PHÁT TRIỂN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM NHÌN TỪ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO

Trong những năm qua, hợp tác đào tạo quốc tế của các trường đại học (ĐH) Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng đất nước, thực hiện chuyển giao công nghệ đào tạo, góp phần quan trọng vào đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý trong các trường ĐH. Tuy nhiên, là thành viên của WTO, bên cạnh những cơ hội mới, hoạt động này ở nước ta cũng sẽ gặp nhiều thách thức mà nếu không có những biện pháp tháo gỡ thích hợp thì sẽ gặp nhiều khó khăn.

Hợp tác đào tạo quốc tế và những kết quả đạt được

Hợp tác đào tạo quốc tế ở đây được giới hạn là sự hợp tác giữa các trường ĐH trong nước với các trường ĐH nước ngoài nhằm cung cấp cơ hội học tập cho sinh viên Việt Nam, có thể là đưa sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học tập, có thể là đào tạo theo các chương trình quốc tế cho các sinh viên ngay tại Việt Nam (du học tại chỗ). Bài viết này tập trung vào các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế tại Việt Nam, bao gồm: Các chương trình quốc tế tại Việt Nam do các trường ĐH nước ngoài cung cấp hoặc do các trường ĐH Việt Nam liên kết với các trường ĐH nước ngoài cung cấp. Trong các chương trình này, người học sau khi tốt nghiệp sẽ được nhận bằng cấp (cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ) do trường ĐH nước ngoài cấp, hoặc do trường ĐH nước ngoài và trong nước cùng cấp.

Trong những năm qua, đặc biệt là từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay, hoạt động hợp tác đào tạo quốc tế đã cung cấp hàng vạn cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó đáng kể nhất là đào tạo hàng ngàn thạc sỹ về kinh tế và quản trị kinh doanh, đây là lực lượng quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Hợp tác đào tạo quốc tế thực sự đã giúp các trường ĐH Việt Nam thực hiện những bước đi vững chắc trong hội nhập giáo dục quốc tế. Thông qua các hoạt động này, nhiều trường ĐH lớn đã có được đội ngũ giảng viên có thể đảm đương giảng dạy các chương trình quốc tế, thực hiện được trao đổi giảng viên với nhiều trường ĐH ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Đồng thời, thông qua hoạt động này, các trường ĐH trong nước cũng có một đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo có thể xây dựng và điều hành các chương trình quốc tế. Nhiều chương trình đào tạo của một số trường ĐH Việt Nam đã được các trường có uy tín của châu âu, Hoa Kỳ, Australia công nhận tương đương và cho phép thực hiện chuyển đổi kết quả học tập. Nhiều trường ĐH Việt Nam đã tham gia vào các liên kết, liên minh giáo dục quốc tế, một số trường đã được các tổ chức giáo dục nước ngoài có uy tín đánh giá và công nhận là thành viên chính thức.

Những cơ hội, thách thức của đào tạo hợp tác quốc tế trong giai đoạn hội nhập

Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, các trường ĐH Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức phải vượt qua để khẳng định vị thế của mình. Các cơ hội là: 1- Tiếp tục hợp tác một cách bình đẳng hơn với các trường, các tổ chức giáo dục quốc tế, có cơ hội để tham gia vào các liên minh, liên kết giáo dục quốc tế – điều này làm cho giáo dục và đào tạo Việt Nam khẳng định được vị thế của mình; 2- Các trường cũng có cơ hội lớn để thực hiện đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý theo các tiêu chuẩn của các trường ĐH tiên tiến trên thế giới; 3- Các trường có điều kiện thuận lợi hơn trong trao đổi, phát triển chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy và học tập; trao đổi giáo viên, sinh viên với các trường ĐH và các tổ chức giáo dục quốc tế; 4- Cơ hội để xuất khẩu dịch vụ giáo dục ra nước ngoài (đặc biệt, trong giai đoạn trước mắt là các thị trường như: Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, các tỉnh phía Nam của Trung Quốc, các nước trong khu vực…).

Tuy nhiên, những thách thức cơ bản của hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo giai đoạn này là không ít.

Thứ nhất, nhu cầu về hợp tác đào tạo quốc tế không những tăng lên về quy mô mà còn trở nên càng phức tạp, đa dạng về phương thức, kèm theo những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng. Các chương trình quốc tế phải tuân thủ các quy định của các tổ chức kiểm định chất lượng quốc tế hoặc các quy định của các trường ĐH, các tổ chức đào tạo nước ngoài. Việc nâng cao chất lượng một mặt đòi hỏi người học phải cố gắng cao hơn, mặt khác đòi hỏi các trường đối tác phía Việt Nam phải có đầu tư cả về cơ sở vật chất và con người.

Thứ hai, với việc trở thành thành viên của WTO, thị trường giáo dục ĐH Việt Nam sẽ mở cửa hơn với sự tham gia nhiều hơn của các tổ chức giáo dục, các trường ĐH nước ngoài, tạo ra cạnh tranh lớn hơn. Trong bối cảnh đó, các chương trình quốc tế tại Việt Nam sẽ thực sự bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt, điều này cũng sẽ kéo theo việc các trường ĐH Việt Nam phải cạnh tranh không chỉ bằng học phí mà quan trọng hơn là bằng chất lượng các dịch vụ được cung cấp.

Thứ ba, hội nhập quốc tế đòi hỏi các trường ĐH Việt Nam phải được cơ cấu lại để thích ứng với thể chế của kinh tế thị trường. Nhìn chung, các trường ĐH hiện nay chưa được tổ chức theo mô hình cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của thị trường, chưa thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường. Điều này sẽ hạn chế sự thích ứng cũng như khả năng cạnh tranh của các trường ĐH Việt Nam. Hơn nữa, do thông tin cung cấp trên thị trường bị sai lệch, bóp méo, “khách hàng” luôn không có đủ thông tin về dịch vụ giáo dục được cung cấp. Nhà nước cũng chưa có “chế tài” nhằm hỗ trợ người học có được thông tin đầy đủ, chính xác để lựa chọn các chương trình phù hợp. Có thể nói đây là một “khuyết tật” của thị trường giáo dục Việt Nam trong giai đoạn vừa qua cũng như sẽ tồn tại trong khoảng 5 năm tới.

Thứ tư, nằm trong hệ thống WTO, hệ thống giáo dục Việt Nam phải hội nhập với các nước, tuy nhiên, Việt Nam còn thiếu (hoặc chưa có) những hiệp định song phương và đa phương về công nhận văn bằng, chuyển đổi tín chỉ giáo dục. Điều này là khó khăn và thách thức rất lớn đối với hệ thống giáo dục Việt Nam khi hội nhập. Đây cũng là công việc mà Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam phải thực hiện trong những năm tới.

Những kiến nghị

Để vượt qua những hạn chế, tăng thêm cơ hội thành công trong hội nhập, Nhà nước và các trường ĐH cần thực hiện:

Một là, coi hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học là bước đi tiên phong để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH Việt Nam trong hội nhập. Có định hướng rõ ràng và có kế hoạch cụ thể để khai thác những cơ hội, nguồn lực và tiềm năng mà hợp tác đào tạo quốc tế mang lại để nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục ĐH trong nước.

Hai là, để hợp tác thành công trong giai đoạn này, các trường ĐH Việt Nam cần được cơ cấu lại (tổ chức, nhân lực, tài chính) theo định hướng thị trường (nhu cầu của người học), tập trung vào xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Ba là, cần coi công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam trong điều kiện của hội nhập: 1- Nhìn nhận lại theo quan điểm tích cực của hội nhập, mạnh dạn loại bỏ chương trình đào tạo giáo viên theo cách đào tạo công chức hành chính hiện nay, thay vào đó là chương trình và cách thức đào tạo giáo viên mới hướng theo các tiêu chuẩn, các chuẩn mực quốc tế (Trường ĐH Kinh tế Quốc dân đã thử nghiệm xây dựng chương trình đào tạo giáo viên theo chuẩn mực quốc tế, tuy nhiên kế hoạch tổng thể này muốn thành công phải có sự hỗ trợ từ các cơ quan/ban ngành, đặc biệt là từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo); 2- Nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn giảng viên ĐH dựa trên các chuẩn quốc tế (của các trường tiên tiến trong khu vực và thế giới) và lấy tiêu chuẩn đó làm cơ sở để thực hiện đào tạo, phát triển và đánh giá đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trong các trường ĐH Việt Nam; 3- Các trường ĐH Việt Nam phải đưa ra những quy định, tiêu chuẩn mới về hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên (giảng viên đại học phải dành ít nhất mỗi năm 3 tháng cho nghiên cứu khoa học).

Bốn là, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có nghiên cứu đánh giá đầy đủ, toàn diện về hoạt động hợp tác đào tạo quốc tế nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục ĐH trong nước và hiệu quả của công tác này. Thực tế cho thấy, đã có một số chương trình nâng cao chất lượng đào tạo ĐH trong nước lặp lại cách làm của các chương trình hợp tác quốc tế cách đây 10 năm, nếu như chúng ta áp dụng bài học kinh nghiệm từ các chương trình quốc tế thì sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 8/2007 (TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH)

NHỮNG NÉT NỔI BẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC SHTT TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY

Trong thời gian qua, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, Cục Sở hữu Trí tuệ (SHTT) đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, xác lập và bảo hộ quyền, tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế về SHTT… góp phần quan trọng vào việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống SHTT của nước ta theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế và định hướng phát triển nền kinh tế, đảm bảo lợi ích của quốc gia và xã hội. Với truyền thống 25 năm phấn đấu, nhất là thành tựu 5 năm gần đây, hy vọng rằng trong thời gian tới, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) cùng sự nỗ lực của toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, Cục sẽ vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần đưa hệ thống SHTT thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.

Cục Sáng chế rồi đến Cục Sở hữu Công nghiệp (SHCN) và sau đó là Cục SHTT, là cơ quan trực thuộc Bộ KH&CN, Cục SHTT có chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động ban hành theo Quyết định số 14/2004/QĐ-BKHCN ngày 25.6.2004 của Bộ trưởng Bộ KH&CN. Theo đó Cục được giao thực hiện các nhiệm vụ cơ bản là: Tham mưu cho Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT; xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch, chương trình, dự án nhằm phát triển hệ thống SHTT trong phạm vi cả nước; thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực SHTT tại Việt Nam và trên trường quốc tế; đại diện Nhà nước trong các quan hệ hợp tác quốc tế về SHTT; chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về SHTT cho các cơ quan quản lý SHTT thuộc các Bộ/ngành và địa phương trong cả nước; tổ chức thực hiện công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học về SHTT; tổ chức các hoạt động thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh, nâng cao nhận thức xã hội về SHTT.

Với mục tiêu xây dựng và củng cố hệ thống SHTT nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của đất nước, cũng như những đòi hỏi bắt buộc của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngay từ năm 1995 cùng với việc Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống SHTT của nước ta không ngừng được đổi mới và ngày càng hoàn thiện. Từ một hệ thống có nhiều khiếm khuyết, phải đối mặt với những thách thức to lớn về năng lực và hiệu quả, đến nay tất cả các yếu tố của hệ thống SHTT nước ta đều được đổi mới, hoàn thiện theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập, bảo đảm lợi ích quốc gia và lợi ích xã hội.

Trong suốt chặng đường 25 năm kể từ khi thành lập đến nay(1982-2007), đặc biệt là giai đoạn 2002-2006, hoạt động của Cục SHTT đã được triển khai mạnh mẽ, đúng hướng và đạt được những kết quả nổi bật cụ thể sau đây:

Thực hiện chức năng tham mưu cho Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và chính sách về SHTT

Với sự nỗ lực của Cục, hàng loạt văn bản pháp luật về SHTT đã được xây dựng và ban hành trong giai đoạn từ 2002 đến nay, nhằm bổ sung những quy định còn thiếu hoặc sửa đổi những quy định không phù hợp với sự phát triển của đất nước hoặc chưa đáp ứng các yêu cầu của TRIPS/WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA). Đặc biệt, trong năm 2005, Cục đã chủ trì đề xuất phương án dự thảo Phần thứ 6 – Quyền SHTT trong Bộ luật Dân sự sửa đổi, đề xuất này đã được Quốc hội chấp nhận và thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI (Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH XI). Đồng thời, cũng trong năm 2005, Cục đã chủ trì xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật SHTT – đạo luật chuyên ngành đầu tiên về SHTT của Việt Nam. Trong vòng 10 tháng, nhờ những nỗ lực to lớn và tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, sau nhiều lần tu chỉnh, dự thảo Luật SHTT đã được hoàn thành và được Quốc hội chính thức thông qua ngày 29.11.2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2006), nâng cấp vượt bậc hiệu lực của toàn hệ thống pháp luật SHTT, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngay sau khi hoàn thành Luật SHTT, Cục đã khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Kết quả là, hàng loạt văn bản đã được ban hành: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 của Chính phủ, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 của Chính phủ, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14.2.2007 của Bộ KH&CN. Đồng thời với việc chủ trì xây dựng các văn bản pháp luật về SHTT, Cục cũng tích cực tham gia góp ý, xây dựng nhiều văn bản, chính sách về hoặc có liên quan tới lĩnh vực SHTT.

Trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về SHTT trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, tiến hành rà soát thường xuyên, cập nhật, sửa đổi dự thảo báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (phần nội dung về SHTT) nhằm thể hiện chính xác hệ thống SHTT của Việt Nam, góp phần kết thúc đàm phán về SHTT tại phiên đa phương thứ 15, ngày 22-29.10.2006 (Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11.1.2007). Luật pháp quốc tế về SHTT (TRIPS/WTO, BTA…) tiếp tục được bảo đảm thi hành nghiêm túc, thông qua việc xây dựng báo cáo thực trạng về SHTT của Việt Nam và kiến nghị các biện pháp cần thiết để thực hiện các cam kết quốc tế về SHTT.

Đồng thời với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, Cục còn hoạch định các chính sách về quản lý và phát triển hoạt động SHTT, xây dựng và triển khai các Đề án, Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thúc đẩy các hoạt động SHTT trong phạm vi cả nước: Đề án “Đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ quyền SHTT” do Chính phủ giao cho Bộ KH&CN chủ trì thực hiện theo các Quyết định số 35/2002/QĐ-TTg ngày 12.3.2002 và số 37/2002/QĐ-TTg, ngày 14.3.2002; Đề án “Hoàn thiện hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam” thuộc Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 của Đảng; Đề án “Khảo sát, đánh giá thực tiễn hoạt động sáng kiến ở Việt Nam nhằm đề xuất cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động sáng tạo kỹ thuật nói chung”; Đề án: “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT” thuộc Chương trình hành động của Chính phủ; “Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 4.4.2005 và đang được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2005-2010.

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và duy trì quyền SHCN cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Cục SHTT là cơ quan duy nhất tại Việt Nam thực hiện chức năng đại diện Nhà nước trong việc xác lập, bảo hộ và duy trì các quyền SHCN. Số đơn yêu cầu xác lập quyền SHCN nộp liên tục gia tăng và do vậy khối lượng công việc mà Cục phải giải quyết cũng ngày càng lớn. Cụ thể là trong thời gian từ 1.1.2002 đến 31.12.2006, Cục đã tiếp nhận tổng số 107.586 đơn đăng ký SHCN đối với các đối tượng SHCN khác nhau (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu). Cũng trong khoảng thời gian này, Cục đã xử lý và cấp 62.268 Văn bằng bảo hộ các loại và thu nộp ngân sách nhà nước 287 tỷ đồng từ phí và lệ phí SHCN. Ngoài các đơn đăng ký SHCN, mỗi năm Cục còn tiếp nhận và giải quyết hàng chục nghìn đơn các loại khác liên quan đến quyền SHCN như sửa đổi, gia hạn, duy trì, chuyển nhượng Văn bằng bảo hộ, khiếu nại, yêu cầu thẩm định, tra cứu. Thủ tục hành chính về SHCN cũng không ngừng được cải cách, hiện đại hoá bằng việc áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công việc, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, góp phần tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trên thị trường Việt Nam và quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển KH&CN và tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Thực hiện chức năng đại diện Nhà nước trong các quan hệ quốc tế về SHTT

Trong thời gian qua, hoạt động hợp tác quốc tế về SHTT được đẩy mạnh, đa dạng về nội dung, quan hệ song phương và đa phương với các đối tác không ngừng được củng cố và phát triển. Cục SHTT đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về SHTT, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện về SHTT trong khuôn khổ APEC, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế. Cục cũng đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, EU… Quan hệ hợp tác tốt đẹp về SHTT với nhiều đối tác như Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu âu (EPO), Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu âu (OHIM), Thụy Sỹ, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga tiếp tục được Cục duy trì và phát triển. Các dự án hợp tác với nước ngoài (MOIPA, UTIPINFO, ECAP-II, SPC) tiếp tục được triển khai có hiệu quả, góp phần hiện đại hoá và nâng cao năng lực cho hệ thống SHTT của Việt Nam. Kết quả là Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của các nước và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực hoàn thiện khung pháp luật về SHTT, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống quản lý và thực thi quyền SHTT, cung cấp thông tin tư liệu và nâng cao nhận thức xã hội về SHTT.

Thực hiện chức năng đảm bảo các hoạt động sự nghiệp về SHTT

Trong thời gian qua, công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT được triển khai thường xuyên, có hệ thống, với quy mô ngày càng rộng lớn. Cục SHTT tiếp tục chú trọng công tác đào tạo ngắn hạn và dài hạn về SHTT nhằm tạo nguồn nhân lực bổ sung có trình độ cơ bản và chuyên sâu cho hệ thống SHTT, nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng chuyên môn về SHTT cho đội ngũ cán bộ quản lý, thực thi quyền SHTT, cán bộ nghiên cứu và triển khai, các doanh nghiệp thuộc các ngành, địa phương trong cả nước. Nhiều hội thảo quốc gia, quốc tế, các lớp tập huấn với các chủ đề khác nhau cũng được tổ chức thường xuyên. Chức năng đầu mối của Cục tại khu vực miền Trung và miền Nam tiếp tục được đẩy mạnh.

Công tác hỗ trợ và tư vấn về SHCN được chú trọng và bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Ngoài công tác tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký SHCN được thực hiện thường xuyên cho hàng trăm lượt người, các hoạt động nhằm hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là chỉ dẫn địa lý) cũng được tăng cường. Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (được phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4.4.2005) đã được triển khai, hàng loạt hạng mục công việc đã được thực hiện đầy đủ, theo tiến độ chung của Chương trình.

Công tác thông tin về SHCN tiếp tục được hoàn thiện, năng lực thông tin tiếp tục được phát triển. Cục tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin về SHCN, thường xuyên duy trì trao đổi thông tin chuyên ngành với 27 quốc gia và tổ chức quốc tế, xây dựng kho tư liệu SHCN với khoảng 25 triệu sáng chế, 1,5 triệu kiểu dáng công nghiệp và gần 3 triệu nhãn hiệu. Đồng thời, Cục cũng thường xuyên hướng dẫn, phổ biến và tổ chức khai thác, sản xuất sản phẩm thông tin phục vụ nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng, kinh doanh của hàng trăm lượt tổ chức, cá nhân. Công báo SHCN được phát hành đều đặn, các tin bài về SHTT được cung cấp thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên trang tin điện tử của Cục.

Trong những năm qua, Cục SHTT cũng chú trọng tăng cường công tác thực thi và giải quyết khiếu nại theo hướng hiệu quả, tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền SHCN tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng ngàn vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về SHCN. Nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm, vi phạm về SHTT, Cục đã chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT”.

Bước sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện các cam kết của Việt Nam với tư cách là thành viên chính thức của WTO, Cục SHTT xác định phương hướng hoạt động của mình nhằm củng cố và tạo ra những thay đổi quan trọng về chất đối với toàn bộ hệ thống SHTT. Các nhiệm vụ ưu tiên bao gồm:

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT.

– Đảm bảo chất lượng và tiến độ xử lý đơn đăng ký SHCN bằng việc nâng cao năng lực cán bộ và áp dụng các công nghệ hiện đại.

– Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ của Cục và toàn bộ hệ thống.

– Tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế song phương và đa phương, tranh thủ sự giúp đỡ chuyên môn từ bạn bè quốc tế.

– Đẩy mạnh hoạt động thông tin SHTT, nâng cao năng lực và chất lượng cung cấp thông tin SHTT.

– Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong hệ thống bảo vệ quyền SHTT nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHTT.

– Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và kiến thức về SHTT trong toàn xã hội.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2007

215 CÂU HỎI – ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Phần I: Một số khái niệm về sở hữu trí tuệ (42 câu hỏi).

Phần II: Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (24 câu hỏi).

Phần III: Các hành vi vi phạm, xâm phạm sở hữu công nghiệp (43 câu hỏi).

Phần IV: Xử lý bằng biện pháp hành chính, hình sự, dân sự các hành vi vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (88 câu hỏi).

Phần V: Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về sở hữu công nghiệp (18 câu hỏi).

VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHUÔN MẪU GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

TRỊNH HÒA BÌNH

Gia đình là phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người; là một thiết chế xã hội quan trọng, liên quan đến hoạt động của toàn xã hội và mỗi cá nhân. Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế ấy biến đổi sẽ dẫn đến cả hệ thống biến đổi và ngược lại, những thiết chế xung quanh gia đình trong hệ thống xã hội nói chung (như kinh tế, pháp luật, văn hóa…) biến đổi cũng khiến cho gia đình biến đổi theo. Gia đình Việt Nam không nằm ngoài quy luật này. Vậy khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi gì trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập? Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28.6), Tạp chí xin giới thiệu một số phân tích, lý giải về vấn đề này.

Biến đổi gia đình Việt Nam từ sau đổi mới và những kiến giải khoa học

Trên bình diện quản lý xã hội, qua sự thay đổi trong các nội dung điều, khoản của Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2000 so với nội dung trước khi sửa đổi có thể thấy được những biến đổi trong thiết chế xã hội đặc biệt này trước và sau đổi mới. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình mới, người ta nhận thấy đã có những biến đổi sau: Thứ nhất, quan niệm về gia đình, vấn đề sở hữu, các mối quan hệ trong gia đình có nhiều biến đổi. Thứ hai, gia đình biến đổi theo hướng có nhiều yếu tố cá nhân hơn. Thứ ba, các vấn đề trong gia đình ngày càng đa dạng và trở nên phức tạp1. Đây là một thực tế không thể phủ nhận được trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội…

Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản (sinh sản, giáo dục, kinh tế và tâm lý – tình cảm). Cả 4 chức năng này đã và đang xuất hiện những yếu tố mới. Điều này đã được nhiều nghiên cứu chuyên sâu về gia đình chỉ ra. Tuy nhiên, song hành cùng sự biến đổi về kinh tế, xã hội ở nước ta, chức năng nào biến đổi nhiều nhất, tạo được dấu ấn rõ nét cho khuôn mẫu mới của gia đình trong xã hội hiện đại vẫn đang là vấn đề có nhiều bàn cãi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Nếu có gì gọi là mới trong gia đình Việt Nam hiện đại thì có lẽ là sự tăng cường yếu tố dân chủ trong cái tổ chức rất đáng yêu, cần phải yêu này. Xã hội mới tạo điều kiện cho mỗi người có giá trị tự thân. Thêm một nhân tố nữa để bảo đảm sự bình đẳng trong các tương quan và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình. Không có áp bức, thống trị ở đây – xét về mặt khái quát”2.

Nhiều học giả khác lại cho rằng, vấn đề giáo dục gia đình đang có xu hướng thay đổi trong xã hội hiện đại bởi những vấn đề mà giới trẻ hiện nay đang gặp phải như các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, sự tôn kính đối với ông bà cha mẹ có xu hướng giảm sút… hay sự chuyển giao, phó mặc chức năng này của gia đình cho các thiết chế xã hội khác như trường học, dịch vụ xã hội (dịch vụ chăm sóc trẻ, giúp việc tại nhà)… Sự biến đổi về quy mô, kiểu loại gia đình, những biến đổi trong đời sống hôn nhân, tâm lý – tình cảm và sự lựa chọn trong kết hôn cũng được quan tâm đáng kể trong những nghiên cứu về gia đình trong thời gian qua.

Rõ ràng, rất nhiều khía cạnh khác nhau của gia đình đều đang có những biến đổi trong điều kiện xã hội biến đổi, điều đó đã tạo nên sự biến đổi khuôn mẫu gia đình nói chung. Vì thế, việc xác định rõ ràng, chuẩn xác đặc trưng của gia đình Việt Nam hiện nay là một vấn đề không dễ dàng.

Về xu hướng biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay

Với khái niệm “Tam giác gia đình”3 của tác giả Hồ Ngọc Đại: “Gia đình là một khái niệm mới được hình thành từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên” là bố, mẹ và con cái hình thành nên một tam giác gia đình” đặt trong bối cảnh gắn với tam giác đời sống xã hội mà ba đỉnh là cá nhân – gia đình – xã hội thì đây là một mối liên hệ khó có thể bóc tách được. Điều này cho thấy sự biến đổi của gia đình luôn gắn với sự biến đổi của các cá nhân và xã hội. Hiển nhiên, gia đình là hệ quả của mối tương tác giữa các cá nhân và xã hội đang sống. Gia đình với chức năng của nó sẽ cố gắng điều hoà các mối quan hệ này phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Dưới đây xin đề cập hai chiều tác động (cá nhân và xã hội) đến gia đình dẫn đến việc biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện đại.

Tác động cá nhân đến gia đình

Mặc dù chưa có khái niệm chuẩn và thống nhất về gia đình nhưng dường như có sự đồng thuận rộng rãi ở một điểm: Gia đình là tập hợp các cá nhân có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng… trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các thành viên (hay cá nhân). Có thể quy giản quan hệ này thành 3 mối quan hệ chủ yếu: Vợ – chồng, cha mẹ – con cái, anh chị – em (con cái với nhau). 3 mối quan hệ cơ bản này có ảnh hưởng lớn đến thiết chế gia đình. ở từng thời điểm lịch sử khác nhau thì các mối quan hệ này có những đặc trưng khác nhau. Ví dụ, trong xã hội truyền thống thì quan hệ vợ – chồng, cha – con, anh – em theo một tôn ti, trật tự chặt chẽ nhưng cho đến nay, sức nặng của tôn ti, trật tự đó không còn bao nhiêu nữa mà thay vào đó là sự bình đẳng hơn theo kiểu “trên kính dưới nhường”. Mỗi cá nhân trong gia đình đều xác lập một vị thế và không gian riêng cần các thành viên khác tôn trọng. Điều này có nghĩa là tự do cá nhân được đề cao. Vả chăng, trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự ra đời của các phương tiện truyền thông mới (điện thoại di động, Internet…) càng làm cho xu hướng cá nhân hoá mạnh mẽ hơn… Phải chăng, những thực tiễn đó đã dẫn đến các mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự rạn nứt trong gia đình ngày nay như nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi? Khó có thể khẳng định đó là mối quan hệ nhân – quả nhưng rõ ràng, khi mỗi cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng của mình như học vấn, địa vị, kinh tế… thì các mối quan hệ trong gia đình bị “nhạt” đi. Và cái tôn ti, trật tự kia hầu như không còn sức mạnh để níu kéo các thành viên trong gia đình lại với nhau. Mô phỏng trong tam giác gia đình của Hồ Ngọc Đại thì diện tích của tam giác sẽ lớn hơn, do vậy các cạnh (thể hiện mối quan hệ) đó sẽ bị kéo dài ra. Theo quy luật của cơ học thì sức đàn hồi, hay “độ cứng” của vật thể tỷ lệ nghịch với chiều dài của vật thể đó. Vận dụng mô hình toán học và cơ học này vào trong quan hệ gia đình có thể thấy rằng các mối quan hệ đó “dễ” bị đứt gãy hơn so với khi các quan hệ đó còn “khép kín”. Sự lỏng lẻo trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình sẽ dẫn đến những hệ quả tích cực và tiêu cực nhất định

Về mặt tích cực, tính cơ động, hướng ngoại trong các thành viên trong gia đình càng lớn thì thiết chế đó càng phát triển trên bình diện kinh tế, giáo dục, vị thế xã hội… do các cá nhân đầu tư nhiều thời gian, tâm huyết hơn để giành các lợi ích đó cho riêng mình. Điều này ảnh hưởng rất tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung. Không chỉ vậy, nó còn là một chỉ báo cho bình quyền của các thành viên, đặc biệt là phụ nữ trong gia đình được giải phóng trong quá trình dân chủ hoá xã hội trở nên mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục hơn, các thành viên có điều kiện phát huy hết năng lực của cá nhân mà không bị ràng buộc theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” hoặc “trên bảo dưới nghe”…

Tuy nhiên, những hệ lụy tiêu cực của mối quan hệ lỏng lẻo này là cái giá phải trả. Đó là sự rạn nứt trong gia đình, là nguồn gốc của những biểu hiện tiêu cực trong xã hội như tệ nạn xã hội, văn hoá ứng xử xuống cấp, đạo đức bị coi nhẹ hay tình trạng ly hôn, ly thân, sống độc thân gia tăng… mà xã hội đang cố gắng có những giải pháp kiềm chế.

Tác động xã hội đến gia đình

Sự biến đổi kinh tế, xã hội của nhân loại dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái gia đình. Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đã và đang gặt hái nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự biến đổi khuôn mẫu của gia đình. Đây là một quy luật tất yếu, khôn cưỡng. Đánh giá một cách công bằng, những đổi thay về kinh tế, xã hội, tăng cường giao lưu văn hoá đã mang lại cho gia đình những luồng sinh khí mới như nâng cao thu nhập, mức sống, mức hưởng thụ, trình độ tiêu dùng, đời sống vật chất và tinh thần, thông tin của các thành viên. Chưa bao giờ trong lịch sử có những biến chuyển lớn đến như vậy diễn ra trong khung cảnh của gia đình. Những tiến bộ trong quan niệm về bình đẳng, bình quyền, loại bỏ những tập tục, chuẩn mực lạc hậu trong xã hội cũ cũng đã tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nữ giới được phát triển và nâng cao vị thế xã hội.

Tuy nhiên, mặt trái của những biến đổi xã hội và giao lưu văn hoá, thông tin cũng ảnh hưởng rất lớn đến khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay, dẫn tới những hệ lụy nhất định. Ví dụ như, sự cám dỗ của vật chất hay sức ép của vấn đề nghèo đói, thu nhập, vị thế xã hội đã khiến cho gia đình biến đổi một số đặc trưng về chức năng và quy mô. ở không ít gia đình, do quá chú trọng vào việc kiếm tiền, tăng thu nhập, giành vị thế xã hội…, mà cha mẹ giảm đi sự quan tâm tới con cái, giữa các thành viên ít giao tiếp với nhau hơn. Có nhà nghiên cứu cho rằng, thậm chí trong một bộ phận gia đình, sự tồn tại của các thành viên bên cạnh nhau giống như sự gá lắp rời rạc, thưa vắng dần sự quan tâm, lo lắng, chăm chút cho nhau và các thành viên trong gia đình thì dường như “gặp nhau lần nào cũng vội”4. Khi đó, hầu như trường học và các thiết chế xã hội khác đã phải “làm thay” nhiều chức năng của gia đình. Có thể thấy sự biến đổi rất rõ ở các gia đình trong thời gian qua khi mà quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng, quy mô lớn đã, đang và sẽ làm cho quá trình mất đất nông nghiệp diễn ra ngày càng nhiều, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh khiến cho nhiều gia đình nông thôn trở thành gia đình thành thị “cưỡng bức” trong điều kiện mất đất song chuyển đổi nghề nghiệp chậm, thiếu việc làm, gây ra tình trạng bất ổn định trong gia đình. Bên cạnh đó, tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, bệnh tật… lại có nguy cơ phát triển, làm tha hoá một bộ phận dân cư, nhất là giới trẻ. Những yếu tố ngoại cảnh này đã ảnh hưởng không nhỏ tới gia đình, làm thay đổi cả quy mô, cơ cấu, quan hệ và chất lượng gia đình5. Quan niệm về hôn nhân, gia đình hiện nay cũng đang dần dần thay đổi do hoàn cảnh xã hội tác động. Những hiện tượng như quan hệ tình dục trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, sống thử, kết hôn muộn, sống độc thân, ly thân, ly hôn không ngừng tăng lên và có tính đột biến6. Đây là những biểu hiện vốn chưa xuất hiện trong gia đình Việt Nam truyền thống mà nó chính là sản phẩm của xã hội phương Tây du nhập vào nước ta trong quá trình mở cửa, hội nhập. Văn hoá phương Tây tràn vào một cách ồ ạt phần nào vượt qua sự kiểm soát của gia đình, nhà trường và xã hội, ảnh hưởng đến tính bền vững của gia đình và làm cho cấu trúc của gia đình dễ “vỡ” hơn. Với sự nâng cao tính cơ động kinh tế, xã hội thì gia đình tỏ ra là một thiết chế xã hội nhạy cảm và năng động đối với những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Điều đó dẫn đến những biến đổi về lượng cũng như về chất của gia đình theo bối cảnh xã hội.

Tựu chung lại, có thể khái quát một số xu hướng biến đổi đặc trưng khuôn mẫu từ gia đình truyền thống đến gia đình hiện đại như sau:

Thứ nhất, quy mô, kích cỡ gia đình Việt Nam đang dần dần “thu hẹp lại”, gia đình hạt nhân đang trở nên phổ biến, dần thay thế gia đình mở rộng nhiều thế hệ sống trong một mái nhà. Xu hướng này biểu hiện rõ nét hơn khi tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng.

Thứ hai, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và truyền thụ văn hoá đang ít nhiều bị xem nhẹ. Gia đình đang có xu hướng “giao phó” chức năng này cho thiết chế trường học và hệ thống các dịch vụ xã hội khác.

Thứ ba, chức năng kinh tế gia đình đang có xu hướng chuyển phần “sản xuất” sang “tiêu dùng”. Vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình lại theo đuổi các mục đích khác nhau, theo đó là các hoạt động kinh tế khác nhau, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống.

Thứ tư, các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, sợi dây liên kết các thành viên đang bị “nới rộng ra” theo hướng tự chủ, phát triển độc lập và cá nhân hoá. Khuynh hướng này có thể làm suy yếu tính cộng đồng, cộng cảm trong phạm vi gia đình.

Thứ năm, vai trò điều hoà đời sống tâm lý – tình cảm trong gia đình hiện nay cũng đang bị “xói mòn”. Người già và trẻ em đang phải đối mặt với sự cô đơn, sự thiếu quan tâm và chăm sóc từ các thành viên khác trong gia đình. Họ đang dần bị “đẩy” ra các nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội khác.

Thứ sáu, cấu trúc gia đình dễ biến động, thiếu tính bền vững hơn do sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, hạnh phúc, trách nhiệm với gia đình của các thành viên cũng như trong các chuẩn mực giá trị, quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Qua phân tích, có thể đi đến kết luận rằng, gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá toàn cầu. Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới. Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với những thay đổi không ngừng của xã hội hiện đại. Với khả năng thích ứng cao trên nền tảng văn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được những nét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem Phát triển Xã hội ở Việt Nam. Một tổng quan xã hội học năm 2000. Trịnh Duy Luân chủ biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

2 Bài viết: Một tổ hợp đẹp, xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ. Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1996.

3 Hồ Ngọc Đại. Tam giác gia đình. Tạp chí Xã hội học. Số 3.1990, trang 4.

4 Trịnh Hoà Bình. Chương trình thời sự Chào buổi sáng (VTV1). Nhân ngày Gia đình Việt Nam (28.6.2006).

5 Chính sách và giải pháp nhằm phát triển gia đình ở Hà Nội (Báo cáo tổng hợp). Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và Trung tâm Xã hội học – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện tháng 3.2005.

6 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2.4.2007.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 6/2006

VỀ CÁC THUẬT NGỮ PHÁT MINH, PHÁT HIỆN, SÁNG CHẾ

Ở nước ta, trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN), việc sử dụng một số thuật ngữ còn chưa được thống nhất và chưa chính xác. Gần đây, Tạp chí Hoạt động Khoa học đã đăng tải một số ý kiến bàn về các khái niệm KH &CN và KHCN. Tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc ý kiến về việc dùng các thuật ngữ: Phát minh, phát hiện, sáng chế.

Chúng ta thường gặp những cách viết khác nhau về các khái niệm phát minh, phát hiện, sáng chế. Chẳng hạn: “Mỗi năm trôi qua, giới khoa học trên thế giới đều bội thu với những phát minh độc đáo, mang lại tiện ích thực sự cho cuộc sống con người, ví dụ như bàn chải đánh răng biết hát, máy giặt truyền động bằng xe đạp…”1. Ngay một thuật ngữ invention dịch ra tiếng Việt cũng không nhất quán, khi thì phát minh, khi thì sáng chế. Hầu hết các từ điển Anh – Việt đều dịch invention theo cả hai nghĩa “phát minh và sáng chế”, thậm chí có người còn dịch cả patent và license là phát minh hoặc bằng phát minh (!)Vậy nên hiểu và viết thế nào để nhất quán về bản chất khoa học và phù hợp với những quy định về bảo hộ pháp luật đối với các đối tượng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ V (SHTT) của Việt Nam?

Việc hiểu đúng các thuật ngữ phát minh, phát hiện và sáng chế không những có tác dụng trong việc phân loại các sản phẩm của nghiên cứu, mà còn có ý nghĩa trong việc xác định giá trị thương mại, giải quyết hợp lý khi có tranh chấp xảy ra.

Khái niệm phát minh, phát hiện và sáng chế

Phát minh (tiếng Anh là Discovery, tiếng Pháp là Découverte, tiếng Nga là Otkrưtije)

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Phát minh: Sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Phát minh thường gắn liền với những nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện thực”2.

Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì phát minh là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người3.

Một số ví dụ về phát minh như: Archimède phát minh định luật sức nâng của nước, Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn, Nguyễn Văn Hiệu phát minh định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt…

Phát minh có các tiêu chí sau: Chỉ có trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đã tồn tại khách quan (không có tính mới), có khả năng áp dụng để giải thích thế giới, nhưng chưa thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc đời sống mà phải thông qua các giải pháp kỹ thuật, nó không có giá trị thương mại.

Phát hiện (tiếng Anh cũng là Discovery, tiếng Pháp là Découverte): Là việc khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan. Ví dụ: Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ radium, Colomb phát hiện châu Mỹ, Adam Smith phát hiện quy luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường…4.

Tương tự như phát minh, phát hiện cũng không có tính mới, nó chỉ khám phá ra các vật thể hoặc các quy luật xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp vào đời sống, nó không có giá trị thương mại. Bởi vậy người ta không mua, bán, chuyển quyền sử dụng các phát minh, phát hiện.

Sáng chế (tiếng Anh và tiếng Pháp là Invention, tiếng Nga là Izobretenije)

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế: Giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Sáng chế là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ” 5.

Luật SHTT của Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”.

Ví dụ: James Watt sáng chế máy hơi nước, Nobel sáng chế công thức thuốc nổ TNT…

Giải pháp kỹ thuật có thể tồn tại dưới các hình thức sau: Là dạng vật thể, ví dụ: Máy móc, dụng cụ, thiết bị, linh kiện…; là dạng chất thể, ví dụ: Thực phẩm, dược phẩm, vật liệu…; là dạng quy trình, ví dụ: Quy trình xử lý nước thải, quy trình công nghệ sản xuất xi măng…

Sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống, nó có ý nghĩa thương mại, trong thực tế người ta có thể mua, bán sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc license sáng chế (chuyển quyền sử dụng sáng chế).

Có 3 tiêu chí bắt buộc để một giải pháp kỹ thuật được cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent), đó là: Có tính mới (so với thế giới); có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp.

Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu của sáng chế (phát minh và phát hiện không có tiêu chí này). Như vậy, một sáng chế không sử dụng tình trạng kỹ thuật đã biết.

Trình độ sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3 khía cạnh, đó là: Vấn đề cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các ưu điểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết.

Khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế là việc sản xuất, sử dụng sáng chế đó bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy mô nhất định. Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

Có bảo hộ quyền SHTT đối với phát minh, phát hiện và sáng chế không?

Luật SHTT đã chỉ rõ đối tượng quyền SHTT bao gồm: Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng.

Bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện

Bản viết về phát minh và phát hiện được coi là tác phẩm khoa học, là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật và theo Luật SHTT.

Cần phải nhấn mạnh rằng, Luật SHTT không bảo hộ bản thân phát minh và phát hiện, mà chỉ bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện. Tuy nhiên, việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện không đồng nghĩa với việc bắt buộc phải cấp văn bằng bảo hộ chúng. Quyền tác giả đối với bản viết về phát minh và phát hiện tự động phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm viết về chúng được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, nhân đây cũng cần nhắc lại là một số người đã quan niệm sai rằng để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì nhất thiết phải đăng ký bảo hộ nó. Luật SHTT quy định: “… việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả”. Không một quốc gia nào trên thế giới lại cấp Patent cho phát minh, ngoại trừ trước đây có Liên Xô (cũ) đã cấp Diplôm cho phát minh.

Bảo hộ sáng chế

Sáng chế là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp và theo Luật SHTT. Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là Bằng độc quyền sáng chế (Patent), có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia cấp bằng và kéo dài trong thời hạn 20 năm. Như vậy, để bảo hộ một sáng chế, bắt buộc nó phải được cấp Patent (khác biệt cơ bản so với phát minh và phát hiện).

Cần lưu ý rằng, Luật SHTT coi bản thân phát minh không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế. Như vậy, nói “bảo hộ phát minh” là sai.

Sự khác nhau về việc bảo hộ bản viết về phát minh, phát hiện và bảo hộ sáng chế

Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện theo cơ chế quyền tác giả, đó là pháp luật không ngăn cấm người khác quyền sử dụng bản thân phát minh và phát hiện, nhưng lại ngăn cấm hành vi của người khác sửa chữa, thay đổi, xuyên tạc bản thân phát minh và phát hiện.

Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ sáng chế theo cơ chế quyền sở hữu công nghiệp, đó là pháp luật ngăn cấm người khác quyền sử dụng sáng chế trong thời hạn và trên lãnh thổ được bảo hộ nếu chưa được phép của chủ sở hữu sáng chế.

Quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả phát minh và phát hiện tồn tại vĩnh viễn, bao gồm: Quyền đặt tên cho phát minh và phát hiện; quyền đứng tên đối với phát minh và phát hiện; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện. Trong khi đó, quyền nhân thân của tác giả sáng chế chỉ bao gồm: Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế; quyền được nêu tên trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế.

Như vậy, trong trường hợp đã chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế, thì tác giả của sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu mới hoặc người sử dụng mới quyền cải tiến sáng chế mà mình là tác giả. Quy định này trái ngược hoàn toàn với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện đối với tác giả của chúng.

1 Nguồn1: VnExpress (theo Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 10.12.2006).

2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2003.

3 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 (xuất bản lần thứ mười, có chỉnh lý và bổ sung), trang 25.

4 Vũ Cao Đàm, đã dẫn, trang 26.

5 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, đã dẫn.

================

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 6/2007

TỔNG MỤC LỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT (1975-1996)

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

1997

Mục lục

PHẦN THỨ NHẤT: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO THẨM QUYỀN BAN HÀNH
PHẦN THỨ HAI: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO THỜI GIAN BAN HÀNH
PHẦN THỨ BA: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO VẤN ĐỀ CHUYÊN NGÀNH

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ BÀI VIẾT VÀ NÓI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

Lời nhà xuất bản
I. GIAI ĐOẠN 1919-1945
II. GIAI ĐOẠN 1945-1954
III. GIAI ĐOẠN 1954-1969

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên Hoàng Thế Liên 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CHƯƠNG II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG III. THỰC TIỄN 1 NĂM THI HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP-THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CHƯƠNG IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN BẢO ĐẢM THI HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP
Phụ lục

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM Tập IIIThừa kế; chuyển quyền sử dụng đất; sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Từ Điều 634 đến Điều 838 Bộ luật dân sự

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên Hoàng Thế Liên
Nguyễn Đức Giao 

Năm xuất bản

2001

Mục lục

Phần thứ tư. THỪA KẾ
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
CHƯƠNG III. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
CHƯƠNG IV. THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
Phần thứ năm: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. HỢP ĐỒNG CHUYỂN ĐỔI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG III. HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG IV. HỢP ĐỒNG THUÊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG V. THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Phần thứ sáu: QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG I. QUYỀN TÁC GIẢ
Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Các quyền của tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm
Mục 3: Hợp đồng sử dụng tác phẩm
Mục 4: Quyền, nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát thanh, truyền hình
CHƯƠNG II. QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Mục 3: Chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp, tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
Mục 4: Sử dụng hạn chế quyền sở hữu công nghiệp
Mục 5: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
CHƯƠNG III. CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Hợp đồng chuyển giao công nghệ
Phần thứ bảy: QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

NHỮNG NỘI DUNG CẤM VI PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

 

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên PGS. TS. Hoàng Thế Liên  

Năm xuất bản

2002

Mục lục

Chú dẫn của Nhà xuất bản
Lời nói đầu
ĐIỀU CẤM
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC
CHƯƠNG III. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG VÀ KHAI THÁC THỦY SẢN

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

BÌNH LUẬN KHOA HỌC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

Tác giả/tập thể tác giả

Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý 

Năm xuất bản: 1997

Mục lục

Lời Nhà xuất bản
Lời nói đầu
CHƯƠNG I. BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM- QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
CHƯƠNG III. TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU
CHƯƠNG IV. NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
CHƯƠNG V. THỪA KẾ
CHƯƠNG VI. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG VII. QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG VIII. QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH, CHỐNG CẠNH TRANH BẤT HỢP PHÁP VÀ KIỂM SOÁT ĐỘC QUYỀN

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 1/1996 

Mục lục

Lời nói đầu
I. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh
1. Cạnh tranh – động lực thúc đẩy nền kinh tế
2. Cạnh tranh – tính chất và mực độ biểu hiện
3. Cạnh tranh bất hợp pháp
4. Chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền
II. Kinh nghiệm chống cạnh tranh bất hớp và kiểm soát độc quyền ở một số nước trên thế giới
* Ở Mỹ
* Ở Cộng hoà Liên bang Đức
* Ở Vương quốc Anh
* Ở Cộng hoà Pháp
* Ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
* Ở Hàn Quốc
* Ở Nhật Bản
* Ở một số nước mà trước đây có nền kinh tế chỉ huy
III. Khái quát pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ, hành vi mang tính cạnh tranh ở thời ký đổi mới
1. Tác động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường đối với hệ thống pháp luật
2. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ mang tính cạnh tranh
IV. Sự cần thiết và những đòi hỏi cấp bách từ thị trường đối với việc xây dựng luật về cạnh tranh
1. Những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh
2. Độc quyền ở Việt Nam – sản phẩm của cơ chế cũ

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 8/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Một số nét về pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện
2. Về một số chế định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành và những kiến nghị
3. Hoà giải trong tố tụng dân sự Việt Nam
4. Một số vấn đề về Giám đốc thẩm và Tái thẩm
5. Về Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ THẨM PHÁN Ở TOÀ ÁN NHÂN DÂN Ở ĐỊA PHƯƠNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 7/1997 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Quản lý thẩm phán là một hình thức quản lý cán bộ, quản lý lao động đặc thù
Báo cáo dẫn đề của Đồng chí Nguyễn Văn Sản, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ nhiệm đề tài
2. Vị trí, vai trò của người Thẩm phán trong Toà án nhân dân hiện nay
TS. Đinh Ngọc Hiện, Phó Viện trưởng Viện KHXX – TANDTC
3. Quản lý Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương – Thực trạng và giải pháp.
Vụ Quản lý Toà án địa phương, Bộ Tư pháp
4. Để có một tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử của Thẩm phán
Trần Quốc Phú, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp
5. Mối quan hệ giữa các cơ quan trong vấn đề bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, thuyên chuyển công tác…Thẩm phán – Thực trạng và giải pháp
Vụ Quản lý Toà án địa phương
6. Vấn đề quản lý Thẩm phán huyện – Thực trạng, những vấn đề đặt ra, giải pháp
Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái
7. Thực trạng công tác quản lý Toà án nhân dân quận, huyện về mặt tổ chức từ năm 1992 đến nay ở thành phố Hà Nội.
Sở Tư pháp TP Hà Nội
8. Vấn đề tuyển chọn và đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Toà án huyện – Thực trạng, vấn đề đặt ra, giải pháp.
Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ
9. Mối quan hệ của các cơ quan địa phương trong việc tuyển chọn Thẩm phán để đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, thị xã – Thực trạng các vấn đề đặt ra và giải pháp
Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương
10. Hoạt động xét xử của Thẩm phán – Thực trạng vấn đề đặt ra và giải pháp.
Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
11. Thực tiễn công tác xét xử án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và một số đề xuất.
Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
12. Thực tiễn xét xử án sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái và một số kiến nghị.
Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái
13. Một số nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp dân sự – Giải pháp khắc phục.
Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 3/1997 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – quá khứ, hiện tại và tương lai
2. Một số nội dung chủ yếu của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996
3. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
4. Nghị định 12/CP ngày 18/12/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ LUẬT TỤC

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 1/1997 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Phát biểu khai mạc hội thảo của đồng chí Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc
2. Phát biểu của bác sỹ Y Ngông Niê Kđăm, Uỷ viên ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội
3. Bài phát biểu của đồng chí Huỳnh thị Xuân, Phó chủ tịch Uỷ Ban nhân dân tỉnh Đaklak
4. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Đaklak.
5. Luật tục và văn hoá dân tộc (sở văn hoá thông tin Đaklak)
6. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Gia lai
7. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum
8. Tham luận của Sở Văn hoá thông tin tỉnh Ninh Thuận
9. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng
10. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi.
11. Tham luận của Sở Tư pháp Tỉnh Bình Định.
12. Tham luận của Sở VHTT tỉnh Bình Định.
13. Phát biểu bế mạc hội thảo của đồng chí Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Tháng 3/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
Phần I. Những vấn đề chung về công ty.
Phần II. Thực trạng pháp luật về công ty ở Việt Nam.
Phần III. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về công ty.
Tài liệu tham khảo  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 6/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam và pháp luật Việt Nam (Trích kết quả báo cáo đề tài)
2. Kinh nghiệm chuyển hoá quy phạm pháp luật quốc tế vào pháp luật trong nước ở Cộng hoà Pháp và một số nước châu Âu.
3. Một số vấn đề ký kết và thực hiện Hiệp định tương trợ Tư pháp trong lĩnh vực về dân sự, hôn nhân và gia đình
4. Một số vấn đề thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự.
5. Một số vấn đề về thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại.
6. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ký kết các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài của Việt Nam
7. Một số nhận xét về thực tiễn ký kết và áp dụng điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải tại Việt Nam
8. Một số vấn đề về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế trong lĩnh vực tránh đánh thuế hai lần.
9. Một số vấn đề về ký kết và thực hiện Hiệp định tín dụng giữa CHXHCN Việt Nam và Ngân hàng thế giới.
10. Một số thực tiễn quốc tế và thực tiễn Việt Nam trong quá trình chuyến hoá các quy phạm của điều ưóc quốc tế vào pháp luật trong nước về lĩnh vực ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự.  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ HƯƠNG ƯỚC

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 10/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp tại hội thảo khoa học về Hương ước tổ chức tại Hải Hưng.
2. Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Du, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng.
3. Vai trò của Hương ước trong việc xây dựng nông thôn mới ở Hải Hưng.
4. Yêu cầu quản lý Nhà nước đối với việc ban hành và thực hiện Hương ước (quy ước làng).
5. Một số kiến nghị cụ thể về quản lý Nhà nước đối với việc lập, ban hành và nội dung của quy ước làng văn hoá ở Hà Bắc.
6. Mấy ý kiến về quy ước văn hoá ở nông thôn hiện nay.
7. Mấy suy nghĩ về Hương ước trong văn hoá quản lý nông thôn.
8. Quy ước làng- một phương tiện giúp chính quyền địa phương quản lý xã hội và xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
9. Vấn đề hương ước của tỉnh Hà Tây.
10. Xây dựng Hương ước là thực tế khách quan cần được chỉ đạo quản lý chặt chẽ.
11. Hương ước với việc quản lý văn hoá làng xã qua việc thực hiện nông thôn Hải Hưng.
12. Quy ước văn hoá để xây dựng làng văn hoá, khối phố văn hoá.
13. Vai trò của quy ước làng văn hoá trong việc xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình.
14. Đôi điều về quy ước làng hiện nay.  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp