việc lặp lai câu hỏi, bạn sẽ đảm bảo rằng mình đã hiểu đúng câu hỏi.

Tuy nhiên, đừng tiếp tục nhìn vào người đó khi bạn bắt đầu trả lời câu hỏi. Hãy nhớ bạn vẫn đang nói chuyện trước công chúng và tất cả mọi người nên nghe rõ câu trả lời của bạn chứ không riêng người đặt ra câu hỏi.

Thêm vào đó, bạn cần tiếp tục đứng ở một nơi mà tất cả mọi người đều trông thấy rõ bạn nhất. Tránh việc đi trực tiếp tới cạnh người đặt câu hỏi. Hình ảnh đó sẽ khiến những người nghe khác cảm thấy “mất bạn”. Khi bạn kết thúc câu trả lời chính là lúc bạn nhìn lại người đặt câu hỏi và nét mặt của người này sẽ nói với bạn câu trả lời của bạn đã thoả mãn hay chưa.

Những câu trả lời ngắn gọn và có trọng điểm sẽ đem lại sự thoả mãn nhiều nhất cho người nghe. Đừng tiếp tục một bài diễn thuyết mới. Mọi người sẽ cảm thấy nhàm chán nếu bạn mất quá nhiều thời gian trả lời câu hỏi. Không những vậy, rất có thể chỉ có duy nhất người đặt ra câu hỏi mới thực sự quan tâm tới những gì bạn đang nói! Nếu bạn có thể trả lời “có” hay “không”, hãy làm như vậy. Hành động này giữ vững sự chú ý của mọi người tới bạn.

Một trong những thách thức thực sự nếu có những câu hỏi nặng nề. Hãy xoa dịu nó trước khi trả lời. Chẳng hạn đối với những câu hỏi kiểu như: “Bạn sẽ làm gì với tất cả số tiền kiếm được từ mức giá cả gia tăng?”, hãy xoa dịu nó bằng việc nói rõ: “Tôi hiểu được sự thất vọng của anh trước sự leo thang giá cả đến chóng mặt. Tôi biết anh định hỏi: Tại sao giá cả lại tăng bất thường như vậy?”.

Sau đó, bạn mới trả lời cho câu hỏi này. Bạn sẽ rơi vào tranh luận nếu cho phép bản thân trực tiếp trả lời các câu hỏi nặng nề kiểu trên. Nếu một cá nhân không thoả mãn với việc thay đổi ngôn ngữ câu hỏi như vậy, bạn hãy nói với anh ta rằng bạn rất vui được bàn thảo về vấn đề này sau buổi thuyết trình hôm nay và rồi nhanh chóng chuyển sang câu hỏi kế tiếp.

Đôi lúc sẽ có một người nghe giơ tay nhưng thay vì đặt câu hỏi người này lại đưa ra những bình luận khá dài dòng hay thậm chí một bài diễn thuyết. Một cách để xử trí là nhìn vào tốc độ nói của người này và khi anh ta/cô ta dừng lại lấy hơi chuẩn bị nói tiếp, bạn ngắt quãng bằng “Xin cảm ơn ý kiến của anh/chị… Câu hỏi kế tiếp là gì ạ?”. Bạn nhìn xung quanh căn phòng và người nói chuyện dài dòng này sẽ không biết bạn ngắt lời họ hay bạn thực sự nghĩ rằng họ đã kết thúc. Đừng để người này tiếp tục “bài diễn thuyết” bởi vì nó sẽ làm hỏng cơ hội được hỏi của những người khác.

Điều quan trọng tiếp theo là bạn đừng đánh giá các câu hỏi. Hãy tránh xa những bình luận kiểu: “Đó là một câu hỏi tuyệt vời” hay “Câu hỏi hay”. Nếu người tiếp theo đặt ra một câu hỏi và bạn không có nhận xét tích cực tương tự, người này có thể nghĩ rằng bạn không tán thành câu hỏi và điều đó sẽ kiềm chế những người khác đưa ra câu hỏi. Nếu bạn muốn xác nhận một câu hỏi cụ thể, hãy nói đơn giản: “Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi”. Bạn cần làm sao để mọi người cảm thấy sự công bằng như nhau về những câu hỏi được đặt ra.

Ngoài ra, bạn không thể bỏ qua yếu tố kiểm soát tình huống cuộc nói chuyện. Khi bạn thuyết trình trước mọi người, luôn rình dập rủi ro của việc đánh mất sự kiểm soát tình hình. Do vậy, bạn cần lường trước những tình huống bất ngờ, càng nhiều bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Hãy xem xét nội dung thuyết trình của bạn và suy nghĩ về những câu hỏi mà người nghe sẽ có thể đặt ra. Đồng thời, bạn hãy chuẩn bị các câu hỏi của bản thân bạn để hỏi. Đừng ngại nói: “Tôi không biết” và chuyển sang câu hỏi tiếp theo (Bạn có thể bổ sung rằng bạn sẽ rất vui được gặp lại họ với câu trả lời đầy đủ trong lần tiếp theo).

Nên thẳng thắn với những người đặt câu hỏi nếu bạn nghĩ rằng câu hỏi không mấy thích hợp. Câu trả lời của bạn có thể là: “Thực tế, câu hỏi này không mấy thích hợp với nội dung buổi thảo luận hôm nay”.

Vào cuối giai đoạn Thuyết trình sau thuyết trình, bạn cần có một kết luận cụ thể. Kỹ thuật này sẽ cho phép bạn kiểm soát tốt quãng thời gian cuối cùng với người nghe. Thay vì câu hỏi cuối cùng, người nghe sẽ nhận được một kết luận thích hợp từ bạn.

Hãy nói: “Trước khi tôi tổng kết đôi điều, không biết còn ai có câu hỏi không ạ?”. Sau đó, nếu không có ai có câu hỏi nào, bạn mới bắt đầu nói. Nhờ đó, bạn có thể kết thúc theo một cách thức hiệu quả và vui vẻ hơn là hết sức cộc lốc với câu nói: “Vậy nếu không còn câu hỏi nữa, tôi xin kết thúc…”.

Sau cùng, bạn cần nhớ rằng rất nhiều buổi nói chuyện sẽ bao hàm hai giai đoạn thuyết trình: Thuyết trình chính thức và Thuyết trình sau thuyết trình. Hãy đảm bảo thành công trọn vẹn cho buổi thuyết trình của bạn bằng việc sử dụng các kỹ thuật trên trong quãng thời gian trả lời các câu hỏi từ phía người nghe.

SOURCE: http://www.bwportal.com.vn