Posted on 28/04/2008 by Civillawinfor
THS. HOÀNG VĂN TÚ & TRẦN VĂN THUẬN – Vụ pháp luật Văn phòng Quốc hội
1. Về hệ thống Toà án
Malaysia là một Nhà nước liên bang, vì vậy, mô hình tổ chức của Toà án ở Malaysia cũng có những đặc điểm riêng. Hệ thống Toà án ở Malaysia bao gồm: Toà án liên bang, Toà án phúc thẩm, Toà án thượng thẩm, Toà án xét xử theo phiên, và Toà án địa hạt. Ngoài các Toà án theo thứ bậc tố tụng trên đây, còn có Toà án đặc biệt (1) , Toà án hồi giáo, Toà án của những người bản xứ và Toà án vị thành niên, Toà gia đình.
Toà án liên bang là Toà án cao nhất trong hệ thống Toà án ở Malaysia, bao gồm 11 thẩm phán. Khi xét xử, Hội đồng xét xử thường gồm từ 3-5-7 thẩm phán, nhưng thường thì việc xét xử do một Hội đồng gồm 3 thẩm phán thực hiện. Về mặt thẩm quyền, Toà án liên bang có thẩm quyền tương tự như Toà án thượng thẩm khi xét xử sơ thẩm. Toà án liên bang có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những vụ án hình sự, dân sự của Toà án phúc thẩm bị kháng cáo. Tuy nhiên, các thẩm phán Toà án liên bang có thể về các bang để xét xử lưu động.
Toà án phúc thẩm có vị trí thứ hai về mặt tố tụng sau Toà án liên bang, bao gồm 15 thẩm phán.
Toà án này có thẩm quyền xét xử phúc thẩm đối với những bản án, quyết định về dân sự, hình sự
của Toà án thượng thẩm có kháng cáo; trừ một số trường hợp không được kháng cáo lên Toà phúc thẩm. Toà án này được thành lập vào năm 1954, nhằm làm giảm bớt sự quá tải của Toà án liên bang.
Continue reading →
Filed under: TTDS - Tố tụng nước ngoài, Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
TỰU NGÔ
Tại Mỹ, mỗi lần gây tai nạn, chi phí bảo hiểm của người lái xe phạm lỗi có thể tăng từ 200-300 USD một năm để bù lại các thiệt hại đền bù của hãng bảo hiểm. Tuy nhiên, loại trừ tai nạn ngẫu nhiên xảy đến, những tai nạn khác có thể là cái bẫy của một số người xấu chuyên dàn cảnh đụng xe để gian lận tiền bảo hiểm.
Thiệt hại 30 tỷ USD mỗi năm
Ước tính mỗi năm số tiền thiệt hại do các vụ dàn cảnh đụng xe để gian lận tiền bảo hiểm lên đến 30 tỷ USD. Đây là một trong những nguyên nhân đẩy chi phí bảo hiểm và y tế tăng cao.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS- Luật dân sự nước ngoài | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
TS. DƯƠNG THANH MAI & TH.S. ĐỖ ĐÌNH LƯƠNG – Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ tư pháp
Chế độ trách nhiệm của nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại đối với oan sai trong tố tụng là một trong những công cụ để đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội, đặc biệt để bảo vệ công dân trong quan hệ với các cơ quan công quyền. Nhưng bên cạnh đó còn cần phải làm rõ trách nhiệm: giữa các cơ quan tố tụng, giữa cơ quan chủ quản và cá nhân người tiến hành tố tụng. Vậy phân định trách nhiệm giữa các chủ thể nói trên như thế nào? ở các nước, trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại ra sao?
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình hoạt động tố tụng, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan, vẫn còn những oan sai. Việc giải quyết oan sai sẽ dây dưa, kéo dài nếu không phân định được trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như trách nhiệm của cơ quan tố tụng với trách nhiệm cá nhân công chức thừa hành công vụ gây ra oan sai.
Continue reading →
Filed under: Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******
Số: 175/KHXX
V/v: thông báo văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật hết hiệu lực thi hành
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2006
|
Kính gửi:
– Các tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Ngày 10/8/1996, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 03/TTLN hướng dẫn áp dụng pháp luật theo Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật dân sự.
Tại mục 2 Phần III “Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu” có hướng dẫn như sau:
“III. Việc áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu
Continue reading →
Filed under: Giao dịch - Đại diện - Thời hiệu, Quyền sở hữu, VB Pháp luật dân sự, VB Pháp luật TTDS | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
THS. NGUYỄN VĂN MẠNH – Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Tóm tắt: Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam. Hơn nữa, trong những năm gần đây, số vụ việc tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự và có tính phức tạp cao. Bởi vậy, nghiên cứu chế định thừa kế có ý nghĩa sâu sắc về lý luận và đời sống thực tế. Với ý nghĩa đó, bài viết phân tích các quy định trong Bộ luật Dân sự về chế định thừa kế theo hướng đề xuất các phương án nhằm hoàn thiện chế định này trong Bộ luật Dân sự năm 1995.
I. Những quy định chung về thừa kế
Bộ luật Dân sự (BLDS) dành 15 điều (từ Điều 634 đến Điều 648 ) quy định những nguyên tắc chung về thừa kế. Đây là những quy định áp dụng cho cả hai trình tự thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật 1 . Nghiên cứu các quy phạm pháp luật cũng như quá trình áp dụng trong thực tiễn, chúng tôi nhận thấy cần phải làm rõ, bổ sung những điểm sau:
1. Người thừa kế
Pháp luật dân sự ghi nhận quyền thừa kế của cá nhân, tổ chức. Điều 638 BLDS quy định:
” 1. Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
2. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức
tồn tại vào thời điểm mở thừa kế ” .
Continue reading →
Filed under: 4. THỪA KẾ | 2 Comments »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–
Số: 165/KHXX
Hà Nội, ngày 18 tháng 10 năm 2007
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-
|
CÔNG VĂN
GIẢI THÍCH QUI ĐỊNH TẠI KHOẢN 2 ĐIỀU 313 CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995 VÀ KHOẢN 2 ĐIỀU 305 BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Để thi hành đúng và thống nhất quy định tại khoản 2 Điều 313 của Bộ Luật dân sự năm 1995 (sau đây viết tắt là BLDS 1995), tại điểm 1 mục III của Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19-6-1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản đã hướng dẫn như sau:
“ … hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi xuất nợ quá hạn do Ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án”.
Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS 2005) ban hành và đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2006, một số quy định đã có sự sửa đổi, bổ sung so với BLDS 1995. Tại khoản 2 Điều 305 của BLDS 2005 quy định:
“Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán …”, có nghĩa là việc trả lãi đối với số tiền chậm trả phải theo lãi xuất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố. Hơn nữa, thực tế hiện nay các Ngân hàng đã bỏ mức lãi xuất nợ quá hạn. Vì vậy, về vấn đề này được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 305 của BLDS 2005.
Filed under: LDS - Hợp đồng, TTDS - Quan điểm của Tòa án và về Tòa án, TTDS - Thi hành án dân sự, VB Pháp luật dân sự | 3 Comments »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–
Số: 40/KHXX
Hà Nội, ngày 06 tháng 4 năm 2007
|
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-
|
CÔNG VĂN
HƯỚNG DẪN “THỤ LÝ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HỌ”
Hụi, họ, biêu, phường (sau đây gọi chung là họ) được quy định tại Điều 479 Mục 4 “Hợp đồng vay tài sản” Chương XVIII “Hợp đồng dân sự thông dụng” của Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS).
Để thi hành Điều 479 của BLDS, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường (sau đây viết tắt là Nghị định số 144).
Theo quy định tại Điều 31 của Nghị định số 144, thì “trong trường hợp có tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ được giải quyết bằng thương lượng hòa giải hoặc theo yêu cầu của một hoặc nhiều người tham gia họ, tranh chấp đó được giải quyết tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự”; do đó, kể từ ngày Nghị định số 144 có hiệu lực thi hành (22/12/2006), nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ, thì Tòa án thụ lý giải quyết.
Tòa án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm khi thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp về họ hoặc phát sinh từ họ như sau:
Continue reading →
Filed under: Giao dịch - Đại diện - Thời hiệu, TTDS - Quan điểm của Tòa án và về Tòa án, VB Pháp luật dân sự, VB Pháp luật TTDS | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
Chương 1
Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của luật quyền tác giả
Điều
101. Định nghĩa
102. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quy định chung
103. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm hợp tuyển và phái sinh
104. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: quốc gia gốc
104A. Quyền tác giả đối với tác phẩm phục hồi bảo hộ quyền tác giả
105. Đối tượng điều chỉnh của luật quyền tác giả: các tác phẩm thuộc sở hữu Hợp chủng quốc Hoa Kỳ
106. Các quyền độc quyền đối với tác phẩm được bảo hộ
106A. Các quyền của tác giả đối với việc nêu nguồn gốc và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm
107. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: các sử dụng hợp lý
108. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: tái bản bởi các viện lưu trữ và thư viện
109. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ảnh hưởng của việc chuyển nhượng các bản sao hoặc các bản ghi
110. Hạn chế đối với các quyền độc quyền: ngoại lệ đối với một số hoạt động trình diễn và trình bày
Continue reading →
Filed under: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, VB Pháp luật SHTT | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
(Luật số 729 ngày 30/12/1960, sửa đổi, bổ sung ngày 1/4/2000)
Chương I
Đối tượng và phạm vi bảo hộ
Điều 1: Bất kỳ người nào sáng tạo ra tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm đó, bất kể đó là:
1. Sự thể hiện mang tính hư cấu hoặc miêu tả trong bài viết hoặc bài nói;
2. Chương trình máy tính;
3. Tác phẩm âm nhạc hoặc tác phẩm kịch;
4. Tác phẩm điện ảnh;
5. Tác phẩm nhiếp ảnh hoặc các tác phẩm mỹ thuật khác;
6. Tác phẩm kiến trúc hoặc tác phẩm mỹ thuật ứng dụng;
7. Tác phẩm được thể hiện dưới hình thức khác.
Bản đồ và những loại tác phẩm thiết kế mang tính mô tả khác như bản vẽ, trạm trổ, hoặc hình thức không gian ba chiều cũng được coi là tác phẩm văn học.
Những điều được quy định trong luật này liên quan đến chương trình máy tính sẽ được áp dụng với những sửa đổi thích hợp cho những tài liệu dự phòng của chương trình máy tính.
Continue reading →
Filed under: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ, VB Pháp luật SHTT | Leave a comment »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
Trong cuộc họp báo ngay sau phiên họp thường kỳ của Chính phủ, đã có ý kiến trả lời báo chí rằng “Không có sai lầm về chính sách nhưng có yếu kém trong dự báo”. Ý kiến này gây ngạc nhiên và quan ngại không ít và cần được phân tích bởi lẽ nó có liên quan trực tiếp đến chất lượng điều hành của Chính phủ và đến sự phát triển bền vững của đất nước.
Một trong những yếu tố thu hẹp khoảng cách giữa “đường lối” và “khâu thực hiện” là giữa “chính sách” – một bậc thang giáng đi vào thực hiện đường lối, và “dự báo” – một cung bậc thăng của khâu thực hiện, không nên có khoảng cách. Vả lại, không thể xây dựng chính sách mà không có dự báo. Hơn thế nữa, không thể có chính sách đúng nếu dự báo kém. Nói một cách khác, biện minh rằng “Không có sai lầm về chính sách nhưng có yếu kém trong dự báo” là cùng tính chất với lập luận “Đường lối chủ trương đúng nhưng yếu kém trong khâu thực hiện”.
Nói về dự báo yếu kém trong lĩnh vực chủ quan, trong thời gian gần đây có khá nhiều văn bản pháp quy vừa được ban hành chưa bao lâu đã được thay đổi, gây nên không ít bức xúc trong xã hội, làm giảm uy tín nền pháp chế và kỷ cương phép nước. Một trong những lý do là thiếu dự báo tác động trở lại của các văn bản này. Một dự án đầu tư, dự án FDI nói riêng, bắt buộc phải có những báo cáo tác động lên môi trường. Chẳng lẽ một văn bản pháp quy mà tầm tác động liên quan đến toàn xã hội, lại không cần có báo cáo nghiêm túc nhất về dự báo tác động lên kinh tế, xã hội và môi trường hay sao?
GS.TSKH. Nguyễn Ngọc Trân – lanhdao.net
Đọc toàn bộ bài viết tại đây
CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP
Filed under: Cùng suy ngẫm | 2 Comments »
Posted on 27/04/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN VĂN CƯƠNG – VIỆN NGHIÊN CỨU NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Đây là vấn đề quan trọng cần giải quyết thỏa đáng trong dự án Luật Cạnh tranh. Ở mỗi nước, vấn đề này được xử lý rất khác nhau: Mỹ là Ủy ban Thương mại liên bang, Anh là Văn phòng Thương mại công bằng, Nhật Bản là Ủy ban Thương mại công bằng… Tất cả đều thuộc khối hành pháp. Mỗi phương án đều có ưu – nhược điểm riêng.
Sau 16 năm chuyển đổi từ nền kinh tế đơn cực – doanh nghiệp nhà nước thống lĩnh, sang nền kinh tế thị trường – đa cực về sở hữu, các nhà lập pháp bắt đầu quan tâm đến việc duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh ở Việt Nam. Họ hiểu rằng cạnh tranh tự do, bình đẳng, công bằng là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế đang chuyển đổi. Chỉ doanh nghiệp nào phục vụ khách hàng tốt nhất với giá cả hợp lý nhất, tôn trọng khách hàng nhất mới xứng đáng nhận được sự ủng hộ từ khách hàng thông qua lá phiếu bằng tiền của mình. Ngược lại, độc quyền ở bất cứ ngành kinh tế, thị trường nào cũng sẽ làm cùn khả năng sáng tạo của doanh nghiệp, và người tiêu dùng sẽ phải chịu nhiều thiệt thòi hơn.
Continue reading →
Filed under: LTM - Pháp luật cạnh tranh | Leave a comment »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
THS. NGUYỄN THỊ LÁNG – Chi nhánh Văn phòng luật Pricewater house cooper Legal
Một trong những mục tiêu của pháp luật về đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT là phải khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi đối với nhà đầu tư nước ngoài nhằm tối đa hóa tốc độ và phạm vi của dòng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cho sự phát triển các công trình cơ sở hạ tầng. Để thu hút hơn nữa đầu tư nước ngoài theo phương thức hợp đồng BOT, Nhà nước cần phải có các hình thức khuyến khích và một số hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các dự án BOT. Mức độ và loại hình hỗ trợ của mỗi Chính phủ nước chủ nhà tùy thuộc vào rủi ro có tính quốc gia, tính khả thi của dự án, nhu cầu của Nhà nước đó đối với dự án và vị trí có tính cạnh tranh của nước chủ nhà.
Xuất phát từ nhu cầu trên, Nhà nước ta đã ban hành Luật đầu tư nước ngoài quy định các biện pháp khuyến khích đầu tư và cụ thể hóa chúng tại Quy chế đầu tư theo Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao, Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh và Hợp đồng xây dựng – chuyển giao áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định 62/1998/NĐ-CP ngày 15/8/1998 của Chính phủ (Quy chế BOT). Theo đó các biện pháp khuyến khích đầu tư đối với dự án BOT bao gồm cả những biện pháp tài chính và hành chính. Các biện pháp này tập trung khuyến khích đầu tư nước ngoài vào những lĩnh vực đã được thể hiện trong các danh mục dự án khuyến khích và đặc biệt khuyến khích đầu tư, vào các địa bàn khuyến khích đầu tư.
Continue reading →
Filed under: LTM - Chủ thể kinh doanh, LTM - Đầu tư, Nghĩa vụ và bảo đảm nghĩa vụ | Leave a comment »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
LÊ NẾT
1. Điều 7.2 (về định nghĩa “thị trường”): đây là khái niệm quan trọng nhất trong luật (không định nghĩa được thị trường thì không định nghĩa được thị phần và các hậu quả tiếp theo), tuy nhiên từ ngữ chưa ổn. Thị trường trước tiên là môi trường. Chỉ có khái niệm thị trường hàng hoá (product market) chứ hàng hoá không phải là thị trường (như dự thảo định nghĩa).
Xin xem định nghĩa thị trường theo luật cạnh tranh châu Âu ( http://europa.eu.int/comm/competition/general_info/r_en.html ) sau đây:
“A relevant market is defined according to both product and geographic factors. In general terms, a relevant product market comprises all those products and/or services which are regarded as interchangeable or substitutable (substitutability) by reason of product characteristics, prices and intended use. Products and/or services that could readily be put on the market by other producers without significant switching cost or by potential competitors at reasonable cost and within a limited time span also need to be taken into account. The relevant geographic market comprises the area in which the undertakings concerned are involved in the supply and demand of products or services, in which the conditions of competition are sufficiently homogeneous and which can be distinguished from neighbouring areas, because the conditions of competition are appreciably different in those areas.”
Continue reading →
Filed under: LTM - Pháp luật cạnh tranh | 1 Comment »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
ĐÀO MINH ĐỨC – Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường TP. HCM
Việc xung đột quyền giữa các nhãn hiệu ít nhiều tương tự nhau về khía cạnh hình họa (bao gồm từ ngữ, hình ảnh, ý nghĩa hoặc cách thể hiện của từ ngữ và hình ảnh được sử dụng trong nhãn hiệu) là một chủ đề lý thú và dễ gây tranh cãi. Bên có quyền ưu tiên (bên nộp đơn trước và thường là bên đã có văn bằng độc quyền) luôn tập trung làm rõ các “khả năng gây nhầm lẫn” của nhãn hiệu cạnh tranh. Đối lại, bên bị cáo buộc thường áp dụng hai chiến thuật quen thuộc: tấn công vào quyền ưu tiên của bên tranh chấp hoặc chứng minh khả năng phân biệt của bản thân các nhãn hiệu. Để góp thêm ý kiến lý giải cho các tình huống, phần trình bày dưới đây xin giới thiệu một phương pháp phân tích vấn đề, kết hợp góc nhìn kinh doanh với góc nhìn pháp lý.
Điều 796 Bộ luật dân sự Việt Nam định nghĩa: “Nhãn hiệu hàng hóa là những dấu hiệu dùng để phân biệt các hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc”.
Continue reading →
Filed under: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ | Leave a comment »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
THS. LÊ HOÀNG OANH – VỤ PHÁP CHẾ BỘ THƯƠNG MẠI (NAY LÀ BỘ CÔNG THƯƠNG)
So với các nước trên thế giới, khái niệm thương mại theo Luật Thương mại 1997 được hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm 14 hành vi điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hoá và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá. Thậm chí đối tượng của việc mua bán hàng hoá cũng bị giới hạn ở các động sản, chủ yếu là các máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua bán (Điều 5 Luật Thương mại 1997). Các bất động sản như nhà máy, công trình xây dựng (không phải là nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như vận chuyển hàng, thanh toán tiền mua hàng qua hệ thống ngân hàng… cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 1997.
Trong khi đó, ở các nước trên thế giới, khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Chẳng hạn như, Bộ luật thương mại số 48 của Nhật Bản ngày 9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng.
Continue reading →
Filed under: 1. Lý luận chung | 3 Comments »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
NGUYỄN HỮU HUYÊN
Bài viết này chỉ giới hạn trong một vấn đề là dựng mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam đảm bảo hai tiêu chí: (1) phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; (2) đảm bảo không có sự khác biệt quá lớn với mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của các nước trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa.
Có thể nói đây là vấn đề rất quan trọng vì việc đưa luật cạnh tranh áp dụng vào thực tiễn hiệu quả đến đâu phụ thuộc phần lớn vào vai trò của cơ quan quản lý cạnh tranh. Chính vì vậy EU nói chung và Pháp nói riêng khi bắt đầu đặt những viên gạch đầu tiên cho pháp luật cạnh tranh (sau Đại chiến thế giới thứ hai), một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu là họ phải xây dựng cho được một mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh phù hợp, tập trung vào ba vấn đề lớn: 1/ Xác định bản chất pháp lý của cơ quan quản lý cạnh tranh; 2/ Cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; 3/ Xác định thẩm quyền của cơ quan này. Trong đó bản chất pháp lý của cơ quan này có thể xem là vấn đề mấu chốt, quyết định hai vấn đề còn lại.
Continue reading →
Filed under: LTM - Pháp luật cạnh tranh | Leave a comment »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
PGS-TS. TRẦN V ĂN ĐỘ – TÒA ÁN QUÂN SỰ TRUNG ƯƠNG
1. Trong toàn bộ quá trình tố tụng, xét xử đóng vai trò trung tâm, thể hiện đầy đủ nhất bản chất của hệ thống tư pháp của mỗi nhà nước, là giai đoạn quyết định tính đúng đắn, khách quan của việc giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn có vai trò đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra. Vai trò quyết định đó của phiên tòa thể hiện ở những điểm sau đây:
– Thứ nhất, phiên tòa là nơi tòa án bằng thủ tục công khai, toàn diện thực hiện cuộc điều tra chính thức để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tòa án ra bản án, quyết định trên cơ sở các chứng cứ được thu thập và kiểm tra công khai tại phiên tòa. Việc chứng minh (bao gồm cả quá trình thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ) được các chủ thể có quyền và lợi ích khác nhau (bên buộc tội, bên bào chữa, nguyên đơn, bị đơn) thực hiện một cách bình đẳng, dân chủ tại phiên tòa khi xét hỏi cũng như tranh luận. Việc chứng minh và từ đó xác định sự thật của vụ án được tòa án thực hiện trên cơ sở chứng cứ được thu thập, thẩm tra tại phiên tòa và cân nhắc, đánh giá của các bên tham gia tố tụng khác nhau;
Continue reading →
Filed under: Tranh tụng và luật sư | Leave a comment »
Posted on 26/04/2008 by Civillawinfor
THS. BÙI THỊ KIM NGÂN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐHL TPHCM
1. Sự cần thiết phải sửa đổi bổ sung các quy định về Hợp đồng lao động
Bộ luật lao động (BLLĐ) được Quốc hội thông qua năm 1994 có hiệu lực từ tháng 1/1995 được xây dựng trên cơ sở đường lối đổi mới của ĐCSVN, Hiến pháp 1992 về xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, kế thừa và phát huy những ưu điểm của các quy định pháp luật, các chính sách trong lĩnh vực lao động thông qua từng thời kỳ, đồng thời tham khảo luật lao động các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, qua hơn 7 năm thực hiện với sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, nhiều quy định của luật lao động chưa chặt chẽ, chung chung thậm chí có những vấn đề còn bỏ ngỏ… Đặc biệt chương Hợp đồng lao động (HĐLĐ) được ví von là “xương sống” của luật lao động cũng có những điểm bất cập, cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp nhằm giúp cho các bên dễ dàng thiết lập quan hệ lao động, thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ lao động, hạn chế tranh chấp lao động… Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLLĐ được Quốc hội thông qua ngày 2/4/2002 có hiệu lực ngày 1/1/2003 với chương HĐLĐ đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hòa, ổn định.
Continue reading →
Filed under: PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ ASXH | 4 Comments »
Posted on 25/04/2008 by Civillawinfor
THU VÂN
Bản án giám đốc thẩm số 31/GĐT- DS ngày 26.2.2003 quyết định giữ nguyên bản án phúc thẩm số 113/DSPT ngày 21.8.2001 của TAND TP. HN xử việc đòi nhà cho thuê và cho sử dụng nhà với nội dung: Buộc Cty Vinajuco do bà Nguyễn Thị Huyền làm giám đốc và ông Trần Minh Phương là Chủ tịch HĐQT liên đới trả 04 phòng tầng II nhà 142 Giảng Võ; Buộc Vinajuco và ông Phương, ông Chanh liên đới trả 03 phòng tại tầng II nhà 142 Giảng Võ cho Công ty CP Đông Đô.

Toàn bộ nhà 142 Giảng Võ thuộc quyền quản lý, sở hữu và sử dụng của Công ty CP Đông Đô.
Tuy nhiên, từ đó đến nay đã gần 5 năm, không dưới 3 lần Thi hành án dân sự (THADS) quận Ba Đình đã phải “dàn binh bố trận” để tổ chức cưỡng chế với mục đích thi hành dứt điểm quyết định của bản án, nhưng đều bị “tạm ngừng” ở “phút 89”.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, TTDS - Tình huống tố tụng, TTDS - Thi hành án dân sự | Leave a comment »