HỢP ĐỒNG BÁN NHÀ: Chứng cứ thể hiện việc xét xử của toà án “có vấn đề”.

Hợp đồng giả cách: không phải một lần mà là nhiều lần.

Về hợp đồng ngày 20/7/2000 với nội dung bà Nguyễn Thị Thanh Tao bán nhà 36 Nguyễn Thị Diệu (NTD) cho ông Lê Hồng Phương với giá 900 lượng vàng JSC, bà Tao, bà Dương Thị Bạch Diệp và luật sư Nguyễn Thị Chinh, Đoàn LS TP.HCM (người được ông Phương thuê làm chứng) đều khẳng định đó là hợp đồng giả cách để bà Diệp vay vàng của ông Phương trả cho bà Tao. Việc khẳng định này là có cơ sở bởi theo điều tra của chúng tôi thì việc ký hợp đồng mua bán “giả cách” nhằm vay vàng giữa bà Diệp và vợ chồng ông Phương (chủ tiệm vàng Ngọc Thanh) diễn ra không chỉ có căn nhà 36 NTD mà còn nhiều căn nhà khác ở TP.HCM. Cụ thể là nhà 39 NTD, 43 Ngô Thời Nhiệm, 24/1 Trương Định, 371D Nguyễn Cảnh Chân, 11B Phùng Khắc Hoan,113 Lí Chính Thắng, 19 NTD và 356 Võ Văn Tần.

LS. Chinh cho biết bà đã được ông Phương thuê xác nhận tất cả bốn lần việc giao dịch giữa bà Diệp và ông Phương, theo đó bà Diệp vay tiền ông Phương để trả tiền mua nhà, nhưng để đảm bảo trong việc vay tiền, ông Phương yêu cầu bà Diệp phải lập một hợp đồng mua bán giả cách giữa ông Phương với chủ nhà với giá thấp hơn rất nhiều so với giá thực mà bà Diệp ký hợp đồng mua bán với chủ nhà, đồng thời giữa ông Phương và bà Diệp cùng ký với nhau một biên bản thoả thuận. Và ông Phương thuê LS. Chinh chứng kiến cho các hợp đồng giả cách và biên bản thoả thuận, cứ mỗi lần xác nhận, ký tên và đóng dấu Văn phòng luật sư thì ông Phương trả cho LS Chinh hai triệu đồng. Giữa ông Phương và bà Diệp đã từng xảy ra tranh chấp căn nhà 24/1 Trương Định do ông Phương đã căn cứ vào hợp đồng giả cách nhằm chiếm đoạt căn nhà này dưới hình thức mua bán. Nhưng khi các cơ quan có thẩm quyền xác định việc ông Phương cho vay chứ thực chất không phải mua bán, từ đó về sau ông Phương không viết giấy cho bà Diệp vay nữa mà chuyển sang lập biên bản thoả thuận.

Về việc ký hợp đồng giả cách bán nhà nhưng thực chất là cho vay, báo PLVN cũng đã thu thập được một tài liệu quan trọng, đó là đơn của bà Nguyễn Thị Thanh, vợ ông Lê Hồng Phương, viết ngày 19/11/1999 gửi Giám đốc thẩm Công an TP.HCM, trong đó có đoạn viết: “Nguyên vào cuối năm 1998, bà Dương Thị Bạch Diệp, có lại nhà tôi đặt quan hệ làm ăn với tôi, phương thức tính toán như sau: Những căn nhà bà Diệp mua tôi sẽ bỏ vốn vào và sau đó bán lời chia đôi. Nhưng để đảm bảo đồng vốn khi tôi bỏ ra, từng căn nhà tôi đều đi xem xét, thấy có lời và người bán phải ký giấy tờ bán cho tôi. Để đảm bảo tính khách quan, tôi và bà Diệp đã thống nhất như sau: Những căn nhà nào sau khi bỏ vốn và bán ra lời bao nhiêu, bà Diệp lấy, tôi chỉ lấy lời 3%/tháng trên số tiền tôi đã bỏ ra…”. Với tài liệu này, có cơ sở để khẳng định việc lập hợp đồng giả cách đã diễn ra nhiều lần và hợp đồng ngày 27/8/2000 thực chất là hợp đồng giả cách. Đây là một chứng cứ quan trọng cho thấy vụ án nhà 36 NTD đã được cấp sơ thẩm và phúc thẩm xét xử không khách quan.

Lỗi hỗn hợp, sao bắt bà Tao gánh chịu?

Khi xét xử vụ án biệt thự 36 NTD, toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định các hợp đồng mua bán nhà giữa bà Tao với bà Diệp; giữa ông Phương với bà Tao là vô hiệu và huỷ bỏ các hợp đồng đó là đúng pháp luật vì các hợp đồng này là trái luật (được ký kết khi nhà 36NTD đang thuộc sở hữu nhà nước). Vì thế bản thoả thuận giữa bà Diệp và ông Phương được hình thành trên hợp đồng mua bán nhà vô hiệu nên nó cũng vô hiệu và Toà tuyên huỷ là đúng pháp luật. Khi các hợp đồng xác định có các giao dịch là trái pháp luật (vô hiệu) thì không phát sinh trách nhiệm dân sự, mọi giao dịch trở về trạng thái ban đầu. Nhà 36NTD phải trả lại cho bà Tao; vàng của ông Phương được trả lại cho ông Phương; tiền, vàng của bà Diệp được trả cho bà Diệp. Các thoả thuận trong quan hệ vay lãi do các bên tự giải quyết nếu không thành thì khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.

Cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc bà Tao phải bồi thường thiệt hại cho ông Phưong 2.563,53 lượng vàng JSC do chênh lệch giá nhà của thời điểm ông Phương giao cho bà Tao 800 lượng vàng = 89% giá trị nhà 36 NTD tại thời điểm xét xử là thiếu khách quan, không có căn cứ vì: Hợp đồng mua bán nhà vô hiệu là lỗi chung của các bên vì các bên đều biết nhà 36NTD tại thời điểm ký các hợp đồng mua bán đang là nhà thuộc SHNN, đang xin hoá giá nhà. Bà Tao không phải là người lập ra các hợp đồng “giả”; không tự phá các giao kết với các bên mà do lỗi hỗn hợp của nhiều người trong đó có lỗi của bà Diệp và ông Phương. Cả cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều không định giá nhà 36NTD tại thời điểm bà Tao nhận 800 lượng vàng của ông Phương làm cơ sở xác định giá trị thực tế xét bồi thường thiệt hại mà thừa nhận giá nhà 36NTD từ hợp đồng ngày 20/7/2000 vừa vô hiệu vừa “giả” để làm căn cứ buộc tội bà Tao phải bồi thường thiệt hại cho ông Phương 2.563,53 lượng vàng JSC là không có căn cứ. Mặt khác giá của hội đồng định giá phục vụ xét bồi hoàn là 3.780,37 lượng vàng nhưng giá bán đấu giá thực tế có 3.505 lượng vàng (em cột chèo của ông Phương mua trúng đấu giá), chênh 275 lượng vàng x 89% = 245 lượng bà Tao phải chịu bồi thường oan.

Thưa với bạn đọc rằng: Từ trước đến nay, chưa có một vụ án dân sự nào lại có đến hàng chục bài báo, hàng loạt phóng sự điều tra phát trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV) để cập đến những điều quá bất bình thường qua hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm như vụ án nhà 36 NTD. Quốc hội đang họp, và một lần nữa vấn đề xét xử oan sai, thực trạng đơn thư khiếu nại giám đốc thẩm bức xúc khiến các đại biểu Quốc hội phải lên tiếng tại nghị trường rằng “việc xét xử của toà án có vấn đề”. Vụ án này nếu không được làm sáng tỏ, chứng tỏ chức năng giám sát của Quốc hội chưa hiệu quả. Đó là điều mà cử tri không hề mong đợi.

Theo Báo Pháp luật Việt Nam

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

HỢP ĐỒNG GIAO KẾT BẰNG ĐÔ LA CÓ THỂ BỊ XÁC ĐỊNH LÀ VÔ HIỆU

NGUYỄN XUÂN ĐANG – Phòng Quản lý vốn liên doanh – cổ phần – Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Trong thực tế có rất nhiều hợp đồng kinh tế, dân sự, thương mại thỏa thuận giao dịch và thanh toán bằng ngoại tệ giữa các công ty, cá nhân với nhau được ký kết. Trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên có tranh chấp và yêu cầu tòa án can thiệp thì hậu quả pháp lý của hợp đồng khi vi phạm quy định về tiền tệ được các tòa án Việt Nam giải quyết như thế nào?

Chúng ta sẽ xem xét cụ thể vấn đề này qua hai thực tiễn pháp lý sau.

Vụ việc thứ nhất – Đòi nợ ngoại tệ

Vợ chồng ông Huỳnh Thanh Phương và bà Nguyễn Thị Tâm có giao kết hợp đồng vay bà Nguyễn Sen Lee 5.000 đô la, mới trả được 17.300.000 đồng tiền lãi. Trong quá trình thực hiện hợp đồng tranh chấp phát sinh và đưa ra giải quyết xử tại tòa án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/DSST ngày 8-4-1999 Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh Kiên Giang đã buộc vợ chồng ông Phương phải trả bà Lee 52.225.000 đồng (cụ thể 5.000 đô la quy đổi bằng 69.525.000 đồng, trừ 17.300.000 đồng tiền lãi đã trả, còn lại 52.225.000 đồng).TY

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 331/DSPT ngày 29-11-2000, Tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC) tại TPHCM đã quyết định: Hủy hợp đồng vay tài sản bằng ngoại tệ giữa bà Nguyễn Sen Lee với ông Huỳnh Thanh Phương và bà Nguyễn Thị Tâm, vì hợp đồng này bị vô hiệu do vi phạm điều cấm.

Tại Quyết định 25/2003/HĐTP-DS ngày 25-8-2003 của Hội đồng Thẩm phán (HĐTP) TANDTC xác định giao dịch giữa hai bên thuộc quan hệ cho mượn ngoại tệ. Giao dịch cho vay ngoại tệ giữa hai bên vi phạm quy định pháp luật về quản lý ngoại hối do đó giao dịch nói trên vô hiệu.

Kết luận cuối cùng của các tòa án: Hợp đồng vay tài sản bằng ngoại tệ sẽ bị tuyên vô hiệu.

Vụ việc thứ hai – Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thanh toán bằng ngoại tệ

Ngày 30-11-1998, Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao ký hợp đồng kinh tế số 27/98/HĐKT – LAB bán cho bà Đoàn Thị Huế một hệ thống tráng rọi ảnh màu điện tử Konica Nice Print System Model 878-SQA, đồng bộ mới 100% với giá 88.000 đô la Mỹ. Nhưng với phương thức thanh toán thỏa thuận trong hợp đồng là: Hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển TPHCM hoặc bằng đồng Việt Nam quy ngang đô la Mỹ tại văn phòng Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao ở 74 Nguyễn Văn Trỗi theo tỷ giá bán của ngân hàng vào ngày thanh toán. Thực tế phiếu xuất kho máy cho bà Huế và các phiếu thu tiền của bà Huế đều thể hiện thanh toán bằng đồng Việt Nam.

Năm 2000, hai bên có tranh chấp và yêu cầu tòa án can thiệp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 617/DSST ngày 24-4-2000, TAND TPHCM quyết định: Chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao, buộc bà Huế phải thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao số tiền nợ đến hạn phải trả tổng cộng 20.879,13 đô la ngay khi án có hiệu lực pháp luật theo tỷ giá ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm thanh toán.

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 392/DSPT ngày 27-12-2000, Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TPHCM quyết định sửa án sơ thẩm tuyên xử:Tuyên bố hợp đồng kinh tế số 27/98 ngày 30-11-1998 được ký giữa Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao do bà Thái Thị Cúc Lan làm giám đốc đại diện với bà Đoàn Thị Huế là hợp đồng vô hiệu. Buộc các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Tại Quyết định 26/2003/HĐTP-DS ngày 25-8-2003 của HĐTP TANDTC xác định: Quyết định số 13/UBTP-DS ngày 9-9-2002 của Ủy ban Thẩm phán TANDTC buộc bà Huế thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại Ngôi Sao số tiền mua máy còn thiếu là 760.389.120 đồng và số tiền lãi là 109.553.062 đồng, tổng cộng là 869.942.182 đồng là có căn cứ.

Quan điểm của tòa án là trong hợp đồng giữa hai bên thỏa thuận giao bằng đô la Mỹ, nhưng có thỏa thuận phương thức thanh toán bằng đồng Việt Nam quy ngang đô la Mỹ nên không bị coi là vô hiệu.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, hợp đồng kinh tế, thương mại, dân sự vi phạm quy định về tiền tệ bị coi là vô hiệu. Hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường (điều 128, 137 Bộ luật Dân sự 2005).

Nhưng trên thực tiễn pháp lý, quan điểm của tòa án Việt Nam là tương đối linh hoạt và hợp lý: các hợp đồng mà các bên thỏa thuận giao dịch và thanh toán đồng thời bằng ngoại tệ sẽ bị coi là vô hiệu còn hợp đồng giữa các bên thỏa thuận giao dịch bằng ngoại tệ, nhưng có thỏa thuận phương thức thanh toán bằng đồng Việt Nam quy ngang ngoại tệ thì không bị coi là vô hiệu.

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG DÂN SỰ

1. Hiện tượng nội dung hợp đồng sơ sài

Ví dụ thứ nhất, bố mẹ bà Mậu và bà Tuất cho mỗi bà một thửa đất vườn, nằm sát nhau tại xóm 5, thôn HT, xã XP, huyện TL, thành phố HN. Khi cho, bố mẹ không nói rõ diện tích, nên bà Mậu nghĩ số đất của mỗi người được cho là 10 thước (240 m2). Do không có mặt ở địa phương, bà Tuất giao bà Mậu quản lý, sử dụng đất của mình. Năm 1992, Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện TL cấp giấy chứng nhận cho bà Mậu được sử dụng 190 m2, bà Tuất được sử dụng 190 m2 nhưng đến năm 1994, chính quyền mới giao giấy chứng nhận cho bà Mậu. Ngày 14/1/1993, anh Hiển được bà Mậu uỷ quyền đứng ra làm giấy mua bán đất với anh Chiến. Continue reading

BỒI THƯỜNG OAN SAI: IM LẶNG VÀ NÉ TRÁNH

Bị oan và để được giải oan là cả đoạn trường, đôi khi họ chưa kịp nhìn thấy công lý thì đã “đoàn tụ” với ông bà. Thế nhưng, khi được giải oan rồi, đoạn trường yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại cũng gian truân không kém…

“Trái bóng trách nhiệm” được đá qua đá lại rồi chỉ lui, chỉ tới và… tất cả cùng im lặng hoặc né tránh. Trong khi đó, thân phận của những người đã từng bị chính họ hoặc cơ quan của họ gây ra oan trái thì không được đoái hoài đến.

Im lặng để… giải thích

Đầu năm 2001, bà Đào Thị Cúc, trú tại huyện Ô Môn (nay là quận Ô Môn, TP Cần Thơ), phát hiện con gái Đào Hải N (14 tuổi – bị câm bẩm sinh) có dấu hiệu bất thường nên chở con đến Trung tâm y tế Ô Môn khám thì phát hiện N có thai hơn 4 tháng. Gạn hỏi, N ra dấu cho biết đã bị người hàng xóm là Trần Xuân Mộc hiếp dâm. Bà Cúc làm đơn tố giác gửi công an huyện Ô Môn yêu cầu làm rõ hành vi của ông Mộc.

Thế nhưng, cơ quan điều tra Cần Thơ lại khởi tố và bắt tạm giam ông Mai Than (là anh rể của bà Cúc) với lý do đã có hành vi hiếp dâm N (?!) Năm tháng sau, N sinh ra một bé gái. Cơ quan điều tra tiến hành giám định ADN, kết quả giám định đi ngược lại những gì cơ quan điều tra đã làm, đứa trẻ sinh ra không có gì liên quan đến ông Mai Than.

Tuy nhiên cơ quan điều tra Cần Thơ vẫn một mực cho rằng, dù đứa trẻ không phải là con ông Mai Than nhưng vẫn có cơ sở để xác định ông có hành vi hiếp dâm N, đó là lời khai một vài nhân chứng!? Sau đó, TAND tỉnh Cần Thơ (nay là TP Cần Thơ) đã tuyên phạt ông Mai Than 20 năm tù tội “Hiếp dâm trẻ em”.

Vụ án bị kháng cáo và sau đó Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM, sau đó xử phúc thẩm đã tuyên hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ điều tra lại do chứng cứ có nhiều mâu thuẫn, lời khai nhân chứng bất nhất, không đáng tin cậy.

Sau thời gian dài điều tra lại, Công an Cần Thơ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị truy tố ông Mai Than với tội danh như trước đây và VKSND Cần Thơ ra bản cáo trạng với nội dung giống y nội dung của bản cáo trạng trước. Sau khi thụ lý lại vụ án, TAND TP Cần Thơ 4 lần ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng VKS, CQĐT vẫn không đáp ứng những vấn đề tòa yêu cầu.

Ngày 29/7/2005, TAND TP Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử và tuyên ông Mai Than không phạm tội “Hiếp dâm trẻ em”. Sau đó, ngày 24/10/2005, Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM cũng đã y án sơ thẩm tuyên bố ông Mai Than không phạm tội “hiếp dâm trẻ em”.

Từ ngày được tuyên vô tội, ông Mai Than gửi đơn đến VKSND TP Cần Thơ và Công an Cần Thơ yêu cầu bồi thường thiệt hại do bị khởi tố, truy tố oan theo Nghị quyết 388. Thế nhưng từ đó đến nay, cả hai cơ quan này đều không có một lời phúc đáp và cứ hành xử theo kiểu “im lặng là… vàng”!!!

HA 930383 g�i đến 996 để nh�n ảnh này

Ông Đặng Tấn Hinh.

Không chỉ im lặng né trách nhiệm, “trái bóng trách nhiệm” giải quyết oan sai còn bị các cơ quan tố tụng “đá qua, đá lại” hòng phủi tay chối bỏ trách nhiệm. Cách đây 22 năm (1984), ông Đặng Tấn Hinh (lúc đó là đội trưởng đội khai thác lâm sản số 2, thuộc Ty lâm nghiệp tỉnh Đồng Nai) bị Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đồng Nai bắt giam với lý do “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN”.

Sau hơn 3 tháng bị tạm giam, ông được Giám đốc công an tỉnh ký quyết định tạm tha, rồi bỏ quên luôn vụ việc cho đến cuối năm 2005. Trong suốt thời gian đó, ông chờ hoài không thấy công an giải quyết, đi đến các cơ quan chức năng để hỏi thì được trả lời… đang giải quyết. Mãi đến giữa năm 2005, khi Ban dân nguyện của Quốc hội vào cuộc, Công an tỉnh Đồng Nai mới lục lại hồ sơ để xem lại vụ việc của ông Hinh.

Nhưng rồi, để đối phó và né bồi thường cho người bị oan, Công an tỉnh Đồng Nai lại ra quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Hinh với lý do “Do chuyển biến tình hình, hành vi của ông Hinh không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Không đồng ý với quyết định này, ông làm đơn khiếu nại đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại với số tiền hơn 7 tỷ đồng gửi Công an tỉnh Đồng Nai. Công an tỉnh chỉ ông qua VKS tỉnh để được giải quyết. Ông sang Viện thì được nơi này trả lời rằng trách nhiệm của công an vì việc bắt ông tạm giam là do công an làm, theo nghị quyết 388 không phải trách nhiệm của Viện. Chạy tới chạy lui, mãi đến bây giờ cái đơn đòi bồi thường của ông vẫn nằm im, chưa được ai giải quyết.

Né trách nhiệm

HA 930401 g�i đến 996 để nh�n ảnh này

Bà Phạm Thị Út được tự do sau hơn 12 năm bị hàm oan.

Năm 1996, Đào Trần Thành, nguyên Giám đốc Công ty TNHH Hoàng Thành bị cơ quan điều tra công an TP.HCM khởi tố bắt giam do nghi ngờ có hành vi “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”. Sau 4 năm bị khởi tố bắt giam, vụ án mới được đưa ra xét xử và tuyên phạt ông Thành 5 năm tù về tội danh này, mặc dù trong suốt quá trình từ khởi tố đến xét xử ông một mực kêu oan.

Sau khi thụ án xong, ông Thành trở về và tiếp tục gửi đơn kêu oan đến VKSND Tối cao, TAND Tối cao. Ngày 24/12/2002, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã xử Giám đốc thẩm, xác định không đủ cơ sở kết tội ông Thành “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” như bản án của các cấp tòa đã tuyên. Vụ án sau đó được đưa về điều tra xét xử lại.

Sau 5 năm, với rất nhiều lần trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng vẫn không chứng minh được hành vi của ông Thành có tội. Cuối cùng ngày 7/8/2006, Công an TP.HCM đã ra quyết định đình chỉ điều tra với lý do “do chuyển biến tình hình, hành vi của bị can Thành không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Với nội dung của quyết định này thì theo Nghị quyết 388, cơ quan công an không phải bồi thường. Nhưng ngặt nỗi, cái án 5 năm tù kia ông Thành đã chấp hành xong và Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao đã xác định không có cơ sở buộc tội thì lập luận cho rằng “do chuyển biến tình hình…” của Công an TP.HCM có thuyết phục?

Cũng cùng hoàn cảnh như thế, nhưng trường hợp của bà Phan Thị Kim Dung (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương) còn “oái ăm” hơn. Nghi ngờ bà Dung chứa mại dâm, tối ngày 28/3/2003, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương khởi tố, bắt khẩn cấp bà Dung về hai tội “Chứa mại dâm” và “Trốn thuế”.

Thế nhưng trong suốt thời gian dài sau đó, VKSND tỉnh Bình Dương không thể ra cáo trạng truy tố bà Dung vì không đủ chứng cứ. Ngày 23/5/2006, VKSND tỉnh Bình Dương lại thay tòa tuyên án bằng quyết định đình chỉ điều tra với lý do “thời gian tạm giam đã đủ giáo dục cải tạo…”! Bà Dung đã phản ứng quyết liệt cái lý do đình chỉ này “không giống ai” của VKS Bình Dương và gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương nhờ can thiệp. Thế nhưng, vụ việc đến nay vẫn chưa có chuyển biến gì!

Với những kiểu đình chỉ này, không hiểu những người trực tiếp (hoặc gián tiếp) gây oan cho người dân nghĩ gì khi họ đặt bút ký những dòng chữ như thế? Phải chăng vì sợ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị oan nên né mà không nghĩ đến thân phận của những người đã từng bị chính họ hoặc cơ quan của họ gây ra oan trái.

Theo Vietnamnet

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

VỀ QUYỀN NHÂN THÂN ĐỐI VỚI HÌNH ẢNH

Muốn sử dụng phải được chủ đồng ý

Hình ảnh của cá nhân thuộc lĩnh vực riêng tư của mỗi người. Tuy nó không có gì bí mật, cần phải hạn chế sử dụng nhưng một khi muốn sử dụng những hình ảnh của cá nhân ai đó, nhất là sử dụng khai thác vào mục đích kinh doanh (như in lịch, in bìa sách, bao bì mẫu quảng cáo…) thì đều phải hỏi ý kiến “người chủ” hình ảnh đó (người thật có hình đó). Bởi về nguyên tắc, mọi cá nhân đều có quyền đối với hình ảnh của mình. Mỗi người đều có quyền cho hay không cho người khác sử dụng hình ảnh của mình. Nếu chưa được sự đồng ý mà sử dụng đã là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh.

Trường hợp người trong ảnh đã chết hoặc mất trí, không chủ động quyết định được hoặc đối với hình ảnh của trẻ dưới 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của người thân (cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên) hoặc người đại diện của họ đồng ý.

Khái niệm “hình ảnh của cá nhân” nói trên đây bao gồm mọi hình thức tác phẩm nghệ thuật ghi lại hình dáng của con người cụ thể như ảnh chụp, ảnh vẽ, ảnh hoạ chép và suy luận rộng ra có thể cả bức tượng của cá nhân đó nữa.

Đứng về mặt “quyền sở hữu trí tuệ” thì bức ảnh, tấm hình, pho tượng đều là loại hình tác phẩm nghệ thuật, người sử dụng tác phẩm trước hết phải xin phép người chủ bản quyền (chủ sở hữu quyền tác giả) và trả cho họ một khoản lợi ích vật chất, đồng thời phải trả thù lao, nhuận bút cho người sáng tác (người chụp ảnh, sao chép, hoạ hình…). Nhưng đứng về mặt “quyền nhân thân của con người”, ai muốn sử dụng hình ảnh của cá nhân đều phải được sự đồng ý của người có hình ảnh đó.

Mức bồi thường: Tuỳ toà xử

Theo luật, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới bị coi là vi phạm quyền nhân thân, mà kể cả trường hợp không có thiệt hại, thậm chí còn làm lợi cho người có hình ảnh đó, cũng bị coi là vi phạm quyền nhân thân của cá nhân dối với hình ảnh nếu sử dụng hình ảnh của họ mà không có sự đồng ý của họ.

Còn làm sao để được sự đồng ý thì hiện nay luật chưa “đả động” đến. Điều 31 Bộ Luật Dân sự nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó. Có việc này xảy ra tất nhiên phải bồi thường thiệt hại về tinh thần. Nhưng trường hợp không gây ra thiệt hại thì sao? Trong thực tế lâu nay việc sử dụng “ảnh chùa” đã trở thành thói quen của mọi người. Cùng lắm người nào “biết điều” cũng chỉ hỏi ý kiến của người sáng tác (chụp, vẽ ảnh) chứ ít khi chịu tìm đến hỏi ý kiến của “nhân vật trong ảnh”. Bởi người ta vẫn thường đinh ninh rằng người có hình ảnh được sử dụng để “lăng – xê” mình trước xã hội đã là… “khoái” lắm rồi, cần gì phải hỏi ý kiến! Nhưng một khi chuyện dĩ lỡ rồi, người có hình ảnh đó lại tìm cách làm khó dễ, việc xin lỗi không thôi chưa đủ! Tuỳ theo giá trị sử dụng hình ảnh trong việc kinh doanh mà người có hình ảnh đòi phải thanh toán bằng một khoản tiền vài triệu đồng, có khi vài chục triệu và vừa rồi có vụ yêu cầu của phía chủ ảnh lên đến hàng trăm triệu đồng.

Thử đặt câu hỏi: Người sáng tác chụp ảnh đạt yêu cầu chỉ được trả thù lao cùng lắm vài trăm ngàn hay vài triệu đồng mà nhân vật trong ảnh lại ra giá tới hàng trăm triệu đồng thì có quá đáng không? Dù sao một khi không có luật định thì mạnh ai nấy đòi, đòi cho bằng thích, đến khi vụ việc phải kéo nhau đến toà án thì toà cũng chỉ theo thông lệ là… “việc dân sự muốn xử sao cũng được”!

Lại thử đặt câu hỏi trong tình hình hiện nay nếu áp dụng gắt việc này thì mỗi ngày toà phải xử bao nhiêu vụ người trong ảnh kiện báo chí và mỗi ngày báo chí phải tốn bao nhiêu tiền để bù cho cái thông lệ sử dụng ảnh mà chưa được sự đồng ý của người ta.

Một số vụ xài ảnh bị kiện

  • Tháng 1-2003, cô Phan Thị Như Quỳnh gửi đơn khiếu nại Tổng cục Du lịch Việt Nam và tác giả Vũ Quốc Khánh vì sử dụng bức ảnh “Nụ cười Việt Nam” có ảnh của cô mà không xin phép. Bức ảnh này được nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Quốc Khánh chụp năm 1994, đến năm 2000 được Tổng cục Du lịch Việt Nam chọn làm biểu tượng “Việt Nam! Điểm đến của thiên niên kỷ mới!”
  • Đầu năm 2004, gia đình bé Minh Khôi kiện Công ty Biti’s, đòi bồi thường thiệt hại 154 triệu đồng vì Biti’s xài trái phép ảnh của bé Minh Khôi in trên bìa lịch, tập quảng cáo. Tháng 9-2004, TAND quận 6 (TP.HCM) buộc Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Khôi, chấm dứt vô điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường gần ba triệu đồng.
  • Tháng 2-2004, Công ty Điện toán và Truyền số liệu VDC (Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam) xài không xin phép ảnh “Hai bà cháu” trên thẻ gọi điện thoại 1717. Đây là bức ảnh được nghệ sĩ Mạnh Đan chụp năm 1982. Sau đó, VDC phối hợp với đơn vị thiết kế mẫu đến, gặp gia đình thân nhân người được chụp ảnh để nhận lỗi, thoả thuận bồi thường…
  • Tháng 12-2004, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Văn Trí phát hiện bức ảnh in trên tờ vé số An Giang chính là tấm ảnh có tên “Hoa sen” mà ông chụp ở Đồng Tháp Mười. Ông Trí đã hỏi Công ty Xổ số kiến thiết An Giang và Công ty cổ phần In An Giang, được các nơi này cho biết lấy bông sen trên đĩa vi tính, không đề tên tác giả nên không biết và “mong tác giả thông cảm”!
  • Tháng 4-2006, luật sư Phạm Thành Long khiếu nại sân bay Tân Sơn Nhất dùng bức ảnh “Áo dài” của ông làm pano ở đường vào sân bay. Bức ảnh này được ông chụp nhân ngày khai giảng tại cổng trường Trần Phú (Hà Nội), sau đó được công bố lần đầu vào ngày 6-9-2004 trên mạng. Ông đã đăng ký bảo hộ quyền tác giả đối với bức ảnh tại Cục Bản quyền (Bộ Văn hoá – Thông tin). Trước đó, bức ảnh từng bị … “xài chùa” 14 lần khiến ông phải khiếu nại nhiều tờ báo và doanh nghiệp. Kết quả, một doanh nghiệp của Nhật đã phải bồi thường…

Theo Pháp luật TP.Hồ Chí Minh

NGUỒN: http://vietnamese-law-consultancy.com

ÁN “BỎ TÚI”: CÒN HAY KHÔNG?

KHẢI HÀ – THANH TÙNG

Nhiều Toà án đã cố tình nhập nhằng giữ chuyện báo án, trao đổi án trong nội bộ toà với duyệt trước kết qua nên án “bỏ túi” vẫn xảy ra…

Về chuyện này, không ít đại biểu Quốc hội đã lên tiếng chất vấn tại kỳ họp Quốc hội mới đây. Theo họ, “án bỏ túi” còn xảy ra khiến người dân phải đặt câu hỏi về sự công tâm trong hoạt động xét xử của ngành toà án…

Ra toà cho có lệ

Vụ án có dấu hiệu cho thấy kết quả được “duyệt” trước khi xử gần đây nhất vừa được Pháp Luật TP.HCM phản ánh. Số là trong một vụ tranh chấp, dù đã bị TAND tối cao huỷ án vì xử sai luật nhưng TAND huyện Cái Bè (Tiền Giang) vẫn xử lại như cũ. Sau đó, thẩm phán chủ toạ phiên toà thú thật với đương sự là phải xử như vậy vì “áp lực của lãnh đạo toà”, xử xong về “ngủ không được”, chỉ mong bản án của mình sẽ… bị huỷ để lương tâm đỡ day dứt! Thẩm phán này cũng phân tích những… điểm sai trong bản án này để đương sự kháng cáo.

Thật ra hiện nay, chuyện án “bỏ túi” không hiếm nhưng để “bắt tận tay, day tận mặt” thì không dễ bởi ít toà nào lại dại dột “vạch áo cho người xem lưng” như trên. Nếu có xảy ra thì nó cũng thể hiện ở nhiều hình thức và phiên xử cũng sẽ được điều khiển một cách khéo léo để “hợp thức hoá” bản án “bỏ túi”.

Theo một thẩm phán TAND tỉnh B, lãnh đạo của ông quy định những vụ đơn giản thì thôi, còn những vụ phức tạp, nhất là tranh chấp đất đai là phải trình lên lãnh đạo “xem xét”. Nhiều vụ qua trao đổi, ông đánh giá vụ việc giải quyết theo hướng A nhưng lãnh đạo lại cho rằng phải giải quyết theo hướng B! Thế là dù ấm ức ông vẫn phải giải quyết án theo ý lãnh đạo đã “vạch” ra!.

Còn một luật sư kể: ông bảo vệ nguyên đơn trong một vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà tại tỉnh L. Ở phiên sơ thẩm, ông đưa chứng cứ chứng minh bị đơn vi phạm hợp đồng nhưng toà không hề đá động tới và tuyên bị đơn thắng. Bên lề, thẩm phán chủ toạ bóng gió rằng vụ này “không thể xử khác” vì lãnh đạo “quyết” rồi. Không phục, luật sư bảo nguyên đơn kháng cáo. Kết quả là toà phúc thẩm đã sửa án, cho nguyên đơn thắng vì luật sư xuất trình được “chứng cứ mới” quan trọng. Thật ta thì “chứng cứ mới” ấy chính là chứng cứ mà toà sơ thẩm cố tình không xét!

Nhiều luật sư khác khẳng định dù toà không nói ra thì việc nhận biết “án bỏ túi” cũng không khó. Đó là hội đồng xét xử không quan tâm đến diễn biến tại phiên toà, việc nghị án chỉ là hình thức nên không ít bản án tréo ngoe với biên bản phiên toà, không ăn nhập gì với nhau…

Từ trao đổi án…

Theo Luật Tổ chức TAND, Hội đồng thẩm phán, Uỷ ban thẩm phán, chánh án có trách nhiệm hướng dẫn thẩm phán áp dụng pháp luật cho thống nhất. Trong đó, chánh án là người phân công thẩm phán xét xử nên phải biết nội dung vụ án để chỉ đạo. Việc chỉ đạo này không phải là duyệt án mà là định hướng, hướng dẫn áp dụng pháp luật cho đúng. Quyền quyết định cuối cùng là của hội đồng xét xử. Nếu quyết định sai, hội đồng xét xử phải chịu trách nhiệm về phán quyết của mình.

Đây chính là điều mà Chánh án TAND TP.HCM Bùi Hoàng Danh đã khẳng định. Ông Phạm Thao, Chánh án TAND quận 2 (TP.HCM), cũng cho rằng duyệt án là áp đặt, còn trao đổi án thuộc về nghiệp vụ. Trao đổi án trước khi xử là hợp lí vì chánh án là người phân công thẩm phán mà không biết gì thì làm sao quán xuyến tình hình. Hơn nữa, trong xét xử hình sự, nếu xảy ra oan, chánh án là người chịu trách nhiệm đầu tiên nên họ phải “nắm đằng chuôi”. Mặt khác, có người đặt ra vấn đề: có người phản biện và cùng nhau bàn sâu thì rõ rang các thẩm phán sẽ nhạy hơn trong việc “soi” án để xử.

Đồng tình, bà Ngô Thị Thuận, Chánh án TAND quận 8 (TP.HCM), nói thêm, việc trao đổi án là một hình thức phân trách nhiệm xét xử để thẩm phán có trách nhiệm hơn chứ không phải là lãnh đạo toà không biết thì thẩm phán muốn xử sao cũng được. Sở dĩ phải trao đổi án trước phiên xử là do trình độ của thẩm phán không đồng đều. Vì thế đưa ra bàn bạc trước tập thể có dự giám sát của lãnh đạo là một việc nên làm.

… Nhập nhằng thành duyệt án?

Vấn đề ở đây là trao đổi án đến mức nào là hợp lí để không bị coi là duyệt án. Theo ông Thao, nguyên tắc trao đổi án là chỉ giúp thẩm phán xem xét vụ án ở nhiều góc cạnh, hạn chế sai sót chứ không bắt buộc hội đồng xét xử phải tuân theo. Bà Thuận thì cho biết trao đổi ở đây là trước một vụ việc, thẩm phán còn vướng mắc gì, thiếu kiến thức ở lĩnh vực nào thì báo cáo lãnh đạo để đưa ra hướng giải quyết chứ tuyệt nhiên không vạch ra kết quả sẵn…

Như vậy, ề lí thuyết, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa chuyện trao đổi án và duyệt án. Thông qua trao đổi, lãnh đạo toà có thể định hướng đường lối áp dụng pháp luật cho đúng đắn, còn kết quả phiên xử thế nào thì do hội đồng xét xử quyết định dựa trên diễn biến thực tế tại phiên xử. Tuy nhiên, trên thực tế, một số toà vẫn cố tình đồng nhất giữa hai việc này, kết quả là án “bỏ túi” vãn xuất hiện.

Chẳng hạn trong vụ án ở Tiền Giang nói trên, bà Nguyễn Thị Lạc, Chánh án TAND tỉnh Tiền Giang, nhận xét việc cấp trên “chỉ đạo” xét xử không vi phạm nguyên tắc, không làm mất đi tính độc lập xét xử, điều quan trọng là chỉ đạo có đúng đường lối hay không, nếu không đúng thì nên rút kinh nghiệm (?). Theo bà Lạc, vụ án này chưa gây ra hậu quả gì lớn và nghiêm trọng, chỉ là trường hợp để toà cấp dưới rút kinh nghiệm (?).

Còn Chánh án một quận tại TP.HCM khẳng định được duyệt án trong một số trường hợp đặc biệt. Loại trừ việc thẩm phán vì một động cơ cá nhân nào đó mà dẫn đến xét xử oan, sai.

Liệu việc xử án sai luật theo ý lãnh đạo, làm ảnh hưởng đến quyền lợi thiết thân của đương sự có phải là “chưa gây hậu quả gì lớn”? Liệu trường hợp thẩm phán cố tình xử oan, sai thì lãnh đạo toa được duyệt án trước? Nếu thế, nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng là thẩm phán, hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật còn có ý nghĩa gì?

SOURCE: báo pháp luật TP.HCM ngày 6/4/2007.

TRANH TỤNG KHÔNG CÓ NGHĨA BỎ HẲN XÉT HỎI

ĐỨC MINH

Gần đây, báo chí, đặc biệt là báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh có nhiều bài nhìn lại thực trạng tố tụng sau năm năm cải cách tư pháp, trong đó nêu ra một số vấn đề còn tồn tại trong hoạt động xét xử như tòa dồn ép, buộc tội bị cáo; viện kiểm sát không tranh tụng, chuyện án “bỏ túi”…. Về những vấn đề này, ông Đinh Văn Quế, chánh án Tòa hình sự TAND tối cao, đã dành cho báo một cuộc trao đổi rất thẳng thắn.

– Không ít trường hợp khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa như đã kết luận bị cáo phạm tội.

– Nhiều trường hợp kiểm sát viên không chủ động xét hỏi mà chờ chủ tọa phiên tòa nhắc…

Theo ông Quế, năm năm cải cách tư pháp, phiên tòa hình sự ở tòa án các cấp đã có nhiều tiến bộ, thu được những kết quả nhất định: từng bước bảo đảm được sự tôn nghiêm, dân chủ, văn minh; chất lượng xét xử được nâng cao; hạn chế thấp nhất việc xử oan, sai nghiêm trọng; tạo đà cho việc cải cách toàn diện các cơ quan tư pháp…

Tranh tụng đến đâu ?

Thưa ông, dư luận cho rằng gần đây vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự không được các tòa án quan tâm như trước?

Đúng là trong thời gian qua, các phương tiện thông tin đại chúng it nói đến vấn đề tranh tung tại phiên tòa như thời gian sau khi có Nghị quyết số 8–NQ/TW ngày 2-1-2002 của Bộ Chính trị nhưng không vì thế mà cho rằng tòa án không quan tâm đến vấn đề tranh tụng nữa. Trong các văn bản hướng dẫn, cũng như trong các lớp tập huấn cho các thẩm phán về kỹ năng xét xử, TAND tối cao vẫn thường xuyên nhắc nhở các tòa án phải tiếp tục quán triệt Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự dân chủ; việc phán quyết của tòa phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên xử.

Có người nói vì Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 quy định tòa xét hỏi trước và chịu trách nhiệm xét hỏi trước chính nên tính chất tranh tụng tại phiên tòa không được thể hiện một cách đầy đủ?

Trước đây, khi soạn dự thảo Bộ Luật Tố tụng hình sự 2003, cơ quan chức năng có tính đến chuyện quy đinh Viện Kiểm sát (VKS) hỏi trước, tòa án hỏi bổ xung… nhưng khi đưa ra thảo luận thì không đứng vững được vì như thế sẽ làm thay đổi toàn bộ hệ thống pháp luật của ta.

Theo tôi, tranh tụng tại phiên tòa hình sự chỉ là một trong những hoạt động tố tụng chứ không bao trùm lên toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự. Tranh tụng tại phiên tòa nhưng vẫn giữ được bản chất của “tố tụng xét hỏi” trên cơ sở kết quả điều tra và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Mặc dù không phải là “tố tụng tranh tụng” nhưng tính chất tranh tụng tại phiên tòa vẫn là sự tranh luận giữa người có quyền và lợi ích đối lập nhau như giữa kiểm sát viên, người bị hại với bị cáo, người bào chữa; trong một số trường hợp là giữa kiểm sát viên với người bị hại; giữa người tham gia tố tụng với nhau. HĐXX không phải là người tham gia tranh tụng mà chỉ là người có tổ chức, điều khiển việc tranh tụng tại phiên tòa giữa những người có quyền và lợi ích đối lập nhau. Do đó, vai trò của HĐXX mà trực tiếp là chủ tọa phiên tòa trong việc tranh tụng như thế nào để đạt được mục đích là vô cùng quan trọng.

Luật có mâu thuẫn?

Cũng có người nói là Nghị quyết 08 đề cao “tố tụng tranh tụng” nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự lại chưa thể chế hóa được yêu cầu này khi vẫn quy định về “tố tụng xét hỏi”. Như vậy có mâu thuẫn? Có cần phải sửa luật để phiên tòa thật sự có tính tranh tụng?

Giữa Nghị quyết 08 và Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không có gì mâu thuẫn cả. Tố tụng của chúng ta là “tố tụng xét hỏi”, còn tinh thần tranh tụng theo Nghi quyết 08 là bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, bào chữa, những người tham gia tố tụng chứ đây không phải là “tố tụng tranh tụng” như ở một số nước khác theo pháp luật án lệ.

Trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ Tư pháp đã có cả một đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ cho rằng tố tụng của ta muốn hòa nhập giữa “tố tụng tranh tụng” với tố tụng xét hỏi”, giữa luật thành văn với án lệ. Một số nhà khoa học đặt vấn đề Viêt Nam cũng muốn theo “tố tụng tranh tụng” như một số nước trên thế giới, trong khi hệ thống pháp luật của ta là luật thành văn. Đây là vấn đề mới, khi đưa ra thảo luận trước Quốc hội, do còn nhiều ý kiến khác nhau, không thông qua nên Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 vẫn theo hướng “tố tụng xét hỏi”.

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 có cần sửa đổi không? Luật pháp bao giờ cũng đi sau cuộc sống nên có những luật vừa ban hành đã phải sửa đổi. Nghị quyết 49 cũng phải sửa đổi bộ luật này cho phù hợp với hội nhập. Nhưng sửa như thế nào thì các cơ quan chức năng phải xem xét: “Tố tụng tranh tụng” và “tố tụng xét hỏi” có sửa hay không thì cũng phải xem xét và đi từng bước căn cứ vào thực tiễn.

Nhiều tòa vẫn kết tội trước?

Nhưng thưa ông, thực tế vẫn có không ít thẩm phán thay vì phải làm nhiệm vụ như ông nói cũng vội về “phe” kiểm sát viên kết tội bị cáo?

Tôi cho rằng nhìn chung, ở rất nhiều phiên tòa, HĐXX mà trước hết là chủ tọa phiên tòa đã thể hiện được vai trò điều khiển việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, đồng thời xử lý kịp thời, đúng pháp luật các tình huống xảy ra tại phiên tòa. Những ý kiến khác nhau được HĐXX tôn trọng và dành thời gian thỏa đáng để cho các bên tranh luận phát biểu ý kiến của họ nhằm tìm ra sự thật….

Tuy nhiên, tại một số phiên tòa, việc xét hỏi chưa tập trung vào những vấn đề mâu thuẫn, còn có ý kiến khác nhau. Cũng có trường hợp khi xét hỏi, thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã kết luận bị cáo phạm tội. Hay khi xét hỏi, những người tham gia xét hỏi không tập trung theo dõi, nhiều câu hỏi và bị cáo hoặc người tham gia tố tụng đã trả lời nhưng kiểm sát viên và luật sư vẫn hỏi lại…

Và vẫn còn tình trạng kiểm sát viên không tranh luận mà chỉ nói “giữ nguyên quan điểm đã truy tố” Ông nghĩ sao về thực tế này?

Đại diện VKS giữ nguyên công tố tại phiên tòa phải bảo vệ cáo trạng của VKS truy tố bị cáo tại phiên tòa; chứng minh mọi luận điểm trong cáo trạng bằng việc chủ động xét hỏi thẩm vấn, đưa ra những chứng có trực tiếp và chững cớ gián tiếp để chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ đầy đủ chi tiết từng sự việc của vụ án. Nhưng còn có phiên tòa kiểm sát viên không chủ động xét hỏi mà chờ chủ tọa phiên tòa nhắc mới hỏi và cũng chỉ hỏi có tính chất bổ xung, còn việc hỏi để chứng minh tội phạm và làm sáng tỏ đầy đủ các tình tiết của vụ án vẫn do chủ tọa phiên tòa thực hiện.

Phần tranh luận, một số kiểm sát viên không đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến mà luật sư và những người tham gia tố tụng nêu ra làm cho việc tranh tụng bị hạn chế.

HĐXX không được áp đặt, “mớm cung”?

Vậy theo ông, để phiên tòa đảm bảo được yêu cầu tranh tụng theo Nghị quyết 08 trong “tố tụng xét hỏi” hiện nay thì ngành tòa án cần phải làm gì?

Tôi cho rằng trong từng giai đoạn xét xử có những yêu cầu cụ thể đối với từng thành viên của HĐXX mà đặc biệt là vai trò của chủ tọa phiên tòa.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử, HĐXX cần trao đổi với kiểm sát viên tham giam phiên tòa về kế hoạch xét hỏi (đề cương thẩm vấn); cần có sự phân công là HĐXX hỏi những nội dung gì. Việc thống nhất về phương pháp xét hỏi này hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của HĐXX.

Giai đoạn tranh luận tại phiên tòa, để việc tranh luận diễn ra được dân chủ, khách quan, HĐXX phải chú ý lắng nghe, tôn trọng ý kiến của kiểm sát viên, luật sư và những người tham gia tố tụng, tránh định kiến sẵn, đặc biệt phải chú ý lắng nghe ý kiến của luật sư, của bị cáo nếu khác với lời luận tội của viện kiểm sát….

Trong cả giai đoạn xét hỏi cũng như tranh luận, HĐXX không được có những lời lẽ khẳng định hay phủ định bất cứ vấn đề nào mà kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nêu ra, cũng không được đánh giá, nhận xét đúng sai. Nếu cần phải giải thích cho người tham gia tố tụng thì chỉ giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng, tuyệt đối không được giải thích các quy định của BLHS…

Xin cảm ơn ông.

Ý kiến luật sư thường bị “bỏ qua”?

Giới luật sư than phiền rằng ý kiến của họ thường bị HĐXX “bỏ qua”. Điều này thể hiện rõ nhất ở việc có những tình tiết quan trọng luật sư đưa ra để tranh luận gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền cho đương sự nhưng không được lập luận trong bản án. Đây cũng là lý do khiến dư luận nghi ngờ về sự tồn tại của “án bỏ túi”?

Thực tế đúng là có trường hơp HĐXX kết luận trước về lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác khiến cho bị cáo và nhưng người tham dự phiên tòa cho rằng bản án được viết sẵn (án bỏ túi). Hay một số bản án của tòa còn thiếu sức thuyết phục, nhất là trong phần nhận định phải xử phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo những phần quyết định lại cho bị cáo hưởng án treo. Mặt khác, có nhưng tình tiết quan trọng luật sư đưa ra để tranh luận nhằm gỡ tội cho bị cáo hoặc bảo vệ quyền lợi của đương sự nhưng không được lập luận trong bản án….

SOURCE: báo Pháp Luật TP.HCM

BÁO ÁN, TRAO ĐỔI ÁN: LÀM SAO ĐỂ TRỌN VẸN ĐÔI ĐƯỜNG

PHAN GIA HY

Nhiều chánh án đang “đau đầu” bởi thấy thẩm phán làm sai, không can thiệp không được nhưng nhúng tay vào thì lại vi phạm nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật…

Vẫn phải quản?

Cách đây không lâu, liên tục trên nhiều số báo, chúng tôi đã đăng bài phản ánh các vấn đề liên quan đến việc báo án, duyệt án, trao đổi án, án “bỏ túi”… Nhiều ý kiến cho rằng phải “khai tử” kiểu án bỏ túi, tăng cường tính độc lập xét xử của thẩm phán để cho ra một bản án đúng pháp luật.

Về chuyện này, Chánh án TAND tối cao đã ra chỉ thị nghiêm cấm việc duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân của người đứng đầu làm cho việc độc lập xét xử của thẩm phán bị xâm phạm. Tuy nhiên, bên cạnh đó chỉ thị cũng buộc người đứng đầu các tòa phải chịu trách nhiệm chính về quản lí đối với các mặt công tác, đặc biệt là chất lượng xét xử.

Ở đây có một vấn đề đang phải đặt ra là nếu có một chánh án nào đó nhận thấy trong vụ án A thẩm phán phụ trách làm không đúng pháp luật, ông ra có quyền ra lệnh, buộc thẩm phán ấy làm theo ý mình cho đúng pháp luật không? Nếu vị chánh án này không áp đặt quan điểm của mình thì thẩm phán sẽ làm sai, sẽ gây thiệt hại, khiến ông và đơn vị phải gánh hậu quả. Nhưng nếu ông can thiệp, áp đặt quan điểm của mình, buộc người thẩm phán phải nghe theo thì lại vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử.

Như vậy, phải chăng quy định này đã có sự “mâu thuẫn”, làm khó cho người lãnh đạo? Một mặt bắt buộc ông ta phải “duyệt án”, phải chỉ đạo vì là người quản lí, chịu trách nhiệm chính, một mặt yêu cầu ông ta không được làm gì cả vì thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật?

Lãnh đạo tòa đang lúng túng

Trước vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chánh án TAND tỉnh Bình Dương đã hết sức băn khoăn. Theo ông, không ai có thể phủ nhận được việc thẩm phán xét xử độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. cái này phải đặt lên trên hết, phải được tôn trọng, chấp hành. Khi xét xử, ông thẩm phán chỉ biết pháp luật là người “lãnh đạo” mình mà thôi. Tuy nhiên, phần người lãnh đạo thì sao? Pháp luật giao cho họ quyền quản lí hoạt động cơ quan mình, đồng thời phải chịu trách nhiệm chính về chất lượng xét xử, về quản lí công tác ngành. Bây giờ biết chắc việc thẩm phán sẽ làm gây “cháy nhà”, không lẽ lại làm ngơ? Lãnh đạo phải can thiệp ngay chứ! Không lẽ đặt ra người lãnh đạo là chỉ để phải chịu trách nhiệm, còn ngoài ra ông ta không được làm gì cả?

Tương tự, một thẩm phán TAND TP.HCM cũng tỏ ra rất trầm ngâm khi được hỏi về vấn đề này. Theo vị này, đây chính là cái khó của người lãnh đạo, người quản lí. Theo chỉ thị của TAND tối cao, việc báo án, trao đổi án là vẫn được phép làm để người lãnh đạo nắm được tiến độ giải quyết của thẩm phán, nội dung củ vụ án. Quy định chỉ nghiêm cấm việc lợi dụng nó để duyệt án…, hình thành nên các bản án bỏ túi mà thôi. Nhưng không ít lần thông qua việc trao đổi án, lãnh đạo thấy được rằng thẩm phán đang vận dụng pháp luật sai. Cái này cũng rất thường xảy ra. Lãnh đạo chỉ ra cái sai nhưng thẩm phán vẫn không chịu nhận và khăng khăng ý mình đúng. Lúc này, người lãnh đạo phải làm sao để ngăn chặn cái sai này?

Khắc phục ra sao?

Rõ ràng là những phân tích trên đã cho thấy muốn bỏ việc báo án, trao đổi án cũng không phải là dễ. Không ít người đã nhìn nhận vì trách nhiệm, vì nhiệm vụ quản lí mà người lãnh đạo phải can thiệp sâu vào nội dung vụ án, thậm chí đôi khi phải buộc thẩm phán xử theo ý mình. Làm thế không phải là họ hoàn toàn tiêu cực, “có vấn đề” mà là do cơ chế đã buộc họ phải làm như vậy.

Điều quan trọng là giải quyết mối quan hệ này như thế nào cho hài hòa trong điều kiện hiện nay? Chúng tôi đã gặp nhiều lãnh đạo tòa và ghi nhận được ba luồng quan điểm chính.

Quan điểm thứ nhất nhìn nhận dựa vào thực tiễn xét xử, phải chấp nhận cho người lãnh đạo được duyệt án, được chỉ đạo để đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Quan điểm thứ hai cho rằng phải sửa đổi cơ chế. Theo đó, lãnh đạo tòa có thể chịu trách nhiệm về chương trình làm việc sao cho hợp lí, hiệu quả. Còn khi đã giao vụ án cho thẩm phán thì coi như xong, không phải quan tâm nữa, thẩm phán nào sai thẩm phán đó chịu trách nhiệm.

Luồng quan điểm cuối cùng thì nói rằng thẩm phán và lãnh đạo vẫn phải trao đổi, báo án cho nhau để ràng buộc quan hệ giữa người điều hành và người thực hiện. Nếu xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên, thẩm phán vẫn có quyền xử theo ý mình nhưng lúc này cho phép người lãnh đạo được lập biên bản ghi rõ quan điểm của từng bên. Nếu thẩm phán làm theo ý mình mà sai thì thẩm phán tự chịu trách nhiệm.

Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm chính về quản lí đối với các mặt công tác, đặc biệt là chất lượng xét xử, không được lạm dụng việc tổ chức công tác xét xử, trao đổi ý kiến về chuyên môn nghiệp vụ để hình thành chế độ duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân trái với nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án…

(Trích chỉ thị 01 ngày 1/3 của Chánh án TAND tối cao về việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành tòa án năm 2007)

* Ngày 31/5 TAND tỉnh Bình Dương đã tổ chức hội thảo bàn về việc nâng cao chất lượng quản lí công tác chuyên môn theo Chỉ thị 01 ngày 1-3 của Chánh án TAND tối cao. Nhiều chánh án các tòa án huyện đã tỏ ra lúng túng và có cách hiểu không đồng nhất về mối quan hệ, trách nhiệm quản lí của người đứng đầu và thẩm phán khi xét xử. Tuy nhiên, một vấn đề đã được thống nhất cao là lãnh đạo phải được nghe thẩm phán báo án (với những vụ án phức tạp, vụ án nhiều quan điểm) để biết được tiến độ giải quyết án của thẩm phán, nội dung của vụ án… Có như vậy thì người lãnh đạo mới có thể quản lí, điều hành được.

SOURCE: Báo Pháp luật TP.HCM ngày 4/6/2007

HAI NGÀY THEO CHÂN CÁN BỘ SỞ TƯ PHÁP “VI HÀNH”

Hai ngày, hai chuyến “vi hành”. Một ngày cưỡi xe máy đến phường, quận bằng xe máy, hôm sau mới có ô tô chở về xã, thôn. Chỉ bằng cách đóng vai dân thường đi công chứng, Trưởng phòng Bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp Hà Nội Phạm Thanh Cao mới tự mình nắm được những bất cập ở xã, phường từ khi Luật Công chứng có hiệu lực.
“Làm chứng thực như đánh trận”

“Có đi xuống cơ sở mới biết khi một luật mới ra đời, không phải bao giờ cũng thực hiện suôn sẻ ngay trong thực tiễn. Chứ cứ ngồi trong phòng máy lạnh, nghe báo cáo thì…”. Ông Phạm Thanh Cao giải thích một cách đơn giản lý do “đi thực tế” của mình, khi đứng trước cửa UBND phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, một ngày đầu tháng 7.

Đặt chân vào phòng Tư pháp hộ tịch, không còn chiếc ghế nào. Mới đầu giờ làm việc buổi sáng nhưng bà con đã đến xếp hàng từ bao giờ. Không đến nỗi chen chúc như ở các phòng công chứng của Thành phố trước đây, nhưng cũng đủ để người cán bộ văn phòng đóng dấu liên tục, không ngẩng đầu lên.

Được chừng 15 phút, một phụ nữ trẻ thất vọng quay ra: ông cán bộ tên Đệ dứt khoát không chứng thực cho chị giấy khai báo tạm trú của sếp chị, là một người Nhật. Rành rành văn bản bằng tiếng Việt, thẩm quyền ký là Công an phường Quảng An, chỉ mỗi cái tên “khổ chủ” là mấy chữ tiếng Nhật. Theo giải thích ngắn gọn của ông Đệ: “Văn bản có yếu tố nước ngoài, phải lên quận”. 

Chứng kiến cảnh này, ông Trưởng phòng Bổ trợ Tư pháp lắc đầu, tức tốc phóng xe máy đến UBND quận Ba Đình. Dù được chuẩn bị khá kỹ lưỡng: nào tập huấn, nào học luật, nhưng từ đầu tháng nay, cán bộ Tư pháp ở đây vẫn bắt buộc phải quen với việc kết thúc giờ làm buổi trưa vào 13h và ra về lúc đã 18h. Bởi mỗi ngày, phòng tiếp nhận trung bình hàng chục lượt người, mỗi người đến công chứng hàng chục bản cho mỗi loại giấy, “cho bõ công đi lại”.

Một khách hàng mới tốt nghiệp đại học, Hà Đăng Ninh tỏ ra thất vọng khi muốn đi chứng thực bản sao 2 loại văn bản: chứng minh nhân dân và chứng chỉ tin học. Ngặt một nỗi, chứng chỉ này của cậu lại in bằng 2 thứ tiếng: Việt – Anh, do Liên hiệp Khoa học Công nghệ cấp.

Năn nỉ một lúc, có lẽ chị cán bộ Tư pháp quận Ba Đình cũng “thương tình” Ninh, nhận cho cậu chứng chỉ tin học song ngữ này. “Biết là không đúng luật, nhưng nếu mình không nhận, có xuống phường thì phường lại đẩy cậu ấy lên đây thôi”, chị cán bộ tư pháp tỏ ra thông cảm. Còn chứng minh thư thì Ninh buộc phải quay về phường làm.

Ông Đỗ Gia Khương, Trưởng phòng Tư pháp quận Ba Đình ví von: “Từ ngày nhận công việc chứng thực, cứ như đi đánh trận ấy”. “Có ngày, tôi ký đến 4.000 bản sao. Một nữ nhân viên của tôi đã bị giãn dây chằng vai vì đóng dấu quá nhiều”, ông Khương cho biết.

Ông Phạm Thanh Cao chẳng xa lạ gì với những “rắc rối” mới phát sinh ấy, bởi ngay trong quá trình tổ chức các lớp tập huấn cán bộ xã, phường, Sở Tư pháp đã tổng kết các bất cập thành một văn bản, xin chỉ đạo cách thức xử lý của Bộ.

Ở nội thành, cái thiếu chủ yếu là nhân lực: tại phường Ngọc Khánh, cán bộ Tư pháp chỉ có một người duy nhất, lãnh đạo phường bèn phân công cán bộ văn phòng một cửa làm công tác chứng thực bản sao, một nhiệm vụ “tréo nghoe”. Còn các xã ngoại thành lại thiếu phương tiện máy móc.

Thiếu máy photocopy, làm sao “soi” gian lận?

Với Ngô Thị Luận, cán bộ Tư pháp xã Tân Minh (Sóc Sơn, Hà Nội), những ngày tháng 7 nóng nực này quả thực gây một sức ép lớn. Làm thêm chứng thực bản sao, chữ ký đối với cô đồng nghĩa là phải làm quen với việc phân biệt bằng thật và bằng giả, phải quyết định có chứng thực vào tờ giấy cam kết bảo lãnh này không, hay đó là dạng hợp đồng dân sự phải được làm tại phòng công chứng. Nhưng cái khó lớn nhất, là cả xã Tân Minh không có… một cái máy photocopy.

Theo ông Phạm Thanh Cao, nếu sở hữu một máy photocopy, cán bộ tư pháp cấp xã sẽ kiểm soát được tính xác thực của những bản sao mình sẽ ký, sẽ không phải “soi” nhiều khi đến hàng trăm bản sao mỗi lần. “Nếu người ta photocopy 50 bản và chỉ “trà trộn” vào 1 bản bị sửa đổi một chi tiết: ngày tháng, tên tuổi thôi, làm sao có thể phát hiện được? Hoặc với những hợp đồng kinh tế, chỉ cần sai một dấu phẩy là… chết”, ông Cao nói.
Cũng theo ông Phạm Thanh Cao, cán bộ tư pháp cấp phường, xã chưa có nhiều kinh nghiệm, khả năng phát hiện giấy tờ giả mạo rất thấp. Sau 2 tuần thực hiện Nghị định 79 đưa việc chứng thực về xã, phường chưa xảy ra trường hợp nào nhưng “không thể loại trừ khả năng bằng giả mà trước đây không chứng thực được ở các phòng công chứng sẽ nhân cơ hội này lọt về xã, phường”, ông Cao nhận định.

Mô hình “một cửa liên thông” đang được triển khai ở tất cả các xã, phường nhưng theo khảo sát của Sở Tư pháp Hà Nội, ở rất nhiều nơi, cán bộ tư pháp không được bố trí tham gia “một cửa”, trong khi 3/4 số việc ở cấp xã, phường hiện nay liên quan đến tư pháp. Người giải quyết công việc “một cửa” không phải là cán bộ cán bộ tư pháp nên mới xảy ra chuyện quận “đuổi” về phường, phường lại “đùn” lên quận.
Chỉ khi nào mọi khúc mắc nảy sinh quanh việc thực hiện Nghị định 79 này được giải quyết, thì niềm vui của người dân được hưởng một dịch vụ hành chính công thuận tiện mới được trọn vẹn. Gánh nặng thiếu người, thiếu phương tiện của các cán bộ cấp phường, xã mới được nhẹ bớt.
Vân Anh
Theo Vietnamnet ngày 17/7/2007

ĐÃ CÓ HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO NGHỀ ĐÒI NỢ THUÊ

NGUYỄN MINH HẢI

Ngày 14/06/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 104/2007/NĐ-Cp về kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Nghị định này đã thực sự tạo ra một hành lang pháp lí cần thiết cho những DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ (DNĐN)

Không phải việc kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ bắt đầu được pháp luật thừa nhận kể từ Nghị định 104/2007, mà văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lí cho ngành nghề này chính là Luật DN. Tại khoản 1 Điều 7 Luật DN 2005 quy định: “DN thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm”, và theo một số văn bản pháp luật khác về danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh thì không có tên “Dịch vụ đòi nợ”. Như vậy là, hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ là hoàn toàn hợp pháp và được pháp luật bảo hộ. Tuy nhiên, do nhiều lí do khác nhau, mà một trong số đó là sự phát triển quá nhanh của các ngành, nghề kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, ở nước ta trong một thời gian dài chưa có một văn bản pháp lí cụ thể nào điều chỉnh vấn đề này. Hệ quả của thiếu sót này chính là tình trạng “trăm hoa đua nở” của các DN, các cá nhân, nhóm người thi nhau “hành nghề đòi nợ”, và tự do lựa chọn những cách xử sự trong quá trình hành nghề của mình. Pháp luật chưa thực sự điều chỉnh được vấn đề này với vai trò đích thực của nó: “Điều chỉnh các quan hệ xã hội”, chúng ta chỉ thấy rõ được vai trò của pháp luật trong vấn đề này khi mà “cách xử sự” của các DN, các cá nhân, nhóm người đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Nghị định số 104/2007/NĐ-CP đã quy định khá cụ thể về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lí khi có hành vi vi phạm pháp luật của các DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ, của các chủ thể khác liên quan; về đăng kí kinh doanh và điều kiện đăng kí kinh doanh dịch vụ đòi nợ… Trong đó, quan trọng là những quy định về hành vi bị cấm trong hoạt động dịch vụ đòi nợ: DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ không được thực hiện các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, quyền tự do cá nhân, quyền tài sản và các quyền dân sự khác của khách nợ, chủ nợ…..; những quy định về xử phạt vi phạm hành chính: Những tổ chức, cá nhân không phải là DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ mà vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.

Việc ban hành Nghị định 104 có ý nghĩa rất quan trọng. Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả của quản lí nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nó còn có ý nghĩa đối với chính các DN kinh doanh trong lĩnh vực này, đối với chủ nợ, khách nợ… Từ thực tiễn hoạt động của một số DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ trong thời gian qua, chúng ta có thể dự đoán rằng, trong tương lai không xa loại hình kinh doanh này sẽ còn rất phát triển, khi mà nhữn ưu thế của hoạt động này là rất rõ so với loại hình DN kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ: Đối nới DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ không cần phải có một số vốn qua lớn như loại hình DN kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ, tính rủi ro cũng thấp hơn. Còn đối với chủ nợ: Họ sẽ không mất đi một khoản tiền lớn như khi bán quyền đòi nợ của mình cho DN kinh doanh dịch vụ mua, bán nợ, mà vẫn có thể đòi được nợ (ở nước ta tỷ lệ chiết khấu lên tới 60-70% số nợ). Vấn đề điều hòa lợi ích giữa hai bên sẽ được giải quyết trên cơ sở hợp đồng ủy quyền.

Với những quy định khá rõ ràng tại Nghị định 10, việc thực hiện quyền, nghĩa vụ cà trách nhiệm pháp lí của các DN kinh doanh dịch vị đòi nợ không còn gặp nhiều khó khăn. Nhưng ranh giới giữa hành vi mà pháp luật không cấm và hành vi vi phạm pháp luật, không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận thấy, bởi vậy các DN kinh doanh dịch vụ đòi nợ khi hành nghề cũng nên trang bị cho đội ngũ nhân viên của mình những kĩ năng nghề nghiệp, những kiến thức pháp lí cần thiết để có thể đưa ra những xử sự thật hợp lí trong bất cứ hoàn cảnh nào (ngay cả khi gặp sự phản kháng mãnh liệt của những con nợ). Có như vậy thì việc kinh doanh mới đạt được hiệu quả mà không trái pháp luật, nhanh chóng khẳng định được tên tuổi của DN trong nền kinh tế đầy sôi động và khốc liệt.

SOURCE: Báo Pháp luật Việt Nam, Ngày 07/08/2007

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN: VIỆT NAM ĐANG Ở ĐÂU?

Ngay sau khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng. Với những câu chuyện như trên trong xã hội, VN đang ở đâu trên lộ trình đi đến nhà nước pháp quyền – đặc biệt tôn trọng quyền lực của pháp luật? Trao đổi giữa VietNamNet và luật sư Trương Thị Hoà xung quanh vấn đề trên.
Luật sư Trương Thị Hòa nói: “Pháp trị nghĩa là cai trị bằng pháp luật, thực thi quyền hành bằng pháp luật. Pháp quyền là quyền lực của pháp luật, thượng tôn pháp luật: nhấn mạnh quyền lực, sức mạnh của pháp luật.

Nói pháp trị là nói phương thức, công cụ; nói pháp quyền là tính chất, bản chất của xã hội. Như vậy trong pháp quyền đã ngầm có pháp trị. Quan niệm hiện nay tại VN về nhà nước pháp quyền như sau: Nhà nước được làm điều mà pháp luật cho phép, dân được làm điều mà pháp luật không cấm.

Nhưng một nhà nước pháp quyền không đơn thuần chỉ có luật, ở đó pháp trị phải kết hợp với đức trị. Có đức trị thì mới củng cố được pháp luật. Trong lịch sử, thời nhà Lê thịnh trị vì kết hợp nhuần nhuyễn giữa pháp trị và đức trị”.

Đến tòa hay nhờ UBND phường?

– Thưa bà, ở VN hiện nay, khi xảy ra tranh chấp đa số người dân tìm đến tòa án, UBND phường, hay nhờ đến xã hội đen?

– Số trường hợp nhờ đến xã hội đen thì ít thôi nhưng đáng bận tâm. Hiện nay, địa phương không giải quyết được thì mới đưa đến tòa.

Cấp địa phương có đặc điểm giải quyết được vấn đề tình cảm, đạo lý, chẳng hạn: chuyện xích mích vợ chồng, lấn chiếm nhỏ giữa những người hàng xóm. Nếu đưa ra tòa, những chuyện như vậy sẽ thành chuyện lớn, dễ làm đổ vỡ quan hệ vợ chồng, láng giềng.

Vấn đề là cán bộ địa phương phải đủ trình độ, đạo đức, không để việc đình trệ. Người cán bộ cần biết giữ bí mật về tranh chấp, tránh trường hợp vừa giải quyết về thừa kế đã tiết lộ tại quán cà phê.

– Tuy nhiên, ở nhiều nước tiên tiến, tranh chấp nhỏ như kiện người đánh một con chó cũng có thể ra tòa. Việc nhiều người dân đến UBND phường giải quyết vụ việc thay vì ra tòa phải chăng là biểu hiện phát triển còn thấp trên con đường đi lên nhà nước pháp quyền?

– Truyền thống của người Việt là trọng tình xóm giềng. Pháp quyền đâu có nghĩa là giải quyết mọi giao dịch thuần túy theo pháp luật.

Ngay cả các nước phương Tây cũng không chỉ thuần túy giáo dục và áp dụng pháp luật. Họ còn chú trọng giáo dục đạo đức, đặc biệt là lòng trung thực. Có nơi, người thuộc giới quý tộc mà quan hệ bậy bạ thì sẽ bị loại ra khỏi giới.

Toà án là nơi sau cùng phải đến cho mọi người khi quyền lợi không được bảo vệ. Đó là nơi hoàn toàn khách quan. Việc xử lý linh động tại tòa cũng phải theo luật. Đặt bút xuống bản án là hoàn toàn vận dụng luật.

“Hiểu pháp luật mới tự bảo vệ mình”

– Thưa bà, VN đang ở đâu của lộ trình đi đến nhà nước pháp quyền?

– Từ khi tuyên bố xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ra đời năm 1994, VN có nhiều nỗ lực trong việc này. Năm 1995, VN đã có Bộ luật dân sự giải quyết giao dịch trong xã hội. Nhiều luật khác đã ra đời và chất lượng luật ngày càng tốt hơn.

Nhưng ý thức tuân thủ của cả người dân và cán bộ đều chưa bước nhanh bằng xây dựng luật. Nhiều luật ra đời nhưng tuyên truyền không sâu rộng. Tuyên truyền phải mang tính giáo dục chứ không phải chỉ phổ biến cho người ta biết, thậm chí phổ biến cũng chưa đầy đủ.

Việc giáo dục pháp luật có thể thông quan nhà trường, các phương tiện thông tin đại chúng, các sinh hoạt quần chúng, thông qua các đại biểu Quốc hội. Giáo dục để người dân hiểu pháp luật cần cho họ và có lợi cho đất nước. Giáo dục pháp luật cũng là giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, truyền thống đạo đức.

Chẳng hạn, giáo dục về luật nghĩa vụ quân sự phải cho thanh niên hiểu nhiều thế hệ cha anh đã lên đường bảo vệ Tổ quốc, và đây là việc nghiễm nhiên họ phải làm.

– Có chuyện một người dân muốn gọi điện phản ánh bức xúc đến một lãnh đạo, lập tức được người khác khuyên: “Đừng chọc giận ông ấy, chết đấy!”. Lập tức người này không dám gọi vì sợ lãnh đạo, dù không biết mình làm vậy là phạm điều luật gì. Bà nghĩ sao về tình huống trên?

– Tất nhiên sẽ có số ít người lãnh đạo lạm quyền, khiến người dân nhầm tưởng ông ta còn lớn hơn pháp luật. Nhưng ngược lại, vẫn có những người dân hạn chế hiểu biết dẫn đến không tin vào pháp luật. Trong khi đó, hiến pháp đã quy định, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

Khi hiểu pháp luật, người ta có khả năng tự bảo vệ, đòi quyền cho mình. Có chuyện một người Canada vi phạm pháp luật VN, bị giam. Ồng ta đề nghị phải có mặt luật sư mới lấy lời khai, mới nhận cáo trạng.

Dung hòa giữa “phép vua” và “lệ làng”
 VN đang gặp vướng mắc gì trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Sau 30 năm chiến tranh, tâm lý con người bị ảnh hưởng rất nặng nề. Cái chết diễn ra quá nhiều và dễ dàng không khỏi nảy sinh tâm lý coi thường mạng sống, thân thể. Vấn đề đạo đức cần được quan tâm. Chỉ dùng luật pháp thì không thể trừng trị hết nổi cái xấu.

Phải đào tạo những người dạy tiểu học, mẫu giáo thật giỏi, có kinh nghiệm để giáo dục con người ngay từ khi còn nhỏ. Chỉ giáo dục về quyền thôi không đúng, cần giáo dục thực hiện bổn phận trước. Thực hiện tốt bổn phận tức là tôn trọng quyền của người khác.

– Xã hội VN có truyền thống phép vua thua lệ làng, chịu nhiều ràng buộc quan hệ dòng tộc, có nhiều hương ước, thậm chí nhiều hủ tục, như: lặn nước để phân định đúng sai. Thực trạng này có cản trở xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Những tục lệ không tốt cần bị loại bỏ. Vấn đề là phát triển dân trí, nâng cao nhận thức. Nhưng còn rất nhiều tục lệ tốt. Trong trường hợp này cần có sự dung hòa giữa “phép vua” và “lệ làng”, “lệ làng” có thể cụ thể hóa “phép vua” khi “phép vua” quá xa.

Ở miền núi, người dân có lệ không đi đăng ký kết hôn vì ít hiểu được sự quan trọng của giấy đăng ký và đi lại khó khăn. Vậy, cán bộ hộ tịch có thể đến tận địa phương để làm đăng ký cho người dân mỗi tháng. Nhà nước cần thấy điều này để thống nhất bằng văn bản, tránh tình trạng thiếu thống nhất: nơi 1 tháng, nơi 45 ngày.

“Cầm quyền không phải cai trị mà giải quyết mối quan hệ”

– Có ý kiến cho rằng, chỉ có thể có nhà nước pháp quyền khi tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp song song và đối trọng về quyền lực)?

– Cốt lõi của tam quyền phân lập là mối quan hệ. VN cũng có phân công nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng vấn đề là mối quan hệ chưa được làm rõ. Phải rõ từng cơ quan có trách nhiệm làm gì, được can dự đến đâu, mức độ như thế nào, cách tiếp nhận can thiệp ra sao.

Quốc hội bầu ra Chánh án, Viện kiểm sát tối cao, Thủ tướng… nhưng mối quan hệ ra sao? Ngay cả thuê một người làm giám đốc cũng phải có quyền cho họ chứ không phải bắt họ làm gì cũng được. Có trường hợp chính phủ có ý kiến về một bản án, tòa không thèm nghe thì thôi, trong khi lẽ ra phải dừng lại xem xét(!).

– Có ý kiến cho rằng, muốn xây dựng nhà nước pháp quyền cần phân biệt rõ lãnh đạo và cai trị?

– Đảng đã có thể chế, tất nhiên phải đổi mới. Đảng cầm quyền phải có một bộ phận khoa học để nghiên cứu cách thức cầm quyền. Cầm quyền không phải là cai trị mà là giải quyết mối quan hệ giữa con người một cách khoa học.

Các cơ quan khác cũng cần phát huy quyền của mình trước Đảng. Đảng có thể điều người sang Quốc hội và Quốc hội có quyền quyết định đồng ý hay không. Đảng đâu có ép buộc các cơ quan không được thực hiện quyền của mình.

– Xin cảm ơn bà!
 VN đang gặp vướng mắc gì trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Sau 30 năm chiến tranh, tâm lý con người bị ảnh hưởng rất nặng nề. Cái chết diễn ra quá nhiều và dễ dàng không khỏi nảy sinh tâm lý coi thường mạng sống, thân thể. Vấn đề đạo đức cần được quan tâm. Chỉ dùng luật pháp thì không thể trừng trị hết nổi cái xấu.

Phải đào tạo những người dạy tiểu học, mẫu giáo thật giỏi, có kinh nghiệm để giáo dục con người ngay từ khi còn nhỏ. Chỉ giáo dục về quyền thôi không đúng, cần giáo dục thực hiện bổn phận trước. Thực hiện tốt bổn phận tức là tôn trọng quyền của người khác.

– Xã hội VN có truyền thống phép vua thua lệ làng, chịu nhiều ràng buộc quan hệ dòng tộc, có nhiều hương ước, thậm chí nhiều hủ tục, như: lặn nước để phân định đúng sai. Thực trạng này có cản trở xây dựng nhà nước pháp quyền?

– Những tục lệ không tốt cần bị loại bỏ. Vấn đề là phát triển dân trí, nâng cao nhận thức. Nhưng còn rất nhiều tục lệ tốt. Trong trường hợp này cần có sự dung hòa giữa “phép vua” và “lệ làng”, “lệ làng” có thể cụ thể hóa “phép vua” khi “phép vua” quá xa.

Ở miền núi, người dân có lệ không đi đăng ký kết hôn vì ít hiểu được sự quan trọng của giấy đăng ký và đi lại khó khăn. Vậy, cán bộ hộ tịch có thể đến tận địa phương để làm đăng ký cho người dân mỗi tháng. Nhà nước cần thấy điều này để thống nhất bằng văn bản, tránh tình trạng thiếu thống nhất: nơi 1 tháng, nơi 45 ngày.

“Cầm quyền không phải cai trị mà giải quyết mối quan hệ”

– Có ý kiến cho rằng, chỉ có thể có nhà nước pháp quyền khi tam quyền phân lập (lập pháp, hành pháp, tư pháp song song và đối trọng về quyền lực)?

– Cốt lõi của tam quyền phân lập là mối quan hệ. VN cũng có phân công nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng vấn đề là mối quan hệ chưa được làm rõ. Phải rõ từng cơ quan có trách nhiệm làm gì, được can dự đến đâu, mức độ như thế nào, cách tiếp nhận can thiệp ra sao.

Quốc hội bầu ra Chánh án, Viện kiểm sát tối cao, Thủ tướng… nhưng mối quan hệ ra sao? Ngay cả thuê một người làm giám đốc cũng phải có quyền cho họ chứ không phải bắt họ làm gì cũng được. Có trường hợp chính phủ có ý kiến về một bản án, tòa không thèm nghe thì thôi, trong khi lẽ ra phải dừng lại xem xét(!).

– Có ý kiến cho rằng, muốn xây dựng nhà nước pháp quyền cần phân biệt rõ lãnh đạo và cai trị?

– Đảng đã có thể chế, tất nhiên phải đổi mới. Đảng cầm quyền phải có một bộ phận khoa học để nghiên cứu cách thức cầm quyền. Cầm quyền không phải là cai trị mà là giải quyết mối quan hệ giữa con người một cách khoa học.

Các cơ quan khác cũng cần phát huy quyền của mình trước Đảng. Đảng có thể điều người sang Quốc hội và Quốc hội có quyền quyết định đồng ý hay không. Đảng đâu có ép buộc các cơ quan không được thực hiện quyền của mình.

– Xin cảm ơn bà!
Phạm Cường (thực hiện)
Theo Vietnamnet

TÍNH CẠNH TRANH CỦA NỀN PHÁP LUẬT

Tính cạnh tranh của nền pháp luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trước hết, phụ thuộc vào những người làm ra luật, tức là Quốc hội và một phần nào đó là Chính phủ.

Luật làm ra mà không dùng được, hoặc các nhà làm luật vì lý do nào đó tỏ ra chậm chạp thì dễ hiểu là cả hệ thống pháp luật mất tính cạnh tranh so với các hệ thống pháp luật khác. Mới đây, các nhà đầu tư đã cảnh báo dự thảo Luật đầu tư chung sẽ làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường đầu tư VN, và các nhà đầu tư sẽ bỏ ra đi.

Ở đây, tính cạnh tranh của nền kinh tế có thể bị ảnh hưởng xấu do tính cạnh tranh thấp của dự thảo Luật đầu tư chung. Ngược lại, Luật doanh nghiệp 1999 trước đây và Luật doanh nghiệp chung hiện nay là minh chứng cho tính cạnh tranh khá cao cần phải có của hệ thống pháp luật. Các bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp cho thấy không phải cứ thay đổi là có tính cạnh tranh, là năng động.

Điều quan trọng là thay đổi theo cách thức nào. Mỗi bước sửa đổi của Luật doanh nghiệp đều lấy luật tiền nhiệm làm nền, trên cái nền đó mà nâng cao lên. Trước lúc sửa đổi, quá trình nghiên cứu, tham vấn rộng khắp và có thực chất đã được tiến hành.

Có thể nói Luật doanh nghiệp cạnh tranh được với các đạo luật cùng một lĩnh vực của các nước khác trong việc khuyến khích tinh thần kinh doanh. Tuy nhiên, tính cạnh tranh của Luật doanh nghiệp đã và đang bị đe dọa bởi những qui định trói buộc doanh nghiệp ở những văn bản pháp luật khác, nhất là các văn bản dưới luật.

Tiếp đó, tính cạnh tranh của nền pháp luật phụ thuộc vào những người áp dụng nó, tức là tòa án và các thiết chế liên quan như công tố viên, luật sư, thi hành án… Muốn vậy, rất cần đến những thẩm phán năng động không chỉ biết chờ văn bản hướng dẫn mới xét xử được.

Mặt khác, thẩm phán cũng phải được trao quyền giải thích luật như ở các nước. Quyền này sẽ tạo điều kiện cho thẩm phán chọn lựa qui định pháp luật nào được áp dụng trong trường hợp các qui định “đá nhau”. Nếu không tìm thấy qui định thích hợp, thẩm phán được trao quyền tìm ra hướng giải quyết trước những tình huống pháp lý mới nảy sinh mà chưa được nâng lên thành luật, bù đắp phần thiếu hụt trong các văn bản pháp luật.

Nếu sự chờ chực quá nhiều các văn bản dưới luật là một trong những nguyên nhân làm cho pháp luật chậm đi vào cuộc sống thì một hệ thống tòa án năng động như trên có thể giải thoát cho pháp luật khỏi sự chờ chực.

Cuối cùng, tính cạnh tranh của pháp luật phụ thuộc vào hoạt động đào tạo và nghiên cứu của các trường đại học, các viện nghiên cứu. Nếu các giáo trình pháp luật vẫn nhai đi nhai lại những chủ thuyết đã lỗi thời thì rõ ràng các sinh viên luật sẽ tụt hậu, không được tiếp xúc với các xu hướng mới. Mà nếu chính các chủ thể tương lai của nền pháp luật bị tụt hậu thì lấy đâu ra tính cạnh tranh của cả nền pháp luật.

Một thực tế là nước ngoài nghiên cứu về pháp luật VN cơ bản hơn giới nghiên cứu trong nước. Nghiên cứu chưa trở thành nền tảng tư vấn cho chính sách trong hoạt động lập pháp. Thực tế này làm cho việc cải cách pháp luật, hay là sự phản ứng của pháp luật trước cuộc sống diễn ra lẻ tẻ, manh mún, theo cảm tính, không có một chủ thuyết rõ ràng. Nó khiến nền pháp luật thay đổi xoành xoạch, mất đi tính ổn định. Mà tính ổn định chính là một yếu tố tạo nên tính cạnh tranh của nền pháp luật.
Nguyên Lâm
Tuổi Trẻ chủ nhật

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIA ĐÌNH VÀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Minh Anh

Được ví như cái nước nh, Nho giáo cho rng, gia đình có v trí quan trng trong s n đnh ca xã hi. Vì vy, nhng hành vi ng x và giao tiếp ca mi thành viên trong gia đình được Nho giáo quy đnh cht ch, ph thuc vào danh phn mi người. Nhng quy đnh này, nếu loi b nhng yếu tô bo th, mt dân ch thì cho đến nay, vn còn có giá tr. Do đó, kế tha nhng tư tưởng tích cc ca Nho giáo v gia đình trong vic xây dng gia đình mi Vit Nam hin nay nhm thc hin thành công xây dng nn kinh tế th trường đnh hướng xã hi ch nghĩa, là vic làm cn thiết.

Khác với các học thuyết triết học Phương Tây, triết học phương Đông nói chung và đặc biệt là Nho giáo nói riêng, luôn xem xét con người trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Ở Nho giáo, chúng ta thấy, không tồn tại một con người cá nhân, một cái tôi tách khỏi xã hội. Chính việc nhìn nhận con người trong các mối quan hệ xã hội đã giúp Nho giáo đề ra được những giải pháp bình ổn xã hội.

Theo quan niệm Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ tự nhiên. Đó là quan hệ cha – con, vợ – chồng, anh – em, vua – tôi, bạn – bè. Năm mối quan hệ này phản ánh hai mặt của cuộc sống hiện thực là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan hệ đó là những yêu cầu giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện.

Tương ứng với mỗi quan hệ, Nho giáo đặt ra những yêu cầu mang tính quy phạm đạo đức và được pháp luật ngầm bảo trợ. Tất cả những mối quan hệ trên và các phương thức ứng xử hội tương ứng với nó, theo Nho giáo, là cái trời đã định sẵn cho con người. Đã là gia đình thì phải có vợ – chồng, cha – con, anh – em. Trong gia đình thì vợ – chồng phải hòa thuận, phu xướng thì vợ phải tùy, là cha – con thì cha phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập. Ngược lại, phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha mẹ. Đã là anh em thì phải biết đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, là anh chị thì phải biết nhường nhịn, thương yêu, là em thì phải biết nghe lời và lễ phép với anh chị. Trong quan hệ xã hội, Nho giáo đòi hỏi trước hết phải có lòng trung thành trong quan hệ vua tôi và trên dưới. Người dưới phục vụ người trên phải lấy chữ trung làm đầu. Kẻ trên đối xử với kẻ dưới phải lấy chữ nhân làm đầu, phải biết giữ lễ và phải có lòng tín thật. Xét chung trong mọi mối quan hệ, Nho giáo yêu cầu mỗi cá nhân phải lấy mình làm mốc mà yêu cầu đối với người. Cái gì mình muốn thì cũng làm hết lòng cho người khác và ngược lại, cái gì mình ghét thì cũng đừng đem lại cho người khác.

Bên cạnh đó, Nho giáo còn quan niệm rằng, mọi sự bất ổn trong xã hội đều có nguyên nhân từ việc ứng xử không tốt các mối quan hệ xã hội. Để bảo đảm sự ứng xử được đúng, Nho giáo yêu cầu mỗi người phải làm tết vai trò của mình. Vai trò đó được xác định bởi danh phận của mỗi người do xã hội quy định. Đó là phận làm vua, phận làm tôi, phận làm cha, phận làm con…. Danh phận của mỗi người quy định cách ứng xử của họ. Cách ứng xử theo danh phận Nho giáo gọi là lễ. Theo Nho giáo, nếu trong xã hội mỗi người đều làm tất bổn phận của mình thì xã hội sẽ thái bình. Nếu xã hội thái bình thì mọi người ai cũng được an cư lạc nghiệp. Khi đó tất cả những người già cả, trẻ nhỏ và những người cô quả sẽ được mọi thành viên trong xã hội quan tâm giúp đỡ. Cảnh tranh giành và chém giết nhau vì cái lợi sẽ không còn. Để làm được điều đó, Nho giáo đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của gia đình.

Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một cái nước nhỏ. Vì thế, nếu “một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Một nhả lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễ nhượng. Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học, chương IX). Do đó, một xã hội muốn thanh bình thì trước hết cần phải có những gia đình hòa thuận. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên luôn quan tâm đến nhau, chăm lo cho nhau. Trong gia đình đó, vợ chồng sống hòa thuận thương yêu nhau, cùng nhau chăm lo nuôi dưỡng dạy dỗ con cái nên người. Cha mẹ phải luôn giữ gìn lời ăn tiếng nói cũng như tác phong làm việc của mình để làm tấm gương cho con cái noi theo. Ngược lại, con cái phải luôn hiếu kính với ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng chăm sóc ông bà, cha mẹ, biết làm cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, cha mẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng. Một gia đình hoà thuận còn là một gia đình mà anh em biết bảo ban nhau cùng tiến bộ, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau, biết em ngã thì chị nâng.

Để làm được điều đó, Nho giáo đòi hỏi mỗi người trong gia đình phải biết giữ gìn và tuân theo lễ, bởi cho rằng, chỉ có lễ con người mới trở thành con người xã hội: “Chim anh vũ có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài chim, con tinh tinh có thể biết nói nhưng vẫn thuộc loài cầm thú. Làm người mà không có lễ thì tuy biết nói đấy nhưng có khác gì loài cầm thú? Chỉ có loài cầm thú là không có lễ, cho nên cha con ở lẫn lộn với nhau. Vì vậy việc làm của bậc thánh nhân là lấy lễ dạy người khiến người ta ai cũng biết lễ để tự phân biệt mình với cầm thú” (Kinh Lễ, Khúc lễ thượng). Nhờ có lễ, con người mới có thể biết được như thế nào là có hiếu với cha mẹ, là kính với người trên, là từ đễ với anh em thân thích, là bạn hiền của bằng hữu, là nhân với người chung quanh, là tín thực với thân thuộc. Theo lễ, người con có hiếu và biết lễ phép thì “Khi ở trước mặt cha mẹ ruột hoặc cha mẹ chồng, nếu có lệnh phải vâng dạ kính cẩn, tiến thoái phải chu toàn thận trọng, lên xuống ra vào phải cung kính, không dám ho hoẹ, đằng hắng hay ngáp dài, không được đứng dựa nghiêng ngả liếc ngang liếc dọc, không dám phun nước bọt chùi nước mũi… Nếu như cha mẹ có lỗi lầm gì, mình vẫn phải vui vẻ hoà nhã dùng lời nói ôn hoà mà can gián. Nếu can mà (cha mẹ) không nghe lại càng phải giữ thái độ hoà nhã cung kính hơn, đợi cha mẹ nguôi ngoai rồi lại can gián. Nếu cha mẹ không nghe để đến nổi phạm lỗi lầm có tội với bạn bè hàng xóm, ta vẫn phải ôn hòa khuyên can. Nếu cha mẹ nóng giận đánh ta đến chảy máu, ta vẫn không dám giận oán mà vẫn phải kính trọng hiếu thuận với cha mẹ” (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 2). Ngược lại, ngay từ khi con cái đến tuổi biết ăn cơm, cha mẹ “cần thiết phải dạy nó biết sử dụng tay phải, con trai phải biết thưa dạ, con gái phải biết nhu hòa… Khi con lên sáu tuổi, hãy dạy chúng về số học và đếm số… Tám tuổi, dạy chúng khi ra vào hay khi ngồi vào bàn ăn, nhất nhất phải theo sau bậc trưởng thượng, bắt đầu dạy cho chúng biết nhường nhịn… Mười tuổi, cho ra ngoài học thêm sách vở khác… bắt đầu hướng dẫn chúng về lễ, sớm tối tuân theo nghi thức của trẻ nhỏ… Hai mươi tuổi là làm lễ đội mũ, bắt đầu học lễ… dạy chúng thuần hậu về hiếu lễ” (Kinh Lễ, Chương XII, tiết 3). Nho giáo khẳng định, nếu xây dựng được một gia đình hoà thuận, con cái biết hiếu đễ cha mẹ biết từ nhượng thì đó cũng là làm chính trị rồi. Bởi nước cũng chỉ là một cái nhà to. Các căn nhà nhỏ – gia đình mà hòa thuận thì căn nhà to cũng sẽ hòa thuận. Vì thế, làm chính trị không cứ là phải ra làm quan.

Những tư tưởng trên của Nho giáo, ở một mặt nào đó có thể nói rằng, phù hợp với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta. Chúng ta cũng coi “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”. Vì thế, Đảng ta đòi hỏi “Các chính sách của nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”(1). Với tính cách tế bào xã hội, vườn ươm các nhân tài của đất nước, nơi nuôi dưỡng những công dân mới cho tương lai, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tốt xấu của mỗi gia đình đều có ảnh hưởng tới sự ổn định của xã hội, tới sự chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà chúng ta đang tiến hành. Tất nhiên, gia đình mới mà chúng ta xây dựng là một gia đình hòa thuận dựa trên cơ sở dân chủ: vợ chồng, cha con anh em tôn trọng lẫn nhau, cùng nhau bàn bạc và quyết định những vấn đề lớn của gia đình. Gia đình mới mà chúng ta xây dựng cũng đòi hỏi vợ chồng phải có lòng chung thuỷ, làm cha, mẹ phải có đức nhân từ, làm con phải có đức hiếu kính, làm anh em phải có sự thương yêu nhường nhịn. Hạt nhân của mỗi gia đình ấy chính là vợ và chồng.

Có thể thấy rằng, gia đình mới hiện nay, trước hết, cần phải là một gia đình vợ chồng sống chung thuỷ, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng với nhau về quyền lợi và trách nhiệm. Vợ chồng cùng nhau chia sẻ trách nhiệm giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà.

Thứ hai, là một gia đình con cái biết hiếu kính với cha mẹ, ông bà bởi đức hiếu kính của người làm con để thờ cha mẹ cũng là cái gốc của đức nhân. Nói tới đức nhân là nói tới lòng yêu thương người. Cái gốc của yêu thương người trước hết chính là yêu thương cha mẹ mình, anh em của mình. Người mà không biết yêu thương cha mẹ có công sinh thành, dưỡng dục mình thì cũng không thể có được lòng yêu thương đồng chí, đồng bào mình. Vì vậy, chúng ta ngày nay cũng yêu cầu người làm con cần phải biết phụng dưỡng cha mẹ. Khi phụng dưỡng cha mẹ phải kính cẩn và có lễ phép. Chúng ta cũng kiên quyết phê phán những hành động ngược đãi cha mẹ già, không muốn làm nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ già mà đùn đẩy cho xã hội hoặc con cái đun đẩy trách nhiệm chăm sóc cha mẹ cho nhau, hoặc có nuôi cha mẹ thì như nuôi vật cảnh mà thiếu sự kính trọng lễ phép. Đức hiếu ngày nay cũng đòi hỏi người làm con trong hành động và việc làm phải làm sao để cho cha mẹ có thể được tự hào với bà con lối xóm. Việc lười lao động, ham cờ bạc rượu chè chỉ biết đến của cải, lo liệu cho vợ con mà không nghĩ đến cha mẹ, không phải chỉ Nho giáo mà ngày nay chúng ta cũng cần lên án là hành vi bất hiếu.

Thứ ba, anh em trong gia đình phải biết bảo ban nhau, yêu thương nhau trên tinh thần em ngã chị nâng. Là người anh, người chị thì phải biết bao bọc che chở cho em, nhường nhịn em. Là người em phải biết kính trọng anh chị, nghe lời anh chị dạy bảo. Xã hội xưa cũng như nay không chấp nhận việc anh em chỉ biết yêu thương nhau qua đồng tiền, nhìn tình cảm anh em dưới lăng kính vật chất thuần tuý.

Như vậy, gia đình mới là một gia đình mà mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đối với danh phận của mình. Do đó, việc xây dựng gia đình mới cần dược gắn liền với việc giáo dục trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người theo đúng danh phận của họ. Đó là cha phải ra cha, con phải ra con, anh phải ra anh, em phải ra em. Cần kiên quyết lên án những người cha không còn ra cha bởi lối sống ích kỷ, thực dụng đã để lại tấm gương xấu cho con cháu, cũng cần lên án và có biện pháp nghiêm khắc đối với những người con không còn ra con, chỉ biết tiền mà không biết tình, chỉ biết tới quyền lợi mà không biết tới nghĩa vụ khiến cho cha mẹ phải tủi hổ.

Việc xây dựng thành công gia đình mới có một ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dụng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Bởi gia đình mới chính là nền tảng của sự ổn định xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc, là nơi phòng chống có hiệu quả nhất mọi tệ nạn xã hội đang làm phương hại đời sống tinh thần của con người. Gia đình mới còn là nơi có khả năng nhất trong việc bảo lưu giữ gìn những bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc. Ngoài ra, đây còn là nơi cung cấp những công dân mới có đức, có tài cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Đặc biệt, trong điều kiện chúng ta tiến hành xây dựng một nền kinh tế thị trường cùng với sự mở cửa hội nhập với thế giới thì gia đình mới càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Mô hình gia đình vợ chồng hoà thuận, cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc nhau chính là thành trì để ngăn cản sự xâm hại những tư tưởng thực dụng, vị kỷ, lối sống gấp chỉ biết hôm nay mà không cần biết ngày mai. Như vậy, có thể nói rằng, nếu loại bỏ những tư tưởng bảo thủ, mất dân chủ thì việc kế thừa những giá trị luân lý tích cực của Nho giáo về gia đình để xây dựng gia đình mới nhằm đáp ứng được sự phát triển đất nước là điều nên làm. Gia đình mới chính là nơi kế thừa những tinh hoa của gia đình cũ kết hợp với những chuẩn mực đạo đức mới của xã hội mới. Những tinh hoa đó, trước hết, là tư tưởng vợ chồng hoà thuận, cha từ con hiếu, anh em thương yêu đùm bọc nhau… của Nho giáo.

Thực tế những lý tưởng nhân đạo, khát vọng hoà bình của Nho giáo cũng là lý tưởng và khát vọng của chúng ta hiện nay. Mặc dù bị hạn chế do lịch sử, song một số tư tưởng cũng như biện pháp mà Nho giáo đề ra cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Cũng giống như Nho giáo, hiện nay chúng ta đã và đang ra sức phấn đấu cho một thế giới hoà bình, cho sự bình đẳng của mọi dân tộc trên toàn thế giới. Vì vậy, chúng ta cần ngăn chặn được các tệ nạn xã hội, mọi thảm hoạ chiến tranh, chống lại được nạn khủng bố trên phạm vi toàn thế giới. Do đó, kế thừa các tư tưởng nhân văn trong ứng xử và giao tiếp giữa người với người của Nho giáo là một việc làm hết sức cần thiết.

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.5.

Theo Tạp chí Triết học

Download here: http://www.mediafire.com/?3mytmnd2mwm

VÀI SO SÁNH giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây

Nguồn gốc bài viết chưa được xác định

 

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão… thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel – Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy…

Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông – Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.

– Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.

– Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây

– Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

– Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó

– Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý

Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.

Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.

Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông – Tây.

Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.

Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.

Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.

Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.

Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.

Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó

Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.

Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn… cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.

Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.

Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.

Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.

Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.

Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.

Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.

Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể…

Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ…

Đông (Á)

Tây (Âu)

Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức — Con người, đạo học Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

VÀI SO SÁNH GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

Nguồn gốc bài viết chưa được xác định 

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão… thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel – Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy…

Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông – Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.

– Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.

– Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây

– Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

– Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó

– Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý

Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.

Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.

Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông – Tây.

Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.

Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.

Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.

Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.

Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.

Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó

Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.

Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn… cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.

Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.

Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.

Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.

Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.

Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.

Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.

Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể…

Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ…

Đông (Á)

Tây (Âu)

Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức — Con người, đạo học Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

VẤN ĐỀ “LUẬT KHUNG” Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

TS. ĐINH DŨNG SỸ 

Gần đây, trong thực tiễn lập pháp Việt Nam, chúng ta thường nghe nói tới hai từ “luật khung”. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay và thực trạng này nhiều khi kéo theo những hệ quả không tốt trong sự điều chỉnh của pháp luật đối với các vấn đề của đời sống kinh tế – xã hội. “Luật khung” là gì, nguyên nhân của hiện tượng này cũng như cách khắc phục nó là nội dung bài viết đề cập.

1. Thế nào là “luật khung”?

Theo chúng tôi, hiện tượng “luật khung” là tình trạng hệ thống pháp luật có những biểu hiện cơ bản sau đây:

– Tồn tại các văn bản luật có tính chất “khung”. Tức là các luật thường có nhiều điều khoản chỉ dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc hoặc chung nhất, chưa đạt đến một sự điều chỉnh cụ thể, rõ ràng và đầy đủ đến mức cần thiết, do vậy chưa thể áp dụng ngay vào thực tiễn;

– Cần có các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.

– Nội dung của các đạo luật chưa đầy đủ để có cơ sở quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành; do vậy, không ít trường hợp văn bản quy định chi tiết không chỉ dừng lại ở việc cụ thể hóa các điều luật đã có mà còn phải có thêm những quy định mới.

2. Hệ quả của tình trạng “luật khung”

Tình trạng “luật khung” nói trên không phải là vấn đề mới mà đã tồn tại từ lâu trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam . Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay và trước yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại, tình trạng này đã gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của xã hội vì, nó tạo ra hệ quả pháp lý không tốt, gây phức tạp và khó khăn cho quá trình thực thi luật, phần nào kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế cũng như của văn minh pháp lý và tiến bộ xã hội với những biểu hiện:

– Tạo ra một hệ thống pháp luật gồm nhiều tầng nấc, nhiều cấp độ văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau. Ngoài luật là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất sau Hiến pháp thì còn có các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành ở nhiều cấp độ với nhiều hình thức khác nhau. ở cấp Chính phủ là các nghị định của Chính phủ, các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; ở cấp bộ, ngành là các quyết định, thông tư. Ngoài ra còn có văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương, văn bản liên tịch giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương, thậm chí là giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.

– Tạo ra một hệ thống pháp luật thiếu minh bạch, làm giảm niềm tin của người dân vào pháp luật. Khi các văn bản luật chưa đạt đến sự cụ thể và đầy đủ thì không thể tạo nên một sự rõ ràng và minh bạch triệt để của luật. Và chính yêu cầu cần phải có một hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mà không ít trường hợp có nhiều quy định, nhiều văn bản trái luật hoặc đưa ra những quy định mới mà luật chưa quy định. Việc văn bản quy định chi tiết thi hành đưa ra thêm những nội dung mới mà luật chưa quy định, xét trên góc độ thực tiễn điều chỉnh pháp luật là cần thiết để bảo đảm khả năng thực thi tốt nhất một đạo luật nhưng nếu xét trên khía cạnh yêu cầu của nhà nước pháp quyền thì việc đó vi phạm nguyên tắc pháp chế.

– Tạo ra một hệ thống pháp luật thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ, có những mâu thuẫn, chồng chéo, gây khó khăn, phức tạp trong triển khai thi hành và áp dụng luật bởi, tình trạng luật khung cũng là một trong những nguyên nhân tạo cơ hội nẩy sinh những mâu thuẫn, chồng chéo giữa luật với các văn bản dưới luật và giữa các văn bản dưới luật với nhau. Ví dụ: vấn đề thủ tục đầu tư, gia nhập thị trường được quy định trong các luật và văn bản của Chính phủ thường có xu hướng đơn giản, thông thoáng nhưng văn bản của các bộ, ngành và địa phương lại có xu hướng thắt lại; ngược lại, cũng vẫn là lĩnh vực đầu tư nhưng về vấn đề ưu đãi đầu tư thì nhiều văn bản của nhiều địa phương lại có xu hướng ban hành các ưu đãi vượt luật[1]. Sự thiếu thống nhất, thậm chí là mâu thuẫn và chồng chéo như vậy, ít nhiều gây thất vọng cho người dân, làm giảm niềm tin của người dân vào luật, đặc biệt là các nhà đầu tư.

– Tình trạng luật khung đã làm giảm giá trị pháp lý và giá trị hiệu lực thực thi của luật. Các đạo luật là các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất sau Hiến pháp – đạo luật gốc nhưng lại chỉ dừng lại ở những quy định khung. Do vậy, nhiều khi luật đã được ban hành nhưng muốn thực thi tốt cần phải có văn bản hướng dẫn kèm theo. Nhiều trường hợp luật đã có hiệu lực thi hành nhưng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chậm được ban hành thì các quy định của luật chưa phát huy được tác dụng trong thực tế. Như vậy, văn bản có giá trị pháp lý cao lại phải “chờ” văn bản có giá trị pháp lý thấp (luật chờ nghị định, nghị định lại chờ thông tư), từ đó làm giảm giá trị pháp lý của luật. Mặt khác, do các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành thường quy định đầy đủ hơn, cụ thể hơn nên người áp dụng, thi hành đôi khi chỉ cần biết tới các văn bản này mà không cần quan tâm đến luật, từ đó làm giảm giá trị hiệu lực thực thi của luật. Hệ quả của tình trạng trên tạo ra những “giá trị pháp lý đảo”, văn bản có giá trị pháp lý thấp lại được coi trọng hơn văn bản có giá trị pháp lý cao.

3. Nguyên nhân

Tình trạng “luật khung” do nhiều nguyên nhân, có những nguyên nhân khách quan xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội, nhưng cũng có những nguyên nhân xuất phát từ ý thức chủ quan của chúng ta, cụ thể:

– Thứ nhất, sự chưa hoàn thiện và ổn định của các quan hệ xã hội – đối tượng điều chỉnh của luật. Sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đất nước ta đến nay đã qua chặng đường dài 20 năm. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn đang ở điểm xuất phát thấp, nhiều quan hệ kinh tế – xã hội, đặc biệt là các quan hệ kinh tế thị trường vẫn đang trong quá trình hình thành và chưa ổn định. Điều đó gây không ít khó khăn cho những nhà làm luật, vì sự thiếu ổn định của các quan hệ xã hội mà luật điều chỉnh mâu thuẫn với mục tiêu, yêu cầu xây dựng và ban hành luật. Khi xây dựng luật, nhà làm luật không thể đưa vào luật những gì còn chưa ổn định hoặc còn đang trong quá trình hình thành, chưa được thực tế kiểm nghiệm. Thông thường, khi gặp những trường hợp này, các nhà làm luật đành “gác lại” để cho các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành điều chỉnh với tư duy rằng, chúng sẽ dễ được sửa đổi, bổ sung hơn so với luật. Đó là một thực tế khách quan mà phần nào chúng ta phải chấp nhận. Rõ ràng là, pháp luật – với tư cách một thiết chế của kiến trúc thượng tầng về cơ bản không đi trước và cao hơn cơ sở kinh tế;

– Thứ hai, trình độ làm luật của một số Ban soạn thảo còn thấp. Hiện nay, trình độ và kỹ năng làm luật của chúng ta đã được cải thiện rất nhiều; các cơ quan xây dựng và trình dự án luật cũng như Quốc hội đã có nhiều cố gắng, cải tiến và cũng đã đạt được nhiều thành công về xây dựng pháp luật trong thời gian qua cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, năng lực của các cơ quan soạn thảo còn yếu, đôi khi chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn xây dựng pháp luật. Không ít trường hợp các Ban soạn thảo luật không có khả năng đưa đầy đủ, trọn vẹn các quy định điều chỉnh một vấn đề vào luật nên khi trình ra Quốc hội đành phải “xin nợ” Quốc hội để quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành ở các văn bản dưới luật. Điều này xuất phát một phần vì chính năng lực của một số Ban soạn thảo chưa thể theo kịp với đòi hỏi của thực tiễn, nhưng cũng một phần vì sự chưa ổn định của các quan hệ kinh tế-xã hội nên nhận thức của các chủ thể soạn thảo luật cũng chưa thể đạt đến mức hoàn thiện;

– Thứ ba, do áp lực từ chương trình lập pháp hiện nay. Thực tiễn trong những năm gần đây, do những thay đổi lớn trong tư duy làm luật và quy trình làm luật của Quốc hội, đặc biệt là do yêu cầu của phát triển kinh tế – xã hội, yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế nên số lượng các luật cần được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung ngày càng nhiều. Hiện nay, một năm Quốc hội có thể thông qua tới 25 đến 30 luật, cho ý kiến cũng vào khoảng từng này dự án luật, chưa kể pháp lệnh. Theo đó, các cơ quan chủ trì soạn thảo (chủ yếu là Chính phủ) cũng phải chuẩn bị đệ trình từng ấy dự án luật, trong đó có không ít dự án quan trọng nhưng thời gian chuẩn bị rất ngắn, chỉ có một năm, thậm chí ngắn hơn và được trình Quốc hội xem xét thông qua tại một kỳ họp[1]. Điều này tạo ra không ít áp lực cho cả cơ quan đệ trình luật lẫn cơ quan thông qua luật. Việc soạn thảo và thông qua nhiều luật với thời gian chuẩn bị không dài cũng ảnh hưởng không ít đến nội dung của luật, nhiều quy định đành phải dừng lại ở những vấn đề mang tính chất nguyên tắc, “khung” mà chưa có đủ thời gian và điều kiện để nghiên cứu và quy định một cách toàn diện.

– Thứ tư, thiếu một quy trình lập pháp khoa học. Có thể nói, quy trình lập pháp hiện nay là một “quy trình tắt”, luật không được xây dựng trên một quy trình khoa học và hợp lý. Điều này thể hiện ở chỗ, việc quyết định xây dựng và ban hành một đạo luật chưa thực sự dựa trên những đề án đã được chuẩn bị kỹ càng về mặt chính sách và những định hướng nội dung điều chỉnh để khi xây dựng luật, các nhà làm luật chỉ thực hiện những vấn đề về mặt kỹ thuật là thiết kế những quy phạm pháp luật trong một đạo luật dựa trên những nội dung điều chỉnh đã được các nhà chuyên môn, nhà quản lý xây dựng thành đề án. Mặt khác, theo quy trình làm luật được thể hiện ở Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, người chịu trách nhiệm chính trong việc soạn thảo luật là ban soạn thảo, dưới ban soạn thảo có tổ biên tập là tập hợp các chuyên gia trong lĩnh vực luật điều chỉnh và các chuyên gia pháp lý cùng các chuyên gia thuộc các lĩnh vực có liên quan khác. Đó là sự gắn kết về mặt trách nhiệm chứ chưa thực sự là tập hợp của một đội ngũ những chuyên gia làm luật thực sự. Việc vừa làm vừa tổng kết thực tiễn, xác định chính sách, vừa tìm kiếm nội dung điều chỉnh, vừa thiết kế điều luật được thực hiện bởi một đội ngũ ít chuyên nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và nội dung của luật.

Quy trình làm luật gần như bị khép kín và bị chia cắt giữa các công đoạn. Tính khép kín thể hiện ở chỗ: cơ quan nào trình dự án luật thì cơ quan đó chủ trì soạn thảo, các ban soạn thảo được hình thành chủ yếu từ các chuyên gia của ngành, lĩnh vực đó, ít có sự tham gia của các chuyên gia xây dựng pháp luật hay các chuyên gia đến từ các cơ quan khác, nhất là từ Quốc hội. Do vậy, không ít dự thảo luật khi trình Chính phủ xem xét, thậm chí là trình ra Quốc hội vẫn còn mang nặng tính cục bộ của ngành, làm cho Chính phủ cũng như Quốc hội mất nhiều thời gian để chỉnh lý. Tính chia cắt thể hiện ở chỗ: các giai đoạn của quá trình từ khi soạn thảo đến khi Quốc hội thông qua luật bị cắt khúc thành các giai đoạn khá độc lập với nhau, được chủ trì bởi các cơ quan khác nhau nhưng ít có sự phối hợp giữa các cơ quan hoặc có sự phối hợp nhưng không thường xuyên và ít hiệu quả. Một quy trình làm luật bị khép kín và chia cắt trong khi vai trò tham gia soạn thảo luật của các đại biểu Quốc hội chuyên trách chưa cao, luật còn bị ảnh hưởng của tính cục bộ ngành thì chắc chắn sẽ kéo theo tính chất “khung” của luật.

Hơn nữa, quy trình hiện hành tạo ra những ban soạn thảo luật không chuyên nghiệp, chủ yếu là các chuyên gia đến từ các lĩnh vực quản lý mà ít có các chuyên gia xây dựng pháp luật; cán bộ pháp chế ở các cơ sở chưa được coi trọng và vì vậy ít có vai trò trong xây dựng pháp luật.

– Thứ năm, do sự thiếu kiên quyết trong thực hiện quy trình làm luật và xử lý vi phạm. Đã nhiều lần trên các diễn đàn xây dựng pháp luật chúng ta nói về mục tiêu cần phải xây dựng luật đầy đủ và cụ thể, tránh tình trạng “luật khung” để luật ra đời là đi vào cuộc sống được ngay, hoặc soạn thảo và ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật phải đồng thời với việc soạn thảo và ban hành luật. Tuy nhiên, vấn đề này nhiều cơ quan chủ trì soạn thảo vẫn vi phạm và thực tế vẫn chưa bị xử lý một cách kiên quyết. Chính vì vậy cũng cần phải nói thêm rằng, để khắc phục được tình trạng này, đòi hỏi trước hết là từ phía các cơ quan chủ trì soạn thảo, vì thực tế, luật được xây dựng có tính chất “khung” đến đâu, đôi khi không dễ gì Quốc hội có thể kiểm soát được.

4. Mục tiêu và giải pháp khắc phục

4.1. Mục tiêu

Chúng tôi cho rằng, nhận thức đúng vấn đề “luật khung” là một chuyện, nhưng nhận thức đúng việc khắc phục tình trạng này như thế nào còn quan trọng hơn. Nếu ai đó cho rằng, cần phải xoá bỏ tình trạng “luật khung” hay cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật bao gồm các đạo luật chi tiết đến từng nội dung và áp dụng được ngay, không cần các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, thì theo chúng tôi, đó là một quan điểm sai lầm, không thực tế và cũng không đúng về cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý. Bởi, hệ thống pháp luật của chúng ta hiện nay (xét trên góc độ pháp luật thực định) vẫn được xác định bao gồm một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật ở nhiều cấp độ giá trị pháp lý khác nhau, do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Thực tiễn cho thấy, việc tồn tại song song luật và văn bản dưới luật nhằm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật không chỉ là chuyện riêng ở Việt Nam mà còn ở hầu hết các nước, kể cả các nước phát triển, có bề dầy về xây dựng nhà nước pháp quyền hàng trăm năm nay. Vì vậy, khắc phục tình trạng “luật khung”, theo chúng tôi không phải là ban hành tất cả các luật cụ thể và chi tiết đến mức không cần văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành mà vấn đề là ở chỗ nhà làm luật phải biết lựa chọn chính xác cái gì cần phải được thể hiện trong luật, cái gì có thể để ở các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Đổi mới, khắc phục tình trạng “luật khung” là tất yếu nhưng không phải là xoá bỏ và cũng không thể xoá bỏ được hiện tượng này mà là hạn chế tình trạng này, không nên để xẩy ra tình trạng “luật khung” một cách phổ biến. Đây là vấn đề cần phải được nhìn nhận một cách thực tiễn hơn, đó là sự phù hợp với thực tiễn kinh tế-xã hội và trình độ làm luật. Kinh nghiệm các nước đã chỉ rõ điều đó. Tuy nhiên, để hạn chế các quy định có tính chất “khung” trong một đạo luật, hạn chế ban hành “luật khung” không phải là điều chúng ta không làm được.

Theo đó, chúng tôi cho rằng, ở thời điểm hiện nay, mục tiêu khắc phục tình trạng “luật khung” của chúng ta là: các đạo luật cần phải được thể hiện đầy đủ, rõ ràng, cụ thể và minh bạch các nội dung điều chỉnh, hạn chế các nội dung cần phải quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, hoặc các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành phải được soạn thảo và ban hành để có hiệu lực cùng đồng thời với thời điểm có hiệu lực của luật, để luật có thể đi vào cuộc sống được ngay.

4.2. Các giải pháp khắc phục

Tình trạng “luật khung” phổ biến sẽ gây những tác động và hệ quả không tốt cho xã hội, làm giảm hiệu lực quản lý của nhà nước và giảm hiệu quả điều chỉnh pháp luật. Tình trạng này sẽ vẫn tồn tại nhưng không phải là không thể hạn chế được nếu chúng ta có sự kiên quyết trong thực thi các giải pháp hợp lý sau:

4.2.1 Tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội. Hoạt động lập pháp của Quốc hội cần phải chuyên nghiệp hơn, toàn diện hơn. Quốc hội không chỉ dừng lại ở hoạt động thẩm tra, thảo luận và biểu quyết thông qua các dự án luật như hiện nay mà Quốc hội cần phải tham gia vào quá trình soạn thảo luật, phải cùng góp sức trực tiếp vào việc viết nên các dự án luật. Muốn vậy, cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo hướng ngày càng chuyên nghiệp hơn, cụ thể:

– Tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách lên khoảng 50% trên tổng số đại biểu Quốc hội. Các đại biểu chuyên trách phải có trình độ pháp lý và kỹ năng làm luật; có văn phòng riêng và được trang bị phương tiện vật chất cần thiết cũng như đội ngũ chuyên gia giúp việc có trình độ;

– Số đại biểu theo cơ cấu, đại diện cho tiếng nói của mọi tầng lớp là rất cần thiết trong Quốc hội nhưng cần phải gảm bớt và điều quan trọng là phải tìm ra cơ chế đại diện phù hợp của những đại biểu cơ cấu này đối với các cử tri thuộc giới hay lĩnh vực của họ;

– Các đại biểu Quốc hội tham gia trực tiếp vào quá trình làm luật hoặc đưa ra sáng kiến pháp luật, giảm dần việc soạn thảo và trình luật từ phía các cơ quan khác.

Biện pháp nói trên không phải đem lại mục tiêu trực tiếp hay cụ thể nhằm khắc phục tình trạng “luật khung” nhưng nó là “gốc” của cải cách quy trình và nâng cao chất lượng xây dựng luật hiện nay ở nước ta. Bởi vì, chúng tôi cho rằng, phải xuất phát từ sự đổi mới cơ cấu và hoạt động của Quốc hội (như đã phân tích) thì chắc chắn sẽ có tác động không nhỏ cho việc khắc phục những bất cập trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong đó có vấn đề “luật khung”.

4.2.2. Đổi mới quy trình xây dựng luật, xoá bỏ tình trạng “khép kín” và “cắt khúc”, tăng tính chuyên nghiệp trong xây dựng các dự án luật bởi, như đã phân tích, quy trình làm luật hiện hành có nhiều nhược điểm. Một trong những xu hướng cải cách quy trình làm luật theo đề xuất của chúng tôi là Quốc hội chỉ nên đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm đối với dự án đã có đề án về mặt chính sách[1]. Đề án đó phải thoả mãn tối thiểu các nội dung sau: có báo cáo, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật thuộc lĩnh vực dự kiến; chứng minh được sự cần thiết phải xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung một đạo luật; đưa ra được những nội dung dự kiến điều chỉnh chính – tức là nội dung chính sách (chưa đến mức quá chi tiết nhưng phải đầy đủ) của đề án và thuyết minh rõ về sự cần thiết, mục đích điều chỉnh của từng nội dung; thuyết minh rõ về tính khả thi, dự báo tác động, các điều kiện kinh tế-xã hội, các cơ chế, luật pháp có liên quan và các nguồn lực bảo đảm khả năng thực thi của đạo luật khi được ban hành. Nếu làm được như vậy thì việc viết luật (chuyển một đề án chính sách thành một dự án luật, tức là chế định nên các điều luật) là công việc của các chuyên gia xây dựng pháp luật sẽ nhẹ nhàng và đơn giản hơn rất nhiều. Hơn nữa, việc làm luật cũng được chuyên nghiệp hoá hơn khi ta có thêm một bước rất bài bản là việc xây dựng đề án chính sách; từ đó khắc phục được tình trạng cục bộ trong luật và giảm được sức ép về mặt thời gian xây dựng một dự án luật.

4.2.3. Xây dựng lại tiêu chí của một đạo luật cũng như tiêu chí của các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật. Hiện nay, pháp luật thực định của Việt Nam chưa có văn bản nào đưa ra định nghĩa thế nào là một đạo luật. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý, luật được hiểu là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất sau Hiến pháp – đạo luật gốc, điều chỉnh toàn diện về một lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội nhất định. Về tính toàn diện của luật, chúng ta vẫn quan niệm rằng, một đạo luật phải bảo đảm đủ điều chỉnh trọn vẹn tất cả các quan hệ của một lĩnh vực lớn, thậm chí là rất lớn. Khi đó, để xây dựng một đạo luật chúng ta phải mất rất nhiều thời gian và công sức, trong khi thời gian vật chất thì có hạn, trình độ và năng lực làm luật của chúng ta chưa cao, điều đó đã đem lại hệ quả tất yếu là tình trạng luật khung, vì chúng ta chưa thể luật hoá đến mức chi tiết những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật. Vì vậy, có lẽ đã đến lúc cần phải thay đổi nhận thức của chúng ta về quan niệm tính toàn diện, đồ sộ của một đạo luật. Theo chúng tôi, có những đạo luật, thậm chí có thể là bộ luật bao trùm cả một lĩnh vực của đời sống xã hội tương đối ổn định, nhưng cũng cần có những đạo luật điều chỉnh cụ thể về một vấn đề không lớn, thậm chí là nhỏ; có những đạo luật sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật về những vấn đề có liên quan đến nhau[1]; có những đạo luật ngắn, thậm chí là rất ngắn nhưng điều chỉnh trọn vẹn về một vấn đề cụ thể và thời gian để soạn thảo nó không phải là hai ba năm mà có thể chỉ cần hai, ba tháng. Và khi đó, Quốc hội không chỉ thông qua hơn mười đạo luật một kỳ họp như hiện nay mà có thể là hai, ba mươi đạo luật, thậm chí có thể nhiều hơn nếu cùng với nó là sự tăng cường tính chuyên nghiệp của Quốc hội. Cũng cần phải nói thêm rằng, tư tưởng xây dựng các bộ luật lớn ở các nước trên thế giới đã lùi vào quá khứ cùng với thế kỷ XX, nó không còn là một xu hướng hiện đại nữa.

Tương tự như vậy, cũng cần quan niệm lại tiêu chí của các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật. Một tình trạng phổ biến của loại văn bản này hiện nay là có thể quy định chi tiết hay hướng dẫn thi hành bất kỳ điều luật nào nếu thấy cần thiết. Điều này hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên hay từ ý muốn chủ quan của các cơ quan lập quy mà xuất phát từ chính hệ quả của vấn đề “luật khung”, bởi nếu không được tiếp tục quy định chi tiết thì không thể thi hành được. Chính tình trạng “luật khung” đã dẫn đến một điều luật muôn thuở được thiết kế trong hầu hết các luật, pháp lệnh về trách nhiệm thi hành rằng: “Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật này”. Vì vậy, theo chúng tôi, muốn hạn chế tình trạng “luật khung”, cần phải xoá bỏ điều khoản nói trên ở các đạo luật. Điều luật nào cần quy định chi tiết, cơ quan nào có thẩm quyền quy định chi tiết cần phải được thiết kế ngay trong điều luật đó, và văn bản quy định chi tiết thi hành luật chỉ được cụ thể hoá những điều luật đó mà không được phép đưa ra những quy định mới mà luật không quy định. Nếu làm được việc này thì các điều luật cần quy định chi tiết trong một đạo luật sẽ giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin nhấn mạnh lại rằng, chúng ta hạn chế những “điều luật khung”, những “đạo luật khung” để hạn chế việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành chứ chúng ta không xoá bỏ các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.

4.2.4. Tăng cường năng lực của đội ngũ những người soạn thảo luật, cần chuyên nghiệp hoá hơn việc soạn thảo và thông qua luật. Việc soạn thảo luật cần phải có sự tham gia nhiều hơn, đông đảo hơn của đội ngũ những chuyên gia xây dựng pháp luật có trình độ và kỹ năng làm luật; biết sử dụng đội ngũ pháp chế ở các bộ, ngành; kết hợp chặt chẽ với các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý, hoạt động thực tiễn và cả những nhà nghiên cứu, giảng dạy pháp luật.

4.2.5. Sửa đổi, bổ sung một số luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ…; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là giải pháp có tính hệ quả của các giải pháp nói trên. Bởi vì, muốn đổi mới cơ cấu và hoạt động của Quốc hội, muốn đổi mới quy trình làm luật thì phải sửa đổi các luật tương ứng, đặc biệt là cần phải sửa đổi cơ bản Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhằm xây dựng một quy trình làm luật mới khoa học hơn, hiệu quả hơn./.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 4/2006

HỘI LUẬT GIA VÀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở MỸ

Kể từ khi mới thành lập năm 1878, Hội Luật gia Hoa Kỳ (ABA) đã chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật ở Mỹ. Sau khi nghiên cứu kỹ về các chương trình dạy luật cuối thế kỷ 19, Hội xác định rằng cần phải xây dựng một quy trình quốc gia để đảm bảo chất lượng giáo dục của một luật sư tương lai. Năm 1921, ABA đã đưa ra bản quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của giáo dục pháp luật và xuất bản một danh sách các trường luật tuân theo những tiêu chuẩn này. John A.Sebert là tư vấn về Giáo dục pháp luật cho Hội Luật gia Hoa Kỳ đang quản lý quy trình chứng nhận của ABA và phụ trách 13 nhân viên làm việc chính thức. Trong bài viết này, Sebert phân tích quá trình ABA xây dựng giáo dục pháp luật ở Mỹ trong thời gian qua và các trường luật được chứng nhận bởi Hội đồng Bộ phận giáo dục pháp luật và công nhận là thành viên của Hội Luật gia Hoa Kỳ.

Hội Luật gia Hoa Kỳ là tổ chức quốc gia về ngành luật ở Mỹ. Các thành viên chủ yếu là các luật sư, thẩm phán, quan chức tòa án, giáo viên luật, luật sư công, luật sư có công việc không liên quan trực tiếp đến ngành luật (ví dụ như điều hành kinh doanh và quan chức chính phủ) và sinh viên ngành luật. Năm 2002 với hơn 400.000 thành viên trong đó có hơn 350.000 luật sư, ABA là hiệp hội nghề nghiệp tự nguyện lớn nhất thế giới. Hiệp hội này đã đóng hai vai trò vừa phục vụ cho nghề luật vừa cho công chúng, và số lượng thành viên chiếm khoảng một nửa tổng số luật sư đang làm việc ở Mỹ.

Dù quyền lực thực sự trong việc công nhận và quản lý luật sư là của các bang và các cơ quan tư pháp khác ở Mỹ nhưng ABA là nhân tố chính trong việc hình thành nên những kim chỉ nam về đạo đức cho nghề luật thông qua việc ban hành Những quy định Hình mẫu của ABA về Hành vi Nghề nghiệp. ABA cũng có tiếng nói rất quan trọng trong những vấn đề liên quan đến luật và nghề luật trước Quốc hội và cơ quan hành pháp ở Washington D.C. Ví dụ như trong 25 năm qua ABA đã đóng vai trò quan trọng trong phong trào pháp quyền quốc tế.

Giáo dục pháp luật ở Mỹ

Không giống như các nước khác, giáo dục pháp luật ở Mỹ được thực hiện ở cấp sau đại học. Do đó, sinh viên học ngành luật sau khi tốt nghiệp một trường đại học. Nhiều sinh viên ngành luật của Mỹ cũng vào học trường luật khi đã già lúc có kinh đủ kinh nghiệm làm việc hay có bằng đại học của các nghề khác.

Sự thay đổi thực chất có ý nghĩa nhất trong giáo dục pháp luật ở Mỹ 30 năm qua là việc đưa đào tạo kỹ năng nâng cao vào các chương trình học của hầu hết các trường luật ở Mỹ, trước hết thông qua các khóa giáo dục thực tế và giải quyết tình huống phức tạp. Giáo dục pháp luật ở Mỹ có truyền thống đào tạo sinh viên luật “suy nghĩ” như những luật sư và dạy luật về quyền hạn và nghĩa vụ cũng như luật tố tụng. Giáo dục pháp luật ở Mỹ hiện nay cũng thực hiện tốt việc đào tạo các sinh viên tốt nghiệp “hành động” như những luật sư. Hầu hết các trường luật ở Mỹ đều kết luận rằng việc kết hợp các giảng viên chính thức (đa số đều có nhiều kinh nghiệm trong nghề luật trước khi tham gia giảng dạy luật) và những thẩm phán cũng như những người làm trong ngành tư pháp có kinh nghiệm tham gia giảng dạy là phù hợp nhất để đào tạo tay nghề cả về chiều rộng và chiều sâu cho một luật sư mới được công nhận.

Trong những năm gần đây, đào tạo kỹ năng tại các trường luật được ABA công nhận chịu ảnh hưởng lớn của bản báo cáo năm 1992 của cơ quan Giáo dục Pháp luật và Tiếp nhận các thành viên của ABA có tên gọi là Giáo dục Pháp luật và Phát triển Nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên, thường được biết đến với tên gọi Bản báo cáo Mac Crate. Ðây là báo cáo mô tả thuyết phục về những kỹ năng và giá trị cơ bản cần thiết để có thể bảo vệ tốt quyền lợi của khách hàng.

Những cơ sở do ABA công nhận

Giáo dục pháp luật ở Mỹ được thực hiện thông qua một loạt các cơ sở và dưới nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay có tổng cộng 185 cơ sở được công nhận bởi Hội Luật gia Hoa Kỳ để cấp bằng thứ nhất về chuyên ngành luật (bằng tiến sĩ luật – J.D.). 107 trường luật được công nhận là cơ sở tư, và 78 là cơ sở công được chính quyền bang hay địa phương tài trợ. Tuy nhiên kể cả cơ sở công cũng chủ yếu dựa vào học phí và đóng góp tư nhân hỗ trợ tài chính cần thiết cho các chương trình luật của trường.
Tổng số sinh viên theo học chương trình tiến sĩ luật ở các trường được ABA công nhận đã tăng từ khoảng 91.225 năm 1971 lên 127.260 sinh viên mùa thu năm 2001. Khoảng 21.000 sinh viên tham gia các chương trình bán thời gian và sinh viên thường mất 4 năm để lấy được bằng. Ðại đa số sinh viên còn lại đăng ký chương trình toàn phần và thường phải học 3 năm. Mùa thu năm 2001, khoảng 45.000 sinh viên năm thứ nhất đã đăng ký học tại các trường luật do ABA công nhận. 49% sinh viên mới vào trường là nữ và 21% là dân tộc thiểu số.

Các trường luật do ABA công nhận giáo dục pháp luật nhằm đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu được đưa ra bởi Hội đồng Bộ phận Giáo dục Pháp luật và Công nhận là các thành viên của ABA. Các cơ quan tư pháp ở Mỹ đã xác định rằng những ai tốt nghiệp các trường luật do ABA công nhận đều có thể tham gia phiên tòa xét xử trong khu vực tài phán của mình. Vai trò của ABA là cơ quan chứng nhận quốc gia đã giúp cho việc chứng nhận trở nên thống nhất trên phạm vi toàn quốc ở 50 bang, ở thủ đô Quận Columbia, Khối thịnh vượng Puerto Rico và các khu vực tài phán khác ở Mỹ.

Hội đồng và Uỷ ban Chứng nhận

Hội đồng Bộ phận Giáo dục Pháp luật và Công nhận là các thành viên của ABA là cơ quan chứng nhận được sự công nhận của Bộ Giáo dục Mỹ về các chương trình học lấy bằng thứ nhất về chuyên ngành luật. Hội đồng gồm 21 thành viên bỏ phiếu và không quá 10 người là trưởng khoa hay các giảng viên của trường luật. Các thành viên khác của Hội đồng gồm thẩm phán, các luật sư, một sinh viên luật và ít nhất 3 thành viên khác không phải là luật sư hay nhân viên của trường luật.

Quy trình công nhận trường luật do Hội đồng đề ra nhằm đánh giá cẩn thận và toàn diện về một trường luật và sự tuân thủ. Những tiêu chuẩn Công nhận Trường Luật. Những tiêu chuẩn này là các yêu cầu về những vấn đề như chương trình giảng dạy, các công việc của khoa, về nhập học và về sinh viên, thư viện và công nghệ thông tin, và các cơ sở vật chất khác. Các tiêu chuẩn được xem xét lại thường xuyên để đảm bảo sẽ tập trung vào những vấn đề cốt lõi cuả chất lượng giáo dục pháp luật. Hội đồng trước khi quyết định thông qua những tiêu chuẩn này đã thiết lập nên một quy trình mở rộng thu thập ý kiến và đề nghị sửa đổi chúng của các trưởng khoa, các khoa luật, các hiệu trưởng đại học, lãnh đạo đoàn luật sư và cơ quan tư pháp, và những ai quan tâm đến giáo dục pháp luật.
Trong việc quản lý các trường luật, Hội đồng được trợ giúp bởi Uỷ ban chứng nhận của Bộ phận Giáo dục pháp luật và Tiếp nhận của Hội Luật gia. Uỷ ban chứng nhận có bộ máy giống như Hội đồng và sẽ xem xét các báo cáo liên quan đến tất cả những trường do ABA công nhận và tất cả những trường xin công nhận để xác định liệu trường đó có đáp ứng được những yêu cầu và Tiêu chuẩn không. Vai trò khác biệt của Hội đồng và Uỷ ban chứng nhận trong quá trình chứng nhận sẽ được mô tả trong những phần sau.

Văn phòng tư vấn Giáo dục Pháp luật đóng tại trụ sở ABA ở Chicago, bang Illinois sẽ hỗ trợ về mặt nhân sự cho Hội đồng và Uỷ ban chứng nhận cũng như các hoạt động khác của Hội đồng Bộ phận Giáo dục Pháp luật và Công nhận là các thành viên của ABA. Chuyên gia tư vấn và nhân viên sẽ giám sát việc thực hiện quy trình chứng nhận và chỉnh sửa Tiêu chuẩn, hỗ trợ và tư vấn cho các trưởng khoa và người điều hành trường luật, và đại diện cho ngành giáo dục pháp luật tại các diễn đàn.

Công nhận tạm thời

Một trường luật có thể xin ABA công nhận tạm thời sau một năm hoạt động. Trong những năm gần đây, có hai loại trường xin công nhận tạm thời. Một số trường là trường luật mới được thành lập. Số khác là những trường luật có sinh viên tốt nghiệp đủ tư cách tham gia thi tuyển luật sư tại một hay một số ít khu vực tài phán ở Mỹ. Họ xin ABA công nhận để sinh viên tốt nghiệp đủ tư cách hành nghề ở tất cả khu vực tài phán ở Mỹ.
Một trường xin công nhận tạm thời phải soạn ra một bản tự thuật chi tiết mô tả trường của mình và những thông tin khác về trường. Văn phòng Tư vấn cử một nhóm 6 hay 7 người tiến hành xác minh tại trường. Nhóm này thường gồm 2 hay 3 giảng viên khoa luật hay trưởng khoa luật, một thủ thư về luật, một nhân viên của khoa chuyên về hướng dẫn đào tạo kỹ năng nghề nghiệp (kỹ năng thực nghiệm hay giải quyết tình huống, viết trong pháp luật), một thẩm phán hay người làm luật, và một người điều hành ở trường đại học nhưng không phải là thành viên của khoa luật.
Nhóm xác minh xem xét cẩn thận những tài liệu của trường cung cấp và thăm trường trong 3 ngày. Nhóm tiếp xúc với trưởng khoa và các lãnh đạo khoa, bộ phận quản lý hành chính khoa, hiệu trưởng và các quan chức quản lý trường đại học, và với càng nhiều thành viên trong khoa càng tốt. Nhóm cũng thăm nhiều lớp học để đánh giá chất lượng giảng dạy.
Ngay sau khi xác minh xong, nhóm sẽ soạn thảo một bản báo cáo xác minh. Báo cáo này đề cập đến tất cả những khía cạnh hoạt động của trường kể cả của của khoa và bộ phận quản lý, chương trình học, sinh viên và tỷ lệ đỗ kỳ thi luật sư hay tìm việc làm, dịch vụ cho sinh viên, thư viện và các nguồn thông tin, nguồn tài chính và các cơ sở vật chất và khả năng công nghệ.

Báo cáo xác minh sẽ được gửi cho Văn phòng Tư vấn và trường được xác minh. Trường này có điều kiện đính chính bằng văn bản những sai sót về thực tế và góp ý về bản báo cáo. Sau đó, báo cáo này sẽ trình lên Uỷ ban Chứng nhận, ủy ban này sẽ tổ chức một buổi điều trần với sự có mặt của đại diện trường xin công nhận tạm thời. Sau buổi điều trần, Uỷ ban Chứng nhận sẽ đưa ra khuyến nghị về công nhận tạm thời trình lên Hội đồng.
Trường xin công nhận tạm thời phải chứng minh rằng mình “tuân thủ hầu hết các Tiêu chuẩn và đưa ra một kế hoạch đáng tin cậy nhằm tiến tới tuân thủ hoàn toàn các Tiêu chuẩn trong vòng 3 năm sau khi được công nhận tạm thời”. Nếu Uỷ ban Chứng nhận kết luận rằng trường nào tuân thủ hầu hết những tiêu chuẩn và có kế hoạch đáng tin cậy sẽ tuân thủ hoàn toàn thì ủy ban sẽ khuyến nghị lên Hội đồng để công nhận tạm thời.
Khi một trường xin công nhận tạm thời, quyết định cuối cùng về việc này là của Hội đồng. Nếu Hội đồng quyết định công nhận tạm thời, quyết định đó sẽ chuyển cho Hội đồng đại biểu ABA để nhất trí hay không nhất trí và sau đó chuyển lại cho Hội đồng.

Trường được công nhận tạm thời có tất cả các quyền của một trường luật được công nhận đầy đủ. Do đó, sinh viên tốt nghiệp của các trường này cũng được công nhận như sinh viên tốt nghiệp của trường được công nhận hoàn toàn.

Xin công nhận hoàn toàn

Khi một trường được công nhận tạm thời thì tư cách đó vẫn được duy trì trong ít nhất 3 năm và không quá 5 năm. Ðể được công nhận hoàn toàn, trường đó phải chứng minh rằng mình tuân thủ hoàn toàn những Tiêu chuẩn vì việc tuân thủ hầu hết là chưa đủ.

Khi đang là trường được công nhận tạm thời, hoạt động của trường được giám sát chặt chẽ. Mỗi năm có một đoàn xác minh đến thăm và sau mỗi lần như vậy sẽ có một báo cáo xác minh trình lên trường và Uỷ ban Chứng nhận. Uỷ ban xem xét báo cáo này và phản hồi của trường rồi gửi cho trường đó một bức thư chỉ ra những vấn đề mà ủy ban kết luận là trường chưa tuân thủ đầy đủ những Tiêu chuẩn.

Trong thời gian trường được xem xét công nhận hoàn toàn, quy trình cũng giống như việc xin công nhận tạm thời. Quyết định về công nhận hoàn toàn chỉ do Hội đồng đưa ra sau khi xem xét kết quả xác minh, các kết luận và khuyến nghị của Uỷ ban Chứng nhận. Vai trò của Hội đồng Ðại biểu trong việc xem xét quyết định của Hội đồng về công nhận hoàn toàn cũng giống như vai trò của Hội đồng Ðại biểu trong quyết định công nhận tạm thời.

Sau khi được công nhận hoàn toàn, trường đó phải được xác minh hoàn toàn trong năm thứ ba sau khi được công nhận và cứ bảy năm sẽ có một cuộc xác minh đầy đủ. Quá trình xác minh và xem xét báo cáo xác minh của Uỷ ban Chứng nhận rất giống với quá trình trường xin công nhận tạm thời.

Việc công nhận luật sư ở Mỹ

Việc công nhận luật sư ở Mỹ do các quy định độc lập đề ra ở mỗi bang trong tổng số 50 bang, Quận Columbia, Khối thịnh vượng Puerto Rico và các khu vực tài phán khác. Hơn một nửa khu vực tài phán này yêu cầu người muốn hành nghề luật sư trong khu vực tài phán phải tốt nghiệp tại một trường luật được ABA công nhận. Ðối với những khu vực tài phán cho phép sinh viên tốt nghiệp từ các trường luật không do ABA công nhận trở thành luật sư, hầu hết đều hạn chế ưu đãi những người tốt nghiệp này tại khu vực tài phán cụ thể của họ.

Chỉ có một khu vực tài phán yêu cầu những người nộp đơn mà chưa được công nhận hành nghề ở một khu vực tài phán khác ở Mỹ cần phải tham gia và vượt qua kỳ thi do bang tổ chức. Ngoại lệ đó là bang Wisconsin dành “ưu tiên văn bằng” cho những ai tốt nghiệp hai trường luật trong bang đó và cho phép họ được hành nghề tại Wisconsin mà không cần qua kỳ thi.

Một kỳ thi điển hình công nhận luật sư của bang thường kéo dài hai đến ba ngày và gồm ít nhất hai phần: phần thi khách quan (Thi Luật sư Liên bang của Ðại hội Quốc gia Giám khảo Luật sư (NCBE)) kiểm tra kiến thức cơ bản về những vấn đề nền tảng như hợp đồng, tài sản, vi phạm dân sự, luật tố tụng và luật hiến pháp, và một bài thi viết luận về những chủ đề do các khu vực tài phán chọn.

Ngày càng nhiều khu vực tài phán sử dụng Thi Viết luận Liên bang do NCBE soạn thảo thay vì tự soạn các bài thi viết. Hơn một nửa khu vực tài phán cũng sử dụng Bài kiểm tra trắc nghiệm Trình độ Liên bang (Multistate Performance Test – MPT, cũng do NCBE soạn thảo) như là một phần của thi viết luận. MPT kiểm tra kỹ năng luật sư cụ thể bằng cách đưa cho thí sinh một tình huống thực tế và những nguyên tắc pháp lý áp dụng cho tình huống đó, sau đó yêu cầu thí sinh đưa ra một văn kiện pháp lý (như di chúc, hợp đồng hay giấy biện hộ). Tất cả các khu vực tài phán cũng tiến hành thẩm tra tính cách và sức khoẻ của tất cả những ai muốn hành nghề luật sư.

Hầu hết các khu vực tài phán cho phép một luật sư mà đã được công nhận hành nghề trong một thời hạn nhất định (thường là 5 năm) và có uy tín trong khu vực tài phán của mình được công nhận thông qua đề nghị mà không qua kỳ thi luật sư. Tuy nhiên một số khu vực tài phán yêu cầu một luật sư nếu được công nhận thông qua đề nghị vẫn phải vượt qua kỳ thi luật sư và kỳ thi này thường tập trung vào các quy tắc thủ tục và yêu cầu về đạo đức. Một số bang như Florida và California không cho phép kể cả những luật sư có kinh nghiệm được công nhận nếu không dự kỳ thi luật sư của bang đó.

Nhiệm vụ phối hợp

Một trong những thế mạnh của quy trình chứng nhận trường luật của ABA là việc phối hợp có sự tham gia tích cực của các khoa và trưởng khoa luật, các luật sư đang hành nghề, các thẩm phán, những người quản lý trường đại học và đại diện của nhân dân. Ðiều này đảm bảo công khai rằng những quan điểm của đoàn luật sư, những người quản lý trường đại học và những đại diện công chúng hữu quan, cũng như quan điểm của khoa luật và trưởng khoa luật đều được xem là tiêu chuẩn mà các trường luật ở Mỹ phải tuân thủ và được coi là quyết định khi xem xét liệu một trường luật nào đó có tuân thủ những tiêu chuẩn này không. Nỗ lực hợp tác này đã phát huy tác dụng trong nhiều năm qua. Ðặc biệt cơ quan tư pháp và đoàn luật sư là những nhân tố rất quan trọng trong việc mở rộng đào tạo kỹ năng chuyên sâu trong các trường luật ở Mỹ trong 30 năm qua.

SOURCE: Trung tâm Thông tin – Tư liệu ĐSQ Hoa Kỳ

ĐÀO TẠO LUẬT VÀ NGHỀ LUẬT Ở CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

THS. NGUYỄN VĂN NAM – Khoa Luật Học viện An Ninh

Việc đào tạo luật của Cộng hoà liên bang Đức có nhiều nét tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Tuy nhiên, quy trình đào tạo nghề luật lại mang những nét đặc trưng, cụ thể là, ở Đức không tồn tại mô hình đạo tạo riêng cho từng nghề luật như nghề thẩm phán, nghề luật sư… mà chỉ có một quy trình đào tạo chung cho mọi nghề luật. Bài viết dưới đây, tác giả giới thiệu một cách khái quát hai quy trình đào tạo này để bạn đọc tham khảo.

1. Khái quát về lịch sử đào tạo luật ở CHLB Đức

Cộng hoà Liên bang Đức là nước có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc trưng của truyền thống pháp luật châu Âu lục địa, bởi ngay thế kỷ XI, khi ở châu Âu bắt đầu xuất hiện xu hướng giảng dạy pháp luật trong các trường đại học tổng hợp, trong đó, trường đại học tổng hợp Bologna của nước ý được biết đến như là một trung tâm đầu tiên giảng dạy luật La Mã và là nơi quy tụ các giảng viên và học viên ở khắp châu Âu, nhiều sinh viên trẻ của Đức, những người có tham vọng trở thành luật gia giỏi cũng đã tới Bologna để học. Thừa hưởng kiến thức pháp luật cũng như những phương pháp áp dụng trong giảng dạy, những luật gia được đào tạo ở Bologna đã đặt nền móng cho truyền thống đào tạo pháp luật ở Đức sau này.

Từ thế kỷ XIV, các trường đại học tổng hợp đầu tiên của Đức, trong đó có khoa luật đã được thành lập. Đến nay, các khoa luật này vẫn là những cơ sở đào tạo pháp luật chính thức của Đức. Đây cũng là đặc điểm chung trong truyền thống về đào tạo pháp luật của nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa như: Pháp, Bỉ, Hà Lan… Nhưng, ở Đức có điểm đặc trưng là, chế độ đào tạo luật và nghề luật là một quy trình toàn diện, thống nhất trên phạm vi toàn liên bang (bao gồm 16 bang). Theo đó, quy trình đào tạo này kéo dài khoảng năm năm rưỡi đến sáu năm. Toàn bộ thời gian đào tạo được chia làm hai giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất: đào tạo pháp luật ít nhất là ba năm rưỡi tại trường đại học.

– Giai đoạn thứ hai: đào tạo thực hành nghề luật kéo dài ít nhất là hai năm.

2. Các giai đoạn đào tạo luật và nghề luật ở Đức

Giai đoạn đào tạo luật

Đây là giai đoạn thứ nhất trong quy trình đào tạo luật tại Đức. Bất kỳ ai, nếu muốn trở thành luật sư, công chứng viên, thẩm phán, công tố viên… đều phải thi tuyển hoặc được xét tuyển vào học tại các trường Đại học luật hoặc khoa luật tại các trường đại học tổng hợp (hiện nay, trên toàn nước Đức có khoảng 50 khoa luật trực thuộc các trường đại học nằm rải rác trong phạm vi 16 bang).

Theo quy định, các trường luật, các khoa luật thuộc các trường đại học tổng hợp chỉ phải tuân thủ khung chung về đào tạo pháp luật do luật liên bang quy định. Trên cơ sở đó, mỗi bang có thể quy định các chương trình đào tạo chi tiết khác nhau dựa trên thế mạnh trong nghiên cứu, đào tạo của các trường đại học của bang mình.

Các môn học

Trong giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ phải học trong một khoảng thời gian ít nhất là ba năm rưỡi với các môn học mang tính cơ sở về khoa học luật như: lịch sử các học thuyết pháp luật, lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học pháp luật và các môn luật mang tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính, luật tố tụng dân sự…

Bên cạnh các môn học mang tính bắt buộc thì sinh viên luật ở Đức cũng có các môn học tự chọn, đó có thể là môn luật về thuế, luật về cộng đồng châu Âu, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ… Việc thiết kế các môn học bắt buộc và tự chọn tùy thuộc vào chương trình của mỗi trường. Ví dụ như, theo chương trình đào tạo của trường North – Rhine Westphalia, các môn học tự chọn là luật thuế, luật kinh doanh, luật quốc tế…

Phương pháp đào tạo

Đối với phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang xuất hiện hai quan điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan điểm bảo thủ. Nhóm quan điểm cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương pháp thực tiễn trong đào tạo luật của các nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại cho rằng, chế độ đào tạo pháp luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu quả. Bởi việc đào tạo pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo kiến thức pháp luật cơ bản, tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức toàn diện cho sinh viên. Còn các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang tính chất nghề luật là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên, các kết quả khảo sát gần đây cho thấy, nhiều khoa luật trên lãnh thổ của Đức đã chú trọng đến việc cân đối giữa hàm lượng lý thuyết và thực tiễn pháp luật trong cơ cấu các môn học. Điều này được minh chứng bằng việc ngày càng có nhiều luật sư và thẩm phán có uy tín được các khoa luật mời đến giảng bài cho sinh viên. Bên cạnh đó, trong hệ thống câu hỏi của các kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất, tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp luật ngày càng tăng.

Tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và đánh giá kết quả học tập

Nếu nhìn vào quy trình tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi, đặc biệt là thi tốt nghiệp cho giai đoạn thứ nhất thì có thể khẳng định rằng, việc đào tạo pháp luật ở Đức có chất lượng rất cao. Pháp luật của Đức quy định: Bộ Tư pháp của mỗi bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi này, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi. Các câu hỏi thi thường dài và phức tạp, chẳng hạn như, kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất ở bang Bavarian có tới tám câu hỏi, sinh viên phải hoàn thành bài thi trong thời gian năm tiếng. Đây thực sự là một áp lực đối với bất cứ sinh viên luật nào. Theo tài liệu thống kê được công bố năm 2003, thì chỉ có khoảng 65% sinh viên đạt yêu cầu, còn 35% sinh viên phải thi lại trong các lần thi tiếp theo. Ngoài hình thức thi viết, các trường còn có thể cho sinh viên thi tốt nghiệp bằng hình thức vấn đáp. Theo đó, sinh viên sẽ phải trả lời câu hỏi trước một hội đồng bao gồm: hai giáo sư, hai thẩm phán, một luật sư hoặc một chuyên viên pháp luật. Thời gian thi vấn đáp có thể kéo dài tới bốn tiếng cho một nhóm khoảng năm sinh viên. Nếu sinh viên bị trượt trong lần thi lại thì coi như họ đã bỏ phí mấy năm học tại trường. Những sinh viên đã vượt qua kỳ thi này thì được quyền học tiếp giai đoạn thứ hai.

Một vấn đề không thể không nhắc đến trong thực tế học tập và thi cử của sinh viên luật ở Đức là sự hiện diện của các “ Repetiter” có thể tạm dịch là “thầy dạy kèm” (xuất hiện từ thế kỷ thứ XIII và XIV trong việc dạy và học luật ở trường đại học tổng hợp Bologna, sau đó lan rộng ra khắp châu Âu và tồn tại cho đến nay). “Thầy dạy kèm” tuy không phải là các giáo sư dạy luật của các trường đại học, nhưng họ có trình độ, kiến thức pháp luật uyên thâm, giúp các sinh viên cách học và tích lũy kiến thức để vượt qua các kỳ thi. “Thầy dạy kèm” tận tụy với việc truyền đạt những kiến thức mà các giáo sư trong trường chưa làm cho sinh viên thỏa mãn. Giả sử như, khi giảng bài trong một lớp học có khoảng 100 sinh viên, giáo sư khó có thể trả lời được tất cả những thắc mắc của từng sinh viên và cách tốt nhất đối với các sinh viên luật trong trường hợp này là đến với các “thầy dạy kèm”. Theo thống kê, có tới 95 % sinh viên luật ở Đức đã từng đến với “thầy dạy kèm”. Các “thầy dạy kèm” sống bằng những khoản phí do sinh viên trả, họ có thể hoạt động đơn lẻ hoặc hoạt động trong một hiệp hội, một công ty. Pháp luật của Đức coi hoạt động dạy kèm là hợp pháp.

Giai đoạn đào tạo nghề luật

Sau khi đã vượt qua kỳ thi của giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ được tiếp tục theo học giai đoạn thứ hai – giai đoạn đạo tạo nghề luật, nghĩa là, đào tạo các kiến thức pháp luật thực hành. Việc đạo tạo nghề luật của giai đoạn thứ hai kéo dài hai năm và cũng được kết thúc bằng một kỳ thi. Nếu không vượt qua kỳ thi này thì sinh viên luật sẽ không nhận được học vị cử nhân, điều đó cũng đồng nghĩa với việc, họ không thể bước vào con đường nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán, hay nghề công tố viên…

Đào tạo nghề luật ở Đức có điểm giống với nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu ở chỗ, đây là giai đoạn đào tạo kiến thức về các nghề luật như: nghề luật sư, nghề thẩm phán, nghề công tố … Nhưng khác biệt là: (1) Đây là một phần không thể thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học. (2) ở Đức không tồn tại mô hình đào tạo nghề thẩm phán như ở Pháp (sinh viên luật ở Pháp, sau khi tốt nghiệp đại học, nếu có tham vọng trở thành thẩm phán thì phải tiếp tục thi và theo học trong trường đạo tạo thẩm phán), mà pháp luật của Đức quy định một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên luật, sau khi tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghề luật. Trong thời gian hai năm gắn với thực hành, sinh viên luật ở Đức vẫn phải tham gia các giờ học mang tính chất lý thuyết. Thông thường, thầy giáo giảng trong các giờ học này là những thẩm phán hay các chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm. Những sinh viên luật dù đã định hướng nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán… thì vẫn phải tham gia tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao trong thời gian sáu tháng; ở cơ quan công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn tháng và bốn tháng tập sự cùng với một luật sư thực thụ. Như vậy, trong thời gian thực tập, sinh viên luật sẽ làm quen với các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính… Mức độ tiếp cận với thực tiễn nghề luật sẽ phụ thuộc vào số lượng công việc nơi thực tập và khả năng học tập của sinh viên. Khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập sự ở các cơ quan nói trên, trong thời gian bảy tháng còn lại, họ có thể tùy chọn tập sự lại ở một trong các vị trí nói trên, nhằm tăng thêm khả năng chuyên sâu nghề nghiệp. Trong bảy tháng này, những sinh viên có định hướng làm nghề thẩm phán thường sẽ chọn tòa án là nơi tăng cường thực tiễn. Còn những sinh viên có tham vọng theo nghề luật sư, thì địa chỉ mà họ thực tập là các công ty luật hoặc các đoàn luật sư. Giai đoạn thực hành nghề luật của sinh viên cũng được kết thúc bằng một kỳ thi tốt nghiệp. Kỳ thi này còn được coi là quan trọng và khó hơn kỳ thi tốt nghiệp trong giai đoạn thứ nhất. Theo thống kê của bang Bavarian, có tới 15% trong tổ số sinh viên luật tại bang thi trượt trong kỳ thi này. Khi những sinh viên đã thi lại lần hai mà vẫn không qua, thì con đường bước vào nghề luật của họ coi như đã bị khép lại. Còn những sinh viên luật đã hoàn thành việc học tập trong cả hai giai đoạn và vượt qua cả hai kỳ thi nói trên sẽ được nhận bằng luật, và họ có đủ tư cách để tìm những vị trí làm việc thích hợp.

Hiện nay ở Đức, các sinh viên luật sau khi tốt nghiệp có rất ít cơ hội được tuyển vào làm thẩm phán, do công việc này ít có nhu cầu bổ sung. Bên cạnh đó, biên chế trong các cơ quan công tố và cơ quan hành chính nhà nước cũng luôn có giới hạn. Tình trạng này làm cho số người chọn nghề luật sư để kiếm sống ngày càng tăng. Theo con số thống kê năm 2001, toàn liên bang Đức có khoảng 110.367 luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư. Đến tháng 1/2003, số luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư đã lên tới 121.420 người, tăng khoảng 4,4% so với 12 tháng trước đó. Nghề luật sư ở Đức cũng như ở nhiều nước trên thế giới, tính cạnh tranh ngày càng cao, do đó hình thành xu hướng ngày càng có nhiều luật sư hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh vực pháp luật như: luật hôn nhân gia đình, luật thuế, luật hình sự, luật hành chính, luật sở hữu trí tuệ…

Như vậy, việc quy định hai bước trong quy trình đào tạo pháp luật ở Đức vừa có những điểm tương đồng với các nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, đồng thời, cũng có những đặc điểm riêng, thể hiện rõ nét ở việc đào tạo nghề luật trong giai đoạn thứ hai.

3. Đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ luật học

Đào tạo sau đại học trong lĩnh vực pháp luật ở Đức cũng rất phát triển so với nhiều nước châu Âu, bởi nếu ai muốn khẳng định vị trí của mình nơi công tác hoặc có ước muốn trở thành giáo sư giảng dạy pháp luật trong các trường đại học, thì học tập và nghiên cứu sau đại học là con đường không thể bỏ qua.

– Đào tạo thạc sĩ: phần lớn các chương trình đào tạo cao học luật ở Đức bắt buộc học viên phải có trình độ cử nhân luật, phải tham gia học tập và nghiên cứu theo thiết kế chương trình của các trường đại học. Kết thúc khóa cao học luật, học viên sẽ phải bảo vệ luận văn, nếu luận văn đạt yêu cầu, họ sẽ được nhận học vị thạc sĩ luật học.

– Đào tạo tiến sĩ: Cũng giống như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa, quy trình đào tạo tiến sĩ luật học ở Đức phản ánh tính chất hàn lâm. Theo thống kê, có khoảng 1/10 các luật gia ở Đức làm luận án tiến sĩ và để nhận được học vị tiến sĩ đòi hỏi các nghiên cứu sinh phải học tập trung tại các cơ sở đào tạo từ một đến hai năm, khi bảo vệ thành công luận án, họ sẽ được nhận tấm bằng: Dr.jur.(viết tắt của từ tiến sĩ luật trong tiếng Đức).

Học vị tiến sĩ luật không phải là đòi hỏi chính thức với bất kỳ nghề luật nào, nhưng nó tạo ra một vị trí xã hội đáng kể và rất hữu ích với cả những người không mong muốn trở thành giáo sư dạy luật trong trường đại học. Trong các công ty tư nhân, nếu một luật sư có học vị tiến sĩ thì anh ta sẽ có cơ hội được đề bạt ở những vị trí cao nhất.

Tuy nhiên, sự đào tạo bài bản và rất nghiêm túc trong quy trình kiểm tra, đánh giá thực sự là một thử thách rất lớn cho những ai muốn đạt được học vị tiến sĩ luật ở Đức, bởi một luận án tiến sĩ thường đòi hỏi phải có độ dày từ 200 đến 400 trang và phải đảm bảo tính khoa học rất cao, phải kết hợp được cả giá trị lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, với những tiến sĩ luật học có nguyện vọng trở thành giáo sư, thì họ nhất thiết phải in luận án của mình thành sách sau khi đã bảo vệ thành công.

=============================

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 8/2005

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ XÃ HỘI DÂN SỰ

GS. TƯƠNG LAI 

Khát vọng về dân chủ và công bằng vốn nung nấu từ lâu trong lịch sử loài người. Có dân chủ mới thực hiện được công bằng, đồng thời công bằng là thước đo của dân chủ và tiến bộ xã hội. Điểm quy chiếu để kiểm nhận về công bằng và dân chủ mà một xã hội đạt được thường tìm thấy dễ dàng trong pháp luật. Cũng qua sự hiểu biết của người dân về pháp luật và việc thực hiện pháp luật, người ta có thể kiểm định về trình độ văn minh của một xã hội. Khi chúng ta đang phấn đấu cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì cần phải tường minh về những vấn đề đó.

Nói đó là khát vọng đã nung nấu từ lâu vì những hưng vong, thành bại của mọi triều đại, mọi thể chế trải qua mọi cuộc “tranh bá, đồ vương” đều có thể tìm dấu ấn của tư duy loài người xoay quanh chuyện này. Xin được dẫn dắt bài báo Tết này bằng chuyện bên Tàu.

Quản Trọng, người đã làm cho nước Tề thành “bá” từ sáu thế kỷ trước công nguyên đã từng khẳng định: “Pháp [luật] là cái quy tắc của thiên hạ… Quan sai khiến dân mà có pháp [luật] thì dân theo, không có pháp [luật] thì dân dừng lại. Dân lấy pháp [luật] chống nhau với quan. Người dưới lấy pháp [luật] phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái” (Quản Tử. Quyển 21). Chính vì lẽ đó mà phái pháp gia bị phái nho gia vốn chủ trương “đức tri” “nhân tri”chống lại kịch liệt. Khổng Tử nói: “sở dĩ dân có thể tôn quý người sang, người sang nhờ thế giữ gìn được cơ nghiệp mình. Người sang người hèn không lẫn lộn, cái đó gọi là pháp độ… Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật, thì dân chỉ biết cái vạc lấy gì để tôn quý (người sang) ? Người sang còn có cơ nghiệp nào để giữ Người sang kẻ hèn không có trên dưới, lấy gì để làm thành nước?” (Tả truyện. Quyển 26).

Thì ra, ẩn đằng sau những lập luận của ngôn từ là cái lợi ích cụ thể, là “cái ghế” của người đang nắm quyền lực! Nhân trị, đức trị hay “pháp độ” thực chất là công cụ của kẻ đang nắm được quyền lực muốn duy trì hiện trạng của sự bất công, phân biệt kẻ sang, người hèn, bắt “người hèn” sợ uy lực và khuất phúc “kẻ sang”. Vì thế phải dùng cái “nhân” , cái “đức” của người cẩm quyền để giáo hoá và trị dân, bằng sự áp đặt ý chí của kẻ có quyền buộc thần dân phải tuân theo, không thể dùng pháp luật vì sợ dân có thể dùng ngay pháp luật để chống lại mình.

“Nhân tri’, ” đức tri” chẳng qua là sự tuỳ tiện của người có quyền. May mắn mà người cầm quyền có “đức”, có “nhân” thì dân được nhờ. Vô phúc vớ được kẻ hôn quân, tên bạo chúa thì dân đành chịu vậy. Mà trò đời, đã nắm được quyền thì muốn giữ riệt lấy quyền ấy, mấy ai mà chịu “từ chức”, “nhường ngôi”! ấy thế nhưng, nhìn lại lịch sử của đất nước từng là quê hương của “pháp gia” hay “nho gia” ấy, người ta nghiệm ra rằng, trong các cuộc “tranh bá, đồ vương”, những nước cố giữ lấy “pháp độ” thì sớm suy vong còn những nước chịu theo “pháp tri” thì hùng cường lên để có thể thôn tính các nước khác!

Cũng trên quê hương của những “pháp gia” và “nho gia” ấy, lịch sử dường như lặp lại. Người ta bắt gặp những vấn đề mà loài người đã từng biết đến từ rất lâu song đã bị chìm đi trong một mớ hỗn độn những giáo điều mới một thời thống trị đời sống tinh thần xã hội nay đang được xáo xới lại một cách quyết liệt. Người ta dám mạnh dạn lật lại vấn đề, không câu nệ và dứt khoát vứt bỏ những ràng buộc của những công thức đã từng kìm hãm sự phát triển, trở lại với những thành tựu đánh dấu những cột mốc của nền văn minh mà loài người đã tạo ra. Có thể nói, đó là một đột phá về lý luận để mở đường cho đất nước này “tiến cùng thời đại’?

Giờ đây, người ta đang đặt lại vấn đề về pháp trị hay nhân trị, đức trị. Vấn đề mà hơn hai nghìn ba trăm năm về trước, Hàn Phi – nhà tư tưởng cổ đại của họ đã từng nêu lên: “Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” (Hàn Phi Tử. Quyển 2. Thiên VI) Chúng ta cứ ngỡ như nhà tư tưởng cổ đại đó nói với người đương thời của xã hội Trung Quốc trong thế kỷ XXI !

Dùng pháp luật theo Hàn Phi Tử: “… điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật”

Mà quả như vậy, chẳng là vừa rồi, ông Hồ Cẩm Đào đưa ra thông điệp: “Khi làm việc phải theo Hiến pháp, mục đích của việc đó là đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân”1 để khẳng định lại quan điểm về “thúc đẩy” việc chế độ hoá, quy phạm hoá và trình tự hoá nền dân chủ XHCN, bảo đảm cho nhân dân làm chủ, quán triệt phương châm cơ bản dựa vào pháp luật để quản lý đất nước, nâng cao trình độ cầm quyền theo pháp luật. Thoạt nghe cứ tưởng, dường như ông Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa khẳng định lại luận điểm “thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” mà nhà tư tưởng của thời Xuân Thu Chiến Quốc ở nước ông đã từng nêu!

Chỉ có điều, Hàn Phi vốn là người dám nhìn thẳng vào sự thật với tất cả sự tàn nhẫn của nó, ông ta biết chắc rằng nói ra để chết chứ không phải để sống! Mà quả vậy, Tần Thuỷ Hoàng đọc tác phẩm của Hàn Phi đã nói: “Ta được làm bạn với con người này thì có chết cũng không uổng”, nhưng rồi chính Hàn Phi bị bức phải uống thuộc độc để chết trong ngục của nước Tần. Chính Hàn Phi đã thổ lộ tâm sự đó trong “Nỗi phẫn uất của con người cô độc” để phân tích rõ về cái kết cục tất yếu mà mình phải hứng chịu vì “Kẻ sĩ biết đề cao pháp luật và thuật trí nước nắm lấy cái thế có năm cái thua: ở xa và không thân nhà vua, mới đến, nói trái ý nhà vua, bị coi khinh, đơn độc “? Vì thế, “những kẻ sĩ có trí và có thuật biết đề cao pháp luật và những bọn hiện đang cầm quyền là những kẻ thù của nhau không thể cùng chung sống. Khi những bọn cầm quyền nắm lấy việc thì bên ngoài cũng như bên trong chỉ lo mưu lợi riêng mà thôi… những kẻ soi sáng pháp luật làm trái ý nhà vua nếu không bị quan lại giết ắt cũng bị thanh kiếm riêng giết vậy” (Hàn Phi Tử. Quyển IV Thiên XI: Cô phẫn).

Đừng quên rằng thời kỳ chống “hữu phái” và “đại cách mạng văn hoá vô sản” diễn ra trên quê hương của nhà tư tưởng cổ đại hơn 2000 năm sau đã có đến hơn 550.000 “kẻ sĩ” các loại bị bắt và đưa đi đày! Thế thì chẳng phải là lịch sử đã lặp lại đó sao? Mà lặp lại trong cái bối cảnh văn minh, hiện đại hơn và cũng tàn nhẫn, thảm khốc hơn đó sao?

Nói đúng ra, biện chứng của lịch sử đã đẩy tới những sự trùng lặp của sự kiện ở cùng một toạ độ song nằm trên một vòng xoáy trôn ốc mới của sự vận động lịch sử. Với bài học kinh nghiệm phải trả bằng cái giá của hàng chục triệu sinh mạng, trong đó không hiếm những “khai quốc công thần”, những anh hùng của cuộc vạn lý trướng chinh, những trí thức, danh nhân tầm cỡ mà những hậu duệ của Quản Trọng, Hàn Phi, Khổng Tử… đang dấn thân vào sự nghiệp cải cách, mở cửa trong công cuộc “xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc” . Phải chăng cũng từ bài học mà học phí phải trả bằng máu, và bằng cái màu sắc Trung Quốc rất linh hoạt và khôn ngoan đó, mà ngày nay, trên quê hương của cụ Khổng, người ta đã thật sòng phẳng khi dám nói ra cái điều vốn bị xem là cấm kỵ: “Thống nhất tư tưởng của toàn dân vào tư tưởng của một người là điều bi thảm”. Cách mạng văn hoá là một minh chứng lịch sử cay đắng của Trung Quốc. Một người sai, cả đất nước bị đe doạ. Do đó, cần đa nguyên về tư tưởng”2.

Chính từ bài học xương máu thảm khốc đó mà Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra Nghị quyết phải thực hiện “chế độ hoá và quy phạm hoá”? Vì thế phải thông qua việc sửa đổi Hiến pháp cũng như việc định ra luật pháp mà ổn định và phát triển. “Điều này cho phép giảm bớt uy quyền của cá nhân, đề cao uy quyền của chế độ và luật pháp, chuyển dần từ chế độ nhân tri sang chế độ pháp trị”3. Giờ đây, người ta đang cố gắng xây dựng một nhà nước pháp quyền gắn liền với xã hội dân sự, việc mà chúng ta cũng đang cố gắng làm. Chỉ có điều, chúng ta nói nhiều về nhà nước pháp quyền nhưng lại có phần nào còn e dè về xã hội dân sự, ấy vậy mà, xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền gắn với nhau như bóng với hình. Hơn nữa, cái ý tưởng về “xã hội dân sự” vốn đã được ấp ủ từ lâu, rất lâu trong khát vọng của con người! Trong lịch sử loài người, quyền con người và quyền công dân là những vấn đề có ý nghĩa bức xúc về thực tiễn cũng như về lý luận, vì, như J.J Rosseau, nhà tư tưởng của thế kỷ khai sáng đã nói: “Con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi con người lại bị cùm kẹp?” Từ khi cuốn “Khế ước xã hội” của Rousseau ra đời, trong tư duy của loài người, quyền lực dường như vô hạn của vua, chúa đã bị hạ bệ với việc khẳng định quyền của dân, quyền phải xuất phát từ dân, nhà nước được xem như là người ký hợp đồng với quốc dân.

Ấy thế nhưng, nhìn trong toàn bộ lịch sử của loài người, “Nhà nước chứa một dấu ngoặc đơn của lịch sử” như tên gọi của một cuốn sách xuất bản vào cuối thế kỷ XX. Vì rằng, xã hội loài người đã trải qua hàng triệu năm, song Nhà nước thì mới xuất hiện chỉ có 6000 năm, và rồi như tiên đoán của C.Mác, với tiến trình lịch sử, nhà nước rồi sẽ tiêu vong còn xã hội loài người sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển!

Học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời từ thế kỷ XIX với một quá trình thăng trầm, thậm chí có lúc bị quên lãng trong một thời gian dài. Ở những nước theo CNXH, người ta không nói đến nhà nước pháp quyền mà chỉ nói đến nhà nước chuyên chính vô sản, cho đến 1988, với “Perestroika”, ở Liên Xô mới bắt đầu nói đến khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” mà ngày nay chúng ta đang dùng! Để giúp xác định tính chất của Nhà nước pháp quyền XHCN này do dân làm chủ, người ta thêm vào cụm từ “của dân, do dân và vì dân”4.

Vấn đề cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở trên nhà nước. Trong Nhà nước của pháp quyền đó, phải được tổ chức theo nguyên tắc “tam quyền phân lập” để kiểm tra nhau, cơ quan nhà nước và công chức chỉ làm được những điều luật pháp cho phép còn dân thì được phép làm tất cả những điều gì mà luật pháp không cấm, và để đảm bảo dân uỷ quyền mà không mất quyền thì công việc của nhà nước và các cơ quan công quyền phải công khai và minh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc hoạch định pháp luật, giám sát và kiểm soát…

Thoạt đầu, ý tưởng về “xã hội dân sự “ và “xã hội công dân” gần như đồng nhất, nhưng dần dần hai khái niệm ấy tách khỏi nhau vì trong tiến trình phát triển, người ta ngày càng thấy rõ là người công dân đồng thời cũng là con người với tất cả những đặc tính phong phú của nó. Cho nên, không thể quy toàn bộ tính phong phú ấy vào trong khái niệm “công dân”?

Xã hội dân sự là đối tác bình đẳng của nhà nước chứ không phải là cái đuôi của Nhà nước, về thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện chính sách và giám sát nhà nước, thực hiện phản biện xã hội đối với Nhà nước, kể cả đối với phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước.

Cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hoá, xã hội… vai trò của cá nhân ngày càng được nổi bật, ngày càng được tôn trọng. Theo đó, vai trò của xã hội dân sự càng được xác lập, đặc biệt là từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX trở đi. Xã hội dân sự nổi bật lên với nhiều tác dụng nhưng tóm tắt lại, điều quan trọng nhất cần hiểu rõ, thì đó chính là đối tác bình đẳng của Nhà nước không phải là cái đuôi của Nhà nước. Nó giữ vai trò là đối quyền của quyền lực Nhà nước mà về thực chất là tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào việc hoạch định, thực hiện và giám sát các chủ trương và chính sách của Nhà nước, thực hiện trách nhiệm phản biện xã hội đối Nhà nước, kể cả phẩm chất và hành vi của viên chức Nhà nước. Chỉ riêng với nét tóm tắt ấy cũng thấy là, để thực hiện vai trò làm chủ của người dân, thì tổ chức tốt xã hội dân sự sẽ là một đảm bảo quan trọng và thiết thực cho hoạt động ấy. Khi mà chúng ta đang chứng kiến nhiều tổ chức, đoàn thể quần chúng đã không phát huy được vai trò vì gần như bị “Nhà nước hoá” tất cả thì đã đến lúc vấn đề “xã hội dân sự”, một đặc điểm của xã hội hiện đại và văn minh, cần được đặt ra một cách nghiêm túc cùng với việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Trước mắt, công việc này chắc sẽ có tác dụng trực tiếp và lâu dài đến việc việc chống “quốc nạn” tham nhũng đang là bức xúc của mọi người dân.

Xã hội công bằng, dân chủ và văn minh mà chúng ta đang hướng tới cần phải xây dựng trên nền tảng vững vàng của nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.


1. Chính sách phát triển kinh tế, Kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc, Nxb Giao thông vận tải. 2004. Tập II.

2. Chính sách phát triển kinh tế, Kinh nghiệm bài học của Trung Quốc, Sđđ. tr. 235.

3. Sđd, tr. 256.

4. Câu này vốn là ý tưởng của A.Lincoln, tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, nằm trong diễn văn của ông đọc tại Gettysburg năm 1983.

SOURCE: TẠP C HÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP NĂM 2005 (Số phát hành chưa xác định)