TỪ VỤ ĐỘC TỐ 3-MCPD TRONG NƯỚC TƯƠNG:”LIÊN MINH” COI THƯỜNG PHÁP LUẬT VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG

TRƯƠNG PHƯƠNG BẮC

Từ cuối tháng 5/2007 dư luận cả nước, từ các nhà sản xuất đến quản lí nhà nước, đang xôn xao về chất lượng sản phẩm hàng hoá (CLHH) với chất 3-MCPD trong nước tương (3-MCPD là tên viết tắt của chất thuộc nhóm cloropropanol, có cấu tạo phân tử 3-cloro-1,2- propandiol, theo EU chất này có thể gây ung thư ở hàm lượng 0,02mg/l). Dư luận bung ra lần này lại từ những thông tin rất cũ!

Sự thật bị bưng bít như thế nào?

Trước năm 2005 cũng đã có những cảnh báo về chất độc 3-MCPD trong nước tương (nước chấm) được sản xuất từ khô đậu đỗ. Năm 2005 khi có thông tin từ Bỉ về chất 3-MCPD trong nước tương Chin-su thì nhà sản xuất đã có thái độ không bình thường: phủ nhận kết quả kiểm tra của Bỉ (tung tin mẫu có thể là hàng giả), giải thích về sự thách thức của các tiêu chuẩn về chất lượng (quy định về chất 3-MCPD ở mức không nhiều hơn: của EU, Ôxtraylia, New Zealand là 0,02, Việt Nam và Hoa Kì là 1mg/l, trong khi mẫu kiểm tra ở Bỉ là 86mg/l), công bố sản phẩm của cơ sở là “sạch” và vẫn đạt Hàng Việt Nam chất lượng cao.

Lúc đó cơ quan quản lí nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm (ATVSTP) là Bộ Y tế, trực tiếp trong vụ việc là Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đã lấy mẫu kiểm tra. Mẫu được kiểm tra do Sở Y tế TP HCM và cả ở cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Y tế. Qua kiểm nghiệm thấy có đến 20 cơ sở năm 2005 và 17 cơ sở trong 5 tháng đầu năm 2007 có mẫu không đạt: chất độc hại 3-MCPD đều vượt ngưỡng cho phép, thậm chí gấp hàng nghìn lần. Nhưng kết quả đã không được công bố chi tiết mà chỉ tung ra một nhận xét chung chung là có một số loại nước tương có chứa chất độc gây ung thư là 3-MCPD với hàm lượng rất cao.

Người tiêu dùng không thể an tâm, dư luận không thể chịu được với lối thông tin nửa vời! Không thấy doanh nghiệp nào có hoạt động cải tiến trong sản xuất nhằm giảm thiểu 3-MCPD! Sản phẩm nào có chứa độc hại để người tiêu dùng không sử dụng! Khi bị áp lực quá mạnh, từ giới tiêu dùng, dư luận báo chí đến cơ quan cấp trên, Thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh buộc lòng không thể giấu mãi đành phải công bố danh tính các doanh nghiệp có sản phẩm chứa chất độc hại sau 2 năm (thậm chí 6 năm) ém nhẹm thông tin. Bây giờ biết sự thật, bao nhiêu người và mỗi người đã đưa vào cơ thể bao nhiêu gam chất độc gây ung thư là 3-MCPD qua sử dụng nước tương? Dư luận và người tiêu dùng đang đặt bút tính, chưa biết tác hại sẽ đến mức thế nào? Bộ Y tế, UBND Thành phố HCM đã vào cuộc để xử lý vụ che dấu thông tin chất lượng sản phẩm này.Doanh nghiệp phải chủ động và trung thực về chất lượng hàng hoá

Thông tin thiếu chi tiết tưởng là vô hại nhưng đã bị lợi dụng: một công ty đã có ngay hành động có thể coi là lừa đảo bằng việc ngày từ ngày 08/9/2005 đã tổ chức “Lễ công bố sản phẩm nước tương sạch”! Tại buổi lễ họ công bố có công nghệ sản xuất nước tương sạch và sẵn sàng chuyển giao công nghệ. Trong khi sản phẩm của họ, mà chất lượng đang được bưng bít, có hàm lượng độc chất vượt quy định đến… hơn 2300 lần! Các doanh nghiệp khác có sản phẩm vi phạm cũng không hề có hành động khắc phục. Đến nay khi sự bưng bít kết quả kiểm tra chất lượng bị đưa ra ánh sáng, các doanh nghiệp đã phải nhận trách nhiệm của mình. Ban đầu là các doanh nghiệp phải công khai xin lỗi khách hàng, phải tiến hành việc thu hồi sản phẩm, phải vội vàng cải tiến công nghệ để có sản phẩm sạch đích thực. Nhưng dư luận người tiêu dùng đang tính đến đòi bồi thường, và biết đâu có chứng cứ trong mấy năm qua đã có người bị bệnh do dùng nước tương có chất độc chết người kia? Thiệt hại khôn lường còn đang ở phía trước!

Người ta nói: không thể lừa dối mọi người mãi mãi! Lẽ ra khi được phản hồi từ thị trường thì việc đầu tiên của nhà sản xuất là tiếp cận thị trường, đánh giá thực tế, có biện pháp khắc phục kịp thời…

Nhưng cơ sở đã không làm theo chân lí đó mà lại chọn kiểu liên minh ma quỷ, hành vi tiếp tục dựa trên sự thiếu trung thực. Thậm chí họ vẫn chạy tham gia để có danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao…! Cuối cùng hệ lụy đến nay phải nói chính xác là các doanh nghiệp đã có triệu chứng vi phạm điều 157 về sản xuất hàng giả là thực phẩm của Bộ Luật hình sự!

Nguyên tắc đầu tiên trong tư duy mới về quản lí chất lượng là hướng tới khách hàng đã bị các doanh nghiệp bỏ qua, để giữ tư duy cũ bảo vệ mình bằng tập tài liệu “đầy đủ hồ sơ pháp lí đã được duyệt” (có cả sự quan liêu). Tư duy trách nhiệm về CLHH hiện nay rất rõ ràng: “hồ sơ pháp lí về CLHH” có khi chỉ sử dụng cho doanh nghiệp và cơ quan chức năng giám sát sản xuất kinh doanh, còn người tiêu dùng chỉ trên hàng hoá cụ thể!

Quản lý Nhà nước phải minh bạch, công khai!

Đáng lẽ, với chức năng quản lí nhà nước, các đơn vị chức năng thuộc Bộ Y tế và Sở Y tế TP HCM phải thông báo, xử lí vi phạm, khuyến cáo người tiêu dùng… thì họ lại làm ngược lại: ém nhẹm thông tin (hoặc theo nghĩa chờ ý kiến chỉ đạo của Bộ), mặc nhà sản xuất cứ tuôn sản phẩm chứa chất độc ra thị trường và mặc người tiêu dùng cứ “tự chọn”!?

Giải thích cho việc che dấu thông tin về việc phát hiện ra nhiều doanh nghiệp có sản phẩm chứa chất độc hại 3-MCPD, Sở Y tế đã nêu lí do là không tin chắc ở kết quả kiểm nghiệm. Còn cơ sở kiểm nghiệm thuộc Bộ thì lại chờ ý kiến chỉ đạo của Bộ thì mới công bố!? Lí do này không xác thực và cũng là một “bệnh” của ngành y tế Việt Nam. Có trang web viết rằng ở Việt Nam các bác sỹ điều trị nhiều khi không tôn trọng kết quả xét nghiệm (hoá học, X-quang…). Còn ở đây họ không tin kết quả của cơ sở kiểm nghiệm chuyên nghiệp. Nhưng nếu có nghi vấn thì lẽ ra phải tuân thủ quy trình là yêu cầu làm lại, hoặc bổ sung số liệu của cơ sở khác (thậm chí nước ngoài) thì cơ quan chức năng thuộc Bộ và Sở Y tế TP HCM lại chọn phương pháp im lặng (?); để đến bây giờ …

Trong điều kiện này, chỉ cần im lặng không công bố vi phạm về chất độc chết người trong sản phẩm thì đã là vàng với cơ sở sản xuất rồi! Vì thế có cơ sở để dư luận nghi ngờ: Liệu có thể tin cơ quan y tế “im lặng” là do không tin ở kết quả kiểm nghiệm, chứ hoàn toàn không có tiêu cực? Việc làm này của cơ quan chức năng thuộc Bộ và Sở Y tế TP HCM rất có thể đã vi phạm các điều 165 và 286 về thiếu trách nhiệm trong công tác quản lí theo Luật Hình sự.

Sự kiện này là bài học cho cơ quan quản lí nhà nước phải thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của mình. Số liệu kiểm tra chất lượng phải do cơ sở thử nghiệm chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ quan quản lí nhà nước phải công bố để người sản xuất và người tiêu dùng biết và tự chủ xử lí vụ việc theo nhu cầu cụ thể. Cơ quan quản lí và doanh nghiệp bình đẳng trước pháp luật về đánh giá và xử lí theo mức độ vi phạm. Vì vậy công khai và minh bạch là chìa khoá cho bình đẳng và nghiêm túc trước pháp luật!

Một bài học nữa là năng lực đánh giá chất lượng hàng hoá. Hiện nay hệ thống các phòng thử nghiệm ở Việt Nam cơ bản đã được hình thành từ thời bao cấp. Đó là mỗi ngành có một phòng thử nghiệm (quen gọi là labo, phòng phân tích, trung tâm kiểm nghiệm…) đáp ứng chỉ một phần yêu cầu quản lí của ngành. ở một tỉnh thường thì các Sở Y tế, Nông nghiệp, Xây dựng, Khoa học và công nghệ, Tài nguyên và môi trường… mỗi ngành có phòng thử nghiệm riêng. Các phòng này có trang bị tương đối giống nhau phần cơ bản và nói chung đều không đáp ứng đủ nhu cầu quản lí của ngành nên những đánh giá đầy đủ lại phải mang đến các phòng thử nghiệm ở Trung ương.

Rõ ràng hệ thống các phòng thử nghiệm của chúng ta đã bị lạc hậu, chưa được nhà nước đánh giá đúng yêu cầu và năng lực phục vụ kinh tế xã hội thời hội nhập. Quy hoạch các phòng thử nghiệm quốc gia do Bộ Khoa học và công nghệ chỉ đạo, trực tiếp là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phối hợp các Bộ thực hiện, đã không theo kịp tiến độ của phát triển kinh tế xã hội và tiến trình hội nhập của đất nước chúng ta. Cần xác lập tư duy về hội nhập, về thoả thuận thừa nhận lẫn nhau, về thử nghiệm theo ISO IEC 17025 thay thế tư duy mỗi ngành một lãnh địa thử nghiệm, manh mún, năng lực thấp, không có khả năng cạnh tranh, không có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, dễ bị thói quan liêu chi phối.

Các số liệu thử nghiệm, xét nghiệm phải trở thành căn cứ khoa học của quản lí nhà nước, của các hoạt động chuyên môn, được công khai, minh bạch!

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG/CHUYÊN SAN CHẤT LƯỢNG VÀNG SỐ 6/2007

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – TÀI SẢN VÔ HÌNH CỦA DOANH NGHIỆP

Tài sản vô hình này ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Ngày nay tài sản vô hình chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Khi đã thực sự là thành viên WTO và đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng, khi hàng rào thuế quan dần được rỡ bỏ, doanh nghiệp Việt Nam cần phải có một chiến lược phát triển thương hiệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Một chiến lược phát triển phù hợp và hệ thống quản lý hữu hiệu về sở hữu trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp có được sản phẩm có tính cạnh tranh cao lại tiết kiệm chi phí và kịp thời ngăn chặn việc sao chép nhãn mác, làm nhái sản phẩm…

Tuy lượng đăng ký về quyền sở hữu trí tuệ tăng khá nhanh nhất là khi nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới: Năm 2000 có quãng 10.000 nhãn hiệu đăng ký, năm 2005 trên 20.000 nhãn hiệu được đăng ký. Lượng sáng chế và kiểu dáng công nghiệp cũng tăng hơn. Đặc biệt, số nhãn hiệu tăng hơn 25%/năm so với trước đây, các nhãn hiệu của nước ngoài trước chiếm áp đảo khoảng 70% đến 80% thì hiện giờ ngang nhau. Điều này chứng tỏ ý thức của doanh nghiệp về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, việc đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, vẫn có khá nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu những quy định về việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Doanh nghiệp cần biết rằng thủ tục đăng ký nhãn hiệu đơn giản, nhưng thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp phức tạp hơn và phức tạp nhất là đăng ký sáng chế vì nó liên quan đến cấu tạo sản phẩm, phương pháp sản xuất. Nói chung, đối với nhãn hiệu, kiểu dáng sản phẩm, doanh nghiệp có thể thực hiện tốt khi liên hệ với Cục Sở hữu Trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ, nơi có Phòng Đăng ký sẵn sàng cung cấp mẫu biểu, tờ khai. (Doanh nghiệp có thể tham khảo những thông tin chi tiết trên website của Cục Sở hữu trí tuệ http//:www.noip.gov.vn). Doanh nghiệp chỉ cần nộp 1 lần đơn, lệ phí đăng ký nhãn hiệu không cao chỉ chưa tới 1 triệu đồng cho 1 nhóm sản phẩm.

Thủ tục đăng ký về quyền sở hữu trí tuệ được đơn giản, ví dụ trước đây quy định đăng ký 1 sáng chế mất 18 tháng, nay còn 12 tháng; 1 kiểu dáng công nghiệp 12 tháng, nay còn khoảng 9 tháng. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì đăng ký nhãn hiệu sở hữu trí tuệ cũng từ 12 tháng còn 9 tháng. Đây là một cố gắng nhưng có thể chưa thật thoả mãn người đăng ký nhưng vì Việt Nam còn là thành viên của một loạt thoả ước quốc tế nên việc cấp nhanh hơn rất khó khăn. Sở dĩ việc đăng ký mất thời gian lâu vì ta là thành viên của Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nên phải chờ 6 tháng để doanh nghiệp các nước khác nộp đơn xin đăng ký vào Việt Nam.

Không chỉ đảm bảo chắc phần thắng trên sân nhà, doanh nghiệp cũng cần lưu ý đăng ký ở những nước khác để bảo hộ cho sản phẩm của mình. Với các nước mà Việt Nam là thành viên của Thoả ước Madrid thì các doanh nghiệp chỉ cần nộp qua Cục Sở hữu Trí tuệ. Đăng ký theo Thoả ước Madrid thì chỉ với 1000 USD, doanh nghiệp đã có thể đăng ký bảo hộ cho sản phẩm của mình tại 10 nước có tham gia thỏa ước này. Thỏa ước này không bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, ASEAN, Anh nên khi đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại những nước này, doanh nghiệp phải đăng ký trực tiếp và thường thì sử dụng các đại diện sở hữu công nghiệp để làm thay. Ví dụ, doanh nghiệp muốn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Mỹ thì phải có đại diện sở hữu công nghiệp, tốn tiền lệ phí quốc gia khoảng vài trăm USD cho một nhóm sản phẩm cộng thêm lệ phí dịch vụ của các hãng đại diện khoảng trên dưới 1000 USD cho 1 nhóm sản phẩm. Rõ ràng với cách này, doanh nghiệp sẽ phải tốn phí hơn qua Thoả ước Madrid nhưng do nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu, hàng hoá thì doanh nghiệp vẫn phải làm. Tình hình đăng ký cũng khá hơn, năm vừa rồi, doanh nghiệp Việt Nam đăng ký qua Thỏa ước Madrid tăng hơn 50%.

Bảo vệ những tài sản trí tuệ của mình không chỉ bằng việc đăng ký bảo hộ, dán tem chống hàng giả, quản lý tốt hệ thống phân phối, một chuyên gia về lĩnh vực quản lý thị trường cho rằng các doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với các cơ quan thực thi. ở Hoa Kỳ, để bảo vệ quyền lợi cho mình, các công ty đều có những bộ phận riêng hoặc thuê các công ty luật, công ty thám tử tư để bảo vệ bản quyền cho mình. Trong trường hợp bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, các công ty đều có hình thức phối hợp về phương tiện, hỗ trợ kinh phí cho các lực lượng thực thi. Đương nhiên, chiêu thức này còn phụ thuộc vào khả năng tài chính, quy mô của doanh nghiệp nhưng cũng đã có những công ty ở Việt Nam áp dụng cách này để bảo vệ những đứa con tinh thần của mình. Ngoài ra, các tổ chức hiệp hội như Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam, Hội Sở hữu Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam là những tổ chức phi chính phủ đóng vai trò tích cực trong đấu tranh chống hàng giả vi phạm sở hữu trí tuệ.

Trong thực tế, thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam thường được thông qua các quy định về xử lý hành chính hơn là kiện cáo trước tòa do cách này dễ thực hiện, nhanh chóng về thủ tục và ít tốn kém dù nó có một nhược điểm là tính răn đe và hiệu quả chưa cao. Thêm nữa, doanh nghiệp Việt Nam thường có tâm lý “né tránh”, ngại kiện cáo trong khi thủ tục tố tụng về sở hữu trí tuệ còn thiếu càng làm cho số vụ tranh chấp giải quyết qua con đường tòa án ít đi. Cho nên, cùng với nỗ lực của các ngành chức năng, doanh nghiệp cũng cần có thói quen bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình qua con đường tố tụng bởi đây là cách giải quyết triệt để.

Nguyễn Gia Hảo

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG/CHUYÊN SAN CHẤT LƯỢNG VÀNG SỐ 1/2007

CÁC DẠNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI PHỔ BIẾN HIỆN NAY

Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen lẫn nhau. Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể có dạng như sau:

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ớ những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều.

– Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sứ dụng nữa. Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp. Trong dạng tranh chấp này có các loại sau:

+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết T.Ư 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để canh tác. Một số hộ thực hiện chính sách “nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981-1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng, nay đòi lại… ở miền nam, Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay do có sự hiểu lầm về chính sách họ cũng đòi lại những người đang quản lý, sử dụng.

Ngoài ra, một số người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng.

+ Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất để sản xuất, để ở.

+ Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học… đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó.

Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà.

+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ. Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc là hết hạn hợp đồng, hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố, một số có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

– Tranh chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại…

– Tranh chấp về quyền thừa kế QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ: Đây là dạng tranh chấp do người có QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chết mà không để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp.

– Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới. Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác. Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường sang nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng.

Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất cũng như giấy chứng nhận QSDĐ hoặc khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ có phần diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa các hộ liền kề nhau. Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai.

– Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên. Việc di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không phải lúc nào chính quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc người mới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại.

– Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình thức phát canh, thu tô. Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử dụng. Do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai.

Các dạng tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong các dạng tranh chấp này thì người đang SDĐ đã sử dụng hợp pháp đất, không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình như: Thực hiện các giao dịch về dân sự, hoặc do chủ trương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình mà dẫn đến tranh chấp. Có các dạng sau:

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền SDĐ, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền SDĐ. 

– Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình SDĐ.

– Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quy hoạch sử dụng. Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra như sau: Do mục đích SDĐ nên Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang SDĐ khiếu kiện việc chuyển mục đích SDĐ hay khiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người được giao đất sử dụng với mục đích khác. Mặt khác, người được Nhà nước giao đất chuyển mục đích sử dụng khiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho mình theo quyết định giao đất.

– Tranh chấp về giải toả mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa.

Trong tranh chấp loại này chủ yếu là khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được đền bù, giá cả đất tái định cư và đền bù không đúng người, giải tỏa quá mức quy định để chừa đất cấp cho các đối tượng khác. Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mở mang đường sá, đô thị quá lớn đẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt, phức tạp và có nhiều người, tập thể đồng loạt khiếu kiện.

Hiện nay ngoài những tranh chấp như đã trình bày trên, còn có một loại tranh chấp nữa, đó là tranh chấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai tức là tranh chấp hành chính về đất đai. Các tranh chấp thuộc nhóm này thường nảy sinh khi các đương sự quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hoặc cán bộ quản lý nhà nước về đất đai áp dụng đã  làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thí dụ: Các quyết định về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, thu hồi giấy chứng nhận quyền SDĐ, các quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai.

Pháp luật Việt Nam

XUNG QUANH VẤN ĐỀ NHẬN VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN

NGUYỄN NGỌC DŨNG – Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) có hiệu lực từ ngày 01-01-2005, tại chương XII quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án, so với các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động trước đây có chặt chẽ hơn. Song, vấn để nhận và trả lại đơn kiện theo quy định của pháp luật hiện hành cũng còn có một số vấn đề cần trao đổi thêm.

I. AI LÀ NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM NHẬN VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN?

1. Nhận đơn khởi kiện

Theo Điều 167 BLTTDS

“Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu diện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1/ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2/ Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3/ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Vấn đề đặt ra ở đây là nếu quy định “Toà án phải nhận đơn khởi kiện… phải ghi vào sổ nhận đơn…phải xem xét và có một trong các quyết định…” thì chưa ổn, bởi vì, việc thụ lý này phải được tiến hành bởi một trong các chức danh của những người tiến hành tố tụng cụ thể (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký toà án…) chứ không phải Toà án.

Ngoài ra, việc quy định rạch ròi đối với các chức danh của từng cá nhân tiến hành tố tụng cụ thể còn liên quan đến các giai đoạn tiếp theo sau của quá trình tố tụng.

2. Trả lại đơn khởi kiện

Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được qui định tại các điều khoản sau:

Khoản 3 Điều 167

“Trả lại đơn kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Điều 168

“1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a/ Thời hiệu khởi kiện đã hết:

b/ Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

c/ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyển, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhà mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện:

d/ Hết hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

d/ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện

2. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện”

Khoản 2 Điểu 192:

“Toà án ra quyết định đỉnh chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án đó thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 168 BLTTDS”

Điều 413

“1. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự.

2. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Toà án nước ngoài đã thụ lý vụ việc dân sự đó và bản án, quyết định của Toà án nước ngoài về vụ việc dân sự đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”

II. TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 168 thì thủ tục trả lại đơn khởi kiện bắt buộc phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Vấn đề đặt ra là, văn bản này phải theo hình thức nào? Quyết định theo quy trình tố tụng hay Công văn mang tính chất thông báo và ai sẽ là người ký văn bản này ?

Đối chiếu với quy định tại Điều 170 BLTTDS về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh sán Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

2. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiểu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a/. Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b/. Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án”.

Như vậy, người ký văn bản trả lại đơn khởi kiện chỉ có thể là Thẩm phán (khoản 2 Điều 168) chứ không thể là Chánh án vì Chánh sán còn phải thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện theo khoản 2 Điều 170 BLTTDS.

Đồng thời, tại khoản 1, Điều 171 về thụ lý vụ án cũng quy định:

“1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí…”

Tóm lại, qua các điều luật trên (167,168, 171 và 413 BLTTDS) không thấy xuất hiện chủ thể tham gia quan hệ luật pháp trong giai đoạn “tiền thụ lý” này: (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký, Toà án, Văn thư…)

– Nhận đơn khởi kiện;

– Xem xét có thụ lý hay không thụ lý đơn khởi kiện;

– Thông báo cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc trả lại đơn khởi kiện nếu không đủ điều kiện thụ lý vụ án.

Trong khi đó, tại khoản 1 Điều 172 quy định về phân công Thẩm phán giải quyết vụ án:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”.

Và Điều 173, 174 BLTTDS về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi tiến hành lập hồ sơ vụ án có quy định Thẩm phán có nhiệm vụ “thông báo về việc thụ lý vụ án”.

Như vậy các Điều 171, 172, 173 BLTTDS chỉ thể hiện rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của thẩm phán Sau khi đã thụ lý vụ án và được Chánh án phân công giải quyết vụ án, còn ai nhân đơn khởi kiện, ai xem xét nội dung đơn khởi kiện, ai trả lại đơn khởi kiện thì luật chưa nói rõ.

III. QUYẾT ĐỊNH TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN CÓ BỊ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ HAY KHÔNG?

Xin được nêu một ví dụ để minh hoạ: Một công dân nộp đơn và các tài liệu liên quan đến Toà án cấp huyện để khởi kiện một vụ án dân sự. Có hai giả thiết đặt ra:

Một là: Hồ sơ vụ kiện đó không có căn cứ pháp luật và Toà án đã trả lại đơn khởi kiện. Người khởi kiện khiếu nại và Chánh án Toà án cấp huyện căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 170 BLTTDS “Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện”.

Hai là: Hồ sơ vụ kiện đó có căn cú pháp luật và việc khởi kiện đó là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, nhưng do một lý do nào đó (áp dụng sai pháp luật, định kiến, do có mối quan hệ với phía bị đơn…) mà Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện vẫn căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 170 BLTTDS để “Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện”.

Vậy thì, sau khi cấp sơ thẩm đã giải quyết việc khiếu nại nhưng một trong hai giả thiết trên thì người khởi kiện có quyền khiếu nại tiếp theo hay không? Và ai sẽ là người giải quyết khiếu nại đó? Trình tự, thủ tục giải quyết như thế nào?

Bộ luật Tố tụng dân sự cũng như các văn bản hướng dân chưa quy định cụ thể vấn đề này, nhưng trong thực tiễn đã xảy ra. Quá trình giải quyết đã phát sinh một số quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề

Thông thường, không đồng tình với quyết định của Chánh án Toà án cấp huyện trong việc “Giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện”, nguyên đơn sẽ tiếp tục khiếu nại đến Toà án nhân dân cấp tỉnh. Có hai trường hợp xảy ra:

Một là: Trong trường hợp “giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện” do việc khởi kiện không có căn cứ pháp luật thì khi giải quyết khiếu nại, Toà án tỉnh vẫn phải trả lời đơn cho đương sự biết là việc khởi kiện đó không đủ căn cứ để thụ lý giải quyết.

Theo tôi khi có khiếu nại liên quan đến cấp dưới thì lãnh đạo cấp trên (người nhận được khiếu nại) phải trả lời đơn cho đương sự. Đây là vần đề mang tính nguyên tắc, không cần phải bàn thêm.

Hai là: Đối với trường hợp “giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện” mà không có căn cứ, do áp dụng sai điều luật, do định kiến, do tình cảm riêng tư…

Có ba quan điểm khác nhau trong tình huống này:

1/ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành mà không bị kháng cáo, kháng nghị vì thực tế, luật không quy định việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định tả lại đơn khởi kiện.

Tôi không đồng tình với quan điểm này, vì quyết định của cấp sơ thẩm không thể là quyết định cuối cùng. Trong khi quyết định đó thật sự có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

2/ Quan điểm thứ hai lại cho rằng: nếu cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì cấp trên chỉ cần có văn bản chỉ đạo cấp sơ thẩm rút lại các quyết định đã ban hành và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Với quan điểm này có phần nhẹ nhàng hơn do không xảy ra hậu quả pháp lý là các quyết định của cấp sơ thẩm bị huỷ, không làm ảnh hưởng đến điểm thi đua của Thẩm phán.Tuy nhiên, bản thân tôi cũng chưa đồng tình, vì với một quyết định được ban hành theo một trình tự tố tụng thì để sửa sai các quyết định đó cũng phải bằng một quyết định theo một trình tự tố tụng chứ không thể sửa sai một quyết định tố tụng bằng một mệnh lệnh mang tính hành chính được.

3/. Quan điểm thứ ba cho rằng, quyết định của cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì phải được kháng cáo, kháng nghị và Toà án cấp trên trực tiếp được quyền xem xét lại các quyết định trên theo trình tự giám đốc thẩm theo Điều 283 BLTTDS, bởi vì, cấp sơ thẩm đã có sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Hơn nữa, các quyết định trả lại đơn đã được phát hành và đã phát sinh hiệu lực thì việc sửa sai các quyết định đó phải bằng một quyết định khác của cấp có thẩm quyền, trong trường hợp này, cấp có thẩm quyền đó chính là Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh.

Tôi nhất trí với quan điểm thứ ba này, đồng thời, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sớm có Nghị quyết hướng dẫn thi hành về vấn đề này.

IV. VẤN ĐỀ THAY ĐỔI THẨM PHÁN THEO ĐIỀU 47 BLTTDS?

Liên quan đến việc trả lại đơn bằng một quyết định trả lại đơn khởi kiện như phân tích trên thì việc Thẩm phán tham gia giải quyết việc trả lại đơn khởi kiện đó được giải quyết như thế nào?

Việc Thẩm phán ra quyết định trả lại đơn có bị thay đổi theo khoản 3 Điều 47 BLTTDS hay không?

Tại khoản 3 Điều 47 BLTTDS cũng như tại điểm 3.2 Mục II Nghị quyết 01/2005/NQ-HDDTP ngày 31/3/2005 của Hội động Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004 đã quy định: ”3.2. Theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của BLTTDS, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ “Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm…trong vụ án đó”. Đã tham gia giải quyết và đã ra bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm hoặc quyết định công nhận sự thoả thuânh của các đương sự, quyết định đình chỉ vụ án”.

Như vậy, quyết định trả lại đơn khởi kiện sẽ không rơi vào trường hợp bị thay đổi Thẩm phán theo khoản 3 Điều 47 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với trường hợp “đình chỉ vụ án” như đã được giải thích ở Nghị quyết 01 nêu trên, cần được loại trừ một số điểm c,e,g khoản 1 Điều 192 BLTTDS vì đây là những trường hợp mà sau này nguyên dơn được quyền khởi kiện lại vụ án đó (khoản 1 Điều 193 BLTTDS). Vì trên thực tế, Thẩm phán đã ra quyết định đình chỉ vụ án theo một trong các lý do được nêu trên có thể được xem như là chưa từng giải quyết vụ án đó về mặt nội dung. Vì vậy, việc thay đổi Thẩm phán trong những trường hợp này là không phù hợp với thực tiễn xét xử và trong điều kiện vẫn còn thiều nhiều Thẩm phán cấp huyênh như hiện nay.

Qua các vấn đề vừa trình bày trên, thiết nghĩ, rất cần được sự hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để việc áp dụng pháp luật được thống nhất trong cả nước.

===========================

SOURCE: http://vietnamese-law-consultancy.com

THỰC THI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NHỮNG TRỞ NGẠI, VƯỚNG MẮC

Chứng minh và chứng cứ là yếu tố “xương sống” của pháp luật tố tụng. Mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Việc nhận thức không đúng đắn về vấn đề chứng minh và chứng cứ ắt sẽ dẫn đến giải quyết vụ án không đúng pháp luật. Từ thực tế trong những năm qua nhiều vụ án (nhất là các vụ án tranh chấp đất đai) phải “xoay” nhiều vòng với các kết quả giải quyết “sớm nắng, chiều mưa” đều phát sinh từ sự nhận thức thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án vè chứng minh và chứng cứ.

Từ một thực tế…

Vụ án tranh chấp lối đi giữa nguyên đơn – ông N.N.H và bị đơn – ông N.D.X là một ví dụ điển hình về vấn đề này. Theo các chứng cứ thu thập được như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là sổ đỏ), bản đồ địa chính thì phía Đông thửa đất của ông X có một lối đi từ quốc lộ 12A vào thửa đất của ông H rộng 2.5m. Trong khi đó ông X lại cho rằng trước đây con đường chỉ là một bờ ruộng 0,4m, từ khi ông về ở thửa đất này cho đến nay vì tình làng nghĩa xóm nên ông vẫn cho phép gia đình ông H sử dụng con đường này. Sổ đỏ của ông được cấp từ năm 1992 không thể hiện có con đường. Thế nhưng, vào năm 2001 khi ông làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh T, UBND huyện QT đã cấp lại sổ đỏ khác, trong đó có ghi phía Đông giáp đường kiệt xóm, ông hoàn toàn biết nhưng nghĩ rằng đường đó cũng là đất của mình nên không có khiếu nại gì (nay đã hết thời hiệu khiếu nại). Căn cứ vào sổ đỏ của ông X và bản đồ địa chính, các Bản án sơ thẩm lần một số 33/2005/DSST ngày 26/8/2005 và lần hai số 47/2006/DSST ngày 26/9/2006 của TAND huyện QT đều quyết định chấp nhận đơn khởi kiện của ông H, theo đó ông H có quyền sử dụng lối đi rộng 2,5m giáp phía Đông vườn nhà ông X. Trong khi đó Bản án phúc thẩm lần một số 06/2006/DSST ngày 27/02/2006 của TAND tỉnh Q cho rằng Toà án cấp sơ thẩm chưa áp dụng các biện pháp để xác định diện tích đất của ông X thừa hay thiếu so với sổ đỏ nên đã quyết định hủy án sơ thẩm. Tại Bản án phúc thẩm lần hai số 35/2006/DSST ngày 19/12/2006 của TAND tỉnh Q đã quyết định sửa bản án sơ thẩm, thừa nhận có con đường chỉ rộng 0,4m và buộc ông H phải trả cho ông X 16.373.000đ để được sử dụng con đường rộng 1,5m. Không “tâm phục, khẩu phục” nên hiện nay ông H đã làm đơn yêu cầu những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm này.

Hoặc như trong vụ tranh chấp đất giữa bà Trần Thị Hồng Thu và ông Trần Hữu Sơn, TAND huyện Hướng Hóa và TAND tỉnh Quảng Trị đã căn cứ vào diện tích đất ghi trong sổ đỏ để xét xử buộc ông Sơn trả cho bà Thu 21,4m2. Trong khi đó VKSND huyện Hướng Hóa và VKSNDTC lại cho rằng UBND huyện Hướng Hóa cấp sổ đỏ cho bà Thu và ông Sơn là không đúng nên đã liên tục kháng nghị các bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Vụ tranh chấp này cho đến nay đã trải qua năm phiên tòa nhưng vẫn chưa đến hồi kết.

…Tòa án có phải đi tìm ẩn số?

Trên đây chỉ là hai trong rất nhiều vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức khác nhau về giá trị của các chứng cứ, tài liệu thuộc hồ sơ địa chính do cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai ban hành, dẫn đến việc đưa ra các phán quyết trái ngược nhau.

Vậy, trong hai luồng nhận thức đó, quan điểm nào là đúng pháp luật? Để trả lời câu hỏi này cần phải căn cứ vào các quy định của BLTTDS về chứng minh và chứng cứ cùng các văn bản pháp luật liên quan. BLTTDS đã quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc phản đối yêu cầu của người khác phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình là có căn cứ và hợp pháp. Điều 80 BLTTDS còn quy định về những tình tiết, sự kiện mà đương sự không phải chứng minh, trong đó có các tình tiết, sự kiện được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;… Do vậy, trong vụ án dân sự thì sổ đỏ, bản đồ hoặc trích lục bản đồ địa chính là những chứng cứ quan trọng để Tòa án làm căn cứ giải quyết vụ án mà không cần phải chứng minh tính hợp pháp của nó. Luật Đất đai (LĐĐ) 2003 đưa ra tiêu chí để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất giữa Tòa án và UBND đó là đất đã có sổ đỏ hoặc các giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 LĐĐ là hoàn toàn có chủ ý. Tòa án không phải là cơ quan quản lý đất đai nên không thể nắm được mọi biến động trong quá trình sử dụng đất của các chủ thể, do đó sổ đỏ và các giấy tờ liên quan đến thửa đất do cơ quan quản lý đất đai lập là chứng cứ quan trọng để Tòa án đưa ra các phán quyết.

Tuy nhiên, các giấy tờ tài liệu về quản lý đất đai không phải bao giờ cũng chính xác và hợp pháp. Do đó, trong trường hợp đương sự cho rằng các giấy tờ tài liệu đó là không hợp pháp thì Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án và hướng dẫn họ thực hiện quyền khiếu kiện theo thủ tục hành chính đối với cơ quan quản lý đất đai để có sự phán quyết về giá trị pháp lý của các tài liệu đó. Trong khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án không có quyền đưa ra các phán xét về giải trị pháp lý của các giấy tờ tài liệu do cơ quan hành chính ban hành mà quyền này chỉ được thực hiện trong vụ án hành chính.

Cũng giống như trong vụ án hình sự, trường hợp do chưa có đủ tài liệu để xác định các thiệt hại nên Tòa án đã tách phần bồi thường để giải quyết bằng một vụ án dân sự. Nếu khi giải quyết vụ án dân sự, bị cáo đưa ra chứng cứ để cho rằng họ bị kết tội oan nên không có trách nhiệm phải bồi thường thì Tòa án không thể kết luận bản án hình sự là oan để phủ nhận giá trị pháp lý của nó mà cần phải hướng dẫn đương sự kiến nghị việc kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án hình sự và ra quyết định tạm đình chỉ vụ án dân sự, sau khi có sự phán xét bản án hình sự đúng hay sai mới có sở để giải quyết vụ án dân sự.

Do đó, trong khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải biết về giới hạn “sân chơi” của mình chứ không thể “đá lấn sân” và phải coi mình là một người giám khảo xem xét đưa ra phán quyết chứ không thể tự đặt mình vào vị thế của một thí sinh để mày mò đi tìm ẩn số.

Theo Pháp luật Việt Nam.

THẢO LUẬN: Thực thi hợp đồng – Cơ chế giải quyết tranh chấp và cưỡng chế thực thi hợp đồng kém hiệu quả đang hạn chếviệc ký kết hợp đồng kinh doanh giữa các doanh nghiệp

Hiện nay việc thi hành hợp đồng ở Việt Nam vẫn còn vướng mắc vì một số các lí do sau:
Thứ nhất, vẫn tồn tại 3 luật hợp đồng khác nhau: i) Bộ luật Dân sự điều chỉnh hợp đồng dân sự; ii) Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế điều chỉnh hợp đồng kinh tế và iii) Luật Thương mại điều chỉnh hợp đồng thương mại. Do vậy, các bên có liên quan đến tranh chấp hợp đồng thường mất nhiều thời gian cãi nhau về việc xác định tranh chấp này là thuộc về dân sự hay kinh tế để xác định khung pháp luật điều chỉnh.
Thứ hai, hợp đồng được các bên soạn thảo rất sơ sài do thông lệ là luật sẽ điều chỉnh các vấn đề còn lại hoặc có thể do các bên tham gia hợp đồng không biết là có nhiều luật điều chỉnh chế định hợp đồng. Chính vì vậy khi có tranh chấp xảy ra các bên phụ thuộc vào quyết định chủ quan của thẩm phán. Việc buộc thực hiện đúng hợp đồng trở nên phức tạp và khó thực hiện.
Thứ ba, ngay dù khi hợp đồng được soạn thảo một cách chi tiết để tránh những lỗ hổng của luật pháp, cơ quan công chứng lại thường yêu cầu các bên điều chỉnh lại hợp đồng và bỏ đi những điều khoản khung vì cho rằng các điều khoản này đã được điều chỉnh trong luật.
Thứ tư, quyết định của tòa hay trọng tài thương mại ở Việt Nam là không dự báo trước được do trình độ và chất lượng xét xử còn thấp.

Bà Nguyễn Đào, Giám đốc, Johnson Stokes & Master,
Trưởng tiểu ban Đất đai của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam


  • Việc đảm bảo thực hiện hợp đồng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn còn gặp phải những rào cản cả ở trong pháp luật cũng như trên thực tế triển khai. Hiện nay chế định về hợp đồng trong pháp luật Việt Nam còn sơ sài và chưa tương thích với luật pháp và thông lệ quốc tế. Chính vì vậy có xu hướng các trọng tài viên quốc tế áp dụng luật pháp và thông lệ quốc tế để xử các vụ tranh chấp có liên quan đến doanh nghiệp Việt Nam. Việc đưa tất cả các quy định về hợp đồng vào diện điều chỉnh của Bộ luật dân sự sửa đổi mà không có chương hợp đồng thương mại trong Luật Thương mại, các nhà lập pháp chưa đem lại được cho doanh nghiệp một chế định hợp đồng đầy đủ khi họ giao kết hợp đồng thương mại, đặc biệt là hợp đồng thương mại quốc tế.
    Một câu ngạn ngữ của Phương Tây “Một thỏa hiệp tồi còn hơn một bản án tốt” đã cho thấy khi có tranh chấp xảy ra, nếu các doanh nghiệp tự thỏa thuận giải quyết được với nhau thì vẫn tốt hơn so với việc mang nhau ra cơ quan tài phán (hoặc là tòa án hoặc là trọng tài). Đưa một tranh chấp ra trước cơ quan tài phán tất nhiên là sẽ tốn kém cả về mặt thời gian và tiền bạc của cả hai bên. Hệ thống tòa án của Việt Nam hiện nay là quá tải. Trong thời gian vừa qua, cũng đã nhiều nỗ lực để cải thiện hệ thống tư pháp. Bộ Luật tố tụng dân sự 2004 đã tăng thẩm quyền cho tòa án cấp quận, huyện, đã quy định chi tiết về thời hạn tòa án phải trả lời nguyên đơn (5 ngày kể từ ngày toà nhận đơn khởi kiện) và thời hạn chuẩn bị xét xử (2-4 tháng) và đưa vụ việc ra xét xử (sau 1-2 tháng kể từ này ra quyết định xét xử). Việt Nam cũng đang xem xét việc áp dụng thủ tục xét xử nhanh vụ kiện và tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục ở tòa. Tuy nhiên, những cải cách này phải đi song song với việc nâng cao năng lực của đội ngũ thẩm phán. Hơn nữa cần tiếp tục đưa công nghệ thông tin vào hoạt động của tòa để giảm dần cách làm “thủ công” của một số tòa như hiện nay để tăng hiệu quả hoạt động, giảm chi phí và thời gian xét xử.
    Các doanh nghiệp cần nhận thức được vẫn còn một cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh hơn và hiệu quả hơn – bằng trọng tài thương mại. Ưu điểm nổi bật của xét xử bằng trọng tài thương mại so với tòa án ở chỗ nhanh gọn, kín đáo và phán quyết của trọng tài là có giá trị chung thẩm, tức có hiệu lực cuối cùng và được cưỡng chế thi hành như phán quyết của tòa án. Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và Pháp lệnh Thi hành án có hiệu lực vào ngày 1/7/2004 đã tạo một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động của trọng tài thương mại.

Luật sư TS Phạm Liêm Chính,
Trưởng Văn phòng Luật sư Chính và Cộng sự


  • Pháp luật về hợp đồng của Việt Nam đang có những bước đi quan trọng. Tất cả các quy định chung về hợp đồng được đưa ra khỏi Luật Thương mại năm 2005. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 hết hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2006. Các quy định có tính chất luật chung về hợp đồng đang được quy trong Bộ luật Dân sự năm 2005 tạo niềm tin lớn hơn và tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc áp dụng pháp luật. Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, các quy định về hợp đồng cũng đang được điều chỉnh theo chiều hướng tốt. Một số thay đổi quan trọng có thể liệt kê ra đây như: i) hình thức của hợp đồng chỉ là điều kiện có hiệu lực của HĐ đối với một số HĐ cụ thể mà luật quy định; ii) điều khoản chủ yếu (chỉ mang tính hướng dẫn, không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng nếu không tuân thủ); iii) chỉ vi phạm đối tượng, mục đích của HĐ mới ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng; iv) các bên được quyền áp dụng luật pháp nước ngoài và tập quán quốc tế; v) hai biện pháp bảo đảm quan trọng nhất là cầm cố và thế chấp đã được quy định theo nguyên tắc căn cứ vào mức độ rủi ro chứ không căn cứ vào tiêu chí động sản hay bất động sản nữa; vi) có thể thế chấp tài sản hình thành trong tương lại.

Ông Nguyễn Am Hiểu, Vụ phó,
Vụ Pháp luật Dân sự Kinh tế, Bộ Tư pháp


  • Hiện các doanh nghiệp vẫn tự tìm cách giải quyết tranh chấp với nhau là chính. Nhiều trường hợp họ nhờ đến công an (như nhờ đi đòi nợ hộ). Ngoài ra họ có thể nhờ những người trung gian hòa giải có uy tín. Ban Pháp chế và Trung tâm Trọng tài của VCCI cũng thường xuyên nhận được các yêu cầu giúp đỡ hòa giải các tranh chấp giữa các DN. Việc công nhận hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp chính thức sẽ hỗ trợ DN giải quyết những tranh chấp không quá phức tạp.

Bà Phạm Chi Lan,
Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ


  • Cũng phải thừa nhận rằng mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách trong lĩnh vực tư pháp, công tác xét xử các tranh chấp kinh doanh thương mại của tòa án vẫn còn chưa thực sự hiệu quả. Có một số lí do làm cho doanh nghiệp không “mặn mà” với tòa án. Thứ nhất, các công việc của tòa án vẫn còn “thủ công”, chưa ứng dụng nhiều công nghệ thông tin, nên còn nhiều chậm chễ. Thứ hai, tư duy thẩm phán chưa thích nghi được với kinh tế thị trường, nên trong quá trình xét xử, các thẩm phán thiên về bảo vệ lợi ích của Nhà nước hơn là tôn trọng quyền tự do kinh doanh của họ và giải quyết tranh chấp theo hướng bảo vệ lợi ích của các bên. Thứ ba, kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại (nhất là về sở hữu trí tuệ, có yếu tố quốc tế) của đội ngũ thẩm phán còn rất hạn chế nên quyết định của tòa có vẻ không được các doanh nghiệp phục và tự nguyện thi hành. Thứ tư, vai trò của luật sư trong các phiên tòa cũng còn hạn chế do chưa lấy được sự tin tưởng từ thẩm phán và bản thân luật sư trong nước cũng chưa có nhiều kinh nghiệm đối với các tranh chấp kinh tế thương mại phức tạp. Pháp luật nước ta thì lại chưa cho phép sử dụng luật sư nước ngoài tại tòa để tạo điều kiện học hỏi cho cả thẩm phán và luật sự trong nước. Cuối cùng, ở Việt Nam việc kê khai tài sản không được thực hiện một cách hiệu quả nên rất khó xác định được tài sản nào có thể xiết nợ của bị đơn. Do vậy việc thi hành các quyết định của tòa án hiện nay cũng rất chậm và kém hiệu quả.
    Trong thời gian tới, cần thực hiện một rà soát toàn diện về thực trạng và năng lực giải quyết án/tranh chấp kinh tế của hệ thống tòa án và trọng tài thương mại để có thể đưa ra được những đề xuất sửa đổi về chính sách cũng như xây dựng các chương trình nâng cao năng lực cho đội ngũ thẩm phán và trọng tài viên.

Ông Ngô Cường, Phó Viện trưởng,
Viện Khoa học Xét xử, Tòa án Nhân dân tối cao

SOURCE: CHƯA ĐƯỢC XÁC ĐỊNH CỤ THỂ

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ THỪA KẾ: MỐC ĐỂ TÍNH LÀ KHI NỘP ĐƠN KHỞI KIỆN

LÊ KIÊN – PLTP HCM

Thời gian qua, nhiều tòa án địa phương đã lúng túng, thậm chí xử lý sai những vụ án tranh chấp di sản thừa kế liên quan đến hướng dẫn trong nghị quyết 02 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (về thời hiệu khởi kiện và cách phân chia di sản). Cạnh đó, Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước ngoài tham gia cũng đã gây ra những cách hiểu khác nhau.

Bên lề hội nghị toàn quốc của ngành tòa án, chúng tôi đã trao đổi với lãnh đạo TAND tối cao để làm rõ các nội dung này.

Hai trường hợp không tính thời hiệu

Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích cho biết tại Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn có hai trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

Thứ nhất là trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế thì tài sản thành di sản chung. Khi xảy ra tranh chấp thì không tính thời hiệu và tòa sẽ tiến hành chia tài sản theo di chúc hoặc chia theo thỏa thuận của các đồng thừa kế.

Thứ hai là di sản người chết để lại nhưng do người ngoài quản lý, còn các thừa kế không quản lý, không biết gì về di sản. Thực tế có những trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau mà sau một thời gian dài đương sự mới phát hiện đó là tài sản của cha mẹ và chưa chia, nay họ muốn đòi lại thì không tính thời hiệu khởi kiện. Một số tòa án thời gian qua đã không nhận thức rõ vấn đề này nên vẫn tính thời hiệu khởi kiện là sai.

Còn thời hiệu phần nào, làm phần đó

Một vấn đề khác là nếu đương sự khởi kiện đòi chia di sản thừa kế mà trong khối di sản này có cả phần tài sản còn thời hiệu lẫn phần tài sản hết thời hiệu thì các tòa có thụ lý, giải quyết?

Theo Chánh tòa dân sự TAND tối cao Tưởng Duy Lượng, tòa án có thẩm quyền phải nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án nếu như đương sự thực hiện đúng quy định tại Điều 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự và nộp tiền tạm ứng án phí (với trường hợp phải nộp)

Mốc để tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế còn hay hết là vào lúc đương sự có đơn khởi kiện tại tòa án chứ không phải từ thời điểm thụ lý như một số tòa vẫn áp dụng. Khi giải quyết, tòa chỉ phân chia theo yêu cầu của các bên đương sự đối với phần di sản còn thời hiệu khởi kiện, phần di sản hết thời hiệu thì không “đụng” tới.

Không cần chờ hướng dẫn

Việc kiện tụng liên quan đến giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991, có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia: Tòa phải thụ lý, không cần chờ hướng dẫn của TAND tối cao!

Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước ngoài tham gia đã gây ra một số cách hiểu khác nhau. Một số tòa án địa phương đã từ chối thụ lý các vụ án dạng này với lý do chưa có hướng dẫn của TAND tối cao. Người dân thì hoang mang vì sợ hết thời hiệu khởi kiện (hai năm) theo Bộ luật Dân sự.

Theo ông Tưởng Duy Lượng, những quy định trong Nghị quyết 1037 đã khá rõ, các tòa án địa phương hoàn toàn có thể giải quyết được mà không phải đợi hướng dẫn của TAND tối cao. Việc chậm hướng dẫn Nghị quyết 1037 không ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện theo BLDS vì thời hiệu hai năm này cũng được xác định còn hay hết với mốc là lúc tòa nhận đơn của đương sự.

Ông Lượng giải thích cụ thể: Nếu người khởi kiện đã thực hiện đúng quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tòa án phải nhận đơn kiện và tiến hành xử lý theo quy định. Đối với các trường hợp tòa án đã tạm đình chỉ theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 8 và Nghị quyết 58 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phải tiếp tục giải quyết ngay. Tòa án các cấp không chỉ áp dụng Nghị quyết 1037 mà còn phải áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tương ứng với giai đoạn tạm đình chỉ để giải quyết.

Tòa đã thụ lý: Không cần thông báo!

Ngoài ra, theo ông Lượng, đối với một số loại việc như thuê nhà ở, mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở theo quy định của Nghị quyết 1037, khi chủ nhà muốn lấy lại nhà phải thực hiện thủ tục thông báo bằng văn bản theo đúng hạn định của pháp luật. Do đó, gặp trường hợp các đương sự mới bắt đầu khởi kiện mà chưa thực hiện việc thông báo cho phía bên kia theo đúng Nghị quyết 1037 thì tòa án trả lại đơn kiện.

Tuy nhiên, đối với tòa án các cấp đã thụ lý hoặc đã chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm…, sau đó phải tạm đình chỉ theo nghị quyết của Quốc hội, nay lý do tạm đình chỉ không còn (Nghị quyết 1037 có hiệu lực), tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết thì không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo. Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm huỷ các bản án, giao hồ sơ về cho tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm giải quyết lại thì cũng không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo!

SOURCE: http://www.tuoitre.com.vn

GIẢI QUYẾT HỢP ĐỒNG MUA BÁN QUỐC TẾ

THS. NGUYỄN THỊ MINH HẰNG – ĐH Ngoại Thương HN

Công ước Vienne năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

 

Công ước này đã trở thành công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa phương về mua bán hàng hoá quốc tế. Cho đến thời điểm hiện nay, đã có 66 quốc gia là thành viên Công ước này .

Từ khi công ước có hiệu lực (ngày 01/01/1988), đến thời điểm hiện nay tổng số các bản án, phán quyết đã lên tới hơn 1.600.

CISG cũng góp phần đáng kể vào việc thúc đẩy sự phát triển của quan hệ thương mại về hàng hoá giữa các quốc gia. Việc cùng trở thành thành viên của công ước giúp các quốc gia xích lại gần nhau hơn trong quan hệ mua bán, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được nhanh chóng và thuận lợi hơn.

Trong số hàng nghìn án lệ về CISG, đã có một án lệ liên quan đến Việt Nam. Đây là án lệ về tranh chấp giữa Công ty thương mại Tây Ninh – Tanico (Việt Nam) và DN Ng Nam Bee (Singapore), được xét xử tại Toà phúc thẩm – TAND Thành phố Hồ Chí Minh, bản án tuyên ngày 4/5/1996. Khi xét xử vụ việc này, Toà án đã tham chiếu điều 29 và điều 53, điều 64 CISG. Đây là một án lệ về CISG đầu tiên đối với Việt Nam. Án lệ này cho thấy, dù Việt Nam chưa phải là thành viên công ước, nhưng vẫn có những trường hợp công ước này có thể được áp dụng ở Việt Nam.

Câu hỏi được đặt ra là: một khi VN chưa trở thành một quốc gia thành viên của công ước thì khi nào và trong trường hợp nào, CISG có thể được áp dụng tại VN?

Vì vậy, để xem xét các trường hợp có thể áp dụng CISG ở Việt Nam, chúng ta cần nghiên cứu Điều 1 của CISG. Điều 1.1 của CISG quy định: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau: a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của công ước; b. Khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của công ước.”

Khi Việt Nam chưa là thành viên của CISG thì không thể áp dụng CISG theo điều 1.1.a nói trên cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà một bên là bên Việt Nam.

Tuy vậy, ở trường hợp thứ hai, CISG sẽ có thể được áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế được ký kết giữa một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia là thành viên và một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia chưa phải là thành viên công ước. Lấy ví dụ, một hợp đồng mua bán sản phẩm viễn thông được ký kết giữa người bán Singapore (Singapore đã gia nhập CISG vào ngày 16/02/1995 và có hiệu lực từ ngày 1/3/1996) và người mua Việt Nam (Việt Nam chưa gia nhập hay phê chuẩn Công ước). Hai bên không lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng. Khi có tranh chấp xảy ra, toà án (trọng tài) sẽ phải dựa vào các qui phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Nếu quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật nước người bán – tức là luật Singapore, thì luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là luật Singapore. Nhưng vì Singapere là một quốc gia thành viên của CISG nên đối với các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, toà án (trọng tài) sẽ không áp dụng luật của Singapore mà sẽ áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Nếu tranh chấp được giải quyết tại Việt Nam và quy phạm xung đột của Việt Nam dẫn chiếu đến việc áp dụng luật của một quốc gia thành viên công ước thì chúng ta cũng có kết quả tương tự: đó là CISG sẽ được áp dụng cho hợp đồng. Đây là điểm mà các DN Việt Nam cần chú ý nhằm có được thế chủ động khi CISG được áp dụng vào hợp đồng theo trường hợp thứ hai nêu trên.

Ngoài trường hợp nói trên, còn có hai trường hợp khác ở đó CISG có thể được áp dụng:

– Khi các bên trong hợp đồng lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng của mình;

– Khi trong hợp đồng, các bên không lựa chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn CISG để giải quyết tranh chấp. Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là toà án VN, toà án nước ngoài, trọng tài VN hay trọng tài nước ngoài.

Khuyến nghị cho các DN VN

Khuyến nghị thứ nhất là DN cần nghiên cứu để nắm được tinh thần và nội dung của CISG: Theo chúng tôi sẽ còn có nhiều tranh chấp nữa về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế giữa doanh ngiệp Việt Nam và các đối tác nước ngoài sẽ được giải quyết bằng CISG bởi các tòa án Việt Nam, tòa án nước ngoài và đặc biệt là các trọng tài quốc tế. Như vậy, tuy Việt Nam chưa tham gia CISG nhưng các tranh chấp trong mua bán hàng hoá quốc tế của các DN nước ta rất có thể sẽ được xét xử theo Công ước này. Vì vậy, chúng tôi nhấn mạnh trước hết đến việc phổ biến Công ước này cho các DN xuất nhập khẩu Việt Nam, tạo điều kiện cho các DN tiếp cận và nắm được tinh thần và nội dung của Công ước này. Bộ Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI có thể tổ chức các khoá học cho DN nhằm mục đích này. Các DN cũng có thể tham gia các khoá học do trường Đại học Ngoại Thương tổ chức (ví dụ các khoá học xuất nhập khẩu ngắn hạn, các lớp học chuyên đề về xuất nhập khẩu…). Ngoài ra, các DN có thể chủ động tiếp cận với các nguồn thông tin rất phong phú, đa dạng trên Internet liên quan đến CISG.

Khuyến nghị thứ hai là DN có thể lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng: Lựa chọn luật áp dụng luôn là một vấn đề quan trọng và khó khăn đối với các nhà đàm phán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế của Việt Nam. Họ có sự lựa chọn giữa luật Việt Nam, luật quốc gia của đối tác, luật quốc gia của nước thứ ba, điều ước quốc tế như CISG hay tập quán thương mại quốc tế…

Hiện tại Việt Nam chưa gia nhập CISG nhưng các DN xuất nhập khẩu Việt Nam có thể lựa chọn CISG làm nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế vì ba lý do sau:

– Thứ nhất, tránh được những khó khăn khi phải đàm phán lựa chọn luật quốc gia làm luật áp dụng cho hợp đồng. Trên thực tế, việc lựa chọn luật quốc gia thường gặp phải rất nhiều khó khăn.

o o Nếu như các nhà đàm phán nước ngoài thường có xu hướng lựa chọn luật quốc gia của mình thì điều này lại không hoàn toàn đúng với các nhà đàm phán Việt Nam. Họ hiểu rằng việc dẫn chiếu đến luật Việt Nam đôi khi không phải là giải pháp tối ưu, vì pháp luật về hợp đồng nói chung và về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nói riêng của Việt Nam còn hàm chứa nhiều quy định chưa phù hợp với điều kiện quốc tế, với pháp luật, tập quán thương mại quốc tế và như vậy, chưa thể bảo vệ một cách hiệu quả lợi ích của các bên trong hợp đồng quốc tế.

o o Việc lựa chọn luật quốc gia của nước ngoài có thể đem lại những rủi ro pháp lý cho DN Việt Nam do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật đó.

– Thứ hai, đây là nguồn luật phổ biến nhất điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hiện nay. CISG đã được phê chuẩn bởi 66 quốc gia, trong đó có rất nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt Nam như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc… Các công ty, DN của các nước này đã áp dụng và đã quen áp dụng CISG cho các hợp đồng mua bán hàng hoá ký với các đối tác nước ngoài. Vì vậy, nếu DN Việt Nam đề xuất việc áp dụng CISG thì sẽ dễ dàng được đối tác chấp nhận.

– Thứ ba, có được sự an toàn về mặt pháp lý. Qua việc tìm hiểu các quy định của CISG cũng như qua việc phân tích các án lệ liên quan đến CISG trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, chúng tôi thấy rằng các quy định của CISG là phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế, thường được các DN và công ty lựa chọn áp dụng cũng như được các toà án, đặc biệt là các trọng tài quốc tế dẫn chiếu đến khi giải quyết tranh chấp. Hơn nữa, với tư cách là một văn bản luật thực chất nhằm giải quyết các xung đột trong kinh doanh quốc tế, các quy định trong Công ước được coi là rất hợp lý, đã thống nhất được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, tạo được sự bình đẳng giữa người bán và người mua trong quan hệ hợp đồng, giúp các bên bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Khi đã thống nhất lựa chọn CISG làm luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, vì Việt Nam chưa gia nhập Công ước nên khi ký kết hợp đồng, cho dù quốc gia của đối tác chưa tham gia hay đã là thành viên của CISG, cần phải quy định cụ thể việc áp dụng CISG trong “Điều khoản Luật áp dụng”- “Applicable Law Clause”. Điều khoản này cần được quy định cụ thể, rõ ràng, tránh gây ra những xung đột khi tranh chấp phát sinh. Theo chúng tôi, muốn lựa chọn CISG để áp dụng cho hợp đồng, có thể quy định “Điều khoản Luật áp dụng” trong hợp đồng như sau: “Any questions relating to this Contract which are not expressly or implicitly settled by the provisions contained in the Contract itself shall be governed by the United Nations Convention on the International Sale of Goods and to the extent that such questions are not covered by CISG, by reference to the law of the country where the Seller has his place of business”. (Bất kỳ vấn đề nào liên quan đến hợp đồng này mà không được qui định một cách rõ ràng hay ngầm hiểu trong các điều khoản của hợp đồng thì sẽ được điều chỉnh bởi Công ước Viên của Liên hợp quốc về mua bán hàng hoá quốc tế, và nếu những vấn đề đó cũng không thuộc phạm vi điều chỉnh của CISG thì sẽ tham chiếu tới Luật của quốc gia nơi người bán đặt trụ sở kinh doanh) .

Nhìn vào điều khoản mẫu nói trên, sẽ có câu hỏi đặt ra là: Tại sao đã chọn CISG rồi lại còn phải chọn luật quốc gia nơi người bán đóng trụ sở? Mặc dù các nhà phân tích và các nhà kinh doanh hết lời ca ngợi CISG, nhưng CISG không phải là một công cụ toàn năng, CISG không điều chỉnh tất cả các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Một số vấn đề được CISG “bỏ ngỏ” , ví dụ như vấn đề thẩm quyền ký kết hợp đồng, điều kiện hiệu lực của hợp đồng . Do vậy, để chặt chẽ và tránh phát sinh tranh chấp khi lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các bên nên lựa chọn một nguồn luật “phụ trợ” để giải quyết các vấn đề mà CISG không bao trùm (thường nguồn luật phụ trợ này là luật quốc gia).

Khuyến nghị về việc Việt Nam tham gia Công ước

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc gia nhập CISG là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn đối với các hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá (xuất nhập khẩu) nói riêng của Việt Nam. Đây là Công ước về mua bán hàng hóa quốc tế đã được nhiều nước tham gia, phê chuẩn, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các quan hệ hợp tác song phương và đa phương, do đó, việc các văn bản luật quốc gia chưa phù hợp với pháp luật quốc tế sẽ gây cho chúng ta nhiều khó khăn, bất lợi, làm phát sinh những xung đột pháp luật với các nước khác và khi giải quyết tranh chấp cũng khó khăn. Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 (và ngay cả Luật Thương mại Việt Nam năm 2005) liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế và còn chứa đựng những điều khoản chưa phù hợp với thực tiễn và đòi hỏi của các nhà kinh doanh quốc tế. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng có các giải pháp tiến tới gia nhập CISG trong thời gian sớm nhất để thống nhất nguồn luật áp dụng cho mua bán hàng hóa quốc tế giữa các DN Việt Nam và các đối tác nước ngoài. Khi đó các DN Việt Nam và nước ngoài sẽ cùng chung “tiếng nói”, cùng chung quan điểm và nhờ đó, các mối quan hệ hợp tác thương mại quốc tế sẽ ngày càng gắn chặt hơn, lâu bền hơn và rộng mở hơn.

SOURCE: http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Phapluat-Kd/Giai_quyet_hop_dong_mua_ban_quoc_te/

GIẢI THÍCH HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA – Bảo Việt Nhân thọ

Xét trên phương diện lý thuyết, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, qua đó thể hiện sự thống nhất ý chí (còn gọi là sự “ưng thuận”) của các bên với các mong muốn và chủ đích đạt được những hệ quả pháp lý nhất định là việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ ràng buộc các bên trong quan hệ hợp đồng. Với vai trò là luật do các bên trong quan hệ hợp đồng tạo ra, về mặt lý luận, các điều khoản quy định trong hợp đồng cần phải đảm bảo các tiêu chí: đầy đủ, rõ ràng, thống nhất, đơn nghĩa, dễ hiểu trong đó tiêu chí “rõ ràng” là quan trọng nhất. Tuy nhiên, không ít hợp đồng tồn tại trên thực tế không phải lúc nào cũng đảm bảo được các tiêu chí nói trên dẫn đến việc các bên không có cách hiểu thống nhất về nội dung hợp đồng và vấn đề giải thích hợp đồng để giải quyết tranh chấp được đặt ra. Mục đích của việc giải thích hợp đồng là nhằm làm rõ nghĩa và phạm vi của hợp đồng hay một điều khoản cụ thể của hợp đồng. Trong phạm vi bài viết này muốn đề cập và trao đổi với quý độc giả về vấn đề “giải thích hợp đồng bảo hiểm”.

Hợp đồng bảo hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng được điều chỉnh bởi Luật kinh doanh bảo hiểm là một loại hợp đồng gia nhập (còn gọi là hợp đồng theo mẫu). Đặc điểm này được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp bảo hiểm là bên đưa ra các điều khoản mẫu (do Bộ Tài chính ban hành hoặc phê duyệt) để khách hàng xem xét trả lời chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý; nếu khách hàng đồng ý tham gia bảo hiểm đồng nghĩa với việc chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo điều khoản mẫu mà doanh nghiệp bảo hiểm đã đưa ra. Do đó, về nguyên tắc người mua bảo hiểm không được đàm phán, thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung điều khoản của hợp đồng bảo hiểm.

Xuất phát từ sự “yếu thế” nói trên của người mua bảo hiểm, tính phức tạp và khó hiểu của các điều khoản bảo hiểm đặc biệt là điều khoản bảo hiểm nhân thọ, và để tránh việc các doanh nghiệp bảo hiểm tìm cách “chèn ép” khách hàng, dồn họ vào tình thế khó lựa chọn cũng như hạn chế vi phạm nguyên tắc “tự do khế ước” trong giao dịch, các nhà làm luật đã đưa ra quy định về nghĩa vụ giải thích hợp đồng bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của người mua bảo hiểm như sau:

– Thứ nhất, “khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm…” (khoản 1, Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm).

– Thứ hai, “trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm” (Điều 21 Luật kinh doanh bảo hiểm)”.

Như vậy, theo các quy định trên thì nghĩa vụ giải thích hợp đồng bảo hiểm trước hết thuộc về doanh nghiệp bảo hiểm (thực hiện trực tiếp hoặc thông qua đại lý) và việc giải thích này phải theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm nếu điều khoản không rõ ràng. Khi có tranh chấp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng liên quan đến những quy định của điều khoản hợp đồng, toà án có nghĩa vụ làm sáng tỏ ý nghĩa và nội dung của hợp đồng bảo hiểm đó và thường sẽ ưu tiên giải thích theo hướng có lợi hơn cho người mua bảo hiểm và/hoặc người được hưởng quyền lợi bảo hiểm.

Về vấn đề này, khoản 2 Điều 406 Bộ luật dân sự năm 1995 và khoản 2 Điều 407 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng quy định “Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”. Đây là quy định hợp lý bởi lẽ doanh nghiệp bảo hiểm là bên soạn thảo hợp đồng, do đó về nguyên tắc họ có quyền đồng thời có nghĩa vụ diễn đạt các điều khoản của hợp đồng một cách rõ ràng, mạch lạc còn người tham gia bảo hiểm hay người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là bên phải chấp nhận hoặc bác bỏ toàn bộ các điều khoản đó (không tham gia bảo hiểm) mà không được “mặc cả” bất cứ điều gì.

Tuy nhiên, Luật kinh doanh bảo hiểm chỉ dừng lại ở quy định nguyên tắc giải thích hợp đồng bảo hiểm mà không nói đến cách thức giải thích hợp đồng này như thế nào. Do đó, khi có tranh chấp xảy ra, việc giải thích hợp đồng bảo hiểm phải căn cứ vào các quy định khác của pháp luật nếu có, bởi về nguyên tắc áp dụng luật, việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm trước hết sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm. Nếu Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định hoặc dẫn chiếu đến việc áp dụng luật khác (Bộ luật dân sự và các quy định quy định khác của pháp luật có liên quan) thì luật khác sẽ được áp dụng (Điều 12 khoản 4 Luật kinh doanh bảo hiểm). Trong trường hợp này, Điều 408 Bộ luật dân sự năm 1995 có quy định cách thức giải thích hợp đồng như sau:

1. Khi hợp đồng có điều khoản không rõ ràng thì không chỉ dựa vào ngôn từ của hợp đồng mà còn phải căn cứ vào ý chí chung của các bên để giải thích điều khoản đó.

2. Khi một điều khoản của hợp đồng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa thì phải chọn nghiã nào làm cho điều khoản đó khi thực hiện có lợi nhất cho các bên.

3. Khi hợp đồng có ngôn từ có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với tính chất của hợp đồng.

4. Khi hợp đồng có điều khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao kết hợp đồng.

5. Khi hợp đồng thiếu một số điều khoản không thuộc nội dung chủ yếu, thì có thể bổ sung theo tập quán đối với đối với loại hợp đồng đó tại địa điểm giao kết hợp đồng.

6. Các điều khoản trong hợp đồng phải được giải thích trong mối liên hệ với nhau, sao cho ý nghĩa của các điều khoản đó phù hợp với toàn bộ nội dung hợp đồng”.

Điều 409 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng kế thừa các quy định về cách thức giải thích hợp đồng tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6 Điều 408 nói trên. Tuy nhiên, Điều 409 Bộ luật dân sự năm 2005 đã sửa từ “…thiếu một số điều khoản không thuộc nội dung chủ yếu…” của khoản 5 Điều 408 thành “…thiếu một số điều khoản…” và có bổ sung mới hai cách thức giải quyết sau:

7. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa ý chí chung của các bên với ngôn ngữ từ sử dụng trong hợp đồng thì ý chí chung của các bên được sử dụng để giải thích hợp đồng.

8. Trong trường hợp bên mạnh thế đưa vào hợp đồng nội dung bất lợi cho bên yếu thế thì khi giải thích hợp đồng phải theo hướng có lợi cho bên yếu thế”.

Rõ ràng từ những quy định nói trên, thì việc giải thích hợp đồng bảo hiểm theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm khi có điều khoản không rõ ràng phải được đặt trong mối quan hệ với các cách thức giải thích đã được đề cập tại Bộ luật dân sự hiện hành chứ không được áp dụng một cách tuỳ tiện, duy ý chí.

Giải thích hợp đồng không phải là vấn đề mới đối với các nước trên thế giới bởi từ trước công nguyên, những luật gia thuộc thế hệ đầu tiên của La Mã đã đặt nền móng cho hoạt động này. Tuy nhiên, không phải luật pháp nước nào cũng quy định giống nhau về cách thức giải thích hợp đồng. Theo Bộ luật dân sự Pháp, khi giải thích hợp đồng trong trường hợp các điều khoản của hợp đồng có điểm không rõ ràng thì phải xem xét ý định đích thực của các bên ký kết (Điều 1156). Nếu một điều khoản hợp đồng có thể được giải thích theo hai cách khác nhau, thì phải chọn cách giải thích nào làm cho điều khoản đó có hiệu lực và loại trừ cách giải thích làm cho điều khoản vô hiệu (Điều 1157). Trường hợp một điều khoản của hợp đồng có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau, thì phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với nội dung cơ bản của hợp đồng (Điều 1158). Giải thích hợp đồng dựa vào tập quán, thông lệ (Điều 1159 và 1160). Giải thích nội dung các điều khoản cụ thể phải dựa vào nội dung của hợp đồng nói chung, bởi vì nội dung từng điều khoản cụ thể của hợp đồng không thể mâu thuẫn nhau (Điều 1161) và trong trường hợp có nghi ngờ về nội dung của một điều khoản hợp đồng, thì phải giải thích hợp đồng điều khoản đó theo hướng có lợi cho người có nghĩa vụ (Điều 1162).

Theo Công ước Viên năm 1980, “tuyên bố và cách xử sự khác của một bên được giải thích theo đúng ý định của họ nếu bên kia biết hoặc không thể biết ý định ấy. Nếu không đạt được mục đích đó, thì tuyên bố và cách xử sự khác của một bên được giải thích theo nghĩa mà một người có lý trí, nếu người đó được đặt vào vị trí của phía bên kia trong những hoàn cảch tương tự cũng sẽ hiểu như thế. Và khi xác định ý muốn của một bên hoặc theo cách hiểu không thường của một người có lý trí, cần phải tính đến mọi tình tiết liên quan, kể cả các cuộc đàm phán, mọi thực tế mà các bên đã có trong mối quan hệ tương hỗ của họ, các tập quán và hành vi sau đó của các bên” (Điều 8).

Tại Việt Nam, xung quanh vấn đề giải thích hợp đồng bảo hiểm, có rất nhiều quan điểm khác nhau trong đó có không ít những quan điểm xuất phát từ việc không hiểu hoặc cố tình không hiểu cách thức giải thích hợp đồng nên đưa ra nhận định chủ quan của mình, xúi giục những người mua bảo hiểm chưa am hiểu về lĩnh vực pháp luật, khởi kiện doanh nghiệp bảo hiểm gây mất ổn định xã hội, bản thân người mua bảo hiểm cũng mất nhiều thời gian, tiền bạc theo đuổi vụ kiện do bị thua kiện. Chúng tôi xin nêu một vụ kiện sau làm ví dụ điển hình:

Ông Nguyễn Văn T. và Bà Ngô Thị K. tham gia Hợp đồng Bảo hiểm nhân thọ thời hạn 05 năm cho chính mình với số tiền bảo hiểm (STBH) ghi tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm như sau:

+ STBH của Hợp đồng chính (Bảo hiểm và tiết kiệm) : 20.000.000 đồng
+ STBH của Điều khoản riêng I

(Bảo hiểm thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn)

: 20.000.000 đồng
+ STBH của Điều khoản riêng II (Bảo hiểm chi phí phẫu thuật) : 20.000.000 đồng

Đến ngày đáo hạn Hợp đồng bảo hiểm nói trên, Công ty bảo hiểm nhân thọ PT đã thanh toán cho Ông T. và Bà K. với STBH của Hợp đồng chính cho mỗi người là 20.000.000 đồng cộng với lãi chia thêm.

Được sự tư vấn của Văn phòng Luật sư HV, ông T. và bà K. đã làm đơn yêu cầu Bảo Việt Nhân thọ PT thanh toán thêm STBH của các điều khoản riêng I, II với lý do viện dẫn là tại Điều 2 điểm 2.1 điều khoản Hợp đồng chính có ghi: “Đến ngày đáo hạn hợp đồng bảo hiểm, Công ty sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm đã cam kết tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm”.

Thực tế, đề nghị của bà K. với sự viện dẫn như trên là không có cơ sở pháp lý do đã hiểu điều khoản này một cách quá cứng nhắc, máy móc theo hướng “chẻ chữ” mà không căn cứ vào các cách thức giải thích hợp đồng đã được quy định tại Điều 408 Bộ luật dân sự năm 1995 (do tại thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm của bà K. và ông T., Bộ luật dân sự 2005 chưa ra đời nên Bảo Việt lấy Bộ luật dân sự 1995 để giải thích). Lý do như sau:

Thứ nhất, bản chất của hợp đồng chính và điều khoản riêng I, II mà ông T. và bà K. đã tham gia là hoàn toàn khác nhau. Hợp đồng chính là loại sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp vừa tiết kiệm vừa bảo hiểm (nghĩa là trong thời hạn có hiệu lực của hợp đồng nếu người được bảo hiểm (NĐBH) gặp rủi ro thương tật toàn bộ vĩnh viễn hoặc bị tử vong thì Công ty bảo hiểm sẽ trả STBH và nếu khi hợp đồng đáo hạn mà NĐBH còn sống thì sẽ được nhận STBH). Còn điều khoản riêng I (Bảo hiểm thương tật toàn bộ vĩnh viễn do tai nạn) và riêng II (Bảo hiểm chi phí phẫu thuật) đơn thuần là sản phẩm bảo hiểm rủi ro (nghĩa là chỉ có rủi ro quy định trong các điều khoản riêng này xảy ra đối với NĐBH thì Công ty bảo hiểm mới trả tiền bảo hiểm theo các điều khoản riêng này). Điều này được giải thích rõ ngay tại Điều 2 điều khoản riêng I, II “Số tiền bảo hiểm theo điều khoản này được hiểu là giới hạn trách nhiệm tối đa của Công ty bảo hiểm đối với hậu quả của từng rủi ro được bảo hiểm xảy ra đối với Người được bảo hiểm”. Đây cũng là lý do tại sao số phí bảo hiểm của hợp đồng chính lại gấp rất nhiều lần số phí bảo hiểm của điều khoản riêng trong khi có cùng STBH .

Thứ hai, giới hạn trách nhiệm của Công ty bảo hiểm nhân thọ PT đối với người mua bảo hiểm, người được bảo hiểm đã được phân định rõ ràng, tách biệt tại phần quyền lợi bảo hiểm của điều khoản hợp đồng chính và điều khoản riêng I, II. Theo đó, Công ty bảo hiểm thanh toán STBH cho NĐBH khi hợp đồng đáo hạn chỉ được đề cập tại Điều 2 của điều khoản hợp đồng chính còn tại điều khoản riêng I, Công ty bảo hiểm chỉ trả STBH khi “NĐBH bị thương tật bộ phận vĩnh viễn do tai nạn” (phần III) và điều khoản riêng II khi “NĐBH bị phẫu thuật do bệnh tật hoặc tai nạn”(Điều 5 phần II). Nếu không bị rủi ro, tai nạn trong thời gian hợp đồng bảo hiểm thì khi đáo hạn, NĐBH không được nhận số tiền theo điều khoản riêng này.

Thứ ba, việc ký kết Hợp đồng Bảo hiểm Nhân thọ giữa Công ty bảo hiểm PT và ông T., bà K. trước tiên được dựa trên cơ sở là Giấy yêu cầu bảo hiểm mà Ông, Bà đã tự kê khai. Ngay tại phần đầu của Giấy yêu cầu bảo hiểm này đã ghi: “Sau khi tìm hiểu Điều khoản, Biểu phí do Bộ Tài chính ban hành kèm theo Quyết định số …, tôi đồng ý tham gia bảo hiểm …và làm Giấy yêu cầu bảo hiểm này kê khai đầy đủ, trung thực các chi tiết sau đây”. Đồng thời tại Điểm 2 Phần II (Điều kiện bảo hiểm) của Giấy yêu cầu bảo hiểm Ông, Bà cũng ghi rõ: STBH của hợp đồng chính, STBH của điều khoản riêng I, STBH của điều khoản riêng II. Như vậy, ngay từ khi thể hiện nguyện vọng tham gia bảo hiểm, các điều kiện bảo hiểm đã được Ông, Bà phân định rõ ràng, các điều khoản của Hợp đồng chính và các điều khoản riêng I, II cũng đã được giải thích chi tiết và cụ thể.

Với những lý do trên, mặc dù Điều 2 điểm 2.1 của bản điều khoản Hợp đồng chính có ghi: “Đến ngày đáo hạn hợp đồng bảo hiểm, Công ty sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm đã cam kết tại Phụ lục 1- Mục III của Hợp đồng Bảo hiểm” nhưng vì quy định này chỉ nằm trong điều khoản hợp đồng chính (chứ không nằm trong điều khoản riêng I, II) nên “toàn bộ số tiền bảo hiểm” mà ông T. và bà K. viện dẫn phải được hiểu là toàn bộ và chỉ số tiền của hợp đồng chính (20.000.000 đồng) chứ không thể bao gồm cả STBH của các điều khoản riêng và cũng không thể coi điều khoản này là “không rõ ràng”. Việc giải thích hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nhân thọ nói riêng không chỉ đơn thuần căn cứ vào câu chữ trong điều khoản, theo hướng có lợi cho người mua bảo hiểm mà phải giải thích theo nghĩa phù hợp nhất với ý chí đích thực của các bên khi giao kết hợp đồng, tính chất, toàn bộ nội dung của hợp đồng, và trong mối liên hệ với các điều khoản khác.

=====================

NGUỒN: WWW.BAOVIET.COM.VN

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC ÁP DỤNG QUI ĐỊNH VỀ HÀNH VI LỪA DỐI TRONG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA – BVNT VIỆT NAM

Hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm ảnh hưởng đến tính hiệu lực của hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng. Vì vậy, về nguyên tắc khi một trong các bên có hành vi lừa dối họ sẽ phải chịu một chế tài nhất định theo quy định của pháp luật hay thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bên bị lừa dối cũng như đảm bảo cho việc thực hiện các nguyên tắc giao kết hợp đồng (tự do, tự nguyện, bình đẳng, trung thực, thiện chí…).

Về mặt lý luận, một hành vi bị coi là lừa dối khi giao kết hợp đồng thông thường được xác định dựa trên các tiêu chí sau: (1) đưa ra thông tin sai lệch về một sự việc; (2) bản thân người đưa ra thông tin biết rõ rằng thông tin đó sai lệch sự thật; (3) với chủ ý làm cho người nghe tin vào thông tin đó; (4) người nhận thông tin đã tin tưởng vào thông tin đó nên giao kết hợp đồng và (5) có thiệt hại xảy ra.

Theo Điều 142 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 khoản 1 “lừa dối là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó”. Nói cách khác, lừa dối là việc một bên có những thủ đoạn (che giấu thông tin, cung cấp thông tin sai lệch) nhằm làm cho bên kia nhầm lẫn và vì vậy đã giao kết hợp đồng. Bộ luật dân sự Pháp cũng quy định hành vi lừa dối bao gồm hai yếu tố cấu thành: yếu tố ý đồ (lừa dối là một hành vi cố ý, bên này chủ ý lừa dối bên kia) và yếu tố hiện thực (phải có thủ đoạn gian dối- sự cố ý không cung cấp thông tin quan trọng mà nếu biết được thông tin đó thì người kia đã không ký kết hợp đồng).

Như vậy, việc cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thực chất cũng là một hành vi lừa dối. Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm là một loại hợp đồng chuyên biệt nên hậu quả pháp lý của hành vi này sẽ chịu sự điều chỉnh của luật riêng- Luật kinh doanh bảo hiểm (LKDBH), trừ khi Luật riêng không quy định hoặc dẫn chiếu tới Luật chung- Bộ luật dân sự. Đối với hành vi lừa dối, Luật kinh doanh bảo hiểm có những quy định sau: nếu là hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm thì sẽ áp dụng Điều 19 khoản 2: “Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm” . Còn nếu là hành vi lừa dối khác (ngoài hành vi cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm) thì áp dụng Điều 22: “hợp đồng bảo hiểm vô hiệu- hợp đồng không có hiệu lực ngay từ thời điểm giao kết và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”.

So với Bộ luật dân sự, LKDBH có điểm khác ở chỗ cùng là hành vi lừa dối nhưng LKDBH lại quy định hai hậu quả pháp lý khác nhau (Bộ luật dân sự chỉ quy định một hậu quả pháp lý là hợp đồng vô hiệu). Điểm khác biệt này hoàn toàn có căn cứ, xuất phát từ bản chất của hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm (khoản 1 Điều 12 LKDBH 2000) và mục đích bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên bị lừa dối- doanh nghiệp bảo hiểm vì những thông tin mà người mua bảo hiểm cung cấp có ảnh hưởng trực tiếp đến việc doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá rủi ro và ra quyết định thiết lập hay không thiết lập hợp đồng bảo hiểm dựa trên những thông tin đó- nguyên tắc “tin tưởng tuyệt đối” trong giao kết và thực hiện HĐBH.

Vì vậy, vấn đề đặt ra là đối với hành vi “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật…” để bảo vệ cho bên bị lừa dối thì không thể áp dụng hợp đồng vô hiệu theo Điều 22 LKDBH. Bởi nếu áp dụng điều luật này, chúng ta sẽ “tiếp tay” cho người mua bảo hiểm “thoải mái” cung cấp thông tin sai sự thật khi giao kết hợp đồng để được nhận tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại vì trong trường hợp xấu nhất hợp đồng đó sẽ bị tuyên là vô hiệu thì người mua bảo hiểm cũng chẳng mất gì. Và như vậy, mục đích bảo vệ người bị lừa dối không đạt được, các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng (trung thực, thiện chí, bình đẳng…) không được đảm bảo, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không thể hoạt động bình thường. Do đó, theo quan điểm của chúng tôi, quy định tại Điều 19 khoản 2 điểm a và Điều 22 khoản 1 điểm d của LKDBH không hề mâu thuẫn nhau và cần phải hiểu hành vi lừa dối theo Điều 19 khoản 2 điểm a (cố ý cung cấp thông tin sai sự thật của người mua bảo hiểm) là một hành vi lừa dối cụ thể, còn trường hợp quy định tại Điều 22 khoản 1 điểm d là các hành vi lừa dối khác (chỉ được áp dụng đối với những hành vi lừa dối không được quy định tại Điều 19 khoản 2 điểm a). Tuy nhiên, thực tế hiện chưa có văn bản hướng dẫn việc áp dụng các điều luật trên khiến cho các doanh nghiệp bảo hiểm lúng túng trong cách giải quyết, kết luận đúng đắn của các bản án phụ thuộc phần lớn vào “sự linh động” và “công tâm” của các nhà “cầm cân nảy mực” chứ không phải là đảm bảo nguyên tắc tố tụng “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Mặt khác, bản thân Điều 19 khoản 2 điểm a cũng có bất cập khi quy định “…cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường”. Theo chúng tôi, chỉ cần quy định “…cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm” là đã rõ nghĩa và đầy đủ nội dung vì mục đích của khách hàng khi giao kết hợp đồng tất yếu là “để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường”.

Theo thống kê của các doanh nghiệp bảo hiểm, hiện tượng khách hàng có hành vi lừa dối trong giao kết hợp đồng bảo hiểm nhằm mục đích trục lợi bảo hiểm đang diễn ra ngày càng phổ biến và thường biểu hiện qua một số đặc điểm sau:

– Người được bảo hiểm chết do các bệnh có thời gian tiến triển bệnh lý kéo dài như: ung thư, lao, xơ gan, suy thận, suy tim…

– Người được bảo hiểm chết khi hợp đồng có hiệu lực trong những năm đầu.

– Người được bảo hiểm đã điều trị bệnh (thuộc trường hợp những bệnh không chấp nhận bảo hiểm) trước khi hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực dưới tên người khác.

– Hợp đồng có số tiền bảo hiểm lớn so với khả năng tài chính, hoàn cảnh kinh tế của Người tham gia bảo hiểm.

– Rủi ro xảy ra liên quan đến nhiều hợp đồng bảo hiểm được phát hành vào những thời điểm gần nhau.

– Quan hệ giữa Người tham gia bảo hiểm, Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm và Người được bảo hiểm ít ràng buộc về mặt huyết thống.

– Người yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm không cung cấp các thông tin về quá trình điều trị bệnh trước lúc tử vong, kê khai chung chung về nguyên nhân chết như: chết do bệnh già, chết đột tử tại nhà, không rõ nguyên nhân, không có ai chứng kiến.

– Các thông tin về rủi ro xảy ra và quá trình cấp cứu, điều trị không logic giữa các giấy tờ và chứng từ do người yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm cung cấp.

– Khai báo rủi ro xảy ra trong hoàn cảnh đặc biệt: tự ngã, tai nạn xảy ra trong đêm không có mặt của công an…

Trong số những dấu hiệu kể trên, hiện tượng trục lợi bảo hiểm thường diễn ra phổ biến nhất là việc khách hàng kê khai không trung thực về tình trạng sức khỏe của người được bảo hiểm trong Giấy yêu cầu bảo hiểm – một phần của Hợp đồng bảo hiểm.

Trong thực tiễn xét xử đã có không ít những vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm liên quan đến việc người mua bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật khi giao kết hợp đồng nhưng lại được Tòa án tuyên là hợp đồng vô hiệu, bị hủy bỏ và doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại số phí bảo hiểm đã nộp cho người mua bảo hiểm. Có thể lấy ví dụ điển hình là vụ tranh chấp giữa Công ty Bảo hiểm P (Công ty) và bà Trần Thị C do Tòa án nhân dân thị xã B xét xử. Nội dung vụ việc như sau:

Ngày 24/11/2002, trên cơ sở Giấy yêu cầu bảo hiểm cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của người được bảo hiểm, Công ty đã giao kết hợp đồng bảo hiểm với bà C (người được bảo hiểm đồng thời là người mua bảo hiểm). Ngày 16/12/2003, bà C đã bổ sung thông tin là “đã và đang điều trị bệnh tim mạch từ năm 20 tuổi”. Theo thông báo này, Công ty đã tiến hành kiểm tra sức khỏe của Bà và kết quả cho thấy bà bị bệnh tim – bệnh thuộc trường hợp không chấp nhận bảo hiểm. Trên thực tế tại thời điểm giao kết hợp đồng bà C đã cố ý không kê khai đúng tình trạng bệnh tật của mình qua việc trả lời “không” đối với tất cả các câu hỏi trong Giấy yêu cầu bảo hiểm, trong khi sự thật khách quan là Bà đã và đang phải điều trị bệnh tim bẩm sinh từ năm 20 tuổi (ghi nhận trong Hồ sơ bệnh án). Rõ ràng, hành vi cung cấp thông tin sai sự thật về tình trạng bệnh tật của Bà hoàn toàn thỏa mãn các dấu hiệu theo Điều 19 khoản 2 điểm a LKDBH và Công ty có quyền đình chỉ việc thực hiện hợp đồng, không hoàn lại số phí bảo hiểm đã nộp tính đến ngày đình chỉ cũng như không chịu trách nhiệm về những rủi ro đã phát sinh theo Điều 4 điềm 4.1.2 điều khoản hợp đồng bảo hiểm mà Bà đã ký kết với Công ty. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân thị xã B đã nhận định bà C không vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của mình theo Điều 19 khoản 2 điểm a LKDBH để đình chỉ thực hiện hợp đồng và tuyên: Hủy hợp đồng bảo hiểm, buộc Công ty hoàn trả cho bà C toàn bộ số phí bảo hiểm đã nộp.

Đối chiếu với vấn đề lý luận trên, theo chúng tôi việc xét xử của Toà án nhân dân thị xã B là chưa phù hợp với quy định của LKDBH. Để khắc phục tình trạng này, những nhà làm luật cần nhanh chóng đưa ra văn bản hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng Điều 19 và Điều 22 LKDBH để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra những bản án phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm cũng như của các doanh nghiệp bảo hiểm; đảm bảo sự trung thực và bình đẳng trong quan hệ hợp đồng vì lợi ích chung của cộng đồng và góp phần tạo ra một hành lang pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp hoạt động. Mặt khác, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm phải thống nhất và kiên định biện pháp xử lý khi khách hàng có hành vi nói trên để tự bảo vệ mình và hạn chế hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang diễn ra ngày càng nhiều với những thủ đoạn tinh vi. Đồng thời, về phía các cơ quan nhà nước có chức năng kiểm soát giao dịch bảo hiểm cũng cần đề ra những biện pháp, chế tài đủ mạnh để răn đe khách hàng.

 

 

Đối chiếu với vấn đề lý luận trên, theo chúng tôi việc xét xử của Toà án nhân dân thị xã B là chưa phù hợp với quy định của LKDBH. Để khắc phục tình trạng này, những nhà làm luật cần nhanh chóng đưa ra văn bản hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng Điều 19 và Điều 22 LKDBH để các cơ quan tiến hành tố tụng đưa ra những bản án phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm cũng như của các doanh nghiệp bảo hiểm; đảm bảo sự trung thực và bình đẳng trong quan hệ hợp đồng vì lợi ích chung của cộng đồng và góp phần tạo ra một hành lang pháp lý ổn định cho các doanh nghiệp hoạt động. Mặt khác, bản thân các doanh nghiệp bảo hiểm phải thống nhất và kiên định biện pháp xử lý khi khách hàng có hành vi nói trên để tự bảo vệ mình và hạn chế hiện tượng trục lợi bảo hiểm đang diễn ra ngày càng nhiều với những thủ đoạn tinh vi. Đồng thời, về phía các cơ quan nhà nước có chức năng kiểm soát giao dịch bảo hiểm cũng cần đề ra những biện pháp, chế tài đủ mạnh để răn đe khách hàng.

SOURCE: http://www.baoviet.com.vn

VỀ CHẾ ĐỊNH GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995

 

THS. TRẦN HỒNG THANH – Ban Chính trị, Báo Nhân dân

Giao dịch dân sự vô hiệu và việc tuyên bố một giao dịch dân sự vô hiệu là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự nước ta. Bộ luật Dân sự 1995, đã dành hẳn Chương V quy định về giao dịch dân sự, sau khi làm rõ khái niệm giao dịch dân sự, điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự, mục đích, hình thức của giao dịch dân sự, các nhà làm luật cũng dành phần lớn công sức, trí tuệ cho việc xây dựng các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu, với tổng cộng 12 điều luật (từ Điều 136 đến Điều 147), nhằm làm rõ nhận thức chung về giao dịch dân sự vô hiệu, cũng như các loại giao dịch dân sự vô hiệu: Vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 137); vô hiệu do giả tạo (Điều 138); vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 139); vô hiệu do xác lập, thực hiện với người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 140); vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 141); vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa (Điều 142); vô hiệu do người xác lập không nhận thức được hành vi của mình (Điều 143); vô hiệu từng phần (Điều 144).

Chung quanh vấn đề về giao dịch dân sự vô hiệu, nghiên cứu nội dung quy định tại Chương V Bộ luật Dân sự năm 1995, có thể thấy này, các nhà làm luật cũng tập trung làm rõ về thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, hậu quả pháp lý của nó và vấn đề bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự bị tuyên bố là vô hiệu.

Như vậy, có nhiều cơ sở pháp lý để Thẩm phán xem xét, đánh giá một giao dịch dân sự nào đó có bị vô hiệu hay không. Song, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin phép đề cập vấn đề ở hai khía cạnh cụ thể như sau:

Thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu nhưng được thực hiện dựa trên cơ sở từ một quyết định có hiệu lực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Thứ hai, giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ về hình thức.

Về vấn đề thứ nhất, giao dịch dân sự vô hiệu nhưng được thực hiện dựa trên cơ sở từ một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vấn đề này, nghe qua thấy hình như có cái gì đó mâu thuẫn, thậm chí là khó hiểu, song lại là một thực tế rất hay xảy ra. Trong thực tiễn bảo vệ pháp luật hiện nay, có không ít giao dịch dân sự được xác lập, ký kết mà việc xác lập, ký kết đó dựa trên một quyết định có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Chúng tôi xin nêu một ví dụ cụ thể: Ông A và bà B tranh chấp với nhau về quyền sở hữu một ngôi nhà, hai bên không tự giải quyết được mà phải nhờ đến sự phân xử cuối cùng của Toà án.

Sau nhiều lần thương lượng, hoà giải và xét xử, tại phiên toà phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã quyết định ông A là chủ sở hữu ngôi nhà nói trên, chứ không phải bà B. Bản án dân sự phúc thẩm, về nguyên tắc, có hiệu lực thi hành ngay, xác lập về mặt pháp lý không thể chối cãi quyền sở hữu của ông A đối với căn nhà đã bị tranh chấp. Điều đáng nói ở đây là, ngay sau khi Toà án ra quyết định phúc thẩm, ông A đã xác lập một giao dịch dân sự với ông C để bán ngôi nhà nói trên (việc mua bán này thực hiện hoàn toàn theo đúng các quy định của pháp luật về một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật). Khi ông A thực hiện việc bán căn nhà, thì bà B vẫn tiếp tục khiếu kiện khắp nơi và gửi đơn khiếu nại lên cấp xét xử cao hơn. Một phiên toà giám đốc thẩm vụ tranh chấp này được mở, song điều đáng nói ở đây là, tại phiên toà giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử lại tuyên bố, quyết định của Toà phúc thẩm là sai, căn nhà thuộc sở hữu của bà B, chứ không phải của ông A. Thế là vấn đề đã trở nên cực kỳ phức tạp. Cũng theo luật, quyết định của Toà án giám đốc thẩm phải có giá trị pháp lý cao hơn quyết định của Toà án cấp phúc thẩm, đó là lẽ đương nhiên, nhưng ngôi nhà thì đã bán rồi, việc tổ chức thi hành án sẽ rất phức tạp.

Cách tốt nhất mà cơ quan Toà án thường áp dụng trong trường hợp phức tạp và “nhạy cảm” ở đây là: Tuyên bố luôn hợp đồng mua bán ngôi nhà nói trên giữa ông A và ông C, là vô hiệu. (Trên thực tế, việc này xảy ra không phải là ít và khi giải quyết thì những giao dịch dân sự kiểu như của ông A với ông C thường bị coi là vô hiệu). Tất nhiên, trong trường hợp này thì người bị thiệt hại lớn nhất vẫn là ông C. Nói khác đi, trong trường hợp này, quyền và lợi ích hợp pháp của ông C đã không được tôn trọng và bảo vệ. Đưa ra nhận định này, bởi chúng tôi cho rằng, giao dịch dân sự giữa ông A và ông C là hoàn toàn hợp pháp, đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự như Điều 131 Bộ luật Dân sự 1995 đã quy định. Hơn nữa, căn cứ pháp lý để ông C đặt bút ký vào hợp đồng mua bán nhà với ông A, lại chính là bản án có hiệu lực pháp luật của Toà phúc thẩm. Đó là chưa nói đến việc, sau khi mua nhà, ông C đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà hợp pháp.

Rắc rối này, theo chúng tôi, có nguyên nhân sâu xa từ những bất cập trong các quy định của pháp luật. Các nhà làm luật, khi xây dựng Bộ luật Dân sự 1995 chưa tính toán tới tình huống thực tế này, chưa tính tới một trường hợp giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật (chứ không phải là vô hiệu) vì nó được xác lập dựa trên một phán quyết có hiệu lực pháp luật của chính cơ quan Toà án. Sự “xung đột” trong quyết định của toà phúc thẩm và giám đốc thẩm khi giải quyết  một tranh chấp dân sự, từ góc độ phân tích này chúng tôi cho rằng, không đơn giản chỉ là vấn đề xác lập quyền sở hữu của một ai đó đối với tài sản đang tranh chấp, mà còn là vấn đề bảo đảm việc thực thi quyền sở hữu đó trên thực tế đến đâu? Trách nhiệm của các cơ quan Toà án trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp, chính đáng của người dân như thế nào?

Giao dịch dân sự giữa ông A và ông C về việc mua bán căn nhà nói trên là vô hiệu hay không, rõ ràng vẫn còn là một vấn đề bị “bỏ ngỏ” trong pháp luật dân sự. Có lẽ, trong quá trình soạn thảo, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự 1995 sắp tới, các nhà làm luật cũng sẽ quan tâm đầu tư thích đáng cho vấn đề này.

Vấn đề thứ hai mà chúng tôi muốn đề cập là giao dịch dân sự vô hiệu vì hình thức.

Đưa vấn đề này ra phân tích, đánh giá, quan điểm của chúng tôi là cần phải có, hay phải được dựa trên cơ sở của sự phân biệt rạch ròi trong thực tiễn pháp lý giữa giao dịch dân sự vô hiệu về mặt nội dung với giao dịch dân sự vô hiệu về mặt hình thức. Trong chế định về giao dịch dân sự vô hiệu, tại Điều 138 của Bộ luật Dân sự 1995, các nhà làm luật đã đề cập một tình huống khá hay, đó là tình huống “giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo”, trong đó khẳng định về “ý chí chủ quan” của một hoặc các bên trong quan hệ dân sự nhằm thực hiện giao dịch dân sự giả tạo, với những ý đồ xấu và giao dịch đó không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Vấn đề cần đặt ra ở đây là, đã trù liệu và chấp nhận trên thực tế tình huống “vô hiệu do giả tạo” trong quan hệ pháp luật dân sự, tại sao lại không thể chấp nhận một thực tế khác: Có các giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức”. Điều mà chúng tôi muốn nói ở đây là, một bên là vi phạm về mặt nội dung (vô hiệu là đương nhiên) và bên kia là những vi phạm về mặt hình thức (ví dụ như không lập văn bản, không có xác nhận của cơ quan chức năng…), nhưng các điều kiện về nội dung để bảo đảm tính hiệu lực của giao dịch vẫn được đáp ứng. Nói cách khác, các quy định hiện hành đã không chấp nhận một loại giao dịch dân sự đã đáp ứng về cơ bản các yếu tố, điều kiện của một giao dịch dân sự có hiệu lực, có giá trị thực và rất cần có sự bảo vệ của pháp luật. Thực chất của nó là sự thoả mãn ba nội dung cơ bản về điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự 1995. Đó là:

Thứ nhất: Các bên tham gia giao dịch dân sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Thứ hai: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không trái pháp luật, đạo đức xã hội.

Thứ ba: Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và tự do thể hiện ý chí, bày tỏ ý chí.

Trong quan hệ pháp luật về dân sự, các bên tham gia một giao dịch dân sự, theo chúng tôi, nếu thoả mãn đầy đủ ba điều kiện nêu trên, là rất đầy đủ cho một giao dịch dân sự có hiệu lực. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt trong quan hệ pháp luật dân sự. Nhà nước luôn tôn trọng và bảo vệ quyền tự do, bình đẳng, hợp tác, trung thực trong các quan hệ pháp luật về dân sự; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hình thức của hợp đồng, trong một số trường hợp cụ thể và thường là trong những trường hợp mà giá trị của hợp đồng lớn hoặc rất lớn (mua bán nhà ở chẳng hạn, pháp luật dân sự quy định là điều kiện bắt buộc để hợp đồng dân sự đó có hiệu lực. Từ một quy định của pháp luật nặng về “hình thức” và trong nhiều trường hợp bất cập với thực tiễn như vậy, đã và đang tạo ra không ít sự “tuỳ nghi” trong đường lối xét xử và cách phán xử của Toà án. Sự bất cập, hạn chế kể trên thực tế cũng đang cho phép một trong các bên đương sự đang lợi dụng tính “hình thức” của pháp luật để từ chối thực hiện nghĩa vụ hợp đồng vì như thế sẽ có lợi hơn nhiều. Cách giải quyết đó, về nhận thức chủ quan, người Thẩm phán cũng biết rằng, nó đã không phản ánh đúng bản chất của sự việc và đã đi ngược lại với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, đã không bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân như Điều 2, Điều 6 của Bộ luật Dân sự 1995 đã đặt ra. Tính “hình thức” trong một số phán quyết giao dịch dân sự vô hiệu của Toà án khi giải quyết tranh chấp, theo chúng tôi, có nguyên nhân sâu xa từ tính “hình thức” trong quy định về “điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự” của Bộ luật Dân sự 1995 (Điều 131).

Sửa đổi Bộ luật Dân sự 1995, ý kiến của Ban soạn thảo đã thẳng thắn cho rằng, phải sửa đổi theo tinh thần bảo vệ quyền tự do hợp đồng và chế định về hợp đồng phải tạo điều kiện thúc đẩy các giao dịch phát triển, hạn chế việc huỷ bỏ, chấm dứt hợp đồng hay tuyên bố vô hiệu hợp đồng. Việc tuyên bố vô hiệu hợp đồng chỉ dựa trên cơ sở một số điều kiện nhất định, chủ yếu liên quan mục đích, đối tượng, nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội*. Với tinh thần tiến bộ này chúng ta sẽ có thêm cơ sở pháp lý để xem xét, sửa đổi một cách cơ bản về chế định giao dịch dân sự vô hiệu. Chúng tôi cho rằng nếu quy định “Hình thức giao dịch dân sự chỉ là điều kiện có hiệu lực của giao dịch, nếu pháp luật có quy định” mà Ban soạn thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đã nêu ra, thay cho quy định cũ “Hình thức giao dịch dân sự phải phù hợp với quy định của pháp luật” (khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự 1995), thì về bản chất, vẫn chẳng có sự thay đổi nào đáng kể. Suy cho cùng, cả hai cách quy định đều cho rằng: Hình thức của giao dịch dân sự vẫn là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, nếu pháp luật có quy định.

Theo chúng tôi, hướng giải quyết ở đây là hình thức của một hoặc một số giao dịch dân sự mà pháp luật yêu cầu phải lập thành văn bản, có xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên quy định tại Điều 133 của Bộ luật quy định về hình thức giao dịch dân sự. Cụ thể là:

– Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể

– Riêng các giao dịch dân sự về A, B, C (là những loại giao dịch gì mà nhà làm luật thấy cần thiết), phải được thể hiện bằng văn bản.

Nếu tách bạch được vấn đề theo cách nêu trên, một mặc chúng ta vừa thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo đối với việc sửa đổi luật, đồng thời mặt khác cũng tháo gỡ được không ít bất cập, vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay. Và như vậy thì, quy định phải lập thành văn bản trong một số trường hợp (A , B, C…) như đã kể trên, chỉ là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng và cần thiết để cơ quan Toà án vận dụng, xem xét và đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án, góp phần làm rõ đúng sai, sự thật của vấn đề khi giải quyết một tranh chất về giao dịch dân sự, chứ không phải là cơ sở pháp lý để tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu khi mà các điều kiện về nội dung (thực chất) của một giao dịch dân sự có hiệu lực đều đã được các bên đương sự tôn trọng, thực hiện đầy đủ và điều đó cũng đã được Hội đồng xét xử làm sáng tỏ trước Toà.u

____________

* Tờ trình của Chính phủ, số 1443, ngày 4/10/2004, trước Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá 7, về dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), tr. 8.

NGUỒN: TẠP CHÍ KIỂM SÁT SỐ 2/2005

NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

1. Hiện tượng nội dung hợp đồng sơ sài

Ví dụ thứ nhất, bố mẹ bà Mậu và bà Tuất cho mỗi bà một thửa đất vườn, nằm sát nhau tại xóm 5, thôn HT, xã XP, huyện TL, thành phố HN. Khi cho, bố mẹ không nói rõ diện tích, nên bà Mậu nghĩ số đất của mỗi người được cho là 10 thước (240 m2). Do không có mặt ở địa phương, bà Tuất giao bà Mậu quản lý, sử dụng đất của mình. Năm 1992, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện TL cấp giấy chứng nhận cho bà Mậu được sử dụng 190 m2, bà Tuất được sử dụng 190 m2 nhưng đến năm 1994, chính quyền mới giao giấy chứng nhận cho bà Mậu. Ngày 14/1/1993, anh Hiển được bà Mậu uỷ quyền đứng ra làm giấy mua bán đất với anh Chiến.

Khi có tranh chấp, anh Hiển xuất trình giấy mua bán với nội dung: “Tên tôi là H (bị gạch xoá) – Mậu hộ khẩu thường trú xóm Phú Cường… Hiện nay đang là chủ sở hữu (bị gạch xoá, thay bằng từ “sử dụng”) mảnh vườn có diện tích là: 10T (khoảng 240 m2) phía Đông giáp… phía Tây… phía Nam… phía Bắc… tại xóm Phú Cường… do điều kiện đến nay chúng tôi không có nhu cầu sử dụng nữa vậy tôi làm giấy này nhượng lại quyền sở hữu (bị gạch xoá, thay bằng từ “sử dụng”) mảnh vườn trên cho ông Chiến… Khi sử dụng mảnh vườn trên ông Chiến có trách nhiệm nộp thuế hàng năm theo luật thuế đất của Nhà nước…”. Giám định số 3317/2003/C21 của Viện Khoa học hình sự – Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an kết luận: các chữ “10T” và chữ khoảng “240 m2” là những chữ được viết thêm vào. Như vậy, hợp đồng không nêu rõ diện tích chuyển nhượng. Khi xảy ra tranh chấp, anh Hiển và bà Mậu đều khai là chỉ bán phần đất thuộc quyền sử dụng của mình khoảng 240 m2 còn anh Chiến cho rằng, anh Hiển chuyển nhượng cho mình 380 m2. Ví dụ cho thấy, vì hợp đồng không được soạn thảo chu đáo nên các bên tranh chấp về diện tích chuyển nhượng.

Ví dụ thứ hai, năm 1997, ông Trí, bà Nguyệt và bà Thủy ký “tờ thỏa thuận bán nhà” với bà Lúi với nội dung: bà Lúi bán nhà số 9 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tỉnh CT với giá 340 lạng vàng SJC. Sau khi bà Lúi nhận đủ tiền, do phát hiện trong diện tích đất khuôn viên 412,62 m2 mà ông Trí, bà Nguyệt, bà Thủy mua có 68 m2 là của hộ khác thuộc diện Nhà nước quản lý nên UBND tỉnh CT thu hồi 68 m2 nói trên. Ông Trí, bà Nguyệt, bà Thủy khởi kiện yêu cầu bà Lúi trả lại tiền của 68 m2 mà UBND tỉnh CT thu hồi. Nhưng bà Lúi cho rằng, nhà đất bà bán cho ông Trí, bà Nguyệt, bà Thủy chỉ khoảng 370 m2, các thủ tục giấy tờ đều do ông Trí làm với cơ quan nhà đất nên việc khai tăng diện tích của ông Trí bà không có lỗi và không phải đền bù phần đất bị Nhà nước thu hồi.

Giống ví dụ 1, trong vụ việc này, các bên không thống nhất được với nhau về nội dung chính xác của hợp đồng sau khi hợp đồng đã được giao kết. Lý do của mâu thuẫn về diện tích đất chuyển nhượng là vì “tờ thỏa thuận bán nhà” không ghi rõ diện tích đất mà chỉ ghi diện tích nhà chính, nhà phụ. Hợp đồng được soạn thảo không chặt chẽ dẫn đến bất đồng giữa các bên. Hiện tượng này rất phổ biến ở Việt Nam. Chúng ta nên giải quyết như thế nào?

2. Giải pháp cho hiện tượng nội dung hợp đồng sơ sài

Cả hai vụ việc trên đều cần có sự can thiệp của cơ quan tố tụng. Trong vụ việc thứ nhất, Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) bằng Quyết định giám đốc thẩm số 49/GĐT-DS ngày 24/2/2005 đã nhận định: Qua “… lời khai của anh Hiển và anh Chiến, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì khi lập hợp đồng ngày 14/1/1993 không ghi diện tích và tứ cận của thửa đất… Trên thực tế, sau khi chuyển nhượng anh Hiển và bà Mậu đã giao toàn bộ diện tích đất của hai thửa (của bà Mậu và bà Tuất) cho anh Chiến quản lý, sử dụng trồng cây lưu niên, đồng thời nộp thuế đất hàng năm với diện tích 380 m2 (đã có biên lai nộp thuế từ 1994 đến năm 2001). Với những chứng cứ trên, Tòa án cấp phúc thẩm xác định bà Mậu, anh Hiển chuyển nhượng cho anh Chiến 380 m2 đất là có cơ sở”.

Trong vụ việc thứ hai, theo Tòa dân sự TANDTC (Quyết định giám đốc thẩm số 21/GĐT-DS ngày 24/2/2003), các bên “trong quá trình mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất khuôn viên kèm theo nhà đã ký kết nhiều hợp đồng nhưng thực tế các bên chỉ thực hiện theo hợp đồng ban đầu là “tờ thỏa thuận bán nhà”… Bà Lúi đã giao cho bên mua toàn bộ diện tích bà đang quản lý tại số 9 Nam Kỳ Khởi Nghĩa. “Tờ thỏa thuận bán nhà” tuy không ghi diện tích đất khuôn viên, chỉ ghi diện tích nhà chính, nhà phụ nhưng đã xác định nhà đất mua bán và chuyển nhượng có tình trạng “thể hiện tại bản vẽ hiện trạng nhà 10/8/1993”. Theo bản vẽ hiện trạng nhà 10/8/1993 thì nhà số 9 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, bao gồm cả phần đất khuôn viên giáp đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đã thi hành xong việc mua bán. Quá trình làm thủ tục để sang tên sở hữu nhà, sang tên sử dụng đất để hoàn tất việc mua bán nêu trên. Các giấy tờ thủ tục như “tờ tường trình nguồn gốc nhà ở-đất ở ngày 13/12/1997”, “tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất ngày 20/1/1998”, “tờ khai lệ phí trước bạ ngày 20/1/1998”, “đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sở hữu đất ngày 13/12/1997” đều có chữ ký của bà Lúi và xác định nhà có tứ cận “Đông giáp đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa…”, “diện tích đất khuôn viên 412,62 m2” (chính là phần diện tích mà hai bên đã giao nhận). Rõ ràng là số tiền 340 lạng vàng mà bà Lúi đã nhận là tiền bán ngôi nhà mặt đường số 9 Nam Kỳ Khởi Nghĩa với đất khuôn viên 412,62 m2; đó là ý chí thống nhất của các bên tham gia mua bán, không có sự nhầm lẫn”.

Qua các quyết định trên ta thấy, khi hợp đồng được soạn thảo sơ sài, không chặt chẽ, tòa án đã dựa vào nhiều yếu tố để xác định nội dung của hợp đồng.

Thứ nhất, đó là hợp đồng có tranh chấp. Trong cả hai vụ việc, tòa án đều phân tích hợp đồng giữa các bên.

Thứ hai, trong Quyết định giám đốc thẩm của vụ việc thứ nhất, tòa án còn sử dụng cả những dữ liệu sau khi hợp đồng được ký kết. Ở đây, TANDTC dựa vào việc anh Chiến quản lý, sử dụng trồng cây lưu niên, đồng thời nộp thuế đất hàng năm với diện tích 380 m2 (có biên lai nộp thuế từ 1994 đến năm 2001) để xác định nội dung hợp đồng. Tương tự, trong Quyết định giám đốc thẩm của vụ việc thứ hai, TANDTC cũng sử dụng những dữ liệu sau khi hợp đồng được ký kết như “Tờ tường trình nguồn gốc nhà ở – đất ở ngày 13/12/1997”, “Tờ khai nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất ngày 20/1/1998”, “Tờ khai lệ phí trước bạ ngày 20/1/1998”, “Đơn xin đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sở hữu đất ngày 13/12/1997”.

Thứ ba, trong vụ việc thứ hai, tòa án còn dựa vào dữ liệu tiền hợp đồng. Hợp đồng được ký kết năm 1997 nhưng tòa án đã căn cứ bản vẽ hiện trạng nhà ngày 10/8/1993.

Như vậy, để xác định nội dung của hợp đồng, tức là để giải thích hợp đồng, tòa án đã dựa vào hợp đồng, dữ liệu trước và sau khi hợp đồng được ký kết. Với cách xác định như vậy, thực tiễn pháp lý Việt Nam khác với pháp luật một số nước như pháp luật của Anh, Ê-Cốt, Ailen. Pháp luật những nước này không khuyến khích xác định nội dụng hợp đồng với những tình tiết trước khi hợp đồng được giao kết và không chấp nhận sử dụng những tình tiết sau thời điểm đó.

Tuy nhiên, thực tiễn trên của Việt Nam lại phù hợp với pháp luật nhiều nước. Ví dụ, theo pháp luật của nước Pháp, thẩm phán có thể xác định nội dụng hợp đồng dựa vào hành vi của các bên sau khi hợp đồng được giao kết. Hoặc Điều 5:102 của Những nguyên tắc châu Âu về hợp đồng có danh sách mở những yếu tố để giải thích hợp đồng. Danh sách này cho phép sử dụng những tình tiết trước và sau thời điểm hợp đồng được ký kết. Tương tự, Điều 4.3 của Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế cũng đưa ra danh sách mở những tình tiết có thể được sử dụng để xác định hợp đồng, và trong danh sách, có những tình tiết trước và sau khi hợp đồng được ký kết. Cách giải thích hợp đồng như trên cũng được thừa nhận tại Khoản 3, Điều 8 Công ước Viên của Liên hợp quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Điều 408 Bộ luật dân sự Việt Nam (BLDS) năm 1995 được sửa đổi, bổ sung trong Điều 409 BLDS năm 2005 có quy định về giải thích nội dung hợp đồng. Hai vụ việc trên liên quan đến giải thích hợp đồng dân sự, nhưng cả hai quyết định giám đốc thẩm đã nêu của TANDTC đều không viện dẫn điều khoản nào của BLDS về giải thích hợp đồng. BLDS không được viện dẫn có lẽ vì danh sách định hướng việc giải thích hợp đồng trong Điều 408 (Điều 409 BLDS năm 2005) không đề cập đến việc sử dụng những yếu tố trước và sau khi hợp đồng được giao kết để xác định nội dung hợp đồng. Như vậy, giữa thực tiễn pháp lý và văn bản có sự khác nhau. Để giải thích hợp đồng, TANDTC đã dựa vào những yếu tố không được liệt kê trong danh sách mà BLDS đưa ra. Ở đây toà án có vi phạm BLDS hay không? Câu trả lời phụ thuộc vào việc nhận thức danh sách của BLDS là danh sách mở hay không. Nếu là một danh sách mở thì việc tòa án bổ sung thêm những dấu hiệu mới để giải thích hợp đồng là chấp nhận được. Ngược lại, tòa án đã vượt quá khuôn khổ cho phép của BLDS. Trong thực tế, Bộ nguyên tắc Unidroit… hay Những nguyên tắc châu Âu về hợp đồng có danh sách những tình tiết có thể được sự dụng để giải thích hợp đồng theo hướng mở vì những nguyên tắc này chỉ đưa ra những tình tiết thường được sử dụng và trong danh sách này đã nhấn mạnh đây là danh sách mở. Thiết nghĩ, chúng ta nên coi danh sách nêu tại BLDS là một danh sách mở và, do vậy, việc tòa án sử dụng những yếu tố trước và sau khi hợp đồng được giao kết để giải thích hợp đồng là có thể được chấp nhận.

Những trình bày trên liên quan đến việc Tòa án được yêu cầu để xác định nội dung hợp đồng. Tuy nhiên, việc yêu cầu tòa án can thiệp không phải là một giải pháp tối ưu vì nó phụ thuộc nhiều vào nhận thức của thẩm phán giải quyết vụ việc. Một số tình tiết trong hai vụ việc nêu trên cho thấy tính không ưu việt của giải pháp này. Ở vụ việc thứ nhất, theo TANDTC và Tòa phúc thẩm, thì diện tích đất chuyển nhượng là 380 m2 đất. Trong khi đó, Tòa sơ thẩm và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) cho rằng diện tích chuyển nhượng là 240 m2 đất. Ở vụ việc thứ hai, TANDTC cho rằng đất được bán là 412,62 m2 nhưng theo VKSNDTC, không có cơ sở để khẳng định đất được bán là 412,62 m2. Như vậy, để trách những tranh chấp không cần thiết và những rủi ro do nhận thức khác nhau của cơ quan tố tụng, các bên ký kết hợp đồng nên soạn thảo chặt chẽ nội dung của hợp đồng. Mặt khác, các cơ quan nhà nước nên thường xuyên tổ chức những buổi trao đổi về soạn thảo hợp đồng với sự tham gia của những luật gia giàu kinh nghiệm thực tế về hợp đồng như thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, công chứng, luật gia làm việc cho các văn phòng tư vấn, doanh nghiệp.

Theo Tạp chí Nghiên cứu lập pháp

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

HỢP ĐỒNG BÁN NHÀ: Chứng cứ thể hiện việc xét xử của toà án “có vấn đề”.

Hợp đồng giả cách: không phải một lần mà là nhiều lần.

Về hợp đồng ngày 20/7/2000 với nội dung bà Nguyễn Thị Thanh Tao bán nhà 36 Nguyễn Thị Diệu (NTD) cho ông Lê Hồng Phương với giá 900 lượng vàng JSC, bà Tao, bà Dương Thị Bạch Diệp và luật sư Nguyễn Thị Chinh, Đoàn LS TP.HCM (người được ông Phương thuê làm chứng) đều khẳng định đó là hợp đồng giả cách để bà Diệp vay vàng của ông Phương trả cho bà Tao. Việc khẳng định này là có cơ sở bởi theo điều tra của chúng tôi thì việc ký hợp đồng mua bán “giả cách” nhằm vay vàng giữa bà Diệp và vợ chồng ông Phương (chủ tiệm vàng Ngọc Thanh) diễn ra không chỉ có căn nhà 36 NTD mà còn nhiều căn nhà khác ở TP.HCM. Cụ thể là nhà 39 NTD, 43 Ngô Thời Nhiệm, 24/1 Trương Định, 371D Nguyễn Cảnh Chân, 11B Phùng Khắc Hoan,113 Lí Chính Thắng, 19 NTD và 356 Võ Văn Tần.

LS. Chinh cho biết bà đã được ông Phương thuê xác nhận tất cả bốn lần việc giao dịch giữa bà Diệp và ông Phương, theo đó bà Diệp vay tiền ông Phương để trả tiền mua nhà, nhưng để đảm bảo trong việc vay tiền, ông Phương yêu cầu bà Diệp phải lập một hợp đồng mua bán giả cách giữa ông Phương với chủ nhà với giá thấp hơn rất nhiều so với giá thực mà bà Diệp ký hợp đồng mua bán với chủ nhà, đồng thời giữa ông Phương và bà Diệp cùng ký với nhau một biên bản thoả thuận. Và ông Phương thuê LS. Chinh chứng kiến cho các hợp đồng giả cách và biên bản thoả thuận, cứ mỗi lần xác nhận, ký tên và đóng dấu Văn phòng luật sư thì ông Phương trả cho LS Chinh hai triệu đồng. Giữa ông Phương và bà Diệp đã từng xảy ra tranh chấp căn nhà 24/1 Trương Định do ông Phương đã căn cứ vào hợp đồng giả cách nhằm chiếm đoạt căn nhà này dưới hình thức mua bán. Nhưng khi các cơ quan có thẩm quyền xác định việc ông Phương cho vay chứ thực chất không phải mua bán, từ đó về sau ông Phương không viết giấy cho bà Diệp vay nữa mà chuyển sang lập biên bản thoả thuận.

Về việc ký hợp đồng giả cách bán nhà nhưng thực chất là cho vay, báo PLVN cũng đã thu thập được một tài liệu quan trọng, đó là đơn của bà Nguyễn Thị Thanh, vợ ông Lê Hồng Phương, viết ngày 19/11/1999 gửi Giám đốc thẩm Công an TP.HCM, trong đó có đoạn viết: “Nguyên vào cuối năm 1998, bà Dương Thị Bạch Diệp, có lại nhà tôi đặt quan hệ làm ăn với tôi, phương thức tính toán như sau: Những căn nhà bà Diệp mua tôi sẽ bỏ vốn vào và sau đó bán lời chia đôi. Nhưng để đảm bảo đồng vốn khi tôi bỏ ra, từng căn nhà tôi đều đi xem xét, thấy có lời và người bán phải ký giấy tờ bán cho tôi. Để đảm bảo tính khách quan, tôi và bà Diệp đã thống nhất như sau: Những căn nhà nào sau khi bỏ vốn và bán ra lời bao nhiêu, bà Diệp lấy, tôi chỉ lấy lời 3%/tháng trên số tiền tôi đã bỏ ra…”. Với tài liệu này, có cơ sở để khẳng định việc lập hợp đồng giả cách đã diễn ra nhiều lần và hợp đồng ngày 27/8/2000 thực chất là hợp đồng giả cách. Đây là một chứng cứ quan trọng cho thấy vụ án nhà 36 NTD đã được cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử không khách quan.

Lỗi hỗn hợp, sao bắt bà Tao gánh chịu?

Khi xét xử vụ án biệt thự 36 NTD, toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định các hợp đồng mua bán nhà giữa bà Tao với bà Diệp; giữa ông Phương với bà Tao là vô hiệu và huỷ bỏ các hợp đồng đó là đúng pháp luật vì các hợp đồng này là trái luật (được ký kết khi nhà 36NTD đang thuộc sở hữu nhà nước). Vì thế bản thoả thuận giữa bà Diệp và ông Phương được hình thành trên hợp đồng mua bán nhà vô hiệu nên nó cũng vô hiệu và Toà tuyên huỷ là đúng pháp luật. Khi các hợp đồng xác định có các giao dịch là trái pháp luật (vô hiệu) thì không phát sinh trách nhiệm dân sự, mọi giao dịch trở về trạng thái ban đầu. Nhà 36NTD phải trả lại cho bà Tao; vàng của ông Phương được trả lại cho ông Phương; tiền, vàng của bà Diệp được trả cho bà Diệp. Các thoả thuận trong quan hệ vay lãi do các bên tự giải quyết nếu không thành thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc bà Tao phải bồi thường thiệt hại cho ông Phưong 2.563,53 lượng vàng JSC do chênh lệch giá nhà của thời điểm ông Phương giao cho bà Tao 800 lượng vàng = 89% giá trị nhà 36 NTD tại thời điểm xét xử là thiếu khách quan, không có căn cứ vì: Hợp đồng mua bán nhà vô hiệu là lỗi chung của các bên vì các bên đều biết nhà 36NTD tại thời điểm ký các hợp đồng mua bán đang là nhà thuộc SHNN, đang xin hoá giá nhà. Bà Tao không phải là người lập ra các hợp đồng “giả”; không tự phá các giao kết với các bên mà do lỗi hỗn hợp của nhiều người trong đó có lỗi của bà Diệp và ông Phương. Cả cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều không định giá nhà 36NTD tại thời điểm bà Tao nhận 800 lượng vàng của ông Phương làm cơ sở xác định giá trị thực tế xét bồi thường thiệt hại mà thừa nhận giá nhà 36NTD từ hợp đồng ngày 20/7/2000 vừa vô hiệu vừa “giả” để làm căn cứ buộc tội bà Tao phải bồi thường thiệt hại cho ông Phương 2.563,53 lượng vàng JSC là không có căn cứ. Mặt khác giá của hội đồng định giá phục vụ xét bồi hoàn là 3.780,37 lượng vàng nhưng giá bán đấu giá thực tế có 3.505 lượng vàng (em cột chèo của ông Phương mua trúng đấu giá), chênh 275 lượng vàng x 89% = 245 lượng bà Tao phải chịu bồi thường oan.

Thưa với bạn đọc rằng: Từ trước đến nay, chưa có một vụ án dân sự nào lại có đến hàng chục bài báo, hàng loạt phóng sự điều tra phát trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV) để cập đến những điều quá bất bình thường qua hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm như vụ án nhà 36 NTD. Quốc hội đang họp, và một lần nữa vấn đề xét xử oan sai, thực trạng đơn thư khiếu nại giám đốc thẩm bức xúc khiến các đại biểu Quốc hội phải lên tiếng tại nghị trường rằng “việc xét xử của toà án có vấn đề”. Vụ án này nếu không được làm sáng tỏ, chứng tỏ chức năng giám sát của Quốc hội chưa hiệu quả. Đó là điều mà cử tri không hề mong đợi.

Theo Báo Pháp luật Việt Nam

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

HỢP ĐỒNG GIAO KẾT BẰNG ĐÔ LA CÓ THỂ BỊ XÁC ĐỊNH LÀ VÔ HIỆU

NGUYỄN XUÂN ĐANG – Phòng Quản lý vốn liên doanh – cổ phần – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Trong thực tế có rất nhiều hợp đồng kinh tế, dân sự, thương mại thỏa thuận giao dịch và thanh toán bằng ngoại tệ giữa các công ty, cá nhân với nhau được ký kết. Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên có tranh chấp và yêu cầu tòa án can thiệp thì hậu quả pháp lý của hợp đồng khi vi phạm quy định về tiền tệ được các tòa án Việt Nam giải quyết như thế nào?

Chúng ta sẽ xem xét cụ thể vấn đề này qua hai thực tiễn pháp lý sau.

Vụ việc thứ nhất – Đòi nợ ngoại tệ

Vợ chồng ông Huỳnh Thanh Phương và bà Nguyễn Thị Tâm có giao kết hợp đồng vay bà Nguyễn Sen Lee 5.000 đô la, mới trả được 17.300.000 đồng tiền lãi. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tranh chấp phát sinh và đưa ra giải quyết xử tại tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 8-4-1999 Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Kiên Giang đã buộc vợ chồng ông Phương phải trả bà Lee 52.225.000 đồng (cụ thể 5.000 đô la quy đổi bằng 69.525.000 đồng, trừ 17.300.000 đồng tiền lãi đã trả, còn lại 52.225.000 đồng).TY

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 331/DSPT ngày 29-11-2000, Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) tại TPHCM đã quyết định: Hủy hợp đồng vay tài sản bằng ngoại tệ giữa bà Nguyễn Sen Lee với ông Huỳnh Thanh Phương và bà Nguyễn Thị Tâm, vì hợp đồng này bị vô hiệu do vi phạm điều cấm.

Tại Quyết định 25/2003/HĐTP-DS ngày 25-8-2003 của Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) TANDTC xác định giao dịch giữa hai bên thuộc quan hệ cho mượn ngoại tệ. Giao dịch cho vay ngoại tệ giữa hai bên vi phạm quy định pháp luật về quản lý ngoại hối do đó giao dịch nói trên vô hiệu.

Kết luận cuối cùng của các tòa án: Hợp đồng vay tài sản bằng ngoại tệ sẽ bị tuyên vô hiệu.

Vụ việc thứ hai – Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thanh toán bằng ngoại tệ

Ngày 30-11-1998, Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao ký hợp đồng kinh tế số 27/98/HĐKT – LAB bán cho bà Đoàn Thị Huế một hệ thống tráng rọi ảnh màu điện tử Konica Nice Print System Model 878-SQA, đồng bộ mới 100% với giá 88.000 đô la Mỹ. Nhưng với phương thức thanh toán thỏa thuận trong hợp đồng là: Hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TPHCM hoặc bằng đồng Việt Nam quy ngang đô la Mỹ tại văn phòng Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao ở 74 Nguyễn Văn Trỗi theo tỷ giá bán của ngân hàng vào ngày thanh toán. Thực tế phiếu xuất kho máy cho bà Huế và các phiếu thu tiền của bà Huế đều thể hiện thanh toán bằng đồng Việt Nam.

Năm 2000, hai bên có tranh chấp và yêu cầu tòa án can thiệp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 617/DSST ngày 24-4-2000, TAND TPHCM quyết định: Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao, buộc bà Huế phải thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao số tiền nợ đến hạn phải trả tổng cộng 20.879,13 đô la ngay khi án có hiệu lực pháp luật theo tỷ giá ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm thanh toán.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 392/DSPT ngày 27-12-2000, Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM quyết định sửa án sơ thẩm tuyên xử:Tuyên bố hợp đồng kinh tế số 27/98 ngày 30-11-1998 được ký giữa Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao do bà Thái Thị Cúc Lan làm giám đốc đại diện với bà Đoàn Thị Huế là hợp đồng vô hiệu. Buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Tại Quyết định 26/2003/HĐTP-DS ngày 25-8-2003 của HĐTP TANDTC xác định: Quyết định số 13/UBTP-DS ngày 9-9-2002 của Ủy ban Thẩm phán TANDTC buộc bà Huế thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao số tiền mua máy còn thiếu là 760.389.120 đồng và số tiền lãi là 109.553.062 đồng, tổng cộng là 869.942.182 đồng là có căn cứ.

Quan điểm của tòa án là trong hợp đồng giữa hai bên thỏa thuận giao bằng đô la Mỹ, nhưng có thỏa thuận phương thức thanh toán bằng đồng Việt Nam quy ngang đô la Mỹ nên không bị coi là vô hiệu.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, hợp đồng kinh tế, thương mại, dân sự vi phạm quy định về tiền tệ bị coi là vô hiệu. Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (điều 128, 137 Bộ luật Dân sự 2005).

Nhưng trên thực tiễn pháp lý, quan điểm của tòa án Việt Nam là tương đối linh hoạt và hợp lý: các hợp đồng mà các bên thỏa thuận giao dịch và thanh toán đồng thời bằng ngoại tệ sẽ bị coi là vô hiệu còn hợp đồng giữa các bên thỏa thuận giao dịch bằng ngoại tệ, nhưng có thỏa thuận phương thức thanh toán bằng đồng Việt Nam quy ngang ngoại tệ thì không bị coi là vô hiệu.

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

1. Hiện tượng nội dung hợp đồng sơ sài

Ví dụ thứ nhất, bố mẹ bà Mậu và bà Tuất cho mỗi bà một thửa đất vườn, nằm sát nhau tại xóm 5, thôn HT, xã XP, huyện TL, thành phố HN. Khi cho, bố mẹ không nói rõ diện tích, nên bà Mậu nghĩ số đất của mỗi người được cho là 10 thước (240 m2). Do không có mặt ở địa phương, bà Tuất giao bà Mậu quản lý, sử dụng đất của mình. Năm 1992, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện TL cấp giấy chứng nhận cho bà Mậu được sử dụng 190 m2, bà Tuất được sử dụng 190 m2 nhưng đến năm 1994, chính quyền mới giao giấy chứng nhận cho bà Mậu. Ngày 14/1/1993, anh Hiển được bà Mậu uỷ quyền đứng ra làm giấy mua bán đất với anh Chiến. Continue reading →

BỒI THƯỜNG OAN SAI: IM LẶNG VÀ NÉ TRÁNH

Bị oan và để được giải oan là cả đoạn trường, đôi khi họ chưa kịp nhìn thấy công lý thì đã “đoàn tụ” với ông bà. Thế nhưng, khi được giải oan rồi, đoạn trường yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cũng gian truân không kém…

“Trái bóng trách nhiệm” được đá qua đá lại rồi chỉ lui, chỉ tới và… tất cả cùng im lặng hoặc né tránh. Trong khi đó, thân phận của những người đã từng bị chính họ hoặc cơ quan của họ gây ra oan trái thì không được đoái hoài đến.

Im lặng để… giải thích

Đầu năm 2001, bà Đào Thị Cúc, trú tại huyện Ô Môn (nay là quận Ô Môn, TP Cần Thơ), phát hiện con gái Đào Hải N (14 tuổi – bị câm bẩm sinh) có dấu hiệu bất thường nên chở con đến Trung tâm y tế Ô Môn khám thì phát hiện N có thai hơn 4 tháng. Gạn hỏi, N ra dấu cho biết đã bị người hàng xóm là Trần Xuân Mộc hiếp dâm. Bà Cúc làm đơn tố giác gửi công an huyện Ô Môn yêu cầu làm rõ hành vi của ông Mộc.

Thế nhưng, cơ quan điều tra Cần Thơ lại khởi tố và bắt tạm giam ông Mai Than (là anh rể của bà Cúc) với lý do đã có hành vi hiếp dâm N (?!) Năm tháng sau, N sinh ra một bé gái. Cơ quan điều tra tiến hành giám định ADN, kết quả giám định đi ngược lại những gì cơ quan điều tra đã làm, đứa trẻ sinh ra không có gì liên quan đến ông Mai Than.

Tuy nhiên cơ quan điều tra Cần Thơ vẫn một mực cho rằng, dù đứa trẻ không phải là con ông Mai Than nhưng vẫn có cơ sở để xác định ông có hành vi hiếp dâm N, đó là lời khai một vài nhân chứng!? Sau đó, TAND tỉnh Cần Thơ (nay là TP Cần Thơ) đã tuyên phạt ông Mai Than 20 năm tù tội “Hiếp dâm trẻ em”.

Vụ án bị kháng cáo và sau đó Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM, sau đó xử phúc thẩm đã tuyên hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra lại do chứng cứ có nhiều mâu thuẫn, lời khai nhân chứng bất nhất, không đáng tin cậy.

Sau thời gian dài điều tra lại, Công an Cần Thơ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị truy tố ông Mai Than với tội danh như trước đây và VKSND Cần Thơ ra bản cáo trạng với nội dung giống y nội dung của bản cáo trạng trước. Sau khi thụ lý lại vụ án, TAND TP Cần Thơ 4 lần ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng VKS, CQĐT vẫn không đáp ứng những vấn đề tòa yêu cầu.

Ngày 29/7/2005, TAND TP Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử và tuyên ông Mai Than không phạm tội “Hiếp dâm trẻ em”. Sau đó, ngày 24/10/2005, Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM cũng đã y án sơ thẩm tuyên bố ông Mai Than không phạm tội “hiếp dâm trẻ em”.

Từ ngày được tuyên vô tội, ông Mai Than gửi đơn đến VKSND TP Cần Thơ và Công an Cần Thơ yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị khởi tố, truy tố oan theo Nghị quyết 388. Thế nhưng từ đó đến nay, cả hai cơ quan này đều không có một lời phúc đáp và cứ hành xử theo kiểu “im lặng là… vàng”!!!

HA 930383 g�i đến 996 để nh�n ảnh này

Ông Đặng Tấn Hinh.

Không chỉ im lặng né trách nhiệm, “trái bóng trách nhiệm” giải quyết oan sai còn bị các cơ quan tố tụng “đá qua, đá lại” hòng phủi tay chối bỏ trách nhiệm. Cách đây 22 năm (1984), ông Đặng Tấn Hinh (lúc đó là đội trưởng đội khai thác lâm sản số 2, thuộc Ty lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai) bị Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đồng Nai bắt giam với lý do “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN”.

Sau hơn 3 tháng bị tạm giam, ông được Giám đốc công an tỉnh ký quyết định tạm tha, rồi bỏ quên luôn vụ việc cho đến cuối năm 2005. Trong suốt thời gian đó, ông chờ hoài không thấy công an giải quyết, đi đến các cơ quan chức năng để hỏi thì được trả lời… đang giải quyết. Mãi đến giữa năm 2005, khi Ban dân nguyện của Quốc hội vào cuộc, Công an tỉnh Đồng Nai mới lục lại hồ sơ để xem lại vụ việc của ông Hinh.

Nhưng rồi, để đối phó và né bồi thường cho người bị oan, Công an tỉnh Đồng Nai lại ra quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Hinh với lý do “Do chuyển biến tình hình, hành vi của ông Hinh không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Không đồng ý với quyết định này, ông làm đơn khiếu nại đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền hơn 7 tỷ đồng gửi Công an tỉnh Đồng Nai. Công an tỉnh chỉ ông qua VKS tỉnh để được giải quyết. Ông sang Viện thì được nơi này trả lời rằng trách nhiệm của công an vì việc bắt ông tạm giam là do công an làm, theo nghị quyết 388 không phải trách nhiệm của Viện. Chạy tới chạy lui, mãi đến bây giờ cái đơn đòi bồi thường của ông vẫn nằm im, chưa được ai giải quyết.

Né trách nhiệm

HA 930401 g�i đến 996 để nh�n ảnh này

Bà Phạm Thị Út được tự do sau hơn 12 năm bị hàm oan.

Năm 1996, Đào Trần Thành, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Thành bị cơ quan điều tra công an TP.HCM khởi tố bắt giam do nghi ngờ có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”. Sau 4 năm bị khởi tố bắt giam, vụ án mới được đưa ra xét xử và tuyên phạt ông Thành 5 năm tù về tội danh này, mặc dù trong suốt quá trình từ khởi tố đến xét xử ông một mực kêu oan.

Sau khi thụ án xong, ông Thành trở về và tiếp tục gửi đơn kêu oan đến VKSND Tối cao, TAND Tối cao. Ngày 24/12/2002, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã xử Giám đốc thẩm, xác định không đủ cơ sở kết tội ông Thành “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như bản án của các cấp tòa đã tuyên. Vụ án sau đó được đưa về điều tra xét xử lại.

Sau 5 năm, với rất nhiều lần trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng vẫn không chứng minh được hành vi của ông Thành có tội. Cuối cùng ngày 7/8/2006, Công an TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ điều tra với lý do “do chuyển biến tình hình, hành vi của bị can Thành không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Với nội dung của quyết định này thì theo Nghị quyết 388, cơ quan công an không phải bồi thường. Nhưng ngặt nỗi, cái án 5 năm tù kia ông Thành đã chấp hành xong và Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã xác định không có cơ sở buộc tội thì lập luận cho rằng “do chuyển biến tình hình…” của Công an TP.HCM có thuyết phục?

Cũng cùng hoàn cảnh như thế, nhưng trường hợp của bà Phan Thị Kim Dung (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương) còn “oái ăm” hơn. Nghi ngờ bà Dung chứa mại dâm, tối ngày 28/3/2003, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương khởi tố, bắt khẩn cấp bà Dung về hai tội “Chứa mại dâm” và “Trốn thuế”.

Thế nhưng trong suốt thời gian dài sau đó, VKSND tỉnh Bình Dương không thể ra cáo trạng truy tố bà Dung vì không đủ chứng cứ. Ngày 23/5/2006, VKSND tỉnh Bình Dương lại thay tòa tuyên án bằng quyết định đình chỉ điều tra với lý do “thời gian tạm giam đã đủ giáo dục cải tạo…”! Bà Dung đã phản ứng quyết liệt cái lý do đình chỉ này “không giống ai” của VKS Bình Dương và gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nhờ can thiệp. Thế nhưng, vụ việc đến nay vẫn chưa có chuyển biến gì!

Với những kiểu đình chỉ này, không hiểu những người trực tiếp (hoặc gián tiếp) gây oan cho người dân nghĩ gì khi họ đặt bút ký những dòng chữ như thế? Phải chăng vì sợ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan nên né mà không nghĩ đến thân phận của những người đã từng bị chính họ hoặc cơ quan của họ gây ra oan trái.

Theo Vietnamnet

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

VỀ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

Muốn sử dụng phải được chủ đồng ý

Hình ảnh của cá nhân thuộc lĩnh vực riêng tư của mỗi người. Tuy nó không có gì bí mật, cần phải hạn chế sử dụng nhưng một khi muốn sử dụng những hình ảnh của cá nhân ai đó, nhất là sử dụng khai thác vào mục đích kinh doanh (như in lịch, in bìa sách, bao bì mẫu quảng cáo…) thì đều phải hỏi ý kiến “người chủ” hình ảnh đó (người thật có hình đó). Bởi về nguyên tắc, mọi cá nhân đều có quyền đối với hình ảnh của mình. Mỗi người đều có quyền cho hay không cho người khác sử dụng hình ảnh của mình. Nếu chưa được sự đồng ý mà sử dụng đã là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh.

Trường hợp người trong ảnh đã chết hoặc mất trí, không chủ động quyết định được hoặc đối với hình ảnh của trẻ dưới 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của người thân (cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên) hoặc người đại diện của họ đồng ý.

Khái niệm “hình ảnh của cá nhân” nói trên đây bao gồm mọi hình thức tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người cụ thể như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh hoạ chép và suy luận rộng ra có thể cả bức tượng của cá nhân đó nữa.

Đứng về mặt “quyền sở hữu trí tuệ” thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều là loại hình tác phẩm nghệ thuật, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền (chủ sở hữu quyền tác giả) và trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, đồng thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (người chụp ảnh, sao chép, hoạ hình…). Nhưng đứng về mặt “quyền nhân thân của con người”, ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải được sự đồng ý của người có hình ảnh đó.

Mức bồi thường: Tuỳ toà xử

Theo luật, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới bị coi là vi phạm quyền nhân thân, mà kể cả trường hợp không có thiệt hại, thậm chí còn làm lợi cho người có hình ảnh đó, cũng bị coi là vi phạm quyền nhân thân của cá nhân dối với hình ảnh nếu sử dụng hình ảnh của họ mà không có sự đồng ý của họ.

Còn làm sao để được sự đồng ý thì hiện nay luật chưa “đả động” đến. Điều 31 Bộ Luật Dân sự nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó. Có việc này xảy ra tất nhiên phải bồi thường thiệt hại về tinh thần. Nhưng trường hợp không gây ra thiệt hại thì sao? Trong thực tế lâu nay việc sử dụng “ảnh chùa” đã trở thành thói quen của mọi người. Cùng lắm người nào “biết điều” cũng chỉ hỏi ý kiến của người sáng tác (chụp, vẽ ảnh) chứ ít khi chịu tìm đến hỏi ý kiến của “nhân vật trong ảnh”. Bởi người ta vẫn thường đinh ninh rằng người có hình ảnh được sử dụng để “lăng – xê” mình trước xã hội đã là… “khoái” lắm rồi, cần gì phải hỏi ý kiến! Nhưng một khi chuyện dĩ lỡ rồi, người có hình ảnh đó lại tìm cách làm khó dễ, việc xin lỗi không thôi chưa đủ! Tuỳ theo giá trị sử dụng hình ảnh trong việc kinh doanh mà người có hình ảnh đòi phải thanh toán bằng một khoản tiền vài triệu đồng, có khi vài chục triệu và vừa rồi có vụ yêu cầu của phía chủ ảnh lên đến hàng trăm triệu đồng.

Thử đặt câu hỏi: Người sáng tác chụp ảnh đạt yêu cầu chỉ được trả thù lao cùng lắm vài trăm ngàn hay vài triệu đồng mà nhân vật trong ảnh lại ra giá tới hàng trăm triệu đồng thì có quá đáng không? Dù sao một khi không có luật định thì mạnh ai nấy đòi, đòi cho bằng thích, đến khi vụ việc phải kéo nhau đến toà án thì toà cũng chỉ theo thông lệ là… “việc dân sự muốn xử sao cũng được”!

Lại thử đặt câu hỏi trong tình hình hiện nay nếu áp dụng gắt việc này thì mỗi ngày toà phải xử bao nhiêu vụ người trong ảnh kiện báo chí và mỗi ngày báo chí phải tốn bao nhiêu tiền để bù cho cái thông lệ sử dụng ảnh mà chưa được sự đồng ý của người ta.

Một số vụ xài ảnh bị kiện

  • Tháng 1-2003, cô Phan Thị Như Quỳnh gửi đơn khiếu nại Tổng cục Du lịch Việt Nam và tác giả Vũ Quốc Khánh vì sử dụng bức ảnh “Nụ cười Việt Nam” có ảnh của cô mà không xin phép. Bức ảnh này được nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Quốc Khánh chụp năm 1994, đến năm 2000 được Tổng cục Du lịch Việt Nam chọn làm biểu tượng “Việt Nam! Điểm đến của thiên niên kỷ mới!”
  • Đầu năm 2004, gia đình bé Minh Khôi kiện Công ty Biti’s, đòi bồi thường thiệt hại 154 triệu đồng vì Biti’s xài trái phép ảnh của bé Minh Khôi in trên bìa lịch, tập quảng cáo. Tháng 9-2004, TAND quận 6 (TP.HCM) buộc Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường gần ba triệu đồng.
  • Tháng 2-2004, Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC (Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam) xài không xin phép ảnh “Hai bà cháu” trên thẻ gọi điện thoại 1717. Đây là bức ảnh được nghệ sĩ Mạnh Đan chụp năm 1982. Sau đó, VDC phối hợp với đơn vị thiết kế mẫu đến, gặp gia đình thân nhân người được chụp ảnh để nhận lỗi, thoả thuận bồi thường…
  • Tháng 12-2004, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Văn Trí phát hiện bức ảnh in trên tờ vé số An Giang chính là tấm ảnh có tên “Hoa sen” mà ông chụp ở Đồng Tháp Mười. Ông Trí đã hỏi Công ty Xổ số kiến thiết An Giang và Công ty cổ phần In An Giang, được các nơi này cho biết lấy bông sen trên đĩa vi tính, không đề tên tác giả nên không biết và “mong tác giả thông cảm”!
  • Tháng 4-2006, luật sư Phạm Thành Long khiếu nại sân bay Tân Sơn Nhất dùng bức ảnh “Áo dài” của ông làm pano ở đường vào sân bay. Bức ảnh này được ông chụp nhân ngày khai giảng tại cổng trường Trần Phú (Hà Nội), sau đó được công bố lần đầu vào ngày 6-9-2004 trên mạng. Ông đã đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với bức ảnh tại Cục Bản quyền (Bộ Văn hoá – Thông tin). Trước đó, bức ảnh từng bị … “xài chùa” 14 lần khiến ông phải khiếu nại nhiều tờ báo và doanh nghiệp. Kết quả, một doanh nghiệp của Nhật đã phải bồi thường…

Theo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

ÁN “BỎ TÚI”: CÒN HAY KHÔNG?

KHẢI HÀ – THANH TÙNG

Nhiều Toà án đã cố tình nhập nhằng giữ chuyện báo án, trao đổi án trong nội bộ toà với duyệt trước kết qua nên án “bỏ túi” vẫn xảy ra…

Về chuyện này, không ít đại biểu Quốc hội đã lên tiếng chất vấn tại kỳ họp Quốc hội mới đây. Theo họ, “án bỏ túi” còn xảy ra khiến người dân phải đặt câu hỏi về sự công tâm trong hoạt động xét xử của ngành toà án…

Ra toà cho có lệ

Vụ án có dấu hiệu cho thấy kết quả được “duyệt” trước khi xử gần đây nhất vừa được Pháp Luật TP.HCM phản ánh. Số là trong một vụ tranh chấp, dù đã bị TAND tối cao huỷ án vì xử sai luật nhưng TAND huyện Cái Bè (Tiền Giang) vẫn xử lại như cũ. Sau đó, thẩm phán chủ toạ phiên toà thú thật với đương sự là phải xử như vậy vì “áp lực của lãnh đạo toà”, xử xong về “ngủ không được”, chỉ mong bản án của mình sẽ… bị huỷ để lương tâm đỡ day dứt! Thẩm phán này cũng phân tích những… điểm sai trong bản án này để đương sự kháng cáo.

Thật ra hiện nay, chuyện án “bỏ túi” không hiếm nhưng để “bắt tận tay, day tận mặt” thì không dễ bởi ít toà nào lại dại dột “vạch áo cho người xem lưng” như trên. Nếu có xảy ra thì nó cũng thể hiện ở nhiều hình thức và phiên xử cũng sẽ được điều khiển một cách khéo léo để “hợp thức hoá” bản án “bỏ túi”.

Theo một thẩm phán TAND tỉnh B, lãnh đạo của ông quy định những vụ đơn giản thì thôi, còn những vụ phức tạp, nhất là tranh chấp đất đai là phải trình lên lãnh đạo “xem xét”. Nhiều vụ qua trao đổi, ông đánh giá vụ việc giải quyết theo hướng A nhưng lãnh đạo lại cho rằng phải giải quyết theo hướng B! Thế là dù ấm ức ông vẫn phải giải quyết án theo ý lãnh đạo đã “vạch” ra!.

Còn một luật sư kể: ông bảo vệ nguyên đơn trong một vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà tại tỉnh L. Ở phiên sơ thẩm, ông đưa chứng cứ chứng minh bị đơn vi phạm hợp đồng nhưng toà không hề đá động tới và tuyên bị đơn thắng. Bên lề, thẩm phán chủ toạ bóng gió rằng vụ này “không thể xử khác” vì lãnh đạo “quyết” rồi. Không phục, luật sư bảo nguyên đơn kháng cáo. Kết quả là toà phúc thẩm đã sửa án, cho nguyên đơn thắng vì luật sư xuất trình được “chứng cứ mới” quan trọng. Thật ta thì “chứng cứ mới” ấy chính là chứng cứ mà toà sơ thẩm cố tình không xét!

Nhiều luật sư khác khẳng định dù toà không nói ra thì việc nhận biết “án bỏ túi” cũng không khó. Đó là hội đồng xét xử không quan tâm đến diễn biến tại phiên toà, việc nghị án chỉ là hình thức nên không ít bản án tréo ngoe với biên bản phiên toà, không ăn nhập gì với nhau…

Từ trao đổi án…

Theo Luật Tổ chức TAND, Hội đồng thẩm phán, Uỷ ban thẩm phán, chánh án có trách nhiệm hướng dẫn thẩm phán áp dụng pháp luật cho thống nhất. Trong đó, chánh án là người phân công thẩm phán xét xử nên phải biết nội dung vụ án để chỉ đạo. Việc chỉ đạo này không phải là duyệt án mà là định hướng, hướng dẫn áp dụng pháp luật cho đúng. Quyền quyết định cuối cùng là của hội đồng xét xử. Nếu quyết định sai, hội đồng xét xử phải chịu trách nhiệm về phán quyết của mình.

Đây chính là điều mà Chánh án TAND TP.HCM Bùi Hoàng Danh đã khẳng định. Ông Phạm Thao, Chánh án TAND quận 2 (TP.HCM), cũng cho rằng duyệt án là áp đặt, còn trao đổi án thuộc về nghiệp vụ. Trao đổi án trước khi xử là hợp lí vì chánh án là người phân công thẩm phán mà không biết gì thì làm sao quán xuyến tình hình. Hơn nữa, trong xét xử hình sự, nếu xảy ra oan, chánh án là người chịu trách nhiệm đầu tiên nên họ phải “nắm đằng chuôi”. Mặt khác, có người đặt ra vấn đề: có người phản biện và cùng nhau bàn sâu thì rõ rang các thẩm phán sẽ nhạy hơn trong việc “soi” án để xử.

Đồng tình, bà Ngô Thị Thuận, Chánh án TAND quận 8 (TP.HCM), nói thêm, việc trao đổi án là một hình thức phân trách nhiệm xét xử để thẩm phán có trách nhiệm hơn chứ không phải là lãnh đạo toà không biết thì thẩm phán muốn xử sao cũng được. Sở dĩ phải trao đổi án trước phiên xử là do trình độ của thẩm phán không đồng đều. Vì thế đưa ra bàn bạc trước tập thể có dự giám sát của lãnh đạo là một việc nên làm.

… Nhập nhằng thành duyệt án?

Vấn đề ở đây là trao đổi án đến mức nào là hợp lí để không bị coi là duyệt án. Theo ông Thao, nguyên tắc trao đổi án là chỉ giúp thẩm phán xem xét vụ án ở nhiều góc cạnh, hạn chế sai sót chứ không bắt buộc hội đồng xét xử phải tuân theo. Bà Thuận thì cho biết trao đổi ở đây là trước một vụ việc, thẩm phán còn vướng mắc gì, thiếu kiến thức ở lĩnh vực nào thì báo cáo lãnh đạo để đưa ra hướng giải quyết chứ tuyệt nhiên không vạch ra kết quả sẵn…

Như vậy, ề lí thuyết, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa chuyện trao đổi án và duyệt án. Thông qua trao đổi, lãnh đạo toà có thể định hướng đường lối áp dụng pháp luật cho đúng đắn, còn kết quả phiên xử thế nào thì do hội đồng xét xử quyết định dựa trên diễn biến thực tế tại phiên xử. Tuy nhiên, trên thực tế, một số toà vẫn cố tình đồng nhất giữa hai việc này, kết quả là án “bỏ túi” vãn xuất hiện.

Chẳng hạn trong vụ án ở Tiền Giang nói trên, bà Nguyễn Thị Lạc, Chánh án TAND tỉnh Tiền Giang, nhận xét việc cấp trên “chỉ đạo” xét xử không vi phạm nguyên tắc, không làm mất đi tính độc lập xét xử, điều quan trọng là chỉ đạo có đúng đường lối hay không, nếu không đúng thì nên rút kinh nghiệm (?). Theo bà Lạc, vụ án này chưa gây ra hậu quả gì lớn và nghiêm trọng, chỉ là trường hợp để toà cấp dưới rút kinh nghiệm (?).

Còn Chánh án một quận tại TP.HCM khẳng định được duyệt án trong một số trường hợp đặc biệt. Loại trừ việc thẩm phán vì một động cơ cá nhân nào đó mà dẫn đến xét xử oan, sai.

Liệu việc xử án sai luật theo ý lãnh đạo, làm ảnh hưởng đến quyền lợi thiết thân của đương sự có phải là “chưa gây hậu quả gì lớn”? Liệu trường hợp thẩm phán cố tình xử oan, sai thì lãnh đạo toa được duyệt án trước? Nếu thế, nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng là thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật còn có ý nghĩa gì?

SOURCE: báo pháp luật TP.HCM ngày 6/4/2007.

TRANH TỤNG KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ HẲN XÉT HỎI

ĐỨC MINH

Gần đây, báo chí, đặc biệt là báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh có nhiều bài nhìn lại thực trạng tố tụng sau năm năm cải cách tư pháp, trong đó nêu ra một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động xét xử như tòa dồn ép, buộc tội bị cáo; viện kiểm sát không tranh tụng, chuyện án “bỏ túi”…. Về những vấn đề này, ông Đinh Văn Quế, chánh án Tòa hình sự TAND tối cao, đã dành cho báo một cuộc trao đổi rất thẳng thắn.

– Không ít trường hợp khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa như đã kết luận bị cáo phạm tội.

– Nhiều trường hợp kiểm sát viên không chủ động xét hỏi mà chờ chủ tọa phiên tòa nhắc…

Theo ông Quế, năm năm cải cách tư pháp, phiên tòa hình sự ở tòa án các cấp đã có nhiều tiến bộ, thu được những kết quả nhất định: từng bước bảo đảm được sự tôn nghiêm, dân chủ, văn minh; chất lượng xét xử được nâng cao; hạn chế thấp nhất việc xử oan, sai nghiêm trọng; tạo đà cho việc cải cách toàn diện các cơ quan tư pháp…

Tranh tụng đến đâu ?

Thưa ông, dư luận cho rằng gần đây vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự không được các tòa án quan tâm như trước?

Đúng là trong thời gian qua, các phương tiện thông tin đại chúng it nói đến vấn đề tranh tung tại phiên tòa như thời gian sau khi có Nghị quyết số 8–NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị nhưng không vì thế mà cho rằng tòa án không quan tâm đến vấn đề tranh tụng nữa. Trong các văn bản hướng dẫn, cũng như trong các lớp tập huấn cho các thẩm phán về kỹ năng xét xử, TAND tối cao vẫn thường xuyên nhắc nhở các tòa án phải tiếp tục quán triệt Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự dân chủ; việc phán quyết của tòa phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên xử.

Có người nói vì Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định tòa xét hỏi trước và chịu trách nhiệm xét hỏi trước chính nên tính chất tranh tụng tại phiên tòa không được thể hiện một cách đầy đủ?

Trước đây, khi soạn dự thảo Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003, cơ quan chức năng có tính đến chuyện quy đinh Viện Kiểm sát (VKS) hỏi trước, tòa án hỏi bổ xung… nhưng khi đưa ra thảo luận thì không đứng vững được vì như thế sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống pháp luật của ta.

Theo tôi, tranh tụng tại phiên tòa hình sự chỉ là một trong những hoạt động tố tụng chứ không bao trùm lên toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự. Tranh tụng tại phiên tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của “tố tụng xét hỏi” trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù không phải là “tố tụng tranh tụng” nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa người có quyền và lợi ích đối lập nhau như giữa kiểm sát viên, người bị hại với bị cáo, người bào chữa; trong một số trường hợp là giữa kiểm sát viên với người bị hại; giữa người tham gia tố tụng với nhau. HĐXX không phải là người tham gia tranh tụng mà chỉ là người có tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau. Do đó, vai trò của HĐXX mà trực tiếp là chủ tọa phiên tòa trong việc tranh tụng như thế nào để đạt được mục đích là vô cùng quan trọng.

Luật có mâu thuẫn?

Cũng có người nói là Nghị quyết 08 đề cao “tố tụng tranh tụng” nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự lại chưa thể chế hóa được yêu cầu này khi vẫn quy định về “tố tụng xét hỏi”. Như vậy có mâu thuẫn? Có cần phải sửa luật để phiên tòa thật sự có tính tranh tụng?

Giữa Nghị quyết 08 và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không có gì mâu thuẫn cả. Tố tụng của chúng ta là “tố tụng xét hỏi”, còn tinh thần tranh tụng theo Nghi quyết 08 là bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, bào chữa, những người tham gia tố tụng chứ đây không phải là “tố tụng tranh tụng” như ở một số nước khác theo pháp luật án lệ.

Trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ Tư pháp đã có cả một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ cho rằng tố tụng của ta muốn hòa nhập giữa “tố tụng tranh tụng” với tố tụng xét hỏi”, giữa luật thành văn với án lệ. Một số nhà khoa học đặt vấn đề Viêt Nam cũng muốn theo “tố tụng tranh tụng” như một số nước trên thế giới, trong khi hệ thống pháp luật của ta là luật thành văn. Đây là vấn đề mới, khi đưa ra thảo luận trước Quốc hội, do còn nhiều ý kiến khác nhau, không thông qua nên Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 vẫn theo hướng “tố tụng xét hỏi”.

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 có cần sửa đổi không? Luật pháp bao giờ cũng đi sau cuộc sống nên có những luật vừa ban hành đã phải sửa đổi. Nghị quyết 49 cũng phải sửa đổi bộ luật này cho phù hợp với hội nhập. Nhưng sửa như thế nào thì các cơ quan chức năng phải xem xét: “Tố tụng tranh tụng” và “tố tụng xét hỏi” có sửa hay không thì cũng phải xem xét và đi từng bước căn cứ vào thực tiễn.

Nhiều tòa vẫn kết tội trước?

Nhưng thưa ông, thực tế vẫn có không ít thẩm phán thay vì phải làm nhiệm vụ như ông nói cũng vội về “phe” kiểm sát viên kết tội bị cáo?

Tôi cho rằng nhìn chung, ở rất nhiều phiên tòa, HĐXX mà trước hết là chủ tọa phiên tòa đã thể hiện được vai trò điều khiển việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, đồng thời xử lý kịp thời, đúng pháp luật các tình huống xảy ra tại phiên tòa. Những ý kiến khác nhau được HĐXX tôn trọng và dành thời gian thỏa đáng để cho các bên tranh luận phát biểu ý kiến của họ nhằm tìm ra sự thật….

Tuy nhiên, tại một số phiên tòa, việc xét hỏi chưa tập trung vào những vấn đề mâu thuẫn, còn có ý kiến khác nhau. Cũng có trường hợp khi xét hỏi, thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã kết luận bị cáo phạm tội. Hay khi xét hỏi, những người tham gia xét hỏi không tập trung theo dõi, nhiều câu hỏi và bị cáo hoặc người tham gia tố tụng đã trả lời nhưng kiểm sát viên và luật sư vẫn hỏi lại…

Và vẫn còn tình trạng kiểm sát viên không tranh luận mà chỉ nói “giữ nguyên quan điểm đã truy tố” Ông nghĩ sao về thực tế này?

Đại diện VKS giữ nguyên công tố tại phiên tòa phải bảo vệ cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa; chứng minh mọi luận điểm trong cáo trạng bằng việc chủ động xét hỏi thẩm vấn, đưa ra những chứng có trực tiếp và chững cớ gián tiếp để chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ chi tiết từng sự việc của vụ án. Nhưng còn có phiên tòa kiểm sát viên không chủ động xét hỏi mà chờ chủ tọa phiên tòa nhắc mới hỏi và cũng chỉ hỏi có tính chất bổ xung, còn việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết của vụ án vẫn do chủ tọa phiên tòa thực hiện.

Phần tranh luận, một số kiểm sát viên không đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến mà luật sư và những người tham gia tố tụng nêu ra làm cho việc tranh tụng bị hạn chế.

HĐXX không được áp đặt, “mớm cung”?

Vậy theo ông, để phiên tòa đảm bảo được yêu cầu tranh tụng theo Nghị quyết 08 trong “tố tụng xét hỏi” hiện nay thì ngành tòa án cần phải làm gì?

Tôi cho rằng trong từng giai đoạn xét xử có những yêu cầu cụ thể đối với từng thành viên của HĐXX mà đặc biệt là vai trò của chủ tọa phiên tòa.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử, HĐXX cần trao đổi với kiểm sát viên tham giam phiên tòa về kế hoạch xét hỏi (đề cương thẩm vấn); cần có sự phân công là HĐXX hỏi những nội dung gì. Việc thống nhất về phương pháp xét hỏi này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của HĐXX.

Giai đoạn tranh luận tại phiên tòa, để việc tranh luận diễn ra được dân chủ, khách quan, HĐXX phải chú ý lắng nghe, tôn trọng ý kiến của kiểm sát viên, luật sư và những người tham gia tố tụng, tránh định kiến sẵn, đặc biệt phải chú ý lắng nghe ý kiến của luật sư, của bị cáo nếu khác với lời luận tội của viện kiểm sát….

Trong cả giai đoạn xét hỏi cũng như tranh luận, HĐXX không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ vấn đề nào mà kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nêu ra, cũng không được đánh giá, nhận xét đúng sai. Nếu cần phải giải thích cho người tham gia tố tụng thì chỉ giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng, tuyệt đối không được giải thích các quy định của BLHS…

Xin cảm ơn ông.

Ý kiến luật sư thường bị “bỏ qua”?

Giới luật sư than phiền rằng ý kiến của họ thường bị HĐXX “bỏ qua”. Điều này thể hiện rõ nhất ở việc có những tình tiết quan trọng luật sư đưa ra để tranh luận gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền cho đương sự nhưng không được lập luận trong bản án. Đây cũng là lý do khiến dư luận nghi ngờ về sự tồn tại của “án bỏ túi”?

Thực tế đúng là có trường hơp HĐXX kết luận trước về lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khiến cho bị cáo và nhưng người tham dự phiên tòa cho rằng bản án được viết sẵn (án bỏ túi). Hay một số bản án của tòa còn thiếu sức thuyết phục, nhất là trong phần nhận định phải xử phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo những phần quyết định lại cho bị cáo hưởng án treo. Mặt khác, có nhưng tình tiết quan trọng luật sư đưa ra để tranh luận nhằm gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền lợi của đương sự nhưng không được lập luận trong bản án….

SOURCE: báo Pháp Luật TP.HCM