BÁO ÁN, TRAO ĐỔI ÁN: LÀM SAO ĐỂ TRỌN VẸN ĐÔI ĐƯỜNG

PHAN GIA HY

Nhiều chánh án đang “đau đầu” bởi thấy thẩm phán làm sai, không can thiệp không được nhưng nhúng tay vào thì lại vi phạm nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật…

Vẫn phải quản?

Cách đây không lâu, liên tục trên nhiều số báo, chúng tôi đã đăng bài phản ánh các vấn đề liên quan đến việc báo án, duyệt án, trao đổi án, án “bỏ túi”… Nhiều ý kiến cho rằng phải “khai tử” kiểu án bỏ túi, tăng cường tính độc lập xét xử của thẩm phán để cho ra một bản án đúng pháp luật.

Về chuyện này, Chánh án TAND tối cao đã ra chỉ thị nghiêm cấm việc duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân của người đứng đầu làm cho việc độc lập xét xử của thẩm phán bị xâm phạm. Tuy nhiên, bên cạnh đó chỉ thị cũng buộc người đứng đầu các tòa phải chịu trách nhiệm chính về quản lí đối với các mặt công tác, đặc biệt là chất lượng xét xử.

Ở đây có một vấn đề đang phải đặt ra là nếu có một chánh án nào đó nhận thấy trong vụ án A thẩm phán phụ trách làm không đúng pháp luật, ông ra có quyền ra lệnh, buộc thẩm phán ấy làm theo ý mình cho đúng pháp luật không? Nếu vị chánh án này không áp đặt quan điểm của mình thì thẩm phán sẽ làm sai, sẽ gây thiệt hại, khiến ông và đơn vị phải gánh hậu quả. Nhưng nếu ông can thiệp, áp đặt quan điểm của mình, buộc người thẩm phán phải nghe theo thì lại vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử.

Như vậy, phải chăng quy định này đã có sự “mâu thuẫn”, làm khó cho người lãnh đạo? Một mặt bắt buộc ông ta phải “duyệt án”, phải chỉ đạo vì là người quản lí, chịu trách nhiệm chính, một mặt yêu cầu ông ta không được làm gì cả vì thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật?

Lãnh đạo tòa đang lúng túng

Trước vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chánh án TAND tỉnh Bình Dương đã hết sức băn khoăn. Theo ông, không ai có thể phủ nhận được việc thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. cái này phải đặt lên trên hết, phải được tôn trọng, chấp hành. Khi xét xử, ông thẩm phán chỉ biết pháp luật là người “lãnh đạo” mình mà thôi. Tuy nhiên, phần người lãnh đạo thì sao? Pháp luật giao cho họ quyền quản lí hoạt động cơ quan mình, đồng thời phải chịu trách nhiệm chính về chất lượng xét xử, về quản lí công tác ngành. Bây giờ biết chắc việc thẩm phán sẽ làm gây “cháy nhà”, không lẽ lại làm ngơ? Lãnh đạo phải can thiệp ngay chứ! Không lẽ đặt ra người lãnh đạo là chỉ để phải chịu trách nhiệm, còn ngoài ra ông ta không được làm gì cả?

Tương tự, một thẩm phán TAND TP.HCM cũng tỏ ra rất trầm ngâm khi được hỏi về vấn đề này. Theo vị này, đây chính là cái khó của người lãnh đạo, người quản lí. Theo chỉ thị của TAND tối cao, việc báo án, trao đổi án là vẫn được phép làm để người lãnh đạo nắm được tiến độ giải quyết của thẩm phán, nội dung củ vụ án. Quy định chỉ nghiêm cấm việc lợi dụng nó để duyệt án…, hình thành nên các bản án bỏ túi mà thôi. Nhưng không ít lần thông qua việc trao đổi án, lãnh đạo thấy được rằng thẩm phán đang vận dụng pháp luật sai. Cái này cũng rất thường xảy ra. Lãnh đạo chỉ ra cái sai nhưng thẩm phán vẫn không chịu nhận và khăng khăng ý mình đúng. Lúc này, người lãnh đạo phải làm sao để ngăn chặn cái sai này?

Khắc phục ra sao?

Rõ ràng là những phân tích trên đã cho thấy muốn bỏ việc báo án, trao đổi án cũng không phải là dễ. Không ít người đã nhìn nhận vì trách nhiệm, vì nhiệm vụ quản lí mà người lãnh đạo phải can thiệp sâu vào nội dung vụ án, thậm chí đôi khi phải buộc thẩm phán xử theo ý mình. Làm thế không phải là họ hoàn toàn tiêu cực, “có vấn đề” mà là do cơ chế đã buộc họ phải làm như vậy.

Điều quan trọng là giải quyết mối quan hệ này như thế nào cho hài hòa trong điều kiện hiện nay? Chúng tôi đã gặp nhiều lãnh đạo tòa và ghi nhận được ba luồng quan điểm chính.

Quan điểm thứ nhất nhìn nhận dựa vào thực tiễn xét xử, phải chấp nhận cho người lãnh đạo được duyệt án, được chỉ đạo để đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Quan điểm thứ hai cho rằng phải sửa đổi cơ chế. Theo đó, lãnh đạo tòa có thể chịu trách nhiệm về chương trình làm việc sao cho hợp lí, hiệu quả. Còn khi đã giao vụ án cho thẩm phán thì coi như xong, không phải quan tâm nữa, thẩm phán nào sai thẩm phán đó chịu trách nhiệm.

Luồng quan điểm cuối cùng thì nói rằng thẩm phán và lãnh đạo vẫn phải trao đổi, báo án cho nhau để ràng buộc quan hệ giữa người điều hành và người thực hiện. Nếu xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên, thẩm phán vẫn có quyền xử theo ý mình nhưng lúc này cho phép người lãnh đạo được lập biên bản ghi rõ quan điểm của từng bên. Nếu thẩm phán làm theo ý mình mà sai thì thẩm phán tự chịu trách nhiệm.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm chính về quản lí đối với các mặt công tác, đặc biệt là chất lượng xét xử, không được lạm dụng việc tổ chức công tác xét xử, trao đổi ý kiến về chuyên môn nghiệp vụ để hình thành chế độ duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân trái với nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án…

(Trích chỉ thị 01 ngày 1/3 của Chánh án TAND tối cao về việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành tòa án năm 2007)

* Ngày 31/5 TAND tỉnh Bình Dương đã tổ chức hội thảo bàn về việc nâng cao chất lượng quản lí công tác chuyên môn theo Chỉ thị 01 ngày 1-3 của Chánh án TAND tối cao. Nhiều chánh án các tòa án huyện đã tỏ ra lúng túng và có cách hiểu không đồng nhất về mối quan hệ, trách nhiệm quản lí của người đứng đầu và thẩm phán khi xét xử. Tuy nhiên, một vấn đề đã được thống nhất cao là lãnh đạo phải được nghe thẩm phán báo án (với những vụ án phức tạp, vụ án nhiều quan điểm) để biết được tiến độ giải quyết án của thẩm phán, nội dung của vụ án… Có như vậy thì người lãnh đạo mới có thể quản lí, điều hành được.

SOURCE: Báo Pháp luật TP.HCM ngày 4/6/2007

HAI NGÀY THEO CHÂN CÁN BỘ SỞ TƯ PHÁP “VI HÀNH”

Hai ngày, hai chuyến “vi hành”. Một ngày cưỡi xe máy đến phường, quận bằng xe máy, hôm sau mới có ô tô chở về xã, thôn. Chỉ bằng cách đóng vai dân thường đi công chứng, Trưởng phòng Bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp Hà Nội Phạm Thanh Cao mới tự mình nắm được những bất cập ở xã, phường từ khi Luật Công chứng có hiệu lực.
“Làm chứng thực như đánh trận”

“Có đi xuống cơ sở mới biết khi một luật mới ra đời, không phải bao giờ cũng thực hiện suôn sẻ ngay trong thực tiễn. Chứ cứ ngồi trong phòng máy lạnh, nghe báo cáo thì…”. Ông Phạm Thanh Cao giải thích một cách đơn giản lý do “đi thực tế” của mình, khi đứng trước cửa UBND phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, một ngày đầu tháng 7.

Đặt chân vào phòng Tư pháp hộ tịch, không còn chiếc ghế nào. Mới đầu giờ làm việc buổi sáng nhưng bà con đã đến xếp hàng từ bao giờ. Không đến nỗi chen chúc như ở các phòng công chứng của Thành phố trước đây, nhưng cũng đủ để người cán bộ văn phòng đóng dấu liên tục, không ngẩng đầu lên.

Được chừng 15 phút, một phụ nữ trẻ thất vọng quay ra: ông cán bộ tên Đệ dứt khoát không chứng thực cho chị giấy khai báo tạm trú của sếp chị, là một người Nhật. Rành rành văn bản bằng tiếng Việt, thẩm quyền ký là Công an phường Quảng An, chỉ mỗi cái tên “khổ chủ” là mấy chữ tiếng Nhật. Theo giải thích ngắn gọn của ông Đệ: “Văn bản có yếu tố nước ngoài, phải lên quận”. 

Chứng kiến cảnh này, ông Trưởng phòng Bổ trợ Tư pháp lắc đầu, tức tốc phóng xe máy đến UBND quận Ba Đình. Dù được chuẩn bị khá kỹ lưỡng: nào tập huấn, nào học luật, nhưng từ đầu tháng nay, cán bộ Tư pháp ở đây vẫn bắt buộc phải quen với việc kết thúc giờ làm buổi trưa vào 13h và ra về lúc đã 18h. Bởi mỗi ngày, phòng tiếp nhận trung bình hàng chục lượt người, mỗi người đến công chứng hàng chục bản cho mỗi loại giấy, “cho bõ công đi lại”.

Một khách hàng mới tốt nghiệp đại học, Hà Đăng Ninh tỏ ra thất vọng khi muốn đi chứng thực bản sao 2 loại văn bản: chứng minh nhân dân và chứng chỉ tin học. Ngặt một nỗi, chứng chỉ này của cậu lại in bằng 2 thứ tiếng: Việt – Anh, do Liên hiệp Khoa học Công nghệ cấp.

Năn nỉ một lúc, có lẽ chị cán bộ Tư pháp quận Ba Đình cũng “thương tình” Ninh, nhận cho cậu chứng chỉ tin học song ngữ này. “Biết là không đúng luật, nhưng nếu mình không nhận, có xuống phường thì phường lại đẩy cậu ấy lên đây thôi”, chị cán bộ tư pháp tỏ ra thông cảm. Còn chứng minh thư thì Ninh buộc phải quay về phường làm.

Ông Đỗ Gia Khương, Trưởng phòng Tư pháp quận Ba Đình ví von: “Từ ngày nhận công việc chứng thực, cứ như đi đánh trận ấy”. “Có ngày, tôi ký đến 4.000 bản sao. Một nữ nhân viên của tôi đã bị giãn dây chằng vai vì đóng dấu quá nhiều”, ông Khương cho biết.

Ông Phạm Thanh Cao chẳng xa lạ gì với những “rắc rối” mới phát sinh ấy, bởi ngay trong quá trình tổ chức các lớp tập huấn cán bộ xã, phường, Sở Tư pháp đã tổng kết các bất cập thành một văn bản, xin chỉ đạo cách thức xử lý của Bộ.

Ở nội thành, cái thiếu chủ yếu là nhân lực: tại phường Ngọc Khánh, cán bộ Tư pháp chỉ có một người duy nhất, lãnh đạo phường bèn phân công cán bộ văn phòng một cửa làm công tác chứng thực bản sao, một nhiệm vụ “tréo nghoe”. Còn các xã ngoại thành lại thiếu phương tiện máy móc.

Thiếu máy photocopy, làm sao “soi” gian lận?

Với Ngô Thị Luận, cán bộ Tư pháp xã Tân Minh (Sóc Sơn, Hà Nội), những ngày tháng 7 nóng nực này quả thực gây một sức ép lớn. Làm thêm chứng thực bản sao, chữ ký đối với cô đồng nghĩa là phải làm quen với việc phân biệt bằng thật và bằng giả, phải quyết định có chứng thực vào tờ giấy cam kết bảo lãnh này không, hay đó là dạng hợp đồng dân sự phải được làm tại phòng công chứng. Nhưng cái khó lớn nhất, là cả xã Tân Minh không có… một cái máy photocopy.

Theo ông Phạm Thanh Cao, nếu sở hữu một máy photocopy, cán bộ tư pháp cấp xã sẽ kiểm soát được tính xác thực của những bản sao mình sẽ ký, sẽ không phải “soi” nhiều khi đến hàng trăm bản sao mỗi lần. “Nếu người ta photocopy 50 bản và chỉ “trà trộn” vào 1 bản bị sửa đổi một chi tiết: ngày tháng, tên tuổi thôi, làm sao có thể phát hiện được? Hoặc với những hợp đồng kinh tế, chỉ cần sai một dấu phẩy là… chết”, ông Cao nói.
Cũng theo ông Phạm Thanh Cao, cán bộ tư pháp cấp phường, xã chưa có nhiều kinh nghiệm, khả năng phát hiện giấy tờ giả mạo rất thấp. Sau 2 tuần thực hiện Nghị định 79 đưa việc chứng thực về xã, phường chưa xảy ra trường hợp nào nhưng “không thể loại trừ khả năng bằng giả mà trước đây không chứng thực được ở các phòng công chứng sẽ nhân cơ hội này lọt về xã, phường”, ông Cao nhận định.

Mô hình “một cửa liên thông” đang được triển khai ở tất cả các xã, phường nhưng theo khảo sát của Sở Tư pháp Hà Nội, ở rất nhiều nơi, cán bộ tư pháp không được bố trí tham gia “một cửa”, trong khi 3/4 số việc ở cấp xã, phường hiện nay liên quan đến tư pháp. Người giải quyết công việc “một cửa” không phải là cán bộ cán bộ tư pháp nên mới xảy ra chuyện quận “đuổi” về phường, phường lại “đùn” lên quận.
Chỉ khi nào mọi khúc mắc nảy sinh quanh việc thực hiện Nghị định 79 này được giải quyết, thì niềm vui của người dân được hưởng một dịch vụ hành chính công thuận tiện mới được trọn vẹn. Gánh nặng thiếu người, thiếu phương tiện của các cán bộ cấp phường, xã mới được nhẹ bớt.
Vân Anh
Theo Vietnamnet ngày 17/7/2007

ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO NGHỀ ĐÒI NỢ THUÊ

NGUYỄN MINH HẢI

Ngày 14/06/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2007/NĐ-Cp về kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Nghị định này đã thực sự tạo ra một hành lang pháp lí cần thiết cho những DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ (DNĐN)

Không phải việc kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ bắt đầu được pháp luật thừa nhận kể từ Nghị định 104/2007, mà văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho ngành nghề này chính là Luật DN. Tại khoản 1 Điều 7 Luật DN 2005 quy định: “DN thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”, và theo một số văn bản pháp luật khác về danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh thì không có tên “Dịch vụ đòi nợ”. Như vậy là, hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ là hoàn toàn hợp pháp và được pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, do nhiều lí do khác nhau, mà một trong số đó là sự phát triển quá nhanh của các ngành, nghề kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, ở nước ta trong một thời gian dài chưa có một văn bản pháp lí cụ thể nào điều chỉnh vấn đề này. Hệ quả của thiếu sót này chính là tình trạng “trăm hoa đua nở” của các DN, các cá nhân, nhóm người thi nhau “hành nghề đòi nợ”, và tự do lựa chọn những cách xử sự trong quá trình hành nghề của mình. Pháp luật chưa thực sự điều chỉnh được vấn đề này với vai trò đích thực của nó: “Điều chỉnh các quan hệ xã hội”, chúng ta chỉ thấy rõ được vai trò của pháp luật trong vấn đề này khi mà “cách xử sự” của các DN, các cá nhân, nhóm người đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Nghị định số 104/2007/NĐ-CP đã quy định khá cụ thể về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lí khi có hành vi vi phạm pháp luật của các DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ, của các chủ thể khác liên quan; về đăng kí kinh doanh và điều kiện đăng kí kinh doanh dịch vụ đòi nợ… Trong đó, quan trọng là những quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động dịch vụ đòi nợ: DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ không được thực hiện các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền tự do cá nhân, quyền tài sản và các quyền dân sự khác của khách nợ, chủ nợ…..; những quy định về xử phạt vi phạm hành chính: Những tổ chức, cá nhân không phải là DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ mà vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.

Việc ban hành Nghị định 104 có ý nghĩa rất quan trọng. Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả của quản lí nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nó còn có ý nghĩa đối với chính các DN kinh doanh trong lĩnh vực này, đối với chủ nợ, khách nợ… Từ thực tiễn hoạt động của một số DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong thời gian qua, chúng ta có thể dự đoán rằng, trong tương lai không xa loại hình kinh doanh này sẽ còn rất phát triển, khi mà nhữn ưu thế của hoạt động này là rất rõ so với loại hình DN kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ: Đối nới DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ không cần phải có một số vốn qua lớn như loại hình DN kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ, tính rủi ro cũng thấp hơn. Còn đối với chủ nợ: Họ sẽ không mất đi một khoản tiền lớn như khi bán quyền đòi nợ của mình cho DN kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ, mà vẫn có thể đòi được nợ (ở nước ta tỷ lệ chiết khấu lên tới 60-70% số nợ). Vấn đề điều hòa lợi ích giữa hai bên sẽ được giải quyết trên cơ sở hợp đồng ủy quyền.

Với những quy định khá rõ ràng tại Nghị định 10, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cà trách nhiệm pháp lí của các DN kinh doanh dịch vị đòi nợ không còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng ranh giới giữa hành vi mà pháp luật không cấm và hành vi vi phạm pháp luật, không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận thấy, bởi vậy các DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ khi hành nghề cũng nên trang bị cho đội ngũ nhân viên của mình những kĩ năng nghề nghiệp, những kiến thức pháp lí cần thiết để có thể đưa ra những xử sự thật hợp lí trong bất cứ hoàn cảnh nào (ngay cả khi gặp sự phản kháng mãnh liệt của những con nợ). Có như vậy thì việc kinh doanh mới đạt được hiệu quả mà không trái pháp luật, nhanh chóng khẳng định được tên tuổi của DN trong nền kinh tế đầy sôi động và khốc liệt.

SOURCE: Báo Pháp luật Việt Nam, Ngày 07/08/2007

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN: VIỆT NAM ĐANG Ở ĐÂU?

Ngay sau khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Với những câu chuyện như trên trong xã hội, VN đang ở đâu trên lộ trình đi đến nhà nước pháp quyền – đặc biệt tôn trọng quyền lực của pháp luật? Trao đổi giữa VietNamNet và luật sư Trương Thị Hoà xung quanh vấn đề trên.
Luật sư Trương Thị Hòa nói: “Pháp trị nghĩa là cai trị bằng pháp luật, thực thi quyền hành bằng pháp luật. Pháp quyền là quyền lực của pháp luật, thượng tôn pháp luật: nhấn mạnh quyền lực, sức mạnh của pháp luật.

Nói pháp trị là nói phương thức, công cụ; nói pháp quyền là tính chất, bản chất của xã hội. Như vậy trong pháp quyền đã ngầm có pháp trị. Quan niệm hiện nay tại VN về nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước được làm điều mà pháp luật cho phép, dân được làm điều mà pháp luật không cấm.

Nhưng một nhà nước pháp quyền không đơn thuần chỉ có luật, ở đó pháp trị phải kết hợp với đức trị. Có đức trị thì mới củng cố được pháp luật. Trong lịch sử, thời nhà Lê thịnh trị vì kết hợp nhuần nhuyễn giữa pháp trị và đức trị”.

Đến tòa hay nhờ UBND phường?

– Thưa bà, ở VN hiện nay, khi xảy ra tranh chấp đa số người dân tìm đến tòa án, UBND phường, hay nhờ đến xã hội đen?

– Số trường hợp nhờ đến xã hội đen thì ít thôi nhưng đáng bận tâm. Hiện nay, địa phương không giải quyết được thì mới đưa đến tòa.

Cấp địa phương có đặc điểm giải quyết được vấn đề tình cảm, đạo lý, chẳng hạn: chuyện xích mích vợ chồng, lấn chiếm nhỏ giữa những người hàng xóm. Nếu đưa ra tòa, những chuyện như vậy sẽ thành chuyện lớn, dễ làm đổ vỡ quan hệ vợ chồng, láng giềng.

Vấn đề là cán bộ địa phương phải đủ trình độ, đạo đức, không để việc đình trệ. Người cán bộ cần biết giữ bí mật về tranh chấp, tránh trường hợp vừa giải quyết về thừa kế đã tiết lộ tại quán cà phê.

– Tuy nhiên, ở nhiều nước tiên tiến, tranh chấp nhỏ như kiện người đánh một con chó cũng có thể ra tòa. Việc nhiều người dân đến UBND phường giải quyết vụ việc thay vì ra tòa phải chăng là biểu hiện phát triển còn thấp trên con đường đi lên nhà nước pháp quyền?

– Truyền thống của người Việt là trọng tình xóm giềng. Pháp quyền đâu có nghĩa là giải quyết mọi giao dịch thuần túy theo pháp luật.

Ngay cả các nước phương Tây cũng không chỉ thuần túy giáo dục và áp dụng pháp luật. Họ còn chú trọng giáo dục đạo đức, đặc biệt là lòng trung thực. Có nơi, người thuộc giới quý tộc mà quan hệ bậy bạ thì sẽ bị loại ra khỏi giới.

Toà án là nơi sau cùng phải đến cho mọi người khi quyền lợi không được bảo vệ. Đó là nơi hoàn toàn khách quan. Việc xử lý linh động tại tòa cũng phải theo luật. Đặt bút xuống bản án là hoàn toàn vận dụng luật.

“Hiểu pháp luật mới tự bảo vệ mình”

– Thưa bà, VN đang ở đâu của lộ trình đi đến nhà nước pháp quyền?

– Từ khi tuyên bố xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ra đời năm 1994, VN có nhiều nỗ lực trong việc này. Năm 1995, VN đã có Bộ luật dân sự giải quyết giao dịch trong xã hội. Nhiều luật khác đã ra đời và chất lượng luật ngày càng tốt hơn.

Nhưng ý thức tuân thủ của cả người dân và cán bộ đều chưa bước nhanh bằng xây dựng luật. Nhiều luật ra đời nhưng tuyên truyền không sâu rộng. Tuyên truyền phải mang tính giáo dục chứ không phải chỉ phổ biến cho người ta biết, thậm chí phổ biến cũng chưa đầy đủ.

Việc giáo dục pháp luật có thể thông quan nhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng, các sinh hoạt quần chúng, thông qua các đại biểu Quốc hội. Giáo dục để người dân hiểu pháp luật cần cho họ và có lợi cho đất nước. Giáo dục pháp luật cũng là giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, truyền thống đạo đức.

Chẳng hạn, giáo dục về luật nghĩa vụ quân sự phải cho thanh niên hiểu nhiều thế hệ cha anh đã lên đường bảo vệ Tổ quốc, và đây là việc nghiễm nhiên họ phải làm.

– Có chuyện một người dân muốn gọi điện phản ánh bức xúc đến một lãnh đạo, lập tức được người khác khuyên: “Đừng chọc giận ông ấy, chết đấy!”. Lập tức người này không dám gọi vì sợ lãnh đạo, dù không biết mình làm vậy là phạm điều luật gì. Bà nghĩ sao về tình huống trên?

– Tất nhiên sẽ có số ít người lãnh đạo lạm quyền, khiến người dân nhầm tưởng ông ta còn lớn hơn pháp luật. Nhưng ngược lại, vẫn có những người dân hạn chế hiểu biết dẫn đến không tin vào pháp luật. Trong khi đó, hiến pháp đã quy định, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Khi hiểu pháp luật, người ta có khả năng tự bảo vệ, đòi quyền cho mình. Có chuyện một người Canada vi phạm pháp luật VN, bị giam. Ồng ta đề nghị phải có mặt luật sư mới lấy lời khai, mới nhận cáo trạng.

Dung hòa giữa “phép vua” và “lệ làng”
 VN đang gặp vướng mắc gì trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Sau 30 năm chiến tranh, tâm lý con người bị ảnh hưởng rất nặng nề. Cái chết diễn ra quá nhiều và dễ dàng không khỏi nảy sinh tâm lý coi thường mạng sống, thân thể. Vấn đề đạo đức cần được quan tâm. Chỉ dùng luật pháp thì không thể trừng trị hết nổi cái xấu.

Phải đào tạo những người dạy tiểu học, mẫu giáo thật giỏi, có kinh nghiệm để giáo dục con người ngay từ khi còn nhỏ. Chỉ giáo dục về quyền thôi không đúng, cần giáo dục thực hiện bổn phận trước. Thực hiện tốt bổn phận tức là tôn trọng quyền của người khác.

– Xã hội VN có truyền thống phép vua thua lệ làng, chịu nhiều ràng buộc quan hệ dòng tộc, có nhiều hương ước, thậm chí nhiều hủ tục, như: lặn nước để phân định đúng sai. Thực trạng này có cản trở xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Những tục lệ không tốt cần bị loại bỏ. Vấn đề là phát triển dân trí, nâng cao nhận thức. Nhưng còn rất nhiều tục lệ tốt. Trong trường hợp này cần có sự dung hòa giữa “phép vua” và “lệ làng”, “lệ làng” có thể cụ thể hóa “phép vua” khi “phép vua” quá xa.

Ở miền núi, người dân có lệ không đi đăng ký kết hôn vì ít hiểu được sự quan trọng của giấy đăng ký và đi lại khó khăn. Vậy, cán bộ hộ tịch có thể đến tận địa phương để làm đăng ký cho người dân mỗi tháng. Nhà nước cần thấy điều này để thống nhất bằng văn bản, tránh tình trạng thiếu thống nhất: nơi 1 tháng, nơi 45 ngày.

“Cầm quyền không phải cai trị mà giải quyết mối quan hệ”

– Có ý kiến cho rằng, chỉ có thể có nhà nước pháp quyền khi tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp song song và đối trọng về quyền lực)?

– Cốt lõi của tam quyền phân lập là mối quan hệ. VN cũng có phân công nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng vấn đề là mối quan hệ chưa được làm rõ. Phải rõ từng cơ quan có trách nhiệm làm gì, được can dự đến đâu, mức độ như thế nào, cách tiếp nhận can thiệp ra sao.

Quốc hội bầu ra Chánh án, Viện kiểm sát tối cao, Thủ tướng… nhưng mối quan hệ ra sao? Ngay cả thuê một người làm giám đốc cũng phải có quyền cho họ chứ không phải bắt họ làm gì cũng được. Có trường hợp chính phủ có ý kiến về một bản án, tòa không thèm nghe thì thôi, trong khi lẽ ra phải dừng lại xem xét(!).

– Có ý kiến cho rằng, muốn xây dựng nhà nước pháp quyền cần phân biệt rõ lãnh đạo và cai trị?

– Đảng đã có thể chế, tất nhiên phải đổi mới. Đảng cầm quyền phải có một bộ phận khoa học để nghiên cứu cách thức cầm quyền. Cầm quyền không phải là cai trị mà là giải quyết mối quan hệ giữa con người một cách khoa học.

Các cơ quan khác cũng cần phát huy quyền của mình trước Đảng. Đảng có thể điều người sang Quốc hội và Quốc hội có quyền quyết định đồng ý hay không. Đảng đâu có ép buộc các cơ quan không được thực hiện quyền của mình.

– Xin cảm ơn bà!
 VN đang gặp vướng mắc gì trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Sau 30 năm chiến tranh, tâm lý con người bị ảnh hưởng rất nặng nề. Cái chết diễn ra quá nhiều và dễ dàng không khỏi nảy sinh tâm lý coi thường mạng sống, thân thể. Vấn đề đạo đức cần được quan tâm. Chỉ dùng luật pháp thì không thể trừng trị hết nổi cái xấu.

Phải đào tạo những người dạy tiểu học, mẫu giáo thật giỏi, có kinh nghiệm để giáo dục con người ngay từ khi còn nhỏ. Chỉ giáo dục về quyền thôi không đúng, cần giáo dục thực hiện bổn phận trước. Thực hiện tốt bổn phận tức là tôn trọng quyền của người khác.

– Xã hội VN có truyền thống phép vua thua lệ làng, chịu nhiều ràng buộc quan hệ dòng tộc, có nhiều hương ước, thậm chí nhiều hủ tục, như: lặn nước để phân định đúng sai. Thực trạng này có cản trở xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Những tục lệ không tốt cần bị loại bỏ. Vấn đề là phát triển dân trí, nâng cao nhận thức. Nhưng còn rất nhiều tục lệ tốt. Trong trường hợp này cần có sự dung hòa giữa “phép vua” và “lệ làng”, “lệ làng” có thể cụ thể hóa “phép vua” khi “phép vua” quá xa.

Ở miền núi, người dân có lệ không đi đăng ký kết hôn vì ít hiểu được sự quan trọng của giấy đăng ký và đi lại khó khăn. Vậy, cán bộ hộ tịch có thể đến tận địa phương để làm đăng ký cho người dân mỗi tháng. Nhà nước cần thấy điều này để thống nhất bằng văn bản, tránh tình trạng thiếu thống nhất: nơi 1 tháng, nơi 45 ngày.

“Cầm quyền không phải cai trị mà giải quyết mối quan hệ”

– Có ý kiến cho rằng, chỉ có thể có nhà nước pháp quyền khi tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp song song và đối trọng về quyền lực)?

– Cốt lõi của tam quyền phân lập là mối quan hệ. VN cũng có phân công nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng vấn đề là mối quan hệ chưa được làm rõ. Phải rõ từng cơ quan có trách nhiệm làm gì, được can dự đến đâu, mức độ như thế nào, cách tiếp nhận can thiệp ra sao.

Quốc hội bầu ra Chánh án, Viện kiểm sát tối cao, Thủ tướng… nhưng mối quan hệ ra sao? Ngay cả thuê một người làm giám đốc cũng phải có quyền cho họ chứ không phải bắt họ làm gì cũng được. Có trường hợp chính phủ có ý kiến về một bản án, tòa không thèm nghe thì thôi, trong khi lẽ ra phải dừng lại xem xét(!).

– Có ý kiến cho rằng, muốn xây dựng nhà nước pháp quyền cần phân biệt rõ lãnh đạo và cai trị?

– Đảng đã có thể chế, tất nhiên phải đổi mới. Đảng cầm quyền phải có một bộ phận khoa học để nghiên cứu cách thức cầm quyền. Cầm quyền không phải là cai trị mà là giải quyết mối quan hệ giữa con người một cách khoa học.

Các cơ quan khác cũng cần phát huy quyền của mình trước Đảng. Đảng có thể điều người sang Quốc hội và Quốc hội có quyền quyết định đồng ý hay không. Đảng đâu có ép buộc các cơ quan không được thực hiện quyền của mình.

– Xin cảm ơn bà!
Phạm Cường (thực hiện)
Theo Vietnamnet

TÍNH CẠNH TRANH CỦA NỀN PHÁP LUẬT

Tính cạnh tranh của nền pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước hết, phụ thuộc vào những người làm ra luật, tức là Quốc hội và một phần nào đó là Chính phủ.

Luật làm ra mà không dùng được, hoặc các nhà làm luật vì lý do nào đó tỏ ra chậm chạp thì dễ hiểu là cả hệ thống pháp luật mất tính cạnh tranh so với các hệ thống pháp luật khác. Mới đây, các nhà đầu tư đã cảnh báo dự thảo Luật đầu tư chung sẽ làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường đầu tư VN, và các nhà đầu tư sẽ bỏ ra đi.

Ở đây, tính cạnh tranh của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng xấu do tính cạnh tranh thấp của dự thảo Luật đầu tư chung. Ngược lại, Luật doanh nghiệp 1999 trước đây và Luật doanh nghiệp chung hiện nay là minh chứng cho tính cạnh tranh khá cao cần phải có của hệ thống pháp luật. Các bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp cho thấy không phải cứ thay đổi là có tính cạnh tranh, là năng động.

Điều quan trọng là thay đổi theo cách thức nào. Mỗi bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp đều lấy luật tiền nhiệm làm nền, trên cái nền đó mà nâng cao lên. Trước lúc sửa đổi, quá trình nghiên cứu, tham vấn rộng khắp và có thực chất đã được tiến hành.

Có thể nói Luật doanh nghiệp cạnh tranh được với các đạo luật cùng một lĩnh vực của các nước khác trong việc khuyến khích tinh thần kinh doanh. Tuy nhiên, tính cạnh tranh của Luật doanh nghiệp đã và đang bị đe dọa bởi những qui định trói buộc doanh nghiệp ở những văn bản pháp luật khác, nhất là các văn bản dưới luật.

Tiếp đó, tính cạnh tranh của nền pháp luật phụ thuộc vào những người áp dụng nó, tức là tòa án và các thiết chế liên quan như công tố viên, luật sư, thi hành án… Muốn vậy, rất cần đến những thẩm phán năng động không chỉ biết chờ văn bản hướng dẫn mới xét xử được.

Mặt khác, thẩm phán cũng phải được trao quyền giải thích luật như ở các nước. Quyền này sẽ tạo điều kiện cho thẩm phán chọn lựa qui định pháp luật nào được áp dụng trong trường hợp các qui định “đá nhau”. Nếu không tìm thấy qui định thích hợp, thẩm phán được trao quyền tìm ra hướng giải quyết trước những tình huống pháp lý mới nảy sinh mà chưa được nâng lên thành luật, bù đắp phần thiếu hụt trong các văn bản pháp luật.

Nếu sự chờ chực quá nhiều các văn bản dưới luật là một trong những nguyên nhân làm cho pháp luật chậm đi vào cuộc sống thì một hệ thống tòa án năng động như trên có thể giải thoát cho pháp luật khỏi sự chờ chực.

Cuối cùng, tính cạnh tranh của pháp luật phụ thuộc vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học, các viện nghiên cứu. Nếu các giáo trình pháp luật vẫn nhai đi nhai lại những chủ thuyết đã lỗi thời thì rõ ràng các sinh viên luật sẽ tụt hậu, không được tiếp xúc với các xu hướng mới. Mà nếu chính các chủ thể tương lai của nền pháp luật bị tụt hậu thì lấy đâu ra tính cạnh tranh của cả nền pháp luật.

Một thực tế là nước ngoài nghiên cứu về pháp luật VN cơ bản hơn giới nghiên cứu trong nước. Nghiên cứu chưa trở thành nền tảng tư vấn cho chính sách trong hoạt động lập pháp. Thực tế này làm cho việc cải cách pháp luật, hay là sự phản ứng của pháp luật trước cuộc sống diễn ra lẻ tẻ, manh mún, theo cảm tính, không có một chủ thuyết rõ ràng. Nó khiến nền pháp luật thay đổi xoành xoạch, mất đi tính ổn định. Mà tính ổn định chính là một yếu tố tạo nên tính cạnh tranh của nền pháp luật.
Nguyên Lâm
Tuổi Trẻ chủ nhật

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Minh Anh

Được ví như cái nước nhỏ, Nho giáo cho rằng, gia đình có vị trí quan trọng trong sự ổn định của xã hội. Vì vậy, những hành vi ứng xử và giao tiếp của mỗi thành viên trong gia đình được Nho giáo quy định chặt chẽ, phụ thuộc vào danh phận mỗi người. Những quy định này, nếu loại bỏ những yếu tô bảo thủ, mất dân chủ thì cho đến nay, vẫn còn có giá trị. Do đó, kế thừa những tư tưởng tích cực của Nho giáo về gia đình trong việc xây dựng gia đình mới ở Việt Nam hiện nay nhằm thực hiện thành công xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là việc làm cần thiết.

Khác với các học thuyết triết học Phương Tây, triết học phương Đông nói chung và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người cá nhân, một cái tôi tách khỏi xã hội. Chính việc nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội đã giúp Nho giáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội.

Theo quan niệm Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ tự nhiên. Đó là quan hệ cha – con, vợ – chồng, anh – em, vua – tôi, bạn – bè. Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan hệ đó là những yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện.

Tương ứng với mỗi quan hệ, Nho giáo đặt ra những yêu cầu mang tính quy phạm đạo đức và được pháp luật ngầm bảo trợ. Tất cả những mối quan hệ trên và các phương thức ứng xử hội tương ứng với nó, theo Nho giáo, là cái trời đã định sẵn cho con người. Đã là gia đình thì phải có vợ – chồng, cha – con, anh – em. Trong gia đình thì vợ – chồng phải hòa thuận, phu xướng thì vợ phải tùy, là cha – con thì cha phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập. Ngược lại, phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ. Đã là anh em thì phải biết đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, là anh chị thì phải biết nhường nhịn, thương yêu, là em thì phải biết nghe lời và lễ phép với anh chị. Trong quan hệ xã hội, Nho giáo đòi hỏi trước hết phải có lòng trung thành trong quan hệ vua tôi và trên dưới. Người dưới phục vụ người trên phải lấy chữ trung làm đầu. Kẻ trên đối xử với kẻ dưới phải lấy chữ nhân làm đầu, phải biết giữ lễ và phải có lòng tín thật. Xét chung trong mọi mối quan hệ, Nho giáo yêu cầu mỗi cá nhân phải lấy mình làm mốc mà yêu cầu đối với người. Cái gì mình muốn thì cũng làm hết lòng cho người khác và ngược lại, cái gì mình ghét thì cũng đừng đem lại cho người khác.

Bên cạnh đó, Nho giáo còn quan niệm rằng, mọi sự bất ổn trong xã hội đều có nguyên nhân từ việc ứng xử không tốt các mối quan hệ xã hội. Để bảo đảm sự ứng xử được đúng, Nho giáo yêu cầu mỗi người phải làm tết vai trò của mình. Vai trò đó được xác định bởi danh phận của mỗi người do xã hội quy định. Đó là phận làm vua, phận làm tôi, phận làm cha, phận làm con…. Danh phận của mỗi người quy định cách ứng xử của họ. Cách ứng xử theo danh phận Nho giáo gọi là lễ. Theo Nho giáo, nếu trong xã hội mỗi người đều làm tất bổn phận của mình thì xã hội sẽ thái bình. Nếu xã hội thái bình thì mọi người ai cũng được an cư lạc nghiệp. Khi đó tất cả những người già cả, trẻ nhỏ và những người cô quả sẽ được mọi thành viên trong xã hội quan tâm giúp đỡ. Cảnh tranh giành và chém giết nhau vì cái lợi sẽ không còn. Để làm được điều đó, Nho giáo đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của gia đình.

Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một cái nước nhỏ. Vì thế, nếu “một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Một nhả lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễ nhượng. Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học, chương IX). Do đó, một xã hội muốn thanh bình thì trước hết cần phải có những gia đình hòa thuận. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên luôn quan tâm đến nhau, chăm lo cho nhau. Trong gia đình đó, vợ chồng sống hòa thuận thương yêu nhau, cùng nhau chăm lo nuôi dưỡng dạy dỗ con cái nên người. Cha mẹ phải luôn giữ gìn lời ăn tiếng nói cũng như tác phong làm việc của mình để làm tấm gương cho con cái noi theo. Ngược lại, con cái phải luôn hiếu kính với ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng chăm sóc ông bà, cha mẹ, biết làm cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, cha mẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng. Một gia đình hoà thuận còn là một gia đình mà anh em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, biết em ngã thì chị nâng.

Để làm được điều đó, Nho giáo đòi hỏi mỗi người trong gia đình phải biết giữ gìn và tuân theo lễ, bởi cho rằng, chỉ có lễ con người mới trở thành con người xã hội: “Chim anh vũ có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài chim, con tinh tinh có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài cầm thú. Làm người mà không có lễ thì tuy biết nói đấy nhưng có khác gì loài cầm thú? Chỉ có loài cầm thú là không có lễ, cho nên cha con ở lẫn lộn với nhau. Vì vậy việc làm của bậc thánh nhân là lấy lễ dạy người khiến người ta ai cũng biết lễ để tự phân biệt mình với cầm thú” (Kinh Lễ, Khúc lễ thượng). Nhờ có lễ, con người mới có thể biết được như thế nào là có hiếu với cha mẹ, là kính với người trên, là từ đễ với anh em thân thích, là bạn hiền của bằng hữu, là nhân với người chung quanh, là tín thực với thân thuộc. Theo lễ, người con có hiếu và biết lễ phép thì “Khi ở trước mặt cha mẹ ruột hoặc cha mẹ chồng, nếu có lệnh phải vâng dạ kính cẩn, tiến thoái phải chu toàn thận trọng, lên xuống ra vào phải cung kính, không dám ho hoẹ, đằng hắng hay ngáp dài, không được đứng dựa nghiêng ngả liếc ngang liếc dọc, không dám phun nước bọt chùi nước mũi… Nếu như cha mẹ có lỗi lầm gì, mình vẫn phải vui vẻ hoà nhã dùng lời nói ôn hoà mà can gián. Nếu can mà (cha mẹ) không nghe lại càng phải giữ thái độ hoà nhã cung kính hơn, đợi cha mẹ nguôi ngoai rồi lại can gián. Nếu cha mẹ không nghe để đến nổi phạm lỗi lầm có tội với bạn bè hàng xóm, ta vẫn phải ôn hòa khuyên can. Nếu cha mẹ nóng giận đánh ta đến chảy máu, ta vẫn không dám giận oán mà vẫn phải kính trọng hiếu thuận với cha mẹ” (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 2). Ngược lại, ngay từ khi con cái đến tuổi biết ăn cơm, cha mẹ “cần thiết phải dạy nó biết sử dụng tay phải, con trai phải biết thưa dạ, con gái phải biết nhu hòa… Khi con lên sáu tuổi, hãy dạy chúng về số học và đếm số… Tám tuổi, dạy chúng khi ra vào hay khi ngồi vào bàn ăn, nhất nhất phải theo sau bậc trưởng thượng, bắt đầu dạy cho chúng biết nhường nhịn… Mười tuổi, cho ra ngoài học thêm sách vở khác… bắt đầu hướng dẫn chúng về lễ, sớm tối tuân theo nghi thức của trẻ nhỏ… Hai mươi tuổi là làm lễ đội mũ, bắt đầu học lễ… dạy chúng thuần hậu về hiếu lễ” (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 3). Nho giáo khẳng định, nếu xây dựng được một gia đình hoà thuận, con cái biết hiếu đễ cha mẹ biết từ nhượng thì đó cũng là làm chính trị rồi. Bởi nước cũng chỉ là một cái nhà to. Các căn nhà nhỏ – gia đình mà hòa thuận thì căn nhà to cũng sẽ hòa thuận. Vì thế, làm chính trị không cứ là phải ra làm quan.

Những tư tưởng trên của Nho giáo, ở một mặt nào đó có thể nói rằng, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta. Chúng ta cũng coi “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”. Vì thế, Đảng ta đòi hỏi “Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”(1). Với tính cách tế bào xã hội, vườn ươm các nhân tài của đất nước, nơi nuôi dưỡng những công dân mới cho tương lai, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tốt xấu của mỗi gia đình đều có ảnh hưởng tới sự ổn định của xã hội, tới sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta đang tiến hành. Tất nhiên, gia đình mới mà chúng ta xây dựng là một gia đình hòa thuận dựa trên cơ sở dân chủ: vợ chồng, cha con anh em tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau bàn bạc và quyết định những vấn đề lớn của gia đình. Gia đình mới mà chúng ta xây dựng cũng đòi hỏi vợ chồng phải có lòng chung thuỷ, làm cha, mẹ phải có đức nhân từ, làm con phải có đức hiếu kính, làm anh em phải có sự thương yêu nhường nhịn. Hạt nhân của mỗi gia đình ấy chính là vợ và chồng.

Có thể thấy rằng, gia đình mới hiện nay, trước hết, cần phải là một gia đình vợ chồng sống chung thuỷ, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng với nhau về quyền lợi và trách nhiệm. Vợ chồng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà.

Thứ hai, là một gia đình con cái biết hiếu kính với cha mẹ, ông bà bởi đức hiếu kính của người làm con để thờ cha mẹ cũng là cái gốc của đức nhân. Nói tới đức nhân là nói tới lòng yêu thương người. Cái gốc của yêu thương người trước hết chính là yêu thương cha mẹ mình, anh em của mình. Người mà không biết yêu thương cha mẹ có công sinh thành, dưỡng dục mình thì cũng không thể có được lòng yêu thương đồng chí, đồng bào mình. Vì vậy, chúng ta ngày nay cũng yêu cầu người làm con cần phải biết phụng dưỡng cha mẹ. Khi phụng dưỡng cha mẹ phải kính cẩn và có lễ phép. Chúng ta cũng kiên quyết phê phán những hành động ngược đãi cha mẹ già, không muốn làm nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ già mà đùn đẩy cho xã hội hoặc con cái đun đẩy trách nhiệm chăm sóc cha mẹ cho nhau, hoặc có nuôi cha mẹ thì như nuôi vật cảnh mà thiếu sự kính trọng lễ phép. Đức hiếu ngày nay cũng đòi hỏi người làm con trong hành động và việc làm phải làm sao để cho cha mẹ có thể được tự hào với bà con lối xóm. Việc lười lao động, ham cờ bạc rượu chè chỉ biết đến của cải, lo liệu cho vợ con mà không nghĩ đến cha mẹ, không phải chỉ Nho giáo mà ngày nay chúng ta cũng cần lên án là hành vi bất hiếu.

Thứ ba, anh em trong gia đình phải biết bảo ban nhau, yêu thương nhau trên tinh thần em ngã chị nâng. Là người anh, người chị thì phải biết bao bọc che chở cho em, nhường nhịn em. Là người em phải biết kính trọng anh chị, nghe lời anh chị dạy bảo. Xã hội xưa cũng như nay không chấp nhận việc anh em chỉ biết yêu thương nhau qua đồng tiền, nhìn tình cảm anh em dưới lăng kính vật chất thuần tuý.

Như vậy, gia đình mới là một gia đình mà mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với danh phận của mình. Do đó, việc xây dựng gia đình mới cần dược gắn liền với việc giáo dục trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người theo đúng danh phận của họ. Đó là cha phải ra cha, con phải ra con, anh phải ra anh, em phải ra em. Cần kiên quyết lên án những người cha không còn ra cha bởi lối sống ích kỷ, thực dụng đã để lại tấm gương xấu cho con cháu, cũng cần lên án và có biện pháp nghiêm khắc đối với những người con không còn ra con, chỉ biết tiền mà không biết tình, chỉ biết tới quyền lợi mà không biết tới nghĩa vụ khiến cho cha mẹ phải tủi hổ.

Việc xây dựng thành công gia đình mới có một ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Bởi gia đình mới chính là nền tảng của sự ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc, là nơi phòng chống có hiệu quả nhất mọi tệ nạn xã hội đang làm phương hại đời sống tinh thần của con người. Gia đình mới còn là nơi có khả năng nhất trong việc bảo lưu giữ gìn những bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc. Ngoài ra, đây còn là nơi cung cấp những công dân mới có đức, có tài cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Đặc biệt, trong điều kiện chúng ta tiến hành xây dựng một nền kinh tế thị trường cùng với sự mở cửa hội nhập với thế giới thì gia đình mới càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Mô hình gia đình vợ chồng hoà thuận, cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc nhau chính là thành trì để ngăn cản sự xâm hại những tư tưởng thực dụng, vị kỷ, lối sống gấp chỉ biết hôm nay mà không cần biết ngày mai. Như vậy, có thể nói rằng, nếu loại bỏ những tư tưởng bảo thủ, mất dân chủ thì việc kế thừa những giá trị luân lý tích cực của Nho giáo về gia đình để xây dựng gia đình mới nhằm đáp ứng được sự phát triển đất nước là điều nên làm. Gia đình mới chính là nơi kế thừa những tinh hoa của gia đình cũ kết hợp với những chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới. Những tinh hoa đó, trước hết, là tư tưởng vợ chồng hoà thuận, cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc nhau… của Nho giáo.

Thực tế những lý tưởng nhân đạo, khát vọng hoà bình của Nho giáo cũng là lý tưởng và khát vọng của chúng ta hiện nay. Mặc dù bị hạn chế do lịch sử, song một số tư tưởng cũng như biện pháp mà Nho giáo đề ra cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Cũng giống như Nho giáo, hiện nay chúng ta đã và đang ra sức phấn đấu cho một thế giới hoà bình, cho sự bình đẳng của mọi dân tộc trên toàn thế giới. Vì vậy, chúng ta cần ngăn chặn được các tệ nạn xã hội, mọi thảm hoạ chiến tranh, chống lại được nạn khủng bố trên phạm vi toàn thế giới. Do đó, kế thừa các tư tưởng nhân văn trong ứng xử và giao tiếp giữa người với người của Nho giáo là một việc làm hết sức cần thiết.

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.5.

Theo Tạp chí Triết học

Download here: http://www.mediafire.com/?3mytmnd2mwm

VÀI SO SÁNH giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây

Nguồn gốc bài viết chưa được xác định

 

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão… thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel – Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy…

Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông – Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.

– Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.

– Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây

– Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

– Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó

– Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý

Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.

Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.

Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông – Tây.

Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.

Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.

Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.

Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.

Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.

Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó

Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.

Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn… cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.

Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.

Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.

Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.

Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.

Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.

Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.

Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể…

Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ…

Đông (Á)

Tây (Âu)

Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức — Con người, đạo học Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

VÀI SO SÁNH GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

Nguồn gốc bài viết chưa được xác định 

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão… thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel – Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy…

Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông – Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.

– Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.

– Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây

– Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

– Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó

– Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý

Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.

Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.

Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông – Tây.

Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.

Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.

Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.

Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.

Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.

Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó

Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.

Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn… cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.

Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.

Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.

Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.

Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.

Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.

Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.

Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể…

Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ…

Đông (Á)

Tây (Âu)

Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức — Con người, đạo học Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

VẤN ĐỀ “LUẬT KHUNG” Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

TS. ĐINH DŨNG SỸ 

Gần đây, trong thực tiễn lập pháp Việt Nam, chúng ta thường nghe nói tới hai từ “luật khung”. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay và thực trạng này nhiều khi kéo theo những hệ quả không tốt trong sự điều chỉnh của pháp luật đối với các vấn đề của đời sống kinh tế – xã hội. “Luật khung” là gì, nguyên nhân của hiện tượng này cũng như cách khắc phục nó là nội dung bài viết đề cập.

1. Thế nào là “luật khung”?

Theo chúng tôi, hiện tượng “luật khung” là tình trạng hệ thống pháp luật có những biểu hiện cơ bản sau đây:

– Tồn tại các văn bản luật có tính chất “khung”. Tức là các luật thường có nhiều điều khoản chỉ dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc hoặc chung nhất, chưa đạt đến một sự điều chỉnh cụ thể, rõ ràng và đầy đủ đến mức cần thiết, do vậy chưa thể áp dụng ngay vào thực tiễn;

– Cần có các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.

– Nội dung của các đạo luật chưa đầy đủ để có cơ sở quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; do vậy, không ít trường hợp văn bản quy định chi tiết không chỉ dừng lại ở việc cụ thể hóa các điều luật đã có mà còn phải có thêm những quy định mới.

2. Hệ quả của tình trạng “luật khung”

Tình trạng “luật khung” nói trên không phải là vấn đề mới mà đã tồn tại từ lâu trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam . Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay và trước yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại, tình trạng này đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của xã hội vì, nó tạo ra hệ quả pháp lý không tốt, gây phức tạp và khó khăn cho quá trình thực thi luật, phần nào kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế cũng như của văn minh pháp lý và tiến bộ xã hội với những biểu hiện:

– Tạo ra một hệ thống pháp luật gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau. Ngoài luật là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất sau Hiến pháp thì còn có các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành ở nhiều cấp độ với nhiều hình thức khác nhau. ở cấp Chính phủ là các nghị định của Chính phủ, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; ở cấp bộ, ngành là các quyết định, thông tư. Ngoài ra còn có văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, thậm chí là giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

– Tạo ra một hệ thống pháp luật thiếu minh bạch, làm giảm niềm tin của người dân vào pháp luật. Khi các văn bản luật chưa đạt đến sự cụ thể và đầy đủ thì không thể tạo nên một sự rõ ràng và minh bạch triệt để của luật. Và chính yêu cầu cần phải có một hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mà không ít trường hợp có nhiều quy định, nhiều văn bản trái luật hoặc đưa ra những quy định mới mà luật chưa quy định. Việc văn bản quy định chi tiết thi hành đưa ra thêm những nội dung mới mà luật chưa quy định, xét trên góc độ thực tiễn điều chỉnh pháp luật là cần thiết để bảo đảm khả năng thực thi tốt nhất một đạo luật nhưng nếu xét trên khía cạnh yêu cầu của nhà nước pháp quyền thì việc đó vi phạm nguyên tắc pháp chế.

– Tạo ra một hệ thống pháp luật thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, có những mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp trong triển khai thi hành và áp dụng luật bởi, tình trạng luật khung cũng là một trong những nguyên nhân tạo cơ hội nẩy sinh những mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật với các văn bản dưới luật và giữa các văn bản dưới luật với nhau. Ví dụ: vấn đề thủ tục đầu tư, gia nhập thị trường được quy định trong các luật và văn bản của Chính phủ thường có xu hướng đơn giản, thông thoáng nhưng văn bản của các bộ, ngành và địa phương lại có xu hướng thắt lại; ngược lại, cũng vẫn là lĩnh vực đầu tư nhưng về vấn đề ưu đãi đầu tư thì nhiều văn bản của nhiều địa phương lại có xu hướng ban hành các ưu đãi vượt luật[1]. Sự thiếu thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn và chồng chéo như vậy, ít nhiều gây thất vọng cho người dân, làm giảm niềm tin của người dân vào luật, đặc biệt là các nhà đầu tư.

– Tình trạng luật khung đã làm giảm giá trị pháp lý và giá trị hiệu lực thực thi của luật. Các đạo luật là các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất sau Hiến pháp – đạo luật gốc nhưng lại chỉ dừng lại ở những quy định khung. Do vậy, nhiều khi luật đã được ban hành nhưng muốn thực thi tốt cần phải có văn bản hướng dẫn kèm theo. Nhiều trường hợp luật đã có hiệu lực thi hành nhưng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chậm được ban hành thì các quy định của luật chưa phát huy được tác dụng trong thực tế. Như vậy, văn bản có giá trị pháp lý cao lại phải “chờ” văn bản có giá trị pháp lý thấp (luật chờ nghị định, nghị định lại chờ thông tư), từ đó làm giảm giá trị pháp lý của luật. Mặt khác, do các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành thường quy định đầy đủ hơn, cụ thể hơn nên người áp dụng, thi hành đôi khi chỉ cần biết tới các văn bản này mà không cần quan tâm đến luật, từ đó làm giảm giá trị hiệu lực thực thi của luật. Hệ quả của tình trạng trên tạo ra những “giá trị pháp lý đảo”, văn bản có giá trị pháp lý thấp lại được coi trọng hơn văn bản có giá trị pháp lý cao.

3. Nguyên nhân

Tình trạng “luật khung” do nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân khách quan xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội, nhưng cũng có những nguyên nhân xuất phát từ ý thức chủ quan của chúng ta, cụ thể:

– Thứ nhất, sự chưa hoàn thiện và ổn định của các quan hệ xã hội – đối tượng điều chỉnh của luật. Sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đất nước ta đến nay đã qua chặng đường dài 20 năm. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn đang ở điểm xuất phát thấp, nhiều quan hệ kinh tế – xã hội, đặc biệt là các quan hệ kinh tế thị trường vẫn đang trong quá trình hình thành và chưa ổn định. Điều đó gây không ít khó khăn cho những nhà làm luật, vì sự thiếu ổn định của các quan hệ xã hội mà luật điều chỉnh mâu thuẫn với mục tiêu, yêu cầu xây dựng và ban hành luật. Khi xây dựng luật, nhà làm luật không thể đưa vào luật những gì còn chưa ổn định hoặc còn đang trong quá trình hình thành, chưa được thực tế kiểm nghiệm. Thông thường, khi gặp những trường hợp này, các nhà làm luật đành “gác lại” để cho các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điều chỉnh với tư duy rằng, chúng sẽ dễ được sửa đổi, bổ sung hơn so với luật. Đó là một thực tế khách quan mà phần nào chúng ta phải chấp nhận. Rõ ràng là, pháp luật – với tư cách một thiết chế của kiến trúc thượng tầng về cơ bản không đi trước và cao hơn cơ sở kinh tế;

– Thứ hai, trình độ làm luật của một số Ban soạn thảo còn thấp. Hiện nay, trình độ và kỹ năng làm luật của chúng ta đã được cải thiện rất nhiều; các cơ quan xây dựng và trình dự án luật cũng như Quốc hội đã có nhiều cố gắng, cải tiến và cũng đã đạt được nhiều thành công về xây dựng pháp luật trong thời gian qua cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, năng lực của các cơ quan soạn thảo còn yếu, đôi khi chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn xây dựng pháp luật. Không ít trường hợp các Ban soạn thảo luật không có khả năng đưa đầy đủ, trọn vẹn các quy định điều chỉnh một vấn đề vào luật nên khi trình ra Quốc hội đành phải “xin nợ” Quốc hội để quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành ở các văn bản dưới luật. Điều này xuất phát một phần vì chính năng lực của một số Ban soạn thảo chưa thể theo kịp với đòi hỏi của thực tiễn, nhưng cũng một phần vì sự chưa ổn định của các quan hệ kinh tế-xã hội nên nhận thức của các chủ thể soạn thảo luật cũng chưa thể đạt đến mức hoàn thiện;

– Thứ ba, do áp lực từ chương trình lập pháp hiện nay. Thực tiễn trong những năm gần đây, do những thay đổi lớn trong tư duy làm luật và quy trình làm luật của Quốc hội, đặc biệt là do yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế nên số lượng các luật cần được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung ngày càng nhiều. Hiện nay, một năm Quốc hội có thể thông qua tới 25 đến 30 luật, cho ý kiến cũng vào khoảng từng này dự án luật, chưa kể pháp lệnh. Theo đó, các cơ quan chủ trì soạn thảo (chủ yếu là Chính phủ) cũng phải chuẩn bị đệ trình từng ấy dự án luật, trong đó có không ít dự án quan trọng nhưng thời gian chuẩn bị rất ngắn, chỉ có một năm, thậm chí ngắn hơn và được trình Quốc hội xem xét thông qua tại một kỳ họp[1]. Điều này tạo ra không ít áp lực cho cả cơ quan đệ trình luật lẫn cơ quan thông qua luật. Việc soạn thảo và thông qua nhiều luật với thời gian chuẩn bị không dài cũng ảnh hưởng không ít đến nội dung của luật, nhiều quy định đành phải dừng lại ở những vấn đề mang tính chất nguyên tắc, “khung” mà chưa có đủ thời gian và điều kiện để nghiên cứu và quy định một cách toàn diện.

– Thứ tư, thiếu một quy trình lập pháp khoa học. Có thể nói, quy trình lập pháp hiện nay là một “quy trình tắt”, luật không được xây dựng trên một quy trình khoa học và hợp lý. Điều này thể hiện ở chỗ, việc quyết định xây dựng và ban hành một đạo luật chưa thực sự dựa trên những đề án đã được chuẩn bị kỹ càng về mặt chính sách và những định hướng nội dung điều chỉnh để khi xây dựng luật, các nhà làm luật chỉ thực hiện những vấn đề về mặt kỹ thuật là thiết kế những quy phạm pháp luật trong một đạo luật dựa trên những nội dung điều chỉnh đã được các nhà chuyên môn, nhà quản lý xây dựng thành đề án. Mặt khác, theo quy trình làm luật được thể hiện ở Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, người chịu trách nhiệm chính trong việc soạn thảo luật là ban soạn thảo, dưới ban soạn thảo có tổ biên tập là tập hợp các chuyên gia trong lĩnh vực luật điều chỉnh và các chuyên gia pháp lý cùng các chuyên gia thuộc các lĩnh vực có liên quan khác. Đó là sự gắn kết về mặt trách nhiệm chứ chưa thực sự là tập hợp của một đội ngũ những chuyên gia làm luật thực sự. Việc vừa làm vừa tổng kết thực tiễn, xác định chính sách, vừa tìm kiếm nội dung điều chỉnh, vừa thiết kế điều luật được thực hiện bởi một đội ngũ ít chuyên nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và nội dung của luật.

Quy trình làm luật gần như bị khép kín và bị chia cắt giữa các công đoạn. Tính khép kín thể hiện ở chỗ: cơ quan nào trình dự án luật thì cơ quan đó chủ trì soạn thảo, các ban soạn thảo được hình thành chủ yếu từ các chuyên gia của ngành, lĩnh vực đó, ít có sự tham gia của các chuyên gia xây dựng pháp luật hay các chuyên gia đến từ các cơ quan khác, nhất là từ Quốc hội. Do vậy, không ít dự thảo luật khi trình Chính phủ xem xét, thậm chí là trình ra Quốc hội vẫn còn mang nặng tính cục bộ của ngành, làm cho Chính phủ cũng như Quốc hội mất nhiều thời gian để chỉnh lý. Tính chia cắt thể hiện ở chỗ: các giai đoạn của quá trình từ khi soạn thảo đến khi Quốc hội thông qua luật bị cắt khúc thành các giai đoạn khá độc lập với nhau, được chủ trì bởi các cơ quan khác nhau nhưng ít có sự phối hợp giữa các cơ quan hoặc có sự phối hợp nhưng không thường xuyên và ít hiệu quả. Một quy trình làm luật bị khép kín và chia cắt trong khi vai trò tham gia soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội chuyên trách chưa cao, luật còn bị ảnh hưởng của tính cục bộ ngành thì chắc chắn sẽ kéo theo tính chất “khung” của luật.

Hơn nữa, quy trình hiện hành tạo ra những ban soạn thảo luật không chuyên nghiệp, chủ yếu là các chuyên gia đến từ các lĩnh vực quản lý mà ít có các chuyên gia xây dựng pháp luật; cán bộ pháp chế ở các cơ sở chưa được coi trọng và vì vậy ít có vai trò trong xây dựng pháp luật.

– Thứ năm, do sự thiếu kiên quyết trong thực hiện quy trình làm luật và xử lý vi phạm. Đã nhiều lần trên các diễn đàn xây dựng pháp luật chúng ta nói về mục tiêu cần phải xây dựng luật đầy đủ và cụ thể, tránh tình trạng “luật khung” để luật ra đời là đi vào cuộc sống được ngay, hoặc soạn thảo và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật phải đồng thời với việc soạn thảo và ban hành luật. Tuy nhiên, vấn đề này nhiều cơ quan chủ trì soạn thảo vẫn vi phạm và thực tế vẫn chưa bị xử lý một cách kiên quyết. Chính vì vậy cũng cần phải nói thêm rằng, để khắc phục được tình trạng này, đòi hỏi trước hết là từ phía các cơ quan chủ trì soạn thảo, vì thực tế, luật được xây dựng có tính chất “khung” đến đâu, đôi khi không dễ gì Quốc hội có thể kiểm soát được.

4. Mục tiêu và giải pháp khắc phục

4.1. Mục tiêu

Chúng tôi cho rằng, nhận thức đúng vấn đề “luật khung” là một chuyện, nhưng nhận thức đúng việc khắc phục tình trạng này như thế nào còn quan trọng hơn. Nếu ai đó cho rằng, cần phải xoá bỏ tình trạng “luật khung” hay cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật bao gồm các đạo luật chi tiết đến từng nội dung và áp dụng được ngay, không cần các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, thì theo chúng tôi, đó là một quan điểm sai lầm, không thực tế và cũng không đúng về cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý. Bởi, hệ thống pháp luật của chúng ta hiện nay (xét trên góc độ pháp luật thực định) vẫn được xác định bao gồm một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ở nhiều cấp độ giá trị pháp lý khác nhau, do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Thực tiễn cho thấy, việc tồn tại song song luật và văn bản dưới luật nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật không chỉ là chuyện riêng ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước, kể cả các nước phát triển, có bề dầy về xây dựng nhà nước pháp quyền hàng trăm năm nay. Vì vậy, khắc phục tình trạng “luật khung”, theo chúng tôi không phải là ban hành tất cả các luật cụ thể và chi tiết đến mức không cần văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mà vấn đề là ở chỗ nhà làm luật phải biết lựa chọn chính xác cái gì cần phải được thể hiện trong luật, cái gì có thể để ở các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Đổi mới, khắc phục tình trạng “luật khung” là tất yếu nhưng không phải là xoá bỏ và cũng không thể xoá bỏ được hiện tượng này mà là hạn chế tình trạng này, không nên để xẩy ra tình trạng “luật khung” một cách phổ biến. Đây là vấn đề cần phải được nhìn nhận một cách thực tiễn hơn, đó là sự phù hợp với thực tiễn kinh tế-xã hội và trình độ làm luật. Kinh nghiệm các nước đã chỉ rõ điều đó. Tuy nhiên, để hạn chế các quy định có tính chất “khung” trong một đạo luật, hạn chế ban hành “luật khung” không phải là điều chúng ta không làm được.

Theo đó, chúng tôi cho rằng, ở thời điểm hiện nay, mục tiêu khắc phục tình trạng “luật khung” của chúng ta là: các đạo luật cần phải được thể hiện đầy đủ, rõ ràng, cụ thể và minh bạch các nội dung điều chỉnh, hạn chế các nội dung cần phải quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, hoặc các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành phải được soạn thảo và ban hành để có hiệu lực cùng đồng thời với thời điểm có hiệu lực của luật, để luật có thể đi vào cuộc sống được ngay.

4.2. Các giải pháp khắc phục

Tình trạng “luật khung” phổ biến sẽ gây những tác động và hệ quả không tốt cho xã hội, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước và giảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật. Tình trạng này sẽ vẫn tồn tại nhưng không phải là không thể hạn chế được nếu chúng ta có sự kiên quyết trong thực thi các giải pháp hợp lý sau:

4.2.1 Tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội. Hoạt động lập pháp của Quốc hội cần phải chuyên nghiệp hơn, toàn diện hơn. Quốc hội không chỉ dừng lại ở hoạt động thẩm tra, thảo luận và biểu quyết thông qua các dự án luật như hiện nay mà Quốc hội cần phải tham gia vào quá trình soạn thảo luật, phải cùng góp sức trực tiếp vào việc viết nên các dự án luật. Muốn vậy, cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng ngày càng chuyên nghiệp hơn, cụ thể:

– Tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách lên khoảng 50% trên tổng số đại biểu Quốc hội. Các đại biểu chuyên trách phải có trình độ pháp lý và kỹ năng làm luật; có văn phòng riêng và được trang bị phương tiện vật chất cần thiết cũng như đội ngũ chuyên gia giúp việc có trình độ;

– Số đại biểu theo cơ cấu, đại diện cho tiếng nói của mọi tầng lớp là rất cần thiết trong Quốc hội nhưng cần phải gảm bớt và điều quan trọng là phải tìm ra cơ chế đại diện phù hợp của những đại biểu cơ cấu này đối với các cử tri thuộc giới hay lĩnh vực của họ;

– Các đại biểu Quốc hội tham gia trực tiếp vào quá trình làm luật hoặc đưa ra sáng kiến pháp luật, giảm dần việc soạn thảo và trình luật từ phía các cơ quan khác.

Biện pháp nói trên không phải đem lại mục tiêu trực tiếp hay cụ thể nhằm khắc phục tình trạng “luật khung” nhưng nó là “gốc” của cải cách quy trình và nâng cao chất lượng xây dựng luật hiện nay ở nước ta. Bởi vì, chúng tôi cho rằng, phải xuất phát từ sự đổi mới cơ cấu và hoạt động của Quốc hội (như đã phân tích) thì chắc chắn sẽ có tác động không nhỏ cho việc khắc phục những bất cập trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong đó có vấn đề “luật khung”.

4.2.2. Đổi mới quy trình xây dựng luật, xoá bỏ tình trạng “khép kín” và “cắt khúc”, tăng tính chuyên nghiệp trong xây dựng các dự án luật bởi, như đã phân tích, quy trình làm luật hiện hành có nhiều nhược điểm. Một trong những xu hướng cải cách quy trình làm luật theo đề xuất của chúng tôi là Quốc hội chỉ nên đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm đối với dự án đã có đề án về mặt chính sách[1]. Đề án đó phải thoả mãn tối thiểu các nội dung sau: có báo cáo, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực dự kiến; chứng minh được sự cần thiết phải xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung một đạo luật; đưa ra được những nội dung dự kiến điều chỉnh chính – tức là nội dung chính sách (chưa đến mức quá chi tiết nhưng phải đầy đủ) của đề án và thuyết minh rõ về sự cần thiết, mục đích điều chỉnh của từng nội dung; thuyết minh rõ về tính khả thi, dự báo tác động, các điều kiện kinh tế-xã hội, các cơ chế, luật pháp có liên quan và các nguồn lực bảo đảm khả năng thực thi của đạo luật khi được ban hành. Nếu làm được như vậy thì việc viết luật (chuyển một đề án chính sách thành một dự án luật, tức là chế định nên các điều luật) là công việc của các chuyên gia xây dựng pháp luật sẽ nhẹ nhàng và đơn giản hơn rất nhiều. Hơn nữa, việc làm luật cũng được chuyên nghiệp hoá hơn khi ta có thêm một bước rất bài bản là việc xây dựng đề án chính sách; từ đó khắc phục được tình trạng cục bộ trong luật và giảm được sức ép về mặt thời gian xây dựng một dự án luật.

4.2.3. Xây dựng lại tiêu chí của một đạo luật cũng như tiêu chí của các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật. Hiện nay, pháp luật thực định của Việt Nam chưa có văn bản nào đưa ra định nghĩa thế nào là một đạo luật. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, luật được hiểu là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất sau Hiến pháp – đạo luật gốc, điều chỉnh toàn diện về một lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội nhất định. Về tính toàn diện của luật, chúng ta vẫn quan niệm rằng, một đạo luật phải bảo đảm đủ điều chỉnh trọn vẹn tất cả các quan hệ của một lĩnh vực lớn, thậm chí là rất lớn. Khi đó, để xây dựng một đạo luật chúng ta phải mất rất nhiều thời gian và công sức, trong khi thời gian vật chất thì có hạn, trình độ và năng lực làm luật của chúng ta chưa cao, điều đó đã đem lại hệ quả tất yếu là tình trạng luật khung, vì chúng ta chưa thể luật hoá đến mức chi tiết những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật. Vì vậy, có lẽ đã đến lúc cần phải thay đổi nhận thức của chúng ta về quan niệm tính toàn diện, đồ sộ của một đạo luật. Theo chúng tôi, có những đạo luật, thậm chí có thể là bộ luật bao trùm cả một lĩnh vực của đời sống xã hội tương đối ổn định, nhưng cũng cần có những đạo luật điều chỉnh cụ thể về một vấn đề không lớn, thậm chí là nhỏ; có những đạo luật sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật về những vấn đề có liên quan đến nhau[1]; có những đạo luật ngắn, thậm chí là rất ngắn nhưng điều chỉnh trọn vẹn về một vấn đề cụ thể và thời gian để soạn thảo nó không phải là hai ba năm mà có thể chỉ cần hai, ba tháng. Và khi đó, Quốc hội không chỉ thông qua hơn mười đạo luật một kỳ họp như hiện nay mà có thể là hai, ba mươi đạo luật, thậm chí có thể nhiều hơn nếu cùng với nó là sự tăng cường tính chuyên nghiệp của Quốc hội. Cũng cần phải nói thêm rằng, tư tưởng xây dựng các bộ luật lớn ở các nước trên thế giới đã lùi vào quá khứ cùng với thế kỷ XX, nó không còn là một xu hướng hiện đại nữa.

Tương tự như vậy, cũng cần quan niệm lại tiêu chí của các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật. Một tình trạng phổ biến của loại văn bản này hiện nay là có thể quy định chi tiết hay hướng dẫn thi hành bất kỳ điều luật nào nếu thấy cần thiết. Điều này hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên hay từ ý muốn chủ quan của các cơ quan lập quy mà xuất phát từ chính hệ quả của vấn đề “luật khung”, bởi nếu không được tiếp tục quy định chi tiết thì không thể thi hành được. Chính tình trạng “luật khung” đã dẫn đến một điều luật muôn thuở được thiết kế trong hầu hết các luật, pháp lệnh về trách nhiệm thi hành rằng: “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật này”. Vì vậy, theo chúng tôi, muốn hạn chế tình trạng “luật khung”, cần phải xoá bỏ điều khoản nói trên ở các đạo luật. Điều luật nào cần quy định chi tiết, cơ quan nào có thẩm quyền quy định chi tiết cần phải được thiết kế ngay trong điều luật đó, và văn bản quy định chi tiết thi hành luật chỉ được cụ thể hoá những điều luật đó mà không được phép đưa ra những quy định mới mà luật không quy định. Nếu làm được việc này thì các điều luật cần quy định chi tiết trong một đạo luật sẽ giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin nhấn mạnh lại rằng, chúng ta hạn chế những “điều luật khung”, những “đạo luật khung” để hạn chế việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chứ chúng ta không xoá bỏ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.

4.2.4. Tăng cường năng lực của đội ngũ những người soạn thảo luật, cần chuyên nghiệp hoá hơn việc soạn thảo và thông qua luật. Việc soạn thảo luật cần phải có sự tham gia nhiều hơn, đông đảo hơn của đội ngũ những chuyên gia xây dựng pháp luật có trình độ và kỹ năng làm luật; biết sử dụng đội ngũ pháp chế ở các bộ, ngành; kết hợp chặt chẽ với các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, hoạt động thực tiễn và cả những nhà nghiên cứu, giảng dạy pháp luật.

4.2.5. Sửa đổi, bổ sung một số luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ…; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là giải pháp có tính hệ quả của các giải pháp nói trên. Bởi vì, muốn đổi mới cơ cấu và hoạt động của Quốc hội, muốn đổi mới quy trình làm luật thì phải sửa đổi các luật tương ứng, đặc biệt là cần phải sửa đổi cơ bản Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhằm xây dựng một quy trình làm luật mới khoa học hơn, hiệu quả hơn./.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2006

HỘI LUẬT GIA VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở MỸ

Kể từ khi mới thành lập năm 1878, Hội Luật gia Hoa Kỳ (ABA) đã chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật ở Mỹ. Sau khi nghiên cứu kỹ về các chương trình dạy luật cuối thế kỷ 19, Hội xác định rằng cần phải xây dựng một quy trình quốc gia để đảm bảo chất lượng giáo dục của một luật sư tương lai. Năm 1921, ABA đã đưa ra bản quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của giáo dục pháp luật và xuất bản một danh sách các trường luật tuân theo những tiêu chuẩn này. John A.Sebert là tư vấn về Giáo dục pháp luật cho Hội Luật gia Hoa Kỳ đang quản lý quy trình chứng nhận của ABA và phụ trách 13 nhân viên làm việc chính thức. Trong bài viết này, Sebert phân tích quá trình ABA xây dựng giáo dục pháp luật ở Mỹ trong thời gian qua và các trường luật được chứng nhận bởi Hội đồng Bộ phận giáo dục pháp luật và công nhận là thành viên của Hội Luật gia Hoa Kỳ.

Hội Luật gia Hoa Kỳ là tổ chức quốc gia về ngành luật ở Mỹ. Các thành viên chủ yếu là các luật sư, thẩm phán, quan chức tòa án, giáo viên luật, luật sư công, luật sư có công việc không liên quan trực tiếp đến ngành luật (ví dụ như điều hành kinh doanh và quan chức chính phủ) và sinh viên ngành luật. Năm 2002 với hơn 400.000 thành viên trong đó có hơn 350.000 luật sư, ABA là hiệp hội nghề nghiệp tự nguyện lớn nhất thế giới. Hiệp hội này đã đóng hai vai trò vừa phục vụ cho nghề luật vừa cho công chúng, và số lượng thành viên chiếm khoảng một nửa tổng số luật sư đang làm việc ở Mỹ.

Dù quyền lực thực sự trong việc công nhận và quản lý luật sư là của các bang và các cơ quan tư pháp khác ở Mỹ nhưng ABA là nhân tố chính trong việc hình thành nên những kim chỉ nam về đạo đức cho nghề luật thông qua việc ban hành Những quy định Hình mẫu của ABA về Hành vi Nghề nghiệp. ABA cũng có tiếng nói rất quan trọng trong những vấn đề liên quan đến luật và nghề luật trước Quốc hội và cơ quan hành pháp ở Washington D.C. Ví dụ như trong 25 năm qua ABA đã đóng vai trò quan trọng trong phong trào pháp quyền quốc tế.

Giáo dục pháp luật ở Mỹ

Không giống như các nước khác, giáo dục pháp luật ở Mỹ được thực hiện ở cấp sau đại học. Do đó, sinh viên học ngành luật sau khi tốt nghiệp một trường đại học. Nhiều sinh viên ngành luật của Mỹ cũng vào học trường luật khi đã già lúc có kinh đủ kinh nghiệm làm việc hay có bằng đại học của các nghề khác.

Sự thay đổi thực chất có ý nghĩa nhất trong giáo dục pháp luật ở Mỹ 30 năm qua là việc đưa đào tạo kỹ năng nâng cao vào các chương trình học của hầu hết các trường luật ở Mỹ, trước hết thông qua các khóa giáo dục thực tế và giải quyết tình huống phức tạp. Giáo dục pháp luật ở Mỹ có truyền thống đào tạo sinh viên luật “suy nghĩ” như những luật sư và dạy luật về quyền hạn và nghĩa vụ cũng như luật tố tụng. Giáo dục pháp luật ở Mỹ hiện nay cũng thực hiện tốt việc đào tạo các sinh viên tốt nghiệp “hành động” như những luật sư. Hầu hết các trường luật ở Mỹ đều kết luận rằng việc kết hợp các giảng viên chính thức (đa số đều có nhiều kinh nghiệm trong nghề luật trước khi tham gia giảng dạy luật) và những thẩm phán cũng như những người làm trong ngành tư pháp có kinh nghiệm tham gia giảng dạy là phù hợp nhất để đào tạo tay nghề cả về chiều rộng và chiều sâu cho một luật sư mới được công nhận.

Trong những năm gần đây, đào tạo kỹ năng tại các trường luật được ABA công nhận chịu ảnh hưởng lớn của bản báo cáo năm 1992 của cơ quan Giáo dục Pháp luật và Tiếp nhận các thành viên của ABA có tên gọi là Giáo dục Pháp luật và Phát triển Nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên, thường được biết đến với tên gọi Bản báo cáo Mac Crate. Ðây là báo cáo mô tả thuyết phục về những kỹ năng và giá trị cơ bản cần thiết để có thể bảo vệ tốt quyền lợi của khách hàng.

Những cơ sở do ABA công nhận

Giáo dục pháp luật ở Mỹ được thực hiện thông qua một loạt các cơ sở và dưới nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay có tổng cộng 185 cơ sở được công nhận bởi Hội Luật gia Hoa Kỳ để cấp bằng thứ nhất về chuyên ngành luật (bằng tiến sĩ luật – J.D.). 107 trường luật được công nhận là cơ sở tư, và 78 là cơ sở công được chính quyền bang hay địa phương tài trợ. Tuy nhiên kể cả cơ sở công cũng chủ yếu dựa vào học phí và đóng góp tư nhân hỗ trợ tài chính cần thiết cho các chương trình luật của trường.
Tổng số sinh viên theo học chương trình tiến sĩ luật ở các trường được ABA công nhận đã tăng từ khoảng 91.225 năm 1971 lên 127.260 sinh viên mùa thu năm 2001. Khoảng 21.000 sinh viên tham gia các chương trình bán thời gian và sinh viên thường mất 4 năm để lấy được bằng. Ðại đa số sinh viên còn lại đăng ký chương trình toàn phần và thường phải học 3 năm. Mùa thu năm 2001, khoảng 45.000 sinh viên năm thứ nhất đã đăng ký học tại các trường luật do ABA công nhận. 49% sinh viên mới vào trường là nữ và 21% là dân tộc thiểu số.

Các trường luật do ABA công nhận giáo dục pháp luật nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu được đưa ra bởi Hội đồng Bộ phận Giáo dục Pháp luật và Công nhận là các thành viên của ABA. Các cơ quan tư pháp ở Mỹ đã xác định rằng những ai tốt nghiệp các trường luật do ABA công nhận đều có thể tham gia phiên tòa xét xử trong khu vực tài phán của mình. Vai trò của ABA là cơ quan chứng nhận quốc gia đã giúp cho việc chứng nhận trở nên thống nhất trên phạm vi toàn quốc ở 50 bang, ở thủ đô Quận Columbia, Khối thịnh vượng Puerto Rico và các khu vực tài phán khác ở Mỹ.

Hội đồng và Uỷ ban Chứng nhận

Hội đồng Bộ phận Giáo dục Pháp luật và Công nhận là các thành viên của ABA là cơ quan chứng nhận được sự công nhận của Bộ Giáo dục Mỹ về các chương trình học lấy bằng thứ nhất về chuyên ngành luật. Hội đồng gồm 21 thành viên bỏ phiếu và không quá 10 người là trưởng khoa hay các giảng viên của trường luật. Các thành viên khác của Hội đồng gồm thẩm phán, các luật sư, một sinh viên luật và ít nhất 3 thành viên khác không phải là luật sư hay nhân viên của trường luật.

Quy trình công nhận trường luật do Hội đồng đề ra nhằm đánh giá cẩn thận và toàn diện về một trường luật và sự tuân thủ. Những tiêu chuẩn Công nhận Trường Luật. Những tiêu chuẩn này là các yêu cầu về những vấn đề như chương trình giảng dạy, các công việc của khoa, về nhập học và về sinh viên, thư viện và công nghệ thông tin, và các cơ sở vật chất khác. Các tiêu chuẩn được xem xét lại thường xuyên để đảm bảo sẽ tập trung vào những vấn đề cốt lõi cuả chất lượng giáo dục pháp luật. Hội đồng trước khi quyết định thông qua những tiêu chuẩn này đã thiết lập nên một quy trình mở rộng thu thập ý kiến và đề nghị sửa đổi chúng của các trưởng khoa, các khoa luật, các hiệu trưởng đại học, lãnh đạo đoàn luật sư và cơ quan tư pháp, và những ai quan tâm đến giáo dục pháp luật.
Trong việc quản lý các trường luật, Hội đồng được trợ giúp bởi Uỷ ban chứng nhận của Bộ phận Giáo dục pháp luật và Tiếp nhận của Hội Luật gia. Uỷ ban chứng nhận có bộ máy giống như Hội đồng và sẽ xem xét các báo cáo liên quan đến tất cả những trường do ABA công nhận và tất cả những trường xin công nhận để xác định liệu trường đó có đáp ứng được những yêu cầu và Tiêu chuẩn không. Vai trò khác biệt của Hội đồng và Uỷ ban chứng nhận trong quá trình chứng nhận sẽ được mô tả trong những phần sau.

Văn phòng tư vấn Giáo dục Pháp luật đóng tại trụ sở ABA ở Chicago, bang Illinois sẽ hỗ trợ về mặt nhân sự cho Hội đồng và Uỷ ban chứng nhận cũng như các hoạt động khác của Hội đồng Bộ phận Giáo dục Pháp luật và Công nhận là các thành viên của ABA. Chuyên gia tư vấn và nhân viên sẽ giám sát việc thực hiện quy trình chứng nhận và chỉnh sửa Tiêu chuẩn, hỗ trợ và tư vấn cho các trưởng khoa và người điều hành trường luật, và đại diện cho ngành giáo dục pháp luật tại các diễn đàn.

Công nhận tạm thời

Một trường luật có thể xin ABA công nhận tạm thời sau một năm hoạt động. Trong những năm gần đây, có hai loại trường xin công nhận tạm thời. Một số trường là trường luật mới được thành lập. Số khác là những trường luật có sinh viên tốt nghiệp đủ tư cách tham gia thi tuyển luật sư tại một hay một số ít khu vực tài phán ở Mỹ. Họ xin ABA công nhận để sinh viên tốt nghiệp đủ tư cách hành nghề ở tất cả khu vực tài phán ở Mỹ.
Một trường xin công nhận tạm thời phải soạn ra một bản tự thuật chi tiết mô tả trường của mình và những thông tin khác về trường. Văn phòng Tư vấn cử một nhóm 6 hay 7 người tiến hành xác minh tại trường. Nhóm này thường gồm 2 hay 3 giảng viên khoa luật hay trưởng khoa luật, một thủ thư về luật, một nhân viên của khoa chuyên về hướng dẫn đào tạo kỹ năng nghề nghiệp (kỹ năng thực nghiệm hay giải quyết tình huống, viết trong pháp luật), một thẩm phán hay người làm luật, và một người điều hành ở trường đại học nhưng không phải là thành viên của khoa luật.
Nhóm xác minh xem xét cẩn thận những tài liệu của trường cung cấp và thăm trường trong 3 ngày. Nhóm tiếp xúc với trưởng khoa và các lãnh đạo khoa, bộ phận quản lý hành chính khoa, hiệu trưởng và các quan chức quản lý trường đại học, và với càng nhiều thành viên trong khoa càng tốt. Nhóm cũng thăm nhiều lớp học để đánh giá chất lượng giảng dạy.
Ngay sau khi xác minh xong, nhóm sẽ soạn thảo một bản báo cáo xác minh. Báo cáo này đề cập đến tất cả những khía cạnh hoạt động của trường kể cả của của khoa và bộ phận quản lý, chương trình học, sinh viên và tỷ lệ đỗ kỳ thi luật sư hay tìm việc làm, dịch vụ cho sinh viên, thư viện và các nguồn thông tin, nguồn tài chính và các cơ sở vật chất và khả năng công nghệ.

Báo cáo xác minh sẽ được gửi cho Văn phòng Tư vấn và trường được xác minh. Trường này có điều kiện đính chính bằng văn bản những sai sót về thực tế và góp ý về bản báo cáo. Sau đó, báo cáo này sẽ trình lên Uỷ ban Chứng nhận, ủy ban này sẽ tổ chức một buổi điều trần với sự có mặt của đại diện trường xin công nhận tạm thời. Sau buổi điều trần, Uỷ ban Chứng nhận sẽ đưa ra khuyến nghị về công nhận tạm thời trình lên Hội đồng.
Trường xin công nhận tạm thời phải chứng minh rằng mình “tuân thủ hầu hết các Tiêu chuẩn và đưa ra một kế hoạch đáng tin cậy nhằm tiến tới tuân thủ hoàn toàn các Tiêu chuẩn trong vòng 3 năm sau khi được công nhận tạm thời”. Nếu Uỷ ban Chứng nhận kết luận rằng trường nào tuân thủ hầu hết những tiêu chuẩn và có kế hoạch đáng tin cậy sẽ tuân thủ hoàn toàn thì ủy ban sẽ khuyến nghị lên Hội đồng để công nhận tạm thời.
Khi một trường xin công nhận tạm thời, quyết định cuối cùng về việc này là của Hội đồng. Nếu Hội đồng quyết định công nhận tạm thời, quyết định đó sẽ chuyển cho Hội đồng đại biểu ABA để nhất trí hay không nhất trí và sau đó chuyển lại cho Hội đồng.

Trường được công nhận tạm thời có tất cả các quyền của một trường luật được công nhận đầy đủ. Do đó, sinh viên tốt nghiệp của các trường này cũng được công nhận như sinh viên tốt nghiệp của trường được công nhận hoàn toàn.

Xin công nhận hoàn toàn

Khi một trường được công nhận tạm thời thì tư cách đó vẫn được duy trì trong ít nhất 3 năm và không quá 5 năm. Ðể được công nhận hoàn toàn, trường đó phải chứng minh rằng mình tuân thủ hoàn toàn những Tiêu chuẩn vì việc tuân thủ hầu hết là chưa đủ.

Khi đang là trường được công nhận tạm thời, hoạt động của trường được giám sát chặt chẽ. Mỗi năm có một đoàn xác minh đến thăm và sau mỗi lần như vậy sẽ có một báo cáo xác minh trình lên trường và Uỷ ban Chứng nhận. Uỷ ban xem xét báo cáo này và phản hồi của trường rồi gửi cho trường đó một bức thư chỉ ra những vấn đề mà ủy ban kết luận là trường chưa tuân thủ đầy đủ những Tiêu chuẩn.

Trong thời gian trường được xem xét công nhận hoàn toàn, quy trình cũng giống như việc xin công nhận tạm thời. Quyết định về công nhận hoàn toàn chỉ do Hội đồng đưa ra sau khi xem xét kết quả xác minh, các kết luận và khuyến nghị của Uỷ ban Chứng nhận. Vai trò của Hội đồng Ðại biểu trong việc xem xét quyết định của Hội đồng về công nhận hoàn toàn cũng giống như vai trò của Hội đồng Ðại biểu trong quyết định công nhận tạm thời.

Sau khi được công nhận hoàn toàn, trường đó phải được xác minh hoàn toàn trong năm thứ ba sau khi được công nhận và cứ bảy năm sẽ có một cuộc xác minh đầy đủ. Quá trình xác minh và xem xét báo cáo xác minh của Uỷ ban Chứng nhận rất giống với quá trình trường xin công nhận tạm thời.

Việc công nhận luật sư ở Mỹ

Việc công nhận luật sư ở Mỹ do các quy định độc lập đề ra ở mỗi bang trong tổng số 50 bang, Quận Columbia, Khối thịnh vượng Puerto Rico và các khu vực tài phán khác. Hơn một nửa khu vực tài phán này yêu cầu người muốn hành nghề luật sư trong khu vực tài phán phải tốt nghiệp tại một trường luật được ABA công nhận. Ðối với những khu vực tài phán cho phép sinh viên tốt nghiệp từ các trường luật không do ABA công nhận trở thành luật sư, hầu hết đều hạn chế ưu đãi những người tốt nghiệp này tại khu vực tài phán cụ thể của họ.

Chỉ có một khu vực tài phán yêu cầu những người nộp đơn mà chưa được công nhận hành nghề ở một khu vực tài phán khác ở Mỹ cần phải tham gia và vượt qua kỳ thi do bang tổ chức. Ngoại lệ đó là bang Wisconsin dành “ưu tiên văn bằng” cho những ai tốt nghiệp hai trường luật trong bang đó và cho phép họ được hành nghề tại Wisconsin mà không cần qua kỳ thi.

Một kỳ thi điển hình công nhận luật sư của bang thường kéo dài hai đến ba ngày và gồm ít nhất hai phần: phần thi khách quan (Thi Luật sư Liên bang của Ðại hội Quốc gia Giám khảo Luật sư (NCBE)) kiểm tra kiến thức cơ bản về những vấn đề nền tảng như hợp đồng, tài sản, vi phạm dân sự, luật tố tụng và luật hiến pháp, và một bài thi viết luận về những chủ đề do các khu vực tài phán chọn.

Ngày càng nhiều khu vực tài phán sử dụng Thi Viết luận Liên bang do NCBE soạn thảo thay vì tự soạn các bài thi viết. Hơn một nửa khu vực tài phán cũng sử dụng Bài kiểm tra trắc nghiệm Trình độ Liên bang (Multistate Performance Test – MPT, cũng do NCBE soạn thảo) như là một phần của thi viết luận. MPT kiểm tra kỹ năng luật sư cụ thể bằng cách đưa cho thí sinh một tình huống thực tế và những nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tình huống đó, sau đó yêu cầu thí sinh đưa ra một văn kiện pháp lý (như di chúc, hợp đồng hay giấy biện hộ). Tất cả các khu vực tài phán cũng tiến hành thẩm tra tính cách và sức khoẻ của tất cả những ai muốn hành nghề luật sư.

Hầu hết các khu vực tài phán cho phép một luật sư mà đã được công nhận hành nghề trong một thời hạn nhất định (thường là 5 năm) và có uy tín trong khu vực tài phán của mình được công nhận thông qua đề nghị mà không qua kỳ thi luật sư. Tuy nhiên một số khu vực tài phán yêu cầu một luật sư nếu được công nhận thông qua đề nghị vẫn phải vượt qua kỳ thi luật sư và kỳ thi này thường tập trung vào các quy tắc thủ tục và yêu cầu về đạo đức. Một số bang như Florida và California không cho phép kể cả những luật sư có kinh nghiệm được công nhận nếu không dự kỳ thi luật sư của bang đó.

Nhiệm vụ phối hợp

Một trong những thế mạnh của quy trình chứng nhận trường luật của ABA là việc phối hợp có sự tham gia tích cực của các khoa và trưởng khoa luật, các luật sư đang hành nghề, các thẩm phán, những người quản lý trường đại học và đại diện của nhân dân. Ðiều này đảm bảo công khai rằng những quan điểm của đoàn luật sư, những người quản lý trường đại học và những đại diện công chúng hữu quan, cũng như quan điểm của khoa luật và trưởng khoa luật đều được xem là tiêu chuẩn mà các trường luật ở Mỹ phải tuân thủ và được coi là quyết định khi xem xét liệu một trường luật nào đó có tuân thủ những tiêu chuẩn này không. Nỗ lực hợp tác này đã phát huy tác dụng trong nhiều năm qua. Ðặc biệt cơ quan tư pháp và đoàn luật sư là những nhân tố rất quan trọng trong việc mở rộng đào tạo kỹ năng chuyên sâu trong các trường luật ở Mỹ trong 30 năm qua.

SOURCE: Trung tâm Thông tin – Tư liệu ĐSQ Hoa Kỳ

ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT Ở CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

THS. NGUYỄN VĂN NAM – Khoa Luật Học viện An Ninh

Việc đào tạo luật của Cộng hoà liên bang Đức có nhiều nét tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Tuy nhiên, quy trình đào tạo nghề luật lại mang những nét đặc trưng, cụ thể là, ở Đức không tồn tại mô hình đạo tạo riêng cho từng nghề luật như nghề thẩm phán, nghề luật sư… mà chỉ có một quy trình đào tạo chung cho mọi nghề luật. Bài viết dưới đây, tác giả giới thiệu một cách khái quát hai quy trình đào tạo này để bạn đọc tham khảo.

1. Khái quát về lịch sử đào tạo luật ở CHLB Đức

Cộng hoà Liên bang Đức là nước có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc trưng của truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, bởi ngay thế kỷ XI, khi ở châu Âu bắt đầu xuất hiện xu hướng giảng dạy pháp luật trong các trường đại học tổng hợp, trong đó, trường đại học tổng hợp Bologna của nước ý được biết đến như là một trung tâm đầu tiên giảng dạy luật La Mã và là nơi quy tụ các giảng viên và học viên ở khắp châu Âu, nhiều sinh viên trẻ của Đức, những người có tham vọng trở thành luật gia giỏi cũng đã tới Bologna để học. Thừa hưởng kiến thức pháp luật cũng như những phương pháp áp dụng trong giảng dạy, những luật gia được đào tạo ở Bologna đã đặt nền móng cho truyền thống đào tạo pháp luật ở Đức sau này.

Từ thế kỷ XIV, các trường đại học tổng hợp đầu tiên của Đức, trong đó có khoa luật đã được thành lập. Đến nay, các khoa luật này vẫn là những cơ sở đào tạo pháp luật chính thức của Đức. Đây cũng là đặc điểm chung trong truyền thống về đào tạo pháp luật của nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như: Pháp, Bỉ, Hà Lan… Nhưng, ở Đức có điểm đặc trưng là, chế độ đào tạo luật và nghề luật là một quy trình toàn diện, thống nhất trên phạm vi toàn liên bang (bao gồm 16 bang). Theo đó, quy trình đào tạo này kéo dài khoảng năm năm rưỡi đến sáu năm. Toàn bộ thời gian đào tạo được chia làm hai giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất: đào tạo pháp luật ít nhất là ba năm rưỡi tại trường đại học.

– Giai đoạn thứ hai: đào tạo thực hành nghề luật kéo dài ít nhất là hai năm.

2. Các giai đoạn đào tạo luật và nghề luật ở Đức

Giai đoạn đào tạo luật

Đây là giai đoạn thứ nhất trong quy trình đào tạo luật tại Đức. Bất kỳ ai, nếu muốn trở thành luật sư, công chứng viên, thẩm phán, công tố viên… đều phải thi tuyển hoặc được xét tuyển vào học tại các trường Đại học luật hoặc khoa luật tại các trường đại học tổng hợp (hiện nay, trên toàn nước Đức có khoảng 50 khoa luật trực thuộc các trường đại học nằm rải rác trong phạm vi 16 bang).

Theo quy định, các trường luật, các khoa luật thuộc các trường đại học tổng hợp chỉ phải tuân thủ khung chung về đào tạo pháp luật do luật liên bang quy định. Trên cơ sở đó, mỗi bang có thể quy định các chương trình đào tạo chi tiết khác nhau dựa trên thế mạnh trong nghiên cứu, đào tạo của các trường đại học của bang mình.

Các môn học

Trong giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ phải học trong một khoảng thời gian ít nhất là ba năm rưỡi với các môn học mang tính cơ sở về khoa học luật như: lịch sử các học thuyết pháp luật, lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học pháp luật và các môn luật mang tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính, luật tố tụng dân sự…

Bên cạnh các môn học mang tính bắt buộc thì sinh viên luật ở Đức cũng có các môn học tự chọn, đó có thể là môn luật về thuế, luật về cộng đồng châu Âu, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ… Việc thiết kế các môn học bắt buộc và tự chọn tùy thuộc vào chương trình của mỗi trường. Ví dụ như, theo chương trình đào tạo của trường North – Rhine Westphalia, các môn học tự chọn là luật thuế, luật kinh doanh, luật quốc tế…

Phương pháp đào tạo

Đối với phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang xuất hiện hai quan điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan điểm bảo thủ. Nhóm quan điểm cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương pháp thực tiễn trong đào tạo luật của các nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại cho rằng, chế độ đào tạo pháp luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu quả. Bởi việc đào tạo pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo kiến thức pháp luật cơ bản, tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức toàn diện cho sinh viên. Còn các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang tính chất nghề luật là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên, các kết quả khảo sát gần đây cho thấy, nhiều khoa luật trên lãnh thổ của Đức đã chú trọng đến việc cân đối giữa hàm lượng lý thuyết và thực tiễn pháp luật trong cơ cấu các môn học. Điều này được minh chứng bằng việc ngày càng có nhiều luật sư và thẩm phán có uy tín được các khoa luật mời đến giảng bài cho sinh viên. Bên cạnh đó, trong hệ thống câu hỏi của các kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất, tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp luật ngày càng tăng.

Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và đánh giá kết quả học tập

Nếu nhìn vào quy trình tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi, đặc biệt là thi tốt nghiệp cho giai đoạn thứ nhất thì có thể khẳng định rằng, việc đào tạo pháp luật ở Đức có chất lượng rất cao. Pháp luật của Đức quy định: Bộ Tư pháp của mỗi bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi này, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi. Các câu hỏi thi thường dài và phức tạp, chẳng hạn như, kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất ở bang Bavarian có tới tám câu hỏi, sinh viên phải hoàn thành bài thi trong thời gian năm tiếng. Đây thực sự là một áp lực đối với bất cứ sinh viên luật nào. Theo tài liệu thống kê được công bố năm 2003, thì chỉ có khoảng 65% sinh viên đạt yêu cầu, còn 35% sinh viên phải thi lại trong các lần thi tiếp theo. Ngoài hình thức thi viết, các trường còn có thể cho sinh viên thi tốt nghiệp bằng hình thức vấn đáp. Theo đó, sinh viên sẽ phải trả lời câu hỏi trước một hội đồng bao gồm: hai giáo sư, hai thẩm phán, một luật sư hoặc một chuyên viên pháp luật. Thời gian thi vấn đáp có thể kéo dài tới bốn tiếng cho một nhóm khoảng năm sinh viên. Nếu sinh viên bị trượt trong lần thi lại thì coi như họ đã bỏ phí mấy năm học tại trường. Những sinh viên đã vượt qua kỳ thi này thì được quyền học tiếp giai đoạn thứ hai.

Một vấn đề không thể không nhắc đến trong thực tế học tập và thi cử của sinh viên luật ở Đức là sự hiện diện của các “ Repetiter” có thể tạm dịch là “thầy dạy kèm” (xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII và XIV trong việc dạy và học luật ở trường đại học tổng hợp Bologna, sau đó lan rộng ra khắp châu Âu và tồn tại cho đến nay). “Thầy dạy kèm” tuy không phải là các giáo sư dạy luật của các trường đại học, nhưng họ có trình độ, kiến thức pháp luật uyên thâm, giúp các sinh viên cách học và tích lũy kiến thức để vượt qua các kỳ thi. “Thầy dạy kèm” tận tụy với việc truyền đạt những kiến thức mà các giáo sư trong trường chưa làm cho sinh viên thỏa mãn. Giả sử như, khi giảng bài trong một lớp học có khoảng 100 sinh viên, giáo sư khó có thể trả lời được tất cả những thắc mắc của từng sinh viên và cách tốt nhất đối với các sinh viên luật trong trường hợp này là đến với các “thầy dạy kèm”. Theo thống kê, có tới 95 % sinh viên luật ở Đức đã từng đến với “thầy dạy kèm”. Các “thầy dạy kèm” sống bằng những khoản phí do sinh viên trả, họ có thể hoạt động đơn lẻ hoặc hoạt động trong một hiệp hội, một công ty. Pháp luật của Đức coi hoạt động dạy kèm là hợp pháp.

Giai đoạn đào tạo nghề luật

Sau khi đã vượt qua kỳ thi của giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ được tiếp tục theo học giai đoạn thứ hai – giai đoạn đạo tạo nghề luật, nghĩa là, đào tạo các kiến thức pháp luật thực hành. Việc đạo tạo nghề luật của giai đoạn thứ hai kéo dài hai năm và cũng được kết thúc bằng một kỳ thi. Nếu không vượt qua kỳ thi này thì sinh viên luật sẽ không nhận được học vị cử nhân, điều đó cũng đồng nghĩa với việc, họ không thể bước vào con đường nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán, hay nghề công tố viên…

Đào tạo nghề luật ở Đức có điểm giống với nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu ở chỗ, đây là giai đoạn đào tạo kiến thức về các nghề luật như: nghề luật sư, nghề thẩm phán, nghề công tố … Nhưng khác biệt là: (1) Đây là một phần không thể thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học. (2) ở Đức không tồn tại mô hình đào tạo nghề thẩm phán như ở Pháp (sinh viên luật ở Pháp, sau khi tốt nghiệp đại học, nếu có tham vọng trở thành thẩm phán thì phải tiếp tục thi và theo học trong trường đạo tạo thẩm phán), mà pháp luật của Đức quy định một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên luật, sau khi tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghề luật. Trong thời gian hai năm gắn với thực hành, sinh viên luật ở Đức vẫn phải tham gia các giờ học mang tính chất lý thuyết. Thông thường, thầy giáo giảng trong các giờ học này là những thẩm phán hay các chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm. Những sinh viên luật dù đã định hướng nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán… thì vẫn phải tham gia tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao trong thời gian sáu tháng; ở cơ quan công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn tháng và bốn tháng tập sự cùng với một luật sư thực thụ. Như vậy, trong thời gian thực tập, sinh viên luật sẽ làm quen với các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính… Mức độ tiếp cận với thực tiễn nghề luật sẽ phụ thuộc vào số lượng công việc nơi thực tập và khả năng học tập của sinh viên. Khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập sự ở các cơ quan nói trên, trong thời gian bảy tháng còn lại, họ có thể tùy chọn tập sự lại ở một trong các vị trí nói trên, nhằm tăng thêm khả năng chuyên sâu nghề nghiệp. Trong bảy tháng này, những sinh viên có định hướng làm nghề thẩm phán thường sẽ chọn tòa án là nơi tăng cường thực tiễn. Còn những sinh viên có tham vọng theo nghề luật sư, thì địa chỉ mà họ thực tập là các công ty luật hoặc các đoàn luật sư. Giai đoạn thực hành nghề luật của sinh viên cũng được kết thúc bằng một kỳ thi tốt nghiệp. Kỳ thi này còn được coi là quan trọng và khó hơn kỳ thi tốt nghiệp trong giai đoạn thứ nhất. Theo thống kê của bang Bavarian, có tới 15% trong tổ số sinh viên luật tại bang thi trượt trong kỳ thi này. Khi những sinh viên đã thi lại lần hai mà vẫn không qua, thì con đường bước vào nghề luật của họ coi như đã bị khép lại. Còn những sinh viên luật đã hoàn thành việc học tập trong cả hai giai đoạn và vượt qua cả hai kỳ thi nói trên sẽ được nhận bằng luật, và họ có đủ tư cách để tìm những vị trí làm việc thích hợp.

Hiện nay ở Đức, các sinh viên luật sau khi tốt nghiệp có rất ít cơ hội được tuyển vào làm thẩm phán, do công việc này ít có nhu cầu bổ sung. Bên cạnh đó, biên chế trong các cơ quan công tố và cơ quan hành chính nhà nước cũng luôn có giới hạn. Tình trạng này làm cho số người chọn nghề luật sư để kiếm sống ngày càng tăng. Theo con số thống kê năm 2001, toàn liên bang Đức có khoảng 110.367 luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư. Đến tháng 1/2003, số luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư đã lên tới 121.420 người, tăng khoảng 4,4% so với 12 tháng trước đó. Nghề luật sư ở Đức cũng như ở nhiều nước trên thế giới, tính cạnh tranh ngày càng cao, do đó hình thành xu hướng ngày càng có nhiều luật sư hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh vực pháp luật như: luật hôn nhân gia đình, luật thuế, luật hình sự, luật hành chính, luật sở hữu trí tuệ…

Như vậy, việc quy định hai bước trong quy trình đào tạo pháp luật ở Đức vừa có những điểm tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, đồng thời, cũng có những đặc điểm riêng, thể hiện rõ nét ở việc đào tạo nghề luật trong giai đoạn thứ hai.

3. Đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ luật học

Đào tạo sau đại học trong lĩnh vực pháp luật ở Đức cũng rất phát triển so với nhiều nước châu Âu, bởi nếu ai muốn khẳng định vị trí của mình nơi công tác hoặc có ước muốn trở thành giáo sư giảng dạy pháp luật trong các trường đại học, thì học tập và nghiên cứu sau đại học là con đường không thể bỏ qua.

– Đào tạo thạc sĩ: phần lớn các chương trình đào tạo cao học luật ở Đức bắt buộc học viên phải có trình độ cử nhân luật, phải tham gia học tập và nghiên cứu theo thiết kế chương trình của các trường đại học. Kết thúc khóa cao học luật, học viên sẽ phải bảo vệ luận văn, nếu luận văn đạt yêu cầu, họ sẽ được nhận học vị thạc sĩ luật học.

– Đào tạo tiến sĩ: Cũng giống như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, quy trình đào tạo tiến sĩ luật học ở Đức phản ánh tính chất hàn lâm. Theo thống kê, có khoảng 1/10 các luật gia ở Đức làm luận án tiến sĩ và để nhận được học vị tiến sĩ đòi hỏi các nghiên cứu sinh phải học tập trung tại các cơ sở đào tạo từ một đến hai năm, khi bảo vệ thành công luận án, họ sẽ được nhận tấm bằng: Dr.jur.(viết tắt của từ tiến sĩ luật trong tiếng Đức).

Học vị tiến sĩ luật không phải là đòi hỏi chính thức với bất kỳ nghề luật nào, nhưng nó tạo ra một vị trí xã hội đáng kể và rất hữu ích với cả những người không mong muốn trở thành giáo sư dạy luật trong trường đại học. Trong các công ty tư nhân, nếu một luật sư có học vị tiến sĩ thì anh ta sẽ có cơ hội được đề bạt ở những vị trí cao nhất.

Tuy nhiên, sự đào tạo bài bản và rất nghiêm túc trong quy trình kiểm tra, đánh giá thực sự là một thử thách rất lớn cho những ai muốn đạt được học vị tiến sĩ luật ở Đức, bởi một luận án tiến sĩ thường đòi hỏi phải có độ dày từ 200 đến 400 trang và phải đảm bảo tính khoa học rất cao, phải kết hợp được cả giá trị lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, với những tiến sĩ luật học có nguyện vọng trở thành giáo sư, thì họ nhất thiết phải in luận án của mình thành sách sau khi đã bảo vệ thành công.

=============================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 8/2005

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ

GS. TƯƠNG LAI 

Khát vọng về dân chủ và công bằng vốn nung nấu từ lâu trong lịch sử loài người. Có dân chủ mới thực hiện được công bằng, đồng thời công bằng là thước đo của dân chủ và tiến bộ xã hội. Điểm quy chiếu để kiểm nhận về công bằng và dân chủ mà một xã hội đạt được thường tìm thấy dễ dàng trong pháp luật. Cũng qua sự hiểu biết của người dân về pháp luật và việc thực hiện pháp luật, người ta có thể kiểm định về trình độ văn minh của một xã hội. Khi chúng ta đang phấn đấu cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì cần phải tường minh về những vấn đề đó.

Nói đó là khát vọng đã nung nấu từ lâu vì những hưng vong, thành bại của mọi triều đại, mọi thể chế trải qua mọi cuộc “tranh bá, đồ vương” đều có thể tìm dấu ấn của tư duy loài người xoay quanh chuyện này. Xin được dẫn dắt bài báo Tết này bằng chuyện bên Tàu.

Quản Trọng, người đã làm cho nước Tề thành “bá” từ sáu thế kỷ trước công nguyên đã từng khẳng định: “Pháp [luật] là cái quy tắc của thiên hạ… Quan sai khiến dân mà có pháp [luật] thì dân theo, không có pháp [luật] thì dân dừng lại. Dân lấy pháp [luật] chống nhau với quan. Người dưới lấy pháp [luật] phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái” (Quản Tử. Quyển 21). Chính vì lẽ đó mà phái pháp gia bị phái nho gia vốn chủ trương “đức tri” “nhân tri”chống lại kịch liệt. Khổng Tử nói: “sở dĩ dân có thể tôn quý người sang, người sang nhờ thế giữ gìn được cơ nghiệp mình. Người sang người hèn không lẫn lộn, cái đó gọi là pháp độ… Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật, thì dân chỉ biết cái vạc lấy gì để tôn quý (người sang) ? Người sang còn có cơ nghiệp nào để giữ Người sang kẻ hèn không có trên dưới, lấy gì để làm thành nước?” (Tả truyện. Quyển 26).

Thì ra, ẩn đằng sau những lập luận của ngôn từ là cái lợi ích cụ thể, là “cái ghế” của người đang nắm quyền lực! Nhân trị, đức trị hay “pháp độ” thực chất là công cụ của kẻ đang nắm được quyền lực muốn duy trì hiện trạng của sự bất công, phân biệt kẻ sang, người hèn, bắt “người hèn” sợ uy lực và khuất phúc “kẻ sang”. Vì thế phải dùng cái “nhân” , cái “đức” của người cẩm quyền để giáo hoá và trị dân, bằng sự áp đặt ý chí của kẻ có quyền buộc thần dân phải tuân theo, không thể dùng pháp luật vì sợ dân có thể dùng ngay pháp luật để chống lại mình.

“Nhân tri’, ” đức tri” chẳng qua là sự tuỳ tiện của người có quyền. May mắn mà người cầm quyền có “đức”, có “nhân” thì dân được nhờ. Vô phúc vớ được kẻ hôn quân, tên bạo chúa thì dân đành chịu vậy. Mà trò đời, đã nắm được quyền thì muốn giữ riệt lấy quyền ấy, mấy ai mà chịu “từ chức”, “nhường ngôi”! ấy thế nhưng, nhìn lại lịch sử của đất nước từng là quê hương của “pháp gia” hay “nho gia” ấy, người ta nghiệm ra rằng, trong các cuộc “tranh bá, đồ vương”, những nước cố giữ lấy “pháp độ” thì sớm suy vong còn những nước chịu theo “pháp tri” thì hùng cường lên để có thể thôn tính các nước khác!

Cũng trên quê hương của những “pháp gia” và “nho gia” ấy, lịch sử dường như lặp lại. Người ta bắt gặp những vấn đề mà loài người đã từng biết đến từ rất lâu song đã bị chìm đi trong một mớ hỗn độn những giáo điều mới một thời thống trị đời sống tinh thần xã hội nay đang được xáo xới lại một cách quyết liệt. Người ta dám mạnh dạn lật lại vấn đề, không câu nệ và dứt khoát vứt bỏ những ràng buộc của những công thức đã từng kìm hãm sự phát triển, trở lại với những thành tựu đánh dấu những cột mốc của nền văn minh mà loài người đã tạo ra. Có thể nói, đó là một đột phá về lý luận để mở đường cho đất nước này “tiến cùng thời đại’?

Giờ đây, người ta đang đặt lại vấn đề về pháp trị hay nhân trị, đức trị. Vấn đề mà hơn hai nghìn ba trăm năm về trước, Hàn Phi – nhà tư tưởng cổ đại của họ đã từng nêu lên: “Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” (Hàn Phi Tử. Quyển 2. Thiên VI) Chúng ta cứ ngỡ như nhà tư tưởng cổ đại đó nói với người đương thời của xã hội Trung Quốc trong thế kỷ XXI !

Dùng pháp luật theo Hàn Phi Tử: “… điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật”

Mà quả như vậy, chẳng là vừa rồi, ông Hồ Cẩm Đào đưa ra thông điệp: “Khi làm việc phải theo Hiến pháp, mục đích của việc đó là đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân”1 để khẳng định lại quan điểm về “thúc đẩy” việc chế độ hoá, quy phạm hoá và trình tự hoá nền dân chủ XHCN, bảo đảm cho nhân dân làm chủ, quán triệt phương châm cơ bản dựa vào pháp luật để quản lý đất nước, nâng cao trình độ cầm quyền theo pháp luật. Thoạt nghe cứ tưởng, dường như ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa khẳng định lại luận điểm “thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” mà nhà tư tưởng của thời Xuân Thu Chiến Quốc ở nước ông đã từng nêu!

Chỉ có điều, Hàn Phi vốn là người dám nhìn thẳng vào sự thật với tất cả sự tàn nhẫn của nó, ông ta biết chắc rằng nói ra để chết chứ không phải để sống! Mà quả vậy, Tần Thuỷ Hoàng đọc tác phẩm của Hàn Phi đã nói: “Ta được làm bạn với con người này thì có chết cũng không uổng”, nhưng rồi chính Hàn Phi bị bức phải uống thuộc độc để chết trong ngục của nước Tần. Chính Hàn Phi đã thổ lộ tâm sự đó trong “Nỗi phẫn uất của con người cô độc” để phân tích rõ về cái kết cục tất yếu mà mình phải hứng chịu vì “Kẻ sĩ biết đề cao pháp luật và thuật trí nước nắm lấy cái thế có năm cái thua: ở xa và không thân nhà vua, mới đến, nói trái ý nhà vua, bị coi khinh, đơn độc “? Vì thế, “những kẻ sĩ có trí và có thuật biết đề cao pháp luật và những bọn hiện đang cầm quyền là những kẻ thù của nhau không thể cùng chung sống. Khi những bọn cầm quyền nắm lấy việc thì bên ngoài cũng như bên trong chỉ lo mưu lợi riêng mà thôi… những kẻ soi sáng pháp luật làm trái ý nhà vua nếu không bị quan lại giết ắt cũng bị thanh kiếm riêng giết vậy” (Hàn Phi Tử. Quyển IV Thiên XI: Cô phẫn).

Đừng quên rằng thời kỳ chống “hữu phái” và “đại cách mạng văn hoá vô sản” diễn ra trên quê hương của nhà tư tưởng cổ đại hơn 2000 năm sau đã có đến hơn 550.000 “kẻ sĩ” các loại bị bắt và đưa đi đày! Thế thì chẳng phải là lịch sử đã lặp lại đó sao? Mà lặp lại trong cái bối cảnh văn minh, hiện đại hơn và cũng tàn nhẫn, thảm khốc hơn đó sao?

Nói đúng ra, biện chứng của lịch sử đã đẩy tới những sự trùng lặp của sự kiện ở cùng một toạ độ song nằm trên một vòng xoáy trôn ốc mới của sự vận động lịch sử. Với bài học kinh nghiệm phải trả bằng cái giá của hàng chục triệu sinh mạng, trong đó không hiếm những “khai quốc công thần”, những anh hùng của cuộc vạn lý trướng chinh, những trí thức, danh nhân tầm cỡ mà những hậu duệ của Quản Trọng, Hàn Phi, Khổng Tử… đang dấn thân vào sự nghiệp cải cách, mở cửa trong công cuộc “xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc” . Phải chăng cũng từ bài học mà học phí phải trả bằng máu, và bằng cái màu sắc Trung Quốc rất linh hoạt và khôn ngoan đó, mà ngày nay, trên quê hương của cụ Khổng, người ta đã thật sòng phẳng khi dám nói ra cái điều vốn bị xem là cấm kỵ: “Thống nhất tư tưởng của toàn dân vào tư tưởng của một người là điều bi thảm”. Cách mạng văn hoá là một minh chứng lịch sử cay đắng của Trung Quốc. Một người sai, cả đất nước bị đe doạ. Do đó, cần đa nguyên về tư tưởng”2.

Chính từ bài học xương máu thảm khốc đó mà Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra Nghị quyết phải thực hiện “chế độ hoá và quy phạm hoá”? Vì thế phải thông qua việc sửa đổi Hiến pháp cũng như việc định ra luật pháp mà ổn định và phát triển. “Điều này cho phép giảm bớt uy quyền của cá nhân, đề cao uy quyền của chế độ và luật pháp, chuyển dần từ chế độ nhân tri sang chế độ pháp trị”3. Giờ đây, người ta đang cố gắng xây dựng một nhà nước pháp quyền gắn liền với xã hội dân sự, việc mà chúng ta cũng đang cố gắng làm. Chỉ có điều, chúng ta nói nhiều về nhà nước pháp quyền nhưng lại có phần nào còn e dè về xã hội dân sự, ấy vậy mà, xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền gắn với nhau như bóng với hình. Hơn nữa, cái ý tưởng về “xã hội dân sự” vốn đã được ấp ủ từ lâu, rất lâu trong khát vọng của con người! Trong lịch sử loài người, quyền con người và quyền công dân là những vấn đề có ý nghĩa bức xúc về thực tiễn cũng như về lý luận, vì, như J.J Rosseau, nhà tư tưởng của thế kỷ khai sáng đã nói: “Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi con người lại bị cùm kẹp?” Từ khi cuốn “Khế ước xã hội” của Rousseau ra đời, trong tư duy của loài người, quyền lực dường như vô hạn của vua, chúa đã bị hạ bệ với việc khẳng định quyền của dân, quyền phải xuất phát từ dân, nhà nước được xem như là người ký hợp đồng với quốc dân.

Ấy thế nhưng, nhìn trong toàn bộ lịch sử của loài người, “Nhà nước chứa một dấu ngoặc đơn của lịch sử” như tên gọi của một cuốn sách xuất bản vào cuối thế kỷ XX. Vì rằng, xã hội loài người đã trải qua hàng triệu năm, song Nhà nước thì mới xuất hiện chỉ có 6000 năm, và rồi như tiên đoán của C.Mác, với tiến trình lịch sử, nhà nước rồi sẽ tiêu vong còn xã hội loài người sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển!

Học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời từ thế kỷ XIX với một quá trình thăng trầm, thậm chí có lúc bị quên lãng trong một thời gian dài. Ở những nước theo CNXH, người ta không nói đến nhà nước pháp quyền mà chỉ nói đến nhà nước chuyên chính vô sản, cho đến 1988, với “Perestroika”, ở Liên Xô mới bắt đầu nói đến khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” mà ngày nay chúng ta đang dùng! Để giúp xác định tính chất của Nhà nước pháp quyền XHCN này do dân làm chủ, người ta thêm vào cụm từ “của dân, do dân và vì dân”4.

Vấn đề cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở trên nhà nước. Trong Nhà nước của pháp quyền đó, phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau, cơ quan nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm, và để đảm bảo dân uỷ quyền mà không mất quyền thì công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Thoạt đầu, ý tưởng về “xã hội dân sự “ và “xã hội công dân” gần như đồng nhất, nhưng dần dần hai khái niệm ấy tách khỏi nhau vì trong tiến trình phát triển, người ta ngày càng thấy rõ là người công dân đồng thời cũng là con người với tất cả những đặc tính phong phú của nó. Cho nên, không thể quy toàn bộ tính phong phú ấy vào trong khái niệm “công dân”?

Xã hội dân sự là đối tác bình đẳng của nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước, về thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện chính sách và giám sát nhà nước, thực hiện phản biện xã hội đối với Nhà nước, kể cả đối với phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước.

Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội… vai trò của cá nhân ngày càng được nổi bật, ngày càng được tôn trọng. Theo đó, vai trò của xã hội dân sự càng được xác lập, đặc biệt là từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi. Xã hội dân sự nổi bật lên với nhiều tác dụng nhưng tóm tắt lại, điều quan trọng nhất cần hiểu rõ, thì đó chính là đối tác bình đẳng của Nhà nước không phải là cái đuôi của Nhà nước. Nó giữ vai trò là đối quyền của quyền lực Nhà nước mà về thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối Nhà nước, kể cả phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước. Chỉ riêng với nét tóm tắt ấy cũng thấy là, để thực hiện vai trò làm chủ của người dân, thì tổ chức tốt xã hội dân sự sẽ là một đảm bảo quan trọng và thiết thực cho hoạt động ấy. Khi mà chúng ta đang chứng kiến nhiều tổ chức, đoàn thể quần chúng đã không phát huy được vai trò vì gần như bị “Nhà nước hoá” tất cả thì đã đến lúc vấn đề “xã hội dân sự”, một đặc điểm của xã hội hiện đại và văn minh, cần được đặt ra một cách nghiêm túc cùng với việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Trước mắt, công việc này chắc sẽ có tác dụng trực tiếp và lâu dài đến việc việc chống “quốc nạn” tham nhũng đang là bức xúc của mọi người dân.

Xã hội công bằng, dân chủ và văn minh mà chúng ta đang hướng tới cần phải xây dựng trên nền tảng vững vàng của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.


1. Chính sách phát triển kinh tế, Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc, Nxb Giao thông vận tải. 2004. Tập II.

2. Chính sách phát triển kinh tế, Kinh nghiệm bài học của Trung Quốc, Sđđ. tr. 235.

3. Sđd, tr. 256.

4. Câu này vốn là ý tưởng của A.Lincoln, tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, nằm trong diễn văn của ông đọc tại Gettysburg năm 1983.

SOURCE: TẠP C HÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP NĂM 2005 (Số phát hành chưa xác định)

TỪ MỘT VỤ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NGUYỄN PHƯỚC TỚI

Ngày 16.4.2007, trực tại Ban Pháp chế HĐND huyện Nhơn Trạch, chúng tôi đã tiếp bà Huỳnh Thị Phận, trú tại ấp Bến Ngự, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai. Bà Phận đề nghị huyện can thiệp về việc TAND huyện đang thụ lý và chuẩn bị đưa ra xét xử một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất mà bà là bị đơn, và bà biết chắc là sẽ bị xử thua, vì thực tế phần đất mà nguyên đơn (bà Nguyễn Thị Cục ngụ tại ấp 3, xã Phú Thạnh) kiện đòi là do UBND huyện cấp nhầm trong giấy CNQSD đất (sổ đỏ) của bà. Trong khi đó, phần đất bà đang sử dụng lại cấp cho một người khác.

Vì không biết, nên khi chuyển nhượng đất của mình cho ông Trần Quang Minh, ở quận 2, TP Hồ Chí Minh, bà Phận đã giao sổ đỏ cho ông Minh làm thủ tục chuyển quyền. Do không xác minh nên chính quyền đã chuyển luôn phần đất bị cấp nhầm này qua Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Minh. Khi bị khiếu nại bà Phận mới phát hiện ra những rắc rối liên quan đến QSDĐ của mình. Bà đã đồng ý cùng ông Minh điều chỉnh cho bà Cục. Thế nhưng, không hiểu UBND xã Phú Đông giải quyết như thế nào lại chuyển vụ việc về TAND huyện và được TAND huyện thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với nội dung: bà Cục kiện bà Phận lấy đất của bà bán cho ông Minh.
Khi xem xét vụ việc, chúng tôi được biết, diễn biến sự việc đúng như trình bày của bà Phận: Bà Phận có sử dụng phần đất trồng lúa, diện tích khoảng 1,1ha tại Ngọn Lò Rèn, xã Phú Đông. Năm 1999, bà Phận được UBND huyện Nhơn Trạch cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 10.871m2 (thửa 228 và 229 Bản đồ số 22). Tuy nhiên, trong phần đất này, UBND huyện đã cấp nhầm cho bà 2.174m2 đất (cắt thửa 229) của bà Nguyễn Thị Cục (sử dụng liền kề) và thiếu của bà 2.193m2 (cắt thửa số 8). Năm 2003, bà có chuyển nhượng phần đất này cho ông Trần Quang Minh. Trong quá trình làm thủ tục, các cơ quan chức năng không xác minh, kiểm tra thực tế mà chỉ điều chỉnh trên giấy nên đã cắt nhầm cho ông Minh phần diện tích 10.871m2 đất này.
Năm 2004, bà Cục phát hiện nhầm thửa và khiếu nại đến UBND xã Phú Đông với nội dung: không được cấp Giấy chứng nhận QSD phần đất 2.174m2. Lúc này, bà Phận mới biết phần đất trên sổ đỏ của mình vừa bị dư (2.174m2) và vừa bị thiếu (2.193m2). Bà đã đồng ý cùng ông Minh điều chỉnh cho bà Cục, đồng thời lập thủ tục trả cho ông Minh phần diện tích 2.193m2. Khi được điều chỉnh sẽ cấp lại sổ đỏ.
Thế nhưng, sự việc khiếu nại của bà Cục kéo dài đến tháng 5.2006 UBND xã mới mời các bên đến hòa giải. Do xử lý vụ việc không đến nơi, đến chốn nên khi hòa giải không thành, UBND xã đã chuyển hồ sơ đến TAND huyện với lý do vụ việc có yếu tố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Phận với ông Minh (?!)
TAND huyện đã hướng dẫn cho bà Cục viết đơn khởi kiện với nội dung kiện bà Phận lấy đất của bà bán cho ông Minh và yêu cầu bà Phận trả lại QSD 2.174m2 đất cho bà. TAND huyện đã thụ lý vụ kiện tháng 11.2006. Trong các lần hòa giải, bà Phận, bà Cục, ông Minh đều thống nhất có việc nhầm thửa và đồng ý điều chỉnh sổ đỏ cho bà Cục; Đồng thời bà Phận cũng đề nghị phần đất bù cho ông Minh là phần đất thực tế 2.193m2 bà sẽ xin điều chỉnh sổ đỏ rồi chuyển quyền cho ông Minh. Thế nhưng TAND huyện không tìm hiểu ý kiến của bà nên “giải thích”: nếu bà Phận không thỏa thuận được với ông Minh về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thì hoặc bà Phận phải bù bằng diện tích mà hiện bà đã có sổ đỏ hoặc có thể phải bồi thường hợp đồng cho ông Minh khoảng 90 triệu đồng, vì chính trong hợp đồng chuyển nhượng, bà đã ký tên bán cho ông Minh thửa 229. Kết quả hòa giải không thành, TAND huyện quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Qua trao đổi, TAND huyện cũng thừa nhận là không biết phần đất bà Phận đã bán cho ông Minh trên thực tế và trả lời cho câu hỏi tại sao biết là do lỗi của cơ quan Nhà nước cấp giấy nhầm, nguyên đơn, bị đơn không có lỗi và đều thống nhất điều chỉnh mà vẫn đưa vụ án ra xét xử? TAND huyện cho rằng, vì bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập) đã không thỏa thuận được.
Xem xét trường hợp này có thể thấy, bản chất vụ việc là sai sót trong quá trình cấp giấy chứng nhận QSDĐ: Trên thực địa, bà Phận có chuyển nhượng cho ông Minh đầy đủ diện tích đất theo hợp đồng; Bà Cục vẫn sử dụng đất đúng vị trí từ trước đến nay, không có tranh chấp và ranh giới vẫn rõ ràng, các bên đều thống nhất điều chỉnh. Việc sai sót là lỗi của UBND xã và các cơ quan chức năng trong quá trình tham mưu cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Do đó, việc điều chỉnh lại cho người dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính huyện, xã. UBND xã Phú Đông không xác định đây là nội dung khiếu nại, mà cho đây là việc tranh chấp quyền sử dụng đất và chuyển hồ sơ hòa giải không thành đến TAND huyện là chưa giải quyết đúng bản chất vụ việc và xử lý chưa đến nơi đến chốn vấn đề. Bản chất việc khiếu kiện của bà Cục phải do cơ quan hành chính Nhà nước giải quyết.
Từ phân tích trên, Ban Pháp chế HĐND huyện Nhơn Trạch đã đề xuất với Thường trực HĐND huyện kiến nghị giao cho UBND huyện chỉ đạo ngành chức năng kiểm tra, giải quyết khiếu nại của bà Phận; Đề nghị TAND huyện chuyển hồ sơ khiếu kiện cho UBND huyện giải quyết điều chỉnh QSDĐ cho các bên liên quan và xem xét tạm đình chỉ vụ án theo luật định, chờ kết quả xử lý giải quyết của UBND huyện; Đồng thời, kiến nghị Chủ tịch UBND xã Phú Đông kiểm điểm rút kinh nghiệm về trách nhiệm giải quyết vụ việc trên, chấn chỉnh công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, công tác hòa giải và việc giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai.
Đến nay, UBND huyện đã có kết luận giải quyết vụ việc, TAND huyện đã ban hành quyết định đình chỉ vụ án; Ông Trần Quang Minh cũng vui vẻ giao sổ đỏ của mình để điều chỉnh, không yêu cầu bà Phận bồi thường hợp đồng.
Trong lần đi xác minh thực tế vụ việc, các thành viên Ban Pháp chế HĐND huyện Nhơn Trạch còn phát hiện nhiều hộ dân sử dụng đất liền kề khu này bị cấp nhầm thửa và cũng đều được điều chỉnh đúng vị trí, người dân rất phấn khởi.
Sự việc trên cho thấy, nếu ngay từ đầu, UBND xã giải thích rõ cho bà Phận và các bên liên quan, đồng thời điều chỉnh diện tích đất đã cấp nhầm cho họ thì vụ việc không trở thêm phức tạp, mất nhiều thời gian của cơ quan Nhà nước và người dân. Còn TAND huyện Nhơn Trạch khi nhận hồ sơ của UBND xã, nếu chú tâm xem xét, lắng nghe ý kiến của đương sự thì không đến nỗi biến một vụ việc đơn giản trở thành vụ tranh chấp quyền sử dụng đất, trong khi cả nguyên đơn và bị đơn không ai vi phạm quyền sử dụng đất của ai.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

GIẤY KHAI SINH QUA THỰC TIỄN TƯ PHÁP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

Giấy khai sinh là căn cứ đầu tiên, là cơ sở pháp lý tin cậy nhất về một công dân, đặc biệt khi làm các giấy tờ khác liên quan đến quyền lợi của bản thân như: học tập, công tác, đăng ký hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân… Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, ở một số địa bàn vùng sâu vùng xa của tỉnh Điện Biên, việc làm giấy khai sinh đang gặp nhiều khó khăn và bất cập…

Tự do kết hôn và sinh con… tự do!?
Từ năm 2001 cuối năm 2006, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên đã tiến hành rà soát hơn 66.000 cặp hôn nhân thực tế và phát hiện gần 8.000 cặp không đăng ký hoặc không đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo luật định. Tính đến đầu năm 2007, tỷ lệ đăng ký kết hôn ở tỉnh Điện Biên đạt trên 80%, nhiều huyện như: Tuần Giáo, Mường Nhé tỷ lệ đăng ký kết hôn chỉ đạt từ 60% đến 70%. Trong đó, tại hai xã Mường Toong và Chung Chải của huyện Mường Nhé, cán bộ tư pháp phát hiện trên 600 cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn, nhưng đã có với nhau mấy mặt con!?
Kết hôn “thoáng” như vậy nên hiện nay, tỷ lệ sinh của toàn tỉnh ở mức xấp xỉ 2,6%, trong đó tỷ lệ các bà mẹ sinh con thứ ba chiếm gần 20%. Sinh nhiều, đẻ lắm kéo theo một thực tế đáng buồn là nhiều trẻ em ở một số xã, bản vùng sâu vùng xa không được đăng ký khai sinh. Làm việc với chúng tôi, ông Nhữ Văn Quảng – Phó chủ nhiệm Ủy ban DS-GĐ và TE tỉnh Điện Biên cho biết: “Hiện toàn tỉnh tỷ lệ đăng ký khai sinh cho các cháu mới đạt trên 60%. Năm ngoái, tại huyện Điện Biên Đông, qua rà soát trên 10.000 cháu thì còn hơn 6.000 cháu chưa được đăng ký khai sinh. Có những xã như: Keo Lôm còn 927 cháu, Pú Nhi 800 cháu, Phình Giàng 797 cháu chưa có giấy khai sinh
Việc không đăng ký khai sinh cho các cháu khiến công tác an ninh trật tự ở các địa bàn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn. Đại úy Vũ Mạnh Hà – Phó trưởng phòng Công tác Chính trị PX 15, Công an tỉnh Điện Biên cho biết: “Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, làn sóng di dân ở một số tỉnh ào ạt đổ về các xã giáp biên giới Việt- Lào (chủ yếu thuộc hai huyện Mường Nhé và Mường Chà). Qua các đợt ra quân tăng cường cơ sở, lực lượng công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành đăng ký hộ khẩu cho dân di cư tự do, phát hiện quá nửa trong tổng số 27.000 người không có giấy khai sinh…”. Cũng theo Đại úy Vũ Mạnh Hà, một trong những nguyên nhân khiến nhiều người không đăng ký khai sinh cho con em mình là do bị kẻ xấu tuyên truyền, kích động gây mất đoàn kết dân tộc, khiến cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Đâu là nguyên nhân?
Về mặt khách quan, do địa bàn miền núi, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn từ xã đến bản có nơi phải mất vài ngày đi bộ, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, nên nhiều người ngại không đi đăng ký khai sinh cho con em mình. Nhưng về mặt chủ quan, cũng thấy rằng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật của ta còn nhiều bất cập, việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức.
Theo bà Vũ Thị Bích Phượng, Trưởng phòng Hành chính – Bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên, ngoài những nguyên nhân nói trên, còn do trình độ hạn chế của cán bộ tư pháp cơ sở. Số cán bộ tư pháp cơ sở chưa qua đào tạo trung cấp chiếm khoảng hơn 60%. Trước thực trạng này, UBND tỉnh Điện Biên đã mở các lớp bồi dưỡng cấp tốc về nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp cơ sở, nhưng xem ra cũng không cải thiện được tình hình là mấy. Các xã vùng sâu, vùng xa vẫn phải sử dụng đội ngũ cán bộ không có trình độ tư pháp để làm việc. Và điều này cũng đồng nghĩa với việc công tác tư pháp ở một số cơ sở đang bị thả nổi, chưa thể giải quyết một sớm một chiều.
Do trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế, nên tại một số địa bàn đã phát hiện nhiều sai sót trong việc đăng ký và cấp giấy khai sinh. Một số trường học vùng sâu, vùng xa mua biểu mẫu sau đó ra xã xin cấp đồng loạt giấy khai sinh cho các cháu để bổ sung vào học bạ. Kiểu “hợp lý hoá” này vô hình trung đã làm giấy tờ nhân thân bị sai lệch, sau này có việc liên quan đến học tập, công tác, chữa bệnh… dân chạy ngược chạy xuôi, gõ đủ các “cửa” nhưng vẫn không được giải quyết.
Điều 11 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (sửa đổi) quy định rõ: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”… Tuy vậy, nhiều trẻ em vùng sâu, vùng xa ở Điện Biên vẫn chưa được đăng ký khai sinh. Thiết nghĩ các cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc. Coi việc làm tốt công tác hộ tịch, hộ khẩu, đăng ký khai sinh là một trong những tiêu chuẩn để được công nhận làng bản văn hoá. Bồi dưỡng, củng cố đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở ngày càng hoàn thiện về trình độ, nghiệp vụ; nghiên cứu cải tiến mẫu sổ, sách, giấy tờ về hộ tịch theo hướng đơn giản hoá, đảm bảo độ bền của giấy tờ hộ tịch trước tình hình thời tiết khắc nghiệt vùng cao. Nên chăng, các cơ quan chức năng cần có kế hoạch cấp giấy khai sinh miễn phí cho tất cả trẻ em vùng sâu, vùng xa? Dù số tiền không nhiều, nhưng với bà con nghèo, đó cũng là nguồn động viên, mà hiệu quả xã hội của nó vượt ra ngoài giá trị vật chất.

Hoàng Thanh

BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

BẢO HIỂM BẮT BUỘC ĐỐI VỚI CHỦ XE CƠ GIỚI CHƯA HIỆU QUẢ

NGUYỄN HÀ

Tai nạn giao thông (TNGT) gia tăng đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Việc hạn chế và khắc phục hậu quả TNGT cần có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức và người dân. Bên cạnh các biện pháp phòng ngừa TNGT thì giải pháp khắc phục hậu quả thiệt hại do TNGT gây ra như yêu cầu bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là rất cần thiết.

Chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới được quy định tại Nghị định số 30/1988/NĐ-HĐBT ngày 10.3.1988 của Hội đồng Bộ trưởng. Sau gần 10 năm thực hiện, Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 115/1997/NĐ-CP ngày 17.12.1997 của Chính phủ. Từ khi Nghị định 115 có hiệu lực, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quy định vẫn chưa triệt để. Những người tham gia giao thông bằng phương tiện cơ giới chưa quan tâm đến việc mua bảo hiểm bắt buộc. Theo thống kê, mới chỉ có 80% lượng ô tô và 30% xe máy tham gia mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự. Trong khi đó, mỗi ngày ở nước ta có tới trên 30 người tử vong do tai nạn giao thông (TNGT). Chỉ tính riêng năm 2006, số người tử vong do TNGT lên tới 13 nghìn người. Số liệu của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cũng cho thấy, 6 tháng đầu năm 2007 đã xảy ra hơn 7.600 vụ TNGT, làm chết gần 7.000 người. Để giảm tải và khắc phục hậu quả tai nạn giao thông, vừa qua Bộ tài chính đã ban hành Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC ngày 9.4.2007 thay thế Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25.2.2003 về việc ban hành chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Quyết định số 23/2007 đã quy định rõ: Các doanh nghiệp có trách nhiệm trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự thực thu hàng năm, đóng góp vào quỹ tuyên truyền và bảo đảm an toàn giao thông đường bộ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam quản lý và sử dụng, Quyết định mới cũng thay đổi các trường hợp loại trừ bảo hiểm theo hướng mở rộng phạm vi bảo hiểm. Khác với quy định trước đây, Quy tắc bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) chủ xe cơ giới ban hành kèm theo QĐ 23/2007 không đưa vào phần loại trừ bảo hiểm 4 trường hợp tai nạn xảy ra khi: Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường; Lái xe có nồng độ cồn vượt quá quy định của pháp luật hiện hành; Xe sử dụng để đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa; Xe đi vào đường cấm. Dư luận cho rằng điểm mới này không có tác dụng kiềm chế TNGT. Trong quy tắc bảo hiểm ban hành theo QĐ 23/2003, trường hợp chủ xe tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một xe cơ giới thì khi xảy ra tai nạn, số tiền bồi thường đối với cả thiệt hại về người và thiệt hại về tài sản chỉ được tính trên 1 hợp đồng bảo hiểm. Nhưng theo QĐ 23/2007, trong trường hợp này số tiền bồi thường đối với thiệt hại về người tối đa sẽ là tổng mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại về người của các hợp đồng bảo hiểm, không vượt quá số tiền thực tế mà chủ xe phải bồi thường cho các nạn nhân và được chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm. Quy định này hạn chế sự bất hợp lý của quy tắc bảo hiểm cũ và chủ xe được hưởng sự bảo đảm lớn hơn, công bằng hơn. Còn quy tắc bảo hiểm cũ quy định mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu đối với thiệt hại về người cho cả xe mô tô và xe ô tô là 30 triệu/1người/vụ. Nhưng trên thực tế nhiều trường hợp chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân đối với thiệt hại về người lớn hơn mức trách nhiệm tối thiểu đó, nên quy tắc bảo hiểm theo QĐ 23/2007 đã nâng mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu đối với xe ô tô thành 50 triệu/người/vụ và 50 triệu/tài sản/vụ.
Những quy định mới của QĐ 23/2007 đã phù hợp hơn với yêu cầu thực tế. Tuy nhiên, từ khi QĐ 23/2007 có hiệu lực thi hành đến nay, việc thực hiện bảo hiểm TNDS của các chủ xe cơ giới vẫn ở mức thấp, theo thống kê tại các địa phương cho thấy, số xe ô tô tham gia bảo hiểm vẫn chỉ dừng ở mức 80% ( trừ xe công an, quân đội và xe không lưu hành); Số xe máy tham gia bảo hiểm ở từng địa phương chỉ nhích hơn so với trước đây 5%. Để những quy định về bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới được thực hiện có hiệu quả, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần kiểm tra và xử lý nghiêm các chủ xe cơ giới không chấp hành việc tham gia bảo hiểm TNDS; Thành lập hệ thống thanh tra bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới thực hiện kiểm tra định kỳ theo quy định… Đồng thời, ngành bảo hiểm phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, kết hợp thực hiện các chương trình hành động mà Chính phủ đã đề ra cho các cấp, bộ, ngành và nhân dân; chủ động tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp các biện pháp cưỡng chế của cơ quan chức năng… để thực hiện nghiêm túc Quyết định 23/2007.

SOURCE: Báo Người đại biểu nhân dân

TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐẾN CUỐI NĂM 2005

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thí điểm từ tháng 6 năm 1992. Tính đến ngày 31/12/2005, cả nước đã cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66,0% ; ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6,4%. Phân theo chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 61,7%; thuộc các Bộ, ngành chiếm 29%; thuộc các tổng công ty 91 chiếm 9,3%. Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5tỷ đồng chiếm 54,0%; từ 5-10tỷ đồng chiếm 23,0%; trên 10tỷ đồng chiếm 23,0%.

Đơn vị có nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa là các Bộ; Bộ Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giáo thong vận tải; thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội; các tỉnh: Khánh Hòa, Nam Định; Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa; các tổng công ty: Bưu chính viễn thông, Hóa chất. Tuy nhiên, có nhiều đơn vị triển khai cổ phần hóa chậm như các Tổng công ty: Công nghiệp tàu thủy, Xi măng, Dầu khí; các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Lai Châu.

Công tác sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh hơn sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương, Tổng công ty 91 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX). Giai đoạn này (2001-2005), cả nước sắp xếp được 3.590 doanh nghiệp nhà nước, trong đó đã cổ phần hóa 2.347 doanh nghiệp nhà nước, bằng gần 80% toàn bộ doanh nghiệp đã cổ phần hóa; hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (2.347 doanh nghiệp /2.258 doanh nghiệp).

Nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các Bộ, ngành địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quân đạt 17,11%. Cổ phần hóa tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp.

Tuy đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận nêu trên nhưng so với yêu cầu và mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX thì việc cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp còn gặp phải những hạn chế sau:

– Việc cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hang thực hiện còn chậm.

– Các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế. Thời kỳ đầu do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài nên số vốn huy động ngoài xã hội vào sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa.

– Thời gian thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp còn dài làm tiến độ cổ phần hóa chậm.

– Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cố phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thong. Việc thu hút vốn cổ đông ngoài doanh nghiệp mới đạt 24,1% vốn điều lệ; mới có trên 20 công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài; các cổ đông chiến lược vì thế cũng không có nhiều cơ hội để tham gia vào phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc người lao động trong một số doanh nghiệp bán bớt cổ phần ưu đãi sau khi mua đã làm giảm tác dụng của chính sách khuyến khích người lao động có cổ phần trong doanh nghiệp cổ phần hóa.

– Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới thực sự trong quản trị công ty; phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như doanh nghiệp nhà nước. Hạn chế này rõ nhất là ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cố phần chi phối, ban lãnh đạo của doanh nghiệp đều tư doanh nghiệp nhà nước trước đó chuyển sang.

– Trong một số công ty cổ phần, người lao động – cổ đông do nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy, ngược lại có nơi lạm quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng … vẫn còn áp dụng như doanh nghiệp nhà nước.

– Một số công ty cổ phần kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt thấp, chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực điều kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, lại không được xử lý dứt điểm những tồn tại về tài chính khi còn là doanh nghiệp nhà nước.

Về phương hướng, nhiệm vụ cổ phần doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010: Tiếp tục cổ phần hóa các công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, địa phương; Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm.

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

BÁO CÁO THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội, ngày 13 tháng 10 năm 2006, Uỷ ban pháp luật đã họp toàn thể để thẩm tra dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình theo Tờ trình số 2376 TTr/UBXH ngày 12 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội. Sau khi nghe Đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội, Trưởng ban soạn thảo trình bày dự án Luật, các thành viên Uỷ ban pháp luật đã thảo luận. Sau phiên họp thẩm tra, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, tiếp thu nhiều ý kiến của Ủy ban pháp luật để hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội tại kỳ họp này như bỏ quy định về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi bạo lực trong gia đình gây ra tại các Điều 5 và Điều 6; bỏ quy định về việc Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định cấm tiếp xúc với nạn nhân trong thời hạn không quá 4 tháng và bỏ thẩm quyền của Công an cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc không quá 3 ngày quy định tại Điều 18; đồng thời nhiều điều khoản đã được chỉnh lý lại cho chặt chẽ hơn. Dưới đây, Uỷ ban pháp luật xin trình Quốc hội Báo cáo thẩm tra về dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

I. MỘT SỐ Ý KIẾN CHUNG

Theo Tờ trình của Ủy ban về các vấn đề xã hội về kết quả khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo của các cơ quan, tổ chức hữu quan thì tình trạng bạo lực trong gia đình ở nước ta đã đến lúc báo động. Bạo lực trong gia đình xảy ra ở nhiều nơi trong cả nước, ở các đối tượng có trình độ, nhận thức khác nhau và đã để lại những hậu quả nặng nề, tác động xấu đến đời sống xã hội, đến cộng đồng, nhưng nghiêm trọng hơn đó là sự vi phạm quyền con người, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và tính mạng của người dân mà chủ yếu là phụ nữ. Nguyên nhân gây ra bạo lực trong gia đình rất đa dạng, phụ thuộc vào quá trình giáo dục, trình độ nhận thức, văn hóa ứng xử và hoàn cảnh sống của mỗi người, kể cả sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội.

Qua thảo luận, nhiều thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với Ủy ban về các vấn đề xã hội là trước tình hình thực tế về bạo lực trong gia đình như đã nêu trên, việc ban hành luật là cần thiết và sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như thái độ ứng xử của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư và cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, góp phần bảo vệ hạnh phúc, sự phát triển lành mạnh của mỗi gia đình. Bên cạnh đó cũng có nhiều thành viên Ủy ban pháp luật cho rằng không cần thiết phải ban hành Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình, vì vấn đề này có liên quan đến nhiều lĩnh vực và đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành như Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh người cao tuổi, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính… Các văn bản pháp luật đó đã quy định khá đầy đủ các biện pháp để khắc phục, hạn chế và trừng phạt người có hành vi bạo lực trong gia đình ở nước ta. Nay nếu lại ban hành Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình thì một số quy định của dự án Luật sẽ trùng lắp với quy định của các văn bản pháp luật đã nêu, nhất là cơ quan trình dự án Luật lại chưa tổng kết việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan tới việc chống bạo lực trong gia đình.

Ủy ban pháp luật nhận thấy, Ban soạn thảo đã có rất nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, tham khảo pháp luật và tổ chức một số đoàn đi khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống bạo lực trong gia đình của một số nước để xây dựng dự án Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình. Trong quá trình soạn thảo, Ban soạn thảo đã tổ chức lấy ý kiến của nhiều cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương và đã gửi Chính phủ cho ý kiến. Song đa số thành viên Ủy ban pháp luật còn rất băn khoăn về tính khả thi của Luật này. Bởi vì, bạo lực trong gia đình là một vấn đề xã hội, thể hiện lối sống thiếu trách nhiệm, việc ứng xử thiếu văn hóa trong gia đình, phản ánh sự suy thoái về đạo đức của một số thành viên trong gia đình. Xét trên tổng thể thì có thể thấy rằng, những vụ bạo lực trong gia đình còn xảy ra là do công tác quản lý xã hội của Nhà nước kém hiệu quả; các tổ chức, đoàn thể xã hội chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; trong khu dân cư vẫn còn những người sống theo quan điểm “đèn nhà ai nhà nấy rạng”. Như vậy, việc khắc phục tình trạng bạo lực trong gia đình đòi hỏi phải sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ, cả về kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, pháp luật và phải mang tính toàn diện. Những biện pháp phòng ngừa và xử lý về mặt pháp luật quy định trong dự thảo Luật về cơ bản đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Trong khi đó một số quy định mới như các hành vi bạo lực trong gia đình, các biện pháp liên quan như việc cấm tiếp xúc với nạn nhân, giáo dục tại cộng đồng, các nguồn lực bảo đảm cho việc thực hiện kể cả về tài chính, địa chỉ tin cậy, sự chăm sóc của cộng đồng .v.v. được xây dựng không xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội và phong tục tập quán, tâm lý của người Việt Nam mà dựa trên cơ sở kết quả các chuyến nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm ở nước ngoài, luật pháp của nước ngoài. Vì vậy, những người có ý kiến này e rằng nếu áp dụng một số biện pháp xử lý quy định trong dự thảo Luật có thể làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong gia đình, không có tác dụng cho việc hàn gắn quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, chẳng hạn như biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình quy định tại Điều 18 dự thảo Luật.

Bên cạnh đó cũng có một số thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với dự thảo Luật vì cho rằng, các quy định của dự thảo Luật khi được triển khai trên thực tế sẽ góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn, đẩy lùi bạo lực trong gia đình, chẳng hạn, các quy định về công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan sẽ góp phần nâng cao nhận thức, hành vi ứng xử của con người trong đời sống gia đình, về truyền thống, đạo lý gia đình Việt Nam. Các biện pháp từ giáo dục tại cộng đồng, cấm tiếp xúc giữa người gây bạo lực trong gia đình với nạn nhân cho đến việc xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình có tác dụng giáo dục, răn đe, góp phần hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng bạo lực trong gia đình.

II. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Tờ trình của Ủy ban về các vấn đề xã hội thì đối tượng áp dụng Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình không chỉ áp dụng đối với các thành viên gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình mà còn áp dụng với những đối tượng là nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn nhưng chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn lại.

Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành với đối tượng áp dụng của dự thảo Luật vì cho rằng, việc bảo vệ nạn nhân do bạo lực trong gia đình trước hết là đối với những thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau và những người có quan hệ tình cảm gần gũi khác. Bởi vì, thực tế cho thấy, từ nhiều lý do khác nhau nên có nhiều nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới hoặc không tổ chức cưới nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng, nhất là ở những vùng mà điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn. Có những trường hợp tuy đã ly hôn song vẫn ở với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn lại; trong cuộc sống đã xảy ra nhiều vụ bạo lực giữa họ, nếu không áp dụng quy định của luật này nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý người có hành vi bạo lực thì vô hình chung Nhà nước ta bỏ lọt đối tượng này, không bảo vệ nạn nhân của hành vi bạo lực trong gia đình. Việc quy định như trong dự thảo Luật chỉ là vấn đề áp dụng pháp luật, không có nghĩa là thừa nhận tình trạng hôn nhân này.

Nhiều ý kiến khác không tán thành việc mở rộng đối tượng áp dụng Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình, vì cho rằng Điều 41 của dự thảo Luật quy định áp dụng cả đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng là Nhà nước đã gián tiếp thừa nhận tình trạng không đăng ký kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau, như vậy là trái với quy định chấm dứt tình trạng hôn nhân thực tế. Mặt khác, khi có hành vi bạo lực xảy ra giữa các đối tượng quy định tại Điều 41 của dự thảo Luật không thể xác định trường hợp nào là bạo lực trong gia đình và trường hợp nào là bạo lực ngoài xã hội để có biện pháp xử lý thích hợp. Về mặt pháp luật, quan hệ giữa những người này không phải là quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Do đó khi đã quy định rõ đối tượng áp dụng luật tại khoản 2 Điều 1 thì phải bỏ Điều 41 của dự thảo Luật. Tương tự như vậy, đối với người nước ngoài có hành vi bạo lực trong gia đình cũng không thể áp dụng nhiều biện pháp xử lý quy định trong dự thảo Luật như cấm tiếp xúc với nạn nhân (Điều 18) chứ không phải chỉ những quy định tại Điều 42 của dự thảo Luật.

2. Về các hành vi bạo lực trong gia đình (Điều 3)

Qua thảo luận, đa số thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với việc quy định cụ thể các hành vi bạo lực trong gia đình tại Điều 3 của dự thảo Luật và cho rằng quy định như vậy bảo đảm tính minh bạch, thuận tiện khi áp dụng, nhất là đối với công tác tuyên truyền, giáo dục và xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình. Cách quy định này cũng tương tự như quy định liệt kê về các hành vi tham nhũng trong Luật phòng, chống tham nhũng mới được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, về các hành vi cụ thể thì đề nghị cần rà soát lại để vừa bảo đảm chặt chẽ, không bỏ lọt hành vi nhưng cũng không trùng lặp và cho rằng các hành vi bạo lực trong gia đình có mối quan hệ với nhau, có trường hợp hành vi này là hệ quả của hành vi khác, có hành vi mang tính khái quát chung, nhưng cũng có hành vi rất cụ thể.

Về hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục và có hành vi khác xâm phạm đến đời sống tình dục (khoản 5 Điều 3), qua thảo luận có ý kiến tán thành với quy định trong dự thảo Luật nhưng nhiều ý kiến cho rằng, hành vi bạo lực tình dục trong gia đình ở nước ta tuy có xảy ra nhưng lại được coi là chuyện riêng trong mỗi gia đình, do đó cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm cũng không thể biết được để xem xét, xử lý. Hơn nữa rất khó thu thập căn cứ để xác định một người có hành vi bạo lực tình dục trong gia đình. Vì vậy, đề nghị bỏ quy định tại khoản 5 Điều 3 của dự thảo Luật; trong trường hợp xảy ra hành vi bạo lực về tình dục mà xét thấy cần thiết và có thể xử lý được thì xem đó như là một hình thức bạo lực về thể chất, tinh thần.Mặt khác, nếu xác định hành vi “cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc có hành vi khác xâm phạm đến đời sồng tình dục” (khoản 5 Điều 3), “cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” (khoản 6 Điều 3) là những hành vi bạo lực trong gia đình thì liệu những đối tượng quy định tại Điều 40 của dự thảo Luật mà có những hành vi trên đây lại xử lý theo quy định của luật này đã hợp lý chưa hay phải theo quy định của Bộ luật hình sự? Tương tự như vậy, về những hành vi bạo lực về kinh tế được quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 3 của dự thảo Luật, cũng cần phải xem xét lại để phân định rõ hành vi bạo lực trong gia đình và hành vi phạm tội. Bởi vì tính chất, mức độ của từng hành vi như chiếm đoạt, kiểm soát…là rất đa dạng. Do đó, quy định như trong dự thảo Luật vừa thừa, vừa thiếu lại không chính xác.

Có ý kiến cho rằng, sự phân biệt các hành vi bạo lực trong gia đình chỉ mang tính tương đối, vì giữa các hành vi có mối quan hệ với nhau. Chẳng hạn, những tác động của hành vi bạo lực về thể chất có ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần, những hành vi xâm phạm tình dục sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần của nạn nhân…Do đó, nên khái quát quy định hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần phù hợp với các quy định khác trong văn bản pháp luật hiện hành.

3. Về quyết định cấm người có hành vi bạo lực tiếp xúc với nạn nhân của bạo lực trong gia đình

Theo Tờ trình thì trong trường hợp khẩn cấp và theo yêu cầu của nạn nhân hay người đại diện hợp pháp của nạn nhân, cơ quan, tổ chức, để bảo vệ sự an toàn cho nạn nhân thì cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong một thời hạn nhất định giữa người gây bạo lực trong gia đình với nạn nhân.

Qua thảo luận, Ủy ban pháp luật cho rằng, bảo vệ nạn nhân của bạo lực trong gia đình nhằm phòng ngừa hậu quả xấu có thể gây tác hại đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân là một yêu cầu thực tế, là trách nhiệm của Nhà nước, của gia đình và cộng đồng xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp các vụ bạo lực trong gia đình đã không bị phát hiện, các nạn nhân của bạo lực trong gia đình thường âm thầm chịu đựng, thậm chí họ còn cố gắng che giấu thông tin; có trường hợp hành vi bạo lực trong gia đình diễn ra thường xuyên nhưng nạn nhân không được giúp đỡ, bảo vệ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, bên cạnh việc khuyến khích nạn nhân tố cáo hành vi bạo lực trong gia đình thì cần có biện pháp kịp thời để bảo vệ họ. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực trong gia đình cần được quy định cụ thể hơn và cũng cần tính đến điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta, đến khả năng của cộng đồng dân cư cũng như phong tục tập quán trong quan hệ gia đình và bảo đảm sự phù hợp với đời sống gia đình Việt Nam và tính khả thi của quy định này.

a) Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân của hành vi bạo lực trong gia đình theo quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền (Điều 18)

Tại Điều 18 của dự thảo Luật quy định Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (cấp xã) có quyền áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn 3 ngày giữa người có hành vi bạo lực trong gia đình với nạn nhân bằng cách “buộc người có hành vi bạo lực gia đình rời khỏi nơi ở chung với nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc theo yêu cầu của nạn nhân” (khoản 3 Điều 18). Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành cần có biện pháp này. Song nhiều ý kiến khác còn rất băn khoăn vì biện pháp cách ly các bên không cùng ở chung với nhau vẫn khó có thể đảm bảo cho người có hành vi bạo lực không thể tiếp cận hoặc liên hệ với nạn nhân. Mặt khác, trong trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình là chủ sở hữu ngôi nhà mà họ đang ở thì không thể đưa họ khỏi nhà đó vì phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ. Thực tế phát triển kinh tế – xã hội hiện nay ở nước ta cho thấy, gia đình là một thể thống nhất, mọi thành viên trong gia đình đều phải chung sức chăm lo các công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái. Do đó, việc cách ly sẽ gây xáo trộn rất lớn trong gia đình và hậu quả của việc này là không thể lường hết được. Mặt khác, việc cách ly người có hành vi bạo lực trong gia đình với nạn nhân liên quan đến quyền cơ bản của công dân nên trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp này phải hết sức chặt chẽ, cơ quan nào tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện biện pháp cách ly này; nếu người có hành vi bạo lực vẫn tiếp xúc nạn nhân thì xử lý thế nào? Trong trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình không đồng ý với quyết định áp dụng biện pháp này thì có quyền khiếu nại hay không? thẩm quyền giải quyết, trình tự, thủ tục khiếu nại được thực hiện ra sao? quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân là quyết định thuộc loại gì, có phải là quyết định xử lý vi phạm hành chính không?

b) Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân của bạo lực trong gia đình theo quyết định của Tòa án (Điều 19)

Điều 19 của dự thảo Luật quy định: “Trong quá trình thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người gây bạo lực gia đình, Tòa án có thẩm quyền ra quyết định cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình trong thời hạn không quá 4 tháng”.

Qua thảo luận có một số ý kiến tán thành với quy định trên đây của dự thảo Luật và cho rằng, để bảo vệ sự an toàn của nạn nhân, tránh dẫn đến xung đột lớn hơn và gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân thì cần phải giao cho Tòa án thẩm quyền quyết định cấm người có hành vi bạo lực trong gia đình tiếp xúc với nạn nhân dưới mọi hình thức. Quy định này cũng đáp ứng đòi hỏi trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án trong thời gian vừa qua liên quan đến hành vi bạo lực trong gia đình. Đồng thời đề nghị bổ sung cụm từ “khẩn cấp tạm thời” sau cụm từ “ra quyết định” cho phù hợp với quy định tại Điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nhiều ý kiến còn rất băn khoăn và đề nghị cần cân nhắc kỹ khi đưa ra quy định về biện pháp này, nhất là về tính khả thi của nó khi mà điều kiện cơ sở vật chất, về chỗ ở, sinh hoạt của nhân dân còn nhiều khó khăn. Hơn nữa, với thời gian cách ly 4 tháng thì không chỉ ảnh hưởng tới công việc chung của gia đình mà còn ảnh hưởng tới sự hàn gắn lại tình cảm giữa các thành viên trong gia đình. Đồng thời, theo ý kiến này, nếu coi đây là một biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động tố tụng dân sự thì cũng cần phải quy định thật cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp này và cơ quan nào có quyền ban hành văn bản trên đây.

III. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ KHÁC

1. Về tên gọi của Luật

Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng, “bạo lực gia đình” là một khái niệm mới. Vì vậy, để việt hóa và phù hợp hơn với ngôn ngữ Việt Nam, nên bổ sung từ “trong” thành “bạo lực trong gia đình” và do đó cần sửa lại tên luật là “ Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình” cho chính xác. Tên gọi này cũng phù hợp với những nội dung cơ bản của dự thảo Luật và Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội.

Bên cạnh đó, có ý kiến khác băn khoăn về tên gọi của Luật vì cho rằng, khái niệm “bạo lực” được hiểu là dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa này thì khái niệm bạo lực trong gia đình là hẹp, không bao quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật là hành vi bạo lực về cả thể xác, tinh thần và kinh tế. Do đó đề nghị lấy tên gọi của luật là “Luật phòng, chống bạo hành trong gia đình”.

2. Về bố cục của dự thảo Luật

Dự thảo Luật trình Quốc hội gồm 6 chương với 43 điều. Qua thảo luận có nhiều ý kiến tán thành với bố cục của dự thảo Luật. Tuy nhiên, có một số ý kiến đề nghị bỏ Điều 7 quy định về chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực trong gia đình vì nhiều quy định cụ thể của dự thảo lại không phù hợp. Hơn nữa, chính sách về đấu tranh phòng, chống bạo lực trong gia đình đã được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Có ý kiến đề nghị bỏ Chương III quy định về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, đồng thời đưa các điều khoản có tính chất phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực trong gia đình về Chương II (phòng ngừa bạo lực trong gia đình), đưa các điều khoản có tính chất xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình về Chương V (xử lý hành vi bạo lực trong gia đình và các hành vi vi phạm pháp luật khác) và đưa các điều khoản về cơ sở trợ giúp nạn nhân vào Chương IV (trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan trong phòng, chống bạo lực trong gia đình).

3. Về giải thích từ ngữ (Điều 2)

Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng có một số cụm từ không chỉ cần được giải thích, làm rõ nghĩa mà nó còn chứa đựng nội dung, quy phạm pháp luật, do đó đề nghị tách các khoản giải thích về: bạo lực gia đình; thành viên gia đình; địa chỉ tin cậy, .v.v. để quy định thành nội dung của các điều khoản riêng ngay trong các Chương và bỏ Điều 3 về giải thích từ ngữ.

4. Về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân của bạo lực gia đình (Điều 6)

Qua thảo luận, có ý kiến đề nghị bổ sung quyền của nạn nhân của bạo lực gia đình trước hết là “được sử dụng các quyền hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình”. Đồng thời, đề nghị cân nhắc tính khả thi của quy định nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình phải “cung cấp thông tin trung thực, chính xác cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi có yêu cầu”. Bởi lẽ một số hành vi liên quan đến bạo lực trong gia đình cần được thông tin mà theo tập quán, truyền thống gia đình Việt Nam vốn được coi là chuyện riêng của mỗi người, nhất là những thông tin liên quan đến đời sống tình cảm vợ chồng, đến bạo lực về tình dục.

5. Về đối tượng cần được quan tâm trong hoạt động giáo dục, tư vấn về gia đình (khoản 3 Điều 12)

Về khoản 3 Điều 12 của dự thảo Luật quy định về các đối tượng cần được quan tâm trong hoạt động giáo dục, tư vấn về gia đình, có ý kiến cho rằng, cách liệt kê các đối tượng như dự thảo Luật dễ gây tâm lý đánh đồng giữa người có hành vi bạo lực trong gia đình với những người khác. Một số ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì cho rằng công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn về bạo lực trong gia đình được áp dụng cho mọi đối tượng và mang tính thường xuyên nhằm phòng ngừa bạo lực trong gia đình, không nên có sự phân biệt đối xử giữa các đối tượng này.

6. Về biện pháp giáo dục tại cộng đồng (Điều 14)

Theo dự thảo Luật, đây là một hình thức giáo dục tại cộng đồng và không phải là biện pháp xử lý hành chính. Tuy nhiên, Ủy ban pháp luật thấy rằng, việc thực hiện hình thức này thế nào thì cần được giải trình rõ hơn. Chẳng hạn ai là người có quyền triệu tập người có hành vi bạo lực? nếu họ không chấp hành thì có biện pháp cưỡng chế hay không? Thành phần tham gia cuộc họp này là ai? có bắt buộc họ phải tham gia hay không? Hơn nữa, tổ dân phố, thôn, làng, bản, ấp là hình thức tự quản, quy mô dân số, thành phần dân cư gồm cả gia đình cán bộ cao, trung cấp cũng rất khác nhau nên không thể quy định một cách chung như trong dự thảo Luật. Đây là những nội dung cần được làm rõ, nếu không sẽ rất khó tổ chức thực hiện.

7. Về hỗ trợ khẩn cấp, bảo đảm nhu cầu thiết yếu (Điều 22)

Tại Điều 22 của dự thảo Luật quy định về việc hỗ trợ cho nạn nhân của bạo lực trong gia đình các nhu cầu thiết yếu về sinh hoạt cá nhân và nhà ở tạm thời trong trường hợp cần thiết khi nạn nhân yêu cầu.

Qua thảo luận, đa số ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ quy định này vì trên thực tế bạo lực trong gia đình có thể xảy ra ở mọi nơi, bất cứ lúc nào. Như vậy, để bảo đảm cho quy định này được thực thi thì phải chuẩn bị sẵn về chỗ ở, các nhu cầu thiết yếu phục vụ sinh hoạt và kinh phí để đáp ứng yêu cầu của nạn nhân. Đây là vấn đề không đơn giản và không khả thi. Do đó nếu chấp nhận điều này thì cần phải quy định cụ thể về trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, nhất là về nguồn kinh phí.

8. Về cơ sở hỗ trợ nạn nhân của bạo lực gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình (Điều 26)

Theo quy định tại Điều 26 của dự thảo Luật thì Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia và thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình. Như vậy ngoài cơ sở y tế Nhà nước và cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước hiện đang tồn tại và được coi là cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 24, Điều 25) thì cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình và cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực trong gia đình là những loại hình mới, chưa có ở nước ta. Ủy ban pháp luật đề nghị cần làm rõ ngay trong Luật này tổ chức, cá nhân nào, với điều kiện nào thì được thành lập cơ sở hỗ trợ, cơ sở tư vấn, nhất là về địa vị pháp lý, phạm vi, hình thức tổ chức, nội dung hoạt động cũng như quyền, nghĩa vụ của các cơ sở này; đồng thời, cân nhắc kỹ quy định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia và thành lập các cơ sở này. Đối với quy định Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thành lập và phục vụ hoạt động của một số cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình, Uỷ ban pháp luật đề nghị làm rõ cơ sở nào thì được hỗ trợ, cơ sở nào thì không được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện.

9. Về địa chỉ tin cậy (Điều 27)

Theo quy định của dự thảo Luật thì địa chỉ tin cậy là một trong những cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực trong gia đình. Ủy ban pháp luật nhận thấy, tương tự như cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình, địa chỉ tin cậy cũng là một mô hình mới, chưa hề có ở nước ta, nhưng dự thảo Luật cũng chưa làm rõ quyền, trách nhiệm của địa chỉ tin cậy khi thực hiện nhiệm vụ. Những quy định trong dự thảo mới chỉ phác họa ý muốn chủ quan của cơ quan soạn thảo. Vì vậy, Ủy ban pháp luật đề nghị cần cân nhắc và nghiên cứu kỹ hơn về quy định này nhằm bảo đảm tính khả thi.

10. Về các hình thức xử phạt (khoản 3 Điều 36)

Tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều 36 của dự thảo Luật quy định người có hành vi bạo lực trong gia đình có thể bị áp dụng biện pháp lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày hoặc tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi. Ủy ban pháp luật thấy rằng đây là hai hình thức xử lý mới trong hệ thống biện pháp xử lý vi phạm pháp luật hiện hành. Vì vậy cần được cân nhắc kỹ hơn. Trong trường hợp chấp nhận biện pháp này thì cũng cần quy định cụ thể về cơ quan chịu trách nhiệm cũng như về trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện các hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng, giáo dục bắt buộc và cả trình tự, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại nữa.

11. Về tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính (Điều 37)

Nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc về các tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 37 của dự thảo Luật vì trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình bị xử lý vi phạm hành chính thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị phải cân nhắc kỹ hơn khi quy định các tình tiết tăng nặng trong xử lý hành vi bạo lực trong gia đình.

Ngoài các vấn đề nêu trên, Ủy ban pháp luật còn thảo luận, góp ý kiến về nhiều điều, khoản cụ thể khác của dự thảo Luật. Về những nội dung cần được quy định chi tiết, Ủy ban pháp luật thấy rằng, để Luật được thực hiện ngay khi có hiệu lực theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì còn rất nhiều vấn đề cần được Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan của Chính phủ trao đổi làm rõ để quy định chi tiết ngay trong luật hoặc chuẩn bị dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành trình Quốc hội xem xét khi Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật này.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo thẩm tra dự án Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình. Ủy ban pháp luật xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

TM. ỦY BAN PHÁP LUẬT

Chủ nhiệm

(đã ký)

Vũ Đức Khiển

TỜ TRÌNH DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

KÍNH GỬI: Các vị Đại biểu Quốc hội

Thực hiện Nghị quyết số 49/2005/QH11 ngày 19/11/2005 của Quốc hội khoá XI về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ xây dựng và trình dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Ban soạn thảo dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình do Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội làm trưởng ban; các thành viên là đại diện Hội đồng dân tộc; Uỷ ban VH-GD-TNTN&NĐ của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ban công tác lập pháp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Uỷ ban Dân số-Gia đình- Trẻ em, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, TƯ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TƯ Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, TƯ Mặt trận tổ quốc Việt nam, TƯ Hội người cao tuổi Việt Nam.

Sau đây, Uỷ ban về các vấn đề xã hội trình Quốc hội dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

I – SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Bạo lực gia đình diễn ra ở nhiều nơi, mọi đối tượng và gây hậu quả nghiêm trọng

a) Thực trạng bạo lực gia đình: Do chưa được sự quan tâm đúng mức và cũng chưa có cơ quan nào của Nhà nước chịu trách nhiệm về phòng, chống bạo lực gia đình cho nên hiện nay chưa có số liệu chính thức về tình hình bạo lực gia đình trong cả nước. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát chọn mẫu ở 8 tỉnh, thành phố[1] cũng như các báo cáo kết quả nghiên cứu về bạo lực gia đình cho thấy tình hình bạo lực gia đình xẩy ra khá nhiều ở mọi vùng miền và ở các nhóm đối tượng[2]. Kết quả khảo sát cho thấy, bên cạnh tình trạng bạo lực gia đình khá phổ biến giữa vợ và chồng, thì tình trạng con cháu ngược đãi ông bà, cha mẹ hoặc cha mẹ đối xử tàn tệ với con cái cũng khá nhiều[3]. Hàng ngày, trên phương tiện thông tin đại chúng cũng đã phản ánh tình hình bạo lực gia đình khá bức xúc.

Có nhiều nguyên nhân dân đến bạo lực gia đình, trong đó 60% nguyên nhân trực tiếp là do say rượu và mượn rượu, bên cạnh đó là nguyên nhân do kinh tế khó khăn, ngoại tình, thiếu hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa là do trong xã hội còn tồn tại tình trạng bất bình đẳng giới và tư tưởng gia trưởng (có quyền “dạy bảo” các thành viên yếu thế trong gia đình bằng vũ lực hoặc nhục mạ).

b) Hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình: Bạo lực gia đình đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ khoảng 2-3 ngày có 1 người bị giết có liên quan đến bạo lực gia đình[4]. Báo cáo của một số cơ sở y tế cho thấy một tỷ lệ khá lớn bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực gia đình[5].

Bạo lực gia đình làm xói mòn đạo đức, mất tính dân chủ xã hội và ảnh hưởng xấu đến thế hệ tương lai. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhiều gia đình, thế hệ con đã lặp lại hành vị bạo lực gia đình mà khi còn nhỏ chúng đã được chứng kiến. Bạo lực gia đình đang là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình Việt Nam. Theo báo cáo của Viện khoa học xét xử thuộc Toà án nhân dân tối cao, tại 42 tỉnh trong 5 năm (2000-2005) tòa án nhân dân tỉnh đã xét xử 10.608 vụ án hôn nhân và gia đình, trong đó 42% vụ án ly hôn có nguyên nhân từ bạo lực gia đình.

Ngoài hậu quả về xã hội, đạo đức và sự bền vững của gia đình, bạo lực gia đình còn gây ra những hậu quả về kinh tế như chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ nạn nhân, chi phí điều tra, truy tố, xét xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác liên quan đến tình trạng bệnh tật, mất khả năng tham gia lao động sản xuất của nạn nhân[6].

2- Đã có định hướng chỉ đạo, song còn thiếu quy định pháp lý cụ thể trong phòng, chống bạo lực gia đình

Ngày 21/2/2005, Ban bí thư TƯ Đảng đã có Chỉ thị số 49-CT/TW về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó nêu rõ tình hình bạo lực gia đình gia tăng làm ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta. Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam và một trong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và hoàn thiện pháp luật về .. dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội.

Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) đề ra nhiệm vụ “.. Đấu tranh phòng, chống bạo lực trong gia đình”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược xây dựng gia đình Việt nam giai đoạn 2005-2010, trong đó có mục tiêu tăng cường phòng, chống bạo lực trong gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15%.

Hiện nay việc điều chỉnh các mối quan hệ có liên quan đến bạo lực gia đình được quy định tại nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 1992, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ Luật Dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh người cao tuổi… Tuy nhiên thực tiễn thi hành cho thấy một số bất cập sau đây:

a) Hiệu quả thực hiện các quy định hiện hành còn hạn chế: Thực tiễn cho thấy, gia đình là chế định đặc thù mang nặng tình cảm và sự thân thiết, mang tính huyết thống, có sự ràng buộc rất đặc biệt do đó rất nhiều người, kể cả cán bộ, công chức coi bạo lực gia đình là chuyện nội bộ của gia đình, ít áp dụng những quy định hiện hành có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình để ngăn ngừa từ sớm. Ngay cả nạn nhân bạo lực gia đình do xấu hổ, sợ bị miệt thị, trả thù hoặc vì phụ thuộc về kinh tế nên âm thầm chịu đựng, chỉ khi nào không thể chịu đựng hơn nữa mới dám nói ra hoặc có thể có hành động tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng, lúc đó chính quyền, cơ quan bảo vệ pháp luật mới vào cuộc và trong nhiều trường hợp thì đã muộn.

b) Thiếu những quy định pháp lý đặc thù, cụ thể như sau:

– Chưa có định nghĩa pháp lý về bạo lực gia đình;

– Chưa xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình;

– Chưa có quy định pháp lý về biện pháp đặc thù trong ngăn ngừa bạo lực gia đình và hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình;

– Thiếu các quy định pháp lý mang tính đặc thù để giáo dục, xử lý có hiệu quả đối với người gây bạo lực để họ thay đổi hành vi theo hướng tích cực.

Những lý do nêu trên cho thấy việc xây dựng và ban hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời thay đổi nhận thức của xã hội đối với hành vi bạo lực gia đình, phòng ngừa, răn đe, tạo dư luận xã hội lên án người có hành vi bạo lực gia đình.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng trên các quan điểm sau:

1. Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề gia đình; làm rõ chức năng quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; góp phần củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

2. Phát huy vai trò cá nhân, gia đình và cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình; chú trọng các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình tại cộng đồng, kịp thời phát hiện sớm và có giải pháp ngăn chặn, răn đe hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân, tránh để xẩy ra bạo lực gia đình gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Bảo đảm quyền con người, nhất là đối tượng yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, ưu tiên nguyện vọng chính đáng của nạn nhân; đồng thời tôn trọng các quyền của công dân khi xử lý các hành vi vi phạm về bạo lực gia đình.

4. Phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam và đảm bảo thực hiện cam kết quốc tế, nhất là Công ước về Chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về quyền trẻ em.

III- QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Ngay sau khi được thành lập, Ban soạn thảo Luật phòng chống bạo lực gia đình đã thành lập Tổ biên tập bao gồm đại diện lãnh đạo cấp vụ, chuyên viên của các bộ, ngành có liên quan.

Vì chưa có số liệu về tình hình về bạo lực gia đình trong cả nước, do đó để có cơ sở xây dựng dự thảo luật, Ban soạn thảo đã tiến hành khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố, nghiên cứu các báo cáo rà soát, tổng kết thực hiện pháp luật hiện hành của Uỷ ban Dân số-Gia đình-Trẻ em, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao; phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm của một số nước như Thái lan, Philippine, Úc, Italia ….; tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến đại biểu dân cử ở các tỉnh, thành phố, cán bộ quản lý, chuyên gia ở nhiều tỉnh, thành phố; lấy ý kiến của một số tổ chức phi chính phủ, gặp gỡ một số nạn nhân bạo lực gia đình, người gây bạo lực gia đình, trao đổi rút kinh nghiệm từ các mô hình thí điểm phòng, chống bạo lực gia đình ở các địa phương.

Ban soạn thảo đã xin ý kiến của Chính phủ bằng văn bản về dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

Ngày 29/9/2006, tại phiên họp thứ 43, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật này và thống nhất trình Quốc hội cho ý kiến.

Tiếp thu ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban pháp luật, Ban soạn thảo đã chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

IV – NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT

Dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình gồm 6 chương và 44 điều, bao gồm c

ác nội dung cơ bản sau:

1. Chương I “Những quy định chung” gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; các hành vi bạo lực gia đình; nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình; quyền và nghĩa vụ của nạn nhân; nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực; chính sách của Nhà nước, nguồn tài chính, hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình và những hành vi bị nghiêm cấm.

2. Chương II “Phòng ngừa bạo lực gia đình” gồm 5 điều (từ Điều 11 đến Điều 15) quy định về thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn về gia đình; hoà giải mâu thuẫn và tranh chấp giữa các thành viên gia đình; giáo dục tại cộng đồng; các biện pháp khác để phòng ngừa bạo lực gia đình.

3. Chương III “Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình”, gồm 2 mục với 12 điều (từ Điều 16 đến Điều 27).

Mục 1 quy định các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, gồm: quy định về phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình; biện pháp ngăn chặn, bảo vệ; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình theo quyết định của Toà án; chăm sóc nạn nhân tại cơ sở y tế; tư vấn cho nạn nhân; hỗ trợ khẩn cấp, đảm bảo nhu cầu thiết yếu.

Mục 2 quy định về các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình, gồm: cơ sở y tế nhà nước; cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước; cơ sở hỗ trợ nạn nhân; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.

4. Chương IV. “Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan trong phòng, chống bạo lực gia đình” gồm 8 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) quy định về trách nhiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình của cá nhân, gia đình; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương, Bộ Y tế, cơ quan bảo vệ pháp luật và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

5. Chương V “Xử lý hành vi bạo lực gia đình, các hành vi vi phạm pháp luật khác và khiếu nại, tố cáo” xử lý hành vi bạo lực gia đình, các hành vi vi phạm pháp luật khác và khiếu nai, tố cáo bao gồm 5 điều (từ Điều 35 đến Điều 40) quy định về xử lý người có hành vi bạo lực; xử lý vi phạm hành chính người có hành vi bạo lực; tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính; xử lý người ép buộc, xúi giục người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình; xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền trong phòng, chống bạo lực gia đình; khiếu nại, tố cáo.

6. Chương VI “Điều khoản thi hành” gồm 4 điều (Điều 41 đến Điều 44) quy định về áp dụng luật đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng, hoặc vợ, chồng đã ly hôn; áp dụng luật đối với người nước ngoài; hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành luật.

V- NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

Trong quá trình soạn thảo và lấy ý kiến về nội dung dự án luật, hiện có ý kiến khác nhau về một số nội dung của dự án luật, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin trân trọng báo cáo và xin Quốc hội cho ý kiến, cụ thể như sau:

1. Về phạm vi áp dụng

Dự thảo Luật quy định luật này áp dụng đối với thành viên gia đình (khoản 1 Điều 2) đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình, cụ thể là : Thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Các đối tượng này có những mối quan hệ ràng buộc đặc biệt về mặt tình cảm (tính riêng tư của sự gần gũi hoặc mối liên hệ thân thiết kéo dài giữa các bên), sự phụ thuộc về kinh tế hoặc các ràng buộc pháp lý giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực. Các hành vi bạo lực thường xảy ra đằng sau cánh cửa khép kín. Do đó cần phải có những biện pháp đặc thù trong xử lý bạo lực giữa họ thì mới có hiệu quả.

Bên cạnh đó, tại Chương VI về điều khoản thi hành, Điều 41 dự thảo Luật quy định: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn có hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này thì cũng áp dụng những quy định của Luật này như đối với thành viên gia đình.”

Dự thảo Luật quy định áp dụng các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình cả đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn là dựa trên cơ sở thực tiễn cuộc sống nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa những người này và nhằm mục đích chính là để bảo vệ nạn nhân trong đó đa số là phụ nữ. Quy định luật áp dụng đối với cả những người đã ly hôn vì sau khi ly hôn bạo lực vẫn có thể xảy ra do họ vẫn còn quan hệ về nghĩa vụ chăm sóc con cái hoặc các mối quan hệ với họ hàng, bạn bè trước đây. Kết quả khảo sát cũng như ý kiến góp ý cho rằng tình hình bạo lực diễn ra khá phổ biến trong các nhóm này.

Quy định tại Điều 41 không phải là khuyến khích, hoặc tạo cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa những người không có đăng ký hôn mà sống chung như vợ chồng, mà chỉ đảm bảo tất cả nạn nhân sẽ được hỗ trợ và bảo vệ đặc biệt. Hầu hết các quốc gia có luật về phòng chống bạo lực gia đình đều điều chỉnh cả đối tượng này trong luật.

Một lý do nữa cũng cần tính đến đó là tình trạng nam nữ chưa đăng ký kết hôn (mới làm lễ cưới) vì nhiều lý do khác nhau vẫn đang còn phổ biến ở một số vùng[7].

Đa số ý kiến tán thành với phạm vi áp dụng nêu trên, tuy nhiên, vẫn còn có các loại ý kiến khác về phạm vi áp dụng sau đây:

– Luật phòng chống bạo lực gia đình chỉ nên áp dụng với các thành viên gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;

– Luật chỉ áp dụng đối với các thành viên gia đình sống chung trong cùng một nhà.

2. Về các hành vi bạo lực gia đình (Điều 3)

Điều 3 của dự thảo Luật quy định về các hành vi bạo lực gia đình theo hướng cụ thể để bảo đảm tính minh bạch, khắc phục tình trạng luật khung và thuận tiện trong hướng dẫn thi hành luật. Việc quy định cụ thể các hành vi ngay trong luật là một thông điệp rất quan trọng gửi tới xã hội và cộng đồng rằng những hành vi hiện hành mà nhiều người coi đó là quyền của họ được ”dạy bảo” hay là chuyện nội bộ gia đình sẽ là hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 3 của dự thảo Luật quy định cả hành vi bạo lực về tình dục (cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc có hành vi khác xâm phạm đến đời sống tình dục), bởi vì kết quả khảo sát thực tế cho thấy người dân có nhiều bức xúc về vấn đề này hơn cả chuyện đánh đập, chửi mắng và nó gây tổn thương về sức khoẻ, tình cảm vợ, chồng.

Trong quá trình xây dựng dự án Luật, đa số ý kiến tán thành với việc quy định trên. Tuy nhiên, vẫn còn một số ý kiến khác như sau:

– Luật chỉ nên quy định theo hướng khái quát làm 4 loại: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế, các hành vi bạo lực cụ thể sẽ được hướng dẫn bằng văn bản dưới luật, như vậy sẽ tránh bị bỏ sót hành vi vi phạm.

– Chỉ nên quy định bạo lực gia đình về thể xác, tinh thần, kinh tế mà chưa nên quy định về bạo lực tình dục, bởi vấn đề này có thể chưa phù hợp với phong tục và văn hoá của nước ta và nó cũng chỉ là một hình thức của bạo lực tinh thần.

3- Về các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình:

Trong quá trình soạn thảo dự án luật, nhiều ý kiến cho rằng việc ban hành luật này là rất cần thiết để nhằm xử lý, giải quyết tình trạng bạo lực gia đình đang khá phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng việc ban hành luật này có thể làm tăng nguy cơ gây tan vỡ gia đình.

Tiếp thu các ý kiến cảnh báo trên và căn cứ kết quả khảo sát thực tế, Dự án luật phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng trên quan điểm lấy biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình là chính, phải giải quyết mâu thuẫn, xích mích gia đình ngay từ khi mới phát sinh để hạn chế phát triển thành các xung đột gây hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ tính mạng và nhân phẩm, qua đó sẽ góp phần hạn chế ly hôn, bảo vệ sự bền vững của gia đình.

Nội dung của Chương 2 quy định về các biện pháp phòng ngừa, đó là phát huy vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, hòa giải và vai trò của gia đình, cộng đồng; đó là quy định các biện pháp về giáo dục tại cộng đồng. Đây là những biện pháp đã được áp dụng ở nhiều địa phương và mang đậm nét văn hoá Việt Nam. Ngoài ra, biện pháp hỗ trợ cai nghiện rượu cũng là đề xuất rất đặc trưng và đáp ứng yêu cầu thực tế của cộng đồng, bởi vì hơn 60% trường hợp bạo lực gia đình là do say rượu, mượn rượu, nhưng hiện nay chúng ta chưa có quy định về vấn đề này.

4. Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình

Dự thảo Luật quy định, trong trường hợp khẩn cấp, cần thiết để bảo vệ sự an toàn của nạn nhân bạo lực gia đình, tránh các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, căn cứ vào yêu cầu của nạn nhân hay người đại diện hợp pháp của nạn nhân hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì người có thẩm quyền quy định tại Điều 18, Điều 19 của dự thảo Luật có thể ra quyết định áp dụng biện pháp cấm người gây bạo lực tiếp xúc với nạn nhân trong một thời hạn nhất định. Quy định này xuất phát qua kinh nghiệm khảo sát thực tế, rất nhiều cán bộ tòa án cho rằng giá như có biện pháp để bảo vệ nạn nhân trong thời gian chờ xét xử thì sẽ không có hiện tượng bạo lực leo thang; hay nhiều nạn nhân bạo lực gia đình rất muốn có biện pháp pháp lý làm hàng rào bảo vệ. Cụ thể biện pháp này như sau:

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền ra quyết định cấm tiếp xúc trong thời hạn 3 ngày, đây là quyết định hành chính để bảo vệ nạn nhân, không phải là quyết định xử lý vi phạm đối với người có hành vi bạo lực;

– Toà án khi đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân và người gây bạo lực gia đình có quyền ra quyết định cấm tiếp xúc tối đa là 4 tháng.

Việc quy định thời gian cấm tiếp xúc giữa nạn nhân và người gây bạo lực gia đình theo quyết định của Chủ tịch xã là 3 ngày, bởi vì đây là quyết định của cấp cơ sở, thời gian 3 ngày là phù hợp để hai bên có đủ thời gian trấn tĩnh, nạn nhân được an toàn trước khi hòa hợp với nhau.

Đối với quyết định cấm tiếp xúc của Tòa án, thời gian cấm tiếp xúc tối đa 4 tháng, vì đây là biện pháp chủ yếu chỉ áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự (chủ yếu là hôn nhân gia đình) có nguyên nhân từ bạo lực gia đình nghiêm trọng. Thời gian tối đa 4 tháng phù hợp với thực tế khi thụ lý, xét xử các vụ án về ly hôn, bảo đảm trong thời gian chờ đợi xét xử nạn nhân không tiếp tục bị bạo lực.

Khi đã có quyết định của chính quyền, của Tòa án, nạn nhân và thân nhân của họ và những người giúp đỡ nạn nhân, chính quyền cơ sở có thêm cơ sở pháp lý để ngăn chặn kẻ gây bạo lực tiếp cận và hành hung nạn nhân.

Thực tế hiện nay, trong nhiều trường hợp, do để bạo lực gia đình xảy ra trong một thời gian dài và cuối cùng đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thậm chí dẫn tới án mạng. Nguyên nhân là do xã hội, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền chưa nhận thức đầy đủ về tính chất leo thang của bạo lực gia đình, thiếu các biện pháp phù hợp trong quá trình xử lý hành vi bạo lực. Nếu có thêm biện pháp cấm tiếp xúc để cách ly người gây bạo lực với nạn nhân thì chắc chắn sẽ góp phần giảm thiểu nguy cơ xảy ra các hậu quả nghiêm trọng.

Để phù hợp với điều kiện của nước ta, dự thảo Luật quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã khi quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc có quyền buộc người có hành vi bạo lực ra khỏi nơi ở chung với nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc nếu nạn nhân có yêu cầu; Toà án khi quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc thì phải xem xét đến yếu tố nạn nhân và người gây bạo lực phải có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc, không quy định nhất thiết buộc người có hành vi bạo lực phải rời khỏi nơi ở chung.

Cấm tiếp xúc là biện pháp rất đặc thù để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình. Tuy nhiên, đây là biện pháp nhạy cảm nên phải có nhiều điều kiện ràng buộc khi ra quyết định cấm tiếp xúc, trong đó quan trọng nhất là phải do yêu cầu của nạn nhân, không áp đặt biện pháp này nếu nạn nhân không yêu cầu.

Trong quá trình xây dựng dự án Luật, đa số ý kiến tán thành với quy định về biện pháp cấm tiếp xúc nêu trên. Tuy nhiên, cũng còn một số ý kiến băn khoăn vì đây là biện pháp mới, lại áp dụng trong mối quan hệ rất đặc biệt là gia đình, do đó e ngại tính khả thi của quyết định cấm tiếp xúc với nạn nhân.

Riêng về thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc ở cấp xã, Chính phủ đề nghị chỉ giao cho cơ quan Công an.

5- Về cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 26)

Điều 26 dự thảo Luật quy định về cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình theo hướng khuyến khích cá nhân, tổ chức thành lập các cơ sở này. Nạn nhân trong lúc bị xúc phạm, đánh đập họ rất cần sự che chở, khuyên răn của người thân, họ hàng và bạn bè cũng như rất cần người tâm sự để chia sẻ bớt nỗi đau vì bị xúc phạm. Do đó, hiệu quả nhất là người thân của nạn nhân sẽ làm việc này. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người thân của nạn nhân không làm được, vì họ kết hôn với người ở xa gia đình, hoặc người thân cũng có tư tưởng phong kiến lạc hậu, hay lo ngại sợ mang tiếng, vả lại tư vấn tâm lý là một nghề không phải ai cũng có kinh nghiệm kiến thức để hướng dẫn nạn nhân.

Thực tế hiện nay đã và đang có hàng loạt trung tâm trợ giúp xã hội (về vật chất), tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình (trực tiếp hạy qua điện thoại). Đây là những trung tâm không chỉ trợ giúp riêng cho nạn nhân bạo lực gia đình mà còn giúp đỡ nhiều đối tượng xã hội khác, hoạt động hoàn toàn mang tính nhân đạo, từ thiện. Để các trung tâm này hoạt động đúng chức năng, đảm bảo chất lượng tư vấn, hướng dẫn nạn nhân bạo lực gia đình, Điều 26 quy định cụ thể điều kiện thành lập, hoạt động của trung tâm tư vấn hỗ trợ nạn nhân, đồng thời trách nhiệm của nhà nước trong việc hỗ trợ một phần kinh phí cho các trung tâm.

Trong quá trình xây dựng Luật, đa số ý kiến thống nhất với quy định trên. Tuy nhiên có một số ý kiến băn khoăn cho rằng sẽ có rất ít người qua tâm đầu tư xây dựng các cở sở này, cũng chưa rõ cơ chế để Nhà nước sẽ hỗ trợ kinh phí cho các trung tâm.

6- Về hình thức xử phạt bổ sung với người có hành vi bạo lực gia đình (Điều 36)

Điều 36 dự thảo Luật quy định đối với mỗi vi phạm hành chính thì người có hành vi bạo lực gia đình phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, ngoài ra tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày; Tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi (khoản 3, Điều 36).

Lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày (không phải là nghĩa vụ lao động công ích) và tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi là 2 hình thức xử phạt bổ sung mới được quy định trong dự thảo Luật. Hai hình thức này chủ yếu nhằm giáo dục, răn đe người có hành vi bạo lực gia đình, không nhằm vào mặt kinh tế. Thực tiễn tại một số địa phương đã áp dụng rất có hiệu quả hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng đối với người có hành vi bạo lực gia đình. Nhiều người dân ủng hộ việc quy định về 2 hình thức phạt bổ sung nêu trên[8] và cho rằng những biện pháp này cần thiết và có hiệu quả hơn là phạt tiền hoặc tạm giữ người có hành vi bạo lực. Do đây là 2 hình thức xử phạt bổ sung mới, nên dự thảo Luật quy định giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả và kịp thời điều chỉnh trong thực tế thực hiện.

Trong quá trình xây dựng luật, đa số ý kiến tán thành với các quy định trên, song có một số ý kiến cho rằng không nên quy định về hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày vì e ngại vi phạm danh dự, nhân phẩm của người có hành vi bạo lực gia đình.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình mặc dù rất phổ biến tại cộng đồng, song do nhiều nguyên nhân nó chưa được xử lý một cách triệt để, đây là tình trạng chung diễn ra trên toàn thế giới chứ không riêng gì ở nước ta.

Hiện nay gần 90 quốc gia đã có luật riêng về phòng, chống bạo lực gia đình. Chúng tôi cũng được biết rằng, tại nhiều quốc gia quá trình ban hành luật phòng, chống bạo lực gia đình gặp nhiều khó khăn do tính nhạy cảm trong mối quan hệ gia đình, cũng như phong tục, văn hóa và các yếu tố xã hội khác. Tuy nhiên, luật pháp trong lĩnh vực xã hội nói chung và trong ngăn ngừa bạo lực gia đình nói riêng là một nhu cầu bức thiết, dựa trên những nguyên tắc chung về pháp lý cùng với tính chất đặc thù để điều chỉnh những quan hệ xã hội đa dạng, nhạy cảm, đang nảy sinh trong quá trình phát triển.

Rất mong quý vị Đại biểu Quốc hội quan tâm cho ý kiến để dự thảo luật hoàn chỉnh và có tính khả thi cao. Xin trân trọng cám ơn.

T/M UỶ BAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Chủ nhiệm

(đã ký)

Nguyễn Thị Hoài Thu


[1] Khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước do Uỷ ban về CVĐXH phối hợp với một số viện nghiên cứu tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2006 đã phỏng vấn 2000 người gồm nhân dân, nạn nhân BLGD, người gây BLGD, cán bộ xã; cán bộ y tế, công an, phụ nữ và toà án cấp huyện. Mục đích của cuộc khảo sát:

 

 

– Sơ bộ đánh giá thực trạng, nguyên nhân của BLGĐ

– Đánh giá hiệu quả của các biện pháp hiện hành và thăm dò ý kiến nhân dân về dự kiến một số biện pháp về phòng, chống BLGĐ

[2]Kết quả khảo sát cho thấy hàng năm 2,3% gia đình có hành vi bạo lực về thể chất (đánh đập), 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần, 30% cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.

[3] Theo báo cáo của một số trung tâm y tế cấp huyện ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bình quân mỗi năm một trung tâm y tế huyện tiếp nhận gần 100 ca tự tử, trong đó gần 50% là thanh niên, nguyên nhân chủ yếu do bố mẹ cản trở quan hệ yêu đương, hôn nhân của con cái. Bên cạnh đó, tình trạng con cái say rượu về hành hung bố, mẹ già cũng không phải là hiếm ở các vùng, thậm chí do bị hành hung quá nên có trường hợp cha/mẹ đã phải tự tử, hoặc thậm chí giết con

Báo cáo của công an một huyện vùng miền núi Tây Bắc cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2006, kiểm tra ở 4 trong số 9 xã có đồng bào Mông đã có 24 vụ tự tử bằng lá ngón làm 11 người chết. Trong giai đoạn 2001-2005, mỗi năm có 10-20 vụ tự tử bằng lá ngón do nguyên nhân chính là bị vợ ngược đãi, vì chồng có vợ hai; hay tảo hôn..

[4] Trong năm 2005 có 14% số vụ giết người liên quan đến bạo lực gia đình (151/1113 vụ giết người), trong đó 39 vụ chồng giết vợ, 8 vụ vợ giết chồng)

[5] Theo báo cáo của Sở Y tế 1 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2005, số bệnh nhân là nạn nhân hoặc có dấu hiệu là nạn nhân bạo lực gia đình đã điều trị là 1.319 bệnh nhân, trong đó có 1.011 người tự tử với 30 người bị chết; báo cáo của sở y tế 1 tỉnh ở Tây Nguyên, có 715 người tự tử với 27 người bị chết liên quan đến bạo lực gia đình..

[6] Có những quốc gia ước tính các hậu quả do bạo lực gia đình gây ra tương đương với 7% GDP.

[7] Báo cáo của Bộ Tư pháp ngày 5/1/2005 tổng kết công tác đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH11 cho thấy, đến ngày 31/7/2004 các địa phương trong cả nước đã rà soát được 1.683.697 trường hợp hôn nhân thực tế, đã đăng ký được 1.375.548 trường hợp, còn tồn đọng 170.868 trường hợp. Số đã được rà soát chỉ là một phần của hôn nhân thực tế.

[8] Theo kết quả khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố, trong số 2000 người được hỏi có 81% ý kiến đề nghị buộc người có hành vi bạo lực phải học tập về pháp luật, gia đình nhằm thay đổi hành vi; 55% ý kiến đề nghị buộc người vi phạm phải làm việc phục vụ lợi ích cộng đồng trong 1 thời gian nhất định.

TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CHO DỰ THẢO LUẬT CƯ TRÚ

I-VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Về bố cục của dự thảo:
Đa số ý kiến nhất trí với giải trình của UBTVQH và cách thiết kế, bố cục các chương, điều của dự thảo.
Có ý kiến đề nghị bổ sung vào chương III một điều qui định về quyền và nghĩa vụ của chủ hộ, vì chủ hộ là người có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các công việc liên quan đến quản lý cư trú nói chung và sổ hộ khẩu nói riêng.
2. Về mô hình quản lý cư trú:
-Đa số ý kiến cho rằng trong tình hình hiện nay, vẫn cần thiết duy trì phương thức quản lý thường trú bằng việc cấp sổ hộ khẩu cho hộ gia đình hoặc cá nhân, vì bên cạnh việc đảm bảo quyền cư trú của công dân thì vấn đề cư trú còn liên quan trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, cần qui định về trình tự, thủ tục đăng ký và quản lý hộ khẩu thật đơn giản để đảm bảo quyền của công dân. Đặc biệt, cần phân biệt tách bạch rạch ròi giữa hộ khẩu là quản lý cư trú với quyền sở hữu tài sản của công dân (nhà ở, đất đai…); tách bạch giữa hộ khẩu với quyền tiếp xúc và thụ hưởng các dịch vụ công của công dân.

3. Về vấn đề cư trú của công dân:
Đa số ý kiến tán thành quy định của dự thảo luật, xác định hình thức cư trú gồm: thường trú, tạm trú (các khoản 1,2,3 điều 3). Đồng thời, bổ sung hình thức “lưu trú” thay cho hình thức tạm trú ngắn hạn (khoản 4 điều 3), nhằm phân biệt người tạm trú sinh sống thường xuyên, ổn định lâu dài tại một địa phương nhất định vối những trường hợp tạm trú mang tính chất vãng lai. Các quy định này giúp cho người dân, cơ quan, tổ chức dễ phân biệt, áp dụng, đồng thời đảm bảo quyền của người tạm trú.
4. Về đăng ký thường trú:
– Đa số ý kiến nhất trí qui định việc đăng ký thường trú ở các thành phố đô thị cần chặt chẽ, đảm bảo điều kiện về cơ sở hạ tầng và khả năng cung ứng dịch vụ của đô thị , đáp ứng gia tăng cơ học, tránh quá tải đột biến gây nhiều phức tạp về an ninh trật tự, an toàn đô thị.
– Đa số ý kiến nhất trí cho rằng cần quy định việc đăng ký thay đổi nơi thường trú khi thay đổi hoặc chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới. Tuy nhiên về thời hạn thực hiện còn có ý kiến khác nhau:
+Nhiều ý kiến đề nghị phải qui định rõ thời hạn thực hiện ngay trong luật để dễ thực hiện cho cả cơ quan quản lý và công dân. Nếu quy định không cụ thể như phương án 2 điều 24 sẽ phải chờ hướng dẫn, cũng như tra cứu văn bản để áp dụng gây lãng phí thời gian, hơn nữa trong một số quy định khác của dự thảo cũng đã cụ thể hóa thời gian trong một số thủ tục. Tuy nhiên thời hạn 24 tháng như phương án 1 điều 24 là quá dài, cần rút xuống còn 12 tháng (khoản 1 điều 21 của dự thảo về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương cũng đã quy định có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố từ 1 năm trở lên thì được đăng ký thường trú). Ngoài ra, cũng có ý kiến đề nghị đưa khoản 2 của phương án 2 điều 24 thành khoản 2 của phương án 1 điều 24 để xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.
+Một vài ý kiến tán thành phương án 2 điều 24 (không quy định cụ thể về thời hạn thực hiện việc đăng ký thường trú khi thay đổi và chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới).

5. Về đăng ký tạm trú (điều 31)
-Đa số ý kiến nhất trí như giải trình của UBTVQH và nội dung điều 31 dự thảo luật .
-Có ý kiến đề nghị nên bổ sung vào khoản 4 điều 31 về trách nhiệm của nơi đăng ký mới phải thông báo cho nơi đăng ký cũ biết để thực hiện việc xoá tạm trú, vì thực tế nhiều người đăng ký tạm trú sau khi chuyển đi nơi khác không báo với cơ quan đã đăng ký và cơ quan đã đăng ký nhiều khi cũng không biết được họ đã không còn tạm trú tại địa phương.
6. Về thông báo lưu trú:
-Đa số ý kiến nhất trí như dự thảo. Về quy định thông báo qua điện thoại , đề nghị nếu áp dụng việc thông báo qua điện thoại thì phải quy định rõ biện pháp chế tài trách nhiệm để xử lý vi phạm .
-Có ý kiến cho rằng Dự thảo qui định trách nhiệm thông báo việc lưu trú của “nhà ở tập thể”, “cơ sở chữa bệnh” là không khả thi và chưa phù hợp, vì đối với nhà ở tập thể thì có thể không có người trực tiếp quản lý mà mỗi chủ hộ có sổ hộ khẩu riêng, còn đối với bệnh viện (cơ sở chữa bệnh) thì không phải là trách nhiệm của bệnh viện, nếu có thì chỉ là đối với bệnh nhân còn với thân nhân nuôi bệnh thì không thể buộc bệnh viện phải quản lý. Vì vậy, đề nghị qui định cho phù hợp hơn.
7. Về khai báo tạm vắng (Điều 33)
-Đa số ý kiến thống nhất với dự thảo, theo đó chỉ quy định một số trường hợp phải khai báo tạm vắng như tại khoản 1 và khoản 2 điều 33.
-Điều 33 dự thảo có qui định trường hợp “quản chế”. Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn vì có “quản chế hành chính” và “quản chế” là hình phạt của Tòa án.
II/ Ý KIẾN CỤ THỂ ĐỐI VỚI DỰ ÁN LUẬT

1.Về đối tượng áp dụng (điều 2)
Có 2 ý kiến cho rằng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam thì vẫn thuộc đối tượng áp dụng của luật này.
2. Về giải thích từ ngữ ( Điều 3):
-Khoản 1 điều 3: Có 1 ý kiến cho rằng theo tinh thần qui định trong dự án Luật thì những người “lưu trú” vẫn phải khai báo và chịu sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền nơi đến lưu trú nên khái niệm “cư trú” phải bao hàm cả “lưu trú” thì mới đầy đủ.
-Khoản 4 điều 3: đề nghị quy định rõ hơn về việc“ ở lại một thời gian nhất định” khi giải thích khái niệm về lưu trú. “Thời gian nhất định” là bao lâu? Lưu trú nhiều lần liên tục trong một thời gian dài thì có còn là lưu trú không?
-Khoản 5 điều 3 quy định “Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc địa điểm cụ thể khác mà công dân sử dụng để cư trú; chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê theo quy định của pháp luật”.
Quy định như dự thảo còn chung chung, sẽ dẫn đến hiểu nhiều cách khác nhau. Các nơi trong chợ, gầm cầu thang chung cư, trên xích lô, trên ghe thuyền không đăng ký… có được xem là nơi ở hợp pháp để đăng ký thường trú không? Đề nghị quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đồng thời, cần quy định rõ, ngoài nơi ở hợp pháp thì những nơi ở khác nên quy định ghi tình trạng nhà ở của người cư trú như : nhà chưa hợp pháp, ở nhờ, cho thuê… để không bị vướng trong quá trình di chuyển và đăng ký, phân biệt việc cư trú không có giá trị đối với tài sản.
-Một số ý kiến đề nghị bổ sung giải thích các khái niệm: “nhà”, “gia đình”, “hộ khầu”, “sổ hộ khẩu”, “nhân khẩu”.
3. Về nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú (Điều 5)
Khoản 4 điều 5 quy định “Mọi thay đổi về cư trú đều phải được đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại một nơi”
-Có ý kiến cho rằng quy định như trên chỉ mới nhấn mạnh đến yêu cầu của công tác quản lý, chưa rõ trách nhiệm công dân. Để đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân, đồng thời để đảm bảo công tác quản lý xã hội, đề nghị sửa lại như sau: “Mọi thay đổi về cư trú đều phải đăng ký, mỗi người được đăng ký thường trú tại một địa phương nhất định, đăng ký tạm trú tại nơi mình thường xuyên lao động, học tập và cư trú”.
-Ý kiến khác cho rằng quy định như trên là không khả thi, vì một người có thể đăng ký thường trú, tạm trú nhiều lần ở các nơi khác nhau. Đề nghị viết lại khoản 4 điều 5 cho rõ hơn là : “…mỗi người tại một thời điểm nhất định chỉ được đăng ký thường trú, tạm trú tại một nơi”.
4.Về tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú (điều 7)
Có 1 ý kiến đề nghị bỏ điều này. Trách nhiệm tuyên truyền pháp luật nói chung đã được các văn bản pháp luật khác quy định.
5.Về các hành vi bị nghiêm cấm (điều 10)
-Khoản 1 điều 10 quy định nghiêm cấm hành vi “cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú”. Có 1 ý kiến cho rằng quy định như dự thảo còn chung chung, đề nghị cụ thể hơn, nghiêm cấm hành vi “cản trở công dân thực hiện quyền đăng ký cư trú”.
-Khoản 8 điều 10: Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định nghiêm cấm hành vi cầm cố, thế chấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú.
6. Về nghĩa vụ của công dân về cư trú (Điều 13)
Khoản 6 Điều 13: có ý kiến đề nghị bổ sung thêm từ “lưu trú” sau từ “tạm trú” cho đầy đủ.
7.Về nơi cư trú của vợ, chồng (Điều 17)
Khoản 2 điều 17 quy định “vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận”. Có ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì sẽ làm phát sinh thủ tục không cần thiết
8. Về thủ tục đăng ký thường trú (điều 22)
Khoản 3 điều 22: nên quy định rõ thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong “10 ngày làm việc”.
9. Về xoá đăng ký thường trú (Điều 23):
– Có ý kiến đề nghị bổ sung xoá thường trú đối với các trường hợp: bắt đi tù, có quyết định đưa đi cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh; xuất cảnh học tập, công tác ở nước ngoài trên 12 tháng vì những người này thật sự không có mặt tại địa phương một thời gian mà vẫn còn hộ khẩu thường trú là chưa hợp lý, không phù hợp với điều 24 của dự thảo. Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm một trường hợp để xoá đăng ký thường trú là “bị Tòa án cấm cư trú”, vì “cấm cư trú” là một hình phạt, nếu Tòa án cấm cư trú thì buộc phải xóa hộ khẩu.
10. Về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương (Điều 21)
Khoản 2 điều 21 quy định các trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình. Có ý kiến đề nghị quy định rõ ngoài quan hệ bố, mẹ, vợ, chồng, con; những người không có mối quan hệ trên phải có sự đồng ý bằng văn bản của người có chỗ ở hợp pháp.
11. Về điều chỉnh những thay đổi về sổ hộ khẩu (Điều 30)
Đề nghị bổ sung thêm một trường hợp phải điều chỉnh những thay đổi về sổ hộ khẩu là trường hợp thêm, bớt nhân khẩu trong sổ hộ khẩu.

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn