BUÔN BÁN TÀI SẢN ẢO MỘT VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA GAME ONLINE

NGUYỄN HẰNG – HƯNG HẢI

Việc hai nhà cung cấp game FPT Telecom và VASC gần như đồng loạt tuyên bố thừa nhận quyền mua bán, trao đổi tài sản trong game một lần nữa chứng minh tốc độ phát triển như vũ bão của ngành công nghiệp mới. Tuy nhiên, nhà quản lý vẫn tỏ ra từ tốn trước những diễn biến của đời sống công nghệ.

Nhiều gamer cho rằng điều có ý nghĩa nhất đối với người chơi game online là thành quả đạt được trong game. Các cao thủ có thể miệt mài hàng giờ bên máy tính, “cày xới” và “chinh chiến” đến quên mình cũng chỉ vì mục đích lên level, sở hữu thật nhiều đồ vật có giá trị. Việc trao đổi buôn bán tài sản ở môi trường ảo xuất hiện và diễn biến như quy luật tự nhiên. Hơn ai hết, nhà cung cấp trò chơi nào cũng ý thức được rằng bảo vệ và tạo điều kiện để thương trường trong game phát triển cũng chính là vấn đề sống còn của chính doanh nghiệp mình.

Giá trị thực của tài sản ảo

Trước khi nhà cung cấp chính thức công nhận việc giao thương, hoạt động buôn bán, trao đổi những món đồ hoặc nhân vật trong hầu hết các game đã diễn ra theo kiểu “chợ đen” và các game thủ tự thoả thuận với nhau giá cả. Không ít thương vụ có giá trị lên đến nhiều triệu đồng. Thanh Khai Sơn Kiếm dành cho nhân vật Knight đầu tiên trong game PTV từng được mua với giá 4 triệu đồng. Những bộ giáp làm phần thưởng cho giải vô địch MU VN được các game thủ lùng sục với giá từ 5 đến 7 triệu đồng. Giới mộ điệu vẫn nhắc đến kỷ lục giao dịch một bộ đồ Hoàng Kim trong Võ Lâm Truyền Kỳ với số tiền trao tay là 30 triệu đồng. Chỉ tính riêng những giao dịch nhỏ lẻ của các đồ vật trong game PTV nếu quy ra tiền mặt cũng lên đến khoảng 4 tỷ đồng/tháng.

Theo ý kiến của đa phần game thủ thì giá trị của các tài sản ảo được tạo nên từ những yếu tố: công sức của người chơi, tính ổn định, phổ biến của game và sự quý hiếm của món đồ. Trong đó, công sức của người chơi được tính bằng chi phí thời gian và tiền bạc bỏ ra để có được một nhân vật có cấp độ cao, lên điểm (phân phối các chỉ số tiềm năng). “Tiền trả cho cửa hàng Internet, trả cho nhà cung cấp game là tiền thật. Vậy những gì thu được từ số tiền thật đó không hoàn toàn ảo”, game thủ của PTV mang nick Thái Shiva tuyên bố sau khi nạp xong 720 nghìn đồng để được “giành lại miền đất hứa suốt đời.

“Có người mua thì ắt có kẻ bán. Việc trao đổi các món đồ và nhân vật trong game giữa các người chơi với nhau tuân theo đúng các quy luật của thị trường”, game thủ Nguyễn Hoài An (Hà Nội) phân tích. “Đối với những món đồ hiếm thì có khi người chơi hết số tiền bỏ ra mua đồ cũng không thể có được. Vậy tại sao lại không mua?”.

Nguyễn Khánh Toàn, một du học sinh tại Đức, cũng đồng tình: “Mua đồ ảo là mua thông tin của game đó. Đối với game thông thường, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cuốn sách về cheat code hoặc các thủ thuật để qua các màn khó. Game online cũng vậy, bạn phải trả tiền cho cái gì đó giúp bạn mạnh mẽ hơn”.

Nhiều gamer quan niệm đồ ảo trong game luôn mang giá trị thật. Nguyễn Trọng Hải, một kỹ sư máy tính, so sánh: “Đối với những người không chơi game online, những thứ đó (các tài sản ảo) thật phù phiếm. Điều này cũng giống như mang chiếc máy tính xịn nhất đến nơi không có điện vậy”.

Theo ông Trương Đình Anh, Tổng giám đốc FPT Telecom – nhà cung cấp PTVMU Việt Nam – sự phát triển và phổ biến của các trò chơi trực tuyến đã hình thành nhiều lớp game thủ trong đó có cả những người chuyên nghiệp, coi game trực tuyến là một phương tiện kiếm tiền để sinh sống, có nhu cầu bán tài sản kiếm được trong game ra tiền mặt. “Vì thế mà việc công nhận tài sản ảo trong game là một xu hướng tất yếu“, ông Trương Đình Anh khẳng định.

Ra tuyên bố công nhận quyền mua bán tài sản ảo của các game thủ chỉ sau FPT vài ngày, nhà cung cấp trò chơi trực tuyến VASC cũng tỏ ý đồng tình với FPT Telecom. “Nếu không công nhận quyền mua bán tài sản trong game, nhà cung cấp sẽ không thể kiểm soát được mâu thuẫn và những tranh chấp xung quanh việc bán đồ. Đây là một trong những biện pháp để chúng tôi điều tiết thị trường, giảm thiểu tệ nạn xung quanh những thương vụ trong game”, ông Lê Việt Thành, Phó giám đốc Trung tâm game online VASC, cho biết.

Võ lâm truyền kỳ là trò chơi được thu phí đầu tiên trong số các game có bản quyền tại Việt Nam và hiện có hàng nghìn game thủ là thành viên của các bang phái Võ lâm. Tuy nhiên, nhà cung cấp VinaGame vẫn chưa có động thái gì đặc biệt trước những diễn biến mới của thị trường. “Chúng tôi không có bình luận gì về mọi vấn đề liên quan đến tài sản ảo trong game”, ông Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, đại diện của VinaGame, nói.

Hành lang pháp lý cho tài sản ảo

Trong suốt thời kỳ “chợ đen”, việc trao đổi giữa các game thủ diễn ra phức tạp và rắc rối. Đối với những món đồ và vật dụng, việc trao đổi từ tài khoản này sang tài khoản khác tương đối đơn giản: chỉ cần “tiền trao” bên ngoài và “cháo múc” trong game là xong. Nhưng đối với các trường hợp trao đổi nhân vật thì khác hoàn toàn. Mua một nhân vật là phải mua luôn tài khoản có chứa nhân vật đó. Việc chuyển đổi các thông tin cá nhân liên quan đến tài khoản rất khó khăn, đặc biệt là địa chỉ e-mail để thông báo các xác nhận đổi mật khẩu hiện không thể thay đổi được.

Đây cũng chính là nguyên nhân của hàng loạt khúc mắc giữa người mua bán và gây khó khăn cho chính nhà cung cấp game. Nhiều trường hợp người mua sau khi trả tiền bị cướp trắng, vì e-mail không thay đổi được. Người bán sau khi nhận tiền thông báo với nhà cung cấp là bị hack, yêu cầu được cấp lại mật khẩu. Chính vì thế đa phần nhà cung cấp game hiện nay vẫn tuyên bố đứng ngoài cuộc trước các khiếu kiện xung quanh việc buôn bán tài khoản. Hiện chỉ có game PTV mới đưa vào hình thức chuyển đổi nhân vật từ tài khoản này sang tài khoản khác. VASC sau khi tuyên bố chính thức cho phép người chơi giao dịch tài sản trong RYL II bằng tiền mặt vẫn từ chối can thiệp các xung đột về tài khoản. Đại diện VASC Lê Việt Thành cho biết doanh nghiệp này đang hoàn chỉnh hệ thống trợ giúp giao dịch cho các game thủ.

Theo nhận định của VnExpress, cả giới gamer và nhà cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến trong nước đều trông ngóng một quy chế quản lý game online hoàn chỉnh và phù hợp với thực tế để có “chỗ dựa” an toàn trong khi mải mê “chinh chiến và… đi buôn”. Tuy nhiên, dù từng hứa sẽ có một quy chế quản lý game online công bố trước ngày 31/12/2005, Thứ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Đỗ Quý Doãn đến nay đã thừa nhận chưa biết lúc nào văn bản đó mới được hoàn chỉnh và đi vào thực tiễn. “Vấn đề tài sản ảo trong game chúng tôi cũng rất lưu tâm. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng cần có thời gian để nghiên cứu thực tiễn mới có thể đưa nó vào luật được”.

Theo luật sư Nguyễn Hoàn Thành của văn phòng Luật sư Phạm và liên danh, dù các phạm trù ảo trong game chưa có luật điều chỉnh, song nếu đã dẫn đến những hệ lụy đời thường thì những gì xảy ra trong đời thực vẫn có thể áp dụng Luật dân sự hay hình sự như bình thường. “Tất nhiên, trong quan hệ con người với nhau ở thế giới ảo cũng phải tuân thủ quy tắc đạo đức nhất định. Tôi nghĩ rằng game online là vấn đề cần bổ sung vào các văn bản quản lý vật dụng Internet”, luật sư Nguyễn Hoàn Thành phân tích. “Đặc biệt, Internet là một môi trường tự do nên những quy định về nguyên tắc đạo đức nhiều khi rất quan trọng để người tham gia vào đó có ý thức tự giác. Nếu không tuân thủ theo những điều đó thì người chơi sẽ bị nhà cung cấp gạt khỏi dịch vụ hoặc ngay cả những người xung quanh loại trừ”.

Luật sư Nguyễn Hoàn Thành cũng lưu ý rằng trong những quy định về game online cần có những quy định rõ ràng về trách nhiệm của nhà cung cấp cung cấp dịch vụ. “Nhà cung cấp phải có những quy chế rõ ràng về phân phối sản phẩm và đưa ra những quy tắc nhất định đối với người tham gia chơi game. Thậm chí, họ có quyền và nghĩa vụ quản lý người tham gia game tuân thủ các quy định đó. Bởi lẽ xét về mọi phương diện kỹ thuật, dù là công nghệ hay khả năng bám sát các diễn biến thực tiễn, họ hoàn toàn có thể làm được”, ông Thành nói.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC BẢO VỆ TÀI SẢN ẢO TRONG GAME

Ngày 12/12, Bộ Thông tin – Viễn thông nước này chính thức tuyên chiến với hành động trộm cắp tài sản ảo trong game online. Theo đó, họ sẽ ban hành sách hướng dẫn phòng chống hack và giám sát chặt chẽ 70.000 website game để tránh phần mềm chứa mã gian lận.

Bộ Thông tin Viễn thông Hàn Quốc nhận định hành động gian lận không chỉ đánh cắp tài sản của người chơi mà còn gây tổn thất về tiền bạc cho chính những hãng phát hành game vì phải bỏ thời gian, công sức để bảo vệ khách hàng.

Các cuộc tấn công vào game online được cảnh báo là nỗi đe doạ mới đối với cả người dùng máy tính và những nhà phát hành game. Theo AhnLab, một công ty chuyên về bảo mật, đã có đến 527 trường hợp trộm cắp tài khoản, đồ vật của LineAge, game đang ăn khách nhất tại Hàn Quốc tính đến tháng 11/2005.

Những đồ vật như đao kiếm, khiên áo hoặc tiền trong game là công sức của người chơi thu thập được và chúng được trao đổi rộng rãi. Thống kê của Hiệp hội công nghiệp game Hàn Quốc cho thấy thị trường trao đổi đồ vật ảo trong game đạt 688 triệu USD trong năm 2004, dự kiến năm nay con số này lên đến 983 triệu USD và đạt mức 1,47 tỷ USD trong năm 2006. Có những món đồ được các game thủ trao đổi với giá tiền kỷ lục 10.000 USD.

SOURCE: GameThủ.NET

KHÔNG NÊN SỬ DỤNG THUẬT NGỮ “ẢO” ĐỐI VỚI TÀI SẢN TRONG GAME

Đó là ý kiến của luật sư Hoàng Ngọc (Đoàn luật sư Hà Nội) đối với những đồ vật, vật phẩm trong game trực tuyến. Theo ông, những tài sản đó không hề “ảo” mà có thực bởi hình thành hợp pháp từ các trò chơi hợp pháp và bằng thời gian, công sức của người chơi.

Luật sư Hoàng Ngọc nhấn mạnh rằng trên thực tế, dù trực tiếp hay gián tiếp thì các tài sản trong trò chơi cũng đã định giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Như vậy, tài sản trong trò chơi trực tuyến nên được nhìn nhận như một quyền tài sản hợp pháp của công dân, nên được gọi là “quyền tài sản trong trò chơi trực tuyến” thay cho cụm từ “tài sản ảo” như hiện nay. Nếu tiếp tục sử dụng thuật ngữ “tài sản ảo”, việc tìm kiếm các văn bản pháp lý liên quan để áp dụng sẽ rất khó khăn, dẫn tới sự lúng túng trong việc công nhận hay không công nhận thứ tài sản đặc biệt xuất hiện trong thời đại thông tin.

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Vụ trưởng Thương mại điện tử, Bộ Thương mại, trong buổi họp về chính sách tài sản ảo ngày 27/2 đã bày tỏ sự ủng hộ của Bộ Thương mại đối với việc công nhận những tài sản trong game: “Chỉ căn cứ vào Bộ luật Dân sự, tôi cũng thấy ổn rồi. Tuy nhiên, để chi tiết hơn, chúng ta cần có thông tư hoặc một văn bản quy định cụ thể”. Đại diện Bộ Thương Mại đã trích dẫn 2 điều trong luật Dân sự làm cơ sở pháp lý cho việc công nhận giá trị những tài sản trong game: Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự, “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Điều 181 quy định “Quyền tài sản là quyền giá trị được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.

Trên thực tế, giá trị của những tài sản trong game được cộng đồng gamer thừa nhận. Cho dù pháp luật chưa chấp nhận, thậm chí một số nhà cung cấp vẫn tuyên bố cấm việc buôn bán bằng tiền mặt, nhưng vì bản thân là một loại tài sản nên những đồ vật trong game vẫn được người ta trao đổi, mua bán. Thị trường tài sản trong game phát triển kiểu “chợ đen” nên những tranh chấp nảy sinh như cơm bữa. Trên các diễn đàn hoặc website về game trực tuyến, bên cạnh chủ đề rao mua bán đồ vật là chủ đề phòng chống các hình thức lừa đảo. Đơn giản nhưng phổ biến là người bán sau khi nhận tiền và trao “hàng” xong liền báo cho nhà cung cấp rằng mình bị hack (bị xâm nhập và lấy mất đồ).

Anh Trương Quốc Tuấn (Quận 5, TP HCM) có nguy cơ mất trắng 2 triệu đồng khi tài khoản game Võ Lâm Truyền Kỳ đang bị nhà cung cấp khoá vĩnh viễn vì tranh chấp. “Trong buổi giải quyết tranh chấp tại văn phòng VinaGame chiều 22/2, tôi đã trình bày toàn bộ thông tin liên quan đến tài khoản”, anh Tuấn nói. “Thậm chí người tranh chấp với tôi không thể chứng minh được e-mail sử dụng để đăng ký tài khoản là của chị ta vì không có mật khẩu”.

Công ty VinaGame đã tạm khoá tài khoản trên lại với 2 lý do: không chấp nhận việc mua bán tài khoản (theo điều 14, thoả thuận giữa VinaGame với khách hàng) và hai bên tranh chấp không tự thoả thuận được. “Cách xử lý của VinaGame như vậy không thoả đáng, vô tình tiếp tay cho những kẻ lừa đảo hoặc hacker. Nếu chúng đã biết được thông tin và cố tình gây tranh chấp, người chơi kiểu gì cũng mất tài khoản. Nếu không mất vào tay kẻ lừa đảo vì thua kiện thì cũng bị VinaGame khoá lại vì không thoả thuận được với chúng”, anh Tuấn bức xúc nói.

Theo kinh nghiệm của các game master (GM – người điều hành game) thuộc trò chơi PTV, những giao dịch đồ vật còn phức tạp hơn bởi không có thông tin người chơi xác lập như tài khoản. Dựa vào số nhận dạng (ID) của món đồ, nhà cung cấp game chỉ có thể biết được món đồ đó từ một nhân vật trao cho ai, giờ nào chứ không thể biết được chủ nhân đang điều khiển nhân vật trong game là ai. Vì thế khó có thể xác định một giao dịch trong game là do chủ tài khoản hay hacker thực hiện. Trong hầu hết trường hợp, món đồ được trả lại chủ cũ khi có tranh chấp xảy ra nếu người mua không đưa ra được những thông tin chứng thực cho mua bán như screenshot (hình chụp màn hình) lúc giao dịch hoặc giấy biên nhận do 2 bên tự thảo.

Hiện chỉ có 2 nhà cung cấp game là FPT và VASC chính thức tuyên bố công nhận giá trị của tài sản ảo. Đây được coi là những cam kết của nhà cung cấp đối với gamer của mình bởi đi kèm với việc tuyên bố, nhà cung cấp game cũng phải thống nhất những quy tắc, chuẩn mực về mặt kỹ thuật để tránh các tranh chấp trong game. “Tài sản ảo thực ra là cơ sở dữ liệu nằm trong máy chủ. Ví như tất cả các tài sản trong MU hoặc Võ Lâm Truyền Kỳ nằm ở máy chủ của FPT hoặc VinaGame”, ông Nguyễn Thanh Hưng nói.

Như vậy, những tài sản trong game sẽ không còn “ảo” và dễ dàng hơn trong việc áp dụng các văn bản pháp luật nếu được nhìn nhận là một “quyền tài sản”. Theo luật sư Hoàng Ngọc, Nhà nước nên có quy định cụ thể về công nhận quyền tài sản về trò chơi trực tuyến cũng như quyền mua bán những “quyền tài sản” này để tránh cho “thị trường ảo có thực” này hoạt động theo kiếu chợ đen. Thứ hai, là phải kiểm soát được cam kết chỉ thu phí từ người chơi, không tạo ra các món đồ ảo để bán của nhà phát hành. Còn Vụ trưởng Thương mại điện tử tổng kết: “Một thứ có giá mà chuyển giao được, nó trở thành tài sản thôi. Anh thừa nhận nó và anh quản lý nó bằng pháp luật, nó sẽ đúng hướng và có lợi hơn cho xã hội”.

SOURCE: Game Thủ.NET

TÀI SẢN TRONG GAM ĐƯỢC NHÌN NHẬN NHƯNG CHƯA BẢO HỘ

HƯNG HẢI

Đó là quan điểm của đa số cơ quan chức năng trong buổi tọa đàm đóng góp ý kiến xây dựng thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến do Bộ VHTT tổ chức sáng nay tại Hà Nội. Đây cũng là lý do vấn đề này không được đưa vào nội dung của bản dự thảo lần 7 của thông tư.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin (VHTT) Đỗ Quý Doãn khẳng định: “Việc nhìn nhận đồ vật trong game là tài sản hay không rất cần thiết. Tuy nhiên, do vấn đề này còn mới và có nhiều phức tạp nên tạm thời chưa đưa vào thông tư này”.

Theo ông, thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến lần này chỉ nhằm quản lý về mặt an ninh và nội dung văn hoá. Vì vậy, những vấn đề liên quan như thuế, tài sản trong game không được đưa vào nội dung thông tư. Trước mắt, các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ game trực tuyến sẽ tự xây dựng quy chế để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình.

Thứ trưởng Doãn nhấn mạnh: “Bộ VHTT không phủ nhận tài sản ảo. Nhưng việc công nhận tài sản ảo với đưa nội dung bảo hộ tài sản ảo vào thông tư hoàn toàn khác nhau. Vấn đề này sẽ được nghiên cứu thêm và điều chỉnh bằng văn bản khác”.

Trong văn bản đóng góp ý kiến gửi ban soạn thảo thông tư, Bộ Thương mại nêu rõ quan điểm công nhận những đồ vật trong game trực tuyến là tài sản: “Sản phẩm ảo trong trò chơi trực tuyến là tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành … Người có sản phẩm ảo có quyền sở hữu tài sản”. Bộ Thương mại cũng khẳng định cần có các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ các điều kiện kinh doanh đối với mua bán, chuyển nhượng sản phẩm ảo trong trò chơi trực tuyến. Tuy nhiên, Bộ Thương mại đồng ý chưa nên đưa nội dung này vào điều chỉnh trong thông tư liên tịch.

Một trong những khó khăn mà các cơ quan chức năng “tiếp tục nghiên cứu kỹ” là số phận của những tài sản này sau khi trò chơi không còn được cung cấp. Các trò chơi có thể tồn tại trong 1 tháng, 1 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng đến khi ngừng cung cấp thì những tài sản trong game đó sẽ ra sao? Nếu không giải quyết thấu đáo vấn đề này sẽ phát sinh những tranh chấp giữa nhà cung cấp với game thủ.

Ngoài vấn đề về tài sản trong game, các nhà cung cấp game tán thành hầu hết nội dung được nêu trong bản dự thảo lần 7 của thông tư. Doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh game trực tuyến bắt buộc phải có 2 giấy phép: giấy phép về mặt nội dung do Bộ VHTT cấp và giấy phép cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet (OSP) do Bộ Bưu chính viễn thông cấp. Vấn đề thuế vẫn cần được nghiên cứu thêm, do đó không có mặt trong thông tư này. Các nhà cung cấp game phối hợp với các cơ quan chức năng để xây dựng hệ thống quản lý 3 giờ chơi có điểm đối với game thủ.

Dự kiến thông tư sẽ được hoàn chỉnh và trình Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm vào cuối tháng 3 này.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

VẤN ĐỀ TÀI SẢN ẢO PHẢI ĐẶT TRONG THỰC TẾ CUỘC SỐNG

HẠ THẢO

Sáng 25/4, một hội nghị bàn tròn về tài sản ảo được tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của bộ Tư pháp. Các đại biểu tham dự đều thống nhất: Nếu chỉ căn cứ trên những quy định hiện hành của luật pháp và bó hẹp trong phạm vi trò chơi thì không thể giải quyết vấn đề này.

Đây là cuộc thảo luận đầu tiên của các cơ quan nhà nước nhằm mổ sẻ “vấn đề sống còn” của loại hình giải trí game online. Từ đó có biện pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên tham gia lĩnh vực này. Theo ý kiến của các đại biểu, đây là một trong những dịch vụ ứng dụng trên Internet hoàn toàn mới và cơ quan Nhà nước không thể lảng tránh trách nhiệm quản lý. Thực tế những cuộc mua bán, trao đổi những đồ vật trong game đã diễn ra sôi động từng ngày từng giờ. Tuy chưa có những biểu hiện tiêu cực cụ thể nhưng sự phát triển tự do trong một thời gian dài sẽ dẫn đến hậu quả đáng tiếc như tại một số nước lân cận như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan.

Điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề tài sản ảo là các quan hệ phải được đặt trong thực tế cuộc sống của thế giới thật, chứ không bó hẹp trong môi trường “có giá trị trong các game trực tuyến” như luận điểm của một số nhà cung cấp. Tuy chỉ hiện hữu trong game, nhưng những tài sản ảo hoàn toàn có ý nghĩa trong cuộc sống bằng giá trị giải trí của mình. Nếu một game thủ bỏ tiền mua một thanh kiếm hay bộ giáp trong game, chắc chắn anh ta hiểu được những đồ vật đó giúp cho sự giải trí của anh ta hấp dẫn hơn và điều đó xứng đáng với số tiền bỏ ra.

“Nếu chỉ nhìn nhận trong phạm vi tồn tại, bản thân các tài khoản e-mail, website cũng chỉ có ý nghĩa trong môi trường điện tử và không thể điều chỉnh được”, bà Đỗ Hương Nhu, chuyên viên Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, nói. “Vì vậy, không nên nhìn tài sản ảo chỉ trong game mà phải nhìn nhận có trong cuộc sống”.

Ông Trần Thanh Hải: “Đồ vật, nhân vật trong game là một dạng tài sản, chủ sở hữu là người chơi.” Ảnh: H.H.

Trong phát biểu của mình, ông Trần Thanh Hải, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại, khẳng định: “Những đồ vật, nhân vật trong game trực tuyến là một dạng tài sản, chủ sở hữu là người chơi game và quyền sở hữu của họ cần được công nhận”.

Ông Thanh Hải cho rằng tài sản ảo là kết quả của sự đầu tư công sức, thời gian và tiền bạc của người chơi. Chúng hoàn toàn có thể được định giá bằng tiền theo quy luật cung cầu và chuyển giao được theo thỏa thuận. Đặc biệt, những tài sản ảo hoàn toàn có thể bị chiếm hữu, một người sử dụng sẽ loại trừ khả năng sử dụng của người khác.

Người đại diện của Bộ Thương mại cũng khẳng định ở thời điểm hiện tại, những tài sản dạng này hoàn toàn không trái với Bộ luật Dân sự 2005 và luật này chỉ không áp dụng được bởi vấn đề quá mới. Tính “không tương thích” của tài sản ảo với các quy định pháp luật hiện hành cũng được đại diện của Bộ Tư pháp cụ thể hóa trong các tham luận của mình.

Bà Nguyễn Thị Thu Vân, chuyên viên Vụ Pháp luật dân sự, Bộ Tư pháp, đã nêu ra những vướng mắc trong Bộ luật Dân sự 2005 đối với tài sản ảo. Theo đó, nếu căn cứ về tài sản theo điều 163 của Bộ luật Dân sự thì tài sản ảo không nằm trong phạm vi điều chỉnh vì không phải là giấy tờ có giá, không phải tài sản hữu hình hay vô hình. Nếu coi tài sản ảo là một quyền tài sản theo điều 181 Bộ luật Dân sự thì người chơi không có được quyền sở hữu hoàn chỉnh.

Bà Vân phân tích quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng. Trong đó, quyền chiếm hữu không thuộc về game thủ vì những tài sản ảo đều nằm trên máy chủ của nhà cung cấp game. Quyền định đoạt cũng không có vì tuổi thọ của phần mềm trò chơi thuộc về nhà sản xuất và nhà cung cấp, dựa trên hợp đồng bản quyền cung cấp trò chơi ký kết giữa 2 bên. Trong 3 quyền cấu thành nên quyền sở hữu, chỉ có quyền sử dụng thuộc về game thủ và vì thế không thể coi tài sản ảo thuộc sở hữu của họ.

Ngoài vấn đề về quyền sở hữu, việc công nhận tài sản ảo còn gặp trở ngại về mặt pháp lý trong giao dịch. Theo quy định về giao dịch tài sản tại điều 112 Bộ luật Dân sự 2005, người tham gia giao dịch phải trên 18 tuổi. Trên thực tế, nhiều game thủ chưa đạt được điều kiện trên nhưng vẫn tiến hành mua bán, trao đổi các đồ vật, nhân vật trong game một cách thoải mái.

Vì tính phức tạp của tài sản ảo, việc có ngay một biện pháp quản lý toàn diện theo hướng “quyền đối vật” truyền thống là không thể vì những bế tắc khi áp dụng Bộ luật Dân sự 2005. Hội nghị đề xuất hướng bảo hộ cho các tài sản ảo theo quyền đối nhân, vì biện pháp này sẽ giải quyết xung đột giữa những cá nhân khi thỏa thuận thực hiện 1 công việc. Tuy nhiên, hướng giải quyết này cũng có những hạn chế vì không giải quyết được tận gốc vấn đề là bảo hộ cho tài sản ảo.

“Mặt khác, bản thân quyền đối nhân cũng chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật”, Tiến sĩ Trần Thị Thơ, chuyên viên Vụ Pháp luật dân sự, Bộ Tư pháp, nói. Bà cũng đề xuất nên có một Nghị định của Chính phủ căn cứ theo khoản 2, điều 56 của Bộ luật Ban hành văn bản pháp luật.

Trong khi chưa có một hành lang pháp lý cụ thể, đại diện các cơ quan nhà nước nêu rõ người chơi phải tự bảo vệ tài sản của mình. Mọi biện pháp của pháp luật chỉ mang tính tương đối và là cách cuối cùng để giải quyết xung đột.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

CẦN VĂN BẢN RIÊNG VỀ TÀI SẢN TRONG GAME

NGUYỄN HẰNG – HƯNG HẢI

Thứ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Đỗ Quý Doãn cho rằng bảo hộ tài sản trong game là một vấn đề lớn, phải được nghiên cứu và quyết định ở một văn bản cấp cao, đầy đủ hơn Thông tư. Đại diện Bộ Bưu chính viễn thông cũng thừa nhận tài sản này là quyền lợi hợp pháp của người chơi.

Thứ trưởng Doãn đặt vấn đề, trò chơi nào cũng có thời hạn nhất định. Sau một vài năm, nó không còn hấp dẫn, nhà cũng cung cấp phải dừng game lại thì tài sản trong đó tất nhiên sẽ không còn. “Vì thế mà vấn đề này quá phức tạp. Chưa quốc gia nào có chế tài cho việc bảo hộ tài sản trong game. Ở Việt Nam, các chế tài pháp lý hiện nay chỉ quy định cho tài sản thật”, ông Đỗ Quỹ Doãn phân tích. “Tôi cho rằng vấn đề này phải được quy định như giao dịch thương mại điện tử với một văn bản cấp cao và toàn diện và có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành và các cơ quan khác nhau”.

Đại diện Bộ Bưu chính Viễn thông tham gia việc soạn thảo Thông tư game online, Phó Vụ trưởng Vụ viễn thông Lê Thị Ngọc Mơ, nhận định với VnExpress: “Tài sản trong game là quyền lợi hợp pháp của người chơi và cần được bảo vệ. Tuy nhiên, coi đó là tài sản hay không thì phải xem xét kỹ vì liên quan đến nhiều vấn đề pháp luật”, bà Mơ nói.

Với chức năng đảm bảo về an toàn và an ninh cho cả hệ thống mạng Internet quốc gia, trách nhiệm của Bộ Bưu chính Viễn thông (BCVT) trong Thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến là xây dựng những nội dung liên quan đến hạ tầng kỹ thuật nhằm đảm bảo cân bằng giữa 3 yếu tố: thông suốt của đường truyền mạng lưới quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và quyền lợi của doanh nghiệp tham gia cung cấp game.

Bà Lê Thị Ngọc Mơ cho rằng nên đặt vấn “quản lý như thế nào” thay vì phải băn khoăn với “giấy phép gì”, vì tất cả các loại giấy phép cũng chỉ hướng đến việc quản lý. “Quan điểm của Bộ BCVT là việc quản lý phải mềm dẻo. Bản thân trò chơi trực tuyến cũng là một loại hình giải trí hiện đại, có những yếu tố tích cực nhất định như tăng số người tiếp xúc với máy tính và Internet. Đây cũng là cơ hội mở rộng thị trường đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet”, đại diện Bộ BCVT bày tỏ. “Việc quản lý loại hình giải trí này chỉ nhằm hạn chế những tác hại do chơi game quá độ và cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp, giữa game trực tuyến và các ứng dụng Internet khác mà thôi”.

Theo nội dung của bản dự thảo lần 8 của Thông tư, các doanh nghiệp muốn phát hành game trực tuyến tại Việt Nam cần có 2 loại giấy phép gồm: Giấy cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet (OSP), ghi rõ loại hình dịch vụ là “trò chơi trực tuyến” (Online games) do Bộ BCVT cấp và Văn bản phê duyệt của Bộ Văn hoá thông tin về nội dung và kịch bản của từng game.

Trong khoản 1, điều 12 của dự thảo Thông tư nêu rõ những yêu cầu về mặt kỹ thuật mà doanh nghiệp phải đáp ứng để được phép cung cấp game trực tuyến. Trong đó, bản đề án chi tiết về phương án kỹ thuật của doanh nghiệp phải thể hiện được những đảm bảo về mặt quyền lợi đối với khách hàng. “Đây sẽ là căn cứ để giải quyết những tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng”, bà Mơ khẳng định.

“Ngay cả khi đã ban hành, Thông tư này cũng chỉ là một trong những biện pháp hạn chế tác hại của game online và nó phải được phối hợp cùng những yếu tố kỹ thuật, tuyên truyền giáo dục… Tôi cho rằng, nâng cao nhận thức là vấn đề cốt lõi chứ đừng nên tuyệt đối hóa bất kỳ biện pháp nào”, ông Đỗ Quý Doãn bày tỏ.

Phó Vụ trưởng Vụ viễn thông cũng bình luận rằng biện pháp hạn chế 3 giờ là một lời cảnh báo đối với các game thủ về tác hại của việc chơi game quá sức. “Đây hoàn toàn là giải pháp mở nhắm vào ý thức của người chơi. Cũng giống như giải pháp đèn xanh đèn đỏ trong giao thông, nếu người tham gia giao thông cố tình vượt đèn đỏ khi không có bóng công an thì họ đang tự gây nguy hiểm cho chính mình”, bà Mơ dẫn chứng.

Theo thứ trưởng Đỗ Quý Doãn, Bộ VHTT đã hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với Thông tư và đang chờ ý kiến từ phía các Bộ BCVT, Công an… để cùng thông qua. Còn các phòng ban chức năng Bộ BCVT cũng đang nghiên cứu hoàn tất văn kiện về Thông tư để trả lời Bộ VHTT. Trao đổi với VnExpress, bà Mơ cho rằng nội dung chính của bản dự thảo 8 đã có sự nhất trí cao giữa các bộ tham gia soạn thảo. Nó vẫn có thể được chỉnh sửa, nhưng chỉ xoay quanh việc cụ thể hoá các vấn đề nhằm dễ dàng triển khai khi ban hành.

Bà Mơ dự đoán, những vấn đề liên quan đến trò chơi trực tuyến báo hiệu một bước phát triển mới trong việc ứng dụng Internet. Rất có thể trong tương lai gần, những loại hình dịch vụ ứng dụng tương tự sẽ xuất hiện và cần được nghiên cứu kỹ để kịp thời điều chỉnh những nội dung mới này.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

VẤN ĐỀ TÀI SẢN TRONG GAME CHƯA TÌM THẤY GIẢI PHÁP

Số phận của đồ vật, nhân vật trong game trực tuyến vốn được coi là “vấn đề sống còn” của loại hình giải trí này. Phía cơ quan quản lý và các nhà cung cấp vẫn có những quan điểm rất khác nhau về việc công nhận hay không những tài sản như vậy.

Đối với những nhà cung cấp đã công nhận giá trị của tài sản trong game, chúng được coi là “dữ liệu máy tính có giá trị mà người chơi có được trong quá trình tìm kiếm”. Ông Trương Đình Anh, Tổng giám đốc Công ty FPT Telecom (đơn vị cung cấp 2 game PTVMU), nói: “Những đoạn mã đó là có thực và vì thế mà những tài sản trong game không phải là ảo. Sự quý hiếm và những tính năng đặc biệt của món đồ giúp người chơi thoả mãn trong game là giá trị của nó”.

Ngược lại với ý kiến trên, Công ty VinaGame lại khẳng định: “Những vật phẩm trong trò chơi là sở hữu của đơn vị phát triển phần mềm trò chơi”. Trong trường hợp game Võ lâm truyền kỳ đang được công ty này cung cấp tại Việt Nam, quyền sở hữu vật phẩm sẽ thuộc về hãng nắm bản quyền là KingSoft tại Trung Quốc.

Ông Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, đại diện đối ngoại của VinaGame, cũng cho biết thêm: “Quan điểm của VinaGame được dựa trên thông lệ của việc sử dụng các sản phẩm như phần mềm, sách báo, nhạc, phim, người dùng cuối được phép sử dụng và phải chấp nhận những quy định của nhà cung cấp khi sử dụng như không được sao chép, không được kinh doanh lại. Chắc chắn là không thể có chuyện người dùng cuối có quyền sở hữu sản phẩm (hay một phần của sản phẩm) được”.

Đa số game thủ cũng cho rằng những đồ vật trong game do nhân vật của họ kiếm được đều thuộc quyền sở hữu của nhân vật đó, cũng là thuộc về chủ của nhân vật. Việc mua bán, cho tặng những đồ vật trong game hoàn toàn do chủ sở hữu quyết định.

“Chúng tôi không mua bán phần mềm game, chúng tôi trao đổi những vật phẩm trong game. Giống như tôi có thể trao đổi những bản thiết kế được vẽ bằng AutoCAD chứ không mua bán phần mềm đó”, anh Nguyễn Công Vinh, một gamer của Võ lâm truyền kỳ tại Hà Nội, nói.

Thậm chí, có ý kiến cho rằng nên tách quyền sở hữu với quyền sử dụng đối với tài sản trong game. Theo ý kiến này, nhà cung cấp game sẽ nắm quyền sở hữu tài sản trong game vì những “dữ liệu máy tính có giá trị” do phần mềm của mình tạo ra. Đây là cơ sở để nhà cung cấp dịch vụ game trực tuyến đề ra những quy tắc để chuyển giao quyền sử dụng cho người chơi và thu hồi những đồ vật, tài sản trong game nếu những nguyên tắc đó bị vi phạm.

Người chơi có được quyền sử dụng tài sản trong game bằng cách trả phí cho nhà cung cấp. Quyền đó thuộc về game thủ để có thể tự do sử dụng tài sản theo ý mình hoặc trao đổi, mua bán quyền này với người khác. Trên thực tế, bấy lâu nay các game thủ cũng chỉ trao đổi nhau quyền sử dụng tài sản trong game, bất kể là tài khoản, nhân vật hay đồ vật bởi không ai có thể cắt đoạn mã máy tính ra khỏi hệ thống của trò chơi.

Bên cạnh vấn đề về chủ sở hữu tài sản ảo là câu hỏi về cách thức và mức độ bảo hộ cho loại tài sản này. Theo luật sư Nguyễn Hoàn Thành của văn phòng Luật sư Phạm và liên danh, tài sản trong game trực tuyến là đối tượng rất đặc biệt mang nhiều đặc điểm gần giống với tài sản sở hữu trí tuệ. “Vướng mắc chính trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho những tài sản trong game là sẽ công nhận và bảo hộ cho nó như thế nào”, luật sư Thành nói. “Hiện tại vẫn còn khá nhiều vấn đề bất cập như xác định giá trị tài sản để bảo hộ trong không gian ảo, mức độ bảo hộ và trách nhiệm của nhà cung cấp đối với các tài sản đó”.

Luật sư Thành cũng nêu ra những điểm khác biệt trong việc bảo hộ tài sản trong game với tài sản thật: “Trong game, việc các nhân vật đọ sức, cướp bóc để giành những món đồ là chuyện phổ biến nhưng việc này không được chấp nhận ngoài đời thực. Mặc khác, do tính đặc thù của mình nên giá trị của những tài sản trong game cũng chưa có được hệ thống định giá rõ ràng, gây khó khăn cho việc bảo hộ những tài sản đó”. Ông Thành bổ sung, gần giống với tài sản trong game, tên miền trên Internet cũng không phải là tài sản sở hữu trí tuệ và được bảo hộ. Chính đối tượng được gắn với tên miền như một thương hiệu, loại hàng hoá hay vấn đề được quan tâm mới là tài sản và được bảo hộ.

Các đối tượng như tên miền, địa chỉ e-mail… thì lâu nay đã có khung pháp lý điều chỉnh riêng. Còn tài sản trong game hiện tại được điều chỉnh bởi thỏa thuận giữa nhà cung cấp game với các game thủ.

Việc công nhận hay không loại tài sản này phải do luật Dân sự điều chỉnh bởi luật này có những nội dung liên quan đến tài sản. Các luật khác như Thương mại điện tử, Sở hữu trí tuệ chỉ là điều chỉnh về mặt hình thức. Trong khi chờ đợi một hành lang pháp lý, các game thủ vẫn mặc nhiên thừa nhận loại tài sản này và việc trao đổi, buôn bán vẫn tiếp tục diễn ra bất chấp nhà cung cấp game có đồng ý hay không.

Hiện tại, một số công ty cung cấp game vẫn thận trọng với việc công nhận những đồ vật trong game là tài sản vì chưa thống nhất được quan điểm về sở hữu và bảo hộ.

SOURCE: Game Thủ.NET

NÂNG MỨC BỒI THƯỜNG THƯ GỬI:SOS!

NHẬT XUÂN

Mức giới hạn bồi thường bưu gửi được mỗi doanh nghiệp thực hiện một kiểu. Sự thật là doanh nghiệp chủ đạo VNPT lại có mức bồi thường bất hợp lý và cứng nhắc nhất. Quy định này đã đến lúc cần điều chỉnh.

Mỗi doanh nghiệp quy định một kiểu

Hiện nay thị trường bưu chính, chuyển phát trong nước đã phát triển rất mạnh. Bên cạnh 3 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính là VNPT, Viettel và Sài Gòn Post, còn có tới gần 100 doanh nghiệp chuyển phát khác, trong đó có những doanh nghiệp đã bắt đầu xây dựng được hình ảnh, thương hiệu như Netco, Tín Thành… Do đặc thù của dịch vụ bưu chính là phải qua nhiều khâu: giao nhận, vận chuyển, với sự tham gia của nhiều người, do đó, không có một doanh nghiệp chuyển phát hàng hoá nào cam kết là không có rủi ro trong quá trình cung cấp dịch vụ. Nhà cung cấp nào cũng có một quy chế bồi thường trong trường hợp làm thất lạc, hư hỏng hoặc chuyển phát không đúng thời gian cam kết. Mức giới hạn bồi thường được mỗi doanh nghiệp xây dựng một kiểu, cách vận dụng cũng khác nhau.

Trong số các doanh nghiệp trong nước, VNPT có sản lượng lớn nhất, số vụ việc khiếu nại về chất lượng nhiều nhất, mức bồi thường thấp và kém linh hoạt nhất. Hiện VNPT vẫn đang áp dụng mức bồi thường theo Quyết định 737/1998/QĐ-TCBĐ. Theo đó, VNPT không bồi thường đối với bưu phẩm gửi thường, chỉ bồi thường đối với bưu phẩm ghi số (bao gồm: ấn phẩm, gói nhỏ, khai giá, dịch vụ phát hàng thu tiền – COD, EMS) và bưu kiện. Số tiền bồi thường được căn cứ theo từng loại bưu gửi và được chia theo nấc khối lượng, dịch vụ EMS quốc tế có quy định riêng nhưng cũng được phân loại và nấc khối lượng như đối với dịch vụ cơ bản…

Mức bồi thường thấp nhất được áp dụng cho thư ghi số đến 100 gam là 2.600 đồng, mức bồi thường cao nhất là bưu kiện trên 10kg là 132.000 đồng. Mức bồi thường như vậy được đánh giá là quá thấp và là nguyên nhân dẫn đến những khiếu nại kéo dài. Bà Lê Thị Khang – Phó Giám đốc Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khi vực 1 cho biết, khiếu nại dịch vụ trong nước khi phát sinh bồi thường thì hầu như không khách hàng nào chấp nhận số tiền được bồi thường theo quy định của Ngành vì quá ít ỏi so với giá trị hàng gửi. Nhiều khách hàng từ chối nhận bồi thường vì mức bồi thường quá thấp so với giá trị hàng hoá bị mất. Điển hình nhất là những vụ khiếu nại gửi hàng hoá có giá trị cao như điện thoại di động, máy ảnh, máy vi tính, giấy tờ quan trọng bị mất hoặc bị thay đổi nội dung.

Khác với VNPT, đại diện của Bưu chính Sài Gòn Postel cho biết, khi xây dựng quy định về bồi thường công ty cũng dựa vào mức mà doanh nghiệp chủ đạo là VNPT đang áp dụng. Tuy nhiên, do thị trường cạnh tranh quá mạnh, để giữ uy tín với khách hàng, gần đây khi tiếp thị, doanh nghiệp này đã cam kết sẽ bồi thường 100% cho khách hàng trong trường hợp hàng bị hỏng, bị mất. Đối với những lô hàng lớn có giá trị, Bưu chính Sài Gòn Postel hướng dẫn khách hàng dùng dịch vụ khai giá và hỗ trợ khách hàng mua bảo hiểm, do đó, phần lớn những phát sinh bồi thường được giải quyết ổn thoả.

Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Nội Bài (Netco) công bố mức quy định bồi thường cao gấp đôi so với mức quy định của Quyết định 737/1998/QĐ-TCCBĐ. Song ông Nguyễn Đức Thế – Tổng Giám đốc Netco cho biết, thực tế thì chi trả bồi thường tương đương với giá trị hàng hoá bị mất, đã có 1 vụ mất máy tính xách tay trị giá 28 triệu và 1 vụ mất điện thoại di động trị giá hơn 13 triệu được Netco bồi thường 100% giá trị. Sau một vài rủi ro, Netco đã kiên quyết không nhận những hàng có giá trị cao nếu như khách hàng không sử dụng dịch vụ khai giá. Bên cạnh đó, Netco cũng giống như Sài Gòn Postel, Netco cũng hỗ trợ khách hàng mua bảo hiểm những lô hàng có giá trị lớn.

Nâng mức bồi thường: Bao giờ?

Bà Lê Thị Khang nói: “Mức đền bù quá thấp làm những người trực tiếp giải quyết bồi thường cho khách hàng còn cảm thấy ngại”. Một số ý kiến khác cho biết, khi được nhận số tiền bồi thường ít ỏi, nhiều khách hàng đã bất bình, thậm chí có khách hàng còn nổi giận với người đại diện đứng ra giải quyết khiếu nại. Không ít ý kiến trên báo chí còn đặt câu hỏi, phải chăng nhân viên bưu điện lợi dụng chính sách bồi thường thấp để lấy trộm hàng của khách.

Chính vì, mức bồi thường quá thấp, VNPT chưa bị áp lực về việc bồi thường, nên họ chưa có trách nhiệm cao đối với từng khâu sản xuất trong quy trình cung cấp dịch vụ và hệ quả là khiếu nại của vô cùng nhiều. Năm 2006, riêng dịch vụ quốc tế gửi đến Công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế (VPS) đã trên 3.000 vụ khiếu nại bưu gửi chiều đi, gần 7.000 vụ khiếu nại bưu gửi chiều về, còn số liệu khiếu nại đối với dịch vụ trong nước tại 64 tỉnh, thành thì lớn hơn rất nhiều.

Vậy tại sao VNPT chưa xem xét điều chỉnh mức bồi thường bưu gửi? ông Lương Tất Thắng – Phó Trưởng ban Giá cước Tiếp thị (VNPT) cho biết, mức bồi thường trước đây do Tổng cục Bưu điện ban hành dựa trên mối tương quan với cước dịch vụ, cước dịch vụ bưu chính hiện còn thấp do đó mức bồi thường cũng thấp theo. Việc xem xét để thay đổi giới hạn bồi thường phù hợp khá phức tạp, bởi mức bồi thường có mối liên hệ chặt chẽ với giá cước. ông Thắng cho rằng, cần phân cấp cho các doanh nghiệp chủ động quyết định giá dịch vụ cũng như mức bồi thường, thì việc điều chỉnh sẽ nhanh hơn và hợp lý hơn.

Theo kinh nghiệm của ông Nguyễn Duy Bình – Trưởng đại diện Feedex tại Việt Nam: “Trong chuyển phát hàng hoá quan trọng nhất là phải tạo được lòng tin của khách hàng, cung cấp một dịch vụ đáng tin cậy chứ không phải là giá cả cao hay thấp”. Rõ ràng, mức bồi thường bưu gửi đã đến lúc phải được nâng lên, nếu không việc bảo vệ quyền lợi khách hàng sẽ tiếp tục bị bỏ ngỏ và lòng tin của khách hàng sẽ không còn nữa.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Phó cục Trưởng cục Sở hữu Trí tuệ

Trên nền tảng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Sở Hữu trí tuệ Việt Nam đã có những giai đoạn phát triển mới, trong đó tất cả các yếu tố của hệ thống đều được đổi mới, hoàn thiện theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của đất nước và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách về sở hữu trí tuệ tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với đòi hỏi nội tại của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế. Hàng loạt văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã được Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì xây dựng và đã được ban hành (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ). Đặc biệt, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về sở hữu trí tuệ trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, góp phần kết thúc 12 năm đàm phán gia nhập, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO kể từ ngày 11.01.2007. Thủ tục cần thiết để Việt Nam tham gia Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu đã được hoàn thành (chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11.07.2006). Luật pháp quốc tế (TRIPS/WTO, BTA…) về sở hữu trí tuệ tiếp tục được bảo đảm thi hành nghiêm túc. Thủ tục hành chính về sở hữu công nghiệp tiếp tục được cải cách, hiện đại hoá phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, các loại đơn về sở hữu công nghiệp được xử lý theo thời hạn quy định. Công tác tự động hoá, ứng dụng công nghệ mới được coi trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng xử lý công việc, giảm đáng kể thời gian xử lý các loại đơn về sở hữu công nghiệp. Tính đến hết ngày 31.12.2006, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận được 52.371 đơn các loại (tăng gần 25% so với năm 2005), trong đó có 30.944 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (tăng khoảng 22% so với năm 2005), đồng thời cũng đã xử lý 34.909 đơn các loại (tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái), trong đó cấp 14.473 văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp. Hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, đa dạng về nội dung, quan hệ song phương và đa phương với các đối tác không ngừng được củng cố và phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về sở hữu trí tuệ, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện trong khuôn khổ APEC, ASEAN, EU…, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với nhiều đối tác như Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu âu (EPO) Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu âu (OHIM), các cơ quan sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga… Các dự án hợp tác với nước ngoài cũng tiếp tục được triển khai có hiệu quả, như Dự án Hợp tác kỹ thuật về sử dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam do Nhật Bản tài trợ, Chương trình quốc gia dành cho Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ do EU tài trợ, Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ do Thụy Sỹ tài trợ, góp phần hiện đại hoá và nâng cao nâng lực cho hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Đặc biệt, công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp được Cục chú trọng và thực hiện thường xuyên, các hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Ngoài việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp được thực hiện thường xuyên cho hàng trăm lượt người, các hoạt động nhằm hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là chỉ dẫn địa lý) cũng được tăng cường. Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (được phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04.04.2005) đã được triển khai ngay sau khi Thông tư quản lý tài chính của Chương trình được ban hành (ngày 31.10.2006) với hàng loạt hạng mục công việc có nội dung khác nhau. Đồng thời, công tác thông tin và năng lực thông tin về sở hữu công nghiệp cũng tiếp tục được hoàn thiện, phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin về sở hữu công nghiệp (hệ thống phân loại sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu phù hợp với quốc tế, các chương trình tra cứu thông tin, số hoá tư liệu sáng chế), bổ sung hàng chục vạn tư liệu sở hữu công nghiệp và phát hành các sản phẩm thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ thông tin về sở hữu công nghiệp cũng như phục vụ đắc lực công tác xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, công tác thực thi và giải quyết khiếu nại tiếp tục được Cục Sở hữu trí tuệ chú trọng theo hướng hiệu quả. Ngoài việc tiếp nhận và xử lý hàng trăm đơn khiếu nại về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục Sở hữu trí tuệ còn tham gia thẩm định, giám định pháp lý về sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, cũng như tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng trăm vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về sở hữu công nghiệp. Nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm, vi phạm về sở hữu trí tuệ, nạn hàng giả, hàng nhái… tiếp tục diễn ra nghiêm trọng làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ bị coi là thiếu hiệu quả, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Thủ tướng phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ” để triển khai thực hiện năm 2007.

SOURCE: TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ CẤP 1.475 BẰNG ĐỘC QUYỀN KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP

Năm 2006, hàng loạt văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật SHTT đã được Cục chủ trì xây dựng và ban hành như: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006); Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và quản lí nhà nước về SHTT (Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006)… Bên cạnh đó, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục SHTT đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về SHTT trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, tiến hành rà soát, sửa đổi, cập nhật dự thảo báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO nhằm phản ánh chính xác hệ thống SHTT của Việt Nam, góp phần kết thúc 11 năm đàm phán, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO. Về công tác tiếp nhận đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, tính đến hết năm 2006, Cục SHTT đã tiếp nhận 52.371 đơn các loại (tăng gần 25% so với năm 2005), trong đó có 2.173 đơn sáng chế (tăng 11%), 238 đơn giải pháp hữu ích, 1.604 đơn kiểu dáng công nghiệp, 23.086 đơn nhãn hiệu… Cục đã xử lí và cấp được 669 Bằng sáng chế, 70 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, 1.475 Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp…

SOURCE: TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

KINH NGHIỆM CHỐNG CẠNH TRANH CỦA NHẬT BẢN

TIẾN NAM

Để đẩy mạnh khả năng phòng chống đối với những vi phạm tự do cạnh tranh, AMA tổ chức quản lý cạnh tranh của Nhật đã sửa đổi luật cạnh tranh và việc sửa đổi đã đem lại nhiều hiệu quả. Trong các vấn đề quan tâm cần được sửa đổi bao gồm tăng thêm tỷ lệ thuế phạt đối với vi phạm luật chống độc quyền, từ 6% lên 10% doanh thu liên quan đối với công ty lớn và áp dụng tỷ lệ hơn 50% đối với những công ty tái phạm. Sửa đổi luật chống độc quyền cho phép Cục quản lý cạnh tranh Nhật Bản (JFTC) được quyền đưa ra sự buộc tội hình sự đối với các doanh nghiệp vi phạm.

Ngoài ra, trong các khoản sửa đổi miễn thuế phạt 100% cho sự vi phạm lần đầu tiên của doanh nghiệp, giảm 10% thuế phạt vi phạm lần 2 và 30% giảm thuế phạt cho vi phạm lần 3 sẽ được xem xét miễn là họ cung cấp đầy đủ thông tin trước khi Uỷ ban thương mại tự do (JFTC) tiến hành điều tra. Hơn nữa, JFTC đã nêu rõ trong “Chính sách của uỷ ban thương mại tự do về buộc tội và điều tra bắt buộc trường hợp hình sự liên quan hành vi độc quyền”, trong đó sẽ không buộc tội hình sự đối với doanh nghiệp đầu tiên đã đưa bản thông báo trước khi cuộc điều tra khởi đầu.

Theo các điều sửa đổi, từ tháng 4/2006 đến tháng 3/2007, JFTC sử dụng biện pháp hợp pháp đối với 69 doanh nghiệp lớn. Lượng thuế phạt phải trả trong năm 2006 là 36,3 tỷ yên (tương đương US$ 302 millian) đây được coi là kỷ lục cao nhất trong lịch sử AMA về số lượng tiền trả và số lượng doanh nghiệp bị phạt.

Nhật Bản đã làm chương trình khoan dung hiệu quả hơn, thông qua việc bắt buộc đối với các Công ty lớn chứng minh rằng họ sẽ chẳng bao giờ bị phạt nếu thực hiện đúng. Sự bắt buộc năng động đó sẽ tạo ra sự khuyến khích mạnh đối với nhiều Công ty để thành lập hệ thống tuân thủ hiệu quả và tạo ra sự thúc đẩy nhằm ngăn chặn đối với các hoạt động cạnh tranh không tự do.

Dưới đây là những trường hợp cụ thể trong việc áp dụng luật sửa đổi chống cạnh tranh tại Nhật. Những trường hợp này sẽ chứng minh sự nỗ lực của JFTC trong việc chống lại các Công ty độc quyền.

Trường hợp Công ty thắng thầu nhờ sắp đặt tạo sự thuận lợi bằng cách loại bỏ đối thủ nhờ bắt tay với địa phương v.v…Trong cuộc điều tra về trường hợp này, JFTC, trong thời gian đầu tiến hành điều tra hình sự đã buộc tội 11 Công ty và các cá nhân của chúng bị khởi tố vào tháng 5 và 6/2006. Theo điều tra, 11 Công ty này đã thoả thuận trước người thắng thầu giữa các thành viên tham dự thầu bằng cách tạo ra sự thuận lợi nhờ bắt tay với địa phương… và hợp tác với nhau để sắp xếp người chiến thắng thầu với giá họ mong muốn. JFTC nhận ra rằng sự phạm pháp này ảnh hưởng rộng đến cuộc sống con người và quyết định tiến hành điều tra để buộc tội hình sự. Hiệu quả của việc cho phép quyền điều tra hình sự là rõ ràng với các chứng cứ thu thập được và JFTC đã đưa bản chất của các Công ty độc quyền ra ánh sáng.

Trường hợp thắng thầu nhờ được sự ủng hộ của tập đoàn xây dựng đường cao tốc thành phố.Đây là trường hợp thể hiện chương trình khoan dung được sử dụng từ khi việc sửa đổi có hiệu lực. Trong trường hợp này, vào 8/12/2006 JFTC tiết lộ 3 Công ty được miễn hoặc giảm thuế phạt vì đã sử dụng chương trình khoan dung.

Thắng thầu liên quan đến các dự án cửa cống của Bộ Nông nghiệp.Việc thắng thầu không minh bạch được tìm thấy trong dự án mua cửa cống bởi MLIT, cơ quan quản lý nước JMA, Bộ Nông nghiệp cũng tìm ra được nhiều doanh nghiệp liên quan đã cùng nhau thắng 1 loạt thầu và các quan chức chung của các cơ quan trên bị mua chuộc. Cụ thể, hơn 20 Công ty cùng nhau chọn những người thắng thầu để hưởng lợi, thông qua sự tiếp tay của các quan chức để đảm bảo giá dự án cửa cống không giảm. Bởi vậy, 3/8/2006 theo Điều 3 của quy định chung loại bỏ và ngăn cản sự tham gia trong thắng thầu bất chính, JFTC đã yêu cầu Bộ trưởng MLIT thực hiện biện pháp cải cách trong quản lý thầu và hợp đồng để chống sự tiếp tay của quan chức. Đây là trường hợp đầu tiên 1 cơ quan chính quyền phải tuân theo quy định loại bỏ và ngăn chặn sự tham gia bỏ thầu.

Dựa trên cơ quan điều tra, JFTC đưa ra lệnh ngừng và miễn quyền hoạt động của các Công ty và buộc trả thuế phạt, tổng số tiền phạt 1,67 tỷ yên (khoảng 14 triệu USD).

Trường hợp trúng thầu xây dựng đường tàu điện ngậm ở thành phố Nagoia. Trong vụ này Công ty nổi tiếng là tập đoàn Kajima đã thoả thuận xếp đặt người trúng thầu cho mỗi công trình để xây dựng đường tàu điện ngầm mở rộng và họ cũng đồng ý đưa ra giá hợp lý cho người thắng thầu để trúng thầu.

Dựa vào điều tra, JFTC đã phát hiện sự vi phạm quy định AMA và đã đưa buộc tội lên viện công tố đối với 5 Công ty và 5 cá nhân người đóng vai trò chính.

Ngoài việc chống lại các Công ty độc quyền và gian lận bỏ thầu, JFTC cũng đảm bảo cạnh tranh công bằng trên thị trường, chủ yếu giải quyết hoạt động thương mại không công bằng trong lĩnh vực bán lẻ, trong đó chúng tôi thường gặp các nhà bán lẻ thường ép nhà cung cấp vị trí lợi thế trong việc mặc cả. Cụ thể, nhà bán lẻ buộc nhà cung cấp gửi người hỗ trợ công việc bằng sản phẩm và kiểm kê, đòi 1 lượng tiền mà không có lý do gửi trả hàng bán. Các nhà cung cấp cũng làm việc giao dịch và đưa họ vào thế bất lợi trong cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Nói chung, việc lợi dụng ưu thế trong mặc cả cản trở sự cạnh tranh công bằng của nhà cung cấp và bán lẻ.

JFTC ngoài ưu tiên giải quyết các vấn đề cạnh tranh không lành mạnh còn ban hành sửa đổi các điều luật tương tự cụ thể như luật hình phạt chung các giao dịch không công bằng đối với các nhà buôn bán lẻ liên quan giao dịch với nhà cung cấp, ban hành 5/2005.Luật này quy định đối với các nhà bán lẻ, cấm bán hàng giả, buộc nhà bán sỉ giảm giá, phân công công việc của nhân viên thuộc nhà cung cấp…

JFTC tiến hành điều tra 15000 Công ty, 900 người tiêu dùng và tổ chức thành phố về nhu cầu cải cách và nhận được hơn 240 đề xuất, JFTC lựa chọn 52 vấn đề cải cách liên quan đến kinh tế.

Dựa vào cuộc điều tra, JFTC có được sự tham gia ý kiến của các Bộ liên quan để cải cách các thể chế và chính sách cạnh tranh tự do. Đồng thời hợp tác mật thiết với các nhà làm luật thuộc nhiều ngành bằng việc thành lập kênh thông tin tham gia ý kiến.

Đưa ra chính sách công nhận quyền người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin tiêu dùng. Bản sửa đổi luật “Bảo vệ người tiêu dùng” – “Khung luật quy định đối với người tiêu dùng” năm 2006 thành lập chính sách người tiêu dùng mạnh hơn. Thêm vào đó, Bảng thông báo về bảo vệ người tiêu dùng đã được chuyển thành ban người tiêu dùng quyền lực thi hành chuyển JFTC. Cùng lúc JFTC thừa nhận vai trò hỗ trợ nhóm người tiêu dùng. Kết quả là JFTC đã chứng minh nền tảng liên kết mật thiết giữa chính sách cạnh tranh và tiêu dùng.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 6/2007

CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TIẾN BÁCH

Nước Mỹ được coi là một trong những quốc gia có môi trường kinh doanh, môi trường cạnh tranh thông thoáng, trật tư, ổn định và khá bình đẳng. Nhờ môi trường kinh doanh – cạnh tranh quốc gia này, một số doanh nghiệp của Mỹ đã đạt tới tầm cỡ thống trị, thao túng, khống chế, kiểm soát một số ngành sản xuất – kinh doanh xuất khẩu trên thị trường thế giới. Để có được môi trường kinh doanh – cạnh tranh như vậy là do hệ thống luật pháp, chính sách của Mỹ trong lĩnh vực này nhằm vào 4 mục tiêu kinh tế quan trọng nhất như sau:

Trước hết, bảo vệ và duy trì cạnh tranh là mục tiêu trọng tâm bằng cách không cho phép độc quyền, cấm cạnh tranh không lành mạnh và loại bỏ hành động phân biệt và câu kết về giá.

Thứ hai là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bằng cách cấm những hình thức kinh doanh, cạnh tranh thiếu công bằng, mang tính lừa dối.

Thứ ba là bảo vệ những hãng kinh doanh với quy mô nhỏ và hoạt động độc lập, tránh khỏi sức ép kinh tế do sự cạnh tranh của các hãng lớn gây ra.

Thứ tư là nhằm vào điều chỉnh nhiều hơn tới các yếu tố chính trị và xã hội có liên quan so với vấn đề kinh doanh và kinh tế.

Môi trường kinh doanh – cạnh tranh trong nước ở Mỹ được coi là trật tư, khá ổn định ở chỗ đã áp dụng hình sự hoá các chế tài trong luật chống độc quyền và mặc dù hầu hết các bang đều ban hành luật chống độc quyền, song các đạo luật như Sherman năm 1890, Clayton năm 1914 (bổ sung làm rõ đạo luật Sherman); đạo luật của Uỷ ban thương mại liên bang năm 1914; đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền năm 1976 của toàn liên bang vẫn được coi là cơ sở quyết định đối với tất cả các quy định cạnh tranh – chống độc quyền tại nước Mỹ. Điều đáng lưu ý là đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền là một đạo luật tách biệt nhằm tăng cường quyền lực của chính phủ Mỹ trong việc thi hành ba luật nêu trên. Tuy nhiên, ở Mỹ không phải tất cả mọi tổ chức đều phải tuân thủ theo 4 đạo luật về chống độc quyền trên đây. Nghị Viện Mỹ đã miễn trừ việc áp dụng một số quy định về chống độc quyền đối với những công đoàn nỗ lực độc quyền trong việc cung cấp lao động; những hợp tác xã nông nghiệp đôi khi tham gia vào những hành vi phản cạnh tranh; các công ty bảo hiểm chịu sự điều chỉnh theo luật cạnh tranh của bang chứ không phải theo luật của liên bang…; một số vụ giao dịch kinh doanh nhỏ liên quan đến vấn đề quốc phòng, an ninh và những hoạt động nghiên cứu phát triển của các hợp tác xã.

Luật chống độc quyền của Mỹ được coi là thông thoáng ở chỗ quan điểm của các toà án trong thực tiễn xét xử không coi việc tăng cường quy mô công ty bằng cách sáp nhập, tập trung quyền lực kinh tế thống trị một ngành hay một thị trường một cách chính đáng là vi phạm luật cạnh tranh, chống độc quyền Đối với các công ty Mỹ, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu, thống trị kinh tế ngành và thị trường quốc tế là việc sáp nhập theo chiều dọc và sáp nhập các tập đoàn. Việc này gần như trở thành xu thế chính với tốc độ cao và số lượng lớn. Ví dụ, chỉ một thời gian ngắn từ 1981 – 1982 đã có tới 8 vụ sáp nhập doanh nghiệp lớn với giá trị giao dịch từ 1 tỷ USD đến 7,8 tỷ USD. Tính riêng năm 1981, đã có tới 2.800 trường hợp sáp nhập công ty lớn, nhỏ với tổng số tiền 82,6 tỷ USD được chi tiêu vào các hoạt động sáp nhập.

Tuy nhiên, giải pháp này phát huy tác dụng trong điều kiện một nền kinh tế phát triển và tạo lợi thế về quy mô trong cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Nhưng với một nền kinh tế đang phát triển và việc sáp nhập công ty để đối phó với cạnh tranh trên thị trường nội địa là chính (tiến tới độc quyền) thì không thể nâng cao được năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các công ty. Vì không có sự cạnh tranh trên thị trường nội địa một cách gay gắt để tồn tại thì doanh nghiệp làm sao nâng cao được năng lực cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế.

Hiện nay, Singapore là một quốc gia có nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của doanh nghiệp được xếp ở thứ bậc cao là nhờ chính phủ Singapore thực hiện chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư rất sớm (1966 – 1973). Mà then chốt là chính phủ thực thi chiến lược hướng về xuất khẩu như dồn mọi nỗ lực vào việc tiếp cận và phát triển thị trường nước ngoài, hỗ trợ phát triển các nhà xuất khẩu (1979 1984), xúc tiến xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (1985 – 1990). Từ 1991 đến nay, Singapore thực thi chính sách “quốc tế hoá nội địa”, mục tiêu là biến Singapore thành một trung tâm thương mại quốc tế lớn. Hệ thống chính sách kinh tế của Singapore được tập trung giải quyết bởi một Uỷ ban liên bộ của Chính phủ, do phó thủ tướng đứng đầu, dưới nó là các uỷ ban chuyên trách như IDB, TDB (Uỷ ban phát triển đầu tư – thương mại), HDB (Uỷ ban phát triển nhà ở) … Theo cơ cấu tổ chức này tránh được sự riêng rẽ, cứng nhắc trong từng bộ, đồng thời tạo được sự phối hợp đồng bộ trong hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế đất nước.

Quan điểm về xây dựng chính sách cạnh tranh của Singapore là đặt các doanh nghiệp tại Singapore (không phân biệt trong nước, ngoài nước, sở hữu) trong môi trường cạnh tranh quốc gia bình đẳng, theo kiểu chọn lọc tự nhiên, Nhà nước không bảo hộ. Nhưng nhà nước ưu tiên đầu tư cho doanh nghiệp ở các ngành quan trọng phát triển bằng cổ phần lớn của nhà nước, khi các doanh nghiệp này đủ mạnh trong cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế thì nhà nước bán cổ phiếu cho người dân. Ví dụ, công ty vận tải biển NEPTUNE và Công ty BUS SERVICES là hai tập đoàn lớn ở Singapore. Nhà nước Singapore chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế thương mại tổng hợp theo mô hình của Nhật Bản và Hàn Quốc. Các tập đoàn kinh tế thương mại tổng hợp có nhiều ưu thế trong cạnh tranh xuất khẩu do có thế lực rất lớn, có mục tiêu cụ thể, là cầu nối giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước. ưu thế của các tập đoàn kinh tế – thương mại tổng hợp thể hiện ở chỗ sử dụng đội ngũ chuyên gia tinh thông nghiệp vụ và kiến thức kinh doanh quốc tế, có quy mô và tiềm lực tài chính lớn, năng động vì nắm giữ một lượng thông tin khổng lồ, kịp thời đưa ra các giải pháp khi thị trường có biến động, có đủ khả năng đầu tư tạo lập một ngành công nghiệp lớn hoặc thống trị một ngành, một thị trường lớn.

Nhà nước Singapore rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực với quan điểm là: “mọi cố gắng bằng không khi dân không được giáo dục đào tạo một cách bài bản và chuẩn mực”. Vì vậy, chính sách của Chính phủ tập trung vào giải quyết vấn đề sử dụng thiết bị, phương tiện một cách có hiệu quả nhất chứ không nhất thiết phải ào ạt đầu tư, hiện đại hoá các phương tiện thiết bị khi chưa đồng bộ với lực lượng sử dụng nó. Mặt khác, chính phủ Singapore cũng rất chú trọng chính sách lao động và tiền lương. Việc tuyển dụng lao động và đề bạt cất nhắc căn cứ vào năng lực và chuyên môn thật sự chứ không chỉ dựa vào tiêu chuẩn bằng cấp hoặc là con ông cháu cha. Càng cán bộ cấp cao càng phải được đào tạo bắt buộc và thường xuyên. Lập Quỹ tiết kiệm trung ương (CPF) để thực hiện trợ cấp xã hội, trên cơ sở bắt buộc các doanh nghiệp đóng góp 25% thu nhập, người lao động đóng 20% thu nhập vào quỹ và được hưởng lãi suất cao, khi về hưu mỗi người có khoản tiền từ 500.000 đến 1.000.000 USD để chi dùng cá nhân. Chính sách này đã tạo cho người lao động Singapore hết lòng với nhà nước và doanh nghiệp, tạo động lực lớn phát triển kinh tế đất nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 6/2007

TRANH CHẤP KHI TÊN MIỀN TRÙNG THƯƠNG HIỆU

HÀ ANH

Gần đây, ở nước ta phát sinh nhiều tranh chấp tên miền. Nhưng phổ biến là dạng tranh chấp phát sinh giữa một bên chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) với bên chiếm giữ trùng tên nhãn hiệu, nhưng vẫn được Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) cấp đăng ký dưới dạng tên miền.

Chiếm dụng tên miền bùng phát

Việc trục lợi tên miền thường thể hiện dưới hai xu hướng hoặc là hiện tượng “đầu cơ tên miền” hoặc là “chiếm dụng tên miền”. Nếu đầu cơ tên miền là việc đăng ký trước một số tên miền “đẹp” mà dự đoán hoặc kỳ vọng sẽ chuyển nhượng được, thì chiếm dụng tên miền là việc đăng ký có chủ đích khống chế một tên miền trùng với thương hiệu nổi tiếng nhằm hoặc lợi dụng uy tín thương hiệu đó để cạnh tranh hoặc gây cản trở việc quảng bá thương hiệu hoặc là cách gây áp lực buộc chủ thương hiệu nhận chuyển nhượng lại.

Nếu đầu cơ tên miền thường nặng tính cơ hội, thì chiếm dụng tên miền thường gây ra tranh chấp với nhiều xung đột.

Khi có khiếu nại bảo vệ việc cấp phát tên miền cấp 2 “.vn” như đã xảy ra với các NHHH như Heineken, Visa, Trung Nguyên, Vietcombank, Tiger Beer, Ford…, quan điểm của VNNIC thường không nhất quán. Việc cấp phát, thu phí tên miền dường như cơ quan quản lý chưa cân nhắc giảm thiểu việc xâm hại đến quyền lợi của chủ thể khác. Quan điểm của VNNIC về vấn đề cấp phát, quản lý tên miền dễ phát sinh tranh chấp, gây xung đột giữa quy định của bộ, ngành với quy định pháp Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT).

VNNIC áp dụng cứng nhắc nguyên tắc “ai đăng ký trước được cấp trước” và “bình đẳng không phân biệt”. Thực tế, nguyên tắc trên chỉ là phần nhỏ trong nhiều nguyên tắc khác theo quy định của ngành cũng như quy định pháp luật khác mà lẽ ra VNNIC phải vận dụng khi giải quyết việc cấp phép hoặc giải quyết tranh chấp tên miền. Trong Quyết định số 27/2005/QĐ-BBCVT, ngày 11-8-2005 của Bộ Bưu chính – Viễn thông có nhiều nguyên tắc áp dụng cho việc đăng ký, khai thác tên miền hơn chỉ vỏn vẹn hai nguyên tắc mà VNNIC viện dẫn. Đây có lẽ là nguyên cớ dẫn đến hệ lụy như thời gian qua.

Với trường hợp tên miền như heineken.vn, coke.com.vn hoặc fanta.com.vn…, chúng tôi cho rằng, VNNIC có thể bác hồ sơ đăng ký nếu vận dụng đúng quy định tại Điều 8 (c) Quyết định 27 trên. Theo đó, “tổ chức, cá nhân đăng ký sử dụng tên miền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về mục đích và tính chính xác của thông tin cung cấp cho VNNIC và bảo đảm việc đăng ký, sử dụng tên miền không xâm phạm các quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác có trước ngày đăng ký”.

Trường hợp liên quan tên miền heineken.vn, Tập đoàn quốc tế Heineken là bên có quyền, lợi ích hợp pháp đối với NHHH heineken. Khi xét thấy việc chiếm dụng tên miền của bất kỳ chủ thể nào có xâm phạm đến lợi ích của chủ NHHH, thì VNNIC có thể ngăn chặn bằng cách bác đơn, hủy bỏ hoặc tạm thời hủy bỏ tên miền khi có tranh chấp, khiếu nại.

Trước đây, VNNIC đã từng bác đăng ký các tên miền như buoi.com.vn, banlon… với lý do tên miền vi phạm thuần phong, mỹ tục… Đây là quyết định đúng mặc dù rất cảm tính. Trường hợp trên, VNNIC không phải là không nhận định được nhãn hiệu Heineken, Ford, Tigerbeer, Biasaigon… thuộc sở hữu của ai, bằng chứng là VNNIC tự ra thông báo cho các chủ nhãn hiệu này, nhưng vì không thấy có sự phản hồi xác nhận sẽ đăng ký… VNNIC cho mình quyền cấp cho tổ chức khác không phải là chủ nhãn hiệu. Khá đơn giản khi bác đơn với lý do vi phạm mỹ tục, chỉ khác là mặc dù nhận thấy có bất ổn trong việc cấp phát tên miền trùng thương hiệu nổi tiếng, đã được bảo hộ, nhưng VNNIC vẫn cấp và thu phí “bình đẳng không phân biệt”. Cách áp dụng máy móc trên không tạo ra sự bình đẳng, mà gần như là “đánh đồng, cào bằng” giữa bên sở hữu thương hiệu uy tín, hợp pháp với một bên chuyên tâm trục lợi thương hiệu. Tên miền là đối tượng được bảo hộ theo Luật SHTT thì mới được bảo vệ? Theo quan điểm của VNNIC, tên miền chỉ là tên định danh địa chỉ Internet (IP) cho các máy chủ trên mạng và tên miền không được xem là đối tượng được bảo hộ theo Luật SHTT. Quan điểm này chưa hẳn đúng.

Điều 130, Luật SHTT cấm hành vi: “Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng”. Luật không xếp tên miền vào đối tượng SHTT được bảo hộ. Nhưng như viện dẫn trên điều luật nghiêm cấm hành vi đăng ký – chiếm giữ – sử dụng tên miền trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn thể hiện rõ khi chủ sở hữu tên miền, nhưng không có quyền lợi nào liên quan đến tên miền đăng ký.

Tên miền có phải là thương hiệu?

Tên miền không phải là thương hiệu, nhưng một khi tên miền trùng với một thương hiệu nổi tiếng, một nhãn hiệu được bảo hộ thì hành vi sử dụng tên miền trên đều vi phạm.

Quan điểm của VNNIC, tên miền chỉ là tên định danh địa chỉ Internet (IP) cho các máy chủ trên mạng và tên miền không được xem là đối tượng được bảo hộ theo Luật SHTT. Đây là quan điểm không đúng. Vấn đề hoàn toàn khác khi tên miền gắn liền với tên thương hiệu cụ thể, như nhãn hiệu nổi tiếng heineken. Điều 4.10 quy định nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Quy định hiện hành cũng đưa ra trường hợp ngoại lệ đối với nhãn hiệu nổi tiếng quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký (Điều 6.3).

Quy định tại Điều 124.5: “Hành vi sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; Hoặc hành vi lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ”.

Điều 129, Luật SHTT xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu: sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ.

Không nên máy móc đợi tên miền là đối tượng SHTT, mới xét đến khía cạnh bảo hộ quyền sở hữu. Như trình bày, chúng tôi cho rằng bất kỳ hành vi nào có sử dụng NHHH (Điều 124) và việc sử dụng này bị xác định là hành vi xâm phạm quyền đối với NHHH (Điều 129) đều là xâm phạm. Do đó, việc sử dụng tên một nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã được bảo hộ để đăng ký tên miền đều là hành vi phạm pháp luật.

Pháp luật cấm mua bán tài nguyên Internet. Thực tế, có những nhượng bộ tên miền sau khi gắn một số nội dung, tiện ích giản đơn. Tương tự như để “lách” quy định cấm mua bán tài nguyên đất đai, ta trồng chuối để bán lại tài sản, hoa màu có trên đất, chứ không “bán” đất vậy. Theo chúng tôi, một nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã được bảo hộ thì trong mọi hoàn cảnh, chủ nhãn hiệu không nên thoả hiệp với cả đơn vị cấp phép VNNIC lẫn với bên đầu cơ. Sẽ là bất kham một khi VNNIC yêu cầu chủ nhãn hiệu đóng hàng trăm triệu đồng mỗi năm để đăng ký hàng chục tên miền .vn hoặc .com.vn Việt Nam… chỉ vì quan ngại có người trục lợi thương hiệu.

Việc chủ nhãn hiệu đăng ký tên miền “bao vây” hoặc thương lượng với bên đầu cơ để mua lại tên miền sẽ tạo ra tiền lệ nguy hại cho thương hiệu của mình. Điều mà chủ nhãn hiệu cần làm là nên chủ động khuyến báo cho VNNIC về thông tin NHHH của mình. Đồng thời, kịp thời phản đối việc đăng – cấp tên miền có xâm phạm đến nhãn hiệu của mình. Ngoài ra, nếu không có sự minh bạch, phân định khách quan hơn từ cơ quan giữ trọng trách quản lý, cấp phép sử dụng, khai thác tài nguyên Internet như VNNIC, thì các tranh chấp trên nguồn tài nguyên Internet Việt Nam vẫn chưa có hồi kết.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 6/2007

CÂU CHUYỆN “NHÁI” NHÃN HIỆU

QH(Theo BWPORTAL)

Nhiều doanh nghiệp rất ngại khi đối mặt với “con đường” xây dựng chỗ đứng trên thị trường cho nhãn hiệu của riêng mình, một quá trình rất lâu dài và tốn kém. Chính vì điều này, không ít hãng sản xuất vì muốn sản phẩm của mình nhanh chóng thâm nhập thành công thị trường nên đã sử dụng phần nào đặc điểm của các nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có lẽ vẫn chưa thấy hết hành vi của mình sẽ có hậu quả như thế nào?

Hãng Giant và hãng Wufa của Đài Loan là hai hãng cùng trong ngành sản xuất sản phẩm chăm sóc tóc của Đài Loan, trong đó Giant là một hãng mới, còn Wufa khá nổi tiếng với các sản phẩm dầu gội của mình. Wufa đã kiện Giant về có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi đã sử dụng một số đặc điểm của Wufa để xây dựng nên nhãn hiệu dầu gội của Giant.

Uỷ ban Thương mại lành mạnh Đài Loan (FTC) đã điều tra thiết kế bên ngoài, đóng gói, nhãn và mẫu mã trên vỏ hộp được sử dụng bởi cả Giant cũng như Wufa, và thấy có sự tương tự giữa chúng về những chi tiết như thiết kế và sắp xếp những mẫu mã, sắp xếp mầu sắc và chữ cái. Tuy nhiên, những từ như là “Dầu tắm Acid cao Hướng dương”, “Dầu tắm AHA” và “Dầu tắm chăm sóc da Acid cao”, “Tẩy rửa thân thể AHA” ở phía trước vỏ hộp và những từ ở phía sau bao gồm một loạt những thành phần “sunphát laureth natri, chiết xuất từ cây hướng dương” và “sunphát lauryl natri, chiết xuất từ cây hướng dương, glycol prodyleve” là tất cả những thuật ngữ miêu tả. Những thuật ngữ này thường được sử dụng trên những sản phẩm tương tự để giải thích chất lượng, thành phần và kiểu của chúng, những nội dung khó thể hiện giúp cho việc xác định xuất xứ của hàng hóa hoặc dịch vụ. Bởi vậy, FTC không cho đó là hành vi vi phạm Điều 20 Luật Thương mại lành mạnh của bên bị kiện dựa trên những dữ liệu nói trên. Hơn nữa, theo Luật Thương mại lành mạnh Đài Loan quy định rằng “một doanh nghiệp không được thực hiện các hành vi gian dối và không công bằng hiển nhiên mà có thể gây ảnh hưởng xấu tới trật tự kinh doanh”, một doanh nghiệp mà sử dụng tên của một công ty khác hoặc sao chép không phù hợp hình thức hàng hóa của người khác sẽ bị coi là khai thác thành quả lao động của người khác, vi phạm đạo đức của cạnh tranh trong kinh doanh và tạo nên cạnh tranh không lành mạnh.

Điều tra này đã chỉ ra rằng hãng Giant đã không có những cố gắng tích cực để làm cho nhãn hiệu của mình trở thành một phần nổi bật của nhãn hiệu để phân biệt các hàng hóa với nhau. Thay vào đó, Giant đã sử dụng hình ảnh hoa hướng dương có hai vòng tròn màu tía bao quanh như một phần của nhãn hàng hóa của mình, và những hàng chữ được in ở giữa vỏ hộp có nhãn hiệu bông hoa hướng dương cùng với nhãn bằng chữ ghi “Dầu tắm chăm sóc da Acid cao” màu trắng và “Dầu tắm” màu vàng. Cuối cùng, thiết kế tổng thể của vỏ hộp sản phẩm của bên bị kiện tương tự hoặc giống hệt với dấu hiệu của sản phẩm “Hoa hướng dương Mei Wu Fa” của bên khiếu kiện về bao gói, hình dáng, mẫu mã, cách sắp xếp, mầu sắc và chữ cái.

Hơn nữa, khi Giant kiếm tiền bằng cách bán dầu gội đầu và sản phẩm liên quan, Giant nên nhận biết đặc điểm của sản phẩm “Hoa hướng dương Wu Fa” của Wufa về sắp xếp mầu sắc và mẫu mã trên vỏ hộp của sản phẩm này. Tuy nhiên, khi Giant bắt đầu tiếp thị sản phẩm bị nghi vấn này, thì họ đã ghi trên bao bì dòng chữ như là “Hoa hướng dương” và “Dầu tắm chăm sóc da Acid cao” màu trắng, màu mà không làm nổi bặt sự khác nhau về cách sắp xếp màu sắc, mẫu mã ở phần nhãn phía trước giữa sản phẩm của bản thân nó và của Wufa.

Thêm nữa, vì các chữ như là “Hoa hướng dương” và “Tẩy rửa thân thể AHA” được thể hiện với màu sắc và kích thước tương tự ở cùng một vị trí, nên hình thức tổng thể bên ngoài, cách sắp xếp màu sắc và mẫu mã của nhãn hàng hóa của Giant là gần như giống hệt với sản phẩm “Hoa hướng dương Mei Wu Fa” của Wufa, hàng hoá mà được đặc trưng bởi nhãn hiệu ” Hoa hướng dương Wu Fa” và nhãn hàng hoá có ghi “Dầu tắm acid Tartaric” và “Dầu tắm AHA”. Sự tương tự giữa hai sản phẩm này về nhãn, chữ cái, vỏ hộp và các thành phần khi đó lớn hơn nhiều so với sự phân biệt giữa các đặc điểm của nhãn hiệu của họ, do đó khả năng mà Giant có dự định gắn bản thân nó với uy tín của bên khiếu kiện không thể bị loại trừ.

Mặc dù sau đó Giant sửa đổi nhãn hiệu của mình trên sản phẩm cụ thể này nhưng điều này không thay đổi được sự thật rằng thiết kế ban đầu của nó có thể dễ dàng làm cho người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm “Hoa hướng dương Wu Fa” lúc thoạt nhìn. Bởi vậy, có thể kết luận rằng Giant đã sao chép một cách có chủ định mẫu mã và hình thức nhãn trên vỏ hộp sản phẩm của Wufa và bằng cách này đã gắn sản phẩm của mình với sự tín nhiệm của Wufa và khai thác thành quả lao động Wufa.Rõ ràng trong cùng một thị trường, các hãng sản xuất không thể cạnh tranh nhau bằng những hành vi không lành mạnh như vậy, bởi điều này tất yếu sẽ dẫn đến tranh chấp. Và cuối cùng thì có lẽ bên nào có những hành vi không lành mạnh sẽ phải chịu kết cục xấu. Chẳng hạn như với Giant, cơ quan chức năng của Đài Loan đã ra lệnh huỷ bỏ nhãn hiệu của sản phẩm dầu gội Giant và buộc Giant phải có những thiết kế, mẫu mã khác. Như vậy không chỉ tốn tiền thay đổi mẫu mã sản phẩm mà quá trình xâm nhập thị trường của Giant sẽ phải kéo dài hơn, những thiệt hại là được nhận thấy rõ ràng.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG/CHUYÊN SAN CHẤT LƯỢNG VÀNG SỐ 5/2007

TỪ VỤ ĐỘC TỐ 3-MCPD TRONG NƯỚC TƯƠNG:”LIÊN MINH” COI THƯỜNG PHÁP LUẬT VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG

TRƯƠNG PHƯƠNG BẮC

Từ cuối tháng 5/2007 dư luận cả nước, từ các nhà sản xuất đến quản lí nhà nước, đang xôn xao về chất lượng sản phẩm hàng hoá (CLHH) với chất 3-MCPD trong nước tương (3-MCPD là tên viết tắt của chất thuộc nhóm cloropropanol, có cấu tạo phân tử 3-cloro-1,2- propandiol, theo EU chất này có thể gây ung thư ở hàm lượng 0,02mg/l). Dư luận bung ra lần này lại từ những thông tin rất cũ!

Sự thật bị bưng bít như thế nào?

Trước năm 2005 cũng đã có những cảnh báo về chất độc 3-MCPD trong nước tương (nước chấm) được sản xuất từ khô đậu đỗ. Năm 2005 khi có thông tin từ Bỉ về chất 3-MCPD trong nước tương Chin-su thì nhà sản xuất đã có thái độ không bình thường: phủ nhận kết quả kiểm tra của Bỉ (tung tin mẫu có thể là hàng giả), giải thích về sự thách thức của các tiêu chuẩn về chất lượng (quy định về chất 3-MCPD ở mức không nhiều hơn: của EU, Ôxtraylia, New Zealand là 0,02, Việt Nam và Hoa Kì là 1mg/l, trong khi mẫu kiểm tra ở Bỉ là 86mg/l), công bố sản phẩm của cơ sở là “sạch” và vẫn đạt Hàng Việt Nam chất lượng cao.

Lúc đó cơ quan quản lí nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm (ATVSTP) là Bộ Y tế, trực tiếp trong vụ việc là Sở Y tế TP. Hồ Chí Minh đã lấy mẫu kiểm tra. Mẫu được kiểm tra do Sở Y tế TP HCM và cả ở cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Y tế. Qua kiểm nghiệm thấy có đến 20 cơ sở năm 2005 và 17 cơ sở trong 5 tháng đầu năm 2007 có mẫu không đạt: chất độc hại 3-MCPD đều vượt ngưỡng cho phép, thậm chí gấp hàng nghìn lần. Nhưng kết quả đã không được công bố chi tiết mà chỉ tung ra một nhận xét chung chung là có một số loại nước tương có chứa chất độc gây ung thư là 3-MCPD với hàm lượng rất cao.

Người tiêu dùng không thể an tâm, dư luận không thể chịu được với lối thông tin nửa vời! Không thấy doanh nghiệp nào có hoạt động cải tiến trong sản xuất nhằm giảm thiểu 3-MCPD! Sản phẩm nào có chứa độc hại để người tiêu dùng không sử dụng! Khi bị áp lực quá mạnh, từ giới tiêu dùng, dư luận báo chí đến cơ quan cấp trên, Thanh tra Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh buộc lòng không thể giấu mãi đành phải công bố danh tính các doanh nghiệp có sản phẩm chứa chất độc hại sau 2 năm (thậm chí 6 năm) ém nhẹm thông tin. Bây giờ biết sự thật, bao nhiêu người và mỗi người đã đưa vào cơ thể bao nhiêu gam chất độc gây ung thư là 3-MCPD qua sử dụng nước tương? Dư luận và người tiêu dùng đang đặt bút tính, chưa biết tác hại sẽ đến mức thế nào? Bộ Y tế, UBND Thành phố HCM đã vào cuộc để xử lý vụ che dấu thông tin chất lượng sản phẩm này.Doanh nghiệp phải chủ động và trung thực về chất lượng hàng hoá

Thông tin thiếu chi tiết tưởng là vô hại nhưng đã bị lợi dụng: một công ty đã có ngay hành động có thể coi là lừa đảo bằng việc ngày từ ngày 08/9/2005 đã tổ chức “Lễ công bố sản phẩm nước tương sạch”! Tại buổi lễ họ công bố có công nghệ sản xuất nước tương sạch và sẵn sàng chuyển giao công nghệ. Trong khi sản phẩm của họ, mà chất lượng đang được bưng bít, có hàm lượng độc chất vượt quy định đến… hơn 2300 lần! Các doanh nghiệp khác có sản phẩm vi phạm cũng không hề có hành động khắc phục. Đến nay khi sự bưng bít kết quả kiểm tra chất lượng bị đưa ra ánh sáng, các doanh nghiệp đã phải nhận trách nhiệm của mình. Ban đầu là các doanh nghiệp phải công khai xin lỗi khách hàng, phải tiến hành việc thu hồi sản phẩm, phải vội vàng cải tiến công nghệ để có sản phẩm sạch đích thực. Nhưng dư luận người tiêu dùng đang tính đến đòi bồi thường, và biết đâu có chứng cứ trong mấy năm qua đã có người bị bệnh do dùng nước tương có chất độc chết người kia? Thiệt hại khôn lường còn đang ở phía trước!

Người ta nói: không thể lừa dối mọi người mãi mãi! Lẽ ra khi được phản hồi từ thị trường thì việc đầu tiên của nhà sản xuất là tiếp cận thị trường, đánh giá thực tế, có biện pháp khắc phục kịp thời…

Nhưng cơ sở đã không làm theo chân lí đó mà lại chọn kiểu liên minh ma quỷ, hành vi tiếp tục dựa trên sự thiếu trung thực. Thậm chí họ vẫn chạy tham gia để có danh hiệu Hàng Việt Nam chất lượng cao…! Cuối cùng hệ lụy đến nay phải nói chính xác là các doanh nghiệp đã có triệu chứng vi phạm điều 157 về sản xuất hàng giả là thực phẩm của Bộ Luật hình sự!

Nguyên tắc đầu tiên trong tư duy mới về quản lí chất lượng là hướng tới khách hàng đã bị các doanh nghiệp bỏ qua, để giữ tư duy cũ bảo vệ mình bằng tập tài liệu “đầy đủ hồ sơ pháp lí đã được duyệt” (có cả sự quan liêu). Tư duy trách nhiệm về CLHH hiện nay rất rõ ràng: “hồ sơ pháp lí về CLHH” có khi chỉ sử dụng cho doanh nghiệp và cơ quan chức năng giám sát sản xuất kinh doanh, còn người tiêu dùng chỉ trên hàng hoá cụ thể!

Quản lý Nhà nước phải minh bạch, công khai!

Đáng lẽ, với chức năng quản lí nhà nước, các đơn vị chức năng thuộc Bộ Y tế và Sở Y tế TP HCM phải thông báo, xử lí vi phạm, khuyến cáo người tiêu dùng… thì họ lại làm ngược lại: ém nhẹm thông tin (hoặc theo nghĩa chờ ý kiến chỉ đạo của Bộ), mặc nhà sản xuất cứ tuôn sản phẩm chứa chất độc ra thị trường và mặc người tiêu dùng cứ “tự chọn”!?

Giải thích cho việc che dấu thông tin về việc phát hiện ra nhiều doanh nghiệp có sản phẩm chứa chất độc hại 3-MCPD, Sở Y tế đã nêu lí do là không tin chắc ở kết quả kiểm nghiệm. Còn cơ sở kiểm nghiệm thuộc Bộ thì lại chờ ý kiến chỉ đạo của Bộ thì mới công bố!? Lí do này không xác thực và cũng là một “bệnh” của ngành y tế Việt Nam. Có trang web viết rằng ở Việt Nam các bác sỹ điều trị nhiều khi không tôn trọng kết quả xét nghiệm (hoá học, X-quang…). Còn ở đây họ không tin kết quả của cơ sở kiểm nghiệm chuyên nghiệp. Nhưng nếu có nghi vấn thì lẽ ra phải tuân thủ quy trình là yêu cầu làm lại, hoặc bổ sung số liệu của cơ sở khác (thậm chí nước ngoài) thì cơ quan chức năng thuộc Bộ và Sở Y tế TP HCM lại chọn phương pháp im lặng (?); để đến bây giờ …

Trong điều kiện này, chỉ cần im lặng không công bố vi phạm về chất độc chết người trong sản phẩm thì đã là vàng với cơ sở sản xuất rồi! Vì thế có cơ sở để dư luận nghi ngờ: Liệu có thể tin cơ quan y tế “im lặng” là do không tin ở kết quả kiểm nghiệm, chứ hoàn toàn không có tiêu cực? Việc làm này của cơ quan chức năng thuộc Bộ và Sở Y tế TP HCM rất có thể đã vi phạm các điều 165 và 286 về thiếu trách nhiệm trong công tác quản lí theo Luật Hình sự.

Sự kiện này là bài học cho cơ quan quản lí nhà nước phải thực hiện công khai, minh bạch trong hoạt động của mình. Số liệu kiểm tra chất lượng phải do cơ sở thử nghiệm chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cơ quan quản lí nhà nước phải công bố để người sản xuất và người tiêu dùng biết và tự chủ xử lí vụ việc theo nhu cầu cụ thể. Cơ quan quản lí và doanh nghiệp bình đẳng trước pháp luật về đánh giá và xử lí theo mức độ vi phạm. Vì vậy công khai và minh bạch là chìa khoá cho bình đẳng và nghiêm túc trước pháp luật!

Một bài học nữa là năng lực đánh giá chất lượng hàng hoá. Hiện nay hệ thống các phòng thử nghiệm ở Việt Nam cơ bản đã được hình thành từ thời bao cấp. Đó là mỗi ngành có một phòng thử nghiệm (quen gọi là labo, phòng phân tích, trung tâm kiểm nghiệm…) đáp ứng chỉ một phần yêu cầu quản lí của ngành. ở một tỉnh thường thì các Sở Y tế, Nông nghiệp, Xây dựng, Khoa học và công nghệ, Tài nguyên và môi trường… mỗi ngành có phòng thử nghiệm riêng. Các phòng này có trang bị tương đối giống nhau phần cơ bản và nói chung đều không đáp ứng đủ nhu cầu quản lí của ngành nên những đánh giá đầy đủ lại phải mang đến các phòng thử nghiệm ở Trung ương.

Rõ ràng hệ thống các phòng thử nghiệm của chúng ta đã bị lạc hậu, chưa được nhà nước đánh giá đúng yêu cầu và năng lực phục vụ kinh tế xã hội thời hội nhập. Quy hoạch các phòng thử nghiệm quốc gia do Bộ Khoa học và công nghệ chỉ đạo, trực tiếp là Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng phối hợp các Bộ thực hiện, đã không theo kịp tiến độ của phát triển kinh tế xã hội và tiến trình hội nhập của đất nước chúng ta. Cần xác lập tư duy về hội nhập, về thoả thuận thừa nhận lẫn nhau, về thử nghiệm theo ISO IEC 17025 thay thế tư duy mỗi ngành một lãnh địa thử nghiệm, manh mún, năng lực thấp, không có khả năng cạnh tranh, không có khả năng hỗ trợ doanh nghiệp và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, dễ bị thói quan liêu chi phối.

Các số liệu thử nghiệm, xét nghiệm phải trở thành căn cứ khoa học của quản lí nhà nước, của các hoạt động chuyên môn, được công khai, minh bạch!

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG/CHUYÊN SAN CHẤT LƯỢNG VÀNG SỐ 6/2007

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – TÀI SẢN VÔ HÌNH CỦA DOANH NGHIỆP

Tài sản vô hình này ngày càng khẳng định vai trò là yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của doanh nghiệp và tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Ngày nay tài sản vô hình chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Khi đã thực sự là thành viên WTO và đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng, khi hàng rào thuế quan dần được rỡ bỏ, doanh nghiệp Việt Nam cần phải có một chiến lược phát triển thương hiệu và bảo hộ sở hữu trí tuệ. Một chiến lược phát triển phù hợp và hệ thống quản lý hữu hiệu về sở hữu trí tuệ sẽ giúp các doanh nghiệp có được sản phẩm có tính cạnh tranh cao lại tiết kiệm chi phí và kịp thời ngăn chặn việc sao chép nhãn mác, làm nhái sản phẩm…

Tuy lượng đăng ký về quyền sở hữu trí tuệ tăng khá nhanh nhất là khi nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới: Năm 2000 có quãng 10.000 nhãn hiệu đăng ký, năm 2005 trên 20.000 nhãn hiệu được đăng ký. Lượng sáng chế và kiểu dáng công nghiệp cũng tăng hơn. Đặc biệt, số nhãn hiệu tăng hơn 25%/năm so với trước đây, các nhãn hiệu của nước ngoài trước chiếm áp đảo khoảng 70% đến 80% thì hiện giờ ngang nhau. Điều này chứng tỏ ý thức của doanh nghiệp về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có sự cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, việc đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm, vẫn có khá nhiều doanh nghiệp chưa thực sự am hiểu những quy định về việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Doanh nghiệp cần biết rằng thủ tục đăng ký nhãn hiệu đơn giản, nhưng thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp phức tạp hơn và phức tạp nhất là đăng ký sáng chế vì nó liên quan đến cấu tạo sản phẩm, phương pháp sản xuất. Nói chung, đối với nhãn hiệu, kiểu dáng sản phẩm, doanh nghiệp có thể thực hiện tốt khi liên hệ với Cục Sở hữu Trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ, nơi có Phòng Đăng ký sẵn sàng cung cấp mẫu biểu, tờ khai. (Doanh nghiệp có thể tham khảo những thông tin chi tiết trên website của Cục Sở hữu trí tuệ http//:www.noip.gov.vn). Doanh nghiệp chỉ cần nộp 1 lần đơn, lệ phí đăng ký nhãn hiệu không cao chỉ chưa tới 1 triệu đồng cho 1 nhóm sản phẩm.

Thủ tục đăng ký về quyền sở hữu trí tuệ được đơn giản, ví dụ trước đây quy định đăng ký 1 sáng chế mất 18 tháng, nay còn 12 tháng; 1 kiểu dáng công nghiệp 12 tháng, nay còn khoảng 9 tháng. Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì đăng ký nhãn hiệu sở hữu trí tuệ cũng từ 12 tháng còn 9 tháng. Đây là một cố gắng nhưng có thể chưa thật thoả mãn người đăng ký nhưng vì Việt Nam còn là thành viên của một loạt thoả ước quốc tế nên việc cấp nhanh hơn rất khó khăn. Sở dĩ việc đăng ký mất thời gian lâu vì ta là thành viên của Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nên phải chờ 6 tháng để doanh nghiệp các nước khác nộp đơn xin đăng ký vào Việt Nam.

Không chỉ đảm bảo chắc phần thắng trên sân nhà, doanh nghiệp cũng cần lưu ý đăng ký ở những nước khác để bảo hộ cho sản phẩm của mình. Với các nước mà Việt Nam là thành viên của Thoả ước Madrid thì các doanh nghiệp chỉ cần nộp qua Cục Sở hữu Trí tuệ. Đăng ký theo Thoả ước Madrid thì chỉ với 1000 USD, doanh nghiệp đã có thể đăng ký bảo hộ cho sản phẩm của mình tại 10 nước có tham gia thỏa ước này. Thỏa ước này không bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, ASEAN, Anh nên khi đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại những nước này, doanh nghiệp phải đăng ký trực tiếp và thường thì sử dụng các đại diện sở hữu công nghiệp để làm thay. Ví dụ, doanh nghiệp muốn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Mỹ thì phải có đại diện sở hữu công nghiệp, tốn tiền lệ phí quốc gia khoảng vài trăm USD cho một nhóm sản phẩm cộng thêm lệ phí dịch vụ của các hãng đại diện khoảng trên dưới 1000 USD cho 1 nhóm sản phẩm. Rõ ràng với cách này, doanh nghiệp sẽ phải tốn phí hơn qua Thoả ước Madrid nhưng do nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu, hàng hoá thì doanh nghiệp vẫn phải làm. Tình hình đăng ký cũng khá hơn, năm vừa rồi, doanh nghiệp Việt Nam đăng ký qua Thỏa ước Madrid tăng hơn 50%.

Bảo vệ những tài sản trí tuệ của mình không chỉ bằng việc đăng ký bảo hộ, dán tem chống hàng giả, quản lý tốt hệ thống phân phối, một chuyên gia về lĩnh vực quản lý thị trường cho rằng các doanh nghiệp phải chủ động phối hợp với các cơ quan thực thi. ở Hoa Kỳ, để bảo vệ quyền lợi cho mình, các công ty đều có những bộ phận riêng hoặc thuê các công ty luật, công ty thám tử tư để bảo vệ bản quyền cho mình. Trong trường hợp bị vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, các công ty đều có hình thức phối hợp về phương tiện, hỗ trợ kinh phí cho các lực lượng thực thi. Đương nhiên, chiêu thức này còn phụ thuộc vào khả năng tài chính, quy mô của doanh nghiệp nhưng cũng đã có những công ty ở Việt Nam áp dụng cách này để bảo vệ những đứa con tinh thần của mình. Ngoài ra, các tổ chức hiệp hội như Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ Người tiêu dùng Việt Nam, Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Việt Nam, Hội Sở hữu Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam là những tổ chức phi chính phủ đóng vai trò tích cực trong đấu tranh chống hàng giả vi phạm sở hữu trí tuệ.

Trong thực tế, thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam thường được thông qua các quy định về xử lý hành chính hơn là kiện cáo trước tòa do cách này dễ thực hiện, nhanh chóng về thủ tục và ít tốn kém dù nó có một nhược điểm là tính răn đe và hiệu quả chưa cao. Thêm nữa, doanh nghiệp Việt Nam thường có tâm lý “né tránh”, ngại kiện cáo trong khi thủ tục tố tụng về sở hữu trí tuệ còn thiếu càng làm cho số vụ tranh chấp giải quyết qua con đường tòa án ít đi. Cho nên, cùng với nỗ lực của các ngành chức năng, doanh nghiệp cũng cần có thói quen bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình qua con đường tố tụng bởi đây là cách giải quyết triệt để.

Nguyễn Gia Hảo

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG/CHUYÊN SAN CHẤT LƯỢNG VÀNG SỐ 1/2007

CÁC DẠNG TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI PHỔ BIẾN HIỆN NAY

Các dạng tranh chấp đất đai hiện nay rất đa dạng, phong phú, nhiều khi đan xen lẫn nhau. Tranh chấp đất đai có thể được chia làm hai loại lớn, đó là các tranh chấp mà trong đó cần xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất đang tranh chấp và tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng đất hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.

Trong dạng tranh chấp này luôn luôn có sự tranh chấp giữa các bên về quyền quản lý, quyền sử dụng một diện tích nào đó hoặc một phần trong diện tích đó. Việc xác định ai là người có quyền sử dụng hợp pháp đất tranh chấp đó là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể có dạng như sau:

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất có liên quan đến tranh chấp về địa giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa người ở hai tỉnh, hai huyện, hai xã với nhau, tập trung ớ những nơi có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế, văn hóa, ở những vị trí dọc theo triền sông lớn, những vùng có địa giới không rõ ràng, không có mốc giới nhưng là vị trí quan trọng, ở những nơi có nguồn lâm, thổ sản quý. Cùng với việc chia tách các đơn vị hành chính tỉnh, huyện, xã thì tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính tương đối nhiều.

– Tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất: Thực chất đây là dạng tranh chấp đòi lại đất, đòi lại tài sản gắn liền với đất có nguồn gốc trước đây thuộc quyền sở hữu của họ hoặc người thân của họ mà do nhiều nguyên nhân khác nhau họ không còn quản lý, sứ dụng nữa. Bây giờ những người này đòi lại người đang quản lý, sử dụng dẫn đến tranh chấp. Trong dạng tranh chấp này có các loại sau:

+ Đòi lại đất, tài sản của họ, của người thân trong các giai đoạn khác nhau trước đây qua các cuộc điều chỉnh đã chia, cấp cho người khác: Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung. Ruộng đất và các tư liệu sản xuất của nông dân được tập trung vào hợp tác xã. Đến khi thực hiện Nghị quyết T.Ư 10/TW năm 1988, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân để rồi những người này đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất, một số hộ trước khi vào tập đoàn, hợp tác xã có đất, đến khi giải thể họ không có đất để canh tác. Một số hộ thực hiện chính sách “nhường cơm sẻ áo” của Nhà nước trong những năm 1981-1986 đã nhường đất cho những người khác sử dụng, nay đòi lại… ở miền nam, Nhà nước thực hiện chính sách cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hóa đất đai, nhà cửa, tư liệu sản xuất của địa chủ, tư bản và tay sai chế độ cũ hoặc giao nhà cửa, đất đai cho người khác sử dụng, đến nay do có sự hiểu lầm về chính sách họ cũng đòi lại những người đang quản lý, sử dụng.

Ngoài ra, một số người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng.

+ Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở, sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất để sản xuất, để ở.

+ Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học… đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó.

Ngoài ra, trong những trường hợp nói trên, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà.

+ Tranh chấp đòi lại nhà, đất cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ: Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ. Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc là hết hạn hợp đồng, hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố, một số có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

– Tranh chấp QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng hoặc có thể xảy ra khi bố mẹ cho con đất, đến khi con ly hôn thì cha mẹ đòi lại…

– Tranh chấp về quyền thừa kế QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ: Đây là dạng tranh chấp do người có QSDĐ, tài sản gắn liền với đất chết mà không để lại di chúc, hoặc để lại di chúc không phù hợp với quy định của pháp luật và những người hưởng thừa kế không thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc thiếu hiểu biết về pháp luật dẫn đến tranh chấp.

– Tranh chấp giữa những người sử dụng với nhau về ranh giới giữa các vùng đất được phép sử dụng và quản lý: Đây là tranh chấp về ranh giới. Loại tranh chấp này thường do một bên tự ý thay đổi ranh giới hoặc hai bên không xác định được với nhau về ranh giới, một số trường hợp chiếm luôn diện tích đất của người khác. Những trường hợp tranh chấp này xảy ra thường do ranh giới đất giữa những người sử dụng đất liền kề không rõ ràng, đất này thường sang nhượng nhiều lần, bàn giao không rõ ràng.

Ngoài ra, việc tranh chấp ranh giới xảy ra nhiều khi do lỗi của các cơ quan nhà nước, đó là khi cấp đất, cơ quan cấp đất có ghi diện tích, nhưng không đo đạc cụ thể khi giao đất chỉ căn cứ vào giấy cấp đất và đơn kê khai diện tích của đương sự. Sau này khi đương sự đo lại thấy diện tích đất ít hơn so với quyết định cấp đất cũng như giấy chứng nhận QSDĐ hoặc khi cấp giấy chứng nhận QSDĐ có phần diện tích chồng lên nhau. Do đó cũng gây nên tranh chấp giữa các hộ liền kề nhau. Khi giải quyết tranh chấp, các cơ quan có thẩm quyền phải xác định phần đất tranh chấp đó là thuộc quyền sử dụng của ai.

– Tranh chấp giữa đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới với đồng bào dân tộc sở tại: Đây là dạng tranh chấp thường xảy ra ở vùng Tây Nguyên. Việc di dân, đặc biệt là di dân tự do khi đến nơi ở mới không phải lúc nào chính quyền sở tại cũng cấp đất cho người dân di cư, dẫn đến việc người mới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại.

– Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường và các tổ chức sử dụng đất khác với nhân dân địa phương: Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình thức phát canh, thu tô. Mặt khác, nhiều nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội quản lý đất đai lỏng lẻo dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử dụng. Do đó cũng dẫn đến tranh chấp đất đai.

Các dạng tranh chấp đất đai trong đó người sử dụng đất đã sử dụng hợp pháp, tranh chấp chỉ phát sinh trong quá trình người đó thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Trong các dạng tranh chấp này thì người đang SDĐ đã sử dụng hợp pháp đất, không có ai tranh chấp. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình như: Thực hiện các giao dịch về dân sự, hoặc do chủ trương, chính sách của Nhà nước như giải tỏa, trưng dụng, trưng mua hoặc do người khác gây thiệt hại, hoặc bị hạn chế về quyền và nghĩa vụ SDĐ của mình mà dẫn đến tranh chấp. Có các dạng sau:

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền SDĐ, thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền SDĐ. 

– Tranh chấp do người khác gây thiệt hại hoặc hạn chế quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình SDĐ.

– Tranh chấp về mục đích sử dụng, đặc biệt là tranh chấp về đất nông nghiệp với đất lâm nghiệp, giữa đất trồng lúa với đất nuôi tôm, giữa đất trồng cao su với đất trồng cà phê, giữa đất nông nghiệp với đất thổ cư trong quá trình phân bố và quy hoạch sử dụng. Trong thực tế trường hợp tranh chấp này xảy ra như sau: Do mục đích SDĐ nên Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để giao cho người khác sử dụng với mục đích khác, dẫn đến người đang SDĐ khiếu kiện việc chuyển mục đích SDĐ hay khiếu kiện việc thu hồi hoặc khiếu kiện người được giao đất sử dụng với mục đích khác. Mặt khác, người được Nhà nước giao đất chuyển mục đích sử dụng khiếu kiện người đang sử dụng đất phải giao đất cho mình theo quyết định giao đất.

– Tranh chấp về giải toả mặt bằng phục vụ các công trình công cộng, lợi ích quốc gia và mức đền bù khi thực hiện giải tỏa.

Trong tranh chấp loại này chủ yếu là khiếu kiện về giá đất đền bù, diện tích đất được đền bù, giá cả đất tái định cư và đền bù không đúng người, giải tỏa quá mức quy định để chừa đất cấp cho các đối tượng khác. Trong tình hình hiện nay, việc quy hoạch mở mang đường sá, đô thị quá lớn đẫn đến việc tranh chấp loại này rất gay gắt, phức tạp và có nhiều người, tập thể đồng loạt khiếu kiện.

Hiện nay ngoài những tranh chấp như đã trình bày trên, còn có một loại tranh chấp nữa, đó là tranh chấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai tức là tranh chấp hành chính về đất đai. Các tranh chấp thuộc nhóm này thường nảy sinh khi các đương sự quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hoặc cán bộ quản lý nhà nước về đất đai áp dụng đã  làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Thí dụ: Các quyết định về giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ, thu hồi giấy chứng nhận quyền SDĐ, các quyết định về giải quyết tranh chấp đất đai.

Pháp luật Việt Nam

XUNG QUANH VẤN ĐỀ NHẬN VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN

NGUYỄN NGỌC DŨNG – Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang

Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) có hiệu lực từ ngày 01-01-2005, tại chương XII quy định về khởi kiện và thụ lý vụ án, so với các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, kinh tế, lao động trước đây có chặt chẽ hơn. Song, vấn để nhận và trả lại đơn kiện theo quy định của pháp luật hiện hành cũng còn có một số vấn đề cần trao đổi thêm.

I. AI LÀ NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM NHẬN VÀ TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN?

1. Nhận đơn khởi kiện

Theo Điều 167 BLTTDS

“Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu diện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1/ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2/ Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3/ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Vấn đề đặt ra ở đây là nếu quy định “Toà án phải nhận đơn khởi kiện… phải ghi vào sổ nhận đơn…phải xem xét và có một trong các quyết định…” thì chưa ổn, bởi vì, việc thụ lý này phải được tiến hành bởi một trong các chức danh của những người tiến hành tố tụng cụ thể (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký toà án…) chứ không phải Toà án.

Ngoài ra, việc quy định rạch ròi đối với các chức danh của từng cá nhân tiến hành tố tụng cụ thể còn liên quan đến các giai đoạn tiếp theo sau của quá trình tố tụng.

2. Trả lại đơn khởi kiện

Các trường hợp trả lại đơn khởi kiện được qui định tại các điều khoản sau:

Khoản 3 Điều 167

“Trả lại đơn kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Điều 168

“1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a/ Thời hiệu khởi kiện đã hết:

b/ Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;

c/ Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyển, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhà mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện:

d/ Hết hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không đến Toà án làm thủ tục thụ lý vụ án, trừ trường hợp có lý do chính đáng;

d/ Chưa có đủ điều kiện khởi kiện

2. Khi trả lại đơn khởi kiện, Toà án phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện”

Khoản 2 Điểu 192:

“Toà án ra quyết định đỉnh chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu vụ án đó thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 168 BLTTDS”

Điều 413

“1. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án nước ngoài giải quyết vụ việc dân sự đó và Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự.

2. Toà án Việt Nam trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu có Toà án nước ngoài đã thụ lý vụ việc dân sự đó và bản án, quyết định của Toà án nước ngoài về vụ việc dân sự đó được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam”

II. TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN THẾ NÀO CHO ĐÚNG?

Theo quy định tại khoản 2 Điều 168 thì thủ tục trả lại đơn khởi kiện bắt buộc phải có văn bản kèm theo ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Vấn đề đặt ra là, văn bản này phải theo hình thức nào? Quyết định theo quy trình tố tụng hay Công văn mang tính chất thông báo và ai sẽ là người ký văn bản này ?

Đối chiếu với quy định tại Điều 170 BLTTDS về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh sán Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.

2. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được khiểu nại về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a/. Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b/. Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án”.

Như vậy, người ký văn bản trả lại đơn khởi kiện chỉ có thể là Thẩm phán (khoản 2 Điều 168) chứ không thể là Chánh án vì Chánh sán còn phải thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện theo khoản 2 Điều 170 BLTTDS.

Đồng thời, tại khoản 1, Điều 171 về thụ lý vụ án cũng quy định:

“1. Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí…”

Tóm lại, qua các điều luật trên (167,168, 171 và 413 BLTTDS) không thấy xuất hiện chủ thể tham gia quan hệ luật pháp trong giai đoạn “tiền thụ lý” này: (Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký, Toà án, Văn thư…)

– Nhận đơn khởi kiện;

– Xem xét có thụ lý hay không thụ lý đơn khởi kiện;

– Thông báo cho nguyên đơn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc trả lại đơn khởi kiện nếu không đủ điều kiện thụ lý vụ án.

Trong khi đó, tại khoản 1 Điều 172 quy định về phân công Thẩm phán giải quyết vụ án:

“1. Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”.

Và Điều 173, 174 BLTTDS về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán khi tiến hành lập hồ sơ vụ án có quy định Thẩm phán có nhiệm vụ “thông báo về việc thụ lý vụ án”.

Như vậy các Điều 171, 172, 173 BLTTDS chỉ thể hiện rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của thẩm phán Sau khi đã thụ lý vụ án và được Chánh án phân công giải quyết vụ án, còn ai nhân đơn khởi kiện, ai xem xét nội dung đơn khởi kiện, ai trả lại đơn khởi kiện thì luật chưa nói rõ.

III. QUYẾT ĐỊNH TRẢ LẠI ĐƠN KHỞI KIỆN CÓ BỊ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ HAY KHÔNG?

Xin được nêu một ví dụ để minh hoạ: Một công dân nộp đơn và các tài liệu liên quan đến Toà án cấp huyện để khởi kiện một vụ án dân sự. Có hai giả thiết đặt ra:

Một là: Hồ sơ vụ kiện đó không có căn cứ pháp luật và Toà án đã trả lại đơn khởi kiện. Người khởi kiện khiếu nại và Chánh án Toà án cấp huyện căn cứ điểm a, khoản 2, Điều 170 BLTTDS “Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện”.

Hai là: Hồ sơ vụ kiện đó có căn cú pháp luật và việc khởi kiện đó là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, nhưng do một lý do nào đó (áp dụng sai pháp luật, định kiến, do có mối quan hệ với phía bị đơn…) mà Chánh án Toà án nhân dân cấp huyện vẫn căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 170 BLTTDS để “Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện”.

Vậy thì, sau khi cấp sơ thẩm đã giải quyết việc khiếu nại nhưng một trong hai giả thiết trên thì người khởi kiện có quyền khiếu nại tiếp theo hay không? Và ai sẽ là người giải quyết khiếu nại đó? Trình tự, thủ tục giải quyết như thế nào?

Bộ luật Tố tụng dân sự cũng như các văn bản hướng dân chưa quy định cụ thể vấn đề này, nhưng trong thực tiễn đã xảy ra. Quá trình giải quyết đã phát sinh một số quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề

Thông thường, không đồng tình với quyết định của Chánh án Toà án cấp huyện trong việc “Giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện”, nguyên đơn sẽ tiếp tục khiếu nại đến Toà án nhân dân cấp tỉnh. Có hai trường hợp xảy ra:

Một là: Trong trường hợp “giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện” do việc khởi kiện không có căn cứ pháp luật thì khi giải quyết khiếu nại, Toà án tỉnh vẫn phải trả lời đơn cho đương sự biết là việc khởi kiện đó không đủ căn cứ để thụ lý giải quyết.

Theo tôi khi có khiếu nại liên quan đến cấp dưới thì lãnh đạo cấp trên (người nhận được khiếu nại) phải trả lời đơn cho đương sự. Đây là vần đề mang tính nguyên tắc, không cần phải bàn thêm.

Hai là: Đối với trường hợp “giữ nguyên quyết định trả lại đơn khởi kiện” mà không có căn cứ, do áp dụng sai điều luật, do định kiến, do tình cảm riêng tư…

Có ba quan điểm khác nhau trong tình huống này:

1/ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng, có hiệu lực thi hành mà không bị kháng cáo, kháng nghị vì thực tế, luật không quy định việc kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định tả lại đơn khởi kiện.

Tôi không đồng tình với quan điểm này, vì quyết định của cấp sơ thẩm không thể là quyết định cuối cùng. Trong khi quyết định đó thật sự có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện.

2/ Quan điểm thứ hai lại cho rằng: nếu cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì cấp trên chỉ cần có văn bản chỉ đạo cấp sơ thẩm rút lại các quyết định đã ban hành và thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Với quan điểm này có phần nhẹ nhàng hơn do không xảy ra hậu quả pháp lý là các quyết định của cấp sơ thẩm bị huỷ, không làm ảnh hưởng đến điểm thi đua của Thẩm phán.Tuy nhiên, bản thân tôi cũng chưa đồng tình, vì với một quyết định được ban hành theo một trình tự tố tụng thì để sửa sai các quyết định đó cũng phải bằng một quyết định theo một trình tự tố tụng chứ không thể sửa sai một quyết định tố tụng bằng một mệnh lệnh mang tính hành chính được.

3/. Quan điểm thứ ba cho rằng, quyết định của cấp sơ thẩm có sai sót trong việc áp dụng pháp luật thì phải được kháng cáo, kháng nghị và Toà án cấp trên trực tiếp được quyền xem xét lại các quyết định trên theo trình tự giám đốc thẩm theo Điều 283 BLTTDS, bởi vì, cấp sơ thẩm đã có sai sót trong việc áp dụng pháp luật. Hơn nữa, các quyết định trả lại đơn đã được phát hành và đã phát sinh hiệu lực thì việc sửa sai các quyết định đó phải bằng một quyết định khác của cấp có thẩm quyền, trong trường hợp này, cấp có thẩm quyền đó chính là Uỷ ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh.

Tôi nhất trí với quan điểm thứ ba này, đồng thời, kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sớm có Nghị quyết hướng dẫn thi hành về vấn đề này.

IV. VẤN ĐỀ THAY ĐỔI THẨM PHÁN THEO ĐIỀU 47 BLTTDS?

Liên quan đến việc trả lại đơn bằng một quyết định trả lại đơn khởi kiện như phân tích trên thì việc Thẩm phán tham gia giải quyết việc trả lại đơn khởi kiện đó được giải quyết như thế nào?

Việc Thẩm phán ra quyết định trả lại đơn có bị thay đổi theo khoản 3 Điều 47 BLTTDS hay không?

Tại khoản 3 Điều 47 BLTTDS cũng như tại điểm 3.2 Mục II Nghị quyết 01/2005/NQ-HDDTP ngày 31/3/2005 của Hội động Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004 đã quy định: ”3.2. Theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của BLTTDS, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu họ “Đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm…trong vụ án đó”. Đã tham gia giải quyết và đã ra bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm hoặc quyết định công nhận sự thoả thuânh của các đương sự, quyết định đình chỉ vụ án”.

Như vậy, quyết định trả lại đơn khởi kiện sẽ không rơi vào trường hợp bị thay đổi Thẩm phán theo khoản 3 Điều 47 BLTTDS. Tuy nhiên, đối với trường hợp “đình chỉ vụ án” như đã được giải thích ở Nghị quyết 01 nêu trên, cần được loại trừ một số điểm c,e,g khoản 1 Điều 192 BLTTDS vì đây là những trường hợp mà sau này nguyên dơn được quyền khởi kiện lại vụ án đó (khoản 1 Điều 193 BLTTDS). Vì trên thực tế, Thẩm phán đã ra quyết định đình chỉ vụ án theo một trong các lý do được nêu trên có thể được xem như là chưa từng giải quyết vụ án đó về mặt nội dung. Vì vậy, việc thay đổi Thẩm phán trong những trường hợp này là không phù hợp với thực tiễn xét xử và trong điều kiện vẫn còn thiều nhiều Thẩm phán cấp huyênh như hiện nay.

Qua các vấn đề vừa trình bày trên, thiết nghĩ, rất cần được sự hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để việc áp dụng pháp luật được thống nhất trong cả nước.

===========================

SOURCE: http://vietnamese-law-consultancy.com

THỰC THI BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NHỮNG TRỞ NGẠI, VƯỚNG MẮC

Chứng minh và chứng cứ là yếu tố “xương sống” của pháp luật tố tụng. Mọi hoạt động tố tụng đều tập trung làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh bằng việc thu thập và đánh giá chứng cứ. Việc nhận thức không đúng đắn về vấn đề chứng minh và chứng cứ ắt sẽ dẫn đến giải quyết vụ án không đúng pháp luật. Từ thực tế trong những năm qua nhiều vụ án (nhất là các vụ án tranh chấp đất đai) phải “xoay” nhiều vòng với các kết quả giải quyết “sớm nắng, chiều mưa” đều phát sinh từ sự nhận thức thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án vè chứng minh và chứng cứ.

Từ một thực tế…

Vụ án tranh chấp lối đi giữa nguyên đơn – ông N.N.H và bị đơn – ông N.D.X là một ví dụ điển hình về vấn đề này. Theo các chứng cứ thu thập được như: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây gọi tắt là sổ đỏ), bản đồ địa chính thì phía Đông thửa đất của ông X có một lối đi từ quốc lộ 12A vào thửa đất của ông H rộng 2.5m. Trong khi đó ông X lại cho rằng trước đây con đường chỉ là một bờ ruộng 0,4m, từ khi ông về ở thửa đất này cho đến nay vì tình làng nghĩa xóm nên ông vẫn cho phép gia đình ông H sử dụng con đường này. Sổ đỏ của ông được cấp từ năm 1992 không thể hiện có con đường. Thế nhưng, vào năm 2001 khi ông làm thủ tục chuyển nhượng đất cho anh T, UBND huyện QT đã cấp lại sổ đỏ khác, trong đó có ghi phía Đông giáp đường kiệt xóm, ông hoàn toàn biết nhưng nghĩ rằng đường đó cũng là đất của mình nên không có khiếu nại gì (nay đã hết thời hiệu khiếu nại). Căn cứ vào sổ đỏ của ông X và bản đồ địa chính, các Bản án sơ thẩm lần một số 33/2005/DSST ngày 26/8/2005 và lần hai số 47/2006/DSST ngày 26/9/2006 của TAND huyện QT đều quyết định chấp nhận đơn khởi kiện của ông H, theo đó ông H có quyền sử dụng lối đi rộng 2,5m giáp phía Đông vườn nhà ông X. Trong khi đó Bản án phúc thẩm lần một số 06/2006/DSST ngày 27/02/2006 của TAND tỉnh Q cho rằng Toà án cấp sơ thẩm chưa áp dụng các biện pháp để xác định diện tích đất của ông X thừa hay thiếu so với sổ đỏ nên đã quyết định hủy án sơ thẩm. Tại Bản án phúc thẩm lần hai số 35/2006/DSST ngày 19/12/2006 của TAND tỉnh Q đã quyết định sửa bản án sơ thẩm, thừa nhận có con đường chỉ rộng 0,4m và buộc ông H phải trả cho ông X 16.373.000đ để được sử dụng con đường rộng 1,5m. Không “tâm phục, khẩu phục” nên hiện nay ông H đã làm đơn yêu cầu những người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án phúc thẩm này.

Hoặc như trong vụ tranh chấp đất giữa bà Trần Thị Hồng Thu và ông Trần Hữu Sơn, TAND huyện Hướng Hóa và TAND tỉnh Quảng Trị đã căn cứ vào diện tích đất ghi trong sổ đỏ để xét xử buộc ông Sơn trả cho bà Thu 21,4m2. Trong khi đó VKSND huyện Hướng Hóa và VKSNDTC lại cho rằng UBND huyện Hướng Hóa cấp sổ đỏ cho bà Thu và ông Sơn là không đúng nên đã liên tục kháng nghị các bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Vụ tranh chấp này cho đến nay đã trải qua năm phiên tòa nhưng vẫn chưa đến hồi kết.

…Tòa án có phải đi tìm ẩn số?

Trên đây chỉ là hai trong rất nhiều vụ án mà các cơ quan tiến hành tố tụng nhận thức khác nhau về giá trị của các chứng cứ, tài liệu thuộc hồ sơ địa chính do cơ quan có thẩm quyền quản lý đất đai ban hành, dẫn đến việc đưa ra các phán quyết trái ngược nhau.

Vậy, trong hai luồng nhận thức đó, quan điểm nào là đúng pháp luật? Để trả lời câu hỏi này cần phải căn cứ vào các quy định của BLTTDS về chứng minh và chứng cứ cùng các văn bản pháp luật liên quan. BLTTDS đã quy định đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc phản đối yêu cầu của người khác phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc sự phản đối của mình là có căn cứ và hợp pháp. Điều 80 BLTTDS còn quy định về những tình tiết, sự kiện mà đương sự không phải chứng minh, trong đó có các tình tiết, sự kiện được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật;… Do vậy, trong vụ án dân sự thì sổ đỏ, bản đồ hoặc trích lục bản đồ địa chính là những chứng cứ quan trọng để Tòa án làm căn cứ giải quyết vụ án mà không cần phải chứng minh tính hợp pháp của nó. Luật Đất đai (LĐĐ) 2003 đưa ra tiêu chí để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất giữa Tòa án và UBND đó là đất đã có sổ đỏ hoặc các giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 LĐĐ là hoàn toàn có chủ ý. Tòa án không phải là cơ quan quản lý đất đai nên không thể nắm được mọi biến động trong quá trình sử dụng đất của các chủ thể, do đó sổ đỏ và các giấy tờ liên quan đến thửa đất do cơ quan quản lý đất đai lập là chứng cứ quan trọng để Tòa án đưa ra các phán quyết.

Tuy nhiên, các giấy tờ tài liệu về quản lý đất đai không phải bao giờ cũng chính xác và hợp pháp. Do đó, trong trường hợp đương sự cho rằng các giấy tờ tài liệu đó là không hợp pháp thì Tòa án phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án và hướng dẫn họ thực hiện quyền khiếu kiện theo thủ tục hành chính đối với cơ quan quản lý đất đai để có sự phán quyết về giá trị pháp lý của các tài liệu đó. Trong khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án không có quyền đưa ra các phán xét về giải trị pháp lý của các giấy tờ tài liệu do cơ quan hành chính ban hành mà quyền này chỉ được thực hiện trong vụ án hành chính.

Cũng giống như trong vụ án hình sự, trường hợp do chưa có đủ tài liệu để xác định các thiệt hại nên Tòa án đã tách phần bồi thường để giải quyết bằng một vụ án dân sự. Nếu khi giải quyết vụ án dân sự, bị cáo đưa ra chứng cứ để cho rằng họ bị kết tội oan nên không có trách nhiệm phải bồi thường thì Tòa án không thể kết luận bản án hình sự là oan để phủ nhận giá trị pháp lý của nó mà cần phải hướng dẫn đương sự kiến nghị việc kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án hình sự và ra quyết định tạm đình chỉ vụ án dân sự, sau khi có sự phán xét bản án hình sự đúng hay sai mới có sở để giải quyết vụ án dân sự.

Do đó, trong khi giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải biết về giới hạn “sân chơi” của mình chứ không thể “đá lấn sân” và phải coi mình là một người giám khảo xem xét đưa ra phán quyết chứ không thể tự đặt mình vào vị thế của một thí sinh để mày mò đi tìm ẩn số.

Theo Pháp luật Việt Nam.