MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

NGUYỄN HỒNG ANH

Tài sản gắn liền với đất là bất động sản (Điều 181 Bộ luật dân sự năm 1995). Một cách khái quát, ta có thể nói rằng, các tài sản gắn liền với đất bao gồm: (1) các vật sinh ra từ đất (cây cối, hoa lợi tự nhiên, khoáng sản…), (2) các vật gắn vào đất do hoạt động có ý thức của con người và không thể tách rời khỏi đất mà không hư hỏng (nhà ở, công trình xây dựng, …).

Ta biết rằng các vật sinh ra từ đất có giá trị tài sản khi chúng tách rời khỏi đất và được tiêu dùng. Và khi đó, các tài sản này tham gia lưu thông dân sự với tư cách là động sản. Ta nói rằng, các vật sinh ra từ đất luôn có xu hướng động sản hoá do đặc điểm công dụng tương lai. Bởi vậy, các tài sản loại này sẽ được phân tích tại một đề tài khác.

Trong khuôn khổ bài viết này, ta lần lượt xem xét một số khía cạnh pháp lý của việc chuyển nhượng các tài sản thuộc nhóm còn lại.

1. Hợp đồng chuyển nhượng

a. Hình thức và vấn đề vô hiệu của hợp đồng

Hợp đồng chuyển nhượng phải được lập thành văn bản. Tài sản gắn liền với đất thường có giá trị lớn. Việc quy định hợp đồng chuyển nhượng những tài sản có giá trị lớn phải lập thành văn bản là điều không cần tranh cãi. Điều đó có lợi cho việc quản lý bằng chứng về vụ chuyển nhượng cũng như là cơ sở để các bên thực hiện tiếp các thủ tục cho tới khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký tài sản gắn liền với đất tại các cơ quan công quyền.

Hợp đồng chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất có buộc phải công chứng? Điều 443 bộ luật dân sự quy định hợp đồng mua bán nhà ở phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của uỷ ban nhân dân có thẩm quyền. Hợp đồng mua bán nhà sử dụng vào mục đich khác cũng phải có công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền (điều 451 Bộ luật dân sự). Liệu có thể áp dụng tương tự pháp luật để suy luận rằng các công trình xây dựng có mục đích hỗn hợp (dùng để ở và dùng vào các mục đích khác) một khi chuyển nhượng cũng phải công chứng và chứng thực? Quy định cụ thể về vấn đề này vẫn còn bỏ ngỏ, trong khi, theo quy định của pháp luật, hợp đồng phải công chứng hoặc chứng thực mà không công chứng hoặc chứng thực sẽ bị coi là vô hiệu.

b. Nội dung của hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng: vật có thực (điều 422 khoản 1, Bộ luật dân sự). Từ câu chữ của luật viết ta thấy rằng có vẻ như luật chỉ chấp nhận nhà ở, công trình xây dựng phải được hoàn thành truớc khi đưa vào lưu thông. Thực tiễn giao dịch, về phần mình, thừa nhận nhiều hợp đồng mua bán căn hộ chung cư được ký kết ngay từ khi chưa khởi công xây dựng. Coi đó là các giao dịch vô hiệu liệu có là thoả đáng? Hỏi rõ hơn: giao kết một hợp đồng có đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai liệu có bị coi là giao dịch vô hiệu? Chưa có câu trả lời dứt khoát của luật viết cho vấn đề này.

Ở Pháp, luật thừa nhận các chủ thể có quyền ký kết hợp đồng mua bán bất động sản sẽ xây dựng (Điều 1601-1, Bộ luật Dân sự Pháp). Các bên có thể thoả thuận bán chịu, trả theo kỳ hạn hoặc trả trong quá trình tiến hành xây dựng. Trong trường hợp bán chịu, trả theo kỳ hạn, khi bất động sản hoàn thành và chuyển giao cho người mua, quyền sở hữu đối với bất động sản được tính ngược trở lại từ ngày giao kết hợp đồng (Điều 1601-2, Bộ luật dân sự Pháp). Trong trường hợp trả tiền trong quá trình tiến hành xây dựng, ngay sau khi đạt được thoả thuận về giá cả và đối tượng của hợp đồng, người bán ngay lập tức chuyển giao tất cả những vật và quyền đang tồn tại trên đất cho người mua. Những công trình đang và sẽ hình thành sẽ được người mua trả tiền trong quá trình thi công (Điều 1601-3 Bộ luật dân sự Pháp).

2. Hệ quả pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng

Chuyển giao quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và quyền sử dụng đất.

Nhà ở, công trình xây dựng là các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu (Điều 444 Bộ luật dân sự; điều 3 khoản 1, Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2005). Quyền sở hữu được chuyển giao từ người chuyển nhượng sang người nhận chuyển nhượng khi đã hoàn tất các thủ tục sang tên tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ta biết rằng đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng là tài sản gắn liền với đất. Thế nhưng ngoài tài sản gắn liền với đất, người nhận chuyển nhượng còn được nhận từ người chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc quyền được tiếp tục thuê quyền sử dụng đất (điều 111, khoản 1c, luật đất đai năm 2003).

Trong cách phân loại tài sản thành vật chính – vật phụ, đất luôn được coi vật chính và các vật gắn liền với đất là vật phụ của đất. Nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi trong cả hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và hệ thống pháp luật Latinh. Ở Việt nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Các chủ thể chỉ có quyền sử dụng đất. Thế nhưng, các quyền năng mà người sử dụng đất được nhà nước trao cho gần giống như quyền sở hữu (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cho thuê, góp vốn, thế chấp, bảo lãnh,…). Quyền sử dụng đất được hoá thân vào chính thửa đất đó. Chính vì đặc điểm này, ta có thể thu xếp một chỗ trong danh sách các bất động sản cho quyền sử dụng đất – điều mà cho tới nay, luật viết cũng như học thuyết pháp lý chưa chính thức giải quyết. Nói riêng về trường hợp đất thuê, bán tài sản gắn liền với đất thuê, người nhận chuyển nhượng tài sản đó được nhà nước tiếp tục cho thuê đất. Quyền sử dụng đất trong trường hợp này không được giao dịch một cách độc lập mà chỉ được coi là đối tượng đi kèm với tài sản gắn liền với đất. Liệu có thể coi đây là một ngoại lệ của nguyên tắc đất là vật chính và các vật gắn liền với đất là vật phụ? Bởi khi chuyển nhượng vật chính, vật phụ luôn phải được đi kèm. Nếu không, bản thân quyền sử dụng đất thuê không có tính chất tài sản, và bởi không là tài sản nên không đặt ra vấn đề quyền sử dụng thuê là vật chính hay vật phụ khi chuyển nhượng cùng với tài sản gắn liền với đất?

Trong điều kiện mà Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống đăng ký tài sản hoàn thiện, khi thực hiện chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất, các bên sẽ phải tiến hành hai thủ tục (sang tên đối với tài sản gắn liền với đất và sang tên quyền sử dụng đất) tại hai cơ quan công quyền (cơ quan quản lý việc đăng ký quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng và cơ quan quản lý việc đăng ký quyền sử dụng đất).

Điều 158 nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 quy định rằng bên nhận chuyển nhượng tiến hành làm thủ tục chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất tại văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Điều 3, khoản 1 nghị định số 95 /2005/NĐ-CP quy định giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và công trình xây dựng là “cơ sở pháp lý để nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của chủ thể và các chủ sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ của minh”. Điều đó có nghĩa là quyền sở hữu với nhà ở, công trình xây dựng chỉ được xác lập tại thời điểm nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu, theo nghị định số 95.

Vấn đề là người nhận chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất sẽ thụ hưởng quyền sở hữu vào thời điểm nào, khi hoàn thành thủ tục tại cơ quan quản lý quyền sử dụng đất hay tại cơ quản lý việc đăng ký quyền sở hữu nhà ở và công trình xây dựng? Trong khi luật dân sự quy định đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì quyền sở hữu chỉ được chuyển giao cho người nhận khi đã hoàn tất thủ tục sang tên tại cơ quan quan lý việc đăng ký tài sản.

Việt nam đang cố gắng xây dựng một thị trường bất động sản. Để đạt được mục tiêu này, nhà nước cần phải xây dựng trước tiên là một khung pháp lý hoàn thiện để các tài sản gắn liền với đất được dễ dàng lưu thông trong khuôn khổ luật định đó./.

SOURCE:  NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

PHẦN VỐN GÓP TRONG CÔNG TY CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN

NGUYỄN HỒNG ANH

Trong xã hội hiện đại, phần vốn góp, cổ phần trong công ty có tư cách pháp nhân (sau đây gọi là "Phần Vốn Góp") là tài sản có giá trị lớn trong sản nghiệp của chủ sở hữu. Không phải được hình thành từ thế giới vật chất như các tài sản hữu hình[i], cũng không phải là sản phẩm được hình thành từ con tim và khối óc như các đối tượng của sở hữu trí tuệ, Phần Vốn Góp là kết qủa của sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty.

Phần Vốn Góp và tài sản góp vốn vào công ty là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau. Phần Vốn Góp là tài sản thuộc sản nghiệp của nguời góp vốn. Tài sản đem góp vốn là tài sản thuộc sản nghiệp của công ty nhận tài sản góp vốn. Thế nhưng, không phải lúc nào người ta cũng phân biệt được sự khác nhau này. Bài viết này chỉ nhằm cung cấp một cách hiểu đúng về Phần Vốn Góp.

1.Sự hình thành Phần Vốn Góp

Góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân. Là việc một người, thông qua hợp đồng góp vốn, chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản của mình cho công ty có tư cách pháp nhân và đổi lại, họ trở thành chủ sở hữu đối với Phần Vốn Góp của công ty đó.

1.1 Tài sản góp vốn. Tiền hoặc hiện vật. Hiện vật theo nghĩa rộng nhất, là tài sản hữu hình hoặc vô hình mà không phải là tiền, có thể kể ra đây: vàng, máy móc, thiết bị, nhà xưởng, quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, các yếu tố vô hình của sản nghiệp thương mại (biển hiệu, tên thương mại, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá..).

1.2 Định giá tài sản góp vốn. Luật quyết định rằng những tài sản mà không phải là tiền (Đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi) và vàng[ii] thì phải được định giá (Điều 23 Luật Doanh Nghiệp số 13 ngày 12 tháng 6 năm 1999 (sau đây gọi là "Luật Doanh Nghiệp")).

a)Phương thức định giá.

Định giá theo thoả thuận giữa các bên. Các bên có thể xác định giá trị của tài sản góp vốn bằng con số cụ thể, ví dụ: 1triệu, 2 triệu đồng,…. Hoặc xác định công thức tính giá trị bằng các tham số có tác dụng làm cho giá trị của tài sản trở nên chắc chắn xác định được tại thời điểm góp vốn. Giá trị của tài sản phải được thông qua bằng nguyên tắc nhất trí. Tài sản góp vốn cũng có thể được định giá bởi một người thứ ba do các bên nhất trí chỉ định.

Định giá bởi một người thứ ba. Người thứ ba thông thường là các tổ chức định giá tài sản chuyên nghiệp (các công ty tài chính, ngân hàng…), được các bên uỷ quyền để định giá. Người thứ ba phải thực hiện công việc một cách độc lập, không chịu sự chi phối của bất kỳ bên góp vốn nào trong việc định giá.

b)ý nghĩa của việc định giá.

Đối với chủ sở hữu Phần Vốn Góp. Chìa khoá để phân chia quyền lực và lợi ích tài chính trong công ty. Bằng việc góp vốn, người góp vốn được nhận Phần Vốn Góp có giá trị tương ứng với giá trị tài sản góp vốn. Giá trị Phần Vốn Góp là tham số cho rất nhiều quyền của chủ sở hữu Phần Vốn Góp: có số phiếu biểu quyết tương ứng Phần Vốn Góp; được chia lợi nhuận tương ứng Phần Vốn Góp; nhận giá trị tài sản có ròng khi giải thể hoặc phá sản công ty tương ứng Phần Vốn Góp; …

Đối với chủ nợ của pháp nhân công ty. Tài sản khi được đem góp vốn sẽ thuộc về sản nghiệp của công ty, nằm trong khối tài sản có của công ty và được dùng để đảm bảo cho các khoản nợ của công ty. Nếu tài sản được định giá cao hơn so với giá trị thực tế, các chủ nợ sẽ bị thiệt hại do giá trị của tài sản đảm bảo không tương xứng với giá trị của nghĩa vụ mà công ty phải thực hiện.

1.3 Chuyển quyền đối với tài sản góp vốn cho công ty.

Với nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu và quyền sử dụng của công ty và nghĩa vụ bảo đảm chất lượng đối với tài sản chuyển giao, dường như người góp vốn có những nghĩa vụ tương tự như người bán trong một hợp đồng mua bán[iii].

Chuyển giao pháp lý. Điều 22 khoản 1a, Luật Doanh Nghiệp quy định rằng đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (đối với quyền sử dụng đất), thì người góp vốn phải làm các thủ tục chuyển quyền. Điều luật dường như chỉ muốn nhấn mạnh tới nghĩa vụ tiến hành các thủ tục sang tên của người góp vốn. Thực ra, việc xác định người có nghĩa vụ làm các thủ tục đồng nghĩa với việc xác định ai phải thực hiện các nghĩa vụ về tài chính (thường là lệ phí trước bạ) trong quá trình thực hiện thủ tục sang tên. Thông thường, người nhận tài sản chuyển nhượng là người phải nộp lệ phí trước bạ. Tuy nhiên, luật cũng không ngăn cấm việc các bên tự thoả thuận ngược lại. Hơn nữa, tại đoạn chót của khoản 1a, điều luật đã dẫn, quy định rằng việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ.

Thế nhưng, đối với việc chuyển giao quyền sở hữu, vấn đề quan trọng đặt ra là thời điểm chuyển giao quyền chứ không phải ai là người thực hiện các thủ tục. Bởi thời điểm chuyển giao quyền liên quan tới thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản.

Hợp đồng góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân và hợp đồng mua bán đều là các hợp đồng có tác dụng chuyển quyền sở hữu một tài sản (tài sản góp vốn; tài sản bán) và xác lập quyền sở hữu đối với một tài sản khác (Phần Vốn Góp – trong hợp đồng góp vốn; tiền – trong hợp đồng mua bán). Bơỉ vậy, ta nói rằng, giống như hợp đồng mua bán, hợp đồng góp vốn vào công ty là một hợp đồng chuyển nhượng tài sản có đền bù. Một cách hợp lý, ta có thể áp dụng các quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chịu rủi ro đối với tài sản của hợp đồng mua bán cho trường hợp góp vốn vào công ty.

Trường hợp tài sản thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng (đối với quyền sử dụng đất), thì quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn được chuyển giao cho công ty kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với tài sản đó (Điều 432, 696 Bộ luật dân sự). Việc giao và nhận tài sản góp vốn có thể thực hiện trước hoặc sau khi hoàn tất thủ tục sang tên, tuỳ thuộc sự thoả thuận giữa các bên. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, công ty chỉ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản góp vốn (hoặc người sử dụng đất) kể từ ngày giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng được cấp.

Chuyển giao vật chất. Đối với tài sản thuộc loại không phải đăng ký quyền sở hữu, nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu được thực hiện bằng cách giao tài sản (Điều 22 khoản 1b, Luật Doanh Nghiệp). Nghĩa vụ giao tài sản được coi là hoàn thành khi (i) tài sản được giao đúng tình trạng, đúng số lượng như đã thoả thuận trong hợp đồng góp vốn và (ii) tài sản ở trong tư thế hoàn toàn sẵn sàng để người nhận chiếm hữu. Việc giao và nhận phải được xác nhận bằng văn bản (cùng điều luật).

Như vậy, với quy định chuyển quyền sở hữu, tài sản đem góp vốn chính thức ra đi khỏi sản nghiệp của người góp vốn và gia nhập vào sản nghiệp của công ty nhận vốn góp. Với tư cách là chủ sở hữu, công ty có quyền khai thác công dụng và định đoạt đối với tài sản đó. Dưới con mắt của các chủ nợ của công ty, các tài sản đó có thể bị kê biên để đảm bảo cho việc thực hiện các nghĩa vụ của công ty đối với họ.

Ta đã thừa nhận rằng, tài sản không còn thuộc về sản nghiệp của người góp vốn nữa một khi mang đi góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân.

Thế nhưng, đối với tài sản góp vốn là quyền sử dụng đất, nguyên tắc này đã được các tác giả của Luật Đất đai số 13 ngày 26 tháng 11 năm 2003 (sau đây gọi là "Luật Đất Đai") sử dụng một cách không thống nhất.

Sự mâu thuẫn của các giải pháp. Điều 4, luật đã dẫn quy định: " Nhận chuyển quyền sử dụng đất là việc xác lập quyền sử dụng đất do được người khác chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thông qua các hình thức (…) góp vốn bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới". Như vậy, luật chính thức thừa nhận tư cách người nhận chuyển quyền sử dụng đất cho công ty có tư cách pháp nhân, người góp vốn là người chuyển quyền sử dụng đất.

Quyền sử dụng đất là tài sản phải đăng ký. Bằng việc đăng ký, người sử dụng đất xác lập quyền và nghĩa vụ trước nhà nước và người thứ ba. Người sử dụng đất được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cùng điều luật đã dẫn).

Người nhận quyền sử dụng đất do hiệu lực của một hợp đồng góp vốn phải đăng ký quyền sử dụng đất (Điều 46, Luật Đất Đai). Công ty là người nhận quyền sử dụng đất, vì vậy, công ty phải đăng ký quyền sử dụng đất. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc công ty xác lập tư cách người sử dụng đất trước nhà nước và người thứ ba. Pháp nhân công ty được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Điều 131, khoản 1b đoạn chót, Luật Đất Đai). Tới đây, ta có cảm giác như nguyên tắc chuyển các quyền trên tài sản góp vốn, đã phân tích ở phía trên, vẫn được tôn trọng.

Thế nhưng, khi chắp bút viết về các quy định liên quan tới việc chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất và các hệ quả của việc chấm dứt việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thì các tác giả của Luật Đất Đai lại làm ta hết sức bối rối bởi cách xử lý hơi lạ lùng.

Quyền sử dụng đất là tài sản thuộc sản nghiệp của ai? Ta đã nói rằng, hợp đồng góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân được xếp vào nhóm các hợp đồng chuyển nhượng tài sản có đền bù. Hiệu lực của hợp đồng có tác dụng chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn (ở đây là quyền sử dụng đất) cho pháp nhân công ty nhận vốn góp. Bản thân các điều luật của Luật Đất Đai đã phân tích ở phía trên cũng không quy định ngược với nguyên tắc này. Vậy mà ngay sau đó, các tác giả Luật Đất Đai lại quyết định rằng : (i) trường hợp các bên thoả thuận chấm dứt việc góp vốn thì bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó trong thời hạn còn lại (Điều 131, khoản 4a, Luật Đất Đai); (b) trường hợp bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị phá sản thì quyền sử dụng đất đã góp vốn được xử lý theo quyết định tuyên bố phá sản của toà án nhân dân (Điều 131, khoản 4c, Luật Đất Đai); (c) trường hợp cá nhân tham gia hợp đồng góp vốn chết thì quyền sử dụng đất đã góp vốn được để thừa kế (khoản 4d, điều luật đã dẫn).

Cho phép một hoặc các bên góp vốn chấm dứt việc góp vốn (thực ra là việc chấm dứt tư cách thành viên (trong công ty TNHH), cổ đông (trong công ty cổ phần), bên góp vốn (trong doanh nghiệp liên doanh), sau đây gọi là "Thành Viên") bằng cách trực tiếp rút lại các tài sản đã góp vốn vào công ty thực sự là một giải pháp rất không bình thường. Giải pháp này đặt các chủ nợ của công ty và bản thân công ty – một chủ thể của quan hệ pháp luật, vào tình thế hết sức bấp bênh. Cứ hình dung: một hoặc các bên thực hiện việc rút lại các tài sản đã góp vốn vào công ty. Khối tài sản có của công ty giảm sút. Điều đó đồng nghĩa với nguy cơ mất cân bằng giữa khối tài sản có và khối tài sản nợ của công ty. Mà ta đã biết rằng, khối tài sản nợ được đảm bảo bởi khối tài sản có.

Đáng ra, một khi không còn muốn xác lập tư cách của mình trong công ty nữa, người đã góp vốn lựa chọn một trong các giải pháp sau đây: (a) chuyển nhượng Phần Vốn Góp cho các thành viên khác hoặc cho người thứ ba sau khi các thành viên khác từ chối mua lại; (b) yêu cầu công ty mua lại Phần Vốn Góp (chỉ trong trường hợp Thành Viên này bỏ phiếu chống lại một nghị quyết của hội đồng công ty, giải pháp này bị kiểm soát chặt chẽ bởi đồng nghĩa với nó là việc giảm sút khối tài sản có của công ty. Phần Vốn Góp nhận về là một vật không có giá trị tài sản đối với công ty phát hành ra nó).

Người góp vốn vào công ty và công ty có tư cách pháp nhân nhận vốn góp là hai chủ thể hoàn toàn tách biệt. Mỗi chủ thể có một sản nghiệp riêng biệt. Ta đã thừa nhận rằng, quyền sử dụng đất do nhận vốn góp thuộc về sản nghiệp của công ty. Và người góp vốn tự bằng lòng với tư cách Thành Viên công ty thông qua việc xác lập quyền sở hữu Phần Vốn Góp của công ty. Tài sản góp vốn (quyền sử dụng đất) và Phần Vốn Góp là hai tài sản hoàn toàn khác nhau, thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể cũng hoàn toàn khác nhau. Ta biết rằng việc phá sản doanh nghiệp liên quan tới công việc thanh toán và tiến hành phân chia khối tài sản có và khối tài sản nợ của doanh nghiệp bị phá sản. Vậy tại sao số phận của tài sản (quyền sử dụng đất) thuộc sản nghiệp của công ty lại chịu sự phán quyết của cơ quan tư pháp trong khi tiến hành các thủ tục liên quan tới một sản nghiệp khác (sản nghiệp của bên góp vốn)? Tương tự, tại sao cá nhân tham gia góp vốn lại có quyền định đoạt (để lại thừa kế) tài sản không thuộc sản nghiệp của mình? Có vẻ như trong suy nghĩ của các tác giả Luật Đất Đai, tài sản góp vốn và Phần Vốn Góp là hai khái niệm hoàn toàn đồng nghĩa. Đi tìm lời lý giải cho các quy định nêu trên quả thực không dễ.

2. Địa vị pháp lý của chủ sở hữu Phần Vốn Góp

2.1 Quyền của chủ sở hữu Phần Vốn Góp đối với công ty

(a) Quyền phi tài chính. Các quyền này không đưa tới một lợi ích tài chính trực tiếp cho người sở hữu, nhưng lại là những quyền rất quan trọng: quyền thông tin và quyền biểu quyết.

Quyền thông tin. Với quyền này, chủ sở hữu Phần Vốn Góp dù không tham gia vào các cơ quan quyền lực trong công ty, nhưng vẫn có thể biết tình hình hoạt động của công ty: xem và nhận bản trích lục hoặc bản sao sổ đăng ký thành viên, sổ kế toán, báo cáo tài chính hàng năm, các tài liệu khác của công ty (Điều 29 khoản 1d Luật Doanh Nghiệp); đối với công ty cổ phần, tóm tắt nội dung báo cáo tài chính hàng năm phải được thông báo đến tất cả cổ đông (Điều 93 khoản 2 Luật đã dẫn). Nếu phát hiện ra những khuất tất, không minh bạch trong quá trình quản trị công ty của các thành viên trong các cơ quan quyền lực của công ty mà dẫn tới thiệt hại cho công ty hoặc lợi ích của chủ sở hữu Phần Vốn Góp, thì người này có quyền khởi kiện theo điều 29 khoản 3 Bộ luật tố tụng dân sự ngày 15 tháng 6 năm 2004.

Quyền biểu quyết. Đa số các vấn đề quan trọng nhất của công ty được quyết định thông qua biểu quyết tại Hội đồng thành viên (công ty TNHH), Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ phần), Hội đồng quản trị (Doanh nghiệp liên doanh): định đoạt những tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản ghi trong sổ kế toán của công ty, sửa đổi bổ sung điều lệ, quyết định phương hướng phát triển công ty,… Mỗi Thành Viên công ty nắm giữ số phiếu biểu quyết tương ứng tỷ lệ Phần Vốn Góp, ngoại trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết (công ty cổ phần) có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông hoặc cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại không mang tới cho chủ sở hữu quyền tham dự họp Đại hội đồng cổ đông và quyền biểu quyết.

(b) Quyền tài chính. Đây có thể coi là quyền được quan tâm trước tiên khi người ta quyết định mang tài sản đi góp vốn. Khi công ty còn đang hoạt động, quyền này cho phép chủ sở hữu Phần Vốn Góp nhận được phần lợi nhuận có thể phân chia của công ty tương ứng với giá trị Phần Vốn Góp. Khi công ty giải thể hoặc phá sản, chủ sở hữu có quyền nhận phần tài sản còn lại của công ty tương ứng với tỷ lệ giá trị Phần Vốn Góp, sau khi đã thanh toán hết các nghĩa vụ của công ty. Tuy nhiên, quyền tài chính không chỉ dừng lại ở việc nhận lợi, nếu công ty thua lỗ, chủ sở hữu Phần Vốn Góp cũng phải chấp nhận gánh vác phần lỗ đó tương ứng với tỷ lệ giá trị Phần Vốn Góp, khi công ty đang hoạt động cũng như khi công ty kết thúc hoạt động.

2.2 Trong mối quan hệ với người thứ ba

Người thứ ba quan tâm tới Phần Vốn Góp trước tiên bởi giá trị tiền tệ của chúng. Và bởi vậy, chủ sở hữu có thể tiến hành các vụ chuyển nhượng, cầm cố Phần Vốn Góp.

a, Quyền chuyển nhượng (có đền bù hoặc không có đền bù). Chủ sở hữu không bị bắt buộc phải chịu ràng buộc suốt đời với Phần Vốn Góp. Hay nói một cách khác đi, Phần Vốn Góp, với tư cách một tài sản, có giá trị tiền tệ và được tự do chuyển giao trong giao lưu dân sự. Tuy nhiên, nguyên tắc tự do chuyển giao bị hạn chế bởi một số ngoại lệ: điều khoản về sự chấp thuận, điều khoản về quyền ưu tiên và điều khoản cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết.

Điều khoản về sự chấp thuận. Luật quyết định rằng, (a) trong công ty cổ phần, đối với cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập, trong 3 năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông , nếu nhận được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông (Điều 58 khoản 1 Luật Doanh Nghiệp); (b) trong công ty TNHH, chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng không có đền bù (để lại thừa kế) Phần Vốn Góp. Tuy nhiên, người nhận thừa kế chỉ có thể xác lập tư cách thành viên công ty nếu được Hội đồng thành viên chấp thuận (Điều 33 Luật Doanh Nghiệp).

Điều khoản về quyền ưu tiên. Thành viên trong công ty TNHH phải chào bán Phần Vốn Góp cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với Phần Vốn Góp của họ trong công ty. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên công ty, nếu các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Phần Vốn Góp đã được chào bán (Điều 32 Luật đã dẫn). Quy định tương tự cũng được áp dụng cho trường hợp chuyển nhượng Phần Vốn Góp trong doanh nghiệp liên doanh (Điều 34 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1996, được sửa đổi bổ sung năm 2000).

Điều khoản cấm chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết (Điều 55 khoản 3 Luật Doanh Nghiệp). Ngoại lệ này chỉ tồn tại trong 3 năm đầu tiên kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển thành cổ phần phổ thông và được hưởng nguyên tắc tự do chuyển nhượng trong giao lưu dân sự (Điều 52 khoản 3 Luật đã dẫn).

Lý lẽ của các ngoại lệ. Ngăn chặn sự xâm nhập của "người lạ" và duy trì sự ổn định trong thời gian đầu cho pháp nhân công ty. Công ty TNHH và Doanh nghiệp liên doanh được hình thành dựa trên cở sở sự tin tưởng và có quen biết nhau giữa các Thành Viên. Bởi vậy, sự xuất hiện của một "người lạ" sẽ rất dễ dẫn tới sự những xáo trộn trong công ty, một khi giữa họ chưa tìm được tiếng nói chung dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau – một đặc điểm riêng có của hình thức công ty TNHH (một loại hình công ty "đóng"). Đối với công ty cổ phần, sự ràng buộc các cổ đông sáng lập trong thời gian 3 năm đầu thành lập công ty sẽ có tác duy trì sự ổn định để công ty phát triển. Công ty cổ phần là loại hình công ty "mở", với một đặc trưng rất dễ nhận biết đó là sự gia nhập và ra đi một cách liên tục, thường xuyên của các cổ đông, nhất là ở những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán. Cứ hình dung: khi mới thành lập, các cơ quan quyền lực trong công ty chưa thể hoàn thiện ngay lập tức, và với đặc điểm "mở", công ty sẽ liên tục phải đối đầu với vấn đề nhân sự trong các cơ quan quyền lực của mình. Mà ta biết rằng, điều cần thiết trong khoảng thời gian khởi nghiệp là tập trung thực hiện các mục tiêu kinh doanh của công ty chứ không phải cứ loay hoay với việc thay đổi nhân sự trong các cơ quan quyền lực của công ty.

b, Quyền cầm cố. Điều 326 Luật Dân sự năm 1995 quy định:"Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm và được phép giao dịch". Điều đó có nghĩa là, một khi vật (tài sản hữu hình hoặc vô hình) được phép giao dịch và thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm thì có thể đem cầm cố. Phần Vốn Góp là tài sản chuyển nhượng được, vì vậy, chủ sở hữu có thể đem cầm cố. Tuy nhiên, luật chưa có quy định riêng cho việc cầm cố loại tài sản này. Dựa vào điều luật 326 và các phân tích ở phần trên (a), ta thử tham khảo về cách thiết lập một vài quy tắc áp dụng cho trường hợp cầm cố Phần Vốn Góp trong công ty có tư cách pháp nhân:

-“Cổ phần phổ thông trong công ty cổ phần hưởng các quy chế cầm cố như các tài sản thông thường khác;

-Phần Vốn Góp trong công ty TNHH, trong Doanh nghiệp liên doanh, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (nắm giữ trong 3 năm đầu) có thể được cầm cố; tuy nhiên, ta chia thành 2 giả thiết sau: (i) nếu việc cầm cố có kèm theo thoả thuận về việc hứa bán hoặc hứa chuyển quyền sở hữu Phần Vốn Góp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập cho người ngoài công ty trong trường hợp nghĩa vụ được bảo đảm bằng cầm cố không được thực hiện đúng, thì việc cầm cố phải được sự chấp thuận của Hội đồng thành viên (công ty TNHH), Hội đồng quản trị (Doanh nghiệp liên doanh), Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ phần); (ii) nếu việc cầm cố được giao kết mà không có thoả thuận về phương thức xử lý tài sản, thì trong trường hợp Phần Vốn Góp được bán đấu giá để thanh toán nghĩa vụ được bảo đảm, các Thành Viên còn lại của công ty được quyền ưu tiên mua bằng cách thế chỗ người trúng đấu giá;

-Cổ phần ưu đãi biểu quyết không thể được cầm cố”[iv].

Phần Vốn Góp là một tài sản đặc biệt, hình thành từ sự phân thân về giá trị của Tài sản đem góp vốn vào công ty có tư cách pháp nhân và tồn tại song song với sự tồn tại của công ty đó. Khi công ty kết thúc hoạt động, Phần Vốn Góp cũng kết thúc sứ mạng là một tài sản. Hiểu về bản chất của Phần Vốn Góp, sẽ giúp ta phân biệt một cách minh bạch hơn giữa Tài sản góp vốn với Phần Vốn Góp, và Pháp nhân công ty nhận vốn góp với Người góp vốn vào công ty. Qua đó, ta thừa nhận một cách không dè dặt tư cách tài sản cho Phần Vốn Góp, tránh khỏi tình trạng Phần Vốn Góp bị lẫn lộn với Tài sản góp vốn một cách oan uổng. Điều quan trọng hơn, sự phân biệt này giúp cho người thứ ba khi đứng trước mối quan hệ góp vốn – nhận vốn góp không còn bị bối rối với câu hỏi: của ai? tài sản nào?.


[i] Gọi là các tài sản hữu hình những vật mà con người có thể nhận biết bằng các giác quan tiếp xúc: cầm, nắm, hay chạm tay vào,…. ví dụ : bàn, ghế, xe hơi, căn nhà… Ngược lại, những tài sản mà chỉ nhận biết được thông qua các công cụ của tư duy, ví dụ tác phẩm văn chương, hội hoạ, sáng chế, quyền chủ nợ, … được gọi là các tài sản vô hình, hay các giá trị tài sản phi vật thể.[ii] Đúng ra, vàng cũng phải được định giá tại thời điểm góp vốn bởi giá trị tiền tệ của vàng không phải lúc nào cũng ổn định ở mọi thời điểm.[iii] Tuy nhiên, hợp đồng góp vốn vào công ty không phải là một hợp đồng mua bán bởi không làm phát sinh nghĩa vụ trả một khoản tiền ở người nhận tài sản

[iv] Nguyễn Ngọc Điện – Bình luận khoa học về đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trong luật dân sự Việt nam – số 167, trang 236, 237 – NXB Trẻ 2001

=================================

SOURCE: NCLP.ORG.VN

MỘT SỐ BẢI VIẾT TRÊN CÁC TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH VỀ PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI

 

Đào Văn Hùng và Trần Long: Hạn chế tác động tiêu cực của Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (HĐ) tới hệ thống Ngân hàng Thương mại (NHTM) Việt Nam, Tạp chí Tài chính số 7(489)/2005, tr.45-49: Tác động tiêu cực của HĐ có thể xảy ra đối với dịch vụ tiền gửi, hoạt động tín dụng, ngoại tệ và kinh doanh ngoại tệ… Để hạn chế những tác động tiêu cực trên, cần quán triệt nội dung cam kết trong hiệp định, cơ cấu lại mô hình tổ chức, tăng cường năng lực quản trị điều hành, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ mới trên nền tảng công nghệ tiên tiến. Đào tạo, tuyển dụng và xây dựng một đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ ngân hàng, tận dụng tốt thành tựu về công nghệ thông tin… tăng cường phối hợp giữa các NHTM trong nước và đổi mới công tác kiểm toán nội bộ. Ngoài ra, Chính phủ cần tăng cường năng lực tài chính cho các NHTM quốc doanh, hỗ trợ tài chính và thúc đẩy quá trình cải cách, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tăng cường quyền chủ động cho NHTM nhà nước về chính sách lương, thưởng. Đối với Ngân hàng nhà nước, phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật ngân hàng đáp ứng yêu cầu của HĐ, đổi mới công tác thanh tra, giám sát hệ thống ngân hàng theo chuẩn mực quốc tế…

Bùi Xuân Hải: Người quản lý công ty theo Luật Doanh nghiệp năm 1999 – nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4(29)/2005, tr.14-20: Xác định đúng ai là người quản lý công ty và áp đặt hợp lý các nghĩa vụ pháp lý cho họ sẽ góp phần làm cho việc quản trị công ty có hiệu quả, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của cổ đông cũng như các bên liên quan. Theo Luật Doanh nghiệp 1999, người quản lý công ty được xác định là người có chức danh giám đốc hay tổng giám đốc. Trong khi đó, theo luật của các nước theo mô hình pháp luật Anh, Mỹ thì người điều hành hoạt động của công ty được hiểu khá rộng, bao hàm cả người có chức danh và người không có chức danh, thành phần Hội đồng giám đốc gồm cả các giám đốc điều hành và giám đốc không điều hành, trong đó giám đốc điều hành phải là người lao động của công ty, còn giám đốc không điều hành không phải là lao động của công ty. Mô hình trên có nhiều ưu điểm vì nó bao quát thực tế hơn. Thực tiễn nước ta cũng đã xảy ra các trường hợp, có doanh nghiệp tồn tại cả những giám đốc giấu mặt và cả giám đốc thực tế, trong khi pháp luật nước ta chưa quy định cụ thể về vấn đề này, dẫn đến việc xử lý gặp khó khăn.


Nguyễn Quý Thọ: Nghị định 61/NĐ-CP về thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp nhìn từ thực tiễn,
Tạp chí Thanh tra, số tháng 7/2005, tr.24-25: Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 61/1998/NĐ-CP, công tác thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp đã có những chuyển biến tốt, các cuộc thanh tra, kiểm tra trùng lặp giảm rõ rệt. Nhưng Nghị định cũng bộc lộ những bất cập, thiếu sót, như chưa thể hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra nói riêng, dẫn đến thanh tra trùng lắp; trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra chưa cụ thể hoá một cách đầy đủ bằng văn bản pháp luật; thời hạn thanh tra, kiểm tra không phù hợp với Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo hiện hành, làm cho hiệu lực thi hành còn nhiều hạn chế; chưa quy định rõ quy chế phối hợp thống nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra. Để khắc phục những bất cập, thiếu sót trên, cần nghiên cứu sửa đổi Nghị định theo hướng bổ sung các quy định về phối hợp giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra; trao đổi thông tin giữa các cơ quan về chương trình thanh tra, kiểm tra; quy định lại theo hướng phân định rõ chức năng, phạm vi hoạt động của các cơ quan thanh tra, kiểm tra; các quy định về thủ tục, thời gian thanh tra, kiểm tra phải phù hợp với các luật có liên quan.


Dương Hoài Linh: Luật Doanh nghiệp thống nhất (LDNTN) sẽ tạo ra những khác biệt thực sự, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.18-19:
LDNTN có sự khác biệt đối với hệ thống pháp luật quản lý doanh nghiệp (DN) trong những vấn đề sau: thay đổi cơ bản quan điểm về quản lý DN; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng hơn giữa các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài; chú trọng hơn đến vấn đề quản trị trong các DN. Để LDNTN đi vào cuộc sống, cần rà soát lại các văn bản pháp luật, các quy định có liên quan như Luật Đầu tư chung, Luật DN nhà nước năm 2003. Kiện toàn lại bộ máy đăng ký kinh doanh hiện nay, đồng thời rà soát lại hệ thống giấy phép hiện hành, nhằm hạn chế việc gia tăng các giấy phép con. Cuối cùng, phải nhanh chóng chuyển đổi, cổ phần hoá các DN nhà nước nhằm đưa các DN này vào diện điều chỉnh của LDNTN.

Lê Hoàng Tùng: Luật Doanh nghiệp chung (LDNC) mối quan tâm không của riêng ai, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.20-23: LDNC tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư và các cơ quan giám sát bằng việc tăng yêu cầu về công khai hoá và kiểm soát thông tin đối với doanh nghiệp (DN); tăng quyền và nghĩa vụ của chủ DN đối với các khoản vốn đầu tư của mình; ràng buộc trách nhiệm trong việc định giá tài sản góp vốn, đưa ra những quy định chặt chẽ hơn trong việc chào bán cổ phần và thông qua các quyết định đối với công ty cổ phần. Nhưng một số nội dung của dự thảo cần phải được đầu tư thêm để hoàn thiện, như: định nghĩa về vốn điều lệ cần bổ sung thương hiệu là tài sản góp vốn; khái niệm về thị trường của phần góp vốn hoặc cổ phần còn rườm rà và khó hiểu trong khi chỉ cần ghi: “là mức giá hợp lý được thoả thuận giữa người mua và người bán”. Quy định về các tiêu chuẩn của giám đốc, mức thù lao.. quá chi tiết và can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ của DN, trong khi những điều này có thể quy định trong điều lệ của DN. Cần cho phép cá nhân được thành lập công ty TNHH. Ngoài ra, dự thảo đã đưa ra những quy định phân biệt đối xử giữa DN trong nước và DN đầu tư nước ngoài, trong điều kiện hiện nay, quy định như trên là một rào cản.

Việt Tuấn: Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài: những vấn đề đặt ra, Tạp chí Tài chính, số 9(491)/2005, tr.23-24: Đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam quá nhỏ so với tiềm năng. Có nhiều lý do của tình trạng này, trong đó có lý do thủ tục quá phức tạp: Doanh nghiệp (DN) phải đáp ứng được các điều kiện, như dự án phải có tính khả thi; không nợ nghĩa vụ tài chính, thuế với nhà nước. Đồng thời, DN chỉ được đầu tư trực tiếp ra nước ngoài chứ chưa được phép tham gia đầu tư với hình thức mua cổ phần, cổ phiếu ở nước ngoài. Mối liên hệ giữa cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài với các DN còn lỏng lẻo. Các quy định xin phép, cấp giấy phép còn nhiều vướng mắc kéo dài. Để hoạt động đầu tư ra nước ngoài tương xứng với tiềm năng thì phải tạo ra môi trường pháp lý mở cửa, thông thoáng bằng cách rút ngắn thời gian, quy trình thẩm định cấp giấy phép đầu tư, chuyển tiền đầu tư ra nước ngoài. Khuyến khích DN sử dụng lao động và nguyên vật liệu từ trong nước. DN cần chuẩn bị kỹ từ khâu nghiên cứu thị trường, chính sách pháp luật, chính sách thuế của nước sở tại

Đỗ Ngân Bình, Bất hợp lý trong một số quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 7 năm 2005, tr.26-31: Mặc dù Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung nhưng sau hai năm đi vào cuộc sống đã thể hiện tính bất hợp lý ở một số quy định. Việc chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp người lao động bị đánh đập, bảo hiểm xã hội cho người lao động còn chưa được cụ thể, chưa chặt chẽ dễ tạo ra kẽ hở, dễ bị lợi dụng trong một số trường hợp, như: quy định về bảo hiểm xã hội tự nguyện, chế độ thai sản, tuổi nghỉ hưu của lao động nữ. Đối với vai trò công đoàn ở cấp cơ sở theo quy định việc thành lập trên nguyên tắc tự nguyện. Nhà nước và người sử dụng lao động chỉ tạo điều kiện chứ không có trách nhiệm phải thành lập. Do vậy, khi doanh nghiệp không thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở vẫn không coi là có vi phạm pháp luật. Những bất hợp lý trên cần phải được sửa đổi, bổ sung một cách triệt để nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động.

Nguyễn Văn Phương, Khó khăn về xác định quyền vay vốn của doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Thương mại, số 21 tháng 6/2005, tr.11-12: Theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước về quy chế quản lý tài chính thì tổng giám đốc (giám đốc) có quyền quyết định và ký các hợp đồng vay theo phân cấp, uỷ quyền, nhưng giá trị của các hợp đồng vay này không được vượt quá vốn điều lệ của công ty. Do không quy định rõ thẩm quyền quyết định hợp đồng vay, nên có nhiều cách hiểu khác nhau. Có người hiểu tổng giám đốc (giám đốc) được quyết định và ký kết một hay nhiều hợp đồng vay vốn có giá trị không được vượt quá vốn điều lệ, có người lại hiểu chỉ được quyết định và ký kết một hợp đồng vay vốn. Trong mỗi cách hiểu trên lại có nhiều vấn đề nảy sinh. Chính vì vậy thời gian qua, một số công ty nhà nước gặp khó khăn trong vấn đề vay vốn. Đề nghị Bộ Tài chính cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn.

Nguyễn Văn Hiệu-Nguyễn Minh Hằng, Xác định giá tính thuế theo hiệp định GATT/WTO (HĐ): Một năm nhìn lại, Tạp chí Tài chính, số 7(489) 2005, tr. 50: Qua một năm áp dụng giá tính thuế theo HĐ đã đạt được một số kết quả, như: tạo ra những thay đổi tích cực về mặt thủ tục dẫn tới sự thông thoáng cho các hoạt động xuất, nhập khẩu, doanh nghiệp đã chủ động trong việc xác định giá tính thuế… Bên cạnh đó, còn những tồn tại như hiện tượng gian lận thương mại qua giá xảy ra phổ biến, việc xây dựng, cập nhật, trao đổi thông tin về giá còn nhiều hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này là phương thức quản lý giá tính thuế chưa phù hợp, trình độ năng lực của cán bộ Hải quan chưa đáp ứng được yêu cầu, một số lãnh đạo Hải quan địa phương chưa quan tâm đúng mức đến việc cập nhật, trao đổi, quản lý, sử dụng nguồn thông tin về giá. Các văn bản pháp luật hướng dẫn và bổ trợ cho việc áp dụng chưa được hoàn chỉnh đồng bộ. Do vậy, cần rà soát và hoàn chỉnh lại hệ thống các văn bản pháp quy, nhanh chóng hoàn thiện quy trình quản lý giá thuế, quy trình kiểm tra sau thông quan, nhanh chóng hiện đại hoá ngành Hải quan, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan, phổ biến tuyên truyền pháp luật đối với đối tượng nộp thuế.

Phan Xuân Tuy và Nguyễn Ngọc Hà, Bàn về vi phạm hợp đồng kinh tế và lợi dụng hợp đồng kinh tế để phạm tội, Tạp chí Kiểm sát số 11(6/2005), tr. 28: Vi phạm hợp đồng kinh tế chính là vi phạm quy định nào đó trong pháp luật về hợp đồng kinh tế với nhiều dạng khác nhau như không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng đã ký kết. Việc chứng minh vi phạm và trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng cần tuân theo thủ tục tố tụng tại Trọng tài thương mại hoặc Toà án và việc miễn giảm trách nhiệm vật chất áp dụng theo quy định của pháp luật hợp đồng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, lợi dụng hợp đồng kinh tế để vi phạm pháp luật là một thực tế và có xu hướng phát triển. Để hạn chế các hành vi trên, cần phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc phòng ngừa, đấu tranh xử lý, chống hình sự hoá các vi phạm hợp đồng kinh tế, đồng thời phải hoàn thiện pháp luật về hợp đồng kinh tế.

Nguyễn Thanh Tú, Pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2005, tr.24-32: Bài viết xem xét mối quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và chuyển giao công nghệ, thực tiễn áp dụng pháp luật cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ ở Liên minh Châu Âu. Qua đó, tác giả kiến nghị nhanh chóng ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành Luật cạnh tranh trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ. Luật chuyển giao công nghệ sẽ trình Quốc hội thông qua vào năm 2006 cần có quy định về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng chuyển giao công nghệ và xem xét nó dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, bổ sung cho các quy định hiện hành trong Luật cạnh tranh.

Nguyễn Thị Yến, Sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương mại theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003, Tạp chí Luật học số 2/2005, tr.46- 49: Do Trọng tài là tổ chức xã hội nghề nghiệp, không phải là cơ quan xét xử như Toà án, không nhân danh quyền lực Nhà nước để giải quyết, do vậy cần phải được sự hỗ trợ của cơ quan tư pháp, cụ thể là Toà án nhân dân và cơ quan thi hành án. Sự hỗ trợ thể hiện qua việc chỉ định, thay đổi trọng tài viên đối với trọng tài vụ việc; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, lưu trữ hồ sơ trọng tài đối với trọng tài vụ việc; huỷ hay không huỷ quyết định trọng tài; hỗ trợ trong việc thi hành quyết định trọng tài. Việc hỗ trợ của các cơ quan tư pháp với hoạt động của trọng tài là một điểm mới của Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Nó làm cho hoạt động của Trọng tài thương mại có tính khả thi cao.

Nguyễn Khánh Ngọc, Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam và một số suy nghĩ về việc thực hiện trong mối liên hệ với Toà án, Tạp chí Toà án số 10 (5/2005), tr.2-10: Quy định trong Pháp lệnh về Chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam là những quy định pháp luật mới xuất hiện trong vài năm gần đây. Mục đích của những quy định này nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Qua kinh nghiệm thực hiện các quy định về chống phá giá hàng hoá nhập khẩu ở một số nước, chúng ta cần phải ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành chi tiết các quy định của Pháp lệnh này. Ngoài ra, cần phải đào tạo các Thẩm phán có năng lực trình độ để giải quyết những vụ kiện có liên quan đến chống bán phá giá, đồng thời cũng cần xây dựng mô hình Toà án là Toà án chuyên trách chứ không xây dựng toà án theo địa bàn.

=======================

SOURCE: TRÍCH ĐĂNG TỪ NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

BẤT CẬP TRONG QUI ĐỊNH VỀ CHUYỂN NHƯỢNG HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA

Theo Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

Theo Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm, “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Hợp đồng bảo hiểm chịu sự điều chỉnh của Luật Kinh doanh bảo hiểm được phân thành ba loại là: hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản, hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Sự khác biệt căn bản nhất giữa các hợp đồng bảo hiểm này là đối tượng được bảo hiểm và quyền lợi có thể được bảo hiểm.

Đối tượng được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của con người. Đối tượng được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm tài sản là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Đối tượng được bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự là trách nhiệm dân sự của người được bảo hiểm đối với người thứ ba theo quy định của pháp luật.

Quyền lợi có thể được bảo hiểm thực chất là mối liên hệ giữa bên mua bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm được xác lập dựa trên quan hệ hôn nhân, huyết thống, quan hệ tài sản, quan hệ lao động, quan hệ tài chính theo đó, sự rủi ro của đối tượng được bảo hiểm sẽ gây thiệt hại về tài chính hoặc tổn thất tinh thần cho bên mua bảo hiểm. Chính sự khác biệt về đối tượng bảo hiểm mà quyền lợi có thể được bảo hiểm của bên mua bảo hiểm trong các hợp đồng bảo hiểm nói trên cũng khác nhau. Theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, trong hợp đồng bảo hiểm tài sản, quyền lợi có thể được bảo hiểm bao gồm: quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền tài sản. Trong hợp đồng bảo hiểm con người, quyền lợi có thể được bảo hiểm được quy định hạn chế hơn bao gồm 02 yếu tố: quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với người được bảo hiểm.

Chuyển nhượng hợp đồng nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng là một trong những nội dung không thể thiếu được pháp luật điều chỉnh. Bản chất của việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là việc một chủ thể khác sẽ thay thế vị trí pháp lý (kế thừa quyền và nghĩa vụ) của bên mua bảo hiểm trong hợp đồng theo đó, người nhận chuyển nhượng sẽ trở thành bên mua bảo hiểm mới để tiếp tục duy trì hợp đồng và hưởng các quyền lợi khác (nếu có) theo hợp đồng.

Về mặt lý luận, việc thay đổi bên mua bảo hiểm luôn phải đảm bảo nguyên tắc không làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của hợp đồng bảo hiểm. Nghĩa là, bên nhận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cũng phải thỏa mãn đầy đủ điều kiện của bên mua bảo hiểm như có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Điều này cũng được quy định tại Điều 235 Bộ luật Hàng hải: “người không có quyền lợi trong đối tượng bảo hiểm thì không được chuyển nhượng đơn bảo hiểm hàng hải”. Trong hợp đồng bảo hiểm con người, đối với trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm cho trường hợp chết của người khác thì việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo chúng tôi cũng phải được sự đồng ý của người được bảo hiểm để tránh tình trạng trục lợi bảo hiểm có thể xảy ra từ việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm này. Ngoài ra, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm còn phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật về trình tự, thủ tục, hình thức chuyển nhượng (nếu có).

1. Bất cập của Luật Kinh doanh bảo hiểm

Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc chuyển nhượng từng loại hợp đồng bảo hiểm nói trên mà chỉ quy định chung việc chuyển nhượng tất cả các loại hợp đồng bảo hiểm tại Điều 26 như sau:

“1. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận về việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế”.

Rõ ràng, quy định về việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm tại Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm còn quá chung chung và mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền của bên mua bảo hiểm trong việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người thứ ba và việc chuyển nhượng này phải được sự chấp thuận bằng văn bản của doanh nghiệp bảo hiểm, mà chưa đề cập đến các vấn đề như: điều kiện chuyển nhượng, thủ tục chuyển nhượng, quyền hạn và trách nhiệm của các bên trong quan hệ chuyển nhượng; và hậu quả pháp lý của việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm. Mặt khác, hợp đồng bảo hiểm con người, hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự lại có sự khác biệt rất lớn về đối tượng bảo hiểm, quyền lợi có thể được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm… do vậy, theo chúng tôi thay vì việc quy định chung chung như hiện nay, nên sửa đổi luật theo hướng quy định việc chuyển nhượng riêng cho từng loại hợp đồng bảo hiểm.

Chúng tôi đi sâu phân tích việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ làm ví dụ để chứng minh sự bất cập của Điều 26 nói trên.

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một hợp đồng phức tạp có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau và bên chuyển nhượng (Bên mua bảo hiểm hay Người tham gia bảo hiểm) có thể không đồng thời là Người được bảo hiểm, do vậy, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có nhiều vấn đề đặc thù nảy sinh cần được pháp luật quy định riêng và cụ thể hơn. Chẳng hạn như: điều kiện đối với người nhận chuyển nhượng như thế nào? Người nhận chuyển nhượng có cần phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm với Người được bảo hiểm hay không? Việc chuyển nhượng có cần sự đồng ý của Người được bảo hiểm hay không? Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm như thế nào trong việc chấp nhận chuyển nhượng của bên mua bảo hiểm? Bên mua bảo hiểm còn trách nhiệm gì đối với hợp đồng bảo hiểm sau khi hợp đồng bảo hiểm đã được chuyển nhượng? Trường hợp sau khi bên mua bảo hiểm đã chuyển nhượng hợp đồng cho người khác, thì doanh nghiệp bảo hiểm phát hiện tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm đã kê khai không trung thực Giấy yêu cầu bảo hiểm mà theo Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm và điều khoản hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, đồng thời thu phí đến thời điểm hợp đồng bị đình chỉ. Lúc này quyền lợi chính đáng của người nhận chuyển nhượng (Người tham gia bảo hiểm mới) với tư cách là người “ngay tình” có được bảo vệ hay không và phải giải quyết vấn đề này như thế nào?… Rõ ràng, đây là những nội dung quan trọng nhưng Luật Kinh doanh bảo hiểm đã bỏ ngỏ, do vậy khi có tranh chấp phát sinh không có cơ sở pháp lý để giải quyết.

Thực tế cho thấy, trong điều khoản bảo hiểm nhân thọ của các sản phẩm bảo hiểm đang triển khai trên thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm đều đưa ra cam kết là “doanh nghiệp bảo hiểm không chịu trách nhiệm về tính hiệu lực, hợp pháp, sư đầy đủ của việc chuyển nhượng hợp đồng giữa bên mua bảo hiểm và người được chuyển nhượng”. Giả sử, việc chuyển nhượng hợp đồng là không hợp pháp, trong khi doanh nghiệp bảo hiểm lại đồng ý chuyển nhượng và sự kiện bảo hiểm xảy ra sau khi hợp đồng đã được chuyển nhượng, vậy quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong quan hệ hợp đồng này (bên mua bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm, người nhận chuyển nhượng, người thụ hưởng) sẽ được xác định như thế nào? Vấn đề này vẫn chưa có lời giải đáp.

Không chỉ có hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự cũng gặp phải vướng mắc tương tự vì sự thiếu vắng quy định của pháp luật.

2. Kiến nghị sửa đổi

Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm là một trong những nội dung quan trọng, đặc thù và khá phức tạp, đòi hòi cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Tuy nhiên, như đã phân tích tại phần những bất cập của pháp luật, theo chúng tôi, nhà làm luật cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định này cho phù hợp và hoàn thiện nhằm đảm bảo sự công bằng về quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng bảo hiểm. Chúng tôi xin đưa ra kiến nghị sửa đổi Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm như sau:

“1. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người khác gọi là người nhận chuyển nhượng hợp đồng. Người nhận chuyển nhượng phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm. Riêng đối với trường hợp bên mua bảo hiểm giao kết hợp đồng bảo hiểm con người cho trường hợp chết của người khác, thì việc chuyển nhượng hợp đồng phải được sự đồng ý bằng văn bản của người được bảo hiểm.

2. Việc chuyển nhượng hợp đồng được coi là có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế.

3. Kể từ thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận việc chuyển nhượng hợp đồng thì mọi quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm chấm dứt; đồng thời quyền, nghĩa vụ của người nhận chuyển nhượng theo hợp đồng bảo hiểm bắt đầu phát sinh và được đảm bảo đầy đủ.

4. Trường hợp sau khi bên mua bảo hiểm đã chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phát hiện và có bằng chứng chứng minh tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm đã cung cấp thông tin sai sự thật hoặc che giấu thông tin mà nếu biết được thông tin đó, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ từ chối chấp nhận bảo hiểm, trì hoãn chấp nhận bảo hiểm hoặc chấp nhận bảo hiểm với các điều kiện kèm theo, thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng, không phải giải quyết quyền lợi bảo hiểm đối với rủi ro của đối tượng bảo hiểm và có quyền thu phí đến thời điểm doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận việc chuyển nhượng hợp đồng, đồng thời hoàn trả cho bên nhận chuyển nhượng hợp đồng số phí bảo hiểm mà họ đã đóng (trừ trường hợp bên nhận chuyển nhượng biết được hành vi cung cấp thông tin sai sự thật hoặc che giấu thông tin sai sự thật đó của bên mua bảo hiểm)”.
SOURCE: nclp.org.vn (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

NHỮNG BÀI VIẾT LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP LUẬT DÂN SỰ TRÊN MỘT SỐ TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH

Hoàng Ngọc Thành, Một số ý kiến về giải quyết tranh chấp nợ hụi, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 5/2005, tr. 28-30: Chơi hụi, họ (hụi) có nhiều hình thức và tính chất khác nhau như­ng quy ra có hai loại. Loại hụi không có lãi, đây là loại hụi mang tính giúp đỡ lẫn nhau và là giao dịch dân sự thuần túy. Loại hụi có lãi mang tính kinh doanh, lãi nặng hoặc lừa đảo. Do tính chất phức tạp về việc chơi hụi nên hiện nay Nhà nư­ớc nghiêm cấm tất cả các hình thức chơi hụi và nếu có tranh chấp thì tùy từng mức độ mà xử lý. Mặc dù bị cấm nhưng hiện t­ượng này vẫn diễn ra và có tranh chấp. Giải quyết tình trạng này là một việc khó khăn và phức tạp. Nên cân nhắc nếu công nhận là một giao dịch dân sự hợp pháp thì phải quy định cụ thể giao dịch nào đ­ược công nhận và giao dịch nào không đ­ược công nhận. Đồng thời, phải quy định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Tr­ường hợp không công nhận, thì phải coi mọi giao dịch của loại hình này đều là vô hiệu.

Nguyễn Phương Lan, Một số ý kiến về việc nhận nuôi con nuôi, Tạp chí Luật học, số 2/2005, tr.17-23: Theo quy định, vợ chồng có thể cùng nhận con nuôi hoặc chỉ một bên là vợ hoặc chồng cũng có thể nhận con nuôi nhưng phải có chữ ký của người kia. Do việc quy định về lĩnh vực này còn chung chung, thậm chí còn có sự nhầm lẫn giữa khái niệm “giới” với ” giới tính” nên việc xác định thế nào là vợ chồng đôi lúc rất khó khăn. Cần định nghĩa chính xác và khoa học hơn về vợ chồng. Theo khoản 1, Điều 36, Nghị định 69/CP ngày 10/7/2002, “… vợ chồng là những người khác giới có quan hệ hôn nhân”. Nên thay đổi là “Vợ chồng phải là những người khác giới tính có quan hệ hôn nhân hợp pháp”. Về việc quy định chỉ một người, vợ hoặc chồng nhận nuôi con thì phải có chữa ký của của người kia, để tránh việc lợi dụng việc xin nhận con nuôi vì động cơ cá nhân nên quy định chỉ chấp nhận cho nhận con nuôi khi cả hai vợ chồng cùng nhận con nuôi.

Nguyễn Thị Hương, Quan hệ nuôi dưỡng chăm sóc giữa con riêng với mẹ kế cần được quy định cụ thể hơn, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 7/2005, tr.48-49: Do Điều 682, Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về việc chăm sóc nuôi dưỡng giữa con riêng với mẹ kế chưa được cụ thể nên trong quá trình áp dụng giải quyết đã có nhiều quan điểm khác nhau. Do vậy, cần phải sửa đổi điều luật này theo hướng cụ thể, rõ ràng hơn như việc chăm sóc, nuôi dưỡng đến độ tuổi nào, phạm vi mức độ, cách thể hiện ra sao; việc nuôi dưỡng có phụ thuộc vào việc cha, mẹ đẻ còn sống không.

guyễn Quang Thái, Một số khái niệm về thi hành án và thi hành án dân sự ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 5/2005, tr.43-48: Khi hoạt động thi hành án nói chung và thi hành án dân sự nói riêng vẫn do Tòa án thực hiện thì hầu như­ quan niệm thi hành án không có tranh luận. Nh­ưng từ khi hoạt động thi hành án đ­ược chuyển cho cơ quan của Chính phủ thì có quan điểm cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố tụng. Như­ng có quan điểm cho rằng, đây chỉ là hoạt động quản lý hành chính tư pháp vì quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án đã chấm dứt. Tác giả không đồng nhất với hai quan điểm trên mà cho rằng, đây là một hoạt động tư pháp của Nhà nư­ớc.

Lưu Tiến Dũng, Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử, Tạp chí Toà án số 10 (5/2005), tr.10-14: Pháp luật nước ta quy định Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong xét xử; Thẩm phán không được giải thích luật. Nhưng pháp luật để áp dụng không phải chỉ là Hiến pháp hoặc các đạo luật mà bao gồm cả các hướng dẫn của các cơ quan và các cá nhân có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương. Thậm chí, Thẩm phán, Hội thẩm nhiều khi chỉ áp dụng trực tiếp các văn bản hướng dẫn. Trong thực tế, Thẩm phán được giao một đặc quyền và một trọng trách vô cùng to lớn là quyết định cuối cùng việc áp dụng pháp luật. Vậy, để cho Thẩm phán thực hiện tốt trọng trách của mình trong khi pháp luật chưa cho Thẩm phán các quyền giải thích luật thì cũng cần khuyến khích họ chủ động hơn nữa trong việc độc lập áp dụng pháp luật đi kèm với trách nhiệm giải trình về sự lựa chọn của mình một cách công khai, minh bạch trong phán quyết của mình.

Lê Duy Ninh, Khái niệm và định nghĩa khái niệm trong luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2005, tr.49-53: Mỗi khái niệm đều có hai mặt, đó là nội hàm và ngoại diên. Nội hàm là chất, tập hợp những dấu hiệu bản chất của đối tượng được phản ảnh trong khái niệm. Ngoại diên là lượng của khái niệm. Hai định nghĩa thường được sử dụng là định nghĩa theo tập hợp và định nghĩa thông qua liệt kê. Mỗi cách định nghĩa đều có ưu điểm nhưng xét một cách toàn cục thì cách định nghĩa thứ nhất có lợi thế hơn. Với những văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, có tính ổn định lâu dài như bộ luật, luật thì nên đưa vào nhiều định nghĩa này, còn văn bản dưới luật thì trong trường hợp không thể khác được vẫn có thể chấp nhận cách định nghĩa liệt kê. Về định nghĩa tập hợp, định nghĩa phải cân đối, không được lòng vòng, phải ngắn gọn, chuẩn xác, rõ ràng và không nên định nghĩa phủ định.

Trần Phương Đạt, Địa vị pháp lý của người nước ngoài ở Việt Nam tiếp cận dưới góc độ pháp luật dân sự, Tạp chí Kiểm sát số 11(6/2005), tr. 25- 27: Hiện nay nước ta chưa có một đạo luật riêng quy định về địa vị pháp lý của người nước ngoài, nhưng dưới góc độ pháp luật về dân sự thì địa vị pháp lý của họ đã được quy định ở nhiều văn bản khác nhau như trong lĩnh vực nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, đi lại, quyền sở hữu tài sản và thừa kế… Việc quy định chế độ pháp lý của người nước ngoài trong các văn bản khác nhau nhìn chung là chưa đầy đủ, có thể tạo ra sơ hở cho người nước ngoài lợi dụng để hoạt động gây phương hại đến an ninh – trật tự. Để công tác quản lý người nước ngoài nhanh chóng đi vào nề nếp, cần sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan.

Phan Chí Hiếu, Thẩm quyền giải quyết các việc kinh doanh, th­ương mại theo Bộ luật Tố tụng dân sự: Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành, Đặc san Nghề luật, tr.32- 41: Bộ luật Tố tụng dân sự có nhiều điểm mới, tiến bộ nhưng trong quá trình thực hiện sẽ gặp khó khăn vướng mắc nh­ư thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, th­ương mại. Để khắc phục cần phải có hư­ớng dẫn cụ thể của Tòa án nhân dân tối cao, như cần phải coi việc xác định vụ án phát sinh từ tranh chấp về kinh doanh, thư­ơng mại hay dân sự, lao động chỉ thuần túy mang tính kỹ thuật và thuộc quyền chủ động của Tòa án. Do vậy các sai sót trong việc xác định vụ án là kinh doanh thư­ơng mại hay dân sự, không bị coi là căn cứ để kháng cáo, kháng nghị và để hủy án, sửa án. Nên quy định các tranh chấp về kinh doanh th­ương mại chỉ là dạng đặc biệt của tranh chấp dân sự và sử dụng phương pháp loại trừ để phân định vụ án về kinh doanh, thương mại với vụ án về dân sự…

Đặng Vũ Huân, Nâng cao vai trò nhận thức xã hội trong hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 5/2005, tr.31-36: Sở hữu trí tuệ là những sáng tạo trí tuệ của con ng­ười, đ­ược thừa nhận và dành cho ngư­ời đó sự độc quyền trong thời hạn nhất định. Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ b­ước đầu đã đạt đư­ợc những kết quả như­ng còn khiêm tốn. Muốn đạt đ­ược hiệu quả cao hơn nữa, cần phải nâng cao nhận thức của xã hội về vấn đề này bằng cách tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho tất cả các đối t­ượng liên quan, đồng thời phải tăng c­ường các hoạt động dịch vụ t­ư vấn, thông tin về sở hữu trí tuệ, củng cố và nâng cao vai trò của các Hội về sở hữu trí tuệ./.

Phan Chí Hiếu, Tổng thuật hội thảo “Bộ luật Tố tụng dân sự – Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”, Đặc san Nghề luật, tr.2-14: Vừa qua Học viện Tư­ pháp đã tổ chức hội thảo với nội dung “Bộ luật Tố tụng dân sự – Những điểm mới và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi hành”. Các đại biểu tham gia hội thảo đã phát biểu về nhiều vấn đề nh­ư chứng cứ. Về thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án, các quy định mới của Bộ luật có khả năng giải quyết đ­ược một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn như­ng cũng có một số v­ướng mắc cần phải có h­ướng dẫn. Về phiên tòa sơ thẩm so với các quy định trư­ớc có tiến bộ, như­ng áp dụng vào thực tế có những v­ướng mắc cần đư­ợc tháo gỡ. Ngoài các vấn đề trên, các đại biểu còn bày tỏ quan điểm về điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc tuyên án…

Vũ Lê Trung, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và vấn đề xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của Công ty Honda Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 5/2005, tr.37-42: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là sự bảo hộ của pháp luật dành cho thành quả đầu t­ư mà nhà sản xuất đã bỏ ra để đư­a sản phẩm đến đ­ược với ng­ười tiêu dùng. Trong thời gian vừa qua, tình hình vi phạm quyền sở hữu công nghiệp xảy ra một cách phổ biến, nhất là đối với sản phẩm của Công ty Honda Việt Nam. Công ty đã dùng nhiều biện pháp để ngăn chặn nh­ưng kết quả chư­a đ­ược là bao. Nguyên nhân là do cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có liên quan, các văn bản pháp luật quy định ch­ưa đ­ược thống nhất, mức độ xử phạt chư­a nghiêm khắc. Việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp có tầm quan trọng lớn trong thời kỳ mở cửa và hội nhập ở nước ta hiện nay.

Lê Việt Long, Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp – Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn, Tạp chí Nhà nước và Phát luật, tháng 5/2005, tr.60-63: Trong những năm gần đây, tình trạng vi phạm, xâm phạm về sở hữu công nghiệp diễn ra một cách khá phổ biến và ngày càng phức tạp. Nguyên nhân của hiện tượng này trước hết là việc thực thi pháp luật còn nhiều bất cập và chưa có hiệu quả, các chủ sở hữu ngại tiếp xúc với Toà án, hiểu biết của xã hội nói chung và của chủ sở hữu nói riêng, cũng như việc xử lý các hành vi xâm phạm bằng biện pháp hình sự còn hạn chế. Để ngăn chặn tình trạng này, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; quy định chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời phải xây dựng một đạo luật cũng như một cơ quan độc lập về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Nguyễn Thanh Tú, Thỏa thuận về lãi suất giữa các ngân hàng và pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2005, tr. 56-64: Tháng 7/2004, dưới sự chủ trì của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, các ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm khoảng 70% thị phần huy động vốn) đã bàn và đi đến thỏa thuận về trần lãi suất. Theo tác giả, thỏa thuận này bị cấm, không được hưởng quyền miễn trừ khi pháp luật cạnh tranh có hiệu lực và hoạt động ngân hàng chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh. Ngân hàng nhà nước không thể can thiệp vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng. Các ngân hàng và các doanh nghiệp, hiệp hội khác cần cẩn trọng trong việc giao kết và thực thi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Chính phủ, Bộ Thương mại cần sớm hướng dẫn, phổ biến nhanh chóng Luật Cạnh tranh.

Bùi Đăng Hiếu, Tiền-một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, Tạp chí Luật học, số 1/2005, tr. 37- 40: Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam chưa có quy định nào về tiền. Tiền có tính năng đặc biệt là khi chuyển giao thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu. Chúng ta nên phân biện nội tệ và ngoại tệ. Ngoại tệ không được coi là tiền, vì ngoại tệ không được coi là công cụ thanh toán đa năng-một tính năng quan trọng của tiền. Chỉ có những chủ thể nhất định, ví dụ như ngân hàng mới được phép xác lập giao dịch đối với nó. Cũng không nên coi ngoại tệ là giấy tờ trị giá bằng tiền hay tài sản, bởi lẽ không xác định được ai là chủ thể nghĩa vụ trong đó.

Đỗ Văn Đại, Quy phạm áp dụng bắt buộc trong Tư pháp quốc tế : Từ Bộ luật Dân sự Pháp đến Bộ luật Dân sự Việt Nam, Đặc san Nghề Luật, số 9/12/2004, tr. 54- 64: Quy phạm áp dụng bắt buộc là những quy phạm quốc nội mà vai trò tự nhiên của nó là điều chỉnh các quan hệ trong nước nhưng chúng được áp dụng bắt buộc để điều chỉnh trực tiếp một vài chi tiết của quan hệ có yếu tố nước ngoài, đồng thời làm vô hiệu hoá các quy phạm xung đột đáng lẽ được áp dụng. Quyphạm áp dụng bắt buộc đã tồn tại trong pháp luật Việt Nam nhưng chỉ ở một số văn bản chuyên ngành và, khi ban hành, các nhà lập pháp nêu rõ, đây là quy phạm áp dụng bắt buộc trong quan hệ có yếu tố nước ngoài. Khác với nhiều nước trên thế giới, ví dụ ở Pháp, chúng ta chưa thừa nhận theo nguyên tắc chung sự tồn tại loại quy phạm này như một phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài. Trong thực tế, thừa nhận theo nguyên tắc chung sự tồn tại của quy phạm áp dụng bắt buộc như một phương pháp điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước ngoài là cần thiết. Chúng ta nên bổ sung loại quy phạm này trong phần VII, Bộ luật Dân sự./.

Ngô Văn Hiệp, Chế định bồi thường thiệt hại cho người bị oan-Lý luận và thực tiễn, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2005, tr. 29-34: Hiện nay có 171 trường hợp bị oan mà ngành Kiểm sát phải bồi thường nhưng chỉ có 17 người làm đơn yêu cầu. Lý do là người bị oan không am hiểu pháp luật, ngại hay sợ sệt hoặc làm đơn không kịp thời. Vì vậy, để bảo vệ tốt quyền yêu cầu đòi bồi thường, cần quy định theo hướng mở rộng thời hiệu yêu cầu bồi thường. Cần bổ sung quy định theo hướng cán bộ, công chức gây thiệt hại phải trực tiếp cùng lãnh đạo cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Đồng thời, các bằng chứng để được bồi thường cần được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, có lý, có tình.

Đỗ Văn Đại, Quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài và thẩm quyền tài phán của Tòa án Việt Nam trong BLTTDS, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr.13-20: Theo BLTTDS, Toà án Việt Nam giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mà việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam. Bài viết làm rõ thế nào là tranh chấp phát sinh từ hợp đồng và khi nào hợp đồng được thực hiện ở Việt Nam. Bài viết cũng làm rõ câu hỏi: mặc dù được thực hiện ở Việt Nam, các bên có được chọn Tòa án nước ngoài để giải quyết tranh chấp không? Bài viết còn cho biết, mặc dù hợp đồng không được thực hiện ở Việt Nam, các bên có được thỏa thuận chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết tranh chấp không?

Phùng Trung Tập, Bàn về lỗi, một điều kiện xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, Đặc san Nghề Luật số 8/2004, tr. 42-47: Một điều kiện của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là người gây thiệt hại có lỗi. Lỗi này do pháp luật quy định trước hay còn do suy đoán? Từ một số cơ sở lý luận, tác giả nhận định lỗi không phải là do suy đoán mà do pháp luật quy định trước.

Dương Anh Sơn và Lê Thị Bích Thọ, Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2005, tr. 26-31: Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi chưa có hành vi vi phạm nghĩa vụ. Và khi có vi phạm thì nó được coi là hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Pháp luật Việt Nam giới hạn tối đa mức phạt vi phạm: 8% giá trị nghĩa vụ bị vi phạm trong Luật Thương mại và 5% trong Bộ luật Dân sự. Để các quy phạm pháp luật phát huy hiệu quả thì giới hạn trên không nên tồn tại. Hơn nữa, pháp luật không thể cấm sử dụng chế tài phạt vi phạm khi chế tài buộc thực hiện đúng nghĩa vụ được sử dụng.

Ngô Thị Hường, Mối quan hệ giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 4/2005, tr. 13-18: Qua phân tích các vấn đề chủ thể, bài viết cho biết điều kiện phát sinh và ranh giới giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng là hai nghĩa vụ riêng biệt và có thể thay thế cho nhau. Việc xác định mối quan hệ giữa hai nghĩa vụ này trong Luật Hôn nhân và gia đình góp phần làm sáng tỏ bản chất, đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng, cũng như sự cần thiết phải quy định nghĩa vụ cấp dưỡng trong Luật này.

Những bài khác:

Về quyền sử dụng đất: Khuất Văn Nga, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 7-10; Nguyễn Thị Mai, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 8-12.

Về tài sản và quyền sở hữu: Phạm Công Lạc, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 3-9.

Về quyền tài sản: Nguyễn Ngọc Điện, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005, tr. 11-15; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 16-21.

Về thời hiệu khởi kiện: Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 11-12.

Về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quân sự: Hoàng Thị Quỳnh Chi, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 13-14; Trần Đình Hảo, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2005, tr. 16-21; Nguyễn Văn Vân, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 9-23.

Về giao dịch dân sự: Trần Hồng Thanh, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 15-17; Trần Đình Hảo, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 9-13.

Về hợp đồng: Đỗ Văn Đại, Hà Thị Mai Hiên và Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1/2005, tr. 21-24; số 3/2005, tr. 10-19 và số 4/2005, tr. 22-27; Lê Nết, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr 14-18.

Về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: Đỗ Văn Đại, Nguyễn Thanh Hải và Nguyễn Huy Giang, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 18-20, tr. 20-22 và tr. 22-23; Vũ Thành Long, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 7-8; Phùng Trung Tập, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 2-5, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/ 2005. tr. 28-35.

Về thừa kế: Lê Hồng Hải, Trương Anh Tuấn, Nguyễn Quốc Huân, Khương Thị Minh Hằng và Vũ Thành Long, Tạp chí kiểm sát số 6 (3-2005), tr. 34-35, tr. 37-38, tr. 38-39, tr. 40, tr. 40-41.

Về hụi, họ: Trần Thị ánh Nguyệt, Đinh Xuân Dụ, Tạp chí Kiểm sát số 6 (3-2005) tr. 44-45 và tr. 45-46; Trần Văn Biên, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 21-23.

Về vay tài sản: Trần Văn Biên, Tạp chí Khoa học pháp lý số 1/2005, tr. 42-45.

Về sở hữu trí tuệ: Lê Mai Thanh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/2005, tr. 33-35.

Về quan hệ có yếu tố nước ngoài: Đỗ Văn Đại, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 3/2005, tr. 35-39 và Đặc san Nghề luật số 9/12-2004, tr. 54-64; Nguyễn Trung Tín, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2005, tr. 24-32.

Về công chứng nhà nước: Lê Thị Phương Hoa, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2005, tr. 6-7.

Về quyền nhân thân: Lê Minh Hùng, Tạp chí Khoa học và pháp lý số 2/2005, tr. 3-8.

Về hoạt động của ngân hàng thương mại: Nguyễn văn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 3/2005, tr. 2-6.