NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM: Thành tựu và những vấn đề cần phải giải quyết về lập pháp

NGUYỄN DUY QUÍ

Từ sau Cách mạng Tháng tám 1945, quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam đã trải qua hơn 60 năm với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình đó đang được phát triển ở một tầm cao mới, với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trên các mặt: Hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”*. Để biến Nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, chúng ta hãy cùng nhìn lại những gì đã làm được trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận và trong hoạt động thực tiễn, từ đó đi đến giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất.

Những thành tựu

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan

Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Các đạo luật tổ chức của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và đang được tiếp tục trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.

Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam xuất phát từ định hướng XHCN mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội với những mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu hướng toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước ta không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình

Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng, đã được khái quát trên các mặt chính sau đây:

Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường không phủ nhận quy luật khách quan của thị trường mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong CNTB và kinh tế thị trường trong CNXH. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường XHCN tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.

Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền XHCN là chế độ dân chủ nhất nguyên. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nước ta.

Ba là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền XHCN là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền XHCN có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc thực hiện dân chủ.

Những vấn đề cần giải quyết

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết là chúng ta phải sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra trong giai đoạn loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho thể chế kinh tế mới. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ, kiên quyết hơn, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tư duy pháp lý mới có thể được phác thảo trên những nét chính sau đây:

Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta trong giai đoạn phát triển đến năm 2010 và giai đoạn tiếp theo

Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình luật pháp của nước ta được xây dựng theo lý thuyết nào. Dĩ nhiên, chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp dụng ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp của nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố: Dân tộc và hiện đại.

Cần có các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ người Việt Nam trong tiến trình xây dựng và thực thi các thể chế pháp lý. Các kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật trong các giai đoạn lịch sử cho thấy các thế hệ người Việt Nam khá thành công trong việc tiếp thu các giá trị pháp lý nước ngoài, làm nên một bản sắc pháp lý Việt Nam. Xin hãy lấy Quốc triều hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) để suy ngẫm. Bộ luật Hồng Đức, theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú: “Thật là cái mẫu mực để trị nước, các khuôn phép để buộc dân”. Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp lý và các quy tắc pháp luật của Trung Hoa thời phong kiến, nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn là bộ luật của người Việt Nam, là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, chứ không phải là sự sao chép máy móc pháp luật của nhà Đường hay nhà Minh. Trong lịch sử, dân tộc ta đã rất thông minh và chủ động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để cách tân đất nước. Ngày nay, chúng ta vẫn cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật nước ngoài một cách chủ động để tiếp tục củng cố và phát triển đất nước.

Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta cần phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp

Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp. Kế hoạch xây dựng luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ sở đề xuất của các cơ quan hữu quan để tập hợp, cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế hoạch vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu “giữ chỗ” và trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu “ghi danh” đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua kế hoạch xây dựng luật hàng năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định của pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản; trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân phù hợp. Hiện nay, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), công tác xây dựng luật của nước ta trở nên rất khẩn trương, không những phải xây dựng các đạo luật mới đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới mà còn phải rà soát lại toàn bộ luật pháp của nước ta để có thể bổ sung, hoàn thiện nhằm đảm bảo sự tương thích của pháp luật nước ta với không gian pháp lý có tính quốc tế theo nguyên tắc: Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia.

Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật. Thực tiễn xây dựng luật ở nước ta thời gian qua cho thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần nhiều đều có dung lượng khá lớn, các quy phạm và đối tượng điều chỉnh cũng khá lớn. Do vậy, thời gian xây dựng luật phải kéo dài. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế.

Ba là, tăng cường lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng các dự thảo luật. Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự thảo luật. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo luật phải được thông báo công khai, minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng, củng cố được niềm tin của nhân dân vào pháp luật; mặt khác, khi đã được ban hành, luật sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

Chú thích:

* Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 253.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2007

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM: THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT VỀ LẬP PHÁP

NGUYỄN DUY QUÍ

Từ sau Cách mạng Tháng tám 1945, quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam đã trải qua hơn 60 năm với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình đó đang được phát triển ở một tầm cao mới, với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trên các mặt: Hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”*. Để biến Nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, chúng ta hãy cùng nhìn lại những gì đã làm được trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận và trong hoạt động thực tiễn, từ đó đi đến giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất.

Những thành tựu

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan

Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Các đạo luật tổ chức của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và đang được tiếp tục trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.

Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam xuất phát từ định hướng XHCN mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội với những mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu hướng toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước ta không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình

Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng, đã được khái quát trên các mặt chính sau đây:

Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường không phủ nhận quy luật khách quan của thị trường mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong CNTB và kinh tế thị trường trong CNXH. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường XHCN tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.

Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền XHCN là chế độ dân chủ nhất nguyên. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nước ta.

Ba là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền XHCN là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền XHCN có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc thực hiện dân chủ.

Những vấn đề cần giải quyết

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết là chúng ta phải sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra trong giai đoạn loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho thể chế kinh tế mới. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ, kiên quyết hơn, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tư duy pháp lý mới có thể được phác thảo trên những nét chính sau đây:

Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta trong giai đoạn phát triển đến năm 2010 và giai đoạn tiếp theo

Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình luật pháp của nước ta được xây dựng theo lý thuyết nào. Dĩ nhiên, chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp dụng ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp của nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố: Dân tộc và hiện đại.

Cần có các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ người Việt Nam trong tiến trình xây dựng và thực thi các thể chế pháp lý. Các kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật trong các giai đoạn lịch sử cho thấy các thế hệ người Việt Nam khá thành công trong việc tiếp thu các giá trị pháp lý nước ngoài, làm nên một bản sắc pháp lý Việt Nam. Xin hãy lấy Quốc triều hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) để suy ngẫm. Bộ luật Hồng Đức, theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú: “Thật là cái mẫu mực để trị nước, các khuôn phép để buộc dân”. Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp lý và các quy tắc pháp luật của Trung Hoa thời phong kiến, nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn là bộ luật của người Việt Nam, là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, chứ không phải là sự sao chép máy móc pháp luật của nhà Đường hay nhà Minh. Trong lịch sử, dân tộc ta đã rất thông minh và chủ động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để cách tân đất nước. Ngày nay, chúng ta vẫn cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật nước ngoài một cách chủ động để tiếp tục củng cố và phát triển đất nước.

Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta cần phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp

Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp. Kế hoạch xây dựng luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ sở đề xuất của các cơ quan hữu quan để tập hợp, cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế hoạch vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu “giữ chỗ” và trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu “ghi danh” đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua kế hoạch xây dựng luật hàng năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định của pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản; trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân phù hợp. Hiện nay, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), công tác xây dựng luật của nước ta trở nên rất khẩn trương, không những phải xây dựng các đạo luật mới đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới mà còn phải rà soát lại toàn bộ luật pháp của nước ta để có thể bổ sung, hoàn thiện nhằm đảm bảo sự tương thích của pháp luật nước ta với không gian pháp lý có tính quốc tế theo nguyên tắc: Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia.

Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật. Thực tiễn xây dựng luật ở nước ta thời gian qua cho thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần nhiều đều có dung lượng khá lớn, các quy phạm và đối tượng điều chỉnh cũng khá lớn. Do vậy, thời gian xây dựng luật phải kéo dài. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế.

Ba là, tăng cường lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng các dự thảo luật. Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự thảo luật. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo luật phải được thông báo công khai, minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng, củng cố được niềm tin của nhân dân vào pháp luật; mặt khác, khi đã được ban hành, luật sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

Chú thích:

* Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 253.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2007

QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – MỘT ĐIỀU KIỆN CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

PHẠM ĐÌNH CHƯỚNG

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ được bổ sung không ngừng, đặc biệt trong khoảng 30 năm gần đây, thế nhưng vài năm gần đây đã thấy nhu cầu phải bổ sung thêm.

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là xây dựng một cơ chế đủ sức chống lại tình trạng chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ trong cạnh tranh và là nền tảng cho mọi nỗ lực sáng tạo. Trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế thế giới khi mà hàm lượng trí tuệ ngày càng cao trong các sản phẩm hàng hóa, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cần được tăng cường hơn nữa để làm tiền đề đưa nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế mới “Nền kinh tế tri thức”. Đó là lược trích nội dung bài tham luận của ông Phạm Đình Chướng tại Hội thảo “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” tại Hà Nội ngày 21-22/6/2000

1. Tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) và hệ thống bảo hộ SHTT.

Khái niệm “tài sản trí tuệ” hay SHTT (intellectual property) bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ này và vốn dĩ được dùng để chỉ các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, gồm: Các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật; các sáng chế, các kiểu dáng sản phẩm (hay kiểu dáng công nghiệp) và các nhãn hiệu hàng hóa (kể cả nhãn hiệu dịch vụ).

Gắn liền với khái niệm trên là hai khái niệm xuất hiện sớm hơn (nửa cuối thế kỷ XIX), đó là “sở hữu công nghiệp” (SHCN) (industrial property) gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa và “bản quyền” (copyright) gồm các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật.

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN) cũng như các sáng tạo trong kinh doanh, “nội hàm” của SHTT ngày càng mở rộng. Danh sách các đối tượng SHTT được bổ sung không ngừng và đặc biệt nhanh trong khoảng 30 năm gần đây. Ngày nay, có thêm những đối tượng sau đây được liệt kê thuộc các đối tượng SHTT: Các chủng vi sinh mới; các giống cây trồng mới; các thiết kế bố trí mạch tích hợp (mạch IC); phần mềm máy tính; các thông tin bí mật liên quan đến công nghệ hoặc kinh doanh (know-how và trade secret).Vài năm gần đây lại đã thấy nhu cầu phải kể thêm các chương trình vệ tinh mã hóa, tên miền trên Internet (Domain name)…

Trong lý luận về SHTT, các tài sản trên đây có các đặc tính đáng chú ý: Là kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ (chứ không phải là hoạt động trí tuệ thông thường); vô hình nhưng có thể được lưu giữ và thể hiện trên các vật mang nhất định; có khả năng lan truyền, sao chép (nhân bản) mà không làm mất sự hiện diện tại nguồn.

Các dạng tài sản trí tuệ đều là sản phẩm, sự thể hiện, là thước đo đồng thời là động lực của sự tiến bộ nói chung của xã hội về tinh thần, vật chất và trình độ công nghệ sản xuất, công nghệ kinh doanh.

Các tài sản trí tuệ có thể sẽ bị hạn chế lan truyền, tức là bị giữ lại tại nguồn nếu sự lan truyền không bù đắp được các nỗ lực trong quá trình tìm tòi để sáng tạo ra tài sản.

Mục tiêu của hệ thống SHTT là khuyến khích hoạt động sáng tạo; cổ vũ đầu tư tìm kiến các giải pháp kỹ thuật – mỹ thuật ứng dụng, các tác phẩm cũng như các sáng kiến kinh doanh mới; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh đồng thời sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội.

Việc tạo dựng, củng cố giá trị của mọi đối tượng SHTT thực chất là một quá trình đầu tư tốn kém về vật chất và trí tuệ. Trong khi đó, bản chất của cạnh tranh lại là tìm kiếm các biện pháp giảm bớt chi phí và tăng cường lợi nhuận. Việc sao chép, mô phỏng, thậm chí đắp cắp nguyên vẹn các thành quả sáng tạo kỹ thuật – kinh doanh của đối thủ là biện pháp hấp dẫn nhất để đạt được mục tiêu trên. Bởi vậy, nguy cơ chiếm đọat các sản phẩm trí tuệ là nguy cơ thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa. Nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn nguy cơ này, mọi nỗ lực chính đáng đều bị vùi dập bởi tệ nạn chiếm đoạt hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Một cơ chế pháp luật chống lại nguy cơ như vậy là đòi hỏi ngày càng gay gắt.

Biện pháp để đạt được các mục tiêu trên là thông qua việc vận hành hệ thống các qui phạm pháp luật mà xây dựng và duy trì một lĩnh vực hoạt động gọi là hệ thống bảo hộ quyền SHTT – trong đó quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến đối tượng mang nội dung, quan hệ quyền và nghĩa vụ và các quan hệ đó được điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế -xã hội. Hệ thống bảo hộ quyền SHTT được cấu thành bởi hai hệ thống chủ chốt đó là hệ thống SHCN và hệ thống quyền tác giả.

Hệ thống SHCN lại bao gồm: Hệ thống bảo hộ sáng chế (hay còn gọi là hệ thống patent; hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và hệ thống bảo hộ thông tinbí mật. Nguyên tắc chung của các hệ thống này là thông qua việc thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với các quyền SHTT mà chủ thể các quyền đó (người nắm giữ quyền) được bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất trong một thời gian nhất định đủ để khai thác nhằm không những bù đắp các chi phí đầu tư tạo ra giá trị của các đối tượng đó mà còn có thể thu được lợi nhuận để tiếp tục tạo ra các thành tựu mới. Một cách tổng quát, mọi đối tượng nói trên đều được coi là đối tượng sở hữu, các quan hệ xã hội liên quan tới các đối tượng đó được điều chỉnh chủ yếu theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ sở hữu.

2. Khuynh hướng phát triển SHTT trong vài chục năm sắp tới.

+ Khuynh hướng thứ nhất, SHTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu chính sách kinh tế – thương mại của các quốc gia, chế độ bảo hộ SHTT phát triển ngược với chế độ bảo hộ mậu dịch.

Các động thái phát triển hoạt động thương mại, kinh tế trong khoảng 10 năm gần đây bộc lộ rõ khuynh hướng vốn đã có các dấu hiệu từ trước, đó là song song với xu hướng gỡ bỏ dần các hàng rào mậu dịch dạng phi thuế, giảm bớt các chế độ bảo hộ mậu dịch, tự do hóa thương mại là xu hương tăng cường các hàng rào bảo hộ SHTT bằng cách củng cố và tăng cường các biện pháp chế tài và mở rộng phạm vi bảo hộ các thành quả sáng tạo KH&CN và kinh doanh, SHTT nói chung và SHCN nói riêng ngày càng gắn chặt, trở thành hoạt động của bộ phận kinh tế thương mại. Khuynh hướng nói trên sẽ tiếp tục và ngày càng rõ nét trong những năm sắp tới.

+ Khuynh hướng thứ hai, SHTT sẽ nhanh chóng mở rộng phạm vi và nội dung sang các đối tượng mới đồng thời có thể sẽ phát sinh các nguyên tắc bảo hộ mới cho các đối tượng không truyền thống.

Vài chục năm truớc đây, hệ thống bảo hộ SHCN được coi là gồm có hai hệ thống chủ chốt: Hệ thống thứ nhất đó là hệ thống patent dùng để bảo hộ các sản phẩm sáng tạo kỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng và hệ thống thứ hai là hệ thống nhãn hiệu dùng để bảo hộ các kết quả sáng tạo kinh doanh và thương mại. Sau đó có thêm hệ thống thứ ba – bảo hộ thông tin bí mật (know-how và bí quyết thương mại). Việc phát triển nhanh chóng các ngành công nghệ mới làm xuất hiện nhiều đối tượng mới không phải là các đối tượng truyền thống, do đó các hệ thống truyền thống nói trên dường như sẽ không đủ thích hợp để thực hiện mục tiêu bảo hộ. Cho tới nay, việc áp dụng nguyên tắc truyền thống cho các thành tựu công nghệ sinh học – nhất là đối với gen và chủng vi sinh cũng như giống vi sinh vật – và trong công nghệ điện tử – tin học – nhất là đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp và phần mềm máy tính đã tỏ ra không hoàn toàn thích hợp. Vì vậy, bản thân các nguyên tắc bảo hộ SHCN cũng đang tiếp tục thay đổi theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn.

Hệ thống bảo hộ quyền tác giả cũng có sự mở rộng tương tự như vậy. Vốn dĩ các đối tượng bảo hộ chỉ bao gồm các tác phẩm (khoa học, văn học, nghệ thuật), gần đây đã xuất hiện các đối tượng mới, đó là chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu. Từ chỗ chỉ bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền tác giả, hệ thống này mở rộng cả tới các vấn đề về quyền của người thể hiện (quyền của người biểu diễn, người ghi âm, ghi hình… được coi là “quyền kế cận”).

+ Khuynh hướng thứ ba, các thao tác hành chính liên quan tới việc xác lập quyền SHCN sẽ ngày càng đơn giản, nhanh chóng; các thành tựu công nghệ mới – nhất là công nghệ thông tin – sẽ được ứng dụng và làm thay đổi căn bản hoạt động của các cơ quan SHCN.

+ Khuynh hướng thức tư, các hoạt động SHTT diễn ra theo hướng toàn cầu hóa rộng lớn và triệt để.

Việc toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế – thương mại là nhân tố hàng đầu có tính chất quyết định đối với việc thúc đẩy sự toàn cầu hóa hoạt động SHTT – trong đó có SHCN. Những năm sắp tới khuynh hướng này sẽ càng bộc lộ rõ. Sự thâm nhập có tính chất toàn cầu các thành quả công nghệ mới đòi hỏi mọi quốc gia đều phải thiết lập các chế độ bảo hộ SHTT theo các tiêu chuẩn thống nhất khiến cho dường như sẽ không còn nền kinh tế nào không gắn liền với chế độ bảo hộ SHTT.

3. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS – WTO): Thách thức về SHTT đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Đầu năm 1995, Việt Nam đã nộp đơn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Để tham gia WTO, chúng ta cần đáp ứng một số yêu cầu, trong đó có yêu cầu về SHTT được nêu trong “Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT” – gọi tắt là Hiệp định TRIPS.

+Ba vấn đề trụ cột của GATT 1994 (WTO): Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ và bảo hộ SHTT.

Trong ba vấn đề trên, chỉ có vấn đề thứ nhất (thương mại – hay buôn bán – hàng hóa) là nội dung truyền thống của GATT. Cả hai vấn đề sau (thương mại dịch vụ và SHTT) đều là nội dung mới xuất hiện trong GATT 1994.

Lý do của việc xuất hiện vấn đề về SHTT trong GATT 1994:

– Vai trò, ảnh hưởng ngày càng cao của các sản phẩm trí tuệ đối với kết cấu giá trị của các sản phẩm truyền thống và các ngành truyền thống; xu hướng tăng giá trị và tăng khả năng cạnh tranh nhờ tăng hàm lượng trí tuệ.

– Xuất hiện nhiều sản phẩm mới, thậm chí xuất hiện nhiều ngành mới chủ yếu dựa trên việc khai thác trí tuệ: Nền công nghiệp bản quyền ngày càng phát triển (phim ảnh, ti vi, video, giải trí, phần mềm máy tính…). Sản phẩm của ngành công nghiệp bản quyền chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong thương mại.

– Đầu tư cho trí tuệ ngày càng cao và tốn kém. Trong khi đó khuynh hướng sử dụng mà không đầu tư (thực chất là đánh cắp kết quả đầu tư trí tuệ) càng ngày càng nghiêm trọng. Đã xuất hiện các “nền công nghiệp hàng giả”.

Ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh bất chính là nhu cầu cấp bách liên quan đến SHTT.

+ Hiệp định TRIPS.

Nội dung về SHTT của GATT 1994 được lập thành một văn bản riêng và được gọi là “Hiệp định TRIPS”. Hiệp định TRIPS là Hiệp định đa phương chi tiết, đầy đủ nhất về SHTT trong lịch sử phát triển hoạt động này.

Các khối, các khu vực thương mại khác (EU, NAFTA, ASEAN – AFTA…) cũng coi Hiệp định TRIPS là phù hợp với mình. Các điều kiện về SHTT nêu trong Hiệp định TRIPS là tiêu chuẩn mà Việt Nam phải đáp ứng để hội nhập với khu vực và thế giới.

+ Các tiêu chuẩn về bảo hộ SHTT do Hiệp định TRIPS ấn định. Mọi thành viên của WTO đều phải thiết lập hệ thống bảo hộ SHTT một cách đầy đủ, có hiệu quả theo 4 tiêu chuẩn tối thiểu nhất định về: Nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc bảo hộ; các đối tượng bắt buộc phải được bảo hộ và mức độ, phạm vi bảo hộ các đối tượng đó; hệ thống bảo đảm thực thi và thời hạn thực hiện các tiêu chuẩn đó.

Thứ nhất: Tiêu chuẩn về đối xử quốc gia và nguyên tắc bảo hộ.

Các nước thành viên WTO phải tuân thủ các qui định về nguyên tắc đối xử quốc gia cũng như các nguyên tắc bảo hộSHTT đã được qui định trong các hiệp ước quốc tế: Công ước Paris về bảo hộ SHCN (1883 – 1967); Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886 – 1971); Công ước Rome (1961) về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất chương trình ghi âm, ghi hình, tổ chức phát thanh, truyền hình; Hiệp ước Washington về bảo hộ SHTT trong lĩnh vực mạch tích hợp (1989).

Thứ hai: Các đối tượng SHTT bắt buộc phải bảo hộ.

– Bản quyền (quyền tác giả): Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, bao gồm cả chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu theo các nguyên tắc của Công ước Berne nhưng không bao gồm các qui định về quyền tinh thần.

– Quyền kề cận, theo nguyên tắc của Công ước Rome.

– Quyền SHCN: Nhãn hiệu hàng hóa (bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ); chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa); kiểu dáng công nghiệp; sáng chế; thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp; chống cạnh tranh bất chính và thông tin bí mật (bí quyết kỹ thuật và bí quyết thương mại).

– Giống cây trồng.

Thứ ba: Tiêu chuẩn đối với hệ thống bảo đảm thực thi.

– Phải bảo đảm khả năng khiếu kiện cho người có quyền SHTT khi quyền đó bị xâm phạm.

– Phải bảo đảm khả năng khiếu naị cho người bị xử lý khi áp dụng các biện pháp chế tài hoặc khi giải quyết tranh chấp nếu người đó cho rằng mình bị xử lý sai hoặc không thỏa đáng.

– Phải có qui định rõ ràng về trình tự, thủ tục tố tụng và thủ tục hành chính liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp hoặc xử lý các xâm phạm về SHTT; các thủ tục đó phải đơn giản, có hiệu quả.

– Phải có các qui định về các biện pháp chế tài, kể cả các biện pháp hành chính hoặc hình sự để bảo đảm ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyển SHTT, trong đó đặc biệt phải chú ý các biện pháp khẩn cấp, tạm thời.

– Phải có các biện pháp kiểm soát biên giới (hải quan) hữu hiệu nhằm ngăn chặn các sản phẩm xâm phạm tham gia vào lưu thông.

– Phải bảo đảm các biện pháp chế tài hình sự, chống lại các hành vi xâm phạm nghiêm trọng, qui mô lớn.

– Phải có các biện pháp thích hợp ngăn chặn và xử lý các hành vi lạm dụng quyền, đền bù thiệt hại cho bất kỳ bên nào.

Thứ ba: Thời hạn phải đạt được các tiêu chuẩn về SHTT.

Thời gian áp dụng các tiêu chuẩn về SHTT do Hiệp định TRIPS ấn định là: Từ 1/1/1996 cho các nước phát triển; từ 1/1/2000 cho các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường và từ 1/1/2005 cho các nước kém phát triển.

+ Hiện trạng của Việt Nam – so sánh với Hiệp định TRIPS.

So với Hiệp định TRIPS, hệ thống SHTT của Việt Nam đã đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhưng còn những tiêu chuẩn khác chưa đáp ứng được. Cụ thể là:

– Chưa gia nhập và cũng chưa thừa nhận ba Hiệp ước về SHTT: Công ước Berne; Công ước Rome và Hiệp ước Washington.

– Các đối tượng sau chưa được pháp luật bảo hộ: Chỉ dẫn địa lý (mới chỉ bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hóa); thiết kế bố trí mạch tích hợp; thông tin bí mật; chống cạnh tranh không lành mạnh và giống cây trồng.

– Hệ thống thực thi chưa đủ mạnh cả về phương diện luật pháp lẫn khả năng thực thi.

– Chưa có qui định về khả năng và thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn khẩn cấp hoặc tạm thời cũng như giải quyết vấn đề đền bù thiệt hại.

4. Một số khuyến nghị.

– Để tìm kiếm các nguồn lực cho phát triển, Việt Nam chủ trương không khuyến khích nền công nghiệp hàng giả, chủ trương tôn trọng quyền SHTT của mọi chủ thể, nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý các hành vi giả mạo, đánh cắp, tiếm đoạt kết quả đầu tư sáng tạo.

– Chính sách khuyến khích đầu tư cho sáng tạo công nghệ và sáng tạo trong kinh doanh không chỉ chú trọng về phương diện tinh thần mà cần phải bảo đảm các điều kiện cần thiết về pháp lý thông qua hệ thống các qui phạm pháp luật để người đã đầu tư có khả năng khai thác các thành quả.

– Trong khi chú trọng bảo đảm lợi ích cho người có công sáng tạo, cần phải đồng thời chú trọng bảo đảm lợi ích của xã hội, nói cách khác phải tạo ra một trạng thái cân bằng tương đối giữa lợi ích của xã hội và lợi ích của người sở hữu các thành quả sáng tạo.

– Song song với việc bảo đảm quyền SHTT, cần phải có các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn nguy cơ lạm dụng quyền SHTT.

– Việc phát triển SHCN trước hết là phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước do đó phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước đồng thời phải phù hợp với đòi hỏi của qúa trình hội nhập.

Điều kiện của Việt Nam chưa đòi hỏi và chưa cho phép ngay một lúc hệ thống SHCN của mình có trình độ ngang hàng với trình độ chung của thế giới. Vì vậy, tiến trình phát triển hoạt động này phải được coi là một quá trình gồm nhiều bước, trong đó mỗi bước được xác định bởi nhu cầu và khả năng của thực tiễn để tiến tới xây dựng một hệ thống SHCN toàn diện, có trình độ tương xứng với khu vực và thế giới.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 11/2000

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐỖ QUỐC TUẤN

Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên không phải là đề tài mới, nhưng chưa bao giờ cũ trong các trường đại học. Bên cạnh phương pháp luận chung, ở mỗi một ngành học, hoạt động NCKH của sinh viên còn có những đặc thù riêng. Bài viết của tác giả sẽ cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan về hoạt động NCKH của sinh viên trong lĩnh vực Kỹ thuật hàng không (KTHK) – một lĩnh vực còn khá mới mẻ đối với chúng ta.

Để từng bước nâng cao khả năng NCKH của sinh viên, ở nhiều trường đại học trong và ngoài nước đã có rất nhiều hình thức hướng dẫn sinh viên phát triển tính sáng tạo trong học tập, nâng cao khả năng nghiên cứu như: Cải tiến phương pháp học tập, làm các bài tập lớn, đồ án tốt nghiệp… Tất cả các công việc đều theo quy trình, thứ tự cụ thể và mang bản chất riêng. Bài viết đề cập đến một số vấn đề thực tế khi tiến hành công việc nghiên cứu trong lĩnh vực KTHK và khái quát mối tương quan giữa các khâu trong quá trình nghiên cứu của sinh viên.

Trong lĩnh vực KTHK, sinh viên có thể tham gia các công việc như: Cải tiến nâng cao chất lượng của hệ thống, thiết kế chế tạo hệ thống mới… Để tham gia và đạt hiệu quả cao, sinh viên phải có trình độ ngoại ngữ nhất định (đọc và dịch tài liệu một cách thông thạo, mở rộng và cập nhật được những kiến thức mới). Tính hiệu quả và sự thành công của sản phẩm nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn đề tài, cách thức tổ chức công việc, trong đó phải tính đến các thao tác phân tích, hình thành các thuật toán, rút ra những kết luận có tính quyết định cho từng giai đoạn nghiên cứu, đó là những vấn đề khái quát chung, trong thời gian tiến hành công việc có thể phát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi người nghiên cứu phải nhanh nhạy, chuyển đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế.

Trong lĩnh vực KTHK việc nghiên cứu, thiết kế, cải tiến các hệ thống lớn là quan trọng và cần thiết. Không những thế, công nghệ của nó còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như: Kỹ thuật điện – điện tử; radio; laser; cơ học ứng dụng; kỹ thuật tự động hoá… Cấu trúc của hệ thống KTHK bao gồm rất nhiều khâu, hoặc các máy kết hợp lại. Trong hệ thống, phần cứng là thiết bị nhỏ lẻ liên kết với nhau, còn phần mềm có thể coi là những thuật toán cho mối quan hệ giữa các khâu, chương trình nằm trong các vi mạch điều khiển hoặc các phương trình điều khiển của hệ thống. Để cải tiến được hệ thống kỹ thuật, người nghiên cứu phải có khả năng nắm rõ hệ thống và có sáng kiến phù hợp, tương xứng với trình độ khoa học và công nghệ mới. Một vấn đề đặt ra là trình độ nghiên cứu của sinh viên, nhất là khả năng thông thạo ngoại ngữ, cũng như kinh nghiệm trong công việc, điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực phục vụ cho quá trình nghiên cứu còn hạn chế. Xét chung về mặt bằng kiến thức, sinh viên chưa đủ điều kiện trong tất cả các lĩnh vực, do đó đòi hỏi phải có phương pháp phù hợp khi tiến hành công việc nghiên cứu.

Các hệ thống của máy bay, về cơ bản được mô phỏng bằng tổ hợp các hàm truyền và đã được giới thiệu trong các tài liệu trong nước cũng như nước ngoài. Từ trước đến nay, đa số nghiên cứu được tiến hành dựa vào các tài liệu đó, trên cơ sở phân tích các sơ đồ, bảng – biểu. Để đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật trong tình hình mới, đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo tiên tiến, đảm bảo độ chính xác cao và linh hoạt trong khai thác ứng dụng. Một trong những phương pháp tiên tiến là phương pháp mô phỏng, thử nghiệm và kiểm định bằng máy tính. Nhiều phần mềm được phổ biến rộng rãi như Simulink trong Matlab hoặc VisSim… ứng dụng các phần mềm đó, người nghiên cứu có thể dễ dàng mô phỏng được hệ thống hoặc thay đổi cấu trúc hệ thống bằng các thao tác đơn giản dễ hiểu. Ngoài ra, nó cho phép đánh giá kết quả cũng như chất lượng ở mọi vị trí trên hệ thống, từ đó có thể đưa ra những quyết định phù hợp cho quá trình xây dựng, thay đổi cấu trúc cũng như thuộc tính của hệ thống. Mô phỏng bằng thời gian thực khi sử dụng các gói phần mềm khác của Matlab, ví dụ như gói Stateflow cho phép nhìn thấy quá trình thay đổi tín hiệu theo thời gian, và có thể điều chỉnh thời gian cho quá trình xảy ra nhanh hay chậm nếu cần thiết. Công cụ mô phỏng bằng Matlab cho phép lập trình và thiết lập hệ thống ảo, có thể cảm nhận được bằng trực quan qua hình ảnh 2D hoặc 3D, đồng thời có thể chuyển đổi sang hệ thống kỹ thuật số, làm nền tảng cơ bản cho quá trình ứng dụng công nghệ kỹ thuật số để nâng cao chất lượng hệ thống. Tác dụng của phương pháp mô phỏng là giảm chi phí cho quá trình thí nghiệm, làm phong phú thêm và phát triển tính năng ưu việt của hệ thống, đem lại kết quả sát với thực tế khi tiến hành trên hệ thống thật, cũng như đánh giá được sự ảnh hưởng giữa các cơ cấu, từ đó có sự thay đổi chính xác tiết kiệm thời gian và công sức.

Đối với các hệ thống điện – điện tử của máy bay, đa số được trang bị bởi rất nhiều vi mạch điều khiển. Sự phát triển trong việc thiết lập các vi mạch điều khiển ngày nay cho phép người nghiên cứu dễ dàng tư duy và tiếp cận với bản chất làm việc của các vi mạch. Cụ thể là, các ngôn ngữ lập trình bậc cao và các phần mềm hỗ trợ giúp người lập trình cho hệ thống đi sâu hơn vào khai thác bản chất của hệ thống và vai trò của vi mạch điều khiển đó trong hệ thống. Sau khi chương trình được viết và biên dịch sang mã máy nhờ các phần mềm, mã máy sẽ được tích hợp dễ dàng lên chíp nhờ bộ nạp. Thị trường vi mạch phong phú và đa dạng có thể cung cấp linh kiện phù hợp về giá thành cũng như yêu cầu kỹ thuật. Việc thay đổi linh kiện đó cũng được tiến hành ngay trong quá trình làm việc với phần mềm, dựa trên các thư viện linh kiện ảo có trong phần mềm đó.

Đa số công việc NCKH của sinh viên nói chung được tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc của người đang tiến hành công việc nghiên cứu. Tiến trình nghiên cứu được biểu thị theo sơ đồ dưới đây:

Tiến trình này bao gồm nhiều khâu có quan hệ với nhau bằng các quá trình trao đổi vật chất và thông tin để phục vụ cho nghiên cứu. Khối “người hoặc nhóm nghiên cứu” đóng vai trò trung tâm và có mối quan hệ mật thiết với khối khác. Tiến trình công việc được bắt đầu từ những yêu cầu thực tế, hoặc của các tổ chức quan tâm đến kết quả nghiên cứu và khả năng đầu tư nghiên cứu. Các yêu cầu này được chuyển đến người hướng dẫn trực tiếp hoặc tổ chức phụ trách nghiên cứu. Người hướng dẫn nắm vững yêu cầu của công việc cần làm và phải đánh giá được khả năng thực hiện công việc của mình cũng như nhóm nghiên cứu do mình phụ trách và có trách nhiệm với công việc đó. Sau đó người hướng dẫn truyền đạt và phân tích những yêu cầu của công việc, nhấn mạnh mục đích và cung cấp những thông tin cần thiết ban đầu cho người nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu đó.

Dựa trên cơ sở kiến thức sẵn có cùng với sự hỗ trợ về điều kiện cơ sở vật chất từ bên ngoài theo các quá trình (8-9-10-11-13 minh hoạ trên sơ đồ), người hoặc nhóm nghiên cứu hình thành các phương án giải quyết (quá trình 4). Sự hỗ trợ này không phải là hoàn toàn mà đòi hỏi người nghiên cứu phải nỗ lực tìm tòi và say mê, tâm huyết với công việc, đó chính là nguồn tài liệu dồi dào trong các thư viện, thư viện điện tử. Ngoài ra, còn đòi hỏi người nghiên cứu phải kiên trì trong quá trình tiến hành các thực nghiệm hoặc thí nghiệm kiểm tra, bên cạnh đó phải tận dụng có hiệu quả các trang bị kỹ thuật có sẵn để phục vụ cho nghiên cứu. Sau khoảng thời gian nhất định, các phương án giải quyết được đưa ra thảo luận chung cùng người hướng dẫn để tìm ra phương án tối ưu. Trong quá trình tìm tòi thu thập thông tin và đề xuất các phương án trong từng giai đoạn, người hướng dẫn có trách nhiệm theo dõi và gợi mở tạo hướng tư duy cho sinh viên. Tiếp theo đó là các bước nghiên cứu sâu và tiến hành các thí nghiệm lớn cũng như kiểm định kết quả nghiên cứu. Kết quả sẽ được đánh giá, nếu đáp ứng yêu cầu sẽ được phân bổ theo các quá trình (16-17-18-19) đến các tổ chức liên quan. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu có thể mổ xẻ vấn đề và giao nhiệm vụ cho các thành viên trên cơ sở năng lực, thế mạnh của từng cá nhân. Và khi có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thành viên, việc nghiên cứu sẽ tiến triển nhanh hơn, có nhiều phương án giải quyết và chất lượng hiệu quả cao hơn.

Nếu nghiên cứu độc lập, người nghiên cứu phải có cách nhìn tổng quát trước tiên về hệ thống, thu thập, xử lý thông tin liên quan, sau đó rút ra các vấn đề cần bổ sung và nghiên cứu chi tiết. Có thể việc thu thập thông tin chỉ đơn giản như nắm bắt được tính ưu việt trong các lĩnh vực khác liên quan tới vấn đề nghiên cứu, hoặc khả năng giải quyết các bài toán đặt ra, nhưng rất hiệu quả trong phân tích đánh giá tìm ra hướng đi đúng cho nghiên cứu hệ thống lớn. Có thể kết hợp được nhiều nguồn thông tin đã chọn lọc, tạo mối liên hệ giữa các thành phần của hệ thống, từ đó đi sâu hơn vào các mắt xích của hệ thống, công việc cải tiến hay làm mới có thể được hình thành từ những mắt xích này. Thường thì nghiên cứu độc lập đòi hỏi người nghiên cứu phải có khả năng tư duy rất cao, cùng với nghị lực và tính kiên trì, khi đó mới có thể vượt qua khó khăn để đi đến đích.

NCKH đem lại sự đam mê, phát triển sự sáng tạo và nâng cao tầm hiểu biết. Chính vì vậy, việc tư duy logic, khoa học cùng với sự đánh giá tối ưu cho các quá trình hoặc các vấn đề khi nghiên cứu sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, tránh lãng phí thời gian và đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Đây chỉ là ý kiến, nhận định có tính chất tham khảo trên cơ sở quan sát phương pháp giảng dạy và hướng dẫn NCKH ở nước ngoài, sau đó khái quát lại để có cơ sở đánh giá vai trò, vị trí của mỗi khâu trong tiến trình nghiên cứu nói chung và trong lĩnh vực hàng không nói riêng, nhằm sử dụng và phát triển tối ưu khả năng nghiên cứu của sinh viên, đem lại kết quả cao nhất đáp ứng nhu cầu đặt ra.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 6/2006

215 CÂU HỎI – ĐÁP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Bảo về quyền sở hữu trí tuệ là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết phải đẩy mạnh. Để góp phần giúp bạn đọc, nhất là Thanh tra các Sở KH&CN có được những hiểu biết cơ bản về sở hữu trí tuệ và các quy định, các kỹ năng thanh tra kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, Chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thụy Sỹ về sở hữu trí tuệ đã tài trợ cho việc biên soạn tập tài liệu này (KS Lê Văn Kiều – Chánh Thanh tra Bộ KH&CN biên soạn). Tập tài liệu bao gồm 5 phần với 196 trang. Phần I – Một số khái niệm cơ bản về sở hữu trí tuệ; Phần II – Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; Phần III – Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Phần IV – Xử lý bằng biện pháp hành chính hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Phần V – Tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về sở hữu công nghiệp. Tạp chí Hoạt động Khoa học xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn “215 câu hỏi – đáp pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp”.

BẠN ĐỌC CÓ THỂ TÌM MUA SÁCH Ở CÁC HIỆU SÁCH TIỀN PHONG/TRÀNG TIỀN

BÀI TOÁN CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG WTO

PHẠM ĐỖ NHẬT TIẾN

12 năm trước, dù các nước đang phát triển (chiếm đa số trong WTO) không tán thành, nhưng Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) vẫn được thông qua. Khác với cách nhìn chung của những người trong ngành giáo dục vốn coi giáo dục là một phúc lợi xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi thương mại thì thông qua GATS, WTO có cách nhìn khác: Giáo dục là một dịch vụ trong hoạt động thương mại và thương mại dịch vụ giáo dục cần được tự do hoá.

Cùng với việc gia nhập WTO, giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam với vận hội và nhiều thách thức mới đang bắt đầu. Tác giả nhận diện bài toán của GDĐH Việt Nam trong WTO khi đặt vào bối cảnh chung để tìm một số lời giải.

Vấn đề chung

Quốc tế hoá giáo dục và giáo dục xuyên biên giới

Quốc tế hoá giáo dục là một biểu hiện của toàn cầu hoá trong lĩnh vực giáo dục. Đó là quá trình tích hợp các yếu tố quốc tế vào chức năng, nhiệm vụ và tiến trình tổ chức thực hiện giáo dục, diễn ra theo chiều đo nội tại và chiều đo bên ngoài. Chiều đo nội tại của quốc tế hoá giáo dục là việc đổi mới chương trình giáo dục, phương pháp dạy và học, hoạt động nghiên cứu và hợp tác trong phạm vi của một nước nhằm hướng tới tính quốc tế và liên văn hoá trong giáo dục và đào tạo. Chiều đo bên ngoài của quốc tế hoá giáo dục là sự dịch chuyển xuyên biên giới của 4 nhân tố cơ bản: Người học, nhà giáo, chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục. Chiều đo này có một tên gọi riêng là giáo dục xuyên biên giới.

Giáo dục xuyên biên giới trong 10 năm gần đây phát triển mạnh mẽ và mang hai đặc trưng cơ bản: 1/ Bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới vốn có từ lâu của người học và nhà giáo, đã hình thành và tăng cường việc dịch chuyển xuyên biên giới của chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục; 2/ Bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế phi thương mại (thông qua hợp tác quốc tế với các dự án ODA và liên kết đào tạo) đã hình thành và phát triển sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế thương mại. Như vậy, GDĐH xuyên biên giới nhằm mục đích thương mại chỉ là một nhánh trong dòng chảy chung của quốc tế hoá giáo dục.

Vai trò của các tổ chức quốc tế trong quốc tế hoá giáo dục và một số điều về GATS

Hiện nay, có 2 tổ chức quốc tế hàng đầu thúc đẩy tiến trình quốc tế hoá giáo dục, đó là UNESCO và WTO. UNESCO là tổ chức giáo dục, khoa học, văn hoá của Liên hợp quốc với 188 nước thành viên, theo quan điểm coi giáo dục là một quyền lợi cơ bản của con người và việc tiếp cận GDĐH được thực hiện trên cơ sở chính đáng. Trong bối cảnh quốc tế hoá giáo dục, UNESCO có nhiệm vụ tăng cường hợp tác quốc tế giữa các nước, thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới không nhằm mục đích lợi nhuận. WTO là tổ chức thương mại thế giới, hiện có 150 nước thành viên với quan điểm cơ bản coi giáo dục là một trong 12 ngành dịch vụ khả mại (tradable service) thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS; dịch vụ này cần được từng bước tự do hoá thương mại trên cơ sở đàm phán. Có thể nói, cả UNESCO, WTO đều có nhiệm vụ đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá giáo dục, tuy nhiên, GATS hướng tới việc thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới nhằm mục đích lợi nhuận.

Đồng thời là thành viên của cả 2 tổ chức, nhiều nước chấp nhận cả 2 cơ chế giáo dục xuyên biên giới: Có lợi nhuận và không lợi nhuận. Thực ra, dù có chính thức chấp nhận hay không thì cả 2 cơ chế hoạt động này đã trở thành hiện thực. Vấn đề là tìm mối cân bằng giữa 2 cơ chế để GDĐH thực hiện được sứ mệnh của mình theo mục tiêu cụ thể và lâu dài của mỗi nước.

GATS có 3 mục tiêu chính: Khuyến khích tự do hoá thương mại càng nhiều càng tốt; từng bước mở rộng tự do hoá thương mại thông qua đàm phán; thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp. Phạm vi điều chỉnh của GATS là các dịch vụ, bao gồm 12 ngành, trong đó có 5 phân ngành với các dịch vụ (giáo dục tiểu học, trung học, đại học, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác). Về bản chất, việc tham gia GATS tự nó không làm cho giáo dục của một nước tốt lên hay xấu đi. Nó chỉ mở ra các cơ hội mới cùng các thách thức mới. Đối với các nước đang phát triển, các cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển giáo dục, tạo cục diện cạnh tranh để nâng cao chất lượng, học tập kinh nghiệm để đổi mới quản lý… và kèm theo là một loạt thách thức liên quan: Nguy cơ giảm bớt vai trò của Nhà nước trong giáo dục, tình trạng khó kiểm soát về chất lượng, sự gia tăng bất bình đẳng…Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với mỗi nước là xác định điểm mạnh và điểm yếu của ngành giáo dục, có chính sách và biện pháp phù hợp để khai thác cơ hội, vượt qua thách thức, tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro.

Việt Nam và bài học trong hội nhập quốc tế

Cùng với tiến trình đổi mới đất nước, Việt Nam đã chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế: Là thành viên của AFTA, của APEC, đã ký hiệp định thương mại với EU, với Mỹ và mới đây là thành viên của WTO.

Vụ cá ba sa trước đây và vụ giày da gần đây là một trong những bài học quan trọng mà nước ta đã có được trong quá trình hội nhập. Đó là bài học về chuẩn kép và tính vị kỷ thương mại của các nước phát triển. Về lý thuyết, hội nhập quốc tế là cơ hội để các nước đang phát triển rút bớt khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển nhưng trên thực tế thương mại, các nước phát triển luôn sử dụng con bài chuẩn kép, tức là một mặt luôn gây áp lực buộc các nước đang phát triển phải dỡ bỏ các rào cản theo yêu cầu tự do hoá thương mại, mặt khác tìm mọi cách củng cố các hàng rào bảo hộ kinh tế nước mình. Tính vị kỷ thương mại là đặc điểm của các nước giàu. Vì vậy cho đến nay, hội nhập quốc tế về cơ bản vẫn là một cuộc chơi bất bình đẳng, một quá trình tiếp tục đưa “nước chảy chỗ trũng”. Chỉ có một số ít nước đang phát triển đã vượt được lên thách thức, biến cơ hội thành hiện thực, trong đó có Việt Nam. Bài học thành công là: Nếu trong toàn cầu hoá, chủ động hội nhập là điều kiện cần để phát triển và rút bớt khoảng cách tụt hậu thì điều kiện đủ là phải có hệ thống chính sách chủ động và linh hoạt, có tư duy mới và năng lực quản lý phù hợp, đồng thời có sự chuẩn bị chu đáo nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro.

Bài toán đối với GDĐH Việt Nam trong GATS

Việt Nam cũng đã có những bước đi chủ động trong hội nhập giáo dục, tiếp nhận giáo dục xuyên biên giới theo cả 2 cơ chế: Không lợi nhuận và có lợi nhuận. Chúng ta cũng đã xây dựng được về cơ bản khung pháp lý cho phương thức hiện diện thương mại theo cả 2 cơ chế. Bên cạnh một số vấn đề nảy sinh liên quan chủ yếu đến công tác quản lý các cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam và quản lý lưu học sinh, thành công nổi bật là tạo được sự đóng góp đáng kể của các phương thức cung ứng đó cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ diễn ra trong khung cảnh truyền thống của giáo dục khi các hoạt động quốc tế hoá giáo dục được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ của các hiệp định song phương. Vấn đề gì sẽ nảy sinh khi nước ta gia nhập WTO, tham gia GATS và mở cửa để giáo dục được thực hiện theo quy định của GATS?

Hiện nay, trong tổng số 150 nước thành viên WTO, mới chỉ có 45 nước cam kết thực hiện GATS trong dịch vụ giáo dục, chủ yếu là các nước thuộc khối OECD với tư cách là các nước xuất khẩu giáo dục. Trong các nước đang phát triển ở châu á có Trung Quốc và Thái Lan, với tư cách chủ yếu là các nước nhập khẩu giáo dục (tuy rằng cả 2 nước này đều có chiến lược xuất khẩu giáo dục). Ngoài ra, có một số nước thu nhập thấp ở châu Phi với những cam kết mạnh mẽ nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục. Nhìn chung, các nước đang phát triển vẫn giữ thái độ “chờ xem”.

Xét theo cấp học thì các cam kết tập trung khá nhiều ở GDĐH (với 36 nước), tuy nhiên chủ yếu là GDĐH tư thục. Quan điểm phổ biến hiện nay là coi giáo dục công lập không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS. Xét theo phương thức thì tiêu thụ ngoài nước (2) được cam kết mạnh mẽ nhất, hầu như không có điều kiện ràng buộc; tiếp đến là cung ứng xuyên biên giới (1) và hiện diện thương mại (3); phương thức hiện diện thể nhân (4) chịu nhiều ràng buộc nhất.

Vấn đề đặt ra là sau khi gia nhập WTO, bao giờ, như thế nào và với điều kiện gì, Việt Nam sẽ có cam kết về tự do hoá thương mại dịch vụ giáo dục. Để trả lời, có thể đưa ra 2 kịch bản là: “Chờ xem” (như phần lớn các nước đang phát triển) và “chủ động” (như Trung Quốc và Thái Lan). Việc chọn kịch bản nào phụ thuộc vào định hướng phát triển GDĐH, hiệu lực bộ máy, năng lực quản lý và tiềm lực của hệ thống GDĐH trong nước để có thể khai thác tốt nhất các cơ hội và giảm thiểu rủi ro khi tham gia GATS trong lĩnh vực giáo dục. Chúng ta đã có Nghị quyết số14 /2005/NQ-CP, ngày 2.11.2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Theo đó, “đến năm 2020, GDĐH Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, cả hiệu lực bộ máy, năng lực quản lý và tiềm lực hệ thống của chúng ta còn có nhiều yếu kém, chưa đảm bảo để GDĐH Việt Nam mở cửa thành công trong khuôn khổ của GATS (các yếu kém này đã được phân tích trong Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam) và việc khắc phục chúng cũng là một nhiệm vụ của việc thực hiện Nghị quyết này.

Vì vậy, Việt Nam có thể lựa chọn một kịch bản trung gian “chờ xem” từ nay đến 2010, sau đó sẽ là chủ động có những cam kết về thực thi GATS. Giai đoạn “chờ xem” chính là giai đoạn chuẩn bị về luật pháp, chính sách và nhân lực để nâng cao hiệu lực bộ máy, năng lực quản lý và tiềm lực hệ thống, đảm bảo thành công khi mở cửa. Dĩ nhiên, vấn đề đặt ra sẽ là mở cửa như thế nào và với những điều kiện gì.

Trước hết, về nguyên tắc, cũng giống như nhiều nước khác, Việt Nam cần chính thức khẳng định giáo dục công lập không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS. Việc mở cửa sẽ chỉ thực hiện trong khu vực GDĐH tư thục. Như vậy, GDĐH Việt Nam sẽ tiếp tục tiến trình quốc tế hoá theo cả hai lôgic phi thương mại và thương mại. Theo lôgic phi thương mại, GDĐH Việt Nam sẽ đẩy mạnh và phát huy lợi thế đã có của hợp tác quốc tế, hội nhập sâu vào GDĐH thế giới trong khuôn khổ của một không gian GDĐH và nghiên cứu khoa học thế giới theo định hướng của UNESCO. Theo lôgic thương mại, khu vực GDĐH tư thục sẽ được mở ra để chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Đó là điều mà chúng ta đã làm trước khi có GATS. Sự khác biệt khi tham gia GATS là phải tính đến những rủi ro có thể nảy sinh khi phải tuân thủ các quy định của GATS, trong đó cần quan tâm đặc biệt là quy tắc tối huệ quốc và quy tắc đối xử quốc gia.

Tiếp theo, việc mở cửa sẽ khác nhau đối với từng phương thức cung ứng giáo dục. Đối với phương thức 1, theo khuyến nghị của các chuyên gia, khi mà việc đào tạo trên mạng còn rất khó kiểm soát về chất lượng, thì tốt nhất là chưa có cam kết gì. Đối với phương thức 2 và 4, cam kết theo các quy định hiện hành. Đối với phương thức 3, cần khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở trường đại học tại Việt Nam; đó cũng là cách hữu hiệu để đẩy mạnh du học tại chỗ, chuyển thách thức về chảy máu chất xám thành cơ hội tiếp máu chất xám. Cần chú ý rằng trong GDĐH, phương thức hiện diện thương mại vẫn chưa được các nhà cung ứng giáo dục nước ngoài mặn mà lắm vì vốn đầu tư lớn, rủi ro nhiều và thu hồi chậm. Vì vậy, sau khi có cam kết về GATS như nêu trên, bức tranh GDĐH Việt Nam sẽ chỉ có biến động chủ yếu ở khu vực tư thục với sự ra đời của một số cơ sở giáo dục nước ngoài. Do vậy, bài toán của GDĐH Việt Nam sau khi gia nhập WTO là: Về phía Nhà nước, làm thế nào để bảo đảm người học thực sự được tiếp nhận giáo dục có chất lượng do các cơ sở GDĐH nước ngoài cung cấp? Về phía các trường đại học tư thục Việt Nam, làm thế nào để cạnh tranh thành công với các cơ sở GDĐH nước ngoài?

Đôi điều về lời giải

Trong bối cảnh cụ thể của bài toán GDĐH Việt Nam sau khi nước ta gia nhập WTO, cần thiết làm rõ một số nội dung sau:

Bảo đảm chất lượng

• Củng cố và sớm hoàn thiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục (năm 2005) và các văn bản hướng dẫn kèm theo, đặc biệt chú trọng việc xã hội hoá kiểm định chất lượng giáo dục, tức là huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân có năng lực. Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế trong kiểm định chất lượng giáo dục, tham gia mạng kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế.

• Xây dựng môi trường thông tin minh bạch, cập nhật và dễ tiếp cận về các chương trình GDĐH và các cơ sở GDĐH có uy tín trên thế giới để tránh cho người học khỏi là nạn nhân của những hàng giả trong GDĐH xuyên biên giới.

• Tuyên truyền, giáo dục để người học và gia đình xác định tiêu chí đầu tiên trong việc chọn trường khi du học (dù là tại chỗ hay ra nước ngoài) là sự bảo đảm của nhà trường về chất lượng.

Xây dựng năng lực cạnh tranh

Vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH trong quá trình hội nhập quốc tế cũng được đề cập trong Đề án đổi mới GDĐH. Trong đó, “sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH” được hiểu là năng lực của hệ thống GDĐH trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cạnh tranh chứ không được hiểu theo nghĩa cạnh tranh thị trường. Khái niệm cạnh tranh thị trường không đặt ra cho khu vực GDĐH công lập trên thế giới (các trường này tạo ra danh tiếng, đẳng cấp, “thương hiệu” của mình không bằng cạnh tranh mà bằng trách nhiệm xã hội của mình trong việc thực hiện sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao phó). Các trường đại học công lập Việt Nam cũng theo con đường đó. Hơn nữa, nếu đặt ra yêu cầu cạnh tranh đối với các trường đại học công lập thì theo quy định của GATS, các trường này sẽ mặc nhiên thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này.

Vấn đề cạnh tranh chỉ được đặt ra đối với các trường đại học tư thục. Các trường này phải cạnh tranh mới tồn tại được. Hiện nay, ở nước ta, có thể nói cục diện cạnh tranh giữa các trường đại học tư thục chưa đáng kể vì cung chưa đáp ứng cầu, nhưng với xu thế đẩy mạnh xã hội hoá GDĐH và bước tiến trong hội nhập quốc tế, chắc chắn từ năm 2010 trở đi, cục diện này sẽ khá sôi nổi. Khi đó thách thức với các trường đại học tư thục trong nước là sức ép cạnh tranh của cả dịch vụ giáo dục nhập khẩu cũng như đầu tư trực tiếp của các nhà cung ứng giáo dục nước ngoài.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các trường đại học Việt Nam, phải chú ý nâng cao môi trường giáo dục vĩ mô, chất lượng thể chế và mức độ sẵn sàng trong đổi mới công nghệ. Trong đó, môi trường giáo dục vĩ mô là môi trường trong đó các rào cản không cần thiết và bất lợi cho sự phát triển các trường đại học tư thục được dỡ bỏ. Chất lượng thể chế là sự phù hợp của hệ thống luật pháp về giáo dục đối với các yêu cầu nêu trên về môi trường giáo dục vĩ mô và sự nghiêm minh trong tổ chức thực hiện. Ngoài việc ban hành Luật GDĐH, chúng ta cần ban hành Luật giáo dục ngoài công lập. Ngoài ra, về mặt chính sách, cần lưu ý là các trường đại học nước ngoài đang được ưu đãi hơn so với các trường đại học tư thục trong nước, vì vậy, khi thực thi quy tắc đối xử quốc gia theo quy định của GATS, Việt Nam sẽ phải giải bài toán ngược là làm thế nào để các trường đại học tư thục trong nước không bị phân biệt đối xử so với các trường đại học nước ngoài. Mức độ sẵn sàng trong đổi mới công nghệ phải được coi là một trong những vấn đề cấp bách đối với các trường đại học vì ngày nay, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả, tạo ra sức cạnh tranh của trường đại học được thực hiện chủ yếu theo con đường hiện đại hoá nhà trường, trên cơ sở vận dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông. Hiện nay, đang có một khoảng cách cần nhanh chóng rút ngắn giữa các trường đại học tư thục của Việt Nam với các trường đại học nước ngoài.

Bên cạnh nỗ lực tự hoàn thiện mình để nâng cao chất lượng của các trường đại học tư thục, kinh nghiệm cho thấy, một yếu tố hết sức quan trọng là sự đoàn kết của các trường dưới một mái nhà chung là Hiệp hội các trường đại học ngoài công lập. Chỉ có như vậy, các trường mới tạo thành một khối thống nhất, có sức cạnh tranh cao để thành công trong hội nhập.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 2/2007

MỘT SỐ ĐIỂM CƠ BẢN VỀ LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

PHẠM GIA CHƯƠNG

Ngày 29.11.2006, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) với trên 84% số phiếu tán thành. Đây là một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động CGCN, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường công nghệ. Từ đó, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững. Dưới đây, bài viết giới thiệu một số nét cơ bản về sự cần thiết phải ban hành Luật, nội dung cơ bản của Luật và công việc đang được Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung giải quyết để sớm đưa Luật đi vào cuộc sống.

Sự cần thiết ban hành Luật CGCN

Trong hơn 20 năm đổi mới và mở cửa, hoạt động CGCN ở nước ta và hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này đã góp phần đáng kể nâng cao trình độ công nghệ của các ngành sản xuất, dịch vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời ngăn chặn các công nghệ, thiết bị lạc hậu từ nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam. Qua từng thời kỳ, hoạt động quản lý nhà nước về thẩm định, giám định và CGCN cũng được đổi mới từng bước theo hướng giảm thủ tục hành chính, tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới, ứng dụng và thương mại hoá công nghệ. Trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, xây dựng, bưu chính – viễn thông, giao thông vận tải, năng lực công nghệ đã được cải thiện nhờ tiếp nhận và ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại, góp phần chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng sản phẩm, duy trì tốc độ tăng trưởng và kim ngạch xuất khẩu của ngành. Tuy nhiên, xét trên phạm vi của cả nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn và lao động; yếu tố về công nghệ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ. Tồn tại hiện nay của nền kinh tế là đổi mới công nghệ chưa trở thành nhu cầu bức thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp. Điều này dẫn tới thực trạng là trình độ công nghệ của nhiều ngành và doanh nghiệp còn lạc hậu, năng lực công nghệ nhìn chung chậm được cải thiện, nhiều lĩnh vực công nghệ cao chậm được ứng dụng và phổ biến, nhiều sản phẩm kém sức cạnh tranh ngay cả ở thị trường trong nước. Không chỉ thực trạng công nghệ lạc hậu, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động CGCN cũng chưa theo kịp với những thay đổi của đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt là với các đòi hỏi của kinh tế thế giới. Có thể nêu một số điểm bất cập cần khắc phục như: Từ năm 1988 trở lại đây, Nhà nước đã ban hành hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CGCN, trong đó có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về CGCN chưa thống nhất và đồng bộ. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định 4 điều mang tính nguyên tắc về CGCN. Những quy định cụ thể chủ yếu nằm trong các văn bản hướng dẫn thi hành, hiệu lực pháp lý thấp, thiếu ổn định, ảnh hưởng tới niềm tin của các chủ thể nắm giữ công nghệ, đặc biệt là các đối tác nước ngoài khi tiến hành đầu tư, CGCN tại Việt Nam. Chưa tạo được cơ chế thực sự thông thoáng cho các doanh nghiệp khi tham gia đổi mới và CGCN. Thiếu các chính sách hỗ trợ đồng bộ, khả thi để thúc đẩy hoạt động ứng dụng, đổi mới, thương mại hoá công nghệ trong nước. Phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực này chưa phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động CGCN. Thiếu cơ sở pháp lý cần thiết thúc đẩy việc hình thành và hoạt động của các tổ chức dịch vụ hỗ trợ CGCN (thông tin, tư vấn, môi giới, đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ), mặc dù loại dịch vụ này là một yếu tố cấu thành quan trọng, không thể thiếu của thị trường công nghệ.

Trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc ban hành Luật CGCN là hết sức cần thiết và cấp bách. Đây là một đạo luật chuyên ngành thống nhất điều chỉnh hoạt động CGCN, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển, đổi mới và thương mại hoá công nghệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế, phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Quan điểm xây dựng và một số nội dung cơ bản của Luật CGCN

Thực hiện Nghị quyết số 49/2005/QH11 ngày 19.11.2005 của Quốc hội khoá XI về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006, Chính phủ đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị Dự án Luật CGCN. Luật này được soạn thảo theo tinh thần quán triệt các quan điểm chỉ đạo cơ bản sau:

– Thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về khuyến khích hoạt động ứng dụng, đổi mới, CGCN phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

– Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ nhập hiện đại, nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế; nâng cao tỷ trọng đóng góp của yếu tố công nghệ vào năng lực cạnh tranh quốc gia để hội nhập và công nghiệp hoá thành công.

– Tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động CGCN trên cơ sở bảo đảm tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự do cam kết, thoả thuận giữa các bên tham gia hoạt động CGCN; Nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ này nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

Ngày 29.11.2006, Luật CGCN đã được Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.7.2007. Luật gồm 7 chương với 61 điều quy định về hoạt động CGCN tại Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động CGCN; thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN; các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động CGCN.

Khác với quy định hiện hành về CGCN, Luật CGCN chia công nghệ thành 3 loại: Công nghệ được khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao, công nghệ cấm chuyển giao. Trừ một số công nghệ thuộc danh mục hạn chế chuyển giao phải xin phép trước khi ký kết hợp đồng CGCN, tất cả các công nghệ được chuyển giao còn lại do các bên tự thoả thuận mà không cần phải làm các thủ tục đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, các bên giao kết hợp đồng CGCN có quyền đăng ký hợp đồng để làm cơ sở hưởng các ưu đãi của pháp luật. Về nội dung hợp đồng CGCN, Luật chỉ quy định một số nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng, còn lại do các bên tham gia hợp đồng thoả thuận. Đặc biệt đáng chú ý là Luật CGCN cũng như Bộ luật Dân sự hiện nay không quy định về thời hạn của hợp đồng và để cho các bên tự thoả thuận. Trong trường hợp CGCN có yếu tố nước ngoài, Luật cũng cho phép thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Luật đã có những quy định rõ ràng về chính sách miễn giảm thuế để thúc đẩy CGCN. Quy định về phân chia thu nhập từ hoạt động CGCN được tạo ra bằng ngân sách nhà nước: Nhà nước giao quyền sở hữu công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ đó; xác định rõ quyền của tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ trong trường hợp này. Quy định việc góp vốn bằng công nghệ, thế chấp tài sản thuộc sở hữu nhà nước để tiến hành hoạt động CGCN. Quy định về các loại hình dịch vụ CGCN (bao gồm: Môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám định và xúc tiến CGCN) và quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ CGCN.

Bên cạnh đó, Luật còn khuyến khích chuyển giao các công nghệ cao, công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao; tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; bảo vệ sức khoẻ con người; phòng chống thiên tai dịch bệnh, sản xuất sạch thân thiện môi trường; phát triển ngành nghề truyền thống. Khuyến khích CGCN cho các vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn các công nghệ: Nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, công nghệ cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường, công nghệ nâng cao năng suất chất lượng hiệu quả của làng nghề truyền thống. Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng đổi mới công nghệ (bằng việc cho phép doanh nghiệp được trích một phần lợi nhuận trước thuế hàng năm để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ). Khuyến khích người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài CGCN vào Việt Nam, đặc biệt được ưu đãi khi CGCN thuộc danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao hoặc công nghệ chuyển giao vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thị trường công nghệ, bao gồm: Các trung tâm dịch vụ, giao dịch công nghệ, triển lãm công nghệ, chợ, hội chợ công nghệ, cơ sở ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ; tham gia công bố, phổ biến, trình diễn công nghệ trong và ngoài nước.

Việc thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia đã được Luật CGCN đề cập đến nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ; thúc đẩy việc CGCN phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ở các vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hỗ trợ đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ việc chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ.

Về vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN, Luật đã quy định các vấn đề: Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình, cơ chế, chính sách, biện pháp thúc đẩy hoạt động CGCN, đổi mới công nghệ; công bố danh mục các công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước, ban hành danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, danh mục công nghệ cấm chuyển giao; chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, phổ biến và thực hiện giáo dục pháp luật về CGCN; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động CGCN.

Để Luật CGCN sớm đi vào cuộc sống, Bộ Khoa học và Công nghệ đang khẩn trương tiến hành một số công việc:

– Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật CGCN; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CGCN; danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, danh mục công nghệ cấm chuyển giao; Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.

– Ban hành theo thẩm quyền các văn bản nhằm hướng dẫn thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về CGCN.

– Đẩy mạnh các hoạt động nhằm kích cầu, kích cung công nghệ; hoạt động thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường công nghệ; các hoạt động dịch vụ tư vấn, đánh giá, định giá, giám định công nghệ, môi giới, xúc tiến CGCN.

– Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện Luật.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 2/2007

ÁP DỤNG HỆ THỐNG MADRID VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM

TRẦN HỮU NAM

Từ năm 1949, nước ta đã gia nhập Thoả ước Madrid và gần đây (11.7.2006) tham gia Nghị định thư Madrid về nhãn hiệu hàng hoá. Và cũng cho đến nay, chúng ta đã xác lập được khung pháp lý cơ bản và toàn diện về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN). Đây là cơ hội để nhãn hiệu của các nước trong hệ thống Madrid được bảo hộ ở Việt Nam và hàng hoá trong nước vươn ra thị trường quốc tế.

Quá trình tham gia Hệ thống Madrid của Việt Nam

Việt Nam gia nhập Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá từ ngày 8.3.1949 cùng thời gian với việc gia nhập Công ước Paris về bảo hộ SHCN. Sau đó, việc thực hiện nghĩa vụ nước thành viên và áp dụng Thỏa ước Madrid của Việt Nam bị gián đoạn và ảnh hưởng do những biến động của lịch sử. Từ năm 1954 đến 30.4.1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (nhà cầm quyền ở miền Nam lúc đó) tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thành viên Thỏa ước Madrid của Việt Nam. Trong thời gian này có hơn 20.000 nhãn hiệu quốc tế được đăng ký tại miền Nam Việt Nam theo Thỏa ước Madrid.

Từ 30.4.1975, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là đại diện hợp pháp và duy nhất của Việt Nam trong các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam chỉ thực sự tiếp tục kế thừa các quyền và nghĩa vụ với tư cách thành viên của Thỏa ước Madrid vào năm 1976 (theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam).

Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thành viên Thỏa ước Madrid, Việt Nam đã sẵn sàng tham gia Nghị định thư Madrid vì so với Thỏa ước, Nghị định thư có nhiều ưu điểm và tạo thuận lợi hơn cho các nhà sản xuất và kinh doanh để Việt Nam sớm hội nhập nền kinh tế thế giới, thực hiện đầy đủ các thỏa thuận song phương và đa phương về sở hữu trí tuệ (SHTT).

Nghị định thư Madrid bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11.7.2006. Trong thời gian trước khi Nghị định thư Madrid có hiệu lực tại Việt Nam, Cơ quan SHTT của Việt Nam đã được Văn phòng quốc tế của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) và một số nước thành viên Nghị định thư thảo luận và chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế trong áp dụng và vận hành Nghị định thư.

Các văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến đăng ký nhãn hiệu quốc tế

Giai đoạn 1982-1996

Để thực hiện có hiệu quả nghĩa vụ thành viên của Công ước Paris và Thỏa ước Madrid, Việt Nam đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật về bảo hộ các đối tượng SHCN, bao gồm cả đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam.

Ngày 14.12.1982, Nhà nước ban hành Điều lệ về nhãn hiệu, đây là văn bản pháp lý đầu tiên về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa được ban hành kèm theo Nghị định 197-HĐBT ngày 14.12.1982 và được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 84- HĐBT ban hành ngày 20.3.1990. Điều lệ này quy định: “Cá nhân, pháp nhân nước ngoài được hưởng các quyền do Điều lệ quy định, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo nguyên tắc có đi có lại”.

Ngày 28.1.1989, Pháp lệnh Bảo hộ quyền SHCN được ban hành nhằm nâng cao hiệu lực pháp luật của hệ thống bảo hộ quyền SHCN ở Việt Nam. Điều 3 của Pháp lệnh quy định: “Quyền SHCN của tổ chức, cá nhân nước ngoài được bảo hộ theo Pháp lệnh và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo nguyên tắc có đi có lại”.

Nhìn chung, các văn bản pháp luật của Việt Nam trong giai đoạn này mới chỉ đưa ra những quy định chung mang tính nguyên tắc về bảo hộ đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, chưa cụ thể hóa các quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Giai đoạn từ 1996 đến 1.7.2006

Trong Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1.7.1996) có một chương riêng về quyền SHCN (chương II, phần 6), đã xác lập khung pháp lý cơ bản và toàn diện nhằm bảo hộ quyền SHCN nói chung và đối với nhãn hiệu nói riêng, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, trong đó có Thỏa ước Madrid. Điều 837 của Bộ luật Dân sự đã ghi nhận nguyên tắc chung: “Bảo hộ quyền SHCN của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với các đối tượng SHCN đã được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ” trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia.

Trên cơ sở đó đã có những văn bản quy định chi tiết được ban hành, trong đó có các quy định cụ thể liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu theo hướng phù hợp với Công ước Paris và Thỏa ước Madrid, bao gồm: Nghị định 63/CP ngày 24.10.1996 của Chính phủ quy định chi tiết về SHCN; Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 1.2.2001 của Chính phủ sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định 63/CP và Thông tư 3055/TT-SHCN ngày 31.12.1996 hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP.

Giai đoạn từ 1.7.2006 đến nay

Luật SHTT đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 29.11.2005 và có hiệu lực từ ngày 1.7.2006. Luật SHTT có 6 phần, quy định riêng biệt về các đối tượng của quyền SHTT, trong đó phần thứ ba quy định về SHCN, đã xác lập được khung pháp lý cơ bản và toàn diện nhằm bảo hộ quyền SHCN nói chung và nhãn hiệu nói riêng theo hướng phù hợp với những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, trong đó có Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid. Đây là một bước ngoặt quan trọng đối với sự phát triển của hoạt động SHCN. Điều 120 của Luật SHTT đã ghi nhận nguyên tắc chung, đó là “đơn đăng ký SHCN nộp theo các điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên được gọi chung là đơn quốc tế; đơn quốc tế và xử lý đơn quốc tế phải tuân thủ Điều ước quốc tế có liên quan; Chính phủ hướng dẫn thi hành quy định về đơn quốc tế và trình tự, thủ tục xử lý đơn quốc tế của Điều ước quốc tế có liên quan phù hợp với nguyên tắc của Chương này”.

Trên cơ sở các nguyên tắc chung đó, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật SHTT sẽ sớm được ban hành trong đó có các quy định cụ thể liên quan đến nhãn hiệu quốc tế phù hợp với Công ước Paris và Hệ thống Madrid.

Áp dụng Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Việt Nam

Đối với các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ tại Việt Nam

Nhãn hiệu đăng ký theo Thỏa ước Madrid được xem xét theo từng giai đoạn.

Giai đoạn 1: Trước thời điểm Nghị định 63/CP có hiệu lực (ngày 24.10.1996), nhãn hiệu đăng ký quốc tế được chấp nhận bảo hộ ở Việt Nam mà không được công bố dưới bất kỳ hình thức nào từ phía cơ quan quản lý nhà nước về SHCN. Hiệu lực của nhãn hiệu đăng ký quốc tế tại Việt Nam là sau một năm kể từ ngày Văn phòng quốc tế công bố trên công báo nhãn hiệu quốc tế và không bị Cục SHTT Việt Nam từ chối bảo hộ.

Giai đoạn 2: Từ thời điểm Nghị định 63/CP được ban hành cho đến khi Nghị định 06/CP có hiệu lực (ngày 16.2.2001). Nhãn hiệu đăng ký theo Thỏa ước Madrid được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam thì được công bố trên công báo SHCN theo quy định của Điều 31.2b Nghị định 63/CP. Thời điểm hiệu lực áp dụng giống như giai đoạn trên.

Giai đoạn hiện nay: Từ thời điểm Nghị định 06/CP có hiệu lực, nhãn hiệu đăng ký quốc tế được công bố trên công báo SHCN và sẽ được Cục SHTT cấp quyết định chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu đăng ký quốc tế cho các nhãn hiệu được bảo hộ. Hiệu lực của nhãn hiệu quốc tế tính từ ngày đăng ký quốc tế được công bố trên công báo nhãn hiệu quốc tế của WIPO.

Quy trình xử lý đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu

Để được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam, nhãn hiệu đăng ký quốc tế phải qua trình tự xử lý như sau:

Theo quy định tại Điểm 25 Thông tư 3055, sau khi nhận được Thông báo của Văn phòng quốc tế về đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam, Cục SHTT sẽ tiến hành một số thao tác kỹ thuật và xét nghiệm nội dung đơn (xem xét về khả năng bảo hộ của nhãn hiệu) như đối với đơn nhãn hiệu nộp trực tiếp theo thể thức quốc gia. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhãn hiệu đăng ký quốc tế được công bố trên công báo nhãn hiệu quốc tế của WIPO (sau khi đã hợp lệ về hình thức), Cục SHTT phải có kết luận về khả năng bảo hộ của nhãn hiệu đăng ký quốc tế có chỉ định Việt Nam. Đối với những nhãn hiệu có khả năng bị từ chối một phần hoặc toàn phần, Cục SHTT sẽ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn thông qua Văn phòng quốc tế, có nêu rõ lý do từ chối. Nếu trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhãn hiệu đăng ký quốc tế công bố trên Công báo nhãn hiệu quốc tế của WIPO mà Văn phòng quốc tế không nhận được thông báo từ chối liên quan đến đăng ký quốc tế nhãn hiệu nào đó, điều đó có nghĩa là nhãn hiệu đó được bảo hộ ở Việt Nam. Những nhãn hiệu đăng ký quốc tế được công nhận bảo hộ ở Việt Nam sẽ được công bố trên công báo SHCN Việt Nam. Phạm vi bảo hộ của các nhãn hiệu nếu có thay đổi sẽ được Cục SHTT xác nhận theo nội dung đăng ký nhãn hiệu đó và được Văn phòng quốc tế ghi nhận vào đăng bạ quốc tế nhãn hiệu.

Nhãn hiệu đăng ký quốc tế theo Nghị định thư được xem xét như đối với nhãn hiệu quốc tế theo Thỏa ước Madrid nhưng có một số lưu ý về thời hạn từ chối; thời hạn chuyển thông báo từ chối đến Văn phòng quốc tế và thời hạn trả lời các thiếu sót liên quan đến thông báo từ chối của cơ quan quốc gia; thời hạn từ chối trong trường hợp có phản đối và một số lưu ý khác trong quá trình ra thông báo từ chối đăng ký quốc tế.

Theo thống kê của Cục SHTT, số lượng đăng ký quốc tế nhãn hiệu yêu cầu chỉ định mới, mở rộng lãnh thổ và gia hạn hiệu lực bảo hộ hiện nay là 56.055.

Đối với các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam

Mặc dù Thỏa ước Madrid mang lại nhiều lợi ích cho các nhà sản xuất và kinh doanh về thủ tục, thời gian, chi phí, quản lý và Việt Nam được chấp nhận là thành viên chính thức của Thỏa ước Madrid từ 8.3.1949, nhưng cho đến năm 1986 mới chỉ có một nhãn hiệu đầu tiên của Việt Nam được yêu cầu bảo hộ ở nước ngoài thông qua Thỏa ước này, nhãn hiệu thứ hai được yêu cầu bảo hộ năm 1994 và đến nay đã có 123 nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam được yêu cầu bảo hộ ở nhiều nước khác nhau theo Thỏa ước Madrid với tổng số nước được yêu cầu chỉ định ước tính khoảng 900 lượt nước cho nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ khác nhau. Số lượng đơn yêu cầu bảo hộ theo Thỏa ước tăng lên chủ yếu trong 5 năm trở lại đây, điều này chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra nước ngoài. Trong đó có các doanh nghiệp lớn của Nhà nước nhưng đồng thời cũng có những cơ sở nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 3/2007

CHIẾN LƯỢC TIÊU CHUẨN HOÁ CỦA HOA KỲ

NGÔ TẤT THẮNG

Trong lĩnh vực tiêu chuẩn, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia hàng đầu có khung tiêu chuẩn với nhiều điểm ưu việt, đem lại lợi ích thiết thực cho các nước đã và đang áp dụng. Bài viết dưới đây giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về hoạt động tiêu chuẩn của Hoa Kỳ.

Những nguyên tắc cơ bản

Chiến lược tiêu chuẩn Hoa Kỳ (The United State Standards Strategy – USSS) là văn bản sửa đổi của Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (NSS) được phê chuẩn tháng 8.2000. NSS khẳng định, Hoa Kỳ cam kết theo đuổi cách tiếp cận chuyên ngành đối với hoạt động tiêu chuẩn hoá tự nguyện phạm vi trong nước và quốc tế. Khung tiêu chuẩn hoá được xây dựng dựa trên sức mạnh có tính truyền thống của Hoa Kỳ, đó là: Đồng thuận, mở, công khai và minh bạch; đồng thời nhấn mạnh đến sự nhanh chóng, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của công chúng.

Năm 2004, Viện Nghiên cứu tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) đã tổ chức một Hội đồng xem xét và sửa đổi NSS. Hơn 100 thành viên đại diện cho các ngành công nghiệp; các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn; các chuyên gia xây dựng tiêu chuẩn; các tập đoàn; hội người tiêu dùng; đại diện của nhà nước liên bang và chính quyền các bang đã tham gia vào quá trình xem xét này. Các thành viên tham dự đã nhất trí cam kết xây dựng một chiến lược tiêu chuẩn Hoa Kỳ với một tên mới và tinh thần mở, công bằng. Bản sửa đổi của NSS nay được gọi là USSS. Sự thay đổi tên này thừa nhận quá trình toàn cầu hoá và nhu cầu tiêu chuẩn cần được xây dựng để đáp ứng yêu cầu của những người có liên quan, vượt qua giới hạn về biên giới quốc gia. Tên gọi mới đồng thời cũng phản ánh môi trường tiêu chuẩn hoá, kết hợp chặt chẽ với những hình thức mới của hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, có các cách tiếp cận linh hoạt hơn và đưa ra cấu trúc mới.

USSS được xây dựng dựa trên sự nỗ lực điều phối của một nhóm gồm nhiều đối tượng khác nhau, đại diện cho những người có liên quan trong chính phủ, các ngành công nghiệp, các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn, các tập đoàn sản xuất, các hiệp hội người tiêu dùng và các cơ quan nghiên cứu. Các thành phần tham gia thể hiện cam kết xây dựng tiêu chuẩn công khai, cân bằng và minh bạch. ANSI có vai trò phối hợp và thúc đẩy các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện, đồng thời là đại diện của Hoa Kỳ trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, dựa trên quan điểm cân bằng quyền lợi của khu vực công và tư nhân để xem xét các nguyên tắc và chiến lược nhằm định hướng cho Hoa Kỳ trong xây dựng tiêu chuẩn và tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế. Việc xây dựng USSS đã thể hiện mục tiêu, tư tưởng và tầm nhìn tương lai của hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh quốc tế hiện nay.

Một vấn đề quan trọng đã được hầu hết cộng đồng các quốc gia trên thế giới nhìn nhận là tiêu chuẩn xây dựng cần phải đáp ứng nhu cầu của thị trường và xã hội, không được tạo ra rào cản cho thương mại. Khi chấp thuận Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại thế giới (TBT/WTO), các thành viên của WTO đã thừa nhận rằng mục tiêu và những nguyên tắc cơ bản đã được xây dựng và được chấp nhận toàn cầu là khuôn khổ để thúc đẩy hợp tác và ngăn cản việc sử dụng tiêu chuẩn trở thành rào cản kỹ thuật.

Thực tế cho thấy, hệ thống tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đã dựa trên một số nguyên tắc sau:

Tính minh bạch: Các bên có quan tâm đều có thể tiếp cận những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động tiêu chuẩn.

Tính mở: Mọi đối tượng có quyền lợi bị ảnh hưởng đều có thể tham gia.

Tính công bằng, không thiên vị: Không một đối tượng có quyền lợi nào có thể làm ảnh hưởng đến quá trình xây dựng tiêu chuẩn và tiêu chuẩn không thiên vị đối với bất cứ đối tượng nào.

Tính hiệu quả và phù hợp: Tiêu chuẩn phải phù hợp và đáp ứng một cách có hiệu quả đối với mục tiêu quản lý và các nhu cầu của thị trường cũng như sự đòi hỏi của phát triển khoa học và công nghệ.

Tính đồng thuận: Tiêu chuẩn được xây dựng thông qua sự đồng thuận của các bên có quyền lợi bị ảnh hưởng.

Tính khả thi: Tiêu chuẩn dựa trên cơ sở thực thi (chỉ rõ những đặc tính cần thiết hơn là những thiết kế quá chi tiết) ở những nơi có thể.

Tính mạch lạc, chặt chẽ: Quá trình xây dựng tiêu chuẩn khuyến khích sự mạch lạc, chặt chẽ để ngăn ngừa sự chồng chéo và mâu thuẫn với nhau về nội dung của tiêu chuẩn.

Bảo đảm công bằng: Mọi quan điểm đưa ra đều phải được xem xét và mọi yêu cầu đều có thể thực hiện được.

Hỗ trợ kỹ thuật: Hỗ trợ cho các nước đang phát triển trong việc hình thành và áp dụng tiêu chuẩn.

Ngoài ra, đối với những thành viên có lợi ích bị ảnh hưởng, Hoa Kỳ cũng đã bổ sung một số nguyên tắc:

Tính linh hoạt: Cho phép sử dụng phương pháp luận khác nhau để đáp ứng nhu cầu của công nghệ và các lĩnh vực sản xuất khác nhau.

Đảm bảo đúng lúc: Đảm bảo những vấn đề mang tính thủ tục hành chính không làm ảnh hưởng đến việc thoả mãn mong đợi của thị trường.

Đảm bảo cân bằng: Giữa những đối tượng có lợi ích bị ảnh hưởng.

Từ các nguyên tắc trên, cộng đồng tiêu chuẩn Hoa Kỳ đã cam kết kiên trì theo đuổi thực hiện việc xây dựng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

Định hướng

Hiện nay, hoạt động tiêu chuẩn hoá của Hoa Kỳ tập trung vào tiêu chuẩn hoá chuyên ngành (lĩnh vực) dựa trên sự hỗ trợ của một hạ tầng cơ sở năng động. Cách tiếp cận chuyên ngành trong xây dựng tiêu chuẩn cho phép các bên có quyền lợi xác định được vấn đề riêng của mình và tự đưa ra phương pháp giải quyết. Điều này cũng cho phép xây dựng tiêu chuẩn một cách có hiệu quả, thúc đẩy quá trình đổi mới và cạnh tranh. Thực tế cho thấy, không có một giải pháp nào đưa ra có thể đồng thời thoả mãn tất cả các nhu cầu của các ngành. Bởi vậy, các ngành cần phải tự đưa ra kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn riêng cho mình. Mục đích của chiến lược này là cung cấp hướng dẫn, sự gắn kết logic và khuyến khích khả năng sáng tạo trong xây dựng tiêu chuẩn. Do vậy, chiến lược tiêu chuẩn hoá của Hoa Kỳ bao gồm một tập các sáng kiến chiến lược có khả năng áp dụng rộng rãi và sẽ được sử dụng một cách thích hợp trong những chuyên ngành cụ thể. Định hướng tương lai trong chiến lược xây dựng tiêu chuẩn Hoa Kỳ được dựa trên các quan điểm sau:

– Đẩy mạnh việc tham gia của chính phủ trong việc xây dựng và sử dụng những tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện, thông qua sự cộng tác giữa khu vực công và tư nhân. Trên thực tế, sự tin cậy của chính phủ vào các tiêu chuẩn đồng thuận một cách tự nguyện ngày càng tăng lên.

– Quan tâm tới vấn đề môi trường, sức khoẻ và an toàn trong việc xây dựng những tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện – đây là vấn đề trọng tâm của hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ hiện tại và tương lai.

– Nâng cao sự đáp ứng của hệ thống tiêu chuẩn đối với mong đợi và nhu cầu của người tiêu dùng. Đại diện các quyền lợi của người tiêu dùng tham gia trong hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ là rất cần thiết để bảo đảm rằng các nhu cầu của cá nhân sẽ được xem xét, chú trọng.

– Tích cực thúc đẩy việc áp dụng trên toàn cầu những nguyên tắc đã được quốc tế công nhận trong việc xây dựng tiêu chuẩn. Một mục tiêu quan trọng của tiêu chuẩn hoá quốc tế là xác định những yêu cầu để sản phẩm và dịch vụ có thể được chấp nhận ở tất cả các thị trường trên toàn cầu.

– Khuyến khích cách tiếp cận của chính phủ sử dụng các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện làm các công cụ phục vụ cho nhu cầu quản lý. Thương mại toàn cầu sẽ thuận lợi hơn nếu chính phủ sử dụng các cách tiếp cận chung để biến tiêu chuẩn trở thành các công cụ phục vụ nhu cầu quản lý của mình.

– Ngăn ngừa việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại đối với sản phẩm và dịch vụ của Hoa Kỳ.

– Tăng cường những chương trình ở tầm quốc tế để nâng cao sự hiểu biết sao cho các tiêu chuẩn chuyên ngành tự nguyện, định hướng thị trường và dựa trên cơ sở tự nguyện có thể mang lại lợi ích cho hoạt động buôn bán kinh doanh, cho lợi ích người tiêu dùng nói riêng và toàn xã hội nói chung.

– Tiếp tục cải thiện quy trình và công cụ để xây dựng, truyền bá một cách có hiệu quả và kịp thời các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện tới mọi đối tượng quan tâm. Những năm gần đây, hệ thống tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đã có những bước tiến bộ đáng kể trong việc bảo đảm tính kịp thời, thích ứng và tương thích của tiêu chuẩn dựa trên việc sử dụng công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh việc xây dựng tiêu chuẩn trực tuyến và phổ biến tiêu chuẩn bằng con đường điện tử hoá.

– Thúc đẩy sự hợp tác và gắn kết chặt chẽ trong hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ. Điều này được đặt ra để ngăn ngừa sự chồng chéo và đôi khi tạo ra các tiêu chuẩn mâu thuẫn nhau.

– Coi việc giáo dục tiêu chuẩn là một ưu tiên quan trọng trong khu vực nghiên cứu, khu vực công và tư nhân của Hoa Kỳ. Chương trình giáo dục bao gồm cả việc xây dựng và sử dụng tiêu chuẩn cần thiết phải trở thành nội dung hoạt động ưu tiên của Hoa Kỳ. Những chương trình này cần hướng vào nhu cầu của các nhà lãnh đạo, cơ quan hành pháp cấp cao – những người tham gia xây dựng tiêu chuẩn; sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và những người quan tâm.

– Duy trì các mô hình cấp vốn một cách bền vững, ổn định cho hệ thống tiêu chuẩn hoá Hoa Kỳ. Sẽ không có một phương pháp cấp vốn duy nhất cho hệ thống tiêu chuẩn hoá Hoa Kỳ. Hệ thống tiêu chuẩn hoá nào đáp ứng được nhu cầu của khu vực tư nhân và công cộng thì người muốn được hưởng thụ kết quả từ hệ thống tiêu chuẩn hoá sẽ là người đảm bảo cung cấp kinh phí cho hệ thống đó.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 4/2007

BÀN THÊM VỀ LUẬN ÁN TIẾN SỸ: VẤN ĐỀ ĐẦU VÀO

NGUYỄN VĂN TUẤN

Theo tác giả, một điều rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sỹ là vấn đề đầu vào, tức là khâu hình thành ý tưởng trước khi nghiên cứu sinh bắt tay vào nghiên cứu. Muốn vậy, việc công bố các công trình nghiên cứu đã có trên mạng là rất cần thiết nhằm tránh hiện tượng trùng lắp hay đạo văn. Bên cạnh đó, việc công bố các bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước cũng là điều cần thiết.

Những ai quan tâm đến vấn đề đào tạo tiến sỹ ở trong nước đều cảm thấy phấn khởi trước tin Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chấn chỉnh quy trình đào tạo tiến sỹ. Hiện nay, Bộ đang trong quá trình hoàn thiện Dự thảo Quy chế đào tạo tiến sỹ và lấy ý kiến đóng góp của các bộ/ngành liên quan để có thể trình ban hành trong thời gian sớm nhất. Theo Dự thảo quy chế, các luận án tiến sỹ phải công bố trên mạng và trước khi bảo vệ luận án, nghiên cứu sinh phải có một bài báo khoa học đăng trên một tạp chí khoa học quốc tế hay kỷ yếu hội nghị*.

Việc công bố các luận án tiến sỹ trên mạng là một hướng đi đúng và phù hợp với xu hướng phát triển trên thế giới. Tại các nước Bắc âu, hầu hết các trường đại học đều công bố toàn bộ luận án tiến sỹ và thạc sỹ trên mạng. Tại Bắc Mỹ, một số trường đại học lớn không chỉ công bố các luận án tiến sỹ hiện tại, mà còn đưa lên mạng các luận án được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ XX trở về sau. Tại Anh và úc, các trường đại học cũng hoặc là có dự án cho việc công bố hoặc đã dần dần công bố luận án tiến sỹ và thạc sỹ trên mạng. Trong môi trường thông tin mở rộng và vấn nạn đạo văn tràn lan trên thế giới ngày nay, việc công bố các công trình nghiên cứu trên mạng là một điều cần thiết, một cách ngăn ngừa tình trạng chồng chéo về đề tài nghiên cứu.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại và bối cảnh ở nước ta, cần phải xác định mục tiêu cụ thể và nghiên cứu hệ quả của việc công bố luận án trên mạng. Có phải mục tiêu là để nâng cao chất lượng luận án hay đáp ứng sự tò mò của công chúng, kể cả các chuyên gia cùng ngành? Luận án đã được thông qua và học vị đã cấp, liệu mục tiêu đó có đạt được hay không? Nếu có người phát hiện luận án có vấn đề thì cơ chế giải quyết như thế nào? Ai sẽ là người đứng ra giải quyết vấn đề và phương án giải quyết ra sao? Nếu luận án được đánh giá là không đạt tiêu chuẩn, học vị sẽ bị thu hồi hay nghiên cứu sinh phải quay lại học tiếp? Những tiêu chuẩn cho một luận án tiến sỹ là gì, ai đặt ra? Nói tóm lại, có rất nhiều câu hỏi và vấn đề cần phải xem xét hay tham khảo các trường đại học phương Tây.

Theo tôi, công bố luận án tiến sỹ trên mạng là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để nâng cao chất lượng học vị tiến sỹ. Tiến sỹ là một học vị đạt được nhờ vào nghiên cứu khoa học. Sản phẩm chính của nghiên cứu khoa học là bằng sáng chế và những bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (tiếng Anh gọi là “peer-reviewed journals”). Nói cho cùng, luận án tiến sỹ chính là tập hợp những kết quả nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu sinh theo học. Thật vậy, ở các trường đại học Bắc âu, nội dung chính của luận án tiến sỹ là tập hợp những bài báo nghiên cứu đã công bố trong thời gian nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo sư. Chính vì thế, ở các đại học Bắc âu, người ta quy định nghiên cứu sinh phải công bố ít nhất 3 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế, nội dung luận án chủ yếu là những bài báo này cộng với vài chương tóm lược phương pháp và thảo luận về kết quả nghiên cứu. Nhiều trường đại học ở Anh, úc, Mỹ và ngay cả Trung Quốc, nghiên cứu sinh chỉ được phép viết luận án khi nào đã công bố một số bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học có bình duyệt nghiêm chỉnh.

Có ý kiến cho rằng, yêu cầu nghiên cứu sinh công bố ít nhất một bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế là một “thách thức lớn”. Theo tôi, đào tạo một tiến sỹ không chỉ dựa vào một vài bài báo khoa học hay một luận án, mà là đào tạo một nhà khoa học chuyên nghiệp và độc lập. Trước đây, tôi đề nghị 7 tiêu chuẩn cho học vị tiến sỹ (Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 8.2006). Trong 7 tiêu chuẩn đó, tôi cũng đề nghị nên khuyến khích nghiên cứu sinh công bố ít nhất một bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Thật ra, công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sỹ (tôi dùng hai chữ “diễn đàn” ở đây để chỉ các tạp chí khoa học có hệ thống bình duyệt và các hội nghị khoa học quốc tế với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín). Nhiều đại học ở châu âu, châu Mỹ và úc khuyến khích nghiên cứu sinh công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sỹ. Ngày nay, các đại học lớn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philipin… cũng có quy định tương tự.

Bài báo khoa học, nói cho cùng, là một bản báo cáo những gì nghiên cứu sinh đã làm và tại sao làm, kết quả ra sao và có ý nghĩa gì, những gì cần làm tiếp. Người đọc bản báo cáo là những đồng nghiệp, kể cả chuyên gia và nghiên cứu sinh, trên toàn thế giới. Chính những người đọc này là những người “phản biện” thích hợp nhất và có lẽ công bằng nhất. Vì thế, công bố những gì đã nghiên cứu là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi qua đó mà đồng nghiệp trong và ngoài nước có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh. Nếu công trình nghiên cứu được đồng nghiệp đánh giá cao, thì bài báo đó còn thể hiện một sự đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Hiện nay, sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn rất hạn chế, nếu không muốn nói gần như là con số không. Do đó, việc công bố bài báo khoa học còn là một hình thức thực tế nhất để đóng góp vào việc nâng cao năng suất khoa học của Việt Nam.

Bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế còn là một cơ hội để nghiên cứu sinh làm quen với quá trình hội nhập quốc tế. Nhiều người nghĩ rằng sau khi làm xong luận án tiến sỹ, có mảnh bằng trong tay là xong. Thật ra, hoàn tất luận án và được mang danh “tiến sỹ” chỉ mới là bước đầu trong sự nghiệp khoa bảng, bởi vì nghiên cứu sinh còn phải “tiêu tốn” một thời gian làm nghiên cứu hậu tiến sỹ ở một trường đại học khác. Để có một chân nghiên cứu hậu tiến sỹ là một cuộc cạnh tranh gay gắt. Hàng năm, có hàng chục ngàn tiến sỹ trên khắp thế giới cạnh tranh nhau để xin được vài trăm vị trí nghiên cứu hậu tiến sỹ. Những người thành công thường là những nghiên cứu sinh đã có vài bài báo khoa học trong khi học tiến sỹ. Vì thế, công bố bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế còn là một hình thức đảm bảo và nâng cao khả năng cạnh tranh của nghiên cứu sinh trên trường quốc tế.

Công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế không phải là một thách thức lớn, nếu công trình nghiên cứu tiến sỹ có chất lượng xứng đáng với học vị. Nói cách khác, nếu đề án nghiên cứu được suy xét cẩn thận, với những ý tưởng mới và có ích, phương pháp thực hiện đạt chuẩn khoa học, thì việc công bố kết quả không phải là một vấn đề gì to tát lắm. Nếu đề án nghiên cứu không có giá trị khoa học hay không xứng đáng một luận án tiến sỹ thì nghiên cứu sinh cũng chẳng học được gì sau ba hay bốn năm theo học.

Để đảm bảo một công trình nghiên cứu tiến sỹ có chất lượng và xứng đáng là một đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ, vấn đề quan trọng là đầu vào, tức là khâu hình thành ý tưởng trước khi nghiên cứu sinh bắt tay vào nghiên cứu. ở các nước phương Tây và theo kinh nghiệm của người viết bài này, trước khi ghi danh học tiến sỹ, nghiên cứu sinh và giáo sư hướng dẫn phải soạn thảo một đề án ngắn (khoảng 2-3 trang). Đề án này sẽ được một hội đồng khoa học gửi cho 3 nhà nghiên cứu trong và ngoài trường đại học để thẩm định xem có xứng đáng một công trình nghiên cứu cấp tiến sỹ hay không và giáo sư hướng dẫn có đủ tư cách để hướng dẫn luận án hay không. Chỉ khi nào đề án được hội đồng khoa học đó thông qua thì nghiên cứu sinh mới bắt đầu nghiên cứu. Với “đầu vào” như thế, việc công bố kết quả nghiên cứu không phải là một thách thức lớn.

Người viết bài này đã có dịp đọc, xem xét và góp ý một số đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ trong nước thuộc ngành y khoa. Nhận xét đầu tiên là tất cả những đề án tôi đã đọc qua đều không xứng đáng một luận án tiến sỹ, bởi vì ý tưởng không có gì mới và thiếu phương pháp khoa học. Thiếu cái mới trong ý tưởng nghiên cứu, tôi nhận ra, là vì thiếu thông tin. Thật vậy, tôi nhận thấy rằng tất cả nghiên cứu sinh mà tôi tiếp xúc đều rất nhiệt tình làm nghiên cứu và say mê học hỏi, nhưng vì không có trong tay những y văn mới nhất (một phần là do hệ thống Internet tại đại học và thông tin ở trong nước còn kém), nên các đề án họ soạn thảo cực kỳ… đơn sơ. Với các đề án mà ý tưởng chỉ lặp lại y văn của 30 năm về trước và những phương pháp nghiên cứu quá thô sơ, thì kết quả của nghiên cứu không thể cống hiến gì cho nền y học nước nhà, chứ chưa nói đến việc công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế. Những nghiên cứu như thế chẳng những làm tốn tiền của ngân sách nhà nước, làm mất uy tín khoa học quốc gia, mà còn làm thui chột tài năng của giới trẻ.

Một cách lý tưởng, học vị tiến sỹ là một loại “hộ chiếu quốc tế” để tham gia nghiên cứu khoa học. Trong một vài phát biểu trước, tôi có đề nghị rằng để đảm bảo tính quốc tế của học vị tiến sỹ ở trong nước, mỗi đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ ở vài ngành khoa học nên mời ít nhất một giáo sư uy tín ở nước ngoài tham gia hướng dẫn. Sự có mặt của các giáo sư quốc tế như thế sẽ giúp cho nghiên cứu sinh có thêm thông tin, học thêm về phương pháp khoa học và nhất là thiết lập mối bang giao khoa học sau khi tốt nghiệp (rất cần thiết cho giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sỹ như tôi đã nêu ở phần trên).

Nói tóm lại, tôi rất hoan nghênh những đổi mới về quy chế đào tạo tiến sỹ với việc nhấn mạnh vào việc công bố bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế. Việc công bố kết quả nghiên cứu không chỉ là điều kiện cần cho một học vị tiến sỹ, mà còn thể hiện một sự đóng góp vào việc nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, quy chế mới về đào tạo tiến sỹ của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phải thêm phần thẩm định đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ một cách nghiêm chỉnh theo chuẩn mực quốc tế trước khi nghiên cứu sinh đăng ký theo học. Duy trì chất lượng cao từ “đầu vào” cũng chính là một khâu quan trọng để đảm bảo sự thành công trong chương trình đào tạo tiến sỹ.

[*] Phát biểu trên Người lao động, một cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: “Để được công nhận là tiến sỹ, các nghiên cứu sinh cũng phải có ít nhất một bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu của hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài, một bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong nước do cơ sở đào tạo quy định, và điểm TOEFL quốc tế 500 hoặc tương đương”.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 5/2007