MƯỜI NĂM LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

PHẠM XUÂN THỌ – Chánh Tòa Kinh tế – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1993 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 1994. Luật phá sản doanh nghiệp có 52 điều, bao gồm một số điều khoản về nội dung, một số điều khoản về thủ tục tố tụng tại Tòa án và một số điều khoản về thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Qua gần 10 năm thi hành Luật phá sản doanh nghiệp cho thấy đạo luật này đã đóng một vai trò nhất định trong đời sống kinh tế của đất nước.

Theo số liệu đã được công bố thì đến cuối năm 2003, toàn ngành Tòa án thụ lý 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trong số đó tuyên bố được 46 doanh nghiệp bị phá sản.

Việc thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp có một kết quả bước đầu, tuy nhiên không được như mong đợi. Số liệu này rõ ràng không phải nói lên rằng doanh nghiệp tại Việt Nam lâm vào tình trạng phá sản ít. Thực tế cho thấy số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, mất cân đối tài chính nghiêm trọng, thực sự lâm vào tình trạng phá sản lớn gấp nhiều lần con số này.

I. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ

PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn. Hàng ngàn doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã được thành lập và tập trung hoạt động tại đây. Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, hiện tượng một số doanh nghiệp tại thành phố không đứng vững, gặp khó khăn về tài chính, làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng phá sản, dẫn đến vi phạm pháp luật là quy luật tất yếu.

Tính đến nay, đã có 23 doanh nghiệp có yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Danh sách cụ thể như sau:

1. Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ Tân Bình (TAMEXCO)

2. Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương

3. Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga

4. Xí nghiệp Nấm

5. Công ty Sài Gòn kỹ nghệ nông cơ (SAKYNO)

6. Công ty thương mại Bình Tây

7. Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ

8. Công ty xuất nhập khẩu quận 3 (TRILIMEX)

9. Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO)

10. Công ty vật tư thương mại quận 3 (TPHCM)

11. Công ty liên doanh tổng hợp Lâm Hà

12. Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp TPHCM

13. Công ty Lam Sơn (quận Phú Nhuận TPHCM)

14. Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong

15. Công ty TNHH thương mại Đức Thắng

16. Công ty TNHH may mặc và chế biến nông sản Ngọc Thảo

17. Công ty TNHH thương mại Bảo Sơn

18. Công ty TNHH Đông Á

19. Công ty Marixon

20. Công ty Compunet

21. Công ty KOENV

22. Công ty KASVINA

23. Hợp tác xã Thành Công (Quận 6 TPHCM)

So với các địa phương khác, số lượng như trên là tương đối nhiều. Tuy nhiên, so với số doanh nghiệp của thành phố đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không thể tiếp tục hoạt động thì có lẽ lại là quá ít. Hiện tượng này là tình trạng chung ở nhiều địa phương khác.

Về phân loại số doanh nghiệp nói trên, theo thứ tự ơ trên thì như sau:

– 13 công ty và xí nghiệp là doanh nghiệp nhà nước (từ 1 đến 13 theo thứ tự danh sách nói trên).

– 5 công ty trách nhiệm hữu hạn (từ 14- 19).

– 4 công ty 100% vốn nước ngoài được thành lập và đăng ký hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (từ 20 đến 22).

– 1 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp.

Trong số nói trên, sau khi xem xét, đã và đang xử lý:

– Hoàn trả 5 hồ sơ vì không hội đủ các thủ tục theo quy định (như không có báo cáo quyết toán tài chính, hoặc có báo cáo nhưng chưa có ý kiến cơ quan kiểm toán. Trong số hồ sơ hoàn trả có 1 công ty TNHH và 4 công ty 100% vốn nước ngoài.

– Ra quyết định không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 1 hồ sơ vì không cung cấp đủ hồ sơ báo cáo và các tài liệu theo quy định (hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Thành Công).

– Đã ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 14 hồ sơ, gồm 10 doanh nghiệp nhà nước, 4 công ty TNHH.

– Đang hoàn thiện và bổ túc 3 hồ sơ (doanh nghiệp nhà nước)

So với các địa phương khác, số lượng như trên là tương đối nhiều. Tuy nhiên, so với số doanh nghiệp của thành phố đang lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, không thể tiếp tục hoạt động thì có lẽ lại là quá ít.

Trong số 14 doanh nghiệp đã ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh, đến nay đãõ giải quyết xong 11 vụ. Theo thứ tự thời gian, có thể liệt kê các vụ việc cụ thể như sau:

1. Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong

Thành lập với 4 thành viên, đăng ký kinh doanh tháng 3/1993, vốn điều lệ 600.000.000 đồng, ngành nghề chính là kinh doanh thương mại tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, vật liệu xây dựng, lương thực thực phẩm… mới hơn 1 năm sau, tháng 11/1994 Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Đúng 30 ngày sau khi nhận đơn, ngày 12/12/1994 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong.

Tổng số nợ phải trả là 4.377.773.596 đồng

Tổng số nợ phải thu 173.692.334 đồng

Tổng giá trị tài sản 238.138.781 đồng

Mất khả năng thanh toán 3.965.942.481 đồng

Tuy nhiên, hội nghị chủ nợ họp ngày 17/01/1996 đã nhất trí 100% thông qua phương án hòa giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngày 01/2/1996 Tòa án đã ra quyết định công nhận biên bản hòa giải thành và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong, tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Đến nay việc tạm đình chỉ đã trôi qua hơn 5 năm. Không có thông tin gì về kết quả tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH thương mại Hiệp Phong.

2. Công ty TNHH thương mại Đức Thắng

Thành lập với 4 thành viên, đăng ký kinh doanh tháng 3/1993, vốn điều lệ 555.000.000 đồng, ngành nghề chính là may công nghiệp và dân dụng… Đến tháng 11/1996 Công ty TNHH thương mại Đức Thắng nộp đơn và ngày 11/10/1996 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Tổng số nợ phải trả là 1.888.706.209 đồng

Tổng số nợ phải thu 1.176.431.003 đồng

Tổng giá trị tài sản 12.550.000 đồng

Mất khả năng thanh toán 712.275.205 đồng

Tuy mất cân đối không nhiều, nhưng hội nghị chủ nợ họp ngày 16/7/1997 vẫn quyết định tuyên bố phá sản công ty và thông qua phương án phân chia tài sản

Ngày 16/7/1997 Tòa án đã ra quyết định tuyên bố phá sản Công ty TNHH thương mại Đức Thắng.

3. Công ty sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu dịch vụ Tân Bình (Tamexco)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 12/1993, Tamexco là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ nhưng được giao cho Quận uỷ quận Tân Bình trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là kinh doanh thương mại, dịch vụ, du lịch và xuất nhập khẩu.

Tháng 10/1995 giám đốc công ty bị bắt trong một vụ án hình sự và bị truy tố trước pháp luật. Tháng 3/1997 đại diện Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản.

Tuy nhiên, phải đến ngày 30/8/1997 sau khi có ý kiến của cơ quan kiểm toán và có kết quả xét xử vụ án hình sự đối với giám đốc công ty, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh mới ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tamexco.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 368.321.392.108 đồng

Tổng số nợ phải thu 253.541.520.213 đồng

Tổng giá trị tài sản 9.463.842.880 đồng

Mất khả năng thanh toán 105.316.029.015 đồng

Tuy nhiên, mất cân đối của công ty là nghiêm trọng vì nợ có khả năng thu hồi rất thấp.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên Hội nghị chủ nợ họp ngày 30/12/1997 đã quyết định tuyên bố phá sản công ty và thông qua phương án phân chia tài sản.

Tuy nhiên, do vụ việc phức tạp nên đến ngày 31.3.1999 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh mới công bố quyết định tuyên bố phá sản Tamexco.

Do hai trong số các chủ nợ có đơn khiếu nại nên hồ sơ đã được chuyển lên Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM xem xét.

Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TPHCM đã ra quyết định bác đơn khiếu nại và công nhận quyết định tuyên bố phá sản Tamexco của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật thi hành.

Ngày 28/7/ 2001 Tổ Quản lý tài sản Công ty Tamexco đã thực hiện việc bàn giao hồ sơ tài liệu cho Tổ thanh toán tài sản Tamexco do Sở Tư pháp thành lập, kết thúc việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Tamexco tại Tòa án.

4. Công ty TNHH may mặc và chế biến nông sản Ngọc Thảo

Thành lập với 6 thành viên là các chị em ruột trong một gia đình nguyên là tư sản cũ, đăng ký kinh doanh tháng 3/1992 theo Luật công ty, vốn điều lệ … 600.000.000 đồng, ngành nghề chính là may mặc xuất khẩu, kinh doanh thương mại vật tư nông nghiệp và nông sản.

Tháng 7/1997 Công ty Ngọc Thảo nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Ngày 08/8/1997 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty.

Tổng số nợ phải trả là 324.257.263.422 đồng

Tổng số nợ phải thu 169.898.000 đồng

Tổng giá trị tài sản 199.315.757.543 đồng

Mất khả năng thanh toán 124.771.607.879 đồng

Trong khi Tòa Kinh tế đang xác minh công nợ thì các cơ quan bảo vệ pháp luật khởi tố vụ án hình sự tại Công ty TNHH Ngọc Thảo, bắt tạm giam giám đốc công ty. Tuy nhiên, tiến trình giải quyết phá sản vẫn tiến hành.

Hội nghị chủ nợ họp ngày 29/6/1997 đã phải hoãn do không đủ thành phần tham dự.

Mặc dù đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, nhưng Hội nghị lần hai ngày 17/7/1998 cũng không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm nên hội nghị chủ nợ không thành. Theo quy định tại Điều 31 Luật phá sản doanh nghiệp, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Ngọc Thảo.

Vụ án hình sự tại công ty TNHH Ngọc Thảo cũng kết thúc với mức án cao nhất dành cho giám đốc công ty. Tuy nhiên, không có cơ sở pháp lý rõ ràng nào để xác định pháp nhân công ty cũng đã không còn.

5. Công ty TNHH thương mại Bảo Sơn

Thành lập với 4 thành viên, đăng ký kinh doanh tháng 11/1996, vốn điều lệ 600.000.000 đồng, ngành nghề chính là kinh doanh thương mại.

Tháng 1/1999 Công ty TNHH Bảo Sơn nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Ngày 10/02/1999 Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty.

Công nợ được xác định như sau:

Tổng số nợ phải trả là 8.697.362.232 đồng

Tổng số nợ phải thu 68.375.430 đồng

Tổng giá trị tài sản 58.874.490 đồng

Mất khả năng thanh toán 8.569.912.312 đồng

Hội nghị chủ nợ họp ngày 12/10/1999 đã phải hoãn do vắng mặt chỉ một chủ nợ, nhưng là chủ nợ lớn nhất, chiếm gần 50% tổng số nợ.

Mặc dù đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập hội nghị chủ nợ, nhưng hội nghị lần hai ngày 11/10/1999 cũng không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm nên hội nghị chủ nợ không thành. Theo quy định tại Điều 31 Luật phá sản doanh nghiệp, Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty TNHH Bảo Sơn.

Hiện nay Công ty TNHH Bảo Sơn tiếp tục nộp đơn (lần thứ hai) yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp vì trên thực tế công ty không hoạt động, vẫn trong tình trạng thua lỗ và không có phương án tổ chức lại doanh nghiệp. Tuy nhiên đơn yêu cầu chưa được thụ lý vì có ý kiến cho rằng không có quy định hoặc hướng dẫn nào chỉ rõ Tòa án được thụ lý lại việc yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp sau khi đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của chính doanh nghiệp đó.

6. Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 10/1992, Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chức năng chính là sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm đông lạnh.

Tuy có mặt bằng rộng lớn và nhiều thiết bị sản xuất chế biến thực phẩm nhưng làm ăn không hiệu quả nhiều năm, giám đốc cũ của công ty dính líu trong một vụ án hình sự và bị truy tố trước pháp luật.

Tháng 5/1998 Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Ngày 20/6/1998 Chánh Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 225.395.657.790 đồng

Tổng số nợ phải thu 1.867.329.793 đồng

Tổng giá trị tài sản 11.444.461.895 đồng

Mất khả năng thanh toán 202.540.804.052 đồng

Tuy nhiên, tài sản về nhà xưởng của công ty có một giá trị tiềm tàng nếu được hợp thức hoá quyền sở hữu.

Đồng thời với việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Công ty cũng xây dựng phương án hòa giải với các chủ nợ và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Ngày 28/10/1998 Hội nghị chủ nợ đã họp. Sau khi phân tích, đánh giá các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của công ty, toàn thề chủ nợ đã nhất trí thông qua phương án hòa giải.

Ngày 1/11/1998 Tòa án đã ra quyết định công nhận biên bản hòa giải thành và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương, tạm đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Sau hai năm thực hiện các giải pháp tổ chức lại sản xuất, ngày 14/11/2000 Công ty Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Hùng Vương đã có báo cáo về tình hình hai năm thực hiện phương án hòa giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TPHCM cũng đã xác nhận việc Công ty đã ngăn chặn được tình hình thua lỗ, tình hình tài chính đã được lành mạnh hóa, không phát sinh công nợ mới quá hạn, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, , xây dựng được phương hướng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh năm 2001 và những năm sau, có nhiều triển vọng thu hút đầu tư, thực hiện các dự án liên doanh, mở ra khả năng giải quyết các tồn đọng để công ty tiếp tục phát triển.

Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hội nghị chủ nợ thông qua phương án hòa giải (từ 28/10/1998 đến 28/10/2000) Tòaa 1n cũng không nhận được bất kỳ khiếu nại nào của các chủ nợ yêu cầu tòa án tiếp tục giải quyết việc tuyên bố phá sản Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương. Do đó theo đề nghị của giám đốc Công ty chế biến thực phẩm xuất khẩu Hùng Vương và giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TPHCM, ngày 29/12/2000 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty.

Cho đến nay, tháng 2/2004 Công ty Chế biến Thực phẩm Xuất khẩu Hùng Vương thực sự đã hoạt động bình thường.

7. Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 6/1993, Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ nhưng Quận uỷ quận 10 trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh thực phẩm chế biến, nông lâm hải sản, bao bì, dịch vụ du lịch, xuất nhập khẩu.

Tháng 4/1999 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 5/1999, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 8.102.673.569 đồng

Tổng số nợ phải thu 3.635.801.738 đồng

Tổng giá trị tài sản 3.312.397.017 đồng

Mất khả năng thanh toán 1.154.474.814 đồng

Tùài sản của công ty tuy được định giá hơn 3 tỷ đồng nhưng giá trị thương mại rất thấp vì là những dây chuyền sản xuất nước giải khát với thiết bị lạc hậu, khả năng thu hồi nợ phải thu rất thấp.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên tại Hội nghị chủ nợ họp ngày 15/02/2001 các chủ nợ đã nhất trí việc tuyên bố phá sản công ty và thông qua phương án phân chia tài sản.

Tháng 9/2001 việc bàn giao tài sản giữa Tổ Quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản Công ty sản xuất kinh doanh dịch vụ cung ứng hàng xuất nhập khẩu Thiên Nga đã tiến hành, kết thúc việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản tại Tòa án, bắt đầu việc thi hành việc phân chia tài sản cho các chủ nợ.

8. Xí nghiệp Nấm

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 10/1992, Xí nghiệp Nấm là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chức năng chính là nghiên cứu thử nghiệm, sản xuất meo nấm và nấm.

Tháng 9/1999 Xí nghiệp nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản và được Tòa án thụ lý ngày 30/10/1999.

Ngày 15/10/1999 TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Xí nghiệp Nấm.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 2.743.528.689 đồng VN và

21.335 USD

Tổng số nợ phải thu 222.452.754 đồng

Tổng giá trị tài sản 1.776.870.804 đồng

Mất khả năng thanh toán 976.657.885 đồng và

21.335 USD

Theo chủ trương của cơ quan chủ quản về việc chấm dứt hoạt động, Xí nghiệp không xây dựng các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, Hội nghị chủ nợ (lần thứ nhất) họp ngày 15/01/2001 đã phải hoãn do không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm.

Ngày 10/ 10/2001 Hội nghị chủ nợ (lần thứ hai) đã được tiến hành.

Ngày 04/02/2001 Tòa án nhân dân thành phố đã ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Xí nghiệp Nấm.

9. Công ty thương mại Bình Tây

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 6/1993, Công ty thương mại Bình Tây là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ nhưng Quận uỷ quận 6 trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh thực phẩm chế biến, nông lâm hải sản, bao bì, dịch vụ du lịch, xuất nhập khẩu.

Tháng 4/1999 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 5/1999, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty thương mại Bình Tây.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 20.539.714.654 đồng

Tổng số nợ phải thu 24.641.055.373 đồng

Tổng giá trị tài sản 2.544.634.333 đồng

Với số liệu như trên thì doanh nghiệp không mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trong số nợ phải thu có những khoản nợ rất khó khả năng thu hồi.

Hội nghị chủ nợ (lần thứ nhất) dự kiến họp ngày 26/8/2002 đã phải hoãn do không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm.

Ngày 25/9/2002 Hội nghị chủ nợ (lần thứ hai) cũng đã phải hoãn do không đủ số chủ nợ đại diện cho 2/3 tổng số nợ không bảo đảm.

Căn cứ khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 31 Luật phá sản doanh nghiệp, ngày 01/10/2002 Tòa án nhân dân thành phố đã ra quyết định đình chỉ giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty thương mại Bình Tây.

10. Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 12/1992, Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ là doanh nghiệp thuộc UBND huyện Cần Giờ trực tiếp quản lý, có ngành nghề sản xuất kinh doanh tổng hợp, dịch vụ du lịch, xuất nhập khẩu và đầu tư.

Ngay từ những năm 1993-1996 Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ đã gặp những khó khăn về tài chính do không phát triển được sản xuất, vốn đầu tư nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản không thu hồi được.

Tháng 6/1999 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 7/1999, Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Cần Giờ.

Theo tài liệu do Công ty báo cáo thì số liệu công nợ như sau:

Tổng số nợ phải trả là 19.050.273.821 đồng

Tổng số nợ phải thu 8.913.375.827 đồng

Mất khả năng thanh toán 10.136.897.994 đồng

Tuy nhiên, tài sản của công ty hầu như không còn giá trị sử dụng, nợ phải thu không có khả năng thu hồi nên theo nhận định của Công ty, số mất cân đối có thể còn cao hơn nhiều.

Việc định giá các tài sản rất khó khăn do nhiều công trình nhà xưởng nằm trong khu quy hoạch và không có hồ sơ giao đất rõ ràng.

11. Công ty Sài Gòn kỹ nghệ nông cơ (SAKYNO)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 5/1993, Công ty Sài gòn kỹ nghệ nông cơ là doanh nghiệp nhà nước thuộc Sở Công nghiệp TPHCM, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh các mặt hàng công nghiệp và xuất nhập khẩu.

Thực hiện chủ trương của UBND và Sở Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh về việc sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, chấm dứt hoạt động của một số doanh nghiệp, Công ty SAKYNO nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 10/2000 Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Sài gòn kỹ nghệ nông cơ.

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 47.650.330.792 đồng

Tổng số nợ phải thu 10.283.107.390 đồng

Và 11.128 USD

Tổng giá trị tài sản 51.948.740.460 đồng

Nếu theo số liệu nói trên thì Công ty không mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, trong số giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp nói trên có quyền sử dụng đất mà Công ty được giao và đang cho doanh nghiệp khác thuê lại. Có khả năng khu đất này sẽ bị thu hồi mà không được đền bù theo giá trị như đã dự kiến. Đây là vấn đề phức tạp cần được xem xét để thống nhất cách xử lý.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Hiện nay (2/2004) việc triệu tập Hội nghị chủ nợ đang được chuẩn bị.

12. Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 6/1993, Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO) là doanh nghiệp thuộc Ban Tài chính quản trị Thành uỷ TPHCM nhưng giao cho Quận uỉy quận 3 trực tiếp quản lý, ngành nghề chính là sản xuất kinh doanh thương mại, dịch vụ, xuất nhập khẩu.

Thời gian những năm 1993-1995 trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, giám đốc Công ty đã làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, làm cho Công ty đứng trên bờ vực phá sản.

Sau khi vụ án hình sự tại GESEBCO kết thúc, tháng 10/2001 Công ty nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp để chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại về mặt pháp lý. Kèm theo đơn có đầy đủ hồ sơ, tài liệu theo quy định.

Tháng 2/2002 Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO).

Sau quá trình xác minh, số liệu công nợ cụ thể như sau:

Tổng số nợ phải trả là 12.634.247.006 đồng

Tổng số nợ phải thu 140.253.834 đồng

Tổng giá trị tài sản (không)

Mất khả năng thanh toán 12.493.993.172 đồng

Tùài sản của công ty hầu như không còn gì ngoài một số phế liệu và bàn ghế cũ nát không có giá trị sử dụng , nợ phải thu thì khả năng thu hồi cũng rất thấp.

Công ty không có phương án hòa giải, không đề xuất các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên tại Hội nghị chủ nợ họp ngày 31/12/2002 các chủ nợ đã nhất trí việc Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định tuyên bố phá sản Công ty sản xuất và thương mại quận 3 (GESEBCO).

13. Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò vấp

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 10/1992, Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp là doanh nghiệp nhà nước do UBND quận trực tiếp quản lý.

Tháng Công ty nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản và được Tòa án thụ lý ngày 30/10/1999.

Ngày 17/12/2003 TAND thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp.

Theo báo cáo của Công ty thì số liệu công nợ như sau:

Tổng số nợ phải trả là 11.188.108.610 đồng

Tổng số nợ phải thu 29.902.962.761 đồng

Tổng giá trị tài sản 18.789.169.097 đồng

Mất khả năng thanh toán 9.188.108.610 đồng

Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty du lịch và dịch vụ tổng hợp quận Gò Vấp đang vào giai đoạn cuối, dự kiến đến đầu tháng 4/2004 sẽ niêm yết danh sách chủ nợ. Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ và ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ thực hiện trong tháng 4 hoặc tháng 5/2004.

14. Công ty Lam Sơn (quận Phú Nhuận TPHCM)

Thành lập và đăng ký kinh doanh tháng 12/1992, Công ty Lam Sơn (được nhiều người biết đến với tên Sơn mài Lam Sơn) là doanh nghiệp nhà nước thuộc UBND quận Phú Nhuận quản lý, chức năng chính là sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu và tiêu thụ nội địa các mặt hàng sơn mài, gốm sứ, đồ gỗ, may mặc, da, cao su, nông lâm hải sản, các loại vật tư, nhiên liệu, kiều hối, dịch vụ du lịch, địa ốc,…

Nay từ năm 1993 Công ty Lam Sơn đã gặp những khó khăn về tài chính. Phần lớn vốn vay bị đóng băng vào địa ốc, bị chiếm dụng. Đến năm 1994 Công ty đã bị lỗ gần 15 tỷ đồng.

Liên tục trong những năm 1996-1997 Công ty xin các chủ nợ ngân hàng khoanh nợ nhưng chỉ đến năm 1998 theo đề nghị của UBND thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Chính phủ mới cho phép khoanh nợ trong thời hạn 5 năm và thí điểm việc chuyển quyền sử dụng đất.

Tình hình tài chính của Công ty vẫn vô cùng khó khăn. Đến thời điểm 1999 mất cân đối 60 tỷ đồng.

Tháng 8/2003 Công ty đã làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo chủ trương của cơ quan chủ quản. Tuy nhiên, do cần hổ túc và hoàn thiện hồ sơ nên đến ngày 04/12/2003 Tòa án có mới quyết định thụ lý.

Ngày 25/12/2003 TAND thành phố Hồ Chí Minh chính htực ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty Lam Sơn.

Theo báo cáo của Công ty thì số liệu công nợ tính đến 31/12/2002 như sau:

Tổng số nợ phải trả 38.736.751.726 đồng

Tổng số nợ phải thu 11.518.111.546 đồng

Tổng giá trị tài sản 6.276.083.252 đồng

Mất khả năng thanh toán 20.942.556.928 đồng

Tuy nhiên, nhờ áp dụng những biện pháp khắc phục một cách tích cực như bán hàng tồn kho, bán các tài sản có giá trị lớn nên đến cuối năm 2003, tình hình tài chính đã có chuyển biến rất khả quan. Cũng theo báo cáo của Công ty thì tính đến 31/12/2003, số liệu công nợ như sau:

Tổng số nợ phải trả 21.992.310.271 đồng

Tổng số nợ phải thu 6.460.314.972 đồng

Tổng giá trị tài sản 6.276.083.252 đồng

Mất khả năng thanh toán 9.255.912.047 đồng

(Số mất cân đối có thể còn cao hơn vì nhiều khoản nợ phải thu nhưng không có khả năng thu hồi và giá trị tài sản nếu tính theo giá thị trường sẽ thấp hơn nhiều).

Việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Công ty Lam Sơn đang vào giai đoạn cuối, dự kiến đến cuối tháng 3/2004 sẽ niêm yết danh sách chủ nợ. Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ và ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp sẽ thực hiện trong tháng 4/2004.

II. VƯỚNG MẮC TRONG TỐ TỤNG PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP TRƯỚC MẮT

Luật phá sản doanh nghiệp hiện hành có 52 điều, bao gồm một số điều khoản về nội dung, một số điều khoản về thủ tục tố tụng tại Tòa án và một số điều khoản về thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Cách thiết kế này có khác so với nhiều luật và bộ luật trong các lĩnh vực khác. Chẳng hạn, trong hình sự, dân sự hay kinh tế, hành chính và lao động. Chúng ta có Bộ luật hình sự và Bộ luật dân sự là bộ luật về nội dung. Ngoài ra có Bộ luật về tố tụng hình sự và pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự riêng. Cũng tương tự như vậy, chúng ta có pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có 88 điều; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế có 90 điều; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động có 106 điều. Trong khi đó, các điều khoản về thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong Luật Phá sản doanh nghiệp chỉ có chưa đến 50 điều.

Có lẽ do sự quá đơn giản của Luật phá sản và sự ít ỏi của văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành Luật phá sản đã gây khó khăn và lúng túng cho các Tòa án và doanh nghiệp trong việc triển khai thực hiện. Trong khi đó, như mọi người biết, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp luôn luôn là việc phức tạp vì cùng lúc phải giải quyết cả các quan hệ về kinh tế, về dân sự và lao động của doanh nghiệp. Mặt khác, có nhiều vấn đề được quy định trong Luật phá sản doanh nghiệp nhưng đã không rõ ràng, nhiều vướng mắc không được tháo gỡ.

Đã qua gần 10 năm tồn tại nhưng hình như Luật phá sản doanh nghiệp chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được vai trò nổi bật trong việc quản lý nhà nước về kinh tế, chưa thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

Tuy nhiên, việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh vẫn được tiến hành theo yêu cầu của doanh nghiệp, các thủ tục được tiến hành đầy đủ, đúng trình tự theo quy định và nói chung là có kết quả. Tuy nhiên, vẫn còn khá nhiều vấn đề vướng mắc. Sau đây là một số vấn đề cụ thể:

1. Đương sự trong thủ tục phá sản

Tại Điều 3 Luật phá sản doanh nghiệp có nêu một số khái niệm như “Chủ nợ có bảo đảm”, “Chủ nợ có bảo đảm một phần”, “Chủ nợ không có bảo đảm”, “Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp”… Chúng tôi hiểu đây là các đương sự tham gia tố tụng trong phá sản doanh nghiệp.

Tuy nhiên, còn nhiều các đương sự khác như “Người mắc nợ doanh nghiệp” với những khoản nợ phải thu, “Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của doanh nghiệp, v.v… đã không được xác định rõ nên trong nhiều quan hệ trong lúc giải quyết phá sản doanh nghiệp đã không đề cập đến họ, họ không được tham gia tố tụng, dẫn đến quyền lợi chính đáng của họ có thể không được bảo đảm.

Ví dụ: Trong việc niêm yết, Điều 22 Luật phá sản doanh nghiệp chỉ nói đến niêm yết danh sách chủ nợ và quyền khiếu nại của chủ nợ. Ngoài ra, không có điều khoản nào nói đến việc niêm yết danh sách nợ phải thu và quyền khiếu nại của những người mắc nợ doanh nghiệp.

Trong thực tiễn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản tại TAND thành phố Hồ Chí Minh, các Tổ QLTS niêm yết tất cả mọi danh sách và Thẩm phán đã giải quyết mọi khiếu nại, kể cả những người mắc nợ doanh nghiệp.

2. Sự tham gia của đương sự trong các giai đoạn giải quyết phá sản

Trong một số giai đoạn của quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ và đại diện của doanh nghiệp phải cử người đại diện tham gia làm việc (ví dụ Tổ Quản lý tài sản, Tổ thanh toán tài sản.

Trong trường hợp chủ doanh nghiệp không uỷ quyền, không cử người đại diện thì Tòa án hoặc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (UBND, Sở KHĐT) nhất thiết và có thể chỉ định người đại diện hay không? Có thể giải quyết vắng mặt họ được không?

3. Tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân

Điều 5 Luật phá sản doanh nghiệp nói về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay không thấy có hướng dẫn cụ thể về việc tiến hành hay tham gia tố tụng như thế nào. Kiểm sát viên tham gia các công việc của Tổ quản lý tài sản ra sao? Có dự hội nghị chủ nợ không và nếu dự thì vai trò, quyền hạn như thế nào? Tòa án có phải làm giấy mời đến dự hay không?

Theo chúng tôi, cũng như trong tố tụng giải quyết các vụ án kinh tế, Kiểm sát viên có quyền tham gia bất cứ giai đoạn nào trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp để kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Tòa án có trách nhiệm gửi tất cả các quyết định đã ban hành cho Viện kiểm sát để Viện thực hiện chức năng nhiệm vụ theo quy định chung của pháp luật.

4. Chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ

Điều 7 quy định khi nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, chủ nợ phải chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Việc này là không thực tế vì chủ nợ chỉ biết là doanh nghiệp mắc nợ đã không chịu trả nợ cho mình, không thể khẳng định nguyên nhân việc không trả nợ và khả năng tài chính của doanh nghiệp còn hay mất.

Điều 8 quy định đại diện công đoàn người lao động yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Hồ sơ của chủ nợ và của công đoàn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp phải có báo cáo quyết toán tài chính 2 năm cuối cùng được cơ quan kiểm toán xác nhận là điều kiện không thể đáp ứng. Nhiều doanh nghiệp do bị thất lạc đã không còn đủ sổ sách kế toán, không đủ tiền để thuê kiểm toán (tốn phí khoảng 35-45 triệu đồng), không còn tiền để tạm ứng lệ phí và chi phí phá sản doanh nghiệp (10 triệu đồng đăng báo trung ương và địa phương 3 số liên tiếp về quyết định mở thủ tục, 10 triệu đồng quyết định tuyên bố đình chỉ hoaặc tuyên bố phá sản doanh nghiệp).

5. Người có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Người có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp là chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần (Điều 7 Luật PSDN), đại diện công đoàn hoặc đại diện ngưòi lao động (Điều 8), chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp (Điều 9).

Theo chúng tôi, cần bổ sung người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp là các cơ quan quản lý nhà nước (UBND tỉnh, thành phố và Bộ hoặc Sở Kế hoạch đầu tư) và cũng có thể cả các cơ quan bảo vệ pháp luật.

6. Toà án thông báo cho các chủ nợ

Điều 10 Luật phá sản doanh nghiệp quy định: Trong khi giải quyết các vụ án có liên quan đến doanh nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Toà án thông báo cho các chủ nợ, doanh nghiệp đó biết để nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Các vụ án nói ở đây gồm những vụ án gì? Có bao gồm cả dân sự hoặc hình sự mà có xét xử trách nhiệm dân sự của doanh nghiệp hay không?

Nếu Toà án đã thông báo mà các chủ nợ không nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì xử lý thế nào?

7. Gửi báo cáo về khả năng thanh toán nợ

Điều 12 Luật phá sản doanh nghiệp quy định: Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày thụ lý đơn (của chủ nợ, đơn của người lao động), Toà án phải thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp mắc nợ biết, có bản sao đơn và các tài liệu liên quan kèm theo.

Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án, doanh nghiệp bị yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản phải gửi cho Toà án báo cáo về khả năng thanh toán nợ. Trong trường hợp doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, thì doanh nghiệp phải gửi đến Toà án các báo cáo và các tài liệu như quy định tại điểm b và c, khoản 2 Điều 9 của Luật này.

Vấn đề ở chỗ: Nếu đã được thông báo nhưng doanh nghiệp không chịu gửi đến Toà án các báo cáo và các tài liệu như quy định nói trên thì Tòa án làm gì?

Có thể có hai cách đặt vấn đề và hai cách xử lý:

– Với lý do không có báo cáo của doanh nghiệp, coi như không có đủ hồ sơ tài liệu nên không đủ căn cứ ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo Điều 14 Luật phá sản doanh nghiệp?

Trường hợp này vô hình trung làm mất quyền của chủ nợ và của công đoàn người lao động yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

– Doanh nghiệp không chịu gửi báo cáo, coi như chấp nhận yêu cầu của chủ nợ hoặc người lao động đề nghị Tòa án ra quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

8. Giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh nghiệp

Điều 16 Luật phá sản quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là giám sát và kiểm tra hoạt động của các nhân viên Tổ quản lý tài sản; Điều 17 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ quản lý tài sản, đặc biệt là giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản của doanh nghiệp.

Điều 18 quy định: Mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát, kiểm tra của Thẩm phán và Tổ quản lý tài sản.

Điều 23 quy định: Trong thời gian giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, các khoản nợ mới phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp được thanh toán dưới sự giám sát của Thẩm phán.

Trong thực tế, Tổ quản lý tài sản đã rất lúng túng trong việc giám sát như thế nào? Các khoản thu, chi quỹ tiền mặt, bảng trả lương có phải được Tổ QLTS và Thẩm phán “duyệt” hay không?

9. Lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả, danh sách người mắc nợ và số nợ phải thu

Điều 17 quy định nhiệm vụ của Tổ quản lý tài sản lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả, danh sách người mắc nợ và số nợ phải thu và toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.

Vấn đề vướng mắc ở chỗ: Nếu có tranh chấp trong việc xác định số nợ, tranh chấp về tài sản của doanh nghiệp thì giải quyết như thế nào?

Các vụ án kinh tế bị đình chỉ việc giải quyết khi có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì có phải đưa vào giải quyết luôn trong giai đoạn này không?

Nhiều ý kiến phân vân cho rằng không thể đưa vào giải quyết chung trong phá sản được. Nhưng tách giải quyết riêng thì cũng không xong!

Cần hướng dẫn rõ hơn về thủ tục, cách thức giải quyết tranh chấp công nợ phát sinh khi Tổ Quản lý tài sản niêm yết danh sách chủ nợ và số nợ phải trả, danh sách người mắc nợ và số nợ phải thu. Trình tự và thủ tục để Thẩm phán giải quyết khiếu nại như thế nào để bảo đảm việc giải quyết là chính xác.

10. Nợ mới phát sinh sau khi khoá sổ danh sách chủ nợ

Điều 27 quy định việc khoá sổ danh sách chủ nợ. Nếu có nợ phát sinh sau khi đã khoá sổ danh sách chủ nợ thì xem xét như thế nào? Có thể bổ sung danh sách chủ nợ được không?

11. Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp do hội nghị chủ nợ không thành

Điều 31 khoản 2 quy định: Nếu hội nghị chủ nợ không thành do không đủ số chủ nợ theo quy định, thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Trong trường hợp này phải chăng doanh nghiệp lại trở về hoạt động bình thường, không lâm vào tình trạng phá sản?

Sau thời gian bao lâu thì doanh nghiệp lại có quyền nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản (lần 2)?

12. Đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo đề nghị của doanh nghiệp

Điều 35 quy định việc đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp theo đề nghị của doanh nghiệp sau thời hạn 2 năm.

Tuy nhiên, có trường hợp đã hết thời hạn tổ chức lại kinh doanh, doanh nghiệp không có báo cáo là kinh doanh có hiệu quả hay không, có thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo kế hoạch đã được hội nghị chủ nợ thông qua hay không, cũng không đề nghị Thẩm phán đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Chủ nợ cũng không ý kiến gì về việc doanh nghiệp thực hiện được hay không được các nghĩa vụ của mình theo kế hoạch đã được hội nghị chủ nợ thông qua. Phải chăng việc tạm đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp cứ kéo dài vô thời hạn?

13. Thụ lý tranh chấp hợp đồng kinh tế sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Nếu việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp bị Tòa án ra quyết định đình chỉ thì việc thụ lý các vụ án tranh chấp hợp đồng kinh tế của doanh nghiệp tiến hành như thế nào?

Có thụ lý hay không đối với các tranh chấp mà:

– Trước đây Tòa án đã có quyết định đình chỉ việc giải quyết do đã mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp?

– Các tranh chấp phát sinh từ trước nhưng chưa ai khởi kiện. Trong quá trình giải quyết phá sản Tòa án đã xem xét và đưa vào danh sách chủ nợ hoặc doanh sách người mắc nợ?

Nếu thụ lý thì cách tính như thế nào về:

– Thời hiệu khởi kiện tính lại từ đầu sau khi có quyết định đình chỉ của Tòa án hay trừ thời gian Tòa án thụ lý giải quyết phá sản doanh nghiệp?

– Cách tính lãi các khoản nợ trong thời gian Tòa án giải quyết phá sản? Khoanh nợ tính từ ngày Tòa án ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ theo quyết định mở thủ tục, hay tính lãi phát sinh liên tục?

14. Tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Điều 20 quy định hết thời hạn 60 ngày, nếu không có phương án hoà giải thì Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Điều 36 quy định Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không có phương án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Có ý kiến cho rằng:

Căn cứ vào Điều 20 và Điều 36 nói trên Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ chỉ để bàn phương án phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng căn cứ vào Điều 20 và Điều 36 nói trên Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ chỉ để bàn phương án phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp.

Nếu đã tống đạt hợp lệ việc triệu tập hội nghị chủ nợ mà chủ nợ nào không đến dự thì coi như từ bỏ quyền biểu quyết tại hội nghị chủ nợ .

Nếu chấp nhận ý kiến này, cần sử đổi khoản 2 Điều 31 “Nếu hội nghị chủ nợ không thành do không đủ số chủ nợ theo quy định, thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp” theo hướng “Trong trường hợp doanh nghiệp mắc nợ không có phương án hòa giải, Hội nghị chủ nợ được triệu tập chỉ để thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật phá sản doanh nghiệp. Hội nghị chủ nợ vẫn được tiến hành nếu các chủ nợ được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt”.

15. Thứ tự ưu tiên trong việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp

Điều 39 quy định việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp theo thứ tự ưu tiên như sau:

1- Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luật cho việc giải quyết phá sản của doanh nghiệp;

2- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

3- Các khoản nợ thuế;

4- Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ.

Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong trường hợp: Nếu doanh nghiệp đang phải thi hành một hoặc nhiều bản án về trách nhiệm dân sự hay kinh tế của mình thì thứ tự ưu tiên này có còn ý nghĩa nữa hay không?

16. Thi hành án khi Tòa án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Trong thời gian Tòa án đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp phải thi hành bản án kinh tế, dân sự hoặc dân sự trong hình sự về trả nợ thì xử lý thế nào:

– Có đưa người được thi hành án vào danh sách chủ nợ không và họ có phải là chủ nợ có bảo đảm không, có được ưu tiên gì không?

– Việc thi hành bản án về thanh toán nợ của doanh nghiệp vẫn được tiến hành bình thường (riêng rẽ với phân chia tài sản của doanh nghiệp thủ tục phá sản doanh nghiệp) hay cần hoãn lại để thi hành chung trong quá trình phân chia tài sản của doanh nghiệp theo thủ tục phá sản doanh nghiệp?

17. Khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Điều 40 quy định các chủ nợ và doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản có quyền gửi đơn khiếu nại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

Nếu nội dung khiếu nại hoặc kháng nghị chỉ liên quan đến một khoản nợ trong việc xác định công nợ hoặc một tài sản trong việc phân chia tài sản thì các phần khác của quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có bị ảnh hưởng không?

18. Thời điểm doanh nghiệp mất quyền quản lý tài sản

Do quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có thể bị chủ nợ khiếu nại, bị Viện kiểm sát kháng nghị (qui định tại Điều 40 Luật phá sản doanh nghiệp) nên quyết định chưa có hiệu lực thi hành. Nếu qui định thời điểm doanh nghiệp mất quyền quản lý tài sản kể từ thời điểm Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp thì không phù hợp.

Đề nghị qui định thời điểm doanh nghiệp mất quyền quản lý tài sản là kể từ thời điểm quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp có hiệu lực pháp luật, thay vì kể từ thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp như đã qui định tại Điều 23 Nghị định 189/CP ngày 23/12/1994 hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp.

19. Giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, doanh nghiệp có liên quan đến cá nhân, tổ chức nước ngoài

Điều 51 quy định việc giải quyết phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam có liên quan đến cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có một số doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Chủ doanh nghiệp, giám đốc doanh nghiệp đều là người nước ngoài. Do làm ăn thua lỗ nên đều bỏ về nước. Không còn ai ở Việt Nam được coi là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp. Xử lý thế nào?

Cần có hướng dẫn cụ thể về việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phù hợp với đặc thù của loại doanh nghiệp này.

Đề nghị quy định:

Trong quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải có mặt tại Việt Nam để thực hiện các thủ tục cần thiết.

Nếu chủ doanh nghiệp là người nước ngoài đã về nước thì họ phải trở lại Việt Nam để thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật. Nếu chủ doanh nghiệp không có điều kiện hoặc không muốn trở lại Việt Nam thì họ phải uỷ quyền hợp pháp cho người khác đại diện tại Việt Nam để thực hiện các thủ tục và tham gia việc quản lý tài sản của doanh nghiệp.

Nếu chủ doanh nghiệp không trở lại Việt Nam, cũng không uỷ quyền hợp pháp cho người khác đại diện thì cơ quan cấp phép đầu tư chỉ định người quản lý tài sản của doanh nghiệp và là đại diện để thực hiện các thủ tục cần thiết. UBND, Sở KHĐT với chức năng là cơ quan nhà nước về quản lý đầu tư có thẩm quyền chỉ định người đại diện để thực hiện các thủ tục yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp.

III. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

TỐ TỤNG PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP

Như chúng ta đã biết, mục đích của việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và những người có liên quan, nhất là người lao động; xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ khi giải quyết việc phá sản doanh nghiệp; góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả và bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội.

Trong cơ chế thị trường cạnh tranh gay gắt, hiện tượng một số doanh nghiệp không đứng vững, gặp khó khăn về tài chính, làm ăn thua lỗ, lâm vào tình trạng phá sản không nằm ngoài quy luật tất yếu.

Để hoàn thiện hơn nữa pháp luật về phá sản doanh nghiệp, chúng ta phải quán triệt các quan điểm đổi mới về cải cách kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, cần sắp xếp, đổi mới, và phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tạo lập khung pháp luật bảo đảm sự quản lý và giám sát của nhà nước.

1. Có quan điểm đúng về phá sản doanh nghiệp

Nghiên cứu, quán triệt để có quan điểm đúng về phá sản doanh nghiệp, phải coi đây là biện pháp quan trọng trong việc phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong việc sắp xếp, cơ cấu lại và đổi mới hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Theo thống kê không đầy đủ thì chỉ có 40% DNNN là kinh doanh có hiệu quả. Số còn lại hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ. Các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác cũng không khả quan hơn DNNN. Cần phải có cơ chế và biện pháp thích hợp để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp gặp khó khăn thua lỗ có cơ hội rút ra khỏi thương trường một cách trật tự.

2. Cơ chế kiểm tra, kiểm soát doanh nghiệp

Cần xây dựng cơ chế kiểm tra, kiểm soát doanh nghiệp một cách hợp lý, hiệu quả, nhất là về tài chính kế toán để kịp thời phát hiện sớm doanh nghiệp có khó khăn về tài chính để có biện pháp hỗ trợ, tổ chức lại, phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Nếu đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không khắc phục được thì có cách xử lý thích hợp đối với số doanh nghiệp này, làm “trong sạch môi trường” sản xuất kinh doanh.

3. Một số định hướng hoàn thiện pháp luật về phá sản doanh nghiệp

Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn ở các địa phương, nhất là ở các thành phố lớn và các tỉnh có nhiều quan hệ kinh tế để tìm ra những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung Luật phá sản. Các luật về doanh nghiệp hiện hành (Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam,…) đã có nhiều nội dung thay đổi so với các luật đã ban hành vào thời điểm xây dựng Luật phá sản doanh nghiệp 1984 (như Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân (1984). Do đó việc sửa đổi, bổ sung Luật phá sản 1994 cho phù hợp tình hình hiện nay là tất yếu, để luật thực sự đi vào cuộc sống, thực sự trở thành công cụ đắc lực trong quản lý nhà nước, cho chủ đầu tư trong việc tổ chức lại hoặc thanh lý doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn thua lỗ, cần chuyển quyền kiểm soát tài sản của doanh nghiệp mắc nợ sang cho các chủ nợ nhằm sử dụng có hiệu quả hơn, từ đó xem xét và quyết định việc tổ chức lại hoạt động kinh doanh, phục hồi doanh nghiệp hay thanh toán tài sản doanh nghiệp khi chưa quá muộn.

Trên cơ sở phân tích kết quả đã thực hiện và áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp trong thời gian qua, khắc phục và giải đáp những vướng mắc như nói ở trên, cần ban hành các Thông tư liên tịch Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, v.v… hướng dẫn thực hiện và triển khai đồng bộ Luật phá sản doanh nghiệp sau khi được bổ sung sửa đổi.

Cần xây dựng và ban hành mẫu biểu áp dụng thống nhất trong tố tụng phá sản. Định kỳ và thường xuyên mở các lớp tập huấn, trao đổi rút kinh nghiệm trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

4. Một số định hướng sửa đổi Luật phá sản doanh nghiệp

– Luật phá sản doanh nghiệp không chỉ quy định về phá sản. Cần quy định các điều kiện cụ thể và các thủ tục cho việc phục hồi doanh nghiệp một cách chủ động và tích cực theo phương châm “còn nước còn tát”, thủ tục thanh toán tài sản để bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ và thủ tục tuyên bố phá sản một khi thấy rõ ràng không còn cơ hội gì cho các thủ tục khác để nhanh chóng kết thúc doanh nghiệp. Cần có quy định về thủ tục rút gọn trong việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong một số trường hợp đặc biệt.

– Quy định cụ thể và rõ ràng hơn tiêu chí xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo hướng cần xác định “càng sớm càng tốt” để còn có nhiều cơ hội cho việc phục hồi doanh nghiệp, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của chủ nợ theo hướng doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không trả được nợ .

– Cần quy định về thành phần và chế độ làm việc của Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh toán tài sản doanh nghiệp một cách gọn nhẹ và hiệu quả hơn. Đại diện công đoàn, đại diện các cơ quan chuyên môn như tài chính, ngân hàng chỉ tham gia khi cần thiết (theo quyết định của Tòa án mở thủ tục), không bắt buộc như hiện nay.

– Để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, cần có những quy định để đề phòng và chống việc doanh nghiệp tẩu tán tài sản, thanh toán nợ một cách không công bằng cho các chủ nợ, đồng thời cần có quy định tạm đình chỉ việc thi hành tất cả các bản án, các quyết định của Tòa án và tạm đình chỉ giải quyết tất cả các loại án có liên quan đến tài sản doanh nghiệp mà để lại giải quyết chung theo thủ tục phá sản doanh nghiệp.

– Cần quy định và hướng dẫn rõ ràng thủ tục và trình tự xác định tài sản của doanh nghiệp, kể cả nợ phải thu, nợ phải trả, các loại hợp đồng hoặc công nợ có tranh chấp theo hướng trao quyền cho Thẩm phán (hoặc tập thể Thẩm phán) quyết định theo chứng cứ, hồ sơ hiện có. Nếu co khiếu nại thì Tòa án trên một cấp xem xét và quyết định (tương tự như phúc thẩm).

– Quy định hợp lý hơn thứ tự ưu tiên phân chia tài sản, nên coi nợ thuế (chủ nợ là cơ quan thuế) cũng bình đẳng như các chủ nợ khác.

Tháng 3-2004 Phạm Xuân Thọ – Chánh Tòa Kinh tế – Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG – SO SÁNH PHÁP VÀ VIỆT NAM

Chuyên đề 4

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG

UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.

Theo giáo sư Stoufflet, « việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy ». Do đó, các bên hoàn toàn có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.

I – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp

Khả năng lựa chọn.

Theo Công ước Rome, « hợp đồng do pháp luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh » và việc lựa chọn luật áp dụng « phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng » (điều 3, khoản 1). Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây « khi tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc ». Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.

Hiệu lực bắt buộc.

Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, « trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ ». Trong thực tế, việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản về dẫn chiếu luật áp dụng.

II – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam

Tự do lựa chọn.

Theo điều 769, khoản 1, Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ». Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều chỉnh.

Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó, ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.

Thực tế.

Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng. Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.

Nhận xét so sánh.

Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau : « Đối với mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở », bởi như chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Kết luận

Theo quan điểm của chúng tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan đến gian lận không được UCP quy định.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho quan hệ hợp đồng.

Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ. Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong UCP.

Kết luận chung

Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.

Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín dụng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Xuân Quỳnh
Khoa Quốc tế ĐH Luật TPHCM
Tháng 4-2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

Sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ: SO SÁNH PHÁP VÀ VIỆT NAM

PHẠM XUÂN QUỲNH – Khoa Pháp luật Quốc tế, Đại học Luật TP.HCM

Giới thiệu

Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ (UCP) không có tính chất áp dụng bắt buộc. Nó chỉ được áp dụng trong quan hệ thư tín dụng khi các bên lựa chọn hay với vai trò là tập quán quốc tế. Tuy nhiên, bản quy tắc này đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thương mại. Do đó, các chủ thể trong quan hệ tín dụng chứng từ có ý định vận dụng quy định của luật quốc gia trong lĩnh vực này.

Theo giáo sư Legeais, “bên cạnh UCP, việc áp dụng các quy định khác chỉ xảy ra trong ba trường hợp; Thứ nhất, vấn đề cần điều chỉnh không được UCP quy định. Ví dụ như gian lận. Ttrong trường hợp có nhiều bất đồng ý kiến về định nghĩa thế nào là gian lận thì việc xác định luật áp dụng rất quan trọng vì thẩm phán sẽ xem xét hành vi gian lận trên cơ sở luật áp dụng đối với quan hệ thư tín dụng; Thứ hai, thư tín dụng hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của UCP; Thứ ba, các bên loại trừ việc áp dụng một số quy định cụ thể của UCP trong thư tín dụng”.

Một tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm của giáo sư Legeais “mặc dù UCP đã quy định khá chi tiết về tín dụng chứng từ, việc dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia vẫn rất cần thiết”. Tuy nhiên, việc xác định luật áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của các quan hệ pháp lý trong giao dịch thư tín dụng.

Khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh thư tín dụng (Chương I), thẩm phán sẽ áp dụng quy phạm xung đột pháp luật để xác định hệ thống pháp luật phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thẩm phán mất nhiều thời gian và công sức trong việc xác định luật điều chỉnh. Vì thế, một câu hỏi đặt ra rằng liệu các bên có nên thỏa thuận trong hợp đồng về luật áp dụng để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình hay không (Chương II).

CHƯƠNG I. Sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ khi các bên không lựa chọn luật áp dụng

Trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng lưu thông trong thương mại quốc tế đều không có điều khoản dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia. Trong trường hợp đó, luật áp dụng sẽ được xác định căn cứ vào quy phạm xung đột pháp luật trong các công ước quốc tế hoặc trong pháp luật quốc gia. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc xác định luật điều chỉnh trong theo pháp luật của Pháp và theo pháp luật Việt Nam.

I. Việc xác định luật áp dụng tại Pháp

Tiêu chí

Thư tín dụng thực chất là một dạng hợp đồng tín dụng. Do đó, chắc chắn thư tín dụng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Rome về luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng[3]. Khi các bên có liên quan không lựa chọn luật áp dụng theo các quy định của Công ước Rome thì hợp đồng sẽ do pháp luật của nước mà hợp đồng đó có « mối liên hệ mật thiết nhất » điều chỉnh.

Nghĩa vụ đặc thù.

Khi các bên không lựa chọn luật áp dụng thì theo Công ước Rome, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất (Điều 4, khoản 1). Bên cạnh đó, Công ước Rome cũng quy định rằng hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính (Điều 4, khoản 2). Vì thế, theo Công ước Rome, luật áp dụng đối với hợp đồng là luật của nước mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính. Như vậy, phải xác định chủ thể nào thực hiện “nghĩa vụ đặc thù” của hợp đồng. Đối với giao dịch tín dụng chứng từ, để xác định nghĩa vụ đặc thù thì trước tiên phải tìm ra mối quan hệ giữa các bên.

1. Trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Ngân hàng phát hành và người thụ hưởng.

Theo giáo sư Legeais, “khi chỉ có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng thì sẽ có hai lựa chọn cho luật áp dụng : luật của ngân hàng phát hành và luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng. Lựa chọn thứ hai tỏ ra có lợi cho người thụ hưởng và cũng được nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tín dụng chứng từ ủng hộ. Tuy nhiên, một số ý kiến khác[4] lại cho rằng nếu áp dụng luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng thì điều đó không phù hợp với quy định của Điều 4, khoản 2, Công ước Rome. Do đó, áp dụng luật của ngân hàng phát hành hợp lý hơn”. Các thẩm phán Pháp nghiêng về quan điểm này. Bản án của Tòa phúc thẩm Versailles dưới đây là tranh chấp đầu tiên ở Pháp liên quan đến xung đột pháp luật trong giao dịch thư tín dụng dự phòng.

Án lệ

Trong vụ việc này, Egyptair đã bán cho một công ty Ai-len mười bốn chiếc máy bay. Các bên thỏa thuận giao hàng trong hai năm. Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu Ai-len phải ký quỹ một khoản là 15 008 000 USD, tức là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay. Việc hoàn trả khoản tiền này được đảm bảo trong trường hợp hàng hóa giao không phù hợp thỏa thuận, bởi một thư tín dụng dự phòng do Union des Banques Arabes et Françaises, ở Paris phát hành theo yêu cầu của Egyptair. Trong trường hợp này, mục đích của thư tín dụng nhằm đảm bảo việc hoàn trả khoản tiền ký quỹ trên và người yêu cầu mở thư tín dụng là công ty Egyptair. Các bên thỏa thuận rằng thư tín dụng này do UCP điều chỉnh. Người mua Ai-len có quyền yêu cầu trả vào một tài khoản tại New York, một khoản tiền là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay, với điều kiện xuất trình một hối phiếu trả ngay và bằng chứng cho thấy rằng Egyptair đã không giao máy bay đúng theo điều kiện của hợp đồng. Nhà nhập khẩu Ai-len khẳng định rằng luật điều chỉnh quan hệ này là luật của bang New York, cụ thể là Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform commercial code), phần V về thư tín dụng. Việc áp dụng luật của bang New York sẽ mang lại lợi ích cho nhà nhập khẩu Ai-len vì Điều 5-114 quy định rằng ngân hàng phát hành phải thanh toán thư tín dụng trong trường hợp phát hiện gian lận trong khi đó theo Tòa án Pháp thì có dấu hiệu lạm dụng, lừa dối.

Đối với tranh chấp này, Tòa phúc thẩm Versailles phải giải quyết hai vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phân tích lập luận của của thẩm phán liên quan đến luật áp dụng đối với tranh chấp có sự tham gia của các công ty có trụ sở tại nhiều quốc gia. Ba lựa chọn được đặt ra : luật của bang New York có thể được áp dụng bởi đó là luật của nước nơi thư tín dụng được thanh toán ; luật của Ai Cập là nơi người yêu cầu mở thư tín dụng có trụ sở (công ty Egyptair); luật của Pháp là nơi ngân hàng phát hành có trụ sở. Tuy nhiên, Tòa án nhận định rằng “các bên đã thỏa thuận chọn UCP để điều chỉnh thư tín dụng, do đó phải áp dụng luật của Pháp, là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng (tức là hành động từ chối hoặc chấp nhận thanh toán của ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra chứng từ, không phải là hành động chuyển tiền “thực chất” vào tài khoản). Hơn nữa, Pháp cũng đồng thời là nơi đóng trụ sở của ngân hàng phát hành và là nơi ký kết hợp đồng. Việc áp dụng luật của Mỹ, nơi thanh toán thư tín dụng là không hợp lý vì thư tín dụng được thanh toán bằng đô la Mỹ nên số tiền của thư tín dụng được chuyển vào một tài khoản ở Mỹ”[6]. Các thẩm phán cho rằng Pháp là nước có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, luật của Pháp, nơi ngân hàng phát hành có trụ sở, sẽ được áp dụng. Hơn nữa, việc áp dụng luật của Pháp sẽ dẫn đến việc áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất và giúp bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch ngân hàng trong lĩnh vực này.

Ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng.

Để bảo vệ tốt hơn lợi ích của mình, người thụ hưởng luôn mong muốn một ngân hàng khác xác nhận thư tín dụng. Thông thường ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng xác nhận. Trong trường hợp đó, ngân hàng này sẽ cam kết thanh toán trực tiếp và độc lập cho người thụ hưởng. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng giống như quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Do vậy, việc xác định luật áp dụng sẽ tương tự như quan hệ trên. Trên thực tế, khi ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch thư tín dụng thì luật điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng và người thụ hưởng sẽ là luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở.

Theo một phán quyết của Tòa án liên bang Thụy Sỹ, “cam kết của ngân hàng xác nhận dành cho người thụ hưởng tương tự như cam kết của ngân hàng phát hành. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở”. Các thẩm phán của Anh cũng tuân theo nguyên tắc này với nhận định rằng “luật áp dụng trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến cam kết của ngân hàng xác nhận thư tín dụng quốc tế là luật của nước nơi thư tín dụng được thực hiện”.

Ở Pháp, chúng tôi không tìm thấy án lệ về vấn đề này. Tuy nhiên các học giả của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của các thẩm phán Anh và Thụy Sỹ với quan điểm rằng “đối với giao dịch tín dụng chứng từ, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở, nếu không có thỏa thuận khác”. Giáo sư Vasseur cho cho rằng “đối với việc xác nhận thư tín dụng, luật áp dụng là luật của nước nơi ngân hàng xác nhận có trụ sở”.

2. Trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Giới thiệu

Vấn đề về luật áp dụng trở nên phức tạp hơn khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng vào giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta có thể nghĩ đến một giải pháp duy nhất và áp dụng luật của nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở cho tất cả mối quan hệ phát sinh từ thư tín dụng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại cho rằng mỗi quan hệ cần phải chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng. Trên thực tế có rất nhiều tranh chấp về thư tín dụng có sự liên quan của nhiều ngân hàng ở các quốc gia khác nhau. Phán quyết của tòa án Anh sau đây là một ví dụ.

Án lệ. Phán quyết này của thẩm phán Justice Mance liên quan đến luật điều chỉnh thư tín dụng thương mại theo Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980. Tuy đây là một bản án của Anh nhưng vì nó áp dụng Công ước Rome và Pháp cũng là thành viên của Công ước này nên việc nghiên cứu phán quyết của thẩm phán Anh sẽ giúp chúng ta tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu.

Một ngân hàng tại Ấn Độ, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu Ấn Độ, đã phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là một công ty có trụ sở tại London (Anh) nhằm thanh toán hợp đồng mua bán sản phẩm luyện kim. Thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng Ấn Độ, chi nhánh tại London. Ngân hàng xác nhận đã thanh toán khoản tiền theo thư tín dụng. Sau đó, ngân hàng phát hành phát hiện ra rằng các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình là giả mạo và do đó từ chối trả tiền cho ngân hàng xác nhận. Tranh chấp này sẽ do pháp luật quốc gia nào điều chỉnh ? Vì có nhiều mối quan hệ phát sinh trong giao dịch tín dụng chứng từ trên nên sẽ có nhiều giả thiết về luật áp dụng được đặt ra.

Quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận là hợp đồng đại diện với nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng là việc xác nhận thư tín dụng. Đó là mục đích mà ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch này. Luật áp dụng là luật của Anh bởi vì chi nhánh ngân hàng tại Anh cam kết xác nhận thư tín dụng. Theo thẩm phán Mance, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng do luật của Anh điều chỉnh căn cứ vào Điều 4, khoản 2, Công ước Rome.

Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành tại Ấn Độ và người thụ hưởng tại Anh sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia nào? Theo Điều 4, khoản 2, luật áp dụng là luật của Ấn Độ. Do vậy, có thể nhận định rằng một quan hệ tín dụng chứng từ có thể do hai hệ thống pháp luật khác nhau điều chỉnh, tùy thuộc vào việc người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận thanh toán. Theo thẩm phán Mance, giải pháp này sẽ gặp nhiều bất cập. Trên thực tế, ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người thụ hưởng và yêu cầu ngân hàng phát hành trả tiền lại cho mình, tranh chấp này sẽ do luật của Anh điều chỉnh. Nhưng nếu người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành tại Ấn Độ thanh toán thi tranh chấp này do luật của Ấn Độ điều chỉnh.

Để vụ việc sáng tỏ hơn, thẩm phán Mance căn cứ vào điều 4, khoản 5 của Công ước Rome theo đó : “Các quy định tại khoản 2, 3 và 4 sẽ không được áp dụng trong trường hợp hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với một nước khác”. Do đó, trong trường hợp thư tín dụng được xác nhận theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thì mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ do luật của Anh điều chỉnh vì hợp đồng tín dụng đó có mối liên hệ mật thiết nhất với London, nơi có trụ sở của ngân hàng xác nhận.

Án lệ (tiếp).

Năm 1992, Tòa thương mại Paris cũng giải quyết một vụ việc phức tạp tương tự. Công ty Total (Liban) ký hợp đồng mua một tàu chở dầu với một công ty của Panama, thanh toán bằng thư tín dụng do một ngân hàng tại Liban phát hành. Khoản tiền của thư tín dụng được thanh toán tại tại Geneva (Thụy Sỹ). Ngân hàng Liban yêu cầu ngân hàng Saradar (Pháp) xác nhận thư tín dụng và ngân hàng Bruxelles-Lambert đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo vừa là ngân hàng xác nhận. Như vậy, có hai ngân hàng tại Pháp và Thụy Sỹ xác nhận thư tín dụng trên.

Ngày 24 tháng 10, người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng Bruxelles-Lambert và ngày 29 tháng 10, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng các chứng từ hoàn toàn phù hợp và họ đồng ý thanh toán lại cho ngân hàng Thụy Sỹ vào ngày 16 tháng 12. Do đó, ngân hàng Bruxelles-Lambert đã thanh toán khoản tiền của thư tín dụng cho người thụ hưởng. Về phía người yêu cầu mở thư tín dụng, sau khi nhận được các chứng từ, công ty Total (Liban) nhận lô hàng vào ngày 5 tháng 12.

Đến ngày 12 tháng 12, tức là đã vượt quá “thời hạn hợp lý” để từ chối chứng từ theo quy định của UCP, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng phát hiện điểm bất hợp lệ trong bộ chứng từ và từ chối thanh toán. Ngân hàng Thụy Sỹ khởi kiện ra Tòa thương mại Paris và ngân hàng của Pháp buộc phải thanh toán cho ngân hàng Thụy Sỹ. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là luật quốc gia nào sẽ áp dụng cho tranh chấp giữa hai ngân hàng này ?

Ngân hàng Bruxelles-Lambert cho rằng luật áp dụng là luật Thụy Sỹ vì “nghĩa vụ đặc thù trong giao dịch tín dụng chứng từ là việc thanh toán thư tín dụng, được thực hiện tại Thụy Sỹ”. Hơn nữa, các quy định của luật Thụy Sỹ về thư tín dụng sẽ có lợi cho ngân hàng Bruxelles-Lambert hơn là luật của Pháp. Tòa án Pháp nhận định rằng, trong mối quan hệ giữa ngân hàng Bruxelles-Lambert (Thụy Sỹ) và ngân hàng Saradar (Pháp), ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đặc thù là ngân hàng Saradar vì đó là “nghĩa vụ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ hoặc từ chối nếu chứng từ không phù hợp”. Trong vụ việc này, ngân hàng Saradar có nghĩa vụ thanh toán lại cho ngân hàng Bruxelles-Lambert khoản tiền mà ngân hàng này đã trả cho người thụ hưởng.

Nhận xét. Công ước Rome có vai trò rất quan trọng trong việc xác định luật áp dụng trong các tranh chấp tại Pháp. Nó thay thế hoàn toàn cho các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia. Hơn nữa, do sự phức tạp của những mối quan hệ hợp đồng phát sinh từ giao dịch thư tín dụng, các tiêu chí của Công ước cần phải được vận dụng một cách riêng biệt. Cần lưu ý rằng việc áp dụng những tiêu chí này có thể dẫn đến áp dụng một hệ thống luật cho nhiều quan hệ.

II. Việc xác định luật áp dụng tại Việt Nam

Văn bản pháp luật

Theo pháp luật Việt Nam, khi các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng.

Do đó, cần xác định nơi thực hiện thư tín dụng. Điều này quả thật không dễ dàng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hoặc giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận/ngân hàng chiết khấu, nơi thực hiện hợp đồng ở địa điểm nào? Các quan hệ hợp đồng giữa các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ là khác nhau, vì thế nơi thực hiện hợp đồng tín dụng cũng sẽ khác nhau.

Bên cạnh đó, trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Điều 284, khoản 2(b) của Bộ luật Dân sự quy định rằng trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.

Bản án

Để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc xác định nơi thực hiện thư tín dụng, chúng ta cùng lấy một ví dụ, đó là tranh chấp do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết liên quan đến thư tín dụng giữa các công ty Việt Nam và Hàn Quốc.

Công ty L.G. (Hàn Quốc) và công ty C&T (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán dây đồng. Hợp đồng có điều khoản quy định về việc mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty L.G. Ngân hàng V.H. phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của công ty C&T. Ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul là ngân hàng thông báo. Thư tín dụng hết hiệu lực vào ngày 20 tháng 8 năm 1996 tại Hàn Quốc.

Theo các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, thư tín dụng có thời hạn 360 ngày, thanh toán bằng hối phiếu tại ngân hàng V.H. Người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành và nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt là phù hợp thì ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng khi đến hạn. Như chúng ta đã tìm hiểu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một cam kết mà ngân hàng phát hành dành cho người thụ hưởng và người thụ hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mình số tiền trong thư tín dụng với điều kiện chứng từ phù hợp. Theo điều 284, khoản 2(b), Bộ luật dân sự, địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi có trụ sở của bên có quyền, tức là tại nơi có trụ sở của công ty Hàn Quốc.

Tuy nhiên về các vụ việc có yếu tố tương tự do tòa án Singapore giải quyết, thẩm phán Singapore lại nhận định rằng « trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì luật áp dụng là luật của nước có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nơi thanh toán thư tín dụng. Do đó, quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật nơi thực hiện việc thanh toán ». Thẩm phán cho rằng người thụ hưởng có nghĩa vụ xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành bởi thư tín dụng chỉ được thanh toán khi ngân hàng phát hành chấp nhận hối phiếu. Nếu nhìn nhận vụ việc trên theo quan điểm của các thẩm phán Singapore, nơi thực hiện hợp đồng tín dụng sẽ là Việt Nam, vì thế luật Việt Nam sẽ được áp dụng.

Xem xét các yếu tố khác của thư tín dụng cho thấy ngân hàng thông báo được phép chiết khấu thư tín dụng. Do vậy, ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul có thể tham gia với tư cách ngân hàng thông báo và ngân hàng chiết khấu. Nó có quyền chiết khấu bộ chứng từ nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. Giả sử người thụ hưởng Hàn Quốc không xuất trình chứng từ tại ngân hàng phát hành Việt Nam mà xuất trình tại ngân hàng ABN-AMRO. Sau khi kiểm tra, ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ và thanh toán cho người thụ hưởng. Sau đó, ABN-AMRO có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành hoàn trả lại số tiền đã thanh toán. Trong trường hợp này, theo điều 284, khoản 2(b), nơi thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc.

Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng Korea Exchange Bank đã chiết khấu chứng từ. Các học giả cho rằng « cho dù thư tín dụng được phép chiết khấu bởi ngân hàng thông báo hoặc bởi bất kỳ ngân hàng nào thì luật áp dụng cho quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu không có gì thay đổi ». Nếu thư tín dụng được tự do chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào tại Hàn Quốc thì luật của Hàn Quốc vẫn được áp dụng.

Do ngân hàng Việt Nam không có khả năng thanh toán nợ đến hạn, ngân hàng chiết khấu Hàn Quốc đã kiện ngân hàng Việt Nam tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Theo phân tích trên đây, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa ngân hàng Việt Nam và Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, thẩm phán đã áp dụng pháp luật Việt Nam mà không có bất kỳ giải thích, lập luận nào.

Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, “để giúp các bên và tòa án trong việc xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng, chúng ta cần có những quy định cụ thể về nơi thực hiện hợp đồng”. Chẳng hạn, chúng ta có thể quy định nơi thực hiện hợp đồng là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng, tức là nơi đóng trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù đó. Mặt khác, cần đưa ra một danh sách nghĩa vụ đặc thù của những hợp đồng thông dụng như đối với hợp đồng mua bán là nghĩa vụ của người bán, hợp đồng ủy thác là nghĩa vụ của người nhận ủy thác, v.v… Cần lưu ý rằng trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành. Nếu các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng thì ngân hàng phải thanh toán khi đến hạn. Do đó, nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng là nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành, luật áp dụng là luật của Việt Nam. Trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu, nghĩa vụ đặc thù do ngân hàng chiết khấu thực hiện, luật áp dụng là luật của Hàn Quốc.

Nhận xét. Qua những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng quan điểm của thẩm phán mỗi nước có ý nghĩa quyết định đối với luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong giao dịch tín dụng chứng từ. Do tính chất phức tạp của các quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng nên có thể dẫn đến nhiều luật áp dụng cho một quan hệ hoặc mỗi quan hệ lại do một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh. Vì thế, nên chăng các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể nơi thực hiện hợp đồng trong giao dịch tín dụng thư?

Nhận xét so sánh

Hai hệ thống pháp luật đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài đối với giao dịch tín dụng chứng từ khi các bên không thỏa thuận về luật áp điều chỉnh. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, thẩm phán sẽ căn cứ vào quy phạm xung đột để xác định luật điều chỉnh.

Trong luật của Pháp, các quy phạm xung đột được quy định trong Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980, theo đó hợp đồng chịu sự điều chỉnh của luật của quốc gia mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất. Theo tinh thần của Công ước Rome, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia có nơi cư trú hoặc trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù vào thời điểm xác lập hợp đồng.

Căn cứ vào quy phạm xung đột của pháp luật Việt Nam, được cụ thể hóa trong Bộ luật Dân sự, quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Do vậy, với những tiêu chí khác nhau, một quan hệ có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống luật khác nhau, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia.

Tuy nhiên, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam đều phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xác định nghĩa vụ đặc thù và nơi thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng, đặc biệt trong trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ.

Kết luận

Qua việc nghiên cứu các vấn đề trong Chương I, chúng ta nhận thấy rằng số lượng các bản án liên quan đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực thư tín dụng còn rất hạn chế, trong khi đó, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong thương mại quốc tế, những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tại nhiều quốc gia khác nhau có thể dẫn đến các vấn đề xung đột pháp luật phức tạp.

Mỗi quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng biệt. Luật áp dụng cho hợp đồng thương mại không thể được áp dụng đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận với người thụ hưởng. Để xác định luật điều chỉnh phù hợp cho từng quan hệ, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố.

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng thẩm phán gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng đối với giao dịch thư tín dụng do các bên liên quan thường bất đồng về vấn đề này, luôn muốn tòa án áp dụng hệ thống luật có lợi cho mình. Từ đó, nên chăng đưa vào thư tín dụng một điều khoản về luật áp dụng ? Chúng ta hãy tìm hiểu khả năng này trong chương tiếp theo.

CHƯƠNG II. Sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ khi các bên lựa chọn áp dụng

UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.

Theo giáo sư Stoufflet, “việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy”. Do đó, các bên hoàn toàn có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.

I. Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp

Khả năng lựa chọn

Theo Công ước Rome, “hợp đồng do pháp luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh” và việc lựa chọn luật áp dụng “phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng” (Điều 3, khoản 1). Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây “khi tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc”. Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.

Hiệu lực bắt buộc

Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, “trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ”. Trong thực tế, việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản về dẫn chiếu luật áp dụng.

II. Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam

Tự do lựa chọn

Theo Điều 769, khoản 1, Bộ luật Dân sự, “quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác”. Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều chỉnh.

Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó, ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.

Thực tế

Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng. Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.

Nhận xét so sánh

Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau: “Đối với mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở”, bởi như chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Kết luận

Theo quan điểm của chúng tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan đến gian lận không được UCP quy định.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho quan hệ hợp đồng.

Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ. Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong UCP.

Kết luận chung

Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.

Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín dụng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.


SOURCE: Trang thông tin điện tử Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (tand.hochiminhcity.gov.vn)

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: SO SÁNH PHÁP VÀ VIỆT NAM

Chuyên đề 3

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ – So sánh Pháp và Việt Nam

Giới thiệu

Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ (UCP) không có tính chất áp dụng bắt buộc. Nó chỉ được áp dụng trong quan hệ thư tín dụng khi các bên lựa chọn hay với vai trò là tập quán quốc tế. Tuy nhiên, bản quy tắc này đã bộc lộ nhiều thiếu sót, bất cập, không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn thương mại. Do đó, các chủ thể trong quan hệ tín dụng chứng từ có ý định vận dụng quy định của luật quốc gia trong lĩnh vực này.

Theo giáo sư Legeais, « bên cạnh UCP, việc áp dụng các quy định khác chỉ xảy ra trong ba trường hợp. Thứ nhất, vấn đề cần điều chỉnh không được UCP quy định. Ví dụ như gian lận. Ttrong trường hợp có nhiều bất đồng ý kiến về định nghĩa thế nào là gian lận thì việc xác định luật áp dụng rất quan trọng vì thẩm phán sẽ xem xét hành vi gian lận trên cơ sở luật áp dụng đối với quan hệ thư tín dụng. Thứ hai, thư tín dụng hoàn toàn không chịu sự điều chỉnh của UCP. Thứ ba, các bên loại trừ việc áp dụng một số quy định cụ thể của UCP trong thư tín dụng ».

Một tác giả khác cũng ủng hộ quan điểm của giáo sư Legeais « mặc dù UCP đã quy định khá chi tiết về tín dụng chứng từ, việc dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia vẫn rất cần thiết ». Tuy nhiên, việc xác định luật áp dụng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của các quan hệ pháp lý trong giao dịch thư tín dụng.

Khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh thư tín dụng (Chương I), thẩm phán sẽ áp dụng quy phạm xung đột pháp luật để xác định hệ thống pháp luật phù hợp. Tuy nhiên, thực tế cho thấy thẩm phán mất nhiều thời gian và công sức trong việc xác định luật điều chỉnh. Vì thế, một câu hỏi đặt ra rằng liệu các bên có nên thỏa thuận trong hợp đồng về luật áp dụng để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình hay không (Chương II).

CHƯƠNG I

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA

ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

KHI CÁC BÊN KHÔNG LỰA CHỌN LUẬT ÁP DỤNG

Trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng lưu thông trong thương mại quốc tế đều không có điều khoản dẫn chiếu áp dụng luật quốc gia. Trong trường hợp đó, luật áp dụng sẽ được xác định căn cứ vào quy phạm xung đột pháp luật trong các công ước quốc tế hoặc trong pháp luật quốc gia. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu việc xác định luật điều chỉnh trong theo pháp luật của Pháp và theo pháp luật Việt Nam.

I – Việc xác định luật áp dụng tại Pháp

Tiêu chí.

Thư tín dụng thực chất là một dạng hợp đồng tín dụng. Do đó, chắc chắn thư tín dụng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước Rome về luật áp dụng trong lĩnh vực hợp đồng[3]. Khi các bên có liên quan không lựa chọn luật áp dụng theo các quy định của Công ước Rome thì hợp đồng sẽ do pháp luật của nước mà hợp đồng đó có « mối liên hệ mật thiết nhất » điều chỉnh.

Nghĩa vụ đặc thù.

Khi các bên không lựa chọn luật áp dụng thì theo Công ước Rome, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất (điều 4, khoản 1). Bên cạnh đó, Công ước Rome cũng quy định rằng hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính (điều 4, khoản 2). Vì thế, theo Công ước Rome, luật áp dụng đối với hợp đồng là luật của nước mà bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng có nơi cư trú hoặc trụ sở chính. Như vậy, phải xác định chủ thể nào thực hiện « nghĩa vụ đặc thù » của hợp đồng. Đối với giao dịch tín dụng chứng từ, để xác định nghĩa vụ đặc thù thì trước tiên phải tìm ra mối quan hệ giữa các bên.

1- Trường hợp có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Ngân hàng phát hành và người thụ hưởng.

Theo giáo sư Legeais, « khi chỉ có một ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng thì sẽ có hai lựa chọn cho luật áp dụng : luật của ngân hàng phát hành và luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng. Lựa chọn thứ hai tỏ ra có lợi cho người thụ hưởng và cũng được nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tín dụng chứng từ ủng hộ. Tuy nhiên, một số ý kiến khác[4] lại cho rằng nếu áp dụng luật của nước nơi thực hiện thư tín dụng thì điều đó không phù hợp với quy định của điều 4, khoản 2, Công ước Rome. Do đó, áp dụng luật của ngân hàng phát hành hợp lý hơn ». Các thẩm phán Pháp nghiêng về quan điểm này. Bản án của Tòa phúc thẩm Versailles dưới đây là tranh chấp đầu tiên ở Pháp liên quan đến xung đột pháp luật trong giao dịch thư tín dụng dự phòng.

Án lệ.

Trong vụ việc này, Egyptair đã bán cho một công ty Ai-len mười bốn chiếc máy bay. Các bên thỏa thuận giao hàng trong hai năm. Bên cạnh đó, nhà nhập khẩu Ai-len phải ký quỹ một khoản là 15 008 000 USD, tức là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay. Việc hoàn trả khoản tiền này được đảm bảo trong trường hợp hàng hóa giao không phù hợp thỏa thuận, bởi một thư tín dụng dự phòng do Union des Banques Arabes et Françaises, ở Paris phát hành theo yêu cầu của Egyptair. Trong trường hợp này, mục đích của thư tín dụng nhằm đảm bảo việc hoàn trả khoản tiền ký quỹ trên và người yêu cầu mở thư tín dụng là công ty Egyptair. Các bên thỏa thuận rằng thư tín dụng này do UCP điều chỉnh. Người mua Ai-len có quyền yêu cầu trả vào một tài khoản tại New York, một khoản tiền là 1 072 000 USD đối với mỗi chiếc máy bay, với điều kiện xuất trình một hối phiếu trả ngay và bằng chứng cho thấy rằng Egyptair đã không giao máy bay đúng theo điều kiện của hợp đồng. Nhà nhập khẩu Ai-len khẳng định rằng luật điều chỉnh quan hệ này là luật của bang New York, cụ thể là Bộ luật Thương mại thống nhất (Uniform commercial code), phần V về thư tín dụng. Việc áp dụng luật của bang New York sẽ mang lại lợi ích cho nhà nhập khẩu Ai-len vì điều 5-114 quy định rằng ngân hàng phát hành phải thanh toán thư tín dụng trong trường hợp phát hiện gian lận trong khi đó theo Tòa án Pháp thì có dấu hiệu lạm dụng, lừa dối.

Đối với tranh chấp này, Tòa phúc thẩm Versailles phải giải quyết hai vấn đề. Tuy nhiên, chúng ta chỉ phân tích lập luận của của thẩm phán liên quan đến luật áp dụng đối với tranh chấp có sự tham gia của các công ty có trụ sở tại nhiều quốc gia. Ba lựa chọn được đặt ra : luật của bang New York có thể được áp dụng bởi đó là luật của nước nơi thư tín dụng được thanh toán ; luật của Ai Cập là nơi người yêu cầu mở thư tín dụng có trụ sở (công ty Egyptair) ; luật của Pháp là nơi ngân hàng phát hành có trụ sở. Tuy nhiên, Tòa án nhận định rằng « các bên đã thỏa thuận chọn UCP để điều chỉnh thư tín dụng, do đó phải áp dụng luật của Pháp, là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng (tức là hành động từ chối hoặc chấp nhận thanh toán của ngân hàng phát hành sau khi kiểm tra chứng từ, không phải là hành động chuyển tiền « thực chất » vào tài khoản). Hơn nữa, Pháp cũng đồng thời là nơi đóng trụ sở của ngân hàng phát hành và là nơi ký kết hợp đồng. Việc áp dụng luật của Mỹ, nơi thanh toán thư tín dụng là không hợp lý vì thư tín dụng được thanh toán bằng đô la Mỹ nên số tiền của thư tín dụng được chuyển vào một tài khoản ở Mỹ »[6]. Các thẩm phán cho rằng Pháp là nước có mối liên hệ mật thiết nhất với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, luật của Pháp, nơi ngân hàng phát hành có trụ sở, sẽ được áp dụng. Hơn nữa, việc áp dụng luật của Pháp sẽ dẫn đến việc áp dụng một hệ thống pháp luật thống nhất và giúp bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch ngân hàng trong lĩnh vực này.

Ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng.

Để bảo vệ tốt hơn lợi ích của mình, người thụ hưởng luôn mong muốn một ngân hàng khác xác nhận thư tín dụng. Thông thường ngân hàng thông báo đồng thời là ngân hàng xác nhận. Trong trường hợp đó, ngân hàng này sẽ cam kết thanh toán trực tiếp và độc lập cho người thụ hưởng. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng giống như quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng. Do vậy, việc xác định luật áp dụng sẽ tương tự như quan hệ trên. Trên thực tế, khi ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch thư tín dụng thì luật điều chỉnh quan hệ giữa ngân hàng và người thụ hưởng sẽ là luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở.

Theo một phán quyết của Tòa án liên bang Thụy Sỹ, « cam kết của ngân hàng xác nhận dành cho người thụ hưởng tương tự như cam kết của ngân hàng phát hành. Quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở ». Các thẩm phán của Anh cũng tuân theo nguyên tắc này với nhận định rằng « luật áp dụng trong trường hợp có tranh chấp liên quan đến cam kết của ngân hàng xác nhận thư tín dụng quốc tế là luật của nước nơi thư tín dụng được thực hiện ».

Ở Pháp, chúng tôi không tìm thấy án lệ về vấn đề này. Tuy nhiên các học giả của Pháp cũng ủng hộ quan điểm của các thẩm phán Anh và Thụy Sỹ với quan điểm rằng « đối với giao dịch tín dụng chứng từ, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng chịu sự điều chỉnh của luật của nước nơi ngân hàng có trụ sở, nếu không có thỏa thuận khác ». Giáo sư Vasseur cho cho rằng « đối với việc xác nhận thư tín dụng, luật áp dụng là luật của nước nơi ngân hàng xác nhận có trụ sở ».

2- Trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia quan hệ thư tín dụng

Giới thiệu.

Vấn đề về luật áp dụng trở nên phức tạp hơn khi có sự tham gia của nhiều ngân hàng vào giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta có thể nghĩ đến một giải pháp duy nhất và áp dụng luật của nước nơi ngân hàng phát hành có trụ sở cho tất cả mối quan hệ phát sinh từ thư tín dụng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại cho rằng mỗi quan hệ cần phải chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng. Trên thực tế có rất nhiều tranh chấp về thư tín dụng có sự liên quan của nhiều ngân hàng ở các quốc gia khác nhau. Phán quyết của tòa án Anh sau đây là một ví dụ.

Án lệ. Phán quyết này của thẩm phán Justice Mance liên quan đến luật điều chỉnh thư tín dụng thương mại theo Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980. Tuy đây là một bản án của Anh nhưng vì nó áp dụng Công ước Rome và Pháp cũng là thành viên của Công ước này nên việc nghiên cứu phán quyết của thẩm phán Anh sẽ giúp chúng ta tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu.

Một ngân hàng tại Ấn Độ, theo yêu cầu của nhà nhập khẩu Ấn Độ, đã phát hành một thư tín dụng cho người thụ hưởng là một công ty có trụ sở tại London (Anh) nhằm thanh toán hợp đồng mua bán sản phẩm luyện kim. Thư tín dụng được xác nhận bởi một ngân hàng Ấn Độ, chi nhánh tại London. Ngân hàng xác nhận đã thanh toán khoản tiền theo thư tín dụng. Sau đó, ngân hàng phát hành phát hiện ra rằng các chứng từ do người thụ hưởng xuất trình là giả mạo và do đó từ chối trả tiền cho ngân hàng xác nhận. Tranh chấp này sẽ do pháp luật quốc gia nào điều chỉnh ? Vì có nhiều mối quan hệ phát sinh trong giao dịch tín dụng chứng từ trên nên sẽ có nhiều giả thiết về luật áp dụng được đặt ra.

Quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận là hợp đồng đại diện với nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng là việc xác nhận thư tín dụng. Đó là mục đích mà ngân hàng xác nhận tham gia vào giao dịch này. Luật áp dụng là luật của Anh bởi vì chi nhánh ngân hàng tại Anh cam kết xác nhận thư tín dụng. Theo thẩm phán Mance, quan hệ giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng cũng do luật của Anh điều chỉnh căn cứ vào điều 4, khoản 2, Công ước Rome.

Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành tại Ấn Độ và người thụ hưởng tại Anh sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia nào? Theo điều 4, khoản 2, luật áp dụng là luật của Ấn Độ. Do vậy, có thể nhận định rằng một quan hệ tín dụng chứng từ có thể do hai hệ thống pháp luật khác nhau điều chỉnh, tùy thuộc vào việc người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận thanh toán. Theo thẩm phán Mance, giải pháp này sẽ gặp nhiều bất cập. Trên thực tế, ngân hàng xác nhận đã thanh toán cho người thụ hưởng và yêu cầu ngân hàng phát hành trả tiền lại cho mình, tranh chấp này sẽ do luật của Anh điều chỉnh. Nhưng nếu người thụ hưởng yêu cầu ngân hàng phát hành tại Ấn Độ thanh toán thi tranh chấp này do luật của Ấn Độ điều chỉnh.

Để vụ việc sáng tỏ hơn, thẩm phán Mance căn cứ vào điều 4, khoản 5 của Công ước Rome theo đó : « Các quy định tại khoản 2, 3 và 4 sẽ không được áp dụng trong trường hợp hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với một nước khác ». Do đó, trong trường hợp thư tín dụng được xác nhận theo yêu cầu của ngân hàng phát hành thì mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ do luật của Anh điều chỉnh vì hợp đồng tín dụng đó có mối liên hệ mật thiết nhất với London, nơi có trụ sở của ngân hàng xác nhận.

Án lệ (tiếp).

Năm 1992, Tòa thương mại Paris cũng giải quyết một vụ việc phức tạp tương tự. Công ty Total (Liban) ký hợp đồng mua một tàu chở dầu với một công ty của Panama, thanh toán bằng thư tín dụng do một ngân hàng tại Liban phát hành. Khoản tiền của thư tín dụng được thanh toán tại tại Geneva (Thụy Sỹ). Ngân hàng Liban yêu cầu ngân hàng Saradar (Pháp) xác nhận thư tín dụng và ngân hàng Bruxelles-Lambert đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo vừa là ngân hàng xác nhận. Như vậy, có hai ngân hàng tại Pháp và Thụy Sỹ xác nhận thư tín dụng trên.

Ngày 24 tháng 10, người thụ hưởng xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng Bruxelles-Lambert và ngày 29 tháng 10, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng các chứng từ hoàn toàn phù hợp và họ đồng ý thanh toán lại cho ngân hàng Thụy Sỹ vào ngày 16 tháng 12. Do đó, ngân hàng Bruxelles-Lambert đã thanh toán khoản tiền của thư tín dụng cho người thụ hưởng. Về phía người yêu cầu mở thư tín dụng, sau khi nhận được các chứng từ, công ty Total (Liban) nhận lô hàng vào ngày 5 tháng 12.

Đến ngày 12 tháng 12, tức là đã vượt quá « thời hạn hợp lý » để từ chối chứng từ theo quy định của UCP, ngân hàng Saradar thông báo cho ngân hàng Bruxelles-Lambert rằng phát hiện điểm bất hợp lệ trong bộ chứng từ và từ chối thanh toán. Ngân hàng Thụy Sỹ khởi kiện ra Tòa thương mại Paris và ngân hàng của Pháp buộc phải thanh toán cho ngân hàng Thụy Sỹ. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là luật quốc gia nào sẽ áp dụng cho tranh chấp giữa hai ngân hàng này ?

Ngân hàng Bruxelles-Lambert cho rằng luật áp dụng là luật Thụy Sỹ vì « nghĩa vụ đặc thù trong giao dịch tín dụng chứng từ là việc thanh toán thư tín dụng, được thực hiện tại Thụy Sỹ ». Hơn nữa, các quy định của luật Thụy Sỹ về thư tín dụng sẽ có lợi cho ngân hàng Bruxelles-Lambert hơn là luật của Pháp. Tòa án Pháp nhận định rằng, trong mối quan hệ giữa ngân hàng Bruxelles-Lambert (Thụy Sỹ) và ngân hàng Saradar (Pháp), ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đặc thù là ngân hàng Saradar vì đó là « nghĩa vụ của ngân hàng thực hiện việc thanh toán sau khi kiểm tra bộ chứng từ hoặc từ chối nếu chứng từ không phù hợp ». Trong vụ việc này, ngân hàng Saradar có nghĩa vụ thanh toán lại cho ngân hàng Bruxelles-Lambert khoản tiền mà ngân hàng này đã trả cho người thụ hưởng.

Nhận xét. Công ước Rome có vai trò rất quan trọng trong việc xác định luật áp dụng trong các tranh chấp tại Pháp. Nó thay thế hoàn toàn cho các quy phạm xung đột trong pháp luật quốc gia. Hơn nữa, do sự phức tạp của những mối quan hệ hợp đồng phát sinh từ giao dịch thư tín dụng, các tiêu chí của Công ước cần phải được vận dụng một cách riêng biệt. Cần lưu ý rằng việc áp dụng những tiêu chí này có thể dẫn đến áp dụng một hệ thống luật cho nhiều quan hệ.

II – Việc xác định luật áp dụng tại Việt Nam

Văn bản pháp luật.

Theo pháp luật Việt Nam, khi các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng.

Do đó, cần xác định nơi thực hiện thư tín dụng. Điều này quả thật không dễ dàng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hoặc giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận/ngân hàng chiết khấu, nơi thực hiện hợp đồng ở địa điểm nào ? Các quan hệ hợp đồng giữa các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ là khác nhau, vì thế nơi thực hiện hợp đồng tín dụng cũng sẽ khác nhau.

Bên cạnh đó, trong trường hợp hợp đồng không ghi nơi thực hiện thì việc xác định nơi thực hiện hợp đồng phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Điều 284, khoản 2(b) của Bộ luật dân sự quy định rằng trong trường hợp không có thỏa thuận thì địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi cư trú hoặc trụ sở của bên có quyền, nếu đối tượng của nghĩa vụ không phải là bất động sản.

Bản án.

Để hiểu rõ hơn về những khó khăn trong việc xác định nơi thực hiện thư tín dụng, chúng ta cùng lấy một ví dụ, đó là tranh chấp do Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết liên quan đến thư tín dụng giữa các công ty Việt Nam và Hàn Quốc.

Công ty L.G. (Hàn Quốc) và công ty C&T (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán dây đồng. Hợp đồng có điều khoản quy định về việc mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty L.G. Ngân hàng V.H. phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của công ty C&T. Ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul là ngân hàng thông báo. Thư tín dụng hết hiệu lực vào ngày 20 tháng 8 năm 1996 tại Hàn Quốc.

Theo các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, thư tín dụng có thời hạn 360 ngày, thanh toán bằng hối phiếu tại ngân hàng V.H. Người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành và nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt là phù hợp thì ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng khi đến hạn. Như chúng ta đã tìm hiểu, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một cam kết mà ngân hàng phát hành dành cho người thụ hưởng và người thụ hưởng có quyền yêu cầu ngân hàng thanh toán cho mình số tiền trong thư tín dụng với điều kiện chứng từ phù hợp. Theo điều 284, khoản 2(b), Bộ luật dân sự, địa điểm thực hiện nghĩa vụ dân sự là nơi có trụ sở của bên có quyền, tức là tại nơi có trụ sở của công ty Hàn Quốc.

Tuy nhiên về các vụ việc có yếu tố tương tự do tòa án Singapore giải quyết, thẩm phán Singapore lại nhận định rằng « trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì luật áp dụng là luật của nước có mối liên hệ mật thiết với hợp đồng. Đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nơi thanh toán thư tín dụng. Do đó, quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng sẽ chịu sự điều chỉnh của luật nơi thực hiện việc thanh toán ». Thẩm phán cho rằng người thụ hưởng có nghĩa vụ xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành bởi thư tín dụng chỉ được thanh toán khi ngân hàng phát hành chấp nhận hối phiếu. Nếu nhìn nhận vụ việc trên theo quan điểm của các thẩm phán Singapore, nơi thực hiện hợp đồng tín dụng sẽ là Việt Nam, vì thế luật Việt Nam sẽ được áp dụng.

Xem xét các yếu tố khác của thư tín dụng cho thấy ngân hàng thông báo được phép chiết khấu thư tín dụng. Do vậy, ngân hàng ABN-AMRO, chi nhánh Seoul có thể tham gia với tư cách ngân hàng thông báo và ngân hàng chiết khấu. Nó có quyền chiết khấu bộ chứng từ nếu các chứng từ thể hiện trên bề mặt phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng. Giả sử người thụ hưởng Hàn Quốc không xuất trình chứng từ tại ngân hàng phát hành Việt Nam mà xuất trình tại ngân hàng ABN-AMRO. Sau khi kiểm tra, ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ và thanh toán cho người thụ hưởng. Sau đó, ABN-AMRO có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành hoàn trả lại số tiền đã thanh toán. Trong trường hợp này, theo điều 284, khoản 2(b), nơi thực hiện nghĩa vụ hoàn trả giữa ngân hàng Việt Nam và ngân hàng Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc.

Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng Korea Exchange Bank đã chiết khấu chứng từ. Các học giả cho rằng « cho dù thư tín dụng được phép chiết khấu bởi ngân hàng thông báo hoặc bởi bất kỳ ngân hàng nào thì luật áp dụng cho quan hệ giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu không có gì thay đổi ». Nếu thư tín dụng được tự do chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào tại Hàn Quốc thì luật của Hàn Quốc vẫn được áp dụng.

Do ngân hàng Việt Nam không có khả năng thanh toán nợ đến hạn, ngân hàng chiết khấu Hàn Quốc đã kiện ngân hàng Việt Nam tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Theo phân tích trên đây, nơi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng giữa ngân hàng Việt Nam và Hàn Quốc được xác định tại Hàn Quốc. Tuy nhiên, thẩm phán đã áp dụng pháp luật Việt Nam mà không có bất kỳ giải thích, lập luận nào.

Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ, « để giúp các bên và tòa án trong việc xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng, chúng ta cần có những quy định cụ thể về nơi thực hiện hợp đồng ». Chẳng hạn, chúng ta có thể quy định nơi thực hiện hợp đồng là nơi thực hiện nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng, tức là nơi đóng trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù đó. Mặt khác, cần đưa ra một danh sách nghĩa vụ đặc thù của những hợp đồng thông dụng như đối với hợp đồng mua bán là nghĩa vụ của người bán, hợp đồng ủy thác là nghĩa vụ của người nhận ủy thác, v.v… Cần lưu ý rằng trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và người thụ hưởng, người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ tại ngân hàng phát hành. Nếu các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng thì ngân hàng phải thanh toán khi đến hạn. Do đó, nghĩa vụ đặc thù của hợp đồng tín dụng là nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng phát hành, luật áp dụng là luật của Việt Nam. Trong quan hệ hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và ngân hàng chiết khấu, nghĩa vụ đặc thù do ngân hàng chiết khấu thực hiện, luật áp dụng là luật của Hàn Quốc.

Nhận xét. Qua những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng quan điểm của thẩm phán mỗi nước có ý nghĩa quyết định đối với luật điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong giao dịch tín dụng chứng từ. Do tính chất phức tạp của các quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng nên có thể dẫn đến nhiều luật áp dụng cho một quan hệ hoặc mỗi quan hệ lại do một hệ thống pháp luật riêng biệt điều chỉnh. Vì thế, nên chăng các bên thỏa thuận rõ ràng, cụ thể nơi thực hiện hợp đồng trong giao dịch tín dụng thư ?

Nhận xét so sánh.

Hai hệ thống pháp luật đều thừa nhận khả năng áp dụng pháp luật nước ngoài đối với giao dịch tín dụng chứng từ khi các bên không thỏa thuận về luật áp điều chỉnh. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, thẩm phán sẽ căn cứ vào quy phạm xung đột để xác định luật điều chỉnh.

Trong luật của Pháp, các quy phạm xung đột được quy định trong Công ước Rome ngày 19 tháng 6 năm 1980, theo đó hợp đồng chịu sự điều chỉnh của luật của quốc gia mà hợp đồng đó có mối liên hệ mật thiết nhất. Theo tinh thần của Công ước Rome, hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với quốc gia có nơi cư trú hoặc trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù vào thời điểm xác lập hợp đồng.

Căn cứ vào quy phạm xung đột của pháp luật Việt Nam, được cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự, quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Do vậy, với những tiêu chí khác nhau, một quan hệ có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống luật khác nhau, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia.

Tuy nhiên, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam đều phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình xác định nghĩa vụ đặc thù và nơi thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở hợp đồng tín dụng, đặc biệt trong trường hợp có nhiều ngân hàng tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ.

Kết luận

Qua việc nghiên cứu các vấn đề trong chương I, chúng ta nhận thấy rằng số lượng các bản án liên quan đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực thư tín dụng còn rất hạn chế, trong khi đó, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán được sử dụng khá phổ biến trong thương mại quốc tế, những tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tại nhiều quốc gia khác nhau có thể dẫn đến các vấn đề xung đột pháp luật phức tạp.

Mỗi quan hệ hợp đồng trong thư tín dụng có thể chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp luật riêng biệt. Luật áp dụng cho hợp đồng thương mại không thể được áp dụng đối với hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận với người thụ hưởng. Để xác định luật điều chỉnh phù hợp cho từng quan hệ, chúng ta cần xem xét nhiều yếu tố.

Bên cạnh đó, có thể thấy rằng thẩm phán gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng đối với giao dịch thư tín dụng do các bên liên quan thường bất đồng về vấn đề này, luôn muốn tòa án áp dụng hệ thống luật có lợi cho mình. Từ đó, nên chăng đưa vào thư tín dụng một điều khoản về luật áp dụng ? Chúng ta hãy tìm hiểu khả năng này trong chương tiếp theo.

CHƯƠNG II

SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC GIA

ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

KHI CÁC BÊN LỰA CHỌN ÁP DỤNG

UCP thừa nhận lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia.

Theo giáo sư Stoufflet, « việc UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ không ngăn cản các bên loại trừ những quy định của UCP mà họ cảm thấy không phù hợp với lợi ích của mình. UCP đã quy định rõ ràng như vậy ». Do đó, các bên hoàn toàn có quyền không áp dụng UCP để lựa chọn hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của mình. Pháp luật của Pháp (Phân đoạn I) và pháp luật Việt Nam (Phân đoạn II) có thừa nhận quyền lựa chọn này hay không ? Chúng ta cùng tìm câu trả lời.

I – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Pháp

Khả năng lựa chọn.

Theo Công ước Rome, « hợp đồng do pháp luật mà các bên lựa chọn điều chỉnh » và việc lựa chọn luật áp dụng « phải rõ ràng và được quy định cụ thể trong hợp đồng » (điều 3, khoản 1). Do vậy, có thể khẳng định rằng các bên có quyền chọn luật áp dụng. Lựa chọn này phải được tôn trọng. Như chúng ta đã đề cập, thư tín dụng thực chất là một hợp đồng, các quy định trên của Công ước Rome cũng được áp dụng đối với giao dịch tín dụng chứng từ. Do đó, các bên có quyền chọn lựa một hệ thống pháp luật phù hợp với quan hệ hợp đồng và ở đây « khi tồn tại điều khoản về chọn luật áp dụng, sự lựa chọn này là bắt buộc ». Cần lưu ý rằng điều khoản này của Công ước thừa nhận các bên có quyền lựa chọn luật điều chỉnh cho toàn bộ hoặc một phần của hợp đồng.

Hiệu lực bắt buộc.

Khi các bên lựa chọn luật áp dụng thì lựa chọn đó trở thành một bộ phận của hợp đồng. Các hành vi vi phạm luật điều chỉnh tức là vi phạm hợp đồng. Thẩm phán và các bên liên quan đều chịu sự ràng buộc của luật điều chỉnh hợp đồng. Theo một số học giả, « trong hoạt động phát hành thư tín dụng, các ngân hàng thường đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP nhưng không hề nhắc đến luật quốc gia điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ ». Trong thực tế, việc lựa chọn pháp luật áp dụng vẫn chưa phổ biến. Chúng tôi không tìm thấy bản án nào của Pháp liên quan đến thư tín dụng chứa đựng điều khoản về dẫn chiếu luật áp dụng.

II – Việc lựa chọn luật áp dụng tại Việt Nam

Tự do lựa chọn.

Theo điều 769, khoản 1, Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ». Trong trường hợp các bên xác định luật áp dụng thì có thể kết luận rằng các bên đã có thỏa thuận khác. Do vậy, pháp luật do các bên lựa chọn sẽ được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng của họ. Các văn bản pháp luật khác của Việt Nam cũng thừa nhận quyền lựa chọn luật điều chỉnh.

Có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Tuy nhiên, các văn bản trên lại không quy định rõ ràng thời điểm các bên thực hiện quyền lựa chọn. Theo quan điểm của chúng tôi, các bên có thể lựa chọn luật điều chỉnh trong quá trình xác lập hợp đồng hoặc một thời gian sau đó, ví dụ khi phát sinh tranh chấp tại tòa án.

Thực tế.

Vào thời điểm hiện tại, các thư tín dụng do ngân hàng ở Việt Nam phát hành chỉ chứa đựng duy nhất điều khoản dẫn chiếu áp dụng UCP mà không đề cập đến luật điều chỉnh thư tín dụng. Dường như các ngân hàng không quan tâm đến khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia mà cho rằng mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng đều được quy định trong UCP. Đó là một sai lầm bởi như chúng ta đã phân tích ở trên, có nhiều tình huống mà việc áp dụng pháp luật quốc gia là cần thiết, nhất là trong trường hợp gian lận.

Nhận xét so sánh.

Pháp luật của Pháp và Việt Nam đều cho phép các bên trong hợp đồng lựa chọn luật áp dụng. Nhận thức rõ về những khó khăn trong việc xác định luật áp dụng khi các bên không lựa chọn luật điều chỉnh, nên chăng các bên thỏa thuận trước về vấn đề này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Trên thực tế, việc đặt ra vấn đề lựa chọn luật áp dụng không đơn giản. Lựa chọn luật áp dụng giúp bảo đảm tính an toàn về pháp lý trong trường hợp phát sinh tranh chấp bởi các bên liên quan đã tìm hiểu về hệ thống pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên việc đưa ra vấn đề chọn luật từ thời điểm xác lập thư tín dụng có thể gây ra sự hiểu lầm giữa các đối tác. Nếu các bên quyết định lựa chọn luật áp dụng cho giao dịch tín dụng chứng từ thì họ có thể bổ sung vào thư tín dụng điều khoản dẫn chiếu như sau : « Đối với mọi vấn đề liên quan đến thư tín dụng này mà không được quy định trong Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất thì sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm thực chất của pháp luật quốc gia nơi ngân hành phát hành có trụ sở », bởi như chúng ta đã nghiên cứu, đối với hợp đồng tín dụng, ngân hàng phát hành là chủ thể thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Kết luận

Theo quan điểm của chúng tôi, sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với giao dịch tín dụng chứng từ là cần thiết vì những lý do mà giáo sư Legeais đã nêu. Trong đó, trường hợp gian lận có tầm quan trọng nhất bởi các vấn đề liên quan đến gian lận không được UCP quy định.

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp phát sinh, các bên có thể chọn luật áp dụng cho quan hệ hợp đồng bằng cách đưa vào thư tín dụng một điều khoản dẫn chiếu về luật áp dụng. Các bên liên quan cũng có quyền loại trừ việc áp dụng toàn bộ hoặc một số quy định của UCP mà họ cho rằng không có lợi cho quan hệ hợp đồng.

Nên chăng các cơ quan lập pháp của Pháp và Việt Nam ban hành văn bản pháp luật về giao dịch tín dụng chứng từ. Các văn bản này sẽ quy định cụ thể các vấn đề không được đề cập trong UCP.

Kết luận chung

Phần hai tập trung nghiên cứu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia đối với tín dụng chứng từ. Có một số điểm giống nhau giữa hai hệ thống pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận khả năng áp dụng của pháp luật quốc gia cho dù các bên có lựa chọn hay không. Tuy nhiên, khi không có điều khoản dẫn chiếu trong hợp đồng, các thẩm phán của Pháp và Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc xác định luật áp dụng cho tranh chấp thư tín dụng.

Một điểm tương đồng nữa cần lưu ý, đó là khi các bên trong giao dịch thư tín dụng không lựa chọn luật áp dụng thì việc giải quyết tranh chấp tại tòa án sẽ khá phức tạp. Do đó, các bên liên quan nên dự trù luật điều chỉnh trong quá trình xác lập thư tín dụng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều điểm khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam. Thẩm phán của hai nước xác định luật áp dụng trên cơ sở những tiêu chí khác nhau. Ở Pháp, đó là nguyên tắc hợp đồng có mối liên hệ mật thiết nhất với nước có trụ sở của bên thực hiện nghĩa vụ đặc thù. Ở Việt Nam, hợp đồng lại chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng. Nên chăng pháp luật Việt Nam quy định cụ thể nơi thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, chẳng hạn như là địa điểm thực hiện nghĩa vụ đặc thù.

Xuân Quỳnh
Khoa Quốc tế ĐH Luật TPHCM
Tháng 4-2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: NGHIÊN CỨU SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP

PHẠM XUÂN QUỲNH – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Chuyên đề 2

KHẢ NĂNG ÁP DỤNG CỦA UCP ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Bản Quy tắc và Thực hành thống nhất tín dụng chứng từ (Uniformes Customs and Pratice for Documentary Credits -UCP) là kết quả của việc tập hợp những tập quán được hình thành bởi các chủ thể hoạt động trong thương mại quốc tế. Nó không có giá trị ràng buộc đối với Tòa án vì đó không phải là luật quốc gia mà cũng không phải là điều ước quốc tế. Do vậy, việc áp dụng những nguyên tắc này không đương nhiên. Phân tích từ góc độ pháp lý thì UCP được áp dụng để điều chỉnh thư tín dụng khi có sự lựa chọn của các bên về việc áp dụng những quy định này hoặc do tính chất tập quán của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên.

I. Khả năng áp dụng của UCP khi có sự lựa chọn của các bên

Lựa chọn

Học lý của Pháp thống nhất rằng UCP có tính chất như một hợp đồng mẫu. Như vậy, đối với các quy định của hợp đồng mẫu thì các bên trong giao dịch tín dụng chứng từ có thể lựa chọn các quy định để điều chỉnh mối quan hệ của họ. Một tác giả nêu quan điểm rằng, « trên thực tế, phần lớn các thư tín dụng phát hành trên thế giới đều chứa đựng một điều khoản áp dụng UCP, quy định này đồng thời cũng được nêu rõ trong hợp đồng mua bán ».

Trong rất nhiều vụ việc, chúng ta có thể thấy rằng các bên quyết định áp dụng UCP để điều chỉnh quan hệ của họ. Ví dụ, trong một tranh chấp do Tòa phúc thẩm Tunis giải quyết ngày 9 tháng 4 năm 2001, có sự tồn tại của « một thỏa thuận giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành, giao dịch này do Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ do Phòng Thương Mại Quốc Tế ấn hành ».

Trên thực tế, các bên có thể lựa chọn UCP để điều chỉnh mối quan hệ của họ ngay từ thời điểm mở thư tín dụng hoặc sau thời điểm đó. Ví dụ, khi phát sinh tranh chấp, nếu một bên muốn áp dụng các quy định của UCP và bên kia không phản đối thì UCP sẽ được áp dụng. Trong trường hợp này, chúng ta hiểu rằng các bên đã « ngầm » lựa chọn UCP. Vấn đề cần làm sáng tỏ thêm, đó là liệu việc các bên lựa chọn UCP có được thừa nhận ở Pháp và Việt Nam không.

Sự thừa nhận lựa chọn của các bên trong luật Pháp

Giá trị của việc lựa chọn

Khi các bên lựa chọn UCP thì các quy định của nó sẽ trở thành một bộ phận của hợp đồng. Vi phạm các quy định này tức là vi phạm hợp đồng. Theo luật của Pháp, cụ thể là điều 1134 Bộ luật dân sự, hợp đồng là « luật của các bên ». Nó có giá trị ràng buộc đối với các bên cũng như đối với thẩm phán giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng đó. Trên thực tế, khi các bên lựa chọn UCP để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ, Tòa án tối cao của Pháp cũng thừa nhận UCP có giá trị như hợp đồng và thẩm phán không được vi phạm những quy định này.

Ví dụ. Theo yêu cầu của công ty Rodier, ngân hàng Natexis Banques Populaires đã phát hành tám thư tín dụng cho người hưởng lợi là các nhà cung cấp hàng hóa nước ngoài. Không bên nào phản đối việc áp dụng UCP. Tòa án tối cao Pháp đã hủy bản án của Tòa phúc thẩm Douai căn cứ vào các điều 9, 13, 14 và 42 của UCP 500 và Điều 1134 BLDS Pháp. Cụ thể, bản án này liên quan đến tranh chấp giữa người yêu cầu mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành do ngân hàng từ chối bộ chứng từ bất hợp lệ. Người yêu cầu mở thư tín dụng, công ty Rodier phản đối Natexis Banques Populaires từ chối bộ chứng từ do người thụ hưởng xuất trình. Rodier thông báo với ngân hàng rằng mình đồng ý thanh toán mặc dù có sai sót trong bộ chứng từ. Tòa phúc thẩm Douai nhận định rằng ngân hàng phát hành phải tuân theo quyết định của người yêu cầu mở thư tín dụng và do đó, tòa án đã buộc ngân hàng thanh toán khoản tiền trong thư tín dụng. Tuy nhiên quyết định này không nhận được sự đồng thuận của các thẩm phán Tòa án tối cao, họ cho rằng « ngân hàng phát hành không bị ràng buộc bởi các giao dịch trước đó với khách hàng, hoàn toàn có quyền từ chối chấp nhận các điểm bất hợp lệ và từ chối thanh toán, mặc dù đã tham khảo ý kiến của người yêu cầu mở thư tín dụng và được sự đồng ý của họ chấp thuận bỏ qua các điểm bất hợp lệ. Do đó, Tòa án tối cao nhận định rằng ngân hàng phát hành không bị ràng buộc bởi quyết định của khách hàng. Ví dụ trên cho thấy rằng khi các bên lựa chọn UCP thì thẩm phán phải tôn trọng các quy định của UCP như là luật điều chỉnh hợp đồng.

Sự thừa nhận lựa chọn của các bên trong luật Việt Nam

Thừa nhận rõ ràng

Việc thừa nhận UCP là tập quán cũng được đề cập trong các tài liệu chuyên ngành ở Việt Nam. Theo các tác giả Đỗ Văn Đại và Mai Hồng Quỳ « đây là những tập quán, thông lệ quốc tế được Phòng thương mại quốc tế (Paris) pháp điển hóa ». Sự thừa nhận UCP như những tập quán thương mại quốc tế có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam cho phép các bên lựa chọn tập quán quốc tế để điều chỉnh quan hệ hợp đồng. Căn cứ vào các văn bản này, các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Vì thế, chúng ta có thể kết luận rằng các quy định của pháp luật Việt Nam thừa nhận sự lựa chọn của các bên liên quan đến việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế. Do UCP được thừa nhận như là tập quán quốc tế, các bên đều có quyền chọn lựa UCP để điều chỉnh quan hệ hợp đồng của họ.

Thừa nhận « ngầm »

Theo điều 769, khoản 1 Bộ luật dân sự, « quyền và nghĩa vụ của các bên theoo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng, nếu không có thỏa thuận khác ».

Căn cứ vào Bộ luật dân sự, luật áp dụng cho hợp đồng là luật của nước nơi thực hiện hợp đồng nếu các bên « không có thỏa thuận khác ». Khi các bên quyết định lựa chọn UCP tức là các bên đã có một thỏa thuận khác về luật áp dụng. Do đó, luật của nước nơi thực hiện hợp đồng sẽ không được áp dụng để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ. Chúng ta phải tôn trọng lựa chọn của các bên. Điều đó cho thấy nếu Bộ luật dân sự không cho phép rõ ràng các bên lựa chọn tập quán quốc tế thì nó cũng « ngầm » thừa nhận sự lựa chọn này.

Từ những phân tích trên, chúng ta có thể kết luận rằng pháp luật Việt Nam thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp lựa chọn áp dụng UCP của các bên tham gia giao dịch thanh toán bằng thư tín dụng.

Ngoại lệ.

Trong trường hợp có sự khác biệt giữa luật quốc gia và tập quán quốc tế thì luật quốc gia phải được tuân thủ. Theo các quy định của pháp luật Việt Nam, việc lựa chọn áp dụng tập quán chỉ được chấp nhận khi thỏa mãn một số điều kiện. Ví dụ như việc áp dụng tập quán thương mại quốc tế không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Nguyên tắc này cũng nhận được sự đồng thuận của các nhà soạn thảo UCP, « sự áp dụng của UCP đối với tín dụng chứng từ không ngăn cản việc Tòa án áp dụng pháp luật quốc gia. UCP không quy định về những khác biệt giữa UCP và luật quốc gia. Những tranh chấp phát sinh sẽ do Tòa án giải quyết ».

Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng, chúng tôi không tìm thấy bất cứ văn bản nào liên quan đến việc phát hành thư tín dụng cũng như những hoạt động của ngân hàng Việt Nam tham gia vào giao dịch tín dụng chứng từ. Do không có văn bản điều chỉnh các vấn đề liên quan đến thư tín dụng và do sự phổ biến của UCP trong thương mại quốc tế, chúng ta có thể suy luận rằng các quy định của UCP không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Theo ông Nguyễn Trọng Thùy, « trên thực tế, không có khác biệt giữa tập quán quốc tế và pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực thương mại, ngân hàng ».

Do đó, các bên tham gia vào hoạt động ngân hàng hoàn toàn có thể thỏa thuận áp dụng Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ của Phòng Thương Mại Quốc Tế. Theo quan điểm của nhiều tác giả, « tập quán do các bên lựa chọn là một bộ phận của hợp đồng. Vì thế, tuân thủ tập quán đó cũng là tuân thủ hợp đồng ». Ông Đỗ Tất Ngọc, chuyên gia về thanh toán quốc tế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết : « UCP không được tự động áp dụng để điều chỉnh giao dịch thư tín dụng mà mang tính pháp lý tùy ý. Nghĩa là các bên tham gia có quyền lựa chọn áp dụng hay không áp dụng. Nhưng một khi đã đồng ý áp dụng thì các quy tắc sẽ ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên ».

Vướng mắc

Trên thực tế, trong nhiều thư tín dụng có một điều khoản nêu rằng « Trừ khi có quy định khác, thư tín dụng này căn cứ theo Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ, bản sửa đổi …, ấn bản ICC số… ». Liệu điều khoản này có được xem là một « lựa chọn rõ ràng » của các bên áp dụng UCP điều chỉnh giao dịch tín dụng thư hay không ? Như chúng ta đã biết, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm sự cam kết của ngân hàng đối với người thụ hưởng. Tuy nhiên, còn có sự tham gia của nhiều chủ thể khác trong giao dịch này. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, điều khoản trên trong thư tín dụng có được xem như lựa chọn áp dụng UCP điều chỉnh quan hệ giữa các bên hay không ? Câu trả lời thật không đơn giản và chúng tôi cũng không tìm thấy ví dụ trong thực tiễn xét xử của tòa án.

Nhận xét so sánh

Được xem như những quy định của hợp đồng mẫu, các bên có thể lựa chọn UCP để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ. Lựa chọn này có thể được thực hiện ngay khi phát hành thư tín dụng hoặc sau một thời gian. Luật của Pháp và luật Việt Nam đều thừa nhận rằng một khi các bên đã lựa chọn UCP thì các quy định của nó là một phần cấu thành của hợp đồng. Do đó, tuân thủ UCP cũng là tuân thủ hợp đồng. Án lệ của Pháp đã khẳng định cụ thể nguyên tắc này. Ở Việt Nam, nhiều văn bản pháp luật (luật, nghị định) thừa nhận một cách trực tiếp hoặc gián tiếp quyền lựa chọn áp dụng tập quán quốc tế của các bên, bao gồm cả UCP. Tuy nhiên, không phải lúc nào các bên cũng thể hiện rõ ràng sự lựa chọn áp dụng UCP. Trong trường hợp đó, UCP có được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ không ? Chúng ta hãy tìm câu trả lời trong phân đoạn sau.

II – Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên

Giới thiệu.

Đối với một thư tín dụng không có điều khoản nào liên quan đến việc áp dụng UCP thì thư tín dụng đó có chịu sự điều chỉnh của bản quy tắc này không ? Chúng ta sẽ nghiên cứu vấn đề này trong pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên theo pháp luật của Pháp

Học lý

Liên quan đến khả năng áp dụng của UCP trong trường hợp các bên không lựa chọn rõ ràng bản quy tắc, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Theo giáo sư Jean Stoufflet, khoa Luật và Khoa học chính trị của trường đại học Clermont-Ferrand, « UCP sẽ chắc chắn áp dụng đối với thư tín dụng có chứa đựng điều khoản về áp dụng UCP. Tuy nhiên trong trường hợp thư tín dụng không có dẫn chiếu đến UCP thì nó có được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ không ? Câu trả lời là không bởi vì bản quy tắc này vốn là một hợp đồng mẫu và chỉ được áp dụng khi các bên thể hiện sự lựa chọn trong hợp đồng ». Tuy nhiên, giáo sư Mohamed Salah, khoa Luật của trường đại học Nice, lại nêu quan điểm trái ngược, theo đó « khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn UCP thì nó có áp dụng cho quan hệ thư tín dụng với tính chất là một tập quán được thừa nhận rộng rãi hay không, câu trả lời sẽ là có .

Án lệ

Cả học lý và án lệ đều thừa nhận UCP là một tập quán thương mại quốc tế. Theo Marie Tilche, « bản quy tắc này có giá trị như tập quán »[15]. Tương tự, chúng ta có thể thấy rõ quan điểm này cũng được thể hiện trong các án lệ của Pháp. Ví dụ, Tòa phúc thẩm Versailles nhận định rằng « Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất và tín dụng chứng từ do ICC ấn hành năm 1993 có giá trị như luật tập quán »[16]. Với tính chất tập quán, UCP hoàn toàn có thể được áp dụng mặc dù không có sự lựa chọn của chủ thể tham gia quan hệ. Marie Tilche cho rằng, « trong trường hợp không có thỏa thuận giữa các bên, những nguyên tắc này đương nhiên được áp dụng »[17].

Án lệ (tiếp).

Ví dụ, công ty V.T.N. đặt hàng công ty G.F. gia công và cung ứng hàng may mặc. Người bán dự định giao hàng trong hai đợt. Ngân hàng B.F.C.C. đã phát hành thư tín dụng không hủy ngang cho người hưởng lợi là công ty G.F., thư tín dụng có hiệu lực đến ngày 20 tháng 4 năm 1998. Ngân hàng B.N.P. đóng vai trò vừa là ngân hàng thông báo, vừa là ngân hàng xác nhận. Tuy nhiên, lô hàng thứ hai được giao sau khi thư tín dụng đã hết hiệu lực và do đó, ngân hàng B.F.C.C. từ chối thanh toán cho người bán. Công ty G.F. đã khởi kiện ngân hàng B.F.C.C. tại Tòa thương mại Nanterre đòi thanh toán số tiền theo giá trị của thư tín dụng cùng với các khoản bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên tòa đã bác yêu cầu của G.F. Công ty này kháng án với lý lẽ « vì bất kỳ nguyên nhân nào, ngân hàng B.F.C.C. đã có lỗi trong việc không cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy theo điều 12 UCP 500 ».

Tòa phúc thẩm Versailles đã thừa nhận rằng giao dịch tín dụng chứng từ giữa công ty G.F. và ngân hàng B.F.C.C. chịu sự điều chỉnh của UCP. Cụ thể, Tòa nêu quan điểm rằng « do không có văn bản điều chỉnh quan hệ thư tín dụng nên Bản Quy Tắc và Thực Hành Thống Nhất về tín dụng chứng từ do ICC ấn hành năm 1993 có giá trị như luật tập quán và được áp dụng khi không có thỏa thuận trái ngược của các bên tham gia về việc loại trừ một hoặc nhiều điểm cụ thể của Bản Quy Tắc, nhưng trong trường hợp này thì các bên không có thỏa thuận trái ngược nào ». Sau khi thừa nhận khả năng áp dụng của UCP, Tòa phúc thẩm đã vận dụng các quy định của UCP, bác yêu cầu của công ty G.F. theo điều 42, UCP 500, liên quan đến việc dự trù thời hạn hiệu lực của thư tín dụng[20] : « Việc gia hạn thời hạn hiệu lực của thư tín dụng phải được sự đồng ý của tất cả các bên liên quan như người mua, người bán, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận. Mặt khác, thỏa thuận này phải được thể hiện rõ ràng trong thời hạn hiệu lực của thư tín dụng ».

Ví dụ trên cho thấy khi các bên không lựa chọn UCP để điều chỉnh quan hệ tín dụng chứng từ thì bản quy tắc này vẫn có thể được áp dụng với giá trị tập quán. Một nhà bình luận nêu quan điểm, « vì là một tập quán, UCP phải được áp dụng mặc dù các bên không thỏa thuận về việc áp dụng đó. Thực tiễn phong phú của thương mại quốc tế đã chứng minh vai trò không thể thiếu của tập quán ». Tòa thương mại Paris cũng đã thừa nhận hiệu lực bắt buộc của UCP với vai trò tập quán trong quá trình giải quyết một tranh chấp trong đó một bên tham gia cho rằng UCP chỉ là « những quy định mang tính chất gợi ý ». Tòa án đã bác bỏ lập luận này và nhận định rằng bản quy tắc « là tập hợp những tập quán hình thành từ thực tiễn thương mại quốc tế. Mặc dù không có sự lựa chọn của các bên, UCP vẫn là một nguồn luật điều chỉnh giao dịch nếu các bên không loại trừ việc áp dụng các quy định của nó ».

Nhận xét.

Chúng ta vừa nghiên cứu vai trò tập quán của UCP, theo đó, mặc dù không có sự thỏa thuận trước, các bên vẫn có thể áp dụng bản quy tắc này.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng UCP được áp dụng khi thỏa mãn một số điều kiện. Theo quan điểm của án lệ, người ta áp dụng UCP « khi không có văn bản khác điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ » và « bản quy tắc được áp dụng nếu các bên tham gia giao dịch « không loại trừ việc áp dụng các quy định của UCP ».

Nhận xét cuối cùng, đó là sự thừa nhận giá trị tập quán thương mại quốc tế của UCP không được thể hiện trong các văn bản pháp luật mà được hình thành từ các phán quyết của tòa án tại Pháp.

Khả năng áp dụng của UCP khi không có sự lựa chọn của các bên theo pháp luật Việt Nam

Văn bản pháp luật.

Chúng ta có thể nhận thấy sự tương đồng giữa quan điểm của các thẩm phán Pháp và các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Theo đó, việc áp dụng tập quán quốc tế phải thỏa mãn một số điều kiện. Cụ thể quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật dân sự, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh, đồng thời việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Do đó, chúng ta kết luận rằng, với một số điều kiện nhất định, « tập quán quốc tế vẫn được áp dụng khi các bên không thỏa thuận ».

Ví dụ.

Hãy cùng nghiên cứu một ví dụ để làm sáng tỏ kết luận nêu trên. Đây là một tranh chấp do thẩm phán Việt Nam giải quyết căn cứ vào tập quán quốc tế mặc dù các bên không thỏa thuận việc áp dụng tập quán điều chỉnh trong hợp đồng.

Công ty Kolon International Corp. (Hàn Quốc) và công ty Vinafood (Việt Nam) ký kết hợp đồng mua bán phân bón nhập từ Mỹ. Hợp đồng có điều khoản về mở thư tín dụng không hủy ngang cho người thụ hưởng là công ty Kolon. Ngân hàng Vietcombank đã phát hành theo yêu cầu của công ty Vinafood. Sau khi nhận bộ chứng từ do ngân hàng Cho Hung (Hàn Quốc) chuyển đến, Vietcombank kiểm tra và phát hiện các điểm bất hợp lệ. Sau đó ngân hàng phát hành thông báo cho người yêu cầu mở thư tín dụng về sai sót trong bộ chứng từ. Công ty Vinafood không chấp nhận các sai sót này. Do đó, Vietcombank từ chối thanh toán cho người thụ hưởng với lý do miêu tả trong các chứng từ không phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng. Người thụ hưởng Hàn Quốc không đồng ý với quyết định trên và cho rằng các điểm mà ngân hàng phát hành xem là không phù hợp không được quy định trong thư tín dụng. Công ty Kolon kiện Vietcombank tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh để đòi bồi thanh toán khoản tiền của thư tín dụng.

Tuy nhiên, căn cứ vào các điều 29(b.ii), 37(c), 13(a) của UCP 500, Tòa án bác yêu cầu của Kolon. Các thẩm phán đã áp dụng bản quy tắc này đối với giao dịch tín dụng chứng từ nói trên trong khi không có yếu tố nào của bản án cho thấy các bên đã chọn UCP điều chỉnh quan hệ của họ. Nói cách khác, thực tiễn xét xử của tòa án Việt Nam cũng thừa nhận việc áp dụng UCP trong trường hợp không có sự lựa chọn của các bên.

Nhận xét so sánh.

Tại Pháp và Việt Nam, khi các bên không thể hiện rõ ràng sự lựa chọn UCP để điều chỉnh giao dịch tín dụng chứng từ thì bản quy tắc này vẫn được áp dụng với tính chất là tập quán thương mại quốc tế.

Điều kiện áp dụng UCP ở Pháp và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng. Ở Pháp, UCP được áp dụng « khi không có văn bản khác điều chỉnh giao dịch thư tín dụng » và « khi các bên không loại trừ việc áp dụng UCP ». Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự quy định rằng việc áp dụng tập quán quốc tế không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Hạn chế này không được ghi nhận trong án lệ của Pháp. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, UCP không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam do bản quy tắc này được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế.

Lưu ý rằng pháp luật của Pháp và Việt Nam thừa nhận các điều kiện áp dụng của UCP theo hai cách khác nhau. Ở Pháp, các điều kiện này được hình thành từ các phán quyết tòa án trong khi đó, ở Việt Nam, chúng được quy định trong các văn bản của Quốc hội hoặc Chính phủ. Một điểm khác biệt nữa cần nhắc đến, đó là trong quá trình giải quyết tranh chấp, các thẩm phán của Pháp đều giải thích tại sao bản quy tắc này được áp dụng. Còn thẩm phán Việt Nam thường thiếu sự giải thích quan trọng trên. Trong bản án mà chúng tôi vừa phân tích cũng như trong một bản án sẽ tìm hiểu dưới đây, tòa án Việt Nam đã áp dụng các quy định của UCP mà không trình bày lý do tại sao UCP được áp dụng. Điều đó cho thấy rằng thẩm phán Việt Nam dường như không cẩn trọng trong công việc xét xử như thẩm phán của Pháp. Theo chúng tôi, đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, trước tiên các thẩm phán nên giải thích cặn kẽ tại sao văn bản này được áp dụng đối với vụ việc đó rồi mới bắt đầu vận dụng các quy định để giải quyết, bởi vì như chúng ta đã đề cập, bản thân các nguyên tắc UCP không ràng buộc Tòa án Việt Nam, việc áp dụng chúng không đương nhiên.

Kết luận

Nghiên cứu về khả năng áp dụng của UCP đối với giao dịch tín dụng chứng từ cho chúng ta thấy những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật của Pháp và Việt Nam.

Pháp luật của hai nước đều thừa nhận việc áp dụng UCP khi các bên tham gia giao dịch lựa chọn bản quy tắc này. Trong trường hợp các bên không lựa chọn thì UCP vẫn được áp dụng với tính chất tập quán quốc tế. Tuy nhiên các nhà làm luật ở Pháp và Việt Nam quy định các điều kiện áp dụng UCP thông qua các cách thức khác nhau.

Phạm Xuân Quỳnh
Khoa Luật Quốc tế
Đại học Luật TPHCM

(Tháng 2/2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÍN DỤNG CHỨNG TỪ: PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN PHỔ BIẾN NHẤT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

PHẠM XUÂN QUỲNH – ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM

Chuyên đề 1

BẢN CHẤT, LỢI ÍCH, CÁC HÌNH THỨC
VÀ QUY TRÌNH VẬN HÀNH CỦA TÍN DỤNG CHỨNG TỪ

Quá trình tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức. Sau gần một thập niên duy trì nền kinh tế bao cấp, Việt Nam đang nỗ lực để bắt kịp trình độ phát triển chung của thế giới và đạt nhiều thành tựu đáng khích lệ trong lĩnh vực kinh tế. Trong xu hướng hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam luôn thể hiện sự chủ động, linh hoạt trong hoạt động giao lưu thương mại với nước ngoài. Sau khi gia nhập ASEAN vào năm 1995 và AFTA vào năm 1996, Việt Nam đã trở thành thành viên của APEC năm 1998. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, sau quá trình đàm phán kéo dài và căng thẳng, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).

Việt Nam luôn khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động xuất nhập khẩu. Chính phủ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để thúc đẩu quá trình sản xuất hàng hóa phục vụ cho mục đích xuất khẩu, mang tính cạnh tranh cao, phát triển việc xuất khẩu các dịch vụ thương mại. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên vật liệu và thiết bị hiện đại, công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhằm phát triển hoạt động sản xuất trong nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế cũng như ngoại thương phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên gắn liền với sự phát triển đó là nhiều khó khăn, thách thức mà Việt Nam phải vượt qua. Cần phải thực hiện sửa đổi, ban hành văn bản pháp luật phù hợp với xu thế mới cũng như tăng cường hiểu biết pháp luật của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh của họ. Một điều phải thừa nhận rằng các tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những dịch vụ thanh toán đa dạng, góp phần phát triển hoạt động giao dịch giữa các công ty Việt Nam và nước ngoài. Nhận thức được tầm quan trọng của việc thanh toán trong hợp đồng ngoại thương, các bên ký kết hợp đồng luôn chọn lựa phương thức thanh toán thích hợp nhằm bảo vệ lợi ích của mình trong trường hợp phát sinh tranh chấp.

Hiện nay, có nhiều phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế như nhờ thu, chuyển tiền, tín dụng chứng từ, v.v… Trong số đó, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất. Khoảng 11-15% giao dịch thương mại quốc tế sử dụng phương thức tín dụng chứng từ, với tổng trị giá hàng năm là một nghìn tỷ đô la Mỹ.

Khái niệm phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Theo giáo sư Dominique Legeais, khoa Luật, trường Đại học René Descartes (Paris V), phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng phát hành) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này xuất trình tại ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản trong thư tín dụng.

Điều 2 trong UCP 500 của Phòng Thương Mại Quốc Tế đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh hơn, theo đó, tín dụng chứng từ là : Bất cứ thỏa thuận được gọi hoặc miêu tả như thế nào, theo đó ngân hàng (« ngân hàng phát hành ») hành động theo yêu cầu và chỉ thị của khách hàng (« người yêu cầu mở thư tín dụng ») hoặc đại diện cho chính bản thân mình :

· – thanh toán cho, hoặc theo lệnh của người thứ ba (người thụ hưởng) hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu do người thụ hưởng ký phát ; hoặc

· – ủy quyền cho ngân hàng khác thanh toán, chấp nhận và thanh toán hối phiếu ; hoặc

· – cho phép ngân hàng khác chiết khấu chứng từ quy định trong thư tín dụng, với điều kiện chúng phù hợp với tất cả điều khoản và điều kiện của thư tín dụng.

Bản chất của tín dụng chứng từ

Trước tiên, tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán liên quan đến việc xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. Người bán sẽ được bảo đảm thanh toán nếu xuất trình tại ngân hàng bộ chứng từ phù hợp với những quy định đề ra. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cũng có thể hiểu như là một khoản tạm ứng mà ngân hàng dành cho nhà nhập khẩu hoặc nhà xuất khẩu. Từ tính chất của thư tín dụng có thể suy ra : Thứ nhất, chỉ có những tổ chức tín dụng mới có quyền thực hiện các giao dịch này. Thứ hai, do tính độc quyền của hoạt động ngân hàng, giao dịch thanh toán này chỉ có thể được thực hiện thường xuyên bởi các tổ chức tín dụng.

Lợi ích của tín dụng chứng từ

Phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ được sử dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực ngân hàng. Đó là hình thức thanh toán linh hoạt, bảo đảm tính an toàn cho các giao dịch thương mại quốc tế. Trên thực tế, tín dụng chứng từ bắt đầu phát triển từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918). Các nhà xuất khẩu ở Bắc Mỹ, do khoảng cách địa lý xa xôi, đã yêu cầu đối tác ở châu Âu mở thư tín dụng để bảo đảm khả năng thanh toán.

Tín dụng chứng từ được nhiều công ty, ngân hàng ưu tiên lựa chọn vì nó đáp ứng được những yêu cầu chủ yếu của thương mại quốc tế. Thứ nhất, do các đối tác ký kết hợp đồng thường có trụ sở ở những quốc gia khác nhau nên giữa các bên vẫn tồn tại sự thiếu tin tưởng lẫn nhau, phương thức tín dụng chứng từ giúp loại bỏ rào cản đó. Thứ hai, trong giao dịch tín dụng chứng từ, luôn có sự hiện diện của các ngân hàng đại diện của hai bên đối tác, cùng với những yêu cầu khắt khe về bộ chứng từ, những yếu tố đó sẽ dung hòa lợi ích đối nghịch giữa các bên trong hợp đồng.

Các hình thức thư tín dụng

Có nhiều loại hình thư tín dụng. Cách phân biệt chủ yếu dựa trên tính chất cam kết của các ngân hàng.

Thư tín dụng thông báo là thư tín dụng được chuyển đến người thụ hưởng thông qua ngân hàng thông báo mà không có bất kỳ cam kết thanh toán từ phía ngân hàng này. Đối với thư tín dụng có xác nhận, ngân hàng thông báo cam kết thanh toán cho người thụ hưởng với điều kiện bộ chứng từ được xuất trình hợp lệ. Sự xác nhận này phải được sự cho phép của ngân hàng phát hành và thể hiện rõ trong thư tín dụng.

Thư tín dụng có thể là thư tín dụng hủy ngang hoặc không hủy ngang. Loại thứ nhất là thư tín dụng mà bất cứ chủ thể nào cũng có thể hủy bỏ. Tuy nhiên, hình thức thư tín dụng này bị xem là trái ngược với tính an toàn của phương thức tín dụng chứng từ bởi nó không đem lại bất kỳ bảo đảm thanh toán nào. Vì lý do đó, hiện nay phần lớn thư tín dụng trên thế giới là không hủy ngang. UCP 600 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2007 đã loại trừ khái niệm thư tín dụng hủy ngang.

Đối với thư tín dụng không hủy ngang, ngân hàng phát hành không thể hủy bỏ cam kết thanh toán dành cho người thụ hưởng. Đây là cam kết hoàn toàn độc lập với quan hệ giữa ngân hàng phát hành và người yêu cầu mở thư tín dụng.

Quy trình vận hành của tín dụng chứng từ

Các bước trong giao dịch tín dụng chứng từ có thể được trình bày như sau :

Người thụ hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Nếu các bên thỏa thuận chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ thì theo yêu cầu của bên phải thanh toán mà thông thường là người mua, ngân hàng phát hành thư tín dụng đồng thời chỉ định ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận.

Ngân hàng được chỉ định sẽ thông báo việc mở thư tín dụng cho người thụ hưởng và đồng ý xác nhận hoặc không xác nhận thư tín dụng này. Nếu đồng ý xác nhận thì ngân hàng thông báo sẽ thanh toán cho người bán với điều kiện bộ chứng từ được xuất trình phù hợp trong thời hạn quy định. Nếu từ chối xác nhận thì ngân hàng thông báo phải lập tức điện báo cho ngân hàng phát hành.

Trên cơ sở những điều kiện và thời hạn gửi hàng quy định trong thư tín dụng, người bán (nhà xuất khẩu) tiến hành việc gửi hàng theo phương thức vận chuyển và điều kiện Incoterms như đã quy định trong hợp đồng thương mại và thư tín dụng. Người thụ hưởng chuẩn bị các chứng từ cần thiết theo yêu cầu của thư tín dụng và xuất trình tại ngân hàng thông báo và/hoặc ngân hàng xác nhận.

Nếu các chứng từ thể hiện phù hợp với các điều khoản và điều kiện của thư tín dụng, và các thời hạn quy định trong thư tín dụng được tuân thủ, ngân hàng xác nhận sẽ thanh toán cho người thụ hưởng. Ngân hàng thông báo và/hoặc ngân hàng xác nhận gửi bộ chứng từ đến ngân hàng phát hành.

Ngân hàng thông báo được hoàn lại số tiền đã thanh toán cho người thụ hưởng (bằng cách khấu trừ tài khoản của ngân hàng phát hành ở chính ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng khác). Ngân hàng phát hành chấp nhận bộ chứng từ và gửi cho nhà nhập khẩu (người yêu cầu mở thư tín dụng). Ngân hàng khấu trừ tài khoản của người yêu cầu mở thư tín dụng bằng số tiền ghi trong thư tín dụng, có cộng thêm các chi phí dịch vụ. Nhà nhập khẩu nhận được bộ chứng từ và nắm quyền sở hữu hàng hóa.

Phạm Xuân Quỳnh
Đại học Luật TPHCM
(1-2007)

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

CHUYÊN ĐỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh, ngày tháng 6 năm 2004

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ án dân sự – hôn nhân và gia đình có liên quan đến tranh chấp quyền sử dụng đất luôn luôn tăng; thực tiễn xét xử của Toà án các cấp cũng cho thấy đây là loại án khó giải quyết, từ việc áp dụng pháp luật, đánh giá chứng cứ, cũng như do tính chất tranh chấp giữa các bên trong vụ án, dẫn đến việc giải quyết còn kéo dài, khó khăn, lúng túng và không thống nhất.

Để góp phần củng cố nâng cao nhận thức và áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh tổ chức buổi hội thảo chuyên đề : “Giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất tại Tòa án nhân dân”.

I/ Số liệu thống kê :

Số lượng án thụ lý và giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất trong các năm 2001, 2002, 2003 và 4 tháng đầu năm 2004.

(Đính kèm các thống kê).

II/ Thực tiễn xét xử :

Vụ 1:

Ngyên đơn : Nguyễn Văn A

Bị đơn : Phạm Thị B

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Ông Trần Văn C (chồng bà B)

Bà Trần Thị D

Nội dung : Ông A cho rằng nag2y 17/12/1992 bà B có chuyển nhượng cho ông A phần đất có diện tích 1000 m2 với giá 40 lượng vàng SJC, chỉ làm giấy tay, ông đã đưa cho bà B 30 lượng vàng, nhưng bà B chưa giao đất mà cũng chưa thực hiện các thủ tục chuyển nhượng đất. Hiện ông được biết đất nằm trong quy hoạch giải toả nên hợp đồng không thực hiện được, ông yêu cầu bà B phải trả lại cho ông 30 lượng vàng. Bà B xác nhận phần đất trên bà chuyển nhượng lại của bà Trần Thị D, sau đó vợ chồng bà chuyển nhượng lại cho ông A với giá 40 lượng vàng SJC. Vợ chồng bà đang làm thủ tục đến huyện thì ông A yêu cầu mua để làm đường đi. Bà đã nhận của ông A 30 lượng vàng Sau đó bà biết đất này nằm dưới đường dây điện 500 kw, chính ông A cũng biết, thực tế bà đã giao đất từ đó. Nay ông A đòi lại tiền cọc 30 lượng vàng bà không đồng ý vì vợ chồng bà không vi phạm hợp đồng, ông A không mua thì phải mất cọc. Bà không đồng ý trả lại vàng vì thời hiệu khởi kiện đã hết.

– Bà D xác nhận tháng 6/1992 bà có chuyển nhượng cho vợ chồng bà B ông C 1.000 m2 đất theo giấy quyết định tạm giao đất mang tên bà. Hai bên đã giao đất giao vàng, thủ tục bên ông C bà B lo, bà đã bán không có tranh chấp gì.

– Ông C đồng ý với lời khai và yêu cầu của bà B. Tòa án nhân dân huyện thụ lý vụ án ngày 01/11/2000 xử ngày 30/6/2001 đã nhận định : Khi ký hợp đồng ông A đặt cọc 5 lượng, sau đưa thêm 25 lượng, bà B chuyển nhượng đất của bà D chưa hoàn tất do Nhà nước không cho phép vì đất nằm dưới đường dây điện 500 kw (bà D được Ủy ban nhân dân huyện cấp quyết định tạm giao đất). Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông A với vợ chồng bà B ông C không tuân thủ quy định, vi phạm điểm 707 Bộ luật dân sự và điều 31 Luật đất đai, bà B cũng không được phép chuyển nhượng đất vì đất vẫn thuộc quyền sử dụng của bà D, do đó hợp đồng vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo điều 419 Bộ luật dân sự. Việc ông A đòi lại 30 lượng vàng là có cơ sở, nhưng hợp đồng đã khá lâu gần 10 năm mà ông A không khiếu nại, đất hiện đang đền bù giải toả do đó cần xác định lỗi các bên để xác định mức thiệt hại. Ông A biết đất không được phép sang nhượng nhưng vẫn cố tình mua, lại không có ý kiến gì suốt một thời gian dài cho đến nay mới kiện. Đất hiện đền bù chỉ có giá 110.000.000 đồng, còn đất theo hợp đồng 30 lượng, tính thành tiền là 150.000.000 đồng, do vậy thiệt hại là 40.000.000 đồng cả hai bên cũng có lỗi, mỗi bên chịu thiệt hại là 20.000.000 đồng (tương đương 4 lượng vàng), do đó bà B phải trả lại ông A là 26 lượng vàng. Bà B và bà D được nhận tiền đền bù của Nhà nước, nên đã xử : Huỷ hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông A và vợ chồng B,C; buộc bà B trả lại ông A 26 lượng vàng….

Hai bên cũng kháng cáo án sơ thẩm.

Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhận định :

Hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông A và bà B thực hiện ngày 17/12/1992, giấy giao vàng đợt 2 thực hiện ngày 15/01/1993. Ông A khởi kiện xin huỷ hợp đồng vào ngày 17/8/2000, nên căn cứ điểm 4 mục II Thông tư liên ngành số 03 (10/8/1996) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, áp dụng pháp luật theo nghị quyết về việc thi hành Bộ luật dân sự của Quốc hội : “Các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất đai xác lập trước ngày 15/10/1993 theo tinh thần quy định của Hiến pháp năm 1980 (đất đai thuộc sở hữu toàn dân). Áp dụng các quy định của Luật đất đai năm 1987 và Thông tư liên ngành 04/TTLN (03/5/1990) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng cục quản lý ruộng đất để giải quyết. Khi thụ lý các tranh chấp này, hết ngày 15/10/1996, các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án, giải quyết các tranh chấp phát sinh trước ngày 15/10/1993 nữa” nên việc ông A khởi kiện ngày 17/8/2000 là đã quá thời hiệu khởi kiện.

Nên đã quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án đã thụ lý vì đã hết thời hiệu khởi kiện, trả lại đơn kiện cho ông A, trả lại tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, dân sự phúc thẩm cho các đương sự.

Ngày 23/10/2002 Tòa án nhân dân Tối cao đã kháng nghị với nhận định : Ngày 05/3/1993 bà B yêu cầu ông A đưa nốt 10 lượng vàng, nhưng ông A không đưa vì nghe về đường dây điện. Sau đó ông A thương lượng với bà B để hủy hợp đồng lấy lại vàng nhưng bà B không đồng ý, ngày 25/01/1994 kiến trúc sư trưởng Thành phố trả lời bà B là đất của bà thuộc khu quy hoạch chung. Ngày 28/3/1997 Công ty của ông A do ông A làm giám đốc gửi công văn đến Ủy ban nhân dân huyện báo cáo việc mua đất của bà B và nhờ giúp để giải quyết. Tháng 8/2000 ông A kiện. Tòa án nhân dân Tối cao cho rằng : Dù hợp đồng xác lập năm 1992, nhưng từ năm 1992 đến năm 1997 hai bên vẫn tìm mọi biện pháp để thực hiện hợp đồng đến cuối tháng 3/1997 hợp đồng không thực hiện được mới xảy ra tranh chấp. Do vậy thời hiệu phải được tính từ khi vi phạm tức là năm 1997 chứ không phải từ khi hai bên thiết lập hợp đồng. Mặt khác, ông A yêu cầu bà B trả lại 30 lượng vàng do không chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứ không liên quan gì đến quyền sử dụng đất, nên phải xử trả 30 lượng, chứ đình chỉ là sai. Ngoài ra quyết định đình chỉ lại không tuyên huỷ án sơ thẩm là sai.

Tại quyết định giám đốc Thẩm của Toà Dân sự Tòa án nhân dân Tối cao (28/01/2003) cùng với nhận định là sau khi ký hợp đồng hai bên tìm mọi cách để thực hiện hợp đồng, đến tháng 3/1997 mới xảy ra tranh chấp, do vậy thời hiệu phải được tính từ khi vi phạm là năm 1997 chứ không phải từ khi thiết lập hợp đồng đất đến nay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nay lại giải toả, nên không thể thực hiện do vậy, đã huỷ quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh xử lại phúc thẩm.

Vụ 2 : Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn : Bà Phạm Thị D

Bị đơn : Bà Nguyễn Thị S

Ông Nguyễn Văn X

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

: Bà Lê Thị K

Ông Nguyễn N

Nội dung : Thửa đất 300 (4.000 m2) thuộc quyền sử dụng của hộ ông Nguyễn Văn Lý và bà D, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 22/02/1993. Theo bà D : Năm 1995 vợ chồng bị đơn tự ý đào ao đắp nền nhà trên đất của bà – thửa 300, diện tích bị chiếm 160 m2, bà đòi nhưng bị đơn không trả, còn cất nhà và bán cho người khác.

Bị đơn : Năm 1985 phía trước nhà có cánh đồng phèn không thấy canh tác nên gia đình ông tự trồng rau, năm 1996 đắp một nền nhà và cất nhà ở diện tích 160 m2. Con ông là N đã bán nhà cho người khác 60 m2, còn 100 m2 vẫn sử dụng không đồng ý trả.

Ông N : Ông được cha mẹ cho nền nhà năm 1991, sau đó ông tự cất nhà. Năm 1998 ông bán nhà 60 m2 cho bà K giá 20 chỉ vàng,nếu bà D muốn lấy lại đất thì trả vàng cho bà K.

Bà K : Mua nhà của ông N năm 1998 giá 20 chỉ, chỉ làm giấy tay, mua xong đã sửa chữa muốn lấy lại nhà trả đất cho chủ cũ, thì ông N bồi thường cho bà 04 lượng vàng.

Toà sơ thẩm nhận định : Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lý có cơ sở xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng hợp pháp của hộ bà D (ông Lý là chồng bà D đã chết năm 1996). Yêu cầu đòi đất của nguyên đơn là đúng pháp luật nên chấp nhận, việc mua bán nhà giữa bà K và ông N là trái pháp luật vô hiệu, hai bên trả lại nhà, đất và vàng cho nhau, ông N dỡ nhà trả lại quyền sử dụng đất cho bà D.

Bà K, ông N kháng cáo.

Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh nhận định :

Nguyên đơn kiện tranh chấp quyền sử dụng một phần diện tích đất do bị đơn chiếm dụng, không tranh chấp các tài sản khác trên đất này, án sơ thẩm xác định tranh chấp quyền sử dụng đất là đúng.

Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện là cấp cho ông Lý, ông Lý chết năm 1996. Bà D căn cứ vào giấy này để kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn, ngoài ra không có giấy chứng nhận nào khác. Căn cứ khoản 2 điều 38 Luật đất đai năm 1993, Thông tư liên tịch 02 (28/7/1997) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tổng cục địa chính hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 điều 38 Luật đất đai năm 1993, công văn 92/KNXX (08/8/1997) của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thi hành thông tư liên tịch số 02, thì các tranh chấp quyền sử dụng đất… nếu đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật đất đai năm 1993, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân. Trên đất có các tài sản nhưng nguyên đơn không tranh chấp các tài sản này mà chỉ tranh chấp về quyền sử dụng đất và đất đó chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai năm 1993, thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Ủy ban nhân dân. Toà án quận thụ lý xét xử là sai, nên huỷ án sơ thẩm, chuyển toàn bộ hồ sơ sang Ủy ban nhân dân giải quyết theo thẩm quyền – nên đã quyết định : đình chỉ việc giải quyết vụ án, huỷ toàn bộ án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Ủy ban nhân dân tiếp tục giải quyết tranh chấp theo thẩm quyền; Hoàn trả tạm ứng án phí.

Vụ 3: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất .

Nguyên đơn: Ông Trần M và ông Trần N

Bị đơn: Ông bà Trương S.

Nội dung : 4000 m2 đất tại quận X thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông S theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998.

Ngày 10/10/1998 vợ chồng bị đơn ký hợp đồng chuyển nhượng đất nói trên cho các nguyên đơn 3600m2 với giá 300.000đồng/m2, hai bên thỏa thuận bên mua có trách nhiệm hoàn thành mọi thủ tục giấy tờ, bên chuyển nhượng có trách nhiệm giao giấy tờ liên quan đến đất, các giấy tờ cần thiết cho thủtụcchuyển nhượng. Ngày 10/10/1998 bên mua đã giao trước 100.000.000đồng, hai bên đã ký hợp đồng. Ngày 27/10/1998 bên bán sẽ giao cho bên mua giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtvà giao đất để cắm cọc ximăng, thỏa thuận đợi hai vào ngày 6/12/1998 bên mua giao thêm 400.000.000đồng (bốn trăm triệu). (Linh động ngày 15/11/1998 giao 200.000.000 đồng (giao hai trăm triệu), còn 200.000.000đồng (hai trăm triệu) đến 6/12/1998 sẽ giao) Tới ngày 6/12/1998 hai bên sẽ đo đất thực tế tính tiền. Lúc này bên bán cho bên mua tạm mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản chính).

Đợt 3: ngày 15/2/1999 giao tiếp 200.000.000đồng (hai trăm triệu).

Đợt 4: 15/3/1999 giao hết tiềnh còn lại. Nếu bên mua không mua thì mất tiền đã giao 100.000.000đồng (một trăm triệu). Nếu bên bán thay đổi không bán thì sẽ bồi thường gấp hai, ba lần số tiền 100.000.000đồng (một trăm triệu). Hai bên đã giao nhận 100.000.000 đồng (một trăm triệu) tiền cọc vào ngày 10/10/1998.

Theo lời trình bày của nguyên đơn thì bên bị đơn không giao các giấy tờ chứng minh nhân dân, hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất để làm thủ tục mà đòi sửa hợp đồng đưa thêm 1.000.000.000đồng (một tỷ) và giao trong 1 tháng. Ngày 15/10/1998 bên bán yêu cầu sửa hợp đồng vì đất nằm trong qui hoạch, ngày 29/10/1998 bên bán có đơn gửi Ủy ban Nhân dân phường xin hủy hợp đồng, qua tìm hiểu các nguyên đơn biết cùng trong ngày 10/10/1998 Ủy ban Nhân dân phường đã giải quyết việc mua bán lô đất này giữa bị đơn với ông Nguyễn Văn H, bị đơn đã chuyển nhượng đất cho H và nhận 50.000.000đồng (năm chục triệu) tiền cọc. Khi ông H biết đất qui hoạch đã đòi lại 50.000.000đồng (năm chục triệu) bị đơn đã trả lại tiền cho ông H, nhưng cùng ngày bị đơn lại ký giấy bán đất cho nguyên đơn và còn cam kết đất không nằm trong qui hoạch. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cọc và bồi thường thiệt hại. bị đơn không đồng ý trả cọc, vì đất không nằm trong diện qui hoạch.

Toà sơ thẩm đã xử:

Chấp nhận yêu cầu hủy hợp đồng sang nhượng đất, buộc bị đơn bồi thường cho nguyên đơn 200.000.000đồng (hai trăm triệu). Bị đơn kháng cáo.

Toà Phúc thẩm:

Hủy hợp đồng sang nhượng đất, xác định hợp đồng này bị vô hiệu, Bị đơn trả nguyên đơn số tiền 100.000đồng (một trăm triệu), bác yêu cầu đòi bồi thường 100.000.000đồng (một trăm triệu) của nguyên đơn.

Tòa án Nhân dân Tối cao đã kháng nghị án phúc thẩm. Tại quyết định giám đốc thẩm, Tòa án Nhân dân Tối cao đã nhận định :

Đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông S, theo Điều 693 Bộ luật dân sự thì bị đơn có đủ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Hợp đồng ký 10/10/1998 hoàn toàn tự gnuyện, không trái đạo đức và pháp luật, bị đơn không giao đủ giấy tờ cần thiết cho nguyên đơn, lại còn tự đưa ra những điều kiện mới trái với thỏa thuận đã ký, không được thì lại tự ý xin hủy hợp đồng. Như vậy bị đơn đã vi phạm hợp đồng, phải bồi thường cọc theo quy định tại Điều 363 Bộ luật Dân sự, nên đã xử hủy án phúc thẩm, giữnguyên hiệu lực của án sơ thẩm.

Vụ 4: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A

Bị đơn: Bà Trần Hoàng B

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Hoàng C

Ông Trần Tử D

Ông Trần Tử Đ

Ông Trần Tử E.

Ngày 01/04/1997 bà B ký hợp đồng chuyển nhượng 2000m2 đất ở huyện O cho ông A bà C với giá 200.000 lượng vàng SJC. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên mua đã giao cho bên bán 80 lượng vàng. Sau đó 2 bên thỏa thuận số tiền đã giao tương đương 800m2 đất, có lập biên bản ngày 01/01/2002, nhưng do chưa có sự đồng ý của các con bà B, nên chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, trước đó ngày 28/12/1999, Ủy ban Nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2200m2 cho hộ gia đình bà B. Do phía bà B không đồng ý chuyển nhượng đất nữa nên ông A bà C kiện yêu cầu giao 800m2 đất theo thỏa thuận.

Tòa sơ thẩm nhận định: ngày 01/04/1997 bà C cùng các con ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông A, bà C, khi đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, là hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/1999, thì ngày 1/1/2002 bà B, ông A, bà C đã ký thỏa thuận chuyển nhượng 800m2 đất, nên chấp nhận. Án có kháng cáo.

Tòa phúc thẩm nhận định: Điều 30 luật đất đai năm 1993 quy định đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp là một trong trường hợp không được chuyển nhượng và Điều 693 Bộ luật Dân sự cũng quy định một trong những điều kiện chuyển quyền sử dụng đất là phải giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó hợp đồng ngày 01/04/1997 vô hiệu từ thời điểm ký kết. Toà sơ thẩm không giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu này là không đúng quy định. Đối với thỏa thuận ngày 01/01/2002, xét đất 2200m2 là cấp cho hộ gia đình bà B chứ không phải cấp cho cá nhân bà B, do đó 1 mình bà B đứng ra thỏa thuận chuyển nhượng là sai, tòa sơ thẩm công nhận hợp đồng là không đúng. Do tòa sơ thẩm chưa điều tra giải quyết các thiệt hại của hợp đồng, nên tòa phúc thẩm xử huỷ án sơ thẩm.

Vụ 5: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa:

Nguyên đơn: Ông 1 bà 2

Bị đơn: Ông 3

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp, ký ngày 31/5/2000 giữa ông 1 và bà 2 với ông 3 khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên nhận chuyển nhượng sử dụng đất cũng không có nhu cầu sử dụng đất, lại còn chuyển nhượng lại cho người khác là ông 4, ông 5. Toà sơ thẩm xử hủy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông 1, bà 2, ông 3, mà không triệu tập ông 4, ông 5 tham gia tố tụng là có thiếu sót. Mặt khác khi giao vàng cho ông 1, bà 2, không phải là ông 3, mà là ông 6, bà 2 xác định không biết ông 3 là ai, nhưng tòa sơ thẩm cũng không triệu tập ông 6 tham gia tố tụng là có thiếu sót nên huỷ án.

Vụ 6: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nguyên đơn: Ông Trần A

Bị đơn: Ông Nguyễn B

Bà Lê C

Bà A là vợ của ông D (C 1986), ông D và ông B là anh em ruột.

Năm 1997 mẹ chồng bà A lập tờ tương phân chia đất và nhà cho bà A và ông B, mỗi người 4000m2 đất ruộng. Đất được chia cho bà A đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban Nhân dân cấp năm 1995 cho mẹ chồng bà A đứng tên. Thực tế gia đình A và các con sử dụng từ nhiều năm nay. Ngày 01/10/1998 mẹ chồng bà A lại ký giấy bán cho bà A 1000m2 đất mà trước đây đã giao cho bà A trong giấy tương phân. Nhưng sau đó mẹ chồng bà A lại ký giấy bán cho bà C con ông B 3000m2 đất (đã chia cho bà A). Năm 1999 mẹ chồng bà A chết.

Sau đó cha con ông B bà C đã cản trở việc đã cản trở việc sử dụng 4000m2 đất của gia đình bà A. Bà A cho rằng việc mẹchồng bà ký giấy bán đất cho bà C là do sự …..ép của ông B và mẹ chồng bà đã 87 tuổi. Bà A tranh chấp quyền sử dụng 4000m2 đất với ông B bà C và cả hợp đồng mua bán đất giữa mẹ chồng bà với bà C.

Bà C và ông B yêu cầu được công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa mẹ ông B với bà C và yêu cầu gia đình bà A trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Toà sơ thẩm đã nhận định:

Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận cho bà được quyền sử dụng đất và các bị đơn không tranh chấp quyền sử dụng đất.

Căn Cứ khoản 4 Điều 46 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, đã đình chỉ việc giải quyết vụ án đã thụ lý.

Nguyên đơn kháng cáo

Tòa phúc thẩm cho rằng:

Bà A có yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất đối với 4000m2 đất đã có giấy nhận quyền sử dụng đất đứng tên mẹ chồng bà, đồng thời tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất của mẹ chồng bà với bà C. Bị đơn có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa mà chồng bà A với bà C. Như vậy không thể nói rằng các đương sự không có tranh chấp quyền sử dụng đất, căn cứ điểm 1, 1.1,1.2,1.3 của Thông tư liên tịch số 01/TTLT (31/1/2002) vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, nên đã hủy quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự của Toà sơ thẩm.

Vụ 7 : “Yêu cầu huỷ hợp đồng sang nhượng đất” giữa :

Nguyên đơn : Bà Nguyễn Thị C

Bị đơn : Bà Hồ Thị D

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :

Ông Hồ T

Ông Hồ K

Ông Hồ M

Ông Trần X

Nguyên đơn :Nguồn gốc nhà đất ở quận U do vợ chồng bà mua bằng giấy tay năm 1979 nhà 150 m2 đất 4.000 m2. Năm 1981 sở quản lý nhà đất cấp giấy phép mua bán nhà cho chồng bà. Sau khi mua nhà thì chồng bà và con gái bà là bà Hồ thị D về ở. Năm 1982 chồng bà đăng ký sử dụng đất theo chỉ thị 299/TTg với diện tích 4.000 m2, năm 1986 chồng bà chết không để lại di chúc. Năm 1988 bà đồng ý để bà D cất nhà ở trong khuôn nhà đất nói trên, đã có chủ quyền nhà mang số riêng; Năm 1997 bà D tự ý làm giấy tay bán 500 m2 đất cho ông X không có sự đồng ý của bà và các con khác. Bà không yêu cầu chia thừa kế nhà đất của chồng bà, chỉ yêu cầu huỷ hợp đồng trái pháp luật giữa bà D và ông X.

Bị đơn : Thừa nhận lời khai của bà C là đúng, bà bán cho ông X 500 m2 đất giá 300 lượng vàng, bà đã nhận đủ vàng và giao đất cho ông X làm nhà. Việc mua bán bằng giấy tay, bà C không biết.

Nay bà biết việc mua bán là sai, đồng ý trả vàng cho X để lấy lại đất trả cho bà C.

Ông X cho rằng mua diện tích 800 m2 của bà D, sau đó bà C biết và không đồng ý, ông đã mua của bà C 300 m2, còn lại 500 m2 mua của bà D giá 300 lượng vàng, khi mua ông có hỏi địa phương nhưng chưa làm được thủ tục vì bà C tranh chấp. Nay ông yêu cầu toà công nhận hợp đồng mua bán đất giữa ông và bà D, nếu phải huỷ hợp đồng thì yêu cầu giải quyết đường đi 200 m2 trong phần đất bà D bán, mua theo thời giá, còn lại tính sau; Yêu cầu bà D trả 300 lượng vàng ngay.

Các đương sự khác đồng ý với ý kiến, yêu cầu của bà C.

Toà sơ thẩm đã xử : Huỷ hợp đồng sang nhượng đất giữa bà D ông X, bà D trả lại ông X 300 lượng vàng, ông X được sử dụng 200 m2 đất… làm đường đi, ông X trả bà C tiền sử dụng đất 2 tỷ, ông X trả bà C 300 m2 đất, ông X tháo dỡ nhà khi trả đất cho C.

Hai bên đều kháng cáo.

Toà phúc thẩm nhận định :

Căn cứ tờ mua bán nhà năm 1981 thì vợ chồng bà C là chủ nhà đã mua 150 m2, không thể hiện việc mua bán 4.000 m2 đất. Năm 1982 chồng bà C đăng ký 4.000 m2 đất theo chỉ thị 299 và kê khai nhà 150 m2, chồng bà C và bà D ở đây. Chồng bà C chết, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến nay bà C cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo điều 3 Luật đất đai năm 1993 bà C chưa được Nhà nước giao đất cho đến nay. Bà D ở với chồng bà C tại nhà đất này, có hộ khẩu từ lúc mua đến nay, bà C ở nơi khác. Năm 1986 bà D kê khai đất và được Nhà nước cho xây nhà, được địa chính xã đo và sử dụng 800 m2, bà D đóng thuế đất từ năm 1993 đến nay, tuy vậy bà D cũng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông tư liên tịch 01 (03/01/2002) quy định tại mục 3.1 nếu tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất đó thì do Ủy ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết do vậy quyết định số của ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí MInh, (4/2002) cho rằng “Diện tích 800m2 đất bà Đ đang sử dụng nằm trong khuôn viên 4.000m2, đất trên đó có căn nhà 150m2 có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà C. Chồng bà C (chết), nên tài sản nêu trên là di sản thừa kế vì vậy việc tranh chấp diện tích 800m2 đất giữa bà D và bà C là tranh chấp di sản thừa kế, không thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân mà thuộc tòa án nhân dân là sai.

Án sơ thẩm đã nhầm, cho rằng 4.000m2 đất do chồng bà C kê khai theo chỉ thị 229 là đã thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà C, nên đã chấp nhận yêu cầu của bà C là sai thẩm quyền, do vậy cần hủy án sơ thẩm, trả đơn kiện cho bà C, căn cứ điều 738 Bộ luật dân sự, điều 38 khoản 2 Luật Đất đại 2001, điều 5 khoản 4 Luật đất đai 2003. Hủy án sơ thẩm, trả đơn kiện cho bà C (không có luật đất đai năm 2001 và 2003 khi Toà phúc thẩm xử ! ! !).

III/ NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

-Hiến Pháp 1980 :

-Hiến Pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến Pháp năm 1992 :

Điều 17 : “Đất đai, rừng núi, sông hồ … cùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.

Điều 18 : “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân… được chuyển quyền sử dụng đất được nhà nước giao theo qui định của pháp luật”.

-BỘ LUẬT DÂN SỰ

Điều 181 Bất động sản và động sản.

Bất động sản là các tài sản không di, dời được, bao gồm :

a/ Đất đai

b/ Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đai….

c/ Các tài sản khác gắn liền với đất đai.

Điều 205 : Tài sản thuộc sở hữu toàn dân : “Đất đai … cùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân”.

Điều 206 Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 346 : Thế chấp tài sản.

“Khoản 1 thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bất động sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền.

Khoản 4 việc thế chấp quyền sử dụng đất được qui định tại các điều từ điều 727 đến điếu 737 của Bộ luật này”.

Điều 637 Di sản.

“Khoản 2 quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa kế và được để lại thừa kế theo qui định tại phần thứ năm của Bộ luật này .

Điều 648 Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

“Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”

PHẦN THỨ NĂM

NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

Gồm 6 chương, từ điều 590 đến điều 744 = 55 điều

Chương 1 : Những quy định chung :

(Từ điều 690 – điều 698) = 9 điều

Chương 2 : hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất.

(Từ điều 699 đến điều 704) = 6 điều

Chương 3 : hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

(Từ điều 705 – điều 713) = 9 điều

Chương 4 Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất

(từ điều 714 đến điều 726) = 13 điều

Chương 5 : hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

(từ điều 727 đến điều 737) = 11 điều

Chương 6 thừa kế quyền sử dụng đất

(Từ điều 738 đến điều 744) = 7 điều.

– Luật đất đai năm 1987

– Luật đất đai năm 1993 và luật sửa đổi, bổ sung (1998, 2001) một số điều của Luật đất đai năm 1993 (1998, 2001) :

Điều 1 : “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý.

Nhà nước giao đất cho các tổ chức … hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước còn cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất …. Nhà nước cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất,”

Điều 2 khoản 1 “người sử dụng đất ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận thì được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…”

Điều 2 khoản 2 Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chính phủ cách mạng ……….và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Điều 3 khoản 1 nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Khoản 2 hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất. Các quyền nói trên, chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất và đúng mục đích sử dụng của đất được giao theo qui định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.

Điều 6 nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, hủy hoại đất.

Điều 13 khoản 7 : quản lý Nhà nước về đất đai :

“Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.

Điều 30 không được chuyển quyền sử dụng đất trong những trường hợp sau đây :

-Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp.

-Đất giao cho các tổ chức mà pháp luật qui định không được chuyển quyền sử dụng.

-Đất đang có tranh chấp.

Điều 31 khoản 1 thủ tục chuyển đổi quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Ủy ban nhân dân xã; ở đô thị tại Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Khoản 2 thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nông thôn làm tại Ủy ban nhân dân huyện, ở đô thị làm tại Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Điều 38 khoản 3 các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó, thì do tòa án giải quyết.

Luật đất đai năm 2003 (Hiệu lực từ 01/7/2004) gồm 7 chương 146 điều.

– Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1994 và luật sửa đổi bổ sung luật thuế chuyển quyền sử dụng đất năm 1999. Quyết định 201/CP (01/7/1980) của HĐCP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác qủan lý ruộng đất trong cả nước.

– Nghị định 60/CP (05/7/1994) về quyền sở hữu nhà ở và sử dụng đất ở tại đô thị.

– Nghị định 22/1998/NĐ-CP (24/4/1998) của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng , an ninh, lợi ích quốc gia, lợi công cộng.

– Nghị định 17/1999/NĐ-CP (29/3/1999) của chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp , góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất.

-Nghị định 176/1999/NĐ -CP (21/12/1999) của Chính phủ về lệ phí trước bạ.

-Nghị định 19/2000/NĐ-CP (8/6/2000) của Chính phủ quy định chi tiết luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất.

-Nghị định 38/2000/NĐ-CP (23/8/2000) của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất

-Nghị định 79/2001/NĐ -CP (01/11/2001) của Chính phủ sửa đổi ; bổ sung 1 số điều của Nghị định 17.

-Nghị định 81/2001/NĐ-CP (05/11/2001) của Chí nh phủ về việc Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam.

-Quyết định 189/2000/QĐ-BTC (24/11/2000) của Bộ Trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành qui định về tiền thuê đất, mặt nước, mặt biển áp dụng đối với các hình thức đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

-Thông tư 1990/2001/TT-TCĐC (30/11/2001) Tổng cục địa chính hướng dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

-Công văn 92/2000/ KHXX (21/7/2000) của Tòa án nhân dân Tối cao về việc xác định giá quyền sử dụng đất.

-Nghị quyết Quốc hội về nhà đất do Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991 (26/11/2003), có hiệu lực từ ngày 01/7/2004, khẳng định : “Nhà nước không xem xét lại chủ trương, chính sách về việc thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất đã ban hành trước ngày 01/7/1991. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất. Hoàn thành thủ tục pháp lý về sở hữu toàn dân đối với loại nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng, trong quá trình thực hiện các chính sách cải tạo nhà đất cho thuê cải tạo CTNTB, tư doanh có liên quan trực tiếp đến nhà đất, quản lý nhà đất cùng các tổ chức, các cá nhân diện 2/IV ở các tỉnh, thành phố phía Nam sau 30/4/1975; quản lý nhà đất vắng chủ, quản lý nhà đất trong từng thời điểm nhất định, và nhà đất của các đoàn, hội, tôn giáo, quản lý nhà đất của những người di sản, chuyển vùng hoặc ra nước ngoài.

Nghị quyết, không qui định các trường hợp được xem xét trả lại nhà đất mà giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội căn cứ vào nghị quyết này của Quốc hội và đề nghị của Chính phủ qui định việc giải quyết đối với 1 số trường hợp cụ thể bảo đảm lợi ích hợp pháp của công dân và phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.

Những trường hợp chủ sở hữu có nhà đất mà nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng, nay thực sự có khó khăn về nhà ở thì nhà nước có chính sách tạo điều kiện để họ cải thiện nhà ở.

-Nghị định 165/1999/NĐ-CP (19/11/1999) của Chính phủ về giao dịch có bảo đảm.

-Nghị định 8/2000/NĐ-CP (10/3/2000) của chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm.

-Thông tư liên tịch 03/2001/TTLT-NHNN- Bộ Tư pháp – Bộ công an – Bộ Tài chính – Tổng cục địa chính (23/4/2001) hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng.

-Thông tư liên tịch 772/2001/TTLT-TCĐC -HHNN (21/5/2001) của Tổng cục địa chính, Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thủ tục thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngòai tại tổ chức tín dụng.

IV/ NHỮNG VƯỚNG MẮC KHI ÁP DỤNG CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

A/ Thời hiệu

1/ Thời hiệu khởi kiện :

Các văn bản pháp luật : 1/ Nghị quyết Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự : 5/ những qui định của Bộ luật dân sựvề chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực áp dụng kể từ ngày Luật đất đai năm 1993 có hiệu lực 6/ . Việc áp dụng các qui định pháp luật về thời hiệu được qui định như sau:

a/ Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây có qui định về thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện thì áp dụng các qui định về thợi hiệu của văn bản pháp luật đó.

b/ Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây không qui định về thời hiệu khởi kiện, thì áp dụng các qui định của Bộ luật dân sự về thời hiệu và thời điểm bắt đầu thời hiệu được tính từ ngày Bộ luật dân sự có hiệu lực.

2/ Thông tư liên ngành số 03 – TTLN (10/8/1996) của Tòa án nhân dân Tối cao – Viện kiểm sát Tối cao – hướng dẫn áp dụng pháp luật theo nghị quyết Quốc hội về thi hành Bộ luật dân sự có hướng dẫn tại phần I.1.C: “theo qui định tại khoản 5 nghị quyết thì những qui định của Bộ luật dân sự về chuyển quyền sử dụng đất có hiệu lực áp dụng kể từ ngày luật đất đai này có hiệu lực từ ngày 15/10/1993. Như vậy, khi có tranh chấp phát sinh từ việc chuyển quyền sử dụng đất thì cần xác định thời điểm xác lập việc chuyển quyền sử dụng được, nếu việc chuyển quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 15/10/1993 thì áp dụng các qui định của Bộ luật dân sự để giải quyết. Khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất xác lập trong giai đoạn từ 15/10/1993 đến hết 30/6/1996, cần chú ý là thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp này là 3 năm kể từ ngày có vi phạm theo qui định tại điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự

(điều 56 Pháp lệnh hợp đồng dân sự: thời hiệu khởi kiện:

1/ Trong thời hạn 3 năm, kể từ thời điểm xảy ra vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạmcó quyền khởi kiện trước tòa án, nếu pháp luật không có qui định khác. Qua thời hạn này, bên bị vi phạm mất quyền khởi kiện.

2/ Trong trường hợp có trở ngại khách quan mà không khởi kiện được trong thời hạn qui định tại khoản 1 điều này thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện.

3/ Đối với hợp đồng vi phạm trước ngày pháp lệnh này có hiệu lực mà pháp luật không qui định thời hiệu khởi kiện, thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày pháp lệnh này có hiệu lực (01/7/1991)

Ví dụ: ngày 25/12/1993 A thuê đất của B. Ngày 20/02/1994 A vi phạm hợp đồng do không trả tiền thuê đất vì hai bên lập hợp đồng theo qui định của pháp lệnh hợp đồng dân sự , do đó bên B có quyền kiện A trong thời hạn 3 năm (từ ngày 20/02/1994 đến ngày 20/02/1997) và sau ngày 20/02/1997 B không còn quyền kiện A nữa.

Tại phần II. 4 TTLN 03 có qui định : “đối với các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất xác lập trước ngày 15/10/1993 thì theo tinh thần qui định của Hiến pháp năm 1980 (đất đai thuộc sở hữu toàn dân), áp dụng các qui định của Luật đất đai 1987 và Thông tư liên ngành số 04/TTLN (3/5/1990) của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Tổng cục địa chính) hướng dẫn giải quyết tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, để giải quyết khi thụ lý các tranh chấp này, cần chú ý là hết ngày 15/10/1996 các đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp phát sinh trước ngày 15/10/1993 nữa.

Bộ luật dân sự không có qui định về thời hiệu khởi kiện đối với vi phạm hợp đồng dân sự do đó các hợp đồng dân sự được xác lập từ ngày 01/7/1996 mà có vi phạm thì bên bị vi phạm không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước tòa án, nếu pháp luật không có qui định khác (phần cuối điểm a phần III.1 TTLN 03 (10/8/1996) Tòa án nhân dân tối cao – Viện kiểm sát tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật theo nghị quyết của quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự).

Tóm lại: các tranh chấp dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất xác lập trước ngày 15/10/1993 thì đến hết ngày 15/10/1996 các đương sự không còn quyền khởi kiện.

Các giao dịch dân sự liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 15/10/1993 đến hết ngày 30/6/1996 thì thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày có vi phạm.

Các giao dịch dân sự liên quan đến hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 1/7/1996 không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước tòa án, nếu pháp luật không có qui định khác.

2/ Thời hiệu về thừa kế quyền sử dụng đất:

Tại điểm b khoản 1 phần III TTLN 03 (10/8/1996) hướng dẫn áp dụng pháp luật theo nghị quyết của quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự.

Theo qui định tại khoản 2 điều 36 pháp lệnh thừa kế thì trong 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, cá nhân cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản. Qui định này chỉ áp dụng đối với các trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996. Đối với các trường hợp thừa kế mở từ ngày 1/7/1996 thì người có quyền nói trên không bị hạn chế thời gian khởi kiện trước tòa án, vì Bộ luật dân sự không có qui định, do đó họ có quyền khởi kiện bất cứ lúc nào sau thời điểm mở thừa kế, kể cả trường hợp di sản đã được chia, nếu pháp luật không có qui định khác.

Như vậy, nếu kiện đòi thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại, trường hợp thừa kế mở trước ngày 1/7/1996 có di sản là quyền sử dụng đất, thì thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế.

Tại điểm c khoản 1 phần III TTLN 03 (10/8/1996) có qui định: “Theo qui định tại khoản 4 điều 36 pháp lệnh thừa kế đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành pháp lệnh này, thì thời hạn 10 năm để người thừa kế thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác được tính từ ngày công bố pháp lệnh thừa kế (ngày 10/9/1990). Như vậy, các việc thừa kế đã mở trước ngày 30/8/1990 người thừa kế có quyền khởi kiện đến hết ngày 09/9/2000.

– Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật Dân sự: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế”.

– Tại báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1999 (11/3/200) của Tòa án Nhân dân Tối cao, có hướng dẫn tại 4.4.5 về Điều 171 Bộ luật Dân sự quy định về: “Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện”.

Do Bộ luật Dân sự không quy định về thời hiệu khởi kiện nên các giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

Đối với các giao dịch dân sự được xác lập từ ngày 1/7/1996 không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

Đối với các giao dịch được xác lập trước ngày bộ luật dân sự có hiệu lực, theo quy định tại điểm 3 nghị quyết của Quốc hội khoá X kỳ hộp thứ 8 về việc thi hành Bộ luật Dân sự thì vấn đề thời hiệu khởi kiện được giải quyết như sau:

Trường hợp 1: đối với các giao dịch dân sự xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực hiện vẫn đang được thự hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự thì áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự. Theo quy định này, thì nếu có tranh chấp xảy ra sẽ không bị hạn chế về thời hiệu khởi kiện.

Trường hợp 2: đối với giao dịch dân sự được xác lập và thực hiện xong trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực mà có tranh chấp xảy ra, thì áp dụng Điều 56 pháp lệnh hợp đồng dân sự để giải quyết nếu đến ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực mà thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì không bị hạn chế về thời hiệu, nếu thời hiệu khởi kiện không còn thì đương sự không có quyền khởi kiện nữa.

Tại báo cáo tham luận của Toà dân sự Tòa án Nhân dân Tối cao tại Hội Nghị tổng kết nghành Tòa án năm 2003, đãcó ý kiến về báo cáo tổng kết năm 1999 về việc áp dụng Điều 71 Bộ luật Dân sự về: “Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện” cho rằng hướng dẫn của Tòa án Nhân dân Tối cao báo cáo năm 1999 về vấn đề trên là không đúng với quy định tại Điều 6 Nghị quyết Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự (đã trích dẫn ở phần trên)

Như vậy tất cả các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật Dân sự có hiệu lực (1/7/1996) mà các văn bản pháp luật trước đây có quy định về thời hiệu khởi kiện, khi có tranh chấp thì Tòa án phải áp dụng các quy định về thời hiệu của các văn bản pháp luật để xác định thời hiệu khởi kiện, không phụ thuộc vào việc giao dịch dân sự đã thực hiện xong hay vẫn đang thực hiện;

Kết luận: nếu thao quy định tại Điều 6 của nghị quyết Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Dân sự.

3 / Trường hợp di sản có cả đất và nhà, vụ án bị tạm đình chỉ theo các quy định của pháp luật đối với nhà ở thuộc sở hữu tư nhân thì khi thụ lý cần trừ đi các thời gian vụ án bị tạm đình chỉ;

4/Trường hợp tài sản chung (có đất) của vợ chồng, một bên (vợ hoặc chồng) chết trước và thời hiệu khởi kiện đối với các thừa kế của người chết đã hết, còn người chết sau, các thừa kế vẫn còn thời hiệu, thì chỉ giải quyết phần di sản của người chết sau. Tuy các quy định về thời hiệu là rất nhiều nhưng trong từng vụ án cụ thể chúng ta vẫn phải điều tra nhận định đánh giá đúng thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, thời gian không tính vào thời hiệu (điều 170 Bộ luật dân sự) và qui định tại điều 171 Bộ luật dân sự, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

“1/ Thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại trong trường hợp :

a/ Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện.

b/ Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mìnnh đối với người khởi kiện.

c/ Các bên đã tự hòa giải với nhau.

2/ Thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện qui định tại khoản 1 điều điều này”.

B. THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT:

3.1- Aùp dụng thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC (03/1/2002) hướng dẫn về thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất (gọi tắt là TTLT01).

– Khi xác định vụ việc không thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án nhân dân mà thuộc Ủy ban nhân dân, thì quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (hủy án sơ thẩm – nếu đã xử sơ thẩm), trả lại đơn kiện cho nguyên đơn, hướng dẫn đương sự liên hệ với Ủy ban nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết (khoản 5 điều 36 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự), không có Toà án chuyển vụ án cho Ủy ban nhân dân giải quyết theo thẩm quyền quyết định chuyển đến Ủy ban nhân dân giải quyết.

Vậy quyết định chuyển đến Ủy ban nhân dân hay trả đơn và hướng dẫn đương sự.

– Trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất, nguyên đơn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn thì Tòa án có thụ lý giải quyết không?

Tại điểm 1 phần I của Thông tư liên tịch số 01 (03/1/2002) đã xác định trường hợp đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc….thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Chúng ta thấy thông tư xác định đối tượng tranh chấp có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không xác định là chủ thể trong quan hệ tranh chấp là ai phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do đó trong trường hợp đất tranh chấp đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân.

Trường hợp A là thực tế sử dụng đất, nhưng B lại được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. A đã khiếu nại Ủy ban nhân dân về việc cấp giấy chứng nhận cho B, Ủy ban nhân dân đã ra quyết định giữ y quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho B, A không khiếu nại lên Ủy ban nhân dân cấp trên mà cũng không kiện ra tòa theo thủ tục tố tụng hành chính, quyết định hành chính đã có hiệu lực thi hành, nay A lại kiện ra toà dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất, thì Tòa án có thụ lý không? chúng tôi cho rằng không thụ lý vì các tranh chấp chỉ giải quyết bằng một phương pháp điều chỉnh.

– Điều 136 luật đất đai năm 2003 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 có qui định: thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai : khoản 1 : tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ qui định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Khoản 2 : tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ qui định tại khoản 1, 2 và 5 điều 50 của luật này được giải quyết như sau :

a/ Trường hợp chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Ủy ban nhân dân, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

b/ Trường hợp chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

– Điều 138 Luật đất đai năm 2003 : giải quyết khiếu nại về đất đai :

1/ Người sử dụng đất có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai.

2/ Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện như sau :

a/ Trường hợp khiếu nại hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân hoặc tiếp tục khiếu nại đến chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Trong trường hợp khiếu nại đến chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng.

b/ Trường hợp khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai do chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

c/ Thời hiệu khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là 30 ngày,kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính đó. Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.

3/ Việc giải quyết khiếu nại về đất đai qui định tại khoản 2 điều này không bao gồm trường hợp khiếu nại về quyết định giải quyết tranh chấp đất đai qui định tại khoản 2 điều 136 của luật này.

Như vậy luật đất đai năm 2003 qui định rõ ràng thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân đều qua hai cấp, cũng như qui định về việc giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai; thủ tục, thẩm quyền thời hạn giải quyết các khiếu nại về đất đai.

3.2- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất :

Nếu đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các giấy tờ qui định tại I1.1, I1.2 của TTLT01 đứng tên người để lại thừa kế quyền sử dụng đất hoặc đứng tên người đang quản lý, sử dụng đất đó, thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Nếu đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mục 1 phần I TTLT01, chỉ có một trong các giấy tờ qui định tiêu mục 2.1 mục 2 TTLT01 thì không thấy qui định việc giải quyết thừa kế đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân hay Ủy ban nhân dân.

Trong trường hợp này phải thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân, đây là quan hệ tranh chấp thừa kế, là quan hệ dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, Ủy ban nhân dân không có chức năng thẩm quyền này. Nhưng vấn đề là đất tranh chấp thừa kế chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có được xem là di sản dể chia thừa kế hay không nếu không có nhà trên đất, hoặc nguồn gốc nhà đất có công của người để lại di sản, nhưng đất hiện đứng tên người khác.

C/ Aùp dụng công văn 169/2002/KHXX (15/11/2002) của Tòa án nhân dân Tối cao về đường lối giải quyết các khiếu kiện, các tranh chấp đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng.

Thực tế xét xử các vụ án đòi lại đất rất gay gắt, khó khăn, từ khi có công văn 169 làm cho việc xét xử của Tòa án thêm khó vì thực tiễn rất đa dạng so với các ví dụ của công văn 169 nêu ra, và việc xử lý theocông văn 169 đưa ra cũng không rõ ràng, cụ thể, mà tùy thuộc từng trường hợp cụ thể mà cho lấy lại hay không cho lấy lại, sẽ làm cho việc xét xử loại án này thêm khó khăn, không thống nhất về thủ tục, đường lối giải quyết. Cụ thể có trường hợp đất có nguồn gốc thuộc sở hữu của tư nhân, cho thuê trước giải phóng, sau giải phóng nhà nước không có quyết định thu hồi, quản lý đất được chuyển qua nhiều người sử dụng, cất nhà, và người đang ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở, có người chưa có giấy tờ sở hữu, sử dụng, nhưng đã sử dụng liên tục gần 30 năm, thì có coi đây là trường hợp cho lấy lại đất hoặc giá trị quyền sử dụng đất không?

Đề nghị cần có hướng dẫn đầy đủ cụ thể hơn về việc áp dụng công văn 169, chỉ nên áp dụng khi người đi đòi đã có các loại giấy tờ được nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cấp, mà nhiều lý do đất bị người khác chiếm dụng.

D/ Aùp dụng nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP (16/4/2003) có hiệu lực từ ngày 04/6/2003, của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình. Nội dung chủ yếu nói đến việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở, vậy có áp dụng được cho việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử dụng không? Tất nhiên là có vì đều là những giao dịch dân sự và áp dụng tương tự.

– Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất : theo qui định của pháp luật, ngoài các điều kiện phải có theo điều 131 Bộ luật dân sự, thì đất chuyển quyền phải hội đủ các điều kiện qui định tại điều 693 và tuân thủ các quy định về hình thức theo qui định tại điều 691 Bộ luật dân sự.

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

VẤN ĐỀ THỰC HIỆN THÔNG BÁO ĐÒI NHÀ THEO NGHỊ QUYẾT 1037/2006/NQ- UBTVQH11

Ngày 27/7/2006, Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Nghị quyết 1037 quy định về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước 01/9/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia. Sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những người tham gia giao dịch mà phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết vì đang chờ ban hành văn bản hướng dẫn trong suốt một thời gian khá dài thì đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình.

Tuy nhiên niềm vui mừng này của những người tham gia giao dịch mà phát sinh tranh chấp không được trọn vẹn vì có những quy định trong Nghị quyết 1037 đặt họ vào tình thế rất khó thực hiện.

Trong nghị quyết 1037 quy định, đối với trường hợp nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ, nay muốn đòi lại nhà thì phải có thông báo đòi nhà theo thời hạn được quy định đối với từng trường hợp cụ thể. Nhưng theo thống kê thì hầu hết hồ sơ khởi kiện đối với vụ việc trên mà đương sự nộp tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh thì thông báo đòi nhà không phù hợp về hình thức.

Kể từ ngày Nghị quyết 1037 có hiệu lực, tức từ 01/9/2006 đến nay Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã nhận được 70 đơn khởi kiện đòi nhà nhưng đã trả lại 24 đơn vì đương sự không thông báo đòi nhà hoặc thông báo đòi nhà không đúng hình thức mà pháp luật quy định như: Thông báo đòi nhà gửi qua đường bưu điện; thông báo bằng văn bản; thông báo đòi nhà không được bên mượn, bên thuê, bên ở nhờ ký nhận hay không được đại diện tổ dân phố, thôn, xóm … xác nhận.

Để tìm hiểu rõ hình thức và cách thức thông báo đòi nhà các đương sự nên xem xét Công văn 51/1999/KHXX ngày 08/6/1999của Tòa án nhân dân tối cao giải thích việc thông báo đòi nhà. Trong Công văn 51 có nêu rõ: Bên cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà khi muốn lấy lại nhà phải gửi cho bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ thông báo đòi nhà bằng văn bản bằng giấy (viết tay hoặc in) trong đó yêu cầu bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ nhà phải trả nhà…việc thông báo này phải có xác nhận của bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ hoặc có chứng nhận của đại diện tổ dân phố, thôn xóm …nơi có nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ là việc thông báo đó đã được tiến hành hợp lệ hay bên thuê, bên mượn, bên ở nhờ nhà ở đã nhận được thông báo đó.

Có rất nhiều đương sự khi đến Tòa án nộp đơn đã tâm sự: “bên mượn, bên thuê, bên ở nhờ nhà của chúng tôi có ý định chiếm nhà, họ không muốn trả nhà, thậm chí khi đến đòi nhà chúng tôi còn bị họ chửi bới, xua đuổi thì làm sao chúng tôi có thể buộc họ ký nhận vào thông báo đòi nhà được”. Tâm sự này của những người nguyên đơn đi nộp đơn là có thật, họ rất khó thậm chí không thể thực hiện việc thông báo đòi nhà như quy định.

Tuy nhiên pháp luật cũng đã mở ra một cách giải quyết thứ hai, đó là nguyên đơn được mời đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…xác nhận về việc đã thực hiện thông báo đòi nhà theo quy định. Mặc dù vậy đa số thông báo đòi nhà được đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…xác nhận đều không được chứng thực chữ ký của đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của chính mình, nguyên đơn khi thực hiện thông báo đòi nhà nên đề nghị đại diện tổ dân phố, thôn, xóm… ký xác nhận và tới Uy ban nhân dân phường xác nhận chữ ký của người đại diện tổ dân phố, thôn, xóm…đó trong thông báo đòi nhà để thông báo này phù hợp về mặt pháp lý, tránh trường hợp giả mạo chữ ký để được thụ lý hồ sơ.

—————————————————-

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

KỸ NĂNG ĐẶC THÙ TRONG THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

Để làm tốt hoạt động thụ lý vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự; hôn nhân gia đình; Kinh doanh, thương mại; Lao động)….Các kỹ năng bao gồm từ việc nhận đơn; Kiểm tra tính đầy đủ và hợp pháp của hồ sơ khởi kiện; Xác định các điều kiện để thụ lý vụ án (Điều kiện về quyền khởi kiện của người khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền; điều kiện sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, trừ trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 168 BLTTDS; điều kiện về người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí và xuất trình biên lai thu tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo, trừ trường hợp có lý do chính đáng khác); Thủ tục thụ lý và kỹ năng soạn thảo một số văn bản trong giai đoạn thụ lý…

Mục đặc thù trong thụ lý vụ án dân sự chỉ đề cập đến những kỹ năng cần phải chú ý thêm đối với một số vụ án dân sự cụ thể.

1.2.1. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp hợp đồng

Trước hết, cần nghiên cứu đơn khởi kiện để xác định tính hợp pháp của đơn khởi kiện đã đáp ứng đầy đủ về nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 164 BLTTDS hay chưa. Đơn khởi kiện phải trình bày cụ thể nội dung tranh chấp, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn và thể hiện rõ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm hay tranh chấp như thế nào. Khi nghiên cứu đơn kiện cần đặc biệt lưu ý đến yêu cầu khởi kiện: đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu, yêu cầu hủy hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, tranh chấp về các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng như đặc cọc, thế chấp, bảo lãnh….

Nguyên tắc chung khi xác định quyền khởi kiện của đương sự cần phải kiểm tra tư cách chủ thể kiện. Nếu là cá nhân, người khởi kiện phải có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nếu là pháp nhân, người khởi kiện phải là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền cho người khác khởi kiện, Thẩm phán cần kiểm tra tính hợp pháp của hợp đồng ủy quyền về nội dung và hình thức theo quy định của BLDS về hợp đồng ủy quyền và Nghị định số 75/CP về công chứng chứng thực. Thẩm phán cũng cần có sự phân biệt việc ủy quyền giữa cá nhân, pháp nhân, ủy quyền thường xuyên hay ủy quyền theo vụ việc.

Ví dụ, A xác lập hợp đồng vay tiền ở Ngân hàng Công thương chi nhánh quận Đống Đa, Hà nội thời hạn vay tiền từ ngày 20/5/2006 đến ngày 20/7/2006. Đến hạn trả nợ ngày 20/7/2006 A không trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy giám đốc chi nhánh Ngân hàng Công thương quận Đống Đa đã đại diện cho Ngân hàng làm đơn khởi kiện ra Tòa. Trong trường hợp này, khi kiểm tra điều kiện khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của các Ngân hàng chuyên doanh (ví dụ, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng đầu tư và phát triển…) thì các chi nhánh không có quyền tham gia tố tụng khi không có ủy quyền của Tổng giám đốc. Vì vậy, khi thụ lý giải quyết tranh chấp này Tòa án cần kiểm tra giám đốc chi nhánh Ngân hàng công thương quận Đống Đa có được ủy quyền hợp lệ của Tổng giám đốc Ngân hàng công thương tham gia tố tụng không.

Thẩm phán cũng cần kiểm tra hồ sơ khởi kiện, các chứng cứ mà nguyên đơn xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đối với loại vụ án tranh chấp hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến yêu cầu kiện của nguyên đơn thông thường bao gồm:

– Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện: Nếu là cá nhân thì giấy tờ thường là chứng minh thư nhân dân, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu gia đình; nếu là pháp nhân, tổ chức thì giấy tờ bao gồm quyết định thành lập pháp nhân, tổ chức; Giấy phép đầu tư; giấy đăng ký kinh doanh, điều lệ pháp nhân, ….

– Các giấy tờ chứng minh nguồn gốc tài sản là đối tượng giao dịch của hợp đồng. Ví dụ, tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở thì đương sự phải nộp các giấy tờ về nguồn gốc nhà; Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đương sự phải nộp các giấy tờ chứng minh về nguồn gốc đất…

– Các bản hợp đồng, các giấy tờ liên quan đến giao dịch. Ví dụ, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn phải xuất trình các giấy tờ chứng minh như hợp đồng vay, giấy biên nhận vay tiền, giấy khất nợ, tài liệu thừa nhận việc vay nợ, giấy xác nhận của người làm chứng chứng kiến việc cho vay…;

– Các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng.

Khi nghiên cứu về thẩm quyền theo lãnh thổ, trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản, khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của đương sự phải xác định rõ yêu cầu của đương sự là tranh chấp về bất động sản hay tranh chấp về các nghĩa vụ khác phát sinh từ hợp đồng để xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nguyên tắc chung, nếu tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản thuộc đối tượng của hợp đồng là Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp (điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Trong trường hợp đối tượng của hợp đồng là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản để giải quyết (điểm i khoản 1 Điều 36 BLTTDS). Thẩm phán cũng cần kiểm tra sự lựa chọn của nguyên đơn về Tòa án giải quyết tranh chấp, cụ thể là:

– Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết” (điểm b, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

– Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết (điểm g, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

Khi nhận đơn khởi kiện, trong trường hợp nguyên đơn được lựa chọn nhiều Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Thẩm phán cần lưu ý hướng dẫn cho nguyên đơn cam kết trong đơn kiện chỉ khởi kiện ở Tòa án nguyên đơn đã lựa chọn mà không khởi kiện tại các Tòa án khác.

Xác định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp về hợp đồng cần áp dụng quy định của pháp luật tương ứng với thời điểm xác lập hợp đồng. Vấn đề mấu chốt để xác định thời hiệu trước tiên phải xác định được tính chất của yêu cầu và thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm. Ví dụ, đương sự tranh chấp về việc chậm thực hiện nghĩa vụ, để xác định chính xác thời hiệu khởi kiện, Thẩm phán phải xác định chính xác thời điểm thực hiện nghĩa vụ.

Nguyên tắc chung khi xác định thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng, Thẩm phán phải nắm vững quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nội dung có quy định về thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện:

– Đối với tranh chấp hợp đồng dân sự xác lập trước ngày 1/7/1991. Thời điểm này không có quy định áp dụng thời hiệu khởi kiện, vì vậy thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Việc bắt đầu thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005 cũng được áp dụng cho việc xác định thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng giao kết trước ngày 1/7/1996;

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1991 đến ngày 1/7/1996 áp dụng Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, thời hiệu khởi kiện là 3 năm kể từ ngày “vi phạm hợp đồng”;

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005 được quy định cụ thể tại tiểu mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004, cụ thể là:

+ Nếu tranh chấp hợp đồng phát sinh trước ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày 1/1/2005;

+ Nếu tranh chấp phát sinh từ ngày 1/1/2005, thì thời hạn 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.

– Đối với tranh chấp hợp đồng được xác lập kể từ ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại Điều 427 BLDS năm 2005. Theo đó, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm.

Thẩm phán cần lưu ý việc tính thời hiệu kể từ “ngày tranh chấp phát sinh” (theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC cũng chính là ngày ‘vi phạm hợp đồng” (Điều 56 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự), “ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm” (điểm a, khoản 3, Điều 159 BLTTDS).

Trường hợp đương sự đề nghị Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, thì thời hiệu phụ thuộc vào các quy định tương ứng của BLDS. Thẩm phán cần lưu ý trong việc áp dụng quy định tại Điều 136 BLDS năm 2005 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu’ để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

1.2.2. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất

Bên cạnh kiểm tra đơn khởi kiện theo nguyên tắc chung, Thẩm phán cần kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện, kiểm tra việc vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện. Thẩm phán cũng phải xác định rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là gì trên cơ sở đó xác định các điều kiện thụ lý cụ thể mang tính đặc thù riêng của từng quan hệ pháp luật tranh chấp về quyền sử dụng đất. Trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về quyền sử dụng đất của đương sự thông thường rơi vào một trong các dạng tranh chấp cơ bản sau:

– Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, tranh chấp về đòi lại đất do người khác đang sử dụng;

– Tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp phát sinh từ các quan hệ thừa kế quyền sử dụng đất.

Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất, Thẩm phán cần lưu ý kiểm tra việc khởi kiện có đủ điều kiện khởi kiện không. Theo quy định tại Điều 135 Luật Đất đai năm 2003 các tranh chấp đất đai phải được hòa giải tại cấp xã, phường trước khi đương sự khởi kiện đến Tòa án. Khi các bên có tranh chấp đất đai mà không tự hòa giải được thì gửi đơn đến ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. ủy ban nhân dân xã, phường, Thị trấn nơi có đất tranh chấp có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hòa giải tranh chấp đất đai.

Như vậy, Theo quy định của Luật đất đai năm 2003, việc tổ chức hòa giải của UBND cấp xã, phường kết hợp với Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hay các tổ chức xã hội khác là điều kiện bắt buộc phải có trước khi Tòa án nhận đơn của đương sự. Nếu không có việc hòa giải của UBND cấp xã, phường thì các đương sự sẽ bị coi là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 168 BLTTDS.

Việc kiểm tra điều kiện về thẩm quyến giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất cũng dựa trên cơ sở chung về xác định thẩm quyền tương tự như các loại vụ án dân sự khác (nguyên tắc xác định thẩm quyền theo loại việc, theo cấp Tòa án. Xác định thẩm quyền theo lãnh thổ ưu tiên xác định Tòa án nơi có bất động sản và xác định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu trong trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương khác nhau.

Đặc trưng cơ bản khi xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai Thẩm phán phải có sự phân biệt giữa thẩm quyền giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất của Tòa án và thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của các cơ quan hành chính (theo quy định của Luật đất đai năm 2003). Đồng thời để xác định chính xác thẩm quyền, Thẩm phán cũng phải phân biệt rõ tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự với các quan hệ khiếu kiện liên quan đến quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính.

Cơ sở để xác định chính xác thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự, trước tiên cần dựa trên việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án thuộc loại tranh chấp đất đai nào. Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003, Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự thuộc các quan hệ tranh chấp nằm một trong 3 nhóm tranh chấp quyền sử dụng đất sau:

– Nhóm 1: Tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất: Đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng đất không liên quan đến các giao dịch về đất. Về bản chất, khi giải quyết tranh chấp này Tòa án phải xác định chủ quyền đất thuộc về ai. Đối với loại tranh chấp này, điều kiện bắt buộc để xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là đương sự phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003;

– Nhóm 2: Tranh chấp liên quan đến các giao dịch về đất (các giao dịch này có thể là tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Chuyển đổi quyền sử dụng đất; Cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; thừa kế quyền sử dụng đất…). Thẩm phán cần lưu ý trong mọi trường hợp yêu cầu của đương sự thuộc loại tranh chấp này đều thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 2 này, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án không cần điều kiện đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay có một trong các loại giấy tờ được quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 hay không;

– Nhóm 3: Tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 những tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đều do Tòa án nhân dân giải quyết. Khi thụ lý giải quyết dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, Thẩm phán cần xác định các tài sản tranh chấp có thể là một trong các tài sản sau: Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, giếng nước, nhà để ô tô, nhà thờ, tường xây hàng rào gắn với nhà ở; Các công trình xây dựng trên đất được giao hoặc được thuê để sản xuất kinh doanh (nhà xưởng, kho tàng, hệ thống tưới tiêu, chuồng trại chăn nuôi) hoặc trên đất có các tài sản khác như cây lấy gỗ, cây lấy lá, cây ăn quả, các cây lâu năm khác gắn với việc sử dụng đất.

Đối với các dạng tranh chấp thuộc nhóm 3, người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Khi có đơn khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án căn cứ vào các quy định tại Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 của Chính Phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất, Điều 7, Điều 9 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ về án phí, lệ phí Tòa án, Điều 130 BLTTDS có thể tham khảo thêm ý kiến của cơ quan tài chính vật giá và các cơ quan chức năng khác để tạm xác định giá quyền sử dụng đất có tranh chấp và trên cơ sở đó tính tiền tạm ứng án phí của vụ án để thông báo về việc nộp tạm ứng án phí cho đương sự.

Một số trường hợp cần tham khảo các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao khi tính tạm ứng án phí: Những vụ án tranh chấp đòi nhà cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê thì là vụ án không có giá ngạch (Công văn số 451/KHXX ngày 20/7/1994 của Tòa án nhân dân tối cao;. Những vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất là vụ án có giá ngạch (điểm 9 mục IV Công số số 16/1999/KHXX ngày 1/2/1999 của Tòa án nhân dân tối cao).

1.2.3. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp về thừa kế

Thẩm phán kiểm tra đơn kiện, tư cách chủ thể kiện, xác định các loại tranh chấp về thừa kế thuộc dạng tranh chấp nào:

– Tranh chấp về quyền thừa kế: Quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác;

– Tranh chấp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật;

– Tranh chấp về di sản thừa kế nhà ở, quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản.

Xác định các giấy tờ cần thiết mà người khởi kiện phải xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình (căn cứ theo quy định tại Điều 165 BLTTDS): Di chúc (nếu có), giấy chứng tử, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ chứng minh di sản…

Thẩm phán cần xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, xác định thời điểm mở thừa kế – thời điểm người có tài sản chết để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện.

* Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế: Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được xác định là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với các vụ án có thời điểm mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1991 (khoản 1, Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1991; Điều 648 BLDS 1995; Điều 645 BLDS 2005);

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý một số các quy định khác về thời hiệu được quy định trong BLDS, đặc biệt là những trường hợp không tính vào thời hiệu khởi kiện. Cụ thể là:

– Vụ án có rơi vào trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 161 BLDS 2005: Do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu; Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết;

– Thẩm phán cần lưu ý các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005;

– Quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990). Việc xác định thời hiệu khởi kiện về thừa kế trên thực tế cũng tương đối phức tạp liên quan đến khá nhiều các văn bản khác nhau và việc xác định thời điểm mở thừa kế. Đối với việc thừa kế đã mở trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (ngày 30/8/1990), theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện đến hết ngày 9/9/2000. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 58/UBTVQH10 ngày 25/8/1998 của Uỷ ban thường vụ quốc hội từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/1998 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 1/7/1991. Do vậy, thời hiệu khởi kiện loại việc này được tính đến ngày 9/3/2003. Bắt đầu từ ngày 10/3/2003 đương sự không còn quyền khởi kiện đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990.

Đối với những vụ án thừa kế có thời điểm mở thừa kế từ ngày 10/9/1990 đến trước ngày 1/7/1991 đây cũng là loại vụ án bị tạm đình chỉ giải quyết do đợi Nghị quyết 58/1998, thời gian từ 1/7/1996 đến 31/1/21998 cũng không tính vào thời hiệu khởi kiện, do vậy những vụ án thừa kế có thời hiệu khởi kiện trong khoảng thời gian từ 10/9/1990 đến ngày 30/6/1991 đến 1/1/2004 mới hết thời hiệu khởi kiện.

Ngoài ra, khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về quyền thừa kế, Thẩm phán cũng cần lưu ý quy định về “không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế’ được hướng dẫn tại Mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”.

Hướng dẫn này cho thấy có sự chuyển hóa về quan hệ giữa yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Khi đương sự có yêu cầu chia tài sản chung ở thời điểm hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế, Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết khi có tài liệu thể hiện các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế, và có đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia.

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu người thừa kế hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản:

– Đối với việc mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ ngày banh hành Pháp lệnh thừa kế (khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế (30/8/1990) thời hiệu khởi kiện được xác định là 3 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/7/1996 đến ngày 31/12/2005: áp dụng thời hiệu khởi kiện 2 năm quy định tại Điều 159 BLTTDS để xác định thời hiệu khởi kiện về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản (do tại Điều 648 BLDS 1996 không quy định về thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu này);

– Đối với việc mở thừa kế kể từ ngày 1/1/2006 thời hiệu khởi kiện về về yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, thanh toán các khoản chi từ di sản được xác định là 3 năm kể từ ngày người có di sản thừa kế chết (Điều 645 BLDS 2005)

Về thẩm quyền giải quyết, trường hợp vụ án có tranh chấp di sản là bất động sản, khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ lưu ý áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Nếu di sản thừa kế là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bất động sản giải quyết. Việc xác định thẩm quyền này dựa trên cơ sở điểm i, khoản 1 Điều 36 BLTTDS.

Thẩm phán cũng cần xem xét trường hợp vợ góa hoặc chồng góa có quyền yêu cầu chưa chia di sản nếu trong thời hạn nhất định (không quá 3 năm) việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của họ (khoản 3 Điều 31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 12 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000);

1.2.4. Kỹ năng thụ lý vụ án tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Khi kiểm tra đơn khởi kiện Thẩm phán cần lưu ý nghiên cứu kỹ nội dung đơn kiện xem xét các dấu hiệu pháp lý nhằm xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của đương sự và bản chất pháp lý của yêu cầu để Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp thuộc yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nào:

– Bồi thường thiệt hại về tài sản do hành vi xây dựng trái pháp luật gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín;

– Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do người của Pháp nhân gây ra;

– Bồi thường thiệt hại do xúc vật gây ra…

Thẩm phán cần có sự phân biệt quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với quan hệ thực hiện công việc không có ủy quyền và yêu cầu bồi thường thiệt hại trong hợp đồng (đặc biệt là loại hợp đồng dịch vụ).

Các giấy tờ cần thiết mà đương sự phải nộp để chứng minh cho yêu cầu của mình trong loại vụ án này là: Các giấy tờ chứng minh tư cách chủ thể kiện; các chứng cứ chứng minh thiệt hại; các văn bản, tài liệu giải quyết của các cơ quan chức năng (nếu có)…

Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải lúc nào người gây thiệt hại cũng là người phải trực tiếp bồi thường, khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán cần hướng dẫn cho đương sự (nguyên đơn) khởi kiện đúng đối tượng trong những trường hợp người gây thiệt hại là vị thành niên và trong những trường hợp người có trách nhiệm bồi thường không phải là người trực tiếp gây thiệt hại (trường hợp thiệt hại do người của pháp nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước gây ra hoặc do tài sản của chủ sở hữu gây ra…).

Ví dụ: A là lái xe của pháp nhân B, trên đường đi thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân B giao, A đâm vào C gây tai nạn cho C. Trong trường hợp này C có quyền yêu cầu pháp nhân B phải bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định tại Điều 618 BLDS. Tuy nhiên nếu C không kiện pháp nhân B mà chỉ kiện A, trong trường hợp này Tòa án nên hướng dẫn C khởi kiện đúng đối tượng là pháp nhân B. Nếu C vẫn không khởi kiện pháp nhân B, thì vẫn phải xác định A là bị đơn – người bị nguyên đơn khởi kiện cho rằng đã xâm phạm lợi ích của họ. Tòa án cần đưa pháp nhân B (người có trách nhiệm bồi thường – theo quy định tại Điều 618 BLDS 2005) tham gia với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Khi kiểm tra tư cách chủ thể kiện, Thẩm phán cần đặc biệt lưu ý xác định tư cách chủ thể khởi kiện, xác đinh người đại diện cho đương sự tham gia tố tụng, các trường hợp ủy quyền và ủy quyền lại;

Thực tiễn xét xử nhiều trường hợp vụ án bồi thường thiệt hại được chuyển đến Tòa án từ cơ quan điều tra hình sự. Trong những trường hợp này, Thẩm phán cần lưu ý phải hướng dẫn cho nguyên đơn làm đơn khởi kiện theo đúng quy định của BLTTDS.

Về thẩm quyền giải quyết, trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải theo quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 36 BLTTDS: Tòa án nơi nguyên đơn cư trú; Tòa án nơi nguyên đơn làm việc; Tòa án nơi nguyên đơn có trụ sở; Tòa án nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết

Khi nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán cần lưu ý giải thích cho nguyên đơn biết là chỉ có một Tòa án trong các Tòa án được điều luật quy định mới có thẩm quyền giải quyết vụ án để họ lựa chọn.

Khi kiểm tra thời hiệu giải quyết, nguyên tắc chung Thẩm phán phải xác định ngày tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm theo quy định tại Điều 159 BLTTDS trong các trường hợp cụ thể. Trong trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm trước ngày 1/1/2006 thì thời hiệu khởi kiện được xác định căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 159 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 2.1. mục IV Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004. Trường hợp ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm kể từ ngày 1/1/2006 áp dụng quy định tại Điều 607 BLDS năm 2005 thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại được xác định là 2 năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm.

Ngoài ra, theo quy định chung điều kiện để Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là vụ án chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác. Tuy nhiên, một số vụ án bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mặc dù đã được Tòa án giải quyết và đang thi hành thì Tòa án vẫn được quyền thụ lý giải quyết vụ án mới nếu người bị thiệt hại khởi kiện lại cho rằng mức bồi thường đang thi hành không còn phù hợp nữa.

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì Tòa án không yêu cầu người khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí (Điều 13 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án.

1.2.5. Kỹ năng thụ lý vụ án ly hôn

Khi kiểm tra đơn khởi kiện, Thẩm phán phải xác định rõ yêu cầu của đương sự thể hiện trong đơn, kiểm tra các điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn để xác định quan hệ hôn nhân của đương sự là hợp pháp, hôn nhân trái pháp luật hay không phải là quan hệ hôn nhân. Trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, Thẩm phán phải làm rõ trong trường hợp nào họ được coi là vợ chồng, trường hợp nào không được coi là vợ chồng để xác định quan hệ pháp luật và thủ tục tố tụng (việc hôn nhân gia đình hay án hôn nhân gia đình) để vào sổ thụ lý giải quyết.

Thẩm phán cần căn cứ theo yêu cầu của đương sự và các chứng cứ mà đương sự xuất trình để áp dụng các căn cứ pháp lý sau khi xác định quan hệ pháp luật:

– Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội khóa X về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;

– Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Khi xem xét đơn khởi kiện, Thẩm phán cần phải xác định các vấn đề về hôn nhân, tài sản và con cái có được các đương sự thỏa thuận giải quyết không, thỏa thuận cụ thể của đương sự là gì, vấn đề gì đương sự không thỏa thuận được. Việc khởi kiện vụ án ly hôn phải do chính các đương sự khởi kiện không được ủy quyền cho người khác thay mình, trừ các vấn đề tranh chấp về tài sản và con (khoản 3 Điều 73 BLTTDS);

Thẩm phán cần kiểm tra các giấy cần cần thiết kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn: Giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh của con, các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng; giấy vay, nợ (nếu có)…

Thẩm phán cần tiến hành kiểm tra năng lực hành vi tố tụng dân sự của người khởi kiện. Xác định người khởi kiện có thuộc trường hợp hạn chế quyền khởi kiện đối với trường hợp người chồng xin ly hôn mà vợ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng (căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 85 BLTTDS);

Khi người vợ đang thuộc một trong các trong các trường hợp đang có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (không phân biệt có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi là ai), người chồng có yêu cầu xin ly hôn Tòa án trả lại đơn kiện cho người nộp đơn (mục 6 hướng dẫn của Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000).

Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn thì đương sự không được kiện lại trong thời hạn 1 năm. Sau một năm kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án bác đơn xin ly hôn có hiệu lực pháp luật, người có đơn xin ly hôn mà bị Tòa án bác đơn xin ly hôn mới được quyền kiện lại (mục c, điểm 10 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000)

Thẩm quyền theo vụ việc được xác định theo ý chí của các đương sự (thuận tình hay ly hôn do một bên yêu cầu…) thể hiện trong đơn và tính chất của quan hệ hôn nhân. Nếu việc ly hôn do một bên yêu cầu thì đó là vụ án dân sự, được thụ lý theo khoản 1 Điều 27 BLTTDS. Nếu thuận tình ly hôn, hủy hôn nhân trái pháp luật thì đó là việc dân sự, được thụ lý theo khoản 2, khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

Xác định thẩm quyền theo cấp Tòa án tương tự như các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình khác. Lưu ý hướng dẫn tại mục 4 “về khoản 3 Điều 33 BLTTDS, phần I “Thẩm quyền của Tòa án” Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung của BLTTDS năm 2004” thì vụ án có đương sự ở nước ngoài; tài sản ở nước ngoài; Cần ủy thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Nhưng vụ án có đương sự là nước ngoài, hiện đang sinh sống, làm việc ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.

Đối với yêu cầu giải quyết việc ly hôn, giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam (khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình 2000);

Việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ nguyên tắc chung được xác định theo nơi cư trú hoặc làm việc của bị đơn (điểm a, khoản 1 Điều 35 BLTTDS).

Khi kiểm tra điều kiện về thẩm quyền, Thẩm phán cần lưu ý về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu:

– Nếu không biết nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú làm việc cuối cùng (điểm a, khoản 1 Điều 36 BLTTDS);

– Nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi nguyên đơn cư trú, làm việc giải quyết nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc ở Việt Nam (điểm c, khoản 1 Điều 36 BLTTDS;

Về việc nộp tạm ứng án phí, về nguyên tắc, khi đương sự có yêu cầu ly hôn (ly hôn do một bên yêu cầu), đương sự chỉ phải nộp tạm ứng án phí của vụ án không có giá ngạch là 50.000 đồng (khoản 1 Điều 7 Nghị định 70 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS). Trường hợp có tranh chấp về tài sản thì người nộp đơn khởi kiện phải nộp tạm ứng án phí theo tỷ lệ của giá trị tài sản tranh chấp (khoản 3 Điều 7 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 về án phí và lệ phí Tòa án; Điều 130 BLTTDS) Nếu các bên có thỏa thuận được về tài sản thì tạm ứng án phí chỉ là 50.000 đồng (Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 về việc giải đáp một số vấn đề về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng…)

———————————————-

SOURCE: WWW.TAND.HOCHIMINHCITY.GOV.VN

TÌM KIẾM THÔNG TIN TRÊN CIVILLAWINFOR BẰNG GOOGLE

summer2004_tennis.gif

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỢP TÁC VÀ HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM

TS. CHU TIẾN QUANG – CN. LÊ XUÂN QUỲNH – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế TW

Trong những năm gần đây, kể từ khi Luật HTX ra đời (3/1996) và chính thức có hiệu lực từ 1/1/1997 khu vực kinh tế hợp tác và HTX ở nước ta đã thay đổi rất cơ bản cả về lượng và chất. Số lượng các đơn vị HTX tuy tăng không nhiều, nhưng đã từng bước được củng cố về chất, lấy lại uy tín và vai trò đối với người lao động, trên cơ sở đó phát triển và ngày càng thu hút các đối tượng khác nhau tham gia, không chỉ là người lao động như những năm trước khi có luật. HTX đã đóng góp tích cực hơn vào sức mạnh chung của kinh tế nhiều thành phần và làm rõ hơn bản chất của Kinh tế tập thể mà Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển.

Để đánh giá lại những đổi mới của khu vực kinh tế này trong những năm qua và nhìn nhận sự phát triển của nó trong những năm tới, bài viết này đề cập những điểm cơ bản trong đổi mới về tư duy, nội dung và phương thức hoạt động của các HTX, với ý nghĩa vừa là bộ phận nòng cốt, vừa thể hiện một cách đầy đủ nhất những tố chất của kinh tế tập thể.

I. Luật HTX và sự đổi mới tư duy về kinh tế hợp tác và HTX.

Sau nhiều năm tiến hành củng cố, hoàn thiện tổ chức và quản lý khu vực HTX bằng các văn bản chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Chính phủ thì năm 1996 Luật HTX đã ra đời và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1997 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho quá trình đổi mới mạnh mẽ tư duy về bản chất của loại hình tổ chức kinh tế này. Điểm cơ bản nhất mà Luật HTX năm 1996 đã đổi mới tư duy về bản chất HTX được thông qua định nghĩa: “HTX là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động SXKD dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước…”.

Định nghĩa này khẳng định những người lao động có nhu cầu và tự nguyện tuân thủ các nguyên tắc HTX đều có thể thành lập và tham gia HTX.Các nguyên tắc cơ bản để thành lập và phát triển HTX là: Tự nguyện gia nhập và ra HTX; Quản lý dân chủ và bình đẳng; Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng.

Với sự khẳng định HTX là “tổ chức kinh tế tự chủ” thì HTX được hiểu là tổ chức kinh tế của chính những người lập và tham gia là xã viên, HTX không phải do Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị-xã hội nào đó lập ra. Sự khẳng định này đã từng bước giúp các HTX cũ thoát khỏi tư duy xem HTX nặng về chức năng xã hội, đồng thời giúp các HTX được giải phóng khỏi những can thiệp hành chính và không đúng của các cơ quan Đảng và chính quyền vào công việc nội bộ của nó. Luật HTX ra đời còn thúc đẩy đổi mới tư duy không coi các Bộ ngành, Chính quyền địa phương các cấp là “cơ các quan chủ quản HTX”. Sự vận động và phát triển của HTX được điều chỉnh bởi khung luật pháp chặt chẽ, trong đó quy định rõ về nguyên tắc tổ chức, các quan hệ nội bộ và vị trí của HTX trong quan hệ với các tổ chức kinh tế khác..

Có thể nói rằng sự ra đời của Luật HTX năm 1996 đã tạo ra động lực và sức sống mới cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX. Các HTX cũ đã chuyển đổi và bắt đầu hồi phục, phát triển với các nguyên tắc được đông đảo xã viên đồng tình, ủng hộ. Bên cạnh các HTX cũ chuyển đổi đã thành lập hàng nghìn HTX mới trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, những HTX này tuy còn nhỏ về quy mô vốn, số lượng xã viên… nhưng đã tạo ra những mẫu hình HTX mới, đích thực, thực sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong các hoạt động của mình như các loại hình tổ chức kinh tế khác, những HTX này có động lực và sức sống, mạnh dạn tham gia thị trường để phát triển trong điều kiện mới.

II. Tình hình cơ bản của kinh tế hợp tác và HTX ở Việt Nam thời kỳ 1997 – 2003.

2.1. Về số lượng HTX: Sau gần 6 thực hiện Luật, đến 31 tháng 6 năm 2003 số lượng HTX của cả nước là 14.207. Theo Liên minh HTX trong số này có khoảng 5.800 HTX thành lập mới (riêng lĩnh vực nông nghiệp khoảng 2139 HTX, chiếm tỷ lệ 37%); khoảng 8.400 là các HTX chuyển đổi từ mô hình cũ sang. Trong thời gian này Luật DN cũng đã được ban hành và số lượng các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân được thành lập theo luật này ở khu vực nông nghiệp, nông thôn chỉ có 2613 doanh nghiệp, bằng khoảng 36% so với số lượng các HTX hoạt động trong lĩnh vực này. (Tóm tắt kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản, Tổng cục Thống kê, 10/2003). Những con số này cho thấy đối với khu vực nông nghiệp và nông thôn thì HTX có vai trò và vị trí vô cùng to lớn.

Các HTX chuyển đổi và thành lập mới theo luật đã phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn, như vùng trung du miền núi phía Bắc có 4.034 HTX( 28%); vùng đồng bằng sông Hồng 5.063 HTX(36%); ở các vùng phát triển của sản xuất hàng hoá cao như Đông Nam Bộ số lượng HTX chỉ có 642 HTX (4,5%).

Số lượng HTX cũ chưa được xử lý đã giảm đáng kể. Chỉ trong 2 năm 2001 – 2002 đã giải thể được 2.271 HTX, đưa số lượng HTX yếu kém, hình thức xuống còn khoảng 500 HTX. Có thể coi đây là thành công trong việc xử lý các HTX yếu kém, không có khả năng phát triển mà trong nhiều năm trước vì những lý do chủ quan và khách quan khác nhau đã không xử lý được. Việc mạnh dạn xử lý các HTX hình thức dựa trên cơ sở thực hiện Luật HTX đã phản ánh kết quả tích cực trong đổi mới tư duy và hành động củng cố và phát triển khu vực kinh tế này.

2.2. Về xã viên và lao động: Cho đến nay, chưa có số liệu thống kê đầy đủ về số lượng xã viên và lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế hợp tác và HTX. Tuy nhiên, theo báo cáo tổng hợp của Ban chỉ đạo tổng kết kinh tế hợp tác và HTX( năm 2001) thì số lượng xã viên của 4.876 HTX đã chuyển đổi và thành lập mới có báo cáo là 3.171.576 người, chiếm khoảng 8% lực lượng lao động của cả nước, nếu suy rộng cho đầy đủ 14.207HTX thì lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực HTX sẽ là 24% (8%* 3). Đây là một con số đáng kể thể hiện vai trò to lớn của khu vực kinh tế hợp tác và HTX trong việc giải quyết công ăn việc làm, đặc biệt là cho lao động ở khu vực nông thôn. Vai trò của HTX trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động thể hiện rất rõ ở các HTX điển hình tiên tiến trên cả nước. Có những HTX đã thu hút phần lớn số hộ trong thôn, trong xã tham gia vào HTX như: HTX Thiệu Hưng – Thanh Hoá có 830 hộ với 1.010 xã viên tham gia HTX, chiếm 50.6% tổng số hộ của toàn xã; HTX nông nghiệp An Mỹ – Hà Tây có tới 3.277 xã viên; HTX nông nghiệp Đại Đồng – Hà Tây có số xã viên lên đến 4.687 xã viên…Đây đều là các HTX làm ăn khá giỏi và đã tham gia giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho phần lớn lao động trên địa bàn (kết quả điều tra kinh nghiệm hoạt động của 33 HTX, Viện NCQLKTTƯ thực hiện trong năm 2003).

Số lượng xã viên ở các loại hình HTX cũng rất khác nhau. Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là nơi thu hút nhiều xã viên nhất(trung bình 960 xã viên/QTDND); tiếp đó là HTX nông nghiệp (953 xã viên/HTX) và ít nhất là HTX thương mại (43 xã viên/HTX). Điều đó cho thấy mô hình QTDND đã có sức hấp dẫn cao đối người tham gia trong điều kiện hiện nay. Các HTX dịch vụ tổng hợp và dịch vụ chuyên ngành cho sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả thuỷ sản và diêm nghiệp) vẫn là mô hình tổ chức kinh tế phù hợp nhất đối với các vùng nông thôn hiện nay.

HTX nông nghiệp và Quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu sử dụng xã viên vào các hoạt động của mình, ít thuê lao động ngoài vào làm việc do lực lượng xã viên quá đông. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê từ kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản năm 2001, lao động làm việc trong các HTX nông nghiệp là 213.383 người, trong khi lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp( bao gồm 3599 DN, kể cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở nông thôn) chỉ là 289.001 người. Mặc dù số lượng lao động của khu vực doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nhiều hơn so với các HTX nông nghiệp song các HTX nông nghiệp lại là nơi tạo được nhiều việc làm hơn. Bởi ngoài số lao động làm thuê, các HTX nông nghiệp còn giải quyết việc làm cho số lượng xã viên đông đảo của họ.

Ngược lại, các HTX phi nông nghiệp thường thuê số lượng lao động lớn hơn nhiều so với số lượng xã viên HTX. HTX Hiệp Lực – Đồng Nai chỉ có 28 xã viên nhưng đã thu hút và giải quyết việc làm cho 300 lao động, HTX

2.3. Về vốn hoạt động: Khu vực HTX hiện vẫn đang nắm giữ một lượng vốn đầu tư không nhỏ. Theo điều tra của Ban Kinh tế TW tháng 8 năm 2001, đến 31/12/2000 tổng số vốn của 5.052 HTX có báo cáo là 5.018.994 triệu đồng (hơn 5 nghìn tỉ đồng), trong đó gần 2.000 tỉ đồng là vốn tự có của các HTX. Số liệu tổng hợp của Viện QLKTTƯ từ báo cáo của 51 Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh/thành phố đến 31/6/2002 cho kết quả về quy mô vốn hoạt động trung bình như sau: HTX dịch vụ thương mại-438,7triệuđồng/HTX (thấp nhất); QTDND-2684,5 triệu đồng (cao nhất).

Xã viên tham gia HTX đã có ý thức góp vốn để HTX có thể hoạt động theo nhu cầu của chính các xã viên. Số lượng vốn góp của các xã viên trong từng HTX chuyển đổi đã tăng bình quân từ 1,5 đến 2 lần. Mặc dù mức góp còn rất nhỏ, song đó là sự thể hiện nhận thức của xã viên về trách nhiệm của mình đối với HTX. Tuy nhiên việc góp vốn của các xã viên, đặc biệt là ở các HTX nông nghiệp đã chưa căn cứ vào nhu cầu hoạt động của HTX, ở các HTX này việc góp vốn mới chỉ đơn thuần là để thực hiện theo đúng quy định của Luật và bước đầu xác định trách nhiệm của xã viên đối với HTX. Chính vì vậy, lượng vốn thực tế của các HTX thấp hơn rất nhiều so với nhu cầu về vốn để duy trì và phát triển các hoạt động của HTX. Cho đến nay còn rất ít HTX dịch vụ nông nghiệp xác định được lượng vốn cần thiết để phát triển và mở rộng các hoạt động của mình. Hầu hết các HTX nói rằng thiếu vốn để hoạt động nhưng chưa tiếp cận được với các nguồn vốn tín dụng, kể cả tín dụng ngân hàng và các nguồn vốn tín dụng khác. Chỉ có khoảng 11% tổng số HTX thống kê được vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.

2.4..Kết quả sản xuất, kinh doanh: nhìn chung đã tiến bộ hơn so với trước khi đăng ký hoạt động theo luật. Giá trị sản xuất bình quân của các HTX chuyển đổi đã tăng 2,18 lần trong giai đoạn 1997-2002; các HTX thành lập mới chỉ tăng 1,3 lần (năm 2001 so với năm 1997).

Mặc dù đã có sự tăng trưởng nhất định trong sản xuất, kinh doanh song khu vực HTX vẫn còn yếu về kinh tế và khả năng tham gia thị trường. Tỷ lệ các HTX thua lỗ, làm ăn kém hiệu quả đã giảm nhưng chưa nhiều, vẫn còn khoảng 45-50% số HTX được thống kê hoạt động không có lãi. Đối với các HTX có lãi thì số lãi cũng không lớn. Tổng số lãi của 1.998 HTX từ tất cả các ngành được thống kê đến 31/12/2000 là 106.841 triệu đồng, bình quân mỗi HTX lãi khoảng 60,5 triệu đồng/năm.

2.5. Phân phối lãi và thu nhập của xã viên: Hầu hết các HTX đã thực hiện phân phối lãi theo đúng Luật quy định. Ngoài khoản thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước, các HTX đã phân phối lãi theo quy định của luật: như trích quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự phòng và chia lãi cho xã viên theo vốn góp, chia theo mức độ sử dụng dịch vụ. Theo số liệu tổng hợp của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từ 51 tỉnh/thành phố, thu nhập bình quân của xã viên đạt khoảng 4 triệu đồng/năm. Trong đó các ngành công nghiệp, xây dựng, GTVT có mức thu nhập cao nhất (khoảng từ 5 đến 9 triệu đồng), các ngành nông nghiệp, tín dụng và thuỷ sản mức thu nhập thấp nhất (từ trên 1 triệu đến dưới 3 triệu đồng). Tuy nhiên,có một bộ phận HTX đã bảo đảm được mức thu nhập ổn định cho xã viên từ 300 đến 500 nghìn đồng/tháng đối với các HTX nông nghiệp, và từ 500 đến 1.000 nghìn đồng/xã viên/tháng đối với các HTX phi nông nghiệp. Nhìn chung, các HTX trong lĩnh vực phi nông nghiệp đã ngày càng nâng cao thu nhập cho xã viên. Thu nhập bình quân của xã viên HTX đan len Chiến thắng – Tiền Giang năm 2000 chỉ đạt 450 nghìn đồng/tháng, đến năm 2002 đã tăng lên 550 nghìn đống/tháng; HTX Thương mại Quận 3 – TP. Hồ Chí Minh năm 1997 lương bình quân của xã viên đạt 1,055 triệu đồng đến năm 2002 đã tăng lên đến 1,378 triệu đồng… Ngoài lương cho xã viên, các HTX còn chăm lo cho xã viên về mặt tinh thần những lúc ma chay, cưới hỏi, ốm đau, các dịp Tết, ngày lễ…

Bên cạnh đó, các HTX đã đóng góp rất nhiều cho sự phát triển chung của cộng đồng như xây dựng trường học, trạm y tế, đường giao thông, thuỷ lợi, nhà văn hoá… trên địa bàn, điển hình như HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp Bình Tây – Tiền Giang… đặc biệt là các HTX trong lĩnh vực nông nghiệp mặc dù còn nhiều khó khăn những đã cố gắng chăm sóc các gia đình chính sách, tạo điều kiện cho con em của các gia đình chính sách tham gia lao động cho HTX để có thu nhập…

2.6..Đóng góp của kinh tế hợp tác và HTX vào tăng trưởng kinh tế: Mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế song khu vực KTTT đã có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng GDP chung của toàn nền kinh tế. Nhìn chung, hàng năm tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế của khu vực KTTT đóng góp vào GDP của cả nước khoảng 8%. Trong đó các HTX của ngành GTVT có đóng góp nhiều nhất so với các ngành khác. Năm 2001, khối lượng hành khách do KTTT vận chuyển chiếm 27,4% tổng khối lượng hành khách luân chuyển của cả nước, khối lượng hành hoá luân chuyển chiếm 18,5% .

Trong các ngành khác như thương mại, công nghiệp, khu vực KTTT đóng góp không nhiều, trung bình dưới 1% GDP của từng ngành.

Trong lĩnh vực nông nghiệp HTX không trực tiếp làm ra các sản phẩm hàng hoá, mà làm dịch vụ đầu vào đầu ra cho các hộ nông dân là xã viên và cả các hộ nông dân không là xã viên HTX trong sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia tăng sản lượng hàng hoá nông lâm thuỷ sản, vì vậy có thể coi sự đóng góp của KTTT vào tăng trưởng nông nghiệp và vào nền kinh tế nói chung là rất quan trọng.

Đánh giá tổng quát: nhìn lại toàn bộ quá trình phát triển của HTX giai đoạn vừa qua có thể thấy rằng vai trò, vị trí của HTX đã được Đảng và Nhà nước xác định là thành phần kinh quan trọng cùng với thành phần kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, trên thực tế vai trò, vị trí của khu vực này còn bị lu mờ và khu vực HTX vẫn chưa thực sự khẳng định được vị thế của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. HTX sẽ khẳng định được vai trò, vị trí của mình khi nó thực sự phát huy được sức mạnh tập thể, sự cố kết của từng thành viên tham gia và thực sự mạnh dạn tham gia gia cạnh tranh và hợp tác với nhau và hợp tác chặt chẽ với các loại hình DN khác, thực sự lấy hiệu quả hoạt động làm cơ sở để tồn tại và phát triển.

III. Những vấn đề đặt ra đối với kinh tế hợp tác và HTX giai đoạn tới.

3.1. Về nhận thức: Hiện nay nhận thức về kinh tế hợp tác và HTX vẫn chưa có sự thống nhất. Một bộ phận không nhỏ cán bộ nhà nước vẫn chưa hiểu đúng về bản chất và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của mô hình HTX kiểu mới, dẫn đến vừa coi thường vừa can thiệp không đúng vào quyền tự chủ, tự quyết của từng HTX.

Bản thân những thành viên tham gia HTX cũng chưa nhận thức hết các mặt trách nhiệm xây dựng và phát triển tổ chức kinh tế này. Phần đông các xã viên chỉ thấy lợi ích, đòi hỏi nhiều mà quên đi trách nhiệm phải đóng góp để cho tổ chức kinh tế hợp tác và HTX mà họ tham gia không ngừng lớn mạnh về kinh tế, trên cơ sở đó mới đem lại lợi ích lớn hơn cho chính mình.

3.2. Về Tổ chức thực hiện Luật: Luật HTX ra đời trong điều kiện đất nước đang chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trương có sự quản lý của Nhà nước, đã tạo khung pháp lý thống nhất và bình đẳng cho khu vực kinh tế hợp tác xã tự quyền tự chủ tự quyết trong hoạt động. Tuy nhiên, muốn đưa luật vào cuộc sống thì phải tuyên truyền luật một cách đầy đủ toíư từng người xã viên HTX, nhưng việc tập huấn, tuyên truyền, phổ biến Luật HTX chưa được thực hiện tốt. Công tác tập huấn, tuyên truyền, phổ biến Luật chỉ mới được thực hiện trong phạm vi bó hẹp một số cán bộ Đảng, chính quyền và một số cán bộ HTX. Việc đưa các nội dung, tư tưởng của Luật đến với mỗi xã viên HTX, với mỗi người dân không được quan tâm đúng mức, vì vậy còn một bộ phận xã viên vẫn chưa thực sự hiểu về mô hình HTX kiểu mới, vẫn bị nhầm lẫn với mô hình HTX kiểu cũ. Việc chuyển đổi HTX cũ cũng vì vậy mà mang tính hình thức. Chúng ta đã cho chuyển đổi cả các HTX yếu kém, chưa đủ điều kiện chín muồi; chưa xử lý chưa dứt điểm các vấn đề tồn đọng của HTX cũ. Chính sự tồn tại của các HTX yếu kém này đã là nguyên nhân lớn gây ra những cách hiểu sai về kinh tế hợp tác và HTX và làm cho tính không hiệu quả của khu vực kinh tế này vẫn đeo bám.

3.3. Buông lỏng quản lý nhà nước, thiếu hỗ trợ giúp đỡ HTX sau chuyển đổi: Việc tiếp tục xử lý các tồn đọng và hỗ trợ các HTX về định hướng phát triển, tổ chức quản lý nội bộ sau chuyển đổi là công việc rất quan trọng những đã chưa được coi trọng vì cho rằng chuyển đổi xong là xong. Điều này làm cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX sau 6 năm thực hiện Luật vẫn chưa có được những bước phát triển đáng kể về chất và chưa khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Hạn chế lớn nhất trong quản lý nhà nước đối với khu vực HTX là chúng ta vẫn chưa xác định được liều lượng tác động trong quản lý nhà nước đối với khu vực này. Có thời kỳ chúng ta quá thắt chặt quản lý nhà nước đối với HTX, làm cho khu vực này trở nên bị hành chính hoá trong các quan hệ, kể cả quan hệ trong nội bộ HTX. Khi chúng ta nhận thức được rằng Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ của HTX thì sự quản lý của Nhà nước đối với khu vực này đã giảm đi. Song sự giảm đi quá nhiều này lại làm cho vai trò quản lý nhà nước bị buông lỏng, khu vực HTX không có nơi để tìm sự giúp đỡ, hướng dẫn khi cần thiết. Ngay trong một thời kỳ, nhận thức về vai trò quản lý nhà nước của các cán bộ cũng khác nhau. Nơi can thiệp quá sâu vào hoạt động của HTX (có tới 47,5% trong tổng số 1275 HTX được điều tra trả lời có sự can thiệp của chính quyền địa phương vào việc bầu Chủ nhiệm, quyết định mức lương của Chủ nhiệm HTX…), nơi lại buông lỏng để cho khu vực này tự bươn chải. Dẫn đến, cơ quan quản lý nhà nước lại không nắm rõ được tình hình phát triển của khu vực kinh tế này gây ra nhiều khó khăn trong việc phân tích, đánh giá và đưa ra các chính sách phù hợp.

Đối với các HTX vấn đề lớn đặt ra hiện nay là sự yếu kém về nội lực kinh tế, về định hướng phát triển và tổ chức quản lý nội bộ của bản thân các HTX mang tính phổ biến. Phần lớn HTX chưa phát huy được ưu thế của sức mạnh tập thể, chưa biết sử dụng sức mạnh tập thể để tìm ra tài năng và đào thải những các nhân tiêu cực, vì vậy hiệu quả hoạt động của HTX thấp, động lực của từng thành viên tham gia chưa được khơi.

Nhiều HTX chưa có hướng sản xuất, kinh doanh lâu dài. Hoạt động của đa số các HTX hiện nay chỉ mang tính ngắn hạn. Hầu hết các HTX chưa có sự tìm hiểu và nắm bắt nhu cầu của thị trường, sản xuất, kinh doanh vẫn dựa trên những cái mình đã có, mà không chú trọng đến việc xác định mình nên sản xuất, kinh doanh cái gì để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho HTX.

Một hạn chế rất lớn của khu vực HTX đó là trình độ, năng lực hạn chế của cán bộ quản lý HTX. Hạn chế này có nguyên nhân sâu xa: HTX chưa thu hút và huy động được các nguồn lực về con người, về vốn. Đây có thể chính là một cái vòng luẩn quẩn trong việc phát triển của khu vực HTX, đặc biệt là các HTX thời gian qua.

3.4. Triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước đối vớiHTX: Trong quá trình phát triển HTX, Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi cho khu vực này. Tuy nhiên, các chính sách ưu đãi này hoặc không được hướng dẫn triển khai hoặc nếu có thì chưa phù hợp, hoặc trên thực tế không có đối tượng được hưởng lợi. chẳng hạn như vấn đề về đất đai: Nhà nước quy định HTX được giao hoặc cho thuê đất nhưng lại không có hướng dẫn cụ thể về các tiêu chí như thế nào thì được giao, như thế nào thì được cho thuê. Việc miễn, giảm tiền thuê đất cho HTX tuy được Bộ Tài chính hướng dẫn nhưng trên thực tế khi các HTX chưa được thuê đất thì không thể được miễn, giảm tiền thuê đất. Chính sách về thuế ưu đãi cho các HTX ở vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo, vùng dân tộc nhưng trê thực tế khi thực hiện Luật ở những nơi này hầu như đã không còn tồn tại các HTX nữa. Nhiều chính sách đáng lẽ sẽ có tác động rất lớn đến sự phát triển của khu vực kinh tế hợp tác và HTX nếu được thực hiện đúng theo tinh thần, tư tưởng của chính sách đề ra, như chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho HTX, chính sách về vay vốn tín dụng, chính sách bảo hiểm xã hội cho xã viên và cán bộ quản lý HTX. Tuy nhiên, các chính sách này thiếu các hướng dẫn cụ thể vì vậy trên thực tế đã không triển khai được. Như vậy, có thể thấy rằng, về mặt tư tưởng, chính sách thì khu vực HTX được hưởng khá nhiều ưu đãi nhưng trên thực tế lại không có gì cả. Đây cũng là một nguyên nhân gây ra những đánh giá sai lệch về khu vực kinh tế này của không ít người. Họ cho rằng, kinh tế hợp tác và HTX được hưởng rất nhiều ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước nhưng lại hoạt động không có hiệu quả, còn thành phần kinh tế dân doanh không có sự ưu đãi nào của Nhà nước nhưng hoạt động đã đem lại hiệu quả đáng kể trong phát triển kinh tế đất nước. Và cũng từ đó, những người này phủ nhận vai trò, vị trí của khu vực kinh tế này. Chúng ta cũng nên nhìn nhận một cách khách quan rằng, không giống như khu vực dân doanh, khu vực kinh tế hợp tác và HTX đã bị sức ép tâm lý nặng nề do mô hình HTX cũ để lại. Và cho đến nay, mặc cảm về mô hình HTX nói chung vẫn còn in đậm trong suy nghĩ của nhiều người đã là cản trở lớn cho kinh tế hợp tác và HTX phát triển.

IV. Quan điểm và định hướng phát triển kinh tế hợp tác và HTX trong giai đoạn tới

4.1. Về quan điểm:

Nghị quyết số 13 Hội nghị BCH TƯ lần thứ năm đã thống nhất nhận thức về kinh tế tập thể: “Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là các HTX dựa trên sở hữu của cacs thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc các thành phần kinh tế không giới hạn quy mô, lĩnh vực và địa bàn… thành viên kinh tế tập thể bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi và quản lý dân chủ”. Đây là kết quả của quá trình tiếp tục đổi mới tư duy về phát triển kinh tế tập thể với HTX là nòng cốt được đúc rút từ thực tiễn sau một thời gian ngắn thực hiện Luật HTX (năm 1996).

Từ thống nhất nhận thức trên đây, Luật HTX đã được sửa đổi và được Quốc hội thông qua vào tháng 11 năm 2003, tạo khung pháp lý phù hợp hơn cho các HTX tiếp tục phát triển trong điều kiện mới. Luật HTX sửa đổi đã làm rõ hơn các nguyên tắc tổ chức và quản lý HTX, đồng thời xác định HTX hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có nghĩa là các HTX được tổ chức theo những quy định đặc thù của loại hình kinh tế tuy mang tính dân chủ và tập thể rất cao, nhưng hoạt động thị phải tuân thủ các quy luật thị trường, chấp nhận cạnh tranh như các doanh nghiệp khác để không ngừng vươn lên nâng cao hiệu quả về mọi mặt.

Để cụ thể hoá những nội dung cơ bản mà Nghị quyết số 13 của BCH TƯ và Luật HTX sửa đổi nhằm phát triển mạnh hơn nữa kinh tế tập thể trong những năm tới, chúng tôi kiến nghị một số quan điểm sau:

4.1.1. Phát triển KTTT, trong đó HTX là nòng cốt phải lấy hiệu quả kinh tế làm nền tảng, đồng thời thực hiện đúng các nguyên tắc HTX được quy định trong Luật và không ngừng nâng cao vai trò xã hội của mình.

Hiệu quả kinh tế là thước đo đánh giá sự phát triển của một tổ chức kinh tế. Những HTX hoạt động không hiệu quả sẽ không có điều kiện để phát triển, đồng thời cũng không thể hỗ trợ tốt cho kinh tế xã viên và không thể có các tác động tích cực cho cộng đồng. Vì vậy các HTX phải luôn coi trọng hiệu quả kinh tế, lấy hiệu quả kinh tế làm căn cứ quyết định các hoạt động của mình.

Cùng với hiệu quả kinh tế, HTX cần phải thực hiện đúng các nguyên tắc HTX đã được quy định trong Luật HTX sửa đổi. Điều này có nghĩa là HTX phải bảo đảm: tính dân chủ, bình đẳng; sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của xã viên với lợi ích của HTX và lợi ích của cộng động; thực hiện đúng các quy định của Luật về vốn góp tối thiểu, tối đa, về tổ chức bộ máy tổ chức quản lý HTX, về Đại hội xã viên… Đồng thời, HTX luôn phải chú ý nâng cao vai trò xã hội của mình đối với xã viên, gắn lợi ích kinh tế với lợi ích xã hội là một nhân tố quan trọng để HTX phát triển bền vững.

4.1.2 Phải tôn trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các HTX: Một thời gian dài khu vực kinh tế hợp tác và HTX được sự bao cấp, trợ giúp của Nhà nước, nhưng lại không rõ ràng. Chính điều này đã làm cho khu vực kinh tế hợp tác và HTX hoạt động một cách thụ động, phụ thuộc rất nhiều vào sự chỉ đạo, lãnh đạo và sự hỗ trợ của Nhà nước, của các cấp chính quyền. Tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của một tổ chức kinh tế đã hầu như rất hạn chế. Vì luôn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước nên vấn đề hiệu quả hoạt động đã không được đặt lên hàng đầu. Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất làm cho khu vực này hoạt động yếu kém. Luật HTX năm 1996 đã chưa xoá bỏ tồn tại cố hữu này trong suy nghĩ của nhiều HTX dẫn đến hiệu quả hoạt động của khu vực này chưa chuyển biến theo đúng tiềm năng của nó. Do đó, việc bảo đảm và phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của bản thân các HTX và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh là nhân tố chủ yếu tạo sự chuyển biến tích cực trong khu vực kinh tế hợp tác và HTX trong thời gian tới.

4.1.3. Các HTX điển hình tiên tiến phải là tấm gương sinh động cho phong trào HTX và có tinh thần hợp tác với các HTX khác để thúc đẩy, mở rộng sự hỗ trợ, giúp đỡ các hợp tác xã trong cả nước:

Để có bước tiến vượt bậc của khu vực này trong thời gian tới thì điểm đột phá là các HTX điển hình tiên tiến phải là động lực thúc đẩy toàn bộ phong trào HTX, nghĩa là các HTX này vừa phát triển, vừa phải tạo ra được sức hút, sức lan toả đối với các HTX khác. Do đó, đỏi hỏi các HTX điển hình tiên tiến phải tham gia tích cực vào phong trào HTX của địa phương, của vùng và của cả nước. HTX tiên tiến phải trao đổi, chia sẽ và giúp đỡ các HTX yếu hơn về kinh nghiệm phát huy sức mạnh của tập thể và sức mạnh của từng xã viên trong HTX. Điều này sẽ giúp ích rất nhiều cho các HTX yếu hơn trong việc học tập, tham khảo kinh nghiệm của những HTX tiên tiến để tìm hướng phát triển thành công cho mình và cho phong trào HTX của cả nước.

4.1.4. Các HTX phải gắn với việc hình thành và mở rộng quan hệ hợp tác với phong trào HTX quốc tế: Phát triển mô hình các HTX hiện nay phải coi trọng việc hình thành và mở rộng các quan hệ hợp tác. Trong điều kiện hội nhập, một tổ chức kinh tế nếu chỉ hoạt động bó hẹp trong phạm vi nội địa thì cơ hội phát triển lâu dài rất khó khăn. Vì vậy, để phát triển mô hình HTX trong nền kinh tế thị trường mở thì HTX Việt nam cần phải gắn với phong trào HTX quốc tế, tạo ra mối quan hệ đa dạng để tranh thủ sự đầu tư, hỗ trợ của các HTX nước ngoài, nhất là các HTX ở các nước phát triển cao cao tình cảm và có lòng giúp các HTX của Việt nam. Việc mở rộng quan hệ với phong trào HTX quốc tế là cơ hội để HTX học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, kiến thức và là cơ hội đóng góp cho phong trào hợp tác xã quốc tế ngày càng lớn rộng.

4.1.5. Nhà nước hỗ trợ và thúc đẩy HTX phát triển nhưng không can thiệp trái luật vào công việc nội bộ của HTX:

Các HTX ngoài việc đem lại lợi ích kinh tế cho các xã viên còn có vai trò rất lớn trong việc thực hiện các hoạt động xã hội của địa phương, góp phần ổn định tình hình chính trị – xã hội trên địa bàn. Nhưng đại bộ phận HTX vẫn đang còn nhiều khó khăn, vì vậy HTX trong giai đoạn này rất cần sự hỗ trợ, giúp đỡ của Nhà nước. Các chính sách ưu đãi hợp lý của Nhà nước sẽ là động lực khuyến khích, thúc đẩy các HTX phát triển và phát huy tối đa đặc điểm, lợi thế của loại hình tổ chức kinh tế này. Từ thực tiễn phát triển của các HTX cho thấy HTX nào được chính quyền địa phương hỗ trợ tốt, đúng hướng thì HTX đó sẽ phát triển tốt và mang lại lợi ích nhiều hơn cho cộng đồng địa phương. Để tránh tình trạng hành chính hoá trong hoạt động của HTX, cần xoá bỏ sự can thiệp của chính quyền vào các hoạt động nội bộ của các HTX như can thiệp vào nhân sự, vào lương và giá dịch vụ do các HTX tạo ra.

4.1.6. Coi trọng chất lượng trong phát triển HTX :

Hiện nay vẫn còn tồn tại một bộ phận HTX trá danh để hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước với một bộ phận HTX hình thức do xã viên chưa toàn tâm, toàn ý xây dựng HTX. Mục tiêu của các tổ chức này chỉ là nhằm thu lợi nhuận cho cá nhân hoặc một nhóm nhỏ các thành viên của nó mà không chú ý tới nguyên tắc hợp tác, chú trọng lợi ích của tất cả các xã viên tham gia. Nếu tiếp tục phát triển các HTX kiểu này sẽ khó có phong trào HTX lành mạnh và là nguy cơ tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Do đó cần xoá bỏ các tổ chức kinh tế nóp danh nghĩa HTX để hoạt động. Các tổ chức này cần phải được chuyển sang các hình thức doanh nghiệp khác phù hợp với bản chất của nó, chịu sự điều chỉnh và tác động của khung pháp lý và chính sách phù hợp.

4.2. Hướng phát triển các HTX trong giai đoạn tới

4.2.1 Về mặt tổ chức:

Xã viên HTX: Phải lựa chọn và xây dựng đội ngũ xã viên có tinh thần cao và tư tưởng HTX, tức là xã viên phải ý thức được tinh thần hợp tác, có trách nhiệm cao, phải xác định mình là những người chủ thực sự của HTX. Chỉ khi xã viên có được những phẩm chất ấy thì HTX mới là một tổ chức kinh tế tập thể thực sự, có niềm tin và mới có thể phát huy được sức mạnh tập thể. Thực tiễn của các HTX điển hình tiên tiến cho thấy tính tập thể cao trong HTX là yếu tố quan trọng giúp Ban quản trị và Chủ nhiệm thành công trong hoạt động quản lý và điều hành HTX, là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của một HTX. Tuy nhiên, hiện nay phần lớn xã viên các HTX chưa có được phẩm chất này. Chính sự tham gia “hình thức” và thiếu tinh thần hợp tác của xã viên đã làm cho HTX không phát huy được ưu thế của mô hình tổ chức kinh tế này. Do đó, làm cho xã viên hiểu và có tinh thần hợp tác cộng đồng, tinh thần xây dựng và làm chủ HTX là một tiền đề để phát triển HTX bền vững.

Đại hội xã viên: Các HTX cần phải nhận thức được tầm quan trọng của Đại hội xã viên trên cơ sở đó phải tổ chức tốt Đại hội xã viên theo Luật, bảo đảm cho xã viên làm chủ và bình đẳng trong Đại hội để xã viên thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình, thể hiện vai trò làm chủ đối với HTX. Không giống như Đại hội cổ đông của các công ty cổ phần, Đại hội xã viên của HTX bảo đảm quyền biểu quyết ngang nhau cho mỗi xã viên không phụ thuộc vào mức vốn góp. Đây cũng là một nhân tố bảo đảm quyền và lợi ích bình đẳng giữa các xã viên trong HTX.

Bộ máy quản lý và bộ máy điều hành: Trong giai đoạn tới HTX phải xác định mô hình tổ chức quản lý nào là phù hợp với điều kiện cụ thể của HTX mình.

Các HTX có quy mô hoạt động nhỏ về xã viên, về vốn góp, phạm vi hoạt động hẹp về địa giới hành chính, về ngành, nghề… thì nên xây dựng bộ máy tổ chức theo hướng chỉ có 1 Ban quản trị vừa giữ chức năng quản lý vừa giữ chức năng điều hành. Mô hình này sẽ tạo cho HTX sự gọn nhẹ trong tổ chức, giảm bớt các chi phí quản lý và tạo sự tập trung, thống nhất cao trong quyết định các vấn đề của HTX.

Các HTX có quy mô hoạt động lớn, phạm vi hoạt động rộng trong nhiều ngành, nghề, mở rộng cả các hoạt động liên kết, liên doanh, hợp tác với các cá nhân, tổ chức bên ngoài, xuất khẩu các sản phẩm ra các thị trường lớn trên toàn quốc và quốc tế… thì nên tổ chức riêng 2 bộ máy quản lý và bộ máy điều hành. Việc tổ chức riêng 2 cơ quan này tạo ra sự chuyên môn hoá trong quản lý và điều hành. Đồng thời, mô hình này cũng tạo sự chủ động, phát huy khả năng sáng tạo, tính linh hoạt, quyết đoán của người điều hành. Do đó giúp HTX có khả năng đón nhận và nắm bắt các cơ hội một cách kịp thời.

Ban kiểm soát: Hiện nay, Ban kiểm soát hầu như chưa được coi trọng trong các hoạt động HTX. Điều này cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả, yếu kém của các HTX. Do vậy, trong giai đoạn tới, cần xây dựng và củng cố Ban kiểm soát trong các HTX. Tất cả các HTX đều phải thành lập Ban kiểm soát và có những quy định, chế tài cụ thể để Ban kiểm soát hoạt động. Ban kiểm soát phải thực sự là cơ quan kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX của các xã viên để bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch trong quản lý, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho xã viên và bảo đảm các nguyên tắc HTX được thực hiện, trên cơ sở đó tạo ra lòng tin lẫn nhau trong HTX.

Phân phối lợi ích: Các HTX trong giai đoạn tới phải bảo đảm kết hợp được lợi ích của từng xã viên với lợi ích của HTX. Bên cạnh việc phân phối lãi cho xã viên, HTX cũng phải chú trọng việc xây dựng và phát triển các quỹ sản xuất và quỹ dự phòng, hình thành tài sản chung không chia của HTX. Các quỹ này sẽ giúp HTX duy trì, đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh cho các năm tiếp theo. Đồng thời cũng giúp HTX vượt qua những khó khăn khi gặp rủi ro. Đây chính là nền tảng để HTX có thể phát triển vững mạnh, lâu bền.

4.2.2. Phải năng động, tự chủ trong hoạt động SXKD.

Không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh của các HTX: để đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường, các HTX phải không ngừng đổi mới, cải tiến kỹ thuật, cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ quản lý, điều hành của cán bộ HTX. Khả năng cạnh tranh của một tổ chức kinh tế phụ thuộc vào cách thức, quy mô tổ chức sản xuất, tiêu thụ của sản phẩm và dịch vụ. Nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ giúp HTX khẳng định được vị thế trên thương trường.

Đa dạng hoá ngành, nghề hoạt động: Hiện nay, việc cung cấp các dịch vụ đầu vào cho sản xuất đã phát triển khá mạnh trên thị trường. Do vậy, nếu chỉ thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng đầu vào thông thường thì giá trị sản xuất sẽ thấp và phải cạnh tranh rất ác liệt với các loại hình kinh tế khác, đặc biệt là với kinh tế tư nhân. Hơn nữa, việc nâng cao giá trị của sản phẩm và việc tìm thị trường để tiêu thụ sản phẩm là công việc mà từng cá nhân riêng lẻ khó có thể thực hiện thành công. Vì vậy, để vươn ra thị trường và giảm tác động của các rủi ro, tăng hiệu quả kinh tế, các HTX, đặc biệt là các HTX nông nghiệp, cần mở rộng lĩnh vực hoạt động của mình, như phát triển các ngành, nghề truyền thống; đa dạng các mặt hàng; đảm nhận những khâu quan trọng như chế biến nông sản, tiêu thụ sản phẩm… /.

—————————————————————-

source: www.ciem.org.vn

NHỮNG YẾU TỐ BẤT LỢI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DÂN DOANH VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

TS. NGUYỄN ĐÌNH TÀI

1. Một vài nét về sự phát triển khu vực kinh tế dân doanh

Việc ban hành Luật doanh nghiệp mới đầy đủ và hoàn thiện hơn cho khu vực kinh tế tư nhân vào tháng 6 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2000 đã tạo ra một bước đột phá trong công cuộc cải cách kinh tế đang diễn ra tại Việt Nam. Nhờ vào việc xoá bỏ thủ tục cấp phép thành lập doanh nghiệp, huỷ bỏ 152 loại giấy phép kinh doanh, đơn giản hoá thủ tục hành chính trong khâu đăng ký kính doanh nên chỉ trong vòng 4 năm qua (2000-2003) đã có 76.000 doanh nghiệp mới thành lập (trong khi đó trong 9 năm 1991-1999 chỉ có 45.000 doanh nghiệp thành lập); đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân ở VN lên trên 120.000 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập trung bình hàng năm hiện nay bằng 3,75 lần so với trung bình hàng năm của thời kỳ 1991-1999. Cũng trong 4 năm qua, số vốn đăng ký huy động được gần 120.000 tỉ đồng, khoảng 1,6 triệu chỗ làm việc mới đã được tạo ra nhờ các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể mới thành lập và mở rộng quy mô kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp; đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp dân doanh xấp xỉ bằng tổng số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước[1]; và tổng số lao động làm việc trong doanh nghiệp của tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến khoảng hơn 6 triệu người, chiếm hơn 16% lực lượng lao động xã hội.

Tuy nhiên, doanh nghiệp dân doanh nói chung còn nhỏ và phát triển không đồng đều cả về vùng lãnh thổ và ngành, nghề kinh doanh. Số lượng doanh nghiệp bình quân đầu người cũng còn rất thấp, bình quân gần 800 người dân mới có một doanh nghiệp (gồm cả DNNN và doanh nghiệp FDI). Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam vẫn còn nhỏ, non nớt, thiếu vốn, công nghệ và chưa có sức cạnh tranh.

Để khu vực kinh tế này phát triển lớn mạnh hơn, cần phải giải quyết ba nhóm vấn đề sau: (1) Tạo ra một môi trường mở hơn thông qua các chính sách và các biện pháp hỗ trợ đa dạng cho khu vực kinh tế này; (2) Nâng cao năng lực hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, công ty tư nhân; (3) Giúp khu vực kinh tế còn non trẻ này có đủ sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

2. Những yếu tố bất lợi đối với môi trường kinh doanh

2.1. Những vấn đề còn tồn tại trong thủ tục thành lập doanh nghiệp và cấp phép

Mặc dù các thủ tục thành lập doanh nghiệp cũng như các thủ tục đăng ký đã được đơn giản hoá nhưng không phải mọi chuyện đã trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn. Dưới đây là một số những trở ngại còn tồn tại và những vướng mắc do hướng dẫn dưới luật gây ra:

– Một số điều khoản trong Luật và trong các thông tư hướng dẫn không rõ ràng và không phù hợp, đặc biệt là các qui định về các hộ gia đình kinh doanh, qui định về cấp giấy chứng nhận cho tư vấn pháp lý, qui định về cơ quan có thẩm quyền xác nhận vốn pháp định’.

– Hồ sơ đăng ký kinh doanh của các hợp tác xã phức tạp hơn nhiều so với hồ sơ đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. (Chẳng hạn như, khi đăng ký kinh doanh, một hợp tác xã phải đệ trình sáu loại hồ sơ trong khi một công ty theo Luật Doanh Nghiệp chỉ cần có ba loại hồ sơ) .

2.2. Những khó khăn để nhận được ưu đãi đầu tư

Luật khuyến khích đầu tư trong nước được ban hành để cung cấp một loạt các biện pháp ưu đãi và khuyến khích về đất đai, tín dụng, lao động và các nhân tố sản xuất khác cho các nhà đầu tư trong nước mà có các dự án được Nhà nước khuyến khích. Thủ tục để nhận được Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã được đơn giản hóa và trở nên khá dễ dàng cho nhà đầu tư. Tuy nhiên, sau khi có giấy này, để nhận được những ưu đãi đó, các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty tư nhân phải “vượt qua” không ít trở ngại do các cơ quan thi hành luật gây ra. Sự “gây khó” này, trong nhiều trường hợp, đã làm vô hiệu hóa Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư do chính Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư. cấp, và kết quả là làm cho Luật kém hấp dẫn.

Theo Nghị định 51, các hộ kinh doanh (các doanh nghiệp nhỏ) cũng có thể nhận được những ưu đãi đầu tư nếu họ có các dự án đầu tư được Nhà nước khuyến khích. Tuy nhiên, chỉ có vài chục hộ trong số hơn 2 triệu hộ tiếp cận được đến những ưu đãi của Luật. Lý do của tình trạng này hết sức đơn giản: để được ưu đãi thuế các hộ kinh doanh phải tuân thủ nghiêm chỉnh chế độ kế toán của Bộ Tài chính, phải có sổ sách hóa đơn đầy đủ như áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp, điều mà các hộ kinh doanh không buộc phải có, hay nói đúng hơn, khu vực hộ kinh doanh được Bộ Tài chính cho phép áp dụng một chế độ kế toán giản đơn (thuế khoán).

Quỹ hỗ trợ phát triển đã đi vào hoạt động hơn 3 năm, tuy nhiên, các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân hầu như không tiếp cận được đến nguồn vốn của Quỹ do không thể vượt qua được những quy định của Nghị định 43/1999/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và các thủ tục của Quỹ. Chẳng hạn, để được cấp tín dụng ưu đãi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển, theo Nghị định 43, doanh nghiệp phải có tư cách pháp nhân. Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp tư nhân một chủ và các hộ kinh doanh cá thể không thể là đối tượng của Quỹ, vì chúng không có tư cách pháp nhân theo tiêu chí của Bộ luật dân sự Việt Nam.

2.3. Còn nhiều khó khăn trong việc vay vốn

Vẫn còn tồn tại một hiện tượng là trong khi các ngân hàng dư thừa vốn không tìm được các dự án đầu tư thì các công ty tư nhân lại thiếu vốn và phải đi vay ở thị trường không chính thức với lãi suất cao. Sự phân biệt đối xử trong vây vốn vẫn còn tồn tại trong Nghị định số 43/9991/NĐ-CP về tín dụng đầu tư. Theo đó, các doanh nghiệp nhà nước có thể vay tín dụng đầu tư của nhà nước mà không cần phải thế chấp, còn các nhà đầu tư tư nhân muốn vay vốn phải thế chấp.

Vốn vay từ các ngân hàng thương mại chủ yếu là vốn ngắn hạn. Chỉ có 30% trong vay tồn đọng là khoản vay trung và dài hạn và hầu hết các loại tín dụng này là dành cho các doanh nghiệp nhà nước. Thậm chí các ngân hàng thương mại quốc doanh còn dành riêng 30% vốn để cho các doanh nghiệp nhà nước vay. Các thủ tục vay ngân hàng cũng khá phức tạp. Thêm vào đó là các qui định về yêu cầu thế chấp vẫn chưa được hoàn thiện: ít tài sản có thể được sử dụng để thế chấp hợp lệ, quyền sử dụng đất được hợp pháp hoá bằng việc cấp phép sử dụng đất, các ngân hàng thường đánh giá thấp giá trị thế chấp dể bảo đảm an toàn.

Thế chấp quyền sử dụng đất là một vấn đề phức tạp và không rõ ràng do đặc điểm của các quy định của Việt Nam về đất và sở hữu tài sản. Đánh giá quyền sử dụng đất là vướng mắc chính hiện nay. Trên thực tế, các kết quả tố tụng và phán quyết tại toà án cho thấy các cơ quan pháp lý ở các tỉnh đánh giá giá trị quyền sử dụng đất không nhất quán. ở một số tỉnh, các cơ quan có thẩm quyền pháp lý đánh giá giá trị quyền sử dụng đất dựa trên khung giá đất do Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh qui định. Nhưng ở một số tỉnh khác các cơ quan có thẩm quyền pháp lý lại đánh giá giá trị quyền sử dụng đất dựa trên giá của quyền sử dụng đất ở thị trường địa phương. Vì vậy, trong một số trường hợp, quyền hợp pháp và lợi ích của người đi thế chấp và người nhận thế chấp không được bảo vệ.

2.4. Mặt bằng kinh doanh vấn đề nan giải nhất

Hầu hết các doanh nghiệp và các công ty tư nhân đều phải sử dụng nhà cửa, đất vườn làm mặt bằng kinh doanh. Mặc dù Luật Đất đai mới được sửa đổi đã có một số thay đổi quan trọng có lợi cho các nhà đầu tư, nhưng tình trạng thiếu đất cho sản xuất cũng như đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn còn phổ biến trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Do hệ quả của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây, phần lớn đất giao cho các doanh nghiệp nhà nước hiện đang bị lạm dụng hoặc để không rất lãng phí. Trong khi đó, nhiều công ty tư nhân mới nổi lên đang thực sự cần đất để bắt đầu hoặc mở rộng kinh doanh lại không có cách nào để có đất trừ khi đi thuê lại đất của các doanh nghiệp nhà nước ở mức giá cao hơn rất nhiều so với mức giá do các cơ quan thẩm quyền nhà nước qui định.

2.5. Những yếu tố bất lợi trong hệ thống thuế hiện hành

Sự khác nhau trong xác định các chi phí biến đổi và không đổi để được khấu trừ từ lợi tức chịu thuế và thuế thu nhập bổ sung gây khó khăn cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Một chế độ ưu đãi được áp dụng đối với các doanh nghiệp nhà nước: mỗi lần khi có sự tăng lên về giá mua nguyên liệu thô, trang thiết bị, hàng hoá bằng ngoại tệ hoặc khi tỷ giá hối đoái thay đổi thì chi phí để mua những mặt hàng trên và chi phí cho các mặt hàng chưa bán được sẽ được xác định lại để bảo toàn vốn. Như vậy, rõ ràng là do không được áp dụng qui định này nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh cho dù có hay không có lợi nhuận vẫn phải bỏ vốn của doanh nghiệp ra để nộp thuế.

Đối với các doanh nghiệp nhà nước, lương trả cho công nhân được coi là chi phí không đổi theo mức giá thống nhất đã được thông qua trong khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải tuân thủ qui định của Uỷ ban nhân dân tỉnh về mức lương trung bình cho mỗi ngành công nghiệp (mức lương này thường rất thấp).

Trong trường hợp có thêm thu nhập hoặc phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung thì khi tính mức thuế này các doanh nghiệp nhà nước cũng có lợi thế về mức lãi suất được trừ và họ cũng được hưởng mức thuế bổ sung thấp hơn so với các doanh nghiệp tư nhân.

2.6. Những khó khăn đối với các nhà xuất khẩu

Về xuất khẩu, những vấn đề mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đang phải đối mặt với bao gồm:

-Việc tiếp cận với hạn ngạch xuất-nhập khẩu bị hạn chế và trên thực tế các doanh nghiệp nhà nước vẫn giành được sự ưu tiên.

-Thiếu thông tin về thị trường của đối tác, về khách hàng nước ngoài và thiếu mạng lưới marketing.

-Tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm xuất khẩu không đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp.

-Thủ tục hải quan phức tạp, rườm rà; thuế xuất-nhập khẩu được áp dụng tuỳ tiện do hệ thống mã thuế chưa chuẩn.

2.7. Yếu kém của hệ thống các dịch vụ phát triển kinh doanh

Luật khuyến khích đầu tư trong nước đã đưa ra một số các biện pháp chính sách hỗ trợ phát triển các dịch vụ kinh doanh cho các doanh nghiệp. Các chính sách này nhằm khuyến khích các hoạt động tư vấn, đào tạo; nâng cao kỹ năng quản lý, thị trường, cung cấp thông tin khoa học công nghệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, marketing, thúc đẩy thương mại, thiết lập liên minh và giao lưu, ưu đãi trong thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế đất, tiền thuê đất và phí sử dụng đất.

Các biện pháp khuyến khích nói trên rất được các nhà đầu tư hoan nghênh. Tuy nhiên, chúng không đến hoặc đến rất ít với các nhà đầu tư tư nhân do những cản trở từ các cơ quan thi hành luật và sự kém hiểu biết của các chủ doanh nghiệp. Dưới đây sẽ điểm qua các vấn đề của từng loại dịch vụ chính.

2.7.1. Về dịch vụ tư vấn

Phí dịch vụ tư vấn quá cao vượt quá khả năng thanh toán của các doanh nghiệp nhỏ. Do qui mô nhỏ, nguồn lực hạn chế và ít chính sách ưu đãi nên các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hiếm có cơ hội sừ dụng các nhà tư vấn có năng lực để tiếp cận thị trường thông tin, các thành tựu khoa học, công nghệ và quản lý mới. Trên thực tế, đây là rào cản cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh hiện nay.

2.7.2. Về chuyển giao công nghệ

Qui chế hiện thời không cung cấp đầy đủ thông tin chơ các hoạt động chuyển giao công nghệ, ví dụ như các hoạt động có liên quan đến việc thực thi công nghệ, ứng dụng các công nghệ nghiên cứu vào sản xuất và kinh doanh. Trong bối cảnh các qui định hiện nay, các hợp đồng về ứng dụng công nghệ được cho là không có hiệu quả do không thoả mãn các điều kiện chuyển giao công nghệ.

Các qui định về hợp đồng chuyển giao công nghệ qui định quá chi tiết về hình thức và nội dung với nhiều điều kiện ràng buộc (ví dụ như thời hạn chuyển giao, mức giá, các điều kiện chuyển giao và bảo hành, v…v) đã tạo ra rào cản và không khuyến khích các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ.

Cơ chế thẩm định, phê chuẩn và ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ chứng tỏ sự quản lý cứng nhắc. Cơ chế này đã khiến cho các qui định về chuyển giao công nghệ không những không thể thực hiện được mà còn hạn chế các hoạt động chuyển giao công nghệ thông thường. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp liên doanh đã cố gắng để tránh hoặc hạn chế đến mức có thể những khó khăn trong quá trình ký kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ. Hầu hết các doanh nghiệp đều không đăng ký các hợp đồng chuyển giao công nghệ vì họ sợ những thủ tục quan liêu và chậm trê.

2.7.3. Về đào tạo

ở Việt Nam lực lượng lao động tăng nhanh, dự đoán tới năm 2005 lực lượng lao động sẽ chiếm 59% dân số. Vấn đề ở đây là chỉ dưới 20% lực lượng lao động được đào tạo, khoảng 56% công nhân không có kỹ thuật hoặc kỹ thuật thấp. Đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng ở nông thôn: 71% lao động làm việc ở các vùng nông thôn nhưng chỉ 10% trong số họ được đào tạo.

Nền giáo dục của Việt Nam chưa hướng vào nhu cầu của kinh doanh thương mại. Đào tạo kỹ thuật ở Việt Nam chủ yếu thuộc trách nhiệm của các trường dạy nghề quốc lập và các trường cao đẳng để đáp ứng nhu cầu đào tạo của các DNNN. Chính phủ đang giảm dần sự hỗ trợ cho một số lượng lớn các trung tâm đào tạo chuyên nghành công nghiệp trên toàn đất nước. Mặc dù chất lượng đào tạo của các trung tâm này chỉ tập trung đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp hiện đại, song các trung tâm này chỉ có các thiết bị đào tạo lạc hậu và tương lai của họ là không bảo đảm.

Những lý do chính của các trở ngại là:

– Với các doanh nghiệp tư nhân, việc tiếp cận các dịch vụ đào tạo nguồn nhân lực của nhà nước bị hạn chế chủ yếu do họ không có đủ vốn để làm việc đó.

– Chương trình đào tạo hiện nay tại các trường dạy nghề, các trung tâm đào tạo công nhân kỹ thuật không thể đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp bởi vì nó quá tập trung vào lý thuyết mà quên đi thực hành, nội dung đào tạo thi cũ kỹ không theo kịp những yêu cầu thực tiễn. Hiện tại chỉ có vài trung tâm đào tạo công nhân kỹ thuật được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại cũng như có nội dung chương trình đào tạo hợp lý.

2.7.4. Về sở hữu công nghiệp

Về địa vị pháp lý, không thấy có sự phân biệt đối xử nào giữa các khu vực kinh tế trong những vấn đề liên quan đến sở hữu công nghiệp. Đó là lý do vì sao mà các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp lại có ảnh hưởng ngày càng tích cực đến việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, khuyến khích hoạt động sáng tạo, cạnh tranh bình đẳng ở Việt Nam.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp đã bộc lộ một số hạn chế. Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ không được bao quát hết mà chỉ được quy định trong một số điều khoản của Bộ luật dân sự, vì bằng sáng chế, thiết kế kiểu dáng công nghiệp hoặc nhãn hiệu sản phẩm không chỉ là tài sản của một cá nhân, mà còn liên quan tới nhiều người khác. Rõ ràng, một hệ thống pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chỉ dựa vào toàn bộ Phần VI của Bộ luật dân sự đã dẫn đến những hạn chế sau:

– Các mối quan hệ về sở hữu trí tuệ được chú trọng đến chủ yếu ở khía cạnh dân sự và được bảo hộ theo các thủ tục dân sự, trong khi đó việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đôi khi cũng cần đến các biện pháp hành chính và hình sự để cưỡng chế;

– Việc xác lập quyền sở hữu công nghiệp đòi hỏi phải chặt chẽ, rõ ràng, đầy đủ và phải phù hợp với trình tự, thủ tục. Một việc như vậy lẽ ra phải được quy định ngay trong luật, chứ không phải thông qua các văn bản dưới luật như hiện nay;

– Vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp mà chưa được luật quy định. Đó là: Bảo hộ bí mật kinh doanh; bảo hộ quyền đấu tranh chống lại cạnh tranh không bình đẳng trong lĩnh vực công nghiệp; bảo hộ kỹ thuật sinh học trong việc lai tạo các giống cây trồng; bảo hộ những biện pháp phòng ngừa, chữa bệnh cho cây trồng;.và các bảo hộ khác; thiếu quy định về tiêu chuẩn để phân biệt nhãn hiệu sản phẩm đã đăng ký với những chỉ dẫn về địa lý của hàng hoá được bảo hộ; và thiếu quy định về việc bảo hộ các nhãn hiệu nổi tiếng.

– Mặc dù được bình đẳng trước pháp luật, song các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam vẫn gặp phải nhiều khó khăn trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp do năng lực tài chính hạn chế, thiếu kinh nghiệm và cán bộ chuyên môn trình độ cao. Phần lớn các doanh nghiệp này không đủ khả năng tự tiến hành các hoạt động liên quan đến sở hữu công nghiệp.

2.8. Chốt lại những điểm chính

Từ những phân tích trên, có thể thấy rõ sự phân biệt đối xử mà các doanh nghiệp khu vực tư nhân đang còn phải chịu qua nhiều khía cạnh thậm chí ngay cả trong chính sách và trong việc thực thi chính sách. Chẳng hạn, đó là:

Ø Các doanh nghiệp nhà nước có thuận lợi hơn trong việc vay tín dụng ngân hàng. Trong khi các doanh nghiệp dân doanh phải tuân thủ nghiêm chỉnh yêu cầu thế chấp thì các doanh nghiệp nhà nước lại không cần quan tâm tới điều này.

Ø Các doanh nghiệp nhà nước có thể thuê đất dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp dân doanh.

Ø Các doanh nghiệp nhà nước dễ dàng tiếp cận với tín dụng ưu đãi của chính phủ hơn là các doanh nghiệp dân doanh.

Ø Các cơ quan có thẩm quyền dường như quan tâm và hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước nhiều hơn so với các doanh dân doanh.

Ø Các doanh nghiệp nhà nước có được nhiều thông tin từ các cơ quan có thẩm quyền hơn các doanh nghiệp dân doanh.

Ø So với các doanh nghiệp dân doanh, đội ngũ công nhân và cán bộ quản lý ớ các doanh nghiệp nhà nước có thể tiếp cận đễ dàng hơn với các dịch vụ đào tạo ngắn hạn miễn phí của các tổ chức nhà nước.

3. Một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh

3.1. Đảm bảo tính đồng bộ giữa quyền tự do, tự chủ kinh doanh và thể chế kinh tế thị trường

Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế, tự do hoá quyền kinh doanh, tự do hoá gia nhập thị trường mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ để huy động và phát huy hết nguồn lực hiện có, tận dụng được các cơ hội phát triển, và giải quyết được các vấn đề cơ cấu vùng và cơ cấu ngành, nghề của quá trình phát triển. Các giải pháp mở rộng quy mô “thị trường hoá” nền kinh tế như xây dựng kết cấu hạ tầng, cung cấp thông tin, hỗ trợ phát triển và nâng cao năng lực của các tác nhân thị trường sẽ góp phần “hiện thực hoá” quyền tự do kinh doanh. Thiếu thể chế mở rộng quy mô thị trường, thì quyền tự do kinh doanh chỉ phát huy tác dụng tự phát ở những vùng có kinh tế thị trường phát triển ở mức cao hơn.

3.2. Tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp doanh nghiệp

Trước hết, đó là vấn đề mặt bằng kinh doanh. Tuy có cải thiện so với trước đây, nhưng việc tiếp cận với quyền sử dụng đất làm mặt bằng kinh doanh vẫn là vấn đề khó khăn nhất, là cản trở lớn nhất đối với đầu tư mới cũng như đầu tư mở rộng. Số đất nhà nước có để cho thuê là quá ít so với nhu cầu.[2]

Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng kinh doanh cùng các dịch vụ hạ tầng với thủ tục nhanh chóng và chi phí hợp lý thông qua xây dựng khu và cụm công nghiệp vừa và nhỏ đã trở thành biện pháp tương đối có hiệu quả trong “cạnh tranh” thu hút đầu tư.

3.3. Tạo lập môi trường thuận lợi đi cùng với các điều kiện trợ giúp doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Tạo lập môi trường thuận lợi là chưa đủ cho sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng, mà phải có trợ giúp tích cực nhiều mặt của nhà nước, nhất là đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp v.v… Các trợ giúp của cơ quan nhà nước các cấp không thể chỉ dựa vào lòng nhiệt tình, hăng hái, làm theo “phong trào”, mà phải có tính chuyên môn, chuyên nghiệp cao.

Thực tế, mấy năm qua cho thấy chỉ có nỗ lực của Nhà nước, của các cơ quan và công chức nhà nước là chưa đủ, mà phải tạo cơ chế huy động được sự tham gia của các tổ chức xã hội như hiệp hội, các tổ chức quần chúng, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức tư vấn vào hỗ trợ khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp; đồng thời, sự hỗ trợ từ bên ngoài cũng chỉ có hiệu quả, phát huy được tác dụng như mong muốn, khi doanh nghiệp được tổ chức theo loại hình hiện đại với địa vị pháp lý rõ ràng, được quản lý một cách minh bạch, tuân thủ pháp luật, tôn trọng và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, văn hoá kinh doanh.

3.4. Giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp để tăng sức cạnh tranh

Hiện tại, chi phí kinh doanh ở Việt nam cao hơn khá nhiều so với các nước khác trong khu vực. Giá điện cao hơn các nước ASEAN khác từ 45% đến 220%, trong khi chất lượng điện cung ứng cũng kém hơn (thường xuyên không bảo đảm điện áp, việc cắt điện diễn ra thường xuyên[3]). Chi phí vận tải, bốc xếp ở VN cao hơn các nước trong khu vực (bình quân 1 DN xuất nhập khẩu theo đường hàng không hoặc đường biển phải chịu 20 loại phí khác nhau). Chi phí giao dịch, xin phép chiếm đến 8-10% chi phí của công trình. Chi phí sản xuất của ngành dệt may VN cao hơn Trung quốc 25-30% do năng suất lao động thấp và hầu hết nguyên phụ liệu đầu vào và máy móc phải nhập khẩu. Năm 2003, cước phí viễn thông đã giảm từ 30% đến 40%, nhưng cước phí điện thoại quốc tế vẫn cao hơn 9 lần so với Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngoài ra, còn một loạt chi phí cao bất thường làm giảm sức cạnh tranh của ngành du lịch VN như cước phí Internet, giá vé máy bay, phí xin visa…

Hầu hết các dịch vụ trên đều do các DNNN độc quyền cung ứng, cộng thêm việc chưa có Luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền, nên tình hình chưa được cải thiệt nhiều. Do vậy, giải pháp trước mắt đòi hỏi sự nỗ lực lớn của bộ máy nhà nước là giảm mạnh và kiểm soát độc quyền của các DNNN, giảm mạnh các chi phí trong kinh doanh để bảo đảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ.

3.5. Hoàn thiện khung pháp lý theo hướng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế

Để môi trường kinh doanh trong sạch, khung pháp lý đồng nhất, tránh đối xử không công bằng giữa các khu vực kinh tế, một trong những việc sớm muộn gì cũng cần phải hình thành một luật doanh nghiệp chung cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và một luật khuyến khích và bảo hộ đầu tư chung trên cơ sở Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước hiện hành.

Loại bỏ một cách kiên quyết và đồng bộ các rào cản pháp lý đã phân tích ở trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cáo doanh nghiệp tư nhân dễ dàng tiếp cận với các nhân tố sản xuất như vốn vay, đất vốn công nghệ, thị trường, v…v.

Tiếp tục thực hiện công cuộc cải cách hệ thống thuế, điều chỉnh mức thu nhập chịu thuế khởi điểm đối với người có thu nhập cao và mức thu nhập chịu thuế thu nhập bổ sung./.


[1] Số lao động trong DNNN đến 1/7/2002 là 1.845.200 người.[2] Một số khu công nghiệp đầu tư qua công ty phát triển hạ tầng sau nhiều năm xây dựng, vẫn còn nhiều đất để cho thuê, nhưng chi phí thuê đất quá cao, vượt quá khả năng tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở trong nước. Có nơi, chi phí thuê đất quá cao, nhu cầu thuê đất thấp, Uỷ ban nhân dân địa phương đã xin chuyển đổi đất công nghiệp thành đất ở, chia lô để bán.[3] Theo kết quả điều tra của Đề án “Phát triển kết cấu hạ tầng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh” của CIEM, 36% khách hàng bị cắt điện dưới 3 lần/năm; 25% bị cắt dưới 10 lần/năm và 56% khách hàng bị “chết bất đắc kỳ tử” do cắt điện không thông báo.

——————————–

SOURCE: WWW.CIEM.ORG.VN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

I. Khái quát chung

Khi tham gia các quan hệ pháp luật dân sự, nhìn chung các chủ thể có quyền và có nghĩa vụ tương ứng với nhau [1], lợi ích của chủ thể quyền phụ thuộc hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ. Trong trường hợp chủ thể có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì lợi ích của chủ thể quyền bị ảnh hưởng. Để bảo đảm nghĩa vụ dân sự được thực hiện, pháp luật dân sự Việt Nam quy định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, theo đó, khi chủ thể có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ của mình thì quyền và lợi ích của chủ thể quyền được bảo đảm (bảo vệ) thông qua việc xử lý tài sản bảo đảm hoặc thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba (trong trường hợp bảo lãnh). Việc các chủ thể xác lập một hay nhiều biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng có nghĩa là các chủ thể đã giao kết một hay nhiều giao dịch bảo đảm [2].Về nguyên tắc, để giao dịch bảo đảm có hiệu lực pháp luật thì giao dịch bảo đảm phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung[3].

Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và phạt vi phạm. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định về giao dịch bảo đảm trong Bộ luật Dân sự 1995 có các văn bản: Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch bảo đảm, Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 sửa đổi, bổ sung Nghị định 178/1999/NĐ-CP, Thông tư liên tịch 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 về xử lý tài sản bảo đảm.  

Bộ luật Dân sự 2005 (sau đây viết tắt là BLDS) được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ ngày 1/1/2006 quy định 7 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp[4]. Quy định chi tiết các quy định của BLDS về giao dịch bảo đảm có Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm.

Nghiên cứu các quy định hiện hành về giao dịch bảo đảm, chúng tôi nhận thấy một số vấn đề về tài sản bảo đảm, đăng ký giao dịch bảo đảm, thứ tự ưu tiên thanh toán và phương thức xử lý tài sản bảo đảm chưa được quy định thống nhất, chưa hợp lý cần trao đổi, xem xét, hoàn thiện trong thời gian tới .

II. Các vấn đề cụ thể

1. Tài sản bảo đảm

Khoản 1 Điều 320 BLDS quy định “vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch”; Điều 321 BLDS quy định:’’tiền, trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu và giấy tờ có giá khác được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”; Điều 322 BLDS quy định:’Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai. Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về tài nguyên’.

Sự phân chia thành các điều luật như trên có lẽ chịu ảnh hưởng của cách phân chia về tài sản trong luật dân sự Việt Nam[5]. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng sự phân chia mang tính chất liệt kê tại các Điều 320, 321, 322 BLDS là chưa hợp lý. Rõ ràng, tiền, cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác không phải là vật, cũng không phải là các quyền tài sản, mà là hai dạng tài sản khác nhau theo quy định của BLDS (gọi là tiền; giấy tờ có giá). Do vậy, nếu đã có quy định vật bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm (Điều 320 BLDS) thì một cách tương tự, các tài sản khác như tiền, cổ phiếu trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác cũng cần quy định phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm[6]. Việc liệt kê tại Điều 322 BLDS chưa mang tính khái quát cao, kỹ thuật pháp lý cũng chưa được chuẩn xác, vì :

+1. Trong lĩnh vực pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành, quyền tài sản chỉ có thể phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, mà đã là quyền tài sản thì có thể là tài sản bảo đảm vì quyền tài sản là một dạng tài sản (theo Điều 163 BLDS), do vậy, việc liệt kê như trên không có ý nghĩa.

+2. Các quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp đều thuộc nội dung của quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng, vậy không cần thiết phải liệt kê như khoản 1 Điều 322 BLDS, bản thân việc liệt kê lại làm cho các khái niệm quyền đòi nợ, quyền nhận được số tiền bảo hiểm… không thuộc phạm vi quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng.

Chúng tôi cho rằng, Điều 322 lẽ ra chỉ nên thiết kế theo dạng chỉ ra các quyền tài sản nào không được phép là tài sản bảo đảm hoặc chỉ là tài sản bảo đảm khi thoả mãn các điều kiện được quy định bởi các luật khác. Do đó, Khoản 1 Điều 320, Điều 321 và Khoản 1 Điều 322 có thể nhập với nhau và chỉ cần một điều luật quy định về vấn đề này như sau :

‘Điều….. Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự  

1. Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch.

2. Tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là tài sản hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Tài sản hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết.

3. Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.

4. Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về tài nguyên’.    

2. Phạm vi tài sản bảo đảm

BLDS 1995 đã vạch một ranh giới rõ ràng giữa thế chấp tài sản và cầm cố tài sản. Đối tượng của cầm cố tài sản là động sản, đối tượng của thế chấp tài sản là bất động sản. BLDS 2005 đã không sử dụng ranh giới này, theo đó, tài sản (kể cả bất động sản và động sản) đều có thể là đối tượng của thế chấp tài sản hoặc cầm cố tài sản [7]. ‘Sự thay đổi này nhằm tránh khó khăn khi phân biệt động sản, bất động sản và đơn giản hoá các quy định về cầm cố, thế chấp’[8] . Tuy nhiên, nghiên cứu các đạo luật liên quan chúng tôi nhận thấy những tư tưởng pháp lý tốt đẹp trên không được thể hiện, hệ thống các quy định về giao dịch bảo đảm chồng chéo, không rõ ràng, gây khó khăn cho cả cơ quan có thẩm quyền và các bên tham gia giao dịch bảo đảm, cụ thể ở những điểm sau: 

Thứ nhất : Theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai, người sử dụng đất chỉ có quyền thế chấp quyền sử dụng đất (không có quyền cầm cố quyền sử dụng đất). Như vậy, có sự khác nhau giữa BLDS và Luật Đất đai. Sự khác nhau này có nhiều quan điểm khác nhau :

Quan điểm 1: Xem xét Khoản 3 Điều 80 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật  quy định: ‘trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau’. Do vậy, để xác định quyền sử dụng đất có là đối tượng của cầm cố tài sản hay không cần xác định thời điểm có hiệu lực của BLDS và Luật Đất đai, theo đó BLDS có hiệu lực từ ngày 01/01/2006, Luật đất đai có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. Hệ quả là : áp dụng các quy định của BLDS để điểu chỉnh, theo đó, quyền sử dụng đất vừa là đối tượng của cầm cố tài sản, vừa là đối tượng của thế chấp tài sản. 

Quan điểm 2: trường hợp này không có sự mâu thuẫn giữa BLDS và Luật Đất đai. Căn cứ Khoản 2 Điều 322 BLDS quy định :‘quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai’, tại Phần thứ 5 BLDS (quy định về chuyển quyền sử dụng đất) cũng chỉ quy định về hình thức thế chấp quyền sử dụng đất (không có hình thức cầm cố). Do vậy, không áp dụng Khoản 3 Điều 80 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Khi điều chỉnh các giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền sử dụng đất phải kết hợp cả BLDS và Luật Đất đai để điều chỉnh. Trường hợp cụ thể này, tuy BLDS không hạn chế, nhưng Luật Đất đai đã có hạn chế thì phải tuân theo quy định hạn chế của Luật Đất đai, theo đó, quyền sử dụng đất chỉ có thể là đối tượng của thế chấp tài sản.   

Chúng tôi nhất trí với quan điểm này (về mặt áp dụng luật). Xem xét vấn đề ở phạm vi rộng hơn, chúng ta nhận thấy, theo các quy định hiện hành, các dạng bất động sản khác như công trình xây dựng gắn liền với đất đai, các tài sản khác gắn liền với đất đai, các tài sản khác do pháp luật quy định là bất động sản đều có thể là đối tượng của thế chấp tài sản và cầm cố tài sản. Có lẽ, vấn đề này chỉ xảy ra trên ‘lý thuyết’, thật khó có thể xảy ra trường hợp các công trình xây dựng, các tài sản khác gắn liền với đất đai (ví dụ cây cối) được đem cầm cố cho người khác, trong khi đất đai (quyền sử dụng đất) lại không được phép cầm cố [9].

Riêng đối với nhà ở, theo quy định tại Điều 90 Luật Nhà ở, nhà ở chỉ được phép thế chấp, không được phép cầm cố [10]. Nhưng chúng tôi cho rằng, khác với quyền sử dụng đất, trong trường hợp này rõ ràng có sự khác nhau giữa BLDS và Luật Nhà ở. BLDS không hạn chế quyền cầm cố nhà ở của cá nhân, tổ chức nhưng Luật Nhà ở lại hạn chế vấn đề này, trong Bộ luật dân sự cũng không có quy định đối với nhà ở thì các giao dịch dân sự cần tuân theo các quy định về nhà ở (như đối với quyền sử dụng đất). Để áp dụng pháp luật, có lẽ các cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng Khoản 3 Điều 80 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Nhà ở có hiệu lực từ ngày 01/7/2006, có hiệu lực sau BLDS và do vậy sẽ có hiệu lực áp dụng đối với các giao dịch liên quan đến nhà ở mà có mâu thuẫn với BLDS[11].

Tuy nhiên, chúng tôi không cho rằng các quy định của Luật Nhà ở liên quan đến lĩnh vực này là tiến bộ, thậm chí đây là một ‘bước lùi’ của hệ thống pháp luật, thể hiện qua những điểm sau :

+1. Việc quy định không cho phép cầm cố nhà ở không có cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn, phá huỷ toàn bộ những tư tưởng pháp lý dân sự hiện đại khi xây dựng BLDS 2005: cho phép áp dụng cả cầm cố và thế chấp với bất động sản.   

+2. Việc Luật Nhà ở quy định ‘chủ sở hữu nhà ở được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ’ [12] không phản ánh được tư duy đổi mới trong lĩnh vực pháp luật dân sự là tôn trọng sự thoả thuận của các bên khi tham gia giao dịch dân sự. Khi tham gia giao dịch dân sự, các bên được tự do, tự nguyện thể hiện ý chí trong việc cam kết, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Trường hợp bên có nghĩa vụ dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc thoả thuận về giá trị tài sản bảo đảm và tổng nghĩa vụ được bảo đảm là việc (quyền) của các bên, các bên có thể thoả thuận tổng nghĩa vụ được bảo đảm lớn hơn, bằng hoặc thậm chí nhỏ hơn giá trị tài sản bảo đảm. Thực tiễn cũng chỉ ra rằng, trong nhiều trường hợp, khi xác lập giao dịch bảo đảm, tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm nhưng khi xử lý tài sản bảo đảm thì giá trị tài sản bảo đảm lại nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm (do thị trường, tài sản tiêu hao tự nhiên…), khi này phần nghĩa vụ còn lại sau khi được thanh toán từ tiền xử lý tài sản bảo đảm vẫn sẽ do bên có nghĩa vụ phải thực hiện, nếu không thực hiện thì các tài sản khác của bên có nghĩa vụ vẫn có thể bị phát mại để bảo đảm lợi ích của bên có quyền [13]. Việc nhà làm luật lo lắng thay cho các lợi ích của bên nhận bảo đảm là không cần thiết, không thể hiện tinh thần bình đẳng của các bên trước pháp luật. Bên cạnh đó, khi xảy ra tranh chấp, việc xác định căn cứ pháp lý để áp dụng pháp luật sẽ khó khăn vì đứng trước nhiều trở ngại: việc định giá tài sản; việc bảo quản, giữ gìn tài sản bảo đảm…( giả sử nhà ở được định giá 2 tỷ, bảo đảm cho hợp đồng vay 1.4 tỷ, khi chưa hết hạn hợp đồng vay, bên bảo đảm yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch bảo đảm vô hiệu vì giá trị nhà ở được định giá cao hơn nghĩa vụ vì khi định giá đã tính bao gồm cả quyền sử dụng đất. Căn cứ Điều 114 Luật Nhà ở, Điều 122 BLDS, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố giao dịch bảo đảm vô hiệu. Hệ quả là, ‘khoản nợ’ kể trên trở thành ‘khoản nợ’ không có bảo đảm).

Nghiên cứu các quy định của BLDS, chúng ta thấy tư tưởng pháp lý tôn trọng sự thoả thuận của các bên đã được thể hiện rất rõ trong vấn đề này và đây là một điểm tiến bộ của BLDS 2005 so với BLDS 1995 với quy định tại Điều 324 BLDS :’một tài sản có thể được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác’. Chi tiết hoá Điều này, Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định:’ trường hợp bên bảo đảm dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 324 Bộ luật dân sự thì các bên có thể thoả thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có quy định khác’. Tiếc rằng, tư tưởng pháp lý này không được thể hiện nhất quán trong hệ thống pháp luật Việt Nam[14].

Thứ hai : chủ thể được nhận thế chấp quyền sử dụng đất, nhà ở.

BLDS không hạn chế về chủ thể nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, điểm d Khoản 2 Điều 110 Luật Đất đai lại quy định chỉ có tổ chức tín dụng mới được nhận thế chấp quyền sử dụng đất, đặc biệt hơn Điều 114 Luật Nhà ở quy định nhà ở chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng. Khó có thể lý giải một cách thấu đáo việc đất đai thuộc sở hữu nhà nước – cá nhân chỉ có quyền sử dụng đất nhưng có thể thế chấp quyền sử dụng đất tại nhiều tổ chức tín dụng trong khi nhà ở thuộc sở hữu cá nhân lại bị hạn chế chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, có lẽ Điều 114 Luật Nhà ở chỉ áp dụng được đối với dạng nhà ở không gắn liền với quyền sử dụng đất (ví dụ nhà chung cư), đối với nhà ở gắn liền với đất, chủ sở hữu nhà ở chỉ cần làm thủ tục thế chấp quyền sử dụng đất ở (và các tài sản gắn liền với đất) thì việc thế chấp tại nhiều tổ chức tín dụng lại được chấp nhận [15].

Chúng tôi cho rằng các quy định của Luật Đất đai, Luật Nhà ở nêu trên không còn phù hợp với tình hình hội nhập quốc tế hiện nay, tạo sự bất bình đẳng giữa tổ chức tín dụng với các tổ chức kinh tế khác (thậm chí là cá nhân) trong việc thiết lập các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự và do vậy vô hình chung hạn chế giao dịch dân sự có tính rủi ro, nhất là các hợp đồng vay. Sự thiếu thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện sự tư duy quản lý ‘bó buộc’ nhưng không chặt chẽ, tạo kẽ hở trong việc áp dụng. Trong thời gian tới cần thiết phải sửa đổi các quy định này [16].

3. Đăng ký giao dịch bảo đảm

Về nguyên lý, các giao dịch dân sự có thể được thiết lập dưới nhiều hình thức khác nhau (bằng hành vi cụ thể, bằng lời nói hoặc bằng văn bản, kể cả thông qua phương tiện điện tử), trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Đối với giao dịch bảo đảm, không phải tất cả các giao dịch đều phải đăng ký. Nhìn chung, việc đăng ký giao dịch bảo đảm có nhiều ý nghĩa :

+1. Trong trường hợp đăng ký là yêu cầu, là điều kiện để giao dịch có hiệu lực bắt buộc thì việc đăng ký là một điều kiện về hình thức để giao dịch bảo đảm có hiệu lực pháp luật.

+2. Đăng ký giao dịch bảo đảm thể hiện sự minh bạch của quá trình ‘lưu thông’ tài sản.

+3. Đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý giao dịch bảo đảm.

Theo quy định của pháp luật, việc đăng ký giao dịch bảo đảm bắt buộc trong các trường hợp sau :

– Thế chấp quyền sử dụng đất

– Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.

– Thế chấp tàu bay, tàu biển

– Thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

– Các trường hợp khác do pháp luật quy định

(Khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP)

Đối với các giao dịch bảo đảm không thuộc các trường hợp trên được đăng ký khi cá nhân, tổ chức có yêu cầu.

Nghiên cứu, so sánh các quy định hiện hành có liên quan đến giao dịch bảo đảm, chúng tôi thấy trong việc đăng ký giao dịch bảo đảm có sự không thống nhất giữa các quy định và cũng chính từ sự không thống nhất này, trong quá trình thực thi không tránh khỏi những vướng mắc mà bản thân đối tượng được áp dụng không thể giải quyết được, thể hiện ở hai vấn đề sau:

Vấn đề 1: theo quy định của Luật Nhà ở, hợp đồng thế chấp nhà không phải đăng ký. Nếu chỉ xét trong một đạo luật (Luật Nhà ở) thì có thể thấy được sự thống nhất về nội dung với quy định ‘chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng’. Do vậy, vấn đề thứ tự ưu tiên thanh toán từ tài sản thế chấp sẽ không đặt ra, tính minh bạch của tài sản được bảo đảm. Tuy nhiên, nhìn tổng thể trong hệ thống pháp luật, dễ dàng thấy được nhược điểm của quy định đó, sự thiếu thống nhất trong hệ thống pháp luật. Và có lẽ các quy định về nhà ở, một lần nữa lại chỉ có thể áp dụng được đối với nhà ở không gắn liền với quyền sử dụng đất. Đối với nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất, thật khó có thể chấp nhận giải pháp là nếu thế chấp nhà không phải đăng ký, nếu thế chấp đất (gắn liền với nhà) thì phải đăng ký. Bên cạnh đó, trường hợp thế chấp nhà để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ (cho dù thế chấp cho một tổ chức tín dụng) theo Luật Nhà ở, không phải đăng ký nhưng theo BLDS và Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì phải đăng ký.

Xét về tính ưu tiên trong việc áp dụng, nhận thấy là nếu chỉ thế chấp nhà (không gắn liền với quyền sử dụng đất) thì sẽ áp dụng Luật Nhà ở, không cần phải đăng ký. Nếu thế chấp nhà (gắn liền với quyền sử dụng đất) thì phải đăng ký giao dịch bảo đảm. Nhưng như vậy, vô hình chung có hai chế độ pháp lý đối với hai loại nhà khác nhau mà tiêu chí phân biệt là sự gắn liền với quyền sử dụng đất, một sự phân biệt không được liệt kê, không được chỉ ra chính thức trong bất cứ một văn bản quy phạm pháp luật nào và cũng không có cơ sở lý luận cho việc phân loại này.

Vấn đề 2:  thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm.

Việc đăng ký thế chấp nhà ở được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT và Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT [17].

 Theo đó, việc thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở gắn  liền với đất được ghi vào trang 4 (trang cuối cùng) trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều đó thể hiện sự minh bạch hoá quá trình dịch chuyển quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, khi tham gia các giao dịch bảo đảm, các bên (đặc biệt là bên nhận bảo đảm) có thể đánh giá được tình trạng của tài sản (đã được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác chưa, đã được giải chấp chưa…). Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ), giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở còn được cấp theo quy định tại Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại đô thị, Nghị định 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng, Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 6/9/2006 của Chính phủ quy định thi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Trong các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo các Nghị định trên, không có trang thể hiện sự dịch chuyển quyền sở hữu nhà ở. Do vậy, trong trường hợp các bên có yêu cầu, việc đăng ký thế chấp nhà ở sẽ được đăng ký nhưng việc ghi nhận nó sẽ không được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và không có cách nào khác hơn, để tìm hiểu về tình trạng pháp lý của nhà ở, các bên tham gia giao dịch về nhà ở sẽ phải đến văn phòng đăng ký để tìm hiểu [18]. Tình trạng này cũng tạo ra hai hệ thống giấy tờ về đăng ký thế chấp nhà ở khác nhau.   

Chúng tôi cho rằng, trước mắt cần nhanh chóng có một văn bản quy phạm pháp luật (có thể dưới dạng Thông tư liên tịch) hướng dẫn việc đăng ký thế chấp nhà ở (diện được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà theo Nghị định 60, Nghị định 95 và Nghị định 90 kể trên) và tương lai cần thống nhất các quy định về nhà ở, đất đai, các công trình xây dựng khác cũng như các tài sản gắn liền với đất khác thành một chế độ pháp lý với bất động sản.       

4. Thứ tự ưu tiên thanh toán

Điều 325 BLDS quy định :’Thứ tự ưu tiên thánh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định như sau:

1. Trong trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký thì việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo thứ tự đăng ký;

2. Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, có giao dịch bảo đảm không đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh toán;

3. Trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà các giao dịch bảo đảm đều không có đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm’.

Chi tiết hoá điều này, Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định: Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm được xác định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật dân sự ; Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản có quyền thoả thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền; Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho các bên nhận bảo đảm có cùng thứ tự ưu tiên thanh toán thì số tiền đó được thanh toán cho các bên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm’ (Điều 6)

Như vậy, thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định chủ thể được ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm. Vấn đề là, không phải giao dịch bảo đảm nào cũng phải đăng ký[19]. Trường hợp sử dụng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự với nhiều chủ thể và thứ tự đăng ký không đúng với thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm thì việc lựa chọn phương án giải quyết cũng có nhiều quan điểm. Ví dụ: A thế chấp cho B tài sản X, sau đó A lại đem X cầm cố cho C, hai giao dịch bảo đảm này lại không bắt buộc phải đăng ký. Sau khi nhận cầm cố, C đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký. Khi xử lý tài sản cầm cố, có nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm 1: trong trường hợp này bên cầm cố không thông báo việc tài sản cầm cố đã được thế chấp trước đó, như vậy vi phạm nghĩa vụ thông báo về quyền của người thứ ba đối với tài sản cầm cố được quy định tại Khoản 2 Điều 330 BLDS và do đó, bên nhận cầm cố có hai lựa chọn : huỷ hợp đồng cầm cố hoặc duy trì hợp đồng cầm cố và chấp nhận quyền của người thứ 3 đối với tài sản cầm cố[20]. Hệ quả là: khi xử lý tài sản bảo đảm, quyền của bên nhận thế chấp được ưu tiên, bao gồm cả quyền ưu tiên thanh toán trước.

Quan điểm 2: quyền của người thứ 3 đối với tài sản cầm cố không bao gồm quyền ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm[21].  Việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán phải tuân thủ triệt để quy định tại Điều 325 BLDS. Chúng tôi tán thành quan điểm này[22].      

Bên cạnh đó, chúng tôi thấy rằng việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản cầm cố như theo quy định tại Điều 325 BLDS và Điều 6 Nghị định 163/2006/NĐ-CP chỉ áp dụng trong phạm vi các chủ thể là bên nhận bảo đảm. Trường hợp xuất hiện các chủ thể khác như : chủ sở hữu tài sản bị bên bảo đảm dùng tài sản của mình làm tài sản bảo đảm, chủ thể đang cầm giữ tài sản bảo đảm dựa trên một hợp đồng dân sự hoặc chi phí phát sinh từ việc xử lý tài sản cầm cố thì thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ thuộc về các chủ thể đó[23], và với hệ thống quy định này, đối với một người dân bình thường (không được đào tạo chuyên sâu về luật), việc xác định đúng thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm thật không dễ dàng.      

5. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Qua nghiên cứu các quy định của BLDS, Luật Đất đai, Luật Nhà ở và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, tựu chung lại có hai phương thức xử lý tài sản bảo đảm sau: do các bên thoả thuận hoặc bán đấu giá.

Việc các bên thoả thuận cũng có thể xảy ra theo các cách thức: bán tài sản (tự bán hoặc uỷ quyền cho người thứ 3 bán); bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản bảo đảm ; bên nhận bảo đảm nhận tiền hoặc tài sản (trường hợp thế chấp quyền đòi nợ); phương thức khác do các bên thoả thuận.

Vấn đề là: sự thoả thuận của các bên được xác định tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm hay thời điểm xử lý tài sản bảo đảm, đặc biệt trong trường hợp một tài sản dùng để bảo đảm nhiều nghĩa vụ dân sự và phương thức xử lý tài sản bảo đảm được thoả thuận khác nhau.

Ví dụ : A thế chấp cho B tài sản X để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thoả thuận nếu đến thời hạn trở nợ A không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì tài sản bảo đảm thuộc về B. Sau đó A đem tài sản đó thế chấp tiếp cho C cũng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thoả thuận đến thời hạn trở nợ A không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì tài sản bảo đảm được đem bán đấu giá để C thu hồi nợ.

Trường hợp A vi phạm nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến phải xử lý tài sản bảo đảm thì sự thoả thuận nào được công nhận. Nếu tuân theo sự thoả thuận của A-B thì sự thoả thuận của A-C không còn nữa (vì không còn tài sản), khoản nợ của C trở thành khoản nợ không bảo đảm ; nếu tuân theo sự thoả thuận của C thì sự thoả thuận của A-B ‘vô hiệu’; nếu yêu cầu các bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm (A-B-C) thoả thuận lại vào thời điểm xử lý thì các thoả thuận trước đó của họ sẽ ‘vô hiệu’. Lựa chọn phương án nào cũng không đạt được sự ‘tận cùng’ của sự hợp lý. Xét về luật thực định, các nhà làm luật đã lựa chọn phương án ‘theo sự thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm’ [24]. Chúng tôi không nhất trí với phương án này mà cho rằng cần tuân theo sự thoả thuận giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có thứ tự ưu tiên thanh toán cao nhất.     

Trên đây là một số ý kiến về giao dịch bảo đảm trong hệ thống pháp luật hiện hành. Hy vọng rằng, thời gian tới, hệ thống pháp luật dân sự nói chung, các quy định về giao dịch bảo đảm nói riêng sẽ có sự thống nhất, ổn định, phản ánh đúng tính chất quan hệ dân sự trong nền kinh tế thị trường./.  

ThS. Nguyễn Văn Mạnh

Ban Xây dựng pháp luật – Văn phòng Chính phủ


[1] Trong một số quan hệ pháp luật dân sự đặc thù (tặng cho, thừa kế…) quyền và nghĩa vụ không mang tính chất tương ứng (một bên có quyền, một bên có nghĩa vụ). 

[2] Điều 323 BLDS:”Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”.  

[3] Theo quy định tại Điều 122 BLDS, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện: người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

[4] Trong Bộ luật Dân sự 1995, tín chấp chỉ là một hình thức bảo lãnh (gọi là bảo lãnh bằng tín chấp của các tổ chức chính trị -xã hội) được quy định tại Điều 376. 

[5] Điều 163 BLDS quy định: ‘Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.

[6] Trong thực tiễn, khó có trường hợp nào chủ thể dùng các tài sản thuộc dạng này làm tài sản bảo đảm nếu không phải thuộc sở hữu của mình. Tuy nhiên, chúng tôi đang bàn về khía cạnh pháp lý của vấn đề.

[7] Điểm khác biệt giữa hai biện pháp này là sự chuyển giao tài sản (cầm cố) và không chuyển giao ( thế chấp).

[8] Bình luận những nội dung mới của BLDS 2005 – NXB Tư pháp 2005, tr 163.

[9] Thực tiễn khó xảy ra vì khi phải xứ lý tài sản cầm cố sẽ rất khó khăn, nếu tách rời tài sản đó ra khỏi đất, giá trị của tài sản sẽ giảm sút nghiêm trọng. Bên nhận bảo đảm khó có thể chấp nhận những tài sản thuộc dạng này là tài sản bảo đảm. 

[10] Điều 90 Luật nhà ở quy định:’Giao dịch về nhà ở gồm các hình thức mua bán, cho thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ và uỷ quyền quản lý nhà ở’.

[11] Bộ luật dân sự được thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006; Luật Nhà ở được thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ ngày 01/7/2006. 

[12] Điều 114 Luật Nhà ở

[13] Tất nhiên, khi này thứ tự ưu tiên thanh toán của bên có quyền không còn nữa.

[14] Có lẽ, khi soạn thảo Luật Nhà ở, cơ quan có thẩm quyền lo lắng về vấn đề lừa đảo sẽ phát sinh trong các giao dịch về nhà ở chăng. Chúng tôi cho rằng sự lo lắng này hoàn toàn không cần thiết và cũng không mang nhiều ý nghĩa. 

[15] Đối với vấn đề này, có hai quan điểm:

Quan điểm 1: Căn cứ  Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở ‘trường hợp có sự khác nhau của Luật này với pháp luật có liên quan về sở hữu nhà ở, phát triển, quản lý việc sử dụng, giao dịch về nhà ở và quản lý nhà nước về nhà ở thì áp dụng quy định của Luật này ‘, do vậy trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất có nhà ở thì phải tuân theo quy định của Luật Nhà ở, chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng.

Quan điểm 2 : Không áp dụng Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở mà áp dụng Điều 716 BLDS, Điều 110 Luật Đất đai, Khoản 7 Điều 93 Luật Nhà ở, theo đó áp dụng các quy định của BLDS về thế chấp quyền sử dụng đất là tài sản gắn liền với đất- và do vậy sẽ được thế chấp ở nhiều tổ chức tín dụng. Chúng tôi nhất trí với quan điểm này.   

[16] Những điểm trao đổi trên khiến nhận định ‘tránh khó khăn khi phân biệt động sản, bất động sản và đơn giản hoá các quy định về cầm cố, thế chấp’có lẽ ‘vẫn chỉ là ước mơ’.

[17] Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, Thông tư lien tịch 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05.

[18] Thật tiếc rằng, cho đến thời điểm hiện nay, việc đăng ký thế chấp nhà ở được thực hiện ở đâu cũng là một câu hỏi không dễ trả lời (hiện chỉ có hệ thống văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thực thiện theo Thông tư lien tịch 05 nói trên. Về mặt thực tiễn, TP Hồ Chí Minh có sáng kiến lập trang bổ sung trên các loại giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu nhà theo Nghị định 60, Nghị định 95/2005/NĐ-CP và Nghị định 90/2006/NĐ-CP nêu trên, nhưng việc lập trang bổ sung này vượt thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân TP.HCM, do vậy, sáng kiến này khó được chấp nhận.

[19] Các trường hợp phải đăng ký giao dịch bảo đảm, chúng tôi đã trình bày ở phần trên.

[20] Xem Khoản 1 Điều 330 BLDS. Có lẽ bên nhận cầm cố sẽ không bao giờ lựa chọn phương thức huỷ hợp đồng cầm cố vì việc huỷ hợp đồng cấm cố không làm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng chính theo quy định tại Khoản 2 Điều 410 BLDS. Do vậy, nếu huỷ hợp đồng cầm cố, nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng chính vẫn tồn tại và trở thành nghĩa vụ dân sự không có bảo đảm. 

[21] Có lẽ chỉ là các quyền như : yêu cầu bảo quản, giữ gìn tài sản bảo đảm ; yêu cầu đưa tài sản bảo đảm ra xử lý khi đến hạn thực hiện thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. 

[22] Trong thực tiễn, khó có trường hợp nào đã đem tài sản cầm cố, sau đó lại đem tài sản đi thế chấp (vì tính chất của cầm cố là bắt buộc phải giao tài sản cho bên nhận cầm cố). Do vậy, ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến trường hợp đã dùng tài sản để thế chấp, sau đó lại dùng tài sản đó để cầm cố.  

[23] Tất nhiên, các chủ thể này phái đáp ứng điều kiện do pháp luật quy định-xem Điều 13, 21 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ; Điều 338, 355 BLDS.

[24] Khoản 2 Điều 58 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định :’Trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật’. Cơ sở pháp lý của quy định này là Khoản 3 Điều 323 BLDS:’…Trong trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản.’

——————————-

SOURCE: TRANG WEB CHÍNH PHỦ

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH

Hà Nội, ngày tháng 6 năm 2007

Dự thảo cuối, ngày 20/6/2007

NGHỊ ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH

Chính phủ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Điều 36 Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế;

Nghị định

Chương I

quy định chung

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác.

2. Nghị định này áp dụng với các tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Khuyết tật bẩm sinh về giới tính là những bất thường ở bộ phận sinh dục của một người ngay từ khi mới sinh ra, biểu hiện ở một trong các dạng như nữ lưỡng giới giả nam, nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật.

2. Giới tính chưa được định hình chính xác là những trường hợp chưa thể phân biệt được một người là nam hay nữ xét về cả bộ phận sinh dục và nhiễm sắc thể giới tính.

3. Gen biệt hoá tinh hoàn là gen mã hoá yếu tố xác định tinh hoàn nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể Y mà nếu xét nghiệm cho kết quả dương tính thì đó chính là yếu tố của sự phát triển, hình thành tinh hoàn có biểu hiện cho nam giới.

Điều 3. Nguyên tắc xác định lại giới tính

1. Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình.

2. Việc xác định lại giới tính phải được tiến hành trên nguyên tắc tự nguyện, khách quan, trung thực và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đã xác định lại giới tính.

3. Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người được xác định lại giới tính, trừ trường hợp có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ phục vụ cho việc kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố và xét xử liên quan đến việc xác định lại giới tính.

Điều 4. Hành vi bị nghiêm cấm

1. Thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính.

2. Thực hiện việc xác định lại giới tính khi chưa được phép của Bộ Y tế hoặc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trực thuộc trung ương theo quy định tại Điều 8 của Nghị định này.

3. Tiết lộ thông tin về việc xác định lại giới tính của người khác.

4. Phân biệt đối xử đối với người đã xác định lại giới tính.

Chương II

Tiêu chuẩn y tế để xác định lại giới tính

Điều 5. Tiêu chuẩn y tế xác định khuyết tật bẩm sinh về giới tính

1. Nữ lưỡng giới giả nam

a) Bộ phận sinh dục có âm vật phát triển như dương vật nhưng không sờ thấy tinh hoàn, siêu âm hoặc nội soi thấy có tử cung, buồng trứng, không thấy tinh hoàn;

b) Nhiễm sắc thể giới tính là XX.

2. Nam lưỡng giới giả nữ

a) Bộ phận sinh dục có dương vật nhỏ, có thể sờ thấy tinh hoàn hoặc không, siêu âm hoặc nội soi thấy tinh hoàn, không có tử cung và buồng trứng.

b) Nhiễm sắc thể giới tính là XY hoặc gen biệt hóa tinh hoàn dương tính hoặc kết hợp cả hai trường hợp trên;

3. Lưỡng giới thật

a) Bộ phận sinh dục không xác định được là nam hay nữ. Tuyến sinh dục có cả tổ chức tinh hoàn, buồng trứng;

b) Nhiễm sắc thể giới tính có thể là một trong các dạng XX/XY; xxx/xy; xx/xxxy hoặc các dạng nhiễm sắc thể khác được xác định là lưỡng giới thật.

Điều 6. Tiêu chuẩn y tế xác định giới tính chưa được định hình chính xác

Nhi?m s?c thể giới tính có thể giống như trường hợp nữ lưỡng giới giả nam hoặc nam lưỡng giới giả nữ hoặc lưỡng giới thật nhưng bộ phận sinh dục chưa được biệt hoá hoàn toàn và không thể xác định chính xác là nam hay nữ.

Chương III

quy trình can thiệp y tế để xác định lại giới tính

Điều 7. Hồ sơ, thủ tục về y tế đề nghị xác định lại giới tính

1. Hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính bao gồm:

a) Đơn đề nghị xác định lại giới tính theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. Trường hợp xác định lại giới tính cho người chưa đủ 06 tuổi cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải có đơn đề nghị; trường hợp xác định lại giới tính cho người từ đủ 06 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì trong đơn đề nghị phải có chữ ký của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó;

b) Bản sao hợp lệ Giấy khai sinh và Chứng minh nhân dân hoặc sổ hộ khẩu hoặc hộ chiếu.

2. Thủ tục đề nghị xác định lại giới tính:

a) Người đề nghị xác định lại giới tính gửi hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính;

b) Sau khi tiếp nhận hồ sơ, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải xem xét và trả lời bằng văn bản cho người đề nghị xác định lại giới tính trong thời gian 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn. Nếu không chấp nhận thì phải nêu rõ lý do bằng văn bản.

Điều 8. Điều kiện đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:

1. Có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tổ chức và nhân sự theo qui định của Bộ trưởng Bộ Y tế;

2. Được Bộ Y tế thẩm định và cho phép bằng văn bản đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế; được Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thẩm định và cho phép bằng văn bản đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của y tế ngành, y tế tư nhân thuộc địa bàn quản lý.

Điều 9. Khám lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị để xác định lại giới tính

1. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị xác định lại giới tính cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức việc khám lâm sàng, cận lâm sàng để xác định lại giới tính:

a) Khám lâm sàng:

– Ngoại hình;

– Bộ phận sinh dục ngoài và trong;

– Tâm lý: các trắc nghiệm về tâm lý giới tính;

b) Cận lâm sàng:

Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà các nhà chuyên môn có thể chỉ định các phương pháp cận lâm sàng sau:

– Xét nghiệm nội tiết tố;

– Siêu âm, X quang, nội soi, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ;

– Xét nghiệm nhiễm sắc thể giới tính;

– Sinh thiết xác định tuyến sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng.

2. Sau khi có kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tổ chức hội chẩn với sự tham gia của các nhà chuyên môn để có chỉ định phù hợp trong việc điều trị xác định lại giới tính.

3. Điều trị xác định lại giới tính:

a) Trên cơ sở đề nghị của người xác định lại giới tính, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sẽ lựa chọn giới tính để có phương pháp điều trị thích hợp, bảo đảm nguyên tắc khi ở giới tính đó bệnh nhân có thể hoà nhập cuộc sống về tâm sinh lý và xã hội một cách tốt nhất.

b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định tuổi để phẫu thuật, bảo đảm ở lứa tuổi sớm nhất.

c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định phẫu thuật và điều trị nội tiết sau phẫu thuật.

Điều 10. Chứng nhận y tế sau khi can thiệp y tế xác định lại giới tính

1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã thực hiện việc can thiệp y tế xác định lại giới tính cấp giấy chứng nhận y tế sau khi đã xác định lại giới tính cho người đã được can thiệp y tế.

2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định mẫu giấy chứng nhận y tế đã xác định lại giới tính.

Chương IV

Đăng ký hộ tịch sau khi đã xác định lại giới tính

Điều 11. Căn cứ để đăng ký hộ tịch sau khi đã xác định lại giới tính

Giấy chứng nhận y tế quy định tại khoản 1 Điều 10 của Nghị định này là căn cứ để đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính.

Điều 12. Cấp giấy chứng nhận y tế cho các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực.

Các trường hợp đã xác định lại giới tính ở nước ngoài hoặc đã thực hiện ở Việt Nam trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu muốn đăng ký lại hộ tịch thì phải có giấy xác nhận đã xác định lại giới tính của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và đến các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 8 của Nghị định này để được khám kiểm tra và cấp giấy chứng nhận y tế.

Điều 13. Trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính

Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Điều 14. Thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính

Thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch cho người đã được xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký hộ tịch.

Chương V

Điều khoản thi hành

Điều 15. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 16. Trách nhiệm hướng dẫn thi hành:

1. Bộ trưởng Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành quy định điều kiện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép can thiệp y tế để xác định lại giới tính, mẫu đơn đề nghị xác định lại giới tính, mẫu giấy chứng nhận y tế đã xác định lại giới tính.

2. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn đăng ký hộ tịch để xác định lại giới tính.

Điều 17. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. /.

Nơi nhận:

– Ban Bí thư Trung ương Đảng;

– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– VP BCĐ TW về phòng chống tham nhũng;

– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

– Văn phòng Chủ tịch nước;

– Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội;

– Văn phòng Quốc hội;

– Toà án nhân dân tối cao;

– Viện kiểm soát nhân dân tối cao;

– Kiểm toán Nhà nước;

– UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

– VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ, Ban điều hành 112, Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

-Lưu: Văn thư, VX (5b).

tm. Chính phủ

Thủ tướng

MỘT SỐ YẾU TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN CƠ CHẾ XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VIỆT NAM

Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trước hết phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các yêu cầu của  giai đoạn mới – giai đoạn phát triển dân chủ và hội nhập kinh tế quốc tế.

Khi nói đến pháp luật ở Việt Nam, chúng ta thường có quan niệm: pháp luật nước ta chưa đi vào thực tiễn, chưa phản ánh hết các quan hệ kinh tế – xã hội. Hay nói cách khác, các quy phạm pháp luật chưa điều chỉnh toàn diện các quan hệ xã hội mà người dân mong muốn. Chúng ta đang chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, nhưng các yếu tố của kinh tế thị trường lại chưa được các quy định của pháp luật điều chỉnh (hoặc nếu có thì rất chậm như trong lĩnh vực đầu tư, đổi mới doanh nghiệp, cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, tổ chức bộ máy…). Điều này cũng dễ hiểu vì các lý do sau đây:

– Chưa có một tư duy mới về xây dựng pháp luật hiện đại, đặc biệt là định hướng tư tưởng chính sách cho việc xây dựng pháp luật;

– Quá trình xây dựng các văn bản còn cục bộ, bản vị, kéo lợi thế về bộ ngành( là cơ quan chủ trì), đẩy khó khăn cho các bộ, nghành khác;

– Việc phối kết hợp trong xây dựng pháp luật giữa các chủ thể tham gia xây dựng pháp luật chưa tốt, đặc biệt là việc tham gia ý kiến của các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các văn bản;

– Thiếu thông tin khoa học trong xây dựng pháp luật;

– Trình độ xây dựng (kỹ thuật xây dựng pháp luật) của cán bộ, công chức thấp;

– Kinh phí cho việc xây dựng pháp luật không đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật;

– Kiểm tra việc thực hiện pháp luật chưa tốt v.v…

Có thể liệt kê ra nhiều lý do, nhưng nói theo khía cạnh xây dựng pháp luật, chúng ta chưa có một cơ chế xây dựng và hoàn thiện pháp luật một cách khoa học nhằm bảo đảm tính khả thi của pháp luật.

Qua nghiên cứu và thực tiễn xây dựng pháp luật, chúng tôi cho rằng, có một số yếu tố tác động trực tiếp đến cơ chế xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay, cụ thể là ảnh hưởng đến các bước, các giai đoạn của quá trình xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật (từ khâu định hướng tư tưởng chính sách đến xây dựng và đưa pháp luật vào đời sống).

1. Về định hướng xây dựng pháp luật

Mỗi một văn bản quy phạm pháp luật khi được chủ thể có thẩm quyền ban hành cần hướng tới một mục đích nhất định (đạo luật ra đời nhằm mục đích gì, giải quyết các vấn đề gì trong thực tiễn?…). Như vậy, cần phải có một bộ phận hoạch định chính sách (cần có tư duy chiến lược). Về vấn đề này, chủ thể thực hiện không ai khác là các chính khách, các chiến lược gia (ở Chính phủ là các thành viên Chính phủ). “Không có Chính phủ nào thụ động ngồi chờ các quy luật mà phải tác động vào quy luật để định hướng có lợi cho hoạt động của Chính phủ mình”.[1] Ở nước ta, nhiều chủ thể xây dựng pháp luật, nhưng cần xác định chủ thể nào là chính trong định hướng xây dựng pháp luật. Theo chúng tôi, hiện nay, trên 90% các dự án luật do Chính phủ trình Quốc hội, các văn bản dưới luật cũng chủ yếu do Chính phủ ban hành, do đó, định hướng này nên giao cho Chính phủ. Chính phủ cần có tư duy chiến lược trong xây dựng pháp luật và có đầy đủ cơ chế phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị xã hội trong việc định hướng xây dựng pháp luật.

2. Về lập chương trình xây dựng pháp luật

Trong điều kiện hiện nay, cần có chương trình xây dựng pháp luật theo  từng thời gian (dài hạn, ngắn hạn và hàng quý, tháng). Chương trình này chỉ được lập theo từng cấp thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ, các chủ thể sáng kiến pháp luật khác). Trong đó, chương trình của Chính phủ do các Bộ, ngành (hoạch định chính sách) đề xuất. Khi đề xuất, phải chú ý đến tính khả thi, dự báo đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội và dự báo tác động của các chế định khi được ban hành. Chương trình phản ánh định hướng xây dựng pháp luật, do đó cần phải thực hiện nghiêm túc tiến độ và chất lượng. Cần kiên quyết đưa ra khỏi Chương trình những dự án, dự thảo không bảo đảm chất lượng (bao gồm cả tính khả thi của dự án, dự thảo). Qua thực tiễn cho thấy, Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là khâu tiên quyết cho quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Nếu không có Chương trình thật sự khoa học thì việc định hướng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật bởi các chủ thể khác nhau sẽ bị chệch hướng và không bảo đảm tính khả thi.

3. Về quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay chúng ta đã có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (cả ở Trung ương và địa phương). Tuy nhiên, tính khả thi và chất lượng của dự án, dự thảo phụ thuộc nhiều vào quy trình ban hành, soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật. Theo các quy định pháp luật hiện hành, quy trình ban hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là 23 bước. Mỗi bước lại có những quy định cụ thể rất phức tạp không cần thiết (Chẳng hạn, theo quy định hiện hành cần phải thẩm định, thẩm tra của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ hoặc quy định Ban soạn thảo bao gồm các nhà quản lý của các Bộ, ngành. Trong quá trình soạn thảo, các thành viên của Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, các Bộ, ngành được mời là thành viên Ban soạn thảo. Vậy có cần thiết phải thực hiện thủ tục thẩm định, thẩm tra, xin ý kiến của các Bộ, ngành này v.v…)

Quy trình xây dựng là cần thiết, nên tập trung vào những khâu, giai đoạn quan trọng, không nên quá câu nệ vào hình thức mà bỏ khâu nội dung. Theo chúng tôi, để có hiệu quả, quy trình cần tập trung:

– Thành lập Ban soạn thảo (bao gồm các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà khoa học của các cơ quan, tổ chức có liên quan); thành lập Tổ biên tập gồm các chuyên gia giỏi ở các Bộ, ngành , trường đại học, viện nghiên cứu có liên quan đến chuyên môn và luật học.

– Đánh giá các quan hệ xã hội mà các quy phạm (dự kiến) sẽ điều chỉnh (cần sử dụng phương pháp xã hội học, so sánh pháp luật…để tham khảo các ý kiến cần thiết); đồng thời, tổng kết thực tiễn các hoạt động liên quan đến các quy phạm đã có (trong trường hợp sửa đổi, bổ sung) hoặc chưa có pháp luật điều chỉnh nhưng đã có tiền lệ hoặc các tranh chấp xã hội đã phát sinh… Ví dụ, các quy định của Dự án Luật Hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Trưng cầu ý dân… đều có kiến nghị lùi việc đưa ra xem xét vì tính khả thi và dự báo tác động thấp.

– Lấy ý kiến nhân dân, các đối tượng chịu sự tác động của các văn bản quy phạm pháp luật nhằm công khai, minh bạch hoá chính sách, đồng thời tiếp nhận các phản hồi (cả tiêu cực và tích cực) đối với dự án, dự thảo. Hiện nay, chúng ta có quy định này trong luật, các văn bản dưới luật (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định số 161/NĐ-CP ngày 25/12/2005). Tuy nhiên, việc triển khai các quy định trong thực tiễn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là nhận thức của các cơ quan chủ trì soạn thảo về các nội dung cần xin ý kiến và tiếp thu ra sao (Chúng ta chưa có cơ chế tiếp thu – giải trình khi lấy ý kiến nhân dân).

– Trình các dự án, dự thảo. Điểm mấu chốt của việc trình không phải là các thủ tục mà là trình bày các quan điểm khác nhau trong quá trình soạn thảo và quyết định các nội dung đưa vào trong các dự án, dự thảo. Hiện nay có tình trạng, các cơ quan trình các ý kiến khác nhau theo hướng “đá bóng” đến cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc cố giữ lại các quan điểm cục bộ, bảo vệ ngành, lĩnh vực mình mà không có lập luận khách quan để thuyết trình các vấn đề cần trình (đôi khi dự án, dự thảo lại phải quay về từ đầu). Tức là, cần đề cao vai trò của Ban soạn thảo trong việc trình các dự án, dự thảo.

Các nội dung trên, thực chất là đòi hỏi một quy trình xây dựng pháp luật thực sự khoa học, bảo đảm tính thời gian và chất lượng của việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

4. Dự báo tác động pháp luật

Đó là dự báo tính khả thi, hiệu quả kinh tế đối với các quy định pháp luật sẽ được ban hành. Ở nước ta, việc làm này ít được chú ý. Các dự báo đánh giá trước và sau khi ban hành các văn bản là yêu cầu phát triển pháp luật ở một nước có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Đây cũng là yếu tố quan trọng tạo nên cơ chế xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Nội dung của đánh giá thường tập trung vào phân tích lợi ích chi phí, hiệu quả chi phí, đánh giá lợi ích hoặc phân tích rủi ro. Tuỳ theo tính chất, môi trường của từng lĩnh vực, ngành luật mà người ta áp dụng đánh giá trong  lĩnh vực kinh tế, văn hoá – xã hội, an ninh quốc phòng v.v… Hiện nay, một số quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước OECD đã áp dụng mô hình này vào đánh giá dự báo tác động (mô hình RIA)[2].

5. Tiếp cận thông tin hiện đại

Đây là yếu tố quan trọng để các dự án, dự thảo có chất lượng. Thông tin ở đây bao gồm 2 mặt: học tập kinh nghiệm xây dựng pháp luật của các nước có nền khoa học pháp lý tiên tiến; mặt khác, xử lý thông tin phản hồi khi lấy ý kiến và sử dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hoàn thiện cơ chế, bảo đảm tính khả thi khi xây dựng và ban hành pháp luật. Việc làm này cũng khắc phục được tính cục bộ, khép kín trong các Bộ, ngành khi xây dựng pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, cần áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình tra cứu soạn thảo, áp dụng pháp luật. Kinh nghiệm ở các nước trong khu vực như Thái lan, Singapor, hoặc Nhật bản đã sử dụng tốt và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện pháp luật có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các văn bản pháp luật.

6. Tăng cường phản biện xã hội đối với các dự án, dự thảo

Sự phản biện của các tổ chức xã hội hoặc các nhà khoa học vào lĩnh vực xây dựng pháp luật thể hiện tính hiệu quả và khả thi của pháp luật. Thời gian qua, nhiều văn bản không đi vào thực tiễn, có nhiều lý do, trong đó, lý do về sự lạc hậu của nhận thức (của các nhà làm luật) với thực tiễn cuộc sống liên tục thay đổi trong các lĩnh vực khác nhau là nguyên nhân dẫn đến tính khả thi, tác động hiệu lực của pháp luật bị hạn chế (việc kiểm tra 42 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về ưu đãi đầu tư nước ngoài là một minh chứng về sự khác biệt giữa pháp luật và thực tiễn). Tuy nhiên, phản biện về các dự án, dự thảo cần phải có một cơ chế chặt chẽ, tránh tư tưởng “nói cho được” mà không đưa ra được kiến nghị. Nên tập hợp thành các hội đoàn (đối với các tổ chức xã hội); các hội đồng khoa học (đối với các nhà khoa học) để phản biện các vấn đề liên quan đến nội dung văn bản quy phạm pháp luật cần thiết.

7. Áp dụng thí điểm hình thức “đấu thầu” đối với một số dự án, dự thảo

Đây là hình thức tương đối mới so với tư duy làm luật hiện nay. Tùy theo từng dự án, dự thảo có thể áp dụng hình thức “khoán” hoặc “đấu thầu”     theo nghĩa, có sự tham gia của các thành phần là viện khoa học, trường đại học hoặc cơ sở chuyên môn có khả năng nghiên cứu, phát hiện (chính sách) và kỹ năng soạn thảo. Đây cũng là kinh nghiệm của một số quốc gia có các tổ chức khoa học tư nhân, có điều kiện nghiên cứu, phân tích chính sách đề xuất với cơ quan có thẩm quyền ban hành pháp luật (Trung Quốc, Malaixia, Hoa kỳ).   

8. Phối kết hợp giữa các cơ quan của Chính phủ và Quốc hội trong việc xây dựng pháp luật

Đây là điều kiện đặc thù ở nước ta, trong điều kiện Quốc hội họp 1 năm 2 kỳ. Như trên đã trình bày, đa phần các dự án, dự thảo đều do Chính phủ trình và một số văn bản dưới luật theo thẩm quyền Chính phủ (Nghị định ” không đầu” theo điểm b, khoản 2, Điều 56 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật). Để xây dựng các văn bản này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan của Chính phủ và Quốc hội để đẩy nhanh tiến độ và chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

9. Về thời gian và kinh phí

Hiện nay, chúng ta chưa có sự đầu tư thích đáng về thời gian cho công tác xây dựng pháp luật. Chương trình phiên họp Chính phủ, các bộ, ngành hàng tháng cũng chưa chú trọng đặt vấn đề đưa các dự thảo văn bản ra thảo luận một cách kỹ lưỡng. Một số dự án, dự thảo còn chạy theo chương trình, không đủ thời gian để thực hiện các yêu cầu của cơ chế xây dựng pháp luật (thiếu khảo sát, đánh giá, thiếu thông tin và thời gian bàn thảo).

Kinh phí dành cho xây dựng pháp luật cũng có nhiều bất cập. Số tiền “hỗ trợ” cho công tác này chưa đủ, không tương xứng với sức lao động của các chuyên gia, các nhà khoa học. Kinh phí của cả Khoá Quốc hội chưa đầy 10 tỷ đồng cho các dự án luật, pháp lệnh; tại các Bộ, ngành thì rất hạn hẹp (thẩm tra cho 1 dự thảo nghị định là 200.000 đồng)…Thủ tục cấp kinh phí quá rườm rà, hình thức. Cần xác định việc xây dựng pháp luật chính là xây dựng chính sách. Một chính sách không đảm bảo các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội sẽ có tác hại hơn nhiều so với các nhược điểm dưới các hình thức đầu tư lãng phí, tham nhũng cụ thể tại các ngành kinh tế – xã hội. Do đó, cần đầu tư một cách cân đối kinh phí giữa việc xây dựng pháp luật với các hình thức đầu tư khác.

10. Về tổ chức bộ máy và công chức làm công tác xây dựng pháp luật

Cần kiện toàn tổ chức pháp chế tại các Bộ, ngành. Hiện nay, chúng ta đã có đến 98% các Bộ, ngành có tổ chức pháp chế. Tuy nhiên, số lượng và chất lượng của các tổ chức này chưa đáp ứng yêu cầu của công tác xây dựng pháp luật ở Bộ, ngành và Chính phủ. Một số Bộ, ngành còn xem nhẹ vị trí, vai trò của tổ chức này; mặt khác, chất lượng cán bộ, công chức trong các tổ chức pháp chế không đồng đều…

Cách đây 2 năm, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập Ban Xây dựng pháp luật với mong muốn là tổ chức xây dựng pháp luật của Chính phủ trên cơ sở ý tưởng chính sách của các Bộ, nhưng cũng do nhận thức, việc làm này chưa được thực hiện một cách triệt để. Tới đây, Ban Xây dựng pháp luật cần được củng cố lại theo hướng là cơ quan xây dựng pháp luật theo đúng vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức này nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công tác xây dựng pháp luật của Chính phủ./.

TS.Luật học- Phạm Tuấn Khải
(Phó Trưởng ban Ban Xây dựng Pháp luật- VPCP)


[1] Bret zinger.wolf. Các điều kiện hội nhập của Chính phủ các nước cộng đồng chung châu Âu. NXB Hạ xachxông 2003 (Tiếng Đức) tr.213

[2] Xem WWW. Cabinet. office.gov.ule/RIA

———————————————-

SOURCE: TRANG WEB CHÍNH PHỦ

CỔ PHẦN HÓA

BÙI TẤT THẮNG

Kể từ khi đổi mới đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: trong thời kỳ thực hiện chiến lược 10 năm 1991-2000, nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng; trong thời kỳ 5 năm đầu tiên thực hiện chiến lược 10 năm 2001-2010, nền kinh tế dường như “không chệch hướng” khỏi quỹ đạo đạt tốc độ tăng trưởng hằng năm tương đối cao. Ngoài ra còn các thành tích khá ấn tượng về ổn định kinh tế vĩ mô, về tốc độ tăng giá trị xuất khẩu hằng năm, về xóa đói giảm nghèo… Chính những thành tích đạt và vượt kế hoạch ấy đôi khi đã làm dịu đi nỗi băn khoăn về một số chỉ tiêu khác của đổi mới chưa đạt kế hoạch. Một trong số những chỉ tiêu ấy là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

1. Cổ phần hóa – tiến trình và thực trạng

Đổi mới doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận trong tổng thể công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, điều cần khẳng định trước tiên là mục tiêu của đổi mới doanh nghiệp nhà nước phải phù hợp với mục tiêu chung của toàn bộ chương trình đổi mới nền kinh tế, trong đó điều cốt lõi là nguyên tắc thị trường sẽ thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung. Theo tinh thần này, hai mục tiêu trực tiếp nổi bật của đổi mới doanh nghiệp nhà nước là nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả hơn và đảm bảo cho doanh nghiệp nhà nước góp phần cùng kinh tế nhà nước nói chung làm tốt hơn “vai trò chủ đạo” trong nền kinh tế. Trong hai mục tiêu này thì mục tiêu hiệu quả có ý nghĩa quyết định, vì suy cho cùng, doanh nghiệp nhà nước có giữ được vai trò chủ đạo hay không sẽ phụ thuộc vào tính hiệu quả của nó. Nền kinh tế không thể trông cậy vào một lực lượng được gọi là chủ đạo khi nó không có hiệu quả.

Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước trên thực tế được triển khai trên nhiều bình độ, trong đó nổi lên một xu hướng được coi là chủ lưu: đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước. Trong chương trình “đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước” thì ai cũng biết, cổ phần hóa các doanh nghiệp là một nội dung được coi là chủ yếu. Chương trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được khởi động từ đầu những năm 1990 đến nay đã làm được nhiều việc; trong đó ấn tượng nhất là số lượng doanh nghiệp nhà nước từ hơn 12 nghìn năm 1992 đã giảm xuống còn gần 2.200 (9-2006); trong đó, hơn 1.500 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, 355 doanh nghiệp quốc phòng an ninh và sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, số còn lại là các nông, lâm trường quốc doanh, với tổng số vốn nhà nước gần 260 nghìn tỷ đồng. Một phần trong số này nằm trong 105 tập đoàn và tổng công ty (trong đó 7 tập đoàn, 13 tổng công ty 91; 83 tổng công ty thuộc các bộ, ngành, địa phương và 2 tổng công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than – khoáng sản Việt Nam).

Đóng góp vào mức giảm số lượng gần 10 nghìn doanh nghiệp nhà nước từ năm 1992 đến nay, hình thức cổ phần hóa chỉ chiếm 1/4 (3.060 doanh nghiệp), còn 6.740 doanh nghiệp (3/4 số doanh nghiệp) giảm đi qua các hình thức chuyển đổi, sáp nhập và một phần không đáng kể bị giải thể.

Theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều nâng cao được hiệu quả sản xuất, kinh doanh với các mức độ khác nhau. Dựa trên báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên 1 năm cho thấy, vốn điều lệ bình quân tăng 44%, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%. Đặc biệt, có tới trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kinh doanh có lãi, nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%, thu nhập bình quân của người lao động tăng 12%, số lao động tăng bình quân 6,6%, cổ tức bình quân đạt 17,11%(1).

Báo cáo tình hình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại phiên họp thứ 43 của ủy ban Thường vụ Quốc hội (ngày 21-9-2006) nhận định:

“Qua hơn 15 năm triển khai, chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đã đạt được những hiệu quả về kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, tạo sự rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của từng thành phần sở hữu, từng cổ đông; xoá bỏ cơ chế phân phối bình quân; hình thành phương thức phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn, giảm được sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước; tạo cơ chế quản lý tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm thúc đẩy doanh nghiệp năng động hơn; tạo cơ sở pháp lý và vật chất để người lao động xác lập và nâng cao vai trò làm chủ, gắn bó máu thịt với doanh nghiệp. Kết quả nổi bật của cổ phần hoá là năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước được nâng lên đáng kể. Họ phải tự tìm kiếm cơ hội, đối tác kinh doanh, chủ động đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa các chi phí để tăng doanh thu. Cổ phần hoá cũng đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh, tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Dưới góc độ phân công lao động trong xã hội, cổ phần hoá đã thật sự giải phóng sức lao động từ chỗ đông mà không mạnh, ỷ lại, dựa dẫm, thụ động chuyển sang chủ động, tích cực hơn trong nền kinh tế nhiều thành phần với thái độ đầy đủ hơn, trách nhiệm hơn, góp phần tăng thu nhập cho xã hội, cho Nhà nước và cho người lao động”(2).

Và cũng theo đánh giá của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp nhà nước giảm nhưng vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt. Khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước(3).

Thực tiễn đó đã đủ để khẳng định, về cơ bản cổ phần hóa là một hướng đổi mới doanh nghiệp phù hợp với tiến trình đổi mới kinh tế nói chung. Nhưng, một nghịch lý đã từng tồn tại ngay từ khi công cuộc cổ phần hóa được khởi động cho đến tận nay là “Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt yêu cầu” như nhan đề của một bài viết đăng trên website của Đảng (ngày 21-9-2006). Bản báo cáo nêu rõ: những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2001, số lượng doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa tăng đáng kể, nhưng nhìn chung việc triển khai còn chậm. Số doanh nghiệp được cố phần hóa tăng nhiều, nhưng số vốn mới chiếm 12% tổng số vốn trong các doanh nghiệp nhà nước; nếu trừ đi phần vốn nhà nước còn giữ lại gần 50% trong các doanh nghiệp cố phần hóa, thì thực chất tỷ lệ trên chỉ chiếm khoảng 6%. So với mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX thì còn chậm, nhất là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Tiến độ cổ phần hóa không đồng đều giữa các bộ, ngành, địa phương; một số bộ, ngành chưa hoàn thành theo đề án đã được phê duyệt…(4).

Như vậy, tuy số lượng doanh nghiệp có thể nhiều, nhưng xét về chỉ tiêu vốn đã được cổ phần hóa thì coi như không đáng kể, thậm chí chưa xứng với một chương trình lớn ở tầm quốc gia, bởi vì cổ phần hóa dường như ít ảnh hưởng tới nguyên tắc thị trường của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng và toàn bộ cơ chế vận hành của nền kinh tế nói chung. Điều này cũng có nghĩa là, mục tiêu chính của sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước là góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ chế của nền kinh tế, làm cho nguyên tắc thị trường thay thế nguyên tắc kế hoạch hóa tập trung, vẫn chưa đạt được như mong đợi.

Chính vì vậy mà tại Hội nghị về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010 được tổ chức ngày 7-10-2006 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Nhiệm vụ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp trong 5 năm tới trọng tâm là cổ phần hóa. Mục tiêu đến năm 2010, chúng ta sẽ cơ bản cổ phần hóa xong doanh nghiệp nhà nước”. Phương án được lựa chọn để tiếp tục thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước từ nay đến 2010 là đẩy mạnh sắp xếp, cố phần hóa các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước. Theo đó, từ nay đến hết năm 2010 sẽ cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp (riêng các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty nhà nước phải hoàn thành trong năm 2008), trong đó, năm 2007 phải cổ phần hóa 550 doanh nghiệp (có khoảng 20 tổng công ty), số còn lại sẽ thực hiện trong các năm 2008-2009, một số công ty và số ít doanh nghiệp chưa cố phần hóa được thực hiện trong năm 2010. Theo kết quả này, đến cuối năm 2010, cả nước sẽ chỉ còn 554 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trong đó có 26 tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn; 178 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ thiết yếu; 200 nông, lâm trường; 150 doanh nghiệp thành viên các tập đoàn, tổng công ty nhà nước(5).

Có thể nói rằng, đây là một trong những nhiệm vụ rất khó khăn trong những năm sắp tới. Bởi vì như thực tiễn nhiều năm qua đã cho thấy, không chỉ khối lượng công việc phải tiến hành rất lớn, mà còn có thể phải đối mặt với không ít trở lực. Trong 4 năm sắp tới (2007-2010) sẽ phải cổ phần hóa 1.500 doanh nghiệp (bình quân mỗi năm cổ phần hóa 375 doanh nghiệp), riêng năm 2007 đặt kế hoạch cổ phần hóa 550 doanh nghiệp. Chỉ tiêu này tuy không cao hơn nhiều so với kế hoạch của một số năm trước, nhưng so với kinh nghiệm thực hiện nhiều năm thì rất cao. Như trên đã nêu, trong khoảng 15 năm (1992-2006), cả nước cổ phần hóa được 3.060 doanh nghiệp, tức là bình quân mỗi năm cổ phần hóa được 204 doanh nghiệp. Tất nhiên, với quyết tâm cao và kinh nghiệm đã tích lũy được, hoàn toàn có cơ sở để hoàn thành mục tiêu này, dĩ nhiên là còn cần phải có những đổi mới mạnh mẽ trong phương thức tiến hành cổ phần hóa.

Thật vậy, với cách làm như từ trước đến nay, diện mạo của tình hình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là: “quy mô doanh nghiệp được sắp xếp hoặc cổ phần hóa trong thời gian qua chủ yếu vẫn là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong tổng số doanh nghiệp được cổ phần hóa có trên 2.600 đơn vị có quy mô dưới 10 tỉ đồng. Tuy việc cố phần hóa các doanh nghiệp quy mô trên 10 tỉ đồng đã tăng lên trong các năm 2004-2005, số doanh nghiệp dưới 10 tỉ vẫn chiếm 80% tổng số được cổ phần hóa… Đáng chú ý, trong số các đơn vị đã cổ phần hóa có tới gần 1.200 đơn vị nhà nước tiếp tục giữ trên 50% vốn điều lệ, tỷ lệ này tương đương khoảng 33% nhưng hầu hết đây là những doanh nghiệp có vốn lớn.

Nhiều doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước nắm 100% vốn nhưng đã tránh cổ phần hóa bằng cách chuyển sang mô hình công ty mẹ – công ty con hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Số lượng doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ công ích còn lớn, nhưng không ít doanh nghiệp có số thu từ dịch vụ công ích dưới 20%.

Hiệu quả của quá trình sắp xếp, cổ phần hóa vẫn chưa được như mong đợi. Tuy Chính phủ đã hỗ trợ: loại trừ tài sản và công nợ không tính vào giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa trên 2.500 tỉ đồng; xóa nợ thuế và các khoản phải nộp Nhà nước trên 310 tỉ đồng; ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trên 1.000 tỉ đồng; chi phí cho cải cách doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại để hỗ trợ doanh nghiệp sắp xếp và xử lý nợ và lỗ là 2.962 tỉ đồng; hỗ trợ lao động dôi dư 6.000 tỉ đồng; chi xử lý nợ các ngân hàng thương mại 8.317 tỉ đồng.

Tình trạng này cho thấy, cổ phần hóa chưa đạt được kết quả tương xứng với sự kỳ vọng cũng như hỗ trợ của Nhà nước”(6).

Một khía cạnh rất quan trọng khác của tình hình là bộ máy quản lý và phương thức hoạt động của các doanh nghiệp được cổ phần hóa. Công chúng vẫn thấy một tình hình rất phổ biến là những “Công ty cổ phần nhà nước”. Bởi vì, “Sau khi cổ phần hóa, khoảng 81,5% giám đốc, 78% chức danh phó giám đốc và kế toán trưởng không có sự thay đổi. Điều này cho thấy trên thực tế là nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hóa vẫn hoạt động như trước cả về tổ chức, tư duy, công nghệ, quản lý và triết lý kinh doanh vẫn mang dáng dấp của doanh nghiệp nhà nước. Nếu có thay đổi chỉ là giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũ trở thành lãnh đạo mới của công ty cổ phần, chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành”(7).

Rõ ràng, để tăng tốc tiến trình cổ phần hóa trong những năm tới, cần phải xem xét lại nhiều vấn đề liên quan, trong đó đặc biệt là các chính sách thực thi cổ phần hóa đã và đang được áp dụng.

2. Cổ phần hóa – quan điểm và triển vọng

Với tình hình triển khai và những kết quả đạt được như nêu tóm tắt ở phần trên, có thể nhận xét khái quát rằng, vẫn còn tồn tại một lực cản lớn đối với cổ phần hóa, bất chấp những bằng chứng về hiệu quả thực tế có sức thuyết phục của nó ra sao. Trên các diễn đàn cũng như các sách báo đã xuất bản, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, phân tích về các loại nguyên nhân của tình hình cổ phần hóa chậm chạp. Trong số đó, phải đặc biệt kể đến một nguyên nhân mang tính lý luận sâu xa mà một trong những bài viết đã nêu là: “cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: “ách tắc” từ nhận thức”, do vậy, trước hết cần “Phải khai thông nhận thức, quan điểm về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước”(8).

Và để góp phần thảo luận thêm về vấn đề này, chúng tôi xin được trao đổi lại một lần nữa về bản chất kinh tế của chế độ cổ phần dưới góc độ của kinh tế chính trị học(9).

a) Sự phát triển và bản chất kinh tế của hình thái cổ phần(*)

So với các hình thái sở hữu khác trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, hình thái cổ phần ra đời muộn hơn cả. Điều đó tự nó hàm nghĩa rằng, sự ra đời của hình thái cổ phần phải dựa trên những tiền đề vật chất và thiết chế kinh tế nhất định. Đó là sự phát triển ở mức độ cao của sức sản xuất xã hội cũng như mức độ hoàn thiện của cơ chế của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ tương ứng với nó. Về mặt lô-gíc, có thể tóm tắt các bước phát triển của các hình thái sở hữu tiến đến hình thái cổ phần đại thể là: từ hình thái kinh doanh một chủ, phát triển lên hình thái kinh doanh chung vốn (hình thái kinh doanh hợp tác xã của những người sản xuất hàng hóa nhỏ và hình thái công ty chung vốn của các nhà tư bản), và cuối cùng là hình thái công ty cổ phần. Các bước phát triển trên cũng diễn ra một cách tuần tự về phương diện lịch sử, tuy rằng giữa các bước chuyển tiếp của các giai đoạn không hề có một ranh giới rạch ròi nào cả. Và do sự phát triển không đều giữa các nền kinh tế cũng như giữa các lĩnh vực khác nhau của mỗi nền kinh tế, ngày nay ở bất cứ quốc gia nào cũng có một kết cấu đa sở hữu với sự có mặt của tất cả mọi loại hình thức sở hữu nói trên. Song điều đặc biệt đáng chú ý là, càng ở những nền kinh tế có trình độ phát triển cao thì vai trò của hình thái cổ phần càng lớn. Ở những nền kinh tế này, tuy số lượng những công ty cổ phần nhỏ hơn rất nhiều so với các loại hình công ty khác, nhưng nó lại chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn đầu tư và quy mô kinh tế mà nó chi phối trong toàn bộ nền kinh tế.

Ngay từ thế kỷ trước, Ph.Ăng-ghen (năm 1895) – trong phần bổ sung cho tập III bộ Tư bản của C.Mác – đã đánh giá về vai trò và triển vọng của hình thái cổ phần như sau: “Hãng cá thể thông thường ngày càng chỉ là một giai đoạn chuẩn bị nhằm đưa xí nghiệp tới một trình độ đủ lớn để trên cơ sở xí nghiệp đó mà “thành lập” công ty cổ phần”(10). Hơn nữa, điều đó không chỉ đúng với các ngành công nghiệp mà còn diễn ra ở khắp mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế: thương nghiệp, ngân hàng và các cơ quan tín dụng, nông nghiệp và “hết thảy mọi khoản đầu tư tư bản ra nước ngoài đều tiến hành dưới hình thức cổ phần”(11).

Mức độ phổ biến của hình thái cổ phần trong điều kiện của nền kinh tế thị trường không phải chỉ là do nó có ưu thế tuyệt đối trong việc tập trung vốn của xã hội cho những mục tiêu kinh doanh, mà còn bao hàm trong đó những điểm nổi bật sau:

– Dưới hình thức cổ phần những người đồng sở hữu công ty (những cổ đông) chỉ được hưởng lợi và chỉ phải chịu trách nhiệm có giới hạn ở khuôn khổ số tiền mà họ đã bỏ ra để mua cổ phiếu của công ty. Như vậy, một mặt về pháp lý, họ chỉ có quyền nhân danh cá nhân mình chịu trách nhiệm về phần tài sản của mình đã góp vào công ty theo luật định. Mặt khác, qua thị trường chứng khoán, sự di chuyển của các cổ phiếu với tư cách là hàng hóa vốn đầu tư, công chúng (các cổ đông) đã “bỏ phiếu tín nhiệm” có sự bảo đảm “bằng vàng” của mình cho những ngành, những lĩnh vực, những công ty mà họ cho là có triển vọng nhất. Đồng thời, cơ chế này còn giúp mỗi người đầu tư phân tán được nguồn vốn có hạn của mình vào nhiều lĩnh vực để tránh những rủi ro khó tránh trong kinh doanh. Vậy là sự tham gia có tính chất xã hội của công chúng vào các quan hệ sở hữu và quá trình quản lý, lựa chọn cơ cấu ngành… đã trở thành những gợi ý thực tiễn thiết thực đối với những nhà hoạch định chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô.

– Hình thái cổ phần đã thực hiện việc tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nên đã tận dụng được một cách tốt nhất nguồn tài nguyên kinh doanh khan hiếm của xã hội thông qua chế độ “thuê” các nhà quản trị doanh nghiệp chuyên nghiệp, do các cổ đông, tức các chủ nhân thật sự của vốn đầu tư tiến hành lựa chọn. Do vậy, tính chất vô danh hay nặc danh của hình thái cổ phần hoàn toàn khác với tính chất vô chủ ở một trong những điểm quan trọng là nó gắn với cơ chế sử dụng được triệt để nguồn tài nguyên kinh doanh của xã hội thay vì để lãng phí chúng, và do đó mà đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn.

– Việc đầu tư tư bản ra nước ngoài dưới hình thái cổ phần đã trực tiếp mở rộng tính chất xã hội hóa của nền sản xuất xã hội vượt ra khỏi phạm vi mỗi quốc gia, khiến cho xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế mở rộng ngay từ trong bản thân quá trình sản xuất.

Như vậy, trong mối tương quan với các hình thức kinh tế khác trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, hoàn toàn có thể coi hình thái cổ phần là loại hình tổ chức đạt trình độ xã hội hóa cao nhất, thích ứng với trình độ phát triển rất cao của sức sản xuất xã hội. Về điều này, C.Mác đã từng nhận xét rằng, với việc thành lập những công ty cổ phần “có những xí nghiệp trước kia là của chính phủ, nay trở thành những xí nghiệp xã hội” và các công ty cổ phần “trực tiếp mang hình thái tư bản xã hội (tư bản của những cá nhân trực tiếp liên hiệp lại với nhau) đối lập với tư bản tư nhân; còn những xí nghiệp của nó biểu hiện ra là những xí nghiệp xã hội đối lập với những xí nghiệp tư nhân”(12). Thêm nữa, đây “là điểm quá độ tất nhiên để tư bản lại trở thành sở hữu của những người sản xuất, nhưng không phải với tư cách là sở hữu tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ nữa, mà với tư cách của những người sản xuất liên hiệp, thành sở hữu xã hội trực tiếp. Mặt khác, các công ty cổ phần cũng là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng trong quá trình tái sản xuất cho đến nay còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản, đơn thuần thành những chức năng của những người sản xuất xã hội”(13). Điều này có nghĩa là, theo cách tiếp cận của học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác thì “chế độ cổ phần… là sự thủ tiêu công nghiệp tư nhân trên cơ sở chính ngay bản thân chế độ tư bản chủ nghĩa; nó càng lan rộng ra và càng bao trùm những ngành sản xuất mới, thì càng thủ tiêu công nghiệp tư nhân”(14). Nhân khi biên tập để xuất bản bản thảo tập thứ III bộ Tư bản của C.Mác, đến vấn đề này, ngay từ năm 1894, Ph.Ăng-ghen đã viết thêm vào: “Từ khi Mác viết những dòng này cho đến nay, người ta đều biết rằng nhiều hình thái mới về xí nghiệp công nghiệp đã phát triển, đấy là công ty cổ phần ở bậc 2 và bậc 3. Tốc độ mỗi ngày một lớn mà ngày nay, người ta có thể đẩy nhanh sản xuất ở trong tất cả các ngành của nền đại công nghiệp…”(15).

Với lô-gíc ấy, thật không khó khăn gì khi thấy rằng, trong các sách báo kinh tế hiện đại, nhiều khi người ta bắt gặp các phân tích, đánh giá về một thứ “chủ nghĩa tư bản nhân dân” như là một đặc điểm quan trọng của nền kinh tế thị trường hiện đại. Vì nhiều lý do, không nhất thiết phải sẻ chia với uyển ngữ này, nhưng lại không phải vì thế mà phủ nhận được một thực tế là, việc đầu tư ở quy mô quảng đại công chúng thông qua thể thức của loại hình “công ty vô danh có cổ phần” là rất có ý nghĩa đối với thu nhập và cuộc sống của bản thân những người tham gia đầu tư vào công ty này.

Tóm lại, trong khuôn khổ của cơ chế kinh tế thị trường, hình thái cổ phần mang trong mình nó tính chất xã hội hóa sản xuất sâu sắc, là kiểu tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ phát triển rất cao của lực lượng sản xuất và chiếm vị trí ưu thế, phổ biến trong các nền kinh tế thị trường hiện đại. Theo nghĩa này, bất kỳ kiểu tổ chức nào nhân danh sự xã hội hóa của lực lượng sản xuất, đều cần phải xem hình thái cổ phần như một trong những hình thái tổ chức sản xuất quan trọng chủ yếu của chế độ kinh doanh.

b) Triển vọng cổ phần hóa ở Việt Nam

Như trên đã trình bày, hình thái cổ phần là một hình thái tổ chức sản xuất chứa đựng tính chất xã hội hóa rất cao trong khuôn khổ của kinh tế thị trường, nên việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay với nội dung chủ yếu là chuyển một phần các doanh nghiệp nhà nước (hay còn gọi là các doanh nghiệp quốc doanh) sang hình thức công ty cổ phần về thực chất là sự chuyển đổi hình thức xã hội hóa quá trình sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần. Sự thay đổi ở đây không phải là bản chất xã hội hóa của sản xuất mà là phương cách tổ chức sản xuất kinh doanh, phù hợp với sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Vì thế, sự trì trệ của tiến trình cổ phần hóa ở nước ta sẽ là không có lý do chính đáng nếu cho rằng nguyên nhân của tình hình chủ yếu do sự “ách tắc” về phương diện quan điểm tư duy lý luận. Thật vậy, tuy chưa phải là mọi vấn đề cơ bản về cổ phần hóa đã được giải quyết, song đã bước đầu có được một số kết luận quan trọng từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn để làm cơ sở cho việc đẩy nhanh quá trình thực hiện cổ phần hóa. Hai trong số những vấn đề có ý nghĩa then chốt nhất là:

– Dưới góc độ của kinh tế thị trường, cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa. Về điều này, sự phân tích về tính chất xã hội hóa của hình thái cổ phần so với các hình thái công ty khác ở phần trên đã rất rõ. Điều còn “chưa hoàn toàn rõ” ở đây chỉ là tương quan giữa hình thái cổ phần và doanh nghiệp quốc doanh, mà cụ thể là, liệu rằng việc chuyển một phần các doanh nghiệp quốc doanh sang dạng công ty cổ phần có làm cho tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị suy yếu đi không? Trong vấn đề này, ít nhất có một điều đã rõ là, không phải tỷ lệ kinh tế thuộc doanh nghiệp quốc doanh càng lớn về mặt lượng thì tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế càng cao. Đây là một sự nhầm lẫn về nhận thức đã được thực tiễn lịch sử kiểm chứng và xác nhận. Kết luận rút ra từ đây là, chưa có căn cứ xác đáng để khẳng định rằng, giảm bớt số lượng doanh nghiệp quốc doanh, trong đó có việc cổ phần hóa một số bộ phận của chúng thì tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế sẽ bị xói mòn. Song, thách thức về mặt lý luận lại là ở chỗ, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp quốc doanh sẽ có tác động ảnh hưởng gì đến tính chất xã hội chủ nghĩa (hay chính xác hơn là tính chất định hướng xã hội chủ nghĩa), trong đó, điều đáng được kỳ vọng hơn cả là quá trình này chẳng những sẽ không làm cho tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị suy yếu đi, mà trái lại, có thể còn nâng cao hơn so với hiện trạng được không? Chúng tôi nghĩ rằng, câu trả lời sẽ tuỳ thuộc vào cách tiếp cận hay chỗ đứng để giải quyết vấn đề. Mặc dù, cùng xuất phát từ một điểm chung: tính chất xã hội hóa của sản xuất mâu thuẫn với chế độ sở hữu tư nhân, nhưng ở đây có hai cách tiếp cận khác nhau, một là từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung (trước đây), và hai là từ kinh tế thị trường (hiện đại).

– Theo quan niệm “truyền thống” của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, doanh nghiệp quốc doanh được coi là hình thức mang tính chất xã hội hóa trực tiếp và cao nhất, bởi nó được nhà nước nhân danh toàn xã hội mà lập ra. Trước đây, quan niệm này không chấp nhận kinh tế thị trường nên cũng vì thế mà không chấp nhận các dạng thức xã hội hóa khác nhau của kinh tế thị trường. Thành ra, doanh nghiệp quốc doanh đã trở thành hình thái độc quyền biểu thị tính chất xã hội hóa của sản xuất, là hoàn toàn xã hội chủ nghĩa, (còn hợp tác xã thì chỉ là xã hội chủ nghĩa có một nửa). Từ đó, dẫn đến sự chỉ đạo về mặt chính sách là bằng mọi cách, làm cho kinh tế quốc doanh càng chiếm tỷ trọng cao càng tốt với điều tâm niệm rằng: doanh nghiệp quốc doanh chính là hiện thân của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nghĩa là càng nhiều doanh nghiệp quốc doanh thì càng có nhiều chủ nghĩa xã hội. Chính cách hiểu này đã khiến cho có thời kỳ quá trình quốc doanh hóa trở thành xu hướng chủ đạo trong nền kinh tế, và như đã nói, đã bị thực tiễn bác bỏ.

– Ngược lại, nếu đứng từ góc độ của kinh tế thị trường, như đã trình bày ở phần trên, cả trên phương diện lô-gíc lẫn lịch sử, hình thái cổ phần chính là một hình thái biểu hiện tính chất xã hội hóa sản xuất cao nhất, và tính hiệu quả của nó cũng đã được thử thách qua thời gian với độ dài tính bằng thế kỷ. Và theo lô-gíc, không thể chuyển sang kinh tế thị trường mà lại không chấp nhận hình thức tổ chức kinh tế chủ yếu đã tạo ra chính bản thân nó.

Vì thế, chúng ta có thể đi đến nhận xét rằng: nếu đứng từ góc độ của kinh tế kế hoạch hóa tập trung mà cho rằng, cổ phần hóa một bộ phận các doanh nghiệp quốc doanh là một quá trình tư nhân hóa, rằng vì thế mà tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế bị xói mòn, thì ngay cả khi đó là một kết luận hợp lô-gíc đi nữa, nó cũng đã trở nên không còn giá trị phương pháp luận, một khi bản thân cơ chế kinh tế đó đã phải thay đổi để chuyển sang một cơ chế kinh tế khác. Huống chi, theo lô-gíc của cơ chế kinh tế thị trường thay thế nó, cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa, mà là hình thái tổ chức sản xuất mang tính chất xã hội hóa cao nhất, đối lập với kinh tế tư nhân.

Rõ ràng là không thể chối bỏ được những lý do chính đáng khi đặt vấn đề xem xét lại một cách nghiêm túc vai trò của các doanh nghiệp quốc doanh, bởi tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế chỉ có thể trông cậy vào những doanh nghiệp quốc doanh có hiệu quả cao hoặc bất khả thay thế chứ không phải vào bất kỳ mọi doanh nghiệp nào mang danh doanh nghiệp quốc doanh. Vì thế, chúng tôi chia sẻ quan điểm cho rằng không nên đặt vấn đề: làm thế nào để mở rộng các doanh nghiệp quốc doanh (hay doanh nghiệp nhà nước), mà phải là: làm thế nào để tăng cường (nâng cao) sức mạnh kinh tế của Nhà nước. Sở dĩ như vậy là vì, bản thân các doanh nghiệp nhà nước chỉ là một trong số nhiều công cụ khác nhau trong tay Nhà nước để điều hành nền kinh tế theo ý chí của mình chứ không phải là một công cụ duy nhất hay có khả năng thay thế cho tất cả mọi loại công cụ khác. Trong điều kiện của kinh tế thị trường, để điều hành nền kinh tế, ngoài cách thông qua các doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước còn dùng (và chủ yếu là dùng) các loại công cụ khác như hệ thống luật, các chính sách kinh tế vĩ mô, bộ máy quản lý hành chính về kinh tế, v.v.. Để có khả năng hướng nền kinh tế đi theo những mục tiêu đã định, Nhà nước rất cần có thực lực sức mạnh kinh tế của mình. Để tăng cường sức mạnh kinh tế của mình, việc sử dụng các công cụ với tư cách của cả hệ thống đồng bộ và nhất quán chắc chắn sẽ có kết quả tốt hơn so với việc chỉ dựa vào việc đề cao một loại công cụ nhất định. Đặc biệt là trong trường hợp sử dụng các doanh nghiệp nhà nước, khi mà việc gia tăng số lượng loại công cụ này chưa hẳn đã làm cho chính nó mạnh hơn. Ấy là chưa kể tới việc không hiếm khi những nỗ lực mở rộng khu vực kinh tế này đã lấy đi mất quá nhiều nguồn lực có hạn của quốc gia mà lẽ ra có thể dành cho việc cải thiện sức mạnh kinh tế của Nhà nước theo quan điểm hệ thống và xét từ góc độ hiệu quả.

Tóm lại, cần phân biệt sự khác nhau giữa doanh nghiệp nhà nước với sức mạnh kinh tế của Nhà nước. Trong đó, cái cần tăng cường để bảo đảm giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là sức mạnh kinh tế của Nhà nước được nhìn nhận một cách tổng thể chứ không phải chỉ là bộ phận công cụ các doanh nghiệp nhà nước được nhìn nhận một cách cục bộ. Nói cách khác, trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước tự bản thân nó chỉ là công cụ (phương tiện) chứ không phải là mục đích. Do vậy, sự thể hiện trong hành động chính sách sẽ là không hợp lý khi lấy cái này thay thế cho cái kia.

– Với tư cách đặt vấn đề như vậy, rõ ràng việc tinh gọn hơn về số lượng và nâng cao hiệu quả kinh doanh trở thành nội dung chính của cuộc cải cách các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Cổ phần hóa là một trong số nhiều biện pháp để thực hiện mục tiêu này. Đây cũng là điều đã được khẳng định trong các Nghị quyết Đại hội của Đảng.

Như vậy, về phương diện học thuật, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, trên quan điểm của kinh tế thị trường, việc cổ phần hóa ở nước ta hiện nay có ý nghĩa như là một trong những biểu hiện bằng hành động thực tiễn của sự nhận thức lại về bản chất của tính chất xã hội hóa của sản xuất; rằng đó là quá trình chuyển đổi hình thức xã hội hóa sản xuất từ dạng doanh nghiệp quốc doanh trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang dạng công ty cổ phần (trong đó có loại tuyệt đối 100% cổ phần của Nhà nước) thích hợp với khuôn khổ của kinh tế thị trường.

Vậy thì vấn đề còn lại của việc tiến hành cổ phần hóa chủ yếu sẽ là những biện pháp mang tính chất kinh tế – kỹ thuật, và với những kinh nghiệm đã có, với quyết tâm chính trị cao của Đảng và Chính phủ, tiến trình cổ phần hóa trong những năm sắp tới nhất định sẽ đạt được kết quả như mong đợi, đặc biệt là khi có sự hỗ trợ không thể thiếu của một số giải pháp cụ thể sau:

– Cần phải làm cho đông đảo công chúng hiểu rõ rằng, vì hình thái cổ phần là một hình thái tổ chức sản xuất phổ biến trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nên trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, vấn đề cổ phần hóa không nên chỉ bó hẹp trong quan niệm như là “một trong những phương tiện quan trọng để cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước”. Không phải là chia các doanh nghiệp nhà nước hiện có ra làm mấy loại, trong đó loại thì bị đem ra “cổ phần hóa”, loại thì được giữ lại là doanh nghiệp nhà nước như cũ. Cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi chế độ kinh doanh của nền sản xuất được xã hội hóa từ dạng thức doanh nghiệp quốc doanh (doanh nghiệp nhà nước) hiểu theo nghĩa của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang dạng thức công ty cổ phần thích hợp với cơ chế thị trường. Cổ phần hóa không phải là một phong trào hay chiến dịch làm một lần là xong. Có lẽ chỉ trừ một số rất ít trường hợp, còn lại nói chung có thể có rất nhiều doanh nghiệp nhà nước (hiểu theo nghĩa 100% cổ phần do nhà nước nắm giữ) vẫn có thể thực hiện “cổ phần hóa” rộng rãi trong công chúng trong tương lai khi có điều kiện thích hợp. Đồng thời ngược lại, cũng có thể có những công ty cổ phần được nhà nước mua lại toàn bộ số cổ phần trong những trường hợp cần thiết phải làm như vậy.

– Vì các doanh nghiệp nhà nước vốn từ đầu đã thuộc sở hữu toàn dân nên rất cần công khai hóa các thông tin kinh tế cần thiết về các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa, không những chỉ với những người làm việc trong các doanh nghiệp đó mà với toàn xã hội.

– Đứng trước thách thức và cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế, sự vận hành của cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải theo kịp tiến trình hội nhập. Do vậy, cần phải quy định bắt buộc tất cả các doanh nghiệp nhà nước (kể cả cổ phần hóa lẫn không cổ phần hóa) phải tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tính cần thiết của quy định này dựa trên các ưu điểm cụ thể của thị trường chứng khoán, mà đại thể là:

+ Thị trường chứng khoán là một kênh thu hút vốn quan trọng từ xã hội để đầu tư phát triển. Các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng hiện đang rất thiếu vốn, đặc biệt là đứng trước nhu cầu đầu tư để hiện đại hóa công nghệ sản xuất, cần phải và không nên bỏ qua kênh tạo vốn ngày càng có ý nghĩa quan trọng này.

+ Thị trường chứng khoán là loại hình thị trường phổ biến và có ý nghĩa như một trong những chỉ số quan trọng biểu thị mức độ phát triển của bất kỳ nền kinh tế thị trường nào. Vì vậy, cùng với quá trình hội nhập, hình thái buôn bán trên thị trường chứng khoán cũng sẽ trở nên phổ cập ở Việt Nam. Các doanh nghiệp nhà nước với tư cách là bộ phận giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, không thể không trở thành lực lượng đi tiên phong trong việc góp phần tạo ra thị trường chứng khoán bằng cách trực tiếp tham gia vào hoạt động của thị trường này. Tính chất chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước không phải là ở chỗ chiếm tỷ trọng lớn, mà quan trọng nhất là ở tính hiệu quả, ở khả năng dẫn dắt đổi mới công nghệ và cách thức hoạt động, ở khả năng ổn định và trong bối cảnh của đổi mới, là ở khả năng đóng góp vào việc tạo ra “sự đồng bộ của cơ chế thị trường” ở Việt Nam.

+ Về phía mình, thị trường chứng khoán chỉ có thể phát triển và hoàn thành tốt vai trò kênh thu hút vốn, là nơi kinh doanh, giao dịch vốn (chứng khoán) khi các công ty lớn của quốc gia thật sự là những người tham gia chính.

Với các lý do trên, thiết nghĩ, đã đến lúc phải coi đây như một giải pháp mang tính đột phá mạnh, và vì vậy, cần có một quy định pháp lý đủ mạnh, bắt buộc các doanh nghiệp nhà nước (cả doanh nghiệp cổ phần hóa lẫn không cổ phần hóa) phải niêm yết trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, vì việc tham gia thị trường chứng khoán cần một khoảng thời gian nhất định để chuẩn bị chu đáo, nên thời gian từ lúc ban hành quy định đến thời hiệu quy định bắt đầu có hiệu lực nên kéo dài hơn so với các quy định khác: có thể là 1 năm, thậm chí là 3 năm. Nhưng vấn đề cấp thiết hiện nay là cần khẳng định nguyên tắc các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán và công bố công khai lịch trình thực hiện.

Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị số 1-2/2007




* Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.(1),(3),(5) Năm 2010: Mục tiêu sẽ cổ phần hóa hơn 1.500 doanh nghiệp. Nguồn: http://www.dangcongsan.vn/; ngày 10-10-2006.
(2),(4) Tiến độ cổ phần hóa doanh nghiệp Việt Nam còn chậm, chưa đạt yêu cầu. http://www.dangcongsan.vn/details; ngày 21-9-2006.
(6) Chính sách mới về cổ phần hóa: Đột phá. VietNamNet ngày 7-10-2006.
(7) Doanh nghiệp nhà nước: Không thể chủ đạo bằng cách giữ nhiều vốn. VietNamNet, ngày 22-9-2006.
(8) VietNamNet ngày 20-8-2004.
(9) Xin xem thêm về vấn đề này qua các bài viết sau của tác giả:
– Bùi Tất Thắng: Khía cạnh Kinh tế chính trị của vấn đề cổ phần hóa. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 1 (21), tháng 1-1993.

– Bùi Tất Thắng: Hình thái cổ phần và vấn đề cổ phần hóa ở nước ta hiện nay. Tạp chí Thông tin lý luận, số 12 (238), tháng 12-1997.

– Kiều Anh: Liệu có nên buộc các doanh nghiệp nhà nước niêm yết trên thị trường chứng khoán? Nhà quản lý, số 22 (tháng 4-2005).

(10), (11) C.Mác: Tư bản, tập 3, q.3. Phần 2. Nxb Tiến bộ Matxcơva., – Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987; tr.547.

(12),(13),(14),(15) C.Mác: Tư bản, tập 3, q.3. Phần 1. Nxb Tiến bộ Matxcơva., – Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986; tr.534, 535, 537, 536.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 6 NĂM 2007

GIA ĐÌNH HÀN QUỐC: TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI

TRẦN VĂN THẮNG – Ths, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Từng là một nước nông nghiệp nghèo, nhưng sau chưa đầy bốn thập kỷ, đất nước Hàn Quốc đã đạt được những thành tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “kỳ tích trên sông Hàn”. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã kéo theo sự di chuyển liên tục của những người dân từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp; phá vỡ cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống, trong đó có gia đình.

Từ truyền thống …

Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, một gia đình điển hình thường bao gồm các thành viên thuộc ba, bốn thế hệ sống cùng trong một mái nhà; một gia đình lớn đông thành viên thường được xem như có nhiều phúc lộc.

Do chịu ảnh hưởng của đạo Khổng, nên gia đình truyền thống Hàn Quốc theo chế độ gia trưởng. Sau khi người cha qua đời, người con trai cả sẽ là người điều hành và là trụ cột trong gia đình; đương nhiên sẽ hưởng kế thừa phần lớn các tài sản có giá trị như đất đai, nhà cửa… do người cha để lại. Những người con trai thứ cũng được hưởng thừa kế nhưng chỉ là một phần so với người con trai cả. Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, người Hàn Quốc tin vào cuộc sống ở thế giới bên kia sau khi chết. Theo quan niệm của người Hàn Quốc, con người sau khi chết sẽ không đoạn tuyệt, rời bỏ thế giới này mà sẽ đầu thai trở lại nơi nào đó, sẽ sống cùng con cháu, hậu duệ. Do đó, các thế hệ con cháu, nhất là những người có nhiều may mắn trong cuộc sống càng cần phải làm tròn bổn phận với những người đã mất, thực hiện những nghi lễ giỗ tết hằng năm.

Mục đích lớn nhất, nhiệm vụ quan trọng của hôn nhân trong gia đình Hàn Quốc là duy trì hậu duệ và thờ cúng tổ tiên với biểu hiện cụ thể là sinh ra những người con trai để nối dõi, thừa kế gia sản, chăm sóc cha mẹ lúc già yếu. Chính vì thế mới có chuyện bao nhiêu thế hệ phụ nữ phải chịu đau khổ vì không thực hiện được “nghĩa vụ” của mình là sinh được con trai cho nhà chồng. Hôn nhân thường do cha mẹ hoặc thông qua mối lái sắp đặt. Cô dâu chỉ biết mặt chú rể vào ngày cưới là chuyện bình thường theo luật tục hôn nhân thời trước.

Hệ thống dòng họ, thân tộc truyền thống của người Hàn Quốc được xác định chủ yếu trong mối quan hệ thờ cúng tổ tiên rất phức tạp. Theo đánh giá của các nhà dân tộc học Hàn Quốc, tục thờ cúng tổ tiên có bốn cấp độ, bắt đầu từ phạm vi hộ gia đình và cao nhất là phạm vi thị tộc.

Trong xã hội Hàn Quốc truyền thống, một gia đình điển hình thường bao gồm các thành viên thuộc ba, bốn thế hệ sống cùng trong một mái nhà; một gia đình lớn đông thành viên thường được xem như có nhiều phúc lộc.

Hộ gia đình, chỉ bao gồm vợ, chồng và con cái của họ. Trong trường hợp hộ gia đình đó là của người con trai cả, thì bao gồm cả cha, mẹ của người con trai cả. Hộ gia đình người con trai cả được người Hàn Quốc gọi là hộ gia đình lớn, đó là hộ gia đình gốc, còn những hộ gia đình của những người con trai thứ gọi là gia đình nhỏ, gia đình nhánh. Thông qua hộ gia đình người con trai cả, sự kế thừa về quyền lợi và trách nhiệm thờ cúng tổ tiên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Cấp độ thứ hai trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc là nhóm những người để tang nhau, bao gồm tất cả những con cháu của ông bà tổ tiên tính theo dòng cha trong phạm vi bốn đời. Vai trò của nhóm những người để tang nhau được thể hiện rõ nhất trong việc tổ chức và thực hiện những nghi lễ ở “khu vực chôn cất” hoặc ở các nhà thờ của dòng họ. Người đàn ông đứng đầu của từng nhóm sẽ thay mặt tất cả các thành viên đọc những lời khấn và thỉnh cầu đối với ông bà, tổ tiên.

Cấp độ thứ ba trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc cũng giống cấp độ thứ hai, những nghi lễ thờ cúng tổ tiên cũng được con cháu trong cấp độ thứ ba thực hiện nhưng trong phạm vi năm đời. Chi phí trong việc thờ cúng tổ tiên dòng họ được thực hiện dựa trên những khoản thu hoạch mùa màng trên mảnh đất chung. Ngoài ra, những người trong quan hệ thân tộc ở cấp độ thứ ba còn giúp đỡ lẫn nhau trong trường hợp nghèo khó, túng thiếu và giám sát các thành viên về mặt đạo đức.

Cấp độ thứ tư trong hệ thống thân tộc của người Hàn Quốc đó là thị tộc, nó bao trùm tất cả các cấp độ quan hệ họ hàng, gồm họ của những nhóm người có chung nguồn gốc (những người có chung dòng họ và nguồn gốc từ thời xa xưa). Lẽ đương nhiên, tính cố kết của các thành viên ở cấp độ thứ tư không chặt chẽ so với các thành viên của cấp độ thứ ba. Do những quy định luật lệ cứng nhắc về hôn nhân được thiết lập theo chế độ hôn nhân ngoại tộc, những người trong một thị tộc không được phép lấy nhau. Do đó, một chức năng quan trọng của thị tộc trong hệ thống thân tộc ở cấp độ thứ tư này là xác định rõ các nhóm tộc người để cho phép họ có thể thiết lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không. Những quy định này mãi tới tận những năm đầu của thế kỷ XX mới được sửa đổi. Luật Hôn nhân và Gia đình Hàn Quốc chỉ cấm nam, nữ trong cùng dòng họ lấy nhau trong phạm vi ba đời.

Sự phát triển kinh tế Hàn Quốc do quá trình công nghiệp hóa đất nước khiến cho đời sống gia đình của người Hàn Quốc trở nên sôi động, phức tạp hơn. Cơ cấu xã hội truyền thống của người Hàn Quốc, trong đó có cơ cấu gia đình Hàn Quốc đã có sự thay đổi và bị phá vỡ. Những đôi vợ chồng trẻ mới thành hôn tách khỏi đại gia đình và bắt đầu cuộc sống riêng. Ngày nay, mô hình gia đình hạt nhân với trung tâm là một cặp vợ chồng đang là phổ biến ở Hàn Quốc.

“Tình yêu In-tơ-nét”, lấy vợ, lấy chồng qua In-tơ-nét đã được sử dụng nhiều trong xã hội hiện đại. Thay vì phải ra khỏi nhà tìm kiếm cơ hội gặp gỡ, In-tơ-nét đã có thể giúp cho việc tìm hiểu, làm quen với nhau, thậm chí sắp xếp, “tác thành” những cuộc hôn nhân.

… Đến hiện đại

Giai đoạn chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại ở Hàn Quốc được thực hiện trong đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Nguyên nhân sâu xa của sự chuyển đổi này bắt nguồn từ sự phát triển kinh tế, là quá trình đô thị hóa và theo đó là sự gia tăng dân cư ở đô thị. Biểu hiện đầu tiên dễ nhận thấy của sự chuyển đổi từ gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại đó là: các mối quan hệ dòng họ phức tạp trong gia đình truyền thống bị suy yếu và bị thay thế bằng một cấu trúc gia đình giản đơn. Gia đình hiện nay ở Hàn Quốc là gia đình hạt nhân một thế hệ (gia đình không có con cái hoặc gia đình độc thân) và gia đình hai thế hệ (bố mẹ và con cái). Đây là mô hình gia đình chủ yếu hiện nay trong xã hội Hàn Quốc, trong đó vợ chồng là trung tâm của gia đình. Một biểu hiện khác trong gia đình hiện đại đó là sự đấu tranh mạnh mẽ cho quyền bình đẳng của phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội.

Một nét đặc biệt có liên quan đến quan hệ gia đình ở Hàn Quốc đó là việc kết hôn. Theo các nhà nghiên cứu, phải đến những năm 80 của thế kỷ XX, những cuộc hôn nhân do nam, nữ tự tìm hiểu, tự lựa chọn mới bắt đầu gia tăng. Trước đó, các cuộc hôn nhân ở Hàn Quốc phần lớn là do mai mối. Các quán cà phê ở Xơ-un và các thành phố khác là nơi hò hẹn, gặp nhau của các chú rể, cô dâu tương lai trong những ngày nghỉ cuối tuần. Trong giai đoạn chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang hiện đại, nhiều đôi nam nữ thông qua các công ty mai mối đã trở thành vợ chồng.

Quan niệm hôn nhân cũng có sự thay đổi, biểu hiện là sự gia tăng các cuộc hôn nhân giữa những người đàn ông trẻ tuổi với phụ nữ đã có tuổi hoặc giữa những người đàn ông mới lấy vợ lần đầu với những người phụ nữ đã từng lấy chồng trước đó. Giải thích hiện tượng này, nhiều nhà nghiên cứu lý giải bởi nguyên nhân kinh tế, do sức mạnh về kinh tế cũng như địa vị xã hội từ người phụ nữ mà người đàn ông có được sau khi kết hôn. Những hiện tượng này đã loại bỏ quan niệm cũ cho rằng người đàn ông phải lấy vợ trẻ tuổi hơn hoặc vợ hai phải là người lấy chồng lần đầu.

Một nguyên nhân được đưa ra cho sự biến đổi trong quan hệ hôn nhân ở gia đình Hàn Quốc hiện đại đó chính là tập tục sinh con trai để nối dõi tông đường. Việc mỗi gia đình Hàn Quốc phải cố gắng có con trai đã làm mất cân bằng giới tính, số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới, đặc biệt là những người trong độ tuổi kết hôn. Chính vì lý do này, các cuộc hôn nhân giữa cô dâu đã lấy chồng một lần trước đó với các chú rể mới lấy vợ lần đầu là điều không tránh khỏi và đang có xu hướng tiếp tục tăng.

Đặc biệt, với sự phát triển của In-tơ-nét, quan hệ hôn nhân trong gia đình các nước nói chung và gia đình hiện đại Hàn Quốc nói riêng đã có sự thay đổi. “Tình yêu In-tơ-nét”, lấy vợ, lấy chồng qua In-tơ-nét đã được sử dụng nhiều trong xã hội hiện đại. Thay vì phải ra khỏi nhà tìm kiếm cơ hội gặp gỡ, In-tơ-nét đã có thể giúp cho việc tìm hiểu, làm quen với nhau, thậm chí sắp xếp, “tác thành” những cuộc hôn nhân. Ngày nay, những người trẻ tuổi Hàn Quốc không chỉ sử dụng In-tơ-nét để kinh doanh, học tập, giải trí… mà còn sử dụng In-tơ-nét trong việc tìm kiếm bạn đời, cho việc hình thành gia đình.

Tất cả những tác động trên đã làm cho gia đình Hàn Quốc hiện nay thực sự thay đổi về quy mô và cơ cấu. Hầu hết các gia đình Hàn Quốc là gia đình hạt nhân, phần còn lại là gia đình mở rộng. Gia đình ba, bốn thế hệ chiếm tỷ lệ không đáng kể trong xã hội Hàn Quốc hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa đất nước, với việc xây dựng nhà máy, xí nghiệp ở khắp nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị đã làm gia tăng dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm công ăn việc làm. Những người di cư này chủ yếu là thanh niên và trung niên. Như vậy, gia đình nông thôn bị xé lẻ, những thành viên trẻ ở thành thị sẽ tìm kiếm việc làm và định cư tại đó, sau khi lấy vợ, lấy chồng sẽ tạo nên những gia đình hạt nhân. Các cặp vợ chồng ở các khu đô thị thời kỳ công nghiệp hóa do nhiều nguyên nhânkhác nhau chỉ sinh một hoặc hai con. Do vậy, số gia đình hạt nhân ở Hàn Quốc gia tăng nhưng quy mô thành viên trong gia đình hiện đại lại giảm. Hiện nay, quy mô gia đình Hàn Quốc ngày càng thu nhỏ, 3,2 người/gia đình.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 18 NĂM 2007

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TRẦN NGỌC HIÊN

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước. Sau 15 năm thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về quá trình này. Nhiều vấn đề lý luận và tư duy kinh tế đang đặt ra cần giải quyết để nâng cao hiệu quả của quá trình cổ phần hóa trong thời gian tới.

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một trong những vấn đề đang được đẩy mạnh ở nước ta, nhưng việc thực hiện một cách có hiệu quả không đơn giản. Vì vậy, sau 15 năm thực hiện cổ phần hóa, rất cần có sự nhìn lại thực trạng, đánh giá triển vọng và các giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong những năm tới.

1. Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 15 năm qua

Theo báo cáo gần đây của Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (tháng 5-2006), trong 15 năm qua, nước ta đã thực hiện cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước, trong đó có 80% số doanh nghiệp mới thực hiện cổ phần hóa từ năm 2001 đến nay. Từ số liệu trong Báo cáo này, bước đầu có thể phân tích thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp ở một số khía cạnh sau:

– Đối tượng cổ phần hóa. Nói đến đối tượng cổ phần hóa là nói đến việc lựa chọn doanh nghiệp nhà nước nào để thực hiện cổ phần hóa. So với quy định ban đầu, chúng ta đã bổ sung đối tượng cổ phần hóa là các doanh nghiệp có quy mô lớn, các tổng công ty nhà nước. Tuy vậy cho đến nay, 77% số doanh nghiệp đã cổ phần hóa chỉ có quy mô vốn dưới 10 tỉ đồng. Riêng đối với loại doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước không giữ tỷ lệ nào trong vốn điều lệ thì đều là doanh nghiệp nhỏ có vốn nhà nước dưới 1 tỉ đồng và kinh doanh kém hiệu quả. Loại doanh nghiệp nhỏ này chiếm gần 30% số doanh nghiệp mà Nhà nước thực hiện cổ phần hóa.

Sự lựa chọn các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa như vậy đã làm chậm tiến độ thực hiện chủ trương cổ phần hóa; các doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được rõ những ưu thế của doanh nghiệp đã cổ phần hóa với những doanh nghiệp chưa cổ phần hóa, chưa thực hiện được các mục tiêu cổ phần hóa đề ra.

– Cơ cấu vốn điều lệ. Tỷ lệ cổ phần do Nhà nước giữ ở các doanh nghiệp đã cổ phần hóa như sau: nắm giữ cổ phần chi phối trên 50% ở 33% số doanh nghiệp; dưới 50% số vốn ở 37% số doanh nghiệp và không giữ lại tỷ lệ % vốn nào ở gần 30% số doanh nghiệp.

Xem xét cụ thể hơn có thể thấy: số vốn nhà nước đã được cổ phần hóa chỉ mới chiếm 12%, và ngay trong số vốn này, Nhà nước vẫn nắm khoảng 40%, vì thế số vốn mà Nhà nước cổ phần hóa được bán ra ngoài mới chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 3,6%).

Với cơ cấu vốn nhà nước đã cổ phần hóa như trên có thể thấy bức tranh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta hiện nay và hiểu rõ hơn khái niệm cổ phần “chi phối” của nhà nước.

– Cơ cấu cổ đông. Cổ đông trong các doanh nghiệp đã cổ phần hóa là cán bộ, công nhân viên nắm 29,6% cổ phần; cổ đông là người ngoài doanh nghiệp nắm 24,1% cổ phần; cổ đông là Nhà nước nắm 46,3% cổ phần.

Nét đáng chú ý về cơ cấu cổ đông là các nhà đầu tư chiến lược trong nước khó mua được lượng cổ phần đủ lớn để có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp, còn nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng về vốn, công nghệ, có năng lực quản lý kinh doanh cũng chỉ được mua số lượng cổ phần hạn chế. Điều này làm cho các doanh nghiệp đã cổ phần hóa rất khó hoạt động có hiệu quả, nhất là trước sức ép cạnh tranh ở cấp độ quốc tế, khi nước ta đã chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Phân tích một số bài viết nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa trên báo chí, chẳng hạn bài “Cổ phần hóa – quỹ đạo nào để bảo toàn, phát triển thị trường vốn?” đăng trên báo Tài chính; qua những thông tin từ Ban Chỉ đạo đổi mới doanh nghiệp, có thể nhận thấy việc đánh giá về hiệu quả cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước có những ý kiến không giống nhau. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, sau khi cổ phần hóa, có tới 90% doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, góp phần tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho người lao động, huy động vốn xã hội cũng tăng lên, chấm dứt tình trạng bù lỗ của ngân sách nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm. Chỉ có 10% số doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động kém hiệu quả vì trước khi cổ phần hóa các doanh nghiệp này đã hoạt động rất kém, nội bộ mất đoàn kết, khôgn thống nhất; mặt khác còn do sự can thiệp không đúng của chính quyền địa phương…

Thứ hai, theo kết quả nghiên cứu, đến thời điểm này chưa có doanh nghiệp nhà nước nào sau khi cổ phần hóa biến thành tư nhân hóa. Tuy nhiên, trong đánh giá của Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội Đặng Văn Thanh – người tham gia đoàn giám sát của Quốc hội – bên cạnh việc công nhận một số kết quả do cổ phần hóa mang lại, cũng đã chỉ rõ: có tình trạng, một số doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đang dần chuyển hóa thành doanh nghiệp tư nhân do một số cổ đông đã bán, chuyển nhượng số cổ phần của mình, hoặc làm trung gian thu gom cổ phần cho tư nhân ngoài doanh nghiệp nắm giữ, có trường hợp đã nắm hơn 50% tổng giá trị cổ phần danh nghĩa để trở thành chủ nhân đích thực của doanh nghiệp. Theo ông Thanh, đây là điều trái với chủ trương cổ phần hóa của Đảng và Nhà nước.

2. Những vấn đề đặt ra của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Thực trạng quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta nói trên đang đặt ra nhiều vấn đề cả về mặt lý luận, tư duy kinh tế lẫn thực tiễn quản lý, tổ chức hoạt động doanh nghiệp.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam có những đặc điểm khác với tính quy luật chung ở các nước, bởi:

– Các doanh nghiệp mà Việt Nam thực hiện cổ phần hóa được hình thành trong quá trình thực hiện công hữu hóa, tập thể hóa nền kinh tế trước đây. Điều này khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước phát triển: là kết quả của quá trình phát triển lực lượng sản xuất đã vượt quá tầm của sở hữu tư nhân, đòi hỏi phải mở rộng quan hệ sở hữu.

– Các doanh nghiệp mà nước ta thực hiện cổ phần hóa vốn tồn tại lâu năm trong cơ chế bao cấp và kế hoạch của Nhà nước và mới làm quen với cơ chế thị trường, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là đã tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường, cạnh tranh.

– Các doanh nghiệp mà nước ta tiến hành cổ phần hóa chủ yếu được tổ chức và hoạt động theo yêu cầu và kế hoạch của Nhà nước, khác với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa ở các nước là tổ chức và hoạt động vì lợi nhuận tối đa của bản thân và tuân theo quy luật thị trường.

– Lý do chính của chủ trương cổ phần hóa ở nước ta là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ phá sản, khác với lý do thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp ở các nước phát triển là chuyển từ giai đoạn tập trung tư bản sang giai đoạn tập trung vốn xã hội (trong và ngoài doanh nghiệp) để nâng cao chất lượng và quy mô sản xuất trong cạnh tranh.

Từ những sự khác biệt đó cho thấy:

– Chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta là một trong những giải pháp quan trọng nhằm giải quyết những tồn tại và tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, đang gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Tình hình đó không giống với yêu cầu có tính quy luật là cổ phần hóa doanh nghiệp là một bước tiến của quá trình xã hội hóa, tuân theo quy luật khách quan: quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

– Đối tượng cổ phần hóa ở nước ta khác hẳn với các doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa trong nền kinh tế thị trường phát triển cao. Ở nước ta, một bộ phận doanh nghiệp nhà nước sau khi được cổ phần hóa vẫn chưa thoát khỏi cơ chế tập trung quan liêu cả về tài chính, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý, tức là, chưa hẳn là một tổ chức hoạt động tuân theo quy luật khách quan của kinh tế thị trường.

– Chính sách và quy trình cổ phần hóa ở nước ta, trên thực tế, vẫn dựa trên tư duy cũ. Vì vậy, từ khâu định giá tài sản doanh nghiệp, cho đến tổ chức quản lý sau khi doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều tồn tại nhiều vấn đề. Việc giải quyết vấn đề tài chính trước, trong và sau khi cổ phần hóa còn nhiều bất cập như:

Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa chưa đúng, gây nên thất thoát và lãng phí tài sản nhà nước trong và sau quá trình cổ phần hóa. Việc xác định giá trị doanh nghiệp trải qua hai giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn chưa có Nghị định 187: việc xác định giá trị doanh nghiệp do một Hội đồng hoặc doanh nghiệp tự đảm nhận. Điều đó dẫn đến việc xác định thấp hoặc quá thấp giá trị doanh nghiệp, do đó, phần lớn cổ phần rơi vào tay một nhóm người. Trong giai đoạn sau khi có Nghị định 187: sự thất thoát tài sản nhà nước đã được hạn chế, nhưng lại nảy sinh tình trạng liên kết, gian lận trong đấu thầu.

Việc xử lý các khoản nợ tồn đọng gây nhiều khó khăn. Tính đến ngày 31-12-2005, dư nợ cho vay đối với các công ty cổ phần vào khoảng 51.603 tỉ đồng. Đặc biệt, việc xử lý nợ xấu đã mất rất nhiều thời gian do thiếu sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành ngân hàng, thuế, tài chính.

Chất lượng định giá doanh nghiệp của nhiều tổ chức cung ứng dịch vụ thẩm định giá trị có độ tin cậy thấp. Mặt khác, quy chế lựa chọn, giám sát hoạt động tư vấn và xác định giá trị doanh nghiệp chưa được quy định rõ, chưa gắn trách nhiệm của tổ chức tư vấn, định giá với việc bán cổ phần.

– Quy trình cổ phần hóa (từ xây dựng đề án đến thực hiện đề án) chưa sát thực tế, còn rườm rà, phức tạp nên đã kéo dài thời gian cổ phần hóa. Bình quân thời gian để thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp mất 437 ngày, tổng công ty mất 554 ngày. Sau khi cổ phần hóa, rất nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động như cũ; quản lý nhà nước vẫn chi phối mọi hoạt động, kể cả trong các doanh nghiệp mà vốn nhà nước chưa tới 30% vốn điều lệ doanh nghiệp; bộ máy quản lý cũ trong nhiều doanh nghiệp vẫn chiếm giữ đến 80%.

Thực tiễn 15 năm thực hiện chủ trương cổ phần hóa ở nước ta cho thấy: chúng ta còn chậm trễ trong việc tiếp tục đổi mới tư duy kinh tế khi chuyển sang kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng.

Như vậy, doanh nghiệp nhà nước do chế độ công hữu hóa xã hội chủ nghĩa trước đây để lại đang là một bài toán khó khi chúng ta chuyển sang kinh tế thị trường. Những vấn đề này đang trở thành một thách thức đối với công tác lý luận, đổi mới tư duy, công tác tổ chức và quản lý nền kinh tế quốc dân.

3. Để nâng cao hiệu quả quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Sau 20 năm chuyển đổi nền kinh tế, nước ta đã đạt được một số thành tựu về tăng trưởng kinh tế, nhưng hiệu quả, chất lượng tăng trưởng còn chưa cao. Trên nền chung đó lại diễn ra quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, triển vọng của quá trình cổ phần hóa sẽ như thế nào có quan hệ chặt chẽ với chất lượng đổi mới nền kinh tế từ nay trở về sau.

Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chỉ có hiệu quả khi đồng thời tạo được các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều chỉnh phương hướng đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này, khai thác những lợi thế của đất nước và các nguồn đầu tư bên ngoài để đưa đến một mô hình kinh tế hợp lý.

Theo dõi quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, giáo sư Đa-vít Đa-pi (David Dapice đại học Ha-vớt) nêu rõ: thực tế mỗi năm Chính phủ Việt Nam đầu tư khoảng 30% GDP, nhưng chỉ tăng trưởng 7%-8%. Nếu biết đầu tư đúng thì tăng trưởng phải đạt ở mức 9%-10% như Trung Quốc. Theo cách tính toán trên, do đầu tư không phù hợp, chúng ta đã làm tổn thất 2% GDP của đất nước (khoảng 1 tỉ USD mỗi năm). Vì thế, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải dựa trên quan điểm tiết kiệm ngân sách, đầu tư khôn ngoan, chứ không phải chỉ là giải pháp cho những yếu kém trong kinh tế nhà nước. Trên thế giới, đã có những nước sử dụng rất hiệu quả ngân sách nhà nước. Ví dụ, Đài Loan vào thập kỷ 1960-1970 chỉ có mức thu nhập bình quân đầu người như Việt Nam hiện nay, nhưng họ đã đạt được tăng trưởng kinh tế ở mức 11% trong suốt 10 năm liền, tuy lượng đầu tư chỉ chiếm 25% ngân sách.

Thứ hai, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước phải hướng tới sự thu hút và tập trung các nguồn vốn xã hội vào phát triển kinh tế, tạo ra hình ảnh nhân dân xây dựng và làm chủ nền kinh tế. Khi điều này được thực hiện thì các khâu của quy trình cổ phần hóa sẽ thay đổi, từ việc định giá doanh nghiệp, cơ cấu vốn điều lệ doanh nghiệp cổ phần, cơ cấu cổ đông, tổ chức bộ máy, đến những vấn đề nhân sự khác… sẽ không như hiện nay, mà sẽ bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn trước, có lợi cho người lao động, nhà đầu tư và cho cả nền kinh tế.

Thứ ba, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước phải tính tới những yêu cầu đặt ra khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO để sau khi cổ phần hóa thì các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Tác động của việc gia nhập WTO tốt hay xấu đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm và định hướng quy trình cổ phần hóa. Ở đây xin nêu lên hai vấn đề quan trọng:

– Cần xác định rõ: ai là chủ sở hữu thực tế của công ty cổ phần và chủ sở hữu phải gắn liền với trách nhiệm đối với công ty như thế nào?. Trong vấn đề này có một nội dung phải làm rõ: ai đại diện chủ sở hữu số vốn nhà nước trong công ty cổ phần nhằm chấm dứt quan hệ sở hữu nhà nước chung chung và không có trách nhiệm, kéo dài nhiều năm nay.

– Cần vận dụng: “Quy chế quản trị công ty” nhằm tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, lành mạnh. Yêu cầu này chỉ thực hiện được khi có sự lựa chọn những giám đốc phù hợp với quy chế quản trị công ty, nhất là phải sớm đào tạo và bố trí các giám đốc tài chính của công ty (có vai trò và phạm vi hoàn toàn khác với kế toán trưởng trong doanh nghiệp kiểu cũ).

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 6 NĂM 2007

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

PGS.TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN – Phó viện trưởng Viện Kinh tế học

Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một sự đổi mới tư duy đúng đắn của Đảng dựa trên cơ sở lý luận khoa học trong tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Bài viết góp phần phân tích và khẳng định điều đó; đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN, những yếu tố quyết định định hướng XHCN, nêu rõ các điều kiện để thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Sau gần 20 năm xây dựng CNXH dựa vào và thông qua cơ chế thị trường, cuộc tranh luận thế nào là kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn tiếp tục. Sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông và Trung Âu đồng nghĩa với sự sụp đổ của mô hình CNXH dựa trên nền tảng chế độ sở hữu – công hữu đơn nhất và cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Khi mô hình hiện thực sụp đổ, sự hoài nghi cơ sở lý luận chính thống của nó, chủ nghĩa Mác – Lê-nin, là không thể tránh khỏi. Sự hoài nghi càng rõ khi thực tiễn chọn một cách thức dường như trái ngược, đã từng bị phủ nhận để thực thi CNXH: cách thức thị trường. Đây là lý do nảy sinh một khoảng trống lý luận trong việc giải thích xu hướng thực tiễn trái với tư duy thông thường. Điều này tạo ra một rào cản vô hình nhưng rất khó vượt qua đối với các ý định xây dựng một lý luận mới giải thích và dự báo thực tiễn đổi mới, cái đã và đang vượt qua lý luận cũ.

1 – Tuy nhiên, việc vượt qua rào cản lý luận này, về nguyên tắc, không có gì phức tạp. Vì cơ sở lý luận đó đã có sẵn, lại có sẵn trong chính chủ nghĩa Mác. Việc không thay được một phần vì thiếu một điều kiện tiên quyết: thái độ lý luận rõ ràng đối với 2 cách lập luận của Mác và của Lê-nin về mô thức chuyển biến sang CNXH và xây dựng CNXH.

Trong khuôn khổ lý luận về CNXH về mặt kinh tế, việc nhập các luận điểm khoa học của Mác và Lê-nin thành chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách đơn giản đôi khi gây ra sự ngộ nhận. Có hai điểm cần được thừa nhận:

– Mác và Lê-nin chưa xây dựng được một hệ thống lý luận về nền kinh tế XHCN theo đúng nghĩa hệ thống. Cái có được chỉ mới là những lập luận, suy luận lô-gic, những dự đoán khoa học và một số đường nét phác họa cụ thể, chưa đầy đủ về triển vọng của nền kinh tế và chế độ xã hội mới. Trong sự tiếp tục phát triển lý luận về CNXH ở các thế hệ mác-xít sau này, việc “đóng đinh” niềm tin vào một trạng thái lý luận chưa đầy đủ như vậy, tưởng tượng nó thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, giống như hệ thống lý luận về CNTB mà Mác đã xây dựng, trên cơ sở đó, biến nó thành một hệ thống giáo điều, bao gồm các nguyên lý mang tính chân lý hầu như bất biến chứa đựng những nguy cơ lớn trong nhận thức và hành động.

– Về con đường đi lên CNXH, Mác và Lê-nin đưa ra hai phương án khác nhau. Về nguyên tắc, Mác cho rằng chỉ khi nền kinh tế thị trường phát triển đến tột bậc (với Mác, điều đó cũng có nghĩa là khi CNTB phát triển đến tận cùng[1] thì quá trình chuyển biến sang CNCS (CNXH) mới diễn ra như một tất yếu. Lê-nin lại không nghĩ như vậy. Ông cho rằng quá trình chuyển biến sang CNXH và CNCS có thể thành công cả ở những, thậm chí một nước lạc hậu; rằng mô hình kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu thuần nhất – đơn nhất về tư liệu sản xuất là cái có thể áp dụng hiệu quả ở một nền kinh tế kém phát triển, chưa trải qua thị trường trong giai đoạn quá độ lên CNXH[2].

Giữa Mác và Lê-nin rõ ràng có một sự khác biệt nhất định trong việc nhận thức về tính tất yếu, về phương thức (con đường) và nội dung kinh tế của quá trình đi lên CNXH. Và đây là một điều bình thường trong khoa học, trong việc nhận thức thế giới khách quan trong trạng thái vận động liên tục của nó.

Tuy có hai quan điểm khác nhau như vậy nhưng từ Cách mạng Tháng Mười Nga đến nay, hầu như chỉ ngự trị quan điểm của Lê-nin với tư cách là quan điểm chính thống duy nhất và là quan điểm chung cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Trong khuôn cảnh như vậy, việc nêu lại quan điểm của Mác có hàm ý rằng đối với những nền kinh tế chưa từng trải qua thị trường hoặc thị trường chưa phát triển hết mức, để đi lên nấc thang cao hơn của lịch sử, việc “trở lại”, “xuyên qua” thị trường là bắt buộc; rằng trong quan hệ lý luận, điều đó không có gì mới so với chủ nghĩa Mác. Đó chỉ là sự trở lại Mác đích thực chứ không phải mác xít một cách trừu tượng, chung chung.

Sự phân biệt Mác và Lê-nin trong quan niệm về cách thức đi lên CNXH hàm nghĩa sự thừa nhận rằng căn gốc lý luận của công thức phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam hiện nay đã có sẵn trong chính học thuyết Mác, trong các luận điểm cụ thể, rất xác định của ông chứ không phải của một ai khác, của một cái gì chung chung khác. Nhưng cũng phải nói rõ rằng đây chỉ là gốc rễ lý luận sâu xa. Mác chưa hề trực tiếp viết và nói như vậy. Còn đối với Lê-nin, với “Bàn về thuế lương thực”, Ông cũng cho rằng phải thay đổi cách thức xây dựng CNXH, phải phát triển các quan hệ thị trường như một tất yếu. Ông đã đề cập trực diện đến vấn đề này trong Chính sách kinh tế mới (NEP) nổi tiếng cũng như ẩn ý đằng sau luận điểm “thay đổi hoàn toàn nhận thức về CNXH” được nêu lúc cuối đời[3].

Theo lập luận đó, có cơ sở để khẳng định việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hay xây dựng CNXH thông qua kinh tế thị trường không hề là việc đi ngược lại học thuyết Mác, là sự phá sản của chủ nghĩa Mác. Trái lại, nó đơn giản chỉ là thực hiện đúng logic phát triển tự nhiên mà Mác đã phát hiện và lịch sử loài người đã trải qua. Tất nhiên, đây không phải là sự trở lại Mác và Lê-nin nguyên xi, bất biến. Lịch sử đã vượt xa các điều kiện phát triển thời Mác và Lê-nin[4].

2 – Về mối quan hệ giữa thị trường và định hướng XHCN, có hai vấn đề cần lưu ý:

– Mục đích của CNXH là phát triển, bao hàm phát triển con người. Kinh tế thị trường là phương thức có hiệu quả để đạt được phát triển. Theo nghĩa đó, thị trường và định hướng XHCN là đồng hướng (cùng véc-tơ) lịch sử chứ không phải là nghịch lý.

– Nói phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nghĩa là thừa nhận kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của quá trình chuyển biến lên CNXH. Do vậy, nó là “bản nguyên” thứ nhất của quá trình xây dựng CNXH về mặt kinh tế.

Khi thừa nhận như vậy, để định hướng quá trình phát triển theo hướng XHCN, trước hết phải bảo đảm cho thị trường phát huy hiệu quả tối đa. Phát triển mạnh kinh tế thị trường trong giai đoạn xây dựng CNXH chính là thực hiện định hướng XHCN một cách thực chất nhất.

Có nghĩa là mọi sự bàn luận về phát triển trong giai đoạn quá độ lên CNXH, trong thời kỳ xây dựng CNXH, trước hết phải là bàn luận để phát triển kinh tế thị trường, trên cơ sở đó, mới bàn đến cái khác (định hướng XHCN là một trong những cái khác này). Nếu trật tự bàn luận khác đi, nghĩa là lộn ngược lô-gic của sự vật.

3 – Song, định hướng XHCN có những nội dung vượt ra ngoài thị trường. Một số đặc trưng phát triển XHCN vượt ra bên ngoài, lên cao hơn những kết quả do thị trường mang lại, kể cả những kết quả tích cực. Chúng không hoàn toàn và không tự động tương hợp với thị trường. Công bằng và bình đẳng trong phát triển, quyền của người dân, tức là dân chủ, vượt lên trên quyền dân chủ đo bằng đồng đô la (bỏ phiếu bằng tiền) là những thứ như vậy. Do đó, trong quá trình xây dựng CNXH, tức là quá trình phát triển theo định hướng XHCN, ngoài việc phát triển kinh tế thị trường và trên cơ sở thị trường, còn phải nỗ lực khắc phục những thất bại của thị trường (khuyết tật) và đạt tới một số mục tiêu mà tự thị trường không định hướng tới (phúc lợi xã hội, phục vụ người nghèo, v.v., nghĩa là bảo đảm phát triển bền vững).

Từ các lập luận đó, có thể tóm tắt mục tiêu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đơn giản và rõ ràng như thế này được chăng: hiệu quả kinh tế, dân chủ và công bằng (hàm ý phúc lợi xã hội và phục vụ người nghèo[5]?

4 – Những yếu tố nào quyết định tiến trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN? Hai yếu tố chủ yếu là thị trường và nhà nước. Đây là hai cơ cấu quyền lực lớn nhất (bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình), có vai trò dẫn dắt sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy, trọng tâm của việc bàn luận về quá trình chuyển đổi kinh tế, về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là bàn về mối quan hệ nhà nước – thị trường, bàn về cơ chế phối hợp các hoạt động chức năng của hai lực lượng cơ chế này sao cho quá trình thực tiễn đạt được các mục tiêu hiệu quả, dân chủ và công bằng.

Nếu tiến sâu hơn nữa, có thể nói hạt nhân của sự bàn luận đó là vấn đề nhận thức và hành động của nhà nước – lực lượng chủ thể, quyền lực và có ý thức của cơ chế, của sự phối hợp nhà nước – thị trường[6].

Trong giai đoạn chuyển đổi, việc thị trường có phát triển được không, có thực hiện định hướng phát triển một xã hội dân chủ và công bằng hay không tùy thuộc quyết định vào cách nhà nước giải quyết mối quan hệ chức năng nhà nước – thị trường.

Cụ thể cần làm rõ nhà nước phải: i) Xây dựng hệ thống thể chế thị trường (hệ thống thị trường yếu tố); ii) Đổi mới cơ cấu sở hữu, hình thành cấu trúc chủ thể của nền kinh tế thị trường; iii) Xây dựng cơ chế kinh tế thị trường, trong đó, khâu trọng tâm là phân định chức năng nhà nước và thị trường;

5 – Quá trình chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam gần 20 năm qua cho thấy:

– Xu hướng tổng quát nhất – chuyển sang cơ chế thị trường và phát triển kinh tế thị trường – đã được khẳng định.

– Hầu như mọi nội dung cải cách cụ thể đều đã được “đụng” tới. Nhiều thành tích đạt được là ngoạn mục. Nhưng dở dang, kém hiệu quả còn rất nhiều. Kết quả phát triển thu được nhiều nhưng tổn thất cũng rất lớn; chất lượng tăng trưởng và phát triển thấp, năng lực cạnh tranh – yếu tố sống còn của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế – rất yếu kém và chậm được cải thiện;…

Có thể thấy đây là hậu quả của cách làm nửa vời, ra thật nhiều quyết định, muốn đồng thời đạt được thật nhiều mục tiêu, trong khi thiếu điều kiện thực thi, không tính kỹ đến điều kiện bảo đảm thực thi, nhất là điều kiện bộ máy và con người (năng lực thực thi) khi ra quyết định và chọn mục tiêu. Nền kinh tế nhiều khi lâm vào tình trạng “đánh trống bỏ dùi”. Vốn ít nhưng bày ra nhiều công trình, mỗi công trình lại rất tốn vốn. Kết cục là dở dang hầu như ở tất cả những việc đặt ra để làm và hậu quả để lại rất lớn. Như vậy rõ ràng nền kinh tế thị trường không vận hành tốt, hiệu quả thấp nên định hướng XHCN cũng khó thực hiện.

Nguyên nhân lý luận của thực tế này là do chủ thuyết (chứ không chỉ là ý đồ và quyết tâm) phát triển kinh tế thị trường chưa được định; do bản chất và logic phát triển kinh tế thị trường chưa thông ở nhiều tầm, nhiều cấp và do cách hiểu về mối quan hệ giữa bản nguyên thứ nhất (phát triển kinh tế thị trường) với bản nguyên thứ hai (định hướng XHCN) trong chiến lược phát triển kinh tế không thật hợp lý. Vì vậy, sau 20 năm phát triển kinh tế thị trường, chúng ta vẫn chưa thể nói thật tự tin rằng chức năng nhà nước – thị trường đã được phân định rõ, hệ thống thị trường đã phát triển đồng bộ, còn cơ cấu sở hữu đã phát triển đúng trên nền tảng thị trường bình đẳng, không phân biệt đối xử.

6 – Về vấn đề xây dựng hệ thống thể chế thị trường. Đại hội IX của Đảng đề ra mục tiêu hình thành và phát triển đồng bộ hệ thống thể chế thị trường với tư cách là sự đột phá chiến lược. Đây là một định hướng chiến lược đúng, đáp ứng đòi hỏi đang ngày càng gay gắt của thực tế.

Tuy nhiên, bước tiến theo hướng này thực sự là rất chậm. Hệ thống thể chế thị trường hình thành và phát triển lệch pha và lệch nhịp nhau. Bằng chứng: thị trường bậc cao nhất (thị trường chứng khoán) ra đời trong khi thị trường các yếu tố đầu vào cơ bản nhất (thị trường đất đai, thị trường lao động) hãy còn chưa được thừa nhận chính thức;… Kết cục là thị trường không thể vận hành hiệu quả, trong khi nước ta là nước đi sau rất lâu trong phát triển kinh tế thị trường so với các nước khác. Có hai nguyên nhân lớn:

Thứ nhất, chưa nhận thức đúng và đầy đủ bản chất, nguyên tắc và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, do vậy, chưa hiểu rõ thực chất và vai trò của tính đồng bộ hệ thống và trật tự bước đi của quá trình hình thành các thể chế kinh tế thị trường.

Thứ hai, thái độ hoài nghi thị trường vẫn còn nặng, cách tiếp cận đến kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn bị chi phối quá mạnh bởi thiên kiến tư tưởng (ví dụ đặt vấn đề bản chất TBCN của thị trường chứng khoán).

Không vượt qua được những điểm yếu căn bản đó trong tư duy, trong nhận thức thì quá trình chuyển sang thị trường và phát triển kinh tế thị trường chắc chắn còn gặp nhiều ách tắc.

7 – Về cấu trúc sở hữu, vấn đề mấu chốt của một chế độ kinh tế. Việc thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần rõ ràng là một bước tiến căn bản. Song không đủ và đang ngày càng trở nên rất không đủ để có thể giải thích đúng thực tiễn kinh tế Việt Nam hiện nay và tạo thành cơ sở lý luận cho sự phát triển của nền kinh tế hiện thực. Các biểu hiện quan trọng là:

– Sự kỳ thị thực tiễn đối với các thành phần còn rất nặng, thể hiện ở môi trường kinh doanh, ở điều kiện tiếp cận đến các nguồn lực và điều kiện phát triển.

– Dành phần “cấm địa” cho khu vực kinh tế nhà nước bằng hàng loạt ưu đãi, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng – kích cầu. Từ đó tạo thành những nhóm lợi ích mạnh có khả năng thao túng chính sách và hành động của nhà nước. Cơ chế cạnh tranh bình đẳng – nguyên lý tối cao của kinh tế thị trường, vì thế, bị vi phạm, bị coi thường.

Kết quả là tăng trưởng thấp xa mức tiềm năng, sự gia tăng nạn tham nhũng, mức độ nhất quán thấp, nghiêng mạnh về đối phó tình huống thay vì tầm nhìn dài hạn trong định hướng chính sách vĩ mô. Căn gốc vấn đề là ở đâu?

– Đầu tiên là từ quan niệm “thành phần” vẫn còn quá nặng; không hiểu một cách triệt để và thực tiễn bản chất bình đẳng, tự do của tất cả các chủ thể thị trường khi tham gia cuộc chơi phát triển trong môi trường thị trường. Đặc biệt, thái độ không triệt để trong việc nhìn nhận vai trò then chốt của chế độ sở hữu tư nhân trong nền kinh tế thị trường.

– Từ việc giữ nguyên mong muốn đơn giản xây dựng một nền kinh tế có hệ thống sở hữu XHCN thuần khiết ngay cả trong thời kỳ quá độ, kể cả quá độ được thực hiện thông qua kinh tế thị trường.

– Từ cách hiểu cứng nhắc, đơn giản và trừu tượng về cái gọi là vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước (của khu vực DNNN hay của nhà nước vẫn còn chưa rõ, thường bị lẫn lộn).

8 – Trong khuôn khổ vấn đề về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, một vấn đề lý luận then chốt đặt ra là liệu có sự nhất quán giữa nguyên tắc sở hữu XHCN đối với tư liệu sản xuất, trong đó kinh tế nhà nước (hay DNNN) phải đóng vai trò chủ đạo với hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường hay không.

Về mặt thực tiễn, cần lưu ý rằng: khu vực kinh tế chủ đạo hiện đang chỉ bảo đảm việc làm cho 2/40 triệu người lao động và hầu như không tạo việc làm mới nào. Trong khi đó, khu vực tư nhân đang là lực lượng bảo đảm việc làm và tạo việc làm mới cho người lao động[7]. Khu vực nhà nước có tỷ trọng nhỏ bé trong nông nghiệp; trong công nghiệp, tỷ trọng của khu vực nhà nước cũng chỉ khoảng 40% nhưng tốc độ tăng trưởng không cao hơn khu vực tư nhân và FDI. Đối với lĩnh vực dịch vụ, khu vực tư nhân nói chung chiếm tỷ trọng áp đảo, nhất là trong các ngành giao thông – vận tải, xây dựng, thương mại, du lịch. Ngoài ra, cùng với quá trình cổ phần hóa, tỷ trọng của khu vực DNNN càng thu hẹp lại nhanh chóng. Vậy nếu vai trò của DNNN là nhỏ và ngày càng thu hẹp về phạm vi thì vai trò chủ đạo có ý nghĩa thực tiễn gì? Câu trả lời chứa đựng trong những luận cứ sau:

– Phải chăng chủ đạo có nghĩa là gia tăng sở hữu nhà nước trong một số ngành công nghiệp “nặng”, “then chốt” như mía đường, xi-măng, thép và hóa dầu? Cho tới nay, những đầu tư này thường có nghĩa là giá trong nước cao hơn giá trên thị trường thế giới. Trong khi đó, khả năng giảm được chi phí của các DNNN trong các ngành công nghiệp nặng này là rất thấp. Để duy trì sự tồn tại thị trường của các DNNN, nhất là trong môi trường hội nhập, Nhà nước buộc phải gia tăng bảo hộ. Nhưng trên quan điểm thị trường, áp lực thường xuyên của việc bảo hộ các ngành này sẽ làm giảm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước xuống một phạm vi rất hẹp… Việc khăng khăng giữ một vai trò chủ đạo trong ngành công nghiệp nặng tốn kém sẽ dẫn tới một cơ sở công nghiệp nhỏ hẹp, chi phí cao và ít triển vọng. Theo cách đó, sau một thập niên, kinh tế nhà nước sẽ có vai trò nổi trội trong những ngành công nghiệp “hoàng hôn”.

– Nhà nước có thể nắm giữ phần khống chế trong một số ngành quan trọng như tài chính – ngân hàng, bưu chính – viễn thông, hàng không, v.v., coi đây như một bằng chứng quan trọng của vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Điều này là đúng. Song nên lưu ý rằng ngoại trừ một số hàng hóa và dịch vụ công cộng mà Nhà nước cần và có thể nắm giữ như điện, nước, bưu chính, các lĩnh vực khác như hàng không và ngân hàng cần được mở ra cho cạnh tranh để đạt hiệu quả cao hơn.

9 – Với các lập luận trên, phải chăng “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” của một lực lượng nào đó không có ý nghĩa gì trong nền kinh tế thị trường? Câu trả lời là: Đặc biệt có ý nghĩa, nhưng không phải theo cách chúng ta nghĩ, chúng ta muốn và chúng ta xử sự với nền kinh tế nói chung, khu vực kinh tế nhà nước nói riêng từ trước đến nay – là cách kế hoạch hóa tập trung, độc tôn thống trị của một hình thức sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường, các lực lượng, chủ thể kinh tế phải bình đẳng trên cùng một sân chơi. Nhưng “vai trò chủ đạo” vẫn là một khái niệm quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó càng quan trọng hơn trong một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Với nghĩa dẫn dắt trò chơi, định hướng phát triển, khái niệm chủ đạo trước hết và chủ yếu gắn với việc đưa ra “luật chơi” và giám sát “cuộc chơi”. Chức năng chủ đạo, do vậy, bao hàm nhiệm vụ tạo lập môi trường vĩ mô hiệu quả (ổn định và mang tính khuyến khích)[8] xét từ quan điểm nền kinh tế thị trường.

Với nội dung đó, vai trò chủ đạo trong nền kinh tế phải do Nhà nước nắm, phải thuộc về Nhà nước chứ không thể thuộc về một lực lượng kinh tế riêng biệt nào. Phù hợp với lập luận này, định hướng XHCN sẽ được bảo đảm bằng nhà nước XHCN (hay nhà nước định hướng XHCN). Thông qua hoạt động đưa ra luật chơi, giám sát trò chơi, Nhà nước buộc tất cả các chủ thể phải tuân thủ trò chơi theo cách và theo hướng Nhà nước định. Tất nhiên, cách và hướng mà Nhà nước định phải phù hợp với xu thế tất yếu mà trước hết là phải tôn trọng các nguyên lý thị trường.

Nội hàm của “vai trò chủ đạo”, khi gắn với Nhà nước, được mở rộng thêm ra cả chức năng cung cấp hàng hóa công cộng. Còn đối với một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nội hàm còn được đẩy xa hơn nữa, bao gồm cả vai trò bảo đảm công bằng xã hội, hỗ trợ người nghèo, triển khai mạng lưới an sinh xã hội rộng khắp và hiệu quả.

10 – Với nội dung như trên, khái niệm “vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” gắn kết lô-gic với tuyến vấn đề quan trọng thứ ba: phân định chức năng nhà nước – thị trường, nhà nước – doanh nghiệp.

Về nguyên tắc, chức năng nhà nước – thị trường, Nhà nước – doanh nghiệp được phân định một cách khách quan. Sự phân định đó không diễn ra theo cách, cái gì Nhà nước không làm được thì thị trường và doanh nghiệp mới được làm. Cũng không phải theo cách Nhà nước cố gắng làm mọi thứ tối đa có thể, phần còn lại mới là của thị trường, của doanh nghiệp[9].

Hiện nay Nhà nước ta đang tham gia quá sâu, quá rộng vào các chức năng của thị trường và doanh nghiệp trong khi nhiều lĩnh vực thuộc chức năng của mình lại chưa được hoàn thành tốt. Đó là tình trạng “nắm những cái không cần nắm; buông những cái không được buông”. Do đó Nhà nước phải trả cho thị trường và doanh nghiệp những chức năng vốn có của nó. Sức lực của Nhà nước cần được chuyển từ việc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của các DNNN sang các lĩnh vực thuộc về chức năng của nó là tạo lập môi trường, cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công cộng, giám sát quá trình vận hành của nền kinh tế và của doanh nghiệp thông qua các quy định rõ ràng, minh bạch của hệ thống pháp luật.

11 – Một điểm then chốt khác của mối quan hệ chức năng nhà nước – thị trường gắn với yêu cầu phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại – một nền kinh tế có khả năng hội nhập và cạnh tranh quốc tế cao. Để đáp ứng yêu cầu này, Nhà nước phải đảm đương hàng loạt chức năng trước đây chưa hề có hoặc có nhưng chỉ ở trạng thái manh nha: hỗ trợ quá trình hội nhập quốc tế và phối hợp quản lý phát triển toàn cầu.

Đối với nước ta, hội nhập quốc tế đang trở thành một điều kiện tiên quyết, sống còn của việc thực thi chiến lược thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. Tuy nhiên, như thực tế mấy năm qua cho thấy, quá trình hội nhập diễn ra trong thế bị động nhiều hơn là chủ động; chúng ta lo đối phó với các vấn đề tình thế hơn là chú tâm cho các vấn đề chiến lược. Cội nguồn của vấn đề chắc chắn vẫn là ở chỗ chức năng nhà nước – thị trường không được phân định rõ, chưa được tôn trọng.

Áp lực phát triển do hội nhập gây ra hiện đang gia tăng rất nhanh. Định hướng XHCN sẽ trở thành một hoài niệm nếu nó không thực sự hội nhập được vào nền kinh tế thế giới và khu vực trong giai đoạn trung hạn tới. Song, cách xử lý vấn đề hiện nay chưa đặt trên lợi ích phát triển nền kinh tế thị trường như một tổng thể. Nó đang bị chi phối bởi tầm nhìn và lợi ích cục bộ bộ, ngành. Đó là cách làm phi thị trường, không trên quan điểm chức năng nhà nước – thị trường theo đúng nghĩa của nó. Do vậy, nó sẽ có tác dụng cản trở, thậm chí phá hoại định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.


[1] Nhưng C.Mác không chỉ thật rõ, thật xác định thế nào là CNTB phát triển tột bậc. Trên thực tế, ông đã có dự đoán không thật chính xác về thời điểm chuyển từ CNTB lên CNXH, trước hết là ở Tây Âu. Vào cuối đời, Ph.Ăng-ghen đã đính chính lại điều này và nói hai ông phải chịu trách nhiệm về dự báo đó. Tuy nhiên, về mặt khoa học, phải thấy rằng cả C.Mác và Ph.Ăng-ghen không thể chỉ ra được trạng thái chín muồi đó của CNTB, không thể xác định chính xác thời điểm chuyển biến cách mạng đó vì thiếu các điều kiện khách quan (trạng thái hiện thực của CNTB) và vì ông là một nhà biện chứng duy vật triệt để

[2] Về cuối đời, V.ILê-nin nhận thấy “cần phải thay đổi hoàn toàn nhận thức (của chúng ta) về CNXH”. Rất tiếc là trên thực tế, mô hình cần được thay đổi đó đã không được thay đổi. Nó vẫn được Xta-lin triển khai ở Liên Xô và được áp dụng ở tất cả các nước XHCN khác. Hơn thế, nó còn được coi là di sản chung Mác – Lê-nin (cho dù C.Mác không có ý tưởng như vậy) và trở thành chính thống

[3] Tuy nhiên, quan niệm chính thống về xây dựng CNXH sau V.I.Lê-nin dường như đã bỏ qua sự tự phê phán quan trọng này của V.I.Lê-nin, vẫn sử dụng cách hiểu cũ của ông để tiếp tục phủ nhận vai trò của các quan hệ thị trường và nền kinh tế thị trường trong công cuộc xây dựng CNXH. Như vậy là trên thực tế, quan niệm chính thống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng CNXH lại không hề phản ánh cách hiểu thực sự của hai người sáng lập ra nó

[4] Tôi đồng tình với nhận định của GS.TS. Đỗ Hoài Nam đã nêu trong Báo cáo đề dẫn Hội thảo lần I cho rằng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN “là sự trở lại với tư tưởng sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ để xây dựng CNXH mà V.I.Lê-nin đã đề ra trong Chính sách kinh tế mới (NEP) nhưng ở một tầm khái quát cao hơn và mang tính sáng tạo – cụ thể…

Trong quan niệm mới về con đường đi lên CNXH của Việt Nam, vấn đề đặt ra không đơn thuần là sử dụng các quan hệ hàng hóa – tiền tệ với tính cách là những công cụ cụ thể do lịch sử tạo ra (trong các hình thái kinh tế tiền XHCN) mà nhà nước vô sản cần và có thể sử dụng để xây dựng CNXH như Lê-nin quan niệm. ở cấp độ khái quát hơn, kinh tế thị trường với tư cách là một cơ chế, một hệ thống, một nền kinh tế (chứ không chỉ là những quan hệ – công cụ riêng biệt cụ thể), được quan niệm là thành tố cấu trúc bên trong, có tính nền tảng của hệ thống kinh tế – xã hội đang phát triển theo hướng đi lên CNXH, đồng thời cũng là cấu trúc thực hiện các mục tiêu XHCN trong quá trình đó”

[5] Tổng thống Kim Dae Jung của Hàn Quốc ví “dân chủ và kinh tế thị trường là hai bánh của một cỗ xe ngựa” (cỗ xe phát triển)

[6] Khi bàn luận về chiến lược phát triển 2001 – 2010 của Việt Nam, một số học giả nước ngoài cho rằng đối với Việt Nam, “trong 10 năm tới, không có vấn đề nào quan trọng hơn vấn đề vai trò của nhà nước trong nền kinh tế”. (MPI – UNDP. 2001)

[7] Do khu vực tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo việc làm nên trên quan điểm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, tăng cường lực lượng cho đội ngũ giai cấp công nhân, phát triển khu vực tư nhân là yếu tố thúc đẩy mạnh mẽ nhất định hướng XHCN. Theo lô-gic này, việc chuyển bớt lượng vốn dành cho đầu tư công nghiệp hiện nay cho khu vực tư nhân là phương thức bảo đảm phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN hiệu quả nhất (cả hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả chính trị – xã hội)

[8] Tác dụng khuyến khích phát triển của môi trường vĩ mô có giá trị định hướng phát triển rất rõ (khuyến khích cái gì phát triển, theo hướng nào)

[9] Vậy thì chức năng đích thực của thị trường, của khu vực doanh nghiệp là gì. Về điểm này, kinh nghiệm lịch sử thế giới đều xác nhận chức năng của khu vực doanh nghiệp là trực tiếp đầu tư và tiến hành sản xuất, kinh doanh với tư cách là những chủ thể độc lập và bình đẳng, không phân biệt chúng thuộc “thành phần”, “khu vực” nào. Tư cách chủ thể độc lập và sự bình đẳng trong kinh doanh của các doanh nghiệp được bảo đảm tự động thông qua nguyên tắc cạnh tranh tự do. Điều chỉnh thông qua cạnh tranh tự do là chức năng “bàn tay vô hình” của thị trường.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 17 NĂM 2007