PHÂN TÍCH MỘT SỐ QUI ĐỊNH CỦA LUẬT NHÀ Ở VỀ THẾ CHẤP NHÀ Ở

HỒ QUANG HUY

1. Về điều kiện để nhà ở được dùng làm tài sản thế chấp

Theo quy định tại Điều 91 của Luật Nhà ở thì điều kiện để nhà ở tham gia giao dịch (trong đó bao gồm cả thế chấp nhà ở) là:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật;

b) Không có tranh chấp về quyền sở hữu;

c) Không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Với quy định tại Điều 91 Luật Nhà ở thì trong trường hợp thiếu một trong các điều kiện trên thì chủ sở hữu nhà ở không được dùng nhà ở để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ quan nào có thẩm quyền xác định nhà ở “không có tranh chấp về quyền sở hữu” và “không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền” và cách thức xác định những nội dung đó được thực hiện như thế nào? Theo chúng tôi, nếu không có hướng dẫn phù hợp thì việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhà ở sẽ gặp nhiều khó khăn vì trên thực tế để đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 91 của Luật Nhà là không đơn giản, nhất là trong bối cảnh “lý lịch pháp lý của nhà đất” ở nước ta tương đối phức tạp.

2. Về điều kiện thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

Theo quy định của Điều 114 Luật Nhà ở thì “chủ sở hữu nhà ở được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ nhưng chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng”.

Như vậy, trong trường hợp thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, chủ sở hữu nhà ở phải đáp ứng 2 điều kiện: (i) giá trị của nhà ở phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (ii) chỉ thế chấp nhà ở cho một tổ chức tín dụng.

Với quy định trên, nhà làm luật hi vọng sẽ hạn chế được những rủi ro cho các tổ chức tín dụng khi nhận thế chấp nhà ở. Tuy nhiên, từ giác độ kinh tế thì quy định đó đã cản trở khả năng huy động vốn trong xã hội phục vụ sản xuất, kinh doanh (trái với mục đích thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản và thị trường vốn) và đã “vô hiệu hoá” hệ thống, cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm nhà ở. Phần lớn các chuyên gia trong và ngoài nước đều đánh giá quy định tại điều 114 là chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và không khuyến khích sự phát triển của nền kinh tế. Theo chúng tôi, để hạn chế rủi ro cho hệ thống các tổ chức tín dụng, Nhà nước cần sử dụng các giải pháp có tính hiệu quả, khoa học và tích cực hơn, ví dụ như: xác định rõ trách nhiệm của từng khâu trong quá trình thẩm định hồ sơ vay vốn; tăng cường vai trò, hiệu quả của cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm trong việc công khai hoá thông tin; hoàn thiện hệ thống pháp luật tín dụng, ngân hàng để loại bỏ những “lỗ hổng” dẫn đến khả năng lừa đảo như hiện nay…). Ngoài ra, nếu theo quy định tại Điều 114 của Luật Nhà ở, trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở thế chấp nhà ở cho tổ chức, cá nhân không phải là tổ chức tín dụng để vay vốn thì rất có thể hợp đồng thế chấp đó sẽ bị tuyên vô hiệu do vì phạm về điều kiện chủ thể (vì chủ sở hữu nhà ở “chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng”).

Do vậy, những bất cập trong quy định tại Điều 114 của Luật Nhà ở sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến khó khăn cho việc khai thông thị trường vốn và thị trường bất động sản ở nước ta trong thời gian tới.

3. Về việc ký kết, thực hiện hợp đồng thế chấp nhà ở

Theo quy định tại các điều 93, 117 và 118 của Luật Nhà ở thì hợp đồng thế chấp nhà ở phải đáp ứng các quy định sau đây:

3.1. Về hình thức của hợp đồng

Hợp đồng thế chấp nhà ở được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, cụ thể là hợp đồng thế chấp nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn.

Như vậy, trong trường hợp không thực hiện công chứng, chứng thực hợp đồng thế chấp về nhà ở thì nguy cơ rủi ro cho các bên là rất lớn (có thể hợp đồng bị tuyên vô hiệu do vi phạm về hình thức). Đây là một trong những vấn đề cần lưu ý khi ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở. Tuy nhiên, nếu theo quy định của pháp luật công chứng, chứng thực hiện hành thì Uỷ ban nhân dân xã không có thẩm quyền chứng thực các giao dịch về bất động sản. Do vậy, trong thời gian tới cần có các quy định nhằm thống nhất vấn đề này.

3.2. Về nội dung của hợp đồng

Hợp đồng thê chấp nhà ở phải thể hiện các nội dung sau đây:

a) Tên và địa chỉ của các bên;

b) mô tả đặc điểm của nhà ở;

c) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

d) Cam kết của các bên;

đ) Các thoả thuận khác;

e) Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản;

g) Chữ ký của các bên.

Như vậy, hợp đồng thế chấp nhà ở phải có đầy đủ các nội dung trên.Về vấn đề này, Luật Nhà ở đã quy định “không mềm dẻo” như Bộ luật dân sự năm 2005. Sự thiếu thống nhất đó đã vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện, tự thoả thuận của pháp luật hợp đồng. Do vậy, nên chăng chúng ta quy định nội dung của hợp đồng thế chấp nhà ở dưới dạng “khuyến nghị” (xem Điều 402 Bộ luật dân sự) và tôn trọng quyền tự do ý chí hợp pháp của các bên ký kết hợp đồng thế chấp nhà ở.

3.3. Về các trường hợp chấm dứt hợp đồng thế chấp nhà ở

a) Nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp đã được thực hiện;

b) Việc thế chấp nhà ở được huỷ bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác;

c) Nhà ở thế chấp được xử lý;

d) Theo thoả thuận của các bên.

Quy định về chấm dứt hợp đồng thế chấp nhà ở của Luật Nhà ở hoàn toàn giống với quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự, nghĩa là hợp đồng thế chấp nhà ở không có bất kỳ điểm nào khác biệt với các hợp đồng thế chấp tài sản. Do vậy, theo chúng tôi quy định này trong Luật Nhà ở là không cần thiết vì Bộ luật dân sự đã có quy phạm điều chỉnh.

3.4. Về xử lý nhà ở thế chấp

a) Việc xử lý nhà ở thế chấp để thực hiện nghĩa vụ được thực hiện thông qua hình thức bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác. Bên nhận thế chấp được ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản thế chấp sau khi trừ chi phí bảo quản, chi phí cho việc tổ chức bán đấu giá nhà ở.

b) Bên mua nhà ở thế chấp được công nhận là chủ sở hữu nhà ở từ thời điểm ký kết hợp đồng.

Như vậy, với quy định trên, khi xử lý tài sản thế chấp là nhà ở, các bên hoàn toàn có quyền thoả thuận về lựa chọn phương thức xử lý tài sản bảo đảm và áp dụng các quy định về xử lý tài sản bảo đảm của pháp luật hiện hành để điều chỉnh.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 93 của Luật Nhà ở thì “trình tự thế chấp nhà ở thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự”. Do vậy, trong trường hợp nhận thế chấp nhà ở, các bên cần tìm hiểu những quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự.

4. Về thông tin liên quan đến tình trạng pháp lý của nhà ở

Nghiên cứu Luật Nhà ở, chúng tôi nhận thấy một trong những hạn chế lớn nhất của Luật Nhà ở là chưa có quy định trực tiếp về công khai hoá thông tin về tình trạng pháp lý của nhà ở. Điều này sẽ gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng khi quyết định có nhận thế chấp nhà ở hay không do thiếu thông tin cần thiết về nhà ở là tài sản thế chấp. Tuy nhiên, nếu theo quy định tại các điều 12, 14, 15, 16, 19 và 20 của Luật Nhà ở, trong trường hợp có nhu cầu tìm hiểu thông tin về nhà ở thì tổ chức tín dụng căn cứ vào chủ sở hữu nhà ở là tổ chức hay cá nhân để xác định cơ quan có thẩm quyền cung cấp thông tin, cụ thể là: trong trường hợp chủ sở hữu là cá nhân thì tìm hiểu thông tin về nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ở cấp huyện; còn trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở là tổ chức thì tìm hiểu thông tin về nhà ở tại cơ quan quản lý nhà ở cấp tỉnh. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định về trình tự, thủ tục tìm hiểu thông tin về chủ sở hữu nhà ở.

Ngoài ra, để tìm hiểu về việc nhà ở đó đang được dùng làm tài sản thế chấp hay không thì tổ chức tín dụng phải tìm hiểu thông tin ở Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan Tài nguyên và Môi trường vì theo quy định hiện hành cơ quan có thẩm quyền đăng ký thế chấp nhà ở là Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc hệ thống cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp tỉnh và huyện.

Để hướng dẫn Luật Nhà ở, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Tuy nhiên, bước đầu tiếp cận Nghị định số 90/2006/NĐ-CP, chúng tôi nhận thấy, Nghị định này chưa khắc phục được những hạn chế chủ yếu của Luật Nhà ở. Do vậy, theo chúng tôi, trong thời gian tới, Nhà nước cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật về bất động sản dựa trên nguyên tắc pháp lý "bất động sản là một khối thống nhất, trong đó quyền sử dụng đất là trung tâm", tôn trọng quyền tự do, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm của các bên tham gia giao dịch, đảm bảo tính công khai, minh bạch, thuận lợi cho các giao dịch trên thị trường bất động sản.

SOURCE: CHƯA CẬP NHẬT ĐƯỢC THÔNG TIN

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG TÀU BAY

DƯƠNG THANH MINH – BỘ TƯ PHÁP

Về công ước quốc tế, Nhà nước ta đã gia nhập Công ước về công nhận quốc tế các quyền đối với tàu bay, ký tại Geneva ngày 19/6/1948 (Convention on International Recognition of Rights in Aircraft, signed at Geneva on 19th Jule 1948). Công ước này quy định các quốc gia phải công nhận việc cầm cố, thế chấp và các quyền tương tự đối với tàu bay được thiết lập trên cơ sở thoả thuận nhằm bảo đảm thanh toán một khoản nợ nếu các giao dịch này được thiết lập phù hợp với luật của quốc gia nơi tàu bay đăng ký quốc tịch tại thời điểm thiết lập các quyền đó và được đăng ký hợp lệ trong Sổ đăng ký công khai ở quốc gia mà tàu bay đã đăng ký quốc tịch.

Về pháp luật quốc gia, cùng với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật dân sự, pháp luật điều chỉnh việc đăng ký các quyền đối với tàu bay từng bước được củng cố, hoàn thiện. Cụ thể, như sau:

– Trước khi Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 ra đời, có các văn bản điều chỉnh như: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1995; Quyết định số 971/TTg ngày 29/12/1996 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế về đăng ký tàu bay, đăng ký chuyển nhượng quyền sở hữu tàu bay và đăng ký thế chấp tàu bay dân dụng; Thông tư số 92/CAAV ngày 13/01/1997 của Cục trưởng Cục hàng không dân dụng Việt Nam hướng dẫn thực hiện "Quy chế về đăng ký tàu bay, đăng ký chuyển nhượng quyền sở hữu tàu bay và đăng ký thế chấp tàu bay dân dụng" ban hành kèm theo Quyết định số 971/TTg. Sau đó là Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Thông tư số 01/2004/TT-BGTVT ngày 16/01/20004 của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn việc đăng ký tàu bay và đăng ký các quyền đối với tàu bay.

– Hiện nay, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 đã được Quốc hội ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007). Luật này đã có những quy định điều chỉnh các quyền đối với tàu bay, những quy định mang tính nguyên tắc về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay.

Hướng dẫn Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, ngày 20/4/2007 Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2007/NĐ-CP về đăng ký quốc tịch và đăng ký các quyền đối với tàu bay dân dụng (sau đây gọi là Nghị định số 70). Tại Nghị định này có các quy định về thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay.

Sau đây xin giới thiệu một số nội dung quy định cơ bản của pháp luật hiện hành về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay.

1. Một số vấn đề chung

1.1. Về khái niệm giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay

Khoản 6 Điều 2 của Nghị định số 70 quy định “Giao dịch bảo đảm bằng tàu bay là việc cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tàu bay”. Như vậy, đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay là đăng ký cầm cố, thế chấp và bảo lãnh bằng tàu bay.

Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì bảo lãnh là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân (không phải là biện pháp bảo đảm bằng tài sản)[1]. Do đó, để đảm bảo tính thống nhất và hài hoà trong quy định và áp dụng pháp luật thì “bảo lãnh bằng tàu bay” cần được xem là “thế chấp bằng tài sản (tàu bay) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người thứ ba” (không phải là nghĩa vụ của người có tài sản)[2].

1.2. Người đăng ký, người đề nghị đăng ký, người đề nghị xoá đăng ký, người đề nghị cung cấp thông tin

+ Người đăng ký là tổ chức, cá nhân được ghi tên trong các loại Giấy chứng nhận đăng ký.

+ Người đề nghi đăng ký là tổ chức, cá nhân làm đơn và nộp hồ sơ đề nghị đăng ký. Tùy từng trường hợp, người đề nghị đăng ký bao gồm:

– Đối với đăng ký giao dịch bảo đảm, xoá đăng ký giao dịch bảo đảm: là một trong các bên (bên bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm).

– Đối với đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay: là bên nhận bảo đảm đã được đăng ký quyền đối với tàu bay trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam;

– Đối với gia hạn đăng ký, đăng ký thay đổi hoặc sửa chữa sai sót nội dung đã đăng ký: là người đăng ký.

– Những chủ thể nêu trên có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện đề nghị đăng ký, đề nghị xoá đăng ký.

+ Người đề nghị cung cấp thông tin là tổ chức, cá nhân có đơn đề nghị cung cấp thông tin trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

1.3. Trách nhiệm của người đề nghị

Người đề nghị có trách nhiệm sau:

– Gửi hồ sơ trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Cục Hàng không Việt Nam và phải chịu trách nhiệm về các thông tin trong hồ sơ.

– Phải nộp phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

– Trừ đơn đề nghị và biên lai hoặc giấy tờ xác nhận việc nộp phí, lệ phí phải là bản gốc, các tài liệu khác trong hồ sơ đề nghị có thể là bản gốc hoặc bản sao; nếu là tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt. Bản sao hoặc bản dịch phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

– Trường hợp người đề nghị phát hiện trong đơn đề nghị hoặc giấy chứng nhận có sai sót thì phải đề nghị Cục Hàng không Việt Nam sửa chữa sai sót. Hồ sơ đề nghị sửa chữa sai sót gồm các tài liệu nêu tại điểm 2.4.a của Bài giới thiệu này.

1.4. Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý

+ Trường hợp người đề nghị là cá nhân thì giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý là một trong các loại sau:

– Chứng minh thư nhân dân hoặc hộ chiếu đối với công dân Việt Nam;

– Giấy tờ để xác định nhân thân đối với cá nhân không quốc tịch cu trú, định cư tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam;

– Hộ chiếu hoặc giấy tờ để xác định nhân thân đối với cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật nước mà cá nhân đó mang quốc tịch.

+ Trường hợp người đề nghị là tổ chức thì giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý là một trong các loại sau:

– Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với tổ chức kinh tế, quyết định thành lập hoặc giấy phép hoạt động đối với tổ chức phi kinh tế được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam;

– Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý đối với tổ chức được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài có liên quan.

+ Người được ủy quyền phải có giấy ủy quyền hợp pháp.

1.5. Thẩm quyền và thời hạn đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay

a) Thẩm quyền đăng ký, cung cấp thông tin

Cục Hàng không Việt Nam thuộc Bộ Giao thông vận tải là cơ quan có thẩm quyền thực hiện đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay và có những trách nhiệm sau:

– Kiểm tra hồ sơ và đánh giá nội dung kê khai trong hồ sơ đề nghị để quyết định việc đăng ký, xóa đăng ký hoặc cung cấp thông tin. Trong quá trình kiểm tra và đánh giá hồ sơ, có thể yêu cầu người đề nghị cung cấp các thông tin hoặc tài liệu để làm rõ các vấn đề liên quan.

– Trong trường hợp từ chối thực hiện việc đăng ký, xoá đăng ký hoặc cung cấp thông tin thì phải thông báo bằng văn bản cho người đề nghị biết và nêu rõ lý do.

– Có trách nhiệm ghi các thông tin liên quan đến đăng ký, xóa đăng ký vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

b) Thời hạn đăng ký, cung cấp thông tin

Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ thời điểm nhận đủ hồ sơ, Cục Hàng không Việt Nam thực hiện việc đăng ký, xóa đăng ký hoặc cung cấp thông tin bằng văn bản nếu đáp ứng các yêu cầu sau đây:

– Hồ sơ có đầy đủ tài liệu theo quy định;

– Thông tin trong hồ sơ đúng sự thật;

– Tàu bay đáp ứng các điều kiện đăng ký theo quy định.

1.6. Thời điểm có hiệu lực và thời hạn hiệu lực của đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay

Cũng như việc đăng ký các quyền khác đối với tàu bay, đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bày có hiệu lực từ thời điểm được cơ quan đăng ký ghi vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

Thời hạn hiệu lực của đăng ký giao dịch bảo đảm được xác định theo thời hạn hiệu lực của giao dịch bảo đảm. Cụ thể, tại đơn đề nghị, người đề nghị phải kê khai về thời điểm chấm dứt hiệu lực của giao dịch bảo đảm và cơ quan đăng ký căn cứ vào thời điểm này để xác định thời điểm việc đăng ký giao dịch bảo đảm hết hiệu lực.

2. Trình tự, thủ tục đăng ký

2.1. Đăng ký giao dịch bảo đảm

a) Hồ sơ đề nghị đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay bao gồm:

– Đơn đề nghị đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàn bay, gồm các thông tin: họ tên, địa chỉ, số điện thoại của người đề nghị đăng ký, người đăng ký; loại giao dịch; họ tên, và địa chỉ của bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm; loại tàu bay, nhà sản xuất và quốc gia sản xuất, số và năm xuất xưởng, quốc tịch và số hiệu đăng ký; loại, số hiệu và số lượng động cơ tàu bay; thời điểm ký kết, thời điểm có hiệu lực, thời điểm hết hiệu lực của giao dịch và giá trị nghĩa vụ được bảo đảm của giao dịch; thời hạn đề nghị đăng ký;

– Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký quốc tịch tàu bay;

– Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người đề nghị đăng ký, người đăng ký;

– Giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu tàu bay;

– Bản sao hợp đồng giao dịch bảo đảm bằng tàu bay;

– Văn bản thể hiện sự đồng ý của tất cả các đồng chủ sở hữu về việc giao dịch bảo đảm bằng tàu bay trong trường hợp tàu bay thuộc sở hữu chung;

– Biên lai hoặc giấy tờ xác nhận về việc nộp lệ phí đăng ký.

+ Trường hợp có nhiều giao dịch bảo đảm trên cùng một tàu bay thì đơn đề nghị đăng ký phải làm riêng đối với từng giao dịch. Trường hợp một giao dịch bảo đảm trên nhiều tàu bay thì đơn đề nghị đăng ký phải làm riêng đối với từng tàu bay.

b) Thực hiện đăng ký

Trường hợp hồ sơ có đầy đủ các tài liệu nêu tại điểm 2.1.a nêu trên và thông tin trong hồ sơ đúng sự thật, Cục Hàng không Việt Nam ghi các thông tin liên quan đến giao dịch bảo đảm bằng tàu bay vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam và cấp Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay (theo mẫu Phụ lục VI ban hành kèm theo Nghị định).

2.2. Thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm bằng tàu bay đã đăng ký

Đối với giao dịch bảo đảm bằng tàu bay đã đăng ký, khi có thay đổi nội dung của giao dịch, người đăng ký phải gửi hồ sơ đề nghị đến Cục Hàng không Việt Nam.

a) Hồ sơ đề nghị thay đổi nội dung đăng ký bao gồm:

– Đơn đề nghị thay đổi nội dung đã đăng ký của giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, gồm các thông tin: họ tên, địa chỉ, số điện thoại của người đề nghị đăng ký, người đăng ký; loại giao dịch và số Giấy chứng nhận đăng ký đã cấp; nội dung thay đổi;

– Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp;

– Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người đề nghị đăng ký, người đăng ký;

– Giấy tờ chứng minh nội dung thay đổi;

– Biên lai hoặc giấy tờ xác nhận về việc nộp lệ phí đăng ký.

b) Thực hiện đăng ký

– Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị, Cục Hàng không Việt Nam thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm mới. Thời điểm có hiệu lực của đăng ký không thay đổi.

– Trong trường hợp nội dung thay đổi là tàu bay (thay đổi tài sản bảo đảm) thì người đề nghị phải thực hiện việc xóa đăng ký quyền đối với tàu bay và làm thủ tục đăng ký lại như đăng ký lần đầu.

2.3. Đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay

Đối với giao dịch bảo đảm bằng tàu bay đã đăng ký thì chậm nhất 15 ngày trước khi tiến hành xử lý tài sản bảo đảm, người nhận bảo đảm đề nghị xử lý tài sản phải gửi văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm đến bên bảo đảm và tất cả các bên nhận bảo đảm khác hoặc phải đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm với Cục Hàng không Việt Nam.

a) Hồ sơ đề nghị đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay bao gồm:

– Đơn đề nghị đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay, gồm các thông tin: họ tên, địa chỉ, số điện thoại của người đề nghị đăng ký, người đăng ký; loại tàu bay, số xuất xưởng, nhà sản xuất và quốc gia sản xuất, năm xuất xưởng; loại, số lượng và số hiệu động cơ tàu bay; loại giao dịch và số Giấy chứng nhận đăng ký đã cấp; lý do, phương thức, thời điểm và nghĩa vụ được xử lý;

– Văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay;

– Giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người đề nghị đăng ký, người đăng ký;

– Bản sao Giấy chứng nhận giao dịch bảo đảm bằng tàu bay đã cấp;

– Biên lai hoặc giấy tờ xác nhận về việc nộp lệ phí đăng ký.

b) Thực hiện đăng ký, thông báo về việc xử lý

+ Trong thời hạn đăng ký (được nêu tại điểm 1.5.b của Bài giới thiệu này), Cục Hàng không Việt Nam cấp cho người đề nghị Giấy chứng nhận đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay (theo mẫu Phụ lục VII ban hành kèm theo Nghị định).

+ Cục Hàng không Việt Nam thông báo việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký văn bản thông báo xử lý tài sản bảo đảm bằng tàu bay cho bên bảo đảm và tất cả các bên nhận bảo đảm khác theo địa chỉ ghi trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

2.4. Về sửa chữa sai sót và xóa đăng ký

Nghị định số 70 không quy định riêng về thủ tục sửa chữa sai sót và xoá đăng ký đối với giao dịch bảo đảm bằng tàu bay đã đăng ký. Do đó, việc sửa chữa sai sót về giao dịch bảo đảm đã đăng ký được thực hiện theo thủ tục sửa chữa sai sót trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam quy định tại Điều 28 của Nghị định; việc xoá đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay được thực hiện theo thủ tục xoá đăng ký các quyền đối với tàu may được quy định tại Điều 14 của Nghị định.

a) Về sửa chữa sai sót

Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm giải quyết và trả lời bằng văn bản các khiếu nại, yêu cầu của tổ chức, cá nhân liên quan tới bất kỳ sai sót nào trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam hoặc các giấy chứng nhận đã cấp và tiến hành các thủ tục sửa chữa sai sót theo quy định của Nghị định này.

+ Hồ sơ đề nghị sửa chữa sai sót bao gồm:

– Văn bản đề nghị sửa chữa sai sót trong Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam, gồm các thông tin: họ tên, địa chỉ, số điện thoại của người đề nghị sửa chữa sai sót; loại đăng ký, nội dung sửa chữa sai sót;

– Giấy chứng nhận đăng ký đã cấp có sai sót;

– Tài liệu chứng minh các sai sót.

+ Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị sửa chữa sai sót, Cục Hàng không Việt Nam cấp giấy chứng nhận mới đã sửa chữa sai sót cho người đề nghị, đồng thời thu hồi giấy chứng nhận có sai sót và ghi các nội dung đã được sửa chữa vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam.

b) Về xoá đăng ký

+ Người đăng ký có trách nhiệm thông báo kịp thời cho Cục Hàng không Việt Nam về các trường hợp có thể dẫn đến xoá đăng ký các quyền đối với tàu bay.

Hồ sơ đề nghị xoá đăng ký bao gồm:

– Đơn đề nghị xoá đăng ký, gồm các thông tin: họ tên, địa chỉ của người đề nghị; loại quyền đã đăng ký đề nghị xoá; số giấy chứng nhận đăng ký đề nghị xoá; lý do đề nghị xoá đăng ký;

– Giấy chứng nhận đăng ký đã được cấp;

– Các tài liệu có liên quan đến đề nghị xoá đăng ký;

– Văn bản đồng ý của bên nhận bảo đảm trong trường hợp người đề nghị xoá đăng ký là bên bảo đảm.

+ Sau khi kiểm tra và đánh giá hồ sơ, Cục Hàng không Việt Nam ghi các thông tin về đề nghị xoá đăng ký vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam, cấp Giấy chứng nhận xoá đăng ký theo mẫu Phụ lục IX ban hành kem theo Nghị định và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đã cấp.

3. Cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay

Mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu cung cấp thông tin trích lục, bản sao từ từ Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam, trong đó có thông tin về giao dịch bảo đảm bằng tàu bay thì gửi hồ sơ đề nghị đến Cục Hàng không Việt Nam.

a) Hồ sơ đề nghị cung cấp thông tin bao gồm:

– Đơn đề nghị cụng cấp thông tin, trích lục, bản sao, gồm các thông tin: họ tên, địa chỉ, số điện thoại của người đề nghị; loại tàu bay, số xuất xưởng, quốc tịch và số hiệu đăng ký tàu bay; loại đăng ký; nội dung đề nghị cung cấp thông tin; phương thức cung cấp thông tin;

– Biên lai hoặc giấy tờ xác nhận về việc nộp phí.

b) Thực hiện cung cấp thông tin

Sau khi đánh giá hồ sơ, Cục Hàng không Việt Nam cung cấp thông tin, cấp trích lục, bản sao từ Sổ đăng bạ tàu bay Việt Nam cho người đề nghị cung cấp.

Như vậy, có thể khẳng định, pháp luật Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh việc đăng ký giao dịch bảo đảm bằng tàu bay, phù hợp với pháp luật quốc tế và xu hướng phát triển của các giao dịch bảo đảm bằng tàu bay tại Việt Nam.


[1] Xem Điều 361 của Bộ luật Dân sự.

[2] Cách tiếp cận này đã được thực hiện trong pháp luật đất đai. Cụ thể, khoản 1 Điều 31 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày ngày 25 /5/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai quy định: “Bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai được hiểu là thế chấp bằng quyền sử dụng đất cho người thứ ba vay vốn theo quy định của Bộ luật Dân sự”.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆNT Ử CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA GIAO DỊCH BẢO ĐẢM – nrast.moj.gov.vn

BẢO VỆ BÍ MẬT THƯƠNG MẠI

Diễn đàn doanh nghiệp online – Thứ ba, 04/09/2007

Bí mật thương mại (trade secret) có lợi ở chỗ là Công ty có độc quyền khai thác bí mật vô hạn định, ngày nào bí mật còn là bí mật thì Công ty còn là độc quyền khai thác.

Tuy nhiên, bí mật thương mại nếu bị “bật mí” thì xem như không còn giá trị mấy. Coca cola là một trong những Công ty đã chọn con đường không đăng ký bằng sáng chế (để được bảo vệ độc quyền trong một thời gian) công thức làm nước Coca cola, mà giữ công thức này hoàn toàn bí mật (để được độc quyền vĩnh viễn).Binh Pháp Tôn Tử có câu “Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thế có nghĩa là nếu đối thủ biết bí mật thương mại của ta thì ta trăm trận trăm thua. Bí mật thương mại của một Công ty là tất cả những thông tin và kiến thức dùng trong công việc làm ăn của Công ty mà chỉ có người của Công ty biết được: công thức sản phẩm, danh sách các đối tác, danh sách các nhà cung cấp, danh sách khách hàng, thông tin tài chính, kế hoạch tiếp thị… Các loại thông tin này nếu bị lộ ra ngoài có thể đặt Công ty trong tình trạng ra trận trong khi địch đã rõ hết đường đi nước bước của ta. Vậy thì làm thế nào để các Công ty có thể bảo vệ được các bí mật thương mại của mình?

Bí mật thương mại khác với sở hữu trí tuệ (intellectual property) ở chỗ là tài sản trí tuệ như bằng sáng chế (patent), thương hiệu (trademark) và tác quyền (copyright) là tài sản công khai, phải đăng ký với Nhà nước cho mọi người biết. Phần thưởng cho việc đăng ký công khai là độc quyền khai thác trong một thời gian luật định.

Bí mật thương mại (trade secret) có lợi ở chỗ là Công ty có độc quyền khai thác bí mật vô hạn định, ngày nào bí mật còn là bí mật thì Công ty còn độc quyền khai thác. Tuy nhiên, bí mật thương mại nếu bị “bật mí” thì xem như không còn giá trị mấy. Coca cola là một trong những Công ty đã chọn con đường không đăng ký bằng sáng chế (để được bảo vệ độc quyền trong một thời gian) công thức làm nước Coca cola, mà giữ công thức này hoàn toàn bí mật (để được độc quyền vĩnh viễn). Cho đến ngày nay. Coca cola vẫn thành công trong việc bảo vệ bí mật công thức này. Macdonald cũng có nhiều côn thức làm thực phẩm bí mật không đăng ký bằng sáng chế với Nhà nước.

Dĩ nhiên là các đối thủ của một Công ty có quyền tìm cách khám phá ra công thức bí mật bằng cách “thiết kế ngược” nghĩa là phân tích một sản phẩm để tìm ra công thức chế tạo. Cách này hoàn toàn hợp pháp, và nếu Công ty không đăng ký bằng sáng chế, thì công thức có thể bị mất. Tuy vậy, trong một số các lĩnh vực như là thực phẩm chẳng hạn, thiết kế ngược đế tìm đúng công thức cho ra đúng mùi vị không phải là việc dễ dàng.

Bí mật thương mại được luật pháp các nước xem như là tài sản của Công ty và việc ăn cắp bí mật thương mại là một hành động phi pháp. Tòa án thường định nghĩa bí mật thương mại là loại thông tin mà người ngoài Công ty thường thường không biết đến, có thể mang đến cho Công ty lợi ích kinh tế và được Công ty dùng một số biện pháp hợp lý để bảo vệ bí mật. Ví dụ, danh sách khách hàng của một Công ty. Danh sách này thường người ngoài không biết đến, có thể mang đến lợi ích thương mại cho Công ty và các Công ty thường bảo vệ bí mật danh sách rất cẩn thận. Tuy nhiên, nếu Công ty nào đó không bảo vệ danh sách khách hàng, ai xin cũng cho, thì danh sách này sẽ không còn được xem là bí mật nữa. Vì vậy, muốn được luật pháp bảo vệ bí mật Công ty phải lo bảo vệ bí mật trước.

Vậy thì Công ty có những cách nào để bảo vệ bí mật? Thông thường, trước khi một Công ty cho một nhân viên được quyền nắm giữ một thông tin bí mật, Công ty sẽ yêu cầu nhân viên ký thỏa thuận là sẽ không tiết lộ thông tin ra ngoài. Các Công ty cũng thường đòi hỏi nhân viên ký thỏa thuận nhượng cho Công ty quyền sở hữu các sản phẩm trí tuệ mà nhân viên tạo ra trong khi làm việc cho Công ty. Hai loại hợp đồng này thường qui định tiền phạt rất nặng nếu nhân viên vi phạm hợp đồng.

Ngoài hai cách trên, đa số các Công ty còn đi xa hơn bằng cách quy định trong nội quy của Công ty là tất cả mọi thông tin và tin tức của Công ty, bất kỳ loại thông tin nào cũng đều là thông tin kín của Công ty, không nhân viên nào được tiết lộ ra bên ngoài cho bất kỳ ai. Vi phạm nội quy này, nhân viên có thể bị sa thải ngay lập tức.

Ngoài ra, khi bí mật bị mất do “gián điệp thương mại”, cả gián điệp cho một quốc gia khác và gián điệp cho một Công ty khác, kể cả Công ty trong nước, một số quốc gia, trong đó có Mỹ, sẽ xử lý vấn đề theo hình luật.

Ngoài phương diện luật lệ, các Công ty còn phải có các biện pháp lưu trữ và bảo vệ thông tin bí mật. Thông tin bí mật không thể để đọc được trên màn ảnh, máy fax, trên bàn.Dữ liệu trong máy vi tính phải được bảo vệ bằng mật mã và chỉ ác nhân viên có thẩm quyền mới đọc được. An ninh điện tủ phải được thiết kế đến mức tối đa. Đây là nhiệm vụ của các chuyên viên an ninh điện tử.

Thông tin không dùng đến nữa phải được cất giữ cân thận, kín đáo hoặc xóa bỏ hoàn toàn. Thùng rác không phải là nơi để vất bỏ các thông tin bí mật. Các chuyên viên điều tra cũng như các chuyên viên ăn cắp bí mật thường xem thùng rác là nơi có nhiều thông tin hấp dẫn nhất. Giấy tờ tài liệu nên cho vào máy xé vụn trước khi mang qua thùng rác.

Nhân viên bị sa thải thường hay tức giận và có thể đùng bí mật thương mại để làm hại Công ty. Vì vậy, nhiều Công ty có chính sách là khi thông báo cho một nhân viên bị nghỉ việc, Công ty sẽ cho một nhân viên an ninh theo ông ta về bàn làm việc của ông ta để quan sát việc ông ta thu dọn hành lý và sau đó đưa ông ta ra khỏi cửa ngay lập tức. Cách này xem ra rất bất nhân, nhưng lại là phương cách an toàn rất thường xuyên tại đa số các Công ty.

Ngoài ra, các nhân viên cũng được huấn luyện kỹ càng về việc giữ thông tin bí mật: không để màn hình vi tính “on” khi mình không ngồi đó, không để giấy tờ bừa bãi trên bàn và máy fax, bảo vệ password, bảo vệ dữ liệu trong máy tính. Không dùng laptop làm việc nơi công cộng. Không nói chuyện về Công ty với người nhà. Khi thấy khách lạ đi qua hành lang của Công ty thì ngưng nói chuyện. Không nói chuyện trong thang máy khi có nhiều người. Khi gặp nhau trong nhà vệ sinh thì phải xem xét chắc chăn là không có ai trong đó trước khi nói chuyện công việc.

Bảo vệ bí mật Công ty không những chỉ là vấn đề hợp đồng hay luật lệ mà còn là vấn đề đạo đức thương mại. Mỗi nhân viên có nhiệm vụ trung thành và bảo vệ Công ty. Có nghĩa là người nhân viên có đạo đức không làm điều gì có hại cho Công ty, kể cả việc đánh mất bí mật thương mại. Vì vậy, việc huấn luyện nhân viên bảo vệ bí mật không chỉ nhấn mạnh vào các cách thức bảo vệ mà còn nhấn mạnh về đạo đức thương mại của nhân viên. Khi nhân viên cảm nhận được trách nhiệm đạo đức của họ, họ thường.cẩn thận hơn và ít phạm các lỗi lầm do bất cẩn hay thiếu suy nghĩ.

Nguồn: Tạp chí Nhà quản lý

NHIỀU QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT CÒN MÂU THUẪN

QUỐC PHONG

Hiện nay, trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xảy ra tình trạng các luật quy định một nội dung giống nhau nhưng lại không thống nhất với nhau. Việc không thống nhất giữa quy định của pháp luật dẫn đến khó khăn khi vận dụng vào thực tiễn. Xin phân tích một ví dụ để chứng minh.

Bộ luật Dân sự có quy định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc được thể hiện thông qua hai hình thức là di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.
Khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự quy định về hình thức di chúc miệng như sau: trong trường hợp tính mạng của một người bị cái chết đe dọa di bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Và: di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng.
Như vậy, theo quy định của pháp luật dân sự thì di chúc miệng chỉ được lập trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt, đó là tính mạng của người để lại di chúc bị đe dọa, được hiểu là người di chúc không còn khả năng hoặc không thể lập di chúc bằng văn bản. Và nếu sau một thời gian, do pháp luật quy định mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn sáng suốt thì di chúc miệng đó mặc nhiên vô hiệu. Pháp luật dân sự Việt Nam thừa nhận tính hợp pháp di chúc miệng với những điều kiện hết sức chặt chẽ. Tuy nhiên, với những quy định hiện hành thì di chúc miệng có còn là một loại hình di chúc hợp pháp nữa hay không và việc để lại di chúc miệng có thể thực hiện được không?
Luật Công chứng được Quốc hội thông qua ngày 29.11.2006, có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2007 quy định rất cụ thể về thủ tục công chứng. Điều 48 Luật công chứng có quy định về công chứng di chúc người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc, không ủy quyền cho người khác công chứng di chúc… Quy định này của Luật công chứng chỉ đúng với trường hợp thực hiện công chứng đối với di chúc được lập thành văn bản. Còn đối với di chúc miệng thì người di chúc đã trong hoàn cảnh đặc biệt bị cái chết đe dọa thì không thể tự mình yêu cầu công chứng được. Nếu buộc người lập di chúc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc thì không còn tồn tại loại hình di chúc miệng nữa. Vì, nếu người để lại di chúc miệng có thể tự mình yêu cầu công chứng thì trong mọi trường hợp ý chí đó sẽ được công chứng viên ghi chép lại, có nghĩa là đều được thể hiện bằng văn bản, và thực hiện công chứng đối với văn bản được thành lập theo cách như vậy.
Nhưng pháp luật dân sự đã quy định, trường hợp để lại di chúc miệng là phải trước mặt hai người làm chứng và những lời di chúc đó sẽ được ghi chép lạicông chứng trong thời hạn năm ngày, sau thời hạn này di chúc mới được coi là hợp pháp. Hai người làm chứng sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chính xác trong việc thể hiện ý chí cuối cùng của người di chúc. Như vậy, có thể thấy rằng với quy định trên, Luật Công chứng đã phủ nhận hoàn toàn tính hợp pháp của loại hình di chúc miệng và, với quy định đó thì chỉ tồn tại duy nhất một loại hình di chúc, đó là di chúc bằng văn bản.
Từ những phân tích trên cho thấy, giữa các luật quy định về cùng một nội dung đã xảy ra những sự mâu thuẫn với nhau. Chính sự mâu thuẫn này đã dẫn đến tình trạng vô hiệu hóa các quy định pháp luật trong các luật khác nhau, gây ra tình trạng khó áp dụng trong thực tiễn những quy định của pháp luật. Đây là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng trong quá trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật hiện nay.

SOURCE:  BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

Chồng lấn trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP

TRẦN ĐỖ THÀNH 

Sự chồng lấn trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện đang là vấn đề mà công chúng chưa nhận thức được một cách đầy đủ. Đây không chỉ là vấn đề của riêng nước ta mà nhiều nước phát triển trên thế giới cũng đang phải đối mặt. Để hạn chế, giảm thiểu và giải quyết những vấn đề nảy sinh do sự chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT gây ra, tác giả đưa ra một số nguyên tắc có thể được áp dụng và điều chỉnh tuỳ từng trường hợp cụ thể cho hợp lý và khả thi.

SHTT đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích và thúc đẩy sáng tạo, biểu đạt tư tưởng và đầu tư cũng như dung hoà lợi ích giữa các chủ thể quyền và cộng đồng xã hội nói chung. Quyền SHTT là những tài sản rất có giá trị trong các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu, đặc biệt là trong các quá trình đàm phán của WTO1. “Các tài sản trí tuệ đang là cơ sở để đánh giá sự trụ vững và hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp. Năm 1982, khoảng 62% tài sản của các doanh nghiệp Hoa Kỳ là các tài sản hữu hình thì cho đến năm 2000, con số này đã giảm xuống chỉ còn gần 30%”2. Một điều tra được thực hiện trong năm 1993 đối với 284 doanh nghiệp Nhật Bản cho thấy, tài sản trí tuệ đã chiếm tới 45,2% tổng số tài sản tích luỹ trong báo cáo của doanh nghiệp. Những số liệu này cho thấy một nền kinh tế dựa trên “gạch và vữa” đang chuyển dần sang xây dựng trên nền tảng của các ý tưởng sáng tạo mới hay những viên gạch thông tin, và trong nền kinh tế tri thức đó, quyền SHTT chính là “tiền tệ” cho các giao dịch3.

Tầm quan trọng của SHTT với ý nghĩa là một công cụ để phát triển kinh tế có thể được gắn với chính sự phát triển nội tại của quyền SHTT. Hiện nay, các hệ thống pháp lý quốc tế và nội địa đang chứng kiến sự mở rộng của các quyền SHTT, dưới cả hai góc độ: Đối tượng được bảo hộ và bản chất của quyền được bảo hộ. Việc mở rộng các quyền SHTT được bảo hộ, một mặt làm tăng phạm vi bảo hộ cho các chủ thể quyền và chủ sở hữu quyền, mặt khác gây khó khăn cho các nhà làm luật, thẩm phán và các cơ quan thực thi trong việc phân định và phân biệt các ranh giới của các quyền SHTT, từ đó gây khó khăn cho công tác thực thi và khai thác lợi ích của các sản phẩm và sáng tạo trí tuệ.

Nguyên nhân dẫn đến sự chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT

Đa phần các học giả đều thống nhất rằng, sự mở rộng các đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa quyền SHTT chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự hội tụ và đồng quy (convergence and concurrence) của các quyền SHTT. Các tình huống dẫn tới sự hội tụ của các quyền SHTT, theo đó các quyền SHTT vốn được bảo hộ theo nhiều chế định khác nhau có thể được bảo hộ theo cùng một kiểu hành vi, ngày càng xuất hiện rõ nét hơn4.

Câu hỏi đặt ra là: Những yếu tố nào tạo ra sự chồng lấn trong việc bảo hộ các quyền SHTT? Về bản chất, SHTT hiểu theo nghĩa rộng là các quyền pháp lý phát sinh từ các hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật5. Bản thân các lĩnh vực này cũng đang có sự hội tụ lẫn nhau, dẫn đến việc có sự hội tụ của các đối tượng SHTT. Giáo sư Robert P. Mergers đã chỉ ra rằng: “Việc các đường phân định theo các học thuyết truyền thống đang bị làm mờ đi có thể thấy được qua thực tiễn của pháp luật về SHTT. Các giao dịch quan trọng và các vụ việc ngày càng đòi hỏi các công ty công nghệ cao phối hợp nhiều loại hình công nghệ phức tạp, nhiều lĩnh vực của luật SHTT và luật chống độc quyền cùng một lúc. Các vấn đề liên quan tới công nghệ máy tính, ví dụ, đòi hỏi luật sư cùng một lúc phải chỉ ra được các vấn đề về bí mật thương mại, quyền tác giả, sáng chế và chống độc quyền; công nghệ sinh học thì đưa ra một loạt vấn đề thách thức về sáng chế và bí mật thương mại”6. Nói một cách ngắn gọn, sự hội tụ và chồng lấn của các quyền SHTT chính là sự phản hồi lại từ sự phát triển cao trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp lý và khoa học của một nền kinh tế toàn cầu ngày nay7.

Các loại chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT

Chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT có thể được hiểu là việc chủ thể quyền (hoặc chủ sở hữu quyền) yêu cầu nhiều hơn một hình thức bảo hộ cho một đối tượng bảo hộ hoặc yêu cầu sự bảo hộ liên tục từ cơ quan bảo hộ (ví dụ, sau khi hết thời hạn bảo hộ theo sáng chế thì tiếp tục yêu cầu được bảo hộ dưới hình thức nhãn hiệu hoặc quyền tác giả…)8. Nói cách khác, chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT là sự tích chứa các quyền (cumulation of rights) SHTT, theo đó người ta có thể yêu cầu việc bảo hộ bổ sung dưới 2 hoặc nhiều hình thức (chế định) bảo hộ, hoặc yêu cầu sự lấp đầy các lỗ hổng trong việc bảo hộ dưới một hình thức bảo hộ bằng một hoặc nhiều hình thức bảo hộ khác9.

Về cơ bản, sự chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT xảy ra trong những tình huống sau: (1) Chồng lấn về các đối tượng được bảo hộ, nghĩa là đối tượng được bảo hộ vốn được bảo hộ theo một chế định nhất định thì nay dần chuyển sang bảo hộ theo một chế định khác; (2) Chồng lấn về bản chất của quyền SHTT, điều này xảy ra khi ranh giới dùng để phân biệt các quyền SHTT trở nên ít mang tính phân biệt; (3) Chồng lấn về các nguyên tắc pháp lý, nghĩa là có sự thống nhất, hoà nhập của các quy định và nguyên tắc pháp lý về SHTT ở cả hai cấp độ: Luật quốc gia và Luật quốc tế; (4) Chồng lấn khi có sự tích chứa quyền (như đã đề cập ở trên) khi chủ thể quyền yêu cầu biện pháp bảo hộ bổ sung cùng với biện pháp mình đang được hưởng10.

Từ 4 loại chồng lấn cơ bản trên, dẫn đến những tình huống chồng lấn cụ thể như sau: Giữa nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) với bản quyền; giữa sáng chế và bản quyền; giữa sáng chế và NHHH; giữa sáng chế, bản quyền, NHHH; giữa NHHH và tên miền; giữa bản quyền và kiểu dáng công nghiệp (KDCN); giữa KDCN và NHHH; giữa bản quyền, NHHH, KDCN; giữa giống cây trồng mới và sáng chế; giữa sáng chế và bí mật thương mại; giữa giống cây trồng mới và bí mật thương mại; giữa giống cây trồng mới, bí mật thương mại, sáng chế.

Những vấn đề nảy sinh do chồng lấn trong công tác bảo hộ quyền SHTT

Chồng lấn trong bảo hộ SHTT có thể phá vỡ cấu trúc tổng thể của hệ thống SHTT và có thể:

– Xóa mờ các ranh giới của các chế định bảo hộ SHTT;

– Làm cho bản thân các đối tượng SHTT được bảo hộ trở nên ít mang tính phân biệt hơn;

– Gây ra các chi phí không cần thiết cho chủ sở hữu quyền, chủ thể quyền, các bên tham gia tố tụng, bên thứ ba và công chúng;

– Đòi hỏi việc thiết lập các lý thuyết và nguyên tắc mới để giải quyết vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT;

– Gây khó khăn cho các cơ quan thực thi (hành chính, hình sự hoặc tư pháp) trong việc giải quyết các vụ việc về SHTT có yếu tố chồng lấn;

– Gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh và lạm dụng việc bảo hộ quyền một cách thái quá.

Giải pháp

Việc mở rộng cũng như hội tụ các quyền SHTT là một hiện tượng khách quan, là hệ quả của sự phát triển toàn cầu về kinh tế và xã hội. Tại thời điểm hiện tại, cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia, chưa có được một lý thuyết chung để giải quyết cho tất cả các trường hợp chồng lấn11. Để hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia WTO, Việt Nam đã ban hành Luật SHTT (được Quốc hội thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ 1.7.2006) nhằm chứng tỏ cam kết của mình trong việc bảo hộ các quyền lợi hợp pháp của các chủ thể quyền, bên thứ ba và công chúng. Tuy nhiên, Luật này chưa có được những nguyên tắc để có thể điều chỉnh vấn đề chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT. Trên thực tế, các cơ quan thực thi của Việt Nam đã từng gặp những vụ việc kiểu này (điển hình là tranh chấp giữa hai nhãn hiệu Gấu Misa và Sungaz) và đều chưa giải quyết được tận gốc vụ việc (vấn đề chồng lấn không chỉ gây khó khăn cho hệ thống thực thi của Việt Nam mà nói chung đây là vấn đề gây khó khăn cho toàn bộ các hệ thống thực thi trên thế giới, kể cả ở Hoa Kỳ)12.

Để hạn chế, giảm thiểu và giải quyết sự chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT có thể dùng một số nguyên tắc sau khi xem xét từng tình huống chồng lấn cụ thể:

1. Nguyên tắc tính năng của đối tượng bảo hộ (functionality).

2. Nguyên tắc hữu ích của đối tượng được bảo hộ (utility).

3. Nguyên tắc bảo đảm sự cân bằng trong việc bảo hộ (proportionality).

4. Nguyên tắc bảo đảm chi phí kinh tế cho việc bảo hộ.

5. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của toàn thể cộng đồng.

6. Nguyên tắc chống lẩn tránh pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh.

Có thể nói rằng, khó có thể có được một cách thức chung để giải quyết mọi loại chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT, tuy nhiên việc áp dụng những nguyên tắc cụ thể để giải quyết sự chồng lấn lại đang là cách thức được một số quốc gia có nền pháp luật về SHTT phát triển ở trình độ cao sử dụng. Có lẽ, đó cũng là cách thức thích hợp để chúng ta xem xét và học tập.

Chú thích:

1 Sự hội tụ của các quyền SHTT và việc thiết lập việc bảo hộ “ghép” theo Hiệp định Trips, TS Guido Westkamp, giảng viên cao cấp, Viện Nghiên cứu về SHTT Queen Mary, Đại học London, tr. 1.

2 SHTT – Công cụ để phát triển kinh tế, TS Kamil Idris, Tổng Giám đốc Tổ chức SHTT thế giới WIPO, tr. 54.

3 Đã dẫn, chú thích số 2, tr. 55.

4 Hội tụ và đồng quy của các quyền: Sự quan tâm của Toà án Tối cao Hoa Kỳ, Graeme B. Dinwoodie, Giáo sư Luật, Phó Chủ nhiệm Khoa, Giám đốc Chương trình SHTT, Trường luật Chicago-Kent , tr. 1.

5 Cẩm nang về SHTT: Chính sách, luật và cách sử dụng, WIPO Publication No. 489(E), ISBN 92-805-1291-7, 2004, Ấn bản lần 2, tr. 3.

6 SHTT trong kỷ nguyên công nghệ, Robert P. Merges, Peter S. Menell, Mark A. Lemley, xuất bản lần thứ 2, Nhà xuất bản Aspen Law & Business, 2000.

7 Đã dẫn, chú thích số 1, tr. 3.

8 Mutant Copyrights and Backdoor Patents: Vấn đề của chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT, Viva R. Moffat, Assistant Professor of Law, University of Denver College of Law, tr. 31.

9 Đã dẫn, chú thích số 4, tr. 6.

10 Đã dẫn, chú thích số 4, tr. 2-8, xem thêm Hoà nhập hay khác biệt trong việc bảo hộ quyền SHTT? Bài học lịch sử, Graham Dutfield and Uma Suthersanen1, giảng viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu SHTT Queen Mary, 8.2004.

11 Một số nỗ lực nhất định trong một số khu vực của Luật SHTT đã được thực hiện để giải quyết vấn đề này, ví dụ, việc thông qua Giải pháp thống nhất về tên miền (Uniform Domain Name Dispute Resolution Policy) nhằm tránh sự xung đột giữa tên miền với nhãn hiệu hàng hoá và các quyền SHTT khác.

12 Đã dẫn, chú thích số 4.

=====================

Source: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 10/2006

CHỒNG LẤN TRONG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP

TRẦN ĐỖ THÀNH 

Sự chồng lấn trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) hiện đang là vấn đề mà công chúng chưa nhận thức được một cách đầy đủ. Đây không chỉ là vấn đề của riêng nước ta mà nhiều nước phát triển trên thế giới cũng đang phải đối mặt. Để hạn chế, giảm thiểu và giải quyết những vấn đề nảy sinh do sự chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT gây ra, tác giả đưa ra một số nguyên tắc có thể được áp dụng và điều chỉnh tuỳ từng trường hợp cụ thể cho hợp lý và khả thi.

SHTT đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích và thúc đẩy sáng tạo, biểu đạt tư tưởng và đầu tư cũng như dung hoà lợi ích giữa các chủ thể quyền và cộng đồng xã hội nói chung. Quyền SHTT là những tài sản rất có giá trị trong các định chế kinh tế khu vực và toàn cầu, đặc biệt là trong các quá trình đàm phán của WTO1. “Các tài sản trí tuệ đang là cơ sở để đánh giá sự trụ vững và hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp. Năm 1982, khoảng 62% tài sản của các doanh nghiệp Hoa Kỳ là các tài sản hữu hình thì cho đến năm 2000, con số này đã giảm xuống chỉ còn gần 30%”2. Một điều tra được thực hiện trong năm 1993 đối với 284 doanh nghiệp Nhật Bản cho thấy, tài sản trí tuệ đã chiếm tới 45,2% tổng số tài sản tích luỹ trong báo cáo của doanh nghiệp. Những số liệu này cho thấy một nền kinh tế dựa trên “gạch và vữa” đang chuyển dần sang xây dựng trên nền tảng của các ý tưởng sáng tạo mới hay những viên gạch thông tin, và trong nền kinh tế tri thức đó, quyền SHTT chính là “tiền tệ” cho các giao dịch3.

Tầm quan trọng của SHTT với ý nghĩa là một công cụ để phát triển kinh tế có thể được gắn với chính sự phát triển nội tại của quyền SHTT. Hiện nay, các hệ thống pháp lý quốc tế và nội địa đang chứng kiến sự mở rộng của các quyền SHTT, dưới cả hai góc độ: Đối tượng được bảo hộ và bản chất của quyền được bảo hộ. Việc mở rộng các quyền SHTT được bảo hộ, một mặt làm tăng phạm vi bảo hộ cho các chủ thể quyền và chủ sở hữu quyền, mặt khác gây khó khăn cho các nhà làm luật, thẩm phán và các cơ quan thực thi trong việc phân định và phân biệt các ranh giới của các quyền SHTT, từ đó gây khó khăn cho công tác thực thi và khai thác lợi ích của các sản phẩm và sáng tạo trí tuệ.

Nguyên nhân dẫn đến sự chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT

Đa phần các học giả đều thống nhất rằng, sự mở rộng các đối tượng được bảo hộ dưới danh nghĩa quyền SHTT chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự hội tụ và đồng quy (convergence and concurrence) của các quyền SHTT. Các tình huống dẫn tới sự hội tụ của các quyền SHTT, theo đó các quyền SHTT vốn được bảo hộ theo nhiều chế định khác nhau có thể được bảo hộ theo cùng một kiểu hành vi, ngày càng xuất hiện rõ nét hơn4.

Câu hỏi đặt ra là: Những yếu tố nào tạo ra sự chồng lấn trong việc bảo hộ các quyền SHTT? Về bản chất, SHTT hiểu theo nghĩa rộng là các quyền pháp lý phát sinh từ các hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật5. Bản thân các lĩnh vực này cũng đang có sự hội tụ lẫn nhau, dẫn đến việc có sự hội tụ của các đối tượng SHTT. Giáo sư Robert P. Mergers đã chỉ ra rằng: “Việc các đường phân định theo các học thuyết truyền thống đang bị làm mờ đi có thể thấy được qua thực tiễn của pháp luật về SHTT. Các giao dịch quan trọng và các vụ việc ngày càng đòi hỏi các công ty công nghệ cao phối hợp nhiều loại hình công nghệ phức tạp, nhiều lĩnh vực của luật SHTT và luật chống độc quyền cùng một lúc. Các vấn đề liên quan tới công nghệ máy tính, ví dụ, đòi hỏi luật sư cùng một lúc phải chỉ ra được các vấn đề về bí mật thương mại, quyền tác giả, sáng chế và chống độc quyền; công nghệ sinh học thì đưa ra một loạt vấn đề thách thức về sáng chế và bí mật thương mại”6. Nói một cách ngắn gọn, sự hội tụ và chồng lấn của các quyền SHTT chính là sự phản hồi lại từ sự phát triển cao trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, pháp lý và khoa học của một nền kinh tế toàn cầu ngày nay7.

Các loại chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT

Chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT có thể được hiểu là việc chủ thể quyền (hoặc chủ sở hữu quyền) yêu cầu nhiều hơn một hình thức bảo hộ cho một đối tượng bảo hộ hoặc yêu cầu sự bảo hộ liên tục từ cơ quan bảo hộ (ví dụ, sau khi hết thời hạn bảo hộ theo sáng chế thì tiếp tục yêu cầu được bảo hộ dưới hình thức nhãn hiệu hoặc quyền tác giả…)8. Nói cách khác, chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT là sự tích chứa các quyền (cumulation of rights) SHTT, theo đó người ta có thể yêu cầu việc bảo hộ bổ sung dưới 2 hoặc nhiều hình thức (chế định) bảo hộ, hoặc yêu cầu sự lấp đầy các lỗ hổng trong việc bảo hộ dưới một hình thức bảo hộ bằng một hoặc nhiều hình thức bảo hộ khác9.

Về cơ bản, sự chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT xảy ra trong những tình huống sau: (1) Chồng lấn về các đối tượng được bảo hộ, nghĩa là đối tượng được bảo hộ vốn được bảo hộ theo một chế định nhất định thì nay dần chuyển sang bảo hộ theo một chế định khác; (2) Chồng lấn về bản chất của quyền SHTT, điều này xảy ra khi ranh giới dùng để phân biệt các quyền SHTT trở nên ít mang tính phân biệt; (3) Chồng lấn về các nguyên tắc pháp lý, nghĩa là có sự thống nhất, hoà nhập của các quy định và nguyên tắc pháp lý về SHTT ở cả hai cấp độ: Luật quốc gia và Luật quốc tế; (4) Chồng lấn khi có sự tích chứa quyền (như đã đề cập ở trên) khi chủ thể quyền yêu cầu biện pháp bảo hộ bổ sung cùng với biện pháp mình đang được hưởng10.

Từ 4 loại chồng lấn cơ bản trên, dẫn đến những tình huống chồng lấn cụ thể như sau: Giữa nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) với bản quyền; giữa sáng chế và bản quyền; giữa sáng chế và NHHH; giữa sáng chế, bản quyền, NHHH; giữa NHHH và tên miền; giữa bản quyền và kiểu dáng công nghiệp (KDCN); giữa KDCN và NHHH; giữa bản quyền, NHHH, KDCN; giữa giống cây trồng mới và sáng chế; giữa sáng chế và bí mật thương mại; giữa giống cây trồng mới và bí mật thương mại; giữa giống cây trồng mới, bí mật thương mại, sáng chế.

Những vấn đề nảy sinh do chồng lấn trong công tác bảo hộ quyền SHTT

Chồng lấn trong bảo hộ SHTT có thể phá vỡ cấu trúc tổng thể của hệ thống SHTT và có thể:

– Xóa mờ các ranh giới của các chế định bảo hộ SHTT;

– Làm cho bản thân các đối tượng SHTT được bảo hộ trở nên ít mang tính phân biệt hơn;

– Gây ra các chi phí không cần thiết cho chủ sở hữu quyền, chủ thể quyền, các bên tham gia tố tụng, bên thứ ba và công chúng;

– Đòi hỏi việc thiết lập các lý thuyết và nguyên tắc mới để giải quyết vấn đề chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT;

– Gây khó khăn cho các cơ quan thực thi (hành chính, hình sự hoặc tư pháp) trong việc giải quyết các vụ việc về SHTT có yếu tố chồng lấn;

– Gây ra sự cạnh tranh không lành mạnh và lạm dụng việc bảo hộ quyền một cách thái quá.

Giải pháp

Việc mở rộng cũng như hội tụ các quyền SHTT là một hiện tượng khách quan, là hệ quả của sự phát triển toàn cầu về kinh tế và xã hội. Tại thời điểm hiện tại, cả ở cấp độ quốc tế, khu vực và quốc gia, chưa có được một lý thuyết chung để giải quyết cho tất cả các trường hợp chồng lấn11. Để hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia WTO, Việt Nam đã ban hành Luật SHTT (được Quốc hội thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ 1.7.2006) nhằm chứng tỏ cam kết của mình trong việc bảo hộ các quyền lợi hợp pháp của các chủ thể quyền, bên thứ ba và công chúng. Tuy nhiên, Luật này chưa có được những nguyên tắc để có thể điều chỉnh vấn đề chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT. Trên thực tế, các cơ quan thực thi của Việt Nam đã từng gặp những vụ việc kiểu này (điển hình là tranh chấp giữa hai nhãn hiệu Gấu Misa và Sungaz) và đều chưa giải quyết được tận gốc vụ việc (vấn đề chồng lấn không chỉ gây khó khăn cho hệ thống thực thi của Việt Nam mà nói chung đây là vấn đề gây khó khăn cho toàn bộ các hệ thống thực thi trên thế giới, kể cả ở Hoa Kỳ)12.

Để hạn chế, giảm thiểu và giải quyết sự chồng lấn trong bảo hộ quyền SHTT có thể dùng một số nguyên tắc sau khi xem xét từng tình huống chồng lấn cụ thể:

1. Nguyên tắc tính năng của đối tượng bảo hộ (functionality).

2. Nguyên tắc hữu ích của đối tượng được bảo hộ (utility).

3. Nguyên tắc bảo đảm sự cân bằng trong việc bảo hộ (proportionality).

4. Nguyên tắc bảo đảm chi phí kinh tế cho việc bảo hộ.

5. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của toàn thể cộng đồng.

6. Nguyên tắc chống lẩn tránh pháp luật và cạnh tranh không lành mạnh.

Có thể nói rằng, khó có thể có được một cách thức chung để giải quyết mọi loại chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT, tuy nhiên việc áp dụng những nguyên tắc cụ thể để giải quyết sự chồng lấn lại đang là cách thức được một số quốc gia có nền pháp luật về SHTT phát triển ở trình độ cao sử dụng. Có lẽ, đó cũng là cách thức thích hợp để chúng ta xem xét và học tập.

Chú thích:

1 Sự hội tụ của các quyền SHTT và việc thiết lập việc bảo hộ “ghép” theo Hiệp định Trips, TS Guido Westkamp, giảng viên cao cấp, Viện Nghiên cứu về SHTT Queen Mary, Đại học London, tr. 1.

2 SHTT – Công cụ để phát triển kinh tế, TS Kamil Idris, Tổng Giám đốc Tổ chức SHTT thế giới WIPO, tr. 54.

3 Đã dẫn, chú thích số 2, tr. 55.

4 Hội tụ và đồng quy của các quyền: Sự quan tâm của Toà án Tối cao Hoa Kỳ, Graeme B. Dinwoodie, Giáo sư Luật, Phó Chủ nhiệm Khoa, Giám đốc Chương trình SHTT, Trường luật Chicago-Kent , tr. 1.

5 Cẩm nang về SHTT: Chính sách, luật và cách sử dụng, WIPO Publication No. 489(E), ISBN 92-805-1291-7, 2004, Ấn bản lần 2, tr. 3.

6 SHTT trong kỷ nguyên công nghệ, Robert P. Merges, Peter S. Menell, Mark A. Lemley, xuất bản lần thứ 2, Nhà xuất bản Aspen Law & Business, 2000.

7 Đã dẫn, chú thích số 1, tr. 3.

8 Mutant Copyrights and Backdoor Patents: Vấn đề của chồng lấn trong việc bảo hộ quyền SHTT, Viva R. Moffat, Assistant Professor of Law, University of Denver College of Law, tr. 31.

9 Đã dẫn, chú thích số 4, tr. 6.

10 Đã dẫn, chú thích số 4, tr. 2-8, xem thêm Hoà nhập hay khác biệt trong việc bảo hộ quyền SHTT? Bài học lịch sử, Graham Dutfield and Uma Suthersanen1, giảng viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu SHTT Queen Mary, 8.2004.

11 Một số nỗ lực nhất định trong một số khu vực của Luật SHTT đã được thực hiện để giải quyết vấn đề này, ví dụ, việc thông qua Giải pháp thống nhất về tên miền (Uniform Domain Name Dispute Resolution Policy) nhằm tránh sự xung đột giữa tên miền với nhãn hiệu hàng hoá và các quyền SHTT khác.

12 Đã dẫn, chú thích số 4.

=====================

Source: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 10/2006

ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC Ở CHLB ĐỨC

PHẠM HỒNG TUNG

Nói đến nước Đức là chúng ta nghĩ ngay đến nhiều nhà khoa học lỗi lạc như W. Hegel, A. K. Marx, M. Weber, Humboldt… và một quốc gia có nền học thuật được coi là thuộc loại phát triển nhất châu Âu. Có được những thành tựu này là do CHLB Đức đã tổ chức một hệ thống giáo dục đại học theo mô hình tinh hoa bên cạnh đại học đại trà. Bài viết giới thiệu vài nét về hệ thống giáo dục đại học của Đức và một số bài học kinh nghiệm về phương thức kiểm tra, đánh giá; liên kết đào tạo – nghiên cứu; đào tạo nhà quản lý, chính khách. Với những kinh nghiệm này của Đức, chúng tôi hy vọng sẽ phần nào giúp ích cho các nhà hoạch định chính sách giáo dục của Việt Nam hiện nay.

Vài nét về giáo dục đại học của Đức

Trước Chiến tranh thế giới I, nền giáo dục đại học của Đức đã thuộc loại phát triển nhất châu Âu và là nơi đào tạo ra nhiều nhân tài kiệt xuất, như W. Hegel, A. K. Marx, M. Weber, Humboldt… Nhưng đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển của Đức ngày càng ngả theo khuynh hướng quân phiệt hoá. Không khí bạo lực bao trùm xã hội Đức trong suốt hơn 3 thập kỷ đã khiến cho nhiều nhà khoa học người Đức và người Do Thái phải rời bỏ Đức tới Mỹ, Áo và một số nước khác. Vì mục đích chạy đua vũ trang, Nhà nước Đức cũng tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN) và trước Thế chiến II, nước Đức cũng sở hữu một đội ngũ các nhà KH&CN xuất sắc. Tuy nhiên, ngay đêm trước khi Thế chiến II bùng nổ và nhất là sau khi nước Đức bị đánh bại, phần lớn các nhà khoa học này đã di cư sang Mỹ.

Sau khi nền kinh tế Đức phục hồi vào những năm 50 của thế kỷ XX, CHLB Đức tập trung phát triển hệ thống giáo dục đại học theo mô hình đại học tinh hoa (Elite Universitaet). Quy mô các trường nhìn chung là nhỏ (chỉ đào tạo khoảng 5 đến 10 nghìn sinh viên) được cấu trúc theo cơ chế đại học chuyên ngành, nhằm đào tạo các nhà KH&CN đỉnh cao. Sau gần 2 thập kỷ phát triển, đến đầu những năm 70, CHLB Đức đã có hơn 20 trường đại học thuộc loại hàng đầu thế giới như Đại học tổng hợp Munich, Bielefeld, Kiel, Aachen, Tuebingen, Koeln, Heidelberg… Đây là những trường hướng tới mục tiêu đào tạo nhân tài và thực sự là những lò tôi luyện nhân tài chủ yếu trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, y học và công nghệ.

Kể từ giữa những năm 70, nền giáo dục đại học Đức bắt đầu chuyển sang hướng phát triển các trường đại học đại chúng (Masse Universitaet) nhằm đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực có đào tạo chuyên nghiệp khổng lồ của nền kinh tế CHLB Đức. Nhiều trường đại học quy mô lớn xuất hiện như Đại học tổng hợp Ruhr – Bochum với số sinh viên đạt trên 50.000, Đại học kỹ thuật Munich cũng có số sinh viên trên 40.000. Đặc biệt, hàng trăm trường đại học chuyên ngành (Fachhochschule) đã xuất hiện. Các trường đại học tinh hoa tuy vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng bên cạnh việc đào tạo đỉnh cao cũng phải mở rộng quy mô, mở thêm ngành đào tạo mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động kỹ thuật.

Tuy chuyển nhanh sang mô hình đại học đại chúng, nhưng về căn bản thì hệ thống đại học của Đức vẫn là hệ thống giáo dục chuyên nghiệp hướng tới chọn lựa và đào tạo nhân tài. Ngay từ bậc học phổ thông, người ta đã bắt đầu phân luồng học sinh. Sau bậc học Grundschule (từ lớp 1 đến lớp 6), học sinh phổ thông được chia làm 2 luồng: Luồng thứ nhất là Realschule dành cho những học sinh có năng lực trung bình khá trở xuống, sẽ tiếp tục học hết bậc phổ thông trung học theo chương trình đại trà. Sau khi tốt nghiệp, những học sinh trường Realschule chỉ được nhận vào học các trường học nghề và cao đẳng (Berufsschule, Fachschule) chứ không được nhận vào học đại học. Luồng thứ hai là những học sinh có học lực khá, giỏi sẽ được vào học tại các trường Gynasium. Sau 13 năm học, khi tốt nghiệp họ được nhận bằng Tú tài (Abitur) và chỉ khi đó mới được xét vào học tại các trường đại học.

Một đặc điểm quan trọng bậc nhất của hệ thống giáo dục đại học của CHLB Đức là hệ thống đại học công lập. Cho tới nay, trên 80% số trường đại học Đức vẫn là đại học công lập. Chỉ có một số đại học tư mới xuất hiện trong những năm cuối thế kỷ XX. Nhờ đặc điểm này mà Nhà nước Đức có thể chủ động điều chỉnh chiến lược giáo dục đại học. Tuy nhiên, Nhà nước CHLB Đức lại được tổ chức theo thiết chế Liên bang, trong đó các tiểu bang vẫn có quyền tự chủ rất cao trong chính sách giáo dục. Vì vậy, các nội dung, chương trình và phương thức tổ chức đào tạo của các trường đại học Đức trong các tiểu bang có sự khác biệt đáng kể. Tình hình này chủ yếu diễn ra tại các trường đại học chuyên ngành và các trường đại học đại chúng. Còn đối với các đại học tinh hoa, mà từ khoảng cuối thập kỷ 80 đều chuyển nhanh sang mô hình trường đại học nghiên cứu như Đại học tổng hợp Humboldt, Bielefeld, Munich, Hamburg, Passau, Muenster… thì các chương trình đào tạo và phương thức tổ chức đào tạo đều hướng tới đào tạo nhân tài theo các chuẩn mực chung và rất cao, sánh ngang với các đại học hàng đầu của Mỹ, Nhật Bản…

Phương thức tổ chức nền giáo dục đại học của CHLB Đức như trên tuy có nhiều ưu điểm, nhất là trong việc đào tạo và phát triển nhân tài trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, nhưng gần đây cũng bộc lộ một số nhược điểm: Việc một thời gian dài không chấp nhận đại học tư đã khiến cho hệ thống giáo dục đại học trở nên bảo thủ, trì trệ, lệ thuộc nặng nề vào Nhà nước Liên bang và chính quyền các tiểu bang. Do các trường đại học chậm điều chỉnh chiến lược và cơ cấu đào tạo nên đến cuối thế kỷ XX, nước Đức đã bị lạc hậu so với Mỹ và Nhật Bản trong một số ngành KH&CN mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ thông tin. Để bù đắp nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là các chuyên gia lập trình, từ năm 1997 chính phủ Đức đã phải đưa ra quy chế cấp “thẻ xanh” cho phép các chuyên gia lập trình di cư tới Đức (chủ yếu từ Ấn Độ) được nhập cư vĩnh viễn.

Một vài bài học kinh nghiệm

Tập trung kiểm tra, đánh giá theo sở trường: Nói đến phương thức đào tạo nhằm hướng tới phát triển tài năng cá nhân của sinh viên tại các đại học tinh hoa của Đức, cần nhấn mạnh nguyên tắc kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của sinh viên là: Tập trung kiểm tra, đánh giá đúng vào kỹ năng, năng lực hoặc phần kiến thức mà sinh viên tự cho là họ giỏi nhất, chứ không tập trung vào những chỗ mà thầy cho là trò yếu nhất như ở Việt Nam. Cụ thể, do đào tạo theo học chế tín chỉ nên sinh viên tự lập ra lộ trình, kế hoạch học tập cho mình, tự chọn môn học bổ trợ bên cạnh các môn học bắt buộc, tự chọn giáo sư mà họ cho là phù hợp. Sinh viên sẽ chỉ đăng ký thi khi cho rằng mình đã đủ trình độ để thi. Khi đó họ gặp giáo sư, đăng ký trước 2 hoặc 3 vấn đề thuộc nội dung môn học mà họ cho là họ nắm vững nhất. Giáo sư xem xét và sau khi đã được chấp thuận, khi thi thì giáo sư chỉ kiểm tra phần kiến thức đã được đăng ký. Giải thích về cách kiểm tra, đánh giá này, GS Bernhard Dahm thuộc Đại học tổng hợp Passau nói: “Chúng tôi không sợ không nhìn thấy những lỗ hổng kiến thức hoặc chỗ yếu trong năng lực của sinh viên. Khi sinh viên không đăng ký thi vào những vấn đề đó, có nghĩa là họ đã biết rõ họ yếu chỗ nào. Và do đó họ sẽ tự biết cách khắc phục nếu cần thiết. Đối với chúng tôi, quan trọng nhất là đánh giá đúng những chỗ mà họ cho là họ giỏi, là sở trường, xem có thực sự là giỏi, là mạnh không. Sau khi ra ngoài đời, họ sẽ sử dụng những sở trường chứ không mấy ai lại dại dột sử dụng sở đoản của mình cả”.

Gắn kết đào tạo và nghiên cứu trong tổ chức phù hợp: Gần đây tại các trường đại học chuyên ngành, các khoa đã được tổ chức như những department của đại học Mỹ. Trong các Fakultaet thường có một số viện nghiên cứu, các trung tâm và phòng thí nghiệm. Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh vừa học trên giảng đường, vừa trực tiếp học và tham gia nghiên cứu tại các viện và các phòng thí nghiệm với sự hướng dẫn của các giáo sư. Theo cách tổ chức như vậy, gần như không tồn tại khoảng cách nào giữa hoạt động nghiên cứu và hoạt động đào tạo. Hơn nữa, cách tổ chức Fakultaet đã thực sự tạo điều kiện để hình thành các nhóm nghiên cứu chuyên sâu (Forschungsgruppe) và đa ngành. Chính các nhóm này cuốn hút sinh viên vào hoạt động nghiên cứu ngay từ rất sớm và thông qua đó họ trưởng thành rất nhanh chóng.

Phân biệt rõ đào tạo nhà quản lý và đào tạo chính khách: Quản lý được coi là một nghề và đội ngũ nhà quản lý được đào tạo một cách chuyên nghiệp tại các trường đại học. Tại các khoa kinh tế học, luật học, xã hội học hoặc tại các học viện hành chính…, người học sẽ được trang bị những tri thức và kỹ năng cơ bản về khoa học học quản lý, khoa học chính trị và khoa học chính sách… Sau đó, tất cả những cán bộ quản lý đều trải qua quá trình rèn luyện trên các cương vị tác nghiệp theo những quy trình được các tiểu bang quy định chặt chẽ. Cán bộ quản lý được quan niệm như những người thừa hành, tác nghiệp chuyên nghiệp, chứ không phải là chính khách. Vì vậy, chính quyền các cấp có thể chuyển từ đảng này sang đảng khác, nhưng bộ máy hành chính thì không có gì thay đổi

Việc đào tạo chính khách được các chính đảng rất quan tâm và được thực hiện thông qua các quỹ của chính đảng đó. Hiện nay, ở Đức có 5 quỹ lớn là: Quỹ Kondrad – Adenauer của Liên minh dân chủ thiên chúa giáo (CDU), Quỹ Hans – Seidel của Liên minh xã hội thiên chúa giáo (CSU), Quỹ Friedrich – Naumann của Đảng dân chủ tự do (FDP), Quỹ Friedrich Ebert của Đảng xã hội Đức (SPD) và Quỹ Rosa – Luxamburg của Đảng dân chủ xã hội chủ nghĩa (PDS). Tất cả các quỹ này đều có Chương trình hỗ trợ tài năng (Begabtenfoeder – rungsprogram). Chương trình này hàng năm xét trao học bổng cho các sinh viên và nghiên cứu sinh đặc biệt xuất sắc. Những sinh viên và nghiên cứu sinh này được tự do lựa chọn đặt đơn xin xét trao học bổng ở các quỹ. Các cuộc xét duyệt học bổng do các chính khách cùng với các giáo sư đầu ngành của các trường đại học tiến hành thông qua 3 vòng (hai vòng tuyển qua hồ sơ và một vòng phỏng vấn). Khi nhận được học bổng, các sinh viên và nghiên cứu sinh vẫn tiếp tục học tập tại các trường đại học, nhưng hàng năm họ được mời tham gia nhiều seminar do quỹ tổ chức. Các seminar này vừa là nơi họ được trang bị tri thức về nền chính trị Đức và thế giới, đặc biệt là về tri thức và kỹ năng lãnh đạo. Thông qua đó, các chính khách tương lai của Đức được đào tạo một cách khá toàn diện. Đồng thời, các sinh viên và nghiên cứu sinh có thể tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị – xã hội và họ còn có thể được bầu vào các vị trí lãnh đạo nhất định của đảng. Sau một thời gian, họ có thể trở thành chính khách chuyên nghiệp. Nhờ quy trình đào tạo cán bộ lãnh đạo kết hợp chặt chẽ với các trường đại học như vậy, cho nên không có gì đáng ngạc nhiên khi phần lớn các chính khách cao cấp ở Đức thường có học vị cao và vốn đều xuất thân từ những sinh viên ưu tú.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 10/2006

NẾU BẠN RẤT DỄ MẤT TẬP TRUNG

Nếu bạn bị chứng mất tập trung thường xuyên, bạn cũng đừng nên quá lo lắng.
Vì có khoảng gần 4% học sinh cũng bị chứng mất tập trung như bạn.
Ngoài ra, nhiều học sinh cũng có đôi lúc có triệu chứng này.

Các cách dưới đây được coi như là một phần của một chương trình trợ giúp chuyên nghiệp, lấy từ định nghĩa của các bác sỹ Hoa Kỳ về chứng mất tập trung thường xuyên. Tuy nhiên, là học sinh, sinh viên, bạn cũng có cách học riêng, bao gồm “trí thông minh”, (c.f. Kolb), tính cách (c.f. Myers-Briggs), v.v. Bạn cũng nên lưu ý đến những điều này.

Trong lớp:

Trả lời không đúng lượt, hoặc tự dưng ngắt lời thầy cô trong lớp là những biểu hiện thường xuyên, nhưng dù sao, bạn cũng biết là bạn đang cố gắng học

· Hãy viết câu hỏi hoặc nhận xét của bạn ra giấy trước khi phát biểu

· Tập thói quen giơ tay xin phát biểu trước khi nói

· Xem thêm hướng dẫn ở mục Học trong lớp

Ghi chép một nhiệm vụ của học sinh. Các kỹ năng dưới đây có thể hữu ích:

  • Mang máy thu âm đến lớp
  • Học với một người trong lớp
  • Xem thêm hướng dẫn ở mục Ghi chép trong lớp học
  • Thực ra, nếu bạn bị bệnh mất tập trung thường xuyên, nghe giảng trên lớp không phải là cách học hơp lý nhất. Bạn nên xin thầy cô một bảng tóm tắt nội dung bài giảng, hoặc hỏi xem liệu có cách nhận bài giảng bằng cách phương tiện khác không.

Để làm theo đúng hướng dẫn của giáo viên:

  • Rút ngắn các hướng dẫn thành một hoặc hai hướng dẫn ngắn gọn và làm theo. Bạn cũng có thể tham khảo và kiểm tra lại với thầy cô giáo. Hoặc
  • Hỏi xem thầy cô có thể chia nhỏ các bài tập, hoặc dự án thành các bước để bạn dễ hoàn thành được không.

Bài tập về nhà:

Để tập trung hơn:

  • Nên tìm một chỗ yên tĩnh ở nhà, tránh tiếng ồn của các thành viên khác trong gia đình, hoặc chó mèo, TV, điện thoại, nhạc…
  • Nếu nhà chật, bố mẹ hoặc gia sư có thể tìm cho bạn một chỗ trong thư viện, nhà hàng xóm, chùa, hoặc nhà thờ (những nơi yên tĩnh)…
  • Headphones có thể giúp tránh tiếng ồn và giúp bạn tập trung
  • Tạo thói quen thường xuyên và thời gian học cố định
  • Xem thêm hướng dẫn ở mục Tập trung

Để ghi nhớ tốt hơn:

  • Tạo thói quen thường xuyên!
    Ví dụ, trước khi đến trường, kiểm tra sách vở, dụng cụ theo cùng một cách giống nhau qua các ngày. Nhờ ai đó giúp bạn tạo thói quen hoặc nhắc nhở những ngày đầu.
  • Giữ các bài, tài liệu ở một ngăn của cặp sách. Nói với thầy cô về điều đó.
  • Giữ danh sách các việc cần làm trong cặp sách.

Để giúp nhớ các tiểu tiết:

  • Cùng bố mẹ, bạn cũng lớp hoặc gia sư xem qua các bài tập bạn đã làm.
  • Dùng phần kiểm tra ngữ pháp và chính tả nếu bạn gõ bài bằng máy vi tính.

Hãy nhớ rằng, nếu bạn hay sơ suất, hoặc quên các việc nhỏ, không có nghĩa là bạn khôg thông minh, mà thực ra là một triệu chứng của bệnh mất tập trung thường xuyên.

Tìm trợ giúp trong học tập

Lo cho mình và tìm sự trợ giúp nếu cần:

Lòng kiên trì là thử thách cơ bản với những người bị mất tập trung thường xuyên. Nếu bạn đang cảm thấy không vui, chán nản với công việc hoặc học tập thì hãy tìm ai đó có thể giúp bạn. Gia đình, thầy cô, các chuyên gia cũng như chính bản thân chúng ta. Kiên trì là điều quan trọng nhất. Lời khuyên của họ phải tích cực, và hợp lý và nếu không được vậy, thì hãy cố gắng tìm ra là vì sao.

Theo Hiêp hội Phẫu thuật Hoa Kỳ (American Surgeon General) thì “Sự mất tập trung sẽ không biểu lộ rõ ràng cho đến khi đứa trẻ bắt đầu bước vào môi trường học tiểu học. Các em đó gặp khó khăn khi tập trung vào các tiểu tiết, và rất dễ bị phân tán bởi những việc khác cùng xảy ra vào một thời điểm; các em cũng gặp khó khăn khi hoàn thành bài tập, thường bỏ dở hoặc hoãn những việc cần phải

==================

SOURCE:

Cẩm nang và chiến lược dành cho học tập được lập và duy trì bởi Joe Landsberger như một trang web giáo dục. Những lời khuyên trong cuốn cẩm nang này được sử dụng rộng rãi cho các học sinh sinh viên trên toàn nước Mỹ và trên thế giới. Được dịch sang Tiếng Việt bởi Nguyễn Thanh Hương, sinh viên trường Lafayette College, Pennsylvania, Hoa Kỳ, thực tập sinh của Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ – Đông Dương (US-Indochina Educational Foundation) dưới sự giúp đỡ tài chính của Quỹ Freeman Assist. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Đào Tú Anh (Hà Nội) và Trần Hà Hải (Thành Phố Hồ Chí Minh).

HỌC TỪNG VẤN ĐỀ CỤ THỂ

Học từ vấn đề cụ thể là một cách học thú vị bổ trợ cho
cách học nghe giảng thông thường.

Với cách học này, giáo viên sẽ đưa cho bạn một vấn đề, chứ không phải là bài giảng hay bài tập.Vì bạn không được cung cấp đầy đủ phương tiện, bạn sẽ chủ động hơn để khám phá, với quyết tâm giải bằng được vấn đề cho thật thỏa đáng.

Cũng trong cách học này, người giáo viên chỉ làm nhiệm vụ hướng dẫn
chứ không phải là người cung cấp đáp án.

Bạn sẽ có cơ hội:

  • Kiểm tra và tận dụng những gì bạn đã biết trước đây
  • Tự tìm ra là mình cần phải học cái gì
  • Luyện các kỹ năng làm việc theo nhóm để đạt được hiệu quả cao hơn
  • Tôi rèn kỹ năng giao tiếp
  • Đưa ra và bảo vệ nhận định của mình bằng dẫn chứng và lý lẽ thuyết phục
  • Linh hoạt hơn trong việc tiếp nhận và sử lý thông tin
  • Luyện tập các kỹ năng mà bạn có thể cần khi đi làm sau này

Tóm tắt:
Đây là mẫu rút gọn- các mẫu chi tiết hơn sẽ được giới thiệu ở phía dưới.

Các bước này có thể được lặp lại nhiều lần:
Bước 2-5 có thể được lặp lại khi có thêm nhiều thông tin mới hay vấn đề thay đổi.
Bước 6 có thể thực hiện hơn 1 lần, nhất là khi giáo viên nhấn mạnh việc phát triển vấn đề.

1. Khám phá vấn đề:
Giáo viên đưa cho bạn một vấn đề.
Thảo luận về mấu chốt của câu hỏi và liệt kê ra những phần quan trọng.
Bạn có thể cảm thấy rằng bạn không có đủ kiển thức để giải quyết vấn đề này nhưng đó chính là thử thách dành cho bạn đấy!
Bạn phải thu thập các thông tin và tự học những khái niệm, quy tắc, kỹ năng mới mà bạn có thể cần đến.

2. Liệt kê theo câu hỏi “Chúng ta biết những gì?”
Bạn cần biết những điều gì để giải quyết vấn đề?
Điều này bao gồm những gì bản thân bạn thực sự biết và khả năng của các thành viên khác trong đội.
Hãy cân nhắc đến công sức từng người bỏ ra!

3. Phát triển, viết ra giấy câu khẳng định nội dung vấn đề và diễn đạt theo ngôn từ của bạn:
Nội dung vấn đề có thể được bật ra từ các phân tích của bạn hoặc nhóm của bạn về những kiến thức đã biết, và những gì bạn cần biết để giải quyết vấn đề đó. Bạn sẽ cần:

· Một bản viết vạch rõ tóm tắt

· Sự đồng tình của cả nhóm

· Phản hồi của giáo viên về cái mà các bạn vừa tìm được.
(cái này có thể không cần thiết nhưng lại là một ý hay)

Lưu ý:
Bạn nên thường xuyên quay lại chỉnh câu khẳng định vấn đề nếu như có thông tin mới và những thông tin cũ không còn sử dụng được nữa.

4. Liệt kê ra các phương án khả thi
Bạn cứ liệt kê hết ra, rồi sắp xếp từ khả thi nhất đến ít khả thi nhất. Và hãy tìm cái tốt nhất, hoặc có khả năng thành công cao nhất!

5. Liệt kê những việc cần làm và thời gian giải quyết tương ứng

· Cần phải có những kiến thức gì và làm gì để giải quyêt vấn đề này?

· Sắp xếp thứ tự các khả năng có thể xảy ra như thế nào?

· Những cái đó liên quan như thế nào với danh sách các giải pháp?
Bạn có đồng ý không?

6. Liệt kê những điều bạn cần phải trang bị?
Nghiên cứu kiến thức, dữ liệu mà sẽ bổ trợ cho bạn trong việc tìm ra vấn đề. Bạn cần biết thông tin để bổ sung vào những chỗ còn thiếu sót.

· Xem xét các nguồn thông tin: người có kinh nghiệm, sách báo, trang web…

· Giao công việc, và nên kèm theo hạn hoàn thành của từng công việc

Nếu các thông tin bạn tìm thấy bổ trợ cho phương án của bạn, và nếu hợp lý thì bạn có thể đi thẳng đến bước 7. Còn không, lặp lại từ bước 4.

7. Viết câu trả lời và đính kèm những tài liệu bổ trợ, và đem đi nộp.
Bạn có thể phải trình bày những gì bạn đã tìm được và/hoặc giới thiệu, nhận xét của nhóm khác hay bạn cùng lớp.
Cái đó thì bao gồm câu khẳng định về nội dung vấn đề, các câu hỏi, thông tin, tài liệu bạn thu thập được, và tài liệu hỗ trợ cho ý kiến của bạn dựa trên các phân tích thông tin: nói ngắn gọn, các tài liệu mô tả quá trình và kết quả!

Trình bày và phản biện:
Mục đích của việc trình bày không chỉ là thông báo kết luận bạn tìm được mà là trình bày các cơ sở từ đó bạn tìm ra câu trả lời hoặc kết luận. Chuận bị sẵn sàng để:

· Phát biểu rõ vấn đề và kết luận

· Tóm tắt cách bạn đã tìm ra câu trả lời, các phương án tính đến, và các khó khăn gặp phải.

· Thuyết phục, chứ không áp đặt.
Để mọi người ủng hộ ý kiến của bạn hoặc khiến họ xem xét câu trả lời của bạn một cách khách quan.

· Giúp người khác học từ vấn đề bạn đang làm, cũng như bạn đã học được từ vấn đề đó.

· Nếu gặp câu hỏi hóc búa từ phía người nghe, và nếu bạn có câu trả lời, thì hãy trình bày thật rõ ràng, còn nếu bạn chưa có câu trả lời ngay, thì cũng nói cho họ biết là bạn sẽ nghĩ thêm về câu hỏi đó.

Chia sẻ những gì bạn học được với thầy cô và bạn cùng lớp là cơ hội để bạn chứng tỏ bạn đã học được những gì. Nếu bạn trình bày vấn đề thật rõ ràng, thì sẽ chứng minh được kiến thức bạn vừa học được. Còn nếu có câu hỏi phản biên mà bạn chưa trả lời được, thì hay coi đó như một cơ hội để bạn tiếp tục học hỏi, khám phá tiếp. Tuy nghiên, hãy coi trọng và tự hào về chất lượng những gì bạn trình bày. Xem thêm hướng dẫn ở mục Trình bày dự án.

8. Xem xét lại những gì bạn vừa làm được
Công đoạn này áp dụng cho cả từng thành viên hoặc cả nhóm làm. Tự hào vì những gì bạn đã vừa làm được, học từ những điều có thể bạn chưa tìm ra hoặc chưa hoàn thành tốt. Thomas Edíon luôn tự hào về những phát minh chưa thành công của mình và coi đó như một phần tất yếu của những thành cồng sau này!

9. Bạn có thể ăn mừng cho thành công được rồi đó!

==================

SOURCE:

Cẩm nang và chiến lược dành cho học tập được lập và duy trì bởi Joe Landsberger như một trang web giáo dục. Những lời khuyên trong cuốn cẩm nang này được sử dụng rộng rãi cho các học sinh sinh viên trên toàn nước Mỹ và trên thế giới. Được dịch sang Tiếng Việt bởi Nguyễn Thanh Hương, sinh viên trường Lafayette College, Pennsylvania, Hoa Kỳ, thực tập sinh của Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ – Đông Dương (US-Indochina Educational Foundation) dưới sự giúp đỡ tài chính của Quỹ Freeman Assist. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Đào Tú Anh (Hà Nội) và Trần Hà Hải (Thành Phố Hồ Chí Minh).

HỌC QUA NHÃN QUAN ĐỊNH VỊ

“Việc học, cho những người thiên về nhãn quan diễn ra ngay một lúc, cùng với khối lượng thông tin lớn, thay vì quá trình tiếp thu từ từ những thông tin rời rạc, những bước nhỏ hay thói quen thu lượm được trong luyện tập. Ví dụ, những người này có thể tiếp thu một cách nhanh chóng một lượng lớn thông tin qua những bảng biểu thay vì ghi nhớ các mẩu thông tin một cách đơn lẻ. 1

Sắp xếp:

  • Cách nhìn theo nhãn quan hay định vị là nguyên tắc cơ bản
    Lý tưởng nhất cho những người có khả năng này là một không gian cõ sắp xếp với những đồ vật với vị trí xác định. Họ sẽ không cảm thấy thoải mái với những không gian chưa hoàn thiện hay lộn xộn.
  • Với một giác quan nhạy bén về sự cân bằng và hoàn thiện
    họ có thể nói những đồ vật nào hoặc điều gì lệch khỏi vị trí, hay không thật sự thẳng hay những nhận xét tương tự. Những người này cũng rất tinh khi làm việc với những hình ảnh đối chiếu hoặc xoay chiều và luôn cố gắng sắp xếp theo nhóm, màu sắc…

Quan sát/ Thử nghiệm:

  • Những người thiên về nhãn quan rất dễ nhận ra một “bức tranh” tổng thể
    của những hệ thống đơn giản hay phức tạp. Họ cũng rất giỏi tóm tắt hay tổng kết, đặc biệt, họ còn nhớ được chi tiết hay tạo ra những sâu chuỗi.
  • Sự xuất hiện của bản thân (ăn mặc, đầu óc hay cử chỉ) khá quan trọng
    Hình thức bản thân đối với họ khá quan trọng cũng như những gì họ quan sát để ‎ ở hình thức của người khác. Họ có eye-contact khi nói chuyện, mặc dù có thể bị ảnh hưởng với đồ vật xung quanh. Tiếng động nền làm giảm khả năng nghe của họ. Còn trong lớp học, hay buổi họp, họ thường vẽ lăng nhăng ra nháp.
  • Họ thích đọc hoặc làm việc dưới ánh sáng nhẹ hoặc là ánh sáng tự nhiên
    và trong các điều kiện thoải mái. Họ đặc biệt khó chịu với đèn chiếu, ánh sáng quá mạnh, chất liệu thô hay nhiệt độ quá khắc nghiệt.

Chiến lược trong học tập

  • Tập trung vào mục tiêu của khóa học
    Hãy nói chuyện với giáo viên để hiểu rõ và áp dụng những điều đó vào hoàn cảnh của bạn.
  • Tìm sự trợ giúp của những người có khả năng sắp xếp cao:
    để giúp bạn liên hệ những điều đã học và những kiến thức mới.
  • Tìm kiếm các cơ hội sử dụng kiến thức mới.
    • Cách tiếp cận trực tiếp.
    • Sử dụng cách lưu ý tưởng bằng hỉnh ảnh thay vì giải thích bằng lời văn.
  • Chú trọng vào những phần kiến thức liên quan đến không gian, có hình vẽ…
    Ví dụ: trong Toán học, môn Hình học có nhiều yếu tố hình ảnh hơn là môn Đại số. Trong Khoa học, Vật Lý thì hơn là Hóa học. Hay là những áp dụng hình ảnh trong môn Vi Tính, vẽ trong Mỹ Thuật, Kiến trúc, Cơ khí, Hàng không, hay Phát triển thành thị…
  • Tìm tòi nhữung nghiên cứu mang tính độc lập hoặc đề tài mở

Cách học kiểu giải quyết từng vấn đề, học từ các ví dụ cụ thể, hay là các cách mà bạn có thể thoải mái, linh hoạt với kiến thức sẵn có và có nhiều phương án lựa chọn để đánh giá, trình bày kiến thức.

Thói quen học tập

  • Hãy luôn hình dung tổng thể vấn đề khi học
    nhất là khi bạn đang học những phần nhỏ hoặc các phần chi tiết.
  • Khi muốn nhớ điều gì đó
    hãy nhắm mắt để hình dung các thông tin để tiện cho việc gợi nhớ lại các thông tin. Bạn cũng có thể sử dụng flash cards (những mảnh giấy nhỏ, mặt trước ghi định nghía, mặt sau giải thích tương ứng) và đừng ghi quá nhiều, chủ yếu chie để cho bạn dễ hình dung các định nghĩa hoặc ý nhỏ.
  • Một khi bạn đã nắm được định nghĩa
    Tập áp dụng các thông tin đó vào các tình huống, ví dụ mới, hoặc dần dần nâng cao mức độ khó khi bạn học thêm được nhiều điều mới, thay vì lặp lại các ví dụ quen thuộc.
  • Sử dụng sơ đồ định nghĩa (hơn là dàn ý)
    sắp xếp các bài viết nhỏ bạn đã làm hình dung các ý, mối quan hệ giữa các ý đó, xâu chuỗi và kết quả. Tìm ý bằng các hình minh họa, bảng biểu, mẫu vẽ.
  • Tìm các nguồn dữ liệu có hình ảnh, minh họa khác nhau
    video, các chương trình PowerPoint, bảng biểu, bản đồ và các chương trình nghe nhìn khác,

Sử dụng các thiết bị hiện đại:

  • Tận dụng các chương trình có hình vẽ
    của máy vi tính trong khi học hoặc xác định thông tin.
  • Tận dụng các nút Stop/Start/Replay
    trong các chương trình nghe nhìn trên máy vi tính.
  • Tạo một chương trình sử dụng phần mềm hình ảnh hoặc âm thanh cho riêng bạn
    thay thế những bản viết tay.
  • Phát triển và ứng dụng đồ họa và/hoặc mẫu vật 3 chiều.
    để hiểu được các kiến thức mới.

Nghe giảng trong lớp

  • Tránh chỗ ngồi dễ bị phân tán
    trong lớp học (gần cửa sổ, cạnh cửa ra vào…)
  • Luôn tìm cơ hội tạo hứng thú cho bài giảng
    bằng các hoạt động: như bài tập nhỏ, hỏi đáp, 2 người suy nghĩ và trả lời…
  • Minh họa các ghi chép
    bằng hình ảnh và bảng biểu
  • Xem lại, sắp xếp các ghi chép sau giờ học
    với sơ đồ định nghĩa
  • Giữ và sắp xếp các tờ giấy bài thầy cô phát thành một tập
    và các tóm tắt của bài giảng.
  • Trong các tờ bài phát đó, chọn những tờ có ghi chép có hướng dẫn hoặc chỗ trống
    để bạn có thể điền và hoàn thành.

Khi đọc sách giáo khoa

  • Lướt qua tiêu đề, biểu đồ, hình vẽ
    để có được hình dung sơ bộ nội dung 1 chương trước khi bắt đầu đọc
  • Sử dụng bút gạch chân màu
    để làm nổi bật các đoạn quan trọng
  • Viết hoặc minh họa ra lề sách
    cũng để làm nổi bật ý quan trọng.

Làm bài kiểm tra đánh giá

  • Viết ra giấy hoặc vẽ ra các bước cần làm
    như một checklist những việc cần làm để theo dõi
  • Nghĩ đến các liên tưởng hình ảnh nếu muốn ghi nhớ thông tin
    (Có khi, bạn nhớ được câu trả lời nằm ở chỗ nào của trang nhưng mà lại không nhớ nội dung câu trả lời!)
  • Nếu bạn gặp khó khăn với những bài kiểm tra tính giờ,
    hãy gặp với giáo viên và xem xem liệu có cách kiểm tra nào khác cho bạn không
  • Bài luận hoặc bài kiểm tra viết đoạn văn ngắn, hoặc diễn thuyết trước lớp có thể những cách kiểm tra khác.

1. Effective Techniques for Teaching Highly Gifted Visual-Spatial Learners, Linda Kreger Silverman, Ph.D. Gifted Development Center, Denver, Colorado http://www.gifteddevelopment.com/Articles/EffectiveTechniques.html, 12/8/2003

Cũng có thể tham khảo: Grow, Gerald, The Writing Problems of Visual Thinkers, Florida A&M University

==================

SOURCE:

Cẩm nang và chiến lược dành cho học tập được lập và duy trì bởi Joe Landsberger như một trang web giáo dục. Những lời khuyên trong cuốn cẩm nang này được sử dụng rộng rãi cho các học sinh sinh viên trên toàn nước Mỹ và trên thế giới. Được dịch sang Tiếng Việt bởi Nguyễn Thanh Hương, sinh viên trường Lafayette College, Pennsylvania, Hoa Kỳ, thực tập sinh của Quỹ Giáo dục Hoa Kỳ – Đông Dương (US-Indochina Educational Foundation) dưới sự giúp đỡ tài chính của Quỹ Freeman Assist. Ngoài ra, còn có sự tham gia của Đào Tú Anh (Hà Nội) và Trần Hà Hải (Thành Phố Hồ Chí Minh).