LUẬT CƯ TRÚ CÓ HÂM NÓNG THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VIỆT NAM?

NGUYỄN MINH

Việc mở rộng các đối tượng và trường hợp được đăng ký hộ khẩu thường trú, được phép đứng tên chủ sở hữu các bất động sản đắt giá, người dân và các nhà đầu tư trên cả nước sẽ có thêm cơ hội và động lực, cũng như sự bảo hộ của pháp luật để thực hiện các hợp đồng mua – bán, chuyển nhượng nhà đất một cách hợp pháp trên cả nước. Vậy, Luật Cư trú sẽ tác động như thế nào đối với thị trường bất động sản trong thời gian tới…?

Luật Cư trú đã được Quốc hội Khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29-11-2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-07-2007. Chính phủ cũng đã có Nghị định số 107/2007/NĐ-CP, ngày 25-06-2007, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú. Và, theo ước tính ban đầu của Bộ Công an, ít nhất có khoảng 2 triệu người dân trên cả nước, mà đông nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Hà Nội sẽ đủ tiêu chuẩn đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi sinh sống ổn định lâu nay của mình, thoát được cảnh “hộ khẩu treo”- người ở một tỉnh, đăng ký hộ khẩu ở tỉnh khác (mà đã và đang kéo theo nó là những hệ lụy về một loạt vấn đề như: đăng ký xe máy, xin học, khám chữa bệnh, nhà ở…). Vậy, liệu Luật Cư trú hết sức thông thoáng và nhân văn này sẽ tác động như thế nào đối với tình hình thị trường bất động sản nước ta trong thời gian tới…?

Cả về lý thuyết, lẫn cảm nhận thực tiễn, có thể dự báo sự tác động của Luật Cư trú đang và sẽ diễn ra theo các khía cạnh nổi bật sau đây:

Thứ nhất, Luật Cư trú sẽ góp phần làm minh bạch và lành mạnh hóa thị trường bất động sản.

Tác động nổi bật, chủ đạo và tích cực nhất của Luật Cư trú là việc “trả lại tên cho em” – tức là đưa các bất động sản trở về mang tên người chủ đích thực của mình. Kể từ nay, tất cả những người dân nào đã sinh sống từ 1 năm trở lên, có việc làm ổn định và đã có nhà ở thì được phép đăng ký hộ khẩu thường trú, và do đó, được chính thức đăng ký chính danh chủ sở hữu các bất động sản mà mình thực có trên thực tế, ở địa phương đó (mà trước đây, chúng phải ẩn danh dưới tên người khác đã có hộ khẩu thường trú).

Khi các chủ sở hữu bất động sản được công khai và đứng tên hợp pháp các bất động sản thì cũng tức là những khoảng tối tương ứng về chủ sở hữu bất động sản sẽ được xóa đi, tình trạng “đi đêm” với các hiện tượng tiêu cực như: lừa đảo, gian dối, trốn thuế và tội phạm, cũng như những tiêu cực khác trong mua bán, giao dịch bất động sản sẽ được thu hẹp và do đó, sự minh bạch và lành mạnh hóa của thị trường bất động sản sẽ được cải thiện một bước đáng kể.

Thứ hai, Luật Cư trú sẽ góp phần hâm nóng và duy trì nhiệt cho thị trường bất động sản.

Điều 5, Nghị định 107/2007/NĐ-CP, ngày 26-06-2007 nêu rõ: Những giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp để đăng ký thường trú là một trong các giấy tờ sau đây:

Giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân là một trong các giấy tờ sau:

– Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ;

– Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó);

– Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp giấy phép);

– Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, hoặc giấy tờ về hóa giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;

– Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán;

– Giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Ủy ban Nhân dân cấp xã);

– Giấy tờ về trao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình di dân theo kế hoạch của nhà nước, hoặc các đối tượng khác;

– Giấy tờ của tòa án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;

– Giấy tờ có xác nhận của Ủy ban Nhân dân cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;

– Giấy tờ chứng minh về đăng ký tàu, thuyền, phương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến gốc của phương tiện sử dụng để ở. Trường hợp không có giấy đăng ký thì cần có xác nhận của Ủy ban Nhân dân cấp xã về việc có tàu, thuyền, phương tiện khác sử dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng, cho, đổi, thừa kế tàu, thuyền, phương tiện khác và địa chỉ bến gốc của phương tiện đó.

– Giấy tờ chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là các loại hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trường hợp hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà của cá nhân phải có công chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã);

Giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo về việc công dân có chỗ ở thuộc trường hợp quy định tại điểm C, điểm D, khoản 1, Điều 26 của Luật Cư trú.

– Giấy tờ của cơ quan, tổ chức do Thủ trưởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về việc được cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nhượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức), hoặc xác nhận của Ủy ban Nhân dân cấp xã là nhà ở đó không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.

Như vậy, với sự mở rộng các đối tượng và trường hợp được đăng ký hộ khẩu thường trú nêu trên, nhất là do được phép đứng tên chủ sở hữu các bất động sản đắt giá, người dân và các nhà đầu tư trên cả nước, kể cả các nhà đầu tư tiềm năng là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng vẫn còn giữ được quốc tịch Việt Nam, sẽ có thêm cơ hội và động lực, cũng như sự bảo hộ của pháp luật để thực hiện các hợp đồng mua – bán, chuyển nhượng nhà đất một cách đàng hoàng, “danh chính ngôn thuận”, hợp pháp tại bất kỳ địa phương nào trên cả nước mà họ có nhu cầu đầu tư, đăng ký sở hữu bất động sản, nhất là ở các thành phố lớn (tất nhiên trừ một số trường hợp không được phép hoặc hạn chế theo quy định của Luật Cư trú). Điều này là hiện thực, vì để có một việc làm ổn định và đăng ký tạm trú trong 1 năm như là điều kiện ban đầu cho việc đăng ký hộ khẩu, thì không là quá khó đối với bất kỳ cá nhân nào, dù là ở Thủ đô Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh (thậm chí, không loại trừ khả năng, chỉ bằng một hợp đồng danh nghĩa của một công ty trách nhiệm hữu hạn bất kỳ cũng có thể lách được qua điều kiện này). Khi đó, một nhà đầu tư bất động sản sẽ đủ điều kiện để xin đứng tên ngôi nhà hay bất động sản mà mình đã hoặc sẽ đầu tư.

Như vậy, dù muốn hay không, Luật Cư trú đang và sẽ trực tiếp tạo thuận lợi cho việc gia tăng dòng dân di cư vào đô thị hoặc hợp thức hóa những người dân đã sinh sống ổn định ở đây, và do đó, gián tiếp thúc đẩy các hoạt động đầu tư, mua bán, chuyển nhượng và các giao dịch bất động sản khác, tức góp phần hâm nóng và duy trì nhiệt cho thị trường bất động sản vốn trầm lắng mấy năm nay, nhất là thị trường nhà ở hạng trung tại các đô thị lớn, như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh…

Thứ ba, Luật Cư trú góp phần vào việc quản lý quy hoạch, quản lý đất đai và thị trường bất động sản theo mục tiêu quản lý nhà nước định ra.

Điều 4 của Nghị định 107/2007/NĐ-CP, ngày 25-06-2007, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú đã xác định rõ: không đăng ký thường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng;

– Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn chiếm trái phép;

– Chỗ ở đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp những người có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con chuyển đến ở với nhau);

– Chỗ ở bị kê biên, tịch thu để thi hành án, trưng mua theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

– Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, các quy định trên đã trực tiếp từ chối, ngăn chặn các vụ đăng ký hộ khẩu thường trú liên quan đến mua bán, chuyển nhượng và các giao dịch bất động sản khác có vi phạm các quy định về quy hoạch, di dời, phá dỡ hoặc thu hồi bất động sản của nhà nước, từ đó trực tiếp góp phần vào tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản, cũng như góp phần ngăn chặn các hệ lụy tiêu cực xã hội khác từ các vi phạm này. Hơn nữa, điều này cũng đồng nghĩa và cộng hưởng với tác dụng làm tăng tính minh bạch và lành mạnh hóa thị trường bất động sản đã nêu trên.

Thứ tư, bên cạnh những tác động tích cực trên, Luật Cư trú sẽ có thể làm phát sinh một số tình huống phức tạp mới về tranh chấp bất động sản cho thuê, mượn…

Luật Cư trú đã quy định đối với các nhà cho thuê, mượn, ở nhờ thuộc sở hữu tư nhân, thì người ở nhờ, thuê, mượn… muốn đăng ký hộ khẩu thường trú tại các nhà ở nêu trên phải có giấy xác nhận đồng ý của chủ sở hữu; còn đối với nhà thuộc quyền sở hữu nhà nước thì không cần giấy xác nhận này. Tuy nhiên, Luật Cư trú và cả Nghị định hướng dẫn cũng chưa có những quy định chi tiết và cụ thể nhằm ngăn chặn các tình huống lạm dụng hoặc gian dối trong khi xử lý những hiện tượng này. Cụ thể, có thể sẽ xuất hiện tình huống “lạm phát” số hộ đăng ký hộ khẩu thường trú vào cùng một địa chỉ là nhà ở thuê, mượn, ở nhờ của Nhà nước. Thậm chí, có thể sẽ xuất hiện cả hiện tượng làm giả giấy tờ xác nhận của chủ nhà để đăng ký thường trú vào nhà ở thuê, mượn thuộc sở hữu tư nhân… Khi đó, nếu các quy định luật pháp khác có liên quan đến hợp đồng thuê, mượn, ở nhờ nhà và bất động sản khác không chặt chẽ và không có tính pháp chế cao, thì dễ nảy sinh các khiếu kiện rất phức tạp về đòi nhà hoặc tranh chấp quyền sử dụng, thậm chí quyền sở hữu đối với các bất động sản này. Thực tiễn này đã từng diễn ra khá phổ biến trong quá khứ và di hại vẫn còn kéo dài đến ngày nay…

Như vậy, về tổng thể, có thể dự cảm thấy sự tác động cả hai chiều, trong đó tác động tích cực sẽ nhiều và mạnh hơn tác động tiêu cực của Luật Cư trú đến động thái thị trường bất động sản Việt Nam hiện tại và tới đây. Luật Cư trú đang và sẽ trở thành một động lực mới góp phần trực tiếp và gián tiếp, trước mắt và lâu dài làm gia tăng tinh thần cởi mở, cải thiện môi trường đầu tư, môi trường xã hội và quyền lợi của người dân nói chung, thúc đẩy sự phát triển thị trường bất động sản Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

SOURCE: Tạp chí Cộng sản Số 14 (134) năm 2007

BẢO VỆ TÀI SẢN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – THƯỚC ĐO CỦA SỰ THÀNH CÔNG

Timothy P. Trainer

Timothy P. Trainer là một học giả người Mỹ, từng là luật sư của Phòng Thương hiệu và Sáng chế Hoa Kỳ, Chủ tịch Liên minh chống hàng giả quốc tế. Hiện nay, ông là Chủ tịch Trung tâm chiến lược Sở hữu trí tuệ toàn cầu. Bài được chọn đăng theo tài liệu và sự cho phép của Phòng Thông tin – Văn hoá, Đại sứ quán Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Các công ty khổng lồ thường coi trị giá cổ phiếu, thị phần, doanh thu và lợi nhuận ròng là các chỉ số để đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của họ tốt hay xấu. Tuy nhiên, hiện nay người ta lại cho rằng, một thước đo quan trọng khác về hiệu quả của các công ty chính là sự hiện diện và số lượng hiện diện của hàng giả, hàng nhái trên thị trường. Trong thập kỷ qua, các hiệp định thương mại quốc tế trên quy mô toàn cầu và khu vực, đã đặt mục tiêu giảm hoặc loại bỏ những cản trở đối với việc di chuyển hàng hoá giữa các nước. Ngoài ra, tốc độ phát triển công nghệ nhanh chóng cũng bổ sung thêm một yếu tố mới vào hệ thống thương mại khi thông tin và dữ liệu được chuyển tải nhờ kỹ thuật số. Trong khi các doanh nghiệp là những người hưởng lợi hợp pháp thì một điều hiển nhiên là, những kẻ phạm tội ăn cắp sở hữu trí tuệ (IP), nghĩa là sản xuất, trao đổi và mua bán hàng giả và hàng nhái, cũng đồng thời thu lợi bất chính.

Tội phạm về quyền sở hữu trí tuệ vi phạm thương hiệu, bằng phát minh sáng chế, quyền tác giả, buôn lậu hàng hoá trên quy mô toàn cầu có thu nhập với trị giá ước tính lên đến 500 tỷ đô la mỗi năm. Vào tháng 7 năm 2003, Tổng thư ký INTERPOL đã điều trần trước một uỷ ban của Quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề này và cảnh báo với các nhà lập pháp Hoa Kỳ rằng, doanh số buôn bán hàng giả và hàng nhái theo ước tính lên đến 450 tỷ đô la/năm trên toàn thế giới và hành vi này đang ngày càng thu hút các tổ chức tội phạm tham gia do yếu tố siêu lợi nhuận.

Vi phạm bản quyền phần mềm toàn cầu gây thiệt hại 40 tỷ USD năm 2006

Theo nghiên cứu của Liên minh phần mềm doanh nghiệp (BSA) và công ty chuyên dự báo và nghiên cứu thị tr­ường công nghệ thông tin thế giới IDC, 35% chư­ơng trình phần mềm được lắp đặt trong máy tính cá nhân (PC) trên thế giới trong năm 2006 là vi phạm bản quyền, gây thiệt hại ­ước khoảng 40 tỷ USD.

Riêng ở Trung Quốc, bốn trong năm ch­ương trình phần mềm đ­ược lắp đặt trong năm ngoái là vi phạm bản quyền. Mặc dù vậy, tỷ lệ vi phạm bản quyền ở n­ước này đã giảm trong 2 năm liên tiếp xuống 82% trong năm 2006 và đã tiết kiệm đ­ược 64 triệu USD. Thị tr­ường phần mềm hợp pháp ở Trung Quốc đã lên gần 1,22 tỷ USD, tăng 88% so với năm trư­ớc đó.

Tại Bungari, tỷ lệ vi phạm bản quyền năm 2006 đã giảm 2% xuống 69%, sau 3 năm liên tiếp ở mức 71%.

Còn khoảng 66% các phần mềm cài đặt trong máy tính cá nhân tại Mỹ Latinh năm 2006 vi phạm bản quyền, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình trên thế giới và gây thiệt hại ­ước tính khoảng 3 tỷ USD. Chủ tịch BSA Rober Holleyman kêu gọi chính phủ các n­ước trong khu vực này tăng cư­ờng hơn nữa các biện pháp ngăn chặn nạn vi phạm bản quyền nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngành công nghiệp phần mềm phát triển. Các nư­ớc bị thiệt hại nhiều nhất do sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền tại Mỹ Latinh và Braxin với khoảng 1,1 tỷ USD, Mêhicô (748 triệu USD), Vênêxuêla (307 triệu USD) và áchentina (303 triệu USD).

Trong khi đó, Mỹ đư­ợc coi là quốc gia có tỷ lệ vi phạm bản quyền ít nhất thế giới là 21%. Tuy nhiên, tổng mức thiệt hại ở Mỹ lại lớn nhất thế giới là 7,3 tỷ USD. Đứng thứ hai là Trung Quốc với tổng số tiền thiệt hại ở mức 5,4 tỷ USD, tiếp sau là Pháp với khoảng 2,7 tỷ USD (Nguồn: AFP, Hồng Công, Buênốt Airết 16/5).

Đối với các chủ sở hữu tài sản trí tuệ, người tiêu dùng và các chính phủ, sự lo âu bắt đầu từ các ngành hàng sản phẩm bị làm giả đặt ra những hiểm họa đối với sức khoẻ con người và sự an toàn của xã hội và tất nhiên là, các công ty bị hại, các chủ nhân hợp pháp sở hữu trí tuệ đang phải chịu những tổn thất kinh tế lớn trong nhiều năm qua. Mặc dù khó có thể tính toán chính xác thiệt hại đối với các công ty vì số liệu về các khoản thất thu có thể chỉ là ước tính và thiệt hại đối với uy tín của công ty có thể không tính được bằng tiền, nhưng có một thực tế là, trong lĩnh vực tội phạm sở hữu trí tuệ, những kẻ làm hàng giả và hàng nhái dường như được khuyến khích bởi lợi nhuận và các biện pháp thực thi pháp luật nói chung là không hiệu quả.

Các số liệu thống kê dù là của Uỷ ban Châu Âu (UBCÂ) hay của Chính phủ Hoa Kỳ đều nói lên cùng một hiện tượng. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2003, UBCÂ tuyên bố rằng, trong nửa đầu năm 2003, hải quan của các nước thành viên EU đã bắt giữ một lượng hàng giả và hàng nhái trị giá 50 triệu đôla. Để so sánh, thông báo của UBCÂ lưu ý rằng, trong cả năm 2002, các quan chức hải quan đã bắt giữ hàng giả trị giá 85 triệu đôla. Tại Hoa Kỳ, Cục Hải quan và Bảo vệ biên giới thuộc Bộ An ninh nội địa cho biết, từ 1 tháng 10 năm 2002 đến 30 tháng 9 năm 2003, đã có 6.500 chuyến hàng bị bắt tại các cảng cửa khẩu của Hoa Kỳ, với ước tính trị giá trong nước trên 94 triệu đô la so với 5.793 chuyến hàng bị bắt có giá trị 99 triệu đô la trong năm tài chính 2002. Chỉ riêng tại NewYork, Sở Cảnh sát đã bắt giữ số hàng giả trị giá 17 triệu đô la trong năm 2003, một số hàng đủ để chất đầy 40 xe tải.

Khi giới doanh nghiệp biết đến chuyện này và các chính phủ bắt đầu hiểu ra vấn đề thì tội phạm về sở hữu trí tuệ đã và đang tác động đến tất cả các ngành sản xuất. Một tuyên bố của UBCÂ đã nhấn mạnh việc số lượng sản phẩm bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng mở rộng, bao gồm cả thực phẩm, thuốc men, pin điện và các sản phẩm tiêu dùng khác. Khi loại tội phạm này mở rộng hoạt động vào các ngành hàng mới và nhắm tới các sản phẩm được ưa thích của các công ty hợp pháp, giới lãnh đạo doanh nghiệp đang phải đối đầu với những đối thủ cạnh tranh bất hợp pháp lắm tiền, nhiều của và có tổ chức.

Thành công của doanh nghiệp trong việc tạo ra nhu cầu và thị trường cho một sản phẩm mang một biểu tượng nổi tiếng và được chứng nhận quyền tác giả và/hoặc được cấp bằng phát minh sáng chế, đã gây ra một làn sóng tội phạm sở hữu trí tuệ trên toàn cầu. Số liệu thống kê về các vụ bắt giữ nói trên là bằng chứng về một thế giới buôn bán hàng giả và hàng nhái. Ngoài ra, số lượng hàng hoá bị bắt giữ cho thấy, các hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả và hàng nhái của từng nhóm tội phạm nhỏ theo kiểu gia đình thống trị đã không còn nữa.

Đứng trước thách thức to lớn này, các chủ sở hữu tài sản trí tuệ và chính phủ cần phải làm gì?

Liên minh kinh doanh phần mềm (BSA) cho biết, hơn 1/2 chương trình phần mềm được cài đặt tại khu vực Đông Nam á là sản phẩm sao chép bất hợp pháp, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, gây tổn thất khoảng 8 tỷ USD cho các nhà sản xuất. Theo một kết quả nghiên cứu khác, năm qua, các công ty phần mềm trên toàn thế giới đã chi ra hơn 59 tỷ USD để phát minh phần mềm mới, nhưng nạn ăn cắp phần mềm đã làm tổn thất hơn 33 tỷ USD.

Nâng cao tiêu chuẩn thực thi pháp luật

Nhận thức được số lượng khổng lồ hàng giả và hàng nhái đang tràn vào EU, các quan chức ở Châu Âu đã tiến hành nhiều biện pháp để chống lại tội phạm ăn cắp quyền sở hữu trí tuệ. Các nước thành viên đã ban hành các quy định kiểm soát biên giới mới có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. Một trong các quy định này có nội dung cho phép bắt giữ hàng hoá bị nghi ngờ, ngay cả khi chủ sở hữu tài sản trí tuệ không có đơn yêu cầu.

Các hiệp định được ký kết giữa các đối tác thương mại trên thế giới đang nâng cao tiêu chuẩn để cải thiện tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Các điều khoản trong các hiệp định thương mại, đã bao gồm những yêu cầu tăng thêm quyền lực cho cơ quan quản lý nhà nước để được quyền hành động hợp pháp trong những trường hợp có hàng hoá di chuyển qua biên giới và trong những trường hợp có tội phạm ăn cắp thương hiệu và quyền tác giả. Ngoài ra, hàng hoá xuất khẩu và quá cảnh sẽ không còn được thông quan tự do nữa, vì phải tuân thủ quy định kiểm tra theo luật.

Do đó, các hiệp định thương mại tự do mang lại cho các ngành sản xuất hiện nay nhiều cơ hội mới để mời các quan chức chính phủ tham gia và để khẳng định sự cần thiết phải đưa các tiêu chuẩn bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cao hơn vào những hiệp định này. Khi nhiều chính phủ khởi xướng các cuộc đàm phán tự do thương mại, một chương về quyền sở hữu trí tuệ trong đó có các biện pháp thực thi, cần phải trở thành một phần không thể thiếu trong nội dung đàm phán và trong hiệp định chính thức. Nếu chúng ta không thể sử dụng đàm phán tự do thương mại để nâng cao việc bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, thì có nghĩa là chúng ta đã đánh mất cơ hội tại thời điểm mà Tổ chức Thương mại thế giới không có nhiều khả năng trở thành một diễn đàn tốt nhất để đạt được mục tiêu này.

Chiến lược thực thi – cần thời gian để suy tính lại?

Từng công ty hoặc nhóm các công ty đang nỗ lực giải quyết nạn ăn cắp tài sản sở hữu trí tuệ, mặc dù hành động của mỗi công ty dựa trên mức độ đe dọa khác nhau mà họ nhận thức được. Các chủ sở hữu tài sản trí tuệ là nạn nhân của nạn hàng giả và hàng nhái ngày càng hiểu ra rằng, ngay cả khi không gây ra rủi ro cho sức khoẻ cộng đồng và sự an toàn trực tiếp cho xã hội, thì nạn ăn cắp tài sản vẫn gây ra thiệt hại tiềm tàng cho cộng đồng nói chung, bởi sự dính líu ngày càng tăng của các nhóm tội phạm có tổ chức, và do việc chúng sử dụng lợi nhuận kiếm được để thực hiện các hoạt động bất hợp pháp khác.

Đầu tư của các doanh nghiệp nhằm mục đích bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ không có nhiều ý nghĩa khi chỉ tính đến chi phí đăng ký thương hiệu và bằng phát minh sáng chế tại các thị trường mà họ đang có hoạt động thương mại. Việc có được các quyền và các nỗ lực để bảo vệ những quyền này liên quan đến một đội quân không nhỏ những người có trách nhiệm quản lý thị trường, nếu cần thiết, thực thi pháp luật, vận động các cơ quan chính phủ và tiến hành các biện pháp khác. Do đó, mặc dù việc thực thi bảo vệ tài sản sở hữu trí tuệ đã mở rộng phạm vi, bao gồm áp dụng nhiều công nghệ bảo đảm trong sản phẩm hoặc đối với bao bì đóng gói và thắt chặt kiểm soát các kênh cung cấp và phân phối, thì cho đến nay, vẫn chưa có tiếng nói chung của các chủ sở hữu tài sản trí tuệ khi cho rằng, nạn hàng giả và hàng nhái đang giảm đáng kể trên toàn thế giới.

Do đó, một vấn đề phải đặt ra là liệu khái niệm “thực thi”, nghĩa là đào tạo người thực thi, điều tra, trấn áp, bắt giữ, truy tố và áp dụng các hình phạt, có phải là một lực cản cố hữu đối với những chiến lược kinh doanh hiệu quả hơn hay không? Vì “thực thi” thường có xu hướng bị xem là một số các hoạt động theo nghĩa hẹp, nên những vấn đề cân nhắc theo suy nghĩ thông thường có thể vô tình ngăn cản các chiến lược gia thực hiện việc đánh giá lại toàn bộ nội dung mà khái niệm “thực thi” có thể bao hàm. Những hành động thường được coi là thực thi, trên thực tế, là những hành động phản ứng trước một hiện tượng tiêu cực đã xảy ra tại thời điểm kết thúc quá trình kinh doanh của một sản phẩm, gồm hàng loạt các bước từ ý tưởng sản phẩm, nghiên cứu và phát triển, tiếp thị (xúc tiến/quảng cáo), đến mua quyền sử dụng nhãn hiệu v.v..

Vì vậy, khi các chủ sở hữu tài sản trí tuệ được yêu cầu phải đóng góp nhiều hơn vào chi phí hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ (xây dựng năng lực) trong lĩnh vực bảo vệ/thực thi quyền sở hữu trí tuệ, thì cũng cần phải xem xét đến nội dung mà “thực thi” bao hàm. Các công nghệ bảo đảm của các ngành sản xuất và các tiêu chuẩn bảo vệ bản quyền mới trên Internet là những yếu tố mang tính chủ động đối với “thực thi”, nhưng rõ ràng là cần phải làm nhiều hơn thế.

Định hình lại các chiến lược thực thi đòi phải chấp nhận một vài điều kiện thực tế. Thứ nhất, việc nâng cao nội dung các điều khoản quy định về thực thi sẽ mất thời gian và việc thực hiện thậm chí còn lâu hơn. Thứ hai, mục tiêu phải loại trừ hoàn toàn nạn hàng giả là không thực tế, cũng như việc loại bỏ triệt để bất kỳ loại tội phạm nào cũng là không thực tế. Thứ ba, bất chấp hệ thống thực thi pháp luật hay việc sử dụng công nghệ đảm bảo, những kẻ sản xuất và buôn bán hàng giả và hàng nhái cũng không thèm quan tâm và không chùn bước trước những nỗ lực nhằm bắt giữ và trừng phạt chúng ở mọi cấp độ phạm tội.

Việc đánh giá lại về chiến lược có nhiều khía cạnh. Thứ nhất, những vấn đề bình thường của một chiến lược thực thi cần phải được duy trì. Thứ hai, khi xét đến mong muốn thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào đối với sản phẩm của họ và mục tiêu đầu tư vào sản phẩm mới để thành công, thì những vấn đề thực thi cần được cân nhắc ngay trong quá trình phát triển sản phẩm ngay từ lúc đầu, thậm chí chỉ cần đơn giản là một dòng chi phí để ghi nhận vấn đề. Thứ ba, vì sự phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào sự tham gia và tài trợ của khu vực tư nhân cho các chương trình hỗ trợ kỹ thuật (xây dựng năng lực) nên các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội này.

Chủ sở hữu tài sản trí tuệ có thể hỗ trợ bằng nhiều cách. Thứ nhất, các công ty cần xác định mức độ đóng góp cho nền kinh tế bằng số tiền đầu tư tài chính, số việc làm tạo ra (trực tiếp và gián tiếp), tiền thuế qua thuế thu nhập công ty và cá nhân cũng như các đóng góp kinh tế khác. Thứ hai, ngoài việc cấp giấy phép sản xuất cho các doanh nghiệp trong nước, “chương trình đào tạo thực thi” có thể bao gồm nhiều thông tin hơn nữa về giá trị của tài sản sở hữu trí tuệ bằng cách cử đại diện công ty giải thích cách thức tạo ra thu nhập khi thương mại hoá tài sản trí tuệ, ví dụ như trình bày tầm quan trọng của việc chọn một thương hiệu và tiếp thị thương hiệu đó để có được sự gắn bó của người tiêu dùng. Nên có một chương trình dành cho các công ty địa phương có nhiều khả năng tạo dựng nên các liên minh trong việc chống lại tội phạm sở hữu trí tuệ. Mặc dù không trực tiếp liên quan đến thực thi, nhưng một nhóm doanh nghiệp địa phương có nhận thức đầy đủ về vấn đề này sẽ góp phần nâng cao ý thức tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Tiếp theo, các ngành sản xuất cần sử dụng các công nghệ mà họ đã phát triển để có nhiều hoạt động hơn trong đào tạo và giáo dục. Tri thức hiện có và sự phân bổ theo địa lý của ngành sản xuất cho phép tạo ra và chuyển giao bất kỳ tài liệu đào tạo và giáo dục nào họ muốn cung cấp. Công nghệ còn cho phép ngành sản xuất tạo ra và kiểm soát nội dung, chuyển tải thành nhiều ngôn ngữ khác nhau và đưa chúng đến với sinh viên, người tiêu dùng, quan chức thực thi pháp luật, quan chức tư pháp, người làm luật và các đối tượng khác. Khi đầu tư phát triển sản phẩm và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, thì việc áp dụng công nghệ cần phải được ưu tiên trong mọi chương trình đào tạo và giáo dục để bổ sung cho các chương trình đào tạo trực tiếp.

Cuối cùng, nếu các công ty đầu tư nhiều hơn cho hoạt động chống tội phạm sở hữu trí tuệ thể thì kết quả đạt được về mặt tài chính sẽ là bao nhiêu? Không có câu trả lời chính xác cho vấn đề này. Câu trả lời duy nhất có thể là công ty và sản phẩm của họ vẫn năng động, cạnh tranh và có lợi nhuận trên thị trường.
SOURCE: nclp.org.vn (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

PTKT&DB-CSTT – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

Từ đầu thập kỷ 2000 trở lại đây, diễn biến thị trường bất động sản của Việt Nam khá phức tạp. Nếu như trong 3 năm đầu từ năm 2001 đến năm 2003 giá bất động sản bùng nổ thì bắt đầu từ cuối năm 2003 đến nay thị trường bất động sản chuyển sang giai đoạn hạ nhiệt nhanh chóng nhưng các giao dịch của thị trường vẫn “đóng băng”. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng này và hậu quả của nó tác động đến nền kinh tế ra sao là điều cần quan tâm đánh giá. Sau đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng giai đoạn:

1. Giai đoạn thị trường bt động sản bùng nổ (2001- 2003)

Sau một thời gian dài bình lặng, từ năm 2000, giá nhà đất bắt đầu biến động, tiếp đó giá cả tăng nhanh liên tục và đạt đỉnh cao vào khoảng quý II năm 2001. Theo nhiều chuyên gia nhận định, giá bất động sản của Việt Nam giai đoạn này đang ở mức đắt nhất thế giới, cao hơn cả một số thành phố lớn của các nước công nghiệp phát triển. Đánh giá một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng “bùng nổ” trên thị trường bất động sản như: Do nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao dẫn tới nhu cầu về đất đai phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu nhà ở của dân chúng liên tục gia tăng; Do sự đầu cơ trong kinh doanh nhà đất gia tăng mạnh mẽ; Do chính sách của Nhà nước về đất đai; Do yếu tố tâm lý kỳ vọng vào khả năng sinh lợi vô tận của đất; và cuối cùng là do thiếu các thông tin về giá nhà đất.

2. Giai đoạn thị trường bất động sản đóng băng (2003 – nay):

Từ cuối năm 2003 đến nay thị trường bất động sản ở nước ta diễn ra trầm lắng, “đóng băng” như nhiều người nhận xét. Thị trường bất động sản năm sau lạnh hơn năm trước. Theo số liệu thống kê: Năm 2003 giao dịch địa ốc thành công giảm 28%, năm 2004 giảm 56% và năm 2005 giảm 78%!

Giá nhà đất trên mặt bằng cả nước hiện đang có biểu hiện sụt giảm rõ nét, tuy diễn biến không đồng đều và khá phức tạp. Qua khảo sát ở một số địa phương phía bắc thì giá nhà đất có nơi đã hạ tới 30- 40% mà vẫn không có người mua. Chẳng hạn, nhà đất mặt đường ở một số trung tâm huyện lỵ khu vực Vĩnh Tường, Yên Lạc (Vĩnh Phúc); Phong Châu, Đoan Hùng (Phú Thọ); Từ Sơn (Bắc Ninh); Yên Thi, Mỹ Văn (Hưng Yên)… năm 2004 giá lên tới 700 – 800 triệu đồng/mảnh (trên – dưới 100m2), thì nay chào giá 400 – 500 triệu đồng vẫn không có người mua. Ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, TTBĐS cũng không khá hơn. Khu vực Cổ Nhuế, Thanh Xuân Trung, Mỹ Đình (HN)… năm 2004 mức giá rao phổ biến là trên 20 triệu đồng/m2, đến nay chỉ rao bán ở mức trên – dưới 15 triệu đồng/m2 mà vẫn khó bán. Có thể đánh giá một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng “đóng băng” trên thị trường bất động sản như sau:

Thứ nhất: Về bên cầu giảm mạnh xuất phát từ các nguyên nhân sau:

– Cầu giảm mạnh do giá bất động sản ở Việt Nam hiện đang được đánh giá ở mức quá cao so với thu nhập thực tế:

Một Việt kiều tại Pháp phân tích trên một tờ báo: “Tại châu Âu, một ngôi nhà điển hình giá thường gấp 4-5 lần lương hàng năm, khi con số này lên đến hơn 6 lần họ đã coi đó là điều không bình thường. Còn ở VN thu nhập bình quân của tầng lớp khá giả ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM vào khoảng 5.000 USD/năm trong khi giá phổ biến của một căn hộ hạng trung ở đây khoảng 50.000 USD tức là gấp 10 lần lương hàng năm. Điều đó có nghĩa là giá bất động sản ở VN đang ở mức không bình thường so với mặt bằng chung của thế giới” . Ở Hà Nội, ngay cả giá bán cho các đối tượng chính sách cũng ở mức 6 triệu đồng/m2, mức giá phi thực tế đối với khả năng mua của đối tượng này. Theo qui luật của thị trường tất yếu khi giá quá cao so với thu nhập thực tế thì đương nhiên sẽ làm cho cầu giảm mạnh, đây là nguyên nhân chính làm TTBĐS bị đóng băng trong thời gian vừa qua.

– Tâm lý “chờ đợi” của người dân:

Vì giá bất động sản được đánh giá đã là quá cao so với thế giới và so với thu nhập của người dân Việt Nam nên người dân kỳ vọng vào giá bất động sản sẽ xuống trong thời gian tới; Đồng thời do Nhà nước đã xiết chặt và quản lý hoạt động mua bán bất động sản và cơ chế chính sách về quản lý đất đai của Nhà nước đang trong quá trình chỉnh sửa và hoàn thiện nên tâm lý của người dân còn “chờ đợi” chưa mua ngay.

– Nhu cầu đối với Thị trường mua bán đất dự án, căn hộ giảm do:

(i) Nhà nước điều chỉnh giá đất: Ngày 1/1/2005, bảng giá đất mới được điều chỉnh theo hướng sát với giá thực tế làm cho chi phí đền bù giải toả lên cao (bình quân chi phí đền bù giải phóng mặt bằng theo nguyên tắc phải thoả thuận với dân hiện nay theo quy định của Luật Đất đai cao hơn 10 lần so với chi phí đền bù trước kia, đó là chưa kể đến các chi phí không nằm trong quy định như phải hỗ trợ cho địa phương để giải phóng mặt bằng nhanh hơn), các dự án tiếp tục gặp khó khăn nên đầu tư các khu đô thị giảm mạnh.

(ii) Lợi nhuận thu từ kinh doanh bất động sản giảm mạnh: Do số lượng vốn để kinh doanh bất động sản rất lớn, tính “lỏng” của bất động sản lại rất kém cùng với việc thị trường bất động sản “đóng băng” và giảm nhiệt nhanh chóng đã làm lợi nhuận từ việc kinh doanh bất động sản giảm mạnh, trong khi các lĩnh vực đầu tư khác như vàng, ngoại tệ, cổ phiếu, lãi suất trái phiếu Chính phủ, địa phương và lãi suất Ngân hàng lại có mức lợi tức rất cao. Nếu chỉ tính trong năm 2005 chỉ số VN-Index tăng khoảng gần 40%, đồng thời trên thị trường OTC giá cổ phiếu của nhiều ngân hàng tăng mạnh lên tới khoảng 200-500% nên đây là những điểm thu hút mạnh mẽ vốn của các nhà đầu tư. Mặt khác, khi lãi suất tăng thì chi phí cho một đồng vốn vay ngân hàng để đầu tư vào các dự án cũng tăng lên và lãi phải trả ngân hàng cũng tăng, làm cho nhà đầu tư gặp khó khăn và người dân không dám vay ngân hàng để mua nhà. Đây là nguyên nhân những nhà đầu tư chuyển hướng kinh doanh sang các lĩnh vực khác ngoài bất động sản.

– Giá vàng liên tục tăng cao từ 2004 trở lại đây:

Trong khi giá bất động sản được đánh giá là quá cao nhưng khi giao dịch thường lại được tính bằng vàng nên việc giá vàng gia tăng mạnh mẽ trong năm 2005 càng góp phần làm cho TTBĐS “đóng băng” hơn nữa. Không chỉ các căn nhà trị giá 200 – 300 cây vàng bị đóng băng gần như hoàn toàn mà đến cả các căn nhà có giá dưới 100 cây. Thị trường mua bán đất dự án, căn hộ mặc dầu không bị ảnh hưởng nhiều khi giá vàng lên xuống do việc thanh toán bằng tiền đồng, nhưng khi giá vàng lên cao cũng khiến cho nhiều chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc giải ngân với ngân hàng.

– Tiêu cực trong xây dựng và đất đai:

Ngoài ra, còn phải kể đến thông tin về tiêu cực trong xây dựng nhà ở chung cư, chất lượng xây dựng các công trình nói chung và cụ thể chất lượng nhà chung cư không đảm bảo, các vụ việc làm sổ đỏ sai quy định như ở Trị An, Sóc Sơn, Đồ Sơn… Tất cả những nguyên nhân trên làm cho thị trường bất động sản ở nước ta trong thời gian qua trở nên ngày càng “lạnh”.

Thứ hai: Về phía cung về nhà đất tăng nhanh do giá BĐS của Việt Nam được đánh giá là quá cao so với giá thành thực tế:

Hiện nay, theo đánh giá của các chuỵên gia, giá chung cư cao cấp từ khoảng 10-15 triệu đồng/m2 sàn đều cao gấp 3- 4 lần giá trị thật, còn nếu xây dựng chung cư từ 10 tầng trở lên, giá đất chỉ vào khoảng 500.000 đồng/m2 và theo đơn giá xây dựng hiện nay giá mỗi mét vuông nhà vào khoảng 3 – 4 triệu đồng thì giá cả trên thị trường bất động sản hiện nay ở nước ta vẫn là quá cao so với giá thành thực tế tạo ra lợi nhuận lớn cho các nhà đầu tư. Điều này dẫn tới việc ngày càng nhiều dự án được mở rộng khiến nguồn cung gia tăng nhanh chóng, nên trong thời gian qua trong quy hoạch sử dụng đất, các địa phương đã để quỹ đất quá lớn để xây dựng nhà ở, các dự án xây dựng chung cư cao cấp vẫn liên tục được khởi công – đặc biệt là tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP. HCM…

Được biết, thành phố Hà Nội đang thực hiện chương trình đầu tư xây dựng phát triển quỹ nhà ở với hơn 100 dự án. Theo dự tính, đến năm 2010, các dự án sẽ tạo thêm 10 triệu m2 cho quỹ nhà của Hà Nội . Còn tại TP HCM ước tính hiện có hơn 50 dự án chung cư cao cấp đang được xây dựng tại TP HCM, có tháng đến gần 10 chung cư cao cấp tại TP HCM được khởi công xây dựng, dự kiến đến năm 2007 khoảng hơn 20.000 căn hộ sẽ hoàn thành. Theo Ban Vật giá thuộc Sở Tài chính TP HCM, dự kiến quỹ đất đưa vào kinh doanh thông qua đăng ký hơn 1.000 dự án đầu tư hiện nay là 6.000 ha với tổng vốn đầu tư trên 136.000 tỷ đồng. TP HCM cũng kỳ vọng đồng thời với chương trình phát triển nhà ở đến năm 2010 nhằm đưa quỹ nhà lên mức 705.000 căn hộ, tăng 38% so với 1999. Đây là một con số rất lớn, nhưng với giá nhà đất như hiện nay thì rất ít người có đủ tiền để mua những căn nhà này.

Thứ ba: Do Nhà nước áp dụng các biện pháp nhằm hạ nhiệt thị trường bất động sản:

Trước thực trạng về diễn biến thị trường bất động sản như trên, việc quản lý chặt chẽ và kiểm soát thị trường nhà đất trở thành bức xúc. Các cơ quan quản lý nhà nước đã phải vào cuộc nhằm kiềm chế “bong bóng” bất động sản đưa giá đất trở về đúng với giá thực tế nhằm khuyến khích đầu tư và sản xuất kinh doanh, kích thích tăng trưởng kinh tế. Đó là:

(i) Lập lại kỷ cương, trật tự ổn định thị trường nhà đất, hạn chế tình trạng mua bán đất không có giấy tờ hợp pháp và đất không hợp pháp: Theo chỉ đạo của Chính phủ, ngày 9/4/2002, UBND thành phố Hà Nội đã ra Chỉ thị 17 về một số biện pháp cấp bách và tăng cường quản lý đất đai. Tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22/4/2002, UBND đã ban hành Chỉ thị 08 về chấn chỉnh và tăng cường quản lý Nhà nước về nhà, đất trên địa bàn thành phố. Các quận, huyện của Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã đồng loạt triển khai thực hiện hai chỉ thị trên một cách đồng bộ và kiên quyết. Đồng thời trong năm 2004 Chính phủ ban hành Nghị định 182 về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

(ii) Ban hành các văn bản nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ: Trong đó, Nghị định 181 ngày 29-10-2004 của Chính phủ qui định “dự án phải xây dựng nhà xong mới được bán” không cho phép bán đất nền đã tác động mạnh đến thị trường bất động sản. Thị trường đất nền dự án coi như bị tê liệt, bởi nhiều nhà đầu tư khó có đủ lực để thực hiện từ đầu đến cuối một dự án lớn, nhất là đối với các nhà đầu tư trong nước.

Chỉ sau vài tháng, cơn sốt nhà đất tại 2 thành phố đã phần nào lắng dịu, giá nhà đất có dấu hiệu giảm, tình trạng vi phạm pháp luật đất đai như chuyển nhượng, san lấp mặt bằng trái phép đã giảm nhiều, cơn lốc đầu cơ bất động sản đã lắng dần… Việc mua nhà, đất để đó, chờ giá lên để sang nhượng kiếm lời giảm mạnh. Giá nhà đất tại các tỉnh, thành phố, địa phương khác cũng nguội dần.

3. Hậu quả của việc thị trường bt động sản đóng băng:

Việc TTBĐS đóng băng và có những biểu hiện thoái trào trong thời gian qua, đã gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ tới nền kinh tế.

Trước hết nhiều doanh nghiệp và người dân khó trả lãi ngân hàng và theo nhận định của Hiệp hội Kinh doanh BĐS TPHCM nếu cứ kéo dài tình trạng này sẽ có ít nhất hơn 30% DN bị phá sản, hiện tại TP.Hồ Chí Minh đã có tới 50% các DN kinh doanh địa ốc trên địa bàn phải đóng cửa, 30% hoạt động cầm chừng, chỉ còn 20% là tiếp tục đi sâu đầu tư kinh doanh. Còn ở địa bàn Hà Nội, nếu như mấy năm trước, các văn phòng giao dịch nhà đất, các công ty kinh doanh địa ốc mọc lên như nấm, thì nay lại chẳng khác gì gặp phải lũ quét.

Tiếp đến của việc hàng loạt các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản đổ bể là nguồn thu NSNN bị giảm đáng kể và nghiêm trọng hơn sẽ đến lượt các ngân hàng cũng phải đối diện với “nợ xấu”. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện số vốn đầu tư vào kinh doanh BĐS ở nước ta có tới trên 60% là tiền vay ngân hàng. Trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh, có khoảng 4.000 cá nhân, DN đầu tư kinh doanh BĐS với số vốn khoảng 50.000 tỉ đồng, trong đó có tới 28.000 tỉ đồng là vay ngân hàng. Tuy rằng con số này chưa phải là lớn so với tổng cho vay nền kinh tế của toàn hệ thống ngân hàng nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế tại Thái Lan năm 1997 là một ví dụ cho thấy đằng sau sự đổ vỡ của “bóng bóng” bất động sản là sự đổ vỡ dây chuyền của hệ thống Ngân hàng và cuối cùng là hậu quả tất yếu của một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng đã kéo nền kinh tế Thái Lan lùi lại hàng chục năm.

4. Giải pháp:

Trước khi kiến nghị các giải pháp thì điều đầu tiên chúng ta cần khẳng định lại, đó là, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Vì thế, vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết thị trường bất động sản sao cho thị trường này hoạt động theo hướng tích cực là cực kỳ quan trọng. Do đó, cuối tháng 1/2006, Chính phủ ban hành Nghị định 17: cho phép chuyển nhượng dự án, được phân lô, bán nền ở một số khu vực ngoại thành và địa phương…Nhiều chuyên gia cho rằng, tới đây thị trường sẽ chuyển động theo hướng tích cực. Tuy nhiên, cũng nhiều ý kiến cho rằng việc thực thi Nghị định này chưa đủ làm “tan băng” thị trường bất động sản. Do đó, có thể kiến nghị thêm một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Trước mắt, tạm thời quản lý chặt chẽ việc đấu thầu các dự án đối với các khu đô thị và căn hộ nhằm hạn chế nguồn cung gia tăng mạnh mẽ:

Bởi lẽ, nếu không quản lý chặt chẽ việc cấp phép các dự án đầu tư sẽ dẫn tới tình trạng cung vượt cầu và hiệu quả đầu tư kém như thị trường sản xuất lắp ráp ô tô trong thời gian qua là một ví dụ. Điều này có thể trước mắt sẽ dẫn tới nguồn thu ngân sách địa phương và Trung ương tạm thời bị giảm nhưng sẽ giúp cho thị trường bất động sản “ấm dần”.

Thứ hai: Cân đối lại cung cầu:

Bộ Tài nguyên và Môi trường cần kết hợp với Tổng Cục Thống kê và một số cơ quan hữu quan khác tổ chức cuộc điều tra về nguồn cung, cầu về nhà ở, căn hộ và thu nhập của Việt Nam để có cơ sở cân đối lại cung cầu và đánh giá tiềm năng của thị trường bất động sản Việt nam trong tương lai, từ đó mới đưa ra các chính sách điều tiết thị trường bất động sản một cách hợp lý.

Thứ ba: Các doanh nghiệp cần giảm giá bất động sản về giá trị thực

Điều quan trọng nhất là đưa giá BĐS đúng với giá trị thật. Do giá bất động sản của Việt Nam hiện được đánh giá là cao hơn giá trị thực rất nhiều nên việc giảm giá vẫn đảm bảo cho người bán có lãi và quan trọng hơn là phù hợp với khả năng thanh toán của nhiều người tiêu dùng. Các nhà đầu tư kinh doanh BĐS cần phải chọn lựa giữa hai con đường “sống hay là chết”, có nghĩa là phải chọn lựa giữa việc phá sản của công ty hay việc giảm giá bất động sản để kích thích cầu về nhà ở đối với những đối tượng thu nhập vừa phải và thấp nhằm giữ được sự tồn tại của công ty trên thương trường. Các DN kinh doanh bất động sản cần tung ra thị trường những sản phẩm đúng với giá trị thực, phù hợp với túi tiền của đại đa số người tiêu dùng giúp thị trường sôi động trở lại, tránh những hậu quả về sau.

Thứ tư: Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách theo hướng: bảo đảm nguyên tắc đồng bộ, nhất quán, tôn trọng các quy luật của thị trường; đồng thời, phải giúp tăng cường tính cạnh tranh. Nhà nước sẽ thông qua một số chính sách như tài chính, tín dụng, thuế… một cách hợp lý để thị trường BĐS hoạt động lành mạnh mới mong phá băng được.

Thứ năm: Hình thành một thị trường bất động sản công khai minh bạch và đầy đủ thông tin cung cấp cho người mua và người bán: Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lý và xây dựng cơ sở thông tin hạ tầng địa chính đủ độ tin cậy, kết nối được với các hoạt động tài chính, ngân hàng, tín dụng, tương thích với khu vực và thế giới để đảm bảo hội nhập kinh tế. Cần có cơ quan chuyên môn về định giá đất (giá QSDĐ), định giá bất động sản khác để có thể chứng khoán hoá các tài sản về bất động sản, tạo điều kiện cho việc mua bán, chuyển nhượng, cầm cố, phát mại trên thị trường.

Bàn thêm về giải pháp “bơm vốn” cho thị trường bất động sản như một số ý kiến đã đưa ra. Vấn đề cơ bản là tiền ở đâu ra? Vì nhà nước không thể dùng tiền từ ngân sách để cứu các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, và càng không thể chỉ đạo ngành ngân hàng cho vay vì hậu quả như vậy sẽ còn nguy hiểm hơn.

Hy vọng, năm 2006, tình trạng thị trường bất động sản sẽ sáng sủa hơn bởi Nghị định 17 ra đời với những qui định mới thông thoáng hơn đã tháo gỡ nhiều vướng mắc cho thị trường bất động sản. Và sắp tới, dự thảo Luật kinh doanh BĐS sẽ được Quốc hội xem xét thông qua trong kỳ họp thứ IX được hy vọng sẽ có những qui định chặt chẽ, minh bạch và là đòn bẩy làm cho thị trường bất động sản ở nước ta trở nên sôi động hơn. Đặc biệt, trong năm 2006, dự kiến, sẽ hoàn thành Đề án phát triển thị trường bất động sản để giải quyết rất nhiều các vướng mắc trong cơ chế chính sách phát triển thị trường.

———-

Tài liệu tham khảo: Tổng hợp, phân tích, đánh giá từ các nguồn thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và báo cáo của các TCTD, NHNN chi nhánh tỉnh, TP.

SOURCE:  http://www.sbv.gov.vn

CHỐNG TRỤC LỢI BẢO HIỂM TRONG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

NGUYỄN THỊ THỦY

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

1. Khái niệm

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm[1].

Còn bảo hiểm tài sản là loại hình bảo hiểm, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành thu phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm và cam kết bồi thường cho bên được bảo hiểm khi tài sản mua bảo hiểm gặp những rủi ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất.

Với những khái niệm trên, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm để đổi lại họ được quyền thu những khoản phí nhất định từ người mua bảo hiểm. Khi doanh nghiệp bảo hiểm thu phí của bên mua bảo hiểm cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bảo hiểm sẽ phải gánh chịu một mức trách nhiệm đối với người được bảo hiểm tương ứng mức phí bảo hiểm đã thu. Đây là yếu tố để chứng minh rằng, quan hệ kinh doanh bảo hiểm là quan hệ xã hội mang tính chất song vụ, quyền lợi bên này cũng chính là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại. Tham gia vào quan hệ bảo hiểm, các bên nhằm mục đích hợp tác với nhau để đạt được những lợi ích nhất định. Để thiết lập nên quan hệ mang tính hợp tác, tương trợ này, bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ cam kết: không được cố ý thực hiện những hành vi có thể gây thiệt hại cho phía đối tác. Như vậy, những hành vi lừa dối nhằm gây thiệt hại cho phía bên kia để đạt được những quyền lợi tài chính nhất định trong quan hệ bảo hiểm, chúng ta có thể coi là việc kiếm lời bất hợp pháp.

Theo quy định tại Thông tư 31/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 118 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm thì: “Trục lợi bảo hiểm là hành vi cố ý lừa dối của tổ chức, cá nhân nhằm thu lợi bất chính khi tham gia bảo hiểm, bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm và giải quyết khiếu nại bảo hiểm”. Như vậy, nói đến trục lợi bảo hiểm là phải nói đến hành vi của tổ chức, cá nhân được thực hiện một cách cố ý nhằm thu lợi bất chính. Nhận dạng hành vi trục lợi bảo hiểm phải chú trọng đến việc tổ chức, cá nhân tham gia vào quan hệ bảo hiểm (bao gồm bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm, giải quyết khiếu nại bảo hiểm) nhằm thu lợi bất chính cho mình. Tổ chức, cá nhân được đề cập trong khái niệm trục lợi bảo hiểm trên đây có thể là bên mua bảo hiểm, bên được bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm, thậm chí có thể là hành vi gian lận trong bảo hiểm của đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Cho dù là tổ chức, cá nhân nào đi chăng nữa, nhưng nếu muốn thực hiện được hành vi trục lợi bảo hiểm, thì các chủ thể này cũng phải tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm.

Tóm lại, chúng ta có thể khẳng định: Trục lợi bảo hiểm là hành vi kiếm lời bất hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm.

Tương tự như vậy, trục lợi bảo hiểm tài sản là việc các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản nhằm thực hiện các hành vi lừa dối để được hưởng quyền lợi tài chính mà lẽ ra mình không được hưởng hoặc hưởng lợi lớn hơn quyền lợi tài chính mà mình được hưởng.

2. Quy định của pháp luật

Quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm trong quan hệ pháp luật bảo hiểm

Cơ sở hình thành nên quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quan hệ thương mại nói chung đó là, tất cả các giao dịch kinh doanh cần thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau. Trong thực tế, điều đó có nghĩa là các bên khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh không được phép có bất kỳ hành vi gian lận hay mưu toan lừa đảo nào. Điều này không có nghĩa rằng, người bán phải có nghĩa vụ chỉ ra các khiếm khuyết đối với sản phẩm mà họ bán ra, tuy nhiên, khi giới thiệu, thông báo hoặc trả lời câu hỏi, người bán hàng phải đưa ra những câu trả lời trung thực.

Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, để đạt được lợi ích của mình, các bên tham gia cần phải tuân thủ triệt để nguyên tắc này. Sở dĩ chúng ta khẳng định như vậy, bởi vì, sản phẩm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm mang tính khá đặc thù, là sản phẩm mang tính trừu tượng thể hiện ở việc tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên đều hoàn toàn không thể biết trước được sản phẩm mà hai bên thỏa thuận mua bán có hình thành trong tương lai hay không. Tức là, doanh nghiệp bảo hiểm thì không thể biết được trách nhiệm của mình đối với sản phẩm mình bán ra có phát sinh hay không[2], ngược lại, bên được bảo hiểm cũng không thể biết được tài sản mình mua bảo hiểm có thể bị tổn thất hay không. Như vậy, khác với các giao dịch mua bán thông thường có đối tượng mua bán là hàng hóa, các bên có thể nhìn thấy được hàng hóa mà mình tham gia mua bán, trong bảo hiểm tài sản, yếu tố này sẽ được hình thành trong tương lai, tuy nhiên có thể hình thành hoặc không, phụ thuộc vào việc rủi ro có xảy ra hay không và có trong phạm vi bảo hiểm mà hai bên cam kết hay không.

Ngoài ra, còn phải kể đến một đặc thù: hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động mang tính nghiệp vụ cao, kỹ thuật bảo hiểm tài sản mang tính trừu tượng và khó hiểu. Các quy tắc, điều khoản bảo hiểm chứa đựng những thuật ngữ chuyên ngành thường khó hiểu, nên dẫn đến việc một số khách hàng dù cố gắng đến mấy vẫn không thể hiểu rõ nội dung của nó. Như vậy, nếu thiếu sự cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm khó có thể đi đến quyết định giao kết hợp đồng.

Tại Điểm a, Khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bảo hiểm (Luật KDBH) quy định: Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm. Khoản 1 Điều 19 Luật KDBH cũng quy định: Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó. Ngược lại, bên mua bảo hiểm khi tham gia quan hệ bảo hiểm cũng phải công bố các thông tin liên quan đến tài sản mà mình mua bảo hiểm. Theo quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều 18, Luật KDBH thì: “Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm”. Và để đảm bảo nguyên tắc trung thực tuyệt đối của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bên mua bảo hiểm cũng phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của những thông tin mà họ đưa ra. Tuy nhiên, như đã trình bày, chỉ có doanh nghiệp bảo hiểm là người biết rõ nhất sản phẩm bảo hiểm mà mình thiết kế, bao gồm những thông tin nào là cần thiết cho việc hình thành nên quan hệ hợp đồng bảo hiểm, do vậy, pháp luật cho phép bên mua bảo hiểm chỉ phải cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm mà thôi. Như vậy, nếu việc không cung cấp thông tin từ phía bên mua bảo hiểm là do doanh nghiệp bảo hiểm không yêu cầu, thì doanh nghiệp bảo hiểm cũng không được áp dụng trường hợp này để đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo quy định tại Khoản 2 Điều 19, Luật KDBH về trách nhiệm cung cấp thông tin[3].

Để tránh những tranh chấp xảy ra trong việc thực hiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp trong quan hệ bảo hiểm tài sản, theo chúng tôi, trước khi giao kết hợp đồng, các bên cần thiết phải lập biên bản ghi rõ những nội dung mà doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu cũng như những thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm. Bởi lẽ, tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm còn có các chủ thể trung gian đó là các đại lý bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, nếu các chủ thể này – vì quyền lợi của mình mà không chú trọng đến việc thực hiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin – có thể gây bất lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm. Theo quy định của pháp luật thì đại lý bảo hiểm là chủ thể thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm trong việc thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm[4] còn doanh nghiệp môi giới bảo hiểm là chủ thể thực hiện các công việc liên quan đến quan hệ bảo hiểm theo yêu cầu của bên mua bảo hiểm[5].

Quy định về giới hạn bồi thường

Mục đích của bảo hiểm tài sản là khôi phục lại tình trạng tài chính ban đầu cho người được bảo hiểm ngay sau khi tổn thất xảy ra. Sự khôi phục này được gọi là bồi thường. Trong quan hệ bảo hiểm tài sản, thuật ngữ “bồi thường” đóng vai trò hết sức quan trọng, nó xác định phạm vi trách nhiệm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm. Bồi thường là cơ chế mà công ty bảo hiểm sử dụng để cung cấp khoản tài chính với mục đích hoàn trả cho người được bảo hiểm những gì đã mất do việc tài sản bảo hiểm gặp tổn thất trong phạm vi rủi ro được bảo hiểm. Như vậy, có thể khẳng định, bồi thường được coi là sự đền bù chính xác về tài chính, đủ để khôi phục tình trạng tài chính ban đầu của người được bảo hiểm như trước khi xảy ra tổn thất.

Trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, một trong những nội dung mà các bên không thể bỏ qua, đó là, phải xác định mối liên hệ giữa bồi thường và quyền lợi được bảo hiểm. Mối liên hệ này thể hiện ở quyền lợi tài chính của người được bảo hiểm đối với tài sản bảo hiểm. Khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không được vượt quá mức độ quyền lợi tài chính của người đó đối với tài sản bảo hiểm. Điều này cũng có nghĩa rằng, người tham gia bảo hiểm tài sản không được kiếm lời qua con đường bảo hiểm, nhiều nhất người bảo hiểm cũng chỉ được bồi thường những gì mình đã mất chứ không thể nhiều hơn những gì đã mất.

Quán triệt nguyên tắc bồi thường trong bảo hiểm tài sản, Luật KDBH đã quy định về căn cứ bồi thường tại Điều 46 như sau: Số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá thị trường của tài sản tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế và số tiền bồi thường mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm.

Với quy định về giới hạn bồi thường trên đây, chúng tôi xin có một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, pháp luật đã quy định, căn cứ để xem xét bồi thường trong quan hệ bảo hiểm tài sản là “giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm, nơi xảy ra tổn thất và mức độ thiệt hại thực tế”[6]. Tuy nhiên, vấn đề xác định giá thị trường là một việc khá khó khăn. Sở dĩ chúng tôi đưa ra nhận xét trên đây vì giá thị trường thường tính được đối với những tài sản còn mới, trong khi đó, tài sản rơi vào trường hợp bảo hiểm phải là tài sản đã qua sử dụng. Vì vậy, việc xác định thiệt hại thực tế xảy ra đối với tài sản bảo hiểm chỉ mang tính ước đoán. Để thực hiện được điều khoản về căn cứ bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm phải thống nhất về cách thức và biện pháp xác định giá trị của tài sản bảo hiểm tại thời điểm và nơi xảy ra tổn thất.

Thứ hai, mục đích của Điều 46 là nhằm để chống trục lợi bảo hiểm trong khi đó lại cho phép các bên thỏa thuận về số tiền bồi thường mà không dựa vào căn cứ bồi thường[7]. Quy định này vô hình trung đã làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, tại Khoản 1 và 2 Điều 46 nên bỏ cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” để đảm bảo mục đích chống trục lợi cũng như đảm bảo tính thống nhất và nghiêm minh của pháp luật.

Quy định của pháp luật về bảo hiểm trùng

Bảo hiểm trùng là trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm với hai doanh nghiệp bảo hiểm trở lên để bảo hiểm cho cùng một đối tượng với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm. Pháp luật không cấm bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm trùng cho tài sản bởi vì đây là quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản. Tức là, chủ tài sản được quyền mua bảo hiểm cho tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau với cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình đối với tài sản.

Tuy nhiên, trong quan hệ này, bên được bảo hiểm không được phép lợi dụng yếu tố: phí bảo hiểm phải trả cho một tài sản là rất nhỏ so với giá trị tài sản để yêu cầu bảo hiểm nhiều lần cho tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau nhằm mục đích nhận được khoản tiền bảo hiểm lớn hơn nhiều lần so với giá trị của tài sản bảo hiểm. Để ngăn chặn mục đích trục lợi trong trường hợp này, khoản 2 Điều 44 Luật KDBH quy định: “Trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền của tất cả các hợp đồng mà bên mua bảo hiểm đã giao kết. Tổng số tiền bồi thường của các doanh nghiệp bảo hiểm không vượt quá giá trị thiệt hại thực tế của tài sản”. Quy định trên có thể được hiểu là, pháp luật không cấm bên mua bảo hiểm mua bảo hiểm nhiều lần cho một tài sản tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm với cùng điều khoản và sự kiện bảo hiểm, nhưng khi mua thì phải có nghĩa vụ thông báo cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác biết về điều này. Trên cơ sở các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết, các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ cùng chịu trách nhiệm trong phạm vi cam kết của mình trên tổng giá trị thiệt hại.

Ví dụ: Ông A có một chiếc xe ôtô hiệu M. Ngày 2/3/2005 ông A mua bảo hiểm vật chất xe (bảo hiểm tài sản) tại doanh nghiệp bảo hiểm B với số tiền bảo hiểm là 1,1 tỷ đồng. Ngày 3/4/2005 ông A lại mua bảo hiểm cho chiếc xe tại doanh nghiệp bảo hiểm C với số tiền bảo hiểm là 900 triệu đồng. Cả hai hợp đồng bảo hiểm trên đều cùng điều kiện và sự kiện bảo hiểm. Ngày 5/8/2005, chiếc xe bị tai nạn (rủi ro xảy ra trong phạm vi bảo hiểm), tổn thất toàn bộ. Giá trị của chiếc xe được định giá tại thời điểm tổn thất là 800 triệu đồng.

Trong trường hợp trên, trách nhiệm của hai doanh nghiệp bảo hiểm được xác định như sau:

-Doanh nghiệp bảo hiểm B phải chịu trách nhiệm bồi thường là: 1,1 tỷ (sồ tiền bảo hiểm đã thỏa thuận giữa doanh nghiệp B và ông A) chia cho 2 tỷ (là tổng số tiền bảo hiểm của hai hợp đồng giao kết với doanh nghiệp bảo hiểm B và C tức 1,1 tỷ cộng với 900 triệu) được tỷ lệ là 55% nhân với giá trị thiệt hại thực tế là 800 triệu. Vậy, số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm B phải bồi thường là 440 triệu đồng.

-Doanh nghiệp bảo hiểm C phải chịu trách nhiệm bồi thường là: 900 triệu chia cho 2 tỷ được tỷ lệ là 45% nhân với giá trị thiệt hại thực tế là 800 triệu sẽ ra số tiền bồi thường là 360 triệu.

Như vậy, từ ví dụ trên đây cho thấy, theo quy định của pháp luật, ông A sẽ không được nhận khoản tiền bồi thường từ các doanh nghiệp bảo hiểm lớn hơn thiệt hại thực tế xảy ra là 800 triệu (cụ thể, cộng cả hai khoản tiền bồi thường từ hai doanh nghiệp bảo hiểm là 440 triệu + 360 triệu = 800 triệu).

Với quy định trên đây, có quan điểm cho rằng, quy định tại điều 44, Luật KDBH có thể dẫn đến cách hiểu rằng, pháp luật không cho phép bên mua bảo hiểm được giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản. Những người theo quan điểm này lập luận rằng, Khoản 2, Điều 44 quy định “Trong trường hợp các bên giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng… doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trên tổng số tiền bảo hiểm của tất cả các hợp đồng bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm đã giao kết” thực chất chỉ là giải quyết hậu quả xảy ra, chứ không phải là sự thừa nhận của pháp luật trong việc cho phép giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản. Tuy nhiên, chúng tôi lại không nhất trí với quan điểm trên, bởi lẽ, pháp luật không cấm giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản và mục đích của bên mua bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản là nhằm chuyển giao rủi ro và để giảm bớt rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho tài sản của mình tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau với cùng một điều kiện và sự kiện bảo hiểm. Sở dĩ họ chọn cách thức này vì bản thân hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng hàm chứa các rủi ro, nếu một trong các doanh nghiệp bảo hiểm này phá sản thì bên mua bảo hiểm có thể đòi bồi thường ở các doanh nghiệp bảo hiểm còn lại. Yếu tố mà pháp luật cấm ở đây là khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, bên mua bảo hiểm không được đòi các doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường theo thỏa thuận trong hợp đồng, tức sau khi nhận tiền bồi thường thì số tiền này lớn hơn nhiều lần thiệt hại của tài sản bảo hiểm. Nếu bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm trùng rồi lập hồ sơ đòi từng doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường theo từng cam kết để nhận được số tiền lớn hơn giá trị tài sản, thì hành vi này được xem là lừa đảo và sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Quy định về bảo hiểm trên giá trị

Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng và cộng đồng những người tham gia bảo hiểm nói chung, một yêu cầu được đặt ra đối với bên mua bảo hiểm khi tham gia vào quan hệ bảo hiểm tài sản là họ phải có quyền lợi đối với tài sản bảo hiểm và chỉ được mua bảo hiểm cho tài sản trong phạm vi quyền lợi tài chính mà họ có được từ tài sản. ở đây, chúng ta phải hiểu rằng, trong bảo hiểm tài sản, không ai ngoài bên mua bảo hiểm là người biết rõ nhất về giá trị của tài sản mà mình đang sở hữu, do vậy, khi tiến hành bảo hiểm cho tài sản, bên mua bảo hiểm phải trung thực trong việc đưa ra số tiền bảo hiểm. Pháp luật đã quy định, số tiền bảo hiểm là số tiền mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm cho tài sản đó[8]. Quy định này cũng có thể được hiểu là, khi bên mua bảo hiểm đã yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu một tổn thất tương ứng với số tiền bảo hiểm thì cũng có nghĩa rằng, bên mua bảo hiểm có quyền lợi tài chính từ tài sản bảo hiểm tương đương với số tiền bảo hiểm.

Như vậy, trong bảo hiểm tài sản, sẽ không thể hình thành nên một giao dịch mà số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng. Lý do, bên mua bảo hiểm không thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm gánh chịu thay mình một tổn thất mà họ không thể có được, bởi vì, quyền lợi tài chính mà bên mua bảo hiểm thực có chỉ được tính đúng bằng giá thị trường của tài sản. Nếu trường hợp do vô ý, bên mua bảo hiểm nhầm tưởng về giá trị của tài sản mà giá trị này cao hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm giao kết, thì số tiền mà bên mua bảo hiểm nhận được cũng không vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm[9]. Tức là, trong trường hợp này, pháp luật chỉ thừa nhận tính hợp pháp của giao dịch trong phạm vi giá thị trường của tài sản, còn phần vượt quá sẽ vô hiệu. Tuy nhiên, trên thực tế, việc nhầm tưởng này sẽ rất khó xảy ra, bởi lẽ khi một người sở hữu một tài sản có giá trị, họ sẽ phải thường xuyên quan tâm đến các thông tin liên quan đến quyền lợi tài chính của mình đối với tài sản. Đồng thời trước khi tham gia vào một giao dịch với mục đích bảo vệ quyền lợi tài chính đối với tài sản, họ phải là người biết rõ nhất giá trị tài sản cần bảo vệ là bao nhiêu. Vì thế trên thực tế, hợp đồng bảo hiểm tài sản được giao kết trên giá trị thường là do bên mua bảo hiểm cố ý để được hưởng quyền lợi tài chính nhiều hơn mình có. Khi xảy ra trường hợp trên, chúng ta có thể coi đây là hành vi trục lợi. Nếu bên mua bảo hiểm thực hiện hành vi trục lợi thông qua việc cố tình yêu cầu một số tiền bảo hiểm lớn hơn giá thị trường của tài sản thì pháp luật không thừa nhận giao dịch này.

Cụ thể, Khoản 1 Điều 42 Luật KDBH quy định “Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị”. Việc pháp luật không cho phép giao kết hợp đồng bảo hiểm trên giá trị nhằm ngăn chặn tình trạng trục lợi thông qua việc bên mua bảo hiểm cố ý khai tăng giá trị của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng, nhằm được hưởng số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị của tài sản.

Về quy định này, chúng tôi xin có một số ý kiến sau:

Thứ nhất, phần cuối Khoản 1, Điều 42 Luật KDBH quy định “Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị” nhưng ở Khoản 2 lại quy định “trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị được giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản được bảo hiểm, sau khi trừ các chi phí hợp lý có liên quan…”. Theo chúng tôi, quy định như trên là không thống nhất giữa khoản 1 và khoản 2, cụ thể ở khoản 1 đã quy định không cho phép thì sẽ không có quy định tại Khoản 2, bởi vì quy định tại khoản 2 là thừa nhận sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm trên giá trị.

Thứ hai, nội dung quy định tại Khoản 2 là không khả thi, bởi vì tiêu chí để xác định thế nào là vô ý và thế nào là cố ý trên thực tế là không có cơ sở, trong nhiều trường hợp chỉ là sự suy đoán chủ quan. Vì vậy, ý nghĩa chống trục lợi của quy định này trên thực tế sẽ rất khó áp dụng, theo chúng tôi, nên bỏ Khoản 2 của Điều 42, tức là không thừa nhận sự tồn tại của hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị dù là vô ý hay cố ý, tức là nếu trường hợp các bên có giao kết thì hợp đồng sẽ không phát sinh hiệu lực pháp lý. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của bên mua bảo hiểm trong trường hợp họ giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hoàn toàn do lỗi vô ý, pháp luật nên cho phép một biên độ giao động giữa giá thị trường của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng và số tiền bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm đối với tài sản, biên độ này có thể là (+)(-) 5% để chống trục lợi.

Quy định về nghĩa vụ áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất đối với bên mua bảo hiểm

Như đã nói, bảo hiểm là sự hoán chuyển rủi ro từ người được bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Rủi ro dẫn đến sự kiện bảo hiểm phải là những rủi ro mà bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm không lường trước được. Tuy nhiên, điều đó cũng không có nghĩa rằng, một khi có rủi ro xảy ra, con người sẽ hoàn toàn bất lực trước những tổn thất mà nó mang lại. Rủi ro là yếu tố xảy ra ngoài ý muốn của các bên tham gia vào quan hệ bảo hiểm, nhưng ngược lại, khi có rủi ro xảy ra, con người có thể thực hiện những biện pháp nhất định nhằm hạn chế tối đa những tổn thất có thể xảy ra. Con người không thể quyết định được rủi ro có xảy ra hay không, nhưng có thể quyết định được việc giảm bớt những tổn thất do rủi ro mang lại bằng những biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất.

Từ những phân tích trên cho thấy, khi chủ sở hữu tài sản đã mua bảo hiểm cho tài sản thì họ đã chuyển giao những rủi ro của mình sang cho doanh nghiệp bảo hiểm nếu tài sản bảo hiểm gặp rủi ro trong phạm vi bảo hiểm dẫn đến tổn thất. Tuy nhiên, khi mua bảo hiểm, rõ ràng bên mua bảo hiểm cũng không mong muốn tổn thất sẽ xảy ra đối với tài sản, bởi vì, đó là những tài sản thuộc quyền sở hữu của họ. Như vậy, để thể hiện sự không mong muốn này, trong thời gian mua bảo hiểm, họ phải thực hiện các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất có thể xảy ra đối với tài sản bảo hiểm.

Trong bảo hiểm tài sản, pháp luật cho phép các bên tham gia giao kết hợp đồng được ấn định một số tiền bảo hiểm cho tài sản, số tiền này về nguyên tắc phải tương đương với giá trị của tài sản. Tuy nhiên, trên thực tế, sự tương xứng này không thể mang tính tuyệt đối, bởi vì, số tiền bảo hiểm được xác định căn cứ vào giá trị của tài sản tại thời điểm giao kết hợp đồng, mà đặc trưng của tài sản thì thường hao mòn (giảm giá trị) thông qua quá trình sử dụng. Do vậy, khi tổn thất xảy ra, nếu không còn tài sản để xác định giá trị tại thời điểm xảy ra tổn thất, thông thường doanh nghiệp bảo hiểm sẽ căn cứ vào số tiền bảo hiểm để ấn định số tiền bồi thường và ở một chừng mực nào đó, số tiền bồi thường dựa vào căn cứ này sẽ có lợi cho bên được bảo hiểm. Trước thực tế này, rất nhiều trường hợp, người được bảo hiểm đã nảy sinh ý đồ trục lợi thông qua việc để mặc cho tổn thất xảy ra nhằm hưởng tiền bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm.

Để ngăn chặn ý đồ trục lợi của bên mua bảo hiểm (người được bảo hiểm), Điều 50 Luật KDBH quy định:

– Người được bảo hiểm phải thực hiện các quy định về phòng cháy, chữa cháy, an toàn lao động, vệ sinh lao động và những quy định khác của pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm an toàn cho đối tượng bảo hiểm.

– Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền kiểm tra các điều kiện đảm bảo an toàn cho đối tượng bảo hiểm hoặc khuyến nghị, yêu cầu người được bảo hiểm áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế rủi ro.

– Trong trường hợp người được bảo hiểm không thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho đối tượng bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền ấn định một thời hạn để người được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đó; nếu hết thời hạn này mà các biện pháp bảo đảm an toàn vẫn không được thực hiện thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tăng phí bảo hiểm hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm.

Như vậy, việc pháp luật cho phép doanh nghiệp bảo hiểm được quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm là biện pháp ngăn chặn người được bảo hiểm thực hiện ý đồ trục lợi của mình. Ngoài ra, liên quan đến nghĩa vụ đề phòng, hạn chế tổn thất đối với tài sản bảo hiểm của người được bảo hiểm, pháp luật còn ngăn chặn mục đích trục lợi trong quan hệ bảo hiểm tài sản thông qua quy định người được bảo hiểm không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm[10], trừ trường hợp, người được bảo hiểm từ bỏ tài sản là nhằm để tránh tổn thất chung, vì cứu người hoặc trong trường hợp khẩn cấp… Quy định không được phép từ bỏ tài sản xuất phát từ yêu cầu bảo vệ tài sản để tránh tổn thất xảy ra, dẫn đến việc doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu trách nhiệm bồi thường từ hành vi vô trách nhiệm đối với tài sản bảo hiểm của người được bảo hiểm. Đồng thời, quy định này cũng nhằm tránh tình trạng lợi dụng rủi ro để hủy hoại tài sản nhằm mục đích trục lợi của bên được bảo hiểm.

Quy định về nghĩa vụ bồi thường kịp thời cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm

Mục đích của bên được bảo hiểm khi tham gia quan hệ bảo hiểm tài sản là khôi phục một cách nhanh chóng tình trạng tài chính của mình khi tài sản bảo hiểm bị tổn thất, đây là ý định chính đáng được pháp luật thừa nhận. Hơn nữa, khác với các hoạt động kinh doanh khác, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động dịch vụ tạo ra sản phẩm vô hình. Mục đích của bảo hiểm là đem lại sự an tâm, an toàn về mặt tài chính cho người tham gia bảo hiểm trước những rủi ro có thể xảy ra. Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm trừu tượng nên không dễ nhìn thấy được và không dễ nhận biết được lợi ích cơ bản, công dụng của sản phẩm. Sản phẩm bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng là lời hứa, là sự cam kết của doanh nghiệp bảo hiểm: sẽ bồi thường cho khách hàng khi tổn thất xảy ra đối với tài sản bảo hiểm.

Hành vi trây ỳ trong việc bồi thường cho người được bảo hiểm trong bảo hiểm tài sản nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp bảo hiểm cần được pháp luật nghiêm cấm. Bởi vì, hành vi này không những gây thiệt hại cho người được bảo hiểm mà còn ảnh hưởng rất lớn đến uy tín kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm, tác động xấu đến quá trình xây dựng và phát triển thị trường bảo hiểm nói chung và thị trường bảo hiểm tài sản nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế, trong một số trường hợp, vì lợi ích thiển cận trước mắt của chính doanh nghiệp bảo hiểm hoặc lợi ích cá nhân của mình mà một số nhân viên bảo hiểm đã cố tình dây dưa trong việc thực hiện bồi thường cho người được bảo hiểm. Để ngăn chặn hành vi trục lợi này, pháp luật đã quy định một trong những nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp bảo hiểm là “Bồi thường kịp thời cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”[11]. Ngoài ra, để bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm, Điều 29 Luật KDBH quy định: Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường theo thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trong trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu bồi thường. Đây là thời gian ấn định để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ bồi thường của mình. Đồng thời quy định này cũng có ý nghĩa ngăn ngừa việc doanh nghiệp bảo hiểm cố tình không đưa điều khoản về thời hạn trả tiền bồi thường trong hợp đồng nhằm kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường để chiếm dụng vốn của người được bảo hiểm.

Tóm lại, trục lợi bảo hiểm tài sản là những hành vi lừa dối nhằm hưởng lợi bất hợp pháp trong quan hệ bảo hiểm tài sản. Hiện nay, hiện tượng trục lợi trong bảo hiểm nói chung và bảo hiểm tài sản nói riêng đang là vấn đề đáng quan ngại, làm ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm nói chung và thị trường bảo hiểm tài sản nói riêng. Việc nhận diện các hành vi trục lợi để có cơ chế xử lý phù hợp đóng vai trò hết sức quan trọng cho công cuộc xây dựng và phát triển lành mạnh thị trường bảo hiểm tài sản ở Việt Nam.

[1] Xem Khoản 1 Điều 3 Luật KDBH.

[2] Như đã trình bày, “sản phẩm” mà doanh nghiệp bảo hiểm bán chính là lời hứa là cam kết chi trả tài chính trong tương lai cho người được bảo hiểm nếu tài sản bảo hiểm gặp tổn thất trong phạm vi rủi ro được bảo hiểm.

[3] Theo quy định tại Khoản 2, Điều 19 thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong các hành vi sau đây:

-Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được bồi thường.

-Không thông báo những trường hợp có thể làm gia tăng rủi ro hoặc làm phát sinh trách nhiệm bảohiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiển theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm

[4] Theo quy định tại Điều 85, Luật KDBH thì Đại lý bảo hiểm thực hiện các công việc: Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm…

[5] Xem Điều 90, Luật KDBH

[6] Khoản 1, Điều 46, Luật KDBH

[7] Khoản 1 và Khoản 2, Điều 46 Luật KDBH đều có câu “trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm”.

[8] Xem Điều 41 Luật KDBH

[9] Khoản 2 Điều 42 Luật KDBH quy định: “Trong trường hợp, hợp đồng bảo hiểm trên giá trđược giao kết do lỗi vô ý của bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn lại cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng tương ứng với số tiền bảo hiểm vượt quá giá thị trường của tài sản bảo hiểm sau khi trừ các chi phí có liên quan. Trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại không vượt quá giá thị trường của tài sản bảo hiểm”.

[10] Điều 51 Luật KDBH quy định: Trong trường hợp xảy ra tổn thất người được bảo hiểm không được từ bỏ tài sản được bảo hiểm trừ trường hợp pháp luật có quy định hoặc hai bên có thỏa thuận.

[11] Điểm c, khoản 2, Luật KDBH

SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

BẢO HỘ GIỐNG CÂY TRỒNG THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) ngày 07/11/2006. Tại thời điểm này, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của chúng ta đã có nhiều điểm tương thích với Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ – TRIPS. Theo đó, một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được đề cập trong hiệp định TRIPS – giống cây trồng mới – lần đầu tiên được điều chỉnh trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Đây là vấn đề còn mới mẻ ở nước ta cả về lý luận lẫn thực tiễn. Vì vậy, để các quy định về bảo hộ giống cây trồng mới có thể được thi hành trong thực tiễn, chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

1. Xu hướng chung của thế giới

Xét trên phương diện lịch sử hình thành và phát triển, giống cây trồng mới có thể được coi là thế hệ “sinh sau đẻ muộn” trong gia đình các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Phải mãi đến những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, cùng với việc thông qua Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng (UPOV) vào tháng 12/1961, quyền sở hữu trí tuệ của những người sáng tạo giống cây trồng lần đầu tiên được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo hộ. Các quốc gia đã nhanh chóng nhận ra rằng, hoạt động sáng tạo giống cây trồng mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn cả trong bảo vệ môi trường. Do vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đã trở thành một cam kết bắt buộc mà tất cả các nước cần phải thực hiện trước khi tiến hành gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Khoản 3 Điều 27, Hiệp định TRIPS quy định: “các thành viên phải bảo hộ giống cây trồng bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào”.

Bảo hộ giống cây trồng theo một hệ thống riêng biệt đang là xu thế có tính chất phổ biến của các quốc gia trên thế giới. Quy trình để tạo ra một giống cây trồng mới thường mất rất nhiều thời gian và tiền bạc. Trong khi đó, việc sao chép giống cây trồng lại có thể được thực hiện nhanh chóng theo nhiều cách thức khác nhau, như: chiết cây, giâm cây hoặc gieo hạt… Mặc dù hệ thống bảo hộ độc quyền sáng chế được các nhà chuyên môn đánh giá là có nhiều ưu điểm trong việc chống lại các khả năng vi phạm đối với giống cây trồng mới, nhưng thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền sáng chế (tối đa chỉ 20 năm) lại không phù hợp đối với đối tượng giống cây trồng mới (thời gian khai thác giống cây trồng có thể kéo dài đến 25 năm hoặc hơn thế). Thực tế này đòi hỏi các nhà làm luật cần phải xây dựng cơ chế bảo hộ hữu hiệu, riêng biệt cho đối tượng giống cây trồng mới, đảm bảo cho người tạo giống cây trồng có thể khai thác lợi nhuận và tái đầu tư cho các hoạt động sáng tạo của mình.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam

Thực hiện Chương trình hành động về sở hữu trí tuệ trước khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (đầu năm 2000, một chương trình hành động về sở hữu trí tuệ đã được khởi xướng nhằm thực hiện mục tiêu làm cho hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam tương thích với các yêu cầu của Hiệp định TRIPS), ngày 20/4/2001, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 13/2001/NĐ-CP quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới. Theo đó, giống cây trồng mới sẽ được bảo hộ theo một hệ thống riêng biệt do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trực tiếp quản lý. Đến nay, với Phần IV của Luật Sở hữu trí tuệ, pháp luật về bảo hộ giống cây trồng mới tiếp tục được hoàn thiện.

Giống cây trồng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam là giống cây được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, thuộc danh mục giống cây trồng được bảo hộ do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.

Theo định nghĩa trên, có thể hiểu chủ thể được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới bao gồm hai nhóm chính:

Thứ nhất, là người chọn tạo ra giống cây trồng mới. Đây là những chủ thể đã tạo ra giống cây trồng mới, chưa từng tồn tại trước đó trong thế giới tự nhiên bằng những phương tiện kỹ thuật nhất định. Pháp luật không đặt ra bất kỳ giới hạn cụ thể nào đối với hình thức, trình độ kỹ thuật trong việc thực hiện quy trình tạo giống cây trồng được bảo hộ. Đó có thể là thao tác kỹ thuật đơn giản như lựa chọn và lọc giống cây cho đến những công nghệ phức tạp, hiện đại như công nghệ chuyển gien, cấy ghép gien…

Thứ hai, là người phát hiện và phát triển giống cây trồng. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có văn bản chính thức giải thích một cách cụ thể về khái niệm “phát hiện và phát triển giống cây trồng”. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào đặc điểm pháp lý nói chung của quyền sở hữu trí tuệ, có thể khẳng định rằng, một người chỉ có công đơn thuần trong việc phát hiện ra giống cây trồng mới sẽ không được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng đó. Do vậy, khái niệm “phát triển” được sử dụng ở đây như là một sự bổ sung cần thiết, là điều kiện đủ để được nhà nước xem xét cấp bằng độc quyền đối với giống cây trồng đã được phát hiện. Hành vi “phát triển giống cây trồng được phát hiện” có ý nghĩa hoàn toàn khác biệt với hành vi “sáng tạo giống cây trồng”. Nếu hành vi “sáng tạo giống cây trồng” bao gồm những hoạt động cải tiến hoặc cải tạo đối với các tính trạng di truyền căn bản của cây trồng, nhằm mục đích tạo ra giống cây trồng có các tính trạng di truyền mới, thì hành vi “phát triển giống cây trồng được phát hiện” đơn thuần chỉ là những tác động tạo nên sự thay đổi nhất định trong quá trình nhân giống của cây trồng.

Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ, giống cây trồng được bảo hộ, cần phải đáp ứng được các tiêu chuẩn sau:

– Có tính mới: giống cây trồng được coi là có tính mới nếu vật liệu nhân giống, hoặc sản phẩm thu hoạch của giống cây trồng đó chưa được người có quyền đăng ký hoặc người được phép của người đó bán, hoặc phân phối bằng các cách khác nhau nhằm mục đích khai thác giống cây trồng trên lãnh thổ Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký một năm, hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam trước ngày nộp đơn đăng ký sáu năm đối với giống cây trồng thuộc loài thân gỗ và cây nho, bốn năm đối với giống cây trồng khác.

– Có tính khác biệt: giống cây trồng được coi là có tính khác biệt nếu có khả năng phân biệt rõ ràng với các giống cây trồng khác được biết đến rộng rãi tại thời điểm nộp đơn, hoặc ngày ưu tiên của đơn nếu đơn được hưởng quyền ưu tiên. Theo Khoản 2, Điều 160 của Luật Sở hữu trí tuệ, giống cây trồng đã được biết đến rộng rãi, bao gồm: giống cây trồng mà vật liệu nhân giống hoặc sản phẩm thu hoạch của giống đó đã được sử dụng một cách rộng rãi trên thị trường ở bất kỳ quốc gia nào; giống cây trồng được bảo hộ hoặc được đăng ký trong danh mục loài cây ở bất kỳ quốc gia nào; giống cây trồng là đối tượng trong đơn đăng ký của bất kỳ quốc gia nào, trừ khi đơn này bị từ chối và giống cây trồng mà bản mô tả chi tiết của giống đó đã được công bố. Theo đó, đối tượng có khả năng được sử dụng làm đối chứng trong quá trình thẩm định tính phân biệt của giống cây trồng đăng ký bảo hộ là bất kỳ một quần thể cây trồng nào đã được biết đến một cách rộng rãi. Pháp luật không đặt ra một giới hạn kỹ thuật nào đối với tính trạng di truyền của nguồn cây trồng được sử dụng làm vật liệu đối chứng.

Tuy nhiên, xếp đối tượng của đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng ở bất kỳ quốc gia nào làm đối chứng cho các đối tượng giống cây trồng nộp đơn yêu cầu bảo hộ theo pháp luật Việt Nam có phần chưa thuyết phục. Về mặt nguyên tắc, đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tại bất kỳ quốc gia nào đều chỉ được công bố sau một thời hạn nhất định. Nếu tại thời điểm nộp đơn hoặc ngày ưu tiên của đơn đang được xem xét, thì không thể xếp các giống cây trồng là đối tượng của đơn nộp ở nước ngoài nhưng chưa được công bố vào quần thể cây trồng đã được biết đến một cách rộng rãi. Do vậy, việc coi đối tượng này như một nguồn đối chứng để thẩm định tính phân biệt của giống cây trồng nộp đơn đăng ký bảo hộ trong nước là không hợp lý.

– Có tính đồng nhất: Giống cây trồng được coi là có tính đồng nhất nếu có sự biểu hiện như nhau về các tính trạng liên quan, trừ những sai lệch trong phạm vi cho phép đối với một số tính trạng cụ thể trong quá trình nhân giống. Thuật ngữ “các tính trạng liên quan” nhằm chỉ các tính trạng được yêu cầu bảo hộ của giống cây trồng. Nói một cách khác, tính đồng nhất không được xem xét đối với các tính trạng không tham gia vào các đặc điểm di truyền của quần thể cây trồng được bảo hộ.

– Có tính ổn định: Giống cây trồng được coi là có tính ổn định nếu các tính trạng liên quan của giống cây trồng đó vẫn giữ được các biểu hiện như mô tả ban đầu, không bị thay đổi sau mỗi vụ nhân giống hoặc sau mỗi chu kỳ nhân giống trong trường hợp nhân giống theo chu kỳ.

– Có tên gọi phù hợp: Tên gọi của giống cây trồng được coi là phù hợp nếu tên đó có khả năng dễ dàng phân biệt được với tên của giống cây trồng khác đã được biết đến một cách rộng rãi trong cùng một loài hoặc loài tương tự. Người nộp đơn phải đăng ký cùng một tên gọi phù hợp cho giống cây trồng như đã được đăng ký ở các quốc gia khác, trừ trường hợp tên gọi đã đăng ký ở quốc gia khác vi phạm các điều cấm quy định tại Khoản 3, Điều 163 Luật Sở hữu trí tuệ.

Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã có những quy định cần thiết liên quan đến thủ tục xác lập quyền và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới. Khoản 1, Điều 164 quy định: “Để được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng, tổ chức, cá nhân phải thực hiện việc nộp đơn đăng ký bảo hộ cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với giống cây trồng”. Hiện nay, việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn trực tiếp quản lý.

3. Những việc phải tiếp tục làm

Nhìn chung, trong việc xây dựng những quy định pháp lý về tiêu chuẩn bảo hộ giống cây trồng, các nhà lập pháp Việt Nam đã tiếp thu được những tinh thần căn bản nhất của hệ thống các tiêu chuẩn bảo hộ theo Công ước UPOV được nhiều nước trên thế giới thừa nhận. Nhược điểm của chúng ta là chưa khắc phục được những hạn chế có tính chất đặc thù của Công ước UPOV trong việc giải quyết mâu thuẫn trong việc xác định vật liệu đối chứng để thẩm định tính phân biệt của giống cây trồng đăng ký bảo hộ, gây ra những khó khăn không đáng có trong việc khảo nghiệm đối tượng đăng ký bảo hộ giống cây trồng mới sau này.

Có thể nói, với các quy định tại Phần IV, Luật Sở hữu trí tuệ, về mặt hình thức, Việt Nam bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu của Hiệp định TRIPS. Tuy nhiên, để có thể vận hành hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng tại Việt Nam trên thực tế, chúng ta còn rất nhiều việc phải giải quyết. Trong đó, có một thực tế là Việt Nam vẫn chưa xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ và thực sự hiệu quả về bảo hộ giống cây trồng mới. Mặc dù Ban soạn thảo Luật Sở hữu trí tuệ đã có những nỗ lực rất lớn trong việc cụ thể hoá các quy định của luật tới mức có thể áp dụng trong thực tế ngay sau khi ban hành mà không cần đến các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, thế nhưng, các nội dung thiết yếu, như: các tài liệu cần có trong đơn, thời hạn thẩm định nội dung đơn, lệ phí duy trì hiệu lực… chưa được pháp luật quy định rõ. Ngoài ra, việc bảo hộ song trùng theo cơ chế bảo hộ sáng chế và cơ chế bảo hộ giống cây trồng mới đối với cây trồng biến đổi gen cũng chưa được giải quyết. Bên cạnh đó, chúng ta chưa xây dựng được cơ sở vật chất cũng như chưa đào tạo được đội ngũ nhân lực cần thiết cho việc đăng ký, xét nghiệm và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới. Đó là những thách thức không nhỏ cho việc bảo hộ giống cây trồng mới trong thực tiễn.

====================

SOURCE: NCLP.ORG.VN (TÊN TÁC GIẢ CHƯA ĐƯỢC XÁC ĐỊNH)

TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: Lý thuyết và thực tiễn trong pháp luật công ty của Việt Nam

BÙI XUÂN HẢI

Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài để phục vụ cho cải cách và phát triển. Tư tưởng, các quy tắc pháp luật phương Đông và phương Tây cũng đã được vay mượn trong thực tiễn pháp luật của Việt Nam. Công cuộc đổi mới, mà đặc biệt là nhu cầu hội nhập hiện nay của nước ta đòi hỏi nhiều hơn ở việc vay mượn pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về vấn đề này ở còn quá ít ỏi[1]. Bài viết này phân tích lý thuyết hiện đại của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài và mấy vấn đề thực tiễn ở Việt Nam, chủ yếu trong lĩnh vực luật công ty.

I. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tiếp nhận pháp luật nước ngoài

1. Khoảng nửa thế kỷ gần đây, bên cạnh các nghiên cứu về luật so sánh, khoa học pháp lý thế giới còn chứng kiến sự xuất hiện của các lý thuyết và sự tranh luận về sự cấy ghép pháp luật (legal transplant) hay sự vay mượn pháp luật (legal borrowing) – theo cách gọi thông dụng ở nước ta là “tiếp nhận pháp luật nước ngoài”.

Cấy ghép pháp luật được hiểu là quá trình “di chuyển” của các quy tắc pháp lý hay các chế định pháp luật (hoặc có thể là các học thuyết pháp lý) từ nước này sang nước khác trong quá trình làm luật và cải cách pháp luật[2]. Sự di chuyển này thể hiện ở việc các quy tắc, chế định, học thuyết pháp lý của nước A được nước B tiếp nhận và đưa vào hệ thống pháp luật của mình. Việc tiếp nhận có thể thực hiện ở nhiều cấp độ: quy tắc đơn lẻ, một chế định, một nguyên tắc pháp lý và thậm chí, cả cấu trúc pháp luật.

2. Tính có thể (possibility) của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài đã được tranh luận khá nhiều trong giới khoa học pháp lý thế giới. Từ mấy thế kỷ trước, nhà tư tưởng nổi tiếng người Pháp Montesquieu đã cho rằng, pháp luật của mỗi quốc gia gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và con người của quốc gia đó, cho nên nó không thể “sống” trong một môi trường khác[3]. Ông không thừa nhận khả năng của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Song, thực tiễn đã chứng minh rằng, quan niệm này không thuyết phục cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Trong thế kỷ 20, những học giả hàng đầu trên thế giới đã lên tiếng ủng hộ hoặc phản đối lý thuyết vay muợn pháp luật, như các giáo sư Alan Watson, Otto Kahn-Freund, Pierre Legrand[4]. Giáo sư A. Watson đánh giá cao vai trò của cấy ghép pháp luật trong sự phát triển của một hệ thống pháp luật. Luận điểm cơ bản của A. Watson là các quy tắc pháp luật có thể dễ dàng được tiếp nhận ở một quốc gia khác, cho dù không có một nền tảng thiết chế xã hội tương đồng. Ngược lại, giáo sư Legrand dựa trên quan niệm của Montesquieu phủ nhận khả năng của sự tiếp nhận pháp luật; ông cho rằng sự vay mượn pháp luật là không thể (impossibility)[5]. Còn Kahn-Freund thì nhìn nhận việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài một cách thận trọng. Luận điểm cơ bản của giáo sư Kahn-Freund là: (i) có mối liên hệ chặt chẽ giữa luật và các yếu tố chính trị, tư tưởng, văn hóa của mỗi quốc gia và (ii) việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài là có thể thực hiện được trong sự cân nhắc các yếu tố nhất định[6]. Quan điểm của ông được nhiều nhà khoa học ủng hộ và có ảnh hưởng nhất định trong các nghiên cứu về vay mượn pháp luật trên thế giới.

3. Lịch sử đã chứng kiến nhiều sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở tất cả các châu lục. Chẳng hạn, Bộ luật dân sự Napoleon 1804 của người Pháp đã được phát triển từ sự vay mượn nhiều quy tắc pháp lý của luật La mã (Roman law) để rồi sau đó, nhiều nước châu Âu lại vay mượn Bộ luật nổi tiếng này để xây dựng hệ thống pháp luật dân sự của mình[7]. Trong thế kỷ 18-19, pháp luật châu Âu đã theo các đoàn quân viễn chinh của đế quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đến “cắm rễ” ở các châu lục khác. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi mà hầu hết các thuộc địa đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật châu Âu. Hệ thống pháp luật kiểu Anh (English law) đã trở thành hình mẫu pháp luật của các thuộc địa Anh như: Mỹ, úc, Niu Di-lân, Sin-ga-po, ấn Độ, Pa-ki-stan,.. để có hệ thống common law (thông luật) như hiện nay. Những cuộc xâm lược, chiếm đóng đã đưa đến sự cấy ghép pháp luật cưỡng bức vào quốc gia tiếp nhận.

Song, thế giới cũng chứng kiến những sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài một cách tự nguyện để phát triển. Nhật Bản là một ví dụ điển hình về sự vay mượn rất thành công pháp luật nước ngoài. Từ thời Minh Trị duy tân cuối thế kỷ 19, người Nhật đã học tập và vay mượn pháp luật của người Pháp, người Đức, người Mỹ. Chúng ta có thể thấy “hình dáng” truyền thống pháp luật của cả civil law (dân luật) và common law (thông luật) của Pháp, Đức, Hoa Kỳ trong hệ thống pháp luật hiện hành của Nhật Bản. Sự vay mượn pháp luật thành công của người Nhật được coi là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển thần kỳ của đất nước này trong hơn một thế kỷ qua[8].

II. Thực tiễn tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở Việt Nam

Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam đã chứng kiến những sự tiếp nhận pháp luật nuớc ngoài quy mô lớn, khi bị cưỡng ép, khi thì tự nguyện. Trước hết, là sự tiếp nhận pháp luật Trung Hoa trong lịch sử của các triều đại phong kiến Việt Nam. Sau một ngàn năm bị cai trị bởi người láng giềng khổng lồ có nền văn minh lâu đời, việc tiếp nhận pháp luật phong kiến Trung Hoa, hệ tư tưởng và các quy tắc pháp luật Trung Hoa vào Việt Nam của các triều đại phong kiến nước ta cũng là điều dễ hiểu[9].

Cha ông chúng ta đã học lấy cái hay, gạn cái dở và sáng tạo thêm để làm cho sự tiếp nhận đó phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bộ luật Hồng Đức của nhà Lê, một đạo luật đậm đà bản sắc Việt Nam, được các nhà nghiên cứu nước ngoài đánh giá cao, đã được thiết kế khác với người Trung Quốc. Có 6 chương trong tổng số 13 chương của nó khác với luật Trung Hoa, và chỉ có 314 trong tổng số 722 điều của bộ luật này được vay mượn từ bộ luật nhà Đường và nhà Minh[10]. Sự vay mượn pháp luật phong kiến và lý thuyết cai trị của người Trung Quốc để xây dựng đất nước của cha ông ta là một sự lựa chọn tỉnh táo và rất khoa học. Bởi lẽ, (i) gần như cả thế giới đều phải thừa nhận rằng, nền văn minh Trung Hoa đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử và có nhiều tính trội, tính ưu việt so với nhiều quốc gia khác; chế độ phong kiến Trung Quốc cũng cường thịnh hàng đầu thế giới, thì việc học của kẻ hay lại là sự lựa chọn tỉnh táo; (ii) về thực tiễn, sự vay mượn đó là một yếu tố giúp các triều đại phong kiến Việt Nam lớn mạnh, đủ sức đánh bại các cuộc xâm lăng của chính người Trung Hoa và mở mang bờ cõi xuống phía nam.

Quá trình du nhập pháp luật phương Tây vào Việt Nam theo đoàn quân viễn chinh Pháp từ cuối thế kỷ thứ 19 lại là một quá trình cưỡng bức. Với chế độ cai trị hà khắc phục vụ mục đích bóc lột, những tư tưởng và quy tắc pháp lý tiến bộ mang tính dân chủ, nhân văn của phương Tây đã không được mang đến cho người Việt Nam. Và có lẽ cũng vì thế mà người Pháp đã không mấy thành công khi áp dụng pháp luật của họ vào Việt Nam. Cho đến khi họ phải cay đắng rời khỏi đất nước này, thì tuyệt đại đa số người dân Việt Nam chưa có cơ hội để biết đến nền văn minh pháp lý phương Tây, mà còn lại chỉ là nỗi đau bị bóc lột, áp bức bởi kẻ xâm lược.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các tư tưởng, học thuyết, quy tắc pháp lý xã hội chủ nghĩa từ Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức và một vài nước xã hội chủ nghĩa khác, cũng đã được tiếp nhận tự nguyện vào Việt Nam, nhằm mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Những chuyên gia pháp luật được đào tạo ở Đông Âu cũng đã có đóng góp trong việc truyền bá, cấy ghép pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu, mà chủ yếu là của Liên bang Xô Viết, vào Việt Nam thông qua quá trình làm luật, áp dụng pháp luật và đào tạo pháp luật. Tuy nhiên, chúng ta đã từng tiếp nhận một cách máy móc pháp luật Xô Viết vào nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi thứ trong và sau chiến tranh. Chúng ta đã từng tiếp thu nền pháp luật Xô Viết để xây dựng bản Hiến pháp 1980 đầy tính tư duy bao cấp, giáo điều… để rồi, nhiều quy tắc hiến định đã chỉ đơn thuần là lời tuyên ngôn trong văn bản mà không có tính thực tiễn.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở châu Âu đã buộc các nước này phải đi tìm và vay mượn pháp luật phương Tây để xây dựng cấu trúc chính trị – kinh tế – xã hội mới. Người Nga cũng đã phải cậy nhờ đến các giáo sư Hoa Kỳ để xây dựng luật công ty của họ, dù không mấy thành công. ở Việt Nam, từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đã có những thay đổi lớn lao trong việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh.

III. Sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực luật công ty

1. Nếu như các mô hình công ty đã xuất hiện từ thời trung cổ ở châu Âu và các đạo luật thành văn về công ty đã ra đời ở nhiều nước châu Âu từ thế kỷ 17 – 18[11], thì ở nước ta, mô hình công ty và pháp luật công ty chưa xuất hiện trước khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp vào cuối thế kỷ 19. Cùng với luật dân sự và thương mại, người Pháp đã mang luật công ty của họ vào Việt Nam như một sự cấy ghép pháp luật cưỡng bức trong điều kiện bóc lột và phân biệt đối xử hà khắc của kẻ xâm lược với người bị thống trị. Vì thế, chỉ một bộ phận rất nhỏ các nhà kinh doanh ở các đô thị lớn, mà chủ yếu là người nước ngoài, mới được biết đến luật công ty thời Pháp thuộc. Những quy định về công ty trong Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc kỳ 1931 và Bộ luật Thương mại Trung kỳ 1942 đều là những bản sao của luật công ty Pháp[12]. Những quy định này được chế độ Sài Gòn tiếp tục áp dụng cho đến khi Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972 được Nguyễn Văn Thiệu ban hành có hiệu lực. Song, các quy định về công ty trong Bộ luật này vẫn là sự phát triển các quy định về công ty thời Pháp thuộc.

2. Từ khi đổi mới, đã có ba luật về công ty được ban hành là: Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp (Luật DN) năm 1999 và Luật DN năm 2005. Có thể nói, lĩnh vực luật về công ty là một điển hình về thành công, ít nhất là cho đến bây giờ, của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Luật công ty năm 1990 có nhiều hạn chế do được ban hành trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhưng nó vẫn chịu ảnh hưởng của luật công ty Pháp[13]. Song, Luật DN năm 1999 và Luật DN năm 2005 đã có sự phát triển vượt bậc về chất lượng, một phần là do kết quả của việc tiếp thu pháp luật nước ngoài. Thành công của Luật DN năm 1999 đã được chứng minh qua thực tiễn. Chúng ta thấy trong Luật DN năm 1999 và Luật DN năm 2005 những quy tắc pháp lý của luật công ty Đức – một trường phái luật điển hình của châu Âu và của mô hình luật công ty Anh – Mỹ[14]. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên vì trên thực tế, trường phái luật công ty Đức và Hoa Kỳ vẫn được coi là điển hình và là nguồn cung cấp cho các cuộc cải cách luật công ty của nhiều nước trên thế giới. Có nhiều lý do để lý giải cho việc tiếp nhận này, mà chủ yếu là từ nhóm các nhà soạn thảo và chuyên gia tư vấn cho việc soạn thảo các đạo luật này với mục tiêu thúc đẩy tự do kinh doanh, đổi mới hơn nữa và hội nhập. Trong số các chuyên gia tư vấn nước ngoài, đáng chú ý là các chuyên gia đến từ Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật Đức (GTZ), dự án STAR của Hoa Kỳ, UNDP và MPDF.

3. Trong Luật DN năm 1999 và đặc biệt là Luật DN năm 2005, những tư tưởng về tự do kinh doanh của phương Tây đã được tiếp nhận mạnh mẽ. Nó được thể hiện qua các quy định thông thoáng về quyền và thủ tục thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp; ngành, nghề kinh doanh; quản trị công ty; quyền tự định đoạt, quyền của công ty và thành viên. Song, nguyên tắc tự do kinh doanh và những quy định thông thoáng này bị hạn chế trong thực tế bởi không ít trở lực hành chính, bởi “giấy phép con”, bởi thái độ quan liêu, cửa quyền của không ít cán bộ công chức có liên quan. Chúng ta không tìm thấy ở các nước phát triển mà chúng ta đã tiếp nhận pháp luật cho việc làm luật doanh nghiệp, những hình thức “giấy phép con” như ở Việt Nam.

Quyền tự do kinh doanh cần được bảo đảm trên nền tảng của một nền hành chính mang tính phục vụ chứ không phải là sự ban phát của cơ chế xin – cho. Đâu đó đã có xuất hiện vài việc gian dối trong việc thành lập và quản trị công ty. Song, không vì thế mà quyền tự do kinh doanh của tuyệt đại đa số bị ảnh hưởng xấu bởi phản ứng tiêu cực của nền hành chính quan liêu, chưa theo kịp đòi hỏi của công cuộc đổi mới. Cuộc đấu tranh giữa việc bỏ hay không bỏ các hình thức đa dạng, biến tướng của “giấy phép con” là một ví dụ điển hình. Sự tiếp nhận pháp luật có thành công hay không, theo giáo sư Kanda and Milhaupt, có quan hệ mật thiết với động cơ và hành động mang tính tích cực của các chủ thể pháp luật của quốc gia tiếp nhận[15]. Hiệu quả của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài phụ thuộc vào động cơ của sự tiếp nhận và thái độ của các chủ thể như các nhà lập pháp, cơ quan nhà nước, bộ máy tư pháp và các tổ chức, cá nhân trong việc thực thi pháp luật.

4. Những quy định về quản trị công ty trong Luật DN 1999 và 2005 cũng chịu ảnh hưởng nhiều của luật công ty Anh – Mỹ. Các nghĩa vụ của người quản lý công ty theo luật công ty Anh – Mỹ đã được tiếp thu rất nhiều trong Luật DN năm 2005 qua các nghĩa vụ về trung thành (loyalty), trung thực (good faith), cẩn trọng (care và diligence), không tư lợi (personal interests)[16]. Tuy nhiên, trung thành, trung thực, cẩn trọng, mẫn cán… chỉ là những khái niệm định tính chứ không định lượng. Thật khó có thể giải thích các nghĩa vụ pháp lý này trong luật thành văn. Trong luật công ty Anh, Mỹ hay úc, các nghĩa vụ này có thể được giải thích bởi các án lệ và hơn nữa là sự phán xét của tòa án trong các trường hợp cụ thể. Còn với Việt Nam, khi mà án lệ chưa được thừa nhận và quyền hạn của thẩm phán bị giới hạn bởi các văn bản quy phạm pháp luật, thì những khái niệm trừu tượng như thế sẽ gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

5. Các quy định về pháp nhân, về xuyên qua chế độ trách nhiệm hữu hạn (piecing the corporate veil) hay vén rèm công ty (lifting the corporate veil) đã được tiếp thu nhiều từ luật công ty Anh – Mỹ. Nhưng, không phải chúng đều đã được hiểu và tiếp nhận đúng vào Việt Nam. Chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty, được tạo lập bởi cái vỏ bọc pháp nhân, có thể bị các thành viên hay người điều hành công ty lạm dụng để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ. Vì thế, trong luật công ty Anh, Mỹ, úc, học thuyết về xuyên qua chế độ trách nhiệm hữu hạn (piecing the corporate veil) hay vén rèm công ty (lifting the corporate veil) đã xuất hiện để xử lý những kẻ lạm dụng vỏ bọc pháp nhân để thu lợi bất chính[17]. Còn piecing the corporate veil là khái niệm khá mới mẻ đối với chúng ta. Trong vốn từ vựng tiếng Việt, chưa tìm thấy một thuật ngữ tương đồng. Một số người gọi đó là phá hạn. Tuy nhiên, nói như vậy vẫn chưa phản ánh hết bản chất của vấn đề. Khác với Luật Công ty năm 1990, cả hai luật DN đã thể hiện tư tưởng của học thuyết này trong nhiều điều luật. Piecing the corporate veil hay lifting the corporate veil khác hoàn toàn với doctrine of untra vires (beyond powers) là học thuyết pháp lý để chỉ sự vượt quá quyền hạn. Thật tiếc là cho đến gần đây, có nhà nghiên cứu Việt Nam, vẫn hiểu nhầm ultra vires là phá hạn (piecing corporate veil)[18], tức là nhầm lẫn giữa sự vượt thẩm quyền và xuyên qua chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty trong luật công ty Anh – Mỹ.

Những quy định về công ty hợp danh trong cả Luật DN năm 1999 và Luật DN năm 2005 đã được xây dựng trên cơ sở vay mượn, nhưng còn thiếu tính hợp lý về tư cách pháp lý của công ty và thành viên. ở hầu hết các nước, hợp danh (partnership) không được coi là một loại hình công ty (company hay corporation), mà nó được xem như một dạng hợp đồng đặc biệt. Nó không có tư cách pháp nhân, không phải là chủ thể có thể đi kiện và bị kiện. ở Mỹ, sau nhiều năm tranh cãi, cho đến cuối những năm 1990, một số tiểu bang đã ban hành luật ghi nhận hợp danh cũng là pháp nhân (separate legal entity)[19]. Song, vấn đề này vẫn chưa thuyết phục được chính các giáo sư luật, luật sư và quan tòa ở Mỹ. Luật DN gọi hợp danh là “công ty hợp danh” và Luật DN năm 2005 đã công nhận nó có tư cách pháp nhân theo như mô hình của một số bang ở Mỹ. Nhưng, trong khi Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định rằng, thành viên của pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn, thì việc tiếp nhận quan niệm về hợp danh là pháp nhân theo luật Mỹ và buộc thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn trong Luật DN năm 2005 có lẽ là một việc làm thiếu khôn ngoan, tạo ra “độ vênh” giữa luật dân sự và luật về tổ chức kinh doanh[20]. Trong luật của một số nước theo hệ thống thông luật, có pháp nhân mà các thành viên là chủ sở hữu của nó vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn. Chẳng hạn, công ty trách nhiệm vô hạn theo luật công ty úc là pháp nhân, nhưng trách nhiệm của thành viên là vô hạn[21]. Sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài chỉ thực sự có hiệu quả nếu nó được hiểu đúng và vận dụng nó một cách tỉnh táo, thích hợp.

IV. Một vài kết luận

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa hẹp của sự tiếp nhận là thông qua quá trình lập pháp, các quy tắc, học thuyết pháp lý nước ngoài được tiếp nhận và đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Thứ hai, hiểu theo nghĩa rộng, đó chính là sự tiếp nhận, truyền bá pháp luật và các học thuyết, tư tưởng pháp lý nước ngoài vào Việt Nam. Việc truyền bá, tiếp nhận này có thể thông qua việc: (i) pháp luật của nước đó được dịch và nghiên cứu tại Việt Nam, (ii) đào tạo pháp luật, (iii) trao đổi thảo luận, (iv) công việc làm ăn, kinh doanh, (v) sự đóng góp ý kiến trực tiếp của các chuyên gia nước ngoài.

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong quá trình chuyển đổi, hội nhập hiện nay của Việt Nam là cần thiết, nó vừa mang tính thực tiễn và kinh tế[22]. Là một quốc gia chuyển đổi, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng là một cách thức chuẩn bị, là điều kiện tốt cho hội nhập, làm giảm dần những khác biệt giữa pháp luật nước ta với các mô hình pháp luật điển hình trên thế giới. Càng có nhiều tương đồng trong các thiết chế pháp lý, việc đàm phán và thực hiện các cam kết quốc tế của nước ta sẽ dễ dàng hơn. Pháp luật nước ngoài nên được xem như một nguồn quan trọng cho cải cách pháp luật ở Việt Nam.

Tuy nhiên, một quy tắc pháp luật của nước A khi được tiếp nhận vào nước B không có nghĩa là ở nước B nó có thể phát huy tác dụng như nó từng có ở nước A. Bởi lẽ, hiệu quả điều chỉnh của một quy tắc pháp lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố, các điều kiện và cơ chế nhất định. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng, cứ sao chép các đạo luật đã thành công của nước khác sẽ giúp tạo nên hiệu quả điều chỉnh pháp luật của quốc gia tiếp nhận. Không phải quốc gia nào, hay lĩnh vực pháp luật nào cũng thể vay mượn pháp luật nước ngoài thành công.

Để tiếp nhận pháp luật nước ngoài thành công, quốc gia tiếp nhận cần phải cân nhắc mối quan hệ giữa các quy tắc pháp lý nước ngoài dự định tiếp nhận với các nền tảng chính trị, xã hội, điều kiện cụ thể của nước mình; đặc biệt là các điểm tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc chính trị – xã hội của nước tiếp nhận và quốc gia sẽ được tiếp nhận. Sự tiếp nhận thiếu tính cân nhắc sẽ không mang lại kết quả như mong muốn và làm rối rắm thêm cho hệ thống pháp luật nước nhà. Hiệu quả của sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng phụ thuộc vào thái độ của các chủ thể pháp luật liên quan. Các quy tắc và học thuyết pháp lý nước ngoài được tiếp nhận sẽ chẳng mang đến kết quả tốt đẹp, nếu nó không được hiểu và thực hiện đúng đắn trong thực tiễn.

[1] Các nghiên cứu đáng chú ý về vấn đề này, có thể xem thêm: Đào Trí úc và Lê Minh Thông, Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 5/1999, tr. 3-16; Phạm Duy Nghĩa, Tiếp nhận pháp luật nước ngoài-Thời cơ và thách thức mới cho nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2002, tr. 50-57.

[2] Xem Loukas A. Mistelis, “Regulatory Aspects: Globalization, Harmonization, Legal Transpants, and Law Reform – Some Fundamental Observations”, International Lawyer, v 34(3), 2000, tr. 1067; Eric Stein, “Uses, Misuses and Non-uses of Comparative Law”, Northwestern University Law Review, 72, 1997, tr. 198.

[3] Xem Alan Watson, Legal Transplants and Legal Reform, 1991, tr. 293; Otto Kahn-Freund, Selected Writings, 1978, tr. 299-301.

[4] Giáo sư Watson (người Mỹ) là một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu về vay mượn pháp luật, từng công bố nhiều nghiên cứu nổi tiếng và có ảnh hưởng đến khoa học pháp lý về tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Các tác phẩm nổi tiếng của ông được nhiều nhà nghiên cứu trích dẫn, đó là: Legal Transplants: An Approach to Comparative Law (1974), Society and Legal Change (1977), Legal Origins and Legal Change (1991); Còn nghiên cứu nổi tiếng của Giáo sư Otto Kahn-Freund trong lĩnh vực này là: On use and misuse of comparative Law; The modern law review, 1974 và Selected Writings, 1978.

[5] Xem Pierre Legrand, “The Imposibility of “Legal Transplants”, Maastricht Journal of European and Comparative Law 4, 1997.

[6] Xem Otto Kahn-Freud, “On use and misuse of Comparative Law”, Modern Law Review 37, 1994, tr. 27.

[7] Xem Jan Smits, “A European Privat Law as a Mixed Legal System: Toward a lus Commune through the Free Movement of Legal Rules”, Maastricht Journal of European and Comparative Law 5, 1998, tr. 334; Alan Watston, Society and Legal change, Nxb. Scottish academic, Enghland, 1997, tr. 98-111.

[8] Về vấn đề này, có thể xem thêm: Katharina Pistor & Philip A. Wellons, “The Role of Law and Legal Institutions in Asian Economic Development”, Nxb. Oxford University Press, tại Hongkong, 1999.

[9] Xem Đào Trí úc và Lê Minh Thông: sđd, tr. 3.

[10] Xem Đào Trí úc và Lê Minh Thông: sđd, tr. 3.

[11] Xem H. Pamela, R. Ian & S. Geof. Commercial Applications of Company Law, 5th ed, Nxb. CCH Australia Limited, Sydney, 2004, tr. 12-17.

[12] Về vấn đề này, xem thêm Bui Xuan Hai & Gordon Walker, Transitional Adjustment Problems in Contemporary Vietnamese Company Law, Journal of International Banking Law and Regulation 20(11), 2005, tr. 567-568.

[13] Xem John Gillespie, Transplanted Company Law: An Ideological and Cultural Analysis of Market-Entry in Việt Nam (2002) 51 International and Comparative Law Quarterly, tr. 647.

[14] Về cách nhìn của các nhà nghiên cứu nước ngoài đối với vấn đề này, xem John Gillespie, “Importing Law Reform: Vietnamese Company Law as a Case Study” trong “International Corporate Law Annual”, Vol. 2, do Fiona Macmillan chủ biên, 2005, tr. 187-228.

[15] Xem Kanda và Milhaupt, sđd, tr.9-10.

[16] Ví dụ, xem các điều 56, 72, 119 và 126 của Luật Doanh nghiệp năm 2005.

[17] Xem H. Pamela, R. Ian & S.Geof, sđd, tr. 55-59.

[18] Xem Nguyễn Như Phát, Góp ý Dự thảo Luật Doanh nghiệp thống nhất, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 6/2005, tr. 26

[19] Về vấn đề này, xem phân tích của giáo sư Stephen M. Bainbridge trong “Corporation Law and Economics”, Nxb. Foundation Press, 2002, tr 7-8; và xem thêm The Uniform Partnership Act (UPA) 1997.

[20] Xem thêm và so sánh Điều 130, 135 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Điều 84, 93 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

[21] Xem Điều 9, The Corporations Act 2001 (Cth) của Australia.

[22] Về vấn đề này, có thể xem thêm quan điểm của giáo sư Hideki Kanda và Curtis J. Mihaupt, trong “Re-examining Legal Transplants: the Director’s Fiduciary Duty in Japanese Corporate Law”, Trung tâm nghiên cứu Luật và kinh tế, Law Scholl, Đại học Columbia, Mỹ, 2003, tr. 7
SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

TIẾP NHẬN PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI: LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN TRONG PHÁP LUẬT CÔNG TY CỦA VIỆT NAM

BÙI XUÂN HẢI

Lch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài để phục vụ cho cải cách và phát triển. Tư tưởng, các quy tắc pháp luật phương Đông và phương Tây cũng đã được vay mượn trong thực tiễn pháp luật của Việt Nam. Công cuộc đổi mới, mà đặc biệt là nhu cầu hội nhập hiện nay của nước ta đòi hỏi nhiều hơn ở việc vay mượn pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về vấn đề này ở còn quá ít ỏi[1]. Bài viết này phân tích lý thuyết hiện đại của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài và mấy vấn đề thực tiễn ở Việt Nam, chủ yếu trong lĩnh vực luật công ty.

I. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn tiếp nhận pháp luật nước ngoài

1. Khoảng nửa thế kỷ gần đây, bên cạnh các nghiên cứu về luật so sánh, khoa học pháp lý thế giới còn chứng kiến sự xuất hiện của các lý thuyết và sự tranh luận về sự cấy ghép pháp luật (legal transplant) hay sự vay mượn pháp luật (legal borrowing) – theo cách gọi thông dụng ở nước ta là “tiếp nhận pháp luật nước ngoài”.

Cấy ghép pháp luật được hiểu là quá trình “di chuyển” của các quy tắc pháp lý hay các chế định pháp luật (hoặc có thể là các học thuyết pháp lý) từ nước này sang nước khác trong quá trình làm luật và cải cách pháp luật[2]. Sự di chuyển này thể hiện ở việc các quy tắc, chế định, học thuyết pháp lý của nước A được nước B tiếp nhận và đưa vào hệ thống pháp luật của mình. Việc tiếp nhận có thể thực hiện ở nhiều cấp độ: quy tắc đơn lẻ, một chế định, một nguyên tắc pháp lý và thậm chí, cả cấu trúc pháp luật.

2. Tính có thể (possibility) của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài đã được tranh luận khá nhiều trong giới khoa học pháp lý thế giới. Từ mấy thế kỷ trước, nhà tư tưởng nổi tiếng người Pháp Montesquieu đã cho rằng, pháp luật của mỗi quốc gia gắn liền với điều kiện tự nhiên, xã hội và con người của quốc gia đó, cho nên nó không thể “sống” trong một môi trường khác[3]. Ông không thừa nhận khả năng của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Song, thực tiễn đã chứng minh rằng, quan niệm này không thuyết phục cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn. Trong thế kỷ 20, những học giả hàng đầu trên thế giới đã lên tiếng ủng hộ hoặc phản đối lý thuyết vay muợn pháp luật, như các giáo sư Alan Watson, Otto Kahn-Freund, Pierre Legrand[4]. Giáo sư A. Watson đánh giá cao vai trò của cấy ghép pháp luật trong sự phát triển của một hệ thống pháp luật. Luận điểm cơ bản của A. Watson là các quy tắc pháp luật có thể dễ dàng được tiếp nhận ở một quốc gia khác, cho dù không có một nền tảng thiết chế xã hội tương đồng. Ngược lại, giáo sư Legrand dựa trên quan niệm của Montesquieu phủ nhận khả năng của sự tiếp nhận pháp luật; ông cho rằng sự vay mượn pháp luật là không thể (impossibility)[5]. Còn Kahn-Freund thì nhìn nhận việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài một cách thận trọng. Luận điểm cơ bản của giáo sư Kahn-Freund là: (i) có mối liên hệ chặt chẽ giữa luật và các yếu tố chính trị, tư tưởng, văn hóa của mỗi quốc gia và (ii) việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài là có thể thực hiện được trong sự cân nhắc các yếu tố nhất định[6]. Quan điểm của ông được nhiều nhà khoa học ủng hộ và có ảnh hưởng nhất định trong các nghiên cứu về vay mượn pháp luật trên thế giới.

3. Lịch sử đã chứng kiến nhiều sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở tất cả các châu lục. Chẳng hạn, Bộ luật dân sự Napoleon 1804 của người Pháp đã được phát triển từ sự vay mượn nhiều quy tắc pháp lý của luật La mã (Roman law) để rồi sau đó, nhiều nước châu Âu lại vay mượn Bộ luật nổi tiếng này để xây dựng hệ thống pháp luật dân sự của mình[7]. Trong thế kỷ 18-19, pháp luật châu Âu đã theo các đoàn quân viễn chinh của đế quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan đến “cắm rễ” ở các châu lục khác. Vì thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi mà hầu hết các thuộc địa đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật châu Âu. Hệ thống pháp luật kiểu Anh (English law) đã trở thành hình mẫu pháp luật của các thuộc địa Anh như: Mỹ, úc, Niu Di-lân, Sin-ga-po, ấn Độ, Pa-ki-stan,.. để có hệ thống common law (thông luật) như hiện nay. Những cuộc xâm lược, chiếm đóng đã đưa đến sự cấy ghép pháp luật cưỡng bức vào quốc gia tiếp nhận.

Song, thế giới cũng chứng kiến những sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài một cách tự nguyện để phát triển. Nhật Bản là một ví dụ điển hình về sự vay mượn rất thành công pháp luật nước ngoài. Từ thời Minh Trị duy tân cuối thế kỷ 19, người Nhật đã học tập và vay mượn pháp luật của người Pháp, người Đức, người Mỹ. Chúng ta có thể thấy “hình dáng” truyền thống pháp luật của cả civil law (dân luật) và common law (thông luật) của Pháp, Đức, Hoa Kỳ trong hệ thống pháp luật hiện hành của Nhật Bản. Sự vay mượn pháp luật thành công của người Nhật được coi là một trong các yếu tố tạo nên sự phát triển thần kỳ của đất nước này trong hơn một thế kỷ qua[8].

II. Thực tiễn tiếp nhận pháp luật nước ngoài ở Việt Nam

Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam đã chứng kiến những sự tiếp nhận pháp luật nuớc ngoài quy mô lớn, khi bị cưỡng ép, khi thì tự nguyện. Trước hết, là sự tiếp nhận pháp luật Trung Hoa trong lịch sử của các triều đại phong kiến Việt Nam. Sau một ngàn năm bị cai trị bởi người láng giềng khổng lồ có nền văn minh lâu đời, việc tiếp nhận pháp luật phong kiến Trung Hoa, hệ tư tưởng và các quy tắc pháp luật Trung Hoa vào Việt Nam của các triều đại phong kiến nước ta cũng là điều dễ hiểu[9].

Cha ông chúng ta đã học lấy cái hay, gạn cái dở và sáng tạo thêm để làm cho sự tiếp nhận đó phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bộ luật Hồng Đức của nhà Lê, một đạo luật đậm đà bản sắc Việt Nam, được các nhà nghiên cứu nước ngoài đánh giá cao, đã được thiết kế khác với người Trung Quốc. Có 6 chương trong tổng số 13 chương của nó khác với luật Trung Hoa, và chỉ có 314 trong tổng số 722 điều của bộ luật này được vay mượn từ bộ luật nhà Đường và nhà Minh[10]. Sự vay mượn pháp luật phong kiến và lý thuyết cai trị của người Trung Quốc để xây dựng đất nước của cha ông ta là một sự lựa chọn tỉnh táo và rất khoa học. Bởi lẽ, (i) gần như cả thế giới đều phải thừa nhận rằng, nền văn minh Trung Hoa đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử và có nhiều tính trội, tính ưu việt so với nhiều quốc gia khác; chế độ phong kiến Trung Quốc cũng cường thịnh hàng đầu thế giới, thì việc học của kẻ hay lại là sự lựa chọn tỉnh táo; (ii) về thực tiễn, sự vay mượn đó là một yếu tố giúp các triều đại phong kiến Việt Nam lớn mạnh, đủ sức đánh bại các cuộc xâm lăng của chính người Trung Hoa và mở mang bờ cõi xuống phía nam.

Quá trình du nhập pháp luật phương Tây vào Việt Nam theo đoàn quân viễn chinh Pháp từ cuối thế kỷ thứ 19 lại là một quá trình cưỡng bức. Với chế độ cai trị hà khắc phục vụ mục đích bóc lột, những tư tưởng và quy tắc pháp lý tiến bộ mang tính dân chủ, nhân văn của phương Tây đã không được mang đến cho người Việt Nam. Và có lẽ cũng vì thế mà người Pháp đã không mấy thành công khi áp dụng pháp luật của họ vào Việt Nam. Cho đến khi họ phải cay đắng rời khỏi đất nước này, thì tuyệt đại đa số người dân Việt Nam chưa có cơ hội để biết đến nền văn minh pháp lý phương Tây, mà còn lại chỉ là nỗi đau bị bóc lột, áp bức bởi kẻ xâm lược.

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, các tư tưởng, học thuyết, quy tắc pháp lý xã hội chủ nghĩa từ Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức và một vài nước xã hội chủ nghĩa khác, cũng đã được tiếp nhận tự nguyện vào Việt Nam, nhằm mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Những chuyên gia pháp luật được đào tạo ở Đông Âu cũng đã có đóng góp trong việc truyền bá, cấy ghép pháp luật của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu, mà chủ yếu là của Liên bang Xô Viết, vào Việt Nam thông qua quá trình làm luật, áp dụng pháp luật và đào tạo pháp luật. Tuy nhiên, chúng ta đã từng tiếp nhận một cách máy móc pháp luật Xô Viết vào nước Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn mọi thứ trong và sau chiến tranh. Chúng ta đã từng tiếp thu nền pháp luật Xô Viết để xây dựng bản Hiến pháp 1980 đầy tính tư duy bao cấp, giáo điều… để rồi, nhiều quy tắc hiến định đã chỉ đơn thuần là lời tuyên ngôn trong văn bản mà không có tính thực tiễn.

Sự sụp đổ của chế độ XHCN ở châu Âu đã buộc các nước này phải đi tìm và vay mượn pháp luật phương Tây để xây dựng cấu trúc chính trị – kinh tế – xã hội mới. Người Nga cũng đã phải cậy nhờ đến các giáo sư Hoa Kỳ để xây dựng luật công ty của họ, dù không mấy thành công. ở Việt Nam, từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đã có những thay đổi lớn lao trong việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài, đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh.

III. Sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong lĩnh vực luật công ty

1. Nếu như các mô hình công ty đã xuất hiện từ thời trung cổ ở châu Âu và các đạo luật thành văn về công ty đã ra đời ở nhiều nước châu Âu từ thế kỷ 17 – 18[11], thì ở nước ta, mô hình công ty và pháp luật công ty chưa xuất hiện trước khi Việt Nam trở thành thuộc địa của người Pháp vào cuối thế kỷ 19. Cùng với luật dân sự và thương mại, người Pháp đã mang luật công ty của họ vào Việt Nam như một sự cấy ghép pháp luật cưỡng bức trong điều kiện bóc lột và phân biệt đối xử hà khắc của kẻ xâm lược với người bị thống trị. Vì thế, chỉ một bộ phận rất nhỏ các nhà kinh doanh ở các đô thị lớn, mà chủ yếu là người nước ngoài, mới được biết đến luật công ty thời Pháp thuộc. Những quy định về công ty trong Dân luật thi hành tại các Tòa Nam án Bắc kỳ 1931 và Bộ luật Thương mại Trung kỳ 1942 đều là những bản sao của luật công ty Pháp[12]. Những quy định này được chế độ Sài Gòn tiếp tục áp dụng cho đến khi Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972 được Nguyễn Văn Thiệu ban hành có hiệu lực. Song, các quy định về công ty trong Bộ luật này vẫn là sự phát triển các quy định về công ty thời Pháp thuộc.

2. Từ khi đổi mới, đã có ba luật về công ty được ban hành là: Luật Công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp (Luật DN) năm 1999 và Luật DN năm 2005. Có thể nói, lĩnh vực luật về công ty là một điển hình về thành công, ít nhất là cho đến bây giờ, của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Luật công ty năm 1990 có nhiều hạn chế do được ban hành trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhưng nó vẫn chịu ảnh hưởng của luật công ty Pháp[13]. Song, Luật DN năm 1999 và Luật DN năm 2005 đã có sự phát triển vượt bậc về chất lượng, một phần là do kết quả của việc tiếp thu pháp luật nước ngoài. Thành công của Luật DN năm 1999 đã được chứng minh qua thực tiễn. Chúng ta thấy trong Luật DN năm 1999 và Luật DN năm 2005 những quy tắc pháp lý của luật công ty Đức – một trường phái luật điển hình của châu Âu và của mô hình luật công ty Anh – Mỹ[14]. Cũng chẳng có gì ngạc nhiên vì trên thực tế, trường phái luật công ty Đức và Hoa Kỳ vẫn được coi là điển hình và là nguồn cung cấp cho các cuộc cải cách luật công ty của nhiều nước trên thế giới. Có nhiều lý do để lý giải cho việc tiếp nhận này, mà chủ yếu là từ nhóm các nhà soạn thảo và chuyên gia tư vấn cho việc soạn thảo các đạo luật này với mục tiêu thúc đẩy tự do kinh doanh, đổi mới hơn nữa và hội nhập. Trong số các chuyên gia tư vấn nước ngoài, đáng chú ý là các chuyên gia đến từ Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật Đức (GTZ), dự án STAR của Hoa Kỳ, UNDP và MPDF.

3. Trong Luật DN năm 1999 và đặc biệt là Luật DN năm 2005, những tư tưởng về tự do kinh doanh của phương Tây đã được tiếp nhận mạnh mẽ. Nó được thể hiện qua các quy định thông thoáng về quyền và thủ tục thành lập, góp vốn vào doanh nghiệp; ngành, nghề kinh doanh; quản trị công ty; quyền tự định đoạt, quyền của công ty và thành viên. Song, nguyên tắc tự do kinh doanh và những quy định thông thoáng này bị hạn chế trong thực tế bởi không ít trở lực hành chính, bởi “giấy phép con”, bởi thái độ quan liêu, cửa quyền của không ít cán bộ công chức có liên quan. Chúng ta không tìm thấy ở các nước phát triển mà chúng ta đã tiếp nhận pháp luật cho việc làm luật doanh nghiệp, những hình thức “giấy phép con” như ở Việt Nam.

Quyền tự do kinh doanh cần được bảo đảm trên nền tảng của một nền hành chính mang tính phục vụ chứ không phải là sự ban phát của cơ chế xin – cho. Đâu đó đã có xuất hiện vài việc gian dối trong việc thành lập và quản trị công ty. Song, không vì thế mà quyền tự do kinh doanh của tuyệt đại đa số bị ảnh hưởng xấu bởi phản ứng tiêu cực của nền hành chính quan liêu, chưa theo kịp đòi hỏi của công cuộc đổi mới. Cuộc đấu tranh giữa việc bỏ hay không bỏ các hình thức đa dạng, biến tướng của “giấy phép con” là một ví dụ điển hình. Sự tiếp nhận pháp luật có thành công hay không, theo giáo sư Kanda and Milhaupt, có quan hệ mật thiết với động cơ và hành động mang tính tích cực của các chủ thể pháp luật của quốc gia tiếp nhận[15]. Hiệu quả của việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài phụ thuộc vào động cơ của sự tiếp nhận và thái độ của các chủ thể như các nhà lập pháp, cơ quan nhà nước, bộ máy tư pháp và các tổ chức, cá nhân trong việc thực thi pháp luật.

4. Những quy định về quản trị công ty trong Luật DN 1999 và 2005 cũng chịu ảnh hưởng nhiều của luật công ty Anh – Mỹ. Các nghĩa vụ của người quản lý công ty theo luật công ty Anh – Mỹ đã được tiếp thu rất nhiều trong Luật DN năm 2005 qua các nghĩa vụ về trung thành (loyalty), trung thực (good faith), cẩn trọng (care và diligence), không tư lợi (personal interests)[16]. Tuy nhiên, trung thành, trung thực, cẩn trọng, mẫn cán… chỉ là những khái niệm định tính chứ không định lượng. Thật khó có thể giải thích các nghĩa vụ pháp lý này trong luật thành văn. Trong luật công ty Anh, Mỹ hay úc, các nghĩa vụ này có thể được giải thích bởi các án lệ và hơn nữa là sự phán xét của tòa án trong các trường hợp cụ thể. Còn với Việt Nam, khi mà án lệ chưa được thừa nhận và quyền hạn của thẩm phán bị giới hạn bởi các văn bản quy phạm pháp luật, thì những khái niệm trừu tượng như thế sẽ gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

5. Các quy định về pháp nhân, về xuyên qua chế độ trách nhiệm hữu hạn (piecing the corporate veil) hay vén rèm công ty (lifting the corporate veil) đã được tiếp thu nhiều từ luật công ty Anh – Mỹ. Nhưng, không phải chúng đều đã được hiểu và tiếp nhận đúng vào Việt Nam. Chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty, được tạo lập bởi cái vỏ bọc pháp nhân, có thể bị các thành viên hay người điều hành công ty lạm dụng để chiếm đoạt tài sản của chủ nợ. Vì thế, trong luật công ty Anh, Mỹ, úc, học thuyết về xuyên qua chế độ trách nhiệm hữu hạn (piecing the corporate veil) hay vén rèm công ty (lifting the corporate veil) đã xuất hiện để xử lý những kẻ lạm dụng vỏ bọc pháp nhân để thu lợi bất chính[17]. Còn piecing the corporate veil là khái niệm khá mới mẻ đối với chúng ta. Trong vốn từ vựng tiếng Việt, chưa tìm thấy một thuật ngữ tương đồng. Một số người gọi đó là phá hạn. Tuy nhiên, nói như vậy vẫn chưa phản ánh hết bản chất của vấn đề. Khác với Luật Công ty năm 1990, cả hai luật DN đã thể hiện tư tưởng của học thuyết này trong nhiều điều luật. Piecing the corporate veil hay lifting the corporate veil khác hoàn toàn với doctrine of untra vires (beyond powers) là học thuyết pháp lý để chỉ sự vượt quá quyền hạn. Thật tiếc là cho đến gần đây, có nhà nghiên cứu Việt Nam, vẫn hiểu nhầm ultra vires là phá hạn (piecing corporate veil)[18], tức là nhầm lẫn giữa sự vượt thẩm quyền và xuyên qua chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty trong luật công ty Anh – Mỹ.

Những quy định về công ty hợp danh trong cả Luật DN năm 1999 và Luật DN năm 2005 đã được xây dựng trên cơ sở vay mượn, nhưng còn thiếu tính hợp lý về tư cách pháp lý của công ty và thành viên. ở hầu hết các nước, hợp danh (partnership) không được coi là một loại hình công ty (company hay corporation), mà nó được xem như một dạng hợp đồng đặc biệt. Nó không có tư cách pháp nhân, không phải là chủ thể có thể đi kiện và bị kiện. ở Mỹ, sau nhiều năm tranh cãi, cho đến cuối những năm 1990, một số tiểu bang đã ban hành luật ghi nhận hợp danh cũng là pháp nhân (separate legal entity)[19]. Song, vấn đề này vẫn chưa thuyết phục được chính các giáo sư luật, luật sư và quan tòa ở Mỹ. Luật DN gọi hợp danh là “công ty hợp danh” và Luật DN năm 2005 đã công nhận nó có tư cách pháp nhân theo như mô hình của một số bang ở Mỹ. Nhưng, trong khi Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định rằng, thành viên của pháp nhân chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn, thì việc tiếp nhận quan niệm về hợp danh là pháp nhân theo luật Mỹ và buộc thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn trong Luật DN năm 2005 có lẽ là một việc làm thiếu khôn ngoan, tạo ra “độ vênh” giữa luật dân sự và luật về tổ chức kinh doanh[20]. Trong luật của một số nước theo hệ thống thông luật, có pháp nhân mà các thành viên là chủ sở hữu của nó vẫn phải chịu trách nhiệm vô hạn. Chẳng hạn, công ty trách nhiệm vô hạn theo luật công ty úc là pháp nhân, nhưng trách nhiệm của thành viên là vô hạn[21]. Sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài chỉ thực sự có hiệu quả nếu nó được hiểu đúng và vận dụng nó một cách tỉnh táo, thích hợp.

IV. Một vài kết luận

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa hẹp của sự tiếp nhận là thông qua quá trình lập pháp, các quy tắc, học thuyết pháp lý nước ngoài được tiếp nhận và đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam. Thứ hai, hiểu theo nghĩa rộng, đó chính là sự tiếp nhận, truyền bá pháp luật và các học thuyết, tư tưởng pháp lý nước ngoài vào Việt Nam. Việc truyền bá, tiếp nhận này có thể thông qua việc: (i) pháp luật của nước đó được dịch và nghiên cứu tại Việt Nam, (ii) đào tạo pháp luật, (iii) trao đổi thảo luận, (iv) công việc làm ăn, kinh doanh, (v) sự đóng góp ý kiến trực tiếp của các chuyên gia nước ngoài.

Tiếp nhận pháp luật nước ngoài là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong quá trình chuyển đổi, hội nhập hiện nay của Việt Nam là cần thiết, nó vừa mang tính thực tiễn và kinh tế[22]. Là một quốc gia chuyển đổi, việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng là một cách thức chuẩn bị, là điều kiện tốt cho hội nhập, làm giảm dần những khác biệt giữa pháp luật nước ta với các mô hình pháp luật điển hình trên thế giới. Càng có nhiều tương đồng trong các thiết chế pháp lý, việc đàm phán và thực hiện các cam kết quốc tế của nước ta sẽ dễ dàng hơn. Pháp luật nước ngoài nên được xem như một nguồn quan trọng cho cải cách pháp luật ở Việt Nam.

Tuy nhiên, một quy tắc pháp luật của nước A khi được tiếp nhận vào nước B không có nghĩa là ở nước B nó có thể phát huy tác dụng như nó từng có ở nước A. Bởi lẽ, hiệu quả điều chỉnh của một quy tắc pháp lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố, các điều kiện và cơ chế nhất định. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng, cứ sao chép các đạo luật đã thành công của nước khác sẽ giúp tạo nên hiệu quả điều chỉnh pháp luật của quốc gia tiếp nhận. Không phải quốc gia nào, hay lĩnh vực pháp luật nào cũng thể vay mượn pháp luật nước ngoài thành công.

Để tiếp nhận pháp luật nước ngoài thành công, quốc gia tiếp nhận cần phải cân nhắc mối quan hệ giữa các quy tắc pháp lý nước ngoài dự định tiếp nhận với các nền tảng chính trị, xã hội, điều kiện cụ thể của nước mình; đặc biệt là các điểm tương đồng và khác biệt giữa cấu trúc chính trị – xã hội của nước tiếp nhận và quốc gia sẽ được tiếp nhận. Sự tiếp nhận thiếu tính cân nhắc sẽ không mang lại kết quả như mong muốn và làm rối rắm thêm cho hệ thống pháp luật nước nhà. Hiệu quả của sự tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng phụ thuộc vào thái độ của các chủ thể pháp luật liên quan. Các quy tắc và học thuyết pháp lý nước ngoài được tiếp nhận sẽ chẳng mang đến kết quả tốt đẹp, nếu nó không được hiểu và thực hiện đúng đắn trong thực tiễn.

[1] Các nghiên cứu đáng chú ý về vấn đề này, có thể xem thêm: Đào Trí úc và Lê Minh Thông, Sự tiếp nhận các giá trị pháp lý phương Đông và phương Tây đối với sự phát triển các tư tưởng pháp lý Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 5/1999, tr. 3-16; Phạm Duy Nghĩa, Tiếp nhận pháp luật nước ngoài-Thời cơ và thách thức mới cho nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2002, tr. 50-57.

[2] Xem Loukas A. Mistelis, “Regulatory Aspects: Globalization, Harmonization, Legal Transpants, and Law Reform – Some Fundamental Observations”, International Lawyer, v 34(3), 2000, tr. 1067; Eric Stein, “Uses, Misuses and Non-uses of Comparative Law”, Northwestern University Law Review, 72, 1997, tr. 198.

[3] Xem Alan Watson, Legal Transplants and Legal Reform, 1991, tr. 293; Otto Kahn-Freund, Selected Writings, 1978, tr. 299-301.

[4] Giáo sư Watson (người Mỹ) là một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu về vay mượn pháp luật, từng công bố nhiều nghiên cứu nổi tiếng và có ảnh hưởng đến khoa học pháp lý về tiếp nhận pháp luật nước ngoài. Các tác phẩm nổi tiếng của ông được nhiều nhà nghiên cứu trích dẫn, đó là: Legal Transplants: An Approach to Comparative Law (1974), Society and Legal Change (1977), Legal Origins and Legal Change (1991); Còn nghiên cứu nổi tiếng của Giáo sư Otto Kahn-Freund trong lĩnh vực này là: On use and misuse of comparative Law; The modern law review, 1974 và Selected Writings, 1978.

[5] Xem Pierre Legrand, “The Imposibility of “Legal Transplants”, Maastricht Journal of European and Comparative Law 4, 1997.

[6] Xem Otto Kahn-Freud, “On use and misuse of Comparative Law”, Modern Law Review 37, 1994, tr. 27.

[7] Xem Jan Smits, “A European Privat Law as a Mixed Legal System: Toward a lus Commune through the Free Movement of Legal Rules”, Maastricht Journal of European and Comparative Law 5, 1998, tr. 334; Alan Watston, Society and Legal change, Nxb. Scottish academic, Enghland, 1997, tr. 98-111.

[8] Về vấn đề này, có thể xem thêm: Katharina Pistor & Philip A. Wellons, “The Role of Law and Legal Institutions in Asian Economic Development”, Nxb. Oxford University Press, tại Hongkong, 1999.

[9] Xem Đào Trí úc và Lê Minh Thông: sđd, tr. 3.

[10] Xem Đào Trí úc và Lê Minh Thông: sđd, tr. 3.

[11] Xem H. Pamela, R. Ian & S. Geof. Commercial Applications of Company Law, 5th ed, Nxb. CCH Australia Limited, Sydney, 2004, tr. 12-17.

[12] Về vấn đề này, xem thêm Bui Xuan Hai & Gordon Walker, Transitional Adjustment Problems in Contemporary Vietnamese Company Law, Journal of International Banking Law and Regulation 20(11), 2005, tr. 567-568.

[13] Xem John Gillespie, Transplanted Company Law: An Ideological and Cultural Analysis of Market-Entry in Việt Nam (2002) 51 International and Comparative Law Quarterly, tr. 647.

[14] Về cách nhìn của các nhà nghiên cứu nước ngoài đối với vấn đề này, xem John Gillespie, “Importing Law Reform: Vietnamese Company Law as a Case Study” trong “International Corporate Law Annual”, Vol. 2, do Fiona Macmillan chủ biên, 2005, tr. 187-228.

[15] Xem Kanda và Milhaupt, sđd, tr.9-10.

[16] Ví dụ, xem các điều 56, 72, 119 và 126 của Luật Doanh nghiệp năm 2005.

[17] Xem H. Pamela, R. Ian & S.Geof, sđd, tr. 55-59.

[18] Xem Nguyễn Như Phát, Góp ý Dự thảo Luật Doanh nghiệp thống nhất, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, 6/2005, tr. 26

[19] Về vấn đề này, xem phân tích của giáo sư Stephen M. Bainbridge trong “Corporation Law and Economics”, Nxb. Foundation Press, 2002, tr 7-8; và xem thêm The Uniform Partnership Act (UPA) 1997.

[20] Xem thêm và so sánh Điều 130, 135 của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Điều 84, 93 của Bộ luật Dân sự năm 2005.

[21] Xem Điều 9, The Corporations Act 2001 (Cth) của Australia.

[22] Về vấn đề này, có thể xem thêm quan điểm của giáo sư Hideki Kanda và Curtis J. Mihaupt, trong “Re-examining Legal Transplants: the Director’s Fiduciary Duty in Japanese Corporate Law”, Trung tâm nghiên cứu Luật và kinh tế, Law Scholl, Đại học Columbia, Mỹ, 2003, tr. 7
SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC TRONG BÁN ĐẤU GIÁ CÁC KHOẢN NỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

TH-VP

Ngày 21/12/2006, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quy chế mua, bán nợ của các tổ chức tín dụng kèm theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN thay thế Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19/4/1999. Theo đó, việc mua, bán nợ được thực hiện theo một trong hai phương thức sau và do các bên tham gia lựa chọn: (1) Mua, bán nợ thông qua đấu giá các khoản nợ thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. (2) Mua, bán nợ thông qua đàm phán trực tiếp giữa bên bán nợ và bên mua nợ hoặc thông qua môi giới.

Quyết định 59 đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các tổ chức tín dụng trong hoạt động mua bán nợ nhằm mở rộng khả năng cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, tăng cường khả năng chuyển dịch cơ cấu đầu tư, góp phần quản lý rủi ro tín dụng, củng cố tính thanh khoản và chất lượng các khoản đầu tư của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, sau một thời gian triển khai thực hiện Quyết định 59, hiện các tổ chức tín dụng đang gặp khó khăn, vướng mắc trong việc bán đấu giá các khoản nợ, đó là Nghị định số 05/2005/NĐ-CP ngày 18/1/2005 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản đã có hiệu lực hơn hai năm, nhưng đến nay vẫn chưa có thông tư hướng dẫn, cụ thể:

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 34 Nghị định số 05/2005/NĐ-CP thì người bán đấu giá gồm: “Doanh nghiệp bán đấu giá tài sản; Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản; Hội đồng bán đấu giá tài sản”.

Thời gian qua, để bán đấu giá các khoản nợ cho vay của mình, một số tổ chức tín dụng đã liên hệ với Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thì được Trung tâm cho biết là hiện nay Trung tâm chưa được hướng dẫn cụ thể về nghiệp vụ đấu giá nợ. Do vậy, việc mua bán nợ của tổ chức tín dụng thông qua đấu giá chưa thể thực hiện được.

Thứ hai, đối với trường hợp đấu giá thông qua Hội đồng bán đấu giá tài sản, tại Điều 37 Nghị định số 05 quy định: (i) Hội đồng đấu giá tài sản do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập để tổ chức bán đấu giá tài sản của nhà nước có giá trị dưới 10 triệu đồng; (ii) Trong trường hợp tài sản là cổ vật, tài sản có giá trị văn hoá, tài sản có giá trị đặc biệt lớn phải được bán đấu giá thông qua Hội đồng bán đấu giá tài sản hoặc tổ chức bán đấu giá nước ngoài thì việc thành lập Hội đồng bán đấu giá tài sản hoặc thuê tổ chức đấu giá nước ngoài được thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Do đặc điểm hoạt động của các tổ chức tín dụng, đa số các khoản nợ cho vay của tổ chức tín dụng là khá lớn cả về số lượng cũng như về giá trị. Hơn nữa, mua, bán nợ là một nghiệp vụ diễn ra thường xuyên tại tổ chức tín dụng nhằm cơ cấu lại nợ, lành mạnh hoá bảng cân đối tài chính đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại nhà nước chuẩn bị cổ phần hoá. Nếu theo quy định nêu trên, mỗi lần bán đấu giá các khoản nợ có giá trị lớn đều phải có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì tính khả thi sẽ không cao vì sẽ có nhiều phiền hà về thủ tục, gây chậm trễ trong quá trình mua, bán nợ, làm mất cơ hội của tổ chức tín dụng trong việc thay đổi cơ cấu đầu tư, kinh doanh.

Kiến nghị: Để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng trong việc bán đấu giá các khoản nợ, thay đổi cơ cấu đầu tư, Chính phủ cần chỉ đạo Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 05 về bán đấu giá tài sản. Từ đó, các tổ chức tín dụng có thể sớm thực hiện việc bán đấu giá các khoản nợ qua Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.

Một điều cần lưu ý, trong quá trình xây dựng Thông tư hướng dẫn Nghị định 05, Bộ Tư pháp cần xem xét đến tính đặc thù của các khoản nợ cho vay của tổ chức tín dụng để có quy định phù hợp, tạo điều kiện cho hoạt động bán đấu giá các khoản nợ của tổ chức tín dụng được thông suốt, hoạt động mua bán nợ của các tổ chức tín dụng được phát triển.

SOURCE: http://www.sbv.gov.vn

NHIỀU THOẢ THUẬN LÃI SUẤT CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG SẼ VÔ HIỆU?

ĐOÀN THÁI SƠN – Vụ Pháp chế (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam)

Ngày 14/06/2005 Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Bộ luật Dân sự. Bộ luật Dân sự năm 2005 này (BLDS 2005) đã chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2006. BLDS 2005 có vai trò quan trọng và là cơ sở pháp lý nền tảng cho quan hệ tài sản, nhân thân của các chủ thể trong xã hội. Các quy định của BLDS 2005 cũng có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một vấn đề bất cập nảy sinh trong hoạt động kinh doanh của các TCTD khi áp dụng các quy định về lãi suất cho vay của BLDS 2005.

Từ quy định mới của Bộ luật Dân sự 2005 về phạm vi điều chỉnh và khống chế lãi suất cho vay tối đa…

Một trong những điểm mới quan trọng của Bộ luật Dân sự năm 2005 là mở rộng phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự từ việc chỉ điều chỉnh “địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân trong giao lưu dân sự” (trong Bộ luật Dân sự 1995) sang điều chỉnh “quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (trong Bộ luật Dân sự 2005). Như vậy, từ ngày 01/01/2006, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hợp đồng tín dụng, hợp đồng kinh doanh khác của các tổ chức tín dụng cũng chịu sự điều chỉnh điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2005.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 476 BLDS 2005, lãi suất vay trong các hợp đồng vay tài sản, bao gồm cả các hợp đồng tín dụng do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố đối với loại cho vay tương ứng. Nói cách khác, thỏa thuận về lãi suất cho vay cao hơn 150% lãi suất cơ bản do NHNN là trái pháp luật.

Theo quy định hiện hành, NHNN công bố lãi suất cơ bản theo định kỳ hàng tháng, do đó, mức trần lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng cũng thay đổi tương ứng theo từng tháng. Trong các tháng gần đây – từ tháng 1 đến tháng 9 năm 2006, Ngân hàng Nhà nước đều công bố mức lãi suất cơ bản là 8,25%/năm. Như vậy, mức lãi suất vay trong các hợp đồng tín dụng cũng sẽ không được phép vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản trên tức khoảng 12,375% / năm.

…đến một số rủi ro cho hoạt động cho vay của các TCTD và kiến nghị

Trên thực tế, với tư cách là trung gian tài chính nhận tiền gửi từ công chúng và sử dụng tiền gửi này để cấp tín dụng, mức lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi, chi phí huy động vốn, chi phí cho vay, thời hạn vay, uy tín của khách hàng, mức độ rủi ro của từng khoản vay… và chịu sự tác động của hoạt động cạnh tranh trên thị trường tín dụng ngân hàng. Thực tiễn hoạt động cho vay của các TCTD cho thấy TCTD thường xác định mức lãi suất cho vay khác nhau đối với từng loại khách hàng khác nhau. Do vậy, việc khống chế mức lãi suất trần cho vay đối với hoạt động cho vay của TCTD là không cần thiết. Đây cũng chính là một lý do để Ngân hàng Nhà nước thay đổi chính sách lãi suất từ việc có khống chế mức lãi suất cho vay tối đa sang tự do hoá lãi suất – cho phép TCTD và khách hàng tự thoả thuận lãi suất trên cơ sở cung cầu của thị trường từ 01/06/2002. Ngoài ra, các quy định của Bộ luật Dân sự về lãi suất không khả thi trên thực tế vì theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, hàng tháng NHNN chỉ công bố một mức lãi suất cơ bản duy nhất. Do vậy, các quy định về mức lãi suất cơ bản của loại cho vay tương ứng tại điều 476 BLDS 2005 là không thể thực hiện trên thực tế.

Tóm lại, với quy định khống chế mức lãi suất cho vay tối đa tại Điều 476 BLDS 2005, thoả thuận về mức lãi suất cho vay trong các Hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng có mức lãi suất từ hơn 12,375%/năm (quá 150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố) hiện nay sẽ là vi phạm quy định tại Điều 467 BLDS 2005. Hậu quả là các TCTD có thể không thu được tiền lãi từ các hợp đồng tín dụng đúng như thỏa thuận, nếu khách hàng yêu cầu Toà án tuyên vô hiệu thoả thuận do vi phạm điều cấm của pháp luật.

Để giải quyết bất cập này, về lâu dài, việc sửa đổi Điều 476 BLDS 2005 theo hướng không áp dụng quy định này đối với hoạt động cấp tin dụng của các TCTD là rất cần thiết. Tuy nhiên, trong thời gian trước mắt khi BLDS chưa được sửa đổi, để đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay của các TCTD, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc thay đổi cơ chế xác định mức lãi suất cơ bản theo hướng đưa mức lãi suất này gần hơn với mức lãi suất cho vay bình quân trên thị trường tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, cũng có điểm cần chú ý là việc thay đổi cơ chế xác định mức lãi suất cơ bản có thể có tác động dây chuyền đến việc xác định các mức lãi suất kinh doanh của các TCTD do việc tăng mức lãi suất cơ bản của NHNN là tín hiệu tăng lãi suất đối với các TCTD./.

SOURCE: http://www.sbv.gov.vn

VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

THS. TRIỆU QUANG KHÁNH – Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng

Án lệ là một hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và được hình thành thông qua các quyết định của toà án. Theo nghĩa hẹp, thì đó là một cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc sẽ xảy ra trong tương lai. Cho đến nay, vai trò của án lệ chưa thực sự được thừa nhận trong môi trường văn hóa pháp lý nước ta.

Khi đọc bài  “Tư duy án lệ góp phần hoàn thiện pháp luật” của ThS. Nguyễn Văn Nam, trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9 (58) tháng 9/2005, chúng tôi thấy cần đưa thêm một số minh chứng ủng hộ quan điểm: “… nên để án lệ được hiện diện trong hệ thống pháp luật nước ta với tư cách là nguồn luật có giá trị tham khảo”.

Trong lịch sử lập pháp của thế giới, án lệ là nguồn chủ yếu và quan trọng của hệ thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ, Australia…) nhưng lại chỉ được coi là nguồn thứ yếu trong hệ thống pháp luật dân sự (Pháp, Đức, ý…). Mặc dù về mặt lý luận, luật thành văn và các bộ luật vẫn giữ vai trò là nguồn chính trong hệ thống pháp luật dân sự, nhưng án lệ cũng có vai trò và tầm quan trọng riêng ở các nước theo truyền thống luật dân sự.

Ở nước ta, từ trước đến nay, án lệ chưa được thừa nhận một cách chính thức là một nguồn trong hệ thống pháp luật nước ta, nhưng án lệ (hay còn được gọi là tiền lệ án) đang dần được công nhận như là một nguồn của pháp luật Việt Nam. Biểu hiện cụ thể cho việc này chính là việc sử dụng những quy định hướng dẫn xét xử trong nhiều công văn, thông tư của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đối với các toà án cấp dưới trong quá trình xét xử mà những hướng dẫn này là kết quả thu được từ kinh nghiệm xét xử được TANDTC nghiên cứu và hệ thống hoá thành các quy định để hướng dẫn toà án cấp dưới trong công tác xét xử. Một biểu hiện gần đây nhất chính là việc TANDTC đã xuất bản hai tập quyết định giám đốc thẩm bao gồm các quyết định dân sự và hình sự. Đây chính là những lý do khiến chúng tôi tìm đến những minh chứng cho thấy vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự thế giới và những lý do cần coi án lệ như là một nguồn của pháp luật.

Continue reading

TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU – TỪ CÁCH ĐỊNH NGHĨA ĐẾN TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ CÓ THỂ PHÁT SINH

LÊ TÙNG

Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) đã đi vào đời sống xã hội được tròn một năm (từ 1 tháng 7 năm 2006). Giới doanh nghiệp trong và ngoài nước đều rất quan tâm đến các quy định bảo hộ của luật này, đặc biệt là các quy định có liên quan đến các hoạt động thương mại. Qua thực tiễn thực hiện các quy định của luật, chúng tôi xin đưa ra một số suy nghĩ về hình thức và các tiêu chí bảo hộ đối với tên thương mại và nhãn hiệu trong Luật SHTT.

Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) đã đi vào đời sống xã hội được tròn một năm (từ 1 tháng 7 năm 2006). Giới doanh nghiệp trong và ngoài nước đều rất quan tâm đến các quy định bảo hộ của luật này, đặc biệt là các quy định có liên quan đến các hoạt động thương mại. Qua thực tiễn thực hiện các quy định của luật, chúng tôi xin đưa ra một số suy nghĩ về hình thức và các tiêu chí bảo hộ đối với tên thương mại và nhãn hiệu trong Luật SHTT.

Sự khác biệt, trùng lặp và phụ thuộc lẫn nhau

Trước hết, hãy xem qua định nghĩa về nhãn hiệu và tên thương mại trong Luật SHTT. Theo đó, tên thương mại là “tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”. Còn nhãn hiệu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. ở đây, có thể thấy ngay sự khác biệt cũng như sự trùng nhau giữa tên thương mại nhãn hiệu. Cụ thể, tên thương mại là tên gọi còn nhãn hiệu là dấu hiệu. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân biệt này hoàn toàn chỉ có tính tương đối. Trong trường hợp này thì tên thương mại thường được tiếp nhận là tên đầy đủ của công ty như ghi trong Giấy đăng ký kinh doanh, còn nhãn hiệu là tên của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó do doanh nghiệp đưa ra thị trường. Đó là sự khác biệt. Trong trường hợp khác thì tên thương mại và nhãn hiệu có thể là một, do doanh nghiệp dùng tên gọi của mình làm dấu hiệu chính để phân biệt hàng hoá, dịch vụ với chủ thể khác. Vậy lúc này, tên thương mại có còn được hiểu là tên doanh nghiệp như trong Giấy đăng ký kinh doanh không? Điều này chưa được làm rõ trong các nghị định hướng dẫn thi hành và có thể, nó sẽ là nội dung tranh chấp trong thực tiễn. Trên thực tế, tên gọi của một doanh nghiệp thường được người tiêu dùng tiếp nhận một cách ngắn gọn, ví dụ “Đồng Tâm”, “Trung Nguyên”… mà ít ai biết được tên gọi đầy đủ của doanh nghiệp đó và đây chính là điểm sẽ gây tranh cãi trong tương lai, vì liệu các cơ quan chức năng có cách hiểu giống như vậy không? Đây là sự trùng nhau giữa tên thương mại và nhãn hiệu. Do vậy, các quy định của luật pháp cần phải tính đến một thực tế trong thương mại về cách hiểu và tiếp nhận của người tiêu dùng đối với tên gọi của tổ chức dùng trong kinh doanh.

Một sự khác biệt nữa là bản thân tên thương mại có thể tự động được bảo hộ (nếu đáp ứng các tiêu chí đã được quy định) mà không cần làm thủ tục đăng ký (khoản 3 Điều 6 Nghị định 103/2006) còn nhãn hiệu thì bắt buộc phải trải qua thủ tục nộp đơn đăng ký (trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng) và thẩm định. Phạm vi bảo hộ của tên thương mại, xét theo từng khía cạnh là có thể hẹp hơn phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu (trên toàn lãnh thổ Việt Nam) nhưng trong một số trường hợp sẽ là tương đương như nhãn hiệu. Cụ thể, tên thương mại sẽ chỉ được bảo hộ trong một khu vực kinh doanh và định nghĩa về khu vực kinh doanh đã được xác định là “khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng”. Việc xác định khu vực kinh doanh hạn chế hay rộng lớn sẽ là vấn đề tranh chấp trong tương lai và chính là vấn đề pháp lý sẽ phát sinh.

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tên thương mại và nhãn hiệu có thể thấy qua tiêu chí quy định về khả năng phân biệt của tên thương mại và nhãn hiệu. Tên thương mại và nhãn hiệu muốn được bảo hộ thì phải có khả năng phân biệt. Theo điều 74, khoản 2 (k) Luật SHTT thì nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu có “dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ”. Ngược lại, theo khoản 3 Điều 78 Luật SHTT thì tên thương mại chỉ được coi là có khả năng phân biệt nếu “không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác”. Chính sự phụ thuộc lẫn nhau này cũng sẽ là vấn đề pháp lý phát sinh trong tương lai và là điều mà các doanh nghiệp cần lường trước trong hoạt động thương mại.

Một số tình huống pháp lý

Qua thực trạng đăng ký kinh doanh tại Sở kế hoạch – Đầu tư các địa phương trong thời gian qua, có thể thấy một số vấn đề pháp lý đang nảy sinh như sau:

Xác định thế nào là tên thương mại của doanh nghiệp – một việc tưởng dễ mà hoá khó. Việc các doanh nghiệp có tên gọi trùng nhau trong giấy đăng ký kinh doanh (cả về tên riêng, các bổ ngữ và loại hình sản xuất, kinh doanh) trên cùng một tỉnh, thành phố thì không xảy ra, nhưng lại có thể xảy ra trên các tỉnh thành khác nhau do chúng ta không có một cơ quan chung chuyên cấp giấy đăng ký kinh doanh và vì vậy, không thể có một cơ sở dữ liệu chung duy nhất. Tuy nhiên, việc có các doanh nghiệp chỉ khác nhau về tên gọi loại hình sản xuất, kinh doanh và các bổ ngữ (ví dụ: kinh doanh thực phẩm, chế biến nông sản, v.v.) còn trùng nhau về tên riêng là điều đã xảy ra trên cùng một địa bàn. Giải quyết các tranh chấp này là rất khó vì thiếu quy định rõ ràng. Nếu như các doanh nghiệp có các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì dễ phân xử, nhưng trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay thì điều gì sẽ xảy ra nếu:

– các doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề;

– các tập đoàn lớn, đa ngành nghề có thể lấy cớ là uy tín của mình để có thể đè bẹp các doanh nghiệp nhỏ khác (không may trùng tên) tại các địa bàn khác;

và những tình huống khác cần chú ý:

– quy định nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu “trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác” sẽ gây khó khăn cho việc bảo hộ nhãn hiệu vì như đã biết, tên thương mại có phạm vi bảo hộ theo khu vực kinh doanh (hẹp hơn nhiều so với phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu). Vậy thì cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào đâu để xác định khu vực kinh doanh của tên thương mại? Quy định này có thể được các bên sử dụng để làm phát sinh các tranh chấp trong tương lai. Chẳng hạn, có thể dùng để yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực của nhãn hiệu đang được bảo hộ. Việc này nếu xảy ra thì thực sự sẽ gây sự quá tải cho các cơ quan chức năng và nếu quá tải thì việc giải quyết tranh chấp sẽ bị đình trệ và từ đó, dẫn đến thực thi pháp luật không hiệu quả.

– giả sử tên thương mại chỉ có danh tiếng trong một khu vực địa lý nhất định thì liệu một nhãn hiệu đang được bảo hộ có bị đình chỉ hiệu lực tương ứng với khu vực đó không? Chưa có quy định nào nói về vấn đề này.

– xác định đâu là tên thương mại để làm cơ sở cho việc huỷ bỏ hiệu lực của một nhãn hiệu đang được bảo hộ còn là vấn đề hết sức mơ hồ. Như đã nói ở trên, thực trạng tên doanh nghiệp trong giấy đăng ký kinh doanh có thể chỉ khác nhau về loại hình sản xuất, kinh doanh, các bổ ngữ, còn vẫn trùng nhau về tên riêng

– thực tế thẩm định các đơn nhãn hiệu tại cơ quan chức năng cũng chưa thể áp dụng quy định liên quan đến tên thương mại vì rõ ràng là thiếu quá nhiều điều kiện (không có cơ sở dữ liệu chung, không có cơ sở pháp lý để xác định tên thương mại, khu vực kinh doanh, danh tiếng v.v..). Việc áp dụng (nếu có thể) sẽ kéo dài thời gian thẩm định lên rất nhiều (đi ngược với tiêu chí rút gọn thời gian xử lý). Tuy nhiên, sự phụ thuộc giữa nhãn hiệu và tên thương mại như đã nói ở trên vẫn sẽ được áp dụng (do đã quy định trong Luật SHTT) và đây là quy định mà các doanh nghiệp cần tính đến và vận dụng sao cho linh hoạt trong các tranh chấp thương mại (kể cả với các doanh nghiệp nước ngoài).

*

Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy ngay là loại hình bảo hộ nào cũng sẽ có những bất cập đặc thù. Vấn đề là doanh nghiệp phải nắm vững và vận dụng linh hoạt những quy định của “cuộc chơi sở hữu công nghiệp” để được đảm bảo vững chắc, ổn định quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG “HÌNH SỰ HÓA” CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ PHI “HÌNH SỰ HÓA”

TRẦN MINH CHẤT –  Phó Chủ nhiệm Khoa nghiệp vụ Cảnh sát kinh tế, Học viện Cảnh sát nhân dân

Nghiên cứu để khắc phục tình trạng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới, mà quan trọng hơn, là nhằm đảm bảo để pháp luật và để công việc thực thi pháp luật thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh; giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và các doanh nghiệp, những người tham gia kinh doanh có quan hệ thân thiện, gần gũi trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của Quốc hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế.

Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1999 thì “ hình sự hoá” là quá trình đưa một quan hệ xã hội từ chỗ chưa được điều chỉnh bằng luật hình sự trở thành đối tượng được điều chỉnh bằng luật hình sự (tội phạm).

“Phi hình sự hoá” là việc đưa một hành vi đang bị điều chỉnh bằng pháp luật hình sự trở thành một quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các qui phạm pháp luật và xã hội khác.

Khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống pháp luật cho thấy, từ khi xuất hiện nhà nước, hình thành pháp luật thì hành vi “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” luôn luôn được các giai cấp thống trị xã hội quan tâm. Trong quá trình quản lý xã hội của mình, giai cấp thống trị thông qua nhà nước để lựa chọn những quan hệ xã hội gần gũi nhất với quyền và lợi ích của mình (kể cả tích cực và tiêu cực) rồi đưa vào bên trong các quan hệ xã hội đó ý chí mang tính cưỡng chế của mình hoặc đưa quan hệ xã hội ra khỏi sự điều chỉnh bằng hình luật. Quá trình đó chính là quá trình hình sự hoá và phi hình sự hoá.

Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã được bàn đến trong khá nhiều các cuộc hội thảo khoa học trước đây. Nhìn chung, các nhà khoa học pháp lý đều thống nhất nhận định, những hiện tượng tiêu cực trên đã và đang tồn tại trong đời sống pháp lý của nước ta. Nó không chỉ là mối quan ngại riêng của các doanh nghiệp, của những người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, mà nó còn đặt ra cho các nhà nghiên cứu, những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực bảo vệ pháp luật nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ bản chất, nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển và tồn tại của hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá”, từ đó tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm loại bỏ các hiện tượng tiêu cực trên.

Bất cập trong giải quyết các tranh chấp kinh tế

Thực tiễn chỉ ra rằng, trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khâu từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường vì mục đích sinh lợi. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột lợi ích kinh tế giữa các chủ thể.

Giải quyết các tranh chấp đó là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để ngăn chặn, khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh để bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.

Các hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế theo pháp luật Việt Nam là: thương lượng; hoà giải; giải quyết bằng trọng tài; giải quyết bằng toà án.

Bản chất của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế chính là một hiện tượng tiêu cực phản ánh tính khốc liệt của cuộc đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường.

Trong thời gian qua, do rất nhiều nguyên nhân khác nhau mà các cơ quan điều tra, truy tố đã có sự “nhầm lẫn” giữa các tranh chấp kinh tế với hành vi phạm tội, dẫn đến oan sai trong hoạt động tố tụng. Sự oan sai này phản ánh thực trạng của:

– Tình trạng áp dụng sai pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế và xử lý các hành vi phạm tội về kinh tế của các cơ quan tư pháp.

– Phản ánh những hạn chế của quá trình xây dựng pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở Việt Nam.

– Phản ánh những hiện tượng tiêu cực cụ thể trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế và điều tra các vụ án kinh tế.

– Phản ánh những sai lầm, những vi phạm của chính bản thân những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.

Nguyên nhân:

– Nguyên nhân của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế, trước hết xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong hệ thống pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở nước ta.

– Do những sai lầm, vi phạm của các cơ quan và cá nhân tiến hành các hoạt động tố tụng trong tổ chức điều tra các vụ án kinh tế cũng như từ những sai lầm, vi phạm của những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.

– Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế còn có nguyên nhân từ các hoạt động của các cơ quan có chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế…

Hậu quả

Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và ” phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng cả về kinh tế và xã hội.

Trước tiên về kinh tế, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” thường gây ra những thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các chủ thể tham gia các tranh chấp kinh tế (pháp nhân tan vỡ, các hợp đồng bị đổ bể, tài sản bị phong toả….)

Về xã hội, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế gây ra tiền lệ xấu đối với các quan hệ hợp đồng, đặc biệt các quan hệ trong thanh toán, tín dụng như nợ, đòi nợ, xóa nợ, gán nợ……

Lớn hơn nữa, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” làm suy giảm lòng tin của nhân dân, các nhà đầu tư vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đồng thời gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư…

Về công tác cán bộ, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế là một nguyên nhân làm thoái hoá, biến chất một số cán bộ trong các cơ quan điều tra, các cơ quan quản lý nhà nước khác.

Tình trạng “hình sự hoá” không chỉ gây ra những hậu quả thiệt hại về vật chất, về con người mà quan trọng hơn nó gây phiền hà cho các hoạt động kinh doanh, làm giảm năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp, làm tổn thương lòng tin của nhân dân vào lực lượng điều tra.

Giải pháp khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế

Ngày 31 tháng 3 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 16/TTg về việc tìm kiếm và thực thi các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, chống oan sai và bảo vệ các hoạt động kinh doanh của người dân. Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Ban nội chính TW cũng đã có công văn số 170 báo cáo Bộ Chính trị về vấn đề này. Trong báo cáo nêu rõ “Vấn đề hình sự hoá và cả phi hình sự hoá trong giải quyết các quan hệ kinh tế dân sự của các cơ quan tố tụng hiện nay, các ngành nội chính cần có sự nghiên cứu toàn diện sâu sắc….”, “ Trong thời gian qua, số vụ việc xử lý về hình sự quá nhiều, trong khi thực tế có thể chuyển qua các toà hành chính, dân sự để giải quyết…”.

Ngày 21 tháng 3 năm 2000, Bộ Chính trị đã có chỉ thị số 53/CT-TW khẳng định quyết tâm chống oan sai trong hoạt động tố tụng. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 19 tháng 4 năm 2001 cũng đã nêu rõ: “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử thi hành án không để xẩy ra những trường hợp oan, sai”.

Một là, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự.

Trong thời gian qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật (Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đã có nhiều văn bản hướng dẫn nhằm thực hiện các yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng với mục đích chống các hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự phải áp dụng qui phạm pháp luật phù hợp. Bên cạnh đó cũng phải không ngừng hoàn thiện các qui phạm pháp luật khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật doanh nghiệp… Hệ thống pháp luật này trong thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề chồng chéo, khó xác định ranh giới, bởi vậy rất dễ bị lạm dụng để phục vụ cho những mục đích tư lợi.

Để tạo điều kiện kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế, ngăn chặn hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” các quan hệ kinh tế, dân sự thì hệ thống pháp luật liên quan phải được xây dựng theo hướng cụ thể hoá.

Phải phân định một cách rõ ràng giữa hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế với tội phạm. Tăng cường hiệu lực pháp luật trong việc chấp hành các phán quyết của Toà án kinh tế, Toà dân sự và Trọng tài kinh tế đối với các tranh chấp kinh tế, dân sự.

Không ngừng sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự. Cụ thể, cần qui định chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, đặc biệt là biện pháp bắt khẩn cấp… Các qui định để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền tham gia tố tụng của luật sư phải được bình đẳng với điều tra viên, kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình điều tra, xử lý các vụ án hình sự về kinh tế.

Hai là, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nhằm chống lại hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Hoàn thiện pháp luật phải trên cơ sở tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phải gắn liền với việc cải cách hành chính, đảm bảo phát huy một cách tốt nhất quyền giám sát kiểm tra của nhân dân cũng như các tổ chức chính trị xã hội khác đối với việc áp dụng các qui phạm pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự của các cơ quan nhà nước. Đẩy mạnh việc thi hành Chỉ thị 02/1998/CT-TTg ngày 07 tháng 1 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giáo dục và phổ biến pháp luật, nâng cao dân trí, đảm bảo để các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế, dân sự phân biệt được đâu là vi phạm các qui định pháp luật về kinh tế, đâu là vi phạm các qui định pháp luật về hành chính, đâu là hành vi tranh chấp dân sự, đâu là tội phạm. Tăng cường quản lý nhà nước trong áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự đồng thời củng cố vai trò các cơ quan kiểm tra, giám sát để đảm bảo kịp thời phát hiện và ngăn chặn, khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Ba là, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án.

Việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ điều tra, truy tố, xét xử là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề để chống các hiện tượng oan sai trong hoạt động tố tụng.

Nâng cao nhận thức pháp lý cho đội ngũ cán bộ này còn mang tính giáo dục, phòng ngừa rất cao. Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có kế hoạch thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra giám sát những hoạt động của cán bộ trong ngành mình có liên quan đến công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo để các hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế và tội phạm kinh tế được phát hiện và xử lý đúng pháp luật, đồng thời không để hiện tượng oan sai xẩy ra.

Đấu tranh chống hiện tượng “ hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế “ phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế hiện nay ở nước ta đang là một vấn đề hết sức cần thiết. Nó là một trong những nội dung nhằm thực hiện tốt yêu cầu của Nghị quyết 08- NQ/TW về cải cách tư pháp. Đồng thời, nó có tác dụng thiết thực góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới

SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM

Lisa C. Toohey

TÓM TẮT

Bài viết này tìm hiểu tranh chấp giữa Mỹ và Việt Nam về những thiệt hại mà người dân Việt Nam phải gánh chịu do hậu quả của việc sử dụng hoá chất diệt cỏ, Chất độc màu da cam trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam. Bài viết sẽ chỉ ra những vấn đề pháp lý của tranh chấp giữa các bên và không tán thành việc quá tập trung vào quá trình tố tụng, đồng thời cho rằng các hình thức giải quyết tranh chấp quốc tế khác sẽ tạo ra một cơ chế hữu hiệu hơn cho việc giải quyết tranh chấp.

Lisa Toohey là giảng viên Luật tại trường đại học tổng hợp Queensland, Australia. Trước đây bà đã từng làm việc với tư cách là luật sư nước ngoài tại Việt Nam và đã từng phục vụ cho một số tổ chức và các uỷ ban quốc tế về luật nhân đạo. Các nghiên cứu của bà tập trung vào lĩnh vực luật quốc tế và phát triển và giải quyết tranh chấp quốc tế.

Bồi thường thiệt hại do chất độc màu da cam tại Việt Nam

Lisa C. Toohey*

“Quá khứ nếu như không được giải quyết thích đáng thì không những không biến mất hay nằm xuống và ngủ yên mà còn quay trở lại làm ta xấu hổ và ám ảnh ta một cách dai dẳng”.

Desmond Tutu, người đạt giải Nobel hoà bình.

Giới thiệu

Trong cuộc chiến tranh được nhiều người biết tới với cái tên cuộc chiến tranh Việt Nam hay cuộc chiến tranh chống Mỹ, quân đội Hoa Kỳ đã rải 72 triệu lít thuốc diệt cỏ trên diện tích khoảng 4,5 triệu hec ta ở miền Nam Việt Nam, chủ yếu là loại hoá chất được biết tới với cái tên “Chất độc màu da cam”. Mặc dù loại hoá chất này được rải chủ yếu ở Việt Nam song một số vùng của Campuchia và Lào cũng đã là mục tiêu do tuyến đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua hai nước này.[1] Bảy năm sau khi Chất độc màu da cam được sử dụng lần đầu trong cuộc chiến, quân đội Hoa Kỳ đã ngừng sử dụng hoá chất này khi có những tài liệu được công bố cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm, việc tiếp xúc chất độc này có thể dẫn đến những dị tật bẩm sinh.[2] Các nghiên cứu tiếp sau đó cũng đưa ra các bằng chứng thuyết phục rằng các thành phần trong Chất độc màu da cam cũng là nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư khác cũng như các bệnh như rối loạn chuyển hoá gây tử vong, tổn thương hệ thần kinh và rối lọan chức năng da.[3]

Hiện nay, phần lớn sự quan tâm cả về mặt chính trị và khoa học đều tập trung vào những thương tổn mà các cựu chiến binh Mỹ và Úc, ở một mức độ nhỏ hơn, phải gánh chịu.[4] Tranh chấp xung quanh vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất Chất độc da cam đã được các cựu chiến binh Mỹ khởi xướng, những người thông qua các hành động cá nhân cũng như tập thể, đã đòi bồi thường cho những thiệt hại mà họ gánh chịu (“the US Class Action”)[5]. Thế nhưng hầu như chưa có sự bồi thường thiệt hại nào và mức độ chăm sóc về y tế dành cho những nạn nhân Việt Nam, Campuchia hay Lào là hết sức ít ỏi. Tuy nhiên, vào năm 2002, các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện một bộ phận dân số Việt Nam những người đã chịu đựng việc tiếp xúc nhiều với loại hóa chất này có hàm lượng dioxin cao hơn mức trung bình 33 lần và cao gấp 206 lần đối với một số cá nhân.[6] Tại một số làng, cứ mười đứa trẻ em thì có một bị dị tật bẩm sinh, bao gồm cả chậm phát triển cả về thể chất và trí tuệ, mất hoặc biến dạng chi, hoặc gặp phải các bệnh khác như là gai đôi cột sống và bại não.[7] Ngoài ra có rất nhiều giai thoại về hậu quả của Chất độc màu da cam và bất kỳ một ai đến Việt Nam đều có thể dễ dàng nhận thấy tình trạng dị tật bẩm sinh ở trẻ em rất cao, nhất là ở miền Trung và các tỉnh phía Nam Việt Nam. Rõ ràng cả về mặt vật chất và chính trị, di sản của cuộc chiến tranh vẫn như một bóng ma tiếp tục ám ảnh người dân Việt Nam.

Kể từ khi kết thúc chiến sự, Việt Nam đã nhiều lần tính đến khả năng đòi Chính phủ Mỹ bồi thường, nhưng đến tận năm 2004, đòi hỏi chính thức mới được đưa ra. Một hành động tập thể (“the Vietnamese Class Action”) được một nhóm các nguyên đơn Việt Nam tiến hành trên đất Mỹ nhằm kiện các nhà sản xuất chất độc da cam của Mỹ song nó đã bị bác bỏ ngay trong năm tiếp theo.

Bài viết này sẽ kiểm chứng nguồn gốc của Hành động Tập thể Việt Nam, xem xét diễn biến của vụ tranh chấp về trách nhiệm Chất độc màu da cam, và phân tích tại sao qúa trình tố tụng, được tiến hành kể cả ở trong nước hay quốc tế, sẽ rất khó giải quyết. Phần cuối của bài viết gợi ý rằng thay vào đó, cần tính đến một vài giải pháp không mang tính xét xử cho vấn đề bồi thường thiệt hại. Bài viết cho rằng việc chỉ tập trung vào một giải pháp dựa trên quá trình tố tụng là sai lầm vì các vấn đề pháp lý mấu chốt của tranh chấp là hết sức phức tạp và không một diễn đàn duy nhất nào có thể giải thích rõ ràng nguyên nhân hành động trong khi có thể đưa ra được phương thức giải quyết mà các nạn nhân mong muốn. Bài viết kết luận rằng các nỗ lực đang được thực hiện trong việc theo đuổi việc đòi bồi thường thiệt hại và giải quyết vấn đề hiện nay phải hướng tới một hình thức giải quyết tranh chấp quốc tế mà bao gồm cả các yếu tố mang tính tư vấn và hỗ trợ.

Phần thứ nhất – Diễn biến của tranh chấp bồi thường

thiệt hại do chất độc màu da cam

1.1 Việc sử dụng chất độc da cam ở khu vực Đông Nam Á và tác hại của nó tới sức khoẻ con người

Các nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam đều đã được đông đảo mọi người biết tới mặc dù những sự kiện chính xác dẫn tới việc leo thang chiến tranh vẫn còn hoàn toàn không rõ ràng.[8] Chiến tranh chưa hề được tuyên bố trong suốt thời gian chiến sự; hơn thế nữa, phía Mỹ dựa vào các thoả thuận điều ước với chính quyền Nam Việt Nam để “leo thang” một cách đơn thuần mức độ dính liú của Mỹ, tăng cường số quân đồn trú tới mức chưa từng có ở đây theo Hiệp định về hỗ trợ quân sự chung ở Đông Dương năm 1950. Còn có các vấn đề khác nảy sinh như quy chế của miền Bắc và miền Nam Việt Nam với tư cách quốc gia có chủ quyền và quy chế của du kích và các lực lượng kháng chiến khác theo luật nhân đạo quốc tế.

Mọi người đều biết các chiến thuật quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là việc sử dụng Chất độc màu da cam. Chất độc da cam là tên được đặt cho một loại hoá chất diệt cỏ do khoảng hơn chục nhà máy hoá chất sản xuất, kể cả các công ty như Dow Chemical Co. và Monsanto Co., và đã được đưa vào sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt – Mỹ trong các thùng không đánh dấu mà chỉ có thể nhận diện bằng các dải màu được mã hoá. Mặc dù có hàng loạt các loại thuốc diệt cỏ không đánh dấu được sử dụng trong suốt cuộc chiến, nhưng các Chất màu xanh nước biển, Chất màu xanh lá cây, Chất màu hồng, Chất màu tím và Chất màu trắng đã không được dùng một cách rộng rãi hay bị phát hiện là có nhiều độc tố như Chất độc màu da cam.[9] Chất độc màu da cam được cấu tạo bởi 2 phân tử n-butyl ester, 2,4 D và 2,4,5 T. Việc sản xuất ra 2,4,5 T vô tình đã sản sinh ra chất gây ô nhiễm được biết tới với tên hoá học TCDD[10], thường được gọi là dioxin. Từ những năm 1950 người ta đã biết dioxin là sản phẩm phụ của chất phênon khử trùng như 2,4,5-T và đây là một trong những chất độc hại nhất con người từng chế ra.[11]Dioxin là một loại lipid có thể hòa tan và vì vậy nó tập trung ở một mức độ cao trong các hệ sinh vật, nhất là trong cơ thể động vật và người. Nó cũng có thể được truyền qua sữa của các bà mẹ đang thời kỳ cho con bú.

Cần phải nhớ rằng chất 2,4,5-T không phải được sản xuất ra hay sử dụng riêng cho mục đích chiến tranh – “rất nhiều công thức của 2,4,5-T được sử dụng rộng rãi để diệt cỏ trên đường đi, cánh đồng, vùng đất đồi và đường cao tốc trên khắp thế giới”.[12] Ngược lại, dioxin không chỉ được sản xuất ra từ 2,4,5-T, nó còn là sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất các sản phẩm nhựa PVC và tẩy rửa chất khử trùng, chúng cũng có thể bị thải ra thiên nhiên từ các nhà máy sản xuất bột giấy và giấy, từ việc đốt các phế liệu, các sản phẩm magiê và đốt cháy nhiên liệu pha chì.[13]

Ngoài việc phá huỷ lớp nguỵ trang rừng cây để có thể phát hiện kẻ thù dễ hơn, Chất độc màu da cam còn được dùng để phá huỷ mùa màng của đối phương. Trong suốt chiến dịch quân sự Operation Ranch Hand[14], chất độc màu da cam đã được trộn với các loại dầu như dầu diesel và được rải từ máy bay, máy bay trực thăng, thuyền, bình bơm xách tay xuống khu vực rừng già, các cánh đồng, sông, rừng đước và các làng mạc.[15] Như được đề cập ở phần dưới đây, việc sử dụng chất độc màu da cam như vậy có thể coi đã tạo ra một cuộc tấn công vào các mục tiêu dân sự và do đó đã vi phạm luật nhân đạo quốc tế.

Viện Y học Mỹ đã khẳng định có đủ bằng chứng về mối liên hệ giữa TTDD và các chuỗi u bưóu mềm, bệnh máu trắng Hodgkin, bệnh Hodgkin và có những bằng chứng còn hạn chế hoặc mang tính gợi ý về mối liên hệ giữa dioxin với các bệnh như:

– Ung thư tuyến hô hấp (phổi/phế quản, thanh quản, khí quản);

– Ung thư tiền liệt tuyến;

– Bệnh tra u tuỷ;

– Bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ;

– Bệnh da do tãng porphyrin biểu hiện muộn;

– Tiểu đường nhóm 2;

– Bệnh gai đôi cột sống ở con của các cựu chiến binh; và

– Bệnh dây thần kinh ngoại biên thoáng qua cấp tính và bán cấp ở con của các cựu chiến binh. [16]

Ngoài ra, vẫn còn nhiều loại bệnh khác mà nguyên nhân không được chứng minh hoặc bị bác bỏ, nhất là những dị tật bẩm sinh ở thế hệ con cái của các cựu chiến binh và các bệnh liên quan khác như xẩy thai, thai lưu, sinh con không đủ trọng lượng[17]. Bộ Các vấn đề cựu chiến binh của Mỹ đã đưa ra một danh sách các bệnh, nếu các cựu binh Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam (dù trong thời gian ngắn) mắc phải, được cho là có nguyên nhân từ việc tiếp xúc với Chất độc màu da cam.[18] Những bệnh này nhìn chung đều ứng với những “bằng chứng đầy đủ về mối liên hệ” và ‘những bằng chứng còn hạn chế hoặc mang tính gợi ý về mối liên hệ” như Viện Y học Mỹ đã đưa ra.

Mặt khác, các nghiên cứu về tác hại của dioxin ở Đông Nam Á lại khá hạn chế, các nghiên cứu của Việt Nam thường bị chỉ trích là không có giá trị hay không chính xác theo tiêu chuẩn nghiên cứu của phương tây. Theo Portier, “phần nhiều các nghiên cứu của Việt Nam đều không được công bố và chúng tôi chỉ nghe về các nghiên cưú này ở dạng sơ thảo hoặc từng phần”.[19] Vẫn chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về những thiệt hại do dioxin gây ra đối với sức khoẻ và môi trường ở Việt Nam. Có một vài lý do của việc này: song quan trọng nhất là chi phí cho một nghiên cứu và phân tích toàn diện hoàn toàn nằm ngoài khả năng tài chính của một nước đang phát triển với tổng thu nhập quốc nội hàng năm là 420 đô la Mỹ/đầu người.[20] Ngoài ra, tính nhạy cảm chính trị đối với vấn đề dioxin rất cao, nhất là người ta lo ngại nếu thế giới quá quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam thì sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ song phương vẫn còn mong manh với Mỹ, tác động đến du lịch và cũng như đe doạ đến việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp nếu như các thiệt hại về môi trường được công bố sẽ tác động xấu đến các sản phẩm xuất khẩu như thủy sản.[21] Lào và Campuchia có ít cơ sở hạ tầng y tế công cộng hơn Việt Nam, và cũng dễ bị tổn thương với các yêu cầu chính trị không kém.[22]

Nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế cho thấy chất độc màu da cam thực sự đã gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ đối với người dân Việt Nam. Vào đầu năm 2002, dân cư ở các khu vực đã phải tiếp xúc nhiều với loại hóa chất này cho thấy có hàm lượng dioxin cao gấp 33 lần trung bình, và một số trường hợp cá thể cao hơn gấp 206 lần.[23] Tại một số làng, cứ mười đứa trẻ em thì có một bị dị tật bẩm sinh, bao gồm cả chậm phát triển cả về thể chất và trí tuệ, mất hoặc biến dạng chi, hoặc các bệnh khác như là gai đôi cột sống và bại não.[24] Một nghiên cứu thực địa năm 1995 do một chuyên gia Mỹ, tiến sĩ Arnold Schecter, đã so sánh giữa các làng không bị ảnh hưởng của Chất độc màu da cam ở miền Bắc và các làng chịu ảnh hưởng ở miền Nam và cho thấy tại các làng chịu ảnh hưởng, lượng dioxin trong máu của người dân cao khoảng từ 25 đến 170 lần so với các làng ở phía Bắc.[25] Nghiên cứu thực địa tại Lào và Campuchia cũng đã bắt đầu được thực hiện nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của dioxin đến sức khoẻ người dân.[26]

1.2 Diễn biến của việc kiện tụng

Tranh chấp xung quanh vấn đề bồi thươờng thiệt hại diễn ra khá chậm chạp và chỉ bắt đầu sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ vào thập kỷ 90. Trước thời điểm này, Chính phủ Việt Nam chỉ chủ yếu tập trung vào đánh giá mức độ thiệt hại mà người dân Việt Nam phải gánh chịu chứ chưa phải để đòi đền bù. Ví dụ, Uỷ ban liên bộ 10-80[27] của Việt Nam đã được thành lập năm 1980 để điều tra tác động của các loại hoá chất như Chất độc màu da cam đối với người dân, nhưng rõ ràng là không phải để nhằm giải quyết về trách nhiệm hay đòi bồi thường thiệt hại.

Tương tự, chính phủ Mỹ cũng đã khá thận trọng trong vấn đề này cho dù năm 2002 Đại sứ Mỹ Raymon Burghardt đã thừa nhận vấn đề Chất độc màu da cam là “một bóng ma lớn” trong quan hệ Việt-Mỹ.[28] Mặc dù chưa có một đối thoại công khai nào về vấn đề bồi thường thiệt hại nhưng dù sao đã có những thảo luận nhất định trong một chừng mực nhất định về vấn đề này. Vào tháng 3/2002, Việt Nam và Mỹ đã ký bản ghi nhớ về thiết lập khuôn khổ nghiên cứu chung về tác động của Chất độc màu da cam và các chất làm rụng lá khác, mặc dù việc tiến hành nghiên cứu chủ yếu về mặt khoa học chứ không mang tính chính trị.[29]

Trong suốt quá trình ‘bình thường hoá’ quan hệ ngoại giao và thương mại với Việt Nam, Mỹ đã đưa ra một danh sách khá toàn diện các yêu cầu[30] nhưng lại từ chối giải quyết vấn đề bồi thường cho các nạn nhân chiến tranh của Việt Nam.[31] Trên thực tế, bình luận của người phát ngôn của Đại Sứ quán Mỹ tại Hà Nội ám chỉ rõ ràng việc Mỹ xem xét bình thường hoá quan hệ thương mại với Việt Nam là để đổi lại việc Việt Nam từ bỏ đòi hỏi về vấn Chất độc màu da cam:

“Quan hệ Mỹ-Việt Nam đã được bình thường hoá năm 1995 sau khi Việt Nam đã từ bỏ yêu cầu đòi giải quyết/bồi thường chiến tranh”. “Vào thời điểm bình thường hoá quan hệ, cả việc bồi thường hay giải quyết hậu quả chiến tranh đều đã không được xét đến hay chấp nhận xem xét trong tương lai”… [Và khi được hỏi liệu quan điểm này có thay đổi nếu có kết quả của việc nghiên cứu] “Tôi nghĩ bản thân lời tuyên bố đã nói lên tất cả”.[32]

Tuy nhiên, tiếp theo việc ký Hiệp định thương mại song phương giữa 2 nước năm 2001, việc theo đuổi đòi bồi thường thiệt hại thông qua quá trình tố tụng đã ngày càng các được các giới chính trị và luật gia Việt Nam nói tới.[33]

Phần thứ II- Hành động tập thể Việt Nam và các biện pháp không mang tính tố tụng khác

2.1 Hành động tập thể Việt Nam

Cuối cùng, vào tháng 1/2004, Đơn kiện tập thể theo Luật đòi bồi thường thiệt hại cho người nước ngoài (Alien Tort Claims Act) đã được đệ trình lên Toà án Liên bang Mỹ, Quận Tây Niu Oóc. Hành động này nhằm kiện 35 công ty và có điều khoản yêu cầu xác định rõ thêm các công ty bị kiện nhưng không trực tiếp nói đến chính phủ Mỹ.[34]Bên nguyên đơn gồm các nông dân ở thung lũng A Lưới và gia đình họ (một vùng được biết đến là bị nhiễm Chất độc màu da cam nặng nề nhất); một bác sĩ từng là giám đốc một bệnh viện dã chiến gần đường mòn Hồ Chí Minh và hậu quả là đã thường xuyên bị xảy thai; một cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam và những người con của anh ta, những người đang bị ung thư và bị dị dạng bẩm sinh; một cựu Bộ trưởng Y tế của Chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam, người đã thường xuyên phải đi lại và tiếp xúc với các vùng bị nhiễm Chất độc da cam và hậu quả cũng đã bị xảy thai nhiều lần, bị bệnh tiểu đường và ung thư, và một nguyên đơn khác có con trai chết lúc 8 tháng tuổi do bị dị dạng bẩm sinh quá nặng. Đơn kiện đã đề xuất việc hợp thành nhóm tuỳ theo mức độ bị ảnh hưởng và dự tính một nhóm có khoảng trên 3 triệu dân Việt Nam.

Đơn kiện được xây dựng trên nhiều cơ sở pháp lý khác nhau, theo cả luật pháp của Mỹ về vấn đề trách nhiệm đối với sản phẩm, vấn đề gây thiệt hại và tổn thương và luật pháp quốc tế, cho rằng các bị đơn đã âm mưu cùng với chính phủ Mỹ có hành động cấu thành tội ác chiến tranh, tội ác chống loài người, tội diệt chủng và tra tấn.

Tuy nhiên, Hành động tập thể của Việt Nam đã không tồn tại được lâu do Weinstein J đã ủng hộ yêu cầu của các bị đơn bác bỏ đơn kiện.[35] Dựa vào phán quyết năm 2004 trong vụ Sosa v. Alvarez-Machain,[36] toà án đã cho rằng các nguyên nhân bên trong của hành động là đối tượng của Điều khoản bảo vệ nhà thầu của Chính phủ vốn áp dụng đối với các yêu cầu theo luật nội dung của liên bang và các bang, và cho rằng một nhà thầu của chính phủ không phải chịu trách nhiệm về những sai sót trong các phương tiện quân sự mà được làm ra phù hợp với các yêu cầu về chủng loại của chính phủ.[37]

Mặc dù toà án bác bỏ khả năng áp dụng điều khoản bảo vệ nhà thầu chính phủ đối với các tranh chấp theo luật quốc tế.[38] Toà án cũng bác bỏ việc bên bị kiện đề nghị xem xét khả năng áp dụng Học thuyết vấn đề chính trị đối với các tranh chấp theo luật quốc tế, cho rằng:

“Việc người đứng đầu chính phủ tiến hành ủy quyền cho một bị đơn cá nhân không phải là một tấm séc trắng để làm hại các cá nhân khác với việc vi phạm luật pháp quốc tế. Trong Đệ tam quốc xã, tất cả quyền lực nhà nước đều tập trung vào Hít le; nhưng mệnh lệnh của ông ta đã không được sử dụng như là một công cụ để bào chữa trước Tòa án Nuremberg. Tính chất hợp pháp không thể bị loại bỏ do khả năng liên hệ với quyền hành pháp thậm chí ngay cả trong chiến tranh”.[39]

Tuy nhiên, toà án đã bác bỏ yêu sách theo luật quốc tế với lý do là không có một nghĩa vụ pháp lý hoặc thực tiễn mang tính tiêu chuẩn phủ nhận việc dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh, và vì vậy không có cơ sở để khẳng định sự tồn tại một tập quán quốc tế liên quan đến việc sử dụng các Chất độc màu da cam. Bằng cách lập luận như vậy, quan điểm của toà án là khi xem xét việc vi phạm nguyên tắc tương xứng của luật nhân đạo quốc tế “sức mạnh của sự giáng trả lại hành vi đã xảy ra đã được nâng lên thành một rào cản đối với việc tìm ra trách nhiệm”.[40] Weinstein J cũng bác bỏ lập luận của các nguyên đơn liên quan tới tội diệt chủng, thừa nhận Mỹ không hề có ý định phạm tội ác diệt chủng.[41] Lý luận của toà án dựa trên bản Giải trình do chính quyền Hoa kỳ đệ trình khi trở thành bên ký kết Công ước về Diệt chủng. Bản Giải trình này cho rằng Điều 2 của Công ước về tội diệt chủng (điều định nghĩa về Diệt chủng), đòi hỏi “ý định cụ thể nhằm huỷ diệt toàn bộ hay một phần lớn một quốc gia, một nhóm dân tộc, sắc tộc hay tôn giáo”. [42]

Toàn bộ phán quyết thì quá lớn không thể đề cập hết trong bài này, và lại có thể là chủ đề của việc kháng cáo. Đối với mục đích hiện nay, việc vụ kiện bị bác bỏ đã thúc đẩy việc tìm kiếm các giải pháp thay thế để giải quyết tranh chấp. Các vấn đề lớn nảy sinh đối với các bị đơn trong vụ kiện này là việc chứng minh các vấn đề cần phải được giải quyết để đạt được một kết quả như mong muốn thông qua quá trình tố tụng.

2.2 Các biện pháp không mang tính tố tụng khác

Về mặt lý thuyết, có thêm 2 cách khác để dẫn đến việc tiến hành tố tụng song mỗi cách này đều có những khó khăn cản trở. Đó là: thứ nhất, khởi kiện các công ty hoá chất của Mỹ tại toà án Việt Nam; thứ hai là hành động của chính phủ Việt Nam khiếu nại chính phủ Mỹ tại một diễn đàn quốc tế. Mỗi hình thức này đều có những khó khăn rất lớn. Cũng được xem xét trong phần này là một số vấn đề khác mà có thể làm phức tạp thêm Hành động của phía Việt Nam nếu như họ vẫn tiếp tục theo kiện chứ không bỏ kiện.

Có những cản trở lớn đối với việc tiến hành vụ kiện ở các toà án Việt Nam. Trước hết là theo các nguyên tắc quốc tế kể cả học thuyết về sự lịch thiệp, một toà án ở Việt Nam sẽ không có quyền tài phán để nghe vụ việc chống lại phía Mỹ. Thêm vào đó, mặc dù Công ty Hoá chất Dow International và Monsanto đều có văn phòng ở thành phố Hồ Chí Minh, bất kể phán quyết nào đều có thể đòi hỏi phải được thi hành ở Mỹ và không có khả năng một phán quyết của Việt Nam được toà án của Mỹ chấp nhận là có hiệu lực và có thể được thi hành.

Tương tự, thực tế việc Mỹ không còn chấp nhận quyền tài phán bắt buộc của Toà án quốc tế[43] sẽ đòi hỏi (khó có thể) bước đi từ phía Mỹ tự nguyện chấp nhận quyền tài phán của Tòa án quốc tế để có thể đưa vụ việc tranh chấp giữa Mỹ và Việt Nam ra một diễn đàn quốc tế.

Xác định và chứng minh các nguyên nhân của hành động đều rất khó cho dù ở bất kỳ diễn đàn nào. Hành động tập thể của Mỹ và hành động tập thể của Việt Nam đều một phần dựa vào một loạt các yêu cầu về bồi thường thiệt hại do việc làm thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm quy định về việc cảnh báo, hành vi gây thiệt hại có chủ định và vấn đề giới hạn trách nhiệm. Nội dung chính của đơn kiện là việc tạo ra và sản xuất ra Chất độc màu da cam của các công ty hoá chất là một sai sót do mức độ độc hại của dioxin đã được sinh ra trong quá trình sản xuất, các công ty hoá chất đã vi phạm nghĩa vụ của họ khi không thông báo cho bên nguyên đơn về những nguy hiểm gắn liền với sản phẩm của họ, và việc chính phủ Mỹ sử dụng chất độc da cam đã được lờ đi. Hành động tập thể Việt Nam thực tế phức tạp hơn nhiều Hành động tập thể của Mỹ vì các lý do sẽ được trình bày dưới đây, và thêm vào đó cũng cần nhớ là Hành động tập thể của Mỹ đã được giải quyết ngay trước phiên toà và do đó vụ việc đã không bao giờ được xem xét trên thực tế của nó. Bởi vậy, khả năng thành công là rất khó mà có thể tính toán được.

Cơ sở thứ hai trong Khiếu kiện của Việt Nam dựa trên cơ sở vi phạm luật pháp quốc tế. Mặc dù nội dung của Công ước về Vũ khí sinh học năm 1972Công ước về Vũ khí Hoá học năm 1992 không được toà án chấp nhận trong Hành động tập thể của Việt Nam song có thể tranh luận một cách chắc chắn rằng, chúng là biểu hiện của các quy phạm quốc tế chống lại việc sử dụng vũ khí hóa học trong chiến tranh[44]. Cũng có nhiều bằng chứng khác cho thấy, thậm chí ngay vào thời điểm chiến sự, các nguyên tắc quốc tế lâu đời cũng đã cấm sử dụng các chất như Chất độc màu da cam trong chiến tranh.[45] Tương tự như vậy, hậu quả của chiến tranh Việt Nam đã khiến cộng đồng quốc tế phải đưa thêm Điều 35 và 55 vào Nghị định thư Bổ sung lần thứ nhất đối với các Công ước Giơnevơ năm 1977.[46] Cũng tương tự như vậy, Công ước về việc cấm sử dụng các công nghệ làm biến đổi môi trường trong các cuộc xung đột quân sự và các xung đột vũ trang khác được mở ký năm 1997 cũng cấm sử dụng chiến tranh môi trường, với việc các quốc gia nhất trí không được “tham gia vào các hoạt động quân sự hay các hoạt động thù địch khác sử dụng kỹ thuật biến đổi môi trường tác hại trên diện rộng, lâu dài và nghiêm trọng như các biện pháp hủy diệt, tàn phá hay gây thương tích”. Một lần nữa, những công ước này không có hiệu lực hồi tố – tuy nhiên chúng có thể được nhìn nhận một cách đơn giản là việc pháp điển hóa các nguyên tắc đã được thừa nhận của luật pháp quốc tế.

Tính chất của cuộc chiến đã làm phức tạp thêm quan điểm theo luật pháp quốc tế. Tất cả các nguyên nhân hành động như đã nói trên đòi hỏi, ở những mức độ khác nhau, việc xác định quy chế pháp lý của cuộc chiến tranh Việt Nam – Hoa Kỳ. Quyết định của Weinstein J không xác định địa vị của 27 nguyên đơn cá nhân và liệu họ có thể tập hợp thành một nhóm được không. Hành động tập thể của Mỹ cũng thể hiện khó khăn trong việc xác định và phân nhóm lập nhóm nguyên đơn. Những điều này phức tạp hơn trong hành động của Việt Nam khi mà các nguyên đơn khác nhau được cho là đã phải gánh chịu những mức độ thiệt hại khác nhau do các lý do khác nhau. Những nguyên đơn này gồm có: thành viên của Quân đội miền bắc Việt Nam trước đây và Việt Cộng (đối với những người này có thể đưa ra lập luận rằng luật về phòng vệ áp dụng[47]), các nhân viên Việt Nam làm việc cho chính phủ Mỹ tham gia vào việc chuyển chất độc da cam trong Chiến dịch Operation Ranch Hand (như vậy khiếu kiện của những người này giống với các cựu chiến binh Mỹ), binh lính miền Nam Việt Nam những người đã thực hiện lệnh của Mỹ, thường dân của các nước không phải là đồng minh tình cờ bị tổn thương do việc trôi dạt của các đám mây chất diệt cỏ, hay những người có đất bị rải chất độc phá huỷ mùa màng, và rất nhiều các ‘nhóm” có thể được nhận diện khác, và các thế hệ hậu duệ (cả thế hệ thứ 2 và thứ 3) của mỗi nhóm nói trên. Nhóm nguyên đơn sẽ phức tạp thêm khi có thêm sự có mặt của các nạn nhân Lào và Campuchia. Trong khi hầu hết các nhóm nguyên đơn đều có mặt trong Hành động tập thể Việt Nam ở một mức độ nào đó, đề xuất của các nguyên là nhằm tổ chức thành một hành động tập thể không phải dựa vào quy chế pháp lý của nguyên đơn trong chiến tranh mà theo mức độ thương tổn họ phải chịu đựng.

Bất kỳ một hành động trong tương lai nào cũng đòi hỏi phải nhận diện được đúng các bị đơn. Nhận diện đúng bị đơn là một yếu tố quan trọng nhưng cuối cùng việc này đã không bao giờ được kiểm chứng tại phiên toà do việc giải quyết vấn đề Hành động tập thể của Mỹ. Do chất độc màu da cam được đóng trong các thùng không đánh dấu, nên không phân biệt được các sản phẩm của các công ty khác nhau, và mỗi sản phẩm của mỗi công ty lại có hàm lượng dioxin khác nhau. Tính không chắc chắn liên quan đến nhân thân của các bị đơn đã được thừa nhận trong đơn khiếu nại đã được sửa đổi trong Hành động tập thể Việt Nam bằng việc chỉ ra một số các bị đơn giả tưởng là Công ty hoá chất ABC 1-100 mà theo đơn kiện đã được sửa đổi đại diện “ tên thật và số lượng …các thực thể….mà các nguyên đơn không biết tới… sản xuất và cung cấp chất diệt cỏ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam từ 1961 đến 1975, hoặc là những công ty kế thừa quyền lợi của họ trong vấn đề trách nhiệm”.[48]

Trong Hành động tập thể Việt Nam, toà án đã không giải quyết đơn kiện cá nhân cho rằng không có mối liên hệ với việc sử dụng thuốc diệt cỏ do vụ án đã bị bác bỏ, và bất kỳ quá trình tố tụng nào trong tương lai đều có thể gặp khó khăn trong vấn đề này, nhất là khi liên quan đến việc phân bổ trách nhiệm.

Còn có những phức tạp khác xung quanh vấn đề quy chế pháp lý của cuộc chiến. Như Hành động tập thể của Việt Nam đã chỉ rõ, các hành động gây thiệt hại đã được loại bỏ nhằm chống lại các công ty sản xuất Chất độc màu da cam do điều khoản bảo vệ nhà thầu của Chính phủ. Mặc dù, trong mối liên hệ với chính phủ Mỹ, rất khó hình thành bất cứ một yêu cầu thực tế bồi thường thiệt hại nào bởi những người vốn là kẻ thù trong cuộc chiến, nhưng điều này còn phụ thuộc vào đặc tính của cuộc chiến. Nếu như cuộc chiến được coi là chiến tranh thì sau đó trong một hành động gây thiệt hại, có khả năng là bên bị có thể không phải chịu bất cứ một trách nhiệm nào đối với các nguyên đơn là kẻ thù và cũng có thể là họ chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các thường dân kẻ thù hoặc thậm chí là các thường dân là đồng minh của Mỹ. Tuy nhiên, có thể nó rằng cũng phải có trách nhiệm đối với những người làm việc trong các căn cứ quân sự của Mỹ và những người đã tiếp xúc với Chất độc màu da cam trong quá trình làm việc của họ.

Tuy nhiên, các còn có nhiều cách giải thích khác nhau. Giờ đây mọi người đã hiểu hành động được cho là đã dẫn đến Nghị Quyết về Vịnh Bắc bộ của Mỹ không phải là ‘hành động xâm lược trên vùng biển quốc tế’ và thực thế là điều đó hoặc đã không xảy ra hoặc là hành động trả đũa của Bắc Việt Nam nhằm đáp lại một loạt các chiến dịch bí mật và việc xâm phạm liên tục của Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam vào lãnh thổ Bắc Việt, điều này cho thấy lịch sử phương tây coi Bắc Việt là kẻ xâm lược là không chính xác.[49] Sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam được biện minh là hỗ trợ cho quân đội pháp theo Hiệp định về hỗ trợ quân sự chung ở Đông Dương năm 1950.[50] Các bên ký kết Hiệp định này [51] đã, ngoại trừ những điều khác, nhất trí “tiếp nhận trong phạm vi lãnh thổ của mình các nhân viên quân sự Mỹ trong trường hợp được yêu cầu và nhằm mục đích của Hiệp định này, dành cho các nhân viên quân sự đó mọi sự thuận lợi để họ có thể thực hiện các trách nhiệm đã được giao của họ một cách tự do và đầy đủ nhất.[52] Chính phủ Mỹ đã coi Hiệp định này là “văn kiện điều chỉnh vấn đề quy chế pháp lý của các nhân viên và cơ sở quân sự của Mỹ ở Việt Nam”.[53] Các hành động của Mỹ có thể được xếp là ‘hành động sen đầm’ với việc Nam Việt Nam tuyên bố tình trạnh khẩn cấp năm 1964 và chiến tranh năm 1965. Bắc Việt Nam đã cho rằng cuộc xung đột đơn thuần là xung đột trong nước, trong khi Mỹ lại giữ lập trường Bắc Việt Nam là kẻ xâm lược trong một cuộc xung đột vũ trang quốc tế. Giải quyết vấn đề này không những phức tạp về mặt pháp lý mà còn hết sức nhạy cảm về mặt chính trị, nhưng có khả năng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các quyền pháp lý của các nguyên đơn trong vụ kiện chính phủ Mỹ.

Tóm lại rõ ràng là sự phức tạp của các vấn đề pháp lý, thực tế là nhiều vấn đề không được kiểm chứng về mặt pháp luật và chi phí khổng lồ cho việc khiếu kiện là những nhân tố làm cho vụ kiện này không phù hợp nếu giải quyết thông qua các hình thức xét xử mặc dù có khả năng hoặc thành công khi kháng cáo, hoặc có một quyết định của toà án có lợi ở Việt Nam hay Mỹ, hoặc thậm chí có một hình thức giải quyết trước cả khi ra toà có thể đạt được. Tuy vậy, Khiếu kiện tập thể của Việt Nam đã nêu ra vấn đề trách nhiệm, và đã tạo ra nền tảng cho cả hai chính phủ tìm ra các phương thức xác định khác nhau và giải quyết tranh chấp.

Phần III- Xem xét các biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế khác

Phần này sẽ tìm hiểu cách giải thích một số vấn đề liên quan đến các thực thể được gọi là ‘các bên tranh chấp’ cũng như nêu lên một số cá lợi ích then chốt, nhu cầu và quan điểm có thể tác động đến các biện pháp giải quyết tranh chấp.

Mặc dù bài viết nói đến các bên liên quan là ‘Việt Nam’ và ‘Mỹ’ nhưng không hề có ý ám chỉ các thực thể đều thuộc một nhóm hay không thể thay đổi. Thực tế lại ngược lại, vì mặc dù rất nhiều cá nhân hay các nhóm lên tiếng đại diện cho mỗi quốc gia nhưng mỗi đại diện đều mang những quan điểm cá nhân, tổ chức mà sẽ tác động đến quan điểm của họ. Ví dụ Tổng thống, một nhân viên sứ quán hay một nghị sĩ tất cả có thể phát ngôn một cách hợp pháp hay đàm phán ‘thay mặt đất nước’ nhưng mỗi một người lại có những quan điểm, ưu tiên và quan tâm riêng. Vì vậy sự hiện diện các đại diện các bên có thể dẫn đến các kết quả khác nhau, và điều này phải được xem xét khi chọn lựa các cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp.[54]

Tuyên bố về lợi ích do chính phủ Mỹ đưa ra trong Khiếu kiện tập thể của Việt Nam nêu bật ý nghĩa chính trị của bất kỳ giải pháp nào đạt được thông qua hoạt động tố tụng đối với vấn đề này:

Các đơn kiện của bên nguyên đơn có tác động to lớn vì chúng (nếu được chấp thuận) sẽ mở tung cánh cửa toà án của hệ thống luật pháp Mỹ cho các cá nhân và binh lính của một nước trước đây vốn là kẻ thù của Mỹ. Cuối cùng quá trình tố tụng này sẽ là thách thức đối với các biện pháp mà Mỹ đã theo đuổi cuộc chiến tranh Việt Nam, và không tránh khỏi việc đưa đến vấn đề quyền tổng chỉ huy theo Hiến pháp của Tổnt thống và tạo điều kiện cho thiên hạ phê phán lại các quyết định tiến hành chiến tranh của Tổng thống.[55]

Rõ ràng là Mỹ và các công ty hoá chất sẽ chống đối mạnh mẽ bất kỳ quá trình tố tụng nào, trước hết là do mối lo ngại một quyết định bất lợi sẽ mở ra một luồng các khiếu kiện khác từ Afghanistan, Irac và vác quốc gia khác mà Mỹ đã từng dấy chiến tranh tại đó. Điều này cho thấy sự cần thiết có một biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế khác. Theo Astor và Chinkin,

…tranh chấp không chỉ được xem xét một cách riêng rẽ hoặc bởi bản thân những người tranh chấp hoặc những người tham gia khác. Những vấn đề tưởng như xa lạ với tranh chấp thực tế và những người tranh chấp sẽ tác động đến thành công của bất kỳ một quá trình tìm kiếm giải pháp nào, phần do những người không chấp đóng vai trò, và giải pháp cho tranh chấp.[56]

Quá trình giải quyết tranh chấp không dựa trên hoạt động tố tụng có thể được lựa chọn nhằm tận dụng sự ủng hộ và hỗ trợ cho Việt Nam của một số nhóm người ở Mỹ. Ví dụ, các cựu chiến binh, các nhà hoạt động nhân quyền, các tổ chức môi trường ở Mỹ có thể gây ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ đối với lập trường của Mỹ cũng như đối với truyền thông và dư luận quốc tế. Các nhóm vận động hành lang đã hoạt động tích cực ở Mỹ, với các tổ chức như Hội cựu chiến binh Việt Nam của Mỹ đã có vai trò mang tính công cụ trong việc thúc đẩy các hội nghị khoa học chung và ủng hộ việc:

Chính phủ Mỹ và các công ty hoá chất đã bán hóa chất [Chất độc màu da cam] phải có trách nhiệm đạo đức đền bù cho những người Việt Nam đã phải chịu đựng do việc tiếp xúc với chất làm rụng lá trong chiến tranh Việt Nam.[57]

Hành động tập thể Việt Nam cũng đã không tính đến thực tế là Việt Nam không phải là nước duy nhất bị thiệt hại do Chất độc da cam trong chiến tranh Việt Nam-Mỹ khi mà một lượng lớn chất độc cũng được rải ở Lào và Campuchia. Việc kết hợp với hai nước này vào có thể tạo ra một tinh thần liên minh và quyết tâm mạnh mẽ hơn, một sự liên kết chắc chắn hơn và có thể gánh đỡ bớt chi phí của việc kiện tục. Việc này cũng có thể làm cho Mỹ có thêm động cơ để giải quyết tranh chấp thông qua việc tạo cơ hội cho các yêu sách nảy sinh từ cuộc chiến tranh Mỹ- Việt Nam được giải quyết một cách đồng thời.

Tuy nhiên, các nước liên quan ở Đông Nam Á cũng cần nhận thức được các lợi ích và quan điểm khác nhau giữa họ, và cũng phải ý thức được sự căng thẳng giữa các quốc gia và khả năng Mỹ đang tính đến chiến lược ‘chia để trị’ trong quá trình đàm phán. Những đau thương trong lịch sử có thể tác động đến mối quan hệ giữa các nước này là “tranh chấp lãnh thổ đã có nguồn gốc lịch sử và dân tộc lâu đời, dai dẳng” giữa Việt Nam và Campuchia. Điều này đứng độc lập với những tính toán ngắn hạn dưới những cái tên như lợi ích, nhu cầu hay cùng ý thức hệ.[58]

Vấn đề danh dự và ‘thể diện’ quốc tế cũng là những động lực quan trọng cho cả Việt Nam và Mỹ. Theo Farrell khẳng định “danh tiếng là một nhân tố xuất phát từ mong muốn của Việt Nam là nhằm tạo ra một bản sắc dân tộc và nhằm có được sự công nhận và thừa nhận về vị thế đã thay đổi của họ [là một thực thể đã lớn mạnh và độc lập]”[59]. Lịch sử đấu tranh, cả về ý thức hệ và thực chất, giữa các bên đã làm cho vấn đề thể diện đặc biệt quan trọng. Fisher và Ury coi “giữ thể diện liên quan tới việc làm hài hoà giữa một thoả thuận với các nguyên tắc và hình ảnh của bản thân những người đàn phám. Không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của việc này.” [60]

Có thể thấy một mức độ thực dụng cao trong kiện cáo của Việt Nam về chất độc da cam. Thay vì xem xét khả năng trừng phạt hay đòi hỏi công lý như các nhà hoạt động nhân quyền phương Tây như Tatchell cổ vũ,[61] Việt Nam chủ yếu tập trung vào vấn đề đền bù. Theo Việt Nam lập luận, cái giá của việc khôi phục công lý quá cao khi mà các gia đình nạn nhân đều không có nguồn tài chính để chi trả cho các nhu cầu y tế cơ bản của các nạn nhân. Ngược lại, tính nhậy cảm của Mỹ đối với chiến tranh Việt Nam, mặc dù không còn mạnh mẽ như trong các thập kỷ trước, cũng có thể cản trở thành công của tiến trình gải quyết vụ việc theo hướng hoà giải. Không có sự nhận diện của các bên liên quan với mục tiêu đạt được một quá trình giải quyết tranh chấp, khả năng thành công sẽ ở mức độ thấp nhất. Chính vì lý do này mà cơ chế nhằm khôi phục lại công lý như là hoà giải mang tính chuyển tiếp hoặc các uỷ ban theo hướng hội đồng hội đồng hoà giải đều không được xét tới trong bài viết này.

Các tính toán tài chính là hết sức quan trọng đối với Việt Nam. Các bước được coi là theo thông lệ của một hệ thống khiếu kiện như tìm hiểu, giữ người làm chứng và các bước đàm phán đòi hỏi chi phí rất cao. Khiếu kiện tập thể của Mỹ đã đưa ra mức chi phí có thể đạt được – phí trước phiên toà lên đến 40 triệu đôla, khoản này bằng với 0,12% GDP hàng năm của cả Việt Nam.[62] Người Việt Nam coi khoản tiền đó là không biện minh được, và chi phí cho kiểm tra khoa học không nằm trong tính toán của họ. Một nạn nhân chất độc da cam cho biết “để kiểm tra một gia đình tốn tới 1000 đôla Mỹ…. Nếu như chúng tôi có số tiền như thế thì cho các gia đình chẳng tốt hơn sao?”[63] Bởi vậy quan tâm chính của Việt Nam (và các nước Đông Nam Á khác) là cơ chế giải quyết tranh chấp phải tốn ít chi phí càng tốt.

3.1 Đàm phán

Theo đã trình bày ở trên, hành động pháp lý có vai trò thúc đẩy các bên đi đến đàm phán với nhau. Có hai khả năng cho việc đàm phán ad hoc: một là các bên đàm phán thực chất nhằm giải quyết vấn đề; thứ hai, các bên đàm phán để thoả thuận về một mô hình giải quyết tranh chấp mang nhiều tính tổ chức (structured) như Điều tra hay Trọng tài. Do không tồn tại các quy định về quyền tài phán mang tính chất bắt buộc áp đặt cứ bên nào phải tham gia vào việc giải quyết tranh chấp nên đàm là một nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ một cơ chế giải quyết tranh chấp khác mà các bên có thể sử dụng.

Lợi ích của một giải pháp thông qua đàm phán là bản thân quá trình này không đòi hỏi bất kỳ một nền tảng nào dưới hình thức cơ bản như các thoả thuận hay cơ quan xét xử và nó cho phép các bên liên quan có hoàn toàn chủ động đối với vấn đề thời gian và nội dung đàm phán. Một lợi ích quan trọng khác trong vụ kiện hiện nay là một giải pháp có được nhờ đàm phán có thể tránh được một tuyên bố về trách nhiệm, và do đó sẽ cho phép cả 2 bên giữ được thể diện. Đàm phán là một nhân tố phổ biến trong quan hệ giữa các quốc gia, được thực hiện thông qua các kênh ngoại giao, các cuộc tiếp xúc giữa các chính phủ và các tổ chức quốc tế. Trong trường hợp Việt Nam và Mỹ, phần lớn việc đàm phán về bồi thường thiệt hại do Chất độc màu da cam đã diễn ra thông qua các kênh ngoại giao và khi nào cũng vậy, vấn đề này chỉ được thảo luận trong một nhóm các vấn đề chính trị khác như cựu binh Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA), nhân quyền, hỗ trợ kinh tế và cơ cấu lại các khoản nợ. Đây là biểu hiện của quyền lực mà theo truyền thống Mỹ đối xử với VN trong quan hệ của mình với nước này. Để bảo đảm việc có tiến bộ trong đàm phán giả quyết tranh chấp, Việt Nam cần phải đảm bảo rằng đàm phán ngoại giao chỉ gói gọn trong vấn đề giải quyết hậu quả chất độc da cam.

Đàm phán thông qua ‘Môi giới’ và Đàm phán cấp cao là hai hình thức đàm phán khác nữa. Việc sử dụng môi giới về bản chất có thể tận dụng vị trí trung lập mà bên thứ 3 đưa ra, người mà có thể có vai trò như nhà đàm phán con thoi trong một số hòan cảnh nhất định. Điều này cho phép các bên liên quan giữ được thể diện trong một số hoàn cảnh mang nặng tính tình cảm. Đàm phán cấp cao bao gồm các cuộc tiếp xúc giữa các nguyên thủ quốc gia có thể được dùng cho nhiều lý do, trong đó có việc tạo ra niềm tin vì lợi ích của cộng đồng. Đây cũng là một nhân tố ‘giữ thể diện’ bằng cách cho thấy giải quyết tranh chấp một cách ép buộc là không cần thiết và các bên liên quan có mối liên hệ công tác mạnh mẽ với nhau. Theo Merrills nhận xét:

ngoại giao cấp cao có thể tạo thuận lợi cho thỏa thuận bằng cách cho phép các thủ tục hành chính được bỏ qua ở một mức độ nhất định trong khi đưa ra một giải pháp để thỏa thuận dưới hình thức nâng cao danh tiếng cho các nhà lãnh đạo có liên quan. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ngoại giao cấp cao thường là đỉnh cao của rất nhiều cuộc đàm phán thông thường khác và ít nhất trong một số trường hợp phản ánh không gì khác ngoài mong muốn tạo ra lợi ích chính trị từ một thoả thuận vốn đã được định sẵn.[64]

Ngoài ra, Astor và Chinkin cũng nhận xét

thực tế bao trùm của đàm phán quốc tế là việc liên tục gửi các thông điệp chung và cá nhân và kiểm tra lập trường của các bên trong quá trình giao tiếp chính thức và không chính thức Có nhiều mục đích cho việc liên lạc và không phải lúc nào các mục đích cũng được định hình trước chứ chưa nói đến có thể dẫn đến giải quyết được tranh chấp.[65]

Cho dù cách xử sự có được tính toán trước hay không, thì thông điệp chính thức và cá nhân rõ ràng mà Mỹ gửi đi cho thấy việc giải quyết thông qua đàm phán sẽ hạn chế cơ hội thành công. Nếu để ý đến tinh thần trong tuyên bố trích ở phần trước của nhân viên Sứ quán Mỹ và các hình thức đàm phán trước đây, có vẻ như đàm phán ad hoc hay cấp cao sẽ có rủi ro là không thúc đẩy được tranh chấp tiến tới một giải pháp mà độc lập với các vấn đề chính trị khác. Các nhà đàm phán ngoại giao cũng có trách nhiệm nặng nề đối với những người ủng hộ họ, những người ở nước ngoài bao gồm cả cộng đồng người di tản và những người làm ăn với phía bên kia. Quan hệ thương mại được cả hai bên đánh giá cao và bởi vậy điều quan trọng đối với các nhà ngoại giao là không được làm tổn hại đến mối quan hệ đang manh nha giữa hai quốc gia, và cũng không được làm phương hại tới những lợi ích trong nước của các công dân nước mình. Điều này có thể dẫn tới việc tránh đi chứ không giải quyết những lĩnh vực tranh chấp quan trọng. Đây là vấn đề thực sự được quan tâm trong trường hợp quan hệ Việt Nam-Mỹ, trong đó các kênh ngoại giao đều khá mới nhưng đã có một lượng lớn các vấn đề ngoại giao đòi hỏi phải thảo luận.[66]

Mặc dù đàm phán với tư cách là phương thức duy nhất giải quyết tranh chấp nhưng dường như không hoàn toàn phù hợp cho tranh chấp này nhưng đàm phán có thể tiếp tục giải quyết các vấn đề thủ tục nhằm xác định hình thức một cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính tổ chức. Merrills đã chỉ ra rằng phương thức này có những lợi ích đáng kể khi mà một bên được đòi hỏi phải nhượng bộ một cách đáng kể đáp ứng, như trong vụ tranh chấp Hồ Lanoux trong đó “thoả thuận cuối cùng của các bên giải quyết tranh chấp dựa vào trọng tài đã mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia trong việc giải quyết dứt điểm vấn đề đã được đàm phán suốt 40 năm và trong việc xoá bỏ được một vấn đề hết sức gai góc giữa Pháp và Tây Ban nha”. [67]Các biện pháp các bên liên quan có thể dựa vào gồm trọng tài, hoà giải, trung gian và điều tra.

3.5 Trọng tài

Hầu hết các trọng tài quốc tế thường được đề cập tới một tòa trọng tài trên cơ sở một điều khoản giải quyết tranh chấp mang tính bắt buộc trong một hiệp định quốc tế. Tuy nhiên, vẫn có cơ hội cho tranh chấp như vấn đề bồi thường thiệt hại do Chất độc màu da cam được đưa ra tòa trọng tài trên cơ sở sự nhất trí của các bên. Trọng tài là một biện pháp giải quyết tranh chấp phổ biển và dễ hiểu đối với cả Mỹ và Việt Nam và cho phép các bên quyết định phạm vi điều tra, các kết quả giải quyết tranh chấp có thể có và tính chất của trọng tài. Theo Merril, Vụ Beagle Channel[68] đã cho thấy việc lựa chọn một hội đồng trọng tài đã có thể đưa tới một giải pháp mà cả 2 cùng thắng vì trong vụ đó một bên muốn giải quyết vụ việc bằng con đường xét xử bằng Tòa án quốc tế nhưng đã không đáp ứng yêu cầu của phía bên kia muốn vụ việc được xét xử bằng trọng tài bao gồm các luật gia.

Một số các tổ chức quốc tế đã dự thảo các quy tắc về việc hoạt động của trọng tài và đã thông qua một số các quy tắc nhằm tránh các bất đồng về thành phấn và quy tắc trọng tài tiến hành. Một trong các hình thức trọng tài trọng tài được sử dụng phổ biến nhất là quy tắc trọng tài UNCITRAL được thông qua năm 1976.[69] Các thể chế như Tòa trọng tài thường trực quốc tế có thể cung cấp địa điểm cho trọng tài ở nước thứ 3.

Tòa trọng tài giả quyết yêu sách bồi thường Mỹ-Iran là một hình mẫu giá trị về hệ thống trọng tài mang tính thể chế được thành lập để nghe các yêu sách của cá nhân và nhà nước. Tòa trọng tài này được thành lập năm 1981 theo Tuyên bố về giải quyết các yêu sách và đã giải quyết xấp xỉ 4000 yêu sách kể từ khi được thành lập.

Một trong những ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp này là cả tranh chấp Nhà nước-Nhà nước và tranh chấp Nhà nước-cá nhân đều có thể được giải quyết theo một hệ thống các quy tắc được chính thức hóa, sử dụng việc kết hợp luật của cả mỗi nước. Sau khi nhất trí về nguyên tắc các điều khoản của việc bồi thường[70], mỗi cá nhân hoặc các gia đình có thể được coi là một tranh chấp riêng lẻ và được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể. Trong khi điều này tránh được các vấn đề hành động tập thể đi cùng với các hành động riêng trong nước Mỹ, một vấn đề tồn tại là địa điểm cho trọng tài và các chi phí đi cùng với việc tham dự và đại diện của các bên Việt Nam.

Trọng tài sẽ là một trong nhiều hình thức giải quyết tranh chấp được các bên ủng hộ nếu mà các bên có khả năng đạt được một thỏa thuận sơ bộ và nếu như họ tìm kiếm một giải pháp cuối cùng, có thể được thi hành, mang tính tổ chức cho các yêu sách và một biện pháp bảo đảm rằng việc bồi thường thiệt hại được phân bổ trong các thành viên của các nhóm nạn nhân trên cơ sở từng cá nhân một. Bất tiện lớn nhất sẽ là vấn đề chi phí đi kèm với việc nge từng vụ ciệc và các khó khăn trong việc thi hành các biện pháp bảo đảm việc nge tranh tụng là công bằng và có thể chấp nhận được với cả 2 bên.

3.3 Hội đồng Hoà giải

Hội đồng Hoà giải, giống như trọng tài, là phương pháp giải quyết tranh chấp trên cơ sở đồng thuận khi mà thẩm quyền của các tổ chức giải quyết tranh chấp được các bên trao cho thông qua thỏa thuận của các bên.

Tuy nhiên, trong mối quan hệ với mức độ tự chủ dành cho các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài hoàn toàn khác biệt với Trọng tài. Khi mà một trọng tài viên chỉ có thể đưa ra phán quyết phù hợp với mong muốn mà các bên tìm kiếm, phạm vi vai trò của Ủy ban Hòa giải không phải là việc phân xử và quyết định trong bất cứ trường hợp nào không bị hạn chế trong các yêu cầu mà các bên tìm kiếm. Điều này tạo ra cơ hội cho một giải pháp cùng thắng hơn là giải pháp bên được bên thua vốn được coi là kết quả của trọng tài hoặc quá trình tố tụng.

Như Raiffa đã chỉ ra nhấn mạnh, hoà giải viên đóng một số vai trò và tạo ra một cơ chế có ý nghĩa cho các bên trong việc giữ thể diện và hạn chế sự khác biệt của họ vào các vấn đề nội dung hơn là các vấn đề mang tính thủ tục. Một số vai trò của hoà giải mà Raiffa gợi ý bao gồm:

– Giúp việc trao đổi thông tin (trước đàm phán, ngoại giao con thoi);

– Thăm dò nhu cầu đàm phán ở cấp thâp hoặc bằng cách không chính thức;

– Giúp tạo các thuận lợi, tóm tắt các tranh chấp, chuẩn bị các văn kiện đưa ra công khai;

– Giúp thiết lập quan hệ, ổn định và kiểm soát tình cảm của những người chủ chốt, tạo điều kiện xoá bỏ các tranh cãi mang tính cá nhân và cách ly con người khỏi vấn đề;

– Tạo điều kiện bằng việc can thiệp có tính chất phân tích trong việc giải quyết vấn đề, tìm hiểu các cơ hội không chác chắn, dự đoán, sử dụng các mô hinh bơỉ các chuyên gia trung lập, giúp đỡ các bên xây dựng các nô hình mẫu mà có thể được sử dụng một cách riêng lẻ hay tập thể;

– Tạo điều kiện chuẩn bị các thoả thuận mang tính thoả hiệp, khai thác các khác biệt trong việc đánh giá về khả năng xảy ra của một sự việc, việc không thích mạo hiểm, các thỏa hiệp tạm thời và giá trị của chung và các nhu cầu mang tính hình thức khác.[71]

Cũng giống như trọng tài, Hội đồng hoà giải được đưa ra dưới sự bảo trợ của nhiều tổ chức, bao gồm Toà trọng tài thường trực. UNCITRAL cũng đã dự thảo quy tắc cho Hội đồng hoà giải và đã được hoàn tất vào năm 1980 mà cũng giống như quy tắc trọng tài, có các lợi thế của việc cần thiết phải thảo luận về các vấn đề thủ tục bằng cách thông qua một mô hinh mẫu mang tính quốc tế được chấp nhận.

Merrils cũng chứng minh một số các ví dụ thành công của hình thức hội đồng hòa giải ad hoc bao gồm Ủy ban hoà giải Pháp – Xiêm năm 1947, và đặc biệt là ví dụ về Ủy ban Hòa giải Bỉ – Đan Mạch năm 1952. Trong Vụ giữa Bỉ- Đan Mạch, Chính phủ Đan Mạch đã yêu cầu chính phủ Bỉ bồi thường thiệt hại do mất 2 tàu buôn trong thời gian chiến tranh khi Bỉ bị Đức xâm lược.Vấn đề pháp luật khá phức tạp là xác định tính chất của tranh chấp, nhưng hội đồng hòa giải đã bị chia rẽ đối với cách tiếp cận vấn đề pháp lý phù hợp. Điều đó đã được xử lý khi Hội đồng bỏ qua những vấn đề chưa được giải quyết này và đề xuất một giải pháp tổng thể có tính đến những vấn đề không rõ ràng về mặt pháp lý.[72] Có rất nhiều điểm giống nhau giữa vụ tranh chấp Bỉ- Đan Mạch và vụ tranh chấp giữa Mỹ- Việt Nam và vụ việc cho thấy khả năng sử dụng thủ tục hội đồng hòa giải. Cuối cùng một ưu điểm khác của hội đồng hòa giải là nó có thể kết hợp rất tốt với các thủ tục khác để tạo ra một thủ tục mang tính kết hợp như Hội đồng hòa giải – trọng tài (được đề cập dưới đây).

3.4. Hoà giải

Hoà giải có thể được coi như là một hình thức đàm phán có định hướng hay có tổ chức (structured) với người hoà giải đóng vai trò làm bên thứ 3 trung lập trong việc tạo thuận lợi hoặc định hướng cho các bên nhằm đạt tới một giải pháp cho tranh chấp của họ. Trên trường quốc tế, rất nhiều tổ chức quốc tế như là Liên hợp quốc, Hội chữ thập đỏ quốc tế đề xuất việc thực hiện vai trò của người hoà giải; vai trò người hòa giải cũng có thể do một quan chức nhà nước cao cấp của một quốc gia trung lập thứ 3 đảm nhiệm. Giống như đàm phán, bản chất thoả thuận của hoà giải làm cho việc các bên tham dự đầy đủ vào quá trình trở thành hết sức cần thiết nếu như tranh chấp được giải quyết.

Phẩm chất cá nhân của người hoà giải đóng vai trò then chốt trong tiến trình hoà giải do công việc hết sức quan trọng của người hòa giải là thiết lập mối quan hệ với tất cả các bên và khuyến khích họ bày tỏ lợi ích, thực hiện việc nhân nhượng, xem xét các đề xuất và các phản đề xuất về giải pháp cho tranh chấp. Một chức năng quan trọng khác của người hoà giải là kiểm tra thực tế bất cứ một giải pháp nào được đưa ra nhằm bảo đảm rằng các bên sẽ tự nguyện và có khả năng thực hiện thỏa thuận của mình – điều này đặc biệt quan trọng khi mà bản thân những nhà hoà giải không có thẩm quyền ép buộc các bên phải giữ quyết định và ở cấp độ quốc tế không có việc đưa ra một toà án do sự vi phạm thoả thuận về giải quyết tranh chấp. Boule[73] đã xác định 4 loại hoà giải khác nhau, trong mỗi loại đó các nhà hoà giải sẽ đóng các vai trò khác nhau:

Hoà giải nhằm giải quyết: tập trung vào việc tìm ra một giải pháp thỏa hiệp giữa các quan điểm đã được ấn định và thông thường chỉ liên quan riêng đến việc bồi thường thiệt hại mang tính chất tiền tệ;

Hoà giải mang tính chất hỗ trợ trong đó hoà giải viên “tiến hành việc hoà giải theo một giới hạn chặt chẽ nhằm xác định vấn đề một cách toàn diện, tập trung vào nhu cầu và lợi ích của các bên và cố gắng xây dựng một giải pháp mang tính đột phá mà các bên có thể áp dụng vào giải quyết vấn đề”;[74]

Hoà giải mang tính liệu pháp: tập trung chủ yếu vào vấn đề bên trong quan hệ giữa các bên mà gây ra tranh chấp. Loại hình này thường được đề cập tới như là hình thức hoà giải chuyển tiếp; và

Hoà giải mang tính chất đánh giá: trong đó chuyên môn cá nhân của nhà hoà giải được sử dụng để “định hướng và đưa ra lời khuyên” cho các bên. Hoà giải mang tính chất đánh giá thường được tiến hành bởi các luật sư hoặc cách chuyên gia về lĩnh vực tranh chấp, những người có khuynh hướng sử dụng sự phán đoán của họ về các kết quả có thể xảy ra tại trọng tài hoặc quá trình tố tụng để hướng các bên tới một giải pháp.

Như đã được nêu ở phần đầu của phần này, tập trung chính của Việt Nam chủ yếu là trên vấn đề bồi thường thiệt hại, do việc công lý được phục hồi về thực chất được xem là một việc làm quá tốn kém. Cũng tương tự như vậy, dường như có một nhận thức mang truyền thống văn hóa và lịch sử như là những cân nhắc mang tính lâu dài và không có một nhận thức giống nhau là quan hệ cần được hàn gắn – hơn là quan hệ tự nó sẽ được hàn gắn qua thời gian. Điều này hoàn toàn trái ngược với nhận thức của Phương tây là việc “khép lại” xung đột là hoàn toàn cần thiết và mối quan hệ cần được khôi phục lại một cách tích cực. Vì những lý do này, dường như việc hòa giải mang tính liệu pháp có thể không thích hợp trong bối cảnh. Ở một khía cạnh khác, việc tập trung vào đòi bồi thường thiệt hại không có nghĩa là việc giải quyết thông qua hòa giải là một lựa chọn thích hợp. Nếu như đề xuất một hòa giải viên, các bên cần lưu ý là tư cách cá nhân của hòa giải viên, mức độ tin cậy của người này với bên kia và có hay không việc hòa giải do hòa giải viên đó tiến hành phù hợp với ý tưởng của các bên về việc họ muốn tranh chấp được giải quyết thế nào.

3.5 Uỷ ban điều tra:

Đặc điểm chính của một Uỷ ban điều tra để phân biệt nó với các loại hình xét xử khác là phạm vi vai trò của Uỷ ban điều tra:[75] dù là lâm thời hay mang tính thể chế, vai trò các thành viên uỷ ban được giới hạn trong việc tìm hiểu thực tế hơn là đưa ra một quyết định giải quyết tranh chấp. Nhìn chung, uỷ ban không có quyền quyết định bất cứ vấn đề pháp luật hoặc quyết định chính thức bất cứ hình thức trách nhiệm nào, mặc dù Bar Yaacov giải thích rằng thuật ngữ điều tra đã không được sử dụng một cách đồng nhất trong cả thực tiễn lẫn trong việc nghiên cứu, ghi nhận rằng một loạt các hoạt động tìm hiểu thực tế do Liên hợp quốc (hoặc Hội quốc liên trước đây) tiến hành thường được đề cập tới như là “hoạt động điều tra”.[76]

Ví dụ về sự thành công của Ủy ban điều tra bao gồm Nhóm điều tra tình hình Hungary (1956), Uỷ ban đặc biệt về chính sách Apertheid của chính phủ Cộng hoà Nam phi (1961), Uỷ ban điều tra của Liên hợp quốc về các sự kiện biên giới Hy Lạp (1946), về các xung đột biên giới giữa Honduras và Nicaragua (1957), Panama và Cu Ba (1958), và giữa Venezuela và Cộng hoà Dominicana (1960).

Các quy định pháp lý chính được pháp điển hóa về Ủy ban điều tra được phát triển từ các Công ước La Hay về Giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế năm 1899 và 1907. Quy tắc thủ tục lựa chọn cho Ủy ban điều tra về tìm hiểu sự thật của của Toà trọng tài thường trực đã được thông qua năm 1997 và một lần nữa được dựa trên quy tắc UNCITRAL.

Tác giả bài viết cho rằng một Uỷ ban điều tra là hình thức hoàn toàn thích hợp cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do Chất độc màu da cam giữa Việt Nam-Hoa Kỳ. Cụ thể, việc thiết lập một uỷ ban với đại diện từ cả 2 nước và với một chủ tịch uỷ ban là người trung lập sẽ cho phép việc xem xét và thẩm định thiệt hại mà không động chạm đến vấn đề pháp lý và vấn đề trách nhiệm. Điều này là có lợi cho cả hai bên vì nếu xét từ quan điểm của Việt Nam, các tranh cãi pháp lý tốn kém và những hành động tạm thời có thể tránh được, còn đối với phía Mỹ, vấn đề trách nhiệm sẽ không được thảo luận. Trong khi điều này một thập kỷ trước đây có thể không phải là một nhân tố mang tính thúc đẩy mạnh mẽ cho phía Mỹ nhưng do kết quả của việc ngiên cứu gần đây ở Mỹ, người ta đã thừa nhận rằng:

“Chính phủ và những nhà sản xuất Chất độc màu da cam không nghi ngờ gì đã biết trước khi Chất độc mau da cam được rải là dioxin là một chất rất độc hại có thể đưa đến những nguy hiểm cho những người tiếp xúc…. Cũng có những lý do để tin rằng ca chính phủ lẫn những nhà sản xuất đều không thực hiện trách nhiệm tiến hành những thí nghiệm và kiểm tra thích hợp trước khi sản xuất và sử dụng hóa chất, tiết lộ nhanh chóng về các nguy hiểm và thi hành các biện pháp đề phòng cần thiết thông qua việc cảnh báo và các việc làm tương tự”.[77]

Thêm vào đó, các tài liệu trước đây được coi là bí mật vào thời điểm ban hành Nghị quyết về vấn đề Vịnh Bắc Bộ đã được công bố và cho thấy các lý do mà Chính phủ Mỹ cho rằng các hành động xâm lược đã diễn ra, thực tế, đã được tô vẽ một cách cẩu thả nhằm phục vụ mục đích chính trị.[78]Các phản ứng trong nước và quốc tế về việc Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác là đáng kể và việc thảo luận vấn đề này trong bối cảnh cuộc chiến Việt Mỹ và vấn đề trách nhiệm của Mỹ sẽ tạo thêm các phản ứng tiêu cực từ phía dư luận.

3.6 Các thủ tục mang tính kết hợp:

Bản chất thỏa thuận của các thủ tục giải quyết tranh chấp có nghĩa là các cũng có thể đưa ra một hình thức giải quyết tranh chấp mang tính kết hợp, theo đó các bên thỏa thuận trước việc chuyển từ thủ tục này sang thủ tục khác trong trường hợp không đạt được giải pháp cho tranh chấp.

Một số thủ tục mang tính kết hợp có khả năng đáp ứng các nhu cầu và lợi ích của các bên bao gồm:

Kết hợp giữa hoà giải-trọng tài: đây là một hình thức phổ biến cho việc giải quyết tranh chấp trong nước do nó cho phép các bên cơ hội đạt được một thoả thuận thông qua việc đồng thuận, nhưng họ được bảo đảm rằng một thỏa thuận mang tính ràng buộc cuối cùng sẽ được một Hội đồng trọng tài đưa ra trong trường hợp việc hòa giải không đưa tới giải pháp cho tranh chấp. Các bên cũng có thể muốn thỏa thuận về tính chất của Hội đồng trọng tài trước khi đưa ra hoà giải hoặc họ cũng có thể tìm kiếm việc chỉ định một Hội đồng trọng tài như là kết quả cuối cùng của việc hoà giải. Việc kết hợp này cho phép cả 2 bên cơ hội thiết lập quan hệ giữa các bên (thông qua hoà giải) với việc tin tưởng là tranh chấp cuối cùng sẽ được giải quyết vào thời điểm kết thúc của quá trình giải quyết tranh chấp với một quyết định trọng tài có thể được thi hành.

Kết hợp giữa Hội đồng hòa giải – trọng tài: Có các đặc điểm tương tự như việc kết hợp giữa hoà giải – trọng tài được nêu trên, hình thức này là một lựa chọn cho phép tranh chấp được giải quyết thông qua Hội đồng duy nhất mà vai trò của Hội đồng sẽ được chuyển từ là người tạo điều kiện thuận lợi sang người xét xử nếu như thỏa thuận không đạt được ở thủ tục thứ nhất (Hội đồng hòa giải).

Kết hợp giữa hòa giải – Hội đồng hòa giải: Thủ tục này có một số điểm tương tự như thủ tục Hội đồng hòa giải- trọng tài nêu trên ngoại trừ việc các bên giữ một quyền kiểm soát về phạm vi của giải pháp và xem xét một loạt các giải pháp trong phạm vi lớn hơn do Hội đồng đưa ra.

Kết hợp giữa điều tra – đàm phán: thủ tục này có lợi thế là tránh được vấn đề trách nhiệm hoặc việc áp đặt một giải pháp thông qua xét xử đối với các bên. Sử dụng Uỷ ban điều tra có thể tuyên bố về các vấn đề thiệt hại chính và các bên sau đó có thể tự đàm phán về một thoả thuận giữa họ.

Kết hợp giữa điều tra – trọng tài: như đã được trình bày ở trên, thủ tục này cũng như các thủ tục khác có lợi thế trong việc tránh đề cập vấn đề trách nhiệm. Tuy nhiên, nó khác là một biện pháp được ấn định cho việc phân bổ và phân xử các yêu sách cá nhân được quyết định và do đó được quyết định một cách duy nhất bằng bên thứ 3.

KẾT LUẬN

Thiệt hại do chất độc màu da cam chỉ là một trong nhiều loại thiệt hại mà cuộc chiến tranh Việt Nam gây ra cho con người, môi trường cũng như quan hệ giữa các quốc gia. Trong khi rất nhiều các vết thương tình cảm cần thời gian để hàn gắn một cách đầy đủ, cơ hội nắm bắt vấn đề thiệt hại đối với con người và môi trường ở Việt Nam không nên bị bỏ qua hoặc phải chờ đợi bởi các tính toán chính trị không cần thiết.

Hành động tập thể Việt Nam có thể có thế mạnh khi kháng cáo, tuy nhiên mục đích của bài viết này cho rằng việc chỉ tập trung vào kháng cáo có thể là sai lầm. Có các bằng chứng hết sức thuyết phục và mạnh mẽ về các thiệt hại ở Việt Nam là do Chất độc màu da cam gây ra bất kể chúng có được coi là thích hợp cho quá trình tố tụng hay không. Trong khi quá trình tố tụng đòi hỏi các nguyên đơn phải cung cấp một số loại chứng cứ nhất định, các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính thay thế khác có khả năng chấp nhận những thực tế này, với thực tế là hai bên sẽ phải bỏ ra một chi phí lớn hơn nhiều lần số tiền tranh chấp thực tế để chứng minh yêu sách của mình. Nói một cách đơn giản, hàng triệu đô la để chứng minh và phản lại các chứng minh về nguyên nhân thiệt hại ở Việt Nam có thể được sử dụng một cách hữu hiệu và dễ dàng hơn ở Việt Nam để giảm nhẹ các nỗi đau mà người dân ở đây phải gánh chịu và phần nào đó có thể bù đắp cho những thiệt hại về môi trường.

Phần thứ III của bài viết này giới thiệu một loạt các cơ chế khá tiết kiệm mà có khả năng giải quyết vấn đề theo cách thích hợp cả về mặt chính trị và pháp lý. Mục đích của bài viết này không phải là gợi ý một biện pháp duy nhất nào mà thay vào đó giới thiệu một loạt các biện pháp giải quyết tranh chấp hiện có. Việc lựa chọn thận trọng trong số các biện pháp này sẽ không những thoả mãn các nhu cầu và lợi ích thiết yếu của các bên mà còn cho phép giả quyết tranh chấp và các vấn đề cơ bản của cuộc chiến tranh đồng thời tạo động lực cho việc phát triển hơn nữa quan hệ Việt – Mỹ.


* Giảng viên và nghiên cứu viên tại Trung tâm luật công, luật ưuốc tế và luật so sánh, Trường Luật TC Beirne, Trường đại học tổng hợp Queensland, Australia. Email: l.toohey@law.uq.edu.au. Tác giả xin chân thành cám ơn giáo sư Camille Cameron, trường đại học Melbourne vì sự dộng viên và chỉ dẫn mang tính xây dựng của bà đối với bài viết này.[1] Bài viết này chủ yếu chỉ tập trung vào Việt nam, tuy nhiên, các cơ chế giải quyết tranh chấp được thảo luận trong bài viết cũng hoàn toàn phù hợp cho Lào và Campuchia. Các vấn đề liên quan tới một hành động tập thể của 3 nước sẽ được giời thiệu tóm tắt ở phần sau.

[2] Viện Y học, Cựu chiến binh và chất độc màu da cam, các tác động sức khoẻ của hoá chất diệt cỏ được sử dụng ở Việt Nam, (1994), Washington., D.C., National Academy Press, at 74, extracting Bionetics Research Labaratories (1968), Evaluation of Carcinogenic, Teratogenic, and Mutagenic Activities of Selected Presticides and Industrial Chemicals.

[3] Institute of Medicine, Updated Summary of Findings in Occupational, Enviromental and Veterans Studies Regarding the Association between Specific Heath Outcomes and Exposure to Herbicides (2000), at 3.

[4] Có một số bằng chứng, mặc dù còn chưa đầy đủ về việc Australia đã sử dụng Chất độc màu da cam ở một số khu vực xung quanh, kể cả vùng Núi Đất. Xin xem Dux, J. and Young, Agent Orange: The Bitter Harvest. (1980). Toronto, Hodder and Stoughton).

[5] In Re Agent Orange Production Liability 611 F. Supp. 1396 (E.D.N.Y. 1985) sub norm. Michael F. Ryan at al, Plaitiffs, v. Dow Chemical Company, et al, Defendants. MDL No. 381. 79-C-747, In Re Agent Orange Product Liability 611 F. Supp. 1267 (E.D.N.Y. 1985), aff’d, 818 F.2d 187 (2d Cir), petition for cert. filed sub nom. Lombardi v. Dow Chem. Co., 56 USL. W. 3249 (No. 87-436, Dec. 15, 1987).

[6] Brunnstrom, D. Vietnam Blood Dioxin Levels “Startling”- US Expert (2002). Reuters News Service.

[7] Satchell, M. Questions in a Village (1999), US News and World Report,.126: 62

[8] Có một quan điểm được thừa nhận chung về các sự kiện cho thấy một cuộc xung đột do miền Bắc Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, mặc dù sau đó Tổng Thống Johnson được cho là đã bình luận “ với tất cả những gì tôi biết thì hải quân chúng ta đã bắn vào các con cá heo ở đó”. Xem Burner, Divid, Bernhard, Virginia and Kutler, Stanley. Firsthand American: A History of the United States. Volume 2, 4th ed. (st. James, NY: Brandywine Press, 1966), at 952.

[9] Các nghiên cứu đã được thực hiện ở 3 loại chất này. Tuy nhiên, Dux và Young cho rằng Chất màu hồng, Chất màu xanh lá cây và Chất màu tía cũng chứa một hàm lượng cao chất TCĐ. Xem Dux, J. and Young, P. J, footnote số 4.

[10] An Abbreviation for tetrachlorodibenzodioxin

[11] [11]. Xem Johson, B.L. Congressional Testimony by the Assistant Surgeon General on the Public Heath Implication of Dioxin (1992). Subcommittee on Human Resources and Intergovernmental Relations Committee on Government Operations. http://www.atsdr.cdc.gov/test-06-10-92.htm.

[12] Như trên

[13]. EPA’s Dioxin Limits.(1990), 3 Alkaline Paper Advocate. http://palimpsest.stanford.edu/byorg/abbey/ap/ap03/ap03-6

[14] Chiến dịch Operation Ranch Hand là một chiến dịch do Không quân Mỹ tiến hành như là một phần trong chiến dịch lớn hơn Operation Trail Dust.

[15] Dux, J and Young, note 4 nêu trên, trang 13 và 28.

[16] Institute ò Medicine, note 3 nêu trên

[17] Như trên

[18] US Department of Veterans Affairs, Agent Orange-Herbicide Exposure (1991). http:// http://www.vba.va.gv/bln/21/benefits/herbicide/AOno3.htm.

[19] Christopher Portier, Chủ tịch Hội nghị quốc tế về Chất độc màu da cam ở hà Nội nam 2002. Trích trong US. Vietnam Discuss Effects of Agent Orange (2002). Reuters News Agency.

[20] Projected 2002 statistic. Nguồn: Vietnam Economic and Trade Information of the Australian Department of Foreign Affairs and Trade. Để so sánh, thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Mỹ là 36,300 & và của Australia là 21,000 &.

[21] Jones, O. B. Vietnam ForgivesBbutCan’t Forget, (2000). The Guardian. Lon don. Những lo ngại là hoàn toàn có cơ sở: nông nghiệp đóng góp ¼ tổng thu nhập của Việt Nam và sử dụng một lượng lớn dân số. Hơn thế nữa, việc kết luận về mức độ dioxin đã được những người phản đổi việc xuất khẩu cá bas a vào Mỹ sử dụng (mặc dù không có các căn cứ khoa học). Xem Brunnstrom, note 6 nêu trên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dioxin không được cây cối hấp thụ cũng như hoà tan trong nước

[22] Lào có mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người là 333 $, Campuchia là 260 $. Nguồn: Vietnam Economic and Trade Information of the Australia Department of Foreign Affairs and Trade (2001 data).

[23] Brunnstrom, note 6. Xem them Hatfield Consultants Ltd, Report to the Vietnamese National Committee for the Investigation of the Consequence of the Chemicals Used during the Vietnam War (10-80 Committêee ), Preliminary Assessment of Environmental Impacts Related to Spraying of Agent Orange Herbicide During the Vietnam War, (1998), Vancouver.

[24] Satchell, M, note 7 nêu trên.

[25] Reported in Cayo, D. Children of Agent Orange (2000) United Nations Development Programme Vietnam, http:// http://www.undp. Org.vn/dmu/events/Events-2000/000420a.

[26] Schecter, A., Payuk, M., et al. Update on Agent Orange and Dioxin Findíng in Vietnam. Laos and Cambodia. ( Paper presented at the 130th Annual Meeting of APHA, Philadelphia, 2002. and Scheter, A., My Samedy, et al. Agent Orange in Cambodia: Dioxin Blood Levels in Cambodián in 1999. (Paper presented at the 128th Annual Meeting of ÂPH, Boston, 2000.

[27] Uỷ ban này được biết tới với cái tên Uỷ ban điều tra hậu quả chất độc màu da cam ở Việt Nam.

[28] Brunnstrom, D. HanoiMeeting Probes “Last Ghost” of Vietnam War (2002). Reuters News Service.

[29] Sứ quán Mỹ tại Hà Nội, Việt Nam- Mỹ ký Thoả thuận về việc nghiên cứu Chất độc màu da cam/Dioxin (2002). http:// usembassy.state.gov/Vietnam/wwwh020310ii.html.

[30] Những vấn đề này bao gồm: giải quyết vấn đề người tị nạn, kiểm kê đầy đủ số tù binh chiến tranh và những người mất tích trong chiến tranh, trả nợ quốc gia, các vấn đề an ninh, việc thâm nhập thị trường Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ và vấn đề hợp tác thi hành pháp luật nói chung. Xem, Manyin, M. E., TheVietnam- US Normalization Process: Issue Brief for Congress, Congressional Rearche Service, (2002), Washington, D.C.

[31] Ghi nhận rằng không chỉ bao gồm các nạn nhân Chất độc màu da cam, mà còn cả các nạn nhân do mìn và các gia đình người Việt Nam có thân nhân mất tích trong chiến tranh.

[32] Brunnstrom, D., note 28 nêu trên.

[33] Blagov, S. U.S. Far from Settling “Agent Orange” Score in Vietnam (1999). Asia Time Online. Copy Available at http://www.twnside.org.sg/title/1883-cn.htm. Và tác giải cũng đã các cuộc phỏng vấn với một số học giả và những người làm công tác pháp lý ở Hà Nội vào cuối năm 2002.

[34] The Vietnam Association for Victims of Agent Orange/Dioxin, et al. v. The Dow Chemical Company, Monsanto Copany, et al. Complaint filed 30 January 2004.

[35] In Re Agent Orange Product Liability: The Vietnam Association for Victims of Agent Orange/Dioxin et al v, The Dow Chemical Company; Monsanto Company et al. MDL No 381 04-CV-400 US District Court (EDNY 2005), at 11-15

[36] 124 S.Ct 2739

[37] In Re Agent Orange Product Liability: The Vietnam Association for Victims of Agent Orange/Dioxin et al v, The Dow Chemical Company; Monsanto Company et al. MDL No 381 04-CV-400 US District Court (EDNY 2005), at 11-15.

[38] Như trên, trang 141

[39] Như trên, trang 99

[40] Như trên, trang 129

[41] Như trên, trang 180-181

[42] Như trên, trang 180

[43] Do vụ Nicaragua, Mỹ đã không còn chấp nhận quyền tài phán bắt buộc của Tòa án Quốc tế

[44] Thực tế, cuộc chiến tranh Việt Nam đã là một động lực cho đàm phán những công ước này, đặc biệt là Công ước về vũ khí hóa học mà việc đàm phán công ước này đã được bắt đầu vào năm 1969.

[45] Trong Tuyên bố La hay về ngăn cấm việc sử dụng khí gas gây ngạt năm 1899, các bên ký kết nhất trí “tránh việc sử dụng phóng ra các vật thể mà có thể khuyếch tán khí gas gây ngạt thở hoặc khí gas độc”. Việc ngăn cấm này đã được mở rộng tại Hội nghị Hòa bình La hay lần thứ hai năm 1907, bao gồm cả “chất độc và vũ khí chứa chất độc” và được thay thế bằng Nghị định thư Geneva về ngăn cấm việc sử dụng các khí gas gây ngạt thở, chất độc và các loại khí gas khác trong chiến tranh” năm 1925 được thông qua tại Hội nghị quốc tế được tổ chức dưới sự bảo trợ của Hội quốc liên. Xem them Mathew, R. J. a. M., Tomothy L. H “The Influence of Humanitarian Principles in Negotiation of Arms Control Treaties”. (1999), 834 International Review of the Red Cross 331.

[46] Điều 35 quy định rằng “Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp hoặc các phương pháp chiến tranh mà đã có chủ định hoặc đã dự tính trước gây tổn hại nghiêm trọng, lâu dài và trên diện rộng đối với môi trường”. Việc nghiêm cấm này đã được đề cập cụ thể trong 2 phần của điều 55.

[47] Tuy nhiên một vấn đề cấp thiết hơn là tỷ lệ dung Chất độc màu da cam chống lại Việt Nam- Trong Vụ Nicaragua, Tòa án Quốc tế đã tuyên bố “có một nguyên tắc cụ thể theo đó việc phòng vệ chỉ có thể biện hộ cho các biện pháp tương xứng với việc tấn công bằng vũ khí và cần thiết để đáp trả nó, một nguyên tắc đã được thừa nhận trong luật quốc tế

[48] In re Agent Orange Product Liability Litigation, Amended Class Action, filed September 10, 2004, at 2.

[49] Xem Richter, B. Tonkin Incident Might Not Have Occurred (2002). San Antonio Express. San Antonio: Online Edition. And Burner, D., Bernhard, V., et al., First Hand America: A History of the US. (1998). New York, Brandywine Press, Incorporated. Burner, Bernard et al quote President Johnson as saying “For all I know, our navy was shooting at whales out there”. (at 952).

[50] Prugh, G. S., Law at War, Vietnam, 1964-1973. (1975). Washington, Dept. of the Army, at 87.

[51] Các bên ký kết gồm: Pháp. Mỹ, Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiệp định này đã được đăng ký với Tổng Thư ký Liên hợp quốc theo Điều 102 Hiến chương của Liên hợp quốc.

[52] Điều IV của Hiệp định

[53] Prugh, G. S, note 50 ở trên, trang 88.

[54] Điều này đặc biệt gắn với việc sử dụng các cuộc đàm phán ngoại giao- xem phần dưới.

[55] Statement of Interest of the United State, In re Agent Orange Litigation, at 4-5.

[56] Astor, H. and Chinkin, C. Dispute Resolution in Australia. (2002).Sydney, Lexis Nexis Butterworths, at 390-1

[57] Brunnstrom, D. Vets Say Vietnam Dioxin Victims Should Be Helped (2002). Reuters News Service.

[58] Cooke Farrell, E., The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea. (1998). The Hague, Martinus Nijhoff Publishers, at 186-7.

[59] Như trên, trang 9

[60] Fisher, R., W. Ury, et al., Getting to Yes: Negotiating an Agreement whithout Giving In . (1999). London, Random House Business Books, at 31.

[61] Xem Leonard, M and Blackhurst, R., I Don’t Think Anybody Thought Much About Whether Agent Orange Was against the Rules of War. (2002). The Observer, London.

[62] Vietnam Economic and Trade Information, Australia Department of Foreign Affairs and Trade (2001 data).

[63] Quoted in Dreyfuss, R. Apocalypse Still (2000) Mother John Website

[64] Merrills, J. G., International Dispute Settlement. ( 1998). Cambridge; New York, Cambridge University Press, at 9.

[65] Astor, H. and Chinkin, C. note 56 nêu trên, trang 406.

[66] Một khối lượng lớn các thảo luận có thể dẫn đến một công việc mệt mỏi cho những nhà đàm phán và thiếu một mục đích đưa vấn đề tranh chấp nên bàn thảo luận

[67] Merrills, J.G, note 64 như trên, trang 12.

[68] Argentina v. Chile (1977), 52 International Law Reports 93.

[69] Xem website: http://www.unicitral.org/english/texts/arbitration/arb-rules.htm.

[70] Thỏa thuận này có thể đạt được bằng cách hoặc là thông qua đàm phán, hòa giải hoặc các biện pháp mang tính quyết định khác, tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính kết hợp. Xem phần dưới về các biện pháp mang tính kết hợp. Thỏa thuận sơ bộ cần đạt được về các vấn đề như quyền tài phán của trọng tài, luật áp dụng, thành phần của trọng tài và luật điều chỉnh họat động của trọng tài.

[71] Raiffa, H., “Analytical Barriers” in K. Arrow, R, Mnookin, L. Ross, A. Tversky and R. Wilson, Eds. Barriers to Conflict Resolution (1995) New York, W.W. Norton & Co. at 132.

[72] Merrills, J.G, note 64 như trên, trang 67

[73] Boulle, L., Mediation: Principles, Process, Practice. (1996). Sydney, Butterworths, at 29-30.

[74] Như trên, trang 14

[75] “Ủy ban” trong nghĩa này được đề cập tới một hội đồng xét xử.

[76] Bar-Yaacov, N. The Handling of International Disputes by Means of Inquiry. (1974). London; New York, Published for the Royal Institute of International Affairs by Oxford University Press, at 5-17

[77] In Re Agent Orange Production Liability 611 F. Supp. 1267 (E.D.N.Y. 1985), aff’d, 818, F. 2d. 187 (2d Cir.), petition for cert. filed sub nom. Lombardi v. Dow Chem. Co., 56 USL. W. 3249 (No. 87-436, Dec. 15, 1987).

[78] Prugh, G. S., như note 50 ở trên.

XÁC ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THẨM QUYỀN ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

TS. ĐỖ VĂN ĐẠI

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp Việt Nam giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua người đại diện, thì việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện của các doanh nghiệp này để thực hiện một giao dịch lại trở nên phức tạp. Bởi về vấn đề này, pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài quy định không giống nhau. Trong khi đó, thực tiễn pháp lý Việt Nam trong những năm gần đây thường xảy ra những tranh chấp về thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, trong những trường hợp đó, việc quy định sử dụng pháp luật nước nào để điều chỉnh là cần thiết. Ví dụ:

Ngày 28/10/1995, Công ty Kurihara Kogyo được thành lập theo pháp luật Nhật Bản có chi nhánh tại Singapore ký với Công ty HN (là công ty liên doanh) một hợp đồng. Ngày 06/6/1998, Công ty HN ký một hợp đồng thanh toán trong đó thỏa thuận chọn trọng tài Hồng Kông khi các bên có tranh chấp. Người đại diện ký kết của Công ty HN là ông Thành và người đại diện của bên kia là ông Tài. Sau đó, Công ty HN cho rằng “ông Thành – Tổng giám đốc Công ty liên doanh không có quyền ký thỏa thuận trọng tài vì đây là vấn đề xác định vốn Công ty liên doanh nên phải do Hội đồng quản trị Công ty liên doanh quyết định”. Công ty HN cũng cho rằng, “ông Tài không đủ thẩm quyền ký hợp đồng thanh toán 06/6/1998 vì ông Tài là Giám đốc Công ty liên doanh Kurihara Thăng Long ký hợp đồng với Công ty liên doanh HN 28/10/1995, rồi lại thay mặt Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore – ký hợp đồng là không đúng quy định của pháp luật”(Xem Quyết định số 01/QĐ ngày 21/9/2001, thụ lý số 01/KTST ngày 18/6/2001 của TAND TP. Hà Nội).

Để biết ông Thành và ông Tài có thẩm quyền ký kết giao dịch trên hay không, chúng ta phải xác định pháp luật nước có thẩm quyền giải quyết. Chọn pháp luật nước nào khi ở đây có ba hệ thống pháp luật có thể được sử dụng: pháp luật Nhật Bản, pháp luật Singapore và pháp luật Việt Nam? Pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định rõ về vấn đề này. Vì vậy, chúng ta cùng nghiên cứu và tìm hướng giải quyết.

Thực trạng pháp luật Việt Nam

Thực trạng văn bản

Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay có quy định về xác định pháp luật điều chỉnh năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Điều 762) và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài (Điều 765). Tuy nhiên, cần thấy rằng, năng lực hành vi hay năng lực pháp luật dân sự của cá nhân hay pháp nhân và thẩm quyền đại diện doanh nghiệp là hai vấn đề khác nhau. Năng lực là khả năng của ai đó làm việc gì. Trong khi đó, thẩm quyền là khả năng của một ai đó thay mặt chủ thể khác thực hiện một hành vi pháp lý. Ví dụ, công ty A hoàn toàn có khả năng ký kết một thoả thuận trọng tài nhưng liệu ông B, phó giám đốc của công ty, có thể thay mặt công ty ký một thoả thuận trọng tài hay không lại là vấn đề thẩm quyền của ông B. Ngược lại, ông A là giám đốc một công ty có thể không có năng lực dân sự để ký thỏa thuận trọng tài để giải quyết một số tranh chấp cá nhân của mình, nhưng hoàn toàn có thể ký một thỏa thuận trọng tài với đối tác của công ty trên danh nghĩa là người có thẩm quyền đại diện công ty.

Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng đã có các quy định về xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự nhưng chưa có các quy định về vấn đề thẩm quyền. Luật Doanh nghiệp năm 2005 có những quy định về pháp luật áp dụng và quốc tịch của doanh nghiệp (Điều 3, 4) nhưng cũng không cho biết là pháp luật nước nào sẽ được chọn để điều chỉnh thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, rõ ràng về việc xác định pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ có yếu tố nước ngoài.

Thực tiễn pháp lý

Thực tiễn pháp lý Việt Nam có hai xu hướng xác định pháp luật áp dụng về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp.

Xu hướng thứ nhất là xác định thẩm quyền thông qua nghiên cứu một hệ thống pháp luật (pháp luật một nước). Ví dụ, tại Quyết định số 51/KTPT ngày 26/10/2001, Toà phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh có nhận xét: “Hợp đồng mua bán mà Công ty Recofi (Pháp) và Công ty Sunimex (Việt Nam) có quy định tại Điều 11 là việc thoả thuận chọn Trọng tài thuộc Phòng thương mại quốc tế Paris là không chặt chẽ theo điều lệ mẫu quy định. Do đó, khi phát sinh tranh chấp; quan điểm của mỗi bên hoàn toàn khác biệt nhau, không giải quyết thân thiện với nhau được theo nội dung của hợp đồng, mà phải ký thêm các điều kiện thoả thuận về việc chọn Trọng tài. Ngày 15/8/1998, các bên tiến hành ký kết các thể thức tham chiếu ICC vụ kiện số 9677/AC/DG. Phía Sunimex do ông Minh làm đại diện. Nhưng ở thời điểm này, ông Minh chỉ giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Sunimex theo quyết định của UBND TP. Hồ Chí Minh. Việc ông Minh tham gia ký đã không đủ tư cách là người đại diện hợp pháp để thoả thuận thể thức tham chiếu ICC ngày 15/8/1988 theo quy định của pháp luật Việt Nam, đã vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Điều 102 Bộ luật Dân sự, Điều 37 Luật Doanh nghiệp nhà nước và trái với Điều 19 Điều lệ hoạt động của Tổng công ty Sunimex”.

Ví dụ trên cho thấy, tòa án Việt Nam đã sử dụng pháp luật Việt Nam để cho rằng, ông Minh là người không có thẩm quyền đại diện công ty Sunimex trong giao dịch với Công ty Recofi, bởi lẽ, ông Minh chỉ là Phó Tổng Giám đốc Sunimex.

Xu hướng thứ hai là để xác định một người có thẩm quyền đại diện hay không, tòa án còn dẫn chiếu pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam (pháp luật hai nước), ví dụ:

Ngày 20/4/1993, Công ty Novus của Nga ký hợp đồng và hai phụ lục hợp đồng để bán cho Công ty Vinatex của Việt Nam một số lượng thép. Đại diện ký hợp đồng và phụ lục của bên bán là ông Malitski (Tổng giám đốc Công ty Novus) và bên mua là ông Nội (đại diện của Công ty Vinatex tại Nga). Thời gian sau, hai bên phát sinh tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, phía Việt Nam cho rằng, ông Nội không đủ tư cách ký hợp đồng và không được ủy quyền ký hợp đồng; còn phía Nga cho rằng, ông Nội có thẩm quyền ký kết hợp đồng (các bên không có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của ông Malitski). Xung quanh thẩm quyền đại diện của ông Nội, tòa án nhận định: “Căn cứ Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Đại diện kinh tế thương mại Việt Nam ở nước ngoài – ban hành kèm theo Nghị định 283/HĐBT ngày 8/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, căn cứ Khoản 2, Điều 2 Quy định số 299/TMDL-XNK ngày 09/4/1992 quy định về ký kết và quản lý hợp đồng Vinatex – chiểu theo quy định của pháp luật Việt Nam, ông Nội là người không đủ thẩm quyền, không được ủy quyền để ký kết hợp đồng cũng như ký kết thỏa thuận trọng tài nêu trên”. Mặt khác, “Xét thấy, tại giải trình ngày 08/4/1996 của Công ty Novus gửi Tòa án trọng tài thương mại quốc tế, đại diện Công ty Novus nêu ra một trong những lý do để từ chối việc ký kết văn bản của Công ty là: “Theo Điều lệ của Công ty Novus thì chỉ có Tổng giám đốc mới có quyền ký bất kỳ văn bản nào mà không cần giấy ủy nhiệm. Mọi cán bộ trọng trách của Công ty Novus chỉ có thể ký kết hợp đồng khi có ủy quyền do Tổng giám đốc Công ty cấp…”. Đây cũng là nguyên tắc chung thống nhất được ghi nhận ở cả hai nước, bên ký kết đều phải tuân thủ và thực tế đều đã biết” (Xem Quyết định số 59/KTPT ngày 04/6/1998, thụ lý số 174 ngày 13/12/1997 của Toà phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội).

Như vậy, để biết ông Nội có thẩm quyền đại diện Công ty Vinatex hay không, tòa án Việt Nam đã dẫn chiếu những quy định của pháp luật hai nước.

Từ những ví dụ trên, có thể nói là thực tiễn pháp lý Việt Nam chưa thống nhất về xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế.

Phương hướng giải quyết

Giải pháp có thể: Có thể xác định một người nào đó là đại diện của doanh nghiệp bằng nhiều hệ thống pháp luật hay không ?

Những tranh chấp được đề cập trên đây liên quan đến thẩm quyền để thiết lập một thỏa thuận trọng tài hay một hợp đồng. Đây không phải là một đặc thù của Việt Nam, bởi ở Pháp, những tranh chấp liên quan đến thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Pháp (xem ví dụ 1) hay của doanh nghiệp nước ngoài (xem ví dụ 2) đối với việc ký kết một số giao dịch cũng thường xuyên xảy ra. Vì vậy, chúng ta có thể áp dụng pháp luật của nước sở tại – nơi mà các giao dịch được ký kết – theo nguyên tắc, nếu giao dịch được ký tại Việt Nam thì xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam; nếu giao dịch được thiết lập ở nước ngoài thì theo pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, giải pháp này có nhược điểm là làm cho việc xác định thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nơi ký kết giao dịch, trong khi đó nơi này hoàn toàn có thể là sự lựa chọn tình cờ (một thỏa thuận trọng tài có thể được ký ở Việt Nam, hay ở nước mà đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở hoặc ở một nước thứ ba). Thực tiễn pháp lý một số nước trên thế giới cho thấy, những tranh chấp về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở những giao dịch. Vì vậy, việc lấy tiêu chí pháp luật của quốc gia mà tại đó đã thiết lập giao dịch như trên, không bao trùm được hết những vấn đề pháp lý cần giải quyết (xem ví dụ 3).

Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng pháp luật của tòa án (ở đây là pháp luật Việt Nam), pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở để giải quyết. Chúng ta cũng có thể xem xét đồng thời hai hay nhiều hệ thống pháp luật nêu trên cùng một lúc để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp.

Giải pháp nên sử dụng: Vì vấn đề thẩm quyền liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, thiết nghĩ, chúng ta nên sử dụng pháp luật của nước nơi doanh nghiệp có trụ sở vào thời điểm mà người đại diện thiết lập giao dịch trên danh nghĩa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp được đại diện có trụ sở ở nước ngoài, thì chúng ta xác định là người nào đó có thể đại diện doanh nghiệp hay không theo pháp luật của nước ngoài này. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam, thì xác định thẩm quyền này theo pháp luật Việt Nam như Tòa án đã làm trong tranh chấp giữa Recofi của Pháp và Sunimex của Việt Nam mà chúng tôi đã đề cập ở trên.

Thông thường, các bên có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp tham gia giao dịch, nhưng đôi khi, thẩm quyền đại diện của cả hai doanh nghiệp tham gia giao dịch đều gây tranh cãi. Trong trường hợp này, tòa án phải nghiên cứu pháp luật của cả hai nước. Tuy nhiên, ở đây tòa án không nên sử dụng cả pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam để xác định thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam hay của doanh nghiệp nước ngoài, mà chỉ nghiên cứu pháp luật Việt Nam để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam và áp dụng pháp luật nước ngoài để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp nước ngoài. Đó cũng là giải pháp được sử dụng trong tranh chấp mà chúng tôi đề cập ở phần trên. Cụ thể, liên quan đến thẩm quyền đại diện của ông Thành đối với Công ty HN, tòa án đã có nhận xét sau: “Theo tài liệu do phía Công ty HN xuất trình và theo lời trình bày của đại diện khách sạn thì đây là hợp đồng thanh toán cuối cùng của hợp đồng cung cấp thiết bị điện và vật liệu để sửa chữa, mở rộng khách sạn HN được ký giữa Công ty liên doanh HN và Công ty Kurihara Kogyo Singapore 28/10/1995 – Bổ sung ngày 05/3/1997, chứ không phải là bản quyết toán tăng vốn của toàn bộ Công ty liên doanh. Do đó, ông Thành ký hợp đồng thanh toán ngày 06/6/1998 là hoàn toàn có đủ thẩm quyền, phù hợp với Điều 12 Điều lệ Công ty liên doanh, không vi phạm điều 8, khoản 1 điểm c Pháp lệnh hợp đồng kinh tế như Công ty đưa ra”. Còn về thẩm quyền đại diện của ông Tài đối với Công ty Kurihara, tòa án cho rằng: “Theo giải trình và hồ sơ yêu cầu mà Công ty Kurihara Kogyo Ltd – chi nhánh Singapore xuất trình, thì ông Tài được Tổng giám đốc chi nhánh Singapore bổ nhiệm làm Giám đốc tại thông báo bổ nhiệm có lực từ 01/7/1990 và Giám đốc cao cấp tại thông báo bổ nhiệm có hiệu lực từ 01/7/2000. Trong quá trình Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông giải quyết tranh chấp, phía Công ty HN không thắc mắc gì về tư cách ông Tài cũng như về pháp nhân Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông cũng đã thừa nhận tư cách pháp nhân của Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore. Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, phía Công ty HN cũng không thắc mắc hay đưa ra được chứng cứ hợp pháp khẳng định ông Tài hoặc Công ty Kurihara Kogyo không đủ năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài theo luật Singapore”.

Ví dụ 1: Henri, Tổng giám đốc Công ty Aliment sain của Pháp, tham gia đầu tư bất động sản ở Marốc (với tư cách cá nhân). Trong quá trình đầu tư, Henri đã ký chấp nhận bảo lãnh một khoản tiền với tư cách là Tổng giám đốc Công ty Aliment sain. Khi bị người nhận bảo lãnh (một ngân hàng Marốc) khởi kiện, Công ty Aliment sain cho rằng Henri không có thẩm quyền ký kết bảo lãnh trên. Tòa phúc thẩm Paris đã giải quyết vấn đề thẩm quyền này theo pháp luật của Pháp (xem Tòa phúc thẩm Paris ngày 26/3/1966: Tạp chí JDI năm 1966, tr. 841, bình luận B. Goldman và Tạp chí RCDIP năm 1968, tr. 58, bình luận Y. Loussouarn).

Ví dụ 2: Một người đại diện của Công ty General (doanh nghiệp của Ê – cốt) đã ký chấp nhận một bảo lãnh. Khi bị người nhận bảo lãnh khởi kiện, Công ty General đã viện dẫn pháp luật Pháp để cho rằng hợp đồng bảo lãnh trên là không hợp pháp (theo pháp luật Pháp, hợp đồng bảo lãnh phải được Hội đồng quản trị cho phép). Nhưng theo Tòa án, pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của Công ty General không phải là pháp luật Pháp mà là pháp luật của nước nơi Công ty có trụ sở, tức là pháp luật Ê – cốt (xem Tòa dân sự, Tòa án tối cao Pháp ngày 8/12/1998: Tạp chí RCDIP 1999, tr. 284, bình luận M. Menucq).

Ví dụ 3: vụ kiện giữa một công ty Pháp (bị đơn) và một công ty Đức (nguyên đơn) tại Pháp. Trong quá trình tố tụng, bị đơn cho rằng người tham gia vụ kiện của nguyên đơn không phải là người đại diện của doanh nghiệp Đức. Trước phản tố này, Tòa phúc thẩm Grenoble đã viện dẫn pháp luật Đức để giải quyết (xem Tòa phúc thẩm Grenoble ngày 7/11/1989: Tạp chí Droit des sociétés tháng 5/1990, bình luận số 121). ở đây, vấn đề thẩm quyền được đặt ra không liên quan đến giao dịch dân sự mà đến tố tụng trước Tòa án Pháp.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22%C4%90%E1%BB%96+V%C4%82N+%C4%90%E1%BA%A0I%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

SO SÁNH QUI TRÌNH LẬP PHÁP GIỮA THỤY ĐIỂN VÀ VIỆT NAM

TÀO THỊ QUYÊN

Thuỵ Điển là quốc gia Bắc Âu có thể chế chính trị quân chủ lập hiến. Là một nhà nước đơn nhất, các đơn vị hành chính ở Thuỵ Điển được chia thành ba cấp: cấp trung ương, cấp vùng và cấp địa phương.

1. Khái quát cơ quan lập pháp Thuỵ Điển

Thuỵ Điển là quốc gia Bắc Âu có thể chế chính trị quân chủ lập hiến. Là một nhà nước đơn nhất, các đơn vị hành chính ở Thuỵ Điển được chia thành ba cấp: cấp trung ương, cấp vùng và cấp địa phương. Các cơ quan nhà nước ở trung ương bao gồm Nghị viện (Riksdag), Chính phủ, các bộ và các cơ quan nhà nước trung ương. Dựa trên thuyết tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước ở Thuỵ Điển được phân thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp được trao cho nguyên thủ quốc gia và Chính phủ, quyền tư pháp được trao cho hệ thống toà án bao gồm các toà thẩm quyền chung và các toà chuyên trách.

Nghị viện Thuỵ Điển là cơ quan lập pháp cao nhất bao gồm 349 nghị sĩ được chọn thông qua cuộc tổng tuyển cử được tổ chức bốn năm một lần. Để được bầu vào Nghị viện, ứng cử viên phải là thành viên của một đảng chính trị nào đó. Số lượng ghế trong Nghị viện của mỗi đảng tương ứng với số phiếu bầu mà đảng đó dành được trong cuộc tổng tuyển cử gần nhất. Đảng nào nhận được ít hơn bốn phần trăm tổng số phiếu bầu trong cả nước sẽ không có vị trí trong Nghị viện, trừ khi đảng đó chiếm ít nhất 12% số phiếu trong một đơn vị bầu cử.

Một trong những thẩm quyền quan trọng của Nghị viện Thuỵ Điển là thông qua luật. Điều đáng lưu ý là, ở Thuỵ Điển có sự phân định rõ ràng những lĩnh vực được điều chỉnh bởi luật do Nghị viện ban hành và những lĩnh vực được điều chỉnh bởi văn bản do Chính phủ ban hành. Chương 8 của Đạo luật của nhà nước xác định những vấn đề phải được điều chỉnh bởi văn bản luật do Nghị viện ban hành[1].

2. So sánh quy trình lập pháp của Thuỵ Điển và Việt Nam

Giai đoạn đề xuất sáng kiến lập pháp và chuẩn bị dự án

Theo pháp luật Thuỵ Điển, có hai nhóm chủ thể có quyền đề xuất sáng kiến lập pháp là Chính phủ và nghị sĩ. Trong đó, phần lớn các sáng kiến lập pháp xuất phát từ sự đệ trình của Chính phủ dưới dạng bản dự thảo kiến nghị lập pháp. Trước khi đệ trình bản dự thảo kiến nghị lập pháp ra trước Nghị viện, Chính phủ kiểm tra các phương án lựa chọn thông qua một uỷ ban thẩm tra do Chính phủ chỉ định với quy trình đặc biệt. Thành viên Uỷ ban thẩm tra thường là các chuyên gia, công chức nhà nước hoặc chính trị gia. Kết quả thẩm tra của Uỷ ban được trình bày dưới hình thức một bản báo cáo. Bản báo cáo này được xuất bản và tập hợp trong Các báo cáo chính thức của Chính phủ Thuỵ Điển (The Swedish Government Offical Reports)[2].

Sau khi Uỷ ban thẩm tra đệ trình bản dự thảo kiến nghị và tập hợp ý kiến trong bản báo cáo, Chính phủ chuyển bản báo cáo đó tới các cơ quan nhà nước, các tổ chức hoặc địa phương có liên quan để lấy ý kiến. Theo quy định của luật pháp Thuỵ Điển, bất cứ tổ chức và cá nhân nào cũng có quyền nhận được bản photocopy báo cáo thẩm tra và đề xuất ý kiến của mình tới Chính phủ. Đặc biệt, trong giai đoạn này, đại diện của các tổ chức phi chính phủ thường có cơ hội đối diện trực tiếp với Chính phủ để trình bày ý kiến của mình về vấn đề được đề cập trong báo cáo thẩm tra. Thời hạn dành cho việc lấy ý kiến góp ý đối với bản báo cáo thẩm tra được quy định là ba tháng. Kết quả của việc lấy ý kiến góp ý này phải được trình bày bằng văn bản để các bên liên quan có thể dễ dàng tiếp cận.

Theo pháp luật Việt Nam, chủ thể có quyền trình sáng kiến lập pháp bao gồm Chính phủ, đại biểu Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên[3]. Tuy nhiên, phần lớn các sáng kiến lập pháp ở Việt Nam cũng xuất phát từ Chính phủ. Các cơ quan và cá nhân có quyền sáng kiến lập pháp phải lập báo cáo phân tích chính sách kèm theo Tờ trình về việc ban hành văn bản mới hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành. Tờ trình phải cung cấp nội dung thông tin về các vấn đề sau: (i) sự cần thiết của những vấn đề cần điều chỉnh bởi văn bản quy phạm pháp luật; (ii) đối tượng và phạm vi áp dụng, tác động tới kinh tế, xã hội, môi trường; (iii) nguồn lực bảo đảm thi hành; (iv) điều kiện để cơ quan soạn thảo thể hiện dự án văn bản quy phạm pháp luật đề xuất. Nội dung tờ trình còn nêu ra các phương án có thể được lựa chọn cho những vấn đề mà văn bản đề cập tới và phân tích rõ lý do của các phương án đó. Tuy nhiên, ở Việt Nam, báo cáo phân tích chính sách kèm theo tờ trình cơ quan và cá nhân có sáng quyền lập pháp đưa ra không được xuất bản công khai thành tập tài liệu chính thức như ở Thuỵ Điển, do đó không phải tất cả cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân đều có thể tiếp cận báo cáo phân tích chính sách và đóng góp ý kiến.

Như vậy, những khác biệt cơ bản của hai quy trình này là: thứ nhất, tính công khai của các báo cáo phân tích chính sách kèm theo Tờ trình về việc ban hành văn bản và ý nghĩa của các đề xuất, kiến nghị do các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân đóng góp vào bản kiến nghị lập pháp; thứ hai, nếu như ở Việt Nam, Chính phủ soạn thảo chương trình xây dựng luật để trình lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội và thông qua cơ quan này trình Quốc hội để thảo luận thông qua[4] thì ở Thuỵ Điển, Chính phủ không soạn thảo chương trình xây dựng luật. Trong chương trình xây dựng luật do Chính phủ Việt Nam soạn thảo bao gồm phần danh sách các dự luật và phần phân tích chính sách nêu rõ tại sao lại lập danh sách như vậy. Tuy nhiên, thực tế việc thông qua chương trình xây dựng luật ở Việt Nam cho thấy, Quốc hội chủ yếu chỉ thảo luận và thông qua danh sách của các dự án luật chứ không xem xét phần phân tích chính sách. Vì thế, phần phân tích chính sách trong Tờ trình của Chính phủ về dự kiến chương trình cũng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Đây đang được coi là điểm bất cập trong quy trình lập pháp ở Việt Nam, bởi lẽ, đáng ra việc phân tích chính sách phải được tập trung đầu tư nhiều để đưa ra những lý lẽ, thông tin, những căn cứ khoa học và thực tiễn xác đáng cho việc lập các dự thảo văn bản, làm cơ sở cho toàn bộ tiến trình ban hành một văn bản, nhưng lại chưa được các nhà lập pháp và vạch chính sách của Việt Nam quan tâm đúng mức. Điều này dẫn đến tình trạng phổ biến là nhiều dự án luật của Việt Nam thiếu phần phân tích chính sách mang tính khoa học và chi tiết với những tiêu chí rõ ràng cho toàn bộ quy trình ban hành văn bản; thứ ba, ở Thuỵ Điển, Chính phủ phân công cơ quan thẩm tra và dự kiến tiến độ chuẩn bị dự án, còn ở Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tham gia vào quy trình lập pháp ngay từ giai đoạn này, với vai trò là cơ quan phân công cơ quan trình dự án, cơ quan thẩm tra các dự án thuộc chương trình và dự kiến tiến độ chuẩn bị các dự án.

Trong giai đoạn soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật ở Việt Nam phải tiến hành những công việc sau: đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án luật, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự án; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự án; tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự án; phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; đối chiếu, có tính đến điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Tiếp đó, đối với những dự án luật do Chính phủ chuẩn bị trình Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo trình Bộ Tư pháp thẩm định với những nội dung sau: (i) sự cần thiết ban hành luật, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự án; (ii) sự phù hợp của nội dung dự án với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; (iii) tính khả thi của văn bản; (iv) việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo; (v) ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

ở giai đoạn này, các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác cũng có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản về dự án luật mà nội dung của dự án có liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành, lĩnh vực của mình. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho cơ quan thẩm định và các cơ quan được tham vấn. Sau khi nhận được kết quả thẩm định và các ý kiến tham vấn, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu ý kiến thẩm định, ý kiến tham vấn chỉnh lý dự án luật để trình Chính phủ.

Như vậy, nếu như ở Việt Nam có sự phân biệt rõ ràng công việc soạn thảo văn bản trình Chính phủ với công việc thẩm định văn bản, thì ở Thuỵ Điển, trên cơ sở sáng kiến lập pháp do Chính phủ đề xuất, Uỷ ban thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra và lập báo cáo về dự án luật để trình Chính phủ.

Giai đoạn Chính phủ xem xét dự án luật và đệ trình dự thảo trước Quốc hội

Theo pháp luật Thuỵ Điển, sau khi Uỷ ban thẩm tra chuyển báo cáo thẩm tra tới Chính phủ, Chính phủ sẽ phê chuẩn danh sách các kiến nghị lập pháp và các ý kiến của các cơ quan, tổ chức đã được tham vấn. Chính phủ trình bày kiến nghị lập pháp của mình trong Dự thảo văn bản luật (Government Bill). Dự luật sẽ được chuyển tới Hội đồng lập pháp (Council on Legislation). Cơ quan này chỉ có ở Thuỵ Điển với thành viên là các thẩm phán của Toà án tối cao và Toà án Hành chính tối cao[5]. Hội đồng lập pháp có trách nhiệm thẩm tra xem dự luật có mâu thuẫn với văn bản hiện hành nào không và điều quan trọng nhất là xem xét tính hợp hiến của dự luật. Như vậy, cơ quan này có chức năng giám sát trước (judicial preview). Tuy nhiên, ý kiến của Hội đồng lập pháp (có thể là đồng ý hoặc phản đối dự án luật) cũng không có giá trị ràng buộc chính thức đối với Nghị viện và Chính phủ[6]. Sau khi nhận được kết quả thẩm tra của Hội đồng lập pháp, Chính phủ sẽ đệ trình dự luật trước Quốc hội.

Đối với kiến nghị lập pháp do nghị sĩ đề xuất, nghị sĩ phải đệ trình kiến nghị của mình dưới dạng sáng kiến lập pháp cá nhân. Sáng kiến này có thể do một nghị sĩ hoặc một nhóm nghị sĩ đề xuất. Pháp luật Thuỵ Điển quy định rõ nghị sĩ được đệ trình dự luật về những vấn đề nào và khi nào họ có quyền đệ trình kiến nghị lập pháp. Thông thường, sáng kiến lập pháp cá nhân được đệ trình sau khi Chính phủ đã đệ trình dự luật và phải trên cơ sở kiến nghị của Chính phủ. Thời hạn thành viên nghị viện có thể đệ trình kiến nghị phản hồi là 15 ngày kể từ ngày Chính phủ đệ trình dự luật trước Quốc hội.

Theo pháp luật Việt Nam, sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo trình dự án luật ra trước Chính phủ, Chính phủ có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định trình dự án luật ra trước Quốc hội.

Như vậy, nếu như ở Thuỵ Điển có Hội đồng lập pháp là cơ quan chuyên trách việc xem xét tính hợp hiến, sự phù hợp của dự luật đối với những văn bản luật hiện hành thì Việt Nam không có cơ quan chuyên trách này. Tuy nhiên, công việc của Hội đồng lập pháp cũng tương tự như việc thẩm định dự án luật của Bộ Tư pháp ở Việt Nam tiến hành trước khi dự án luật được cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý và trình Chính phủ. Vì vậy, tuy do hai cơ quan khác nhau thực hiện và tại hai thời điểm khác nhau nhưng dự án luật ở Việt Nam và ở Thuỵ Điển đều được thẩm định tính hợp hiến và sự phù hợp với các văn bản hiện hành.

Giai đoạn từ khi Quốc hội tiếp nhận dự thảo luật đến khi thông qua luật

Theo pháp luật Thuỵ Điển, khi dự luật của Chính phủ và kiến nghị lập pháp cá nhân của nghị sĩ được đệ trình tới Nghị viện, chúng sẽ được ghi vào chương trình làm việc của Nghị viện. Phiên họp của Nghị viện chưa đưa ra quyết định về dự luật ngay, mà chờ đến khi dự luật được xem xét cẩn thận bởi một uỷ ban của Nghị viện. Hành động đệ trình dự luật ra trước uỷ ban của Nghị viện được gọi là việc xin ý kiến của uỷ ban đó. Thông thường, không có một cuộc tranh luận nào về dự luật trong thời gian chờ phiên họp để Nghị viện quyết định về dự luật. Tuy nhiên, trong thời gian này, các thành viên của Nghị viện cũng có thể yêu cầu tổ chức diễn đàn tranh luận và cuộc tranh luận đó được gọi là tranh luận chờ quyết định của phiên họp Nghị viện. Các thành viên Nghị viện cũng có quyền yêu cầu tổ chức diễn đàn tranh luận khi dự luật được chuyển tới Uỷ ban để xin ý kiến, tuy nhiên điều này hiếm khi xảy ra.

Như vậy, trước khi Nghị viện quyết định liệu có thông qua dự luật hoặc sửa đổi, dự án luật phải được xem xét kỹ lưỡng bởi một uỷ ban của Nghị viện. Nghị viện Thuỵ Điển bao gồm 16 uỷ ban, mỗi uỷ ban chịu trách nhiệm về một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực nhất định. Việc phân công xem xét dự luật ở Nghị viện được thực hiện bởi nghị sĩ ở các uỷ ban khác nhau. Các nghị sĩ đến từ các đảng khác nhau có đại diện tại Nghị viện. Các đảng lớn hơn sẽ có nhiều nghị sĩ đại diện tại Nghị viện hơn so với các đảng nhỏ hơn. Theo cách đó, thành phần các uỷ ban thường phản ánh tương quan quyền lực của các đảng ở trong Nghị viện. Mỗi đảng có một nhóm đảng viên tại Nghị viện là những người có trách nhiệm thảo luận và chuẩn bị những vấn đề sẽ được giải quyết tại các uỷ ban của Nghị viện. Nghị sĩ tại các uỷ ban phải tham khảo ý kiến của các nhóm đảng của họ. Nhưng thực chất, mỗi nghị sĩ đều có tư cách cá nhân tại Nghị viện và không có nguyên tắc nào bắt buộc nghị sĩ phải theo đường lối của đảng mình.

Việc xem xét dự luật bởi uỷ ban phải được tổ chức thành phiên họp uỷ ban. Uỷ ban thường mời các chuyên gia và các đại diện của các tổ chức khác nhau tham dự phiên họp uỷ ban để thu nhận thêm thông tin và tiếp thu ý kiến. Những phiên họp này được mở công khai cho công chúng và các cơ quan thông tin của Nghị viện. Tuy nhiên, cũng có những phiên họp được tổ chức kín. Tại các phiên họp này, các nghị sĩ thảo luận về những vấn đề của dự án luật mà họ quan tâm. Sau khi uỷ ban quyết định, các nhân viên của bộ phận thư ký uỷ ban sẽ soạn thảo báo cáo của uỷ ban. Báo cáo của uỷ ban chứa đựng những đề xuất sẽ đưa ra phiên họp Nghị viện để quyết định. Nội dung của báo cáo này do các thành viên của uỷ ban quyết định. Thông thường có thể có một nhóm thiểu số thành viên uỷ ban không đồng ý với ý kiến của đa số. Những người này có thể trình những ý kiến bất đồng của họ tới Nghị viện. Để đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ cho Nghị viện quyết định, những ý kiến bất đồng này cũng phải được nêu rõ trong báo cáo của uỷ ban.

Sau khi hoàn tất, uỷ ban trình báo cáo ra phiên họp Nghị viện và nhấn mạnh những vấn đề cần thảo luận trong dự luật của Chính phủ. Các nghị sĩ đều nhận được bản photocopy báo cáo và được thông báo thời gian nghiên cứu báo cáo đó. Nếu tất cả nghị sĩ đồng ý thông qua dự luật thì không cần thiết phải tổ chức tranh luận tại phiên họp Nghị viện. Trong trường hợp có các ý kiến khác nhau, cuộc tranh luận tại phiên họp sẽ được tổ chức. Khi đó, tại phiên họp Nghị viện, thành viên của uỷ ban đã xem xét dự luật trình bày quan điểm của mình và tất cả nghị sĩ đều có quyền tham gia tranh luận. Máy tốc ký sẽ ghi lại tất cả những ý kiến đã được phát biểu tại phiên họp. Đồng thời, bản ghi lại các tranh luận được công khai để công chúng theo dõi.

Việc ra quyết định về dự luật sẽ được tiến hành sau khi các nghị sĩ kết thúc tranh luận. Nếu chỉ có một loại ý kiến về dự luật, phát ngôn viên của Nghị viện – người thay mặt cho toàn thể nghị sĩ – sẽ hỏi xem tất cả nghị sĩ có chấp nhận ý kiến đó không. Nếu có nhiều ý kiến thì sẽ tổ chức bỏ phiếu và kết quả bỏ phiếu phải nêu rõ tỉ lệ các đảng bỏ phiếu cho từng ý kiến như thế nào. Sau đó, Nghị viện sẽ chuyển tới Chính phủ văn bản tóm tắt về quyết định của mình đối với dự luật. Các văn bản như hiến pháp và đạo luật sau khi được Nghị viện thông qua, thường sẽ được xuất bản trong Tập công báo SFS.

Theo pháp luật Việt Nam, căn cứ vào chương trình xây dựng luật đã được thông qua và trước khi dự luật được đưa ra thảo luận lần đầu tại kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội tiến hành thẩm tra dự án luật. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây: (i) sự cần thiết phải ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh; (ii) sự phù hợp của nội dung dự luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp của dự luật và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; (iii) việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo; (iv) tính khả thi của dự án.

Sau khi nghe cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật thuyết trình về dự án, nghe báo cáo thẩm tra của các cơ quan thẩm tra về dự án đó, Quốc hội thảo luận về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và chuẩn bị những nội dung cơ bản của dự án luật để trình Quốc hội biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý.

Sau kỳ họp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc tiếp thu, chỉnh lý dự án luật đã được Quốc hội cho ý kiến. Cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban Pháp luật, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan, căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội, giúp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chỉnh lý dự thảo luật. Để thực hiện việc chỉnh lý văn bản, trong giai đoạn này, Ban công tác lập pháp – cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội – có trách nhiệm chủ trì trong việc phối hợp với cơ quan thẩm tra dự án, cơ quan trình dự án, Uỷ ban Pháp luật, Bộ Tư pháp để hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản.

Bản dự án luật đã được chỉnh lý sau kỳ họp sẽ tiếp tục được lấy ý kiến tại Hội nghị đại biểu chuyên trách, được thảo luận tại các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương. Đối với những dự án lớn, quan trọng, dự án luật phải được tổ chức lấy ý kiến nhân dân một lần nữa. Sau đó, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội thông qua dự án luật đã được tiếp thu, chỉnh lý.

Tại phiên họp toàn thể của Quốc hội lần tiếp sau, Quốc hội xem xét thông qua luật. Nếu văn bản được Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước ký lệnh công bố văn bản đó. Sau đó, văn bản được đăng trên Công báo của Chính phủ.

Như vậy, trong giai đoạn này của quy trình lập pháp Thuỵ Điển, dự luật cũng được xem xét kỹ bởi một uỷ ban chuyên trách lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án. Công việc này tương tự với thủ tục thẩm tra được tiến hành bởi Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội ở Việt Nam. Quá trình xem xét và thẩm tra dự án luật ở cả hai quy trình lập pháp của Việt Nam và Thuỵ Điển đều có tổ chức các buổi thảo luận để thành viên của các uỷ ban trình bày ý kiến. Nhưng điểm khác nhau của hai quy trình trên là ở chỗ: thứ nhất, đối với quy trình lập pháp của Thuỵ Điển, trên cơ sở xem xét, thảo luận kỹ lưỡng bởi các thành viên uỷ ban và có tiếp thu thêm những ý kiến của các chuyên gia và đại diện của các tổ chức, chính uỷ ban đó có nhiệm vụ hoàn tất báo cáo để trình ra trước phiên họp của Nghị viện. Trong khi đó, ở quy trình lập pháp của Việt Nam, cơ quan trình dự luật để Quốc hội thông qua là Uỷ ban thường vụ Quốc hội; thứ hai, trình tự tiến hành giai đoạn này ở Việt Nam phức tạp hơn và có nhiều công đoạn hơn so với ở Thuỵ Điển. ở Việt Nam, sau khi có kết quả thẩm tra, Quốc hội sẽ tổ chức ngay kỳ họp để thảo luận và cho ý kiến về những nội dung của dự luật. Trên cơ sở tiếp thu và chỉnh lý dự án luật đã được Quốc hội cho ý kiến, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức lấy ý kiến tại Hội nghị đại biểu chuyên trách, tổ chức thảo luận tại các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương và tổ chức lấy ý kiến nhân dân một lần nữa đối với những dự án lớn, quan trọng, sau đó mới chỉnh lý lại toàn bộ dự án để trình Quốc hội thông qua. Như vậy, để được thông qua bởi Quốc hội, dự án luật ở Việt Nam phải được thảo luận ít nhất hai lần tại hai kỳ họp của Quốc hội.

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng, thể chế chính trị, cơ cấu tổ chức cơ quan lập pháp cũng như đặc điểm thành viên của cơ quan này có ảnh hưởng lớn tới quy trình lập pháp của mỗi quốc gia. Nếu như ở Thuỵ Điển, Nghị viện được tổ chức thành các uỷ ban và các nghị sĩ thường là chuyên trách, Nghị viện hoạt động thường xuyên, không cần thiết phải có cơ quan thường trực và do vậy, mỗi uỷ ban có vai trò chính trong quy trình lập pháp đối với các dự án luật thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách; thì ở Việt Nam, do thành phần đại biểu Quốc hội chủ yếu là đại biểu kiêm nhiệm, Quốc hội hoạt động không thường xuyên, nên Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội và cơ quan này có vai trò hết sức quan trọng trong quy trình lập pháp. Mặt khác, do có đại diện của nhiều đảng phái khác nhau trong Nghị viện Thuỵ Điển, nên các buổi thảo luận tại uỷ ban cũng như trong phiên họp Nghị viện, đều diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt giữa đảng viên đại diện cho các đảng phái và thường là ý kiến của đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện sẽ dành ưu thế. Những cuộc tranh luận như vậy hoàn toàn khác với cuộc tranh luận giữa các đại biểu Quốc hội Việt Nam trong phiên họp Quốc hội. Các tranh luận ở Việt Nam không phải là tranh luận của các nhóm đảng viên đại diện cho lợi ích của các đảng phái đối lập nhau, mà là tranh luận nhằm tìm ra giải pháp chung hợp lý nhằm giải quyết thoả đáng những vấn đề mà dự án luật đặt ra.

3. Một số kiến nghị

Từ những nghiên cứu, so sánh quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam và của Nghị viện Thụy Điển nêu trên, chúng tôi cho rằng, để tiếp tục nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội Việt Nam, một trong những biện pháp quan trọng hiện nay là cải tiến quy trình lập pháp. Việc cải tiến này cần được tiến hành trên cơ sở kế thừa những yếu tố và những khâu hợp lý của quy trình lập pháp hiện có, loại bỏ những yếu tố, những khâu không cần thiết, kém hiệu quả; đồng thời tiếp thu có chọn lọc những yếu tố khoa học và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong quy trình lập pháp của các quốc gia tiên tiến. Trong số rất nhiều quốc gia mà Việt Nam đang tiến hành nghiên cứu, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm, chúng tôi thiết nghĩ, Thụy Điển là một quốc gia cần được quan tâm nghiên cứu kỹ để có thể vận dụng những kinh nghiệm quý báu từ hoạt động lập pháp của họ. Với mục đích học hỏi kinh nghiệm của Thụy Điển nhằm hoàn thiện quy trình lập pháp của Việt Nam, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến sau đây:

Thứ nhất, cần nhận thức đúng tầm quan trọng của công đoạn lập báo cáo phân tích chính sách ngay từ giai đoạn đề xuất sáng kiến lập pháp, để đưa ra những báo cáo chính sách cụ thể và khoa học, làm cơ sở cho các hoạt động soạn thảo văn bản sau này. Các cơ quan và cá nhân có quyền đề xuất sáng kiến lập pháp khi đưa dự án luật vào chương trình xây dựng luật phải kèm theo tài liệu phân tích chính sách. Các chương trình xây dựng pháp luật hàng năm chỉ được thông qua khi có tài liệu phân tích chính sách đủ sức thuyết phục. Điều đó sẽ góp phần giảm lãng phí công sức và tiền bạc để soạn thảo những văn bản chưa rõ về đối tượng điều chỉnh và mục đích định hướng hành vi, hoặc tránh tình trạng vì dự án đã đưa vào chương trình nên phải thông qua một đạo luật chủ yếu mang ý nghĩa tuyên ngôn mà ít ý nghĩa điều chỉnh.

Thứ hai, cần quy định các chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp phải công khai các dự án và có các hình thức thích hợp tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan ngay từ giai đoạn đầu của quy trình lập pháp. Để nâng cao chất lượng của việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và ý kiến nhân dân đối với dự án luật, cần phải có kế hoạch, thời gian hợp lý trong việc tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và ý kiến nhân dân để tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc mà vẫn đảm bảo chất lượng của dự án; quy định rõ ràng hơn trách nhiệm của các cơ quan soạn thảo trong việc tiếp thu ý kiến góp ý. Để có căn cứ xác định trách nhiệm của các bên có liên quan trong vấn đề này, cần có tài liệu bằng văn bản lưu tất cả những ý kiến góp ý (kể cả đồng ý và không đồng ý với dự án luật). Đặc biệt, cần có cơ chế phản hồi việc lấy ý kiến góp ý. Đó là trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền thông tin lại hoặc phúc đáp lại cho các đối tượng được lấy ý kiến về việc tập hợp, tổng hợp, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản. Việc phản hồi có thể được thực hiện thông qua các hình thức như đăng, phát các bản báo cáo tổng hợp ý kiến, báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, qua công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; đồng thời đầu tư ngân sách thích đáng cho việc lấy ý kiến góp ý về các dự án luật.

Thứ ba, cải tiến quy trình soạn thảo dự án văn bản luật trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, các cơ quan có liên quan, Ban soạn thảo và các thành viên của Chính phủ; tăng cường tính trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc soạn thảo; nghiên cứu cách thành lập Uỷ ban soạn thảo văn bản của Thụy Điển và vận dụng, để từng bước thực hiện phương pháp dùng chuyên gia trong xây dựng văn bản. Không nhất thiết dự án nào cũng thành lập Ban soạn thảo do một bộ chủ trì với thành phần chủ yếu là đại diện lãnh đạo các ngành có liên quan, rồi lại thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo. Cách thức này vừa hình thức vừa rườm rà, tốn kém. Vì vậy, trong thời gian tới có thể thành lập Tổ chuyên gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định, trong đó huy động các chuyên gia có năng lực chuyên môn từ các bộ, ngành, các nhà khoa học. Để nâng cao chất lượng xây dựng văn bản pháp luật của Chính phủ trước khi trình Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ phải có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất ngay từ đầu quy trình soạn thảo dự án.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện khâu chỉnh lý dự thảo văn bản. Cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan trình dự án không chỉ là chuẩn bị dự thảo luật cho đến khi dự án được trình ra trước Quốc hội, mà phải có trách nhiệm cùng với các cơ quan của Quốc hội tiếp tục việc chỉnh lý, hoàn chỉnh dự thảo luật cho đến khi dự thảo được Quốc hội thông qua. Để việc chỉnh lý có chất lượng, nhất là đối với những dự án lớn hoặc có nội dung phức tạp, cần có cơ chế để huy động các nhà khoa học, các chuyên gia pháp lý, hoặc chuyên gia về lĩnh vực mà dự án điều chỉnh, tham gia vào việc chỉnh lý dự án, đồng thời cũng có thể huy động các đại biểu Quốc hội chuyên trách tham gia chỉnh lý dự thảo để tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Thứ năm, đổi mới thủ tục xem xét và thông qua dự án luật:

– Để mỗi dự luật đều được xem xét kỹ lưỡng cả về những nguyên tắc chung cũng như những nội dung chi tiết hoặc kỹ thuật soạn thảo, cần tiếp tục nghiên cứu, cải tiến các bước của quy trình thảo luận thông qua dự án luật. Ngoài các hình thức thảo luận tại Tổ, Đoàn đại biểu Quốc hội và thảo luận tại Hội trường, cần quy định về các hình thức thảo luận tại Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội, hoặc thảo luận tại các Tiểu ban chuyên đề. Hình thức thảo luận theo các Tiểu ban chuyên đề có thể do các uỷ ban của Quốc hội chủ trì. Với hình thức này, dự án sẽ được xem xét chuyên sâu theo từng khía cạnh.

– Đề cao vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tọa phiên họp Quốc hội. Quy định rõ về quyền của Chủ tọa phiên họp trong việc yêu cầu các đại biểu Quốc hội chỉ thảo luận những vấn đề còn có ý kiến khác nhau hoặc những ý kiến không đồng ý với dự thảo luật, không lập luận về những nội dung đã được phát biểu rõ tại Hội trường, quyền yêu cầu chấm dứt thảo luận và đề nghị tiến hành biểu quyết về vấn đề đang thảo luận.

– Nghiên cứu việc quy định về trình tự xem xét, thông qua dự án luật theo thủ tục rút gọn trong trường hợp cần thiết.

[1] Xem Instrument of Government, Chapter 8.

[2] Xem trang Web: http://www.Riskdagen.se/ How law are made.

[3] Điu 87 Hiến pháp 1992.

[4] Điu 22, Lut Ban hành văn bn quy phm pháp lut.

[5] Xem Instrument of Government, Chapter 8, Art (Tiếng Anh).

[6] Michael Bogdan, “Swedish law in the new millenium”, Printed in Sweden by Elanders Gotab, Stockholm 2000, tr. 80 (tiếng Anh).

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ THÁNG 12/2006

THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Ở Hoa Kỳ không có qui định chung về việc thành lập doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các bang. Qui định này ở mỗi bang một khác. Luật của các bang về các loại hình doanh nghiệp có thể không hoàn toàn giống nhau; tuy nhiên, ở tất cả các bang đều tồn tại bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản. Về mặt pháp lý, ở Hoa Kỳ, không có loại hình văn phòng đại diện như ở Việt Nam. Hầu hết các bang đều không yêu cầu vốn tối thiểu để thành lập doanh nghiệp. Thủ tục thành lập doanh nghiệp ở các bang đều đơn giản và nhanh chóng. Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều tiết của pháp luật giống như các công ty trong nước.

Các loại hình doanh nghiệp

Nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp ở Hoa Kỳ không những để lựa chọn loại hình phù hợp cho mình mà còn để hiểu kỹ hơn về đối tác của mình. Qua giới thiệu tóm tắt về các loại hình doanh nghiệp dưới đây ở Hoa Kỳ ta có thể thấy quan hệ với doanh nghiệp tư nhân một chủ hoặc doanh nghiệp hợp danh có thể có nhiều rủi ro hơn là với doanh nghiệp là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.

Doanh nghiệp tư nhân một chủ

(Sole Proprietorship)

Doanh nghiệp tư nhân một chủ là loại hình doanh nghiệp thành lập nhanh nhất và dễ nhất. Thông thường bạn chỉ cần điền vào mẫu đơn đăng ký mua tại các cửa hàng văn phòng phẩm và gửi đến cơ quan đăng ký ở bang hoặc quận. Tùy thuộc và qui định của từng bang, bạn có thể phải gửi nhiều bản và/hoặc phải có chứng nhận chữ ký. Cùng với đơn bạn phải nộp một khoản tiền đăng ký nhỏ, thông thường bằng séc do ngân hàng phát hành (cashier’s check) hoặc lệnh trả tiền (money order).

Mục đích chủ yếu của việc đăng ký là giúp cho những người quan tâm tìm những người kinh doanh bằng tên không phải là tên riêng của họ. Chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm vô hạn (bằng cả tài sản cá nhân của mình) đối với mọi vấn đề liên quan đến kinh doanh. Cuối năm, lãi hoặc lỗ trong kinh doanh sẽ được tính vào thu nhập của chủ doanh nghiệp để nộp thuế thu nhập cá nhân.

Doanh nghiệp hợp danh (Partnership)

Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp hợp danh cũng đơn giản và tương tự như doanh nghiệp tư nhân một chủ. Doanh nghiệp hợp danh có thể gồm hai hoặc nhiều chủ. Mức độ tham gia của từng chủ do các chủ tham gia quyết định và được thoả thuận bằng văn bản với sự giúp đỡ của luật sư và có chữ ký của tất cả những người tham gia. Có cả doanh nghiệp hợp danh đầy đủ và doanh nghiệp hợp danh có giới hạn. Chủ hợp danh đầy đủ thông thường chia sẻ sở hữu, công việc, và trách nhiệm (managing partner), còn chủ hợp danh có giới hạn sẽ không tham gia vào các quyết định quản lý và sẽ không chịu trách nhiệm đối với các vấn đề nảy sinh từ các quyết định của người quản lý.

Loại hình doanh nghiệp này có thuận lợi là kết hợp được sở trường và tài năng của các chủ thành viên. Tuy nhiên, hầu hết các nhà tư vấn kinh doanh đều không khuyến nghị loại hình doanh nghiệp này vì nó có thể trục trặc còn tệ hại hơn những cuộc hôn nhân không may mắn. Doanh nghiệp hợp danh thường phải giải thể nếu một hoặc nhiều chủ thành viên chính thức từ bỏ doanh nghiệp (vì lý do chết chẳng hạn).

Lãi hoặc lỗ trong kinh doanh chia cho các chủ doanh nghiệp hợp danh được tính vào thu nhập của những người này để nộp thuế thu nhập cá nhân.

Công ty cổ phần (corporation)

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp chính thống hơn. Các doanh nghiệp lớn hàng đầu của Hoa Kỳ đều thuộc loại hình công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập có thể tiếp tục hoạt động ngay cả khi chủ không còn tồn tại. Quyền sở hữu công ty cổ phần có thể chuyển nhượng cho người khác. Doanh nghiệp thuộc loại này có thể bán cổ phiếu để huy động vốn, và chủ doanh doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân đối với các phán quyết pháp lý. Ví dụ, bạn là chủ công ty cổ phần sẽ không phải bán nhà riêng của mình để trả tiền điều trị cho một khách hàng bị thương do dùng sản phẩm của công ty. Tuy nhiên, sự miễn trừ này sẽ không được áp dụng nếu tòa án phán quyết rằng bạn đã biết mình đang kinh doanh một loại hàng nguy hiểm có thể gây thương vong cho khách hàng và bạn lập ra công ty chỉ để bảo vệ mình.

Vì lý do trên, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu vào Hoa Kỳ các sản phẩm ăn uống vào trong người hoặc bôi lên da hoặc các sản phẩm có thể gây hại, đặc biệt là các sản phẩm dành cho trẻ em nên thành lập công ty cổ phần ngay từ đầu.

Việc đăng ký thành lập công ty cổ phần được tiến hành ở cấp bang. Công ty cổ phần có thể đăng ký thành lập ở bất cứ bang nào mà mình muốn và không nhất thiết phải ở bang mà công ty sẽ thực sự kinh doanh. Ví dụ, do các luật công ty và thuế thuận lợi, nên Bang Delaware là nơi đăng ký kinh doanh của trên một nửa trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp mới và nhỏ thì nên đăng ký thành lập ở chính bang mà doanh nghiệp dự kiến sẽ thực sự kinh doanh.

Có hai hoại công ty cổ phần là công ty cổ phần bình thường (“C corporation” hay còn thường được gọi là “General corporation”) và công ty cổ phần nhỏ (“S corporation” – S là viết tắt của chữ “small” của tiếng Anh nghĩa là nhỏ). Về thủ tục đăng ký, doanh nghiệp làm thủ tục đăng ký thành lập công ty cổ phần bình thường, sau đó điền thêm một mẫu đơn đăng ký loại hình công ty cổ phần nhỏ.

Các đặc điểm của công ty cổ phần bình thường:

Có ba cấp quyền lực: cổ đông, giám đốc, cán bộ quản lý (có thể cùng một người);

  • Không hạn chế số cổ đông;
  • Công ty có thể sở hữu cổ phần ở các công ty khác và có thể nhận lãi cổ phần với 80% được miễn thuế.
  • Các cổ đông sở hữu công ty và bầu các giám đốc ;
  • Các cán bộ quản lý điều hành công việc hàng ngày của công ty;
  • Các cổ đông nhỏ không có trách nhiệm đối với công ty;
  • Có thể chuyển thành công ty nhỏ nếu đủ điều kiện;
  • Được phép giới hạn trách nhiệm đối với chủ công ty, giám đốc và cán bộ quản lý;
  • Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trên cơ sở lãi tịnh với thuế suất thường thấp hơn thuế thu nhập cá nhân;
  • Quyết toán tài chính theo năm tài chính; Lỗ của công ty có thể được chuyển sang các năm sau để tính thuế;
  • Có thể giữ lại một phần thu nhập để tái đầu tư phát triển;
  • Được phép tính chi phí thuế an sinh xã hội và các phúc lợi khác cho chủ và nhân viên vào chi phí kinh doanh của công ty.

Những đặc điểm chủ yếu của công ty cổ phần nhỏ:

  • Bị hạn chế số lượng cổ đông và cổ đông phải là công dân Hoa Kỳ;
  • Cổ đông và giám đốc phải là các cá nhân chứ không thể là pháp nhân;
  • Được giới hạn trách nhiệm như công ty cổ phần bình thường;
  • Công ty không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Lãi hoặc lỗ của công ty chia cho chủ công ty được tính vào thu nhập của những người này để nộp thuế thu nhập cá nhân (chủ doanh nghiệp tránh bị đánh thuế hai lần gồm thuế lãi cổ phần và thuế thu nhập cá nhân);
  • Quyết toán tài chính theo năm lịch;

Công ty cổ phần nhỏ có thể là sự lựa chọn phù hợp hơn đối với các trường hợp: (1) Công ty có một chủ sở hữu là cá nhân; (2) Công ty dự kiến lỗ trong những năm đầu hoạt động và chủ công ty có thu nhập thường xuyên có thể trừ lỗ của công ty vào đó; (3) Công ty không có ý định dùng lãi kinh doanh để tái đầu tư phát triển.

Tên của doanh nghiệp thuộc loại hình công ty cổ phần phải có chữ cuối cùng là: Corporation, Company, Incorporated, Limited, Syndicate, Union, Society, Club, Foundation, Fund, Institute, Asociation; hoặc sử dụng một trong những từ viết tắt là: Co., Corp., Inc., hoặc Ltd..

Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company)

Công ty trách nhiệm hữu hạn là sự kết hợp giữa loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần và doanh nghiệp hợp danh. Công ty trách nhiệm hữu hạn đã trở thành loại hình doanh nghiệp hết sức phổ biến trong những năm gần đây ở Hoa Kỳ. Giống như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn tồn tại độc lập với chủ sở hữu về mặt pháp lý; Chủ sở hữu và cán bộ quản lý không phải chịu trách nhiệm cá nhân về nợ và các nghĩa vụ của công ty. Cũng giống như doanh nghiệp hợp danh hoặc công ty cổ phần nhỏ, công ty trách nhiệm hữu hạn không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp mà lãi hoặc lỗ của công ty chia cho chủ sở hữu được tính vào thu nhập của những người này để nộp thuế thu nhập cá nhân.

Tên của công ty trách nhiệm hữu hạn phải có chữ cuối cùng là: LLC., L.L.C., hoặc Limited Liability Company.

Loại hình doanh nghiệp phù hợp

với các doanh nghiệp Việt Nam tại Hoa Kỳ

Từ những đặc điểm và qui định của pháp luật Hoa Kỳ đối với các loại hình doanh nghiệp như đã nêu ở trên, ta có thể thấy doanh nghiệp cổ phần bình thường là loại hình phù hợp nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam muốn thành lập công ty chi nhánh ở Hoa Kỳ. Hơn nữa, pháp luật Hoa Kỳ qui định doanh nghiệp cổ phần bình thường nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Hoa Kỳ; do vậy, các cơ quan đăng ký kinh doanh ở Hoa Kỳ cũng khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài thành lập loại hình doanh nghiệp này tại Hoa Kỳ.

Thành lập doanh nghiệp và triển khai hoạt động

Thủ tục và giấy tờ thành lập doanh nghiệp ở mỗi bang một khác, song nói chung đều đơn giản và nhanh chóng. Cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký kinh doanh ở các bang cũng khác nhau, có thể là sở thương mại hoặc văn phòng phát triển doanh nghiệp…, hoặc thậm chí được phân cấp cho quận. Trang web của cơ quan đăng ký kinh doanh các bang hoặc quận cung cấp đầy đủ các thông tin và hướng dẫn tỉ mỉ các thủ tục đăng ký kinh doanh.

Các doanh nghiệp Việt Nam muốn thành lập doanh nghiệp tại Hoa Kỳ có thể nộp đơn trực tiếp đến cơ quan đăng ký kinh. Việc đăng ký này cũng có thể tiến hành trên mạng Internet. Phí đăng ký thành lập công ty không đáng kể (tùy theo từng bang và loại hình công ty, nhưng thông thường không quá 300 USD). Sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan thuế, mở tài khoản tại ngân hàng, và xin giấy phép kinh doanh đối với những ngành nghề cần giấy phép kinh doanh do cơ quan quản lý chuyên ngành cấp.

Tuy nhiên, do chưa hiểu thủ tục và chưa có kinh nghiệm nên khó hoàn chỉnh hồ sơ; cho nên, để tránh tốn phí thời gian, bạn nên thuê công ty làm dịch vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp tại bang mà bạn muốn thành lập công ty hướng dẫn thủ tục, và lập và nộp hồ sơ. Bạn cũng có thể dùng địa chỉ của công ty dịch vụ này làm địa chỉ liên lạc tạm thời với chính quyền trong khi công ty mới thành lập của bạn chưa triển khai hoạt động và/hoặc chưa có địa chỉ riêng. Luật pháp nhiều bang yêu cầu công ty nước ngoài phải có người/công ty của bang đó đứng ra làm đại diện liên lạc khi cần thiết. Chi phí thuê dịch vụ đăng ký thành lập công ty cũng không lớn, thông thường không quá 500 – 700 USD.

Nhằm hỗ trợ phát triển kinh doanh tại bang, hầu hết chính quyền các bang đều có bộ phận hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể tìm đến tổ chức này để được giúp đỡ trong đó có việc hướng dẫn thủ tục và giúp đỡ đăng ký doanh nghiệp. Những dịch vụ do tổ chức này cung cấp thường là miễn phí hoặc với giá cả phải chăng.

Dịch vụ thành lập công ty tại Bang Delaware

Công ty Delaware Company chuyên làm dịch vụ đăng ký thành lập công ty ở Bang Delaware đã quảng cáo trên trang web là khách hàng thuê dịch vụ của họ có thể nhận được giấy đăng ký thành lập doanh nghiệp trong vòng một ngày làm việc. Giá trọn gói cho dịch vụ này chỉ là 299 USD bao gồm cả phí đăng ký trả cho chính quyền bang, phí đại lý đăng ký hàng năm của năm đầu tiên, và một số tài liệu và dịch vụ khác.

Nhiều thành phố lớn ở Hoa Kỳ có trung tâm thương mại quốc tế (international bussiness center) hoặc tổ chức tương tự để hỗ trợ các doanh nghiệp nước ngoài thành lập doanh nghiệp và triển khai hoạt động nhanh chóng. Những trung tâm này có thể cung cấp nhiều dịch vụ từ cho thuê trụ sở “chìa khóa trao tay” (có đầy đủ phương tiện làm việc) với giá phải chăng và thời hạn thuê linh hoạt (kể cả thuê ngắn hạn) đến tư vấn có giảm giá về thị trường, luật pháp, thuế, thiết lập quan hệ bạn hàng, tiếp cận vốn, thuê nhân viên, quảng cáo, tiếp thị; và đến giúp đỡ các nhân viên mới chuyển đến sớm ổn định cuộc sống….

SOURCE: thương vụ thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ

CƠ CHẾ HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Hiến pháp Hoa Kỳ qui định Quốc hội Hoa Kỳ có quyền quản lý ngoại thương và quyết định về thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, do việc tăng hoặc giảm thuế nhập khẩu, ấn định hạn ngạch nhập khẩu, hoặc đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế rất phức tạp và ảnh hưởng đến lợi ích không những của Hoa Kỳ mà còn của các nước khác; nên nhiều trách nhiệm trong những lĩnh vực này đã đuợc Quốc hội uỷ quyền cho các cơ quan hành pháp. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được Quốc hội uỷ quyền, các cơ quan hành pháp được uỷ quyền có trách nhiệm tham vấn thường xuyên và chặt chẽ với các uỷ ban có liên quan của Quốc hội và các nhóm cố vấn của khu vự tư nhân.

Quốc hội liên bang

Vai trò của Quốc hội trong chính sách thương mại cơ bản gồm hai phần: ban hành và giám sát thi hành các luật thương mại.

Tất cả các luật thương mại ở Hoa Kỳ đều do Quốc hội ban hành. Quốc hội có thể uỷ quyền cho chính quyền tiến hành các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, song tất cả các hiệp định thương mại song phương và đa phương do chính quyền ký kết với các nước đều phải được Quốc hội thông qua mới có hiệu lực thi hành.

Luật thương mại qui định rõ năm thành viên của Uỷ ban Chính sách và Tài chính (Ways and Means Committee) thuộc Hạ viện và năm thành viên của Uỷ ban Tài chính Thượng viện (Finance Committee) được chỉ định là cố vấn của Quốc hội cho các đoàn đàm phán thương mại quốc tế của chính quyền. Văn phòng Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) – là cơ quan chủ trì đàm phán thương mại quốc tế của chính quyền – có trách nhiệm cung cấp cho các cố vấn này đầy đủ thông tin về mục tiêu và tình hình các cuộc đàm phán thương mại quốc tế của Hoa Kỳ cũng như những khả năng có thể phải điều chỉnh luật pháp hiện hành của Hoa Kỳ để phù hợp với hiệp định sẽ ký kết.

Quốc hội cũng yêu cầu USTR và Uỷ ban thương mại quốc tế (ITC) của Hoa Kỳ gửi các báo cáo hàng năm để Quốc hội nắm được tình hình thực thi các luật và chương trình thương mại. Đáng chú ý là báo cáo hàng năm của USTR với tiêu đề: “Báo cáo đánh giá thương mại quốc gia về các rào cản ngoại thương” và báo cáo hàng năm của ITC với tiêu đề “Năm thương mại: Hoạt động của chương trình các hiệp định thương mại”.

Để đảm bảo các cơ quan chính quyền triển khai đúng các luật thương mại, Quốc hội yêu cầu các cơ quan này phải thường xuyên tham khảo ý kiến Quốc hội và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để tranh thủ ý kiến của công chúng trước khi trình dự thảo hiệp định hoặc dự thảo luật triển khai.

Ngoài ra, Quốc hội có thể điều tiết và kiểm soát việc thực hiện các luật và chương trình thương mại thông qua quyền phân bổ ngân sách của mình cho các cơ quan chính quyền về thương mại.

Chính quyền liên bang

Chính sách thương mại là nhân tố cơ bản của chính sách kinh tế và ngoại giao của Hoa Kỳ. Do các quyết định về chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến cả lợi ích trong và nước ngoài nên có nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ có vai trò trong hoạch định các chính sách thương mại. Nhiều cơ chế phối hợp liên ngành đã được sử dụng để phối hợp các quan điểm và lợi ích khác nhau nhằm đảm bảo cho chính sách thương mại quốc gia được nhất quán và cân bằng.

Uỷ ban chính sách thương mại (TPC) chịu trách nhiệm chính trong phối hợp chính sách thương mại. TPC bao gồm Trưởng Đại diện thương mại (USTR) là chủ tịch và các thành viên là Bộ trưởng các Bộ Thương mại, Ngoại giao, Nông nghiệp, Tài chính và Lao động. Ngoài ra, đại diện của các cơ quan khác cũng được mời dự họp về chính sách thương mại khi cần thiết.

Chức năng cơ bản của TPC là: giúp Tổng thống thực hiện các chức năng của Tổng thống theo các luật thương mại và cố vấn cho USTR thực hiện các chức năng của USTR; giúp Tổng thống và cố vấn cho USTR trong việc xây dựng và thực hiện các mục tiêu chính sách thương mại quốc tế; và cố vấn cho Tổng thống và USTR trong việc phối hợp giữa các mục tiêu chính sách thương mại quốc tế với các lĩnh vực chính sách lớn khác. Khi cần quyết định của Tổng thống về chính sách thương mại, chủ tịch TPC (USTR) sẽ đệ trình lên Tổng thống các khuyến nghị và lời khuyên của TPC.

Dưới TPC có hai nhóm phối hợp trực thuôc: Nhóm rà soát chính sách thương mại (TPRG) và Uỷ ban tham mưu về chính sách thương mại (TPSC). TPSC bao gồm các quan chức cao cấp của các cơ quan thành viên TPC. TPSC có hơn 60 tiểu ban và nhóm theo lĩnh vực công việc. Các vấn đề không đạt được sự nhất trí trong TPSC hoặc có tầm quan trọng thì sẽ được chuyển sang TPRG để xem xét. TPRG gồm các thành viên cấp thứ trưởng các cơ quan thành viên TPC và phó đại diện USTR. Các vấn đề không đạt được sự nhất trí trong TPRG sẽ được chuyển lên TPC để xem xét.

Nấc cuối cùng trong cơ chế liên ngành về thương mại là Uỷ ban Kinh tế Quốc gia (NEC) do Tổng thổng làm chủ tịch. Các thành viên khác của NEC gồm Phó Tổng thống, các Bộ trưởng Ngoại giao, Tài chính, Nông nghiệp, Thương mại, Lao động, Bộ Phát triển Đô thị và Nhà ở, Giao thông Vận tải, và Năng lượng; Chủ nhiệm Cơ quan Bảo vệ Môi trường; Giám đốc Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ; chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế; Cố vấn An ninh Quốc gia; và các trợ lý Tổng thống về chính sách kinh tế, chính sách đối nội, chính sách khoa học và công nghệ.

Khi các quyết định về chính sách được đưa ra trong cơ chế liên ngành này, USTR sẽ đảm đương trách nhiệm chỉ đạo triển khai thực hiện quyết định đó.

Đại diện Thương mại

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) là thành viên nội các, mang hàm đại sứ và có những nhiệm vụ sau:

– Chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và điều phối thực hiện chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ;

– Là cố vấn chính cho Tổng thống về chính sách thương mại quốc tế và tư vấn cho Tổng thống về ảnh hưởng của các chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ đối với thương mại quốc tế;

– Chịu trách nhiệm lãnh đạo tiến hành và là đại diện chính của Hoa Kỳ trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, kể cả các cuộc đàm phán về trao đổi hàng hoá và đầu tư trực tiếp;

– Phối hợp chính sách thương mại với các cơ quan khác;

– Là phát ngôn viên chính của Tổng thống về thương mại quốc tế;

– Báo cáo và chịu trách nhiệm trước Tổng thống và Quốc hội về việc điều hành chương trình các hiệp định thương mại, kể cả cố vấn về các hàng rào phi thuế, các hiệp định nông sản quốc tế, và các vấn đề khác liên quan đến chương trình các hiệp định thương maị; và

– Là chủ tịch Uỷ ban chính sách thương mại TPC.

Theo luật, USTR là đại điện cao cấp tại tất cả các cơ quan mà Tổng thống lập ra để cố vấn cho Tổng thống về các chính sách kinh tế trong đó các vấn đề thương mại quốc tế đóng vai trò chủ đạo. Luật cũng qui định USTR tham dự tất cả các hội nghị thượng đỉnh kinh tế và các cuộc họp quốc tế khác mà tại đó thương mại quốc tế là một chủ đề chính. USTR có trách nhiệm lãnh đạo phía Hoa Kỳ tại tất cả các cuộc đàm phán về bất cứ vấn đề gì nằm dưới sự bảo trợ của Tổ chức Thương mại Thế giới. Luật Cạnh tranh và Thương mại Omnibus năm 1988 đã nâng thêm tầm quan trọng của USTR bằng cách phân cấp trách nhiệm thực hiện các hành động theo điều 301 của Luật này từ Tổng thống sang cho USTR. Tuy nhiên, việc thực hiện này phải tuân theo sự chỉ đạo cụ thể của Tổng thống, nếu có.

Văn phòng USTR có hai phó Đại diện, một làm việc tại Washington, D.C và một ở Geneva, Thuỵ Sĩ.

Bộ Thương mại

Trách nhiệm chính về thương mại của Bộ Thương mại tập trung vào Cơ quan Quản lý Thương mại Quốc tế và Cục Quản lý Xuất khẩu.

Cơ quan Quản lý Thương mại Quốc tế có trách nhiệm quản lý nhà nước về ngoại thương đối với các mặt hàng phi nông nhiệp, chỉ đạo và điều hành công tác phát triển xuất khẩu và cơ quan xúc tiến thương mại Hoa Kỳ ở nước ngoài, thực thi luật chống bán phá giá và luật thuế chống bù giá, kiểm soát xuất khẩu, hỗ trợ điều chỉnh thương mại cho các công ty, nghiên cứu và phân tích ngoại thương, và theo dõi việc tuân thủ các hiệp định thương mại quốc tế trong đó Hoa Kỳ là một bên tham gia.

Cục Quản lý Xuất khẩu đặc trách kiểm soát việc xuất khẩu hàng hoá và công nghệ vì lý do an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại, và thiểu cung. Cục Quản lý Xuất khẩu cấp giấy phép xuất khẩu dựa trên các quy chế kiểm soát xuất khẩu.

Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới

Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới trực thuộc Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ. Người đứng đầu Cục này (Commissioner of Customs) do Tổng thống bổ nhiệm và được Quốc hội thông qua.

Cục có chức năng thu thuế nhập khẩu và thi hành hơn 400 luật và các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Một số trách nhiệm của Hải quan bao gồm việc ngăn chặn và tịch thu hàng hoá nhập vào bất hợp pháp; giải quyết thủ tục cho người, tàu chuyên chở, hàng hoá, thư từ vào và ra khỏi Hoa Kỳ; quản lý hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác, và hỗ trợ thực thi các luật của Hoa Kỳ về quyền tác giả, quyền sáng chế và thương hiệu.

Uỷ ban Thương mại Quốc tế (Hoa Kỳ)

Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) là một cơ quan độc lập và gần như là toà án. ITC thực hiện các công việc nghiên cứu, báo cáo và điều tra, và khuyến nghị lên Tổng thống và Quốc hội về rất nhiều các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế.

Các nhiệm vụ của ITC được qui định trong các Luật Thuế quan năm 1930, Luật Điều chỉnh Nông nghiệp, Luật Phát triển Thương mại năm 1962, Luật Thương mại năm 1974, Luật về các Hiệp định Thương mại năm 1979, Luật Thương mại và Thuế quan năm 1984, Luật Cạnh tranh và Thương mại Omnibus năm 1988, và Luật về các Hiệp định Vòng Uruguay.

Theo các luật trên, ITC có trách nhiệm cố vấn, điều tra, nghiên cứu, và thu thập và phân tích số liệu thuộc các lĩnh vực: cố vấn đàm phán thương mại; ưư đãi thuế quan phổ cập chung; hạn chế nhập khẩu để hỗ trợ các ngành công nghiệp trong nước; thương mại Đông – Tây; điều tra về thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ giá hoặc bán phá giá gây ra đối với ngành công nghiệp liên quan của Hoa Kỳ (đây là một trong những chức năng chính của ITC); ảnh hưởng của nhập khẩu đối với các chương trình nông nghiệp; các tập quán không công bằng trong thương mại nhập khẩu; xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê thống nhất; các vấn đề liên quan đến biểu thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ; nghiên cứu thương mại quốc tế; lập các báo cáo tóm tắt về thương mại và thuế quan.

Theo Điều 337 của Luật Thuế quan năm 1930, ITC có quyền ra lệnh thực thi các hành động để cứu trợ ngành công nghiệp trong nước trong tình huống khẩn cấp do những biện pháp hoặc hành động cạnh tranh không bình đẳng của hàng nhập khẩu gây ra. Tuy nhiên, Tổng thống có quyền phủ quyết những hành động do ITC đưa ra.

ITC có sáu uỷ viên, trong đó có không quá ba uỷ viên từ một đảng chính trị. Nhiệm kỳ của các uỷ viên là chín năm, trừ trường hợp được bổ nhiệm thay thế người chưa hết nhiêm kỳ. Các uỷ viên đã phục vụ trên 5 năm có thể không được bổ nhiệm lại. Chủ tịch và phó chủ tịch được Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 2 năm. Chủ tịch kế nhiệm phải là người thuộc đảng chính trị khác với chủ tịch hết nhiệm kỳ.

Các Uỷ ban Cố vấn Tư nhân hoặc Chính phủ

Năm 1974, Quốc hội Hoa Kỳ đã thành lập hệ thống uỷ ban cố vấn khu vực tư nhân để đảm bảo rằng các chính sách thương mại và các mục tiêu đàm phán thương mại của Hoa Kỳ phản ánh thoả đáng các lợi ích thương mại và kinh tế của Hoa Kỳ. Gần 30 năm qua, Quốc hội đã mở rộng và nâng tầm vai trò của hệ thống này, đến nay bao gồm 33 uỷ ban cố vấn, với số thành viên cố vấn xấp xỉ 1.000 người.

USTR quản lý một cơ cấu uỷ ban cố vấn ba cấp. Các uỷ ban này họp thường kỳ, thu thập những thông tin nhậy cảm về các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra và các vấn đề chính sách thương mại khác, và báo cáo lên Tổng thống ý kiến của mình về tất cả các hiệp định thương mại được ký kết theo luật thương mại Hoa Kỳ.

Cấp cao nhất, Uỷ ban Cố vấn Chính sách và Đàm phán Thương mại (ACTPN), là một cơ quan gồm 45 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm bao gồm đại diện của Chính phủ, công đoàn, công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ, dịch vụ, bán lẻ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và công chúng. Nhóm này, được triệu tập họp theo yêu cầu của USTR, xem xét các vấn đề chính sách thương mại trong bối cảnh tổng thể lợi ích quốc gia.

Cấp thứ hai bao gồm 7 uỷ ban cố vấn chính sách, đại diện cho các lĩnh vực kinh tế nói chung, như công nghịêp, nông nghiệp, công đoàn, và dịch vụ. Vai trò của cấp này là cố vấn cho chính phủ về những ảnh hưởng của các bịên pháp thương mại đối với các lĩnh vực tương ứng của họ.

Cấp thứ ba bao gồm 25 uỷ ban cố vấn phân theo lĩnh vực, chức năng, và kỹ thuật, bao gồm các chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau. Các chuyên gia này cung cấp thông tin và ý kiến kỹ thuật cụ thể về các vấn đề thương mại liên quan đến lĩnh vực cụ thể của họ. Các thành viên của cấp thứ hai và cấp thứ ba do USTR và các bộ trưởng của các bộ hoặc cơ quan có liên quan bổ nhiệm.

Source: Thương vụ thương mại Việt Nam Tại Hoa Kỳ

SƠ LƯỢC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Như đã giới thiệu sơ bộ ở phần “Hệ thống Chính trị”, Hoa kỳ là một nước cộng hoà liên bang gồm 50 bang. Ngoài hệ thống pháp luật liên bang, mỗi bang đều có hệ thống pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của liên bang. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật liên bang và luật bang hoặc luật địa phương, thì luật liên bang sẽ có hiệu lực. Có những giao dịch hoặc vấn đề chịu sự điều tiết của riêng luật liên bang, riêng luật bang, hoặc có thể cả luật biên bang và luật bang. Ví dụ, ở Hoa kỳ không có những qui định chung áp dụng cho cả liên bang về thành lập công ty hoặc văn phòng đại diện mà những qui định này ở mỗi bang một khác.

Hiến pháp Hoa kỳ qui định quyền quản lý ngoại thương và thu thuế xuất nhập khẩu thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước liên bang, do vậy các hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của hệ thống luật liên bang. Tuy nhiên, có một số luật của một số bang cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu. Ví dụ, nhập khẩu xe hơi vào Hoa kỳ chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của các luật liên bang liên quan đến nhập khẩu xe hơi. Tuy nhiên, do luật bảo vệ môi trường của một số bang đề ra những yêu cầu bảo vệ môi trường khắt khe hơn so với các luật liên bang về môi trường, cho nên xe hơi nhập khẩu muốn tiêu thụ được ở các bang đó phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường của các bang đó. Một ví dụ khác, luật của Bang Pennsylvania chỉ qui định nguyên liệu nhồi trong đồ chơi không được có chất gây hại, trong khi đó luật của Bang Ohio lại qui định khắt khe hơn là nguyên liệu nhồi trong đồ chơi phải là mới và phải được kiểm tra phòng truyền nhiễm bệnh do vi khuẩn.

Hoa kỳ và tất cả các bang (trừ bang Louisiana theo hệ thống luật Châu Âu) đều theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – thường được dịch sang tiếng Việt là hệ thống thông luật). Điều này có nghĩa là những giải thích luật của toà án sẽ trở thành luật áp dụng trong các trường hợp sau và tương tự. Do vậy, ngoài việc nghiên cứu các luật, việc nghiên cứu các quyết định của toà án cũng là một phần không thể thiếu để hiểu đầy đủ về luật pháp Hoa kỳ đối với một vấn đề nào đó.

Phần này nhằm giới thiệu tóm tắt những nội dung cơ bản của một số luật liên bang của Hoa kỳ về thương mại và có liên quan đến thương mại. Vì là tóm tắt, nên nó không thể chứa đựng tất cả những chi tiết cần thiết hoặc là cơ sở pháp lý cho những giao dịch kinh doanh cụ thể. Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu cẩn thận hoặc sử dụng tư vấn pháp lý để nắm được tất cả các yêu cầu pháp lý hiện hành của Hoa kỳ áp dụng đối với lĩnh vực hoặc ngành hàng kinh doanh của mình.

Source: thương vụ thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ

MỘT SỐ LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này.

Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thành luật. Continue reading