TỪ MỘT VỤ TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

NGUYỄN PHƯỚC TỚI

Ngày 16.4.2007, trực tại Ban Pháp chế HĐND huyện Nhơn Trạch, chúng tôi đã tiếp bà Huỳnh Thị Phận, trú tại ấp Bến Ngự, xã Phú Đông, huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai. Bà Phận đề nghị huyện can thiệp về việc TAND huyện đang thụ lý và chuẩn bị đưa ra xét xử một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất mà bà là bị đơn, và bà biết chắc là sẽ bị xử thua, vì thực tế phần đất mà nguyên đơn (bà Nguyễn Thị Cục ngụ tại ấp 3, xã Phú Thạnh) kiện đòi là do UBND huyện cấp nhầm trong giấy CNQSD đất (sổ đỏ) của bà. Trong khi đó, phần đất bà đang sử dụng lại cấp cho một người khác.

Vì không biết, nên khi chuyển nhượng đất của mình cho ông Trần Quang Minh, ở quận 2, TP Hồ Chí Minh, bà Phận đã giao sổ đỏ cho ông Minh làm thủ tục chuyển quyền. Do không xác minh nên chính quyền đã chuyển luôn phần đất bị cấp nhầm này qua Giấy chứng nhận QSDĐ của ông Minh. Khi bị khiếu nại bà Phận mới phát hiện ra những rắc rối liên quan đến QSDĐ của mình. Bà đã đồng ý cùng ông Minh điều chỉnh cho bà Cục. Thế nhưng, không hiểu UBND xã Phú Đông giải quyết như thế nào lại chuyển vụ việc về TAND huyện và được TAND huyện thụ lý vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với nội dung: bà Cục kiện bà Phận lấy đất của bà bán cho ông Minh.
Khi xem xét vụ việc, chúng tôi được biết, diễn biến sự việc đúng như trình bày của bà Phận: Bà Phận có sử dụng phần đất trồng lúa, diện tích khoảng 1,1ha tại Ngọn Lò Rèn, xã Phú Đông. Năm 1999, bà Phận được UBND huyện Nhơn Trạch cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 10.871m2 (thửa 228 và 229 Bản đồ số 22). Tuy nhiên, trong phần đất này, UBND huyện đã cấp nhầm cho bà 2.174m2 đất (cắt thửa 229) của bà Nguyễn Thị Cục (sử dụng liền kề) và thiếu của bà 2.193m2 (cắt thửa số 8). Năm 2003, bà có chuyển nhượng phần đất này cho ông Trần Quang Minh. Trong quá trình làm thủ tục, các cơ quan chức năng không xác minh, kiểm tra thực tế mà chỉ điều chỉnh trên giấy nên đã cắt nhầm cho ông Minh phần diện tích 10.871m2 đất này.
Năm 2004, bà Cục phát hiện nhầm thửa và khiếu nại đến UBND xã Phú Đông với nội dung: không được cấp Giấy chứng nhận QSD phần đất 2.174m2. Lúc này, bà Phận mới biết phần đất trên sổ đỏ của mình vừa bị dư (2.174m2) và vừa bị thiếu (2.193m2). Bà đã đồng ý cùng ông Minh điều chỉnh cho bà Cục, đồng thời lập thủ tục trả cho ông Minh phần diện tích 2.193m2. Khi được điều chỉnh sẽ cấp lại sổ đỏ.
Thế nhưng, sự việc khiếu nại của bà Cục kéo dài đến tháng 5.2006 UBND xã mới mời các bên đến hòa giải. Do xử lý vụ việc không đến nơi, đến chốn nên khi hòa giải không thành, UBND xã đã chuyển hồ sơ đến TAND huyện với lý do vụ việc có yếu tố hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Phận với ông Minh (?!)
TAND huyện đã hướng dẫn cho bà Cục viết đơn khởi kiện với nội dung kiện bà Phận lấy đất của bà bán cho ông Minh và yêu cầu bà Phận trả lại QSD 2.174m2 đất cho bà. TAND huyện đã thụ lý vụ kiện tháng 11.2006. Trong các lần hòa giải, bà Phận, bà Cục, ông Minh đều thống nhất có việc nhầm thửa và đồng ý điều chỉnh sổ đỏ cho bà Cục; Đồng thời bà Phận cũng đề nghị phần đất bù cho ông Minh là phần đất thực tế 2.193m2 bà sẽ xin điều chỉnh sổ đỏ rồi chuyển quyền cho ông Minh. Thế nhưng TAND huyện không tìm hiểu ý kiến của bà nên “giải thích”: nếu bà Phận không thỏa thuận được với ông Minh về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất thì hoặc bà Phận phải bù bằng diện tích mà hiện bà đã có sổ đỏ hoặc có thể phải bồi thường hợp đồng cho ông Minh khoảng 90 triệu đồng, vì chính trong hợp đồng chuyển nhượng, bà đã ký tên bán cho ông Minh thửa 229. Kết quả hòa giải không thành, TAND huyện quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Qua trao đổi, TAND huyện cũng thừa nhận là không biết phần đất bà Phận đã bán cho ông Minh trên thực tế và trả lời cho câu hỏi tại sao biết là do lỗi của cơ quan Nhà nước cấp giấy nhầm, nguyên đơn, bị đơn không có lỗi và đều thống nhất điều chỉnh mà vẫn đưa vụ án ra xét xử? TAND huyện cho rằng, vì bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan (có yêu cầu độc lập) đã không thỏa thuận được.
Xem xét trường hợp này có thể thấy, bản chất vụ việc là sai sót trong quá trình cấp giấy chứng nhận QSDĐ: Trên thực địa, bà Phận có chuyển nhượng cho ông Minh đầy đủ diện tích đất theo hợp đồng; Bà Cục vẫn sử dụng đất đúng vị trí từ trước đến nay, không có tranh chấp và ranh giới vẫn rõ ràng, các bên đều thống nhất điều chỉnh. Việc sai sót là lỗi của UBND xã và các cơ quan chức năng trong quá trình tham mưu cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Do đó, việc điều chỉnh lại cho người dân là trách nhiệm của cơ quan hành chính huyện, xã. UBND xã Phú Đông không xác định đây là nội dung khiếu nại, mà cho đây là việc tranh chấp quyền sử dụng đất và chuyển hồ sơ hòa giải không thành đến TAND huyện là chưa giải quyết đúng bản chất vụ việc và xử lý chưa đến nơi đến chốn vấn đề. Bản chất việc khiếu kiện của bà Cục phải do cơ quan hành chính Nhà nước giải quyết.
Từ phân tích trên, Ban Pháp chế HĐND huyện Nhơn Trạch đã đề xuất với Thường trực HĐND huyện kiến nghị giao cho UBND huyện chỉ đạo ngành chức năng kiểm tra, giải quyết khiếu nại của bà Phận; Đề nghị TAND huyện chuyển hồ sơ khiếu kiện cho UBND huyện giải quyết điều chỉnh QSDĐ cho các bên liên quan và xem xét tạm đình chỉ vụ án theo luật định, chờ kết quả xử lý giải quyết của UBND huyện; Đồng thời, kiến nghị Chủ tịch UBND xã Phú Đông kiểm điểm rút kinh nghiệm về trách nhiệm giải quyết vụ việc trên, chấn chỉnh công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân, công tác hòa giải và việc giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai.
Đến nay, UBND huyện đã có kết luận giải quyết vụ việc, TAND huyện đã ban hành quyết định đình chỉ vụ án; Ông Trần Quang Minh cũng vui vẻ giao sổ đỏ của mình để điều chỉnh, không yêu cầu bà Phận bồi thường hợp đồng.
Trong lần đi xác minh thực tế vụ việc, các thành viên Ban Pháp chế HĐND huyện Nhơn Trạch còn phát hiện nhiều hộ dân sử dụng đất liền kề khu này bị cấp nhầm thửa và cũng đều được điều chỉnh đúng vị trí, người dân rất phấn khởi.
Sự việc trên cho thấy, nếu ngay từ đầu, UBND xã giải thích rõ cho bà Phận và các bên liên quan, đồng thời điều chỉnh diện tích đất đã cấp nhầm cho họ thì vụ việc không trở thêm phức tạp, mất nhiều thời gian của cơ quan Nhà nước và người dân. Còn TAND huyện Nhơn Trạch khi nhận hồ sơ của UBND xã, nếu chú tâm xem xét, lắng nghe ý kiến của đương sự thì không đến nỗi biến một vụ việc đơn giản trở thành vụ tranh chấp quyền sử dụng đất, trong khi cả nguyên đơn và bị đơn không ai vi phạm quyền sử dụng đất của ai.

SOURCE: BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

GIẤY KHAI SINH QUA THỰC TIỄN TƯ PHÁP Ở TỈNH ĐIỆN BIÊN

Giấy khai sinh là căn cứ đầu tiên, là cơ sở pháp lý tin cậy nhất về một công dân, đặc biệt khi làm các giấy tờ khác liên quan đến quyền lợi của bản thân như: học tập, công tác, đăng ký hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân… Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, ở một số địa bàn vùng sâu vùng xa của tỉnh Điện Biên, việc làm giấy khai sinh đang gặp nhiều khó khăn và bất cập…

Tự do kết hôn và sinh con… tự do!?
Từ năm 2001 cuối năm 2006, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên đã tiến hành rà soát hơn 66.000 cặp hôn nhân thực tế và phát hiện gần 8.000 cặp không đăng ký hoặc không đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo luật định. Tính đến đầu năm 2007, tỷ lệ đăng ký kết hôn ở tỉnh Điện Biên đạt trên 80%, nhiều huyện như: Tuần Giáo, Mường Nhé tỷ lệ đăng ký kết hôn chỉ đạt từ 60% đến 70%. Trong đó, tại hai xã Mường Toong và Chung Chải của huyện Mường Nhé, cán bộ tư pháp phát hiện trên 600 cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn, nhưng đã có với nhau mấy mặt con!?
Kết hôn “thoáng” như vậy nên hiện nay, tỷ lệ sinh của toàn tỉnh ở mức xấp xỉ 2,6%, trong đó tỷ lệ các bà mẹ sinh con thứ ba chiếm gần 20%. Sinh nhiều, đẻ lắm kéo theo một thực tế đáng buồn là nhiều trẻ em ở một số xã, bản vùng sâu vùng xa không được đăng ký khai sinh. Làm việc với chúng tôi, ông Nhữ Văn Quảng – Phó chủ nhiệm Ủy ban DS-GĐ và TE tỉnh Điện Biên cho biết: “Hiện toàn tỉnh tỷ lệ đăng ký khai sinh cho các cháu mới đạt trên 60%. Năm ngoái, tại huyện Điện Biên Đông, qua rà soát trên 10.000 cháu thì còn hơn 6.000 cháu chưa được đăng ký khai sinh. Có những xã như: Keo Lôm còn 927 cháu, Pú Nhi 800 cháu, Phình Giàng 797 cháu chưa có giấy khai sinh
Việc không đăng ký khai sinh cho các cháu khiến công tác an ninh trật tự ở các địa bàn, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp rất nhiều khó khăn. Đại úy Vũ Mạnh Hà – Phó trưởng phòng Công tác Chính trị PX 15, Công an tỉnh Điện Biên cho biết: “Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, làn sóng di dân ở một số tỉnh ào ạt đổ về các xã giáp biên giới Việt- Lào (chủ yếu thuộc hai huyện Mường Nhé và Mường Chà). Qua các đợt ra quân tăng cường cơ sở, lực lượng công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành đăng ký hộ khẩu cho dân di cư tự do, phát hiện quá nửa trong tổng số 27.000 người không có giấy khai sinh…”. Cũng theo Đại úy Vũ Mạnh Hà, một trong những nguyên nhân khiến nhiều người không đăng ký khai sinh cho con em mình là do bị kẻ xấu tuyên truyền, kích động gây mất đoàn kết dân tộc, khiến cơ quan chức năng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Đâu là nguyên nhân?
Về mặt khách quan, do địa bàn miền núi, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn từ xã đến bản có nơi phải mất vài ngày đi bộ, trình độ dân trí nhìn chung còn thấp, nên nhiều người ngại không đi đăng ký khai sinh cho con em mình. Nhưng về mặt chủ quan, cũng thấy rằng công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật của ta còn nhiều bất cập, việc đăng ký khai sinh cho trẻ chưa được quan tâm đúng mức.
Theo bà Vũ Thị Bích Phượng, Trưởng phòng Hành chính – Bổ trợ Tư pháp, Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên, ngoài những nguyên nhân nói trên, còn do trình độ hạn chế của cán bộ tư pháp cơ sở. Số cán bộ tư pháp cơ sở chưa qua đào tạo trung cấp chiếm khoảng hơn 60%. Trước thực trạng này, UBND tỉnh Điện Biên đã mở các lớp bồi dưỡng cấp tốc về nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp cơ sở, nhưng xem ra cũng không cải thiện được tình hình là mấy. Các xã vùng sâu, vùng xa vẫn phải sử dụng đội ngũ cán bộ không có trình độ tư pháp để làm việc. Và điều này cũng đồng nghĩa với việc công tác tư pháp ở một số cơ sở đang bị thả nổi, chưa thể giải quyết một sớm một chiều.
Do trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế, nên tại một số địa bàn đã phát hiện nhiều sai sót trong việc đăng ký và cấp giấy khai sinh. Một số trường học vùng sâu, vùng xa mua biểu mẫu sau đó ra xã xin cấp đồng loạt giấy khai sinh cho các cháu để bổ sung vào học bạ. Kiểu “hợp lý hoá” này vô hình trung đã làm giấy tờ nhân thân bị sai lệch, sau này có việc liên quan đến học tập, công tác, chữa bệnh… dân chạy ngược chạy xuôi, gõ đủ các “cửa” nhưng vẫn không được giải quyết.
Điều 11 Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (sửa đổi) quy định rõ: “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”… Tuy vậy, nhiều trẻ em vùng sâu, vùng xa ở Điện Biên vẫn chưa được đăng ký khai sinh. Thiết nghĩ các cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho đồng bào dân tộc. Coi việc làm tốt công tác hộ tịch, hộ khẩu, đăng ký khai sinh là một trong những tiêu chuẩn để được công nhận làng bản văn hoá. Bồi dưỡng, củng cố đội ngũ cán bộ tư pháp cơ sở ngày càng hoàn thiện về trình độ, nghiệp vụ; nghiên cứu cải tiến mẫu sổ, sách, giấy tờ về hộ tịch theo hướng đơn giản hoá, đảm bảo độ bền của giấy tờ hộ tịch trước tình hình thời tiết khắc nghiệt vùng cao. Nên chăng, các cơ quan chức năng cần có kế hoạch cấp giấy khai sinh miễn phí cho tất cả trẻ em vùng sâu, vùng xa? Dù số tiền không nhiều, nhưng với bà con nghèo, đó cũng là nguồn động viên, mà hiệu quả xã hội của nó vượt ra ngoài giá trị vật chất.

Hoàng Thanh

BÁO NGƯỜI ĐẠI BIỂU NHÂN DÂN

BẢO HIỂM BẮT BUỘC ĐỐI VỚI CHỦ XE CƠ GIỚI CHƯA HIỆU QUẢ

NGUYỄN HÀ

Tai nạn giao thông (TNGT) gia tăng đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội. Việc hạn chế và khắc phục hậu quả TNGT cần có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức và người dân. Bên cạnh các biện pháp phòng ngừa TNGT thì giải pháp khắc phục hậu quả thiệt hại do TNGT gây ra như yêu cầu bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là rất cần thiết.

Chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới được quy định tại Nghị định số 30/1988/NĐ-HĐBT ngày 10.3.1988 của Hội đồng Bộ trưởng. Sau gần 10 năm thực hiện, Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 115/1997/NĐ-CP ngày 17.12.1997 của Chính phủ. Từ khi Nghị định 115 có hiệu lực, Bộ Tài chính đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện các quy định vẫn chưa triệt để. Những người tham gia giao thông bằng phương tiện cơ giới chưa quan tâm đến việc mua bảo hiểm bắt buộc. Theo thống kê, mới chỉ có 80% lượng ô tô và 30% xe máy tham gia mua bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự. Trong khi đó, mỗi ngày ở nước ta có tới trên 30 người tử vong do tai nạn giao thông (TNGT). Chỉ tính riêng năm 2006, số người tử vong do TNGT lên tới 13 nghìn người. Số liệu của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia cũng cho thấy, 6 tháng đầu năm 2007 đã xảy ra hơn 7.600 vụ TNGT, làm chết gần 7.000 người. Để giảm tải và khắc phục hậu quả tai nạn giao thông, vừa qua Bộ tài chính đã ban hành Quyết định số 23/2007/QĐ-BTC ngày 9.4.2007 thay thế Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25.2.2003 về việc ban hành chế độ bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.
Quyết định số 23/2007 đã quy định rõ: Các doanh nghiệp có trách nhiệm trích tối thiểu 2% doanh thu phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự thực thu hàng năm, đóng góp vào quỹ tuyên truyền và bảo đảm an toàn giao thông đường bộ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam quản lý và sử dụng, Quyết định mới cũng thay đổi các trường hợp loại trừ bảo hiểm theo hướng mở rộng phạm vi bảo hiểm. Khác với quy định trước đây, Quy tắc bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) chủ xe cơ giới ban hành kèm theo QĐ 23/2007 không đưa vào phần loại trừ bảo hiểm 4 trường hợp tai nạn xảy ra khi: Xe không có giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và môi trường; Lái xe có nồng độ cồn vượt quá quy định của pháp luật hiện hành; Xe sử dụng để đua thể thao, đua xe trái phép, chạy thử sau khi sửa chữa; Xe đi vào đường cấm. Dư luận cho rằng điểm mới này không có tác dụng kiềm chế TNGT. Trong quy tắc bảo hiểm ban hành theo QĐ 23/2003, trường hợp chủ xe tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng một xe cơ giới thì khi xảy ra tai nạn, số tiền bồi thường đối với cả thiệt hại về người và thiệt hại về tài sản chỉ được tính trên 1 hợp đồng bảo hiểm. Nhưng theo QĐ 23/2007, trong trường hợp này số tiền bồi thường đối với thiệt hại về người tối đa sẽ là tổng mức trách nhiệm bồi thường thiệt hại về người của các hợp đồng bảo hiểm, không vượt quá số tiền thực tế mà chủ xe phải bồi thường cho các nạn nhân và được chia đều cho các hợp đồng bảo hiểm. Quy định này hạn chế sự bất hợp lý của quy tắc bảo hiểm cũ và chủ xe được hưởng sự bảo đảm lớn hơn, công bằng hơn. Còn quy tắc bảo hiểm cũ quy định mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu đối với thiệt hại về người cho cả xe mô tô và xe ô tô là 30 triệu/1người/vụ. Nhưng trên thực tế nhiều trường hợp chủ xe phải bồi thường cho nạn nhân đối với thiệt hại về người lớn hơn mức trách nhiệm tối thiểu đó, nên quy tắc bảo hiểm theo QĐ 23/2007 đã nâng mức trách nhiệm bảo hiểm tối thiểu đối với xe ô tô thành 50 triệu/người/vụ và 50 triệu/tài sản/vụ.
Những quy định mới của QĐ 23/2007 đã phù hợp hơn với yêu cầu thực tế. Tuy nhiên, từ khi QĐ 23/2007 có hiệu lực thi hành đến nay, việc thực hiện bảo hiểm TNDS của các chủ xe cơ giới vẫn ở mức thấp, theo thống kê tại các địa phương cho thấy, số xe ô tô tham gia bảo hiểm vẫn chỉ dừng ở mức 80% ( trừ xe công an, quân đội và xe không lưu hành); Số xe máy tham gia bảo hiểm ở từng địa phương chỉ nhích hơn so với trước đây 5%. Để những quy định về bảo hiểm bắt buộc đối với chủ xe cơ giới được thực hiện có hiệu quả, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần kiểm tra và xử lý nghiêm các chủ xe cơ giới không chấp hành việc tham gia bảo hiểm TNDS; Thành lập hệ thống thanh tra bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới thực hiện kiểm tra định kỳ theo quy định… Đồng thời, ngành bảo hiểm phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, kết hợp thực hiện các chương trình hành động mà Chính phủ đã đề ra cho các cấp, bộ, ngành và nhân dân; chủ động tuyên truyền, giáo dục, vận động, kết hợp các biện pháp cưỡng chế của cơ quan chức năng… để thực hiện nghiêm túc Quyết định 23/2007.

SOURCE: Báo Người đại biểu nhân dân

TÌNH HÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐẾN CUỐI NĂM 2005

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành thí điểm từ tháng 6 năm 1992. Tính đến ngày 31/12/2005, cả nước đã cổ phần hóa được 2.935 doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66,0% ; ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6,4%. Phân theo chủ sở hữu, doanh nghiệp thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 61,7%; thuộc các Bộ, ngành chiếm 29%; thuộc các tổng công ty 91 chiếm 9,3%. Phân theo quy mô vốn, doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5tỷ đồng chiếm 54,0%; từ 5-10tỷ đồng chiếm 23,0%; trên 10tỷ đồng chiếm 23,0%.

Đơn vị có nhiều doanh nghiệp được cổ phần hóa là các Bộ; Bộ Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giáo thong vận tải; thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội; các tỉnh: Khánh Hòa, Nam Định; Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa; các tổng công ty: Bưu chính viễn thông, Hóa chất. Tuy nhiên, có nhiều đơn vị triển khai cổ phần hóa chậm như các Tổng công ty: Công nghiệp tàu thủy, Xi măng, Dầu khí; các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Lai Châu.

Công tác sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh hơn sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước của các Bộ, ngành, địa phương, Tổng công ty 91 theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 9 (khóa IX). Giai đoạn này (2001-2005), cả nước sắp xếp được 3.590 doanh nghiệp nhà nước, trong đó đã cổ phần hóa 2.347 doanh nghiệp nhà nước, bằng gần 80% toàn bộ doanh nghiệp đã cổ phần hóa; hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước theo đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (2.347 doanh nghiệp /2.258 doanh nghiệp).

Nhìn chung các doanh nghiệp sau cổ phần hóa hoạt động có hiệu quả hơn. Theo báo cáo của các Bộ, ngành địa phương về kết quả hoạt động của 850 doanh nghiệp cổ phần hóa đã hoạt động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số doanh nghiệp sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quân đạt 17,11%. Cổ phần hóa tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong doanh nghiệp.

Tuy đạt được những hiệu quả đáng ghi nhận nêu trên nhưng so với yêu cầu và mục tiêu của Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX thì việc cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp còn gặp phải những hạn chế sau:

– Việc cổ phần hóa, sắp xếp các doanh nghiệp có quy mô lớn, trong đó các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hang thực hiện còn chậm.

– Các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và việc huy động vốn trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn hạn chế. Thời kỳ đầu do chưa khuyến khích việc bán cổ phần ra bên ngoài nên số vốn huy động ngoài xã hội vào sản xuất, kinh doanh còn hạn chế. Chưa có doanh nghiệp nào tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa.

– Thời gian thực hiện cổ phần hóa một doanh nghiệp còn dài làm tiến độ cổ phần hóa chậm.

– Vốn nhà nước còn chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều doanh nghiệp không thuộc diện cần giữ cố phần chi phối, phổ biến nhất là trong các tổng công ty nhà nước thuộc các ngành xây dựng, giao thong. Việc thu hút vốn cổ đông ngoài doanh nghiệp mới đạt 24,1% vốn điều lệ; mới có trên 20 công ty có cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài; các cổ đông chiến lược vì thế cũng không có nhiều cơ hội để tham gia vào phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Việc người lao động trong một số doanh nghiệp bán bớt cổ phần ưu đãi sau khi mua đã làm giảm tác dụng của chính sách khuyến khích người lao động có cổ phần trong doanh nghiệp cổ phần hóa.

– Nhiều công ty cổ phần chưa có sự đổi mới thực sự trong quản trị công ty; phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý vẫn còn như doanh nghiệp nhà nước. Hạn chế này rõ nhất là ở những doanh nghiệp mà Nhà nước còn giữ cố phần chi phối, ban lãnh đạo của doanh nghiệp đều tư doanh nghiệp nhà nước trước đó chuyển sang.

– Trong một số công ty cổ phần, người lao động – cổ đông do nhận thức chưa đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình, phần do sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, nên có nơi quyền làm chủ chưa được phát huy, ngược lại có nơi lạm quy định của pháp luật gây khó khăn cho công tác quản lý của Hội đồng quản trị, sự điều hành của giám đốc. Nhiều nội dung của cơ chế, chính sách quản lý công ty cổ phần như: chính sách tiền lương, tiền thưởng … vẫn còn áp dụng như doanh nghiệp nhà nước.

– Một số công ty cổ phần kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt thấp, chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong những ngành, lĩnh vực điều kiện phát triển khó khăn, công nghệ lạc hậu, lại không được xử lý dứt điểm những tồn tại về tài chính khi còn là doanh nghiệp nhà nước.

Về phương hướng, nhiệm vụ cổ phần doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2006-2010: Tiếp tục cổ phần hóa các công ty nhà nước độc lập thuộc các Bộ, địa phương; Đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; Cổ phần hóa các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm.

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

BÁO CÁO THẨM TRA DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội, ngày 13 tháng 10 năm 2006, Uỷ ban pháp luật đã họp toàn thể để thẩm tra dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình theo Tờ trình số 2376 TTr/UBXH ngày 12 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội. Sau khi nghe Đồng chí Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội, Trưởng ban soạn thảo trình bày dự án Luật, các thành viên Uỷ ban pháp luật đã thảo luận. Sau phiên họp thẩm tra, cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, tiếp thu nhiều ý kiến của Ủy ban pháp luật để hoàn thiện dự thảo Luật trình Quốc hội tại kỳ họp này như bỏ quy định về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi bạo lực trong gia đình gây ra tại các Điều 5 và Điều 6; bỏ quy định về việc Chủ tịch UBND cấp huyện ra quyết định cấm tiếp xúc với nạn nhân trong thời hạn không quá 4 tháng và bỏ thẩm quyền của Công an cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc không quá 3 ngày quy định tại Điều 18; đồng thời nhiều điều khoản đã được chỉnh lý lại cho chặt chẽ hơn. Dưới đây, Uỷ ban pháp luật xin trình Quốc hội Báo cáo thẩm tra về dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

I. MỘT SỐ Ý KIẾN CHUNG

Theo Tờ trình của Ủy ban về các vấn đề xã hội về kết quả khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và báo cáo của các cơ quan, tổ chức hữu quan thì tình trạng bạo lực trong gia đình ở nước ta đã đến lúc báo động. Bạo lực trong gia đình xảy ra ở nhiều nơi trong cả nước, ở các đối tượng có trình độ, nhận thức khác nhau và đã để lại những hậu quả nặng nề, tác động xấu đến đời sống xã hội, đến cộng đồng, nhưng nghiêm trọng hơn đó là sự vi phạm quyền con người, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và tính mạng của người dân mà chủ yếu là phụ nữ. Nguyên nhân gây ra bạo lực trong gia đình rất đa dạng, phụ thuộc vào quá trình giáo dục, trình độ nhận thức, văn hóa ứng xử và hoàn cảnh sống của mỗi người, kể cả sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội.

Qua thảo luận, nhiều thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với Ủy ban về các vấn đề xã hội là trước tình hình thực tế về bạo lực trong gia đình như đã nêu trên, việc ban hành luật là cần thiết và sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm cũng như thái độ ứng xử của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng dân cư và cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, góp phần bảo vệ hạnh phúc, sự phát triển lành mạnh của mỗi gia đình. Bên cạnh đó cũng có nhiều thành viên Ủy ban pháp luật cho rằng không cần thiết phải ban hành Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình, vì vấn đề này có liên quan đến nhiều lĩnh vực và đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành như Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh người cao tuổi, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính… Các văn bản pháp luật đó đã quy định khá đầy đủ các biện pháp để khắc phục, hạn chế và trừng phạt người có hành vi bạo lực trong gia đình ở nước ta. Nay nếu lại ban hành Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình thì một số quy định của dự án Luật sẽ trùng lắp với quy định của các văn bản pháp luật đã nêu, nhất là cơ quan trình dự án Luật lại chưa tổng kết việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật liên quan tới việc chống bạo lực trong gia đình.

Ủy ban pháp luật nhận thấy, Ban soạn thảo đã có rất nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, tham khảo pháp luật và tổ chức một số đoàn đi khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống bạo lực trong gia đình của một số nước để xây dựng dự án Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình. Trong quá trình soạn thảo, Ban soạn thảo đã tổ chức lấy ý kiến của nhiều cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương và đã gửi Chính phủ cho ý kiến. Song đa số thành viên Ủy ban pháp luật còn rất băn khoăn về tính khả thi của Luật này. Bởi vì, bạo lực trong gia đình là một vấn đề xã hội, thể hiện lối sống thiếu trách nhiệm, việc ứng xử thiếu văn hóa trong gia đình, phản ánh sự suy thoái về đạo đức của một số thành viên trong gia đình. Xét trên tổng thể thì có thể thấy rằng, những vụ bạo lực trong gia đình còn xảy ra là do công tác quản lý xã hội của Nhà nước kém hiệu quả; các tổ chức, đoàn thể xã hội chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên; trong khu dân cư vẫn còn những người sống theo quan điểm “đèn nhà ai nhà nấy rạng”. Như vậy, việc khắc phục tình trạng bạo lực trong gia đình đòi hỏi phải sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ, cả về kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, pháp luật và phải mang tính toàn diện. Những biện pháp phòng ngừa và xử lý về mặt pháp luật quy định trong dự thảo Luật về cơ bản đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Trong khi đó một số quy định mới như các hành vi bạo lực trong gia đình, các biện pháp liên quan như việc cấm tiếp xúc với nạn nhân, giáo dục tại cộng đồng, các nguồn lực bảo đảm cho việc thực hiện kể cả về tài chính, địa chỉ tin cậy, sự chăm sóc của cộng đồng .v.v. được xây dựng không xuất phát từ điều kiện kinh tế – xã hội và phong tục tập quán, tâm lý của người Việt Nam mà dựa trên cơ sở kết quả các chuyến nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm ở nước ngoài, luật pháp của nước ngoài. Vì vậy, những người có ý kiến này e rằng nếu áp dụng một số biện pháp xử lý quy định trong dự thảo Luật có thể làm sâu sắc hơn mâu thuẫn trong gia đình, không có tác dụng cho việc hàn gắn quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, chẳng hạn như biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình quy định tại Điều 18 dự thảo Luật.

Bên cạnh đó cũng có một số thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với dự thảo Luật vì cho rằng, các quy định của dự thảo Luật khi được triển khai trên thực tế sẽ góp phần không nhỏ vào việc ngăn chặn, đẩy lùi bạo lực trong gia đình, chẳng hạn, các quy định về công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan sẽ góp phần nâng cao nhận thức, hành vi ứng xử của con người trong đời sống gia đình, về truyền thống, đạo lý gia đình Việt Nam. Các biện pháp từ giáo dục tại cộng đồng, cấm tiếp xúc giữa người gây bạo lực trong gia đình với nạn nhân cho đến việc xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình có tác dụng giáo dục, răn đe, góp phần hạn chế, tiến tới chấm dứt tình trạng bạo lực trong gia đình.

II. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Theo Tờ trình của Ủy ban về các vấn đề xã hội thì đối tượng áp dụng Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình không chỉ áp dụng đối với các thành viên gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình mà còn áp dụng với những đối tượng là nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn nhưng chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn lại.

Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành với đối tượng áp dụng của dự thảo Luật vì cho rằng, việc bảo vệ nạn nhân do bạo lực trong gia đình trước hết là đối với những thành viên trong gia đình có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân hoặc nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau và những người có quan hệ tình cảm gần gũi khác. Bởi vì, thực tế cho thấy, từ nhiều lý do khác nhau nên có nhiều nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chỉ tổ chức cưới hoặc không tổ chức cưới nhưng vẫn chung sống với nhau như vợ chồng, nhất là ở những vùng mà điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn. Có những trường hợp tuy đã ly hôn song vẫn ở với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn lại; trong cuộc sống đã xảy ra nhiều vụ bạo lực giữa họ, nếu không áp dụng quy định của luật này nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý người có hành vi bạo lực thì vô hình chung Nhà nước ta bỏ lọt đối tượng này, không bảo vệ nạn nhân của hành vi bạo lực trong gia đình. Việc quy định như trong dự thảo Luật chỉ là vấn đề áp dụng pháp luật, không có nghĩa là thừa nhận tình trạng hôn nhân này.

Nhiều ý kiến khác không tán thành việc mở rộng đối tượng áp dụng Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình, vì cho rằng Điều 41 của dự thảo Luật quy định áp dụng cả đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng là Nhà nước đã gián tiếp thừa nhận tình trạng không đăng ký kết hôn nhưng vẫn chung sống với nhau, như vậy là trái với quy định chấm dứt tình trạng hôn nhân thực tế. Mặt khác, khi có hành vi bạo lực xảy ra giữa các đối tượng quy định tại Điều 41 của dự thảo Luật không thể xác định trường hợp nào là bạo lực trong gia đình và trường hợp nào là bạo lực ngoài xã hội để có biện pháp xử lý thích hợp. Về mặt pháp luật, quan hệ giữa những người này không phải là quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Do đó khi đã quy định rõ đối tượng áp dụng luật tại khoản 2 Điều 1 thì phải bỏ Điều 41 của dự thảo Luật. Tương tự như vậy, đối với người nước ngoài có hành vi bạo lực trong gia đình cũng không thể áp dụng nhiều biện pháp xử lý quy định trong dự thảo Luật như cấm tiếp xúc với nạn nhân (Điều 18) chứ không phải chỉ những quy định tại Điều 42 của dự thảo Luật.

2. Về các hành vi bạo lực trong gia đình (Điều 3)

Qua thảo luận, đa số thành viên Ủy ban pháp luật tán thành với việc quy định cụ thể các hành vi bạo lực trong gia đình tại Điều 3 của dự thảo Luật và cho rằng quy định như vậy bảo đảm tính minh bạch, thuận tiện khi áp dụng, nhất là đối với công tác tuyên truyền, giáo dục và xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình. Cách quy định này cũng tương tự như quy định liệt kê về các hành vi tham nhũng trong Luật phòng, chống tham nhũng mới được Quốc hội thông qua. Tuy nhiên, về các hành vi cụ thể thì đề nghị cần rà soát lại để vừa bảo đảm chặt chẽ, không bỏ lọt hành vi nhưng cũng không trùng lặp và cho rằng các hành vi bạo lực trong gia đình có mối quan hệ với nhau, có trường hợp hành vi này là hệ quả của hành vi khác, có hành vi mang tính khái quát chung, nhưng cũng có hành vi rất cụ thể.

Về hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục và có hành vi khác xâm phạm đến đời sống tình dục (khoản 5 Điều 3), qua thảo luận có ý kiến tán thành với quy định trong dự thảo Luật nhưng nhiều ý kiến cho rằng, hành vi bạo lực tình dục trong gia đình ở nước ta tuy có xảy ra nhưng lại được coi là chuyện riêng trong mỗi gia đình, do đó cơ quan, tổ chức, người có trách nhiệm cũng không thể biết được để xem xét, xử lý. Hơn nữa rất khó thu thập căn cứ để xác định một người có hành vi bạo lực tình dục trong gia đình. Vì vậy, đề nghị bỏ quy định tại khoản 5 Điều 3 của dự thảo Luật; trong trường hợp xảy ra hành vi bạo lực về tình dục mà xét thấy cần thiết và có thể xử lý được thì xem đó như là một hình thức bạo lực về thể chất, tinh thần.Mặt khác, nếu xác định hành vi “cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc có hành vi khác xâm phạm đến đời sồng tình dục” (khoản 5 Điều 3), “cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ” (khoản 6 Điều 3) là những hành vi bạo lực trong gia đình thì liệu những đối tượng quy định tại Điều 40 của dự thảo Luật mà có những hành vi trên đây lại xử lý theo quy định của luật này đã hợp lý chưa hay phải theo quy định của Bộ luật hình sự? Tương tự như vậy, về những hành vi bạo lực về kinh tế được quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 3 của dự thảo Luật, cũng cần phải xem xét lại để phân định rõ hành vi bạo lực trong gia đình và hành vi phạm tội. Bởi vì tính chất, mức độ của từng hành vi như chiếm đoạt, kiểm soát…là rất đa dạng. Do đó, quy định như trong dự thảo Luật vừa thừa, vừa thiếu lại không chính xác.

Có ý kiến cho rằng, sự phân biệt các hành vi bạo lực trong gia đình chỉ mang tính tương đối, vì giữa các hành vi có mối quan hệ với nhau. Chẳng hạn, những tác động của hành vi bạo lực về thể chất có ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần, những hành vi xâm phạm tình dục sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần của nạn nhân…Do đó, nên khái quát quy định hành vi bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần phù hợp với các quy định khác trong văn bản pháp luật hiện hành.

3. Về quyết định cấm người có hành vi bạo lực tiếp xúc với nạn nhân của bạo lực trong gia đình

Theo Tờ trình thì trong trường hợp khẩn cấp và theo yêu cầu của nạn nhân hay người đại diện hợp pháp của nạn nhân, cơ quan, tổ chức, để bảo vệ sự an toàn cho nạn nhân thì cơ quan có thẩm quyền có thể ra quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong một thời hạn nhất định giữa người gây bạo lực trong gia đình với nạn nhân.

Qua thảo luận, Ủy ban pháp luật cho rằng, bảo vệ nạn nhân của bạo lực trong gia đình nhằm phòng ngừa hậu quả xấu có thể gây tác hại đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân là một yêu cầu thực tế, là trách nhiệm của Nhà nước, của gia đình và cộng đồng xã hội. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp các vụ bạo lực trong gia đình đã không bị phát hiện, các nạn nhân của bạo lực trong gia đình thường âm thầm chịu đựng, thậm chí họ còn cố gắng che giấu thông tin; có trường hợp hành vi bạo lực trong gia đình diễn ra thường xuyên nhưng nạn nhân không được giúp đỡ, bảo vệ dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, bên cạnh việc khuyến khích nạn nhân tố cáo hành vi bạo lực trong gia đình thì cần có biện pháp kịp thời để bảo vệ họ. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực trong gia đình cần được quy định cụ thể hơn và cũng cần tính đến điều kiện kinh tế – xã hội của nước ta, đến khả năng của cộng đồng dân cư cũng như phong tục tập quán trong quan hệ gia đình và bảo đảm sự phù hợp với đời sống gia đình Việt Nam và tính khả thi của quy định này.

a) Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân của hành vi bạo lực trong gia đình theo quyết định của cơ quan hành chính có thẩm quyền (Điều 18)

Tại Điều 18 của dự thảo Luật quy định Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn (cấp xã) có quyền áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc trong thời hạn 3 ngày giữa người có hành vi bạo lực trong gia đình với nạn nhân bằng cách “buộc người có hành vi bạo lực gia đình rời khỏi nơi ở chung với nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc theo yêu cầu của nạn nhân” (khoản 3 Điều 18). Qua thảo luận, một số ý kiến tán thành cần có biện pháp này. Song nhiều ý kiến khác còn rất băn khoăn vì biện pháp cách ly các bên không cùng ở chung với nhau vẫn khó có thể đảm bảo cho người có hành vi bạo lực không thể tiếp cận hoặc liên hệ với nạn nhân. Mặt khác, trong trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình là chủ sở hữu ngôi nhà mà họ đang ở thì không thể đưa họ khỏi nhà đó vì phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ. Thực tế phát triển kinh tế – xã hội hiện nay ở nước ta cho thấy, gia đình là một thể thống nhất, mọi thành viên trong gia đình đều phải chung sức chăm lo các công việc gia đình như nội trợ, chăm sóc con cái. Do đó, việc cách ly sẽ gây xáo trộn rất lớn trong gia đình và hậu quả của việc này là không thể lường hết được. Mặt khác, việc cách ly người có hành vi bạo lực trong gia đình với nạn nhân liên quan đến quyền cơ bản của công dân nên trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp này phải hết sức chặt chẽ, cơ quan nào tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện biện pháp cách ly này; nếu người có hành vi bạo lực vẫn tiếp xúc nạn nhân thì xử lý thế nào? Trong trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình không đồng ý với quyết định áp dụng biện pháp này thì có quyền khiếu nại hay không? thẩm quyền giải quyết, trình tự, thủ tục khiếu nại được thực hiện ra sao? quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân là quyết định thuộc loại gì, có phải là quyết định xử lý vi phạm hành chính không?

b) Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân của bạo lực trong gia đình theo quyết định của Tòa án (Điều 19)

Điều 19 của dự thảo Luật quy định: “Trong quá trình thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân bạo lực gia đình và người gây bạo lực gia đình, Tòa án có thẩm quyền ra quyết định cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình trong thời hạn không quá 4 tháng”.

Qua thảo luận có một số ý kiến tán thành với quy định trên đây của dự thảo Luật và cho rằng, để bảo vệ sự an toàn của nạn nhân, tránh dẫn đến xung đột lớn hơn và gây hậu quả nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân thì cần phải giao cho Tòa án thẩm quyền quyết định cấm người có hành vi bạo lực trong gia đình tiếp xúc với nạn nhân dưới mọi hình thức. Quy định này cũng đáp ứng đòi hỏi trong thực tiễn hoạt động xét xử của Tòa án trong thời gian vừa qua liên quan đến hành vi bạo lực trong gia đình. Đồng thời đề nghị bổ sung cụm từ “khẩn cấp tạm thời” sau cụm từ “ra quyết định” cho phù hợp với quy định tại Điều 102 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, nhiều ý kiến còn rất băn khoăn và đề nghị cần cân nhắc kỹ khi đưa ra quy định về biện pháp này, nhất là về tính khả thi của nó khi mà điều kiện cơ sở vật chất, về chỗ ở, sinh hoạt của nhân dân còn nhiều khó khăn. Hơn nữa, với thời gian cách ly 4 tháng thì không chỉ ảnh hưởng tới công việc chung của gia đình mà còn ảnh hưởng tới sự hàn gắn lại tình cảm giữa các thành viên trong gia đình. Đồng thời, theo ý kiến này, nếu coi đây là một biện pháp khẩn cấp tạm thời trong hoạt động tố tụng dân sự thì cũng cần phải quy định thật cụ thể về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp này và cơ quan nào có quyền ban hành văn bản trên đây.

III. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ KHÁC

1. Về tên gọi của Luật

Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng, “bạo lực gia đình” là một khái niệm mới. Vì vậy, để việt hóa và phù hợp hơn với ngôn ngữ Việt Nam, nên bổ sung từ “trong” thành “bạo lực trong gia đình” và do đó cần sửa lại tên luật là “ Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình” cho chính xác. Tên gọi này cũng phù hợp với những nội dung cơ bản của dự thảo Luật và Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội.

Bên cạnh đó, có ý kiến khác băn khoăn về tên gọi của Luật vì cho rằng, khái niệm “bạo lực” được hiểu là dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa này thì khái niệm bạo lực trong gia đình là hẹp, không bao quát hết phạm vi điều chỉnh của Luật là hành vi bạo lực về cả thể xác, tinh thần và kinh tế. Do đó đề nghị lấy tên gọi của luật là “Luật phòng, chống bạo hành trong gia đình”.

2. Về bố cục của dự thảo Luật

Dự thảo Luật trình Quốc hội gồm 6 chương với 43 điều. Qua thảo luận có nhiều ý kiến tán thành với bố cục của dự thảo Luật. Tuy nhiên, có một số ý kiến đề nghị bỏ Điều 7 quy định về chính sách của Nhà nước về phòng, chống bạo lực trong gia đình vì nhiều quy định cụ thể của dự thảo lại không phù hợp. Hơn nữa, chính sách về đấu tranh phòng, chống bạo lực trong gia đình đã được thể hiện ở nhiều văn bản pháp luật hiện hành. Có ý kiến đề nghị bỏ Chương III quy định về bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, đồng thời đưa các điều khoản có tính chất phòng ngừa, ngăn chặn bạo lực trong gia đình về Chương II (phòng ngừa bạo lực trong gia đình), đưa các điều khoản có tính chất xử lý người có hành vi bạo lực trong gia đình về Chương V (xử lý hành vi bạo lực trong gia đình và các hành vi vi phạm pháp luật khác) và đưa các điều khoản về cơ sở trợ giúp nạn nhân vào Chương IV (trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan trong phòng, chống bạo lực trong gia đình).

3. Về giải thích từ ngữ (Điều 2)

Qua thảo luận, có ý kiến cho rằng có một số cụm từ không chỉ cần được giải thích, làm rõ nghĩa mà nó còn chứa đựng nội dung, quy phạm pháp luật, do đó đề nghị tách các khoản giải thích về: bạo lực gia đình; thành viên gia đình; địa chỉ tin cậy, .v.v. để quy định thành nội dung của các điều khoản riêng ngay trong các Chương và bỏ Điều 3 về giải thích từ ngữ.

4. Về quyền và nghĩa vụ của nạn nhân của bạo lực gia đình (Điều 6)

Qua thảo luận, có ý kiến đề nghị bổ sung quyền của nạn nhân của bạo lực gia đình trước hết là “được sử dụng các quyền hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật để bảo vệ mình”. Đồng thời, đề nghị cân nhắc tính khả thi của quy định nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình phải “cung cấp thông tin trung thực, chính xác cho cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi có yêu cầu”. Bởi lẽ một số hành vi liên quan đến bạo lực trong gia đình cần được thông tin mà theo tập quán, truyền thống gia đình Việt Nam vốn được coi là chuyện riêng của mỗi người, nhất là những thông tin liên quan đến đời sống tình cảm vợ chồng, đến bạo lực về tình dục.

5. Về đối tượng cần được quan tâm trong hoạt động giáo dục, tư vấn về gia đình (khoản 3 Điều 12)

Về khoản 3 Điều 12 của dự thảo Luật quy định về các đối tượng cần được quan tâm trong hoạt động giáo dục, tư vấn về gia đình, có ý kiến cho rằng, cách liệt kê các đối tượng như dự thảo Luật dễ gây tâm lý đánh đồng giữa người có hành vi bạo lực trong gia đình với những người khác. Một số ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì cho rằng công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn về bạo lực trong gia đình được áp dụng cho mọi đối tượng và mang tính thường xuyên nhằm phòng ngừa bạo lực trong gia đình, không nên có sự phân biệt đối xử giữa các đối tượng này.

6. Về biện pháp giáo dục tại cộng đồng (Điều 14)

Theo dự thảo Luật, đây là một hình thức giáo dục tại cộng đồng và không phải là biện pháp xử lý hành chính. Tuy nhiên, Ủy ban pháp luật thấy rằng, việc thực hiện hình thức này thế nào thì cần được giải trình rõ hơn. Chẳng hạn ai là người có quyền triệu tập người có hành vi bạo lực? nếu họ không chấp hành thì có biện pháp cưỡng chế hay không? Thành phần tham gia cuộc họp này là ai? có bắt buộc họ phải tham gia hay không? Hơn nữa, tổ dân phố, thôn, làng, bản, ấp là hình thức tự quản, quy mô dân số, thành phần dân cư gồm cả gia đình cán bộ cao, trung cấp cũng rất khác nhau nên không thể quy định một cách chung như trong dự thảo Luật. Đây là những nội dung cần được làm rõ, nếu không sẽ rất khó tổ chức thực hiện.

7. Về hỗ trợ khẩn cấp, bảo đảm nhu cầu thiết yếu (Điều 22)

Tại Điều 22 của dự thảo Luật quy định về việc hỗ trợ cho nạn nhân của bạo lực trong gia đình các nhu cầu thiết yếu về sinh hoạt cá nhân và nhà ở tạm thời trong trường hợp cần thiết khi nạn nhân yêu cầu.

Qua thảo luận, đa số ý kiến đề nghị cân nhắc kỹ quy định này vì trên thực tế bạo lực trong gia đình có thể xảy ra ở mọi nơi, bất cứ lúc nào. Như vậy, để bảo đảm cho quy định này được thực thi thì phải chuẩn bị sẵn về chỗ ở, các nhu cầu thiết yếu phục vụ sinh hoạt và kinh phí để đáp ứng yêu cầu của nạn nhân. Đây là vấn đề không đơn giản và không khả thi. Do đó nếu chấp nhận điều này thì cần phải quy định cụ thể về trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chức, nhất là về nguồn kinh phí.

8. Về cơ sở hỗ trợ nạn nhân của bạo lực gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình (Điều 26)

Theo quy định tại Điều 26 của dự thảo Luật thì Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia và thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình. Như vậy ngoài cơ sở y tế Nhà nước và cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước hiện đang tồn tại và được coi là cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 24, Điều 25) thì cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình và cơ sở tư vấn về phòng chống bạo lực trong gia đình là những loại hình mới, chưa có ở nước ta. Ủy ban pháp luật đề nghị cần làm rõ ngay trong Luật này tổ chức, cá nhân nào, với điều kiện nào thì được thành lập cơ sở hỗ trợ, cơ sở tư vấn, nhất là về địa vị pháp lý, phạm vi, hình thức tổ chức, nội dung hoạt động cũng như quyền, nghĩa vụ của các cơ sở này; đồng thời, cân nhắc kỹ quy định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia và thành lập các cơ sở này. Đối với quy định Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để thành lập và phục vụ hoạt động của một số cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình và cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình, Uỷ ban pháp luật đề nghị làm rõ cơ sở nào thì được hỗ trợ, cơ sở nào thì không được hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong tổ chức thực hiện.

9. Về địa chỉ tin cậy (Điều 27)

Theo quy định của dự thảo Luật thì địa chỉ tin cậy là một trong những cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực trong gia đình. Ủy ban pháp luật nhận thấy, tương tự như cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực trong gia đình, cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực trong gia đình, địa chỉ tin cậy cũng là một mô hình mới, chưa hề có ở nước ta, nhưng dự thảo Luật cũng chưa làm rõ quyền, trách nhiệm của địa chỉ tin cậy khi thực hiện nhiệm vụ. Những quy định trong dự thảo mới chỉ phác họa ý muốn chủ quan của cơ quan soạn thảo. Vì vậy, Ủy ban pháp luật đề nghị cần cân nhắc và nghiên cứu kỹ hơn về quy định này nhằm bảo đảm tính khả thi.

10. Về các hình thức xử phạt (khoản 3 Điều 36)

Tại điểm b và điểm c khoản 3 Điều 36 của dự thảo Luật quy định người có hành vi bạo lực trong gia đình có thể bị áp dụng biện pháp lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày hoặc tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi. Ủy ban pháp luật thấy rằng đây là hai hình thức xử lý mới trong hệ thống biện pháp xử lý vi phạm pháp luật hiện hành. Vì vậy cần được cân nhắc kỹ hơn. Trong trường hợp chấp nhận biện pháp này thì cũng cần quy định cụ thể về cơ quan chịu trách nhiệm cũng như về trình tự, thủ tục tổ chức thực hiện các hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng, giáo dục bắt buộc và cả trình tự, thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại nữa.

11. Về tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính (Điều 37)

Nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc về các tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 37 của dự thảo Luật vì trường hợp người có hành vi bạo lực trong gia đình bị xử lý vi phạm hành chính thì phải tuân thủ các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đề nghị phải cân nhắc kỹ hơn khi quy định các tình tiết tăng nặng trong xử lý hành vi bạo lực trong gia đình.

Ngoài các vấn đề nêu trên, Ủy ban pháp luật còn thảo luận, góp ý kiến về nhiều điều, khoản cụ thể khác của dự thảo Luật. Về những nội dung cần được quy định chi tiết, Ủy ban pháp luật thấy rằng, để Luật được thực hiện ngay khi có hiệu lực theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì còn rất nhiều vấn đề cần được Ban soạn thảo và các cơ quan hữu quan của Chính phủ trao đổi làm rõ để quy định chi tiết ngay trong luật hoặc chuẩn bị dự thảo văn bản hướng dẫn thi hành trình Quốc hội xem xét khi Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về dự án Luật này.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Trên đây là Báo cáo thẩm tra dự án Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình. Ủy ban pháp luật xin kính trình Quốc hội xem xét, quyết định.

TM. ỦY BAN PHÁP LUẬT

Chủ nhiệm

(đã ký)

Vũ Đức Khiển

TỜ TRÌNH DỰ ÁN LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

KÍNH GỬI: Các vị Đại biểu Quốc hội

Thực hiện Nghị quyết số 49/2005/QH11 ngày 19/11/2005 của Quốc hội khoá XI về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006 của Quốc hội, Uỷ ban về các vấn đề xã hội được giao nhiệm vụ xây dựng và trình dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình. Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thành lập Ban soạn thảo dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình do Chủ nhiệm Uỷ ban về các vấn đề xã hội làm trưởng ban; các thành viên là đại diện Hội đồng dân tộc; Uỷ ban VH-GD-TNTN&NĐ của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ban công tác lập pháp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Uỷ ban Dân số-Gia đình- Trẻ em, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, TƯ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, TƯ Hội liên hiệp phụ nữ Việt nam, TƯ Mặt trận tổ quốc Việt nam, TƯ Hội người cao tuổi Việt Nam.

Sau đây, Uỷ ban về các vấn đề xã hội trình Quốc hội dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

I – SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Bạo lực gia đình diễn ra ở nhiều nơi, mọi đối tượng và gây hậu quả nghiêm trọng

a) Thực trạng bạo lực gia đình: Do chưa được sự quan tâm đúng mức và cũng chưa có cơ quan nào của Nhà nước chịu trách nhiệm về phòng, chống bạo lực gia đình cho nên hiện nay chưa có số liệu chính thức về tình hình bạo lực gia đình trong cả nước. Tuy nhiên, theo kết quả khảo sát chọn mẫu ở 8 tỉnh, thành phố[1] cũng như các báo cáo kết quả nghiên cứu về bạo lực gia đình cho thấy tình hình bạo lực gia đình xẩy ra khá nhiều ở mọi vùng miền và ở các nhóm đối tượng[2]. Kết quả khảo sát cho thấy, bên cạnh tình trạng bạo lực gia đình khá phổ biến giữa vợ và chồng, thì tình trạng con cháu ngược đãi ông bà, cha mẹ hoặc cha mẹ đối xử tàn tệ với con cái cũng khá nhiều[3]. Hàng ngày, trên phương tiện thông tin đại chúng cũng đã phản ánh tình hình bạo lực gia đình khá bức xúc.

Có nhiều nguyên nhân dân đến bạo lực gia đình, trong đó 60% nguyên nhân trực tiếp là do say rượu và mượn rượu, bên cạnh đó là nguyên nhân do kinh tế khó khăn, ngoại tình, thiếu hiểu biết pháp luật. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa là do trong xã hội còn tồn tại tình trạng bất bình đẳng giới và tư tưởng gia trưởng (có quyền “dạy bảo” các thành viên yếu thế trong gia đình bằng vũ lực hoặc nhục mạ).

b) Hậu quả nghiêm trọng của bạo lực gia đình: Bạo lực gia đình đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ khoảng 2-3 ngày có 1 người bị giết có liên quan đến bạo lực gia đình[4]. Báo cáo của một số cơ sở y tế cho thấy một tỷ lệ khá lớn bệnh nhân là nạn nhân của bạo lực gia đình[5].

Bạo lực gia đình làm xói mòn đạo đức, mất tính dân chủ xã hội và ảnh hưởng xấu đến thế hệ tương lai. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhiều gia đình, thế hệ con đã lặp lại hành vị bạo lực gia đình mà khi còn nhỏ chúng đã được chứng kiến. Bạo lực gia đình đang là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình Việt Nam. Theo báo cáo của Viện khoa học xét xử thuộc Toà án nhân dân tối cao, tại 42 tỉnh trong 5 năm (2000-2005) tòa án nhân dân tỉnh đã xét xử 10.608 vụ án hôn nhân và gia đình, trong đó 42% vụ án ly hôn có nguyên nhân từ bạo lực gia đình.

Ngoài hậu quả về xã hội, đạo đức và sự bền vững của gia đình, bạo lực gia đình còn gây ra những hậu quả về kinh tế như chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ nạn nhân, chi phí điều tra, truy tố, xét xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác liên quan đến tình trạng bệnh tật, mất khả năng tham gia lao động sản xuất của nạn nhân[6].

2- Đã có định hướng chỉ đạo, song còn thiếu quy định pháp lý cụ thể trong phòng, chống bạo lực gia đình

Ngày 21/2/2005, Ban bí thư TƯ Đảng đã có Chỉ thị số 49-CT/TW về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong đó nêu rõ tình hình bạo lực gia đình gia tăng làm ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nước ta. Ngày 24/5/2005, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam và một trong những quan điểm chỉ đạo là xây dựng và hoàn thiện pháp luật về .. dân số, gia đình, trẻ em và chính sách xã hội.

Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) đề ra nhiệm vụ “.. Đấu tranh phòng, chống bạo lực trong gia đình”. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược xây dựng gia đình Việt nam giai đoạn 2005-2010, trong đó có mục tiêu tăng cường phòng, chống bạo lực trong gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15%.

Hiện nay việc điều chỉnh các mối quan hệ có liên quan đến bạo lực gia đình được quy định tại nhiều văn bản pháp luật như Hiến pháp năm 1992, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Bộ Luật Dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh người cao tuổi… Tuy nhiên thực tiễn thi hành cho thấy một số bất cập sau đây:

a) Hiệu quả thực hiện các quy định hiện hành còn hạn chế: Thực tiễn cho thấy, gia đình là chế định đặc thù mang nặng tình cảm và sự thân thiết, mang tính huyết thống, có sự ràng buộc rất đặc biệt do đó rất nhiều người, kể cả cán bộ, công chức coi bạo lực gia đình là chuyện nội bộ của gia đình, ít áp dụng những quy định hiện hành có liên quan đến phòng, chống bạo lực gia đình để ngăn ngừa từ sớm. Ngay cả nạn nhân bạo lực gia đình do xấu hổ, sợ bị miệt thị, trả thù hoặc vì phụ thuộc về kinh tế nên âm thầm chịu đựng, chỉ khi nào không thể chịu đựng hơn nữa mới dám nói ra hoặc có thể có hành động tiêu cực gây hậu quả nghiêm trọng, lúc đó chính quyền, cơ quan bảo vệ pháp luật mới vào cuộc và trong nhiều trường hợp thì đã muộn.

b) Thiếu những quy định pháp lý đặc thù, cụ thể như sau:

– Chưa có định nghĩa pháp lý về bạo lực gia đình;

– Chưa xác định trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình;

– Chưa có quy định pháp lý về biện pháp đặc thù trong ngăn ngừa bạo lực gia đình và hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình;

– Thiếu các quy định pháp lý mang tính đặc thù để giáo dục, xử lý có hiệu quả đối với người gây bạo lực để họ thay đổi hành vi theo hướng tích cực.

Những lý do nêu trên cho thấy việc xây dựng và ban hành Luật phòng, chống bạo lực gia đình trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, đồng thời thay đổi nhận thức của xã hội đối với hành vi bạo lực gia đình, phòng ngừa, răn đe, tạo dư luận xã hội lên án người có hành vi bạo lực gia đình.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng trên các quan điểm sau:

1. Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về vấn đề gia đình; làm rõ chức năng quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; góp phần củng cố và xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

2. Phát huy vai trò cá nhân, gia đình và cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình; chú trọng các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình tại cộng đồng, kịp thời phát hiện sớm và có giải pháp ngăn chặn, răn đe hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ nạn nhân, tránh để xẩy ra bạo lực gia đình gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Bảo đảm quyền con người, nhất là đối tượng yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người già, ưu tiên nguyện vọng chính đáng của nạn nhân; đồng thời tôn trọng các quyền của công dân khi xử lý các hành vi vi phạm về bạo lực gia đình.

4. Phù hợp với hệ thống pháp luật của Việt Nam và đảm bảo thực hiện cam kết quốc tế, nhất là Công ước về Chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) và Công ước về quyền trẻ em.

III- QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

Ngay sau khi được thành lập, Ban soạn thảo Luật phòng chống bạo lực gia đình đã thành lập Tổ biên tập bao gồm đại diện lãnh đạo cấp vụ, chuyên viên của các bộ, ngành có liên quan.

Vì chưa có số liệu về tình hình về bạo lực gia đình trong cả nước, do đó để có cơ sở xây dựng dự thảo luật, Ban soạn thảo đã tiến hành khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố, nghiên cứu các báo cáo rà soát, tổng kết thực hiện pháp luật hiện hành của Uỷ ban Dân số-Gia đình-Trẻ em, Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao; phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm của một số nước như Thái lan, Philippine, Úc, Italia ….; tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến đại biểu dân cử ở các tỉnh, thành phố, cán bộ quản lý, chuyên gia ở nhiều tỉnh, thành phố; lấy ý kiến của một số tổ chức phi chính phủ, gặp gỡ một số nạn nhân bạo lực gia đình, người gây bạo lực gia đình, trao đổi rút kinh nghiệm từ các mô hình thí điểm phòng, chống bạo lực gia đình ở các địa phương.

Ban soạn thảo đã xin ý kiến của Chính phủ bằng văn bản về dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

Ngày 29/9/2006, tại phiên họp thứ 43, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã thảo luận về dự án Luật này và thống nhất trình Quốc hội cho ý kiến.

Tiếp thu ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Uỷ ban pháp luật, Ban soạn thảo đã chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình.

IV – NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT

Dự án Luật phòng, chống bạo lực gia đình gồm 6 chương và 44 điều, bao gồm c

ác nội dung cơ bản sau:

1. Chương I “Những quy định chung” gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; giải thích từ ngữ; các hành vi bạo lực gia đình; nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình; quyền và nghĩa vụ của nạn nhân; nghĩa vụ của người có hành vi bạo lực; chính sách của Nhà nước, nguồn tài chính, hợp tác quốc tế về phòng, chống bạo lực gia đình và những hành vi bị nghiêm cấm.

2. Chương II “Phòng ngừa bạo lực gia đình” gồm 5 điều (từ Điều 11 đến Điều 15) quy định về thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn về gia đình; hoà giải mâu thuẫn và tranh chấp giữa các thành viên gia đình; giáo dục tại cộng đồng; các biện pháp khác để phòng ngừa bạo lực gia đình.

3. Chương III “Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình”, gồm 2 mục với 12 điều (từ Điều 16 đến Điều 27).

Mục 1 quy định các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình, gồm: quy định về phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình; biện pháp ngăn chặn, bảo vệ; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình theo quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình theo quyết định của Toà án; chăm sóc nạn nhân tại cơ sở y tế; tư vấn cho nạn nhân; hỗ trợ khẩn cấp, đảm bảo nhu cầu thiết yếu.

Mục 2 quy định về các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình, gồm: cơ sở y tế nhà nước; cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước; cơ sở hỗ trợ nạn nhân; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình; địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.

4. Chương IV. “Trách nhiệm của cá nhân, gia đình, tổ chức, cơ quan trong phòng, chống bạo lực gia đình” gồm 8 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) quy định về trách nhiệm trong phòng, chống bạo lực gia đình của cá nhân, gia đình; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình ở trung ương, Bộ Y tế, cơ quan bảo vệ pháp luật và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

5. Chương V “Xử lý hành vi bạo lực gia đình, các hành vi vi phạm pháp luật khác và khiếu nại, tố cáo” xử lý hành vi bạo lực gia đình, các hành vi vi phạm pháp luật khác và khiếu nai, tố cáo bao gồm 5 điều (từ Điều 35 đến Điều 40) quy định về xử lý người có hành vi bạo lực; xử lý vi phạm hành chính người có hành vi bạo lực; tình tiết tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính; xử lý người ép buộc, xúi giục người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình; xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền trong phòng, chống bạo lực gia đình; khiếu nại, tố cáo.

6. Chương VI “Điều khoản thi hành” gồm 4 điều (Điều 41 đến Điều 44) quy định về áp dụng luật đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng, hoặc vợ, chồng đã ly hôn; áp dụng luật đối với người nước ngoài; hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành luật.

V- NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

Trong quá trình soạn thảo và lấy ý kiến về nội dung dự án luật, hiện có ý kiến khác nhau về một số nội dung của dự án luật, Uỷ ban về các vấn đề xã hội xin trân trọng báo cáo và xin Quốc hội cho ý kiến, cụ thể như sau:

1. Về phạm vi áp dụng

Dự thảo Luật quy định luật này áp dụng đối với thành viên gia đình (khoản 1 Điều 2) đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình, cụ thể là : Thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau. Các đối tượng này có những mối quan hệ ràng buộc đặc biệt về mặt tình cảm (tính riêng tư của sự gần gũi hoặc mối liên hệ thân thiết kéo dài giữa các bên), sự phụ thuộc về kinh tế hoặc các ràng buộc pháp lý giữa nạn nhân và người có hành vi bạo lực. Các hành vi bạo lực thường xảy ra đằng sau cánh cửa khép kín. Do đó cần phải có những biện pháp đặc thù trong xử lý bạo lực giữa họ thì mới có hiệu quả.

Bên cạnh đó, tại Chương VI về điều khoản thi hành, Điều 41 dự thảo Luật quy định:Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn có hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này thì cũng áp dụng những quy định của Luật này như đối với thành viên gia đình.”

Dự thảo Luật quy định áp dụng các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình cả đối với nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng hoặc vợ, chồng đã ly hôn là dựa trên cơ sở thực tiễn cuộc sống nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa những người này và nhằm mục đích chính là để bảo vệ nạn nhân trong đó đa số là phụ nữ. Quy định luật áp dụng đối với cả những người đã ly hôn vì sau khi ly hôn bạo lực vẫn có thể xảy ra do họ vẫn còn quan hệ về nghĩa vụ chăm sóc con cái hoặc các mối quan hệ với họ hàng, bạn bè trước đây. Kết quả khảo sát cũng như ý kiến góp ý cho rằng tình hình bạo lực diễn ra khá phổ biến trong các nhóm này.

Quy định tại Điều 41 không phải là khuyến khích, hoặc tạo cơ sở pháp lý cho mối quan hệ giữa những người không có đăng ký hôn mà sống chung như vợ chồng, mà chỉ đảm bảo tất cả nạn nhân sẽ được hỗ trợ và bảo vệ đặc biệt. Hầu hết các quốc gia có luật về phòng chống bạo lực gia đình đều điều chỉnh cả đối tượng này trong luật.

Một lý do nữa cũng cần tính đến đó là tình trạng nam nữ chưa đăng ký kết hôn (mới làm lễ cưới) vì nhiều lý do khác nhau vẫn đang còn phổ biến ở một số vùng[7].

Đa số ý kiến tán thành với phạm vi áp dụng nêu trên, tuy nhiên, vẫn còn có các loại ý kiến khác về phạm vi áp dụng sau đây:

– Luật phòng chống bạo lực gia đình chỉ nên áp dụng với các thành viên gia đình theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;

– Luật chỉ áp dụng đối với các thành viên gia đình sống chung trong cùng một nhà.

2. Về các hành vi bạo lực gia đình (Điều 3)

Điều 3 của dự thảo Luật quy định về các hành vi bạo lực gia đình theo hướng cụ thể để bảo đảm tính minh bạch, khắc phục tình trạng luật khung và thuận tiện trong hướng dẫn thi hành luật. Việc quy định cụ thể các hành vi ngay trong luật là một thông điệp rất quan trọng gửi tới xã hội và cộng đồng rằng những hành vi hiện hành mà nhiều người coi đó là quyền của họ được ”dạy bảo” hay là chuyện nội bộ gia đình sẽ là hành vi vi phạm pháp luật.

Điều 3 của dự thảo Luật quy định cả hành vi bạo lực về tình dục (cưỡng ép quan hệ tình dục hoặc có hành vi khác xâm phạm đến đời sống tình dục), bởi vì kết quả khảo sát thực tế cho thấy người dân có nhiều bức xúc về vấn đề này hơn cả chuyện đánh đập, chửi mắng và nó gây tổn thương về sức khoẻ, tình cảm vợ, chồng.

Trong quá trình xây dựng dự án Luật, đa số ý kiến tán thành với việc quy định trên. Tuy nhiên, vẫn còn một số ý kiến khác như sau:

– Luật chỉ nên quy định theo hướng khái quát làm 4 loại: bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục và bạo lực kinh tế, các hành vi bạo lực cụ thể sẽ được hướng dẫn bằng văn bản dưới luật, như vậy sẽ tránh bị bỏ sót hành vi vi phạm.

– Chỉ nên quy định bạo lực gia đình về thể xác, tinh thần, kinh tế mà chưa nên quy định về bạo lực tình dục, bởi vấn đề này có thể chưa phù hợp với phong tục và văn hoá của nước ta và nó cũng chỉ là một hình thức của bạo lực tinh thần.

3- Về các biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình:

Trong quá trình soạn thảo dự án luật, nhiều ý kiến cho rằng việc ban hành luật này là rất cần thiết để nhằm xử lý, giải quyết tình trạng bạo lực gia đình đang khá phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng việc ban hành luật này có thể làm tăng nguy cơ gây tan vỡ gia đình.

Tiếp thu các ý kiến cảnh báo trên và căn cứ kết quả khảo sát thực tế, Dự án luật phòng, chống bạo lực gia đình được xây dựng trên quan điểm lấy biện pháp phòng ngừa bạo lực gia đình là chính, phải giải quyết mâu thuẫn, xích mích gia đình ngay từ khi mới phát sinh để hạn chế phát triển thành các xung đột gây hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ tính mạng và nhân phẩm, qua đó sẽ góp phần hạn chế ly hôn, bảo vệ sự bền vững của gia đình.

Nội dung của Chương 2 quy định về các biện pháp phòng ngừa, đó là phát huy vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, hòa giải và vai trò của gia đình, cộng đồng; đó là quy định các biện pháp về giáo dục tại cộng đồng. Đây là những biện pháp đã được áp dụng ở nhiều địa phương và mang đậm nét văn hoá Việt Nam. Ngoài ra, biện pháp hỗ trợ cai nghiện rượu cũng là đề xuất rất đặc trưng và đáp ứng yêu cầu thực tế của cộng đồng, bởi vì hơn 60% trường hợp bạo lực gia đình là do say rượu, mượn rượu, nhưng hiện nay chúng ta chưa có quy định về vấn đề này.

4. Về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình

Dự thảo Luật quy định, trong trường hợp khẩn cấp, cần thiết để bảo vệ sự an toàn của nạn nhân bạo lực gia đình, tránh các hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, căn cứ vào yêu cầu của nạn nhân hay người đại diện hợp pháp của nạn nhân hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì người có thẩm quyền quy định tại Điều 18, Điều 19 của dự thảo Luật có thể ra quyết định áp dụng biện pháp cấm người gây bạo lực tiếp xúc với nạn nhân trong một thời hạn nhất định. Quy định này xuất phát qua kinh nghiệm khảo sát thực tế, rất nhiều cán bộ tòa án cho rằng giá như có biện pháp để bảo vệ nạn nhân trong thời gian chờ xét xử thì sẽ không có hiện tượng bạo lực leo thang; hay nhiều nạn nhân bạo lực gia đình rất muốn có biện pháp pháp lý làm hàng rào bảo vệ. Cụ thể biện pháp này như sau:

– Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền ra quyết định cấm tiếp xúc trong thời hạn 3 ngày, đây là quyết định hành chính để bảo vệ nạn nhân, không phải là quyết định xử lý vi phạm đối với người có hành vi bạo lực;

– Toà án khi đang thụ lý hoặc giải quyết vụ án dân sự giữa nạn nhân và người gây bạo lực gia đình có quyền ra quyết định cấm tiếp xúc tối đa là 4 tháng.

Việc quy định thời gian cấm tiếp xúc giữa nạn nhân và người gây bạo lực gia đình theo quyết định của Chủ tịch xã là 3 ngày, bởi vì đây là quyết định của cấp cơ sở, thời gian 3 ngày là phù hợp để hai bên có đủ thời gian trấn tĩnh, nạn nhân được an toàn trước khi hòa hợp với nhau.

Đối với quyết định cấm tiếp xúc của Tòa án, thời gian cấm tiếp xúc tối đa 4 tháng, vì đây là biện pháp chủ yếu chỉ áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự (chủ yếu là hôn nhân gia đình) có nguyên nhân từ bạo lực gia đình nghiêm trọng. Thời gian tối đa 4 tháng phù hợp với thực tế khi thụ lý, xét xử các vụ án về ly hôn, bảo đảm trong thời gian chờ đợi xét xử nạn nhân không tiếp tục bị bạo lực.

Khi đã có quyết định của chính quyền, của Tòa án, nạn nhân và thân nhân của họ và những người giúp đỡ nạn nhân, chính quyền cơ sở có thêm cơ sở pháp lý để ngăn chặn kẻ gây bạo lực tiếp cận và hành hung nạn nhân.

Thực tế hiện nay, trong nhiều trường hợp, do để bạo lực gia đình xảy ra trong một thời gian dài và cuối cùng đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, thậm chí dẫn tới án mạng. Nguyên nhân là do xã hội, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền chưa nhận thức đầy đủ về tính chất leo thang của bạo lực gia đình, thiếu các biện pháp phù hợp trong quá trình xử lý hành vi bạo lực. Nếu có thêm biện pháp cấm tiếp xúc để cách ly người gây bạo lực với nạn nhân thì chắc chắn sẽ góp phần giảm thiểu nguy cơ xảy ra các hậu quả nghiêm trọng.

Để phù hợp với điều kiện của nước ta, dự thảo Luật quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã khi quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc có quyền buộc người có hành vi bạo lực ra khỏi nơi ở chung với nạn nhân trong thời gian cấm tiếp xúc nếu nạn nhân có yêu cầu; Toà án khi quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc thì phải xem xét đến yếu tố nạn nhân và người gây bạo lực phải có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc, không quy định nhất thiết buộc người có hành vi bạo lực phải rời khỏi nơi ở chung.

Cấm tiếp xúc là biện pháp rất đặc thù để bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình. Tuy nhiên, đây là biện pháp nhạy cảm nên phải có nhiều điều kiện ràng buộc khi ra quyết định cấm tiếp xúc, trong đó quan trọng nhất là phải do yêu cầu của nạn nhân, không áp đặt biện pháp này nếu nạn nhân không yêu cầu.

Trong quá trình xây dựng dự án Luật, đa số ý kiến tán thành với quy định về biện pháp cấm tiếp xúc nêu trên. Tuy nhiên, cũng còn một số ý kiến băn khoăn vì đây là biện pháp mới, lại áp dụng trong mối quan hệ rất đặc biệt là gia đình, do đó e ngại tính khả thi của quyết định cấm tiếp xúc với nạn nhân.

Riêng về thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc ở cấp xã, Chính phủ đề nghị chỉ giao cho cơ quan Công an.

5- Về cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình (Điều 26)

Điều 26 dự thảo Luật quy định về cơ sở hỗ trợ, tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình theo hướng khuyến khích cá nhân, tổ chức thành lập các cơ sở này. Nạn nhân trong lúc bị xúc phạm, đánh đập họ rất cần sự che chở, khuyên răn của người thân, họ hàng và bạn bè cũng như rất cần người tâm sự để chia sẻ bớt nỗi đau vì bị xúc phạm. Do đó, hiệu quả nhất là người thân của nạn nhân sẽ làm việc này. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người thân của nạn nhân không làm được, vì họ kết hôn với người ở xa gia đình, hoặc người thân cũng có tư tưởng phong kiến lạc hậu, hay lo ngại sợ mang tiếng, vả lại tư vấn tâm lý là một nghề không phải ai cũng có kinh nghiệm kiến thức để hướng dẫn nạn nhân.

Thực tế hiện nay đã và đang có hàng loạt trung tâm trợ giúp xã hội (về vật chất), tư vấn nạn nhân bạo lực gia đình (trực tiếp hạy qua điện thoại). Đây là những trung tâm không chỉ trợ giúp riêng cho nạn nhân bạo lực gia đình mà còn giúp đỡ nhiều đối tượng xã hội khác, hoạt động hoàn toàn mang tính nhân đạo, từ thiện. Để các trung tâm này hoạt động đúng chức năng, đảm bảo chất lượng tư vấn, hướng dẫn nạn nhân bạo lực gia đình, Điều 26 quy định cụ thể điều kiện thành lập, hoạt động của trung tâm tư vấn hỗ trợ nạn nhân, đồng thời trách nhiệm của nhà nước trong việc hỗ trợ một phần kinh phí cho các trung tâm.

Trong quá trình xây dựng Luật, đa số ý kiến thống nhất với quy định trên. Tuy nhiên có một số ý kiến băn khoăn cho rằng sẽ có rất ít người qua tâm đầu tư xây dựng các cở sở này, cũng chưa rõ cơ chế để Nhà nước sẽ hỗ trợ kinh phí cho các trung tâm.

6- Về hình thức xử phạt bổ sung với người có hành vi bạo lực gia đình (Điều 36)

Điều 36 dự thảo Luật quy định đối với mỗi vi phạm hành chính thì người có hành vi bạo lực gia đình phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền, ngoài ra tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính; Lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày; Tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi (khoản 3, Điều 36).

Lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày (không phải là nghĩa vụ lao động công ích) và tham gia giáo dục bắt buộc nhằm thay đổi hành vi là 2 hình thức xử phạt bổ sung mới được quy định trong dự thảo Luật. Hai hình thức này chủ yếu nhằm giáo dục, răn đe người có hành vi bạo lực gia đình, không nhằm vào mặt kinh tế. Thực tiễn tại một số địa phương đã áp dụng rất có hiệu quả hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng đối với người có hành vi bạo lực gia đình. Nhiều người dân ủng hộ việc quy định về 2 hình thức phạt bổ sung nêu trên[8] và cho rằng những biện pháp này cần thiết và có hiệu quả hơn là phạt tiền hoặc tạm giữ người có hành vi bạo lực. Do đây là 2 hình thức xử phạt bổ sung mới, nên dự thảo Luật quy định giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả và kịp thời điều chỉnh trong thực tế thực hiện.

Trong quá trình xây dựng luật, đa số ý kiến tán thành với các quy định trên, song có một số ý kiến cho rằng không nên quy định về hình thức lao động vì lợi ích cộng đồng trong thời gian không quá 3 ngày vì e ngại vi phạm danh dự, nhân phẩm của người có hành vi bạo lực gia đình.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình mặc dù rất phổ biến tại cộng đồng, song do nhiều nguyên nhân nó chưa được xử lý một cách triệt để, đây là tình trạng chung diễn ra trên toàn thế giới chứ không riêng gì ở nước ta.

Hiện nay gần 90 quốc gia đã có luật riêng về phòng, chống bạo lực gia đình. Chúng tôi cũng được biết rằng, tại nhiều quốc gia quá trình ban hành luật phòng, chống bạo lực gia đình gặp nhiều khó khăn do tính nhạy cảm trong mối quan hệ gia đình, cũng như phong tục, văn hóa và các yếu tố xã hội khác. Tuy nhiên, luật pháp trong lĩnh vực xã hội nói chung và trong ngăn ngừa bạo lực gia đình nói riêng là một nhu cầu bức thiết, dựa trên những nguyên tắc chung về pháp lý cùng với tính chất đặc thù để điều chỉnh những quan hệ xã hội đa dạng, nhạy cảm, đang nảy sinh trong quá trình phát triển.

Rất mong quý vị Đại biểu Quốc hội quan tâm cho ý kiến để dự thảo luật hoàn chỉnh và có tính khả thi cao. Xin trân trọng cám ơn.

T/M UỶ BAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

Chủ nhiệm

(đã ký)

Nguyễn Thị Hoài Thu


[1] Khảo sát tại 8 tỉnh ở 8 vùng trên cả nước do Uỷ ban về CVĐXH phối hợp với một số viện nghiên cứu tiến hành trong 6 tháng đầu năm 2006 đã phỏng vấn 2000 người gồm nhân dân, nạn nhân BLGD, người gây BLGD, cán bộ xã; cán bộ y tế, công an, phụ nữ và toà án cấp huyện. Mục đích của cuộc khảo sát:

 

 

Sơ bộ đánh giá thực trạng, nguyên nhân của BLGĐ

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp hiện hành và thăm dò ý kiến nhân dân về dự kiến một số biện pháp về phòng, chống BLGĐ

[2]Kết quả khảo sát cho thấy hàng năm 2,3% gia đình có hành vi bạo lực về thể chất (đánh đập), 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần, 30% cặp vợ chồng có hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục.

[3] Theo báo cáo của một số trung tâm y tế cấp huyện ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bình quân mỗi năm một trung tâm y tế huyện tiếp nhận gần 100 ca tự tử, trong đó gần 50% là thanh niên, nguyên nhân chủ yếu do bố mẹ cản trở quan hệ yêu đương, hôn nhân của con cái. Bên cạnh đó, tình trạng con cái say rượu về hành hung bố, mẹ già cũng không phải là hiếm ở các vùng, thậm chí do bị hành hung quá nên có trường hợp cha/mẹ đã phải tự tử, hoặc thậm chí giết con

Báo cáo của công an một huyện vùng miền núi Tây Bắc cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2006, kiểm tra ở 4 trong số 9 xã có đồng bào Mông đã có 24 vụ tự tử bằng lá ngón làm 11 người chết. Trong giai đoạn 2001-2005, mỗi năm có 10-20 vụ tự tử bằng lá ngón do nguyên nhân chính là bị vợ ngược đãi, vì chồng có vợ hai; hay tảo hôn..

[4] Trong năm 2005 có 14% số vụ giết người liên quan đến bạo lực gia đình (151/1113 vụ giết người), trong đó 39 vụ chồng giết vợ, 8 vụ vợ giết chồng)

[5] Theo báo cáo của Sở Y tế 1 tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2005, số bệnh nhân là nạn nhân hoặc có dấu hiệu là nạn nhân bạo lực gia đình đã điều trị là 1.319 bệnh nhân, trong đó có 1.011 người tự tử với 30 người bị chết; báo cáo của sở y tế 1 tỉnh ở Tây Nguyên, có 715 người tự tử với 27 người bị chết liên quan đến bạo lực gia đình..

[6] Có những quốc gia ước tính các hậu quả do bạo lực gia đình gây ra tương đương với 7% GDP.

[7] Báo cáo của Bộ Tư pháp ngày 5/1/2005 tổng kết công tác đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH11 cho thấy, đến ngày 31/7/2004 các địa phương trong cả nước đã rà soát được 1.683.697 trường hợp hôn nhân thực tế, đã đăng ký được 1.375.548 trường hợp, còn tồn đọng 170.868 trường hợp. Số đã được rà soát chỉ là một phần của hôn nhân thực tế.

[8] Theo kết quả khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố, trong số 2000 người được hỏi có 81% ý kiến đề nghị buộc người có hành vi bạo lực phải học tập về pháp luật, gia đình nhằm thay đổi hành vi; 55% ý kiến đề nghị buộc người vi phạm phải làm việc phục vụ lợi ích cộng đồng trong 1 thời gian nhất định.

TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CHO DỰ THẢO LUẬT CƯ TRÚ

I-VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. Về bố cục của dự thảo:
Đa số ý kiến nhất trí với giải trình của UBTVQH và cách thiết kế, bố cục các chương, điều của dự thảo.
Có ý kiến đề nghị bổ sung vào chương III một điều qui định về quyền và nghĩa vụ của chủ hộ, vì chủ hộ là người có trách nhiệm chính trong việc thực hiện các công việc liên quan đến quản lý cư trú nói chung và sổ hộ khẩu nói riêng.
2. Về mô hình quản lý cư trú:
-Đa số ý kiến cho rằng trong tình hình hiện nay, vẫn cần thiết duy trì phương thức quản lý thường trú bằng việc cấp sổ hộ khẩu cho hộ gia đình hoặc cá nhân, vì bên cạnh việc đảm bảo quyền cư trú của công dân thì vấn đề cư trú còn liên quan trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, cần qui định về trình tự, thủ tục đăng ký và quản lý hộ khẩu thật đơn giản để đảm bảo quyền của công dân. Đặc biệt, cần phân biệt tách bạch rạch ròi giữa hộ khẩu là quản lý cư trú với quyền sở hữu tài sản của công dân (nhà ở, đất đai…); tách bạch giữa hộ khẩu với quyền tiếp xúc và thụ hưởng các dịch vụ công của công dân.

3. Về vấn đề cư trú của công dân:
Đa số ý kiến tán thành quy định của dự thảo luật, xác định hình thức cư trú gồm: thường trú, tạm trú (các khoản 1,2,3 điều 3). Đồng thời, bổ sung hình thức “lưu trú” thay cho hình thức tạm trú ngắn hạn (khoản 4 điều 3), nhằm phân biệt người tạm trú sinh sống thường xuyên, ổn định lâu dài tại một địa phương nhất định vối những trường hợp tạm trú mang tính chất vãng lai. Các quy định này giúp cho người dân, cơ quan, tổ chức dễ phân biệt, áp dụng, đồng thời đảm bảo quyền của người tạm trú.
4. Về đăng ký thường trú:
– Đa số ý kiến nhất trí qui định việc đăng ký thường trú ở các thành phố đô thị cần chặt chẽ, đảm bảo điều kiện về cơ sở hạ tầng và khả năng cung ứng dịch vụ của đô thị , đáp ứng gia tăng cơ học, tránh quá tải đột biến gây nhiều phức tạp về an ninh trật tự, an toàn đô thị.
– Đa số ý kiến nhất trí cho rằng cần quy định việc đăng ký thay đổi nơi thường trú khi thay đổi hoặc chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới. Tuy nhiên về thời hạn thực hiện còn có ý kiến khác nhau:
+Nhiều ý kiến đề nghị phải qui định rõ thời hạn thực hiện ngay trong luật để dễ thực hiện cho cả cơ quan quản lý và công dân. Nếu quy định không cụ thể như phương án 2 điều 24 sẽ phải chờ hướng dẫn, cũng như tra cứu văn bản để áp dụng gây lãng phí thời gian, hơn nữa trong một số quy định khác của dự thảo cũng đã cụ thể hóa thời gian trong một số thủ tục. Tuy nhiên thời hạn 24 tháng như phương án 1 điều 24 là quá dài, cần rút xuống còn 12 tháng (khoản 1 điều 21 của dự thảo về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương cũng đã quy định có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố từ 1 năm trở lên thì được đăng ký thường trú). Ngoài ra, cũng có ý kiến đề nghị đưa khoản 2 của phương án 2 điều 24 thành khoản 2 của phương án 1 điều 24 để xác định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.
+Một vài ý kiến tán thành phương án 2 điều 24 (không quy định cụ thể về thời hạn thực hiện việc đăng ký thường trú khi thay đổi và chuyển đến chỗ ở hợp pháp mới).

5. Về đăng ký tạm trú (điều 31)
-Đa số ý kiến nhất trí như giải trình của UBTVQH và nội dung điều 31 dự thảo luật .
-Có ý kiến đề nghị nên bổ sung vào khoản 4 điều 31 về trách nhiệm của nơi đăng ký mới phải thông báo cho nơi đăng ký cũ biết để thực hiện việc xoá tạm trú, vì thực tế nhiều người đăng ký tạm trú sau khi chuyển đi nơi khác không báo với cơ quan đã đăng ký và cơ quan đã đăng ký nhiều khi cũng không biết được họ đã không còn tạm trú tại địa phương.
6. Về thông báo lưu trú:
-Đa số ý kiến nhất trí như dự thảo. Về quy định thông báo qua điện thoại , đề nghị nếu áp dụng việc thông báo qua điện thoại thì phải quy định rõ biện pháp chế tài trách nhiệm để xử lý vi phạm .
-Có ý kiến cho rằng Dự thảo qui định trách nhiệm thông báo việc lưu trú của “nhà ở tập thể”, “cơ sở chữa bệnh” là không khả thi và chưa phù hợp, vì đối với nhà ở tập thể thì có thể không có người trực tiếp quản lý mà mỗi chủ hộ có sổ hộ khẩu riêng, còn đối với bệnh viện (cơ sở chữa bệnh) thì không phải là trách nhiệm của bệnh viện, nếu có thì chỉ là đối với bệnh nhân còn với thân nhân nuôi bệnh thì không thể buộc bệnh viện phải quản lý. Vì vậy, đề nghị qui định cho phù hợp hơn.
7. Về khai báo tạm vắng (Điều 33)
-Đa số ý kiến thống nhất với dự thảo, theo đó chỉ quy định một số trường hợp phải khai báo tạm vắng như tại khoản 1 và khoản 2 điều 33.
-Điều 33 dự thảo có qui định trường hợp “quản chế”. Có ý kiến đề nghị quy định rõ hơn vì có “quản chế hành chính” và “quản chế” là hình phạt của Tòa án.
II/ Ý KIẾN CỤ THỂ ĐỐI VỚI DỰ ÁN LUẬT

1.Về đối tượng áp dụng (điều 2)
Có 2 ý kiến cho rằng người Việt Nam ở nước ngoài vẫn còn giữ quốc tịch Việt Nam thì vẫn thuộc đối tượng áp dụng của luật này.
2. Về giải thích từ ngữ ( Điều 3):
-Khoản 1 điều 3: Có 1 ý kiến cho rằng theo tinh thần qui định trong dự án Luật thì những người “lưu trú” vẫn phải khai báo và chịu sự quản lý của cơ quan có thẩm quyền nơi đến lưu trú nên khái niệm “cư trú” phải bao hàm cả “lưu trú” thì mới đầy đủ.
-Khoản 4 điều 3: đề nghị quy định rõ hơn về việc“ ở lại một thời gian nhất định” khi giải thích khái niệm về lưu trú. “Thời gian nhất định” là bao lâu? Lưu trú nhiều lần liên tục trong một thời gian dài thì có còn là lưu trú không?
-Khoản 5 điều 3 quy định “Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc địa điểm cụ thể khác mà công dân sử dụng để cư trú; chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho mượn, cho ở nhờ, cho thuê theo quy định của pháp luật”.
Quy định như dự thảo còn chung chung, sẽ dẫn đến hiểu nhiều cách khác nhau. Các nơi trong chợ, gầm cầu thang chung cư, trên xích lô, trên ghe thuyền không đăng ký… có được xem là nơi ở hợp pháp để đăng ký thường trú không? Đề nghị quy định cụ thể, rõ ràng hơn. Đồng thời, cần quy định rõ, ngoài nơi ở hợp pháp thì những nơi ở khác nên quy định ghi tình trạng nhà ở của người cư trú như : nhà chưa hợp pháp, ở nhờ, cho thuê… để không bị vướng trong quá trình di chuyển và đăng ký, phân biệt việc cư trú không có giá trị đối với tài sản.
-Một số ý kiến đề nghị bổ sung giải thích các khái niệm: “nhà”, “gia đình”, “hộ khầu”, “sổ hộ khẩu”, “nhân khẩu”.
3. Về nguyên tắc cư trú và quản lý cư trú (Điều 5)
Khoản 4 điều 5 quy định “Mọi thay đổi về cư trú đều phải được đăng ký; mỗi người chỉ được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú tại một nơi”
-Có ý kiến cho rằng quy định như trên chỉ mới nhấn mạnh đến yêu cầu của công tác quản lý, chưa rõ trách nhiệm công dân. Để đảm bảo quyền tự do cư trú của công dân, đồng thời để đảm bảo công tác quản lý xã hội, đề nghị sửa lại như sau: “Mọi thay đổi về cư trú đều phải đăng ký, mỗi người được đăng ký thường trú tại một địa phương nhất định, đăng ký tạm trú tại nơi mình thường xuyên lao động, học tập và cư trú”.
-Ý kiến khác cho rằng quy định như trên là không khả thi, vì một người có thể đăng ký thường trú, tạm trú nhiều lần ở các nơi khác nhau. Đề nghị viết lại khoản 4 điều 5 cho rõ hơn là : “…mỗi người tại một thời điểm nhất định chỉ được đăng ký thường trú, tạm trú tại một nơi”.
4.Về tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú (điều 7)
Có 1 ý kiến đề nghị bỏ điều này. Trách nhiệm tuyên truyền pháp luật nói chung đã được các văn bản pháp luật khác quy định.
5.Về các hành vi bị nghiêm cấm (điều 10)
-Khoản 1 điều 10 quy định nghiêm cấm hành vi “cản trở công dân thực hiện quyền tự do cư trú”. Có 1 ý kiến cho rằng quy định như dự thảo còn chung chung, đề nghị cụ thể hơn, nghiêm cấm hành vi “cản trở công dân thực hiện quyền đăng ký cư trú”.
-Khoản 8 điều 10: Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định nghiêm cấm hành vi cầm cố, thế chấp sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú.
6. Về nghĩa vụ của công dân về cư trú (Điều 13)
Khoản 6 Điều 13: có ý kiến đề nghị bổ sung thêm từ “lưu trú” sau từ “tạm trú” cho đầy đủ.
7.Về nơi cư trú của vợ, chồng (Điều 17)
Khoản 2 điều 17 quy định “vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận”. Có ý kiến đề nghị bỏ quy định này vì sẽ làm phát sinh thủ tục không cần thiết
8. Về thủ tục đăng ký thường trú (điều 22)
Khoản 3 điều 22: nên quy định rõ thời hạn cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong “10 ngày làm việc”.
9. Về xoá đăng ký thường trú (Điều 23):
– Có ý kiến đề nghị bổ sung xoá thường trú đối với các trường hợp: bắt đi tù, có quyết định đưa đi cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh; xuất cảnh học tập, công tác ở nước ngoài trên 12 tháng vì những người này thật sự không có mặt tại địa phương một thời gian mà vẫn còn hộ khẩu thường trú là chưa hợp lý, không phù hợp với điều 24 của dự thảo. Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm một trường hợp để xoá đăng ký thường trú là “bị Tòa án cấm cư trú”, vì “cấm cư trú” là một hình phạt, nếu Tòa án cấm cư trú thì buộc phải xóa hộ khẩu.
10. Về điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương (Điều 21)
Khoản 2 điều 21 quy định các trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình. Có ý kiến đề nghị quy định rõ ngoài quan hệ bố, mẹ, vợ, chồng, con; những người không có mối quan hệ trên phải có sự đồng ý bằng văn bản của người có chỗ ở hợp pháp.
11. Về điều chỉnh những thay đổi về sổ hộ khẩu (Điều 30)
Đề nghị bổ sung thêm một trường hợp phải điều chỉnh những thay đổi về sổ hộ khẩu là trường hợp thêm, bớt nhân khẩu trong sổ hộ khẩu.

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CHO DỰ THẢO LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

I. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM

1-Ý kiến góp ý chung

Vấn đề được nhiều ý kiến quan tâm là dự thảo cần đưa ra những quy định thực sự có tính khả thi, quy định chi tiết trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể (nhà nước, tổ chức, công dân) trong thực hiện bình đẳng giới, trong đó cần tập trung quy định cụ thể việc bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội (Chương II), vì nhiều quy định còn rất chung chung. Một số ý kiến lưu ý cần rà soát lại các quy định để không chệch hướng sang bất bình đẳng với nam, ví dụ: quy định lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm theo quy định của pháp luật như là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới (điểm b khoản 3 điều 10) là chưa ổn, vì chính sách của nhà nước ta trong việc hỗ trợ lao động khu vực nông thôn từ trước đến nay luôn đảm bảo bình đẳng trong lĩnh vực này.

2. Phạm vi điều chỉnh

Hầu hết ý kiến cho rằng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay đã có những quy định liên quan đến vấn đề bình đẳng giới và để tránh sự trùng lắp với các quy định trong các Luật chuyên ngành, Luật bình đẳng bình giới chỉ nên quy định các nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới; các hành vi vi phạm bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình; việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới.

3. Về tên gọi của Luật

-Đa số ý kiến đồng ý với tên gọi “Luật bình đẳng giới” vì cụm từ này hiện nay cũng đã được xã hội chấp nhận và sử dụng nhiều trong các Nghị quyết gần đây của Đảng, các văn bản của Chính phủ. Tên gọi “bình đẳng giới” phản ánh đúng nội dung điều chỉnh và mục tiêu của Luật.

4. Về bố cục của Dự thảo Luật

Các ý kiến cho rằng bố cục của dự thảo đã được UBTVQH chỉnh sửa là chặt chẽ và hợp lý.

5. Về tuổi nghỉ hưu của người lao động (Điều 11)

Vấn đề tuổi nghỉ hưu của người lao động nên để quy định trong Bộ luật lao động, pháp luật về cán bộ công chức và Luật bảo hiểm xã hội cho thống nhất. Tuổi được hưởng lương hưu trong một số trường hợp như cán bộ khoa học, chính trị, quản lý do Chính phủ quy định. Bởi vì dù có quy định trong dự án Luật bình đẳng giới tuổi nghỉ hưu có khác với luật chuyên ngành (Bộ luật lao động) thì vẫn phải áp dụng luật chuyên ngành.

6. Về trách nhiệm quản lý nhà nước về bình đẳng giới (Điều 7)

-Đa số ý kiến cho rằng vấn đề bình đẳng giới có liên quan đến nhiều lĩnh vực do nhiều bộ, ngành khác nhau quản lý, do đó không nên thành lập cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bình đẳng giới mà nên giao cho Chính phủ trực tiếp quản lý nhà nước về bình đẳng giới. Điều này phù hợp với Luật tổ chức Chính phủ và phù hợp với chủ trương cải cách hành chính nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Chính phủ trong việc chủ động sắp xếp tổ chức bộ máy, đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý. Do đó đề nghị chọn ý kiến phương án 2: “không quy định cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bình đẳng giới”.

-Có 1 ý kiến đề nghị chọn phương án 1, cần thiết có một cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

7. Về quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và tham gia quản lý, lãnh đạo.

-Nhiều ý kiến chọn phương 1: “chỉ quy định có tính nguyên tắc về tỷ lệ (tỷ lệ cụ thể sẽ do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới và tình hình thực tế), theo đó tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tỷ lệ nữ trong cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tỷ lệ nam, nữ trong bổ nhiệm các chức danh thuộc các ngành, nghề có chức danh phải phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”.

Các ý kiến này cho rằng Luật cần phải áp dụng trong thời gian lâu dài do vậy tỷ lệ nam, nữ trong mỗi kỳ Quốc hội, HĐND có thể khác nhau do nhiều yếu tố tình hình khách quan. Mặt khác nếu quy định tỷ lệ cụ thể sẽ dễ dẫn đến việc gượng ép, hạ thấp chuẩn để đảm bảo tỷ lệ. Do đó chỉ nên đưa ra nguyên tắc và UBTVQH sẽ quy định cụ thể phù hợp với thực tế.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ

1. Về đối tượng áp dụng (điều 2)

Khoản 2 điều 2: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “sinh hoạt” vào trước cụm từ “cá nhân nước ngoài”, cụ thể như sau: “Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, cá nhân nước ngoài sinh hoạt, cư trú hợp pháp tại Việt Nam”

2. Về giải thích từ ngữ (điều 3)

-Có ý kiến đề nghị viết lại khoản 9 điều 3 như sau: “Hoạt động bình đẳng giới” bao gồm: Giáo dục, thông tin, tuyên truyền về giới và pháp luật về bình đẳng giới; thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực đời sống xã hội và gia đình; hỗ trợ các cá nhân, tổ chức hoạt động vì mục tiêu bình đẳng giới; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới; khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong các hoạt động vì mục tiêu bình đẳng giới.

3. Về các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới (Điều 4)

-Ý kiến chung cho rằng các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới được quy định tại điều 4 của dự thảo Luật là phù hợp.

-Khoản 3, điều 4: “ Các chính sách nhằm bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới” Có ý kiến cho rằng dự thảo cần thiết phải giữ lại biện pháp tạm thời này nhưng nên đưa vào nội dung Chính sách của của Nhà nước về bình đẳng giới (khoản 2 điều 5) và không nên xem đó là nguyên tắc.

-Có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc “Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của Nhà nước và mọi công dân”.

4.Về chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới (điều 5)

Khoản 1 điều 5: có ý kiến đề nghị không liệt kê các lĩnh vực như ở đoạn đầu của khoản 1 điều 5 mà cần viết gọn lại là “Bảo đảm bình đằng giới trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình…”
5.Về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Đề nghị quy định rõ hơn về thẩm quyền ban hành, điều kiện áp dụng, các biện pháp thúc đẩy và việc chấm dứt biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới. Đồng thời cần nêu rõ như thế nào là có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sự phát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm được sự chênh lệch này.

6. Về chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới (điều 5)

-Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “Nuôi dạy con” vào khoản 2 điều 5 nhằm khẳng định chia sẻ trách nhiệm của cả chồng và vợ trong việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Cụ thể: “Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện và khuyến khích nam, nữ chia sẻ công việc nuôi dạy con và lao động gia đình”.

-Khoản 4 điều 5: đề nghị thay cụm từ “khuyến khích” bằng cụm từ “tạo điều kiện”, cụ thể: “Tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới”.

7.Về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị (Điều 9)

-Khoản 2 điều 9: có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “pháp luật” vào trước cụm từ “thực hiện”, cụ thể: “Nam, nữ bình đẳng tham gia xây dựng và thực hiện pháp luật, hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của cơ quan, tổ chức”.

-Khoản 3 điều 9: có ý kiến đề nghị thay cụm từ “trong việc được” bằng cụm từ “về quyền” và bỏ bớt cụm từ “được ứng cứ và giới thiệu ứng cử vào”. Cụ thể, sửa lại khoản 3 điều 9 như sau: “ Nam, nữ bình đẳng về quyền tự ứng cử và giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND, cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp”.

8.Về bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo (điều 12); Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (điều 13)

-Có ý kiến đề nghị nhập điều 12 và điều 13 thành chung một điều là “Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học và công nghệ”.

-Khoản 4 điều 12 quy định “Cán bộ, công chức nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mà phải mang con theo dưới 36 tháng tuổi được hỗ trợ”. Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm đối tượng “lao động nữ” vì hiện nay không chỉ có cán bộ, công chức nữ tham gia các khóa đạo tạo, bồi dưỡng mà các lao động nữ làm việc trong các đơn vị, tổ chức kinh tế cũng phải tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề. Đề nghị sửa khoản 4 điều 12 như sau: “Cán bộ, công chức nữ, lao động nữ khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mà phải mang con theo dưới 36 tháng tuổi được hỗ trợ”

-Mục a,b khoản 5 điều 12: có ý kiến đề nghị nên sửa lại ưu tiên cho nữ trong điều kiện cụ thể, không nên quy định tỷ lệ nam, nữ hoặc chỉ hỗ trợ dạy nghề cho lao động nữ khu vực nông thôn (trong tình hình kinh tế xã hội hiện nay Nhà nước phải có trách nhiệm cho công dân nam, nữ).

9. Về bình đẳng trong gia đình (điều 16)

-Một số ý kiến cho rằng không nên đưa quy định bình đẳng về quyền thừa kế giữa nam và nữ trong gia đình vào Luật bình đẳng giới vì đây là quyền lợi của mọi công dân không phân biệt giới đã được Bộ Luật dân sự quy định rõ, đó là quyền chủ sở hữu thể hiện qua di chúc hoặc theo quy định về chia quyền thừa kế trong trường hợp không có di chúc.
-Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm khoản 6 vào điều 16 như sau: “ Con trai, con gái đã trưởng thành bình đẳng về trách nhiệm chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ”.

10. Về các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới (điếu 17)

Có ý cho rằng dự thảo Luật không nên “quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia, thụ hưởng;” vì như vậy sẽ mâu thuẫn với các điều đã quy định như điều 12, điều 13, điều 15.
11-Về trách nhiệm của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (điều 28)

Có ý kiến đề nghị đưa khoản 5 điều 28 “Thực hiện phản biện xã hội đối với chính sách, pháp luật về bình đẳng giới” lên thành khoản 5 điều 27, để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đều có quyền thực hiện trách nhiệm này.

12-Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khác (Điều 30)

Đề nghị bỏ đoạn “tuỳ khả năng, điều kiện của mình…” ở khoản 4 điều 30, vì nếu quy định như dự thảo sẽ không đảm bảo khả thi, các cơ quan, tổ chức không thực hiện việc tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới cũng không chịu chế tài gì.

13. Về bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật:

Có ý kiến đề nghị thay thuật ngữ “đưa vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật” bằng thuật ngữ “lồng ghép giới”, vì thuật ngữ này đã được sử dụng tương đối phổ biến trong nhiều năm qua, phù hợp với ý nghĩa của các chương trình, dự án quốc tế cũng như hợp tác quốc tế liên quan đến vấn đề giới; ngoài ra thuật ngữ “lồng ghép giới” không gói gọn trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật mà còn có ý nghĩa rộng hơn trong hoạt động.

14-Về thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới (Chương V)

-Có ý kiến cho rằng các điều 33 (thanh tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ); điều 34 (giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới); điều 35 (khiếu nại, tố cáo); điều 36 (thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại); điều 37 (tố cáo, giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới) đã được các luật chuyên ngành khác quy định đầy đủ như Luật khiếu nại, tố cáo, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật tổ chức HĐND-UBND; Luật thanh tra….Do đó, không cần thiết phải quy định trong Luật bình đẳng giới để tránh trùng lắp (ngay trong dự thảo, điều 35 về khiếu nại, tố cáo và điều 37 về tố cáo, giải quyết tố cáo … cũng đã có nội dung trùng lắp).

-Trong điều 46 (các hành vi vi phạm về bình đẳng giới trong gia đình), có ý kiến đề nghị bổ sung “hành vi bạo hành trong gia đình”

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

TỔNG HỢP Ý KIẾN ĐÓNG GÓP CHO DỰ ÁN LUẬT HIẾN, CẤY, GHÉP MÔ, BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI

I. NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN

1/ Về phạm vi điều chỉnh của Luật

Đa số ý kiến chọn phương án 1, điều chỉnh cả nội dung hiến hiến xác Việc cho rằng Bộ luật dân sự đã có quy định về hiến xác nên không điều chỉnh trong luật này là không thỏa đáng vì: Bộ luật dân sự cũng có quy định về hiến bộ phận cơ thể người nhưng lĩnh vực này lại được điều chỉnh trong dự thảo luật; mặt khác, Bộ luật dân sự chỉ nêu các quyền hiến xác, bộ phận cơ thể một cách chung nhất, cần thiết phải đưa vào điều chỉnh trong dự thảo luật để quy định trình tự, thủ tục cụ thể đối với các quyền này.

-Một số ý kiến đề nghị bổ sung việc cho, nhận tế bào vào phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 13 của dự thảo luật có quy định về việc hiến, nhận tinh trùng, noãn, phôi trong thụ tinh nhân tạo, đồng nghĩa với việc tế bào thuộc phạm vi điều chỉnh của luật).

Các ý kiến này cho rằng noãn, tinh trùng, máu cuống rốn… đang và sẽ là những nội dung rất quan trọng và cần thiết quy định chặt chẽ việc hiến, nhận. Hơn nữa, với sự phát triển rất nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, vấn đề điều trị bằng tế bào gốc sẽ ngày càng phổ biến hơn và cần phải có những quy định cụ thể, chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, dự thảo luật lại quy định còn sơ sài, chung chung về vấn đề này. Các ý kiến phân tích: Nếu như việc hiến mô và bộ phận cơ thể liên quan trực tiếp đến người cho và người nhận, thì việc hiến, nhận tế bào còn tạo ra một cá thể mới hay một chủ thể pháp luật mới. Đối với tinh trùng ngoài việc lấy ở người sống, vẫn có thể lấy ở người bị bệnh nan y sắp chết để điều trị cho người vợ (đây là nhu cầu lớn trong xã hội)… Khoản 6 điều 10 quy định nghiêm cấm “cấy tinh trùng, noãn, phôi giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ và những người khác giới có họ trong phạm vi ba đời”, nhưng thực tế về di truyền và sinh học thì việc cho nhận phôi giữa hai chị em không ảnh hưởng gì và thế giới cũng không đặt vấn đề nghiêm cấm. Do đó, cần xây dựng Mục riêng và bổ sung các quy định chi tiết, đầy đủ hơn về việc hiến, nhận tế bào.

-Có ý kiến đề nghị cần rà soát để bổ sung vào khoản 2 điều 1 một số bộ phận cơ thể có thể tái sinh không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này như tóc…
2/ Về tên của Luật

Đa số ý kiến chọn phương án 1, giữ lại tên Luật như dự thảo “Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người” vì tên luật chỉ cần thể hiện nội dung chính, không nhất thiết phải liệt kê tất cả nội dung trong phạm vi điều chỉnh của Luật.

3/ Về bố cục của Luật

Đa số ý kiến tán thành bố cục của dự thảo Luật.

4/ Về vấn đề chết não

4.1- Về việc quy định chết não chi tiết hay chỉ nêu nguyên tắc

Đa số chọn phương án 1, cho rằng vấn đề chết não không cần thiết đặt ra chi tiết chuyên môn, tiêu chuẩn cụ thể mà nên quy định theo hướng Luật nêu những nguyên tắc chung xác định chết não, về thẩm quyền, thủ tục xác định chết não, điều kiện cụ thể do Chính phủ quy định.

4.2- Về thẩm quyền xác định chết não (điều 27)

-Về quy định “bác sĩ trực tiếp tham gia ghép mô, bộ phận cơ thể người và bác sĩ đang trực tiếp điều trị cho người chết não không được tham gia Hội đồng xác định chết não” (Khoản 3 điều 27): đa số ý kiến tán thành như dự thảo

-Nhiều ý kiến cho rằng không cần thiết quy định sự tham gia của chuyên gia pháp y vào Hội đồng xác định chết não (điểm c khoản 2 điều 27). Trong điều kiện còn thiếu nhiều chuyên gia pháp y như hiện nay, nếu quy định như dự thảo sẽ có nhiều trường hợp phải chờ sự có mặt của chuyên gia pháp y, do đó sẽ kéo dài “thời gian vàng” cho phép lấy những bộ phận tạng được hiến ở điều kiện tốt nhất (các cơ quan nội tạng như thận, tim, gan, phổi, ruột…) chỉ có thể bảo quản trong một thời gian rất ngắn. Đối với nội tạng, trừ thận có thể kéo dài tối đa 72 giờ, còn các bộ phận khác đều phải ghép theo dạng cấp cứu, phải chuyển tới nơi thực hiện ghép tạng ngay sau khi được lấy ra khỏi cơ thể và phải được ghép trong vòng 24 giờ). Do đó, việc xác định chết não nên giao cho một hội đồng khoa học độc lập, gồm các chuyên gia thuộc chuyên khoa hồi sức, hồi sức tích cực, nội-ngoại thần kinh đánh giá dựa trên những dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng – với những dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng của khoa học kỹ thuật y học hiện đại là những chứng cứ quan trọng. Sau khi hội đồng đã có kết luận thống nhất thì thủ trưởng cơ quan y tế sẽ quyết định cuối cùng.

5/ Về ngân hàng mô (Điều 33)

Đa số ý kiến cho rằng để tránh xảy ra tình trạng mua bán nội tạng hoặc vì lợi nhuận tạo ra tai nạn để lấy các bộ phận trên cơ thể người thì không nên cho phép thành lập ngân hàng mô tư nhân. Các nước trên thế giới cũng không cho phép tư nhân lập ngân hàng mô. Do đó, chỉ nên cho phép cơ quan nhà nước được thành lập ngân hàng mô

6/ Về vấn đề lấy, ghép bộ phận cơ thể không có khả năng tái sinh

Một số ý kiến đề nghị quy định thành phần Hội đồng tư vấn lấy, ghép bộ phận cơ thể người do cơ sở y tế quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Các ý kiến này cho rằng nếu quy định thành phần hội đồng tư vấn như điều 15 của dự thảo, gồm các chuyên gia về y tế, pháp luật, tâm lý, xã hội sẽ rất phức tạp, thủ tục kéo dài không đảm bảo được “thời gian vàng” trong cấy, ghép.

7/ Về độ tuổi của người hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống

Nhiều ý kiến đồng ý với dự thảo luật khi quy định chỉ người từ 18 tuổi trở lên mới được hiến mô, nếu quy định từ 16 tuổi trở lên trong đó có sự đồng ý của cha mẹ đôi lúc không khách quan vì quyền nhân thân đã được pháp luật công nhận và là quyền dân sự gắn liền với cá nhân con người không thể chuyển giao cho người khác, hơn nữa trong hệ thống pháp luật của chúng ta độ tuổi từ đủ 16 đến 18 là đối tượng đặc biệt được pháp luật bảo vệ.

Có ý kiến đề nghị giới hạn độ tuổi người hiến mô, bộ phận cơ thể từ 18 đến 60 tuổi, vì cho rằng mô, bộ phận cơ thể của người trên 60 tuổi đã lão hoá, nếu cho phép hiến sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của cả người hiến lẫn người nhận. Tuy nhiên, ý kiến khác cho rằng không nên cứng nhắc, cần phân biệt tuổi già với việc già về mặt sinh học, thực tế các bệnh viện mắt vẫn lấy giác mạc của người trên 60 tuổi để ghép cho bệnh nhân; do vậy, nên giới hạn từ 18 -65 tuổi.

11-Các vấn đề khác:

-Vấn đề được nhiều ý kiến đặc biệt quan tâm là dự thảo cần có những quy định thích hợp và các điều kiện chặt chẽ để chống việc mua bán, thương mại hoá hoạt động hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người. Bởi vì việc mua bán có thể biến tướng dưới nhiều hình thức khác nhau, trong thực tế đã có trường hợp người hiến chỉ định đích danh người được hiến (không phải là thân nhân), cơ quan nhà nước khó có thể xác định việc hiến này vì mục đích nhân đạo hay có sự thỏa thuận mua bán ngầm giữa các bên. Mặt khác, dự luật cần phải đưa ra các tiêu chí rõ ràng để đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn, nhu cầu của cộng đồng và đạo đức truyền thống xã hội, đặc biệt tiêu chí về đạo đức của các bác sĩ trong thực hiện lấy, ghép mô tạng cần được chú trọng và thể chế hoá trong dự luật. Các biện pháp chế tài xử lý vi phạm cũng cần được quy định cụ thể hơn.

-Một số ý kiến đề nghị dự thảo luật quy định cụ thể hơn về việc giải quyết các khiếu nại, tranh chấp (nếu có) xảy ra trong quá trình hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người.

II/ NHỮNG VẤN ĐỀ CỤ THỂ

1. Đối tượng áp dụng

Đa số ý kiến tán thành như dự thảo, bổ sung đối tượng là “Người nước ngoài không sinh sống tại Việt Nam tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người cho người Việt Nam”

Có 1 ý kiến đề nghị nên mở rộng cả người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể người và đối tượng nhận không chỉ giới hạn cho người Việt Nam mà cả tổ chức y tế Việt Nam (torng việc nghiên cứu khoa học).

2. Giải thích từ ngữ (Điều 3)

Có ý kiến đề nghị bổ sung giải thích khái niệm tế bào: “Tế bào là các đơn vị cấu trúc, chức năng cơ bản của mọi sinh vật đa tế bào”

Có ý kiến đề nghị bổ sung từ “tế bào” vào sau từ “mô” ở khoản 2 điều 3

Có ý kiến đề nghị viết lại khoản 5 điều 3 có sửa đổi, bổ sung như sau: “Phôi là một bộ phận hay một cơ thể đang phát triển từ sự kết hợp giữa noãn và tinh trùng” .

Có ý kiến đề nghị giữ lại giải thích khái niệm “ghép tự thân” như trong dự thảo cũ: “Ghép tự thân là việc lấy mô tương ứng từ cơ thể người sống để cấy ghép lên chính cơ thể người đó”.
4. Chính sách Nhà nước về hiến, lấy, ghép, mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (điều 9)

Đa số ý kiến tán thành như dự thảo

5. Các hành vi bị nghiêm cấm
-Điều 10 của dự thảo quy định một số hành vi bị nghiêm cấm như: lấy trộm mô, bộ phận cơ thể người; ép buộc người khác phải cho mô, mua bán bộ phận cơ thể người dưới bất cứ hình thức nào; lấy ghép, sử dụng, lưu trữ mô, bộ phận con người vì mục đích vụ lợi; quảng cáo, môi giới việc cho, nhận bộ phận cơ thể người … Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật chưa quy định các biện pháp chế tài đối với từng loại vi phạm trong khi Bộ Luật hình sự cũng chưa có quy định điều chỉnh đối với từng loại hành vi vi phạm được quy định trong dự thảo Luật. Đề nghị dự thảo Luật bổ sung các biện pháp chế tài để làm căn cứ xử lý khi các điều cấm bị vi phạm hoặc bổ sung vào Bộ Luật hình sự điều luật xử lý các loại tội phạm này.

6. Về thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sống (Điều 11); thủ tục đăng ký hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và hiến xác (Điều 18)

Một số ý kiến cho rằng Dự thảo quy định tại khoản 4 điều 11 và khoản 4 điều 18 về trách nhiệm của cơ sở y tế là “trực tiếp đến gặp người hiến để tư vấn về các thông tin có liên quan…” là không khả thi, vì người dân sẽ hiểu theo nghĩa: các cơ sở y tế có phải có trách nhiệm cử cán bộ tới nhà gặp trực tiếp người hiến để tư vấn. Vì vậy, đề nghị sửa lại nội dung khoản 4 điều 11 và khoản 4 điều 18 theo hướng cơ sở y tế có trách nhiệm mời người hiến đến cơ sở y tế để trực tiếp cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan, thực hiện việc tư vấn về sức khỏe, tâm lý, xã hội cho người đã đăng ký…”

7. Về quyền lợi của người sống đã hiến mô, bộ phận cơ thể người (Điều 17)

-Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật cần quy định thêm quyền lợi của người đã hiến tế bào. Trong thực tế, người hiến tế bào và người hiến cơ quan dù giống nhau về bản chất nhưng có những ảnh hưởng rất khác nhau lên tình trạng sức khỏe của bản thân. Dự thảo Luật đã quy định về quyền lợi của người sống hiến mô, bộ phận cơ thể là phù hợp tuy nhiên để khuyến khích sự tham gia của nhiều người cần có những biện pháp khuyến khích những người tham gia hiến tế bào.

-Cần làm rõ hơn quy định “khám sức khỏe định kỳ miễn phí…’ (điểm a khoản 2 điều 17). Nếu có bệnh lý có liên quan đến việc hiến mô, bộ phận cơ thể như suy thận còn lại vài năm sau khi đã hiến một thận thì có được miễn phí hay không và nếu phải chạy thận nhân tạo hay thay thận thì giải quyết như thế nào. Do đó đề nghị sửa khoản a điều 17 như sau: “Được chăm sóc, phục hồi sức khỏe miễn phí ngay sau khi thực hiện hiến bộ phận cơ thể tại cơ sở y tế, được khám sức khỏe định kỳ miễn phí và được điều trị miễn phí với những bệnh lý trực tiếp hay gián tiếp gây ra từ việc hiến bộ phận cơ thể”.

-Có ý kiến đề nghị viết lại điểm d khoản 2 điều 17 có bổ sung như sau: “Được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc cấp được uỷ nhiệm tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ nhân dân”.

8. Về quyền lợi của người hiến xác, hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 25)
Có 1 ý kiến cho rằng cần bổ sung quyền lợi về tinh thần cho gia đình người hiến xác, hiến mô, bộ phận cơ thể sau khi chết ngoài việc cấp thẻ và tôn vinh người hiến xác, mộ, bộ phận cơ thể người sau khi chết. Đề nghị sửa lại điều 25 của dự thảo như sau: “Bản thân và gia đình người đã hiến xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết được Bộ Y tế truy tặng đối với bản thân và tặng đối với gia đình kỷ niệm chương vì sự nghiệp bảo vệ sức khỏe nhân dân”.
11. Về điều kiện đối với việc lấy xác người không có địa chỉ cư trú cuối cùng (điểm c khoản 1 Điều 22)

Đa số ý kiến đồng ý với dự thảo luật. Tuy nhiên có ý kiến đề nghị cần quy định rõ hơn trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó chết hoặc xác định một khoảng thời gian nhất định (lưu giữ xác) để xác định nơi cư trú của người đó nhằm tránh hậu quả pháp lý xảy ra sau đó.

11. Về tổ chức tang lễ và mai táng di hài cho người hiến xác (Điều 24)

-Khoản 1 điểm b điều 24 quy định cơ sở y tế, cơ sở nghiên cứu, đào tạo y học trong việc lấy xác, bộ phận cơ thể người sau khi chết phối hợp với gia đình để tổ chức lễ truy điệu.

Một số ý kiến cho rằng trên thực tế nhiều gia đình ở rất xa, phương tiện đi lại di chuyển khó khăn. Khi cơ sở y tế đến tiếp nhận thì gia đình đã tổ chức truy điệu hoặc thực hiện theo các nghi lễ theo phong tục tập quán. Do đó, chỉ cần quy định cơ sở y tế, cơ sở nghiên cứu, đào tạo y học có trách nhiệm đến viếng, đọc thư tri ân trước khi tiếp nhận thì phù hợp hơn.

-Có ý kiến đề nghị thêm vào điểm d khoản 1 điều 24 như sau “Tổ chức mai táng di hài sau khi không còn nhu cầu sử dụng xác, nếu gia đình muốn giữ lại tro cốt, cơ sở y tế thông báo cho gia đình và phối hợp tổ chức hóa táng”.

12. Về điều kiện đối với người được ghép mô, bộ phận cơ thể người (Điều 28)

Có 1 ý kiến đề nghị quy định rõ người chỉ định ghép là người đứng đầu cơ sở y tế của bệnh viện cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vì cho rằng đây là một thủ thuật chuyên sâu cao do đó phải đáp ứng về thiết bị, chuyên môn đồng thời tránh việc tranh chấp về thẩm quyền.
Về chăm sóc sức khoẻ sau khi ghép mô, bộ phận cơ thể người (Điều 30)

Có ý kiến đề nghị bổ sung “điều trị” cho người được ghép mô, bộ phận cơ thể người vào nội dung điều luật này.

Về chế độ bảo hiểm y tế và viện phí đối với người được ghép (điều 31)

Có ý kiến đề nghị thiết kế lại điều 31 có bổ sung như sau:
“1.Người được ghép tế bào, mô, bộ phận cơ thể người có thẻ bảo hiểm y tế được cơ quan bảo hiểm y tế thanh toán viện phí về việc ghép và chăm sóc điều trị, theo dõi sức khoẻ sau ghép theo quy định của pháp luật
2.Người được ghép tế bào, mô, bộ phận cơ thể người không có thẻ bảo hiểm y tế phải chi trả viện phí và chăm sóc điều trị, theo dõi sức khoẻ sau ghép theo quy định của pháp luật”

Về ngân hàng mô (Điều 33)

-Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “bộ phận cơ thể người” ở khoản 2 điều 33, vì các bộ phận này phải do Trung tâm điều phối quốc gia về ghép phân phối ngay cho các cơ sở y tế ngay sau khi lấy để được ghép tức khắc nhằm đảm bảo “thời gian vàng”. Hơn nữa, trên thế giới không có ngân hàng tạng hay bộ phận cơ thể người.

-Về tiêu chuẩn của người quản lý chuyên môn ngân hàng mô (khoản 4 điều 33): có ý kiến đề nghị bổ sung các đối tượng là người có bằng đại học chuyên ngành di truyền, miễn dịch học hoặc những chuyên gia đã có kinh nghiệm trong việc cấy, ghép tế bào, mô.

13. Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người (điều 34)

-Đa số ý kiến thống nhất với điều 34 dự thảo luật quy định vị trí pháp lý, chức năng nhiệm vụ cơ bản của Trung tâm này để làm cơ sở định hướng cho Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập và quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của Trung tâm điều phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người.

-Có 1 ý kiến cho rằng hiện nay tại nước ta vẫn chưa có một ngân hàng mắt nào thực hiện hoạt động, các tiêu chí chung về dự thảo Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người là phù hợp với tình hình ở nước ta. Tuy nhiên, ghép giác mạc của ngành Nhãn khoa có một số đặc điểm riêng khác với ghép mô tạng như chỉ được lấy giác mạc khi người cho đã chết hoặc ở người còn sống bị chấn thương vỡ nhãn cầu có chỉ định cắt bỏ nhãn cầu; sau khi người cho chết trong vòng 8-12 tiếng vẫn có thể tiến hành lấy mô; khi lấy giác mạc ở người chết với phương pháp mới không cần lấy toàn bộ nhãn cầu mà chỉ lấy phần giác mạc do đó hầu như không biến dạng nào ở mắt, mặt; sau khi lấy giác mạc được bảo quản và có thể tiến hành phẫu thuật ghép sau khi chết 5-7 ngày. Do đó, đề nghị ngân hàng Mắt tại Việt Nam cần được hoạt động độc lập với Trung tâm điều phối quốc gia và để sau này có thể hoạt động “liên kết và chia sẻ” với các ngân hàng Mắt khác trong nước và trên thế giới.

ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TP.HCM

http://www.dbnd.hochiminhcity.gov.vn

VỤ BÊNH NHÂN TÂM THẦN NẶNG NGUYỄN VĂN THẮNG BỊ KẾT ÁN TÙ

Phiên toà “công khai” trong trại tạm giam (Bài 1)

(LĐ SỐ 193 – 21/8/2007) – Đến nay, Nguyễn Văn Thắng (tức Nguyễn Ngọc Thắng, ở thôn Phương Chử Bắc, xã Trường Thành, huyện An Lão, Hải Phòng) đã trải qua 2 phiên toà sơ thẩm (một phiên tại Trại tạm giam CA TP.Hải Phòng ngày 15.9.2006 về tội “Cố ý gây thương tích” và một phiên tại Toà án ND huyện Thanh Trì, HN ngày 29.9.2006 về tội “Cướp tài sản”) với tổng số hình phạt là 7 năm 6 tháng tù.

Sau đó, 2 phiên phúc thẩm ngày 27.12.2006 và 20.4.2007 đã “chiếu cố” bệnh tâm thần của Thắng nên giảm án còn 6 năm tù. Những phiên toà liên tiếp nhau xử một bệnh nhân tâm thần nặng khiến khó ai có thể an lòng và những người biết đến Nguyễn Văn Thắng từ khi cậu bé đều không khỏi xót xa.
Vợ chồng ông bà Lê Thị Tiễm (77 tuổi) và Hà Văn Lô (77 tuổi) ở thôn Cách Thượng, xã Lam Sơn, huyện An Dương, Hải Phòng là một trong những người xót xa cho Thắng. Khi biết chúng tôi đến hỏi chuyện Nguyễn Văn Thắng đã từng phụ nề tại nhà ông bà, ông Lô cho biết: “Từ đầu tháng 2.2005, con trai tôi xây nhà có nhờ anh Thiêm – chủ thầu xây dựng. Trong đám thợ của anh Thiêm có cháu Thắng, trông nhỏ thó, gầy gò nhưng hiền lành, biết vâng lời, nên gia đình rất quý. Biết nó bị bệnh, bà nhà tôi thương nó nên vẫn nấu cơm cho nó ăn, dành riêng cho nó một cái quạt để nghỉ trưa”.
Còn bà Tiễm thì than thở: “Khổ thân thằng bé! Nó làm sao thế nhỉ? Tôi chả biết sao toà xử tù nó, nhưng mà tôi nghĩ khổ nhỉ!”.
Côn đồ hay tự vệ?
Gặp chúng tôi trên đường kêu oan cho con, anh Nguyễn Văn Quá và chị Bùi Hồng Xinh – đều từng tham gia quân đội – đều không giữ được bình tĩnh khi nhắc đến đứa con tâm thần đang nằm trong trại giam Hà Nội.

Bệnh nhân tâm thần Nguyễn Văn Thắng chụp dịp Tết 2005.

Nói trong nước mắt, chị Xinh kể: “Vợ chồng tôi có 2 con, không may đứa đầu là cháu Thắng bị tâm thần từ nhỏ. Lúc 1 tuổi đã thấy nó khác với trẻ bình thường, năm lên 10 thì phát bệnh nặng, vợ chồng tôi đưa đi Đông Khê (BV Tâm thần Hải Phòng – PV) điều trị. Cháu đã được bệnh viện cấp sổ điều trị tâm thần số 2ĐK1A cấp ngày 10.10.1996, sau đó chuyển về Bệnh viện An Lão để tiện theo dõi, điều trị. Cháu thuộc diện bệnh nhân tâm thần được Nhà nước nuôi, trước cháu vẫn được Sở LĐTBXH trợ cấp 45.000 đồng, sau tăng lên 65.000 đồng/tháng. Từ tháng 9.2006, cháu bị toà xử thì mới bị cắt”.
Anh Quá bảo: “Người ta bảo con tôi nay đã được chữa khỏi bệnh, nên phải đem ra xử. Nếu đúng là cháu khỏi thật thì vợ chồng tôi cũng mừng, vì con đã trở thành người bình thường. Nhưng chạy chữa cho cháu từ bé đến giờ tốn kém không kể, chỉ mong cháu nó khỏi bệnh mà không được. Vợ chồng tôi chỉ sợ với tình trạng bệnh tật của cháu thì chả mấy bữa mà chúng tôi mất con…”.
Ngày 15.9.2006, Nguyễn Văn Thắng bị Toà sơ thẩm Toà án ND TPHP xử 3 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho Nguyễn Văn Tuấn (SN 1983, trú tại thôn Xuân Đài, xã Trường Thọ, An Lão, HP). Hội đồng xét xử do thẩm phán Nguyễn Văn Thiệm – chủ toạ phiên toà – đã xét tình tiết định khung hình phạt Thắng như sau: “Bị cáo đi xe đạp đánh võng, mọi người tham gia giao thông nhắc nhở, góp ý thì bị cáo chửi, doạ đánh và bị cáo đã thực hiện hành vi dùng lưỡi cưa sắt mài nhọn đầu đâm anh Tuấn, đã phạm điểm a (dùng hung khí nguy hiểm), khi anh Tuấn nhảy vào can ngăn anh Dũng với bị cáo để không xảy ra đánh nhau thì bị cáo lại đâm anh Tuấn, đã thể hiện tính côn đồ theo điểm i (cả 2 tình tiết quy định tại khoản 1, Điều 104 BLHS). Nhưng thương tích đối với anh Tuấn giảm 35% sức lao động, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3, Điều 104 BLHS” (trích bản án số 196/2006/HSST).
Tuy nhiên, với tất cả những ai được tiếp xúc với hồ sơ vụ án đều không thể không đặt ra những câu hỏi nghi vấn như: Tại sao một người bị bệnh tâm thần từ nhỏ, nhỏ thó (chưa đến 40kg), chưa đến tuổi thành niên (khi gây án mới 17 tuổi 4 tháng 25 ngày) lại có thể hung hãn “côn đồ” với 3 thanh niên có họ hàng với nhau, to khoẻ hơn mình? (nạn nhân Tuấn sinh năm 1983 và Nguyễn Đình Dũng – anh rể Tuấn, Nguyễn Văn Dương – cháu của Tuấn).
Các nhân chứng đã chứng kiến vụ việc cho biết: “Anh Tuấn đi xe máy chở anh Dũng va vào xe đạp của anh Thắng, rồi thấy xe máy đuổi theo đánh anh Thắng ở Trường Thành”. Nhưng những nhân chứng này đã không được cơ quan điều tra hay toà hỏi tới (!?). Hơn nữa “hung khí gây án” lưỡi cưa sắt được mài nhọn cũng không được tìm thấy. Ngày 20.7.2007, tại Cơ quan CSĐT CAHP, khi chúng tôi đặt câu hỏi: Tại sao cán bộ điều tra không hỏi xem Thắng vứt lưỡi cưa ở đâu? Đại uý Nguyễn Thị Ngân – trợ lý điều tra vụ án này – cho biết: “Có hỏi, nhưng nó không nhớ. Cái khả năng của nó kém”.
Khi chúng tôi hỏi nạn nhân Nguyễn Văn Tuấn thì Tuấn khẳng định là do trời tối nên không biết Thắng dùng gì đâm mình. Còn theo anh Hà Văn Thiêm (47 tuổi, ở thôn Cách Thượng, xã Lam Sơn, An Dương, HP) – chủ thầu xây dựng – thì: “Vì Thắng bị bệnh tâm thần nên tôi chỉ để làm những việc vặt và đưa tiền cho cháu mua một lưỡi cưa để cắt sắt và cắt ống nước. Nó sợ bị thất lạc nên thường ngày vẫn giắt lưỡi cưa ở ghiđông xe đạp. Trong quá trình cưa, nó thường để một đầu lưỡi cưa mài xuống đất, lâu ngày cũng vạt đi một góc”.
Như vậy có thể khẳng định, “hung khí” của Thắng chỉ là một công cụ lao động bị mài mòn tự nhiên. Là người bệnh tâm thần, trong trạng thái hoảng sợ vì bị đuổi đánh, Thắng đã rút lưỡi cưa ra để tự vệ. Với những tình tiết như vậy, liệu việc định khung hình phạt “Cố ý gây thương tích” bằng hung khí nguy hiểm đối với Thắng có chính xác (?!).
Xử công khai không xong thì xử kín

Trong buổi làm việc với PV sáng 20.7.2007, đại tá Đỗ Hữu Ca – Phó Giám đốc CAHP, Thủ trưởng cơ quan CSĐT – trong khi đang xem đơn kêu oan của anh Quá, chị Xinh đã đặt ngay câu hỏi: “Tại sao toà mở phiên xét xử ở Trại giam Trần Phú – Hải Phòng là thế nào? Ông này nói linh tinh làm sao! Trại tạm giam sao mở toà ở đây được?”.

Nguyễn Văn Tuấn – nạn nhân bị Thắng đâm.

Gặp anh Quá – bố cháu Thắng, chúng tôi trách: “Anh đã đi kêu oan thì viết đơn phải chính xác”. Anh Quá kêu ầm lên: “Nào tôi có đổ oan cho ai! Không tin đây anh xem bản án của toà”. Quả thực, bản án sơ thẩm số 196/2006/HSST đề rõ: “Ngày 15.9.2006, tại hội trường Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng, Toà án ND TP.Hải Phòng công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số 159/HSST ngày 24.7.2006 đối với bị cáo: Nguyễn Ngọc Thắng (tức Nguyễn Văn Thắng)…”.
Anh Nguyễn Văn Quá nhớ lại: “Hôm đó toà xử cháu trong trại tạm giam, tôi tức quá mới hỏi ông Thiệm – chủ toạ phiên toà – là: Tại sao bảo xử công khai mà lại đem vào trại giam? Ông Thiệm trả lời là vì Thắng nó ốm quá, không sang toà được”. Anh Quá cũng cho biết, toà mở đến lần thứ tư mới xử được con trai anh.
Anh Quá bảo: “Tôi vẫn nhớ như in, 3 phiên đầu đều mở tại trụ sở Toà án ND TPHP. Phiên toà đầu tiên mở ngày 10.8.2006, chủ toạ phiên toà có hỏi tôi: Anh không giám hộ thì làm sao lại có chữ ký của anh đây? Tôi lên nhìn thì chỉ có một tờ là chữ ký của tôi, còn lại toàn chữ ký giả mạo.
Toà có mời bà Đào Ánh Tuyết – Bí thư Đoàn xã Trường Thành – lên xác minh chữ ký, bà Tuyết nói: Có hai kiểu chữ ký khác nhau hoàn toàn. Vì thế phiên toà tạm hoãn. Phiên thứ hai mở ngày 24.8.2006 không tiến hành được, vì không có luật sư bào chữa.
Ngày 29.8.2006, toà mở lần thứ ba xử con tôi. Đang lúc toà xét hỏi, cháu bị kích động lên cơn tâm thần ngã lăn đùng xuống vành móng ngựa. Thấy vậy, chủ toạ phiên toà nói: Ông Quá bế cháu lên. Tôi trả lời: Các ông bảo con tôi đã khỏi bệnh, thì các ông ra mà bế. Nhìn con lên cơn động kinh ngã vật ra sàn nhà, vợ tôi thương con ôm lấy kêu khóc, thì ông chủ toạ quát: Lôi chị ta ra ngoài sân. Phiên toà lần thứ ba vì vậy cũng không thành. Đông đảo bà con chứng kiến, nhiều người đã không cầm được nước mắt. Có lẽ vì vậy mà đến phiên thứ tư họ đưa vào trại tạm giam để xử”.
Chúng tôi đã tìm gặp chị Đào Ánh Tuyết – Bí thư Đoàn xã Trường Thành. Chị Tuyết cho biết: “Em đã dự 3 phiên xử Thắng không thành ở toà HP. Cái phiên xử Thắng lên cơn, nó ớ lên một tiếng rồi lăn ra sùi bọt mép. Em cũng rất buồn. Người ta quen vì chứng kiến nhiều cảnh như vậy, hay là… Hôm đó, Thắng nằm phải đến 30 phút, cũng lâu đấy mà không có bác sĩ đến. Lâu sau nó tỉnh dậy thì người ta đưa nó ra ngoài”.
* * *
Dường như vận đen cứ đeo đuổi mãi gia đình anh Quá, chị Xinh. Trong khi nạn nhân Tuấn vẫn sống sờ sờ thì ngày 9.5.2007, anh chị nhận được công văn trả lời đơn kêu oan do bà Phó chánh toà Toà hình sự Toà án NDTC ký có nội dung: “Toà án NDTC xét thấy: Khoảng 20 giờ ngày 26.6.2005, Nguyễn Ngọc Thắng có hành vi dùng lưỡi cưa sắt nhọn đầu đâm vào bụng anh Nguyễn Văn Tuấn, hậu quả làm anh Tuấn chết… chỉ xử phạt Nguyễn Ngọc Thắng 2 năm tù là có căn cứ pháp luật, không oan. Không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm…”.
Người sống mà Phó Chánh toà cho là đã chết thì hết chỗ nói về cái sự quan liêu. Điều này lý giải tại sao gia đình anh Quá, chị Xinh vẫn phải ngày này qua tháng khác kêu oan cho con mà vẫn chẳng thấy le lói ánh sáng.

Đỗ Văn – H.N

Bài 2: Không thể giam giữ bệnh nhân tâm thần nặng

Lao Động số 194 Ngày 22/08/2007

Điều tra viên Minh – CA huyện An Lão, HP

(LĐ) – Chiều 9.8.2007, chúng tôi đi theo anh Nguyễn Văn Quá và cậu con trai út vào thăm đứa con trai lớn tâm thần – Nguyễn Văn Thắng đang bị giam tại Trại giam Hà Nội (huyện Từ Liêm). Cả phòng thăm nuôi được một phen nhốn nháo khi Thắng lên cơn động kinh, ớ lên một tiếng rồi ngã bổ ngửa ra sau bất tỉnh. Anh Quá phân bua với mọi người: “Cháu nó bị tâm thần từ nhỏ, vẫn thường xuyên lên cơn như vậy”.


Viện bảo một đằng, cơ quan điều tra làm một nẻo (?!)
Lẽ ra đã không phải có những phiên toà liên tiếp xét xử, cũng như việc giam bệnh nhân tâm thần nặng nếu như Bộ luật HS và Bộ luật TTHS được tôn trọng. Sau khi Thắng bị Phó thủ trưởng CQCSĐT CA huyện An Lão – trung tá Phan Xuân Lai – ký quyết định khởi tố bị can ngày 5.9.2005, gia đình anh Quá, đã nhiều lần kêu oan và trình sổ điều trị tâm thần của Thắng cho cơ quan điều tra.
Anh Quá kể: “Nhận được quyết định khởi tố cháu, tôi có gặp ông Lai hỏi về việc anh Tuấn (Nguyễn Văn Tuấn – nạn nhân bị Thắng dùng lưỡi cưa đâm) nói là bị đâm thủng bụng, thủng gan, giảm 35% sức khoẻ mà nằm viện có 9 ngày đã về nhà là như thế nào? Ông Lai nói: Thằng Minh móm (điều tra viên – PV) điều tra sai đấy. Vài ngày sau ông Lai lại gọi vợ tôi xuống CA huyện”. Chị Bùi Hồng Xinh kể: “Tôi xuống CA huyện trình bày về bệnh tật của cháu với ông Lai. Ông Lai có hỏi: Chị có mang quyết định khởi tố đi không thì cho tôi xin lại. Tôi nói: Em không mang”.
…Và mọi chuyện cứ tuần tự diễn ra. Ngày 21.9.2005, Cơ quan CSĐT CAHP ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với Nguyễn Văn Thắng. Ngày 5.12.2005, Tổ chức Giám định pháp y tâm thần TP.Hải Phòng (GĐPYTT HP) ra kết luận số 22/KQ-GĐPYTT khẳng định: “Bệnh nhân Nguyễn Văn Thắng có mắc bệnh tâm thần: Bệnh động kinh cơn lớn (theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 có mã số G40.5). Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội, bệnh nhân có mắc bệnh này. Khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bệnh nhân bị hạn chế. Loại bệnh này cần được theo dõi và điều trị lâu dài. Do vậy cần phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”.
Đáng tiếc, kết luận này đã không nói rõ Thắng có năng lực trách nhiệm hình sự hay không. Chính vì vậy, ngày 19.12.2005, Cơ quan CSĐT CAHP tiếp tục có công văn số 1560/CV gửi Tổ chức GĐPYTT HP đề nghị giải thích rõ kết quả giám định đối với Nguyễn Văn Thắng. Ngày 26.12.2005, Tổ chức GĐPYTT HP ra CV số 20/CV-GĐPY tiếp tục khẳng định rõ: Bệnh nhân Thắng “cần được theo dõi và điều trị lâu dài”.
Trên cơ sở đó, ngày 29.12.2005 ông Trịnh Khắc Triệu – Viện phó Viện KSND HP – đã ra “Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh” số 02/KSĐT-HS đối với bị can Nguyễn Văn Thắng, đồng thời “Yêu cầu cơ quan CSĐT CAHP ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Văn Thắng”.
Ngày 20.7.2007, chúng tôi làm việc với thượng tá Trịnh Văn Sơn – Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT CAHP. Sau khi lật đi lật lại hồ sơ, thượng tá Sơn đã không tìm thấy quyết định tạm đình chỉ nào đối với Nguyễn Văn Thắng. Còn điều tra viên Nguyễn Đức Toàn thì quả quyết: “Vì Thắng chỉ bị tâm thần hạn chế nên vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Chúng tôi không ra quyết định đình chỉ điều tra”.
Làm việc với chúng tôi chiều 20.7.2007, ông Trịnh Khắc Triệu cho rằng: “Nếu họ (Cơ quan CSĐT CAHP – PV) không ra quyết định đình chỉ điều tra để đưa bệnh nhân đi chữa bệnh bắt buộc là một thiếu sót”. Thế nhưng “thiếu sót” này quả là không nhỏ!
Toà xử cả người tâm thần!
Sau khi Viện KSND HP ra quyết định đưa bệnh nhân đi chữa bệnh, Cơ quan CSĐT HP vẫn liên tiếp triệu tập bị can “để hỏi cung bị can về hành vi cố ý gây thương tích”. Anh Quá kể: “Đúng hẹn trên giấy triệu tập ngày 9.1.2006, tôi đưa con đến gặp ông Hoàng Văn Thắng và ông Nguyễn Đức Toàn. Sau đó ông Thắng, ông Toàn đưa con tôi đi đâu, giam giữ ở đâu, chúng tôi không được biết. Sau này tìm gặp ông Thắng để hỏi về việc mất con, ông Thắng có đưa cho tôi một bộ quần áo của con tôi mặc hôm bị đưa đi và nói: Con anh đang ở BV Tâm thần TƯ, Thường Tín, Hà Tây, ở khoa Pháp y”.
Trong thời gian chữa bệnh tại BV Tâm thần TƯ, ngày 19.3.2006, Nguyễn Văn Thắng và Lương Thị Dơm (Lai Châu) bị Nguyễn Hải Quân (Hà Tây) đang cai nghiện ma tuý rủ trốn viện và gây ra một vụ “cướp xe ôm” tại Cầu Bươu, Thanh Trì, HN. (Vụ này chúng tôi sẽ đề cập trong một dịp khác. Tuy nhiên, theo người bị hại – anh Nguyễn Đức Hạnh (trú tại 326 phố Ga, thị trấn Thường Tín, Hà Tây) thì anh Hạnh không làm nghề xe ôm và thực tế là cho 3 bệnh nhân BV Tâm thần “đi nhờ vì chúng nó làm gì có tiền”).
Ngày 17.7.2007, trả lời câu hỏi: Khi khởi tố bị can đối với bệnh nhân tâm thần trốn viện Nguyễn Văn Thắng, CA huyện Thanh Trì có trưng cầu giám định để xem Thắng có đủ năng lực trách nhiệm hình sự không? Thượng uý Lê Xuân Hoa – điều tra viên vụ án – trả lời: “Thắng bị bệnh động kinh chứ không phải tâm thần. Người ta giải thích bệnh động kinh cơ lớn (đúng ra là cơn lớn – PV) vài tháng mới bị một lần. Trong thời gian Thắng phạm tội thì không mắc”. Còn thượng tá Nguyễn Anh Minh – Phó Trưởng CA huyện Thanh Trì – thì khẳng định: “Trước đây đã có trưng cầu GĐPYTT ở Hải Phòng đối với Thắng rồi, trong một vụ án cố ý gây thương tích thì người ta trả lời thằng này không bị bệnh tâm thần”(?!).

Anh Quá và con trai út lên HN thăm Thắng trong trại giam chiều 9.8.2007.

Nhưng có lẽ lỗi của CA huyện Thanh Trì cũng khó so được với phiên toà sơ thẩm ngày 29.9.2006 xử Nguyễn Văn Thắng về tội “Cướp tài sản” do thẩm phán Nguyễn Anh Đoàn làm chủ toạ. Bản án do ông Đoàn ký (số 133/2006/HSST) khẳng định: “Ngày 10.1.2006, Thắng vào điều trị tại BV Tâm thần TƯ theo quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của Viện KSND HP. Ngày 8.3.2006, Tổ chức GĐPYTT TƯ đã kết luận tại bản kết luận giám định sức khoẻ số 07: “Tình trạng tâm thần của Nguyễn Văn Thắng đã ổn định, không cần áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh”. Theo lời khai của Nguyễn Văn Thắng: Ngày 19.3.2006, khi thực hiện hành vi cướp tài sản, Thắng tỉnh táo, không bị bệnh. Như vậy khi thực hiện hành vi phạm tội, Thắng là người có đủ năng lực hành vi”.
Việc toà án dựa vào lời khai của người tâm thần để khẳng định họ “không bị bệnh” chắc chắn cũng là hiếm hoi trong lịch sử ngành toà án (?!). Còn về kết luận giám định số 07/BBCB của Tổ chức GĐPYTT TƯ cho rằng tình trạng bệnh của Thắng đã ổn định, PGS-TS Trần Văn Cường – Giám định viên trưởng, người đã thực hiện giám định cho Thắng – cho biết: “Bệnh nhân ổn định chứ không khỏi hoàn toàn, tức là không phải điều trị bắt buộc thì có thể đến điều trị ở bệnh viện thông thường hoặc điều trị tại cộng đồng, tại nhà”. Vậy sau khi có kết luận giám định của bác sĩ, bệnh nhân Thắng lại gây án thì kết luận của bác sĩ có hiệu lực với vụ án sau không? PGS-TS Trần Văn Cường khẳng định: “Không! Ở một vụ án mới thì phải tiến hành giám định lại”.
Ở phiên toà phúc thẩm TAND TP.Hà Nội ngày 20.4.2007, bệnh nhân tâm thần Nguyễn Văn Thắng lại lên cơn. Theo lời kể của anh Quá,: “Toà đang xử, thì con tôi lên cơn lăn ra sàn nhà. Những người có mặt xét xử con tôi đều lắc đầu buồn bã. Riêng vị đại diện VKS thì chảy nước mắt. Nhân dân dự phiên toà cũng bức xúc bàn tán: Toà xử cả người điên”.
* * *
Để tạm kết thúc phóng sự điều tra này, chúng tôi xin kể lại buổi làm việc chiều 17.7.2007 với chủ toạ phiên toà phúc thẩm trên – thẩm phán Lê Tố Loan. Khi chúng tôi hỏi bà Loan có nhớ phiên phúc thẩm xử Nguyễn Văn Thắng ở An Lão, HP phạm tội cướp tài sản ở Thanh Trì không? Bà Loan kêu lên: “Cái thằng thần kinh chứ gì? Hôm đó còn cho bố mẹ nó ôm nó mãi cơ mà. Nhớ rồi, cái thằng ấy đến khổ. Vụ đấy thì không quên được. Khổ thân nó!”.

Đỗ Văn – H.N

NƠI KHỞI ĐẦU CỦA MỘT SỰ SỐNG MỚI

(LAO ĐỘNG CUỐI TUẦN) – Nhắc đến chuyện ghép mô, tạng và hiến mô, tạng, nhiều người dân ta nghĩ đó là một chủ đề tế nhị, bất bình thường, thậm chí là xui xẻo.

Vì thế, mặc dù Ngân hàng Mô ở Việt Nam đã ra đời từ năm 1989, cho đến nay tồn tại tổng cộng được 12 năm, thực hiện nhiều đề án lớn và cung cấp hàng chục ngàn đơn vị mô ghép cho các ca phẫu thuật nhưng hầu hết người dân hoặc không biết, hoặc coi đây là một nơi xa lạ, thậm chí có phần hơi bí ẩn.
Mô người – lúc nào cũng khan hiếm
Bản thân tôi khi tìm đến địa chỉ của Ngân hàng Mô (Tissue Bank) – Labo Nghiên cứu ứng dụng trong điều trị bỏng, trực thuộc Viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác (đường Nguyễn Chánh, Hà Đông, Hà Tây) cũng đinh ninh rằng đây là một nơi hết sức đặc biệt với toàn phòng lạnh. Và tôi cũng băn khoăn xem liệu nghĩ ra được cách nào để thuyết phục người mà tôi sắp phỏng vấn dẫn đi xem cái kho đông lạnh từng được đặt tên: Nơi chuyển giao sự sống.
Thật không ngờ, lúc kết thúc cuộc trao đổi, bác sỹ Khuất Duy Thái – phụ trách phần bảo quản mô – đã rất vui vẻ cho tôi xem “kho” sau khi tôi rụt rè hỏi kích thước cái kho đó như thế nào. Một trong các “kho” nằm ngay cạnh phòng làm việc của BS Khuất Duy Thái. Bên trong căn phòng với nhiều dụng cụ y tế kê một chiếc tủ lạnh to gấp đôi tủ bình thường, gắn nhãn hiệu Sanyo như bất kỳ tủ kem nào khác. Đó chính là một trong số các kho đông lạnh hiện đang giữ tế bào mô, và sự sống của rất nhiều người sẽ được chuyển giao từ chính chiếc tủ có nhiệt độ -1500C đó. (Tủ lạnh bình thường có nhiệt độ từ 400C đến -1800C).
Hiện nay, ta chỉ có hai cơ sở duy nhất bảo quản và cung cấp mô người là Ngân hàng Mô (Viện Bỏng Quốc gia) và Labo Bảo quản vật liệu sinh học trực thuộc Trung tâm Đào tạo & Bồi dưỡng cán bộ y tế, TP Hồ Chí Minh. Ngân hàng Mô được xây dựng nhờ những nguồn đầu tư ban đầu do các tổ chức quốc tế viện trợ, như Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Sở dĩ Ngân hàng Mô liên quan đến lĩnh vực năng lượng nguyên tử là vì các mô ghép được bảo quản cần kỹ thuật chiếu xạ và tiệt khuẩn bằng tia gamma. Hiện ngân hàng đang cất giữ hai loại mô là mô ghép dị loại bao gồm các màng sinh học lấy từ da ếch, da lợn, ruột bò (chủ yếu phục vụ các ca phẫu thuật ghép da cho bệnh nhân bỏng) và mô ghép đồng loại: xương, sụn, màng não, màng ối, mạch máu…
Năm 1991, sản phẩm mô ghép đầu tiên được nghiên cứu và bảo quản là da ếch, màng ối, xương đồng loại và được thử nghiệm thành công trên người. Và liên tục kể từ đó đến nay, với tiến bộ vượt bậc của y học trong cấy ghép và công nghệ bảo quản mô, mỗi năm Ngân hàng Mô cung cấp 500 đơn vị xương đồng loại cho các ca phẫu thuật, chấn thương chỉnh hình, và từ 1000 – 2000 đơn vị màng sinh học da ếch và trung bì da lợn cho những bệnh nhân bỏng.
Nói thì đơn giản, nhưng BS Khuất Duy Thái cho biết mô người lúc nào cũng hiếm. Ngoài những ca phẫu thuật thẩm mỹ chỉnh hình cần đến xương, sụn, còn có rất nhiều bệnh nhân bị bệnh về xương, nếu không có mô người thay thế sẽ phải cắt bỏ chân/tay dẫn đến tàn phế suốt đời. Thậm chí có bệnh nhân chưa đầy 16 tuổi đã mắc bệnh ung thư xương. Lúc đó, mô xương do một người vô danh hiến tặng được giữ trong kho đông lạnh sẽ cứu sống cả cuộc đời của một con người.
Phần lớn, những mô ghép đồng loại hiện nay vẫn được tận dụng từ các bộ phận cắt bỏ do tai nạn giao thông hay tai nạn lao động bao gồm chi trên và chi dưới. Ngoài ra, các tai nạn không may xảy ra khiến nạn nhân qua đời nhưng tim vẫn chưa ngừng đập mà y học gọi là “chết não” đều là nguồn cung cấp tế bào mô cho ngân hàng. Ngay khi được tin báo, các chuyên gia của Ngân hàng Mô phải đến tận nơi để xin về.
Ngoài việc thuyết phục người nhà nạn nhân, người của Ngân hàng Mô còn phải làm các thủ tục xét nghiệm HIV cùng các bệnh truyền nhiễm khác cho những bộ phận mà họ xin về nên các công đoạn phải hết sức nhanh chóng để mô ghép có chất lượng tốt nhất. Ngân hàng Mô hoạt động trên nguyên tắc phi lợi nhuận, số tiền mà bệnh nhân được phẫu thuật phải chi trả chỉ là để phục vụ cho các chi phí thu hồi, bảo quản. Tuy nhiên, có không ít người nhà nạn nhân ngỏ ý muốn được chi trả cho các “bộ phận cắt” này. BS Khuất Duy Thái nói: “Nhiều lúc nhận được tin là chúng tôi vội vàng phóng xe máy đến tận nơi để xin về, như mọi công việc công khác, lấy đâu ra tiền để bồi dưỡng cho người nhà nạn nhân”
Hiện nay mô hiếm nhất là giác mạc. BS Thái cho biết Viện Mắt Trung ương thường xuyên đặt Ngân hàng Mô tế bào đặc biệt này mà không có. Trong khi các ca cấy ghép giác mạc ở Việt Nam đã được thực hiện rất thành công và đang có tới hàng ngàn người cần tới giác mạc nhưng lại không có người hiến tặng. Tôi được xem cái lọ đựng giác mạc. Chỉ là một hộp nhựa hình lục lăng, to hơn ngón chân cái một chút, có nắp đậy. Nó đơn giản và giống một thứ đồ chơi của trẻ con, nhưng được dùng để đựng hai con ngươi.
Sau khi lấy ra từ cơ thể người hiến tặng, con ngươi được cho vào lọ, ngâm trong dung dịch lỏng. Khác với những tế bào mô được giữ trong kho đông lạnh hàng chục năm, thậm chí là bảo quản vĩnh viễn trong nitrơ lỏng, giác mạc chỉ tồn tại được 14 ngày trong nhiệt độ 4oC. Vì vậy, người ta nói giữ gìn như con ngươi trong mắt cũng chẳng sai. Thậm chí là con ngươi của một người đã qua đời.

BS Khuất Duy Thái.

Ai là người hiến tặng?
Đó là chuyện cấy ghép, bảo quản mô, còn một vấn đề quan trọng hơn là nguồn mô lấy từ đâu ra. Ngoài mô ghép dị loại, các mô ghép đồng loại khác đều do người hiến tặng.
Có một số loại mô ghép có thể lấy được từ người còn sống như tế bào da, màng ối, xương, tuỷ, gan, thận… còn phần lớn chỉ có thể phù hợp khi lấy từ cơ thể người đã chết. Vì thế, khi nhắc đến chủ đề “người hiến tặng”, mặc dù BS Thái trò chuyện một cách thoải mái nhưng ông cũng cho rằng nhận thức của người Việt ta về việc này chưa cao.
Trên thế giới, việc những người còn sống nộp đơn hiến tạng để tặng môt bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể mình sau khi chết cho khoa học là chuyện bình thường. Cựu hoa hậu hoàn vũ Aishwarya Rai đã hiến tặng đôi mắt tuyệt đẹp của mình. Ngân hàng Mô giác mạc (Modern Eyes Bank) của Sri Lanka hàng năm tiếp nhận rất nhiều đơn hiến tặng. Nơi đây, đạo Phật là quốc giáo và người dân cho rằng việc hiến tặng giác mạc sẽ khiến linh hồn của họ siêu thoát sau khi qua đời.
Các Ngân hàng Mô Northwest Tissue Center, Northwest Lions Eye Bank, Lise Center Northwest (Hoa Kỳ) còn phát hành hẳn một cuốn lịch có in hình những người hiến tạng và nhận tạng với nụ cười rạng rỡ. Cái chết và sự sống được xếp xen kẽ nhau trên cuốn lịch là biểu tượng cho tính nhân văn cao đẹp và tình thương đồng loại.
Còn ở ta, BS Thái hỏi tôi: “Cô có biết câu đầu tiên mà người nhà của những người hiến mô và tạng nói với họ là câu gì không?”. Khi tôi trả lời ông, BS Thái gật đầu “Đúng. Câu đầu tiên mà họ nói là Mày điên à? Cái mà chúng ta cần nhất bây giờ không phải là mô mà là sự thay đổi trong nhận thức của cộng đồng. Chỉ có phong trào hiến máu nhân đạo thôi mà tôi thấy thực hiện được cũng rất khó khăn rồi”.
Quả thực trước khi viết bài, tôi có đề cập đến chủ đề tế nhị này thì đều vấp phải sự phản đối ngay lập tức của những người thậm chí là có tri thức và hiểu biết. Theo BS Thái, Luật Bảo vệ Sức khoẻ nhân dân của ta (1989) đã cho phép người dân nhận và hiến mô, tạng; trình độ y học cũng khiến các ca phẫu thuật, bảo quản và cấy ghép thành công; tôn giáo chung của người Việt là đạo Phật ủng hộ việc cứu người; chỉ còn nhận thức cộng đồng là rào cản lớn nhất.
Hiện nay, những mô đã được lấy từ cơ thể người hiến tặng chủ yếu do một số trường hợp biết mình không còn sống được bao lâu nữa nên chủ động làm người tình nguyện, còn những người đang sống rất khoẻ mạnh thì ít khi chịu thực hiện cái việc mà họ cho là “điềm gở” này.
BS Thái cho tôi xem tấm ảnh của bà Huệ, người đầu tiên ở miền Bắc hiến tặng toàn bộ cơ thể cho khoa học. Bà Huệ từng sống tại Trung tâm Nuôi dưỡng người già cô đơn ở Thái Nguyên. Bà không chồng, không con và nhân một chuyến thăm quan của đoàn cán bộ Ngân hàng Mô đến Thái Nguyên, bà đã liên hệ để làm đơn hiến tặng. Chẳng bao lâu sau đó thì bà mất.
Như tâm nguyện của bà, bài vị người quá cố được Ngân hàng Mô đưa về chùa Quán Sứ (Hà Nội), nhưng thi thể, thay vì được gửi cho các trường ĐH Y để làm giáo cụ trực quan thì nay vẫn được đặt trong một bể inox rất đẹp tại trường ĐH Y Thái Nguyên. Ban lãnh đạo quyết định không sử dụng cho việc thực tập mà để tưởng niệm người đầu tiên hiến tặng.
Việc hiến tạng nhuốm màu sắc lãng mạn hay thần bí
Ngoài việc tiếp nhận các đơn hiến mô thì đơn hiến tạng cũng là một việc làm tình nguyện mà Ngân hàng Mô rất hoan nghênh. Phần lớn người hiến tặng đồng ý hiến toàn bộ cơ thể cho khoa học, mà trong đó bao gồm cả mô và tạng. Tuy nhiên, việc hiến tạng, tiếp nhận tạng, bảo quản và cấy ghép tạng phức tạp hơn mô rất nhiều.
Đa phần nhắc đến từ “hiến tạng” là nhiều người liên tưởng ngay đến việc thay thế một bộ phận trong cơ thể của người chết (thường là chết khi tuổi còn trẻ) cho một người sống. Từ đó người ta hay nghĩ đến một khía cạnh nhuốm màu duy tâm thần bí và thậm chí lãng mạn trong việc hiến tạng này. Nhiều bộ phim của điện ảnh Mỹ coi đây là chủ đề hấp dẫn khi cho nhân vật là cô gái trẻ xinh đẹp thay tim của một võ sĩ da đen. Kết quả là trái tim cấy ghép khiến chủ nhân mới thay đổi hẳn tính cách.
Có đạo diễn còn lấy việc hiến tạng là một đề tài kinh dị ăn khách để khai thác.
Các bộ phim truyền hình của Hàn Quốc cũng không bỏ lỡ cơ hội khi nghĩ ra những cảnh sướt mướt để một anh chàng yêu say đắm cô gái có trái tim thay thế từ cô người yêu cũ đã bị tai nạn chết cách đó không lâu.
Ngoài ra, nhiều bài báo quốc tế còn đưa tin về nạn buôn bán nội tạng trái phép và các tội ác liên quan đến nội tạng khiến dân ta đôi khi không nhận thức đầy đủ nên bị nhiễu thông tin.
Thực ra, hiện nay Ngân hàng Mô ở Việt Nam chỉ như một trạm trung chuyển chứ không lưu giữ các nội tạng. Việc lấy nội tạng và cấy ghép thuộc về các bệnh viện chuyên môn, còn Ngân hàng Mô chỉ chịu trách nhiệm pháp lý trong việc nhận đơn hiến tạng. BS Thái cho biết đã có hơn 1.000 đơn hiến tạng, người nhỏ tuổi nhất là một cháu học lớp 10, phần lớn là từ các sinh viên trường Y, những người đã “giác ngộ” đầy đủ về nghĩa cử cao đẹp này. Rất nhiều người từ xa viết thư đến tha thiết đề nghị được hiến tặng cơ thể.
“Đơn thì rất nhiều nhưng chưa lấy được của ai – BS Thái cười vui vẻ – Tôi và các cán bộ khác là một trong những người hiến tặng tiên phong. Vậy mà khoa học còn chưa lấy được gì của tôi thì các cô gái hiến tặng mới chỉ 20 tuổi, còn lâu lắm”.
Đặc biệt có một người hiến tặng là nữ còn kèm theo một yêu cầu hết sức lãng mạn khi chỉ đồng ý tặng trái tim cho người nhận là một người con trai, để sau này trái tim còn đập mãi trong lồng ngực của anh ta. Nhưng trên thực tế, y học của Việt Nam hiện chưa ghép được tim. Tiến bộ của y học nước nhà mới chỉ cho phép những ca ghép gan, thận đầu tiên mà với chi phí khổng lồ.
Hơn nữa, một quả tim người sau khi lấy ra khỏi cơ thể chỉ giữ được vài ngày trong điều kiện bảo quản đặc biệt. Nên ví thử nếu ta thực hiện thành công những ca ghép tim thì trái tim người hiến tặng chỉ có thể tặng cho bất kỳ ai cần đến nó trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy. Nguồn thứ hai là các tử thi vô thừa nhận (rất hiếm) và nguồn thứ ba từ những người tình nguyện hiến tặng.
BS Khuất Duy Thái cho tôi xem tấm thẻ Quà tặng sự sống của ông. Nó hơi nhàu cũ vì đã được viết từ lâu rồi. Trên thẻ, mặt trước có tên người hiến tặng và tên, địa chỉ của người cần được báo tin. Mặt sau là những cam kết hiến toàn bộ thân thể để cấy ghép cho người sống, để phục vụ học tập, nghiên cứu sau khi người hiến tặng qua đời.
Ngày 29.11.2006, Luật Hiến, lấy, ghép, mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 1.7.2007. Bộ Y tế cũng đang trong lộ trình ra các văn bản dưới luật để hướng dẫn những người có chuyên môn thực hiện đúng nguyên tắc.
Ngoài ra, các quy định mới cũng được Bộ Y tế gấp rút dự thảo nhằm thành lập thêm nhiều Ngân hàng Mô ở các tỉnh thành VN, nhờ đó, việc hiến và thu hồi mô, tạng sẽ được thuận tiện hơn. Hiện nay, Ngân hàng Mô đang trong giai đoạn nghiên cứu các công nghệ mô mới như nuôi cấy tế bào sừng, nguyên bào sợi, tế bào gốc. Với sự phát triển nhanh chóng của y học cấy ghép, sự thay đổi nhận thức của cộng đồng, rồi đây sẽ ngày càng nhiều sự sống được chuyển giao từ chính nơi này.

Di Li

CÁC CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI BẰNG TIỀN – THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ

THẨM PHÁN PHẠM XUÂN THỌ  Tòa Kinh tế TAND thành phố Hồ Chí Minh

I. CÁC CHẾ TÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

1. Bộ Luật dân sự

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần (Điều 310)

a) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất

– Bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền:

. Tổn thất về tài sản

. Chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại

. Thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút

b) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần

Do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín…, thì phải:

– Xin lỗi

– Cải chính công khai

– Bồi thường một khoản tiền

2. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

Chương IV Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh tế Điều 29: “… Bên vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm:

a) Tiền phạt vi phạm hợp đồng: Từ 2% đến 12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm:

– Vi phạm chất lượng: Phạt từ 3% đến 12%

– Vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng:

. Phạt 2% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm thời hạn thực hiện cho 10 ngày lịch đầu tiên;

. Phạt thêm từ 0,5% đến 1% cho mỗi đợt 10 ngày tiếp theo cho đến mức tổng số các lần phạt không quá 8% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm ở thời điểm 10 ngày lịch đầu tiên;

. Nếu hoàn toàn không thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký thì bị phạt đến mức 12% giá trị hợp đồng.

– Vi phạm nghĩa vụ không hoàn thành sản phẩm, hàng hóa, công việc một cách đồng bộ: Phạt từ 6% đến 12% giá trị phần hợp đồng kinh tế bị vi phạm.

– Vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận sản phẩm hàng hóa, công việc đã hoàn thành theo đúng hợp đồng: phạt 4% giá trị phần hợp đồng kinh tế đã hoàn thành mà không tiếp nhận cho 10 ngày lịch đầu tiên và phạt thêm 1% cho mỗi đợt 10 ngày tiếp theo cho đến mức tổng số các lần phạt không quá 12% giá trị phần hợp đồng đã hoàn thành và không được tiếp nhận ở thời điểm 10 ngày lịch đầu tiên.

– Phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán áp dụng mức lãi suất tín dụng quá hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

b) Bồi thường thiệt hại:

– Giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng;

– Số chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra;

– Tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi thưòng thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba là hậu quả trực tiếp của sự vi phạm này gây ra.

3. Luật thương mại

Điều 222. Các loại chế tài trong thương mại gồm:

– Buộc thực hiện đúng hợp đồng;

– Phạt vi phạm;

– Bồi thường thiệt hại;

– Hủy hợp đồng.

a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng;

– Giao hàng thiếu: phải giao đủ hàng

– Giao hàng kém chất lượng: Giao hàng khác thay thế

– Có quyền mua hàng khác để thay thế. Bên vi phạm phải bù chênh lệch nếu có.

b) Phạt vi phạm

– Một khoản tiền phạt nhất định do vi phạm hợp đồng, nếu trong hợp đồng có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

– Mức phạt không quá 8% (tám phần trăm) giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.

c) Bồi thường thiệt hại;

– Số tiền bồi thường thiệt hại gồm:

. Giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp

. Khoản lợi đáng lẽ được hưởng

– Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì bên có quyền lợi bị vi phạm được lựa chọn một trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc buộc bồi thường thiệt hại đối với cùng một vi phạm.

d) Hủy hợp đồng

II. THỰC TIỄN ÁP DỤNG

1) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất trong quan hệ dân sự (Điều 310 BLDS)

– Bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền:

. Tổn thất về tài sản

. Chi phí ngăn chặn, hạn chế thiệt hại

. Thu nhập thực tế (đã? sẽ?) bị mất, bị giảm sút

2) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần trong quan hệ dân sự

Do xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín…, thì phải:

– Xin lỗi

– Cải chính công khai

– Bồi thường một khoản tiền (Cở sở tính toán? Tượng trưng?)

3) Bồi thường thiệt hại trong quan hệ hợp đồng kinh tế và hợp đồng thương mại

a) Khó khăn trong sự phân biệt quan hệ hợp đồng – sự khác biệt trong áp dụng

PHÁP LỆNH HỢP ĐỒNG KINH TẾ

LUẬT THƯƠNG MẠI

Quan hệ hợp đồng:

– Mua bán hàng hoá và dịch vụ ……………

Hợp đồng về 14 hành vi thương mại

– Hợp đồng trong xây dựng cơ bản ………

– ?

– Hợp đồng vận chuyển ……………………………

– ?

– Hợp đồng trong tín dụng ngân hàng …

– ?

– Hợp đồng bảo hiểm …………………………………

– ?

Chế tài bồi thường:

– Giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng ……

Giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp

– Số chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra ……………………

– (Tổn thất thực tế, trực tiếp?)

– Tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi thưòng thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba ………………………

– (Tổn thất thực tế, trực tiếp?)

– (Giá trị số tài sản coi như bị mất?) ……

Khoản lợi đáng lẽ được hưởng

b) Khó khăn trong cách tính toán để xem xét yêu cầu của nguyên đơn

– Giá trị số tài sản mất mát, hư hỏng:

. Giá trị ban đầu?

. Giá trị vào thời điểm xảy ra sự kiện?

. Giá trị vào thời điểm khởi kiện?

. Giá trị vào thời điểm xét xử sở thẩm? Phúc thẩm?

. Giá trị vào thời điểm thi hành án?

Ví dụ: Vụ American Coffee Cooperation-Agrimexco:

Do bên bán hàng không có coffee giao, thiếu 14.090 bao so với hợp đồng đã ký, bên mua yêu cầu bồi thường thiệt hại:

. 65.797. USD là khoản chênh lệch do phải mua lại trên thị trường hàng khác thay thế số lượng giao thiếu (có hợp đồng mua bán và chứng từ)

. Phạt vi phạm hợp đồng 12% tính trên tổng trị giá của hợp đồng.

. Các chi phí phát sinh liên quan đến vụ kiện, bao gồm cả chi phí luật sư.

– Số chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra:

. Chi phí hợp lý?

. Chi phí cần thiết?

Ví dụ: Vụ kiện Công ty Vật tư CN – Công ty KDPL:

Hợp đồng mua bán sắt phế liệu, bên bán chỉ giao được 300/1.000 tấn theo cam kết đã ký, bên mua đòi bồi thường thiệt hại gồm các khoản:

. Chi phí đưa 600 công nhân từ Bắc vào Nam

. Lương 600 công nhân chờ việc trong 2 tháng

. Chi phí phòng ở của 200 công nhân trong 2 tháng.

– Tiền phạt vi phạm hợp đồng và tiền bồi thưòng thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba:

. Tình nguyện, tự thỏa thuận với bên thứ 3?

. Thỏa thuận cao hơn quy định của pháp luật? Cao hơn thực tế?

. Đã trả rồi? Đã có cam kết sẽ trả?

. Có quyết định của cơ quan có thẩm quyền (Tòa án, Trọng tài?)

Ví dụ: Vụ kiện Công ty Shija – Công ty R&D:

Do không thuê được mặt bằng để tổ chức triển lãm, Công ty tổ chức triển lãm R&D phải huỷ bỏ hợp đồng đăng ký gian hàng triển lãm của công ty Shija. Công ty Shija đòi bồi thường thiệt hại tổng số tiền 46.500.000 đồng, gồm:

. Bồi thường cho bên thứ 3 (thiết kế, lắp đặt và cho thuê gian hàng) 43.500.000 đồng /giá trị hợp đồng 55.000.000 đồng. Thỏa thuận đã được một Tòa án công nhận, nhưng chưa thi hành án.

. Tiền bồi thường in lịch dự kiến để tặng khách tham quan 3.000.000 đồng /hợp đồng in lịch 7.050.000 đồng. Đã thỏa thuận với Nhà in nhưng chưa thanh toán.

– Khoản lợi đáng lẽ được hưởng:

. Cơ sở tính toán (bình quân lợi nhuận? Thời gian tính bình quân: Mấy tháng/năm liền kề?)

Ví dụ: Vụ Công ty TNHH QT-Công ty Điện tử H:

Hợp đồng đại lý được thực hiện 7/12 tháng. Do chấm dứt trước thời hạn, Công ty QT đòi bồi thường thu nhập bị bỏ lỡ trong 5 tháng còn lại trên cơ sở tính bình quân của các tháng trước đó.

– Chi phí đi lại tham gia kiện tụng? Chi phí lập hồ sơ kiện tụng? Chi phí luật sư được bồi thường? Giá biểu tính phí luật sư theo hợp đồng LS?, theo giá dịch vụ?

Ví dụ: Vụ Công ty Lương thực T – Công ty Giám định Quốc tế S

Do cấp chứng thư giám định sai, Công ty Lương thực đòi bồi thường thiệt hại:

– Tiền lãi vay Ngân hàng cho việc chuẩn bị hàng hoá 200.000 USD

– Lợi nhuận bỏ lỡ do không giao được hàng 15 USD/tấn x 15.000 tấn = 225.000 USD

– Phí luật sư 75.000.000 đồng

Công ty Giám định S chỉ chấp nhận 105.000 USD

c) Một số vụ kiện về SHTT
Vụ Nhạc sĩ TT – Công ty S Audio

Do Công ty S Audio sản xuất băng nhạc có sử dụng các bài hát của Nhạc sĩ TT nhưng không xin phép, sai nhạc, sai một số lời, Nhạc sĩ TT khởi kiện yêu cầu bồi thường 100.000.000 đồng, gồm lợi nhuận giảm sút của việc phát hành băng nhạc với Công ty khác, bồi thường danh dự, uy tín. Ngoài ra Nguyên đơn yêu cầu Côngy S Audio phải công khai xin lỗi trên phương tiện thông tin đại chúng:

Tòa án xét xử, chỉ chấp nhận bồi thường về lợi nhuận theo giá quy định của Nhà nước, thành tiền 13.000.000 đồng và buộc xin lỗi.

Vụ tranh chấp nhãn hiệu hàng hoá “Tân Tân”

Cơ sở ông Châu CV sản xuất bánh trung thu, đăng ký nhãn hiệu “Tân Tân” từ 14/9/1990 (GCN Cục SHCN).

Cơ sở ông Trần QT sản xuất đậu phộng chiên, đăng ký nhãn hiệu “Tân Tân” từ 15/12/1990 (GCN Cục SHCN).

Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn căn cứ khoản 2 Điều 710 Bộ luật dân sự xác định quyền ưu tiên đăng ký nhãn hiệu hàng hoá của Cơ sở ông Châu CV, tuyên huỷ Quyết định cấp GCN của Cục SHCN.

Aùn phúc thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn, căn cứ Điều 785 Bộ Luật dân sự quy định về “nhãn hiệu hàng hoá là những dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau”, “… có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”

Aùn phúc thẩm nhận định: Tuy cùng có chữ “Tân Tân” nhưng sản phẩm hoàn toàn khác nhau, hình ảnh nhãn hiệu cũng khác nhau (có thêm hình con tôm, 2 chữ Hán).

Nói chung, việc khởi kiện liên quan đến SHTT không nhiều do thủ tục Tòa án phức tạp, việc xử lý hồ sơ chậm, không có chế tài mạnh để điều tra, buộc chấm dứt ngay lập tức vi phạm, yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại vật chất khó tính toán. Người bị vi phạm thường chọn đường xử lý hành chính (Cục SHCN, CSKT).

III. KIẾN NGHỊ

1. Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết cách tính toán bồi thường thiệt hại bằng tiền.

2. Thường xuyên tập huấn, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng của Thẩm phán và những người làm công tác pháp luật.

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

CẦN ĐỔI MỚI HƠN NỮA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI

(Tài liệu sử dụng cho bài nói chuyện “Chính sách, pháp luật đất đai với kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ tại Chương trình Giảng dậy Kinh tế Fulbright)

1. Mở đầu

Từ năm 2003 đến nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tiếp nhận được

27.262 lượt đơn có nội dung tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai, trong đó năm

2003 là 5.211 lượt đơn, năm 2004 là 4.421 lượt đơn, năm 2005 là 10.500 lượt đơn

và 8 tháng đầu năm 2006 là 7.130 lượt đơn. Như vậy, số lượng lượt đơn của năm sau có xu hướng tăng nhiều hơn so với năm trước. Năm 2004 có giảm hơn so với năm 2003 một chút nhưng năm 2005 lại tăng gần như gấp đôi so với năm 2003. Số lượng lượt đơn chưa nói lên số lượng vụ việc cần giải quyết nhưng lại là một chứng cứ rất rõ để nói lên rằng cả hệ thống hành chính lẫn hệ thống tư pháp giải quyết không tốt tình trạng tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.

Tình hình hiện nay cho thấy những vụ việc cũ giải quyết không được nhiều hoặc giải quyết nhưng chưa đúng, những vụ việc mới phát sinh tăng lên theo tỷ lệ với diện tích đất bị Nhà nước thu hồi. Nếu tình trạng như vậy cứ tiếp diễn thì không biết bao giờ chúng ta mới có thể yên tâm về những hệ quả xấu nẩy sinh trong quá trình thực thi pháp luật về đất đai. Như vậy, đất nước đang đòi hỏi những đổi mới mang tính đột biến tích cực trong giải quyết các vụ việc về tranh chấp, khiếu nại, tố cáo của người dân, doanh nghiệp đối với đất đai.

2. Tình hình giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai

Trong tổng số đơn gửi đến, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tập trung phân loại. Bộ tập trung giải quyết ngay những trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ (trường hợp tranh chấp đất đai mà ít nhất có một bên tranh chấp là tổ chức nhưng người tranh chấp không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) và trường hợp Thủ tướng Chính phủ giao Bộ giải quyết. Số đơn còn lại cũng được Bộ xử lý theo cách hoặc hướng dẫn cho người có đơn đến nộp tại cơ quan theo đúng thẩm quyền giải quyết hoặc xem xét lại tính phù hợp pháp luật của những quyết định giải quyết cuối cùng của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để có văn bản đối với những trường hợp vi phạm pháp luật.

Qua việc phân loại và xử lý đơn, có một số vấn đề nổi cộm như sau:

a) Số lượt đơn gửi đến Bộ ngày càng nhiều, số đơn nhận được trong 8 tháng đầu năm 2006 tăng gấp 1,5 lần so với số đơn nhiều nhất trong cùng khoảng thời gian 8 tháng trước đây. Trong số đơn gửi đến Bộ, rất ít đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ mà phần lớn là đơn khiếu nại quyết định giải

1

quyết cuối cùng của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và một số đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ.

b) Trong tổng số đơn Bộ nhận được, 70% có nội dung khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và 30% còn lại có nội dung khiếu nại đòi lại đất cũ, khiếu nại liên quan đến đất tôn giáo, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nhằm vụ lợi của cán bộ, tranh chấp đất đai với nông, lâm trường

và với đất quốc phòng. Kể cả trường hợp khiếu nại, tố cáo về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trường hợp tranh chấp đất đai với tổ chức đều dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người tạo nên những điểm nóng khó giải quyết. Ngay trong thời gian gần đây cũng đã có vụ khiếu nại về quyết định thu hồi đất mà số người có đơn lên đến con số trên một nghìn,

c) Nội dung viết trong các đơn khiếu nại, tố cáo luôn thể hiện một cách nhìn tiêu cực đối với quyết định hành chính và hành vi hành chính của chính quyền các cấp ở địa phương, nói chung nhìn thấy rõ một ngăn cách khá sâu giữa chính quyền cơ sở và dân.

d) Trong số đơn đã phân tích, có nhiều đơn bị cơ quan hành chính chuyển sang cơ quan tư pháp, cơ quan tư pháp lại chuyển sang cơ quan hành chính rồi người dân có đơn không biết phải đến đâu để giải quyết sau vài năm rất nỗ lực chạy đi chạy lại theo chỉ dẫn của những nơi có trách nhiệm tiếp nhận đơn. Tình trạng này thường xẩy ra đối với trường hợp đòi lại đất cũ khi nhiều năm trước đây đã có quyết định giao đất đó cho người khác sử dụng (trách nhiệm giải quyết lần đầu thuộc cơ quan ra quyết định hành chính nhưng cơ quan ra quyết định trước đây không thuộc bộ máy hành chính hiện nay), cơ quan hành chính hiện nay lại nhìn việc đòi lại đất cũ như tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa người có giấy tờ cũ và người đang sử dụng đất (trách nhiệm giải quyết thuộc toà án nhân dân đối với tranh chấp đất đai mà đất đó đã có giấy tờ về quyền sử dụng đất.

đ) Trong quyết định giải quyết cuối cùng của cơ quan hành chính cũng như quyết định giải quyết của toà án nhân dân còn có nhiều trường hợp không phù hợp pháp luật; có trường hợp phù hợp pháp luật về dân sự nhưng không phù hợp pháp luật về đất đai và ngược lại, tương tự có quyết định phù hợp pháp luật này nhưng lại trái với pháp luật khác. Trường hợp này thường xẩy ra khi Luật Đất đai công nhận mọi hợp đồng, giấy tờ về chuyển quyền sử dụng đất không có công chứng hoặc chứng nhận của chính quyền cơ sở trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành nhưng toà án nhân dân lại tuyên bố hợp đồng, giấy tờ như vậy không có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật

về dân sự.

e) Theo quy định của Hiến pháp thì hệ thống tư pháp có quyền phán quyết độc lập với bộ máy hành chính cùng cấp nhưng trong thực tế lại không

2

xây ra như vậy. Trong thực tế giải quyết các vụ án hành chính, toà án nhân dân cấp huyện (hoặc cấp tỉnh) rất khó quyết định Uỷ ban nhân dân cấp huyện (hoặc cấp tỉnh) bị thua kiện.

Những vấn đề nổi cộm nêu trên cũng đã chỉ ra phần nào những bất cập trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo về đất đai hiện nay.

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

05__loan_to_value.jpgPGS. TS Trần Đình Hảo – Viện Nhà nước và Pháp luật

I. Về sự cần thiết ban hành Nghị định về Giao dịch bảo đảm
Từ khi Bộ luật dân sự 1995 được ban hành cho đến thời điểm hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam tồn tại nhiều loại văn bản qui phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau qui định về các giao dịch bảo đảm và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng như bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng. Bên cạnh những mặt tích cực tạo lập những chuẩn mực pháp lý cần thiết về các giao dịch bảo đảm trong đời sống kinh tế-dân sự thì trong nội dung các qui định pháp luật này còn ẩn chứa nhiều điểm không còn phù hợp nữa và việc áp dụng các qui định về biện pháp bảo đảm còn có điểm chư­a thống nhất, gây ra những khó khăn, lúng túng cho các cơ quan, doanh nghiệp, ngư­ời thực hiện và cả chủ thể áp dụng pháp luật. Thực tiễn cho thấy tính thống nhất của hệ thống pháp luật thực định ở Việt Nam về phương diện này chư­a được bảo đảm. Ngoài ra, các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về các giao dịch bảo đảm tiền vay còn có nhiều điểm khác biệt, không phù hợp với thông lệ quốc tế (như qui định về giá trị tài sản bảo đảm tiền vay, về bảo lãnh, về đăng ký giao dịch bảo đảm…). Trong việc thực hiện và áp dụng pháp luật về các giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng nói riêng cũng cho thấy đã xuất hiện các hiện tượng đáng quan tâm nghiên cứu, chẳng hạn như: áp dụng sai, “lách luật”, thậm chí lợi dụng sơ hở của luật để vi phạm pháp luật gây hậu quả rất nghiêm trọng về kinh tế – xã hội.
Trước những yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp và đặc biệt khi Bộ luật Dân sự (năm 2005) bắt đầu có hiệu lực thi hành thì rõ ràng là đã đến lúc cần phải sửa đổi, bổ sung một cách tương đối toàn diện các qui định pháp luật về các giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng như các quy định pháp luật về các biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng sao cho thích hợp. Đây cũng chính là những yêu cầu đòi hỏi đặt ra cho việc soạn thảo và ban hành một Nghị định mới về các giao dịch bảo đảm.

II. Về những vấn đề mang tính nguyên tắc
Về cơ bản, chúng tôi tán thành và chia sẻ với các quan điểm chỉ đạo xây dựng Nghị định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như đã được nêu trong Tờ trình Chính phủ và Bản thuyết minh. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi thấy rằng cần nhấn mạnh một số điểm sau đây:
– Việc xây dựng Nghị định nhằm áp dụng chung, thống nhất về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nghĩa vụ dân sự, thương mại, kinh tế, lao động) là cần thiết. Vì vậy phải đảm bảo tính bao quát và triết để của các qui định pháp luật trong Nghị định này, tránh để xảy ra tình trạng như trước đây là vừa mới ban hành Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm đã lại phải ban hành Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và các văn bản khác có liên quan.
– Nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể phải được thể hiện một cách rõ nét trong các quy định của Nghị định này. Đặc biệt các quy định về trình tự thủ tục xác lập, đăng ký các giao dịch bảo đảm và trình tự, thủ tục xử lý các tài sản bảo đảm phải được xây dựng theo tinh thần của cải cách hành chính và cải cách tư pháp nhằm rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo an toàn pháp lý cho các doanh nghiệp trong các giao dịch kinh tế, dân sự.
– Do vậy, cần có được một cơ chế hỗ trợ hữu hiệu từ phía các cơ quan hữu quan của nhà nước trong tất cả các khâu từ việc xác lập, đăng ký các giao dịch bảo đảm cho đến xử lý các tài sản bảo đảm.
Nếu xét theo các yêu cầu đó, thì nhiều nội dung trong dự thảo Nghị định này chưa đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi đó và do vậy cần phải được chỉnh sửa, bổ sung rất nhiều.

III. Về một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau

1. Về phạm vi điều chỉnh

Theo chúng tôi, Dự thảo Nghị định này chỉ nên tập trung hướng dẫn thi hành một cách chi tiết về một số điều của Bộ luật dân sự về xác lập, thực hiện cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp (gọi chung là các giao dịch bảo đảm) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ dân sự. Điều đó có nghĩa là phạm vi chỉnh của Nghị định chỉ giới hạn trong các biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 mục 5 Chương XVII của BLDS 2005, kể cả thế chấp quyền sử dụng đất quy định tại Chương XXX BLDS 2005. Không nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Nghị định đối với các giao dịch, thoả thuận khác có tính chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như thoả thuận bán có điều khoản bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ, phạt vi phạm…, vì rằng các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được xem xét theo hai phương diện (hay còn có thể được gọi là hiểu theo nghĩa rộng) gồm:

Thứ nhất là:
Các biện pháp bảo đảm được áp dụng mang tính chất và có liên quan đến việc phân bố và quản lý rủi ro (thường được gọi là phòng ngừa rủi ro), mà theo đó bên có nghĩa vụ cam kết và thực hiện đầy đủ một số công việc, hoat động nhất định nhằm có được những tiền đề, điều kiện cần và đủ duy trì, đảm bảo khả năng thực hiện trên thực tế nghĩa vụ của mình đối với Bên có quyền. Điều đó có nghĩa là các biện pháp này nhằm đảm bảo cho Bên có nghĩa vụ có đủ khả năng hiện thực và thực hiện nghĩa vụ theo đúng nghĩa đen của nó: Biện pháp đảm bảo cho nghĩa vụ và hợp đồng được thực hiện trên thực tế. Như vậy theo đó là toàn bộ các quy định pháp luật có liên quan về nghĩa vụ và hợp đồng;

Thứ hai là:
Các biện pháp bảo đảm được áp dụng mang tính chất thay thế, một khi nghĩa vụ hay hợp đồng không được thực hiện hoặc thực hiện một cách không đầy đủ. Trong trường hợp vì một lý do nào đó, Bên có nghĩa vụ rơi vào tình trạng không có khả năng thực thi nghĩa vụ hoặc không thực thi nghĩa vụ như đã thỏa thuận, thì việc áp dụng các biện pháp bảo đảm này sẽ được áp dụng. Do vậy được coi là mang tính chất thay thế và trong trường hợp các biện pháp bảo đảm bằng vật quyền thì cần có giá trị pháp lý đối kháng với người thứ ba, nghĩa là tạo cho Bên có quyền là bên nhận đảm bảo sẽ có một vị thế ưu tiên so với các chủ nợ khác.

2. Về nguyên tắc áp dụng pháp luật:

Chúng tôi thấy cần phải khẳng định và chia sẻ với ý kiến cho rằng “để phát huy có hiệu quả những điểm tiến bộ của Bộ luật dân sự về biện pháp bảo đảm thì nên áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật dân sự và Nghị định này đối với mọi biện pháp bảo đảm, không phụ thuộc vào loại tài sản hay tư cách chủ thể của các bên tham gia giao dịch bảo đảm”. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc áp dụng pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 80 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Việc về bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai hoàn toàn không mâu thuẫn với nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật chuyên ngành bởi lẽ đây là biện pháp bảo đảm kết hợp bảo lãnh với thế chấp quyền sử dụng đất ở chỗ:

Thứ nhất:
Bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, trước hết vẫn được hiểu là biện pháp bảo đảm đối nhân nghĩa là người bảo lãnh cam kết và có nghĩa vụ đối với người nhận bảo lãnh trong trường hợp một khi nghĩa vụ của người được bảo lãnh đến hạn, phải thực hiện mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì người bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh;
Thứ hai: Người bảo lãnh cam kết và bảo đảm cho việc thực thi nghĩa vụ bảo lãnh của mình đối với người nhận bảo lãnh bằng việc thế chấp quyền sử dụng đất của họ cho người nhận bảo lãnh và

Thứ ba:
Trong trường hợp bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, nếu các bên không có thoả thuận khác, thì nghĩa vụ và trách nhiệm của người bảo lãnh đối với người nhận bảo lãnh chỉ nằm trong phạm vi giới hạn của giá trị quyền sử dụng đất.

3. Về việc bảo vệ quyền của bên nhận bảo đảm ngay tình

Chúng tôi cho rằng không nên quy định về việc bảo vệ bên nhận bảo đảm ngay tình, cho dù vấn đề này đã được quy định về nguyên tắc trong Bộ luật dân sự là chỉ bảo vệ người thứ ba ngay tình trong những giao dịch có đền bù (mà theo chúng tôi thì ngay cả những quy định mang tính nguyên tắc này trong Bộ luật dân sự cũng là nửa vời, không triệt để, nếu áp dụng vào thực tiễn sẽ gặp nhiều vướng mắc do cách hiểu, vận dụng không thống nhất), mà nên quy định rằng: Trong những trường hợp này, bên nhận bảo đảm sẽ có quyền yêu cầu thay thế tài sản bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm khác, hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trước hạn.
Mặt khác, nếu quy định nguyên tắc bên nhận bảo đảm ngay tình được bảo vệ thì vô hình chung pháp luật đã thừa nhận và mở đường cho khả năng lừa dối, lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác trong việc cung cấp các bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

4. Quy định về hiệu lực của hợp đồng bảo đảm

– Những quy định của Bộ luật dân sự liên quan đến thời điểm giao dịch bảo đảm có hiệu lực thi hành đối với các bên và đối với người thứ ba, thật chưa rõ ràng, gây ra những cách hiểu, cách giải thích khác nhau. Theo tôi, trong Nghị định này cần quy định hướng dẫn thi hành về điểm này, phân theo các trường hợp sau đây:

Một là:
Trong trường hợp áp dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản là Cầm cố, thế chấp (bảo đảm bằng vật quyền) thì điều đó có nghĩa là phải xác lập một các hợp pháp, hợp lệ và duy trì một vật quyền cho Bên nhận bảo đảm có quyền chi phối đến tài sản cầm cố, thế chấp đó và sẽ được ưu tiên thanh toán trước so với các chủ nợ khác từ tài sản cầm cố, thế chấp đó trong trường hợp xử lý tài sản bảo đảm. Từ đây, đặt ra yêu cầu đăng ký và công khai các giao dịch bảo đảm như vậy. Chừng nào, không có những đăng ký hoặc công khai các giao dịch bảo đảm như vậy, thì những giao dịch, cam kết bảo đảm như vậy sẽ không có hiệu lực pháp luật đối với người thứ ba. Ngược lại, chừng nào các giao dịch bảo đảm như vậy chưa được xoá trong đăng ký các giao dịch bảo đảm thì chừng đó vẫn chưa thể coi là các giao dịch bảo đảm như vậy đã được giải chấp, kể cả trường hợp mặc dù nghĩa vụ được bảo đảm đã được thực hiện xong. Do vậy, trong Nghị định này cần quy định theo hướng hợp đồng cầm cố, thế chấp tài sản sẽ có hiệu lực thi hành giữa các bên kể từ thời điểm các bên ký kết hợp đồng (đạt được thoả thuận), còn thời điểm chuyển giao tài sản hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ là thời điểm cầm cố, thế chấp tài sản có hiệu lực đối kháng (có giá trị pháp lý đối với người thứ ba). Chỉ trong trường hợp các bên đạt được thỏa thuận về cầm cố tài sản và đồng thời chuyển giao ngay tài sản cầm cố thì tại thời điểm đó vừa là thời điểm hợp đồng cầm cố có hiệu lực thi hành đối với các bên, vừa là thời điểm việc cầm cố có giá trị pháp lý đối với người thứ ba.
Đối với hợp đồng thế chấp nhà ở, chúng tôi ủng hộ ý kiến cho rằng: Cần quy định hợp đồng thế chấp nhà ở sẽ có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm giao kết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch, còn trong trường hợp hợp đồng không được công chứng thì được xử lý theo quy định tại Điều 134 Bộ luật dân sự.

Hai là:
Đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bằng bảo lãnh (bảo đảm đối nhân) được hiểu là việc người thứ ba (gọi là người bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là người nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là người được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ . Trong trường hợp này, mức độ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được xem xét theo các phương diện về tư cách, tiềm năng, độ tin cậy, uy tín và khả năng (trong đó có khả năng về tài sản và tài chính) của người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh.
Một trong những vấn đề đặt ra cần làm rõ ở đây lại là vấn đề giá trị pháp lý và mối quan hệ giữa Hợp đồng bảo lãnh và Thư bảo lãnh. Trong mối quan hệ đó, hiệu lực và giá trị pháp lý của Hợp đồng bảo lãnh và Thư bảo lãnh có mối quan hệ độc lập tương đối với nhau, tuỳ thuộc thoả thuận trong Hợp đồng bảo lãnh và tính chất của Thư bảo lãnh, trong đó cần có phân biệt và thừa nhận về mặt pháp lý các loại hình của Thư bảo lãnh như: bảo lãnh tuyệt đối hay bảo lãnh tương đối, bảo lãnh có thể huỷ ngang hay bảo lãnh không huỷ ngang, bảo lãnh có điều kiện hay bảo lãnh không điều kiện, bảo lãnh toàn bộ nghĩa vụ hay bảo lãnh một phần nghĩa vụ.
– Về vấn đề hiệu lực của hợp đồng bảo đảm trong trường hợp ký kết hợp đồng vượt quá phạm vi đại diện của người đại diện theo pháp luật có cần phải được quy định rõ trong Nghị định này hay không? Theo chúng tôi là cần được quy định rõ ràng hơn, nhưng không phải là trong Nghị định này, vì rằng đây là một trong những vấn đề khá phức tạp không chỉ có liên quan riêng đến các giao dịch bảo đảm mà còn liên quan đến giao dịch dân sự và hợp đồng dân sự nói chung và do vậy không thể giải quyết một cách triệt để trong một vài điều của Nghị định này. Hơn thế nữa, nếu làm như vậy thì sẽ biến Nghị định này thành Nghị định hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật dân sự 2005.

5. Quy định về tín chấp

Trước hết, chúng tôi thấy rằng quy định về tín chấp như dự thảo Nghị định này chỉ được áp dụng hạn chế cho các trường hợp thuộc diện chính sách xã hội cho vay xoá đói, giảm nghèo mà không áp dụng đại trà như biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự khác. Các quy định về biện pháp tín chấp như trong dự thảo Nghị định bày mới chỉ dừng lại ở mức mang tính nguyên tắc, chưa thật chi tiết và cụ thể. Do vậy, có thể nói là “vừa thiếu và vừa thừa”. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ở nước ta, những khoản tín dụng mang tính chất như vậy sẽ phải được tách bạch với các khoản tín dụng thương mại trong các hoạt động của các tổ chức tín dụng và hiện tại, Ngân hàng chính sách xã hội Việt nam đã được thành lập và tách bạch với hệ thống ngân hàng thương mại. Vì thế, theo chúng tôi sẽ là hợp lý hơn, nếu về vấn đề tín chấp cần được quy định cụ thể và chi tiết trong các văn bản pháp luật có liên quan đến việc thực thi chính sách xã hội xoá đói, giảm nghèo cũng như trong các văn bản pháp luật về tổ chức và hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội.

6. Một số vấn đề liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm

Những nội dung được quy định trong dự thảo Nghị định về giao dịch bảo đảm tại chương IV về xử lý tài sản đảm bảo chưa thật rõ ràng, cụ thể và chi tiết, đặc biệt là nhiều vấn đề còn đang ngỏ như: phạm vi quyền tự do thỏa thuận của các bên về vấn đề này đến đâu? Đâu là quy định “cứng” của pháp luật? Cơ chế hỗ trợ từ phía các cơ quan nhà nước trong vấn đề này ra sao? Khi nào và có nhất thiết phải xử lý tài sản đảm theo như quy định tại Nghị định này trước khi khởi kiện ra tòa án hay không? v.v. và v.v. Cho nên các quy định này như hiện có trong dự thảo Nghị định là không khả thi và hầu như khó triển khai được trên thực tế.
Trong chương này cần khẳng định và làm rõ những vấn đề mang tính nguyên tắc sau đây:
– Trước hết việc xử lý tài sản đảm được thực hiện theo các cam kết, thỏa thuận đạt được của các bên, cả về mặt nội dung, phương thức, trình tự, thủ tục, thời gian, thanh toán tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm… Nghĩa là các bên có quyền thỏa thuận và thực thi theo những thỏa thuận đạt được, kể cả trong trường hợp những thỏa thuận như vậy khác biệt so với các quy định trong chương này của Nghị định hay nói cách khác: Các quy định trong chương này của Nghị định được coi là các quy phạm thay thế trong trường hợp giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm không có thỏa thuận khác.
– Do vậy, các quy định trong chương này của Nghị định sẽ phải thật rõ ràng, cụ thể và chi tiết cả về mặt nội dung (quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên), phương thức, trình tự, thủ tục, thời gian, cơ chế và trách nhiệm hỗ trợ của các cơ quan hữu quan của nhà nước… Các các quy định trong chương này của Nghị định cũng có giá trị bắt buộc và ràng buộc cả đối với người thứ ba có liên quan cũng như cơ quan hữu quan của nhà nước.

IV. Về các quy định cụ thể trong dự thảo Nghị định
– Bỏ Điều 7 “Quyền của bên nhận bảo đảm trong trường hợp ngay tình”, với lý do như đã trình bày ở trên;
– Điều 9 chỉ mang tính chất dẫn chiếu áp dụng pháp luật về phá sản. Hơn thế nữa nội dung quy định tại Điều 9 khoản 2 b) trái với bản chất pháp lý của bảo đảm đối vật. Do vậy nên bỏ điều này. Tương tự như vậy cũng nên bỏ Điều 10;
– Bỏ các quy định tại Điều 14 khoản 2 điểm c) và d), Điều 20 khoản 2 vì những nội dung này vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh đã được xác dịnh cho Nghị định này là “chỉ giới hạn trong các biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 318 mục 5 Chương VII của BLDS 2005, kể cả thế chấp quyền sử dụng đất quy định tại chương XXX BLDS 2005.” Bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua hàng trả chậm hay trả dần cũng như hợp đồng thuê khoán, thuê mua tài chính không phải là các biện pháp bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều 318 mục 5 Chương VII của BLDS 2005. Hơn thế nữa, việc công khai hóa quyền sở hữu được bảo lưu trong trường hợp mua hàng trả chậm hay trả dần cũng như hợp đồng thuê khoán, thuê mua tài chính không nhất thiết chỉ bằng việc đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm. Nếu giữ nguyên quy định tại Điều 14 khoản 2 điểm c) và d) như trong dự thảo hiện tại thì hiệu lực và giá trị pháp lý của tất cả các giao dịch bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua hàng trả chậm hay trả dần cũng như hợp đồng thuê khoán, thuê mua tài chính mà không đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ được hiểu như thế nào?
Mặt khác, điều này còn làm phát sinh chi phí và tốn kém thời gian cho các doanh nghiệp, khi có các giao dịch bảo lưu quyền sở hữu trong trường hợp mua hàng trả chậm hay trả dần cũng như hợp đồng thuê khoán, thuê mua tài chính;
– Điều 15 khoản 3 quy định “các bên có thể thỏa thuận cầm cố bằng tài sản hình thành trong tương lai, nhưng hợp đồng cầm cố tài sản đó chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm bên cầm cố chuyển giao tài sản cầm cố cho bên nhận cầm cố”. Quy định như vậy là chưa đủ, chưa bao quát, lại thiếu chuẩn xác, vì rằng nếu tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản thì sẽ như thế nào? Hơn thế nữa, trong Bộ luật dân sự 2005 tại Điều 320 khoản 2 quy định về “Vật dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai. Vật hình thành trong tương lai là động sản, bất động sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết”. Điều này xuất phát từ thực tiễn vửa qua của hoạt động tín dụng ngân hàng về việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Việc bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay không nên chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là ngay sau tài sản được hình thành từ vốn vay sẽ phải xác lập các quyền của các tổ chức tín dụng đã cho vay được bảo đảm bằng và trên tài sản đó (chẳng hạn như: cầm cố hay thế chấp tài sản đó), mà quan trọng hơn là trong trường hợp này, tổ chức tín dụng không đặt vấn đề thu hồi vốn vay bằng việc siết nợ vào tài sản hình thành từ vốn vay được cầm cố hoặc thế chấp lên hàng đầu (đây chỉ là biện pháp cuối cùng), mà quan tâm nhiều hơn đến khả năng trả nợ của người vay từ việc khai thác có hiệu quả tài sản hình thành từ vốn vay và do vậy, họ thường có những yêu cầu và thỏa thuận để ràng buộc, giám sát, trong trường hợp cần thiết chi phối đến hoạt động khai thác các lợi ích có được từ tài sản hình thành từ vốn vay, sau cùng mới là việc siết nợ vào tài sản hình thành từ vốn vay được cầm cố hoặc thế chấp. Đây là một trong những biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng mang tính chất liên hoàn, không thuần túy chỉ là việc cầm cố hay thế chấp tài sản hình thành trong tương lai và do vậy, nếu quy định điều chỉnh về vấn đề này trong Dự thảo Nghị định này thì theo chúng tôi phải quy định cụ thể và chi tiết hơn nữa.
– Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và hợp đồng cần được quy định theo hướng dành cho các chủ thể quyền thỏa thuận, lựa chọn và quyết định về việc xác lập và thực hiện các biện pháp bảo đảm này thì những nội dung được quy định trong chương II và chương IV trong dự thảo Nghị định lại chưa thể hiện rõ điều này.
– Nội dung quy định tại Điều 52 khoản 1 chỉ đúng về mặt nguyên tắc là khi giữa các bên không có cam kết hay thỏa thuận nào khác về thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, thì trong trường hợp bảo lãnh ngân hàng, bên ngân hàng bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh ngay từ yêu cầu đầu tiêncủa bên nhận bảo lãnh, không bắt bu8ộc phải chứng minh bên được bảo không có khả năng hoặc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo lãnh. Do vậy, cần sửa đổi lại nội dung quy định tại Điều 52 khoản 1 này cho thích hợp.
– Nội dung chương IV về xử lý tài sản bảo đảm cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung rất nhiều điểm cho thích hợp như đã trình bày ở trên.

NGUỒN: WWW.VCCI.COM.VN

<Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ Luật Dân sự về việc xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm hiện đã có hiệu lực>

VỀ SỰ BIẾN ĐỔI MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁ NHÂN – XÃ HỘI VÀ NHỮNG SUY NGHĨ XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

maternal-bond.jpgVŨ VĂN HẠC
Tạp chí Nghiên cứu con người

Bước vào thế kỷ XXI, vai trò của con người đối với sự phát triển lại càng chiếm vị trí nổi trội. Do vậy, việc nghiên cứu con người với tư cách là đối tượng được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Thực tiễn cho thấy, trong hơn chục năm gần đây vấn đề con người được nghiên cứu khá nhiều ở những chiều cạnh khác nhau, song về cơ bản trên phương diện khoa học xã hội theo chúng tôi nghiên cứu con người có 3 nội dung cơ bản: cá thể, cá nhân, nhân cách (tức là “con người” đại diện cho loài là “cá thể”, “con người” khi là thành viên của xã hội là “cá nhân”, “con người” khi là chủ thể hoạt động là “nhân cách”).

Trong khuôn khổ của bài viết này, bước đầu, chúng tôi đề cập tới nội dung “con người” khi là thành viên xã hội, tức cá nhân, đặc biệt chú ý tới mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

Trong Luận cương VI về Feuerbach, C.Mác chỉ rõ: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”. Điều đó có nghĩa là cần xem xét con người với tư cách là cá nhân trong mối quan hệ với xã hội, với điều kiện lịch sử cụ thể và với tình hình kinh tế xã hội của thời đại, chứ không phải con người chung chung, trừu tượng, thoát ly hiện thực. Do vậy, khi nghiên cứu sự biến đổi quan hệ cá nhân và xã hội cũng chính là nghiên cứu con người trong tính lịch sử của nó, con người đang chịu sự tác động của hoàn cảnh và cải tạo hoàn cảnh. Vì lẽ đó, đương nhiên trong giai đoạn hiện nay xã hội chuyển nhanh từ trạng thái “cũ” sang trạng thái “mới” (tức từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại), từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thì mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội cũng cần phải được nhìn nhận trong sự biến đổi ấy.

Đối với con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện đại, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội hết sức khăng khít trong một hệ thống bền chặt Nhà – Làng – Nước. Điều này được biểu hiện rất rõ ở tính cộng đồng:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước thì thương nhau cùng”.

hay “Lá lành đùm lá rách”, “Chị ngã em nâng”

Tính cộng đồng bền chặt có ở con người Việt Nam cũng là điều dễ hiểu, bởi vì họ là những công dân của một Quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, luôn phải đối mặt với những thế lực nhòm người có mưu đồ xâm lăng và đồng hoá, bởi vì họ là công dân của một đất nước có điều kiện khí hậu “mưa chẳng thuận, gió chẳng hoà”… Trong bối cảnh đó, vận mệnh của cá nhân luôn gắn chặt vào vận mệnh cộng đồng và xã hội và cá nhân sẵn sàng hy sinh những lợi ích riêng để bảo vệ lấy lợi ích chung, bảo vệ được cái chung cũng chính là sẽ giải quyết được cái riêng. Vì thế sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn giành lại được độc lập, cốt cách của con người Việt Nam vẫn được giữ vững và phát huy.

Bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ sau hàng ngàn năm ở triều đại phong kiến, Việt Nam lại bị các thế lực thực dân cũ và mới xâm lược. Trong bối cảnh đó, tính cộng đồng ấy lại được phát huy và khẳng định với một ý chí: tất cả vì chiến thắng tất cả cho Tổ quốc quyết sinh. Ý chí đó là sợi chỉ đỏ chỉ đạo những con người tạm thời hy sinh những nhu cầu cá nhân (tình yêu, gia đình, mơ ước riêng tư, thậm chí cả sự nghiệp…) để vì cái chung, đó là giành lại độc lập cho Tổ quốc. Đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, những “cá nhân anh hùng” lại trở về với đời thường trong mối lo toan hối hả. Lẽ ra ở giai đoạn này, những chính sách cũng như đường lối xây dựng đất nước phải xử lý tất mối quan hệ giữa cá nhan và xã hội (xét về nhu cầu và lợi ích), đặc biệt phải chú ý chăm lo đời sống cá nhân (mọi nhu cầu cá nhân phải được giải quyết và thực hiện một cách thỏa đáng). Thế nhưng, trên nền vinh quang chiến thắng đó, cùng với một tư duy duy ý chí, chúng ta muốn xây dựng ngay CNXH trên một nền tảng xã hội thiếu vững chắc, lực lượng sản xuất kém phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, những nhu cầu ăn, mặc, ở… chưa được giải quyết, dẫn tới hiện tượng có sự mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất), cho nên nền kinh tế rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chỉ rõ: “…đã có biểu hiện nóng vội xoá ngay các thành phần kinh tế phi XHCN, nhanh chóng biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh… Nội dung cải tạo thường nhấn mạnh cải tạo quan hệ sản xuất mà không coi trọng các vấn đề tổ chức quản lý và chế độ phân phối” hay “…đã mắc bệnh duy ý chí, đơn giản hoá, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của CNXH. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế, chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan, do đó, không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế”.

Thừa nhận những sai lầm khuyết điểm trong cơ chế chính sách một thời gian dài làm mất động lực phát triển xã hội, Đảng ta đã chủ động tiến hành đổi mới nền kinh tế, từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN. Nghĩa là chính sách kinh tế phải giải quyết được câu hỏi: làm sao phát huy được tối đa sự phát triển toàn diện các cá nhân? Làm sao để chăm lo đời sống vật chất cho mỗi cá nhân trong xã hội? Mặt khác, chấp nhận nền kinh tế thị trường là chấp nhận nền kinh tế vận hành theo quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… tức nền kinh tế đòi hỏi phải có sự năng động, sáng tạo, và phát huy vai trò của cá nhân, lấy hiệu quả kinh tế làm trọng. Tất cả quy luật và yêu cầu này đã và dang là tác nhân quan trọng để phá vỡ những cái “cũ” và hình thành cái “mới” trong quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Nói như C.Mác, mỗi bước tiến mới sẽ tất yếu biểu hiện ra sự xúc phạm tới cái thiêng liêng, là một sự nổi loạn chống lại trạng thái cũ đang suy đồi, những tập quán được thần thánh hóa và sự “xung đột” giữa cũ và mới trong mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội được biểu hiện ở một số điểm căn bản:

Thứ nhất, nền sản xuất nông nghiệp tự cấp, tự túc tạo sự khép kín trong một khuôn khổ gia đình và làng xã, do đó tạo nên những cá nhân có tính bảo thủ khá cao. Với điều kiện như vậy, dễ đàng luyện cho con người lối sống: “Năng nhặt, chặt bị”, khuyến khích sự khéo tay, hay làm mà xa lạ với sự cách tân, đổi mới, tìm tòi, xung kích… Điều đặc biệt hơn, nền sản xuất nhỏ ấy lại được đung dưỡng bởi một hệ tư tưởng Nho giáo với sự phân chia đẳng cấp: Sĩ – Nông – Công – Thương. Cụ thể là trong bảng thang giá trị ấy, tầng lớp Sĩ (kẻ sĩ hay tầng lớp có học) được đứng đầu tiên trong bảng thang giá trị. Học ở đây là học sách thánh hiền, học Ngũ kinh tứ thư chứ không phải học khoa học kỹ thuật. Học ở đây là học làm quan, làm thầy chứ không phải học để làm thợ, cho nên mỗi cá nhân phải phấn đấu học cho được Ngũ kinh tứ thư, học cho được để đỗ ông Nghè, ông Tổng. Tâm lý này tồn tại tới ngày nay mà “di chứng” của nó trong xã hội chưa thể khắc phục. Đó là tình trạng: trọng bằng cấp hơn thực tài, tình trạng bằng rởm, bằng giả tồn tại không kể xiết, tình trạng thừa thầy, thiếu thợ đang tồn tại mà việc giải quyết không phải một sớm, một chiều. Cũng trong bảng thang giá trị này tầng lớp thương nhân bị xếp vào cuối bảng. Đây là tầng lớp luôn được xã hội nhìn với con mắt chẳng lấy gì làm thiện cảm. Thương nhân đồng nghĩa với vụ lợi, tiểu nhân, mánh khoé… Chính với cách nhìn như vậy, trong suốt một quá trình phát triển xã hội, tầng lớp này luôn nhỏ bé. Và đương nhiên cách nhìn và không gian xã hội đó đã dẫn tới hệ quả là hiện nay tầng lớp doanh nhân Việt Nam đang rất chật vật trong “biển cả” của nền kinh tế thị trường, trong điều kiện hội nhập và giao lưu quốc tế. Những biểu hiện thiếu tính chuyên nghiệp trong kinh doanh đó là: mất thương hiệu trên thị trường quốc tế, mất uy tín trong kinh doanh hay quảng bá sản phẩm còn yếu…

Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường, yếu tố luật pháp có vai trò quan trọng đặc biệt. Bởi vì, việc điều chỉnh tất cả các quan hệ từ cá nhân tới xã hội đều bằng luật pháp, điều đó đảm bảo cho sự công bằng của mỗi cá nhân trong xã hội. Thế nhưng xuất phát từ xã hội tiểu nông cộng ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo, những con người với tư cách cá nhân đã “vác nặng” trên vai những yếu tố truyền thống bằng lối suy nghĩ: gia đình là cái gốc của Nước, Nước là cái Nhà to, Nhà là cái Nước nhỏ. Với lối suy nghĩ như vậy, để dẫn tới một hiện tượng đặt lợi ích của Nhà trên lợi ích của Nước. Biểu hiện ở quan niệm một người làm quan cả họ được nhờ, tâm lý cục bộ, bè phái… Những biểu hiện này tránh sao khỏi hiện tượng tuỳ tiện, độc đoán bất chấp pháp luật. Tâm lý đó lại tìm được đất sống ở cơ chế “xin – cho” của nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, đó là: xin ở mọi cấp, cho ở mọi nơi. Và chính cơ chế “xin – cho” này đang làm hạn chế sự phát triển của mỗi cá nhân, là rào cản cho sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Thứ ba, cần khẳng định rằng hoàn cảnh ảnh hưởng tới con người trong chừng mực con người cải tạo hoàn cảnh, song con người cũng không thể nào thoát ly khỏi hoàn cảnh. Với dân số trên 70% làm nông nghiệp và sống ở nông thôn thì họ ít nhiều chịu sự tác động của lối sống sản xuất nông nghiệp. Do đó tác phong công nghiệp dường như vẫn còn thiếu trong mỗi cá nhân. Hiện tượng làm việc được chăng, hay chớ, sáng cắp ô đi, tối cắp ô về, hiệu quả kinh tế ở các cơ quan công nghiệp của Nhà nước còn thấp không phải là chuyện hiếm. Còn đối với các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ… tác phong công nghiệp của mỗi công nhân cũng chưa được đề cao. Hiện tượng tuỳ tiện trong công việc, coi thường kỷ cương, kỷ luật, làm việc ít tính tới hiệu quả đang dần làm cho khu vực doanh nghiệp mất đi tính cạnh tranh của mình trên thị trường quốc tế…

Trên đây là đôi nét phác thảo về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội trong lịch sử và sự “xung đột” giữa những giá trị “cũ” và “mới”, trong sự biến đổi quan hệ giữa cá nhân và xã hội giai đoạn hiện nay. Bước vào thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong xu thế toàn cầu hoá (trước hết toàn cầu hoá kinh tế) ở một thế giới đầy rẫy biến động và đang được chi phối bởi một “siêu cường” theo cái gọi là quy luật “mạnh được, yếu thua” thì điều đầu tiên chúng ta cần là nhận diện được mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội để từ đó điều chỉnh, phát huy được yếu tố cá nhân. Phát huy được yếu tố cá nhân sẽ tạo ra một nội lực cho xã hội. Đây sẽ là yếu tố quyết định để Việt Nam tự khẳng định mình ở thế kỷ XXI. Để làm được điều đó, đương nhiên bên cạnh việc phát huy những giá trị tốt đẹp trong mỗi cá nhân như lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tính cộng đồng… thì mỗi con người Việt Nam còn cần phải bổ sung những giá trị của thời đại được thể hiện trong ba điều sau đây:

Thứ nhất, đầu óc thực tiễn, trọng hiệu quả, tinh thần kinh doanh. Nếu thiếu giá trị này con người Việt Nam sẽ khó có thể đứng vững trên thị trường mang tính toàn cầu.

Thứ hai, trọng “chữ tín”. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò “chữ tín” là tối quan trọng. Nếu như kinh doanh cũng như trong hợp tác mà “chữ tín” bị xem nhẹ thì đương nhiên việc tổn hại về kinh tế là khó tránh khỏi. Điều này lý giải vì sao các doanh nhân Trung Hoa thường thành công trên thương trường, bởi vì người Trung Hoa rất coi trọng chữ tín trong kinh doanh. Đối với người Hoa, vi phạm chữ tín, không tôn trọng điều kết ước là một điều đáng lên án nhất, còn hớn cả tội ác hình sự khác.

Thứ ba, coi trọng pháp luật. Xã hội muốn trật tự kỷ cương cần có hệ thống luật pháp đủ mạnh và hợp lý. Con người việt Nam từ nền sản xuất tiểu nông bước ra kinh tế thị trường còn mang nặng lối hành xử theo thói quen. Do vậy, trong giai đoạn tới yếu tố luật pháp phải là ý thức thường trực trong mỗi cá nhân cũng như trong xử lý mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội.

Theo Tạp chí Nghiên cứu con người

KHÁI NIỆM BÓC LỘT: Từ học thuyết MARX sang học thuyết Tân cổ điển

TRẦN HẢI HẠC – Đại học Paris XIII

Cách đây ba năm – năm 2002 -, nổi lên ở Việt Nam cuộc thảo luận về vấn đề bóc lột: nhân câu hỏi “đảng viên có được làm kinh tế tư bản tư nhân hay không?”, Đảng cộng sản Việt Nam có kêu gọi tranh luận, phản biện trong tinh thần tự do tư tưởng.[1] Một số bài thuyết trình tại các cuộc hội thảo được xuất bản trong tập sách Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Quốc Tế, Lương Minh Cừ (chủ biên), 2003]. Tham gia đầu tiên từ nước ngoài vào cuộc thảo luận này là bài Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết giá trị thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại của Vũ Quang Việt trình bày tại hội thảo hè Maine 2002 [tu chỉnh và đăng lại trong Thời Đại Mới số này]. Đó là khởi điểm của một số trao đổi, tranh luận, trong đó có bài Học thuyết Marx, Đảng cộng sản Việt Nam và vấn đề bóc lột mà tôi có viết cho hội thảo hè Munchen 2003 [Thời Đại số 8, 2003 – xem những trao đổi với Vũ Quang Việt trên http://www.viet-studies.org/Munchen2003.htm].[2]

Bài viết này đưa tôi đến hai nhận định: (1) Trước khi bàn cãi trên vấn đề bóc lột trong khu vực kinh tế tư bản chủ nghĩa, ­dù sao cũng là những quan hệ công khai, hợp pháp và chính đáng – chí ít trong quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” -, cần ưu tiên xem xét, đánh giá sự tồn tại của những quan hệ bóc lột trong khu vực kinh tế quốc doanh, bởi đó là những quan hệ hiện bị che giấu, có tính phi pháp và khoác áo xã hội chủ nghĩa. Từ chối nêu vấn đề bóc lột trong nền kinh tế nhà nước là rơi vào sự sùng bái nhà nước mà Marx đã phê phán. (2) Cách đặt vấn đề bóc lột tư bản chủ nghĩa trong Đảng cộng sản Việt Nam nhắm vào tư bản chức năng mà bỏ qua tư bản sở hữu, nhìn thấy tư bản thật mà bỏ quên tư bản giả – trong đó có nhà đất đang là nguồn thu nhập chính của một số đông đảng viên hiện nay. Các định nghĩa giới hạn quan hệ bốc lột tư bản chủ nghĩa trong hình thái lợi nhuận doanh nghiệp cho thấy rằng phân tích của Marx về sự sùng bái tư bản không phaỉ là thừa.

Theo tôi hiểu, cuộc thảo luận tại Việt Nam đã ngưng lại từ khi Đảng cộng sản không còn đặt câu hỏi về bóc lột đối với các đảng viên chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân nữa. Hội nghị 12 của Ban chấp hành trung ương, vào đầu tháng 7 vừa qua, đã công khai hoá điều này, và đại hội X sắp tới của đảng sẽ sửa đổi điều lệ để chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân; hơn thế, đảng cộng sản còn chủ trương phát triển đảng trong giới doanh nhân, tiến tới kết nạp những chủ tư bản.[3]

Đồng thời, một số khẳng định ngày càng phổ biến trong đảng viên cho rằng cách Marx hiểu bóc lột – trong thuyết về giá trị thặng dư – gắn với thời kỳ của chủ nghĩa tư bản thế kỷ thứ 19, so với thời kỳ bây giờ, có phần không hợp thời nữa.[4] Không những thế, còn có nhận định rằng nền kinh tế thị trường không còn bóc lột lao động làm thuê khi mà người lao động được trả công theo năng suất.[5] Về mặt lý luận, có thể nắm bắt ở đây một xu thế chuyển dịch khái niệm bóc lột từ học thuyết Marx sang kinh tế học tân cổ điển.[6] Bài viết năm 2002 của Vũ Quang Việt đã biểu hiện xu thế đó.[7]

Lịch sử tư tưởng kinh tế đã chứng kiến nhiều lần kinh tế học tân cổ điển tìm cách định nghĩa lại khái niệm bóc lột trong khuôn khổ lý luận về cân bằng kinh tế vi mô. Bài viết dưới đây, trước hết, sẽ xem xét những lý luận gắn bóc lột với tính không hoàn hảo của thị trường [phần I]: đó là thuyết về bóc lột “mang tính độc quyền” do Joan Robinson [1933] xác lập trong khuôn khổ phân tích cân bằng riêng phần; và thuyết về bóc lột “lẫn nhau” do Vilfredo Pareto [1902-1903] xác lập trong khuôn khổ phân tích cân bằng chung. Trong thập niên 80, John Roemer [1982] xây dựng lại thuyết về bóc lột trong khuôn khổ cân bằng chung của nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, và gắn khái niệm “khái quát” về bóc lột với tính không bình đẳng trong phép phân bổ của cải ban đầu trong xã hội [phần II].

Xem xét và đánh giá các khái niệm khác nhau về bóc lột là lảm rõ ý nghĩa của những suy nghĩ và thảo luận hôm nay trên vấn đề lý luận này – không chỉ ý nghĩa về mặt học thuật mà cả về mặt chính trị nữa.

I. Bóc lột và tính không hoàn hảo trong cạnh tranh thị trường

Theo cách đặt vấn đề của kinh tế học tân cổ điển, mọi hiện tượng xã hội bắt nguồn từ hành vi thuần lý của cá thể, tức là từ mỗi cá nhân chọn lựa tối đa hoá một mục tiêu nhất định với những phương tiện nhất định. Sự chọn lựa thuần lý của các tác nhân kinh tế đưa nền kinh tế đến cân bằng, là tình trạng trong đó từng tác nhân đạt mức thoả mãn tối đa, cho nên không có gì có thể khiến nó phải thay đổi quyết định.

Trong một nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh hoàn hão, cân bằng kinh tế được xác lập khi giá cả của mỗi hàng hoá ngang bằng chi phí sản xuất bình quân thấp nhất của nó, tức là lợi nhuận doanh nghiệp bằng không: giá trị tổng sản phẩm bằng đúng tiền lương chi trả cho lao động, địa tô chi trả cho đất đai và tiền lãi chi trả cho tư bản – không có siêu lợi nhuận, tức lợi nhuận ngoài tiền lãi của tư bản. Chính xác hơn, mỗi nhân tố sản xuất được chi trả theo năng suất biên của nó, tức là theo đóng góp của nó vào sản xuất: mức lương thực tế bằng năng suất biên của lao động, mức địa tô thực tế bằng năng suất biên của đất đai, lãi suất thực tế bằng năng suất biên của tư bản.[8] Cho nên đặt câu hỏi xem chủ nghĩa tư bản có bóc lột hay không, tức là đặt câu hỏi xem hệ thống thị trường có tính cạnh tranh hoàn hão hay không.

1. Bóc lột mang tính độc quyền: Xuất bản cùng lúc với The Theory of Monopolistic Competition của E.H. Chamberlin (người khởi xướng thuyết về cạnh tranh mang tính độc quyền), tác phẩm năm 1933 của Robinson (The Economics of Imperfect Competition) nhận xét rằng thị trường hoàn hão vô cùng hiếm hoi trong hiện thực, và cạnh tranh không hoàn hão mới là phổ biến. Như chế độ cạnh tranh mang tính độc quyền, là thị trường trên đó nhiều doanh nghiệp tranh nhau buôn bán, đồng thời mỗi doanh nghiệp có khả năng làm ra giá bán như thể độc quyền: giá cả không phải là tham số ngoại sinh đối với doanh nghiệp như trong cạnh tranh hoàn hão, nó do doanh nghiệp quyết định tuỳ theo độ co giãn của cầu đối với giá cả. Ở tình trạng cân bằng, giá của hàng hoá bằng chi phí sản xuất bình quân của nó và không có siêu lợi nhuận (đặc điểm của cạnh tranh); đồng thời, giá cả của hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất biên cũng như cao hơn doanh thu biên (đặc điểm của độc quyền). Trong những điều kiện đó, mỗi nhân tố sản xuất nhận thu nhập thấp hơn năng suất biên của nó. Từ đó, Robinson định nghĩa “bóc lột lao động mang tính độc quyền” (monopolistic exploitation of labour) như là tình trạng trả công dưới năng suất biên của lao động [Robinson 1933, tr. 281]. Độ bóc lột lao động phụ thuộc vào khả năng độc quyền của doanh nghiệp biểu hiện trong độ co giản của cầu đối với giá cả: độ bóc lột đó càng cao khi độ co giản này càng thấp, nghĩa là khi tính cạnh tranh trên thị trường càng kém.[9]

Một kết luận lô gích của lập luận về bóc lột mang tính độc quyền cho rằng cách tốt nhất để xoá bóc lột là xác lập các điều kiện của thị trường cạnh tranh có tính hoàn hão. Đó không phải là kết luận của Robinson. Theo bà, điểm chính yếu của The Economics of Imperfect Competition nằm ở chỗ nó “chứng minh được là, trong khung lý luận của thuyết chính thống, không đúng nếu cho rằng tiền lương bằng giá trị của năng suất lao động biên” [Robinson 1933, Lời mở đầu năm 1966].

● Khái niệm về bóc lột có tính độc quyền đưa đến một nghịch lý mà Chamberlin có nêu lên: “Lập luận nói về lao động cũng có thể áp dụng cho các nhân tố sản xuất khác […]. Sự kiện có một nhân tố sản xuất nhận thu nhập ít hơn năng suất biên của nó không có nghĩa rằng các nhân tố sản xuất khác được lãnh nhiều hơn [năng suất biên]. Tất cả các nhân tố sản xuất đều nhận ít hơn bởi vì các thu nhập được chi trả theo một nguyên tắc khác [hơn là nguyên tắc năng suất biên]” [Chamberlin 1933, tr. 288]. Hay nói một cách khác, tất cả đều bị bóc lột trong khi không có ai bóc lột cả…

● Lý luận về bóc lột có tính độc quyền được xây dựng lên trong khung phân tích cân bằng riềng phần (cô lập hoá thị trường của một hàng hoá để phân tích những biến đổi về giá và lượng mua bán của nó, với giả định rằng giữa các thị trường không có tương quan phụ thuộc lẫn nhau), trong lúc khó có thể chấp nhận những hạn chế của khung phân tích này khi bàn đến lao động và tiền lương. Bản thân Robinson, về sau, có công nhận rằng những giả thuyết của mô hình cạnh tranh không hoàn hão “không phải là cơ sở thích hợp để phân tích các vấn đề giá cả, sản xuất và phân phối thu nhập trong hiện thực” [Robinson 1953].

2. Cướp đoạt lẫn nhau: Là người kế tục L. Walras trong lý luận về cân bằng chung, Pareto được biết đến với khái niệm về thế tối ưu, tức là trạng thái kinh tế trong đó không thể cải thiện mức thoả mãn của một người mà không làm giảm thoả mãn ít nhất của một người khác [Pareto 1909]. Trong Les Systèmes Socialistes [1902-1903], ông còn là người phê phán quyết liệt học thuyết Marx, đặc biệt là quan niệm về bóc lột căn cứ trên giá trị thặng dư. Đối với Pareto, bốc lột chỉ mọi khoảng cách về giá và thu nhập so với thế cân bằng chung, mọi quan hệ trao đổi không ở mức tối ưu. Theo ông, quan niệm của Marx thu hẹp bóc lột vào một quan hệ duy nhất (quan hệ lao động làm thuế) và một chiều duy nhất (chiều chủ tư bản bóc lột người làm thuê).

Pareto, một mặt, cho rằng cần mở rộng ý niệm bóc lột đến mọi quan hệ giữa các nhóm xã hội có lợi ích kinh tế khác nhau (công nhân/chủ nhân, người sản xuất/người tiêu dùng, người đóng thuế/người hưởng trợ cấp…): bóc lột không chỉ là những quan hệ kinh tế có hiện tượng độc quyền, mang tính cạnh tranh không hoàn hão, mà còn bao gồm những quan hệ chính trị (luật pháp, thuế khoá, chính sách bảo hộ… ) khi nó làm lệch hệ thống giá và thu nhập của thị trường canh tranh hoàn hảo.[10] Và để khái niệm hoá nội dung khái quát đó, Pareto sử dụng phạm trù “cướp đoạt” (spoliation) thay cho từ bốc lột [Pareto 1902-1903, 1, tr. 116].

Mặc khác, Pareto nhấn mạnh đến tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quan hệ cướp đoạt khác nhau: bởi vì một cá nhân có mặt cùng lúc trong nhiều nhóm lợi ích khác nhau, nó có thể là kẻ bị cướp trong quan hệ này và là kẻ cướp trong quan hệ khác; và một kẻ xem như bị cướp khi phân tích cục bộ có thể trở nên kẻ cướp khi phân tích tổng thể.[11] Song, tính đa dạng và phức tạp của các mỗi quan hệ đan chéo nhau khiến khó lòng xác lập bảng tổng kết cá nhân giữa cái được và cái mất: chỉ bằng cách đối chiếu hiện trạng cá nhân với thế tối ưu của cân bằng chung trong cạnh tranh hoàn hão mới có thể xác định ai được, ai mất trong hệ thống “cướp đoạt lẫn nhau” (spoliation réciproque) này [1902-1903, 1, tr. 121].

● Thuyết tân cổ điển ngày nay cho phép nói rõ hơn cân bằng chung của Walras tồn tại trong những điều kiện nào. Theo các giả thuyết của mô hình Arrow và Debreu, sự tồn tại của cân bằng chung đòi hỏi các thị trường vừa phải hoàn hão, vừa phải đầy đủ [Arrow và Debreu 1954; Debreu 1959]. Tính hoàn hão chỉ một hệ thống thị trường trong đó mỗi tác nhân mua hay bán đều xem giá cả là tham số độc lập với quyết định của cá nhân ấy (giá cả do một “bí thư thị trường” đưa ra sau khi tập trung các lệnh mua và bán); đồng thời, giá là thông tin duy nhất hướng dẫn quyết định của mọi tác nhân (nó có thể mua và bán không giới hạn mọi khối lượng hàng hoá). Tính đầy đủ chỉ một hệ thống thị trường trong đó mỗi tác nhân mua hay bán đều biết rõ giá cả của mọi hàng hoá hiện tại và tương lai (cho nên các tác nhân không có dự kiến, không có đầu cơ). Điều có thể nhận xét là khái niệm về hệ thống thị trường đầy đủ và cạnh tranh hoàn hão của các nhà lý luận tân cổ điển không ăn nhập gì với hiện thực của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, như mọi người có thể hiểu. Trước hết, nó là một hình thái tổ chức thị trường tập trung cực độ (theo mô hình của thị trường chứng khoán): các tác nhân mua bán không có quan hệ trực tiếp hàng ngang với nhau; mọi quan hệ đều là hàng dọc giữa các tác nhân với bí thư thị trường là người có nhiệm vụ dò dẫm, tìm ra cân bằng chung. Rồi khi giá cả cân bằng các thị trường được phát hiện thì các trao đổi cũng không được thực hiện song phương giữa các tác nhân mua và bán, mà phải tiến hành tập trung thông qua một cơ quan bù trừ. Còn có thể nhận xét rằng trong nền kinh tế này, một doanh nghiệp không thể hạ giá bán để cạnh tranh, và vấn đề tiêu thụ hàng không đặt ra; doanh nghiệp cũng không phải đối diện với bất trắc thực sự (bất trắc không thể qui thành xác suất), và vấn đề phá sản cũng không đặt ra.[12]

● Xác lập tính chuẩn tắc của cân bằng chung, Arrow và Debreu chứng minh rằng mọi thế cân bằng chung là một trạng thái tối ưu theo nghĩa Pareto, và ngược lại. Điều cần chú ý ở đây là, theo cách định nghĩa của Pareto, không có một mà vô số trạng thái tối ưu trong một nên kinh tế: một trạng thái tối ưu được định nghĩa trên cơ sở của một phép phân bổ ban đầu các nhân tố sản xuất giữa các cá nhân hình thành xã hội, cho nên có bao nhiêu phép phân bổ ban đầu khác nhau trong xã hội thì có bấy nhiêu trạng thái kinh tế tối ưu. Ngoài ra, tiêu chuẩn so sánh của Pareto không cho phép so sánh các trạng thái tối ưu này với nhau, tiêu chuẩn này cũng không cho phép nói rằng một trạng thái tối ưu nhất thiết là ưu việt so với một trạng thái không tối ưu: bởi vì chỉ cần có một người bị thua thiệt khi xã hội chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác là các trạng thái đó không thể so sánh được với nhau.[13]

● Pareto giải thích bóc lột là cướp đoạt khi giá và thu nhập chênh lệch so với cân bằng chung do cạnh tranh trên thị trường không được hoàn hão. Lập luận này “hoàn toàn đối lập” với cách đặt vấn đề của Marx theo đó bóc lột lao động làm thuê không phải là “cướp đoạt” bởi vì, “khi đã trả đúng giá trị sức lao động cho công nhân, nhà tư bản có trọn quyền trên giá trị thặng dư”. Qui luật trao đổi ngang giá không hề bị vi phạm khi chủ tư bản chiếm hữu giá trị thăng dư: “Theo qui luật giá trị chi phối nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư phải thuộc về nhà tư bản chứ không thuộc về người công nhân” [Marx 1880, tr. 463 và 483]. Trong khuôn khổ của học thuyết tân cổ điển, cách đặt vấn đề của Pareto hàm ý có thể sát nhập các thị trường không hoàn hão vào lý luận về cân bằng chung. Tuy nhiên, cho đến nay, các nỗ lực nhằm xác lập cân bằng chung trong điều kiện cạnh tranh mang tính độc quyền đều không đưa đến kết quả thoả đáng, cho nên không thể biết được chọn lựa tối ưu của các tác nhân, trong trường hợp này, là gì. Điều này giải thích vì sao những nhà lý luận tân cổ điển có xu hướng bỏ chương trình nghiên cứu đó và trở lại với khung lý luận về cân bằng riêng phần để mô hình hoá cạnh tranh không hoàn hão.[14]

II. Bốc lột và tính bất bình đẳng trong phân bổ của cải ban đầu

Những năm 80 của cuối thế kỷ thứ 20 chứng kiến sự khủng hoảng của học thuyết Marx trước đà phá sản của chủ nghĩa xã hội hiện thực và, trong bối cảnh này, đã xuất hiện “học thuyết Marx phân tích” (analytical marxism) – tựa tập sách mà Roemer [1986] là chủ biên – chủ trương đọc lại Marx không thông qua các khái niệm của Marx, từ bỏ phương pháp luận biện chứng của bộ Tư bản để chỉ giữ lại nội dung cốt lõi của nó. Đề án của Roemer, còn mang tên “học thuyết Marx về sự chọn lựa thuần lý” (rational choice marxism), là sử dụng thuyết tân cổ điển về cân bằng cạnh tranh hoàn hão của Walras thay cho thuyết về giá trị của Marx; đó là xây dựng nền tảng kinh tế vi mô của học thuyết Marx để phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như là kết quả của những chọn lựa tối ưu theo nghĩa Pareto của các cá nhân tự do và thuần lý. Roemer đã không mặc cảm phát biểu rằng: “Chúng ta vận dụng các phương pháp do những nhà lý luận chống Marx khởi xưởng thì sao? Cớ sao phải để cho quỷ các vũ khí hữu hiệu nhất?” [Roemer 1986, tr. 192-193].

Với cách đặt vấn đề đó, A General Theory of Exploitation and Class [1982] phân tích bóc lột là kết quả của sự chọn lựa tối ưu của các tác nhân kinh tế bị ràng buộc bởi vốn của cải ban đầu của mình. Khởi đi từ định nghĩa bóc lột là “trao đổi bất bình đẳng” trên cơ sở của lao động, Roemer sử dụng thuyết trò chơi để đi đến một định nghĩa “khái quát”, trong đó khái niệm của Marx về bốc lột tư bản chủ nghĩa chỉ là “trường hợp riêng”, bên cạnh khái niệm “tân cổ điển” tương ứng với bóc lột phong kiến, và các khái niệm “mới” về bóc lột xã hội chủ nghĩa có phân biệt chủ nghĩa xã hội theo Marx và chủ nghĩa xã hội hiện thực. Khái quát hoá khái niệm bóc lột là cần thiết để phân tích những điều mà Roemer gọi là “bất bình thường” của các nước xã hội chủ nghĩa hiện thực, trong đó có chiến tranh giữa các nước này với nhau, mà biểu hiện lúc ấy là xung đột giữa Việt Nam với Trung Quốc và Campuchia [Roemer 1982, Lời nói đầu].

1. “Trao đổi bất bình đẳng”. Roemer bắt đầu bằng định nghĩa bóc lột trên cơ sở của lao động. Một tác nhân kinh tế bị bốc lột khi thời gian mà nó phải lao động nhiều hơn thời gian lao động chứa đựng trong các tư liệu sinh hoạt của nó. Hay nói cách khác: Khái niệm bóc lột chỉ quan hệ trao đổi không bình đẳng khi lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá mà người lao động mua với thu nhập của nó thấp hơn lượng lao động mà nó phải cung cấp để có thu nhập đó. Nhằm phân tích các hệ quả của định nghĩa này, ông sử dụng những mô hình đơn giản về kinh tế hàng hoá tái sản xuất giản đơn (không tích luỹ) với cấu trúc như sau:

● mọi tác nhân kinh tế có sở thích giống nhau (sau thời gian lao động tất yếu, họ đều chọn sự rảnh rỗi hơn là tiếp tục lao động) và có sức lao động giống nhau (lao động cũng được giả định là thuần nhất);

● nền kinh tế chỉ làm ra một sản phẩm duy nhất (vừa là tư liệu sinh hoạt, vừa là tư liệu sản xuất, tức tư bản theo nghĩa tân cổ điển) với hai kỹ thuật sản xuất khác nhau: kỹ thuật A (hiệu quả cao) kết hợp lao động với tư bản và kỹ thuật B (hiệu quả thấp) chỉ sử dụng có lao động;

● có hai phép phân bổ ban đầu vốn tư bản (tư liệu sản xuất) cho các tác nhân kinh tế: bình đẳng (mỗi người có vốn tư bản bằng nhau) hoặc bất bình đẳng (một số ít người chia nhau tất cả tư bản, số lớn còn lại là vô sản).

Từ đó, Roemer khảo sát bốn mô hình [Roemer 1982 và 1988]:

● Mô hình kinh tế 1: Vốn tư bản được phân bổ bình đẳng, không có thị trường lao động và không có thị trường tư bản. Các tác nhân đều tự lao động sản xuất với vốn tư bản của mình (kỹ thuật A) hay với kỹ thuật B (khi không còn tư bản), và không có trao đổi.

● Mô hình kinh tế 2: Vốn tư bản được phân bổ bình đẳng, có thị trường lao động và không có thị trường tư bản. Trong xã hội, hình thành hai giai cấp tuỳ theo chỗ đứng của tác nhân trên thị trường lao động: giai cấp của các tác nhân chọn lựa phân chia thời gian lao động giữa tự lao động sản xuất và lao động làm thuê, tuỳ theo mức lương cân bằng thị trường; giai cấp của các tác nhân tự lao động sản xuất đồng thời thuê mướn thêm sức lao động của người khác.

● Mô hình kinh tế 3: Vốn tư bản được phân bổ bất bình đẳng, có thị trường lao động và không có thị trường tư bản. Xã hội gồm hai giai cấp: giai cấp của các tác nhân vô sản, chọn lựa – vì mức lương trên thị trường – là không tự lao động sản xuất (theo kỹ thuật B) để bán sức lao động cho người khác; giai cấp của các tác nhân chủ tư bản, không lao động mà chỉ mua sức lao động của người khác (nếu tất cả vốn tư bản không đủ để sử dụng tất cả sức lao động thì sẽ tồn tại một giai cấp thứ ba: những người lao động làm thuê đồng thời phải tự lao động sản xuất thêm theo kỹ thuật B).

● Mô hình 4: Vốn tư bản được phân bổ bất bình đẳng, có thị trường tư bản và không có thị trường lao động. Xã hội có hai giai cấp: giai cấp các tác nhân chủ tư bản không lao động, không sản xuất mà chỉ cho vay vốn; giai cấp của các tác nhân vô sản thực hiện sản xuất theo kỹ thuật A với lao động của chính họ và vốn tư bản mà họ vay mượn.

Ở thế căn bằng của mỗi mô hình, khi các tác nhân kinh tế đều đạt thế tối ưu trong các trao đổi, Roemer nhận xét:

● Mô hình 1 và 2 đưa đến kết quả đồng nhất: không có quan hệ bóc lột, và thời gian lao động cũng như thu nhập của các tác nhân đều giống nhau ở hai nền kinh tế 1 và 2.[15]

● Mô hình 3 và 4 đưa đến kết quả đồng nhất: các tác nhân lao động, dù làm thuê hay không, đều bị bóc lột; thời gian mà họ lao động nhiều hơn ở hai nền kinh tế 1 và 2, nhờ đó mà giai cấp chủ tư bản có thể hưởng thụ mà không cần lao đông; lãi suất trong nền kinh tế 4 ngang bằng tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế 3.[16]

Từ đó Roemer rút ra các kết luận như sau:

● Nguyên nhân của bóc lột là tính khan hiếm tư bản so với lao động và tính bất bình đẳng trong sở hữu tư nhân.

● Quan hệ bóc lột độc lập với quan hệ lao động làm thuê: bóc lột có thể tồn tại trong khi không có thị trường lao động; cũng như thị trường lao động có thể hiện hữu mà không có bóc lột.

● Tính bất bình đẳng trong các trao đổi không xuất phát từ tính thiếu cạnh tranh trên thị trường, mà bắt nguồn từ phép phân bổ của cải ban đầu trong xã hội: người có ít tư bản chịu sự bóc lột của người có nhiều tư bản hơn.

Đẩy lập luận này đến cùng, Roemer xây dựng mô hình trao đổi bất bình đẳng để chứng minh rằng bóc lột không cần có các thị trường lao động, tư bản hay về nhân tố sản xuất nào khác: nó chỉ cần thị trường sản phẩm hàng hoá mà thôi. Mô hình này cho phép ông lý giải quan hệ bóc lột xuất hiện giữa các nước xã hội chủ nghĩa với nhau.

Sau khi xác lập các kết quả này, Roemer khảo sát các giới hạn của định nghĩa bốc lột trên cơ sở của lao động. Ông cho thấy định nghĩa đó thiếu tính khái quát, không cho phép phân tích thoả đáng quan hệ bóc lột khi phải mở rộng những mô hình nói trên và hạn chế các giả thuyết: như khi các tác nhân kinh tế có sở thích khác nhau đối với thời gian lao động và thời gian rảnh rỗi; khi sức lao động của các tác nhân không còn bằng nhau; hay khi không còn giả định rằng lao động có tính thuần nhất nữa. Chẳng hạn: Một mô hình kinh tế, trong đó các tác nhân giàu thích lao động hơn và các tác nhân nghèo thích rảnh rỗi hơn, đưa đến nghịch lý là người nghèo (lười biếng) bóc lột người giàu (siêng năng). Để có được một khái niệm xác đáng hơn về bóc lột, Roemer cho rằng cần định nghĩa lại nó, cần từ bỏ lập luận dựa trên lao động và điều đó, đối với ông, có nghĩa là phải từ bỏ cách đặt vấn đề của Marx về giá trị và giá trị thăng dư.

2. “Khái niệm khái quát về bóc lột”. Vận dụng phương pháp luận của thuyết trò chơi, Roemer đề xuất định nghĩa cơ bản và khái quát như sau về bóc lôt: một cá nhân hay tập thể được xem như bị bóc lột nếu, cũng trong nền kinh tế đó, một phép phẩn bổ của cải ban đầu mang tính bình đẳng sẽ cải thiện tình cảnh của nó về mặt lợi ích. Hay nói một cách khác: một cá nhân hay tập thể được xem như bị bóc lột nếu nó có thể cải thiện tình cảnh của nó về mặt lợi ích khi nó “rút lui” khỏi nền kinh tế với phần vốn của cải (bình quân theo đầu người) của nó. Một cách chính xác hơn, quan hệ bóc lột trong một xã hội, giữa một nhóm S và nhóm còn lại S’, đòi hỏi hai điều kiện: 1) Có thể quan niệm được một “giải pháp thay thế” (alternative), như là giả thuyết khả dĩ thực hiện được, trong đó tình cảnh của S sẽ tốt hơn so với hiện tại. 2) Trong trường hợp đó, tình cảnh của S’ sẽ xấu hơn so với hiện nay.

Tính cơ bản của định nghĩa nói trên ở chỗ nó không dừng ở chỗ tương quan trao đổi có bình đẳng hay không mà đi sâu vào nguồn gốc là quyền sở hữu ban đầu trong xã hội có được phân bổ bình đẳng hay không. Tính khái quát của định nghĩa đó ở chỗ nó không chỉ áp dụng với sức lao động hay tư bản mà với mọi vốn của cải ban đầu khác của các tác nhân kinh tế. Nó cho phép Roemer phân loại bốn hình thái bóc lột có tính lịch sử mà ông phân tích như là bốn “trò chơi” khác nhau [Roemer 1982; Wright 1985].

● Bóc lột phong kiến: Quan hệ bóc lột ở đây bắt nguồn từ phép phân bổ bất bình đẳng quyền sở hữu về sức lao động. Chúa phong kiến có quyền sở hữu không chỉ trên sức lao động của bản thân nó mà cả trên sức lao động của nông nô; trong khi nông nô không có quyền sở hữu trên sức lao động của ai khác và chỉ sở hữu một phần sức lao động của mình (bởi mối quan hệ phụ thuộc cá nhân đối với chúa phong kiến). Nếu nông nô rút lui khỏi trò chơi phong kiến với phần vốn của cải bình quân/người của nó (gồm sức lao động, đất đai và các nhân tố sản xuất), tình cảnh của nó sẽ tốt hơn, tình cảnh của chúa phong kiến sẽ xấu đi. Theo Roemer, chế độ bóc lột phong kiến tương ứng với quan niệm tân cổ điển về bóc lột, theo đó các trở ngại trong tự do trao đổi giải thích vì sao thu nhập của tác nhân kinh tế thấp hơn năng suất biên của nhân tố sản xuất.

● Bóc lột tư bản chủ nghĩa: Khi các tác nhân có quyền sở hữu bình đẳng trên sức lao động, quan hệ bóc lột xuất phát từ phép phân bổ bất bình đẳng quyền sở hữu về tư liệu sản xuất. Người làm thuê chỉ làm chủ sức lao động của nó và không được chia tư liệu sản xuất, là độc quyền sở hữu của chủ tư bản. Nếu người làm thuê rút ra khỏi trò chơi với chủ tư bản và mang theo phần vốn bình quân/người của nó về tư liệu sản xuất và các nhân tố sản xuất khác thì tình cảnh của nó được cải thiện, trong khi tình cảnh của chủ tư bản suy thoái. Roemer cho rằng tính “ưu việt” của định nghĩa về bóc lột mà ông đề xuất, so với định nghĩa cổ điển của Marx, ở chỗ nó làm rõ giả thuyết “đạo lý” của bộ Tư bản: giải pháp thay thế chủ nghĩa tư bản là mọi người được quyền sở hữu ngang nhau trên các tư liệu sản xuất.

●Bóc lột của chủ nghĩa xã hội theo Marx: Khi các tác nhân có quyền sở hữu bình đẳng trên sức lao động và trên tư liệu sản xuất, cơ sở của quan hệ bóc lột là các tác nhân không có năng lực ngang nhau, là tính bất bình đẳng trong sở hữu “kỹ năng” (skill). Giải pháp thay thế – cho phép xác định người có kỹ năng thấp và thù lao thấp có bị bóc lột hay không – là giả thiết rằng nó đạt được mức kỹ năng bình quân của xã hội. Trong trường họp này, nếu mức thù lao cao của người có năng lực cao suy giảm thì điều đó có nghĩa là mức thù lao này trước đây không chỉ cao do trình độ năng lực và chi phí đào tạo nó, mà còn cao vì cơ chế bóc lột duy trì tính bất bình đẳng về năng lực, tạo ra sự khan hiểm về kỹ năng. Tuy Marx không có phân tích hình thái bóc lột này, Roemer nhận xét rằng, trong Phê phán cương lĩnh Gotha [1875], ông nhấn mạnh đến tính chất không bình đẳng của chủ nghĩa xã hội mà cơ sở là tính bất bình đẳng của các năng lực cá nhân, và biểu hiện là phép phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”.

● Bóc lột trong chủ nghĩa xã hội hiện thực: Bên cạnh hình thái bóc lột xã hội chủ nghĩa thuần tuý, các nước xã hội chủ nghĩa hiện thực cho thấy có một cơ chế bóc lột dựa trên “cương vị” (status) trong xã hội và tính bất bình đẳng của phép phân bổ “đặc quyền, đặc lợi” cho các tác nhân ở cương vị cán bộ. Các tác nhân khác bị bóc lột nếu có thể chứng minh được rằng, trong thu nhập thực tế của cán bộ lãnh đạo và quản lý, có một phần không thể nào giải thích là thù lao của khả năng lãnh đạo và quản lý; tức là tình cảnh của họ sẽ được cải thiện nếu họ rút ra khỏi trò chơi với cán bộ và mang theo vốn bình quân về năng lực của họ. Roemer nhận xét rằng vấn đề nêu ra ở đây tương tự như đối với bóc lột phong kiến: lợi ích của các tác nhân không có cương vị quyền lực là xoá bỏ cơ chế đặc lợi, đặc quyền gắn với cương vị lãnh đạo và quản lý, là dân chủ hoá bộ máy quyền lực.

Có thể tổng hợp phân tích nói trên như sau. Chế độ phong kiến gồm bốn cơ chế bóc lột mà cơ sở là quyền sở hữu bất bình đẳng trên sức lao động, tư liệu sản xuất, cương vị xã hội và kỹ năng. Sau khi cách mạng tư sản thiết lập quyền tự do con người, chủ nghĩa tư bản duy trì ba cơ chế bóc lột dựa trên tư liệu sản xuất, cương vị xã hội và kỹ năng. Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến hành xã hội hoá các tư liệu sản xuất, trong chủ nghĩa xã hội hiện thực còn lại hai cơ chế bóc lột dựa vào cương vị xã hội và kỹ năng. Trong chủ nghĩa xã hội theo Marx vẫn tồn tại một cơ sở để bóc lột là kỹ năng.

Hình thái bóc lột và cơ sở của nó

Sức lao động

Tư liệu
sản xuất

Cương vị
xã hội

Kỹ năng

Chế độ phong kiến

+

+

+

+

Chủ nghĩa tư bản

0

+

+

+

Chủ nghĩa xã hội hiện thực

0

0

+

+

Chủ nghĩa xã hội theo Marx

0

0

0

+

Để phân tích trong những điều kiện nào xã hội loại bỏ một hình thái bóc lôt, Roemer đề xuất khái niệm “chế độ bóc lột cần thiết hay không cần thiết cho xã hội” (socially necessary/unnecessary exploitation): một hình thái bóc lột được xem là cần thiết cho xã hội khi việc loại bỏ nó đưa đến thay đổi phương thức kích thích cá nhân, làm cho tình cảnh người bị bóc lột – sau khi rút ra khỏi trò chơi – trở nên tồi tệ hơn trước (ngược lại, nếu tình cảnh của người trước đây bị bóc lột được cải thiện thì có thể nói rằng hình thái bóc lột đó không cần thiết cho xã hôi). Chẳng hạn: Trong chủ nghĩa xã hội hiện nay, chế độ bóc lột biểu hiện qua một phương thức kích thích người có tài năng bằng lợi ích vật chất. Nếu xoá bỏ nó, các kỹ năng thuộc trình độ cao có thể không phát triển được nữa, thậm chí có thể biến mất khỏi nền kinh tế, với hậu quả là cuộc sống của cả xã hội (chứ không chỉ riêng các người có tài năng) bị đẩy lùi về một tình cảnh tệ hơn chủ nghĩa xã hội. Điều này có nghĩa là, trong thời điểm lịch sử hiện nay, xã hội chưa có cách sử dụng hiệu quả các tài năng nếu không chấp nhận một phép phân phối bất bình đẳng và, với ý nghĩa đó, chế độ bóc lột xã hội chủ nghĩa là cần thiết cho xã hội hiện tại.

Cuối cùng, phân tích của Roemer kết thúc một cách khá chính thống. Ông cho rằng thuyết khái quát về bóc lột hoàn toàn ăn khớp với lý luận duy vật lịch sử của Marx. Quá trình nối tiếp các hình thái bóc lột chính là quá trình xã hội loài người phát triển sức sản xuất qua đấu tranh giai cấp và các cuộc cách mạng loại bỏ tuần tự các chế độ bóc lột không cần thiết cho xã hội. Đó cũng là quá trình thu hẹp dần quyền tư hữu trên các lực lượng sản xuất, xác lập quan hệ sở hữu ngày càng bình đẳng hơn hay, nói cách khác, là xã hội hoá lực lượng sản xuất. Quá trình này kết thúc khi xã hội loài người tiến tới xã hội hoá nhu cầu, thực hiện phép phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” của chủ nghĩa cộng sản: ở đây, xã hội đạt đến bình đẳng thực sự và, theo nghĩa đó, không có bóc lột nữa.

Đồng thời, Roemer trình bày lý thuyết khái quát về bóc lột như là sự phê phán luận điểm của chủ nghĩa tự do theo đó tự do chọn lựa đảm bảo không có bóc lột trong xã hội. Trong Free to lose, một tác phẩm năm 1988 mà tựa đề đối chọi lại Free to choose của Rose và Milton Friedman, Roemer xác lập rằng trong một xã hội có chọn lựa tự do vẫn có người bị thua thiệt: tự do chọn lựa là điều kiện cần nhưng không đủ để loại bỏ bóc lột.

Thuyết Roemer được nhiều người đánh giá như là học thuyết Marx hiện đại. Nó đổi mới quan niệm về bóc lột, phát giác những hình thái mới mà đáng chú ý nhất là phân tích về bóc lột gắn liền với phép phân bổ bất bình đẳng các năng lực, tri thức trong xã hội. Song, nỗ lực của Roemer nhằm mở rộng trên nhiều chiều khái niệm bóc lột cùng lúc thu hẹp trên nhiều mặt nhận thức về bóc lột mà Marx đã khái niệm hoá. Chí ít, có thể nêu những điểm tranh luận sau đây.

1. Đối với Roemer, thuyết khái quát về bóc lột là sự vận dụng “giả thuyết duy vật lịch sử” – mà ông xem là “trực giác cơ bản” của Marx – với những khái niệm hiện đại, trong những điều kiện của cuối thế kỷ thứ 20. Ông cho rằng “học thuyết kinh tế của Marx là nỗ lực của một nhà kinh tế của thế kỷ thứ 19 nhằm sử dụng phương pháp duy vật lịch sử trong phân tích xã hội của thế kỷ thứ 19. Các khái niệm và phạm trù có ích cho Marx lúc đó không nhất thiết là những khái niệm và phạm trù có ích để phân tích xã hội ở cuối thế kỷ thứ 20” [Roemer1982, Lời mở đầu]. Tuy nhiên, điều mà người đọc Roemer không thể không nhận xét là ông để qua một bên các phạm trù đặc thù của Marx để sử dụng lại các phạm trù của kinh tế chính trị học (“cổ điển” và cả “tầm thường” theo phân loại của Marx) hình thành vào cuối thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19, mà học thuyết Marx đã phê phán tính chất sùng bái hoá [Marx 1872]. Chẳng hạn như phạm trù tư bản: Theo quan điểm phê phán của Marx, tư bản không phải là vật (tư liệu sản xuất hay tiền vốn ứng ra) mà là quan hệ xã hội có tính lịch sử. Đó là một quan hệ bóc lột đặc thù ở chỗ thặng dư lao động trong xã hội bị chiếm đoạt thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá, dưới hình thái giá trị, tức tiền tệ. Trong khi đó, theo chân kinh tế học tầm thường, Roemer định nghĩa tư bản là một vật (lúa giống), là tư liệu sản xuất, phạm trù siêu lịch sử, có mặt trong mọi hình thái xã hội.

Đó cũng là trường hợp của phạm trù sức lao động mà Roemer, theo kinh tế học cổ điển, quan niệm là hàng hoá như mọi hàng hoá khác. Ông không nhận thấy khác biệt cơ bản giữa sức lao động và hàng hoá mà Marx đã vạch ra: khác với mọi quá trình sản xuất hàng hoá, quá trình tái sản xuất sức lao động không phải là quá trình sản xuất ra giá trị (giá trị trao đổi của sức lao động chỉ gồm có giá trị trao đổi của tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người làm công, không hề có giá trị tăng thêm), và càng không phải là quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa (giá trị trao đổi của sức lao động không hề có giá trị thặng dư). Đối với Marx, trước khi chỉ giá trị trao đổi của hàng tiêu dùng mà người làm công cần mua, giá trị trao đổi của sức lao động chỉ phép phân chia giá trị mới do sức lao động làm ra (giá trị tăng thêm) giữa người lao động làm thuê và chủ tư bản, tuỳ theo tương quan sức mạnh giữa hai giai cấp. Cho nên, trong quan hệ mua bán sức lao động, điều mà người làm công bán ra không phải là một hàng hoá, mà là sự phục tùng chủ tư bản trong thời gian lao động; cũng như điều mà chủ tư bản mua không phải là một hàng hoá, mà là quyền chỉ huy người làm công trong suốt ngày lao động đó [Marx 1872].

2. Có ý nghĩa hơn nữa là cách Roemer xử lý phạm trù lao động: Khi nói đến thời gian mà một tác nhân chọn dành cho lao động (thay vì cho rảnh rỗi), Roemer vận dụng phạm trù của kinh tế học vi mô là lao động có tính cách cá nhân và mang tính chất lao động cụ thể, nhưng đồng thời giả định nó là thuần nhất. Roemer không hề biết rằng phạm trù lao động trong thuyết Marx về giá trị là lao động xã hội, lao động dưới hình thái trừu tượng mà biểu hiện vật thể là tiền tệ. Cho nên, ông không thể hiểu rằng giá trị không biểu hiện trong lao động, và lượng giá trị không đo bằng thời gian lao động, mà ngược lại: lao động biểu hiện thành giá trị, và thời gian lao động đo bằng lượng giá trị; còn giá trị thì thể hiện thành tiền tệ, và lượng giá trị thì đo bằng lượng tiền tệ; hay nói cách khác, tiền tệ là vật ngang giá của các hàng hoá và là đơn vị đo lường giá trị của chúng. Ngược nghĩa hoàn toàn với điều Marx viết, Roemer cho rằng đặc điểm của thuyết Marx là chọn lao động để đo lường giá trị – một luận điểm mà Marx, từ đầu và liên tục, vạch rõ sự sai trái, đặc biệt khi ông phê phán các tác giả chủ trương chủ nghĩa xã hội trên cơ sở của kinh tế học cổ điển Ricardo [Marx 1857-1858; 1859; 1872].

Từ đó, Roemer phê phán Marx và thuyết về bóc lột căn cứ trên khái niệm thặng dư giá trị: khẳng định của Marx cho rằng lao động bị bóc lột, thật ra, chỉ căn cứ trên chọn lựa lao động làm đơn vị đo lường đầu vào và đầu ra trong một nền kinh tế có sản phẩm thặng dư. Nếu chọn lựa một hàng hoá khác, như ngô bắp, làm đơn vị đo lường chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào trong nền kinh tế thì ngô bắp sẽ bị bóc lột thay vì là sức lao động. Đó là định lý khái quát về bốc lột hàng hoá: mọi hàng hoá đều có thể bị bóc lột chứ không riêng gì sức lao động. Đối với Roemer, thuyết giá trị căn cứ trên lao động của Marx không có ý nghĩa gì khác hơn là lao động, thay vì ngô bắp hay hàng hoá nào khác, được chọn làm đơn vị đo lường giá trị.

3. Roemer công nhận rằng bóc lột lao động và bóc lột ngô bắp không mang ý nghĩa xã hội giống nhau: bóc lột lao động đặt ra một vấn đề “đạo lý” là tính “công bằng” trong xã hội, cho nên “nếu bóc lột người lao động là một khái niệm quan trọng, đó là vì nó chỉ một sự bất công, chứ không phải tại vì bóc lột sức lao động là nguồn lợi nhuận duy nhất” [Roemer 1988, trg. 54]. Khoảng cách đối với cách Marx đặt vấn đề bóc lột càng rõ: tác giả của Tư bản luôn luôn từ chối nêu lên bóc lột như là một vấn đề đạo lý, và không hề phân tích bóc lột lao động làm thuê là điều bất công. Bởi vì, theo Marx, công bằng không phải là một phạm trù tự nhiên, mà nội dung của nó do mỗi phương thức sản xuất quyết định [Marx 1864-1865]. Nói đến công bằng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là nói đến các nguyên tắc trao đổi ngang giá và pháp quyền bình đẳng, cho nên đòi công bằng, ở đây, không khác nào là đòi chủ nghĩa tư bản. Còn nếu nhắm đến công bằng của chủ nghĩa cộng sản – như Roemer – thì đó chỉ có thể là một lý tưởng, trong khi – đối với Marx – “chủ nghĩa cộng sản không phải là một lý tưởng mà hiện thực sẽ phải khuôn theo. Chúng tôi gọi chủ nghĩa cộng sản là sự vận động hiện thực xoá bỏ trạng thái của sự vật hiện nay” [Marx 1846].

Theo cách đặt vấn đề của Marx, đằng sau quan hệ trao đổi ngang giá giữa lao động làm thuê và tư bản trong quá trình lưu thông hàng hoá là quan hệ thống trị của tư bản trên lao động làm thuê trong quá trình lao động sản xuất. Còn theo Roemer thì đằng sau quan hệ trao đổi bất bình đẳng giữa lao động làm thuê và tư bản là phép phân phối không bình đẳng của cải ban đầu trong xã hội. Với cách đặt vấn đề này, Roemer không quan tâm đến các quan hệ xã hội trong quá trình lao động, và quên rằng Tư bản phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư – tuyệt đối và tương đối – như là quá trình xác lập sự phục tùng của người lao động làm thuê đối với chủ tư bản trong lao động sản xuất. Về sau, Roemer có đưa vào định nghĩa của khái niệm bóc lột một điều kiện thứ ba theo đó: nhóm bóc lột (S’) phải “có ưu thế” trong tương quan với nhóm bị bóc lột (S). Qua điều kiện này, Roemer muốn tránh xảy ra tình trạng nhóm bị bóc lột phân bổ lại tài sản ban đầu, chứ ông không nhắm tương quan thống trị giữa chủ tư bản và người làm công trong quá trình lao động [Roemer 1982b]. Mặt khác, Roemer thừa nhận bóc lột có liên quan với thống trị, song điều đó, theo ông, không mang tính tất yếu [Roemer 1982c]. Roemer còn thử giải thích tương quan thống trị của chủ tư bản trên người làm công bởi tính khiếm khuyết, không đầy đủ của hợp đồng lao động [Roemer 1986b]. Cuối cùng, sau khi gạt quan hệ lao động ra khỏi định nghĩa khái quát của khái niệm bóc lột, Roemer đành đưa nó trở vào dưới hình thức một “điều khoản lao động” (labor clause) nhằm phân biệt, theo ông, bóc lột với những dạng bất công khác [Roemer 1989].

Sự chần chừ, lúng túng và nhập nhằng này của Roemer biểu hiện một khuyết điểm lớn của thuyết khái quát về bóc lột: nó không cho phép nhận thức một cách chính xác hiện thực quan hệ bóc lộc lao động làm thuê trong chủ nghĩa tư bản. Nó cũng không cho phép phân tích một cách xác đáng các cơ chế bóc lột trong chủ nghĩa xã hội hiện thực. Đó chính là giới hạn của đấu tranh giai cấp nhìn như là trò chơi.

Thay lời kết luận

Nêu lên vấn đề bóc lột trong nước Việt Nam hiện nay là một điều, dường như, không mấy thức thời. Thoạt tiên, đối với không ít người, từ ‘bóc lột’ – cũng như từ ‘giai cấp’ thường đi kèm – gợi lên ký ức của quá khứ hãi hùng: nó nhắc lại những trang lịch sử đen tối của đấu tố địa chủ, của các chiến dịch đánh tư sản và cải tạo công thương nghiệp… Cơ bản hơn, trong khi công cuộc phát triển kinh tế hiện tại đòi hỏi phải trấn an tâm lý của giới doanh nhân, tạo không khí tin tưởng cần thiết, thì đặt lại vấn đề bóc lột có thể làm cho người muốn kinh doanh, đầu tư nản lòng, chùn bước. Trong viễn cảnh của một nước Việt Nam tiếp tục ‘đổi mới’, phải chăng không nên nêu vấn đề này để thảo luận nữa?

Nếu người ta có thể cảm thông lý do tâm lý nói trên, song khó có thể bảo vệ quan điểm thực dụng đó về mặt lý luận, chí ít ngày nào bóc lột vẫn là một khái niệm khoa học. Bởi, cho dù gọi nó tên gì đi nữa, bóc lột chỉ một hiện thực bất biến của lịch sử loài người cho đến nay: từ xã hội này sang xã hội khác, dưới những hình thái khác nhau, quyền lực xã hội nằm trong tay của nhóm các người định đoạt sản phẩm thặng dư và sử dụng nó để tái sản xuất trật tự xã hội mà họ đứng đầu. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cơ chế bóc lột đó mang một hình thái kinh tế đặc thù là giá trị (mối quan hệ của người lao động làm thuê với tiền tệ), và nó mang một hình thái chính trị đặc thù là dân chủ (mối quan hệ của người công dân với nhà nước pháp quyền). Trước hiện thực này, các nhà lý luận có thể có hai thái độ: hoặc xây dựng một khái niệm khoa học về bóc lột nhằm phân tích một cách có hệ thống các hình thái xã hội đặc thù và khả năng của xã hội vượt lên các hình thái đó; hoặc xây dựng những ý niệm tư tưởng hệ về bóc lột nhằm tránh né hiện thực nói trên, che lấp nó đằng sau những quan hệ khác, mang tính tự nhiên, tức là sùng bái hoá nó.

Trong các nhà lý luận, có thể nói rằng Marx thuộc phạm trù thứ nhất, cho dù khái niệm về giá trị thặng dư mà ông xây dựng lên còn khiếm khuyết hay có nhiều mặt nhặp nhằng cần tranh cãi. Và, cho dù không đồng ý với các luận điểm của Roemer – đó là trường hợp của bản thân tôi -, nỗ lực của ông để đổi mới học thuyết Marx – cũng như mọi cố gắng đọc lại Marx một cách khác hơn trước đây – là điều đáng trân trọng. Sở dĩ học thuyết Marx đã lâm vào khủng hoảng, chính là vì quyền tự do tư tưởng trong tiếp cận Marx không được tôn trọng: trong một thời gian quá dài, nhân danh những lý lẽ chính trị thực dụng, chủ nghĩa xã hội ‘hiện thực’ đã áp đặt một cách đọc Marx duy nhất, triệt tiêu mọi cách đọc khác bị qui chụp là tà thuyết. Năm 1998, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có sáng kiến cho dịch ra và ấn hành tập sách Marx, l’intempestif [Mác, người vượt trước thời đại] của Daniel Bensaid trong đó tác giả bàn về thuyết khái quát về bóc lột của Roemer; tuy nhiên, nhà xuất bản tự cho phép mình gạt bỏ ra ngoài bốn trang trong tác phẩm gốc nói về hình thái bóc lột trong chủ nghĩa xã hội hiện thực [Bensaid 1995, tr. 192-196; bản tiếng Việt, tr. 291]: ắt không phải là cách hay nhất để tranh luận và phản biện các luận điểm của Roemer.

Tài liệu dẫn

Arrow, K. và Debreu, G [1954], ‘Existence of an equilibrium for a competitive economy’, Econometrica, Bộ 22.

Bensaid, D. [1995], Marx, l’intempestif, Fayard. Bản dịch tiếng Việt: Mác, người vượt trước thời đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1998.

Chamberlin, E.H. [1933], The theory of monopolistic competition, Harvard University Press.

Debreu, G [1954], Théorie de la valeur, Dunod 1966.

Guerrien, B. [1989], Concurrence, flexibilté et stabilité, Economica.

Guerrien, B [2000], ‘La théorie de l’équilibre général depuis 1939’, trong A. Béraud, G. Faccarello (chủ biên), Nouvelle histoire de la pensée économique, t. 3, La Découverte.

Marx, K. [1846], L’idéologie allemande, Editions Sociales 1976.

Marx, K [1857-1858], Manuscrits de 1857-1858, Editions Sociales 1980.

Marx, K [1859], Contribution à la critique de l’économie politique, Editions Sociales 1957.

Marx, K [1872], Le Capital, Livre I, Editions Sociales 1962.

Marx, K [1875], Critique du programme de Gotha, Editions Sociales 1966.

Marx, K [1880], ‘Notes marginales sur le Traité d’économie politique d’Adolphe Wagner’, in K. Marx, Le Capital, Livre II, Editions Sociales 1976.

Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Quốc Tế, Lương Minh Cừ (chủ biên) [2003], Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

Pareto, V. [1902-1903], Les systèmes socialistes, Droz 1965.

Pareto, V. [1909], Manuel d’économie politique, Droz 1981.

Robinson, J. [1933], The economics of imperfect competition, Macmillan 1969.

Robinson, J. [1953], ‘Imperfect competition revisited’, The Economic Journal, September.

Roemer, J.E. [1982], A general theory of exploitation and class, Havard University Press.

Roemer, J.E. [1982b], ‘Exploitation, alternatives and socialism’, Economic Journal, March, in J.E. Roemer [1994]

Roemer, J.E. [1982c], ‘Reply’, Politics and Society, vol. 11, n°3.

Roemer, J.E. (ed) [1986], Analytical marxism, Cambridge University Press.

Roemer, J.E. [1986b], Value, exploitation and class, Harwood Academic Pub.

Roemer, J.E. [1988], Free to lose, Harvard University Press.

Roemer, J.E. [1989], ‘Should marxists be interested in exploitation’, in J.E. Roemer [1994]

Roemer, J.E. [1994], Egalitarian perspectives, Cambridge University Press.

Wright E.O. [1985], Class, Verso.


Chú thích

[1]Cuộc thảo luận đã trở nên công khai sau Hội nghị ban chấp hành trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam tháng 3 năm 2002. Theo uỷ viên bộ chính trị Nguyễn Minh Triết (bí thư thành uỷ Thành Phố Hồ Chí Minh), “Đảng thừa nhận sự bất cập về mặt lý luận” trên vấn đề “đảng viên có được làm kinh tế tư bản tư nhân hay không ? Người nói có, người nói không. Trong khi thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh đâu có thiếu những đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp tư nhân. Có cọ xát thực tiễn, có tự do tư tưởng, có tranh luận mới nảy ra được vấn đề mới, ý tưởng mới, từ đó góp phần phát triển lý luận, vượt qua tình trạng mò mẫm, bất cập hiện nay”. Ông còn nhấn mạnh: “Để có thể tiếp cận cái mới thì đừng vội bài bác những ý kiến trái tai. Trái lại, cần chủ động khuyến khích tranh luận, phản biện, đừng để bất cứ người nào có ý kiến khác hay ý kiến mới mà phải để bụng, không dám nói ra, cốt để yên thân” (báo Tuổi Trẻ, 14.3.2003).

[2]Ngoài ra, còn có bài thảo luận của Phan Huy Đường viết cho hội thảo hè Maine 2002 [http://www.viet-studies.org/hoithao/PHDuong-thangdu.pdf]

[3]Song, Đảng cộng sản Việt Nam dường như chưa vượt qua được từ “tư bản” vẫn huý kỵ, cho nên bản Dự thảo báo cáo chính trị của đại hội X nói vòng vo cho phép “đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô”.

[4]“Phải thấy rằng cách hiểu về bóc lột thời kỳ máy hơi nước hay thời kỳ tự do cạnh tranh so với thời kỳ bây giờ đã hoàn toàn khác xa nhau” (Trần Xuân Giá, Bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư, báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 21.2.2002).

[5]“Lao động được trả công theo năng suất, được tiến hành phù hợp với qui định pháp luật, được tôn trọng nhân phẩm và tạo ra khả năng phát triển của người lao động thì không được coi là bị bóc lột và người sử dụng lao động như vậy không phải là kẻ bóc lột” (Lê Đăng Doanh, chuyên viên cấp cao Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương, báo Tuổi trẻ chủ Nhật 24.2.2002).

[6]“Trong một thị trường lao động tự do và minh bạch thì ai dại gì mà bán sức lao động dưới giá thị trường?! Và ngược lại. ai dại gì mà mua sức lao động trên giá đó?! Thế thì bóc lột ăn nhập gì vào quy luật tự nhiên bất biến này [qui luật cung-cầu] của thị trường?” (Nguyễn Sĩ Dũng, phó chủ nhiệm Văn phòng quốc hội, tạp chí Nhà quản lý tháng 1 2006)

[7]Theo luận điểm của Vũ Quang Việt, tiền lãi không thuộc phạm trù giá trị thặng dư, cho nên chỉ có lợi nhuận doanh nghiệp (tư bản chức năng) mới là bóc lột: phân tích này được tác giả xác lập không trong khuôn khổ của học thuyết Marx mà từ quan điểm của “lý thuyết kinh tế tân cổ điển” [bài đã dẫn, trang 8-11]. Trước đó, tại hội thảo hè Liège 1999, Lê Văn Cường (On the exploitation in a perfectly competitive economy) cũng đã sử dụng lý luận tân cổ điển, nhưng để xác lập luận điểm theo đó lợi nhuận doanh nghiệp bằng không, cho nên khái niệm bóc lột của Marx chỉ giới hạn vào tiền lãi (tư bản sở hữu).

[8]Cho rằng:

Y là tổng sản phẩm; A, B, C là các nhân tố sản xuất.
Hàm sản xuất là: Y = Y(A,B,C)
py là giá của sản phẩm; pa, pb, pc là giá, tức thu nhập của các nhân tố sản xuất A, B, C.
Giá trị tổng sản phẩm bằng chi phí sản xuất: Y.py = A.pa + B.pb + C.pc

Chi phí sản xuất đạt mức tối thiểu khi thu nhập thực tế của mỗi nhân tố sản xuất bằng năng
suất biên của nó: δY/δA = pa/py; δY/δB = pb/py; δY/δC = pc/py. Cũng có thể nói rằng
thu nhập danh nghĩa của các nhân tố sản xuất là năng suất biên của chúng tính theo giá của
sản phẩm: pa = (δY/δA)py; pb = (δY/δB) py; pc = (δY/δC) py.

Ở cân bằng cạnh tranh hoàn hão, tổng sản phẩm vừa đúng để chi trả mỗi nhân tố sản xuất theo
năng suất biên của nó: Y = A. δY/δA + B.δY/δB + C.δY/δC

[9]Cho rằng:

L là lượng lao động sử dụng, ℓ là mức lương của đơn vị lao động

S là lượng sản phẩm, s là giá trị của sản phẩm

D là tổng doanh thu: D = S.s; doanh thu biên là: δD/δS = (S.δs/δS) + s

e là độ co giản của cầu đối với giá cả: e = (δS/S) / (δs/s) = (δS/δs).s/S

Mối liên hệ giữa doanh thu biên, giá sản phẩm và độ co giản của cầu đối với giá cả là:

δD/δS = s (1+1/e)

Trong chế độ cạnh tranh hoàn hão, mức lương thực tế bằng năng suất lao động biên: ℓ/s = δS/δL và mức lương danh nghĩa bằng năng suất lao động biên nhân với giá của sản phẩm:ℓ = (δS/δL) s. Giá cả sản phẩm, ở đây, bất biến khi doanh nghiệp tăng sản phẩm bán ra và nó trùng lập với doanh thu biên.

Trong chế độ cạnh tranh mang tính độc quyền, giá của sản phẩm không còn trùng lập với doanh thu biên: muốn gia tăng sản phẩm bán ra, doanh nghiệp phải hạ giá bán, cho nên doanh thu biên lúc nào cũng thấp hơn giá của sản phẩm (doanh thu bình quân). Trong những điều kiện đó, doanh nghiệp chi trả lương theo sự gia tăng doanh thu (chứ không phải theo sự gia tăng sản phẩm) do đơn vị lao động biên mang lại: mức lương danh nghĩa bằng năng suất lao động biên nhân với doanh thu biên (chứ không phải với giá của sản phẩm): ℓ = (δS/δL) (δD/δS) = (δS/δL) (1+1/e) s. Mức lương thực tế là: ℓ/s = (δS/δL) (1+1/e). Bởi lẽ e < 0, cho nên (1+1/e) < 1, và (δS/δL) (1+1/e) < δS/δL: mức lương chi trả cho lao động trong chế độ cạnh tranh có tính độc quyền lúc nào cũng thấp hơn năng suất biên của nó. Tiền lương chỉ tương ứng với năng suất lao động biên khi e = ∞, tức khi cạnh tranh có tính hoàn hão.

[10] “Đấu tranh giai cấp mà Marx đặc biệt nhấn mạnh là một sự kiện hiện thực để lại dấu ấn trên từng trang của lịch sử, nhưng đấu tranh này không xẩy ra giữa hai giai cấp – vô sản và tư bản – mà diễn ra giữa vô số nhóm có những lợi ích khác nhau, nhất là các nhóm ưu tú tranh giành nhau quyền lực” [Pareto 1902-1903, 1, tr. 117-118].

[11]“Ở mọi thời và mọi nơi, quá khứ lịch sử và hiện tại được quan sát đều cho thấy người ta chia thành những nhóm mà của cải kinh tế một phần do nhóm tự sản xuất ra, một phần do nó tước đoạt những nhóm khác, và các nhóm này thì tước đoạt nó lại. Các hành vi đó đan chéo nhau một nghìn cách và có những tác động trực tiếp và gián tiếp vô cùng đa dạng. Đối với mỗi nhóm, cần xác lập một bảng tổng kết” [Pareto 1902-1903, 1, tr. 119].

[12]Đó chỉ mới là các giả thuyết về hình thái tổ chức của thị trường. Sự tồn tại của cân bằng chung còn đòi hỏi một số giả thuyết khác liên quan đến các tác nhân (công nghệ mà người sản xuất sử dụng, sở thích của người tiêu dùng, phép phẩn bổ tài sản ban đầu giữa các tác nhân) đảm bảo tính liên tục của hàm cung và hàm cầu trên thị trường. Tất cả các giả thuyết đó cho phép mô hình Arrow-Debreu chứng minh cân bằng chung tồn tại, song nó không chứng minh được tính ổn định của cân bằng chung đó: điều này có nghĩa là quá trình mò mẫm của bí thư thị trường, nói chung, không đưa đến cân bằng chung hay. Nói cách khác: “qui luật cung – cầu” không được xác minh [Guerrien 1989]

[13]Hãy giả dụ một xã hội hoàn toàn bất bình đẳng trong đó một cá nhân độc quyền nắm chiếm tất cả nhân tố sản xuất: đó là một trạng thái kinh tế tối ưu trong nghĩa không thể cải thiện lợi ích của các người còn lại mà không gây thiệt hại cho người nắm độc quyền. Trong khi đó, một xã hội hoàn toàn bình đẳng, trong đó tất cả nhân tố sản xuất đều đươc chia đều giữa các thành viên, là một trạng thái kinh tế không tối ưu bởi vì các thành viên, nếu có những sở thích không giống nhau, có thể cải thiện lợi ích cá nhân bằng cách tiến hành những cuộc trao đổi có lợi lẫn nhau. Càng không thể cho rằng xã hội bình đẳng ưu việt hơn xã hội bất bình đẳng hoặc ngược lại, bởi vì lợi ích của một người hoặc của các người còn lại sẽ bị thiệt hại khi chuyển từ xã hội này sang xã hội kia: đó là hai xã hội không so sánh với nhau được.

[14]Một xu thế khác trong các tác giả tân cổ điển là giới hạn phân tích cân bằng chung vào một số ít “tác nhân đại biểu”, song khó lòng gọi đây là cân bằng chung “tân cổ điển” khi nó đã đánh mất phương pháp luận “đi từ cá thể”: tác nhân đại biểu không phải là một tác nhân cá thể mà là một tác nhân tập thể (thuộc về phương pháp luận “đi từ toàn thể”). Cũng có thể nói rằng định nghĩa tân cổ điển về một nền kinh tế thị trường mất đi, ở đây, nội dung chính của nó là phối hợp các chọn lựa thuần lý của một số đông cá nhân khác nhau [Guerrien 2000].

[15] Trong Free to lose [1988], Roemer sử dụng thí dụ như sau: Giả định một nền kinh tế gồm 1000 tác nhân sản xuất lúa mì theo hai kỹ thuật. Kỹ thuật A: 1 ngày lao động và 1 đơn vị lúa giống làm ra 2 đơn vị lúa mì gộp, tức 1 đơn vị lúa mì ròng. Kỹ thuật B: 3 ngày lạo động làm ra 1 đơn vị lúa mì. Thời gian làm ra lúa mì là 1 tuần lễ. Mỗi tác nhân cần dùng 1 đơn vị lúa mì/tuần để tồn tại. Vốn tư bản ban đầu trong xã hội là 500 đơn vị lúa mì.

● Mô hình kinh tế 1: Lúa giống được phân bổ bình đẳng, mỗi tác nhân kinh tế nắm 0,5 đơn vị. Ở trạng thái cân bằng, mỗi tác nhân lao động 0,5 ngày theo kỹ thuật A và 1,5 ngày theo kỹ thuật B, nó làm ra 1,5 đơn vị lúa mì, đảm bảo tiêu dùng tất yếu (1 đơn vị) và tái sản xuất tư bản (0,5 đơn vị). Thời gian lao động của mỗi tác nhân là 2 ngày, đó cũng là thời gian lao động chứa đựng trong 1 đơn vị lúa mì, cho nên không có bóc lột.

● Mô hình kinh tế 2: 250 tác nhân kinh tế hình thành nhóm L của các tác nhân bán sức lao động, và 750 người còn lại hình thành nhóm M của các tác nhân mua sức lao động. Mỗi tác nhân L tự sản xuất lúa mì theo kỹ thuật A với tư bản của nó và 0,5 ngày lao động, làm ra 1 đơn vị lúa mì, cho phép tái tạo tư bản và cung cấp 0,5 đơn vị lúa mì để tiêu dùng. Sau đó, thay vì tiếp tục tự sản xuất theo kỹ thuật B với thời gian lao động còn lại (1,5 ngày), nó bán sức lao động của nó cho các tác nhân M sản xuất lúa theo kỹ thuật A: với 1,5 ngày lao động và 1,5 đơn vị lúa giống của ba tác nhân M, có thể sản xuất 3 đơn vị lúa mì, trong đó phần trả công cho tác nhân L là 0,5 đơn vị lúa còn thiếu để nó đảm bảo sinh hoạt (mức lương là 0,33 đơn vị lúa/ngày), phần tái tạo tư bản của ba tác nhân M là 1,5 đơn vị lúa, và phần lợi nhuận là 1 đơn vị lúa, tức 0,33 đơn vị cho mỗi chủ tư bản M: tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận/vốn tư bản) là 0,33/0,5 = 0,66%. Các tác nhân M còn thiếu 0,66 đơn vị lúa mì để đảm bảo sịnh hoạt, cho nên mỗi người cần tự sản xuất theo kỹ thuật B với 2 ngày lao động. Ở trạng thái cân bằng, thời gian mỗi người lao động và thời gian lao động chứa đựng trong một đơn vị lúa mì vẫn là 2 ngày: sự hình thành của một thị trường lao động không tạo nên bóc lột.

[16]Triển khai tiếp tục thí du trong Free to lose [1988], Roemer giả định nhóm M gồm 10 tác nhân chia nhau tất cả vốn tư bản ban đầu, và nhóm L gồm 990 tác nhân vô sản.

● Mô hình kinh tế 3: Chọn lựa của các tác nhân L giữa tự lao động sản xuất và lao động làm thuê tuỳ thuộc vào mức lương trên thị trường. Khi tiền lương ở dưới mức 0,33 đơn vị lúa/ngày, tất cả đều chọn tự lao động sản xuất 3 ngày theo kỹ thuật B để đảm bảo sinh hoạt; khi tiền lương ở trên mức 0,33 đơn vị lúa/ngày, tất cả đều chọn lao động làm thuế cho nhóm M. Song, bởi vì vốn tư bản của nhóm M không đủ để sử dụng tất cả tác nhân L, mức lương cân bằng là 0,33 đơn vị lúa/ngày. Với tổng số tư bản là 500 đơn vị lúa, số tác nhân L lao động làm thuế mỗi người 3 ngày là 167 người [500/3]. Tổng sản phẩm lúa mì sẽ là 1000 đơn vị, trong đó 500 đơn vị là để tái tạo tư bản, 167 đơn vị là để trả công [500/3], 333 đơn vị còn lại là lợi nhuận của 10 tác nhân M, tỷ suất lợi nhuận là 66,6% [333/500]. 823 tác nhân L còn lại sẽ tự lao động sản xuất 3 ngày với kỹ thuật B. Trong khi 1 đơn vị lúa mì vẫn chứa đựng 2 ngày lao động, các tác nhân vô sản L phải lao động 3 ngày để được 1 đơn vị lúa mì, và tác nhân chủ tư bản M nhận được 33,3 đơn vị lúa mì mà không cần phải lao động: quan hệ bóc lột xuất hiện ở đây.

● Mô hình kinh tế 4: Thay vì trả công cho 167 tác nhân vô sản L, các tác nhân chủ tư bản cho họ vay vốn tư bản và thu tiền lãi. Các tác nhân L này mỗi người vay mượn 3 đơn vị tư bản và, với 3 ngày lao động, làm ra 6 đơn vị lúa mì. Trên số đó, mỗi người tiêu dùng 1 đơn vị và trả 5 đơn vị cho chủ tư bản M, gồm 3 đơn vị để hoàn lại vốn và 2 đơn vị là tiền lãi: lãi suất như vậy là 66,6% ngang bằng tỷ suất lợi nhuận của mô hinh 3. Ở thế cân băng, thời gian lao động của mỗi tác nhân vô sản là 3 ngày trong khi tư liệu sinh hoạt của họ chỉ tương đương với 2 ngày lao động như trong nền kinh tế 3. Chế độ người cho vay bóc lột người mượn vốn và chế độ chủ tư bản bóc lột người làm công kết cấu như nhau: Roemer gọi đó là “định lý về tính đẳng cấu” (isomorphism theorem) [Roemer 1982, Lời mở đầu].

SOURCE: Tạp chí Thời đại mới số 7 tháng 3 năm 2006

KHÁI NIỆM BÓC LỘT: TỪ HỌC THUYẾT MARX SANG HỌC THUYẾT TÂN CỔ ĐIỂN

TRẦN HẢI HẠC – Đại học Paris XIII

Cách đây ba năm – năm 2002 -, nổi lên ở Việt Nam cuộc thảo luận về vấn đề bóc lột: nhân câu hỏi “đảng viên có được làm kinh tế tư bản tư nhân hay không?”, Đảng cộng sản Việt Nam có kêu gọi tranh luận, phản biện trong tinh thần tự do tư tưởng.[1] Một số bài thuyết trình tại các cuộc hội thảo được xuất bản trong tập sách Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Quốc Tế, Lương Minh Cừ (chủ biên), 2003]. Tham gia đầu tiên từ nước ngoài vào cuộc thảo luận này là bài Vấn đề bóc lột lao động nhìn từ lý thuyết giá trị thặng dư của Marx và kinh tế hiện đại của Vũ Quang Việt trình bày tại hội thảo hè Maine 2002 [tu chỉnh và đăng lại trong Thời Đại Mới số này]. Đó là khởi điểm của một số trao đổi, tranh luận, trong đó có bài Học thuyết Marx, Đảng cộng sản Việt Nam và vấn đề bóc lột mà tôi có viết cho hội thảo hè Munchen 2003 [Thời Đại số 8, 2003 – xem những trao đổi với Vũ Quang Việt trên http://www.viet-studies.org/Munchen2003.htm].[2]

Bài viết này đưa tôi đến hai nhận định: (1) Trước khi bàn cãi trên vấn đề bóc lột trong khu vực kinh tế tư bản chủ nghĩa, ­dù sao cũng là những quan hệ công khai, hợp pháp và chính đáng – chí ít trong quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về một “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” -, cần ưu tiên xem xét, đánh giá sự tồn tại của những quan hệ bóc lột trong khu vực kinh tế quốc doanh, bởi đó là những quan hệ hiện bị che giấu, có tính phi pháp và khoác áo xã hội chủ nghĩa. Từ chối nêu vấn đề bóc lột trong nền kinh tế nhà nước là rơi vào sự sùng bái nhà nước mà Marx đã phê phán. (2) Cách đặt vấn đề bóc lột tư bản chủ nghĩa trong Đảng cộng sản Việt Nam nhắm vào tư bản chức năng mà bỏ qua tư bản sở hữu, nhìn thấy tư bản thật mà bỏ quên tư bản giả – trong đó có nhà đất đang là nguồn thu nhập chính của một số đông đảng viên hiện nay. Các định nghĩa giới hạn quan hệ bốc lột tư bản chủ nghĩa trong hình thái lợi nhuận doanh nghiệp cho thấy rằng phân tích của Marx về sự sùng bái tư bản không phaỉ là thừa.

Theo tôi hiểu, cuộc thảo luận tại Việt Nam đã ngưng lại từ khi Đảng cộng sản không còn đặt câu hỏi về bóc lột đối với các đảng viên chủ doanh nghiệp tư bản tư nhân nữa. Hội nghị 12 của Ban chấp hành trung ương, vào đầu tháng 7 vừa qua, đã công khai hoá điều này, và đại hội X sắp tới của đảng sẽ sửa đổi điều lệ để chính thức cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân; hơn thế, đảng cộng sản còn chủ trương phát triển đảng trong giới doanh nhân, tiến tới kết nạp những chủ tư bản.[3]

Đồng thời, một số khẳng định ngày càng phổ biến trong đảng viên cho rằng cách Marx hiểu bóc lột – trong thuyết về giá trị thặng dư – gắn với thời kỳ của chủ nghĩa tư bản thế kỷ thứ 19, so với thời kỳ bây giờ, có phần không hợp thời nữa.[4] Không những thế, còn có nhận định rằng nền kinh tế thị trường không còn bóc lột lao động làm thuê khi mà người lao động được trả công theo năng suất.[5] Về mặt lý luận, có thể nắm bắt ở đây một xu thế chuyển dịch khái niệm bóc lột từ học thuyết Marx sang kinh tế học tân cổ điển.[6] Bài viết năm 2002 của Vũ Quang Việt đã biểu hiện xu thế đó.[7]

Lịch sử tư tưởng kinh tế đã chứng kiến nhiều lần kinh tế học tân cổ điển tìm cách định nghĩa lại khái niệm bóc lột trong khuôn khổ lý luận về cân bằng kinh tế vi mô. Bài viết dưới đây, trước hết, sẽ xem xét những lý luận gắn bóc lột với tính không hoàn hảo của thị trường [phần I]: đó là thuyết về bóc lột “mang tính độc quyền” do Joan Robinson [1933] xác lập trong khuôn khổ phân tích cân bằng riêng phần; và thuyết về bóc lột “lẫn nhau” do Vilfredo Pareto [1902-1903] xác lập trong khuôn khổ phân tích cân bằng chung. Trong thập niên 80, John Roemer [1982] xây dựng lại thuyết về bóc lột trong khuôn khổ cân bằng chung của nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo, và gắn khái niệm “khái quát” về bóc lột với tính không bình đẳng trong phép phân bổ của cải ban đầu trong xã hội [phần II].

Xem xét và đánh giá các khái niệm khác nhau về bóc lột là lảm rõ ý nghĩa của những suy nghĩ và thảo luận hôm nay trên vấn đề lý luận này – không chỉ ý nghĩa về mặt học thuật mà cả về mặt chính trị nữa.

I. Bóc lột và tính không hoàn hảo trong cạnh tranh thị trường

Theo cách đặt vấn đề của kinh tế học tân cổ điển, mọi hiện tượng xã hội bắt nguồn từ hành vi thuần lý của cá thể, tức là từ mỗi cá nhân chọn lựa tối đa hoá một mục tiêu nhất định với những phương tiện nhất định. Sự chọn lựa thuần lý của các tác nhân kinh tế đưa nền kinh tế đến cân bằng, là tình trạng trong đó từng tác nhân đạt mức thoả mãn tối đa, cho nên không có gì có thể khiến nó phải thay đổi quyết định.

Trong một nền kinh tế thị trường mang tính cạnh tranh hoàn hão, cân bằng kinh tế được xác lập khi giá cả của mỗi hàng hoá ngang bằng chi phí sản xuất bình quân thấp nhất của nó, tức là lợi nhuận doanh nghiệp bằng không: giá trị tổng sản phẩm bằng đúng tiền lương chi trả cho lao động, địa tô chi trả cho đất đai và tiền lãi chi trả cho tư bản – không có siêu lợi nhuận, tức lợi nhuận ngoài tiền lãi của tư bản. Chính xác hơn, mỗi nhân tố sản xuất được chi trả theo năng suất biên của nó, tức là theo đóng góp của nó vào sản xuất: mức lương thực tế bằng năng suất biên của lao động, mức địa tô thực tế bằng năng suất biên của đất đai, lãi suất thực tế bằng năng suất biên của tư bản.[8] Cho nên đặt câu hỏi xem chủ nghĩa tư bản có bóc lột hay không, tức là đặt câu hỏi xem hệ thống thị trường có tính cạnh tranh hoàn hão hay không.

1. Bóc lột mang tính độc quyền: Xuất bản cùng lúc với The Theory of Monopolistic Competition của E.H. Chamberlin (người khởi xướng thuyết về cạnh tranh mang tính độc quyền), tác phẩm năm 1933 của Robinson (The Economics of Imperfect Competition) nhận xét rằng thị trường hoàn hão vô cùng hiếm hoi trong hiện thực, và cạnh tranh không hoàn hão mới là phổ biến. Như chế độ cạnh tranh mang tính độc quyền, là thị trường trên đó nhiều doanh nghiệp tranh nhau buôn bán, đồng thời mỗi doanh nghiệp có khả năng làm ra giá bán như thể độc quyền: giá cả không phải là tham số ngoại sinh đối với doanh nghiệp như trong cạnh tranh hoàn hão, nó do doanh nghiệp quyết định tuỳ theo độ co giãn của cầu đối với giá cả. Ở tình trạng cân bằng, giá của hàng hoá bằng chi phí sản xuất bình quân của nó và không có siêu lợi nhuận (đặc điểm của cạnh tranh); đồng thời, giá cả của hàng hoá cao hơn chi phí sản xuất biên cũng như cao hơn doanh thu biên (đặc điểm của độc quyền). Trong những điều kiện đó, mỗi nhân tố sản xuất nhận thu nhập thấp hơn năng suất biên của nó. Từ đó, Robinson định nghĩa “bóc lột lao động mang tính độc quyền” (monopolistic exploitation of labour) như là tình trạng trả công dưới năng suất biên của lao động [Robinson 1933, tr. 281]. Độ bóc lột lao động phụ thuộc vào khả năng độc quyền của doanh nghiệp biểu hiện trong độ co giản của cầu đối với giá cả: độ bóc lột đó càng cao khi độ co giản này càng thấp, nghĩa là khi tính cạnh tranh trên thị trường càng kém.[9]

Một kết luận lô gích của lập luận về bóc lột mang tính độc quyền cho rằng cách tốt nhất để xoá bóc lột là xác lập các điều kiện của thị trường cạnh tranh có tính hoàn hão. Đó không phải là kết luận của Robinson. Theo bà, điểm chính yếu của The Economics of Imperfect Competition nằm ở chỗ nó “chứng minh được là, trong khung lý luận của thuyết chính thống, không đúng nếu cho rằng tiền lương bằng giá trị của năng suất lao động biên” [Robinson 1933, Lời mở đầu năm 1966].

● Khái niệm về bóc lột có tính độc quyền đưa đến một nghịch lý mà Chamberlin có nêu lên: “Lập luận nói về lao động cũng có thể áp dụng cho các nhân tố sản xuất khác […]. Sự kiện có một nhân tố sản xuất nhận thu nhập ít hơn năng suất biên của nó không có nghĩa rằng các nhân tố sản xuất khác được lãnh nhiều hơn [năng suất biên]. Tất cả các nhân tố sản xuất đều nhận ít hơn bởi vì các thu nhập được chi trả theo một nguyên tắc khác [hơn là nguyên tắc năng suất biên]” [Chamberlin 1933, tr. 288]. Hay nói một cách khác, tất cả đều bị bóc lột trong khi không có ai bóc lột cả…

● Lý luận về bóc lột có tính độc quyền được xây dựng lên trong khung phân tích cân bằng riềng phần (cô lập hoá thị trường của một hàng hoá để phân tích những biến đổi về giá và lượng mua bán của nó, với giả định rằng giữa các thị trường không có tương quan phụ thuộc lẫn nhau), trong lúc khó có thể chấp nhận những hạn chế của khung phân tích này khi bàn đến lao động và tiền lương. Bản thân Robinson, về sau, có công nhận rằng những giả thuyết của mô hình cạnh tranh không hoàn hão “không phải là cơ sở thích hợp để phân tích các vấn đề giá cả, sản xuất và phân phối thu nhập trong hiện thực” [Robinson 1953].

2. Cướp đoạt lẫn nhau: Là người kế tục L. Walras trong lý luận về cân bằng chung, Pareto được biết đến với khái niệm về thế tối ưu, tức là trạng thái kinh tế trong đó không thể cải thiện mức thoả mãn của một người mà không làm giảm thoả mãn ít nhất của một người khác [Pareto 1909]. Trong Les Systèmes Socialistes [1902-1903], ông còn là người phê phán quyết liệt học thuyết Marx, đặc biệt là quan niệm về bóc lột căn cứ trên giá trị thặng dư. Đối với Pareto, bốc lột chỉ mọi khoảng cách về giá và thu nhập so với thế cân bằng chung, mọi quan hệ trao đổi không ở mức tối ưu. Theo ông, quan niệm của Marx thu hẹp bóc lột vào một quan hệ duy nhất (quan hệ lao động làm thuế) và một chiều duy nhất (chiều chủ tư bản bóc lột người làm thuê).

Pareto, một mặt, cho rằng cần mở rộng ý niệm bóc lột đến mọi quan hệ giữa các nhóm xã hội có lợi ích kinh tế khác nhau (công nhân/chủ nhân, người sản xuất/người tiêu dùng, người đóng thuế/người hưởng trợ cấp…): bóc lột không chỉ là những quan hệ kinh tế có hiện tượng độc quyền, mang tính cạnh tranh không hoàn hão, mà còn bao gồm những quan hệ chính trị (luật pháp, thuế khoá, chính sách bảo hộ… ) khi nó làm lệch hệ thống giá và thu nhập của thị trường canh tranh hoàn hảo.[10] Và để khái niệm hoá nội dung khái quát đó, Pareto sử dụng phạm trù “cướp đoạt” (spoliation) thay cho từ bốc lột [Pareto 1902-1903, 1, tr. 116].

Mặc khác, Pareto nhấn mạnh đến tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các quan hệ cướp đoạt khác nhau: bởi vì một cá nhân có mặt cùng lúc trong nhiều nhóm lợi ích khác nhau, nó có thể là kẻ bị cướp trong quan hệ này và là kẻ cướp trong quan hệ khác; và một kẻ xem như bị cướp khi phân tích cục bộ có thể trở nên kẻ cướp khi phân tích tổng thể.[11] Song, tính đa dạng và phức tạp của các mỗi quan hệ đan chéo nhau khiến khó lòng xác lập bảng tổng kết cá nhân giữa cái được và cái mất: chỉ bằng cách đối chiếu hiện trạng cá nhân với thế tối ưu của cân bằng chung trong cạnh tranh hoàn hão mới có thể xác định ai được, ai mất trong hệ thống “cướp đoạt lẫn nhau” (spoliation réciproque) này [1902-1903, 1, tr. 121].

● Thuyết tân cổ điển ngày nay cho phép nói rõ hơn cân bằng chung của Walras tồn tại trong những điều kiện nào. Theo các giả thuyết của mô hình Arrow và Debreu, sự tồn tại của cân bằng chung đòi hỏi các thị trường vừa phải hoàn hão, vừa phải đầy đủ [Arrow và Debreu 1954; Debreu 1959]. Tính hoàn hão chỉ một hệ thống thị trường trong đó mỗi tác nhân mua hay bán đều xem giá cả là tham số độc lập với quyết định của cá nhân ấy (giá cả do một “bí thư thị trường” đưa ra sau khi tập trung các lệnh mua và bán); đồng thời, giá là thông tin duy nhất hướng dẫn quyết định của mọi tác nhân (nó có thể mua và bán không giới hạn mọi khối lượng hàng hoá). Tính đầy đủ chỉ một hệ thống thị trường trong đó mỗi tác nhân mua hay bán đều biết rõ giá cả của mọi hàng hoá hiện tại và tương lai (cho nên các tác nhân không có dự kiến, không có đầu cơ). Điều có thể nhận xét là khái niệm về hệ thống thị trường đầy đủ và cạnh tranh hoàn hão của các nhà lý luận tân cổ điển không ăn nhập gì với hiện thực của nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, như mọi người có thể hiểu. Trước hết, nó là một hình thái tổ chức thị trường tập trung cực độ (theo mô hình của thị trường chứng khoán): các tác nhân mua bán không có quan hệ trực tiếp hàng ngang với nhau; mọi quan hệ đều là hàng dọc giữa các tác nhân với bí thư thị trường là người có nhiệm vụ dò dẫm, tìm ra cân bằng chung. Rồi khi giá cả cân bằng các thị trường được phát hiện thì các trao đổi cũng không được thực hiện song phương giữa các tác nhân mua và bán, mà phải tiến hành tập trung thông qua một cơ quan bù trừ. Còn có thể nhận xét rằng trong nền kinh tế này, một doanh nghiệp không thể hạ giá bán để cạnh tranh, và vấn đề tiêu thụ hàng không đặt ra; doanh nghiệp cũng không phải đối diện với bất trắc thực sự (bất trắc không thể qui thành xác suất), và vấn đề phá sản cũng không đặt ra.[12]

● Xác lập tính chuẩn tắc của cân bằng chung, Arrow và Debreu chứng minh rằng mọi thế cân bằng chung là một trạng thái tối ưu theo nghĩa Pareto, và ngược lại. Điều cần chú ý ở đây là, theo cách định nghĩa của Pareto, không có một mà vô số trạng thái tối ưu trong một nên kinh tế: một trạng thái tối ưu được định nghĩa trên cơ sở của một phép phân bổ ban đầu các nhân tố sản xuất giữa các cá nhân hình thành xã hội, cho nên có bao nhiêu phép phân bổ ban đầu khác nhau trong xã hội thì có bấy nhiêu trạng thái kinh tế tối ưu. Ngoài ra, tiêu chuẩn so sánh của Pareto không cho phép so sánh các trạng thái tối ưu này với nhau, tiêu chuẩn này cũng không cho phép nói rằng một trạng thái tối ưu nhất thiết là ưu việt so với một trạng thái không tối ưu: bởi vì chỉ cần có một người bị thua thiệt khi xã hội chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác là các trạng thái đó không thể so sánh được với nhau.[13]

● Pareto giải thích bóc lột là cướp đoạt khi giá và thu nhập chênh lệch so với cân bằng chung do cạnh tranh trên thị trường không được hoàn hão. Lập luận này “hoàn toàn đối lập” với cách đặt vấn đề của Marx theo đó bóc lột lao động làm thuê không phải là “cướp đoạt” bởi vì, “khi đã trả đúng giá trị sức lao động cho công nhân, nhà tư bản có trọn quyền trên giá trị thặng dư”. Qui luật trao đổi ngang giá không hề bị vi phạm khi chủ tư bản chiếm hữu giá trị thăng dư: “Theo qui luật giá trị chi phối nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư phải thuộc về nhà tư bản chứ không thuộc về người công nhân” [Marx 1880, tr. 463 và 483]. Trong khuôn khổ của học thuyết tân cổ điển, cách đặt vấn đề của Pareto hàm ý có thể sát nhập các thị trường không hoàn hão vào lý luận về cân bằng chung. Tuy nhiên, cho đến nay, các nỗ lực nhằm xác lập cân bằng chung trong điều kiện cạnh tranh mang tính độc quyền đều không đưa đến kết quả thoả đáng, cho nên không thể biết được chọn lựa tối ưu của các tác nhân, trong trường hợp này, là gì. Điều này giải thích vì sao những nhà lý luận tân cổ điển có xu hướng bỏ chương trình nghiên cứu đó và trở lại với khung lý luận về cân bằng riêng phần để mô hình hoá cạnh tranh không hoàn hão.[14]

II. Bốc lột và tính bất bình đẳng trong phân bổ của cải ban đầu

Những năm 80 của cuối thế kỷ thứ 20 chứng kiến sự khủng hoảng của học thuyết Marx trước đà phá sản của chủ nghĩa xã hội hiện thực và, trong bối cảnh này, đã xuất hiện “học thuyết Marx phân tích” (analytical marxism) – tựa tập sách mà Roemer [1986] là chủ biên – chủ trương đọc lại Marx không thông qua các khái niệm của Marx, từ bỏ phương pháp luận biện chứng của bộ Tư bản để chỉ giữ lại nội dung cốt lõi của nó. Đề án của Roemer, còn mang tên “học thuyết Marx về sự chọn lựa thuần lý” (rational choice marxism), là sử dụng thuyết tân cổ điển về cân bằng cạnh tranh hoàn hão của Walras thay cho thuyết về giá trị của Marx; đó là xây dựng nền tảng kinh tế vi mô của học thuyết Marx để phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa như là kết quả của những chọn lựa tối ưu theo nghĩa Pareto của các cá nhân tự do và thuần lý. Roemer đã không mặc cảm phát biểu rằng: “Chúng ta vận dụng các phương pháp do những nhà lý luận chống Marx khởi xưởng thì sao? Cớ sao phải để cho quỷ các vũ khí hữu hiệu nhất?” [Roemer 1986, tr. 192-193].

Với cách đặt vấn đề đó, A General Theory of Exploitation and Class [1982] phân tích bóc lột là kết quả của sự chọn lựa tối ưu của các tác nhân kinh tế bị ràng buộc bởi vốn của cải ban đầu của mình. Khởi đi từ định nghĩa bóc lột là “trao đổi bất bình đẳng” trên cơ sở của lao động, Roemer sử dụng thuyết trò chơi để đi đến một định nghĩa “khái quát”, trong đó khái niệm của Marx về bốc lột tư bản chủ nghĩa chỉ là “trường hợp riêng”, bên cạnh khái niệm “tân cổ điển” tương ứng với bóc lột phong kiến, và các khái niệm “mới” về bóc lột xã hội chủ nghĩa có phân biệt chủ nghĩa xã hội theo Marx và chủ nghĩa xã hội hiện thực. Khái quát hoá khái niệm bóc lột là cần thiết để phân tích những điều mà Roemer gọi là “bất bình thường” của các nước xã hội chủ nghĩa hiện thực, trong đó có chiến tranh giữa các nước này với nhau, mà biểu hiện lúc ấy là xung đột giữa Việt Nam với Trung Quốc và Campuchia [Roemer 1982, Lời nói đầu].

1. “Trao đổi bất bình đẳng”. Roemer bắt đầu bằng định nghĩa bóc lột trên cơ sở của lao động. Một tác nhân kinh tế bị bốc lột khi thời gian mà nó phải lao động nhiều hơn thời gian lao động chứa đựng trong các tư liệu sinh hoạt của nó. Hay nói cách khác: Khái niệm bóc lột chỉ quan hệ trao đổi không bình đẳng khi lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá mà người lao động mua với thu nhập của nó thấp hơn lượng lao động mà nó phải cung cấp để có thu nhập đó. Nhằm phân tích các hệ quả của định nghĩa này, ông sử dụng những mô hình đơn giản về kinh tế hàng hoá tái sản xuất giản đơn (không tích luỹ) với cấu trúc như sau:

● mọi tác nhân kinh tế có sở thích giống nhau (sau thời gian lao động tất yếu, họ đều chọn sự rảnh rỗi hơn là tiếp tục lao động) và có sức lao động giống nhau (lao động cũng được giả định là thuần nhất);

● nền kinh tế chỉ làm ra một sản phẩm duy nhất (vừa là tư liệu sinh hoạt, vừa là tư liệu sản xuất, tức tư bản theo nghĩa tân cổ điển) với hai kỹ thuật sản xuất khác nhau: kỹ thuật A (hiệu quả cao) kết hợp lao động với tư bản và kỹ thuật B (hiệu quả thấp) chỉ sử dụng có lao động;

● có hai phép phân bổ ban đầu vốn tư bản (tư liệu sản xuất) cho các tác nhân kinh tế: bình đẳng (mỗi người có vốn tư bản bằng nhau) hoặc bất bình đẳng (một số ít người chia nhau tất cả tư bản, số lớn còn lại là vô sản).

Từ đó, Roemer khảo sát bốn mô hình [Roemer 1982 và 1988]:

● Mô hình kinh tế 1: Vốn tư bản được phân bổ bình đẳng, không có thị trường lao động và không có thị trường tư bản. Các tác nhân đều tự lao động sản xuất với vốn tư bản của mình (kỹ thuật A) hay với kỹ thuật B (khi không còn tư bản), và không có trao đổi.

● Mô hình kinh tế 2: Vốn tư bản được phân bổ bình đẳng, có thị trường lao động và không có thị trường tư bản. Trong xã hội, hình thành hai giai cấp tuỳ theo chỗ đứng của tác nhân trên thị trường lao động: giai cấp của các tác nhân chọn lựa phân chia thời gian lao động giữa tự lao động sản xuất và lao động làm thuê, tuỳ theo mức lương cân bằng thị trường; giai cấp của các tác nhân tự lao động sản xuất đồng thời thuê mướn thêm sức lao động của người khác.

● Mô hình kinh tế 3: Vốn tư bản được phân bổ bất bình đẳng, có thị trường lao động và không có thị trường tư bản. Xã hội gồm hai giai cấp: giai cấp của các tác nhân vô sản, chọn lựa – vì mức lương trên thị trường – là không tự lao động sản xuất (theo kỹ thuật B) để bán sức lao động cho người khác; giai cấp của các tác nhân chủ tư bản, không lao động mà chỉ mua sức lao động của người khác (nếu tất cả vốn tư bản không đủ để sử dụng tất cả sức lao động thì sẽ tồn tại một giai cấp thứ ba: những người lao động làm thuê đồng thời phải tự lao động sản xuất thêm theo kỹ thuật B).

● Mô hình 4: Vốn tư bản được phân bổ bất bình đẳng, có thị trường tư bản và không có thị trường lao động. Xã hội có hai giai cấp: giai cấp các tác nhân chủ tư bản không lao động, không sản xuất mà chỉ cho vay vốn; giai cấp của các tác nhân vô sản thực hiện sản xuất theo kỹ thuật A với lao động của chính họ và vốn tư bản mà họ vay mượn.

Ở thế căn bằng của mỗi mô hình, khi các tác nhân kinh tế đều đạt thế tối ưu trong các trao đổi, Roemer nhận xét:

● Mô hình 1 và 2 đưa đến kết quả đồng nhất: không có quan hệ bóc lột, và thời gian lao động cũng như thu nhập của các tác nhân đều giống nhau ở hai nền kinh tế 1 và 2.[15]

● Mô hình 3 và 4 đưa đến kết quả đồng nhất: các tác nhân lao động, dù làm thuê hay không, đều bị bóc lột; thời gian mà họ lao động nhiều hơn ở hai nền kinh tế 1 và 2, nhờ đó mà giai cấp chủ tư bản có thể hưởng thụ mà không cần lao đông; lãi suất trong nền kinh tế 4 ngang bằng tỷ suất lợi nhuận trong nền kinh tế 3.[16]

Từ đó Roemer rút ra các kết luận như sau:

● Nguyên nhân của bóc lột là tính khan hiếm tư bản so với lao động và tính bất bình đẳng trong sở hữu tư nhân.

● Quan hệ bóc lột độc lập với quan hệ lao động làm thuê: bóc lột có thể tồn tại trong khi không có thị trường lao động; cũng như thị trường lao động có thể hiện hữu mà không có bóc lột.

● Tính bất bình đẳng trong các trao đổi không xuất phát từ tính thiếu cạnh tranh trên thị trường, mà bắt nguồn từ phép phân bổ của cải ban đầu trong xã hội: người có ít tư bản chịu sự bóc lột của người có nhiều tư bản hơn.

Đẩy lập luận này đến cùng, Roemer xây dựng mô hình trao đổi bất bình đẳng để chứng minh rằng bóc lột không cần có các thị trường lao động, tư bản hay về nhân tố sản xuất nào khác: nó chỉ cần thị trường sản phẩm hàng hoá mà thôi. Mô hình này cho phép ông lý giải quan hệ bóc lột xuất hiện giữa các nước xã hội chủ nghĩa với nhau.

Sau khi xác lập các kết quả này, Roemer khảo sát các giới hạn của định nghĩa bốc lột trên cơ sở của lao động. Ông cho thấy định nghĩa đó thiếu tính khái quát, không cho phép phân tích thoả đáng quan hệ bóc lột khi phải mở rộng những mô hình nói trên và hạn chế các giả thuyết: như khi các tác nhân kinh tế có sở thích khác nhau đối với thời gian lao động và thời gian rảnh rỗi; khi sức lao động của các tác nhân không còn bằng nhau; hay khi không còn giả định rằng lao động có tính thuần nhất nữa. Chẳng hạn: Một mô hình kinh tế, trong đó các tác nhân giàu thích lao động hơn và các tác nhân nghèo thích rảnh rỗi hơn, đưa đến nghịch lý là người nghèo (lười biếng) bóc lột người giàu (siêng năng). Để có được một khái niệm xác đáng hơn về bóc lột, Roemer cho rằng cần định nghĩa lại nó, cần từ bỏ lập luận dựa trên lao động và điều đó, đối với ông, có nghĩa là phải từ bỏ cách đặt vấn đề của Marx về giá trị và giá trị thăng dư.

2. “Khái niệm khái quát về bóc lột”. Vận dụng phương pháp luận của thuyết trò chơi, Roemer đề xuất định nghĩa cơ bản và khái quát như sau về bóc lôt: một cá nhân hay tập thể được xem như bị bóc lột nếu, cũng trong nền kinh tế đó, một phép phẩn bổ của cải ban đầu mang tính bình đẳng sẽ cải thiện tình cảnh của nó về mặt lợi ích. Hay nói một cách khác: một cá nhân hay tập thể được xem như bị bóc lột nếu nó có thể cải thiện tình cảnh của nó về mặt lợi ích khi nó “rút lui” khỏi nền kinh tế với phần vốn của cải (bình quân theo đầu người) của nó. Một cách chính xác hơn, quan hệ bóc lột trong một xã hội, giữa một nhóm S và nhóm còn lại S’, đòi hỏi hai điều kiện: 1) Có thể quan niệm được một “giải pháp thay thế” (alternative), như là giả thuyết khả dĩ thực hiện được, trong đó tình cảnh của S sẽ tốt hơn so với hiện tại. 2) Trong trường hợp đó, tình cảnh của S’ sẽ xấu hơn so với hiện nay.

Tính cơ bản của định nghĩa nói trên ở chỗ nó không dừng ở chỗ tương quan trao đổi có bình đẳng hay không mà đi sâu vào nguồn gốc là quyền sở hữu ban đầu trong xã hội có được phân bổ bình đẳng hay không. Tính khái quát của định nghĩa đó ở chỗ nó không chỉ áp dụng với sức lao động hay tư bản mà với mọi vốn của cải ban đầu khác của các tác nhân kinh tế. Nó cho phép Roemer phân loại bốn hình thái bóc lột có tính lịch sử mà ông phân tích như là bốn “trò chơi” khác nhau [Roemer 1982; Wright 1985].

● Bóc lột phong kiến: Quan hệ bóc lột ở đây bắt nguồn từ phép phân bổ bất bình đẳng quyền sở hữu về sức lao động. Chúa phong kiến có quyền sở hữu không chỉ trên sức lao động của bản thân nó mà cả trên sức lao động của nông nô; trong khi nông nô không có quyền sở hữu trên sức lao động của ai khác và chỉ sở hữu một phần sức lao động của mình (bởi mối quan hệ phụ thuộc cá nhân đối với chúa phong kiến). Nếu nông nô rút lui khỏi trò chơi phong kiến với phần vốn của cải bình quân/người của nó (gồm sức lao động, đất đai và các nhân tố sản xuất), tình cảnh của nó sẽ tốt hơn, tình cảnh của chúa phong kiến sẽ xấu đi. Theo Roemer, chế độ bóc lột phong kiến tương ứng với quan niệm tân cổ điển về bóc lột, theo đó các trở ngại trong tự do trao đổi giải thích vì sao thu nhập của tác nhân kinh tế thấp hơn năng suất biên của nhân tố sản xuất.

● Bóc lột tư bản chủ nghĩa: Khi các tác nhân có quyền sở hữu bình đẳng trên sức lao động, quan hệ bóc lột xuất phát từ phép phân bổ bất bình đẳng quyền sở hữu về tư liệu sản xuất. Người làm thuê chỉ làm chủ sức lao động của nó và không được chia tư liệu sản xuất, là độc quyền sở hữu của chủ tư bản. Nếu người làm thuê rút ra khỏi trò chơi với chủ tư bản và mang theo phần vốn bình quân/người của nó về tư liệu sản xuất và các nhân tố sản xuất khác thì tình cảnh của nó được cải thiện, trong khi tình cảnh của chủ tư bản suy thoái. Roemer cho rằng tính “ưu việt” của định nghĩa về bóc lột mà ông đề xuất, so với định nghĩa cổ điển của Marx, ở chỗ nó làm rõ giả thuyết “đạo lý” của bộ Tư bản: giải pháp thay thế chủ nghĩa tư bản là mọi người được quyền sở hữu ngang nhau trên các tư liệu sản xuất.

●Bóc lột của chủ nghĩa xã hội theo Marx: Khi các tác nhân có quyền sở hữu bình đẳng trên sức lao động và trên tư liệu sản xuất, cơ sở của quan hệ bóc lột là các tác nhân không có năng lực ngang nhau, là tính bất bình đẳng trong sở hữu “kỹ năng” (skill). Giải pháp thay thế – cho phép xác định người có kỹ năng thấp và thù lao thấp có bị bóc lột hay không – là giả thiết rằng nó đạt được mức kỹ năng bình quân của xã hội. Trong trường họp này, nếu mức thù lao cao của người có năng lực cao suy giảm thì điều đó có nghĩa là mức thù lao này trước đây không chỉ cao do trình độ năng lực và chi phí đào tạo nó, mà còn cao vì cơ chế bóc lột duy trì tính bất bình đẳng về năng lực, tạo ra sự khan hiểm về kỹ năng. Tuy Marx không có phân tích hình thái bóc lột này, Roemer nhận xét rằng, trong Phê phán cương lĩnh Gotha [1875], ông nhấn mạnh đến tính chất không bình đẳng của chủ nghĩa xã hội mà cơ sở là tính bất bình đẳng của các năng lực cá nhân, và biểu hiện là phép phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo lao động”.

● Bóc lột trong chủ nghĩa xã hội hiện thực: Bên cạnh hình thái bóc lột xã hội chủ nghĩa thuần tuý, các nước xã hội chủ nghĩa hiện thực cho thấy có một cơ chế bóc lột dựa trên “cương vị” (status) trong xã hội và tính bất bình đẳng của phép phân bổ “đặc quyền, đặc lợi” cho các tác nhân ở cương vị cán bộ. Các tác nhân khác bị bóc lột nếu có thể chứng minh được rằng, trong thu nhập thực tế của cán bộ lãnh đạo và quản lý, có một phần không thể nào giải thích là thù lao của khả năng lãnh đạo và quản lý; tức là tình cảnh của họ sẽ được cải thiện nếu họ rút ra khỏi trò chơi với cán bộ và mang theo vốn bình quân về năng lực của họ. Roemer nhận xét rằng vấn đề nêu ra ở đây tương tự như đối với bóc lột phong kiến: lợi ích của các tác nhân không có cương vị quyền lực là xoá bỏ cơ chế đặc lợi, đặc quyền gắn với cương vị lãnh đạo và quản lý, là dân chủ hoá bộ máy quyền lực.

Có thể tổng hợp phân tích nói trên như sau. Chế độ phong kiến gồm bốn cơ chế bóc lột mà cơ sở là quyền sở hữu bất bình đẳng trên sức lao động, tư liệu sản xuất, cương vị xã hội và kỹ năng. Sau khi cách mạng tư sản thiết lập quyền tự do con người, chủ nghĩa tư bản duy trì ba cơ chế bóc lột dựa trên tư liệu sản xuất, cương vị xã hội và kỹ năng. Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa tiến hành xã hội hoá các tư liệu sản xuất, trong chủ nghĩa xã hội hiện thực còn lại hai cơ chế bóc lột dựa vào cương vị xã hội và kỹ năng. Trong chủ nghĩa xã hội theo Marx vẫn tồn tại một cơ sở để bóc lột là kỹ năng.

Hình thái bóc lột và cơ sở của nó

Sức lao động

Tư liệu
sản xuất

Cương vị
xã hội

Kỹ năng

Chế độ phong kiến

+

+

+

+

Chủ nghĩa tư bản

0

+

+

+

Chủ nghĩa xã hội hiện thực

0

0

+

+

Chủ nghĩa xã hội theo Marx

0

0

0

+

Để phân tích trong những điều kiện nào xã hội loại bỏ một hình thái bóc lôt, Roemer đề xuất khái niệm “chế độ bóc lột cần thiết hay không cần thiết cho xã hội” (socially necessary/unnecessary exploitation): một hình thái bóc lột được xem là cần thiết cho xã hội khi việc loại bỏ nó đưa đến thay đổi phương thức kích thích cá nhân, làm cho tình cảnh người bị bóc lột – sau khi rút ra khỏi trò chơi – trở nên tồi tệ hơn trước (ngược lại, nếu tình cảnh của người trước đây bị bóc lột được cải thiện thì có thể nói rằng hình thái bóc lột đó không cần thiết cho xã hôi). Chẳng hạn: Trong chủ nghĩa xã hội hiện nay, chế độ bóc lột biểu hiện qua một phương thức kích thích người có tài năng bằng lợi ích vật chất. Nếu xoá bỏ nó, các kỹ năng thuộc trình độ cao có thể không phát triển được nữa, thậm chí có thể biến mất khỏi nền kinh tế, với hậu quả là cuộc sống của cả xã hội (chứ không chỉ riêng các người có tài năng) bị đẩy lùi về một tình cảnh tệ hơn chủ nghĩa xã hội. Điều này có nghĩa là, trong thời điểm lịch sử hiện nay, xã hội chưa có cách sử dụng hiệu quả các tài năng nếu không chấp nhận một phép phân phối bất bình đẳng và, với ý nghĩa đó, chế độ bóc lột xã hội chủ nghĩa là cần thiết cho xã hội hiện tại.

Cuối cùng, phân tích của Roemer kết thúc một cách khá chính thống. Ông cho rằng thuyết khái quát về bóc lột hoàn toàn ăn khớp với lý luận duy vật lịch sử của Marx. Quá trình nối tiếp các hình thái bóc lột chính là quá trình xã hội loài người phát triển sức sản xuất qua đấu tranh giai cấp và các cuộc cách mạng loại bỏ tuần tự các chế độ bóc lột không cần thiết cho xã hội. Đó cũng là quá trình thu hẹp dần quyền tư hữu trên các lực lượng sản xuất, xác lập quan hệ sở hữu ngày càng bình đẳng hơn hay, nói cách khác, là xã hội hoá lực lượng sản xuất. Quá trình này kết thúc khi xã hội loài người tiến tới xã hội hoá nhu cầu, thực hiện phép phân phối “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” của chủ nghĩa cộng sản: ở đây, xã hội đạt đến bình đẳng thực sự và, theo nghĩa đó, không có bóc lột nữa.

Đồng thời, Roemer trình bày lý thuyết khái quát về bóc lột như là sự phê phán luận điểm của chủ nghĩa tự do theo đó tự do chọn lựa đảm bảo không có bóc lột trong xã hội. Trong Free to lose, một tác phẩm năm 1988 mà tựa đề đối chọi lại Free to choose của Rose và Milton Friedman, Roemer xác lập rằng trong một xã hội có chọn lựa tự do vẫn có người bị thua thiệt: tự do chọn lựa là điều kiện cần nhưng không đủ để loại bỏ bóc lột.

Thuyết Roemer được nhiều người đánh giá như là học thuyết Marx hiện đại. Nó đổi mới quan niệm về bóc lột, phát giác những hình thái mới mà đáng chú ý nhất là phân tích về bóc lột gắn liền với phép phân bổ bất bình đẳng các năng lực, tri thức trong xã hội. Song, nỗ lực của Roemer nhằm mở rộng trên nhiều chiều khái niệm bóc lột cùng lúc thu hẹp trên nhiều mặt nhận thức về bóc lột mà Marx đã khái niệm hoá. Chí ít, có thể nêu những điểm tranh luận sau đây.

1. Đối với Roemer, thuyết khái quát về bóc lột là sự vận dụng “giả thuyết duy vật lịch sử” – mà ông xem là “trực giác cơ bản” của Marx – với những khái niệm hiện đại, trong những điều kiện của cuối thế kỷ thứ 20. Ông cho rằng “học thuyết kinh tế của Marx là nỗ lực của một nhà kinh tế của thế kỷ thứ 19 nhằm sử dụng phương pháp duy vật lịch sử trong phân tích xã hội của thế kỷ thứ 19. Các khái niệm và phạm trù có ích cho Marx lúc đó không nhất thiết là những khái niệm và phạm trù có ích để phân tích xã hội ở cuối thế kỷ thứ 20” [Roemer1982, Lời mở đầu]. Tuy nhiên, điều mà người đọc Roemer không thể không nhận xét là ông để qua một bên các phạm trù đặc thù của Marx để sử dụng lại các phạm trù của kinh tế chính trị học (“cổ điển” và cả “tầm thường” theo phân loại của Marx) hình thành vào cuối thế kỷ 18-đầu thế kỷ 19, mà học thuyết Marx đã phê phán tính chất sùng bái hoá [Marx 1872]. Chẳng hạn như phạm trù tư bản: Theo quan điểm phê phán của Marx, tư bản không phải là vật (tư liệu sản xuất hay tiền vốn ứng ra) mà là quan hệ xã hội có tính lịch sử. Đó là một quan hệ bóc lột đặc thù ở chỗ thặng dư lao động trong xã hội bị chiếm đoạt thông qua quan hệ trao đổi hàng hoá, dưới hình thái giá trị, tức tiền tệ. Trong khi đó, theo chân kinh tế học tầm thường, Roemer định nghĩa tư bản là một vật (lúa giống), là tư liệu sản xuất, phạm trù siêu lịch sử, có mặt trong mọi hình thái xã hội.

Đó cũng là trường hợp của phạm trù sức lao động mà Roemer, theo kinh tế học cổ điển, quan niệm là hàng hoá như mọi hàng hoá khác. Ông không nhận thấy khác biệt cơ bản giữa sức lao động và hàng hoá mà Marx đã vạch ra: khác với mọi quá trình sản xuất hàng hoá, quá trình tái sản xuất sức lao động không phải là quá trình sản xuất ra giá trị (giá trị trao đổi của sức lao động chỉ gồm có giá trị trao đổi của tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người làm công, không hề có giá trị tăng thêm), và càng không phải là quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa (giá trị trao đổi của sức lao động không hề có giá trị thặng dư). Đối với Marx, trước khi chỉ giá trị trao đổi của hàng tiêu dùng mà người làm công cần mua, giá trị trao đổi của sức lao động chỉ phép phân chia giá trị mới do sức lao động làm ra (giá trị tăng thêm) giữa người lao động làm thuê và chủ tư bản, tuỳ theo tương quan sức mạnh giữa hai giai cấp. Cho nên, trong quan hệ mua bán sức lao động, điều mà người làm công bán ra không phải là một hàng hoá, mà là sự phục tùng chủ tư bản trong thời gian lao động; cũng như điều mà chủ tư bản mua không phải là một hàng hoá, mà là quyền chỉ huy người làm công trong suốt ngày lao động đó [Marx 1872].

2. Có ý nghĩa hơn nữa là cách Roemer xử lý phạm trù lao động: Khi nói đến thời gian mà một tác nhân chọn dành cho lao động (thay vì cho rảnh rỗi), Roemer vận dụng phạm trù của kinh tế học vi mô là lao động có tính cách cá nhân và mang tính chất lao động cụ thể, nhưng đồng thời giả định nó là thuần nhất. Roemer không hề biết rằng phạm trù lao động trong thuyết Marx về giá trị là lao động xã hội, lao động dưới hình thái trừu tượng mà biểu hiện vật thể là tiền tệ. Cho nên, ông không thể hiểu rằng giá trị không biểu hiện trong lao động, và lượng giá trị không đo bằng thời gian lao động, mà ngược lại: lao động biểu hiện thành giá trị, và thời gian lao động đo bằng lượng giá trị; còn giá trị thì thể hiện thành tiền tệ, và lượng giá trị thì đo bằng lượng tiền tệ; hay nói cách khác, tiền tệ là vật ngang giá của các hàng hoá và là đơn vị đo lường giá trị của chúng. Ngược nghĩa hoàn toàn với điều Marx viết, Roemer cho rằng đặc điểm của thuyết Marx là chọn lao động để đo lường giá trị – một luận điểm mà Marx, từ đầu và liên tục, vạch rõ sự sai trái, đặc biệt khi ông phê phán các tác giả chủ trương chủ nghĩa xã hội trên cơ sở của kinh tế học cổ điển Ricardo [Marx 1857-1858; 1859; 1872].

Từ đó, Roemer phê phán Marx và thuyết về bóc lột căn cứ trên khái niệm thặng dư giá trị: khẳng định của Marx cho rằng lao động bị bóc lột, thật ra, chỉ căn cứ trên chọn lựa lao động làm đơn vị đo lường đầu vào và đầu ra trong một nền kinh tế có sản phẩm thặng dư. Nếu chọn lựa một hàng hoá khác, như ngô bắp, làm đơn vị đo lường chênh lệch giữa đầu ra và đầu vào trong nền kinh tế thì ngô bắp sẽ bị bóc lột thay vì là sức lao động. Đó là định lý khái quát về bốc lột hàng hoá: mọi hàng hoá đều có thể bị bóc lột chứ không riêng gì sức lao động. Đối với Roemer, thuyết giá trị căn cứ trên lao động của Marx không có ý nghĩa gì khác hơn là lao động, thay vì ngô bắp hay hàng hoá nào khác, được chọn làm đơn vị đo lường giá trị.

3. Roemer công nhận rằng bóc lột lao động và bóc lột ngô bắp không mang ý nghĩa xã hội giống nhau: bóc lột lao động đặt ra một vấn đề “đạo lý” là tính “công bằng” trong xã hội, cho nên “nếu bóc lột người lao động là một khái niệm quan trọng, đó là vì nó chỉ một sự bất công, chứ không phải tại vì bóc lột sức lao động là nguồn lợi nhuận duy nhất” [Roemer 1988, trg. 54]. Khoảng cách đối với cách Marx đặt vấn đề bóc lột càng rõ: tác giả của Tư bản luôn luôn từ chối nêu lên bóc lột như là một vấn đề đạo lý, và không hề phân tích bóc lột lao động làm thuê là điều bất công. Bởi vì, theo Marx, công bằng không phải là một phạm trù tự nhiên, mà nội dung của nó do mỗi phương thức sản xuất quyết định [Marx 1864-1865]. Nói đến công bằng trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là nói đến các nguyên tắc trao đổi ngang giá và pháp quyền bình đẳng, cho nên đòi công bằng, ở đây, không khác nào là đòi chủ nghĩa tư bản. Còn nếu nhắm đến công bằng của chủ nghĩa cộng sản – như Roemer – thì đó chỉ có thể là một lý tưởng, trong khi – đối với Marx – “chủ nghĩa cộng sản không phải là một lý tưởng mà hiện thực sẽ phải khuôn theo. Chúng tôi gọi chủ nghĩa cộng sản là sự vận động hiện thực xoá bỏ trạng thái của sự vật hiện nay” [Marx 1846].

Theo cách đặt vấn đề của Marx, đằng sau quan hệ trao đổi ngang giá giữa lao động làm thuê và tư bản trong quá trình lưu thông hàng hoá là quan hệ thống trị của tư bản trên lao động làm thuê trong quá trình lao động sản xuất. Còn theo Roemer thì đằng sau quan hệ trao đổi bất bình đẳng giữa lao động làm thuê và tư bản là phép phân phối không bình đẳng của cải ban đầu trong xã hội. Với cách đặt vấn đề này, Roemer không quan tâm đến các quan hệ xã hội trong quá trình lao động, và quên rằng Tư bản phân tích quá trình sản xuất giá trị thặng dư – tuyệt đối và tương đối – như là quá trình xác lập sự phục tùng của người lao động làm thuê đối với chủ tư bản trong lao động sản xuất. Về sau, Roemer có đưa vào định nghĩa của khái niệm bóc lột một điều kiện thứ ba theo đó: nhóm bóc lột (S’) phải “có ưu thế” trong tương quan với nhóm bị bóc lột (S). Qua điều kiện này, Roemer muốn tránh xảy ra tình trạng nhóm bị bóc lột phân bổ lại tài sản ban đầu, chứ ông không nhắm tương quan thống trị giữa chủ tư bản và người làm công trong quá trình lao động [Roemer 1982b]. Mặt khác, Roemer thừa nhận bóc lột có liên quan với thống trị, song điều đó, theo ông, không mang tính tất yếu [Roemer 1982c]. Roemer còn thử giải thích tương quan thống trị của chủ tư bản trên người làm công bởi tính khiếm khuyết, không đầy đủ của hợp đồng lao động [Roemer 1986b]. Cuối cùng, sau khi gạt quan hệ lao động ra khỏi định nghĩa khái quát của khái niệm bóc lột, Roemer đành đưa nó trở vào dưới hình thức một “điều khoản lao động” (labor clause) nhằm phân biệt, theo ông, bóc lột với những dạng bất công khác [Roemer 1989].

Sự chần chừ, lúng túng và nhập nhằng này của Roemer biểu hiện một khuyết điểm lớn của thuyết khái quát về bóc lột: nó không cho phép nhận thức một cách chính xác hiện thực quan hệ bóc lộc lao động làm thuê trong chủ nghĩa tư bản. Nó cũng không cho phép phân tích một cách xác đáng các cơ chế bóc lột trong chủ nghĩa xã hội hiện thực. Đó chính là giới hạn của đấu tranh giai cấp nhìn như là trò chơi.

Thay lời kết luận

Nêu lên vấn đề bóc lột trong nước Việt Nam hiện nay là một điều, dường như, không mấy thức thời. Thoạt tiên, đối với không ít người, từ ‘bóc lột’ – cũng như từ ‘giai cấp’ thường đi kèm – gợi lên ký ức của quá khứ hãi hùng: nó nhắc lại những trang lịch sử đen tối của đấu tố địa chủ, của các chiến dịch đánh tư sản và cải tạo công thương nghiệp… Cơ bản hơn, trong khi công cuộc phát triển kinh tế hiện tại đòi hỏi phải trấn an tâm lý của giới doanh nhân, tạo không khí tin tưởng cần thiết, thì đặt lại vấn đề bóc lột có thể làm cho người muốn kinh doanh, đầu tư nản lòng, chùn bước. Trong viễn cảnh của một nước Việt Nam tiếp tục ‘đổi mới’, phải chăng không nên nêu vấn đề này để thảo luận nữa?

Nếu người ta có thể cảm thông lý do tâm lý nói trên, song khó có thể bảo vệ quan điểm thực dụng đó về mặt lý luận, chí ít ngày nào bóc lột vẫn là một khái niệm khoa học. Bởi, cho dù gọi nó tên gì đi nữa, bóc lột chỉ một hiện thực bất biến của lịch sử loài người cho đến nay: từ xã hội này sang xã hội khác, dưới những hình thái khác nhau, quyền lực xã hội nằm trong tay của nhóm các người định đoạt sản phẩm thặng dư và sử dụng nó để tái sản xuất trật tự xã hội mà họ đứng đầu. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, cơ chế bóc lột đó mang một hình thái kinh tế đặc thù là giá trị (mối quan hệ của người lao động làm thuê với tiền tệ), và nó mang một hình thái chính trị đặc thù là dân chủ (mối quan hệ của người công dân với nhà nước pháp quyền). Trước hiện thực này, các nhà lý luận có thể có hai thái độ: hoặc xây dựng một khái niệm khoa học về bóc lột nhằm phân tích một cách có hệ thống các hình thái xã hội đặc thù và khả năng của xã hội vượt lên các hình thái đó; hoặc xây dựng những ý niệm tư tưởng hệ về bóc lột nhằm tránh né hiện thực nói trên, che lấp nó đằng sau những quan hệ khác, mang tính tự nhiên, tức là sùng bái hoá nó.

Trong các nhà lý luận, có thể nói rằng Marx thuộc phạm trù thứ nhất, cho dù khái niệm về giá trị thặng dư mà ông xây dựng lên còn khiếm khuyết hay có nhiều mặt nhặp nhằng cần tranh cãi. Và, cho dù không đồng ý với các luận điểm của Roemer – đó là trường hợp của bản thân tôi -, nỗ lực của ông để đổi mới học thuyết Marx – cũng như mọi cố gắng đọc lại Marx một cách khác hơn trước đây – là điều đáng trân trọng. Sở dĩ học thuyết Marx đã lâm vào khủng hoảng, chính là vì quyền tự do tư tưởng trong tiếp cận Marx không được tôn trọng: trong một thời gian quá dài, nhân danh những lý lẽ chính trị thực dụng, chủ nghĩa xã hội ‘hiện thực’ đã áp đặt một cách đọc Marx duy nhất, triệt tiêu mọi cách đọc khác bị qui chụp là tà thuyết. Năm 1998, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có sáng kiến cho dịch ra và ấn hành tập sách Marx, l’intempestif [Mác, người vượt trước thời đại] của Daniel Bensaid trong đó tác giả bàn về thuyết khái quát về bóc lột của Roemer; tuy nhiên, nhà xuất bản tự cho phép mình gạt bỏ ra ngoài bốn trang trong tác phẩm gốc nói về hình thái bóc lột trong chủ nghĩa xã hội hiện thực [Bensaid 1995, tr. 192-196; bản tiếng Việt, tr. 291]: ắt không phải là cách hay nhất để tranh luận và phản biện các luận điểm của Roemer.

Tài liệu dẫn

Arrow, K. và Debreu, G [1954], ‘Existence of an equilibrium for a competitive economy’, Econometrica, Bộ 22.

Bensaid, D. [1995], Marx, l’intempestif, Fayard. Bản dịch tiếng Việt: Mác, người vượt trước thời đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 1998.

Chamberlin, E.H. [1933], The theory of monopolistic competition, Harvard University Press.

Debreu, G [1954], Théorie de la valeur, Dunod 1966.

Guerrien, B. [1989], Concurrence, flexibilté et stabilité, Economica.

Guerrien, B [2000], ‘La théorie de l’équilibre général depuis 1939’, trong A. Béraud, G. Faccarello (chủ biên), Nouvelle histoire de la pensée économique, t. 3, La Découverte.

Marx, K. [1846], L’idéologie allemande, Editions Sociales 1976.

Marx, K [1857-1858], Manuscrits de 1857-1858, Editions Sociales 1980.

Marx, K [1859], Contribution à la critique de l’économie politique, Editions Sociales 1957.

Marx, K [1872], Le Capital, Livre I, Editions Sociales 1962.

Marx, K [1875], Critique du programme de Gotha, Editions Sociales 1966.

Marx, K [1880], ‘Notes marginales sur le Traité d’économie politique d’Adolphe Wagner’, in K. Marx, Le Capital, Livre II, Editions Sociales 1976.

Nguyễn Thanh Tuyền, Nguyễn Quốc Tế, Lương Minh Cừ (chủ biên) [2003], Sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

Pareto, V. [1902-1903], Les systèmes socialistes, Droz 1965.

Pareto, V. [1909], Manuel d’économie politique, Droz 1981.

Robinson, J. [1933], The economics of imperfect competition, Macmillan 1969.

Robinson, J. [1953], ‘Imperfect competition revisited’, The Economic Journal, September.

Roemer, J.E. [1982], A general theory of exploitation and class, Havard University Press.

Roemer, J.E. [1982b], ‘Exploitation, alternatives and socialism’, Economic Journal, March, in J.E. Roemer [1994]

Roemer, J.E. [1982c], ‘Reply’, Politics and Society, vol. 11, n°3.

Roemer, J.E. (ed) [1986], Analytical marxism, Cambridge University Press.

Roemer, J.E. [1986b], Value, exploitation and class, Harwood Academic Pub.

Roemer, J.E. [1988], Free to lose, Harvard University Press.

Roemer, J.E. [1989], ‘Should marxists be interested in exploitation’, in J.E. Roemer [1994]

Roemer, J.E. [1994], Egalitarian perspectives, Cambridge University Press.

Wright E.O. [1985], Class, Verso.


Chú thích

 

[1]Cuộc thảo luận đã trở nên công khai sau Hội nghị ban chấp hành trung ương của Đảng cộng sản Việt Nam tháng 3 năm 2002. Theo uỷ viên bộ chính trị Nguyễn Minh Triết (bí thư thành uỷ Thành Phố Hồ Chí Minh), “Đảng thừa nhận sự bất cập về mặt lý luận” trên vấn đề “đảng viên có được làm kinh tế tư bản tư nhân hay không ? Người nói có, người nói không. Trong khi thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh đâu có thiếu những đảng viên đang làm chủ doanh nghiệp tư nhân. Có cọ xát thực tiễn, có tự do tư tưởng, có tranh luận mới nảy ra được vấn đề mới, ý tưởng mới, từ đó góp phần phát triển lý luận, vượt qua tình trạng mò mẫm, bất cập hiện nay”. Ông còn nhấn mạnh: “Để có thể tiếp cận cái mới thì đừng vội bài bác những ý kiến trái tai. Trái lại, cần chủ động khuyến khích tranh luận, phản biện, đừng để bất cứ người nào có ý kiến khác hay ý kiến mới mà phải để bụng, không dám nói ra, cốt để yên thân” (báo Tuổi Trẻ, 14.3.2003).

[2]Ngoài ra, còn có bài thảo luận của Phan Huy Đường viết cho hội thảo hè Maine 2002 [http://www.viet-studies.org/hoithao/PHDuong-thangdu.pdf]

[3]Song, Đảng cộng sản Việt Nam dường như chưa vượt qua được từ “tư bản” vẫn huý kỵ, cho nên bản Dự thảo báo cáo chính trị của đại hội X nói vòng vo cho phép “đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô”.

[4]“Phải thấy rằng cách hiểu về bóc lột thời kỳ máy hơi nước hay thời kỳ tự do cạnh tranh so với thời kỳ bây giờ đã hoàn toàn khác xa nhau” (Trần Xuân Giá, Bộ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư, báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 21.2.2002).

[5]“Lao động được trả công theo năng suất, được tiến hành phù hợp với qui định pháp luật, được tôn trọng nhân phẩm và tạo ra khả năng phát triển của người lao động thì không được coi là bị bóc lột và người sử dụng lao động như vậy không phải là kẻ bóc lột” (Lê Đăng Doanh, chuyên viên cấp cao Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương, báo Tuổi trẻ chủ Nhật 24.2.2002).

[6]“Trong một thị trường lao động tự do và minh bạch thì ai dại gì mà bán sức lao động dưới giá thị trường?! Và ngược lại. ai dại gì mà mua sức lao động trên giá đó?! Thế thì bóc lột ăn nhập gì vào quy luật tự nhiên bất biến này [qui luật cung-cầu] của thị trường?” (Nguyễn Sĩ Dũng, phó chủ nhiệm Văn phòng quốc hội, tạp chí Nhà quản lý tháng 1 2006)

[7]Theo luận điểm của Vũ Quang Việt, tiền lãi không thuộc phạm trù giá trị thặng dư, cho nên chỉ có lợi nhuận doanh nghiệp (tư bản chức năng) mới là bóc lột: phân tích này được tác giả xác lập không trong khuôn khổ của học thuyết Marx mà từ quan điểm của “lý thuyết kinh tế tân cổ điển” [bài đã dẫn, trang 8-11]. Trước đó, tại hội thảo hè Liège 1999, Lê Văn Cường (On the exploitation in a perfectly competitive economy) cũng đã sử dụng lý luận tân cổ điển, nhưng để xác lập luận điểm theo đó lợi nhuận doanh nghiệp bằng không, cho nên khái niệm bóc lột của Marx chỉ giới hạn vào tiền lãi (tư bản sở hữu).

[8]Cho rằng:

Y là tổng sản phẩm; A, B, C là các nhân tố sản xuất.
Hàm sản xuất là: Y = Y(A,B,C)
py là giá của sản phẩm; pa, pb, pc là giá, tức thu nhập của các nhân tố sản xuất A, B, C.
Giá trị tổng sản phẩm bằng chi phí sản xuất: Y.py = A.pa + B.pb + C.pc

Chi phí sản xuất đạt mức tối thiểu khi thu nhập thực tế của mỗi nhân tố sản xuất bằng năng
suất biên của nó: δY/δA = pa/py; δY/δB = pb/py; δY/δC = pc/py. Cũng có thể nói rằng
thu nhập danh nghĩa của các nhân tố sản xuất là năng suất biên của chúng tính theo giá của
sản phẩm: pa = (δY/δA)py; pb = (δY/δB) py; pc = (δY/δC) py.

Ở cân bằng cạnh tranh hoàn hão, tổng sản phẩm vừa đúng để chi trả mỗi nhân tố sản xuất theo
năng suất biên của nó: Y = A. δY/δA + B.δY/δB + C.δY/δC

[9]Cho rằng:

L là lượng lao động sử dụng, ℓ là mức lương của đơn vị lao động

S là lượng sản phẩm, s là giá trị của sản phẩm

D là tổng doanh thu: D = S.s; doanh thu biên là: δD/δS = (S.δs/δS) + s

e là độ co giản của cầu đối với giá cả: e = (δS/S) / (δs/s) = (δS/δs).s/S

Mối liên hệ giữa doanh thu biên, giá sản phẩm và độ co giản của cầu đối với giá cả là:

δD/δS = s (1+1/e)

Trong chế độ cạnh tranh hoàn hão, mức lương thực tế bằng năng suất lao động biên: ℓ/s = δS/δL và mức lương danh nghĩa bằng năng suất lao động biên nhân với giá của sản phẩm:ℓ = (δS/δL) s. Giá cả sản phẩm, ở đây, bất biến khi doanh nghiệp tăng sản phẩm bán ra và nó trùng lập với doanh thu biên.

Trong chế độ cạnh tranh mang tính độc quyền, giá của sản phẩm không còn trùng lập với doanh thu biên: muốn gia tăng sản phẩm bán ra, doanh nghiệp phải hạ giá bán, cho nên doanh thu biên lúc nào cũng thấp hơn giá của sản phẩm (doanh thu bình quân). Trong những điều kiện đó, doanh nghiệp chi trả lương theo sự gia tăng doanh thu (chứ không phải theo sự gia tăng sản phẩm) do đơn vị lao động biên mang lại: mức lương danh nghĩa bằng năng suất lao động biên nhân với doanh thu biên (chứ không phải với giá của sản phẩm): ℓ = (δS/δL) (δD/δS) = (δS/δL) (1+1/e) s. Mức lương thực tế là: ℓ/s = (δS/δL) (1+1/e). Bởi lẽ e < 0, cho nên (1+1/e) < 1, và (δS/δL) (1+1/e) < δS/δL: mức lương chi trả cho lao động trong chế độ cạnh tranh có tính độc quyền lúc nào cũng thấp hơn năng suất biên của nó. Tiền lương chỉ tương ứng với năng suất lao động biên khi e = ∞, tức khi cạnh tranh có tính hoàn hão.

[10] “Đấu tranh giai cấp mà Marx đặc biệt nhấn mạnh là một sự kiện hiện thực để lại dấu ấn trên từng trang của lịch sử, nhưng đấu tranh này không xẩy ra giữa hai giai cấp – vô sản và tư bản – mà diễn ra giữa vô số nhóm có những lợi ích khác nhau, nhất là các nhóm ưu tú tranh giành nhau quyền lực” [Pareto 1902-1903, 1, tr. 117-118].

[11]“Ở mọi thời và mọi nơi, quá khứ lịch sử và hiện tại được quan sát đều cho thấy người ta chia thành những nhóm mà của cải kinh tế một phần do nhóm tự sản xuất ra, một phần do nó tước đoạt những nhóm khác, và các nhóm này thì tước đoạt nó lại. Các hành vi đó đan chéo nhau một nghìn cách và có những tác động trực tiếp và gián tiếp vô cùng đa dạng. Đối với mỗi nhóm, cần xác lập một bảng tổng kết” [Pareto 1902-1903, 1, tr. 119].

[12]Đó chỉ mới là các giả thuyết về hình thái tổ chức của thị trường. Sự tồn tại của cân bằng chung còn đòi hỏi một số giả thuyết khác liên quan đến các tác nhân (công nghệ mà người sản xuất sử dụng, sở thích của người tiêu dùng, phép phẩn bổ tài sản ban đầu giữa các tác nhân) đảm bảo tính liên tục của hàm cung và hàm cầu trên thị trường. Tất cả các giả thuyết đó cho phép mô hình Arrow-Debreu chứng minh cân bằng chung tồn tại, song nó không chứng minh được tính ổn định của cân bằng chung đó: điều này có nghĩa là quá trình mò mẫm của bí thư thị trường, nói chung, không đưa đến cân bằng chung hay. Nói cách khác: “qui luật cung – cầu” không được xác minh [Guerrien 1989]

[13]Hãy giả dụ một xã hội hoàn toàn bất bình đẳng trong đó một cá nhân độc quyền nắm chiếm tất cả nhân tố sản xuất: đó là một trạng thái kinh tế tối ưu trong nghĩa không thể cải thiện lợi ích của các người còn lại mà không gây thiệt hại cho người nắm độc quyền. Trong khi đó, một xã hội hoàn toàn bình đẳng, trong đó tất cả nhân tố sản xuất đều đươc chia đều giữa các thành viên, là một trạng thái kinh tế không tối ưu bởi vì các thành viên, nếu có những sở thích không giống nhau, có thể cải thiện lợi ích cá nhân bằng cách tiến hành những cuộc trao đổi có lợi lẫn nhau. Càng không thể cho rằng xã hội bình đẳng ưu việt hơn xã hội bất bình đẳng hoặc ngược lại, bởi vì lợi ích của một người hoặc của các người còn lại sẽ bị thiệt hại khi chuyển từ xã hội này sang xã hội kia: đó là hai xã hội không so sánh với nhau được.

[14]Một xu thế khác trong các tác giả tân cổ điển là giới hạn phân tích cân bằng chung vào một số ít “tác nhân đại biểu”, song khó lòng gọi đây là cân bằng chung “tân cổ điển” khi nó đã đánh mất phương pháp luận “đi từ cá thể”: tác nhân đại biểu không phải là một tác nhân cá thể mà là một tác nhân tập thể (thuộc về phương pháp luận “đi từ toàn thể”). Cũng có thể nói rằng định nghĩa tân cổ điển về một nền kinh tế thị trường mất đi, ở đây, nội dung chính của nó là phối hợp các chọn lựa thuần lý của một số đông cá nhân khác nhau [Guerrien 2000].

[15] Trong Free to lose [1988], Roemer sử dụng thí dụ như sau: Giả định một nền kinh tế gồm 1000 tác nhân sản xuất lúa mì theo hai kỹ thuật. Kỹ thuật A: 1 ngày lao động và 1 đơn vị lúa giống làm ra 2 đơn vị lúa mì gộp, tức 1 đơn vị lúa mì ròng. Kỹ thuật B: 3 ngày lạo động làm ra 1 đơn vị lúa mì. Thời gian làm ra lúa mì là 1 tuần lễ. Mỗi tác nhân cần dùng 1 đơn vị lúa mì/tuần để tồn tại. Vốn tư bản ban đầu trong xã hội là 500 đơn vị lúa mì.

● Mô hình kinh tế 1: Lúa giống được phân bổ bình đẳng, mỗi tác nhân kinh tế nắm 0,5 đơn vị. Ở trạng thái cân bằng, mỗi tác nhân lao động 0,5 ngày theo kỹ thuật A và 1,5 ngày theo kỹ thuật B, nó làm ra 1,5 đơn vị lúa mì, đảm bảo tiêu dùng tất yếu (1 đơn vị) và tái sản xuất tư bản (0,5 đơn vị). Thời gian lao động của mỗi tác nhân là 2 ngày, đó cũng là thời gian lao động chứa đựng trong 1 đơn vị lúa mì, cho nên không có bóc lột.

● Mô hình kinh tế 2: 250 tác nhân kinh tế hình thành nhóm L của các tác nhân bán sức lao động, và 750 người còn lại hình thành nhóm M của các tác nhân mua sức lao động. Mỗi tác nhân L tự sản xuất lúa mì theo kỹ thuật A với tư bản của nó và 0,5 ngày lao động, làm ra 1 đơn vị lúa mì, cho phép tái tạo tư bản và cung cấp 0,5 đơn vị lúa mì để tiêu dùng. Sau đó, thay vì tiếp tục tự sản xuất theo kỹ thuật B với thời gian lao động còn lại (1,5 ngày), nó bán sức lao động của nó cho các tác nhân M sản xuất lúa theo kỹ thuật A: với 1,5 ngày lao động và 1,5 đơn vị lúa giống của ba tác nhân M, có thể sản xuất 3 đơn vị lúa mì, trong đó phần trả công cho tác nhân L là 0,5 đơn vị lúa còn thiếu để nó đảm bảo sinh hoạt (mức lương là 0,33 đơn vị lúa/ngày), phần tái tạo tư bản của ba tác nhân M là 1,5 đơn vị lúa, và phần lợi nhuận là 1 đơn vị lúa, tức 0,33 đơn vị cho mỗi chủ tư bản M: tỷ suất lợi nhuận (lợi nhuận/vốn tư bản) là 0,33/0,5 = 0,66%. Các tác nhân M còn thiếu 0,66 đơn vị lúa mì để đảm bảo sịnh hoạt, cho nên mỗi người cần tự sản xuất theo kỹ thuật B với 2 ngày lao động. Ở trạng thái cân bằng, thời gian mỗi người lao động và thời gian lao động chứa đựng trong một đơn vị lúa mì vẫn là 2 ngày: sự hình thành của một thị trường lao động không tạo nên bóc lột.

[16]Triển khai tiếp tục thí du trong Free to lose [1988], Roemer giả định nhóm M gồm 10 tác nhân chia nhau tất cả vốn tư bản ban đầu, và nhóm L gồm 990 tác nhân vô sản.

● Mô hình kinh tế 3: Chọn lựa của các tác nhân L giữa tự lao động sản xuất và lao động làm thuê tuỳ thuộc vào mức lương trên thị trường. Khi tiền lương ở dưới mức 0,33 đơn vị lúa/ngày, tất cả đều chọn tự lao động sản xuất 3 ngày theo kỹ thuật B để đảm bảo sinh hoạt; khi tiền lương ở trên mức 0,33 đơn vị lúa/ngày, tất cả đều chọn lao động làm thuế cho nhóm M. Song, bởi vì vốn tư bản của nhóm M không đủ để sử dụng tất cả tác nhân L, mức lương cân bằng là 0,33 đơn vị lúa/ngày. Với tổng số tư bản là 500 đơn vị lúa, số tác nhân L lao động làm thuế mỗi người 3 ngày là 167 người [500/3]. Tổng sản phẩm lúa mì sẽ là 1000 đơn vị, trong đó 500 đơn vị là để tái tạo tư bản, 167 đơn vị là để trả công [500/3], 333 đơn vị còn lại là lợi nhuận của 10 tác nhân M, tỷ suất lợi nhuận là 66,6% [333/500]. 823 tác nhân L còn lại sẽ tự lao động sản xuất 3 ngày với kỹ thuật B. Trong khi 1 đơn vị lúa mì vẫn chứa đựng 2 ngày lao động, các tác nhân vô sản L phải lao động 3 ngày để được 1 đơn vị lúa mì, và tác nhân chủ tư bản M nhận được 33,3 đơn vị lúa mì mà không cần phải lao động: quan hệ bóc lột xuất hiện ở đây.

● Mô hình kinh tế 4: Thay vì trả công cho 167 tác nhân vô sản L, các tác nhân chủ tư bản cho họ vay vốn tư bản và thu tiền lãi. Các tác nhân L này mỗi người vay mượn 3 đơn vị tư bản và, với 3 ngày lao động, làm ra 6 đơn vị lúa mì. Trên số đó, mỗi người tiêu dùng 1 đơn vị và trả 5 đơn vị cho chủ tư bản M, gồm 3 đơn vị để hoàn lại vốn và 2 đơn vị là tiền lãi: lãi suất như vậy là 66,6% ngang bằng tỷ suất lợi nhuận của mô hinh 3. Ở thế cân băng, thời gian lao động của mỗi tác nhân vô sản là 3 ngày trong khi tư liệu sinh hoạt của họ chỉ tương đương với 2 ngày lao động như trong nền kinh tế 3. Chế độ người cho vay bóc lột người mượn vốn và chế độ chủ tư bản bóc lột người làm công kết cấu như nhau: Roemer gọi đó là “định lý về tính đẳng cấu” (isomorphism theorem) [Roemer 1982, Lời mở đầu].

SOURCE: Tạp chí Thời đại mới số 7 tháng 3 năm 2006

NGUYÊN TẮC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TOÀ ÁN NƯỚC NGOÀI, TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI

hands-globe.jpgNÔNG QUỐC BÌNH

Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự, của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài là một vấn đề quan trọng trong tố tụng dân sự, theo đó các phán quyết của toà án hoặc của trọng tài một nước sẽ có thể được công nhận và thi hành ở nước khác. Trong bối cảnh của quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng thì vấn đề công nhận và cho thi hành các phán quyết của toà án và trọng tài nước ngoài là vấn cần được quan tâm. Để đảm bảo quyền lợi của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong tố tụng dân sự, trên cơ sở chủ quyền quốc gia, việc công nhận, thi hành phán quyết của toà án, trọng tài nước ngoài phải tuân theo một số nguyên tắc pháp lý nhất định.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, những vấn đề pháp lý liên quan tới thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước được quy định tại Phần thứ sáu của Bộ Luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Trên cơ sở các quy định của phần thứ sáu BLTTDS, bài viết này xin đề cập tới một số quy định có tính nguyên tắc trong việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên.

1. Toà án của Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài phù hợp với quy định của điều ước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập

Tôn trọng các cam kết quốc tế là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế. Theo đó tất cả các thành viên của điều ước quốc tế phải tự nguyện tuân thủ những điều đã cam kết.

Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam luôn tôn trọng nguyên tắc này. Để khẳng định việc tuân thủ nguyên tắc tôn trọng cam kết quốc tế, pháp luật Việt Nam đã quy định: Trong trường hợp có sự khác nhau giữa pháp luật trong nước và điều ước quốc tế thì áp dụng điều ước quốc tế. Nội dung thể hiện sự tôn trọng điều ước quốc tế này được quy định trong Khoản 3 Điều 2 của BLTTDS và trong nhiều quy định của một số văn bản pháp luật khác như: Khoản 2 Điều 827 Bộ luật dân sự,(1) khoản 2 Điều 5 Luật cạnh tranh…

Trên cơ sở của khoản 3 Điều 2 của BLTTDS, nguyên tắc tôn trọng các cam kết quốc tế trong việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài, đã được cụ thể hoá trong BLTTDS như sau:

Thứ nhất, đối với bản án hoặc quyết định dân sự của toà án nước ngoài tuyên. Các bản án và quyết định của toà án nước ngoài sẽ được toà án Việt Nam xem xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu bản án hoặc quyết định dân sự đó được tuyên bởi toà án của nước ký kết với Việt Nam một điều ước quốc tế có quy định việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của nhau hoặc cùng Việt Nam là thành viên của điều ước quốc tế về vấn đề công nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự (Điều 343 BLTTDS).

Trên thực tế Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế tay đôi về tương trợ tư pháp và pháp lý(2) (HĐTTTP). Trong các HĐTTTP này Việt Nam đã thoả thuận với các nước ký kết đối với việc công nhận và cho thi hành bản án và quyết định dân sự của nhau trong quan hệ quốc tế. Trên cơ sở quy định của HĐTTTP, nội dung quy định về vấn đề này được thực hiện theo nguyên tắc những phán quyết của toà án của nước ký kết này sẽ được công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ của nước ký kết kia. Theo đó các bản án, quyết định dân sự của toà án nước ký kết này sẽ được mặc nhiên công nhận và cho thi hành ở nước ký kết kia. Ví dụ: Điều 46, 47 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Cu Ba; Điều 51 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Hunggari; Khoản 1, 2 Điều 44 của HĐTTTP giữa Việt Nam và Lào; Điều 51, 52, 53 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Liên bang Nga; Điều 15 HĐTTTP giữa Việt Nam với Trung Quốc; Điều 21 của HĐTTTP giữa Việt Nam với Cộng hoà Pháp ; Điều 56, 57, 58 HĐTTTP giữa Việt Nam với Cộng hoà Bêlarut…

Theo quy định tại khoản 5 Điều 343 BLTTDS thì trong trường hợp Việt Nam ký kết hoặc tham gia điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài thì bản án hoặc quyết định dân sự do toà án nước là thành viên của điều ước quốc tế tuyên sẽ được mặc nhiên công nhận và cho thi hành tại Việt Nam nếu không có yêu cầu yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công nhận.

Thứ hai, đối với quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 343 BLTTDS thì có thể nói toà án của Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài trong hai trường hợp.

Trường hợp thứ nhất, quyết định của trọng tài được tuyên tại nước là thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. Trong trường hợp này dấu hiệu nơi trọng tài tuyên được coi là dấu hiệu để xác định thẩm quyền của toà án Việt Nam trong việc xem xét, công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài. Trên thực tế, khi thoả thuận về trọng tài các bên có thể chọn ra loại trọng tài (trọng tài thiết chế hoặc trọng tài ad-hoc) đồng thời có thể thoả thuận cả nơi trọng tài sẽ tiến hành xét xử, đặc biệt là đối với trường hợp chọn trọng tài ad-hoc. Vì vậy, trong trường hợp này, nếu nơi tiến hành xét xử là nước thuộc thành viên của điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập thì phán quyết của trọng tài đó có thể được toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Trường hợp thứ hai, quyết định trọng tài được tuyên bởi trọng tài của nước mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề công nhận và cho thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài. Trong quan hệ quốc tế về vấn đề này, năm 1995 Việt Nam đã gia nhập Công ước New- York (1958) về công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài(3). Tuy nhiên, trong quá trình gia nhập Công ước này Việt Nam đưa ra 3 điều bảo lưu cơ bản đó là: a) Công ước chỉ được áp dụng đối với việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của trọng tài nước ngoài được tuyên trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên của Công ước; b) Công ước chỉ được áp dụng đối với các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp luật thương mại; c) Mọi sự giải thích Công ước trước Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Chúng tôi cho rằng vào thời điểm gia nhập Công ước này các đây 10 năm việc Việt Nam đưa ra 3 điều bảo lưu như trên là cần thiết. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc bảo lưu này cần được nghiên cứu xem xét thêm.

2. Toà án Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

Nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự, đặc biệt là của nguyên đơn trong các vụ kiện có yếu tố nước ngoài, trong một số trường hợp pháp luật Việt Nam quy định việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên. Về vấn đề này, BLTTDS quy định toà án xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự khi bản án và quyết định dân sự đó nếu được pháp luật Việt Nam công nhận và cho thi hành (Điều 343 BLTTDS).

Trong BLTTDS không quy định cụ thể loại bản án, quyết định dân sự nào của toà án nước ngoài tuyên hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài tuyên sẽ được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Tuy nhiên, trong BLTTDS lại quy định rất cụ thể các loại bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài cũng như quyết định của trọng tài nước ngoài sẽ không được toà án của Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

Thứ nhất, đối với việc không công nhận và thi thành các bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài.

Trên cơ sở nội dung quy định tại Điều 356 BLTTDS thì các bản án và quyết định dân sự của toà án nước ngoài sau đây sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam:

– Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật nước có toà án đã ra bản án hoặc quyết định đó;

– Người phải thi hành hoặc người đại diện của người đó đã vắng mặt tại toà án nước ngoài vì đa không được triệu tập hợp lệ;

– Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của toà án Việt Nam;

– Vụ án đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực của toà án Việt Nam hoặc vụ án của toà án nước ngoài đã được toà án Việt Nam công nhận hoặc vụ án mà trước khi toà án nước ngoài thụ lý, toà án Việt Nam đã thụ lý và đang trong giải quyết vụ án đó;

– Bản án, quyết định dân sự đã hết hiệu lực thi hành theo pháp luật của nước có toà án đã ra bản án, quyết định đó hoặc theo quy định của pháp luật Việt Nam;

– Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, đối với việc không xem xét công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài nước ngoài.

Theo quy định tại Điều 370 BLTTDS, toà án của Việt Nam sẽ không xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của Trọng tài nước ngoài sau đây:

– Quyết định trọng tài dựa trên ký kết thoả thuận trọng tài của các bên không đủ năng lực hành vi ký kết theo quy định của pháp luật áp dụng cho mỗi bên.(4)

Quy định này được hiểu là các bên ký kết phải đủ năng lực hành vi ký kết. Như vậy, nếu một trong các bên không đủ năng lực hành vi ký kết thỏa thuận trọng tài thì phán quyết của trọng tài dựa trên cơ sở thỏa thuận đó cũng sẽ không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam. Theo quy định này thì pháp luật áp dụng để xác định năng lực hành vi ký kết thỏa thuận trọng tài của các bên là luật quốc tịch của các bên. Theo đó luật quốc tịch sẽ là cơ sở pháp lý để xác định tính năng lực hành vi ký kết của mỗi bên.

– Quyết định của trọng tài dựa trên sự thoả thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật áp dụng cho thoả thuận trọng tài(5). Trường hợp này có thể xảy ra khi:

+ Trái với luật mà các bên đã thoả thuận áp dụng;

+ Trái với luật nước nơi ra quyết định trọng tài (nếu các bên không chọn luật áp dụng).

– Quyết định trọng tài đã vi phạm thủ tục tố tụng(6). Ví dụ người phải thi hành quyết định trọng tài đã không được thông báo kịp thời và hợp thức đối với việc chỉ định trọng tài viên hoặc thông được thông báo về thủ tục giải quyết tranh chấp tại trọng tài hoặc vì nguyên nhân chính đáng mà người phải thi hành đã không được thực hiện quyền tố tụng trong trọng tài của mình(7) hoặc thành phần, thủ tục trọng tài nước ngoài đã không phù hợp với thỏa thuận trọng tài.

– Quyết định của trọng tài nằm ngoài yêu cầu giải quyết của các bên hoặc vượt quá yêu cầu của các bên trong thoả thuận trọng tài(8).

– Quyết định của trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên hoặc bị cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ hoặc đình chỉ thi hành(9).

– Quyết định của trọng tài nước ngoài không phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam hoặc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam(10).

3. Toà án Việt Nam có thể công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài trên cơ sở có đi có lại

Có đi có lại là một nguyên tắc quan trọng trong quan hệ quốc tế. Nguyên tắc này thường được áp dụng trong trường hợp không có điều ước quốc tế. Theo nguyên tắc có đi có lại thì một nước này sẽ áp dụng cho thể nhân hoặc pháp nhân nước khác một chế độ pháp lý nhất định giống như chế độ pháp lý mà thể nhân hoặc pháp nhân của nước này được hưởng tại nước khác đó. Chế độ pháp lý nhất định trong trường hợp này thông thường là chế độ đãi ngộ tối huệ quốc hoặc chế độ đãi ngộ quốc gia hoặc một số ưu đãi. Tuy nhiên, trên thực tế, nguyên tắc có đi có lại cũng có thể dùng để hạn chế quyền lợi của thể nhân hoặc pháp nhân nước ngoài tại nước sở tại. Theo đó nếu một nước đơn phương không áp dụng chế độ có đi có lại hoặc hạn chế quyền lợi của công dân một nước thì nước có công dân bị hạn chế quyền lợi sẽ áp dụng biện pháp trả đũa bằng cách hạn chế ngay những quyền lợi tương tự đối với công dân của nước kia.

Nguyên tắc có đi có lại được áp dụng trong việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài được quy định tại khoản 3 Điều 343 BLTTDS. Về mặt lý luận cũng như thực tế, nguyên tắc có đi có lại được áp dụng mà không đòi hỏi phải Việt Nam và các nước hữu quan phải là thành viên của điều ước quốc tế về vấn đề này. Trên cơ sở lý luận về nguyên tắc có đi có lại trong quan hệ quốc tế, về vấn đề này có thể được hiểu là toà án của Việt Nam có thể công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài của một nước khi toà án nước này đã công nhận và cho thi hành đối với bản án, quyết định dân sự của toà án Việt Nam hoặc quyết định của trọng tài Việt Nam.

4. Bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi đã được toà án của Việt Nam công nhận và cho thi hành

Thi hành quyết định của toà án hoặc phán quyết của trọng tài có một ý nghĩa quan trọng. Theo đó quyền lợi của bên bị hại sẽ được thực hiện. Trong quan hệ quốc tế, việc cho thi hành một bản án của toà án hoặc một quyết định của trọng tài nước ngoài không chỉ thể hiện quan điểm của toà án nước cho thi hành bản án đối với việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên bị hại mà còn thể hiện sự tôn trọng của cơ quan xét xử nước này đối với phán quyết của cơ quan xét xử nước khác. Tuy nhiên, về mặt pháp lý cũng như thực tiễn tư pháp thì một bản án hoặc quyết định dân sự của toà án nước này tuyên sẽ không được thi hành ở một nước khác khi chưa được nước khác đó công nhận và cho thi hành. Nguyên tắc này được áp dụng không chỉ thể hiện chủ quyền quốc gia mà còn đảm bảo rằng nội dung của bản án cũng như hậu quả của việc thi hành các bản án của toà án nước ngoài tuyên sẽ không đi ngược lại những nguyên tắc pháp lý của nước nơi thi hành bản án đó.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tại khoản 4 Điều 343 của BLTTDS thì những bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài hoặc của trọng tài nước ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi được Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành(11).

Tóm lại, việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài và quyết định của trọng tài nước ngoài phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các nguyên tắc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, các quyết định của trọng tài nước ngoài được quy định trong BLTTDS. Theo đó toà án của Việt Nam chỉ công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của toà án nước ngoài, quyết định của trọng tài nước ngoài khi: Việc công nhận và cho thi hành này phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam; trên nguyên tắc có đi có lại; và việc thi hành chỉ được thực hiện sau khi đã được Toà án của Việt Nam công nhận và cho thi hành. Việc tuân thủ các nguyên tắc này không chỉ thể hiện chủ quyền của Việt Nam mà còn phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay./.


(1) Bộ luật dân sự được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995.(2) Việt Nam đã ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp với 14 nước trên thế giới.(3) Ngày 28/7/1995 Chủ tịch nước đã ký quyết định gia nhập Công ước New York 1958 về việc công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài.

 

 

(4) Xem điểm a khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(5) Xem điểm b khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(6) Xem điểm c, đ khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(7) Xem điểm c khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(8) Xem điểm d khoản 1 Điều 370 BLTTDS.

(9) Xem điểm e, g khoản 1 Điều 370.

(10) Xem khoản 2 Điều 370 BLTTDS.

(11) Xem khoản 4 Điều 343 BLTTDS.


ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘITẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

 

 

CHẾ ĐỊNH PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

THS. NGUYỄN THỊ THU HÀ – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Trong Bộ luật tố tụng dân sự, chế định phúc thẩm dân sự được quy định tại Phần thứ ba gồm 3 chương (từ Chương XV đến Chương XVII), 39 điều luật (từ Điều 242 đến Điều 281). Có thể nói, các quy định trong BLTTDS về thủ tục phúc thẩm dân sự đã được kế thừa từ Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Tuy nhiên, các quy định này đã có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước cũng như công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta. Những sửa đổi, bổ sung cơ bản về thủ tục phúc thẩm dân sự trong BLTTDS gồm những vấn đề cơ bản sau đây:

1. Về tính chất của xét xử phúc thẩm

Từ trước đến nay hệ thống toà án của chúng ta vẫn thực hiện theo chế độ hai cấp xét xử tuy nhiên đến năm 2002 mới được ghi nhận trong Luật tổ chức toà án nhân dân năm 2002. Hiện nay, tại Điều 242 BLTTDS khẳng định xét xử phúc thẩm là việc toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Việc BLTTDS quy định về tính chất của xét xử phúc thẩm nhằm khẳng định phúc thẩm là một cấp xét xử và là cấp xét xử thứ hai, được tiến hành sau thủ tục sơ thẩm.

2. Kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm

– Về người có quyền kháng nghị

Trước đây, Điều 58 PLTTGQCVADS, Điều 60 PLTTGQCTCLĐ chỉ quy định viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm mà không nói cụ thể ai là người có quyền kháng nghị. Việc quy định như vậy dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm trong việc thực hiện kháng nghị cũng như việc chịu trách nhiệm pháp lý trước quyết định kháng nghị của mình. Để giải quyết vấn đề này, Điều 250 BLTTDS đã quy định viện trưởng viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Toà án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

– Về đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị

Điều 58 PLTTGQCVADS, Điều 60 PLTTGQCTCLĐ, Điều 60 PLTTGQCTCKT chỉ quy định người kháng cáo phải làm đơn kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị bằng văn bản trong đó nêu rõ nội dung phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, lý do và yêu cầu kháng cáo, kháng nghị. Hiện nay, các điều 244, 251 BLTTDS quy định cụ thể về nội dung đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị. Đồng thời người kháng cáo, kháng nghị gửi kèm theo đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị là tài liệu, chứng cứ bổ sung, nếu có để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, yêu cầu kháng nghị của viện kiểm sát là có căn cứ và hợp pháp. Đây là quy định hoàn toàn mới có ý nghĩa buộc người kháng cáo, kháng nghị phải thực hiện nghĩa chứng minh trong trường hợp họ kháng cáo bản án, quyết định của toà án.

Ngoài ra, Điều 246 BLTTDS còn quy định trách nhiệm của toà án cấp sơ thẩm khi nhận được đơn kháng cáo. Nếu đơn kháng cáo không có đầy đủ nội dung theo quy định của BLTTDS thì toà án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo. Trong trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ, nếu có để chứng minh cho lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng. Quy định mới này của BLTTDS bảo đảm cho đương sự và những người có quyền kháng cáo có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước toà án đồng thời tạo điều kiện cho toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án một cách nhanh chóng và chính xác.

– Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Điều 59 PLTTGQCVADS, Điều 61 PLTTGQCTCLĐ, Điều 61 PLTTGQCVAKT đều quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án và quyết định của toà án cấp sơ thẩm là giống nhau theo đó thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án, quyết định của toà án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày. Nay các điều 245, 252 BLTTDS quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm và quyết định của toà án cấp sơ thẩm là khác nhau, trong đó giữ nguyên thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của toà án cấp sơ thẩm nhưng rút ngắn thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của toà án cấp sơ thẩm. Việc BLTTDS quy định thời hạn kháng cáo, kháng nghị như vậy là hoàn toàn hợp lý, người kháng cáo, viện kiểm sát có đủ thời gian cần thiết để suy nghĩ và quyết định xem mình có nên kháng cáo, kháng nghị hay không đồng thời khắc phục tình trạng kéo dài thời hạn giải quyết vụ án. Ngoài ra, BLTTDS còn quy định các trường hợp khác nhau để xác định thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Nếu đương sự, viện kiểm sát có mặt tại phiên toà sơ thẩm thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị tính từ ngày tuyên án, nếu đương sự, viện kiểm sát không có mặt tại phiên toà thì thời hạn tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết hoặc ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.

Ngoài ra, khác với các quy định của các văn bản pháp luật đã ban hành trước đây, BLTTDS không quy định kháng nghị quá hạn của viện kiểm sát cũng như không ấn định thời hạn cụ thể kháng cáo, kháng nghị quá hạn. Theo Điều 247 BLTTDS kháng cáo quá hạn là kháng cáo quá thời hạn luật quy định. Và để xem xét kháng cáo quá hạn đó có được chấp nhận hay không BLTTDS còn quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục xét đơn kháng cáo quá hạn, đó là sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ, nếu có cho toà án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm ba thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và toà án cấp sơ thẩm; nếu toà án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật và gửi hồ sơ vụ án cho toà án cấp phúc thẩm. Tuy nhiên, BLTTDS chưa quy định cụ thể cách thức làm việc của hội đồng xét xử khi tiến hành xem xét đơn kháng cáo quá hạn đó là toà án cấp phúc thẩm phải mở phiên toà hay không phải mở phiên toà để xét đơn kháng cáo quá hạn. Theo chúng tôi, để tránh sự tuỳ tiện trong áp dụng cũng như có khả năng khắc phục nhanh nhất những sai lầm có thể xẩy ra thủ tục này nên quy định theo hướng toà án cấp phúc thẩm không phải mở phiên toà, hội đồng xem xét lý do của việc kháng cáo, kháng nghị quá hạn và sau đó ra quyết định.

– Về thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị

Trước đây, Điều 60 PLTTGQCVADS quy định trước hoặc tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo có quyền sửa đổi nội dung kháng cáo, viện kiểm sát có quyền sửa đổi nội dung kháng nghị. Tuy nhiên, Điều 256 BLTTDS đã quy định chặt chẽ hơn đó là việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết. Việc quy định như vậy nhằm mục đích để các đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với đối phương để họ chuẩn bị tổ chức việc biện hộ sau khi đã biết rõ thực trạng những nội dung kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, như thế nào là không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu? Phải chăng không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu được hiểu là không vượt ra ngoài các nội dung cụ thể và trong mỗi nội dung cụ thể không vượt quá mức độ, quy mô đã được đặt ra ban đầu của yêu cầu kháng cáo, kháng nghị? Và khi đã tiến hành xét xử phúc thẩm thì lúc đó đương nhiên là đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên việc BLTTDS quy định tại phiên toà phúc thẩm việc thay đổi, bổ sung kháng cáo, kháng nghị không được vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết được hiểu như thế nào?. Chúng tôi thiết nghĩ để áp dụng thống nhất quy định này cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải có hướng dẫn cụ thể.

Theo Nghị quyết số 03/ HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS (NQ 03/HĐTP) khi người kháng cáo rút kháng cáo, viện kiểm sát rút kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, việc ra quyết định này không thể hiện được là sau khi toà án cấp phúc thẩm chấp nhận cho rút kháng cáo, kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm có tiếp tục xét xử nữa hay không cũng như bản án, quyết định sơ thẩm trong trong trường hợp này có hay không có hiệu lực pháp luật. Để giải quyết những vướng mắc này, BLTTDS đã quy định toà án cấp phúc thẩm sẽ ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc viện kiểm sát đã rút kháng nghị. Khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xử phúc thẩm và bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 256, 260).

3. Về chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Các văn bản pháp luật tố tụng trước đây không có quy định về việc thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm, tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm. Việc không quy định những vấn đề này đã gây khó khăn cho toà án cấp phúc thẩm khi xác định thời hạn xét xử phúc thẩm cũng như trên thực tế có những trường hợp mà toà án cấp phúc thẩm không thể tiếp tục xét xử phúc thẩm hoặc không còn đối tượng để xét xử phúc thẩm nhưng không thể ra quyết định gì vì không có căn cứ pháp lý. Tuy nhiên, những vấn đề này đã được quy định trong BLTTDS. Cụ thể:

– Toà án cấp phúc thẩm vào sổ thụ lý vụ án ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu chứng cứ kèm theo (Điều 257).

– Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó; một bên đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật; chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế; cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án; các trường hợp khác mà pháp luật có quy định. Bên cạnh đó, BLTTDS cũng quy định thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm cũng được thực hiện như giai đoạn sơ thẩm (Điều 259).

– Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm khi có căn cứ nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị; các trường hợp khác mà pháp luật có quy định. Trong trường hợp toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị thì bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (Điều 260).

– Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Trong trường hợp này toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm. (Điều 269).

Trước đây, theo hướng đẫn của NQ 03/HĐTP, trước khi xét xử phúc thẩm toà án cũng tiến hành hòa giải và nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thủ tục ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự giống như ở sơ thẩm. Tuy nhiên, theo Điều 258 BLTTDS trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp, toà án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Như vậy, khác với các quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng trước đây, trước khi mở phiên toà phúc thẩm nếu các đương sự có hoà giải thành thì toà án cũng không ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Vậy trong trường hợp này toà án cấp phúc thẩm giải quyết như thế nào? Phải chăng thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án chỉ lập biên bản hòa giải thành sau đó mở phiên toà và hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự như hướng dẫn tại Công văn số 81/KHXX ngày 10/6/2002 của Toà án nhân dân tối cao. Chúng tôi cho rằng trước khi xét xử phúc thẩm nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì toà án không cần phải mở phiên toà vì khi các đương sự đã đạt được sự thống nhất chung về các vấn đề giải quyết trong vụ án thì thẩm phán phải công nhận sự thoả thuận đó và sự thoả thuận của họ đã đương nhiên phủ nhận giá trị pháp lý của bản án, quyết định sơ thẩm. Ngoài ra, bản án, quyết định sơ thẩm chưa hẳn là đã có sai lầm, vi phạm pháp luật để toà án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm đó. Do đó, theo chúng tôi, trong trường hợp này cần hướng dẫn thẩm phán phụ trách việc giải quyết vụ án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự và tuyên bố bản án sơ thẩm không có hiệu lực pháp luật.

4. Thủ tục xét xử phúc thẩm

– Về việc hoãn phiên toà phúc thẩm

Các văn bản pháp luật trước đây quy định nguyên đơn kháng cáo đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm và bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Nếu đương sự kháng cáo không phải là nguyên đơn hoặc đương sự không kháng cáo nhưng đã được toà án cấp phúc thẩm triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng Toà án xét xử vụ án vắng mặt họ. Tuy nhiên việc quy định này là không hợp lý vì việc xét xử phúc thẩm là dựa trên yêu cầu kháng cáo, trong khi đó bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu kháng cáo triệu tập đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng thì Toà án xét xử vụ án vắng mặt họ hoặc nguyên đơn cũng không có mặt tại phiên toà phúc thẩm mà không có lý do chính đáng thì hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn phải mở phiên toà để xét xử. Để khắc phục hạn chế này, Điều 266 BLTTDS quy định người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà. Nếu người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc kháng cáo và Toà án ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm phần vụ án có kháng cáo của người kháng cáo vắng mặt. Người tham gia tố tụng khác không phải là người kháng cáo vắng mặt tại phiên toà thì việc hoãn phiên toà hay vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực hiện như ở giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại các Điều 199, 200, 201, 202, 203, 204, 205 và 206 BLTTDS. Thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm được thực hiện như giai đoạn sơ thẩm theo quy định tại Điều 208 BLTTDS.

– Thủ tục phiên toà phúc thẩm

Điều 68 PLTTGQCVADS, Điều 69 PLTTGQCVAKT, Điều 70 PLTTGQCTCLĐ quy định về thủ tục phiên toà phúc thẩm rất sơ sài, chỉ quy định chung chung là được tiến hành tương tự phiên toà sơ thẩm. Tuy nhiên, BLTTDS đã quy định cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục tiến hành phiên toà phúc thẩm từ khi chuẩn bị khai mạc phiên toà đến khi kết thúc phiên toà trong đó đã bổ sung các quy định để đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp, mở rộng quyền dân chủ, phát huy tính tích cực, chủ động của các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong việc trình bày yêu cầu, đề nghị, xuất trình chứng cứ, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Cụ thể:

Trước khi khai mạc phiên toà, thư ký toà án phải tiến hành các công việc để chuẩn bị khai mạc phiên toà. Sau đó, chủ toạ phiên toà khai mạc phiên toà; giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; xem xét, quyết định, hoãn phiên toà khi có người vắng mặt; bảo đảm tính khách quan của người làm chứng (Điều 267, 212, 213, 214, 215, 216).

Trong phần hỏi tại phiên toà, BLTTDS đã có một số quy định mới so với các văn bản pháp luật tố tụng trước đây cụ thể như sau:

Thứ nhất, chủ toạ phiên toà hỏi và hội đồng xét xử xem xét việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn, việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị, việc thoả thuận của cá đương sự tại phiên toà phúc thẩm.

Nếu nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì hội đồng xét xử phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không? Nếu bị đơn không đồng ý thì hội đồng xét xử không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và phiên toà phúc thẩm vẫn tiến hành bình thường. Nếu bị đơn đồng ý thì hội đồng xét xử chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn và ra quyết định huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án (Điều 268, 269). Quy định mới này vừa thể hiện sự tôn trọng nguyên tắc quyền tự định đoạt của dương sự đồng thời vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác.

Nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, thì hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm sửa lại bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của đương sự. (Điều 268, 270).

Thứ hai, việc nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên toà. Theo quy định tại Điều 271 BLTTDS người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thường trình bày trước sau đó đương sự bổ sung ý kiến. Quy định mới này cho thấy việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự dần dần được giao cho những người am hiểu pháp luật và có trình độ chuyên môn cao thực hiện và như vậy chất lượng và hiệu quả xét xử sẽ được nâng cao cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ một cách tốt nhất.

Việc tiến hành tranh luận, nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa, bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục sơ thẩm tuy nhiên việc hỏi và tranh luận chỉ về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm (Điều 273, 274).

Có thể nói các quy định của BLTTDS về phiên toà phúc thẩm đều nhằm thể hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trong hoạt động tư pháp theo xu hướng thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch trong phiên toà đồng thời tôn trọng và phát huy quyền tự định đoạt của đương sự qua đó toà án có thể ra được một bản án chính xác, công bằng và đúng pháp luật.

5. Quyền hạn của hội đồng xét xử phúc thẩm

Điều 69 PLTTGQCVADS chỉ quy định hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án nhưng lại không quy định về quyền sửa một phần bản án sơ thẩm, không tuyên bố về số phận pháp lý của bản án sơ thẩm là có hay không có hiệu lực pháp luật, không quy định về quyền tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm. Điều này đã dẫn đến khó khăn cho toà án trong việc áp dụng khi không có các căn cứ pháp lý để ra quyết định. Tất cả những vướng mắc này hiện nay đã được BLTTDS giải quyết. Cụ thể theo quy định tại các điều 260, 265, 275, 276, 278 BLTTDS hội đồng xét xử có quyền hạn sau:

– Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm nếu toà án cấp sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong trường hợp việc chứng minh và thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ và theo đúng quy định của BLTTDS; việc chứng minh và thu thập chứng cứ chưa thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm nhưng tại phiên toà phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ;

– Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu trong quá trình giải quyết vụ án tại toà án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 của BLTTDS;

– Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn cứ tại Điều 189 BLTTDS;

– Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án khi có căn cứ tại Điều 260 của BLTTDS.

Trên đây là những sửa đổi, bổ sung cơ bản về chế định phúc thẩm dân sự trong BLTTDS. Những quy định mới này có thực sự đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn hay không cần phải có thời gian nhận thức, kiểm nghiệm. Và còn nhiều vấn đề khác nữa cần phải được tiếp tục nghiên cứu để chế định phúc thẩm dân sự ngày càng hoàn thiện hơn./.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22Nguy%E1%BB%85n+Th%E1%BB%8B+Thu+H%C3%A0%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004