CHẾ ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẢM, TÁI THẨM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ Đ ẶT RA CHO VIỆC THI HÀNH

THS. TRẦN ANH TUẤN – Khoa Luật dân sự – ĐHLHN

Mục đích của tố tụng dân sự là nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ việc dân sự. Do vậy, để có thể bảo vệ một cách tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đảm bảo việc xét xử của toà án được đúng đắn thì pháp luật tố tụng dân sự cần phải xây dựng được một cơ chế tố tụng thích hợp. Để góp phần làm rõ cơ chế tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bài viết này đề cập tới một số vấn đề của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm dân sự.

1. Những điểm mới của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm

– Về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ) được ban hành trước đây không có những quy định mang tính định nghĩa về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy vậy, các quy định mang tính định nghĩa này của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đã được ghi nhận tại các điều 282, 304 BLTTDS.

Quy định tại các điều 282, 304 BLTTDS đã thể hiện được tính chất cơ bản của hai loại thủ tục nói trên. Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đều là thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trên cơ sở kháng nghị của những người có thẩm quyền. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai thủ tục này là việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dựa trên những căn cứ kháng nghị khác nhau. Từ điểm khác biệt cơ bản này, dẫn tới sự khác nhau trong các quy định về thời hạn kháng nghị và quyền hạn của hội đồng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

– Về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo khoản 1 Điều 76 PLTTGQCVADS thì “Hội đồng giám đốc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị”. Quy định này cũng được áp dụng cho thủ tục tái thẩm các vụ án dân sự. Trong khi đó khoản 1 Điều 76 PLTTGQCTCLĐ quy định “Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm chỉ có thể xem xét nội dung của vụ án liên quan đến phần quyết định bị kháng nghị”. Vấn đề này không được quy định trong PLTTGQCVAKT. Do vậy, trong thực tiễn việc vận dụng các quy định về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình; kinh doanh, thương mại; lao động là không thống nhất.

BLTTDS hiện nay đã khắc phục được những bất cập của các pháp lệnh trước đó và đã có một quy định thống nhất về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với tất cả các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Theo Điều 296 và 310 BLTTDS thì hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm “chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị”. Ngoài ra, hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền “xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án”.

– Về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm

Điều 71 PLTTGQCVADS, đã quy định bốn căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:

+ Việc điều tra không đầy đủ;

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Điều 75 PLTTGQCVAKT và Điều 73 PLTTGQCTCLĐ chỉ quy định ba căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, đó là:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Kế thừa các quy định này, BLTTDS quy định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dựa trên ba căn cứ sau đây:

+ Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

+ Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

+ Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Việc BLTTDS quy định việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm dựa trên ba căn cứ nêu trên mà không quy định dựa trên căn cứ “Việc điều tra không đầy đủ” là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì “Việc điều tra không đầy đủ” chỉ là một trong những nguyên nhân dẫn tới “Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án”. Thực chất đây là trường hợp toà án trong quá trình giải quyết vụ án đã có những sai lầm khi đánh giá về các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự. Còn căn cứ “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” và “Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” thực chất là trường hợp khi toà án tiến hành giải quyết vụ việc đã có những sai lầm nghiêm trọng trong việc vận dụng pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và tố tụng dân sự.

– Về thời hạn kháng nghị

BLTTDS cũng đã có những quy định mang tính thống nhất về thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án, quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động. Trước khi ban hành BLTTDS, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm được pháp luật quy định đối với các bản án, quyết định này là khác nhau. Theo PLTTGQCVADS, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật; thời hạn kháng nghị tái thẩm là 1 năm, kể từ ngày phát hiện được những tình tiết mới là căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Đối với việc kháng nghị không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào thì không bị hạn chế về thời gian. Theo các điều 77, 83 PLTTGQCVAKT thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là 9 tháng, thời hạn kháng nghị tái thẩm là 1 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Theo Điều 75 PLTTGQCTCLĐ thì “Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm là 6 tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; nếu việc kháng nghị có lợi cho người lao động thì thời hạn đó là một năm”.

Như vậy, theo PLTTGQCVAKT và PLTTGQCTCLĐ thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đều được tính từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật.Trong khi đó, PLTTGQCVADS có phân biệt mốc tính thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm.

BLTTDS, đã khắc phục những hạn chế của các pháp lệnh nêu trên đồng thời quy định một thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm chung, thống nhất áp dụng cho tất cả các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Theo Điều 288 và Điều 308 BLTTDS thì thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm là ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật; thời hạn kháng nghị tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

– Việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị

Các văn bản pháp luật về thủ tục được ban hành trước đó không có quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị sau khi người có thẩm quyền đã tiến hành kháng nghị bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Khắc phục những bất cập này, lần đầu tiên các quy định về việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị đã được ghi nhận tại Điều 289 và Điều 310 BLTTDS.

Theo các quy định của BLTTDS thì người đã kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có quyền thay đổi, bổ sung quyết định kháng nghị, nếu chưa hết thời hạn kháng nghị; có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm. Các quy định này là một điểm mới so với các quy định tại các văn bản pháp luật trước đó.

Qua các vấn đề nêu ở trên có thể thấy rằng các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS đã có nhiều sửa đổi, bổ sung và tiến bộ so với các văn bản pháp luật trước đó. Tuy vậy, việc vận dụng các quy định này trong thực tiễn cũng đặt ra những vấn đề đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền cần phải có những nghiên cứu và hướng dẫn bổ sung cho phù hợp.

2. Những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

– Về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Hiện nay, Điều 282 BLTTDS chỉ đề cập tới thủ tục giám đốc thẩm với tính chất là thủ tục “xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”. Quy định tại Điều 282 BLTTDS không đề cập tới thủ tục giám đốc thẩm với tính chất là thủ tục xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện sai lầm của toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ việc.

Chúng tôi cho rằng bản chất của thủ tục giám đốc thẩm là việc xét xử lại vụ việc mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án bị kháng nghị do phát hiện có sai lầm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết. Những sai lầm, thiếu sót của toà án khi giải quyết vụ việc có thể ở hai dạng cơ bản là sai lầm về các tình tiết, sự kiện của vụ việc hoặc sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và pháp luật tố tụng dân sự. Do vậy, quy định về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm như Điều 282 BLTTDS là chưa đầy đủ và không lột tả được hết bản chất của thủ tục giám đốc thẩm. Mặt khác, quy định này cũng không thể hiện đầy đủ các căn cứ kháng nghị theo Điều 283 BLTTDS. Theo chúng tôi, Điều 282 BLTTDS về tính chất của thủ tục giám đốc thẩm cần được sửa đổi như sau:“ Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai lầm của toà án khi nhận định về những tình tiết, sự kiện của vụ án hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”.

– Về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm

Các quy định về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS là chưa thật sự hợp lý, cần phải mở rộng phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm đối với toàn bộ bản án, quyết định như đã từng quy định trong PLTTGQCVADS trước đây. Quy định của BLTTDS hiện nay về phạm vi xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm có thể dẫn tới những bất cập trong việc áp dụng. Cụ thể là đối với trường hợp những người có thẩm quyền chỉ tiến hành kháng nghị đối với một phần bản án, quyết định thì một vụ án có thể bị kháng nghị và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm nhiều lần gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

– Về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo khoản 4 Điều 291 BLTTDS thì những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của các cấp toà án khác nhau được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 291 thì toà án có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án. Theo chúng tôi, quy định tại khoản 4 Điều 291 BLTTDS về thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm là không rõ ràng có thể dẫn tới những cách hiểu và vận dụng khác nhau. Theo cách quy định này có thể dẫn tới cách hiểu là toà án có thẩm quyền cấp trên có thể giám đốc thẩm toàn bộ vụ án mà không bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị theo quy định về phạm vi xét xử tại Điều 296 BLTTDS. Do vậy, cần phải có những giải thích, hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.

– Về căn cứ kháng nghị

Một vấn đề đặt ra trong thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS về thủ tục giám đốc thẩm là trường hợp nào được coi “Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Điều 283 BLTTDS không quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào Điều 299 BLTTDS có thể coi việc vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi :

+ Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của BLTTDS;

+ Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của BLTTDS hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.

Vấn đề là ở chỗ cần phải hiểu “có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng” là như thế nào? Theo chúng tôi, những vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng có thể được hiểu là toà án khi tiến hành giải quyết vụ việc đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự như nguyên tắc hoà giải, nguyên tắc xét xử công khai, nguyên tắc độc lập xét xử, nguyên tắc về tiếng nói chữ viết trong tố tụng dân sự…hoặc vi phạm các quyền tố tụng cơ bản của đương sự như quyền tham gia phiên toà; xác định sai thẩm quyền của toà án, xác định sai tư cách đương sự.v.v. Vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần phải hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để tránh cách hiểu và vận dụng khác nhau trong thực tiễn.

Theo Điều 304 của BLTTDS thì tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà án, các đương sự không biết được khi toà án ra bản án, quyết định đó. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà án, các đương sự không biết được khi toà án ra bản án, quyết định đó” là chưa chính xác và mâu thuẫn với quy định về căn cứ kháng nghị theo khoản 1 Điều 305 BLTTDS. Bởi vì, theo khoản 1 Điều 305 BLTTDS thì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi “Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án”. Xét về thuật ngữ thì việc “các đương sự không biết được” và việc “đương sự đã không thể biết được” là hoàn toàn khác nhau. Mặt khác, việc sử dụng thuật ngữ “đương sự đã không thể biết được” cũng không thật sự rõ ràng. Từ đó, có thể dẫn tới cách hiểu tình tiết mới được phát hiện phải là tình tiết mà nhiều đương sự không thể biết, thậm chí là toàn bộ các đương sự trong vụ việc không thể biết mới được coi là căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Còn trường hợp tình tiết mới được phát hiện mà chỉ có một đương sự không thể biết thì không coi là căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Cách hiểu này có thể dẫn tới việc những người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm sẽ không tiến hành kháng nghị khi phát hiện những tình tiết mới của vụ việc mà chỉ có một đương sự trong vụ việc không biết được những tình tiết này. Chẳng hạn, nhiều người thừa kế trong vụ án chia thừa kế biết là có một bản di chúc nhưng cố tình giấu đi để yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, gây bất lợi cho người thừa kế được định đoạt di sản theo di chúc, trong khi đó bản thân người này cũng không biết được là người có di sản đã có di chúc định đoạt tài sản cho mình. Nếu coi đây là trường hợp “Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án” để kháng nghị giám đốc thẩm thì có thể gây bất lợi cho đương sự ngay tình “không thể biết” được các tình tiết đó vì lý do đã hết thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm. Bởi lẽ, thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được quy định là ba năm nhưng lại được tính từ ngày bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, cần phải có những hướng dẫn về vấn đề này theo hướng coi là căn cứ để kháng nghị tái thẩm khi “Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà một trong các đương sự hoặc các đương sự trong vụ việc dân sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ việc”.

– Về việc phát hiện căn cứ kháng nghị và thời hạn kháng nghị

Hiện nay, các quy định tại Điều 284 và Điều 306 BLTTDS chỉ dừng lại ở chỗ ghi nhận quyền phát hiện và thông báo những vi phạm pháp luật, những tình tiết mới của vụ việc của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cũng như nghĩa vụ của viện kiểm sát, toà án trong việc phát hiện và thông báo cho những người có thẩm quyền kháng nghị các căn cứ kháng nghị, không có những quy định về một cơ chế để xử lý, giải quyết những thông báo nhận được. Thiết nghĩ, quyền phát hiện và thông báo những vi phạm pháp luật, những tình tiết mới của vụ việc chỉ thực sự có ý nghĩa nếu quy định một cơ chế rõ ràng, cụ thể cũng như một thời hạn nhất định để những người có thẩm quyền xử lý những thông tin thu nhận được. Mặt khác, bản thân những người có thẩm quyền kháng nghị cũng không thể tự mình xử lý được toàn bộ những đơn từ khiếu nại, tố cáo. Do vậy, cần phải có quy định cụ thể về bộ máy giúp việc, cơ chế hoạt động, trách nhiệm của các thẩm tra viên khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Ngoài ra, BLTTDS không có những quy định về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm do có những trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền kháng nghị không thể tiến hành kháng nghị hoặc trường hợp có căn cứ rõ ràng để kháng nghị tái thẩm mà những người có thẩm quyền vẫn không kháng nghị mặc dù biết rõ các căn cứ này. Do vậy, nếu không có những hướng dẫn bổ sung về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ dẫn đến những bất cập trong việc áp dụng, không đảm bảo được sự công bằng và quyền lợi hợp pháp của các đương sự.

Theo quy định của BLTTDS thì thời hạn kháng nghị tái thẩm là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Như vậy, việc kháng nghị hay không kháng nghị theo thủ tục tái thẩm hiện nay là phụ thuộc vào việc người có thẩm quyền kháng nghị biết hay không biết các căn cứ để kháng nghị tái thẩm. Và việc người có thẩm quyền kháng nghị biết hay không biết các căn cứ để kháng nghị tái thẩm chủ yếu lại phụ thuộc vào việc thẩm tra viên có đề xuất việc kháng nghị hay không. Do vậy, cần phải xây dựng một cơ chế phối hợp giữa các thẩm tra viên và người có thẩm quyền kháng nghị cũng như trách nhiệm của họ đối với việc không kháng nghị các bản án, quyết định của toà án mặc dù rõ ràng có căn cứ để tiến hành kháng nghị. Quy định này cùng với các quy định về thời gian không tính vào thời hạn kháng nghị sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, đảm bảo công bằng xã hội.

– Việc thay đổi, bổ sung, rút quyết định kháng nghị

BLTTDS hiện nay không có những quy định về thủ tục giải quyết trong trường hợp người đã kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm. Vậy khi vận dụng trong thực tiễn, đối với những trường hợp này, toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm có phải ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm hay không? Đặc biệt, trong trường hợp xét thấy bản án, quyết định có xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án mà người có thẩm quyền kháng nghị đã rút toàn bộ kháng nghị thì toà án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ phải giải quyết như thế nào cũng không được đề cập. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu bổ sung các quy định về thủ tục giải quyết trong trường hợp người đã kháng nghị rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm.

– Về vấn đề giám đốc thẩm, tái thẩm đối với việc dân sự

Trước kia, theo Nghị quyết số 03/ HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS thì đối với các việc về yêu cầu tuyên bố một người là mất tích hoặc đã chết mà người bị xác định là đã mất tích hoặc đã chết đó lại quay trở về thì vụ việc sẽ được xét lại theo thủ tục tái thẩm. Hiện nay, theo quy định của BLTTDS thì yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc đã chết lại thuộc thẩm quyền của toà án cấp sơ thẩm. Ngoài ra, toà án cấp sơ thẩm cũng có thẩm quyền giải quyết đối với các yêu cầu huỷ bỏ quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự. Do vậy, có thể suy luận việc xem xét lại theo thủ tục tái thẩm đối với các loại việc này không được đặt ra. Tuy nhiên, đối với các việc dân sự khác mà quyết định về việc dân sự đã có hiệu pháp luật mà có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới thì có được kháng nghị để xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hay không ?

Theo quy định tại Điều 311 BLTTDS về nguyên tắc giải quyết việc dân sự thì khi giải quyết việc dân sự, toà án áp dụng những quy định của Chương XX, đồng thời áp dụng những quy định khác của BLTTDS không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự. Như vậy, các quy định tại Điều 311 BLTTDS cũng không thể hiện rõ ràng về việc có áp dụng thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các việc dân sự hay không và nếu có áp dụng thì sẽ được áp dụng đối với các loại việc dân sự nào? Thiết nghĩ, các quyết định về việc dân sự mặc dù đã có hiệu lực pháp luật vẫn có thể có sai lầm, vi phạm pháp luật hoặc phát hiện có tình tiết mới làm thay đổi về cơ bản nội dung vụ việc. Do vậy, cũng cần phải có những hướng dẫn cụ thể về thủ tục xét lại các quyết định giải quyết việc dân sự đã có hiệu lực pháp luật.

– Về những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm

Theo Điều 292 và Điều 310 BLTTDS thì phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm phải có sự tham gia của viện kiểm sát cùng cấp. Khi xét thấy cần thiết, toà án triệu tập những người tham gia tố tụng và những người khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà. Hiện nay, theo Điều 64 BLTTDS thì “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tham gia phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Toà án xét thấy cần thiết”. Như vậy, việc “xét thấy cần thiết” có phải triệu tập đương sự, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của toà án. Theo chúng tôi, để tạo điều kiện cho đương sự có thể bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của mình, đảm bảo sự công khai, minh bạch trong việc giải quyết vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì pháp luật nên quy định toà án sẽ triệu tập các đương sự có liên quan tới vụ việc và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các đương sự đó tham gia phiên toà, trường hợp đã được triệu tập mà vắng mặt thì toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ việc.

Trên đây là một số ý kiến rút ra từ việc nghiên cứu chế định thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong BLTTDS. Rất mong được các cơ quan có thẩm quyền lưu tâm tham khảo trong việc hướng dẫn áp dụng BLTTDS./.


ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘITẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

TIẾP CẬN ĐẤT ĐAI: NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA KHU VỰC DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

Hàng năm, một số lượng lớn doanh nghiệp (DN) mới ra đời làm gia tăng nhu cầu đối với đất cho mục đích công nghiệp và thương mại để xây dựng nhà xưởng, văn phòng, các điểm bán lẻ v.v… Tiếp cận đất với giá cả minh bạch, thủ tục đơn giản là tương đối khó khăn đối với khối DN tư nhân hiện nay. Bản tin này sẽ đề cập một số cản trở về mặt chính sách và thực tế triển khai mà các DN tư nhân đang vướng phải khi tiếp cận đất đai phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh.

Nguồn cung đất rất hạn chế

Theo nhiều cuộc thăm dò DN trong nước, sự khan hiếm đất dành cho kinh doanh cũng như tác động của sự thiếu hụt này lên giá cả được coi là hai cản trở đối với sự tăng trưởng của DN. Nhiều DN mong muốn được giao đất hoặc thuê đất từ Nhà nước (thông qua chính quyền các Tỉnh) để đảm bảo mảnh đất mình được sử dụng đã “nằm trong quy hoạch”, không bị đòi lại trước thời hạn và có thể yên tâm đầu tư xây dựng nhà xưởng. Tuy nhiên vì nhiều lí do khác nhau, quỹ đất công rất hạn chế và kênh giao đất hay thuê đất trực tiếp từ chính quyền Tỉnh hầu như chỉ dành cho các DN quy mô lớn (đa phần là các dự án đầu tư nước ngoài có nhu cầu lớn về diện tích đất) – các DN tư nhân không tận dụng được kênh này. Khảo sát của IFC/FIAS về kinh nghiệm tiếp cận đất đai của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cho thấy cứ 4 DN thì chỉ có 1 DN được giao đất hay thuê đất trực tiếp từ Nhà nước và 75% số DN đang trong thời kỳ tăng trưởng thừa nhận rào cản lớn nhất đối với sự phát triển của họ là việc thiếu đất.

Thông tin về thị trường đất chưa hiệu quả

Chỉ số minh bạch của thị trường bất động sản toàn cầu (The Real Estate Transparency Index 2006), do tập đoàn Jones Lang LaSalle thực hiện, xếp Việt Nam là 1 trong 3 nước (Việt Nam, Venezuela và Ai Cập) đứng cuối danh sách do thiếu minh bạch về thông tin thị trường cũng như bảo hộ các quyền liên quan đến bất động sản. Hơn một nửa số DN trong khảo sát PCI 2006 1 cũng khẳng định họ chủ yếu dựa vào nguồn thông tin của nhân viên trong công ty và quan hệ cá nhân để tìm đất xây dựng nhà xưởng – chưa có cơ chế hỗ trợ (dịch vụ) giúp DN tìm đất sản xuất. Khảo sát của IFC/FIAS cũng cho những phát hiện tương tự. Hơn 50% DNNVV được khảo sát cho rằng tìm được một mảnh đất thích hợp trên thị trường thứ cấp là rất khó, 66% DN thành công trong việc tìm đất đều phải thông qua kênh quan hệ cá nhân. Những phát hiện này cho thấy nếu chú trọng cải thiện cơ sở hạ tầng thông tin có thể có tác động tích cực đến tính cân xứng thông tin của thị trường đất, cụ thể là i) thiết lập khung pháp lý để hỗ trợ các hoạt động môi giới tư nhân đối với đất sản xuất; ii) cải thiện khả năng tra cứu quá trình giao dịch của thửa đất một cách nhanh chóng với chi phí thấp, iii) công bố công khai và minh bạch quy hoạch đất của các địa phương; và iv) cải thiện công tác quy hoạch sử dụng đất để quyền đối với mỗi mảnh đất cụ thể có thể được xác định dễ dàng bởi cả người mua và người bán trên thị trường.

Quyền và bảo hộ quyền đối với đất còn yếu

Đối với các nhà đầu tư, việc có đất mà không có quyền đầy đủ đối với mảnh đất đó chỉ có ý nghĩa rất hạn chế. Một mối lo ngại lớn đối với các nhà đầu tư hiện nay, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ có cơ sở sản xuất kinh doanh nằm ngoài các khu công nghiệp, là sự thay đổi đến chóng mặt và trong nhiều trường hợp không thể đoán trước được của công tác quy hoạch sử dụng đất – hậu quả là họ có thể bị mất quyền sử dụng đất do quy hoạch thay đổi và đất của họ thuộc diện bị Nhà nước thu hồi. Những DN không đủ khả năng vào các khu công nghiệp hay đứng ra mua lại những mảnh đất lớn của các hộ gia đình thì giải pháp duy nhất là đi thuê lại của tư nhân hay thuê chui lại của các DNNN. Tuy nhiên, thuê của tư nhân hầu như là ngắn hạn và do đó không khuyến khích các nhà đầu tư bỏ tiền xây dựng hay cải tiến nhà xưởng. Thuê chui lại đất của DNNN cũng rất rủi ro do chưa có khung pháp lý điều chỉnh việc cho thuê lại này. Thực tiễn cho thấy DN cảm thấy bất an khi thuê đất từ khu vực tư nhân do bảo hộ của pháp luật đối với người có quyền sử dụng đến hiện tại lẫn người đi thuê ở nước ta là chưa đầy đủ và rõ ràng.

Ngoài ra, ở Việt Nam đất là tài sản quan trọng nhất để góp vốn liên doanh liên kết hoặc thế chấp vay vốn để phát triển sản xuất kinh doanh. Hiện nay nhà đầu tư trong nước còn gặp một số bất lợi khi thuê đất từ Nhà nước. Nhà đầu tư trong nước ít khi được thuê đất của Nhà nước trả tiền trước một lần mà nếu được không phải DNNVV nào cũng đủ khả năng trả hết một lần. Trong khi đó nếu họ thuê đất trả tiền hằng năm thì họ không có quyền gì đối với đất (ngoại trừ mục đích đã được xác định cho thời gian thuê), nhất là không có quyền bán hay dùng đất để thế chấp, trừ quyền được thế chấp các tài sản trên đất. Quy định này tạo nên một sự thiếu rõ ràng đối với quyền của chủ đất và chủ nợ – ngân hàng (làm thế nào ngân hàng có thể đảm bảo được quyền đối với tài sản trên đất nếu không có quyền đối với mảnh đất?) và do đó hạn chế khả năng DN tư nhân trong nước sử dụng đất đi thuê để được thế chấp vay vốn.

Thủ tục hành chính liên quan đến đất còn phức tạp

Một khảo sát DN của GTZ khẳng định quá trình tìm mặt bằng sản xuất là phức tạp nhất trong các loại thủ tục hành chính để thành lập DN, thủ tục kéo dài nhất và cũng tốn kém không ít. Thông thường để được Nhà nước giao đất, DN phải trải qua 7 thủ tục với thời gian trung bình mất khoảng 230 ngày và qua rất nhiều cơ quan liên quan.2 Các DNNVV trong khảo sát của IFC/FIAS cũng khẳng định trong khi có được đất trên thị trường thứ cấp chỉ mất chưa đến 7 ngày thì thủ tục đăng ký giao dịch và xin cấp GCNQSD đất rất phức tạp và tốn nhiều thời gian. Gần đây các trung tâm đăng ký đất được thành lập ở hầu hết các tỉnh thành đã góp phần giảm bớt thủ tục rườm rà nhưng vẫn chưa rút ngắn đáng kể thời gian cấp GCNQSD đất và các giao dịch liên quan đến đất. Mức độ không hài lòng của DN trong khảo sát IFC/FIAS đối với riêng quá trình cấp GCNQSD cũng khá cao, trong đó phần lớn DN phàn nàn về thời gian xử lý của cơ quan chính quyền là quá dài. Chỉ khoảng 50% DN khẳng định thời gian cấp GCNQSD dưới một tháng. Điều này là hoàn toàn trái với quy định về thời gian trong luật định và các văn bản thi hành.


(1) Khảo sát để xây dựng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2006, Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam(VNCI) và Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam(VCCI)
(2) Từ Ý tưởng Kinh doanh đến Hiện thực: chặng đường gian nan, GTZ/CIEM, tháng 7/2005. Bảy thủ tục đó là: 1) Tìm hiểu chính quyền cơ sở về việc xin giao đất hoặc thuê đất; 2) xin chấp thuận về nguyên tắc; 3) lập dự án và lên phương án đền bù; 4) phê duyệt dự án và phương án đề bù; 5) giải phóng mặt bằng; 6) bàn giao mặt bằng và ký hợp đồng thuê đất; 7) nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

SOURCE: http://www.vcci.com.vn

 

HUY ĐỘNG VỐN CỔ ĐÔNG THÁCH THỨC CỦA THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU VIỆT NAM

Việc phát triển thị trường vốn đang là một trong những vấn đề ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Trong bài phát biểu tổng kết Hội nghị Chính phủ sơ kết 4 năm thi hành Luật Doanh nghiệp toàn quốc đầu tháng 11 năm 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nêu rõ điều cấp bách hiện nay là hình thành đồng bộ các loại thị trường, trong đó có thị trường vốn, để tạo dựng môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả. Tại hội nghị này, chính giới ngân hàng cũng đã khuyến cáo doanh nghiệp cần tìm nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các kênh khác của thị trường vốn như trái phiếu hoặc cổ phiếu, vì với nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn, hoạt động chính của ngân hàng là cung cấp tín dụng ngắn hạn chứ không phải là dài hạn. Bản tin này đề cập đến các khó khăn trong việc phát triển thị trường cổ phiếu và huy động vốn cổ đông ở Việt Nam.

Số lượng và chất lượng hạn chế của cổ phiếu niêm yết trên Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK)

Sau hơn 3 năm hoạt động, với 22 công ty được niêm yết vào thời điểm hiện tại, quy mô của TTGDCK Việt Nam còn quá nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế.1 Tất cả các công ty niêm yết hiện đều là các công ty quy mô nhỏ với số vốn khoảng vài chục tỷ đồng, chưa đủ gây ra sức hút đối với các nhà đầu tư. Cho đến nay, chưa có DNNN lớn nào được Nhà nước cho phép bán cổ phần ra công chúng và niêm yết trên TTGDCK. Số lượng công ty tư nhân đạt tiêu chuẩn niêm yết cũng rất hạn chế. Hơn nữa, các công ty niêm yết trên thị trường hiện nay đều đã được cổ phần hóa trước khi niêm yết; chưa công ty nào được thành lập mới bằng cách huy động vốn qua TTCK (IPO). Nhiều nhà đầu tư cho rằng sự hạn chế từ phía cung này khiến thị trường không có sức hấp dẫn đối với họ.

Thiếu vắng sự tham gia tích cực của những nhà đầu tư tổ chức trên thị trường

Về phía cầu, những nhà đầu tư cổ phiếu trên TTGDCK Việt Nam hầu hết là cá nhân mang tính đầu cơ hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất ổn định của thị trường. Điều này làm cho chính các doanh nghiệp ngần ngại khi quyết định huy động vốn qua TTGDCK. Những nhà đầu tư tổ chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường, nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan đến khuôn khổ pháp lý. Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh bạch thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, v.v.

Hoạt động của thị trường phi chính thức lớn hơn nhiều lần so với thị trường chính thức và không được kiểm soát thích đáng

Việc bán cổ phiếu cho công chúng ở bên ngoài TTGDCK (thị trường phi tập trung OTC) diễn ra khá sôi động, nhưng hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soát hoạt động này. Theo ước tính, số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông từ công chúng trên thị trường không chính thức này gấp khoảng 30 lần số doanh nghiệp niêm yết chính thức.2 Trong số khoảng 1.000 DNNN đã được cổ phần hóa, chỉ có chưa tới 3% đã niêm yết, như vậy có thể cho rằng một số lượng lớn cổ phiếu của các doanh nghiệp này đang được mua bán trên thị trường không chính thức.

Ở các nền kinh tế phát triển, thị trường OTC thường cũng có quy mô lớn hơn gấp nhiều lần thị trường tập trung, song thị trường này được kiểm soát bởi các luật lệ khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Các luật lệ này vẫn chưa được thiết lập ở Việt Nam. Lo lắng chung từ phía quản lý nhà nước cũng như giới doanh nghiệp là thị trường phi chính thức không được kiểm soát này có nguy cơ sụp đổ cao và có thể gián tiếp làm tổn hại cho thị trường chính thức mới manh nha phát triển.

Chiến lược phát triển thị trường vốn của Chính phủ và khuôn khổ pháp lý liên quan còn có nhiều bất cập

Mặc dù Chính phủ đã thể hiện quyết tâm phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam (qua Quyết định số 163/2003/QD-TTg ra ngày 5/8/2003 định ra các mục tiêu chiến lược như đưa tổng giá trị thị trường chứng khoán đạt 2-3% GDP vào năm 2005 và 10-15% GDP vào năm 2010), nhưng các quy định pháp lý hiện hành cũng như những biện pháp triển khai dường như lại không thống nhất với chiến lược này. Ví dụ như theo văn bản Nhà nước gần đây nhất về cổ phần hóa (Chỉ thị số 01 Chính phủ tháng 1 năm 2003), Nhà nước vẫn sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ phần đối với các DNNN cổ phần hóa có vốn trên 5 tỷ đồng và sản xuất kinh doanh có lãi. Như vậy, trong số gần 2.000 DNNN nằm trong kế hoạch cổ phần hóa đến năm 2005, sẽ có rất ít trường hợp mà cổ đông tư nhân được chiếm phần đa số trong các công ty lớn.

Quy mô nhỏ và mức độ công khai thông tin thấp của các doanh nghiệp Việt Nam

Các công ty tư nhân của Việt Nam mới phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là từ năm 2000. Vì vậy, hầu hết các công ty tư nhân đều ở một quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ và thường được quản lý theo kiểu gia đình. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường tìm cách duy trì chế độ nhiều sổ sách và không công khai thông tin. Ví dụ, số doanh nghiệp báo cáo tài chính theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 15-20%.3 Nguyên nhân của tình hình này không chỉ do ý định chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự thiếu vắng khung pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểm toán, kế toán… của Việt Nam. Các vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với nhà đầu tư và không khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ đông.

****************************

SOURCE: http://www.vcci.com.vn

BẢO VỆ NHÃN HIỆU ĐỂ CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP

Gần đây, báo chí thường xuyên đề cập đến vấn đề vi phạm quyền sở hữu thương hiệu (1), làm nhái nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp của Cà phê Trung Nguyên và Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) là những ví dụ sinh động về các vấn đề mà các doanh nghiệp đang gặp phải khi bảo vệ thương hiệu của mình ở nước ngoài. Các doanh nghiệp này đã phát hiện ra thương hiệu của mình bị đánh cắp trước khi doanh nghiệp triển khai đăng ký bảo hộ thương hiệu tại thị trường Mỹ và hiện đang gặp nhiều khó khăn trong việc đàm phán giành lại thương hiệu của mình. Tại thị trường nội địa, những nhãn hiệu nước khoáng như “La Vie” của Công ty Liên doanh La Vie hay thức ăn gia súc như “Con Heo Vàng” của Công ty TNHH thương mại VIC… cũng liên tục bị làm nhái. Bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung, thương hiệu nói riêng là vô cùng quan trọng nếu Việt Nam muốn cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nếu bảo hộ thương hiệu kém thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp Việt Nam ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, và hạn chế tính hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài.

Khung pháp luật chưa hoàn chỉnh

Trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã có những cố gắng đáng kể để xây dựng hệ thống pháp luật về SHTT. Bộ luật Dân sự được thông qua năm 1995 có một phần về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ (Phần VI) và sau đó là hàng loạt các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành được ban hành. Tuy nhiên, SHTT chỉ là một phần nhỏ trong Bộ luật Dân sự cho nên còn chung chung và tương đối sơ sài, bên cạnh đó nhiều văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật chưa cụ thể và chi tiết. Thông thường ở các nước phát triển, luật SHTT là một bộ luật riêng biệt rất chi tiết, rõ ràng và được chia ra các nhánh cụ thể (bao gồm: quyền tác giả và sở hữu công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp…). Các doanh nghiệp Việt Nam cũng thường đề cập đến một số chính sách bất cập trong việc phát triển thương hiệu, ví dụ như quy định về chi phí cho hoạt động tiếp thị và quảng cáo không được quá 10% tổng chi phí để tính thuế thu nhập trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Cơ chế xử lý vi phạm còn quá yếu

Hiện tại, có nhiều cơ quan cùng tham gia việc thực thi bảo hộ thương hiệu như Cục SHTT, Quản lý thị trường, Công an Kinh tế, Thanh tra khoa học công nghệ, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Toà án. Tuy nhiên, không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính về vấn đề này. Các thẩm phán thường thiếu kiến thức chuyên môn về SHTT, vì vậy khi xét xử, phải phụ thuộc vào ý kiến của nhiều cơ quan khác trước khi đưa ra phán quyết. Điều này làm cho quy trình xử lý vi phạm của toà án kéo dài và không hiệu quả. Do vậy, nhiều doanh nghiệp là nạn nhân của tình trạng đánh cắp và nhái thương hiệu đã buộc phải đàm phán trực tiếp với đối tượng vi phạm. Cách giải quyết không chính thức như thế này không những gây tốn kém về thời gian và tiền bạc cho doanh nghiệp mà còn tạo cơ hội cho tham nhũng. Nhiều doanh nghiệp cho rằng mức xử phạt hành chính đối với vi phạm thương hiệu hiện nay từ 2 triệu đến 100 triệu đồng là còn quá thấp và không có tác dụng nhiều đến việc ngăn ngừa tình trạng làm hàng nhái hoặc hành vi đánh cắp thương hiệu. Việc xử phạt hình sự lại rất ít khi được áp dụng mà mức phạt cũng chỉ từ 20 đến 200 triệu đồng (2).

Năng lực hạn chế của các cơ quan quản lý việc đăng ký và thực thi bảo hộ SHTT

Gần đây số lượng hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá đã tăng nhiều do các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng nhận thức tốt hơn về tầm quan trọng của thương hiệu. Trong năm 2003, Cục SHTT đã nhận được tổng số gần 16.000 hồ sơ xin đăng ký sở hữu công nghiệp. Hiện Cục chưa có chi nhánh tại các tỉnh thành và với tổng số 140 cán bộ thì khối lượng công việc như vậy là quá tải. Vào năm 2002, Cục đã xây dựng trang web của mình, cung cấp một số thống kê cơ bản về số lượng hồ sơ đăng ký sở hữu công nghiệp và một số rất ít các văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên trang web này vẫn chưa đăng tải những thông tư hướng dẫn chi tiết, những thủ tục hay biểu mẫu để người dùng có thể tham khảo và đăng ký, và các thông tin chưa được cập nhật thường xuyên.

Hiểu biết hạn chế về thương hiệu từ phía doanh nghiệp và thiếu vắng các chuyên gia giỏi về thương hiệu

Mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu, song việc đầu tư cho thương hiệu vẫn còn rất dè dặt. Theo các chuyên gia, việc phát triển thương hiệu là vô cùng quan trọng, cần phải có thời gian và hệ thống; trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam thường chỉ đăng ký nhãn hiệu khi sản phẩm của mình bán chạy trên thị trường. Một kết quả khảo sát gần đây do báo Sài Gòn Tiếp thị cho thấy: chỉ khoảng 16% doanh nghiệp có bộ phận chuyên phụ trách công tác tiếp thị, hơn 80% doanh nghiệp không có chức danh quản lý nhãn hiệu, và 74% doanh nghiệp chỉ đầu tư dưới 5% doanh thu cho việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu.

Không chỉ các doanh nghiệp mà các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn trong lĩnh vực này cũng ít về số lượng, thiếu kỹ năng và chuyên môn. Phần lớn các công ty tư vấn chỉ đơn thuần giúp các doanh nghiệp đăng ký nhãn hiệu; rất ít công ty chuyên sâu về phát triển thương hiệu. Còn các công ty tư vấn nước ngoài tuy có tính chuyên nghiệp và chuyên môn cao song còn hạn chế về hiểu biết tâm lý và văn hoá bản địa nên cũng chưa cung cấp được dịch vụ hỗ trợ hiệu quả.


(1) Hiện nay, Việt Nam chưa có định nghĩa pháp lý về thương hiệu.
(2) “Thực thi quyền bảo hộ SHTT tại Việt Nam”, Cục SHTT, Hà Nội, tháng 3 năm 2003.

SOURCE: http://www.vcci.com.vn

LUẬT ĐẦU TƯ (CHUNG) CHƯA THỰC SỰ HỖ TRỢ ĐẦU TƯ TƯ NHÂN

Luật Đầu tư chung (ĐTC) là một trong hai luật kinh doanh quan trọng (cùng với Luật Doanh nghiệp thống nhất) đang được soạn thảo theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ để đẩy nhanh tốc độ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư nước ngoài và góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Luật ĐTC sẽ thay thế Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài, góp phần tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài. Sau khi lấy ý kiến đóng góp và được chỉnh sửa nhiều lần, Dự luật sẽ được trình lên Quốc hội vào kỳ họp tháng 11 năm nay. Bản tin này phân tích một số nét mới của dự thảo Luật ĐTC mới nhất và đưa ra một số nhận định về tác động của luật này đối với các nhà đầu tư.

Luật ĐTC sẽ thống nhất khung pháp lý về đầu tư cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Xóa bỏ các phân biệt đối xử bất hợp lý giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là một trong những cam kết quan trọng của Chính phủ Việt Nam trong tiến trình cải thiện môi trường đầu tư để hội nhập quốc tế, đặc biệt là gia nhập WTO. Cho đến nay, đã có hàng loạt những nỗ lực sửa đổi trong chính sách của nước ta về đầu tư theo hướng này như loại bỏ chế độ hai giá, các yêu cầu riêng đối với nhà đầu tư nước ngoài về xuất nhập khẩu, mua nguyên liệu, hàng hóa trong nước, hay các hạn chế về chuyển giao công nghệ và tuyển dụng lao động v.v. Tuy nhiên các thay đổi chính sách đó vẫn chưa tạo ra được sân chơi thực sự bình đẳng cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài khi vẫn còn tồn tại một sự khác biệt căn bản giữa hai khối doanh nghiệp này trong khung pháp lý hiện hành. Đó là việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải xin cấp phép cho bất cứ hoạt động đầu tư nào và chỉ được phép hoạt động trong phạm vi của Giấy phép Đầu tư (theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài – ĐTNN), trong khi doanh nghiệp trong nước được tự do đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào mà pháp luật không cấm. Luật ĐTC ra đời để điều chỉnh mọi hoạt động đầu tư tại Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài – có thể coi đây là một nỗ lực quan trọng trong tiến trình xây dựng một khung pháp lý thống nhất về đầu tư cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng

Hiện nay quyền tự do kinh doanh của nhà ĐTNN bị hạn chế vì họ chỉ được phép hoạt động kinh doanh trong phạm vi của Giấy phép đầu tư; và vì thế họ chịu nhiều hạn chế so với nhà đầu tư trong nước. Luật ĐTC sẽ xóa bỏ hầu hết các hạn chế nói trên với việc cho phép nhà đầu tư được tự chủ trong các quyết định đầu tư của mình, đặc biệt trong việc lựa chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư và hình thức huy động vốn. Về lĩnh vực đầu tư, Luật ĐTC mở rộng quyền tự do kinh doanh cho các nhà ĐTNN trong mọi lĩnh vực mà pháp luật không cấm bằng việc xây dựng các “danh sách loại trừ” và “danh sách hạn chế”,1 điều mà các nhà đầu tư trong nước vẫn được hưởng theo Luật Doanh nghiệp. Về hình thức đầu tư, Luật ĐTC chung cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp và được đăng ký kinh doanh một hoặc nhiều ngành nghề dưới hình thức pháp lý như nhà đầu tư trong nước. Thứ hai, nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư gián tiếp thông qua việc mua trái phiếu, cổ phiếu hay qua các quỹ đầu tư chứng khoán và định chế tài chính trung gian – đây có thể là một phương thức hữu hiệu để tạo thêm điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài.

Một số điều kiện kém thông thoáng được đặt ra cho các nhà đầu tư trong nước

Dự thảo mới nhất của Luật ĐTC đã đưa ra tiêu chí mới để phân loại các dự án đầu tư 2 và áp dụng thêm thủ tục đăng ký/cấp phép đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước đây là những thủ tục mà cho đến nay nhà đầu tư trong nước không phải thực hiện. Như vậy, bên cạnh việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước sẽ có nghĩa vụ đăng ký đầu tư đối với mọi dự án đầu tư mới. Hơn thế, những dự án đầu tư nào có giá trị trên 5 tỷ đồng mà thuộc loại dự án phổ thông sẽ phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giấy CNĐKĐT); còn các dự án đầu tư thuộc ba nhóm còn lại sẽ cần được Nhà nước thẩm định trước khi cấp phép đầu tư.

Trong những tranh luận xung quanh dự thảo Luật ĐTC thời gian gần đây, vấn đề trên là một trong những lo lắng lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp. Những thắc mắc chủ yếu liên quan đến việc tiêu chí để phân loại các dự án đầu tư này thiếu tính rõ ràng. Thêm vào đó, các nhà đầu tư cho rằng những quy định mới này phức tạp một cách không cần thiết và làm giảm tính minh bạch trong quản lý đầu tư.

Những vấn đề còn tồn tại

Theo thông lệ quốc tế về pháp luật đầu tư, ưu đãi đầu tư là một trong những nội dung quan trọng nhất trong chính sách đầu tư của một quốc gia. Hiện nay, ưu đãi đầu tư ở Việt Nam được ấn định dựa trên kế hoạch của nhà đầu tư, và thường được quyết định trước khi dự án đầu tư được thực tế triển khai. Điều này là trái với thông lệ quốc tế theo đó ưu đãi đầu tư phải dựa trên cơ sở kết quả hoạt động (hậu ưu đãi) chứ không dựa trên kế hoạch hay đề xuất (tiền ưu đãi).3 Đây là cũng là một vấn đề được tranh luận nhiều trong quá trình soạn thảo Luật ĐTC. Cho đến thời điểm giữa tháng 8 năm 2005, đã có thông tin là sẽ áp dụng hệ thống ưu đãi dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh nhưng cộng đồng kinh doanh đang chờ đợi xem sự thay đổi này sẽ được thể hiện cụ thể như thế nào trong luật ĐTC.


(1) “Danh sách loại trừ” là danh mục các lĩnh vực cấm đầu tư và “Danh sách hạn chế” là danh mục các lĩnh vực chỉ được phép đầu tư khi đạt các tiêu chí nhất định và được cấp phép đầu tư.
(2) Dự thảo chia các dự án đầu tư trong nước làm bốn nhóm: phổ thông, phổ thông có điều kiện, quan trọng và quan trọng quốc gia

SOURCE: http://www.vcci.com.vn

 

CHẾ ĐỊNH BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI

Trần Phương Thảo

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp toà án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm cho việc thi hành án. Kế thừa và phát triển các quy định của các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đã có Chương VIII với 28 điều luật (từ Điều 99 đến Điều 126) quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

1. Những điểm mới của chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời

– Về các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 102 BLTTDS đã quy định 12 biện pháp khẩn cấp tạm thời mà toà án được áp dụng. Đây là sự kế thừa các quy định tại Điều 41 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Điều 42 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Điều 44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động. Tuy vậy, cũng có một số biện pháp lần đầu tiên được bổ sung quy định trong BLTTDS như các biện pháp về phong toả tài sản, tài khoản, buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng sức khỏe bị xâm phạm… Ngoài ra, khoản 2 Điều 102 BLTTDS còn thừa nhận cả những biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định. Việc Bộ luật tố tụng dân sự quy định tương đối đầy đủ các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Không chỉ quy định nhiều hơn về số lượng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo vệ quyền lợi cho đương sự, BLTTDS còn quy định tương đối cụ thể về điều kiện áp dụng đối với từng biện pháp. Chúng ta có thể nhận thấy điều này qua nội dung của 13 điều luật (từ Điều 103 đến Điều 116). Chính các điều luật này đã tạo nên các cơ sở pháp lý cụ thể, giúp toà án có thể áp dụng đúng và phù hợp các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

– Về chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo quy định tại khoản 1 Điều 99 BLTTDS, chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người khác. Theo Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP của Toà án nhân dân tối cao ngày 27 tháng 4 năm 2005 hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì những chủ thể này bao gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự; cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tập thể người lao động do Bộ luật lao động và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định. Việc mở rộng hơn các chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS sẽ góp phần bảo vệ kịp thời, đầy đủ hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, toà án chỉ xem xét để ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu các chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề đạt yêu cầu đó với toà án. Vì thế thông thường toà án sẽ không tự mình chủ động ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Toà án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong 5 trường hợp quy định tại Điều 119 BLTTDS. Đây cũng là một quy định mới của BLTTDS bởi theo các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây, toà án chủ động, tự mình áp dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật có quy định. Chính các quy định này của Pháp lệnh đã hạn chế quyền yêu cầu của đương sự, hạn chế sự nỗ lực của họ trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Bộ luật tố tụng dân sự quy định toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có yêu cầu và toà án chỉ chủ động ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong một số trường hợp cần thiết đã khắc phục được những hạn chế đó.

– Về thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có tác dụng giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, giúp họ nhanh chóng ổn định cuộc sống, bảo vệ được bằng chứng, bảo vệ được tài sản…Vì vậy, việc xác định thời điểm toà án được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là rất quan trọng. Theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể được áp dụng trong suốt quá trình toà án giải quyết vụ việc dân sự. Điều này có nghĩa toà án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào bất cứ thời điểm nào trước và trong khi xét xử. Thậm chí, theo quy định tại khoản 2 Điều 99, trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu toà án áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời vào cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện. Quy định này của BLTTDS đã tạo ra sự năng động, kịp thời trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, đồng thời khắc phục được hạn chế của pháp luật tố tụng trước đây chỉ cho phép áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời vào thời điểm trước khi xét xử.

– Về việc ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Người có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cũng có quyền yêu cầu toà thay đổi biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu thấy biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng không còn phù hợp (Điều 121 BLTTDS). Toà án có quyền hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong những trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đề nghị hủy bỏ; người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nộp tài sản hoặc có người khác thực hiện biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ với bên có yêu cầu; nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ chấm dứt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Điều 122 BLTTDS).

Trước đây do các văn bản pháp luật tố tụng dân sự chưa quy định việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên trong thực tiễn áp dụng đã có những trường hợp toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sai, không phù hợp, làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của bên đương sự bị áp dụng nhưng vẫn không thay đổi, hủy bỏ được biện pháp khẩn cấp tạm thời đó. Hiện nay, BLTTDS đã quy định việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời mà toà án áp dụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Thẩm quyền xem xét để ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định cụ thể tại Điều 100 BLTTDS. Theo điều luật này nếu yêu cầu áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời được đưa ra vào thời điểm trước khi mở phiên toà thì thẩm quyền quyết định sẽ do một thẩm phán thực hiện. Nếu yêu cầu đó đưa ra vào thời điểm tại phiên toà thì thẩm quyền xem xét, quyết định sẽ do hội đồng xét xử. Các quyết định này có hiệu lực thi hành ngay, toà án phải thông báo quyết định này tới các chủ thể liên quan.

– Về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm

Buộc người đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm là một trong những quy định rất mới của BLTTDS (Điều 120). Tương ứng với quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, người đưa ra yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ bảo đảm mà cụ thể là họ phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do toà án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 4 năm 2005 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao thì “nghĩa vụ tài sản” là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Còn “người có nghĩa vụ phải thực hiện” là người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng. Trong trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là người đại diện theo ủy quyền của đương sự thì người có nghĩa vụ phải thực hiện là đương sự. Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời có tác dụng ngăn ngừa tình trạng người có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời lạm dụng quyền này. Tuy nhiên không phải người nào đưa ra yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đều phải thực hiện biện pháp bảo đảm. Điều 120 BLTTDS đã quy định rõ những trường hợp người đưa ra yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm như kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác; phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.

Khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của toà án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời hạn do toà án ấn định. Đối với những trường hợp khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì thời hạn thực hiện biện pháp bảo đảm này không quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu. Nếu việc thực hiện biện pháo bảo đảm vào ngày lễ, ngày nghỉ, khoản tiền thực hiện biện pháp bảo đảm sẽ được giữ lại toà án. Toà án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng trong ngày làm việc tiếp theo.

– Về thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Điều 117 BLTTDS quy định người đưa ra yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không chỉ phải nộp đơn gửi đến toà án có thẩm quyền mà đơn đó phải thể hiện được các nội dung theo luật định. Tùy từng trường hợp, kèm theo đơn, người đưa ra yêu cầu phải cung cấp cho toà án những chứng cứ chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Chính quy định này sẽ hạn chế tình trạng đưa ra yêu cầu không có căn cứ từ phía những người có quyền yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đồng thời quy định này cũng giúp toà án có cơ sở rõ ràng để nhanh chóng ra được quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thông thường khi thẩm phán được phân công giải quyết vụ án nhận được đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì thời hạn để họ ra quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời là 3 ngày kể từ ngày nhận đơn nếu người đưa ra yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện biện pháp bảo đảm. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được đưa ra tại phiên toà thì hội đồng xét xử sẽ xem xét để ra quyết định ngay sau khi người đưa ra yêu cầu thực hiện xong biện pháp bảo đảm.

Đối với những tình thế khẩn cấp cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì chánh án phải chỉ định ngay một thẩm phán giải quyết và thời hạn để ra quyết định là 48 giờ kể từ khi nhận đơn yêu cầu và các chứng cứ kèm theo. Nếu không chấp nhận yêu cầu thì thẩm phán đó cũng phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết. Nếu biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng là phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ hoặc phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ thì toà án chỉ được phong tỏa tài khoản, tài sản tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện.

Như vậy, so với các quy định trước đây, thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật tố tụng dân sự đã được quy định cụ thể và phù hợp hơn. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của đương sự.

– Khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời

Việc toà án ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không ra quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết vụ án dân sự đều có thể ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp cho đương sự. Vì vậy, BLTTDS quy định đương sự có quyền khiếu nại, viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức đã khởi kiện để bảo vệ quyền lợi cho người khác có quyền kiến nghị với chánh án toà án đang giải quyết vụ án nếu cho rằng việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án đã xâm phạm đến quyền lợi của đương sự. Thời hạn các chủ thể này thực hiện quyền khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà án hoặc trả lời của thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Khi nhận được khiếu nại, kiến nghị, chánh án toà án phải xem xét, giải quyết trong thời hạn 3 ngày làm việc. Quyết định của chánh án về việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị là quyết định cuối cùng, được cấp hoặc gửi ngay theo quy định của pháp luật.

Về cơ bản, quy định của BLTTDS về quyền khiếu nại, kiến nghị và việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị giống với các quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng dân sự trước đây. Điểm mới trong BLTTDS là ngoài việc quy định các chủ thể theo luật định có quyền khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thì còn quy định các chủ thể có quyền khiếu nại, kiến nghị về việc toà án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định mới này là cần thiết bởi trong thực tế đã có trường hợp vì toà án không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nên đã không bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự.

– Về trách nhiệm do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng

Theo Điều 101, người yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. vì vậy, nếu yêu cầu của họ không đúng, gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì theo quy định của pháp luật, họ phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Quy định này buộc người có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải suy nghĩ chín chắn trước khi đưa ra yêu cầu, buộc họ phải có trách nhiệm với hành vi của mình.

Ngoài quy định trách nhiệm bồi thường của đương sự và những chủ thể có quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, BLTTDS còn quy định trách nhiệm bồi thường của toà án nếu quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của toà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Theo khoản 2 Điều 101 BLTTDS, toà án sẽ phải bồi thường trong trường hợp toà án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời

Có thể khẳng định các quy định của BLTTDS về biện pháp khẩn cấp tạm thời có nhiều điểm mới tiến bộ và tương đối phù hợp với thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, theo chúng tôi một số quy định của BLTTDS về biện pháp khẩn cấp tạm thời vẫn còn chưa thật phù hợp.

Thứ nhất, các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 102 BLTTDS tuy tương đối đa dạng nhưng trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp dân sự cho thấy có những vụ việc rất cần toà án phải áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời khác các biện pháp đó. Vậy trong trường hợp này toà án có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp cần thiết đó hay không? Nếu không thì sẽ không thể kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, khoản 13 Điều 102 BLTTDS nên được bổ sung theo hướng toà án có quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định và cả những biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật chưa có quy định nếu không trái với các quy định của Bộ luật này.

Thứ hai, theo quy định tại Điều 99 BLTTDS, đương sự chỉ có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu họ khởi kiện vụ án dân sự. Trong thực tế có nhiều trường hợp đương sự chỉ muốn yêu cầu toà án áp dụng ngay một biện pháp cần thiết để bảo toàn tài sản, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình mà không muốn khởi kiện bởi họ không có tranh chấp hoặc có tranh chấp nhưng tranh chấp đó đã được giải quyết sau khi toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết. Với quy định như hiện nay trong BLTTDS thì vô hình chung đã buộc đương sự phải khởi kiện vụ án dân sự ngay cả khi họ không muốn. Theo chúng tôi BLTTDS nên thừa nhận quyền yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự khi họ không khởi kiện vụ án dân sự tại toà án. Yêu cầu này sẽ được giải quyết giống như một việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án.

Thứ ba, khoản 1 Điều 102 BLTTDS có quy định biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng đối với người chưa thành niên. Theo chúng tôi ngoài đối tượng là người chưa thành niên thì người mắc bệnh tâm thần và mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình cũng rất cần được toà án áp dụng biện pháp này. Vậy cần bổ sung vào khoản 1 Điều 102 BLTTDS quy định giao người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom nuôi dưỡng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến họ mà chưa có người giám hộ.

Thứ tư, quy định của BLTTDS tại khoản 2 Điều 101 về trách nhiệm bồi thường của toà án trong trường hợp toà án đã áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời nên gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Đây là một quy định mới tiến bộ vừa có tác dụng nâng cao trách nhiệm của toà án trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời lại bảo đảm quyền lợi cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của toà án được quy định tại khoản 2 Điều 102 BLTTDS, nhưng các căn cứ này mới chỉ đề cập đến trách nhiệm của toà án khi áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà chưa đề cập đến trách nhiệm của toà án trong trường hợp toà án đã không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trong thực tế, việc toà án đã không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể gây thiệt hại không nhỏ cho đương sự. Vì vậy, để xác định được đầy đủ hơn trách nhiệm của toà án, cần bổ sung vào khoản 2 Điều 102 BLTTDS thêm một căn cứ nữa, đó là toà án phải bồi thường thiệt hại cho người đưa ra yêu cầu nếu toà án có lỗi trong việc không ra hoặc chậm ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba.

Thứ năm, mục đích của việc toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là nhằm kịp thời bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Tuy nhiên, theo quy định tại các Điều 108, 109 và 110 BLTTDS thì các biện pháp kê biên tài sản, cấm chuyển dịch quyền về tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp chỉ được toà án ra quyết định áp dụng nếu có căn cứ cho thấy người đang nắm giữ tài sản này có hành vi tẩu tán, chuyển dịch quyền tài sản hoặc làm thay đổi hiện trạng tài sản. Điều này có nghĩa khi toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trên thì những hành vi tẩu tán tài sản, chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp hoặc hành vi thay đổi hiện trạng tài sản đã được thực hiện. Nếu vậy việc toà án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là quá muộn, không còn ý nghĩa. Theo chúng tôi, để khắc phục hạn chế này, các điều 108, 109, 110 BLTTDS nên được sửa đổi theo hướng thay thế cụm từ “…nếu có căn cứ cho thấy người đang nắm giữ về tài sản có hành vi…” bằng cụm từ “…nếu có căn cứ cho thấy cần ngăn chặn người đang nắm giữ tài sản có hành vi…”

Thứ sáu, về thủ tục ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại Điều 117 BLTTDS cũng còn bất cập. Thời hạn để thẩm phán ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là ba ngày hoặc 48 giờ tùy từng trường hợp cụ thể vẫn là quá dài, không đáp ứng được tính khẩn cấp. Bởi đối với những biện pháp phong tỏa về tài khoản, tài sản thì đương sự có khả năng bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này chỉ cần một thời gian rất ngắn để rút tiền hoặc tẩu tán tài sản. Theo chúng tôi trong trường hợp này BLTTDS nên quy định ngắn hơn về thời hạn ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Đặc biệt nên quy định trong những trường hợp cấp bách đương sự có thể yêu cầu toà án ra ngay quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Kể cả trong ngày lễ, ngày nghỉ đương sự vẫn có quyền yêu cầu toà án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Dựa vào yêu cầu của đương sự, thẩm phán sẽ ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu xét thấy cần thiết.

Thứ bảy, về quy định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm tại Điều 120 BLTTDS cũng có chỗ chưa hợp lý. Cụ thể là khi chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng một trong các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 102 BLTTDS, thẩm phán hoặc hội đồng xét xử buộc người yêu cầu phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do thẩm phán hoặc hội đồng xét xử ấn định nhưng phải tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện. Cụ thể hơn, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2005/HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba. Theo chúng tôi hướng dẫn này rất bất hợp lý bởi khi đưa ra yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời làm sao toà án cũng như người đưa ra yêu cầu biết được mức thiệt hại thực tế có thể như thế nào./.


ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘITẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ ĐẶC SAN VỀ BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM NĂM 2004

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ÁP DỤNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình

NGUYỄN HỒNG HẢI

Kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp trong gia đình Việt nam là một trong các nhiệm vụ cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Để cụ thể hoá nhiệm vụ này, khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội:

“Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập qúan lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 Luật này đã khẳng định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc qui định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”. Vận dụng các qui định của pháp luật, trong thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân các cấp, đặc biệt Toà án ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa đã áp dụng nhiều phong tục, tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bên cạnh những thành công, thực tế khảo sát ở một số tỉnh miền núi thường xuyên áp dụng phong tục, tập quán cho thấy hiệu quả còn chưa cao, còn nhiều vấn đề bất cập, có đến một nửa số bản án, quyết định viện dẫn tập qúan để giải quyết tranh chấp không được Viện kiểm sát, Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận. Ngay đối với các đoàn thể xã hội cũng chỉ chấp nhận, đồng tình với 58,3% các bản án, quyết định có áp dụng tập quán.(1)

Theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản của vấn đề này là Toà án các cấp chưa thống nhất về quan niệm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng phong tục, tập quán dẫn đến tình trạng áp dụng không đúng, lạm dụng hoặc đi ngược lại tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng dân cư nơi có phong tục, tập quán. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập vài nét về vấn đề này

1. Khái niệm chung về phong tục, tập quán hôn nhân và gia đình

Phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, tuy nhiên có thể được hiểu là: “những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại một địa phương trong một hoàn cảnh bắt buộc phải chấp nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương”(2). Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực). Các qui tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực. Với vai trò như vậy, phong tục, tập quán và việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình mang những ý nghĩa cơ bản sau:

Thứ nhất, phong tục, tập quán là một bộ phận cấu thành căn bản của truyền thống văn hoá và giá trị đạo đức trong gia đình Việt nam. áp dụng phong tục, tập quán là một là một trong các biện pháp cần thiết để bảo vệ các bản sắc văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống của gia đình Việt nam hiện đang có nguy cơ bị mất dần dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và sự mở rộng giao lưu quốc tế.

Gia đình Việt nam là một thiết chế xã hội, đồng thời được quan niệm như là một tập hợp các truyền thống văn hóa và giá trị đạo đức, sự phát triển của gia đình gắn liền với qui luật kế thừa và phát triển. Nghĩa là, trong gia đình các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống cùng tồn tại với các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế – xã hội mới.

Một quan hệ hôn nhân và gia đình mới, phản ánh các giá trị và chuẩn mực đạo đức phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội mới, chỉ thể hiện được tính chất tiến bộ, bền vững và phổ biến khi được xây dựng, củng cố trên nền tảng văn hoá và đạo đức truyền thống của gia đình. Ngược lại, việc xây dựng và củng cố các quan hệ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộ là cơ sở và là tiêu chí để khẳng định, bổ sung và phát triển về chất cho các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống. Một truyền thống, phong tục, tập quán trong điều kiện kinh tế – xã hội mới dù tốt đẹp đến mấy cũng không thể tạo ra bản sắc và tính bền vững cho gia đình nếu không đưọc bổ sung và phát triển bằng các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế – xã hội đó.

Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng trên, việc ghi nhận kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp trong gia đình là một trong các nhiệm vụ cơ bản của Luật HN-GĐ, không mâu thuẫn với nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình mới. Ngược lại, chúng là hai mặt không thể thiếu trong thực hiện mục tiêu về gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là: “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm cho mỗi người. Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thực hiện tốt Luật hôn nhân và gia đình”(3).

Thứ hai, Cùng với qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, phong tục, tập quán là công cụ điều chỉnh hữu hiệu các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt các quan hệ hôn nhân và gia đình mang tính sắc tộc và khu vực

Xuất phát từ bản chất vừa là thiết chế xã hội, vừa là tập hợp các giá trị truyền thống văn hoá và đạo đức, các quan hệ hôn nhân và gia đình đồng thời chịu sự qui định của cả qui phạm pháp luật và phong tục, tập quán. Thực tế đó đòi hỏi, để điều chỉnh tốt nhóm quan hệ xã hội này, cần có sự kết hợp hài hoà, hỗ trợ, bổ sung giữa các qui phạm pháp luật và phong tục, tập quán.

Điểm chung giữa qui phạm pháp luật và phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là cùng thực hiện mục tiêu làm ổn định các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung và gia đình nói riêng. Tuy nhiên, xét về đối tượng, phạm vi, cấp độ điều chỉnh giữa chúng có sự khác biệt nhất định.

Các qui phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh hữu hiệu, nhất thể và bao trùm trong xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Song, pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính phổ biến, điển hình và khách quan, nên, dù xã hội đã phát triển ở trình độ cao, pháp luật HN-GĐ đã ở mức hoàn thiện, vẫn còn những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa có hoặc chưa được các qui phạm pháp luật điều chỉnh. Trong khi đó, trên thực tế, những quan hệ xã hội này vẫn tiếp tục tồn tại, không thể không có sự điều chỉnh để tạo sự ổn định và loại bỏ những mâu thuẫn trong sự phát triển của chúng. Để giải quyết mâu thuẫn giữa phạm vi điều chỉnh của pháp luật và nhu cầu khách quan của xã hội, cần thực hiện chính sách đa dạng hoá pháp luật, một trong các giải pháp là áp dụng các phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình.

Nnư đã nói ở trên phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực). Các qui tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực. Do đó, các thành viên của cộng đồng thường tin tưởng vào tính công bình, sáng suốt, chính xác của các qui tắc xử sự này, nên chúng thường có tính hiệu lực cao (đặc biệt, khi những phong tục, tập quán được phát triển dưới hình thức hương ước hoặc luật tục). Nếu biết sử dụng, kết hợp, phong tục, tập quán sẽ là sự hỗ trợ tốt cho các qui phạm pháp luật HN-GĐ trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội còn chưa phát triển.

Thứ ba, phong tục, tập quán có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tố tụng và đưa ra đường lối giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực.

Trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực, phong tục, tập quán giúp các cơ quan và những người tiến hành tố tụng hoạt động có hiệu quả trong công tác điều tra, xác minh chứng cứ, hoà giải, xét xử, thi hành án… Từ đó, giúp cơ quan xét xử xác định rõ bản chất của mối quan hệ có tranh chấp, áp dụng pháp luật phù hợp với mối quan hệ có tranh chấp, trong trường hợp cần áp dụng phong tục, tập quán thì xác định áp dụng tập quán nào là phù hợp nhất đam bảo không trái với các nguyên tắc Luật định. Cũng qua phong tuc, tập quán người thẩm phán có thể hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của các đương sự và giảiq uyết thấu tình đạt lý, đựoc sự đồngý của cộng đồng dân cư nơi xảy ra tranh chấp nói riêng và của xã hội nói chung.

2. Một số nguyên tắc, điều kiện trong áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình.

Một mục đích cơ bản của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là nhằm tôn trọng và phát huy bản sắc dân tộc, truyền thống văn hoá, tâm lý, nguyện vọng của người dân. Từ đó, việc giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình sẽ có nhiều thuận lợi đặc biệt trong việc khuyến khích các đương sự tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, hạn chế sự mất đoàn kết trong cộng đồng nói chung và trong gia đình nói riêng. Đẻ thực hiện tốt mục đích trên, theo chúng tôi việc áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình cần đảm bảo các nguyên tắc, điều kiện sau:

Thứ nhất, phong tục, tập quán được áp dụng có nội dung không trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nguyên tắc, Nhà nước và xã hội chỉ tôn trọng và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, “Tính chất tốt đẹp” của phong tục, tập quán là một giá trị trừu tượng, nội dung của giá trị này thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời cũng phụ thuộc vào quan niệm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội và giai cấp. Vì vậy, nó có thể được xác định đánh giá theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác nhau. (Trên thực tế, trong quá trình soạn thảo Luật HN-GĐ năm 2000, đã có không ít những ý kiến lo ngại về những khó khăn trong kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp, đặc biệt trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, bởi vì: rất khó xác định phong tục, tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; phong tục, tập quán nào cần được xoá bỏ, do đó, có thể tạo kẽ hở cho những tập tục lạc hậu tồn tại, hoặc gây ra sự lạm dụng tập quán nhiều hơn là áp dụng qui phạm pháp luật, gây khó khăn trong việc đưa Luật HN-GĐ vào đời sống xã hội….)(3).

Tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, tính chất tốt đẹp của phong tục, tập quán chịu sự qui định bởi bản chất của chế độ xã hội. Bản chất của chế độ xã hội phản ánh vào các quan hệ hôn nhân và gia đình thông qua các nguyên tắc cơ bản về xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Do đó, nhà nước thường lấy các nguyên tắc cơ bản của Luật làm tiêu chí xác định giá trị và chuẩn mực đạo đức của truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình. Xác định dựa trên căn cứ như vậy, sẽ giúp nhà làm luật, giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật giải quyết được các vấn đề sau:

– Việc áp dụng phong tục, tập quán không làm mất đi mà ngược lại góp phần phát huy bản chất của chế độ hôn nhân và gia đình mới;

– Loại bỏ được sự tuỳ tiện và tạo sự thống nhất trong đánh giá và áp dụng truyền thống, phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình;

– Tìm ra và loại bỏ được những truyền thống, phong tục, tập quán lạc hậu không còn phù hợp với chế độ hôn nhân và gia đình mới.

Như vậy, Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán có bản chất phù hợp với các nguyên tắc cơ bản sau:

– Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Ví dụ, theo tập quán của người Mường, Thái, Thổ ở tỉnh Thanh Hoá thì khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau vai trò của đạI diện hai họ lúc cưới xin rất quan trọng trong việc hoà giải. Nếu hai vợ chồng có ý định ly hôn thì những người đại diện cho họ vợ và họ chồng tìm mọi cách phân tích, hoà giải để hai vợ chồng đoàn tụ với nhau(4). Đây là tập quán rất tốt cần được vận dụng cho các án kiện ly hôn của những đôi vợ chồng thuộc các tộc người này.

– Tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân giữa các công dân Việt nam khác nhau dân tộc và tôn giáo; giữa công dân Việt nam với người nước ngoài. Ví dụ: tập quán xâm canh giữa người dân ở biên giới hai nước dẫn đến tình trạng hôn nhân giữa những người cùng dân tộc hoặc khác dân tộc nhưng mang quốc tịch hai nước khác nhau mang tính chất phổ biến mà không theo những thủ tục và điều kiện áp dụng cho hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đây là tập quán mang ưu điểm cơ bản là củng cố và phát triển quan hệ và tình đoàn kết giữa cư dân hai nước láng giềng. Do đó, cần được tôn trọng và có những qui định và đường lối giải quyết phù hợp với tính đặc thù của quan hệ cả trong việc thưà nhận và giải quyết các tranh chấp phát sinh

– Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Đồng bào các dân tộc ít người thường có tâm lý trọng nam khinh nữ dẫn đến sinh đẻ nhiều vi phạm qui định về kế hoạch hoá gia đình, nhiều dân tộc coi có nhiều con, đặc biệt nhiều con trai phản ánh sự thịnh vượng của gia đình. Đây là tập quán không nên khuyên khích và phát huy.

– Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

– Không biệt đối xử giữa các con trong gia đình. Trên thực tế, hầu hết các ở các dân tộc ít người đều có sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái. Nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Thái ở Lào Cai…) cho con trai được hưởng gia tài, con trai trưởng đựoc tôn trọng ngang với người cha(5). Tập quán này Toà án cần phê phán, không áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp liên quan đến tài sản trong gia đình.

– Bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Nhìn chung, địa vị của người phụ nữ và trẻ em ở các dân tộc ít người hiện nay đã được cải thiện nhưng còn rất thấp kém, chế độ phụ quyền là phổ biến (trừ một số dân tộc ở Tây nguyên vẫn duy trì chế đậo mẫu hệ), hầu hết các các quyền lợi về nhân thân và tài sản do người đàn ông đựoc hưởng. Tập quán này rất lạc hậu không áp dụng để giải quyết các tranh chấp, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp về tảo hôn, đa thê, quyền sở hữu trong gia đình…

Hai là, Chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đã trở thành thông dụng, được đông đảo mọi người sinh sống trên cùng địa bàn, cùng dân tộc, cùng tôn giáo thừa nhận.

Cũng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan hệ xã hội, phong tục, tập quán cũng có thể mất đi hoặc phát sinh mới trong một cộng đồng, một địa phương. Thậm chí, cùng một phong tục tập quán ở một dân tộc, tôn giáo, khu vực lại tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau. Có phong tục, tập quán chỉ áp dụng cho một dòng họ, một gia đình hoặc một nhóm gia đình (Vi dụ: tập quán ở rể của người Thái cư trú ở một số tỉnh là 3 năm, nhưng một dòng họ hoặc một gia đình lại có tập quán ở rể là 5 năm…). Trong sự trộn lẫn giữa các hình thái phong tục, tập quán, Toà án cần xác định những phong tục, tập quán nào được đông đảo mọi người trong cộng đồng và khu vực thừa nhận; những phong tục, tập quán nào không có tính phổ biến, it người thừa nhận. Về nguyên tắc, Toà án Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đại diện tính truyền thống, bản sắc văn hoá, thói quen xử sự của một cộng đồng hoặc một khu vực.

Ba là, phong tục, tập quán chỉ được áp dụng trên địa bàn có thói quen xử sự theo tập quán đó

Nguyên tắc này xuất phát từ tính cục bộ của phong tục, tập quán, mỗi dân tộc, tôn giáo, khu vực có phong tục, tập quán riêng và chúng chỉ có giá trị điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nội bộ dân tộc, tôn giáo hoặc giữa các cá nhân cùng sinh sống tại một địa phương. Tính cục bộ của phong tục, tập quán đòi hỏi Toà án không thể áp đặt phong tục, tập quán của dân tộc, tôn giáo, địa phương này vào giải quyết các tranh chấp giữa những người có dân tộc, tôn giáo, địa phương khác (Ví dụ: không thể áp dụng tập quán ở Sơn La để giảiq uyết các tranh chấp ở Hoà Bình hoặc không thể áp dụng tập quán của người H’Mông ở Hà Giang để giải quyết tranh chấp của người Kinh sinh sống ở Hà Giang…). Toà án cũng không thể áp đặt phong tục, tập quán của một bên để giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên khác nhau về dân tộc, tôn giáo, địa phương sinh sống và phong tục, tập qúan giữa các dân tộc, tôn giáo, địa phương này mâu thuẫn với nhau về giải quyết tranh chấp (Ví dụ: Chồng là người dân tộc Thái, vợ là dân tộc Kinh khi ly hôn cả hai đều yêu cầu áp dụng tập quán của dân tộc mình để giải quyết tranh chấp). Trong trường hợp có sự xung đột về các tập quán khác nhau mà các bên không thoả thuận được, theo chúng tôi Toà án cần áp dụng phong tục, tập quán nơi xảy ra tranh chấp về tài sản trong gia đình và áp dụng phong tục, tập quán nơi xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình để giải quyết các tranh chấp về nhân thân

Bốn là, Tôn trọng sự thoả thuận của đương sự trong việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình.

Thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính độc lập, tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của các đương sự trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình; đồng thời, nó có ý nghĩa xác định tập quán áp dụng. Sự thoả thuận của các đương sự về việc áp dụng phong tục, tập quán cần được đặt ra trong các trường hợp sau:

– Tranh chấp chưa có qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh;

– Tranh chấp đồng thời có thể được giải quyết trên cơ sở qui phạm pháp luật hoặc phong tục, tập quán;

– Các bên đương sự khác nhau về dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, địa phương sinh sống dẫn đến có sự khác nhau về phong tục, tập quán (Ví dụ: Chồng người dân tộc kinh quê ở Hưng yên, vợ là người dân tộc H’mông quê ở Lào cai)

Khi thấy có thể áp dụng được phong tục tập quán, thì cần để cho đương sự lựa chọn, thoả thuận việc áp dụng qui phạm pháp luật hay phong tục, tập quán trong giải quyết tranh chấp của mình. Tuyệt đối không được áp đặt, cưỡng ép đương sự, đồng thời cũng không được cấm đoán, ngăn cản đưong sự lựa chọn phong tục, tập quán. Trong trường hợp phải áp dụng phong tục, tập quán (chưa có qui phạm pháp luật điều chỉnh, áp dụng phong tục, tập quán có hiệu quả hơn hoặc xuất phát từ đặc thù của tranh chấp…), cần phải giải thích cho đưong sự rõ nguyên nhân, mục đích của việc vận dụng phong tục, tập quán. có thể mời các đạI diện của cộng đồng như già làng, trưởng bản hoặc chức sắc tôn giáo…) tham gia vào việc thoả thuận áp dụng phong tục, tập quán. Nếu các đương sự không thể thoả thuận được với nhau về áp dụng phong tục, tập quán nào, hoặc những phong tục, tập quán mà đương sự thoả thuận có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, Toà án cần giải quyết tranh chấp bằng qui phạm pháp luật hoặc áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết.

Năm là, phát huy vai trò của những người đứng đầu cộng đồng (già làng, trưởng bản) hoặc các chức sắc tôn giáo trong việc áp dụng phong tục, tập quán giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình.

Phần lớn các dân tộc ít người đều có những già làng, trưởng bản, đây là những người có uy tín rất cao trong cộng đồng, họ được coi là đạI diện của nhân dân trong các mối quan hệ. Mặt khác, già làng, trưởng bản là những người gìn giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, địa phương mình. Với vai trò lớn như vậy, già làng, trưởng bản là người có khả năng giáo dục, thuyết phục, hoà giải, khuyên bảo đồng bào của họ rất hiệu quả, dung hoà đựoc các tranh chấp, đảm bảo tính đoàn kết của cộng đồng. Trên thực tế, việc giải quyết các tranh chấp có sự tham gia của các già làng, trưởng bản với vai trò hoà giải, xác định tập quán đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc giải quyết tranh chấp không có sự tham gia của những người này.

Tóm lại, về áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình có rất nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi rộng rãi để có được sự thống nhất quan niệm, giúp cho phong tục, tập quán đựoc sử dụng có hiệu quả với hai tư cách vừa là công cụ bổ sung điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình vừa là yếu tố góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình Việt nam. Theo chúng tôi, trước mắt các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

– Xây dựng một hệ thống qui phạm pháp luật hoàn chỉnh về kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình. Bao gồm, các qui phạm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực; các qui phạm pháp luật qui định danh mục các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình không đựoc áp dụng và danh mục các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình được khuyến khích và phát huy.(11)

– Các cơ quan áp dụng và bảo vệ pháp luật (cơ quan hành chính, toà án, viện kiểm sát…) và Bộ tư pháp cần tiến hành tập huấn chuyên sâu về Luật HN-GĐ nói chung và nhiệm vụ kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp nói riêng cho thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký toà án, hội thẩm nhân dân, hộ tịch viên và nhân viên tư pháp khác. Tránh hiện tượng cực đoan hoặc phủ nhận toàn bộ các giá trị truyền thống trong phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, hoặc quá lạm dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình làm giảm tính hiệu lực của các qui phạm pháp luật HN-GĐ;

– Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo… đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật HN-GĐ trong nhan dân. Qua đó, nâng cao ý thức của nhân dân trong gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, giúp nhân dân nhận biết các phong tục tập quán lạc hậu cần được loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội và đời sống gia đình%

————

(1), (2) Xem: Từ điển tiêng việt. Nxb Đà nẵng, năm 1997, tr. 467, 742.

(3) Xem: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nxb. chính trị quốc gia, năm 1996, tr 112-113.

(4) Xem: Lời nói đầu/ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

(5) Xem: Từ điển pháp luật (anh-việt). Nxb thế giới, năm 1998, tr 253

(6) Xem; Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về Dự án Luật HN-GĐ sửa đổi của Văn phòng quốc hội ngày 23/3/2000 và Thông tin chuyên đề về Luật HN-GĐ.. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý.Bộ tư pháp, năm 1996, tr8.

(7) Xem: giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt nam . Đại học Luật Hà nội. Nxb. Công an nhân dân. năm 1998, tr 17.

(8)) Xem: Nguyễn Khắc Viện. Từ điển xã hội học. Nxb thế giới, năm 1994, tr 110, 335, 336.

(9)) Về nội dung xem: Văn hoá gia đình Việt nam, Đề tài KX.06 – 11, chủ nhiệm nhà văn Lê Minh.

(10) Xem: Tội phạm ở Việt nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp, Đề tài KX.04.14, Tổng cục CSND. Bộ nội vụ. NXB CAND năm 1994.

(11)Xem: Điều 2 và Điều 6 Luật HN-GĐ năm 2000.

(12).Xem: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật. Thông tin khoa học pháp lý. Viện nnghiên cứu KHPL. Bộ tư pháp. 10/1999

(13) Xem: Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg ngày 09/08/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực iện Luật HN-GĐ năm 2000.


SOURCE: ĐẶC SAN NGHỀ LUẬT SỐ 1/2003

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ÁP DỤNG PHONG TỤC, TẬP QUÁN TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà nội

Kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp trong gia đình Việt nam là một trong các nhiệm vụ cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình. Để cụ thể hoá nhiệm vụ này, khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 qui định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội:

“Vận động nhân dân xoá bỏ phong tục, tập qúan lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ”, và Điều 6 Luật này đã khẳng định: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc qui định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”. Vận dụng các qui định của pháp luật, trong thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân các cấp, đặc biệt Toà án ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa đã áp dụng nhiều phong tục, tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bên cạnh những thành công, thực tế khảo sát ở một số tỉnh miền núi thường xuyên áp dụng phong tục, tập quán cho thấy hiệu quả còn chưa cao, còn nhiều vấn đề bất cập, có đến một nửa số bản án, quyết định viện dẫn tập qúan để giải quyết tranh chấp không được Viện kiểm sát, Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận. Ngay đối với các đoàn thể xã hội cũng chỉ chấp nhận, đồng tình với 58,3% các bản án, quyết định có áp dụng tập quán.(1)

Theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản của vấn đề này là Toà án các cấp chưa thống nhất về quan niệm, về các nguyên tắc và điều kiện đặt ra trong áp dụng phong tục, tập quán dẫn đến tình trạng áp dụng không đúng, lạm dụng hoặc đi ngược lại tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng dân cư nơi có phong tục, tập quán. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập vài nét về vấn đề này

1. Khái niệm chung về phong tục, tập quán hôn nhân và gia đình

Phong tục, tập quán là một khái niệm phức tạp, tuy nhiên có thể được hiểu là: "những thói quen đã được mọi người tuân thủ tại một địa phương trong một hoàn cảnh bắt buộc phải chấp nhận lề thói ấy như một phần luật pháp của địa phương"(2). Như vậy, phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực). Các qui tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực. Với vai trò như vậy, phong tục, tập quán và việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình mang những ý nghĩa cơ bản sau:

Thứ nhất, phong tục, tập quán là một bộ phận cấu thành căn bản của truyền thống văn hoá và giá trị đạo đức trong gia đình Việt nam. áp dụng phong tục, tập quán là một là một trong các biện pháp cần thiết để bảo vệ các bản sắc văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống của gia đình Việt nam hiện đang có nguy cơ bị mất dần dưới tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và sự mở rộng giao lưu quốc tế.

Gia đình Việt nam là một thiết chế xã hội, đồng thời được quan niệm như là một tập hợp các truyền thống văn hóa và giá trị đạo đức, sự phát triển của gia đình gắn liền với qui luật kế thừa và phát triển. Nghĩa là, trong gia đình các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống cùng tồn tại với các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế – xã hội mới.

Một quan hệ hôn nhân và gia đình mới, phản ánh các giá trị và chuẩn mực đạo đức phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội mới, chỉ thể hiện được tính chất tiến bộ, bền vững và phổ biến khi được xây dựng, củng cố trên nền tảng văn hoá và đạo đức truyền thống của gia đình. Ngược lại, việc xây dựng và củng cố các quan hệ hôn nhân và gia đình mới, tiến bộ là cơ sở và là tiêu chí để khẳng định, bổ sung và phát triển về chất cho các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức truyền thống. Một truyền thống, phong tục, tập quán trong điều kiện kinh tế – xã hội mới dù tốt đẹp đến mấy cũng không thể tạo ra bản sắc và tính bền vững cho gia đình nếu không đưọc bổ sung và phát triển bằng các giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức được hình thành trong điều kiện kinh tế – xã hội đó.

Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng trên, việc ghi nhận kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức, phong tục tập quán tốt đẹp trong gia đình là một trong các nhiệm vụ cơ bản của Luật HN-GĐ, không mâu thuẫn với nhiệm vụ xây dựng và củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình mới. Ngược lại, chúng là hai mặt không thể thiếu trong thực hiện mục tiêu về gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra là: "Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm cho mỗi người. Phát huy trách nhiệm của gia đình trong việc lưu truyền những giá trị văn hoá dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác. Thực hiện tốt Luật hôn nhân và gia đình"(3).

Thứ hai, Cùng với qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình, phong tục, tập quán là công cụ điều chỉnh hữu hiệu các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt các quan hệ hôn nhân và gia đình mang tính sắc tộc và khu vực

Xuất phát từ bản chất vừa là thiết chế xã hội, vừa là tập hợp các giá trị truyền thống văn hoá và đạo đức, các quan hệ hôn nhân và gia đình đồng thời chịu sự qui định của cả qui phạm pháp luật và phong tục, tập quán. Thực tế đó đòi hỏi, để điều chỉnh tốt nhóm quan hệ xã hội này, cần có sự kết hợp hài hoà, hỗ trợ, bổ sung giữa các qui phạm pháp luật và phong tục, tập quán.

Điểm chung giữa qui phạm pháp luật và phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là cùng thực hiện mục tiêu làm ổn định các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, thúc đẩy sự phát triển của xã hội nói chung và gia đình nói riêng. Tuy nhiên, xét về đối tượng, phạm vi, cấp độ điều chỉnh giữa chúng có sự khác biệt nhất định.

Các qui phạm pháp luật là công cụ điều chỉnh hữu hiệu, nhất thể và bao trùm trong xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Song, pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính phổ biến, điển hình và khách quan, nên, dù xã hội đã phát triển ở trình độ cao, pháp luật HN-GĐ đã ở mức hoàn thiện, vẫn còn những quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa có hoặc chưa được các qui phạm pháp luật điều chỉnh. Trong khi đó, trên thực tế, những quan hệ xã hội này vẫn tiếp tục tồn tại, không thể không có sự điều chỉnh để tạo sự ổn định và loại bỏ những mâu thuẫn trong sự phát triển của chúng. Để giải quyết mâu thuẫn giữa phạm vi điều chỉnh của pháp luật và nhu cầu khách quan của xã hội, cần thực hiện chính sách đa dạng hoá pháp luật, một trong các giải pháp là áp dụng các phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình.

Nnư đã nói ở trên phong tục, tập quán thực chất là những qui tắc xử sự mang tính cộng đồng, phản ánh nguyện vọng qua nhiều thế hệ của toàn thể dân cư trong một cộng đồng tự quản (làng, xã, khu vực). Các qui tắc này được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội nói chung, quan hệ hôn nhân và gia đình nói riêng mang tính tộc người hoặc mang tính khu vực. Do đó, các thành viên của cộng đồng thường tin tưởng vào tính công bình, sáng suốt, chính xác của các qui tắc xử sự này, nên chúng thường có tính hiệu lực cao (đặc biệt, khi những phong tục, tập quán được phát triển dưới hình thức hương ước hoặc luật tục). Nếu biết sử dụng, kết hợp, phong tục, tập quán sẽ là sự hỗ trợ tốt cho các qui phạm pháp luật HN-GĐ trong điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội còn chưa phát triển.

Thứ ba, phong tục, tập quán có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình tố tụng và đưa ra đường lối giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực.

Trong các tranh chấp về hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực, phong tục, tập quán giúp các cơ quan và những người tiến hành tố tụng hoạt động có hiệu quả trong công tác điều tra, xác minh chứng cứ, hoà giải, xét xử, thi hành án… Từ đó, giúp cơ quan xét xử xác định rõ bản chất của mối quan hệ có tranh chấp, áp dụng pháp luật phù hợp với mối quan hệ có tranh chấp, trong trường hợp cần áp dụng phong tục, tập quán thì xác định áp dụng tập quán nào là phù hợp nhất đam bảo không trái với các nguyên tắc Luật định. Cũng qua phong tuc, tập quán người thẩm phán có thể hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của các đương sự và giảiq uyết thấu tình đạt lý, đựoc sự đồngý của cộng đồng dân cư nơi xảy ra tranh chấp nói riêng và của xã hội nói chung.

2. Một số nguyên tắc, điều kiện trong áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình.

Một mục đích cơ bản của việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình là nhằm tôn trọng và phát huy bản sắc dân tộc, truyền thống văn hoá, tâm lý, nguyện vọng của người dân. Từ đó, việc giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình sẽ có nhiều thuận lợi đặc biệt trong việc khuyến khích các đương sự tự giác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, hạn chế sự mất đoàn kết trong cộng đồng nói chung và trong gia đình nói riêng. Đẻ thực hiện tốt mục đích trên, theo chúng tôi việc áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình cần đảm bảo các nguyên tắc, điều kiện sau:

Thứ nhất, phong tục, tập quán được áp dụng có nội dung không trái với các nguyên tắc cơ bản của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nguyên tắc, Nhà nước và xã hội chỉ tôn trọng và phát huy các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, "Tính chất tốt đẹp" của phong tục, tập quán là một giá trị trừu tượng, nội dung của giá trị này thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của xã hội, đồng thời cũng phụ thuộc vào quan niệm của từng cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội và giai cấp. Vì vậy, nó có thể được xác định đánh giá theo nhiều góc độ, nhiều quan niệm khác nhau. (Trên thực tế, trong quá trình soạn thảo Luật HN-GĐ năm 2000, đã có không ít những ý kiến lo ngại về những khó khăn trong kế thừa, phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp, đặc biệt trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, bởi vì: rất khó xác định phong tục, tập quán nào là tốt đẹp cần được kế thừa và phát huy; phong tục, tập quán nào cần được xoá bỏ, do đó, có thể tạo kẽ hở cho những tập tục lạc hậu tồn tại, hoặc gây ra sự lạm dụng tập quán nhiều hơn là áp dụng qui phạm pháp luật, gây khó khăn trong việc đưa Luật HN-GĐ vào đời sống xã hội….)(3).

Tuy nhiên, ở góc độ chung nhất, tính chất tốt đẹp của phong tục, tập quán chịu sự qui định bởi bản chất của chế độ xã hội. Bản chất của chế độ xã hội phản ánh vào các quan hệ hôn nhân và gia đình thông qua các nguyên tắc cơ bản về xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình. Do đó, nhà nước thường lấy các nguyên tắc cơ bản của Luật làm tiêu chí xác định giá trị và chuẩn mực đạo đức của truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình. Xác định dựa trên căn cứ như vậy, sẽ giúp nhà làm luật, giải thích pháp luật và áp dụng pháp luật giải quyết được các vấn đề sau:

– Việc áp dụng phong tục, tập quán không làm mất đi mà ngược lại góp phần phát huy bản chất của chế độ hôn nhân và gia đình mới;

– Loại bỏ được sự tuỳ tiện và tạo sự thống nhất trong đánh giá và áp dụng truyền thống, phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình;

– Tìm ra và loại bỏ được những truyền thống, phong tục, tập quán lạc hậu không còn phù hợp với chế độ hôn nhân và gia đình mới.

Như vậy, Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán có bản chất phù hợp với các nguyên tắc cơ bản sau:

– Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Ví dụ, theo tập quán của người Mường, Thái, Thổ ở tỉnh Thanh Hoá thì khi vợ chồng mâu thuẫn với nhau vai trò của đạI diện hai họ lúc cưới xin rất quan trọng trong việc hoà giải. Nếu hai vợ chồng có ý định ly hôn thì những người đại diện cho họ vợ và họ chồng tìm mọi cách phân tích, hoà giải để hai vợ chồng đoàn tụ với nhau(4). Đây là tập quán rất tốt cần được vận dụng cho các án kiện ly hôn của những đôi vợ chồng thuộc các tộc người này.

– Tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân giữa các công dân Việt nam khác nhau dân tộc và tôn giáo; giữa công dân Việt nam với người nước ngoài. Ví dụ: tập quán xâm canh giữa người dân ở biên giới hai nước dẫn đến tình trạng hôn nhân giữa những người cùng dân tộc hoặc khác dân tộc nhưng mang quốc tịch hai nước khác nhau mang tính chất phổ biến mà không theo những thủ tục và điều kiện áp dụng cho hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Đây là tập quán mang ưu điểm cơ bản là củng cố và phát triển quan hệ và tình đoàn kết giữa cư dân hai nước láng giềng. Do đó, cần được tôn trọng và có những qui định và đường lối giải quyết phù hợp với tính đặc thù của quan hệ cả trong việc thưà nhận và giải quyết các tranh chấp phát sinh

– Vợ chồng có nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình. Đồng bào các dân tộc ít người thường có tâm lý trọng nam khinh nữ dẫn đến sinh đẻ nhiều vi phạm qui định về kế hoạch hoá gia đình, nhiều dân tộc coi có nhiều con, đặc biệt nhiều con trai phản ánh sự thịnh vượng của gia đình. Đây là tập quán không nên khuyên khích và phát huy.

– Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà; các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau.

– Không biệt đối xử giữa các con trong gia đình. Trên thực tế, hầu hết các ở các dân tộc ít người đều có sự phân biệt đối xử giữa con trai và con gái. Nhiều dân tộc (Tày, Nùng, Thái ở Lào Cai…) cho con trai được hưởng gia tài, con trai trưởng đựoc tôn trọng ngang với người cha(5). Tập quán này Toà án cần phê phán, không áp dụng trong việc giải quyết các tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp liên quan đến tài sản trong gia đình.

– Bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Nhìn chung, địa vị của người phụ nữ và trẻ em ở các dân tộc ít người hiện nay đã được cải thiện nhưng còn rất thấp kém, chế độ phụ quyền là phổ biến (trừ một số dân tộc ở Tây nguyên vẫn duy trì chế đậo mẫu hệ), hầu hết các các quyền lợi về nhân thân và tài sản do người đàn ông đựoc hưởng. Tập quán này rất lạc hậu không áp dụng để giải quyết các tranh chấp, đặc biệt trong việc giải quyết các tranh chấp về tảo hôn, đa thê, quyền sở hữu trong gia đình…

Hai là, Chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đã trở thành thông dụng, được đông đảo mọi người sinh sống trên cùng địa bàn, cùng dân tộc, cùng tôn giáo thừa nhận.

Cũng với sự phát triển đa dạng và phức tạp của các quan hệ xã hội, phong tục, tập quán cũng có thể mất đi hoặc phát sinh mới trong một cộng đồng, một địa phương. Thậm chí, cùng một phong tục tập quán ở một dân tộc, tôn giáo, khu vực lại tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau. Có phong tục, tập quán chỉ áp dụng cho một dòng họ, một gia đình hoặc một nhóm gia đình (Vi dụ: tập quán ở rể của người Thái cư trú ở một số tỉnh là 3 năm, nhưng một dòng họ hoặc một gia đình lại có tập quán ở rể là 5 năm…). Trong sự trộn lẫn giữa các hình thái phong tục, tập quán, Toà án cần xác định những phong tục, tập quán nào được đông đảo mọi người trong cộng đồng và khu vực thừa nhận; những phong tục, tập quán nào không có tính phổ biến, it người thừa nhận. Về nguyên tắc, Toà án Toà án chỉ áp dụng những phong tục, tập quán đại diện tính truyền thống, bản sắc văn hoá, thói quen xử sự của một cộng đồng hoặc một khu vực.

Ba là, phong tục, tập quán chỉ được áp dụng trên địa bàn có thói quen xử sự theo tập quán đó

Nguyên tắc này xuất phát từ tính cục bộ của phong tục, tập quán, mỗi dân tộc, tôn giáo, khu vực có phong tục, tập quán riêng và chúng chỉ có giá trị điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nội bộ dân tộc, tôn giáo hoặc giữa các cá nhân cùng sinh sống tại một địa phương. Tính cục bộ của phong tục, tập quán đòi hỏi Toà án không thể áp đặt phong tục, tập quán của dân tộc, tôn giáo, địa phương này vào giải quyết các tranh chấp giữa những người có dân tộc, tôn giáo, địa phương khác (Ví dụ: không thể áp dụng tập quán ở Sơn La để giảiq uyết các tranh chấp ở Hoà Bình hoặc không thể áp dụng tập quán của người H’Mông ở Hà Giang để giải quyết tranh chấp của người Kinh sinh sống ở Hà Giang…). Toà án cũng không thể áp đặt phong tục, tập quán của một bên để giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên khác nhau về dân tộc, tôn giáo, địa phương sinh sống và phong tục, tập qúan giữa các dân tộc, tôn giáo, địa phương này mâu thuẫn với nhau về giải quyết tranh chấp (Ví dụ: Chồng là người dân tộc Thái, vợ là dân tộc Kinh khi ly hôn cả hai đều yêu cầu áp dụng tập quán của dân tộc mình để giải quyết tranh chấp). Trong trường hợp có sự xung đột về các tập quán khác nhau mà các bên không thoả thuận được, theo chúng tôi Toà án cần áp dụng phong tục, tập quán nơi xảy ra tranh chấp về tài sản trong gia đình và áp dụng phong tục, tập quán nơi xác lập quan hệ hôn nhân và gia đình để giải quyết các tranh chấp về nhân thân

Bốn là, Tôn trọng sự thoả thuận của đương sự trong việc áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình.

Thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính độc lập, tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm của các đương sự trong giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình; đồng thời, nó có ý nghĩa xác định tập quán áp dụng. Sự thoả thuận của các đương sự về việc áp dụng phong tục, tập quán cần được đặt ra trong các trường hợp sau:

– Tranh chấp chưa có qui phạm pháp luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh;

– Tranh chấp đồng thời có thể được giải quyết trên cơ sở qui phạm pháp luật hoặc phong tục, tập quán;

– Các bên đương sự khác nhau về dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, địa phương sinh sống dẫn đến có sự khác nhau về phong tục, tập quán (Ví dụ: Chồng người dân tộc kinh quê ở Hưng yên, vợ là người dân tộc H’mông quê ở Lào cai)

Khi thấy có thể áp dụng được phong tục tập quán, thì cần để cho đương sự lựa chọn, thoả thuận việc áp dụng qui phạm pháp luật hay phong tục, tập quán trong giải quyết tranh chấp của mình. Tuyệt đối không được áp đặt, cưỡng ép đương sự, đồng thời cũng không được cấm đoán, ngăn cản đưong sự lựa chọn phong tục, tập quán. Trong trường hợp phải áp dụng phong tục, tập quán (chưa có qui phạm pháp luật điều chỉnh, áp dụng phong tục, tập quán có hiệu quả hơn hoặc xuất phát từ đặc thù của tranh chấp…), cần phải giải thích cho đưong sự rõ nguyên nhân, mục đích của việc vận dụng phong tục, tập quán. có thể mời các đạI diện của cộng đồng như già làng, trưởng bản hoặc chức sắc tôn giáo…) tham gia vào việc thoả thuận áp dụng phong tục, tập quán. Nếu các đương sự không thể thoả thuận được với nhau về áp dụng phong tục, tập quán nào, hoặc những phong tục, tập quán mà đương sự thoả thuận có nội dung trái với các nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân và gia đình, Toà án cần giải quyết tranh chấp bằng qui phạm pháp luật hoặc áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết.

Năm là, phát huy vai trò của những người đứng đầu cộng đồng (già làng, trưởng bản) hoặc các chức sắc tôn giáo trong việc áp dụng phong tục, tập quán giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình.

Phần lớn các dân tộc ít người đều có những già làng, trưởng bản, đây là những người có uy tín rất cao trong cộng đồng, họ được coi là đạI diện của nhân dân trong các mối quan hệ. Mặt khác, già làng, trưởng bản là những người gìn giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, địa phương mình. Với vai trò lớn như vậy, già làng, trưởng bản là người có khả năng giáo dục, thuyết phục, hoà giải, khuyên bảo đồng bào của họ rất hiệu quả, dung hoà đựoc các tranh chấp, đảm bảo tính đoàn kết của cộng đồng. Trên thực tế, việc giải quyết các tranh chấp có sự tham gia của các già làng, trưởng bản với vai trò hoà giải, xác định tập quán đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều so với việc giải quyết tranh chấp không có sự tham gia của những người này.

Tóm lại, về áp dụng phong tục, tập quán trong giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình có rất nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi rộng rãi để có được sự thống nhất quan niệm, giúp cho phong tục, tập quán đựoc sử dụng có hiệu quả với hai tư cách vừa là công cụ bổ sung điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình vừa là yếu tố góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình Việt nam. Theo chúng tôi, trước mắt các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau:

– Xây dựng một hệ thống qui phạm pháp luật hoàn chỉnh về kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán trong gia đình. Bao gồm, các qui phạm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình mang tính tộc người và khu vực; các qui phạm pháp luật qui định danh mục các phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình không đựoc áp dụng và danh mục các phong tục, tập quán tốt đẹp về hôn nhân và gia đình được khuyến khích và phát huy.(11)

– Các cơ quan áp dụng và bảo vệ pháp luật (cơ quan hành chính, toà án, viện kiểm sát…) và Bộ tư pháp cần tiến hành tập huấn chuyên sâu về Luật HN-GĐ nói chung và nhiệm vụ kế thừa, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp nói riêng cho thẩm phán, kiểm sát viên, thư ký toà án, hội thẩm nhân dân, hộ tịch viên và nhân viên tư pháp khác. Tránh hiện tượng cực đoan hoặc phủ nhận toàn bộ các giá trị truyền thống trong phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình, hoặc quá lạm dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình làm giảm tính hiệu lực của các qui phạm pháp luật HN-GĐ;

– Tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo… đẩy mạnh công tác phổ biến tuyên truyền và giáo dục pháp luật HN-GĐ trong nhan dân. Qua đó, nâng cao ý thức của nhân dân trong gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, giúp nhân dân nhận biết các phong tục tập quán lạc hậu cần được loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội và đời sống gia đình%

————

(1), (2) Xem: Từ điển tiêng việt. Nxb Đà nẵng, năm 1997, tr. 467, 742.

(3) Xem: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Nxb. chính trị quốc gia, năm 1996, tr 112-113.

(4) Xem: Lời nói đầu/ Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

(5) Xem: Từ điển pháp luật (anh-việt). Nxb thế giới, năm 1998, tr 253

(6) Xem; Báo cáo tổng hợp ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về Dự án Luật HN-GĐ sửa đổi của Văn phòng quốc hội ngày 23/3/2000 và Thông tin chuyên đề về Luật HN-GĐ.. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý.Bộ tư pháp, năm 1996, tr8.

(7) Xem: giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt nam . Đại học Luật Hà nội. Nxb. Công an nhân dân. năm 1998, tr 17.

(8)) Xem: Nguyễn Khắc Viện. Từ điển xã hội học. Nxb thế giới, năm 1994, tr 110, 335, 336.

(9)) Về nội dung xem: Văn hoá gia đình Việt nam, Đề tài KX.06 – 11, chủ nhiệm nhà văn Lê Minh.

(10) Xem: Tội phạm ở Việt nam thực trạng nguyên nhân và giải pháp, Đề tài KX.04.14, Tổng cục CSND. Bộ nội vụ. NXB CAND năm 1994.

(11)Xem: Điều 2 và Điều 6 Luật HN-GĐ năm 2000.

(12).Xem: Mối quan hệ giữa tập tục và pháp luật. Thông tin khoa học pháp lý. Viện nnghiên cứu KHPL. Bộ tư pháp. 10/1999

(13) Xem: Chỉ thị số 15/2000/CT-TTg ngày 09/08/2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực iện Luật HN-GĐ năm 2000.


SOURCE: ĐẶC SAN NGHỀ LUẬT SỐ 1/2003

BÀN THÊM VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HIỆN HÀNH

THS. NGUYỄN HỒNG HẢI – Khoa Luật Dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Chế độ tài sản chung của vợ chồng được qui định tại các điều 27, 28 Luật HN&GĐ năm 2000 là chế độ tài sản pháp định với hình thức chế độ cộng đồng tạo sản (tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản chung, trừ những tài sản theo qui định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng). Về nguyên tắc, khi hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung cũng vẫn còn tồn tại, chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi hôn nhân chấm dứt về mặt pháp lý (ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết)

Tuy nhiên, trên thực tế nhiều cặp vợ chồng muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất phát từ mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lý sử dụng, định đoạt tài sản chung xuất phát từ mâu thuẫn về tình cảm, song họ không muốn ly hôn nhưng muốn được độc lập về tài sản để tránh phát triển mâu thuẫn và được độc lập trong cuộc sống…)

Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2000 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 (Điều 18 ) tiếp tục qui định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 và Điều 30), các qui định này được hướng dẫn từ Điều 6 đến Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (sau đây gọi chung là Nghị định số 70).

Theo qui định của pháp luật HN&GĐ hiện hành, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thoả thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng, hoặc bản án, quyết định của Toà án. Khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng không thay đổi. Đây chính là điểm khác biệt cơ bản nhất của chế định này so với chế định ly thân được qui định trong pháp luật của một số nước phương Tây(1). Tuy nhiên, quan hệ sở hữu giữa vợ và chồng đối với tài sản đã có sự thay đổi rất nhiều. Theo Điều 30 Luật HN&GĐ và theo Điều 8 Nghị định số 70, phần tài sản mà vợ, chồng được chia, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên trừ khi vợ chồng có thoả thuận khác.

Trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào phân tích các điều kiện và hậu quả pháp lý của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo tinh thần của pháp luật thực định, mà chúng tôi muốn đưa ra một số vướng mắc cần có sự qui định hoặc hướng dẫn cụ thể hơn(2).

1. Việc pháp luật HN&GĐ chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được thừa nhận (Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000), là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng qui định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000). Vấn đề đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào?

Theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hợp người có quyền có đủ chứng cứ cho rằng, vợ chồng không có thoả thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản, thì người có quyền có thể yêu cầu Toà án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện thanh toán các khoản nợ. Yêu cầu của người có quyền sẽ không được Toà án công nhận, nếu việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình của người có nghĩa vụ hoặc bản thân vợ, chồng có nghĩa vụ có đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ.

2. Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ qui định, vợ, chồng có thể yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu không có hoặc không thoả thuận được. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn có liên quan chưa qui định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân khi việc chia tài sản chung đó thuộc thẩm quyền của Toà án. Do đó, trong thực tiễn áp dụng, Toà án sẽ gặp khó khăn khi vận dụng căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp phát sinh. Trước đây, Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 đã qui định: “Khi hôn nhân còn tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo qui định ở Điều 42 (nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn) của Luật này”. Trên cơ sở kế thừa qui định trên của Luật HN&GĐ năm 1986, theo chúng tôi cần thiết phải qui định một giải pháp như sau:

Khi chia tài sản chung, Toà án căn cứ vào lý do, mục đích chia tài sản chung để quyết định phạm vi tài sản chung được chia. Việc chia tài sản chung căn cứ vào các nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn qui định tại Điều 95 của Luật HN&GĐ; nếu tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất thì áp dụng các qui định tại các điều 97, 98 và 99 của Luật HN&GĐ.

3. Qui định trong thời kỳ hôn nhân, nếu có lý do chính đáng vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn bản mà không qui định trách nhiệm của họ đối với gia đình sau khi chia tài sản chung là một qui định quá “mở”. Giả sử, ngay sau khi kết hôn với lý do kinh doanh riêng, vợ chồng có thoả thuận toàn bộ tài sản chung được chia, tài sản của ai làm ra thuộc về người đó, thì khi đó lợi ích gia đình được đặt ở vị trí nào? Nếu thoả thuận này được thực hiện thì quan hệ hôn nhân chỉ còn tồn tại về mặt nhân thân, còn quan hệ tài sản giữa vợ chồng đã được dân sự hóa, bản chất của hôn nhân XHCN vì thế không được thực hiện.

Theo chúng tôi, để phát huy được mục đích, ý nghĩa của chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70 một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng là: Tài sản bảo đảm cho các nhu cầu chung của gia đình.

Ngoài ra cũng cần qui định cụ thể: Trong trường hợp vợ chồng không thoả thuận được việc bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình, thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Toà án quyết định mức đóng góp của các bên trên cơ sở nhu cầu thực tế của gia đình và khả năng kinh tế của các bên hoặc quyết định không chia toàn bộ tài sản chung, phần tài sản chung không chia được sử dụng cho nhu cầu của gia đình.

4. Luật HN&GĐ năm 2000 và Nghị định số 70 qui định các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Toà án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ lại không qui định ai là người có thể yêu cầu Toà án hủy bỏ thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp thoả thuận này vi phạm các điều kiện được qui định tại Điều 29 Luật HN&GĐ hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình, đến việc trông nom, nuôi dưõng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Mặt khác, Luật HN&GĐ cũng chưa qui định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thoả thuận chia tài sản chung. Theo chúng tôi, cần qui định rõ: Trong trường hợp thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bị Toà án tuyên bố vô hiệu, chế độ tài sản chung của vợ chồng được khôi phục lại tình trạng trước khi có thoả thuận chia tài sản chung.

5. Theo Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 70 trong trường hợp vợ chồng có thoả thuận bằng văn bản về khôi phục chế độ tài sản chung, thì kể từ ngày văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực, việc xác định phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu chung căn cứ vào sự thoả thuận của vợ chồng. Theo chúng tôi, qui định này đã trao cho vợ chồng một quyền hạn quá rộng. Việc vợ chồng có quyền chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời có quyền khôi phục chế độ tài sản chung mà không cần có sự xem xét của Toà án đã đưa Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 trở thành hình thức, chế độ tài sản pháp định không đảm bảo đúng bản chất pháp lý của nhà làm luật đề ra. Theo quan điểm của chúng tôi, việc khôi phục chế độ tài sản chung có nghĩa là khôi phục chế độ tài sản pháp lý được qui định tại Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000, do đó khi thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, những tài sản có nguồn gốc được qui định tại Điều 27 phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật chỉ nên trao cho vợ, chồng quyền thoả thuận về tài sản chung đối với những tài sản riêng được qui định tại Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000(3).

6. Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo qui định của pháp luật không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng và quan hệ giữa cha mẹ và con. Thực tế, việc vợ chồng áp dụng chế định này đã phản ánh những mâu thuẫn tồn tại trong quan hệ giữa họ. Sự độc lập về tài sản sau khi chia tài sản chung, có thể dẫn đến vợ chồng sống ly thân hoặc một trong các bên lại lẩn tránh trách nhiệm đối với gia đình, từ đó có tranh chấp về việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập, không có tài sản để tự nuôi mình. Để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các con, theo chúng tôi, pháp luật cần qui định rõ: Trong trường hợp sau khi chia tài sản chung, vợ chồng có tranh chấp về chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động, không có thu nhập và không có tài sản để tự nuôi mình, thì Toà án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến con áp dụng tương tự qui định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con khi ly hôn.

===============================

(1) Một trong các đặc trưng về hậu quả pháp lý của ly thân trong pháp luật HN&GĐ của một số nước phương Tây là vợ chồng phải sống riêng – “Biệt cư”;

(2) Xem: Nguyễn Văn Cừ, “Một số suy nghĩ về Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986”, Tạp chí Luật học, số 1/1995, tr. 24; Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002, Tr. 22;

(3) Về vấn đề này, xem thêm Nguyễn Phương Lan, “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”, Tạp chí Luật học số 6/2002, Tr. 22.


TẠP CHÍ LUẬT HỌC 5/2003 – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT PHÁP LÝ CỦA HÔN NHÂN

NGUYỄN  HỒNG HẢI

1. Khái niệm về hôn nhân

Trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học Luật HN & GĐ nói riêng, việc đưa ra một khái niệm đầy đủ về hôn nhân có ý nghĩa quan trọng. Nó phản ánh quan điểm chung nhất của Nhà nước về hôn nhân; tạo cơ sở lý luận cho việc xác định bản chất pháp lý của hôn nhân; xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh của các qui phạm pháp luật HN & GĐ.

Trong thực tiễn khoa học Luật HN & GĐ ở Việt Nam và nước ngoài, nhiều khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật, các nhà nghiên cứu luật học đưa ra, chẳng hạn: Continue reading →

CHUYỆN ĐAU LÒNG TỪ NHỮNG VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG

Nạn nhân

Phiên tòa sơ thẩm ngày 18-7 tại TAND TP Cần Thơ xử vụ bị cáo Đoàn Thế Cường chạy xe không có giấy phép lái xe, lấn sang phần đường bên trái đụng chết em Nguyễn Văn T.. Anh Trần Văn Bảy, là anh vợ của Cường, ngồi phía sau xe bị văng xuống đường, chấn thương sọ não.

Thoát chết nhưng anh Bảy ngẩn ngẩn ngơ ngơ như người mất trí. Hội đồng xét xử (HĐXX) hỏi gì anh cứ ngơ ngác lắc đầu hoặc lặp lại câu hỏi như đứa trẻ tập nói khiến ai cũng thấy xót xa. Vị chủ tọa thở dài, nói với người vợ: “Chị ráng về chăm sóc chồng, với thần hồn như thế này, chắc anh Bảy không thể gánh vác chuyện gia đình được nữa”.

Hàng xóm kể trước đây anh Bảy là người khỏe mạnh, trụ cột chính của gia đình. Tội cho các con anh, giờ phải bỏ học phụ mẹ nhổ cỏ mướn, cấy lúa thuê… sống đắp đổi qua ngày và nuôi người cha tật nguyền. Còn nạn nhân T., chỉ mới học lớp 9, đứa con trai độc nhất và là kỳ vọng của gia đình. Nghe tôi hỏi đến T., đôi mắt người mẹ bất hạnh ngấn nước, lắc đầu, nghẹn lời: “Thôi đừng nhắc nữa, đau lắm! Tôi thấy báo đài đăng hoài mà tai nạn giao thông (TNGT) có giảm đâu!”.

Một vụ án khác: chị Nguyễn Thị M. buôn bán, chồng làm công nhân, chắt chiu từng đồng nuôi hai con ăn học. Tuy cực nhọc nhưng gia đình rất hạnh phúc, nhất là vào những ngày cuối tuần cả gia đình quây quần bên mâm cơm nóng, con khoe chuyện học hành, cha mẹ hãnh diện vì con. Nhưng rồi tất cả đều biến mất trong cái ngày định mệnh đó, khi chị M. bị xe đụng chết. Sau ngày tang tóc đó, do làm công nhân xa nhà nên buộc lòng anh Phạm Văn L. phải đứt ruột gửi con cho người dì chăm sóc. Đồng lương công nhân ít ỏi, nhà dì cũng nghèo nên hai đứa trẻ mấp mé nguy cơ bỏ học.

Thấy bị cáo Nhuận hối hận và thấy tình cảnh Nhuận cũng nghèo như mình nên anh L. làm đơn bãi nại cho bị cáo nhẹ tội, nhưng trái tim người cha cứ nhói đau khi thấy hai con phải đeo mảnh băng tang trên áo. Tại phiên tòa, cả khán phòng chùng xuống khi nghe anh L. nghẹn ngào trả lời HĐXX: “Nỗi mất mát này lớn lắm, cho dù bị cáo có khắc phục cách mấy cũng không cứu vợ tôi sống trở lại được. Hai con chưa học hết cấp II phải chịu cảnh mồ côi mẹ, gia đình ly tán, tôi mong rằng thảm họa này đừng lập lại với gia đình khác”.

Bị cáo

Theo thống kê của Sở Giao thông công chính TP Cần Thơ, sáu tháng đầu năm 2007 có khoảng 115 người chết do tai nạn giao thông. Đằng sau những vụ tai nạn là những cái chết thảm khốc, những gia đình bị ly tán, những đứa trẻ không được cắp sách đến trường… Còn người gây ra tai nạn cũng lâm vào cảnh khốn đốn, vừa ngồi tù vừa phải bán đất, bán vườn để bồi thường…

Bị cáo Dương Thanh Nhuận đứng run rẩy trước vành móng ngựa, thỉnh thoảng đưa tay chùi nước mắt. Sau khi tốt nghiệp THPT, vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên Nhuận không thi đại học mà làm nhân viên tiếp thị. Đi ăn cỗ nhà người quen, cụng ly qua lại, rượu rần rật chạy trong người khiến Nhuận không làm chủ được tay lái gây cái chết cho chị M.. Nhuận phải bán đất, chạy vạy vay nóng để có 47 triệu đồng khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân. Sau khi gây ra tai nạn, Nhuận như kẻ mất hồn, người thân phải theo canh giữ sợ Nhuận quẫn trí tự vẫn.

Tiếp chuyện với tôi, mặt bị cáo co rúm lại vì hối hận: “Đêm không ngủ được, phải dùng đến thuốc an thần. Cứ nhắm mắt lại là tôi thấy cái chết của chị M., những vành khăn tang trắng, những giọt nước mắt khóc mẹ của hai đứa trẻ. Giá như hôm đó tôi đừng uống, mà có uống thì nghỉ lại đừng chạy xe về… Chẳng những tôi có lỗi với gia đình nạn nhân mà còn có lỗi với người thân của mình”. Bạn Nhuận chép miệng: “Nó định dành dụm tiền để học đại học tại chức nhưng hoài bão kia giờ tiêu tan hết, ra tù không biết làm quần quật bao lâu mới có thể trả dứt nợ chứ đừng nói đến chuyện có tiền đi học…”.

Bị cáo Đoàn Thế Cường cũng khổ không kém. Cái giá cho việc phóng nhanh, vượt ẩu là mức án 18 tháng tù giam, cộng thêm khoản tiền 36 triệu đồng bồi thường cho gia đình nạn nhân. Số tiền đó quá lớn so với thu nhập của một người làm thuê như Cường đã đẩy hai đứa con Cường vào con đường nghỉ học và nợ giăng tứ phía. Đó là chưa kể bản án lương tâm khiến bị cáo cứ ray rứt: “Khi thấy bảng panô “lái xe bằng cả trái tim” là tôi lạnh cả người”.

Ẩn họa trên từng cây số

Riết rồi như quán tính, mỗi khi thấy lịch tòa xử vụ án liên quan điều 202 Bộ luật hình sự (vi phạm qui định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…) là tôi rùng mình. Có bị cáo xin được tù treo để kiếm tiền lo cho gia đình nạn nhân, có bị cáo cứ gục đầu trong suốt phiên tòa, khuôn mặt tột cùng hối hận, HĐXX xử sao chịu vậy chứ không xin giảm nhẹ án, có lẽ làm như thế lương tâm họ mới bớt bị giày vò. Một vị thẩm phán tâm sự: “Hầu như tuần nào chúng tôi cũng xử án TNGT, chứng kiến những cảnh thương tâm ai cũng đau lòng. Các bị cáo đều tột cùng hối hận, tìm cách khắc phục hậu quả nhưng tất cả cũng không thể chuộc lại những gì đã mất. TNGT là điều không ai muốn, nhưng thảm họa này có thể tránh được, tính mạng bao người có thể cứu được nếu như ai cũng tuân thủ Luật giao thông”.

Khi say rượu, phóng nhanh, vượt ẩu, không có giấy phép lái xe… thì người hữu ích hay kẻ vô lại đều có thể biến thành tên sát nhân. Đáng tiếc, họ cứ chủ quan để khi xảy ra chuyện thì đã muộn. Ẩn họa vẫn có mặt trên từng cây số khi người ta không tuân thủ Luật giao thông. Những hậu quả đau đớn sẽ còn tiếp tục diễn ra với không biết bao nhiêu gia đình bất hạnh…

***************************************

MINH TÂM

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

CALIFORNIA: HỢP ĐỒNG VIẾT BẰNG MÁU CŨNG CÓ GIÁ TRỊ NHƯ VIẾT BẰNG MỰC

Vụ Jinsoo Kim kiện Stephen Son vi phạm hợp đồng cũng bình thường như những vụ kiện khác ngoại trừ điểm khác biệt, nội dung vụ kiện tập trung vào tính hợp pháp của bản hợp đồng được ký kết bằng máu.

Son đã dùng máu của mình viết bản giao ước sẽ trả lại khoản tiền vay của Kim và Kim kiện Son ra tòa án tối cao của Quận Cam để đòi lại những gì đã cho vay.

Giáo sư Joseph M. Perillo của Đại học Luật Fordham nói 40 năm qua ông đã đọc qua nhiều bản hợp đồng nhưng chưa bao giờ ông thấy một bản hợp đồng viết bằng máu như thế.

Theo đơn kiện, Kim đầu tư khoảng 170.000 USD vào công ty cổ phần Hàn Quốc của Son nhưng đã không được nhận lại số tiền anh ta đã cho vay.

Luật sư Vladimir Khiterer, người đại diện cho Son thừa nhận tháng 10-2004 thân chủ của mình đã viết bản giao ước bằng máu sau khi hai người đi nhậu ở một quán bar về và thảo luận công việc làm ăn khi đã ngà ngà say. Luật sư cho biết thêm chi tiết rằng thân chủ của mình chỉ nói “sẽ trả nợ bằng hết khả năng có thể” và việc bào chữa cũng đã diễn ra hết sức gay gắt tại tòa do bản hợp đồng không có cơ sở vững chắc.

Luật sư Richard J. Radcliffe, người đại diện của ông Kim đề nghị hội đồng xét xử nên để ý đến tình tiết là văn bản đã được viết bằng máu“. Tuy nhiên, các chuyên gia về luật thì cho biết việc bản hợp đồng có viết bằng máu hay không cũng chẳng có gì ảnh hưởng to lớn đến tính hợp pháp của nó. Ông Perillo nói “Anh có thể viết hợp đồng trên đá miễn là nói lên được những điều anh cần thể hiện trước pháp luật”.

****************************

TIỂU HY (Theo AP)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

HỒNG KÔNG SẮP THÔNG QUA LUẬT NGHE LÉN ĐIỆN THOẠI

Hội đồng lập pháp Hong Kong đang tiến hành những phiên họp cuối cùng để thông qua đạo luật qui định việc chính quyền có thể do thám và nghe lén các cuộc điện thoại bị tình nghi.

Tuy nhiên, đạo luật này cũng bị một số người theo chủ nghĩa bảo vệ quyền tự do công dân cho rằng luật đưa ra chỉ nhằm giúp giới chính quyền “thọc sâu” hơn nữa vào đời sống người dân.

Trong khi đó, chính quyền Hong Kong thì kiên quyết rằng luật không nhằm vào bất cứ mục đích chính trị nào và rằng luật sẽ vẫn đảm bảo những mức độ tự do cá nhân hợp pháp cho mọi công dân Hong Kong.

Mười năm trước, dưới thời cai trị của Anh quốc, Hong Kong đã từng “suýt” có đạo luật về do thám ở cấp chính phủ. Khi ấy, luật đã từng sắp sửa được phê chuẩn thì người đứng đầu chính phủ lúc ấy lại ra đi và luật đã không thể ra đời.

Hiện nay, những người làm luật vẫn tiếp tục tranh cãi, điều chỉnh luật này để giúp giới cảnh sát và những cơ quan thi hành luật sử dụng luật được đúng đắn hơn.

Chính bản chất gây nhiều tranh cãi của đạo luật khiến cho việc thông qua đạo luật vẫn còn đang trong vòng thảo luận. Một trong những nguyên nhân khiến mọi người phản bác sự ra đời của đạo luật này nó cho phép do thám luôn cả những người hoạt động chính trị bên phe đối lập. Tuy nhiên những người làm luật vẫn mong đợi sẽ có một số phiếu thuận đáng kể để luật được ra đời.

**************************************************

DOÃN KỲ (Theo BBC News)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

TÂY BAN NHA THÔNG QUA LUẬT BỒI THƯỜNG NỘI CHIẾN

Chính phủ Tây Ban Nha vừa thông qua một đạo luật gây tranh cãi cho phép bồi thường cho các nạn nhân cuộc nội chiến Tây Ban Nha theo sau chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử hiện đại Tây Ban Nha.

Theo luật này, tất cả các nạn nhân cuộc nội chiến chống lại Franco, gồm những người bị lưu đày, cựu tù nhân và thân nhân những người bị tử hình, sẽ nhận được bồi thường là tiền bảo hiểm 1 năm.

Luật này cũng cấm các biểu tượng và các hình ảnh có liên quan tới chế độ của Franco giai đoạn 1939-1975 ở những tòa nhà công cộng và yêu cầu chính quyền địa phương đổi tên các con đường hay các quảng trường đã được đặt tên dưới chế độ độc tài Franco hay gợi nhớ chế độ này.

Theo phó thủ tướng Maria Teresa Fernandez de la Vega, luật này sẽ giúp hàn gắn và không làm khơi lại các vết thương cũ trong lòng người dân Tây Ban Nha. Bà bày tỏ hy vọng Tây Ban Nha “khép lại một chương bi thảm trong lịch sử”.

Phe bảo thủ đã phản đối việc bồi thường cho nạn nhân nội chiến, nói rằng việc này chống lại tinh thần hòa giải dân tộc của một đất nước dân chủ. Sau cái chết của Franco vào năm 1975, người Tây Ban Nha đã thông qua một hiệp ước không chú trọng vào các vết thương trong quá khứ mà thay vào đó là làm việc để tái xây dựng quốc gia.

“Xem xét lại lịch sử là một sai lầm lớn”, Mariano Rajoy, lãnh đạo Đảng Nhân dân nói. “Tây Ban Nha nên hướng về tương lai và giải quyết các vấn đề người dân thật sự quan tâm. Đa số người Tây Ban Nha không muốn nói về nội chiến hay Franco”.

Trong khi đó một số đảng cánh tả và các Hội nạn nhân chiến tranh cho rằng luật này chưa đầy đủ, thiếu phần kết tội chế độ Franco và các biện pháp như bãi bỏ các phiên xử giản lược của chế độ độc tài.

Luật này, do một ủy ban đặc biệt của chính phủ soạn thảo, dự kiến sẽ sớm được quốc hội thông qua.

**************************************

TƯỜNG VY (Theo AP)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

TÒA ÁN NEWYORK NÓI “KHÔNG” VỚI HÔN NHÂN ĐỒNG GIỚI

Tòa án tối cao New York hôm qua đã ra phán quyết không chấp nhận đưa hôn nhân đồng giới vào luật của bang, bác bỏ lỹ lẽ của các cặp đồng tính cho rằng luật này vi phạm quyền trong hiến pháp của họ.

Theo tòa, luật kết hôn của New York là phù hợp với hiến pháp và việc cho phép hôn nhân đồng giới rõ ràng làm hạn chế việc kết hôn giữa một người nam và một người nữ. Theo thẩm phán Robert Smith, bất kỳ thay đổi nào trong luật này đều phải đến từ Cơ quan lập pháp nhà nước.

Trước đó, tòa án tối cao Massachusetts đã cho phép các cặp đồng giới có quyền kết hôn như những cặp bình thường khác.

*******************************

T.VY (Theo Xinhua)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

BẤT HIẾU KHÔNG ĐƯỢC LÀM QUAN

Bất hiếu với bố mẹ, đối xử tệ với bạn đời đều không được đề bạt. đó là tiêu chuẩn đề bạt cán bộ vừa được công bố của thành phố Hà Tân, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc.

Ngoài các qui định chung của Đảng và Nhà nước Trung Quốc, thành phố Hà Tân qui định cán bộ được đề bạt nhất định phải hiếu thảo với bố mẹ, đối xử tốt với bạn đời, trung thực. Đạo đức, năng lực, liêm khiết, học thức là bốn tiêu chuẩn quan trọng trong việc đề bạt cán bộ. Theo cán bộ nhân sự của thành phố Hà Tân, ngoài việc điều tra trực tiếp của cán bộ phụ trách nhân sự, sẽ công khai niêm yết tên cán bộ được đề cử xem có đơn thư tố tụng hay không, nếu trong quá trình điều tra có nhiều ý kiến khác nhau sẽ mời bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm đóng góp ý kiến. Không hiếu thảo, đối xử tệ bạc với bạn đời sẽ không được làm lãnh đạo, còn những cán bộ tại chức thì không được đề bạt vào chức vụ quan trọng.

*********************************

C.CHÁNH (Theo Nhân Dân Nhật Báo)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

BỊ KIỆN VÌ KHUYẾN KHÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG SỬ DỤNG VIAGRA

Tổ chức phòng chống AIDS Healthcare Foundation (AHF) đã nộp đơn kiện công ty dược phẩm Pfizer Inc. vì khuyến khích người tiêu dùng sử dụng thuốc tăng lực Viagra như một sản phẩm “ăn chơi”.

Tổ chức AHF, một tổ chức phi lợi nhuận tại Mỹ, khẳng định họ muốn Viagra bị cấm bán nếu công ty dược phẩm Pfizer, nơi sản xuất loại thuốc điều trị chứng bất lực ở nam giới này, liên hệ sản phẩm của họ với một lối sống hưởng thụ tình dục hay như một cách thức tăng cường các quan hệ tình dục.

Theo AHF, thuốc Viagra đã khiến nam giới có nguy cơ tổn hại sức khỏe và tạo điều kiện cho việc gia tăng các ca nhiễm HIV cùng nhiều căn bệnh lây truyền qua đường tình dục.

AHF cáo buộc nhiều chương trình quảng cáo Viagra của công ty Pfizer phát trên các phương tiện thông tin đại chúng trong những năm gần đây là không chấp nhận được (hình ảnh một người đàn ông mỉm cười tự hỏi: “Bạn làm gì trước đêm Noel?” hay yêu cầu nam giới hãy là “cầu thủ” giỏi nhất trong ngày chủ nhật, hay những câu có nội dung gợi đến cuộc sống tình dục một cách dung tục) và những người đàn ông xuất hiện trong quảng cáo đa số là những thanh niên.

Ông Michael Weinstein, chủ tịch AHF nhận định dựa vào cáo quảng cáo trên, Viagra được xem là một loại “thuốc ăn chơi” dành cho hoạt động tình dục của những người đàn ông khỏe mạnh!

*****************************************

ĐỨC TRƯỜNG (Theo Reuters)

Việt Báo (Theo_TuoiTre)

ANH: VỢ SINH CON – CHỒNG ĐƯỢC NGHỈ 6 THÁNG

Theo một dự luật mới ở Anh, khi một đứa trẻ chào đời, người cha có quyền nghỉ làm 6 tháng không ăn lương một cách hợp pháp.

Dự kiến dự luật sẽ vấp phải sự chống đối kịch liệt từ giới chủ các công ty, vốn cho rằng nó làm gián đoạn quy trình làm việc và quá tốn kém. Tuy nhiên, Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp A.Johnson – cha đẻ của dự luật – có một quan điểm khác: “Có con là một trong những sự kiện trọng đại nhất đời người. Chúng ta phải tạo điều kiện giúp đỡ những ông bố bà mẹ vất vả có thể cân bằng giữa công việc và gia đình để con cái họ có một khởi đầu tốt đẹp nhất”.

Nhiều quan chức khác thì cho rằng dự luật sẽ giúp các ông bố có trách nhiệm hơn với con cái. Một cuộc nghiên cứu trước đó của Đại học Cambridge cho thấy trẻ nhỏ thường xuyên tiếp xúc với bố sẽ tự tin hơn trong cuộc sống sau này. Hiện nay, các ông bố chỉ được nghỉ “hộ sản” 2 tuần với số tiền trợ cấp nghỉ việc 370 USD do chính phủ trả nhưng 50% các công ty vẫn trả lương đầy đủ cho họ trong khoảng thời gian ngắn ngủi này. Dự luật mới cũng quy định các bà mẹ được tăng thời gian nghỉ hộ sản được trả lương từ 6 tháng lên 9 tháng vào năm 2007 và 1 năm vào 2009.

**************************

Theo Thanh niên

Việt Báo