Filed under: THUẬT NGỮ | Leave a comment »
Filed under: THUẬT NGỮ | Leave a comment »
|
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất, thú vị nhất và có lẽ rối rắm nhất của tư pháp Hoa Kỳ là hệ thống tòa án kép; tức là tại mỗi cấp chính quyền (bang và quốc gia) có một hệ thống tòa án riêng. Do đó, có một hệ thống tòa án riêng cho mỗi bang, một cho Hạt Columbia (Washington, D.C) và một cho chính quyền liên bang. Một số vấn đề pháp lý được giải quyết hoàn toàn ở tòa án bang, trong khi các vấn đề khác được giải quyết hoàn toàn tại tòa án liên bang. Nhưng vẫn còn các vấn đề khác được cả hai hệ thống xét xử quan tâm, và đôi khi có xuất hiện va chạm. Các tòa án liên bang được trao đổi trong chương này, còn các tòa án bang sẽ được xem xét trong chương 2. Trước khi thông qua Hiến pháp, Hoa Kỳ chịu sự điều chỉnh của Hiến chương liên minh (Charter of Confederation). Theo Hiến chương, hầu hết chức năng của chính quyền quốc gia đề u nằm trong tay của một cơ quan lập pháp duy nhất gọi là Quốc hội. Chưa có sự phân chia quyền hành pháp và lập pháp. Việc thiếu vắng hệ thống tư pháp quốc gia được coi là nhược điểm chính của Hiến chương. Do đó, các đại biểu nhóm họp trong Hội nghị lập hiến được tổ chức tại Philadelphia năm 1787 đã nhất trí là phải thành lập một hệ thống tư pháp quốc gia. Tuy nhiên, có nhiều bất đồng về hình thức cụ thể của ngành tư pháp. Hội nghị lập hiến và Điều III của Hiến pháp Đề xuất đầu tiên được đưa ra trước Hội nghị lậ p hiến là Kế họa ch Virginia, trong đó đề nghị thành lập một Tòa án tối cao và các tòa liên bang cấp dưới. Những người phản đối Kế hoạch Virginia đã đáp lại bằng Kế hoạch New Jersey, kêu gọi thành lập một cơ quan xét xử tối cao duy nhất của liên bang. Nhữ ng người ủng hộ Kế hoạch New Jersey đã hết sức khó chịu với ý tưởng thành lập các tòa án liên bang cấp dưới. Họ cho rằng các tòa án bang phải xét sử sơ thẩm tất cả các vụ việc, và quy định đầy đủ quyền kháng cáo lên Tòa án tối cao để bảo vệ các quyền quốc gia và đảm bảo tính thống nhất xét xử trên toàn quốc. Mâu thuẫn giữa những người ủng hộ quyền của bang và những người ủng hộ quyền quốc gia đã được giải quyết thông qua thỏa hiệp chung của Hội nghị lập hiến. Sự thỏa hiệp này được thể hiện trong Điều III của Hiến pháp, bắt đầu bằng câu: “Quyền tư pháp của Hợp chúng quốc được trao cho một Toà án tối cao, và các tòa cấp dưới có thể được Quốc hội trao quyền hoặc thành lập tùy từng thời điểm”. Đạo luật tư pháp năm 1789 Sau khi Hiến pháp được phê chuẩn, vấn đề tư pháp liên bang nhanh chóng được đưa ra xem xét. Khi Quốc hội mới nhóm họp năm 1789, mối quan tâm chính đầu tiên của nó là tổ chức tư pháp. Các cuộc thảo luận Dự luật số 1 của Thượng viện xoay quanh nhiều bên tham gia và lý lẽ giống hệt như trong cuộc tranh cãi tư pháp của Hội nghị lập hiến. Một lần nữa, vấn đề đặt ra là nên thiết lập các tòa án liên bang cấp dưới hay trao toàn quyền sơ thẩm cho tòa án bang. Nỗ lực giải quyết vấn đề tranh cãi này đã chia Quốc hội thành các nhóm riêng rẽ.
Một nhóm bao gồm những người tin rằng luật liên bang đầu tiên cần được xét xử tại các tòa án bang, và chỉ được xét xử tại Tòa án tối cao Hoa Kỳ theo trình tự phúc thẩm. Những người này sợ chính quyền mới sẽ hủy bỏ quyền của các bang. Nhóm còn lại gồm những nhà lập pháp nghi ngại các tòa án bang sẽ mang tính cục bộ địa phương, và sợ rằng những người khởi kiện từ các bang khác, hoặc nước khác sẽ bị đối xử bất công. Nhóm thứ hai đương nhiên muốn có một hệ thống tư pháp có cả các tòa án liên bang cấp dưới. Kết quả của cuộc tranh cãi này là sự ra đời của Đạo luật tư pháp năm 1789, thiết lập một hệ thống tư pháp bao gồm một Tòa án tối cao (bao gồm một chánh án và năm thẩm phán), ba tòa lưu động (bao gồm hai thẩm phán của Tòa án tối cao và một thẩm phán hạt); và 13 toà án hạt (mỗi tòa án hạt do một thẩm phán chủ trì). Như vậy, quyền được thiết lập các tòa án liên bang cấp dưới đã được thực thi ngay lập tức. Quốc hội không chỉ tạo ra một, mà đến hai nhóm tòa án cấp dưới. TÒA ÁN TỐI CAO HOA KỲ Thẩm phán Tòa á n tố i cao Charles Evans Hughes đã viết trong cuốn Tòa án tối cao Hoa Kỳ (Supreme Court of the United States) (1966) rằng Tòa án này “là sản phẩm đặc trưng của người Mỹ cả về mặt khái niệm và chức năng, không kế thừa gì nhiều từ các tổ chức tư pháp trước đó”. Để hiểu được ý định của những người định khung Hiến pháp, cần phải xem xét một khái niệm khác của người Mỹ: hình thức chính quyền liên bang. Các nhà lập quốc quy định hai hình thức chính quyền: chính quyền quốc gia và chính quyền bang; tòa án bang bị ràng buộc bởi luật liên bang. Tuy nhiên, quyền giải thích cuối cùng đối với luật liên bang không thể để cho tòa án bang tự quyết định, và chắc chắn cũng không thể đặt trong tay cơ quan xét xử của một vài tiểu bang, vì có thể sẽ nảy sinh bất đồng. Do đó, Tòa án tối cao phải giải thích các văn kiện lập pháp liên bang. Một chủ định khác của các nhà lập quốc là cho phép chính quyền liên bang được hành động đối với các cá nhân cũng như các bang. Do vai trò đặc biệt quan trọng của Tòa án tối cao trong hệ thống chính quyền Mỹ, chắc chắn là Toà án này sẽ gây nhiều tranh cãi. Trong cuốn Tòa án tối cao trong Lịch sử Hoa Kỳ (The Supreme Court in United States History), Charles Warren, một nhà nghiên cứu hàng đầu về Tòa án tối cao đã viết: “Có một thực tế nổi bật nhất trong lịch sử Tòa án tối cao là mặc dù hầu như mọi công dân yêu nước và có suy nghĩ chín chắn đều nhận thấy vai trò quan trọng và cần thiết của nó trong hình thức chính quyền liên bang, nhưng không có ngành nào trong hệ thống tam quyền của chính quyền Mỹ, cũng như không có cơ quan nào được thành lập theo Hiến pháp, lại liên tục bị tấn công và phải vượt qua nhiều sự đối kháng như vậy mới đạt đến vị thế ngày nay”. Thập kỷ đầu của Tòa án tối cao Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, George Washington, đã thiết lập hai tập quán quan trọng khi chỉ định các thẩm phán của Tòa án tối cao. Thứ nhất, ông đã khởi xướng tập quán chỉ định các thẩm phán tương thích về chính trị với Tổng thống. Washington là Tổng thống duy nhất có cơ hội chỉ định toàn bộ nhân sự tư pháp liên bang. Ông đã bổ nhiệm tất cả các thẩm phán liên bang là các đảng viên thân tín của Đảng Liên bang, mà không có bất cứ ngoại lệ nào. Thứ hai, những người được Washington bổ nhiệm tương đối đại diện về mặt địa lý trong các tòa án liên bang. Trong sáu người được chỉ định vào Tòa án tối cao, có ba người miền Nam và ba người miền Bắc. Vị trí Chánh án là đề cử quan trọng nhất của Washington. Tổng thống cho rằng, người lãnh đạo Toà án tối cao đầu tiên phải là một nhà lãnh đạo – quản lý có uy tín lớn và là một luật gia kiệt xuất. Nhiều cái tên đã được giới thiệu với Washington, và ít nhất đã có một người chính thức xin ứng cử vào chức vị đó. Cuối cùng, Washington đã quyết định chọn John Jay của New York. Mặc dù chỉ mới 44 tuổi, nhưng John Jay đã từng trải trong vai trò là một luật gia, thẩm phán và nhà ngoại giao. Ngoài ra, ông là người dự thảo chính Hiến pháp đầu tiên của bang New York. Tòa án tối cao nhóm họp lần đầu vào thứ Hai, ngày 1 tháng Hai 1790 tại tòa nhà Royal Exchange ở khu vực Phố Wall của New York, và phiên họp đầu tiên chỉ kéo dài 10 ngày. Trong thời gian này, Tòa đã chọn một thư ký, con dấu và nhận một số luật sư được làm việc trước tòa trong thời gian tới. Tất nhiên là trong phiên này, Tòa không xét xử một vụ việc nào; và ngay cả trong ba năm sau, Tòa cũng không đưa ra phán quyết về bất cứ một vụ việc đơn lẻ nào. Mặc dù đây là một giai đoạn không quan trọng và có nhiều ý nghĩa, nhưng như Charles Warren đã viế t, “Báo chí New York và Philadelphia đã mô tả trình tự phiên họp đầu tiên của Tòa án tối cao đầy đủ hơn bất kỳ sự kiện nào liên quan đến nhà nước mới; và nội dung của nó được đăng tải trên tất cả các tờ báo hàng đầu của các bang khác”.
Trong thập kỷ đầu tiên, Tòa chỉ quyết định khoảng 50 vụ. Do công việc của Tòa án tối cao trong giai đoạn đầu quá ít, nên đóng góp của Chánh án John Jay chủ yếu là trong các quyết định ở tòa lưu động và đạo đức tư pháp của ông. Nhưng có lẽ đóng góp quan trọng nhất của Jay là đã kiên quyết khẳng định Tòa án tối cao không tư vấn pháp lý cho ngành hành pháp dưới hình thức các ý kiến cố vấn. Bộ trưởng Ngân khố Alexander Hamilton đã yêu cầu ông cho ý kiến về tính hợp hiến của một nghị quyết do Hạ viện Virginia thông qua, hay Tổng thống Washington đã xin ý kiến về các câu hỏi liên quan đến Tuyên bố trung lập. Trong cả hai trường hợp, câu trả lời của ông là “Không”, vì theo Điều III của Hiến pháp, Tòa án tối cao chỉ quyết định các vụ việc có tranh cãi thực tế. Ảnh hưởng của Chánh án Marshall John Marshall giữ chức Chánh án từ năm 1801 đến 1835, và có tầm thống trị rất lớn đối với Tòa án tối cao mà không một chánh án nào có thể sánh được. Sự chi phối của Marshall đối với Tòa án tối cao cho phép ông có thể khởi xướng nhiều thay đổi về cách thức đưa ra phán quyết. Trước thời kỳ của ông, các thẩm phán viết ra các ý kiến độc lập (còn gọi là các ý kiến “seriatim” – tiếng Latin có nghĩa là “lần lượt từng người một”) trong các vụ án lớn. Dưới “triều đại” của Marshall, Tòa án áp dụng thủ tục đưa ra một ý kiến duy nhất. Mục đích của Marshall là hạn chế bất đồng đến mức tối thiểu. Với lý do sự bất đồng sẽ làm giảm thẩm quyền của Tòa án, ông đã cố gắng thuyết phục các thẩm phán giải quyết riêng những khác biệt và sau đó đưa ra một ý kiến thống nhất trước công chú ng. Marshall cũng sử dụng quyền lực của mình để đưa Tòa án tối cao tham gia vào quá trình lập chính sá ch. Ví dụ , ngay từ đầu nhiệm kỳ Chánh án của ông, Tòa án tối cao đã khẳng định quyền lực của mình bằng việc tuyên bố một đạo luật của Quốc hội là vi hiến, trong vụ Marbury kiện Madison (1803). Vụ này bắt đầu từ cuộc bầu cử tổng thống năm 1800, khi mà Thomas Jefferson chiến thắng và dập tắt khả năng tái cử của John Adams. Nhưng trước khi hết nhiệm kỳ vào tháng Ba 1801, Quốc hội của nhữ ng đảng viên Liên bang sắp mãn nhiệm đã đẻ ra một số vị trí thẩm phán liên bang mới. Đồng thời, Tổng thống Adams đã đề cử những người trung thành với Đảng Liên bang, và được Thượng viện chấp thuận. Trong đó có việc bổ nhiệm Ngoại trưởng sắp mãn nhiệm của nhiệ m kỳ Adams là John Marshall làm Chánh án Toà án tối cao. Với vai trò Ngoại trưởng, John Marshall phải phong hàm cho các thẩm phán mới được bổ nhiệm. Nhưng do thời gian không kịp, khi bắt đầu nhiệm kỳ của Jefferson, vẫn còn 17 người chưa được phong hàm. Tổng thống mới ra lệnh cho Ngoại trưởng của mình là James Madison không phong hàm cho những người đó. Một trong những người thất vọng trước quyết định này là William Marbury. Ông cùng ba người cũng được bổ nhiệm làm thẩm phán hoà giải ở Hạt Columbia đã quyết định yêu cầu Tòa án tối cao buộc Madison phải phong hàm. Họ đã căn cứ trên Mục 13 của Đạo luật tư pháp năm 1789, cho phép Tòa án tối cao được phát đặc lệnh yêu cầu thực hiện (writ of mandamus) – tức là lệnh của tòa án yêu cầu một viên chức công quyền phải thực hiện một nhiệm vụ chính thức, không tùy nghi. Vụ việc này đã đặt Marshall vào một tình huống khó xử. Một số người đề nghị ông tự rút lui vì những liên quan trước đây với tư cách là Ngoại trưởng. Đồng thời cũng có người đặt nghi vấn về quyền lực của Tòa án. Nếu Marshall phát đặc lệnh, gần như chắc chắn Madison sẽ từ chối phong hàm (theo lệnh của Jefferson). Khi đó Tòa án tối cao không đủ quyền lực để cưỡng chế thực hiện. Nhưng nếu Marshall từ chối phát đặc lệnh, thì Jefferson đương nhiên sẽ thắng. Quyết định của Marshall trong tình huống khó xử có vẻ như không lối thoát này đã cho thấy tài năng thiên bẩ m tuyệ t đối của ông. Marshall đã tuyên bố Mục 13 của Đạo luật tư pháp năm 1789 là vi hiến, vì nó trao quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án tối cao vượt quá phạm vi quy định trong Điều III của Hiến pháp. Nhờ đó, quyền lực của Tòa án tối cao được xem xét lại và quyết định các đạo luật của Quốc hội là vi hiến đã được thiết lập. Quyết định này rõ ràng được coi là một trong những quyết định độc lập quan trọng nhất của Tòa án tối cao. Một vài năm sau, Tòa án tối cao cũng khẳng định quyền được xét duyệt tư pháp các hành động của cơ quan lập pháp bang; trong nhiệm kỳ của Marshall, hơn một tá đạo luật bang đã bị bác bỏ trên cơ sở hiến pháp. Thay đổi trọng tâm của Tòa án tối cao Đến khoảng năm 1865, mối quan hệ pháp lý giữa chính quyền quốc gia và bang, hay các vụ việc mang tính chế độ liên bang, là công việc chủ yếu của Tòa án tối cao. John Marshall tin tưởng vào chế độ một chính quyền quốc gia mạnh, và không hề ngần ngại trong việc hạn chế các chính sách bang can thiệp vào hoạt động của nó. Một vụ việc thể hiện quan điểm này là vụ Gibbons kiện Ogden (1824), trong đó Tòa án tối cao đã bác bỏ độc quyền bang trong ngành vận chuyển bằng tàu hơi nước, trên cơ sở cho rằng quyền độc quyền đó đã can thiệp vào việc kiểm soát thương mại xuyên bang của quốc gia. Một ví dụ điển hình khác là việc Marshall sử dụng Tòa án tối cao để mở rộng quyền lực của chính quyề n liên bang trong vụ McCulloch kiện Bang Maryland (1819), trong đó vị Chánh án này đã phán quyết rằng Hiến pháp cho phép Quốc hội được thiết lập một ngân hàng quốc gia. Sau khi Marshall qua đời, Tòa án tối cao vẫn tiếp tục kiên định với chính sách ủng hộ một nhà nước quốc gia mạnh. Roger Taney đã thay thế Marshall trở thành Chánh án trong giai đoạn 1836-1864. Mặc dù trong giai đoạn này Tòa án tối cao không hoàn tòan ủng hộ chính quyền liên bang, nhưng Taney đã không đảo ngược định hướng do Marshall lập nên. Trong giai đoạn 1865–1937, các vấn đề điều tiết kinh tế chiếm phần lớn thời gian của Tòa án tối cao. Việc chuyển trọng tâm từ chế độ liên bang sang điều tiết kinh tế là do việc gia tăng số lượng các đạo luật liên bang và bang nhằm giám sát các hoạt động kinh doanh. Do các đạo luật tăng lên, số vụ đặt vấn đề về tính hợp hiến của chúng cũng tăng lên. Đầu giai đoạn này, quan điểm của Tòa án về việc điều tiết còn nhiều điểm chưa thống nhất, nhưng đến thập niên 1920 thì Tòa án trở nên khá đối nghịch với chính sách điều tiết của chính quyền. Các quy định của liên bang thường bị hủy bỏ trên cơ sở hiến pháp không trao quyền cho Quốc hội, còn các luật bang thường bị loại bỏ vì vi phạm các quyền kinh tế được bảo vệ theo Tu chính án Hiến pháp thứ mười bốn. Từ năm 1937, Tòa án tối cao tập trung vào các vấn đề quyền tự do công dân, đặc biệt là quyền hiến định được tự do ngôn luận và tự do tôn giáo. Ngoài ra, ngày càng có nhiều vụ về quyền tố tụng của bị can hình sự. Cuối cùng, Tòa án đã quyết định rất nhiều vụ về vấn đề chính quyền đối xử công bằng với các nhóm chủng tộc và các nhóm thiệt thòi khác. Tòa án tối cao với tư cách là nhà lập sách Vai trò lập chính sách của Tòa án tối cao xuất phát từ thực tế nó là cơ quan giải thích luật. Các vấn đề chính sách công được đưa ra xét xử trước Tòa dưới hình thức là các tranh chấp pháp lý cần giải quyết. Một ví dụ điển hình là trong lĩnh vực bình đẳng chủng tộc. Cuối thập niên 1880, nhiều bang ban hành các đạo luật yêu cầu chia tách phương tiện công ích riêng cho người Mỹ gốc Phi với người da trắng. Ví dụ, năm 1890, bang Louisiana ban hành một đạo luật bắt buộc phải chia tách các phương tiện đường sắt riêng cho người Mỹ gốc Phi và người da trắng, nhưng vẫn đảm bảo công bằng. Hai năm sau, xuất hiện một sự việc gây nhiều phản đối. Lúc đó, có một người da đen mười tám tuổi là Homer Plessy đã chống lại luật của Louisiana và từ chối không chịu rời khỏi ghế dành cho người da trắng trên một chuyến tàu đi từ New Orleans đến Covington, Louisiana. Khi bị bắt và bị buộc tội đã vi phạm luật của Louisiana, Plessey đã khẳng định đây là đạo luật vi hiến. Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết trong vụ Plessey kiện Ferguson (1896), ủng hộ đạo luật trên. Qua đó, Tòa án đã thiết lập chính sách “chia nhưng vẫn công bằng” tồn tại trong suốt 60 năm. Trong thời gian này, nhiều bang đã quy định các chủng tộc phải ngồi tại các khu vực khác nhau trên xe buýt, tàu hỏa, nhà ga, rạp hát; phải sử dụng các nhà vệ sinh khác nhau, và lấy nước từ các vòi nước khác nhau. Đôi khi người Mỹ gốc Phi không được vào các nhà hàng và thư viện công. Và có lẽ quan trọng nhất là các sinh viên người Mỹ gốc Phi thường phải học ở các trường có chất lượng kém hơn. Việc chia tách chủng tộc trong trường công đã bị phản đối trong một vụ kiện nổi tiếng, đó là vụ Brown kiện Hội đồng giáo dục (1954). Phụ huynh của những trẻ em người Mỹ gốc Phi cho rằng các đạo luật bang bắt buộc hoặc cho phép chia tách đã dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc luật pháp bảo vệ công bằng theo Tu chính án Hiến pháp thứ mười bốn. Tòa án tối cao đã đưa ra phán quyết cho rằng việc chia tách phương tiện giáo dục vốn là một quy định bất công, và do đó việc chia tách là vi phạm quyền bảo vệ công bằng. Trong phán quyết của vụ Brown, Toà đã bác bỏ học thuyết “chia nhưng vẫn công bằng” và thiết lập chính sách giáo dục công không chia tách. Bình quân một năm, Tòa đưa ra quyết định với các ý kiến được ký tên trong khoảng 80–90 vụ. Hàng ngàn vụ khác được thu xếp mà không cần phải xem xét toàn diện. Nhờ đó, Toà đã giải quyết rốt ráo một nhóm các vấn đề chính sách rất chọn lọc, có điều chỉnh trong suốt quá trình lịch sử. Trong một nền dân chủ, nhiều vấn đề chính sách công cần được giải quyết thông qua những đại diện của người dân, chứ không phải những thẩm phán được chỉ định có nhiệm kỳ trọn đời. Do đó, về nguyên tắc, các thẩm phán Hoa Kỳ không nên lập chính sách. Tuy nhiên, trong thực tế, mặc dù không chủ động nhưng các thẩm phán vẫn lập chính sách ở một mức độ nào đó. Nhưng Tòa án tối cao khác các nhà lập chính sách trong ngành hành pháp hoặc lập pháp. Điểm đặc biệt quan trọng là Tòa án không có phương tiện tự khởi xướng. Các thẩm phán phải đợi đến khi vấn đề được đưa ra xét xử trước tòa; sẽ không có việc lập chính sách thông qua tư pháp nếu không có kiện tụng. Tổng thống và các nghị sĩ không gặp phải sự hạn chế đó. Ngoài ra, ngay cả tòa án quyết đoán nhất là Tòa án tối cao cũng bị hạn chế bởi hành động của các nhà lập chính sách khác, như thẩm phán cấp dưới, Quốc hội và Tổng thống. Toà án tối cao phải dựa vào các cơ quan đó thì quyết định của nó mới được thi hành và thực hiện. Tòa án tối cao với tư cách là cơ quan xét xử cuối cùng Tòa án tối cao vừa có thẩm quyền xét xử sơ thẩm lẫn phúc thẩm. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm nghĩa là tòa án có quyền xét xử một vụ việc lần đầu tiên. Thẩm quyền xét xử phúc thẩm nghĩa là một tòa án cấp cao hơn có quyền xem xét lại các vụ việc đã được xét xử ở một tòa án cấp dưới. Tòa án tối cao chủ yếu làm nhiệm vụ phúc thẩm vì phần lớn thời gian của nó được dành để xem xét lại các phán quyết của tòa cấp dưới. Nó là cơ quan xét xử phúc thẩm tối cao ở Hoa Kỳ. Do đó, nó là cơ quan có tiếng nói cuối cùng trong việc giải thích Hiến pháp, các đạo luật của các cơ quan lập pháp và các hiệp ước – trừ khi quyết định của Tòa bị thay đổi thông qua sửa đổi hiến pháp, hoặc trong một số trường hợp là thông qua đạo luật của Quốc hội. Từ năm 1925, xuất hiện một công cụ gọi là “đặc lệnh lấy lên xét xử lại” (certiorari), cho phép Tòa án tối cao được quyền tự quyết định những vụ việc nào nó sẽ xem xét lại. Theo phương pháp này, một người có thể yêu cầu Tòa án tối cao xem xét lại một phán quyết của tòa cấp dưới; và các đại thẩm phán sẽ quyết định xem có đồng ý với yêu cầu đó hay không. Nếu Tòa án tối cao đồng ý xem xét lại, nó sẽ phát “trát đòi lấy lên xét xử lại”, tức là lệnh yêu cầu tòa cấp dưới chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc lên Tòa án tối cao. Nếu yêu cầu đó bị từ chối, quyết định của toà cấp dưới vẫn giữ nguyên giá trị. Thực tế công việc của Tòa án tối cao Một kỳ làm việc chính thức của Toà án tối cao kéo dài từ ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Mười, cho đến khi mọi công việc của năm kết thúc, thường là và o cuố i tháng Sáu hoặc tháng Bảy. Từ năm 1935, Tòa án tối cao có trụ sở riêng ở Washington, D.C; đó là một tòa nhà năm tầng oai nghiêm ố p đá cẩm thạch, trên cửa chính có khắc dòng chữ “Equal Justice Under Law” (“Công lý bình đẳng theo luật pháp”). Tòa nhà này nằm đối diện Đồi Capitol (nơi đóng trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ) qua một con phố. Các phiên chính thức của Tòa án tối cao diễn ra trong một phòng xét xử rộng cỡ 300 chỗ ngồi. Phía trước phòng xét xử là một băng ghế dài để đại thẩm phán ngồi. Khi phiên xét xử diễn ra, Chánh án bước vào qua một tấm phông màu tía phía sau băng ghế và ngồi vào vị trí, tiếp theo là lần lượt các thẩm phán khác. Các ghế thẩm phán được bố trí theo thứ tự thâm niên; Chánh án ngồi ở giữa, tiếp đó là thẩm phán có thâm niên cao nhất ngồi bên phải, thẩm phán tiếp theo ngồi bên trái, và cứ tiếp tục đổi bên như vậy theo thứ tự thâm niên giảm dần. Gần phòng xét xử là phòng nghị án, tại đó các thẩm phán quyết định vụ việc, và các phòng khác là nơi làm việc của thẩm phán và nhân viên tòa án. Mỗi kỳ làm việc của tòa được chia thành các đợt xét xử cứ hai tuần một lần, trong đó có các phiên xét xử công khai và các cuộc họp nội bộ, và các thời gian nghỉ để các thẩm phán làm việc sau những cánh cửa đóng kín trong lúc xem xét vụ việc và viết ý kiến. Trong mỗi kỳ, Tòa án tối cao xét xử rốt ráo khoảng 80–90 vụ, theo một mô hình tương đối đều đặn. Tranh tụng. Các cuộc tranh tụng thường được bố trí từ thứ Hai đến thứ Tư của đợt xét xử. Phiên làm việc kéo dài từ 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa và từ 1 giờ chiều đến 3 giờ chiều. Do đây không phải là thủ tục sơ thẩm nên không có bồi thẩm đoàn, và không gọi nhân chứng. Thay vào đó, luật sư hai bên sẽ đưa ra luận điểm của mình trước các thẩm phán. Tập quán chung là mỗi bên được tranh tụng 30 phút, tuy nhiên, Tòa có thể quyết định cho thêm thời gian. Toà thường nghe tranh tụng bốn vụ trong một ngày. Trong quá trình luật sư đưa ra luận điểm, họ thường bị các thẩm phán cắt ngang để nêu câu hỏi. Tranh tụng là giai đoạn rất quan trọng đối với cả luật sư lẫn thẩm phán vì đây là giai đoạn duy nhất trong trình tự xét xử có sự trao đổi trực tiếp giữa các bên liên quan. Nghị án. Vào các ngày thứ Sáu trước đợt xét xử hai tuần, Tòa án tối cao tổ chức nghị án; và vào chiều thứ Tư và cả ngày thứ Sáu của đợt xét xử, Toà cũng tiếp tục nghị án. Trong cuộc họp ngày thứ Tư, các thẩm phán thảo luận về các vụ việc tranh tụng trong ngày thứ Hai. Còn trong cuộc họp ngày thứ Sáu, họ trao đổi về các vụ việc tranh tụng vào ngày thứ Ba và thứ Tư, cộng thêm các vấn đề khác cần xem xét. Vấn đề quan trọng nhất trong số các vấn đề khác được xem xét là các đơn xin phát “trát đòi lấy lên xét xử lại”. Trước cuộc họp ngày thứ Sáu, mỗi thẩm phán được cung cấp một danh sách các vụ việc sẽ được thảo luận. Cuộc họp bắt đầu khoảng 9 giờ 30 hoặc 10 giờ sáng, và kéo dài đến 5 giờ 30 hoặc 6 giờ chiều. Khi bước vào phòng nghị án, các thẩm phán bắt tay nhau và ngồi vào vị trí quanh một chiếc bàn hình chữ nhật. Cuộc họp được tiến hành sau những cánh cửa đóng kín, và không có bất cứ ghi chép chính thức nào về nội dung thảo luận. Chánh án là người chủ toạ phiên họp và là người đầu tiên đưa ra ý kiến đối với mỗi vụ việc. Các thẩm phán khác lần lượt đưa ra ý kiến theo thứ tự thâm niên. Số thẩm phán tối thiểu để quyết định một vụ việc là sáu người; số lượng tối thiểu này thường được đáp ứng không mấy khó khăn. Và nhiều lúc các vụ việc được quyết định với số lượng thẩm phán ít hơn chín người, do vắng mặt, ốm đau, không tham gia do mâu thuẫn lợi ích. Quyết định của Tòa án tối cao được thông qua theo nguyên tắc đa số. Trong trường hợp hai bên có số phiếu ngang nhau, thì quyết định của tòa cấp dưới được giữ nguyên. Viết ý kiến. Sau khi đạt được quyết định tạm thời tại phiên nghị án, bước tiếp theo là giao việc viết ý kiến cho cá nhân một thẩm phán. Nếu Chánh án bỏ phiếu ở bên đa số, thì ông chính là người viết ý kiến hoặc giao việc đó cho một thẩm phán bên phía đa số. Khi Chánh án bỏ phiếu ở bên thiểu số, thì thẩm phán có thâm niên cao nhất bên phía đa số sẽ viết ý kiến. Sau cuộc họp, thẩm phán chịu trách nhiệm viết ý kiến của Tòa sẽ viết bản dự thảo ban đầu. Các thẩm phán khác có thể viết các ý kiến riêng. Bản ý kiến hoàn chỉnh sẽ được chuyển cho tất cả các thẩm phán ở cả hai nhóm đa số và thiểu số. Người viết dự thảo thường tìm cách thuyết phục các thẩm phán bên phía thiểu số thay đổi quan điểm, và cố gắng giữ nguyên quan điểm của nhóm đa số. Một quá trình thương lượng sẽ diễn ra, và câu chữ của bản ý kiến có thể được thay đổi nhằm thỏa mãn các thẩm phán khác, và được họ ủng hộ. Nếu có sự phân tán trong Tòa, thì sẽ rất khó đạt được một ý kiến thống nhất rõ ràng và thậm chí có thể dẫn đến việc thay đổi kết quả bỏ phiếu hoặc lấy ý kiến của một thẩm phán khác làm phán quyết chính thức của Tòa. Mặc dù ít vụ đạt được đồng thuận, nhưng hầu hết các vụ đều được đa số ủng hộ. Những người không thống nhất với quan điểm của Tòa được gọi là bất đồng. Một người bất đồng không nhất thiết phải viết ý kiến bất đồng ra; tuy nhiên, trong vài năm lại đây, xu hướng viết ý kiến bất đồng trở nên phổ biến. Khi có nhiều thẩm phán bất đồng, họ có thể viết ý kiến riêng hoặc tập hợp nhau lại thành một ý kiến bất đồng chung. Đôi lúc một thẩm phán thống nhất với quyết định của Tòa nhưng có nguyên cớ khác để dẫn đến kết luận đó. Trong trường hợp này, thẩm phán đó sẽ viết một văn bản gọi là ý kiến đồng quy. Một ý kiến được ghi là “đồng quy và bất đồng” nếu nó nhất trí với một phần quyết định của Tòa nhưng không thống nhất với các phần khác. Cuối cùng, đôi lúc Tòa có thể đưa ra một ý kiến “per curiam” (theo tòa án) – tức là một loại ý kiến không ký tên và thường là rất ngắn. Loại ý kiến đó thường được dùng khi Tòa chấp nhận xem xét lại một vụ việc, nhưng không giải quyết triệt để. Ví dụ, Toà có thể quyết định vụ việc mà không cần tranh tụng và đưa ra một bản ý kiến “per curiam” để giải thích cho cách giải quyết vụ việc. TÒA PHÚC THẨM HOA KỲ Các tòa phúc thẩm ít được báo giới chú ý hơn so với Tòa án tối cao, nhưng chúng đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống tư pháp Hoa Kỳ. Do Tòa án tối cao chỉ đưa ra quyết định với ý kiến đầy đủ trong khoảng 80–90 vụ trong một năm, nên rõ ràng các tòa phúc thẩm thường là các tòa cuối cùng giải quyết hầu hết các đơn phúc thẩm trong hệ thống tòa án liên bang. Các tòa lưu động: 1789–1891 Đạo luật tư pháp năm 1789 đã lập nên ba tòa lưu động (tòa phúc thẩm), mỗi tòa bao gồm hai thẩm phán của Tòa án tối cao và một thẩm phán hạt. Thẩm phán hạt trở thành người chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết khối lượng công việc của tòa lưu động. Hai thẩm phán của Tòa án tối cao thường đi đến từng địa phương và tham gia vào các vụ việc. Tập quán này tạo ra đặc điểm thiên về địa phương hơn là quốc gia của tòa lưu động. Ngay từ đầu, hệ thống tòa lưu động đã được coi là không đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là đối với các thẩm phán của Tòa án tối cao, bị buộc phải đi lại quá nhiều. Tổng chưởng lý Edmund Randolph và Tổ ng thống Washington đã thúc giục phải giảm bớt gánh nặng cho các thẩm phán Tòa án tối cao. Quốc hội đã sửa lại đôi chút vào năm 1793, chỉ yêu cầu tòa lưu động phải có một thẩm phán của Tòa án tối cao và một thẩm phán hạt. Vào cuối nhiệm kỳ của Tổng thống John Adam năm 1801, Quốc hội đã bỏ yêu cầu đi lại đối với thẩm phán Tòa án tối cao, và bổ nhiệm 16 thẩm phán lưu động mới, qua đó đã mở rộng rất nhiều thẩm quyền xét xử của các tòa cấp dưới. Nhiệm kỳ của Tổng thố ng Thomas Jefferson tiếp đó đã cực lực phản đối, và Quốc hội đã phải bãi bỏ quyết định này. Đạo luật tòa lưu động năm 1802 đã quay trở lại chế độ lưu động của các thẩm phán Toà án tối cao và tăng số vùng. Tuy nhiên cơ quan lập pháp cho phép tòa lưu động có thể được tổ chức với chỉ một thẩm phán hạt làm chủ tọa. Thay đổi đó trông có vẻ nhỏ nhặt, nhưng thực chất có ý nghĩa rất quan trọng. Các thẩm phán hạt ngày càng chịu trách nhiệm nhiều đối với cả tòa án hạt lẫn tòa lưu động. Thực tế, lúc đó, thẩm quyền xét xử sơ thẩm và phúc thẩm đều nằm trong tay thẩm phán hạt. Phải đến tận năm 1869 mới diễn ra bước phát triển tiếp theo của tòa án phúc thẩm. Khi đó, Quốc hội đã chấp thuận một giải pháp cho phép bổ nhiệm chín thẩm phán lưu động mới và giảm trách nhiệm xét xử lưu động của các thẩm phán Tòa án tối cao, xuống còn một vòng trong hai năm. Tuy nhiên, Tòa này vẫn bị tồn đọng rất nhiều vụ vì không có giới hạn về quyền kháng cáo lên Tòa án tối cao. Tòa phúc thẩm: Từ năm 1891 đến nay Ngày 3 tháng Ba 1891, Đạo luật Evarts đã được ký ban hành, thành lập các tòa án mới với tên gọi là toà phúc thẩm vùng. Các cơ quan xét xử mới thành lập này sẽ xét xử hầu hết các kháng cáo từ tòa án hạt. Tòa lưu động được thành lập từ năm 1789 vẫn tiếp tục tồn tại. Các tòa phúc thẩm vùng mới thành lập bao gồm một thẩm phán lưu động, một thẩm phán tòa phúc thẩm vùng, một thẩm phán hạt và một thẩm phán Tòa án tối cao. Hai thẩm phán là số lượng tối thiểu bắt buộc ở tòa án này. Sau khi thông qua Đạo luật Evarts, tư pháp liên bang có hai cấp sơ thẩm: đó là các tòa án hạt và toà lưu động. Đồng thời cũng có hai cấp phúc thẩm là tòa phúc thẩm vùng và Tòa án tối cao. Mặc dù luật cho phép trong một số trường hợp Toà án tối cao được trực tiếp xem xét lại vụ án, nhưng phần lớn các phiên phúc thẩm quyết định sơ thẩm diễn ra ở tòa phúc thẩm vùng. Tóm lại, việc thành lập các tòa phúc thẩm vùng đã giải tỏa bớt gánh nặng của Tòa án tối cao khỏi các vụ nhỏ lẻ. Kháng cáo kháng nghị vẫn có thể được đưa ra, nhưng Tòa án tối cao đã có quyền kiểm soát lớn hơn đối với khối lượng công việc của nó. Phần lớn khối lượng công việc trước đây của nó có thể được chuyển cho hai cấp xét xử liên bang thấp hơn. Bước phát triển tiếp theo của toà phúc thẩm diễn ra vào năm 1911. Lúc đó, Quốc hội đã thông qua luật loại bỏ các tòa lưu động kiểu cũ, vốn không còn thẩm quyền xét xử phúc thẩm và nhiều lúc bị trùng lặp chức năng với tòa án hạt. Ngày nay, cơ quan xét xử phúc thẩm trung gian được gọi tên chính thức là tòa phúc thẩm, nhưng câu chữ thông tục đôi khi vẫn gọi là toà lưu động. Hiện có 12 tòa phúc thẩm vùng, với 179 thẩm phán tòa phúc thẩm có thẩm quyền. Tòa phúc thẩm chịu trách nhiệm xem xét lại các vụ việc bị kháng cáo kháng nghị từ toà án hạt liên bang (một số vụ việc xuất phát từ cơ quan hành chính) trong phạm vi vùng của nó. Một tòa phúc thẩm chuyên biệt được Quốc hội thành lập năm 1982 là Tòa phúc thẩm khu vực liên bang; đây là một khu vực mang tính tài phán chứ không phải là khu vực địa lý. Chức năng xem xét lại của toà phúc thẩm Hầu hết các vụ việc được tòa phúc thẩm xem xét lại đều bắt đầu từ các tòa án hạt liên bang. Cá c bên nguyên đơn không thỏa mãn với quyết định của tòa cấp dưới có thể kháng cáo lên tòa phúc thẩm vùng có tòa án hạt liên bang đó. Các toà phúc thẩm cũng có quyền xem xét lại quyết định của một số cơ quan hành chính. Do tòa phúc thẩm không thể kiểm soát vụ việc nào sẽ được xét xử theo trình tự phúc thẩm, nên nó phải giải quyết cả những công việc hàng ngày lẫn những việc rất quan trọng. Một đằng là các kháng cáo và kiến nghị nhỏ nhặt, không có ý nghĩa gì hoặc rất ít cơ hội thay đổi bản án. Nhưng mặt khác, cũng có các vụ việc phát sinh những vấn đề lớn về chính sách công và nảy sinh nhiều bất đồng. Quyết định của tòa phúc thẩm trong các vụ đó có nhiều khả năng sẽ tạo lập chính sách chung cho tòa n xã hội, chứ không chỉ những nguyên đơn liên quan. Các vụ việc về quyền tự do công dân, phân chia địa hạt, tôn giáo và giáo dục là những ví dụ điển hình của loại tranh chấp có thể ảnh hưởng đến mọi công dân. Việc xem xét lại của tòa phúc thẩm có hai mục đích. Thứ nhất là sửa lỗi. Thẩm phán vùng thường được kêu gọi đứng ra giám sát hoạt động của các tòa án hạt liên bang và cơ quan hành pháp liên bang, và giám sát việc các cơ quan này áp dụng và diễn giải luật liên bang và bang như thế nào. Để thực hiện nhiệm vụ đó, tòa phúc thẩm không cần tìm kiếm bằng chứng tình tiết mới, mà là kiểm tra ghi chép của toà cấp dưới để tìm lỗi. Trong quá trình sửa lỗi, tòa phúc thẩm cũng đồng thời giải quyết tranh chấp và thực thi luật quốc gia. Chức năng thứ hai là phân loại và phát triển một số ít các vụ việc cần được Tòa án tối cao xem xét lại. Thẩm phán vùng giải quyết các vấn đề pháp lý trước khi đưa lên các thẩm phán Tòa án tối cao, và có thể giúp xếp loại những kiến nghị nào cần được xem xét lại. Các học giả tư pháp nhận thấy rằng thường có sự khác nhau giữa phiên xét xử lần đầu và lần thứ hai trong các vụ được phúc thẩm. Tòa phúc thẩm với tư cách là nhà lập sách Vai trò lập chính sách của Tòa án tối cao xuất phát từ thực tế nó là cơ quan giải thích luật, và đối với toà phúc thẩm cũng tương tự như vậy. Phạm vi lập chính sách của tòa phúc thẩm thậm chí có lẽ còn quan trọng hơn, vì trong phần lớn vụ việc, tòa phúc thẩm là cơ quan xét xử cuối cùng. Để minh họa cho tác động quan trọng của các thẩm phán tòa án vùng, chúng ta hãy xem xét một quyết định của Tòa phúc thẩm vùng số 5. Trong nhiều năm, Trường Luật thuộc Đại học Texas (cũng như nhiều trường luật khác ở Mỹ) đã ưu tiên cho người Mỹ gốc Phi và người Mỹ gốc Mêhicô nhằm tăng số lượng các sinh viên thiểu số. Tập quán này đã bị khiếu kiện tại một tòa án hạt liên bang trên cơ sở là nó đã phân biệt đối xử đối với người da trắng và các nhóm thiểu số không được ưu tiên, vi phạm Tu chính án Hiến pháp thứ mười bốn. Ngày 18 tháng Ba 1996, một cơ quan xét xử gồm các thẩm phán Vùng số 5 đã ra phán quyết trong vụ Hopwood kiện Bang Texas, trong đó nêu rõ Tu chính án Hiến pháp thứ mười bốn không cho phép các trường được phân biệt đối xử như vậy, và trường luật này không được sử dụng chủng tộc làm một yếu tố xét tuyển. Đơn kháng cáo được gửi lên yêu cầu Tòa án tối cao phát đặc lệnh (trát đòi) lấy lên xét xử, nhưng đã bị từ chối. Từ đó phán quyết này đã trở thành luật của các bang Texas, Louisiana và Mississippi (các bang thuộc Vùng số 5). Mặc dù về mặt kỹ thuật, chỉ các trường ở Vùng số 5 bị tác động bởi phán quyết này, nhưng một bài xã luận của Tạp chí luật quốc gia đã cho thấy điều khác hẳn, rằng mặc dù một số người “có thể lý luận rằng phán quyết trong vụ Hopwood chỉ được áp dụng ở ba bang miền Nam…, nhưng thực tế là hiệu trưởng tất cả các trường luật (và các trường khác) trên toàn quốc, do sợ bị kiện tương tự, đã phải tìm các cách khác thay thế cho hành động ưu tiên các nhóm thiểu số”. Thực tế công việc của tòa phúc thẩm Tòa phúc thẩm khác với Tòa án tối cao là chúng không được quyết định vụ nào được xét xử, và vụ nào thì không. Nhưng các thẩm phán vùng cũng đã xây dựng nhiều phương pháp để sử dụng thời giờ của họ một cách hiệu quả nhất. Rà soát sơ bộ. Trong giai đoạn rà soát sơ bộ, thẩm phán quyết định sẽ xem xét phúc thẩm một cách triệt để, hay giải quyết vụ việc theo hình thức khác. Khối lượng án tồn đọng có thể được giảm bớt bằng cách tập hợp các kháng nghị tương tự vào một vụ xét xử chung, và kết quả cũng sẽ là một bản án chung. Để quyết định vụ nào sẽ được giải quyết mà không cần tranh tụng, các tòa án phúc thẩm ngày càng phải dựa nhiều vào thư ký luật hoặc các chưởng lý tham mưu. Những người này đọc đơn từ và tóm tắt lại, sau đó gửi đề xuất lên các thẩm phán. Do đó, nhiều vụ việc được giải quyết mà không thông qua giai đoạn tranh tụng. Cơ quan xét xử gồm ba thẩm phán. Các vụ việc được giải quyết triệt để thường được xem xét bởi một cơ quan xét xử gồm ba thẩm phán, chứ không phải toàn bộ thẩm phán phúc thẩm trong vùng. Tức là nhiều vụ việc có thể được xét xử đồng thời bởi các nhóm ba thẩm phán khác nhau, thường ngồi tại các thành phố khác nhau trong vùng. Thủ tục tố tụng toàn thẩm (En Banc). Đôi lúc, các nhóm thẩm phán khác nhau trong cùng một vùng có thể đưa ra các phán quyết mâu thuẫn trong các vụ tương tự nhau. Để giải quyết mâu thuẫn và tăng cường tính nhất quán trong vùng, luật liên bang quy định thủ tục tố tụng “en banc” (toàn thẩm) (một từ cổ của Pháp, chỉ các ghế ngồi trên cao), trong đó tất cả các thẩm phán phúc thẩm ngồi lại với nhau trong cùng một cơ quan xét xử và quyết định một vụ việc. Ngoại lệ đối với quy tắc này xuất hiện ở Vùng số 9, do ở đây việc tập hợp được tất cả các thẩm phán phúc thẩm là quá khó khăn. Do đó, cơ quan xét xử “en banc” chỉ gồm 11 thẩm phán. Thủ tục tố tụng “en banc” cũng có thể được sử dụng để giải quyết các vụ việc có tầm quan trọng đặc biệt. Tranh tụng. Các vụ việc lọt qua vòng rà soát sơ bộ và chưa được các bên liên quan tự giải quyết thì sẽ được đưa ra tranh tụng. Luật sư của mỗi bên chỉ được cho phép một thời lượng ngắn (có thể chỉ khoảng 10 phút); trong thời gian đó họ sẽ trao đổi về các điểm nêu trong văn bản tóm lược của mình, và phải trả lời các câu hỏi của thẩm phán. Phán quyết. Sau giai đoạn tranh tụng, các thẩm phán có thể nghị án trong một thời gian ngắn, và nếu thống nhất được, họ sẽ công bố phán quyết ngay lậ p tức. Nếu không, phán quyết sẽ được đưa ra sau khi kéo dài thời gian nghị án. Sau khi nghị án, một số quyết định sẽ được công bố, kèm theo một lệnh ngắn hoặc văn bản ý kiến không ký tên của tòa. Một số ít phán quyết được đưa ra kèm theo các ý kiến dài hơn, được các thẩm phán ký tên, hay thậm chí là các ý kiến bất đồng và đồng quy. Dù tập tục tòa phúc thẩm ở các vùng là khác nhau, nhưng gần đây có xu hướng chung là giảm bớt số lượng các ý kiến được lập thành văn bản và công khai hóa. TÒA ÁN HẠT HOA KỲ Tòa án hạt Hoa Kỳ là đơn vị nhỏ nhất của hệ thống tư pháp liên bang. Mặc dù một số vụ việc được kháng cáo kháng nghị lên tòa phúc thẩm hay thậm chí là Toà án tối cao, nhưng hầu hết các vụ án liên bang đều chỉ được xét xử ở các tòa sơ thẩm Hoa Kỳ. Nếu xét về mặt số lượng tuyệt đối các vụ được xét xử, thì tòa án hạt là những con ngựa thồ của ngành tư pháp liên bang. Nhưng tầm quan trọng của nó không chỉ đơn thuần là số vụ được xét xử. Các tòa án hạt đầu tiên Trong Đạo luật tư pháp năm 1789, Quốc hội đã quyết định thành lập một mạng lưới các tòa sơ thẩm liên bang. Mục 2 của luật này đã lập nên 13 tòa án hạt, trong đó quy định mỗi trong số 11 bang lúc đó trong Liên minh là một hạt, một phần của Massachusetts và Virginia sau này trở thành Maine và Kentucky mỗi nơi là một hạt. Cơ chế tổ chức này đã tạo lập tập quán vẫn duy trì đến ngày nay, đó là phân chia địa giới tòa án hạt theo ranh giới bang. Các thẩm phán hạt đầu tiên Mỗi tòa án hạt liên bang có một thẩm phán sống ở hạt đó. Ngay khi thông tin này được đưa ra, Tổng thống Washington bắt đầu nhận được thư từ của nhiều người xin được bổ nhiệm. Nhiều người đề nghị các nghị sĩ và Phó tổng thống John Adams đề cử với Tổng thống Washington. Nhưng ứng cử cá nhân không hẳn đã thành công và đó không phải là cách duy nhất để được Tổng thống chú ý. Ví dụ như Harry Innes, người không ứng cử và o vị trí thẩm phán Kentucky, nhưng đã được bổ nhiệm sau khi được một nghị sĩ bang này đề cử. Khi các bang mới gia nhập Liên minh, các tòa án hạt mới được thành lập. Tổng số người bổ sung cộng với thay thế được Washington bổ nhiệm là 33 người. Tất cả các thẩm phán được bổ nhiệm đều là thành viên của đoàn luật sư. Trừ bảy người, còn lại tất cả thẩm phán đều có kinh nghiệm làm việc ở bang hoặc địa phương với tư cách là thẩm phán, công tố hoặc chưởng lý. Các tổng thống sau này vẫn tiếp tục bổ nhiệm các luật sư có kinh nghiệm trong hoạt động dịch vụ công làm thẩm phán liên bang. Tổ chức hiện nay của tòa án hạt Trong quá trình phát triển của đất nướ c, nhiều tòa án hạt được thành lậ p. Và Quốc hội bắt đầu chia các bang thành nhiều hạt. Các bang California, New York, và Texas có bốn hạt mỗi bang, nhiều nhất so với các bang khác. Tổ chức khu vực hạt không còn theo đường ranh giới bang, mà việc chia hạt hầu như không theo một cơ sở nào cả. Diện tích và số dân của các hạt rất khác nhau. Qua nhiều năm, một tòa án hạt đã được thành lập cho Hạt Columbia, và một số khu vực lãnh thổ đã có tòa án hạ t riêng. Hiện có đủ tòa án hạt ở 50 bang, Hạt Columbia, Guam, Puerto Rico, Quần đảo Virgin và Quần đảo Bắc Mariana. Ban đầu, mỗi tòa án hạt chỉ có một thẩm phán. Nhưng khi số dân và số vụ việc tăng lên, Quốc hội thường bổ sung thẩm phán cho hầu hết các hạt. Đạo luật thẩm phán liên bang năm 1990 đẻ ra thêm 74 vị trí thẩm phán hạt, đưa tổng số thẩm phán hạt lên 649 người. Ngày nay, tất cả các hạt đều có hơn một thẩm phán; Hạt phía Nam New York, bao gồm Manhattan và Bronx, hiện có 28 thẩm phán, và là hạt có đông thẩm phán nhất. Vì mỗi phiên xét xử của tòa án hạt liên bang thường do một thẩm phán điều khiển, nên tại một thời điểm có thể có nhiều vụ việc được xét xử đồng thời trong phạm vi một hạt. Tòa án hạt với tư cách là tòa án sơ thẩm Quốc hội đã xây dựng tòa án hạt làm cơ quan xét xử sơ thẩm của hệ thống tư pháp liên bang, và trao quyền tài phán sơ khởi cho chúng trong gần như tất cả các vụ việc. Tòa án hạt là tòa án liên bang duy nhất trong đó luật sư được làm việc và đối chất giữa những người làm chứng. Do đó, các ghi chép tình tiết được thực hiện tại giai đoạn này. Quá trình phúc thẩm chỉ tập trung vào việc sửa lỗi chứ không phải xây dựng lại tình tiết. Nhiệm vụ xác định tình tiết vụ việc thuộc về bồi thẩm đoàn, bao gồm một nhóm công dân của cộng đồng, đóng vai trò làm người phân xử không thiên vị, và áp dụng luật cho tình tiết đó. Hiến pháp bảo vệ quyền của bồi thẩm trong các vụ hình sự theo Tu chính án Hiến pháp thứ sáu, và trong các vụ dân sự theo Tu chính án Hiến pháp thứ bảy. Tuy nhiên, quyền đó có thể bị từ chối, và trong trường hợp đó, thẩm phán sẽ trở thành người phân xử cả về tình tiết lẫn các vấn đề luật pháp. Trường hợp này gọi là thẩm phán sơ thẩm (bench trial). Có hai loại bồi thẩm đi kèm với tòa án hạt liên bang. Đại bồi thẩm đoàn là một nhóm nam giới và nữ giới họp lại để xác định xem có thể có cơ sở tin rằng một người bị truy tố có phạm tội liên bang hay không. Các đại bồi thẩm họp định kỳ để nghe những lời buộc tội do chưởng lý Hoa Kỳ đưa ra. Ngược lại, tiểu bồi thẩm được chọn ngẫu nhiên trong cộng đồng để nghe các bằng chứng, và quyết định xem một người bị kiện trong một vụ sơ thẩm dân sự có phải chịu trách nhiệm pháp lý hay không, hoặc một bị can trong một vụ sơ thẩm hình sự có tội hay không có tội. Quy tắc liên bang yêu cầu trong các vụ hình sự phải có 12 bồi thẩm, nhưng số lượng bồi thẩm trong các vụ dân sự thường ít hơn. Các tòa án hạt liên bang thường có bồi thẩm đoàn sáu người trong các vụ dân sự. Tòa án sơ thẩm được coi là tham gia chủ yếu vào việc cưỡng chế quy phạm, trong khi các tòa phúc thẩm được coi là có nhiều cơ hội trong việc lập chính sách. Cưỡng chế quy phạm gắn chặt với việc thực thi công lý, vì tất cả các nước đều phát triển các chuẩn mực căn bản để đạt được một xã hội công bằng và trật tự. Quy phạm xã hội được đưa vào trong các đạo luật, quy định hành pháp, tiền lệ án và truyền thống cộng đồng. Ví dụ, luật hình sự quy định thành luật các khái niệm về hành vi có thể chấp nhận và không thể chấp nhận. Một thẩm phán quyết định một vụ việc buộc tội vi phạm pháp luật tức là đã cưỡng chế quy phạm. Do các vụ việc loại này hiếm khi cho phép thẩm phán được vượt quá các giới hạn nghiêm khắc của yêu cầu pháp luật và yêu cầu thủ tục, nên các thẩm phán ít có cơ hội được tạo ra các quy định luật mới hoặc xây dựng chính sách mới. Trong các vụ dân sự cũng vậy, thẩm phán thường bị giới hạn trong việc cưỡng chế quy phạm, vì các vụ kiện thường phát sinh từ tranh chấp cá nhân, và hậu quả của nó chỉ liên quan đến các bên tham tụng. Tuy nhiên, tòa án hạt cũng đóng vai trò nhất định trong việc lập chính sách. Do người Mỹ ngày càng thiên về kiện tụng, nên những tranh chấp trước đây thường được giải quyết không chính thức thì nay lại được quyết định ở tòa án. Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với tòa án hạt liên bang? Theo một nghiên cứu, “Những lĩnh vực mới có sự tham gia của tư pháp thường không có hướng dẫn rõ ràng và chính xác của tòa án cấp trên cũng như của ngành lập pháp; và kết quả là tạo cơ hội cho bồi thẩm tòa sơ thẩm có thể viết ra những nội dung mới, tức là đóng vai trò lập chính sách”. TÒA ÁN HIẾN ĐỊNH VÀ TÒA ÁN LUẬT ĐỊNH Đạo luật tư pháp năm 1789 thiết lập ba cấp trong hệ thống tòa án liên bang tồn tại đế n ngày nay. Tuy nhiên, thỉnh thoảng Quốc hội thự c thi thẩm quyền của mình dựa trên Điều I và Điều III của Hiến pháp, và lập nên các tòa án liên bang khác. Các tòa án được thiết lập theo Điều III được gọi là tòa án hiến định, còn các tòa án được lập theo Điều I được gọi là tòa án luật định. Tòa án tối cao, tòa phúc thẩm, tòa án hạt liên bang là tòa hiến định. Tòa luật định bao gồm Tòa phúc thẩm quân sự Hoa Kỳ, Tòa án thuế Hoa Kỳ và Tòa phúc thẩm cựu chiến binh. Không giống như tòa hiến định, các tòa luật định ngoài nhiệm vụ tư pháp còn có nhiệm vụ hành pháp và bán lập pháp. Một điểm khác nữa là KHÁI QUÁT HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HOA KỲ 48 tòa án luật định thường được lập nên nhằm mục đích công khai là giúp quản lý một đạo luật cụ thể của Quốc hội. Còn các tòa hiến định là các cơ quan xét xử, được thiết lập để giải quyết kiện tụng. Cuối cùng, mức độ độc lập của tòa án hiến định và luật định với hai ngành khác của chính quyền là khác nhau. Các thẩm phán theo Điều III (tòa hiến định) được phục vụ trong suốt giai đoạn năng lực hành vi còn tốt, tức là gần như suốt đời. Do các thẩm phán theo Điều I (tòa luật định) không được Hiến pháp bảo đảm về giai đoạn năng lực hành vi còn tốt, nên Quốc hội quy định nhiệm kỳ cụ thể. Tóm lại, tòa hiến định có mức độ độc lập đối với hai ngành khác của chính quyền cao hơn so với tòa luật định. HỖ TRỢ HÀNH CHÍNH VÀ NHÂN SỰ TRONG HỆ THỐNG TƯ PHÁP LIÊN BANG Mặc dù thẩm phán là người nổi bật nhất trong hệ thống tư pháp, nhưng phía sau họ có một đội ngũ hỗ trợ đông đảo. Công sức của họ nhằm thực hiện các nhiệm vụ mà thẩm phán không có khả năng, hoặc không phù hợp để thực hiện, hoặc đơn giản là vì họ không đủ thời gian. Một số thành viên đội ngũ hỗ trợ, như thư ký luật, có thể làm việc riêng cho một thẩm phán. Nhưng cũng có những người khác, như thẩm phán hòa giải và tiểu hình Hoa Kỳ, được phân công làm việc cho một tòa án cụ thể. Ngoài ra còn có các cán bộ của cơ quan hành chính, như Văn phòng hành chính các tòa án Hoa Kỳ, phục vụ toàn bộ hệ thống tư pháp. Thẩm phán hòa giải và tiểu hình Hoa Kỳ Để cố gắng hỗ trợ khối lượng công việc của các thẩm phán hạt liên bang, năm 1968, Quốc hội đã thành lập một hệ thống thẩm phán hòa giải và tiểu hình để phục vụ nhu cầu và tình hình cụ thể của mỗi tòa án hạt. Thẩm phán hòa giải và tiểu hình được thẩm phán tòa án hạt bổ nhiệm theo nhiệm kỳ tám năm, mặc dù họ có thể bị bãi nhiệm trước khi hết nhiệ m kỳ “nế u có lý do chính đáng”. Trong phạm vi hướng dẫn của Quốc hội, các thẩm phán tại mỗi tòa án hạt được quyền quy định nhiệm vụ và trách nhiệm cho các thẩm phán hòa giải và tiểu hình. Cơ quan lập pháp cho phép nếu được sự đồng thuận củ a các bên liên quan, thẩm phán hòa giải và tiểu hình được thực hiện tất cả các thủ tục trong các vụ dân sự có hoặc không có bồi thẩm, và đưa ra phán quyết, cũng như được tiến hành xét xử những người bị buộc tội tiểu hình (ít nghiêm trọng) trong phạm vi hạt đó, với điều kiện phải được bị cáo đồng ý. Tuy nhiên, do quyền quyết định ủy quyền trách nhiệm cho thẩm phán hòa giải và tiểu hình vẫn thuộc thẩm phán hạt, nên sự tham gia của thẩm phán hòa giải và tiểu hình vào việc giải quyết các vụ việc vẫn còn nhiều hạn hẹp so với phạm vi được luật cho phép. Thư ký luật Người được coi là đã sử dụng thư ký luật đầu tiên ở Hoa Kỳ là Thẩm phán Horace Gray của bang Massachusetts. Vào mùa hè năm 1875, khi còn làm chánh án ở Tòa án tối cao Massachusetts, ông đã tự bỏ tiền thuê một sinh viên tốt nghiệp xuất sắc của Trường Luật Harvard. Mỗi năm, ông thuê thêm một thư ký mới từ Trường Harvard, và đến khi ông được bổ nhiệm vào Tòa án tối cao Hoa Kỳ năm 1882, ông đã đưa một thư ký luật đi cùng lên làm việc ở tòa án tối cao của quốc gia. Người kế nhiệm Thẩm phán Gray ở Tòa án tối cao là Oliver Wendell Holmes đã tiếp tụ c áp dụng tập quán hàng năm thuê thêm một sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ở Trường Luật Harvard làm thư ký củ a mình. Khi William Howard Taft, cựu giảng viên luật ở Trường Yale, trở thành chánh án, hàng năm ông thuê thêm một thư ký luật của hiệu trưởng Trường Luậ t Yale. Harlan Fiske Stone, cựu hiệu trưởng Trường Luật Columbia, sau khi được bổ nhiệm vào Tòa án tối cao năm 1925 đã duy trì tập quán mỗi năm thuê một sinh viên tốt nghiệp Columbia làm thư ký luật. Từ những tập quán này, đã có sự gia tăng ổn định số lượng thư ký luật ở tất cả các tòa án liên bang. Hiện có hơn 2.000 thư ký luật làm việc cho các thẩm phán liên bang, và hơn 600 người phục vụ các thẩm phán xử phá sản và thẩm phán hòa giải và tiểu hình Hoa Kỳ. Ngoài số lượng thư ký luật được từng thẩm phán thuê riêng, tất cả các tòa án phúc thẩm và một số tòa án hạt còn thuê thư ký luật chuyên nghiệp để phục vụ cho cả tòa án. Nhiệm vụ của thư ký luật rất khác nhau, tùy mức độ ưu ái của thẩm phán mà họ đang phục vụ. Điều này cũng khác nhau giữa các loại tòa án khác nhau. Thư ký luật cho các thẩm phán hạt liên bang thường làm nhiệm vụ chủ yếu như một trợ lý nghiên cứu. Họ dành phần lớn thời gian xem xét các kiến nghị trong các vụ án dân sự và hình sự. Đối với mỗi kiến nghị, họ xem xét và lưu ý các vấn đề và địa vị của các bên liên quan, sau đó nghiên cứu các điểm quan trọng phát sinh từ những kiến nghị đó và chuẩn bị báo cáo cho thẩm phán. Vì công việc của họ liên quan đến giai đoạn đầu tiên của quá trình xét xử, họ có nhiều mối liên hệ với luật sư và người làm chứng. Thư ký luật ở cấp này có thể tham gia vào việc dự thảo ý kiến ban đầu của tòa thẩm phán. Ở cấp phúc thẩm, đầu tiên thư ký luật tham gia vụ việc với nhiệm vụ nghiên cứu các vấn đề luật pháp và tình tiết thể hiện trong kháng cáo kháng nghị. Tòa phúc thẩm không có quyền được chấp nhận xét xử hay không xét xử một vụ việc như Tòa án tối cao, nên nó sử dụng một số công cụ sơ kiểm để phân loại các vụ việc có thể giải quyết nhanh chóng, với những vụ việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn. Thư ký luật là một phần của quá trình sơ kiểm này. Một số vụ được tổ chức tranh tụng, và thư ký được gọi lên hỗ trợ thẩm phán chuẩn bị. Nếu buộc thẩm phán phải phân tích rất nhiều tài liệu trước buổi tranh tụng thì họ sẽ rất vất vả. Họ chỉ có đủ thời gian xem qua những phần quan trọng nhất của các bản ghi do thư ký luật đưa lên. Khi một quyết định được tòa phúc thẩm thông qua, thư ký luật thường tham gia vào việc viết lệnh đi kèm với phán quyết. Thư ký thường tham gia dự thảo ý kiến ban đầu hoặc lệnh theo chỉ dẫn của thẩm phán. Thư ký luật cũng có thể được yêu cầu chỉnh sửa hoặc kiểm tra dẫn chứng (viện dẫn một đạo luật, một vụ án đã xét xử trước đó, hoặc cẩm nang pháp lý, dưới hình thức tóm lược hoặc một luận điểm trước tòa) trong bản ý kiến của thẩm phán. Công việc của thư ký luật cho các thẩm phán ở Tòa án tối cao cũng gần giống công việc của thư ký ở các tòa phúc thẩm khác. Thư ký đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ các đại thẩm phán quyết định xem vụ nào sẽ đem ra xét xử. Theo đề nghị của Thẩm phán Lewis F. Powell (con), năm 1972, đa số các thành viên của Tòa bắt đầu tham gia vào một nhóm gọi là “certpool” (“nhóm xem xét đặc lệnh lấy lên xét xử”); các thẩm phán tập hợp các thư ký của mình lại, chia tất cả các tài liệu, và chuyển bản nhận xét về đặc lệnh lấy lên xét xử của từng thư ký cho tất cả những người trong nhóm. Bản nhận xét tổng hợp tình tiết của vụ việc, các vấn đề luật pháp được đưa ra và đề xuất các hành động – tức là có nên xét xử triệt để hay không, hay là từ chối hoặc loại bỏ. Khi các thẩm phán bỏ phiếu đồng ý xét xử vụ việc, các thư ký luật cũng như các thư ký ở tòa phúc thẩm sẽ chuẩn bị ý kiến để các thẩm phán sử dụng trong quá trình tranh tụng. Cuối cùng, thư ký luật cho các thẩm phán Tòa án tối cao, cũng giống như các thư ký ở tòa phúc thẩm, sẽ giúp soạn thảo ý kiến. Văn phòng hành chính của các tòa án Hoa Kỳ Công tác hành chính của toàn bộ hệ thống tư pháp liên bang do Văn phòng hành chính của các tòa án Hoa Kỳ quản lý. Từ khi thành lập năm 1939, văn phòng này đã giải quyết tất cả các việc từ cung cấp trang thiết bị đến thương thảo với các cơ quan nhà nước khác để tiếp quản nơi làm việc cho tòa án trong các tòa nhà liên bang, lưu giữ hồ sơ nhân sự tư pháp và thu thập dữ liệu về các vụ việc được xem xét ở tòa liên bang. Văn phòng hà nh chính cũng phục vụ cho Diễn đàn tư pháp của Hoa Kỳ, là tổ chức lập chính sách hành chính trung tâm của hệ thống tư pháp liên bang. Ngoài việc cung cấp số liệu thống kê cho nhiều ủy ban của Diễn đàn, Văn phòng hành chính còn đóng vai trò làm trung tâm tiếp nhận và trung chuyển cho các thông tin và kiến nghị đưa ra Diễn đàn tư pháp. Văn phòng còn làm nhiệm vụ liên lạc cho cả hệ thống tư pháp liên bang và Diễn đàn tư pháp, làm cơ quan hậu thuẫn cho ngành tư pháp trong các vấn đề liên quan đến Quốc hội, ngành hành pháp, các nhóm nghề nghiệp và công chúng nói chung. Đặc biệt quan trọng là vai trò đại diện trước Quốc hội, tại đó, văn phòng phối hợp với các thẩm phán liên quan sẽ đưa ra đề xuất ngân sách, bổ sung thẩm phán, kiến nghị thay đổi thủ tục tòa án và các biện pháp chủ chốt khác. Trung tâm tư pháp liên bang Trung tâm tư pháp liên bang được thành lập năm 1967 là cơ quan của các tòa án liên bang phục vụ công tác đào tạo liên tục và nghiên cứu. Nói chung, Trung tâm có ba nhóm nhiệm vụ: triển khai nghiên cứu về các tòa án liên bang, đề xuất cải thiện công tác quản lý hành chính của các tòa án liên bang, và xây dựng các chương trình giáo dục đào tạo cho cán bộ trong ngành tư pháp. Từ ngày đầu thành lập, các thẩm phán đã được dự các bài giảng định hướng và các chương trình đào tạo khác do Trung tâm tư pháp liên bang tiến hành. Trong những năm gần đây, các thẩm phán hòa giải và tiểu hình, các thẩm phán về phá sản và cán bộ hành chính cũng được tham dự các chương trình đào tạo. Do sử dụng nhiều công nghệ hình ảnh và vệ tinh, nên Trung tâm tư pháp liên bang có khả năng tiếp cận đến rất nhiều người. KHỐI LƯỢNG CÔNG VIỆC CỦA TÒA ÁN LIÊN BANG Khối lượng công việc của các tòa á n liên bang ở cả ba cấp – tòa án hạt, tòa phúc thẩm và Tòa án tối cao Hoa Kỳ – đều rất nặng nề. Trong năm tài khóa 2002, có khoảng hơn 340.000 vụ được khởi kiệ n ở tòa án hạt liên bang. Riêng số vụ hình sự đã tăng 43% tính từ năm 1993. Năm 1995 đã có 50.072 vụ phúc thẩm ở một tòa án phúc thẩm khu vực. Con số này tăng hàng năm, lên đến mức 60.847 vụ năm 2003. Tuy nhiên, số vụ được tòa phúc thẩm giải quyết dứt điểm cũng tăng đều, từ 49.805 vụ năm 1995 lên đế n 56.586 vụ năm 2002. Tổng khối lượng công việc của Tòa án tối cao phần lớn được tính theo tiêu chuẩn lịch sử; đã có 8.255 vụ được đặt lên bàn xem xét của Tòa án tối cao trong kỳ làm việc năm 2002. Tuy nhiên, Tòa án tối cao được quyền quyết định vụ việc nào sẽ được nó giải quyết triệt để. Do đó, số vụ đượ c tranh tụng trước Tòa giả m khá nhiề u qua các năm. Trong kỳ làm việc năm 2002, chỉ có 84 vụ được tranh tụng và 79 vụ được giải quyết với 71 bản ý kiến được ký tên. |
|||||
=====================================
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Comments Off on CHÍNH PHỦ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
TRẦN MINH QUANG
Để tìm hiểu đặc trưng ứng xử của con người trong đời sống kinh doanh nói riêng hay đời sống xã hội nói chung của một cộng đồng hay một xã hội nào đó, thì có lẽ một trong những lối tiếp cận có triển vọng là tìm hiểu xem cộng đồng hay xã hội ấy quan niệm thế nào về đồng tiền. Trong xã hội hiện nay, với tư cách là một phương tiện đo lường, tích luỹ và trao đổi, đồng tiền đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội và các mối quan hệ giữa con người với nhau.
Trong khuôn khổ bài viết này, tiền tệ và các quan hệ tiền tệ được hiểu không phải với tư cách là một sự kiện kinh tế xét về mặt kinh tế học, mà là một sự kiện xã hội-kinh tế-văn hóa tổng thể xét về mặt xã hội học.[1] Cái nhìn của con người về đồng tiền và về các quan hệ tiền tệ có thể biểu hiện những đặc trưng của một nhân sinh quan lẫn của cả một hệ thống xã hội. Bài này thử khảo sát quan niệm về đồng tiền của người Việt Nam, nhằm qua đó góp phần giải thích định kiến tiêu cực đối với đồng tiền, đối với kinh doanh cũng như đối với thị trường vốn có nơi xã hội Việt Nam.
Quan niệm về đồng tiền
Người Việt Nam có cái nhìn thế nào về đồng tiền? Nói chung cho đến nay người Việt Nam chúng ta có một đặc điểm dễ thấy là thường ngại nói chuyện tiền bạc. Lẽ tất nhiên không kể những lúc giao dịch làm ăn buôn bán, còn trong những quan hệ riêng tư hàng ngày, mỗi khi cần bàn đến tiền nong, người ta thường tỏ ra khá ngại ngùng, lúng túng, và luôn phải rào trước đón sau rồi mới nói chứ ít ai dám nói ngay và đề cập thẳng đến chuyện tiền. Quan hệ gia đình thân thuộc, quan hệ thầy trò, hay quan hệ bằng hữu được coi là những quan hệ tình nghĩa, và vì thế ở đó không có chỗ cho chuyện tiền bạc; đụng đến tiền bạc ở đây là điều hết sức tế nhị và đôi khi gần như cấm kỵ vì dễ chạm đến tự ái, xúc phạm đến sĩ diện, danh dự. Người ta thường e ngại nghĩ rằng một khi đã đặt vấn đề “tiền” ra với nhau thì có nguy cơ sứt mẻ tình cảm và e khó nhìn lại mặt nhau!
Khi nói ai làm điều gì đó “vì tiền” hay “chỉ biết có tiền”, người ta thường có ý nói rằng người đó chẳng còn màng gì tới nhân nghĩa. Người ta cũng hay coi thái độ “sòng phẳng” về tiền bạc là hành vi trơ trẽn, và đặc biệt là không thể chấp nhận trong những mối liên hệ thầy trò, cha con, vợ chồng hay bạn bè; nói “tiền trao cháo múc” là để phê phán trong những trường hợp này. Chuyện tính toán tiền nong thường được coi là chuyện tầm thường, có cái gì đó không xứng đáng, không thanh nhã, cao thượng. Trong những mối quan hệ mang tính chất tình cảm, người ta coi thái độ “tính toán”, nhất là tính toán tiền bạc hay vật chất, là điều phải tránh. Vì thế, khi nói ông A hay bà B là người “hay tính toán” thì rõ ràng hàm ý chê bai và trách móc.
Nói tóm lại, tiền bạc thường được coi là không đi đôi với tình nghĩa. Thậm chí có những trường hợp đối lập với nhân nghĩa và đạo lý, đến mức mà người ta nghĩ rằng tiền bạc có thể là căn nguyên dẫn đến tội lỗi. Chúng ta có thể tìm được không ít bằng chứng minh hoạ cho quan niệm “trọng nghĩa khinh tài” này trong các tác phẩm văn chương, thi phú, tuồng chèo… trong quá khứ cũng như trên sách vở và báo chí hiện nay, kể cả qua nhiều cuộc hội thảo và diễn văn.
Qua phản ánh trên báo chí, chúng ta thấy người ta thường gán nguyên nhân của các hành vi tham nhũng và phạm pháp là do mù quáng “chạy theo đồng tiền”, bị “mờ mắt” vì đồng tiền. Nạn chạy chọt, lo lót, vòi vĩnh, mãi lộ, cũng như nạn mua quan bán tước, phần lớn đều được coi là do mãnh lực và sự “cám dỗ” của đồng tiền “tác oai tác quái”. Người ta nói “nén bạc đâm toạc tờ giấy”. Người ta nhìn đồng tiền gần như thể tự nó là một sức mạnh, là một ma lực có thể làm cho nhiều cán bộ bị tha hoá, biến chất, hư hỏng, làm xói mòn và phá hoại nền tảng đạo đức và truyền thống của dân tộc…[2] Có tờ báo còn mở ra một mục diễn đàn lấy tên là “Giữa vòng xoáy đồng tiền”[3].
Điều đáng chú ý là cái nhìn về đồng tiền ấy thường được đi kèm bởi định kiến về lợi nhuận[4], về chuyện kinh doanh, buôn bán cũng như định kiến về thị trường – mặc dù nhiều năm đã trôi qua kể từ khi có chính sách đổi mới và thoát ra khỏi thời kỳ quan liêu bao cấp. Người ta thường giải thích nguyên do của tình trạng tham ô hay phạm pháp hiện nay là do “mặt trái của cơ chế thị trường”, do xu hướng thực dụng “chạy theo lợi nhuận”, do xu hướng “thương mại hoá”[5]…
Theo một cuộc điều tra nơi dân cư thành phố Hồ Chí Minh mà chúng tôi tiến hành vào năm 2003, có đến 51% trong mẫu điều tra đồng ý với mệnh đề cho rằng “đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”, 36% đồng ý rằng “sống theo nhân nghĩa thì khó mà làm giầu được”, và 32% đồng ý rằng “người kinh doanh là người chỉ biết chạy theo đồng tiền”[6].
Từ đâu mà lại có quan niệm mang tính chất đạo đức về đồng tiền và về thị trường như vậy?
Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo
Theo tư tưởng Nho giáo phong kiến thời xưa, tam cương (bao gồm các quan hệ vua tôi, cha con, và vợ chồng) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) chính là giềng mối của toàn xã hội. Khổng Tử coi chữ “nhân” là quan trọng nhất, về sau Mạnh Tử đưa thêm vào đó chữ “nghĩa”. Với quan niệm nhân nghĩa này, tư tưởng Nho giáo có đặc điểm là nhấn mạnh lên hàng đầu lĩnh vực đạo đức, và xem nhẹ lĩnh vực luật pháp, coi trọng nhân trị hay đức trị hơn là pháp trị.[7]
Quan niệm đạo đức dựa trên căn bản nhân nghĩa trong Nho giáo cho rằng người quân tử không được “mưu lợi”, vì khái niệm “lợi” là một thứ đặc biệt bị tẩy chay trong hệ thống tư tưởng này. Giáo sư Cao Xuân Huy phân tích như sau: “Xã hội phong kiến Trung Quốc và Việt Nam… còn bảo lưu nhiều tàn tích thị tộc và tông pháp, do đó… càng chèn ép cá nhân, ngăn cản sự phát triển ý thức cá nhân… Quyền lợi tinh thần hay vật chất của cá nhân đều bị hạn chế gắt gao… Vì vậy nếu chữ lợi là một vật húy kỵ đối với Nho gia, thì cũng là đương nhiên mà thôi… Trong Nho giáo, ‘nhân nghĩa’ và ‘lợi’ là những phạm trù không thể lưỡng lập, mà bài trừ lẫn nhau một cách tuyệt đối”.[8]
Mạnh Tử từng nói rằng “Vi nhân bất phú, vi phú bất nhân”, nghĩa là muốn giữ đức nhân thì đừng ham giàu, mà hễ làm giàu thì coi như bỏ đức nhân. Cái nhìn coi khinh đồng tiền chính là một thái độ điển hình phản ánh cái quan niệm coi khinh chữ “lợi” trong đạo đức Nho giáo.[9]
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng thái độ thành kiến này không phải chỉ xuất phát từ tư tưởng Nho giáo, mà đã có sẵn mầm mống hình thành từ ngay trong lòng một xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc cổ truyền. Đây chính là cơ sở kinh tế-xã hội sâu xa của quan niệm coi khinh tiền bạc và chữ lợi.
Căn nguyên từ cơ sở kinh tế-xã hội
Đối với những tác giả cổ điển trong lĩnh vực khoa học xã hội như Karl Marx, Max Weber hay Georg Simmel, đồng tiền được nhìn nhận như một trong những nhân tố nổi bật trong quá trình lý tính hóa và hiện đại hóa xã hội, đặc biệt là trong khuôn khổ phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Mặc dù tiền tệ đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử, nhưng theo Karl Marx và Friedrich Engels, quyền lực của tiền tệ chỉ thực sự bắt đầu lớn mạnh kể từ khi ra đời giai cấp thương nhân trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Marx gọi tiền tệ là “tồn tại vật chất của của cải trừu tượng”,[10] là “cái cấu thành tiền đề cho xã hội tư sản hiện đại”.[11] Thế lực của đồng tiền giống như “cái bùa”, theo cách nói của Engels, cái bùa này có thể hóa phép thành mọi thứ mà người ta muốn, “hễ ai có cái bùa đó là chi phối được thế giới sản xuất”, và người có cái bùa đó trước tiên chính là thương nhân.[12]
Marx coi đồng tiền là sợi dây ràng buộc con người với xã hội, là “sợi dây của mọi sợi dây”, nó là “phương tiện phổ biến để chia rẽ” xã hội, nhưng đồng thời nó cũng là “phương tiện liên hợp thật sự, [nó] là lực lượng hoá học [phổ biến] của xã hội”[13] (những chỗ nhấn mạnh là do Marx). Marx cho rằng tiền có thuộc tính là “vạn năng”, nó “có thể mua được tất cả, có thể chiếm hữu mọi vật, [nó] là vật coi như là sự chiếm hữu tối cao.”[14]
Marx phân tích ý nghĩa triết học và xã hội học của đồng tiền như sau: “Cái, nhờ có tiền, mà tồn tại đối với tôi, cái mà tôi có thể trả tiền, nghĩa là cái mà tiền có thể mua được, bản thân tôi là cái ấy, tôi, người sở hữu tiền. Sức mạnh của tôi cũng lớn như sức mạnh của tiền. (…) Cho nên tôi là gì và tôi có thể làm gì, điều đó hoàn toàn không phải là do cá tính của tôi quy định. Tôi là người xấu xí, nhưng tôi có thể mua cho tôi một người vợ tuyệt đẹp. Do đó tôi không xấu, vì tác dụng của sự xấu xí, sức mạnh đáng ghê tởm của nó, đã bị tiền làm tiêu tan mất rồi. (…) Tôi là người xấu, không chân thật, không có lương tâm, ngu ngốc, nhưng tiền được tôn thờ thì người có tiền cũng được tôn thờ; (…) tôi là người không có trí tuệ, nhưng tiền là trí tuệ hiện thực của mọi sự vật, — thế thì làm thế nào mà kẻ chiếm hữu tiền lại không có trí tuệ được? (…) Tiền biến mỗi lực lượng bản chất ấy thành một cái gì vốn không phải là lực lượng ấy, nghĩa là thành cái đối lập với nó. (…) Vì tiền, với tính cách là khái niệm đang tồn tại và đang biểu hiện của giá trị, làm lẫn lộn và trao đổi mọi sự vật, cho nên nó là sự lẫn lộn phổ biến và sự thay thế phổ biến mọi sự vật, nghĩa là thế giới lộn ngược, là sự lẫn lộn và sự thay thế tất cả những phẩm chất tự nhiên và có tính người” [những chỗ nhấn mạnh là do Marx].[15]
Mấy đoạn trích dẫn Marx trên đây là những ý tưởng có thể phần nào giải thích được nguồn gốc của quan niệm nghi kỵ đồng tiền và thương nhân trong xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh của một xã hội nông nghiệp tự cấp tự túc phải đối diện với sự phát triển của các quan hệ tiền tệ, quan niệm coi khinh đồng tiền, theo chúng tôi, là một thứ phản ứng tự vệ của cộng đồng, nhằm chống lại những sự thay đổi, những sự đảo lộn của cái “thế giới lộn ngược” còn lạ lẫm đối với họ, trong đó đại biểu đầu tiên mà họ bắt gặp là tầng lớp thương nhân, để bảo vệ và duy trì cái thế giới làng xã cổ truyền vốn dĩ quen thuộc của họ và an toàn đối với họ. Hệ quả lô-gích của cái nhìn về đồng tiền là dẫn tới thái độ miệt thị những người làm ăn buôn bán, coi khinh doanh lợi và nghề thương buôn mà người ta thường mô tả là cái nghề “một vốn bốn lời”, nghi kỵ và căm ghét những người giầu có, “trọc phú”.[16] Vì các quan hệ tiền tệ là biểu hiện tập trung nhất của kinh tế thị trường, cho nên chính cái quan niệm kỳ thị đồng tiền và thương buôn cũng là một biểu hiện điển hình của tình trạng xung đột và trăn trở trong tâm thức của dân cư trong quá trình giải thể của nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc.
Trong một công trình mà gần đây giới nghiên cứu mới khám phá trở lại mang tên là Triết học về đồng tiền (Philosophie des Geldes) (1900), nhà xã hội học người Đức Georg Simmel đã phân tích ý nghĩa xã hội học của đồng tiền và của các quan hệ tiền tệ. Ông cho rằng đồng tiền, ngoài giá trị khách quan của nó là giá trị kinh tế, còn có giá trị chủ quan xét về mặt xã hội. Theo Simmel, việc phân tích về giá trị xã hội của đồng tiền có thể giúp chúng ta hiểu được suy nghĩ của các cá nhân, ý nghĩa của các hoạt động tương tác, và hình dung ra được những nguyên tắc thống trị chi phối đời sống của một xã hội.
Simmel đặc biệt đào sâu sự phân tích về ý nghĩa của đồng tiền trong quá trình hiện đại hóa xã hội. Khi hình thức giao dịch bằng tiền tệ thay thế dần những hình thức trao đổi bằng hiện vật, thì lúc đó diễn ra nhiều sự thay đổi trong các hình thức quan hệ tương tác giữa các chủ thể trong xã hội. Vì tiền tệ là một vật có thể đo đếm được một cách chính xác và sử dụng dễ dàng trong việc trao đổi những thứ hàng hóa hết sức khác biệt nhau, nên nó trở thành một phương tiện trao đổi phi cá nhân (impersonal) mà những vật trao đổi ngang giá trước nó như cái cồng hay vỏ sò chẳng hạn không thể nào có được. Do đó, nó góp phần thúc đẩy sự tính toán (calculation) trong các hoạt động giao dịch giữa con người với nhau, và thúc đẩy quá trình lý tính hóa (rationalization) – khái niệm mà nhà xã hội học Max Weber đặc biệt nhấn mạnh khi nói tới sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và quá trình hiện đại hoá xã hội. Theo Max Weber, đồng tiền là phương tiện tính toán kinh tế hoàn hảo nhất, là phương tiện thuần lý nhất xét về mặt hình thức có chức năng hướng dẫn một hoạt động kinh tế.[17] Simmel cho rằng khi tiền tệ trở thành sợi dây liên hệ chủ yếu giữa con người với nhau, thì nó thay thế những mối quan hệ ràng buộc cá nhân vốn thường bao hàm tình cảm hay cảm xúc, bằng những mối liên hệ phi cá nhân hướng đến một mục tiêu nhất định nào đó. Hệ quả là sự tính toán trừu tượng thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống, kể cả lĩnh vực quan hệ gia đình thân tộc hay lĩnh vực thưởng ngoạn nghệ thuật vốn trước đó là những lĩnh vực mà người ta chỉ có thể đánh giá chủ yếu một cách định tính hơn là định lượng. Theo Simmel, chính vì tiền bạc làm cho người ta có thể giới hạn một hành vi giao dịch nào đó vào một mục tiêu nhất định, nên nó cho phép người ta có nhiều tự do cá nhân hơn và thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội cũng như quá trình biệt dị hóa xã hội (social differentiation). Tiền tệ đã thay thế những nhóm xã hội “tự nhiên” bằng những nhóm xã hội tự nguyện, vốn được hình thành theo những mục đích duy lý nhất định. Quan hệ tiền bạc lan tới đâu, thì nó giải thể những mối liên kết dựa trên quan hệ huyết thống, thân tộc hoặc quan hệ trung thành tới đó. Nói chung, đồng tiền là một phương tiện và là cái mốc thay đổi từ phương thức đánh giá định tính sang phương thức đánh giá định lượng trong nhận thức xã hội.
Theo Simmel, trong xã hội hiện đại, đồng tiền, ngoài các chức năng kinh tế của nó, còn là biểu tượng của óc duy lý, óc tính toán, óc trừu tượng, và tính chất phi cá nhân (impersonality). Vì thế, nó là cơ chế chủ yếu thúc đẩy quá trình chuyển đổi từ một xã hội cổ truyền mang tính chất “cộng đồng” (Gemeinschaft) sang một xã hội hiện đại mang tính chất “xã hội” (Gesellschaft) theo ý nghĩa mà Ferdinand Tönnies từng đề cập.[18]
Xã hội Việt Nam truyền thống vốn dĩ mang đặc trưng là trọng nhân trị hay đức trị hơn là pháp trị, cư xử theo tình hơn là theo lý, đề cao các quan hệ tình nghĩa hơn là các quan hệ chức năng và phi cá nhân. Lối tư duy chủ yếu đặt nền tảng trên kinh nghiệm thực tiễn hơn là dựa trên cơ sở tư biện thuần lý, thuận theo đạo lý và tình cảm hơn là theo lý tính. Trong lịch sử, khi thị trường dần dà phát triển đến mức từng bước phá vỡ khuôn khổ nền kinh tế tự cấp tự túc, lúc đầu người ta khó mà thích ứng kịp thời với sự chuyển đổi của phương thức sản xuất. Vì chưa thay đổi được từ lối tư duy kinh nghiệm và cảm tính sang lối tư duy suy lý và tính toán trừu tượng, vì chưa hiểu nổi tại sao các quan hệ tiền tệ lại thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực đời sống, kể cả những lĩnh vực như đời sống gia đình hay đời sống văn hóa, cho nên người ta cảm thấy như các giá trị trong xã hội truyền thống của họ đang bị đảo lộn. Hầu hết các mối quan hệ xã hội đều không còn như trước, đều bị thay đổi bởi những quan hệ tiền tệ, ngoại trừ quan hệ gia đình và quan hệ bè bạn. Họ cảm thấy cuộc sống an toàn trước đây của họ như đang bị đe dọa tận gốc rễ.
Trong bối cảnh đó, phản ứng tâm lý tự nhiên là phải tìm cho ra một nguyên nhân hay đúng hơn là một thủ phạm để qui tội cho tình trạng xáo trộn hay đảo lộn này. “Thủ phạm” dễ thấy nhất, mà thực ra cũng là trừu tượng nhất, chính là tiền tệ. Chính vì thế mà người ta coi đồng tiền là nguồn gốc sinh ra sự hư hỏng, là biểu tượng của tội lỗi, chứ họ không thể thấy được rằng, thực ra, những quan hệ xã hội đang thay đổi đằng sau các quan hệ tiền tệ mới thực sự là điều đáng quan tâm. Và vì người ta không thể cưỡng lại các quan hệ tiền tệ đang dần dà lan tràn bằng bất cứ một biện pháp kinh tế nào, nên người ta buộc phải tìm cách bảo vệ cái thế giới truyền thống của mình bằng cách dựa vào những giá trị đạo lý để làm vũ khí đương đầu với sức mạnh của đồng tiền. Lúc này, người ta bắt gặp những trào lưu tư tưởng thích hợp và đồng cảm với họ, đặc biệt là Nho giáo với quan niệm đạo đức đề cao chữ nhân và coi khinh chữ lợi, hay trong chừng mực nào đó kể cả nơi những tư tưởng Lão giáo, Phật giáo hay Ki-tô giáo.[19]
Một khi đồng tiền đã trở thành biểu tượng của tội lỗi, thì hầu như phần lớn những gì dính dáng tới đồng tiền đều mặc nhiên ít nhiều mang tính chất phi nhân, phi nghĩa. Chính vì thế mà thành kiến đối với đồng tiền cũng luôn luôn được thể hiện thông qua thành kiến đối với lợi nhuận, đối với thương nhân cũng như đối với thị trường.
Nguyên nhân gần
Vậy đến đây, chúng ta có thể đặt câu hỏi là tại sao cho đến tận bây giờ, vẫn còn tồn tại một quan niệm mang tính chất định kiến đạo đức đối với đồng tiền hay đối với “cơ chế thị trường” nơi một tỷ lệ không ít trong dân cư, mặc dù Việt Nam đã chuyển trở lại kinh tế thị trường được hơn hai thập niên, kể cả tại một thủ phủ kinh tế lớn như thành phố Hồ Chí Minh?
Ai cũng biết rằng nói chung người ta không dễ gì thay đổi những quan niệm và những thành kiến mà mình đã được tiêm nhiễm và dạy dỗ từ nhỏ và đã ăn sâu vào nhân sinh quan của mình, nhất là khi mà những quan niệm và những thành kiến này trong thực tế vẫn còn tiếp tục được nuôi dưỡng dưới hình thức này hay hình thức khác trong hệ thống giáo dục, trên các phương tiện truyền thông đại chúng, cũng như trong đời sống tôn giáo nói riêng và đời sống văn hóa tinh thần nói chung. Những thay đổi trong lĩnh vực ý thức và tư tưởng, nhất là những định kiến, thường diễn ra chậm hơn so với những thay đổi trong đời sống vật chất.[20]
Tuy nhiên, ngoài nhận định vừa nêu, chúng tôi cho rằng còn phải đề cập tới một nguyên do khách quan dẫn đến thành kiến nói trên đối với đồng tiền, đó là điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay.
Tuy nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, nhưng đời sống của phần lớn dân cư, nhất là những người làm ăn lương thiện, chưa phải đã hoàn toàn ổn định hay đã thoát ra khỏi tình cảnh khó khăn. Trong khi đó, số vụ tham ô, hối lộ, mua bán quota, chiếm đoạt đất đai… ngày một gia tăng ở mức độ nghiêm trọng đến mức mà nạn tham nhũng được gọi là quốc nạn. (Tình hình này vô hình trung càng củng cố cho quan niệm “đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”.) Đồng thời, ai cũng thấy môi trường và các thể chế kinh tế cũng như pháp lý hiện thời ở Việt Nam chưa phải đã hoàn chỉnh và chưa có tác dụng khuyến khích các hoạt động làm ăn kinh doanh bình thường, lành mạnh. Trong cuộc điều tra nơi cư dân thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2003 đã dẫn trên, có tới 2/3 mẫu điều tra cho rằng những người kinh doanh tư nhân hiện nay vẫn còn gặp khó khăn, và loại khó khăn mà nhiều người đề cập nhất không phải là vốn liếng, kỹ thuật hay kinh nghiệm, mà là chính sách và cách quản lý của nhà nước. Môi trường kinh tế hiện nay không thực sự thuận lợi cho những người có tài, có năng lực, mà chỉ khuyến khích những người “quan hệ” giỏi. Trong mẫu điều tra, 57% đồng ý với mệnh đề cho rằng “trong kinh doanh, quen biết rộng nhiều khi quan trọng hơn là năng lực”, và 41% đồng ý rằng “không biết nhờ vả, chạy chọt thì chẳng làm được gì hết”. Tình hình này cũng tương tự như vấn đề “guanxi” ở Trung Quốc lâu nay.
Điều không bình thường và cũng không lành mạnh là sự thành công của nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế-xã hội này đang phụ thuộc nặng nề vào khả năng nhờ vả, chạy chọt, chứ không phải vào tài năng của nhà kinh doanh và nội lực của doanh nghiệp. Xoay sở vất vả nhất đối với nhà doanh nghiệp không phải là trong quan hệ giao dịch trên thương trường, mà lại là trong quan hệ với chính các cơ quan quản lý nhà nước. Trong một bản phúc trình điều tra về các doanh nghiệp ở Việt Nam, Nobuaki Takada thuộc Viện nghiên cứu Nomura (Nhật Bản) nhận định như sau: “ ‘Tính phụ thuộc vào môi trường bên ngoài’ trở thành yếu tố đầu tiên về sự nhận thức của nhà quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam, biểu hiện xu hướng gắn kết quả kinh doanh với tác động của môi trường bên ngoài hoặc từ người khác, hơn là do nỗ lực của chính mình. Đó chính là điểm yếu trong ý chí kinh doanh tại Việt Nam, do đó có nhiều khả năng cản trở sự tăng trưởng của doanh nghiệp.”[21]
Cũng chính vì môi trường khách quan còn nhiều bất trắc do chính sách không ổn định, không minh bạch, gây ra nhiều rủi ro cho hoạt động kinh doanh, nhất là kinh doanh tư nhân, nên phần lớn những người được hỏi trong cuộc điều tra nói trên vẫn còn tâm lý muốn cho con cái đi làm cho khu vực nhà nước hơn là khu vực tư nhân, và mong cho chúng đi theo những nghề lao động trí óc hơn là những nghề kinh doanh, buôn bán. (Theo thiển ý chúng tôi, quan niệm coi trọng kẻ sĩ không phải là nguồn gốc của thành kiến miệt thị kinh doanh. Lịch sử kinh tế nước ta cho thấy đã từng có những thời kỳ mà nền ngoại thương phát triển khá rực rỡ, và sở dĩ có những giai đoạn thương mại suy thoái là chủ yếu do chính sách “ức thương” của các triều đình, chứ không phải do trật tự sĩ nông công thương trong xã hội.[22]) Và cũng môi trường kinh tế không thuận lợi này là lý do chính giải thích tại sao trong ứng xử kinh tế, người dân ở một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh, vào năm 2003, vẫn có tỷ lệ muốn để dành tiền, và mua sắm đất đai hay đồ dùng, đông hơn là số người muốn bỏ vốn ra làm ăn, đầu tư.
Chính một môi trường kinh tế-xã hội còn nhiều bất ổn, một nền kinh tế chưa bình thường và còn nhiều dị dạng là cơ sở xã hội tiếp tục nuôi dưỡng và củng cố thành kiến của người dân đối với đồng tiền cũng như đối với kinh doanh và “cơ chế thị trường”. Vì thế, theo chúng tôi, không phải là nhận thức của người dân, mà chính là các định chế và chính sách của nhà nước mới đóng vai trò quyết định đối với ứng xử kinh tế và tinh thần khởi nghiệp của người dân, cũng như đối với công cuộc canh tân và khuếch trương kinh tế.[23]
♦ ♦ ♦
Như vậy, để có thể hiểu được quan niệm của người dân về đồng tiền, chúng ta không thể không xem xét và đặt quan niệm này vào trong bối cảnh không gian và thời gian cũng như những quan hệ xã hội của một hệ thống xã hội nhất định. Bởi lẽ đồng tiền không phải chỉ mang chức năng “phi cá nhân hoá” (de-personalization), “lý tính hoá” (rationalization) và “khách quan hoá” (objectivation) các mối quan hệ xã hội như Georg Simmel đã nhấn mạnh, mà nó còn trải qua quá trình “chủ quan hoá” (subjectivation), được con người “chiếm hữu lại” (re-appropriation) để khoác lên nó một ý nghĩa đặc thù, gán cho nó một dấu ấn xã hội (social “marking”) trong một môi trường kinh tế-xã hội nhất định, như Viviana Zelizer đã phân tích.[24] Hiểu theo nghĩa này thì hình ảnh về đồng tiền hay quan niệm về đồng tiền của người Việt Nam là một chủ đề bổ ích cần được giới khoa học xã hội tiếp tục khảo sát, nghiên cứu vì nó có thể phản ánh những bước chuyển biến của cả xã hội.
————————–
[1] Nhiều tác giả cũng đã nhấn mạnh tới một cách nhìn xã hội học về đồng tiền. Damien de Blic và Jeanne Lazarus chẳng hạn đã phân biệt giữa chữ “monnaie” [tiền] (trong tiếng Pháp) theo nghĩa là một phương tiện trao đổi, với chữ “argent” [tiền] theo nghĩa là một “định chế chính trị, xã hội và luân lý” của cái phương tiện ấy, và cho rằng “l’argent, c’est justement la monnaie dans sa dimension sociologique” [tạm dịch: “đồng tiền, đó chính là tiền bạc nhìn dưới kích thước xã hội học”] (xem Damien de Blic và Jeanne Lazarus, Sociologie de l’argent, Paris, La Découverte, Coll. Repères, 2007, trang 5).
[2] Xem chẳng hạn bài “Điều cần lý giải”, Người lao động, 2-3-2007.
[3] Xem Người lao động, các số ra vào hạ tuần tháng 9-2006.
[4] Vào thời bao cấp sau giải phóng, kinh doanh xã hội chủ nghĩa được quan niệm là phải đặt mục tiêu “phục vụ” lên hàng đầu, chứ không được “chạy theo lợi nhuận đơn thuần”. Và chủ trương công tư hợp doanh lúc đó chỉ được áp dụng chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất, chứ không áp dụng cho lĩnh vực thương nghiệp, vì thành phần tư sản thương nghiệp dứt khoát là phải xóa bỏ. Cái căn bản lô-gích của cụm từ “chạy theo lợi nhuận” cũng y hệt như của cụm từ “chạy theo đồng tiền”.
[5] Xem thêm chẳng hạn Trần Đức Nguyên, Phạm Chi Lan, “ ‘Giải oan’ cho thương mại hoá”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 1-3-2007, trang 22-23.
[6] Đây là cuộc điều tra nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu mang tên “Hoàn thiện và nêu cao hệ giá trị Việt Nam trong văn hóa kinh doanh như một lợi thế của hội nhập và cạnh tranh kinh tế quốc tế – Khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh” (chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Quang Vinh) do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM chủ trì. Cuộc điều tra này được tiến hành vào tháng 4 và tháng 5-2003 bằng cách chọn mẫu phân tầng tại sáu phường ở ba quận thuộc TPHCM, với tổng số mẫu là 469 người từ 18 tuổi trở lên. Cũng trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, vào tháng 5-2004, chúng tôi đã tiến hành một cuộc điều tra khác nơi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tại TPHCM, kể cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, với tổng số mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên là 186 người: theo kết quả cuộc điều tra này, chỉ có 23% nhà lãnh đạo doanh nghiệp đồng ý với mệnh đề cho rằng “đồng tiền là nguồn gốc sinh ra tội lỗi”, và 25% cho đồng ý rằng “sống theo nhân nghĩa thì khó mà làm giầu được” – tức đây là những tỷ lệ thấp hơn so với dân cư chung.
[7] Xem thêm Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Hà Nội, Nxb Khoa học xã hội, 1980, trang 85-89.
[8] Cao Xuân Huy, “Tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức”, trong Cao Xuân Huy, Tư tưởng phương Đông – Gợi những điểm nhìn tham chiếu, Hà Nội, Nxb Văn học, 1995, trang 275.
[9] Xem thêm Phan Chánh Dưỡng, “Doanh nhân và chữ lợi”, trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 3-2-2000, trang 7.
[10] Thư của Marx gửi Engels ở Manchester (1858), trong Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập II, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1981, trang 690.
[11] Karl Marx, “Lời nói đầu [Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị]”, trong Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập II, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1981, trang 619.
[12] Friedrich Engels, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu, và của nhà nước, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1972, trang 275-276.
[13] Karl Marx, Bản thảo kinh tế-triết học năm 1844, trong Tuyển tập Mác Ăng-ghen, tập I, Hà Nội, Nxb Sự thật, 1980, trang 132-133.
[14] Như trên, trang 130.
[15] Như trên, trang 132-135.
[16] Trọc phú là “người giàu có mà dốt nát, ít hiểu biết” (Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Hà Nội, 1996).
[17] Xem Max Weber, Economie et société, Paris, Plon, Pocket, 1995, trang 132.
[18] Xem Mathieu Deflem, “The Sociology of the Sociology of Money: Simmel and the Contemporary Battle of the Classics”, Journal of Classical Sociology, số 3(1), 2003, trang 67-96.
[19] Thực ra, ngay nơi xã hội Pháp hay nhiều nước Tây Âu hiện nay, thái độ đạo đức nghi kỵ đối với đồng tiền cũng vẫn còn tồn tại, và thường được coi là hệ quả xuất phát từ truyền thống tư tưởng đạo lý Ki-tô giáo ở châu Âu (xem thêm chẳng hạn bài phỏng vấn Damien de Blic, “Le christianisme dénonce les riches”, Libération, 18-1-2007).
[20] Chính một số viên chức nhà nước cũng đã đưa ra một nhận định tương tự khi nói đến nhu cầu thay đổi tư duy nơi các nhà hoạch định chính sách: “…Theo các quan chức này, các nhà hoạch định chính sách cần phải mất một thế hệ mới có thể thoát ra khỏi sự ràng buộc về hệ tư tưởng hiện đang trói buộc họ.” (Xem MPDF, Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân, số 9, tài liệu đã dẫn, 7-1999, tr. 15.)
[21] Nobuaki Takada (Viện nghiên cứu Nomura, Nhật Bản), Ý chí kinh doanh tại Việt Nam, Hà Nội, Vietnam-Japan Joint Research, 12-2000, trang 15.
[22] Xem thêm Nguyễn Đình Đầu, “Thử tìm khuôn mặt doanh nhân trong lịch sử Việt Nam”, trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 5-7-2001, trang 30. Nguyễn Nghị, “Ngoại thương – vấn đề sống còn của chúa Nguyễn”, trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 29-11-2001, trang 30. Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế-xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (bản dịch của Nguyễn Nghị), TPHCM, Nxb Trẻ, 1999.
[23] Xem thêm Vũ Quốc Tuấn, “Để phát triển tầng lớp doanh nhân Việt Nam”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 17-5-2001, trang 41, Vũ Quốc Tuấn, “Phát huy dân khí, khơi dậy tinh thần kinh doanh”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số ra ngày 3-2-2000, trang 5, và Lê Đăng Doanh, “Đổi mới và sự bừng nở của con người”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 27-4-2000, trang 20.
[24] Viviana Zelizer, The Social Meaning of Money, Princeton University Press, 1997. Xem bài phân tích của Thierry Rogel, “La signification sociale de l’argent de Viviane Zelizer”, trong http://www.ac-orleans-tours.fr/ses/pedagogie.
================================================
SOURCE: TẠP CHÍ THỜI ĐẠI – tapchithoidai.org
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
HỒ BÁ THÂM
Mấy vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay
Có thể nói rằng từ lâu các học giả nước ta đã chú ý nghiên cứu con người và nhất là con người Việt Nam từ nhiều góc độ, lối nhìn mà càng về sau càng toàn diện và sâu sắc hơn. Kết quả đó cũng khá khả quan như một bước tiến dài trên con đường nghiên cứu nhiều mặt giúp cho độc giả có hiểu biết khá hệ thống ở tầm khoa học và triết học về con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng.
Tác giả Nguyễn Văn Huyên đã tổng quan những nghiên cứu về con người như một cấu trúc sinh học – xã hội, vai trò lao động và xã hội đối vôi con người, bản chất xã hội của con người, con người văn hóa, con người họat động, con người là chủ thể sáng tạo, phát triển toàn diện, những nhân tố tác động hình thành con người, mới, những đặc điểm và hệ thống phẩm chất, giá trị của con người Việt Nam cả về phương diện khảo cổ, dân tộc học, lịch sử…
Tác giả đã chú ý chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay và nhận xét rằng những nghiên cứu này thể hiện quan niệm giản đơn, nghèo nàn trong việc tiếp cận, mang tính suy luận nhiều hơn là điều tra thực tế, thực nghiệm. Theo tôi, không chỉ có vậy, hạn chế đáng nới nhất là ít có cách đặt vấn đề xây dựng một chuyên ngành khoa học chung về con người, ít có công trình liên ngành, cho nên vẫn tồn tại một cách nhìn tản mạn, chia cắt, thiếu sự liên kết hệ thông khoa học về con người như một khoa học tương đối độc lập.
Chính cách đặt vấn đề về triển vọng của chuyên ngành khoa học mới về con người (như chúng tôi có dịp đề cập) và sự xuất hiện Viện Nghiên cứu con người đã mang lại khả năng khắc phục những hạn chế trên đây. Điều này, có nghĩa là việc nghiên cứu con người Việt Nam phải được đặt trong một hệ thống khoa học liên ngành duy nhất – quy về một mối với cái nhìn toàn diện, toàn cục, tổng thể. Phương pháp luận khoa học chuyên ngành và liên ngành, tổng hợp, đã có sự kết dính hệ thống chỉnh thể. Có như thế mới tránh được "cha chung không ai khóc", "thấy cây mà không thấy rừng" (và thấy rừng mà không thấy cây), tránh được sai lầm "sờ voi" của các thầy bói mù.
Nghiên cứu thêm một số tư liệu khác khi nghiên cứu về con người Việt Nam ở góc nhìn tâm lý dân tộc hay ở góc nhìn văn hoá truyền thống thì thấy rằng chúng ta vẫn còn những hạn chế cụ thể bộc lộ một phương pháp nghiên cứu hoặc cách nhìn, quan niệm chưa hoàn toàn biện chứng và toàn diện.
Chẳng hạn, có nghiên cứu đã chỉ ra được một số giá trị tinh thần của người Việt, dù rằng kết quả có mặt sâu sắc, có mặt còn hạn chế, nhưng lại không chú ý hay không nghiên cứu các mặt thể chất người Việt, sinh thể người Việt, hoặc nghiên cứu mặt xã hội (tuyệt đối mặt xã hội) mà không nghiên cứu mặt tự nhiên, sinh . học và ngược lại (một số nghiên cứu trong ngành y học hoặc thể dục thể chất).
Một thời chúng ta phê phán quan niệm tuyệt đối hoá nghiên cứu mặt tự nhiên của con người lại chuyển sang cực đoan khác là chỉ nhấn mạnh mặt bản chất xã hội, tổng hoà các quan hệ xã hội. Nghiên cứu con người Việt Nam chỉ nghiên cứu mặt tinh thần mà ít nghiên cứu mặt thể chất. Hoặc nghiên cứu mặt đạo đức mà không nghiên cứu mặt trí tuệ, mặt duy lý, nghiên cứu mặt duy lý không chú ý mặt tình cảm, mặt ý thức và đặc biệt là quên nghiên cứu mặt vô thức, trực giác, tâm linh, thậm chí còn phủ nhận nó. Chúng ta đã có những công trình về đạo đức của con người Việt Nam nhưng thiếu công trình khoa học về tư duy, trí tuệ, nhất là về mặt tâm linh của con người Việt Nam. Những công trình về văn hoá tâm linh, hay có chiều sâu tâm linh, rất hiếm và chưa được đánh giá. Đó là chưa kể đã có lúc phủ nhận cái tâm linh, không nghiên cứu nó như một vấn đề khoa học.
Lại có xu hướng chỉ nhấn mạnh nghiên cứu con người tập thể, con người giai cấp, nghiên cứu vĩ nhân, không có chương trình nghiên cứu các tài năng, phát triển năng khiếu hoặc ít nghiên cứu con người cá nhân, coi nhẹ cá nhân, coi cá nhân là vấn đề riêng tư, nêu vấn đề chống "chủ nghĩa cá nhân" nhưng lại không phân tích rõ nội hàm của nó chủ yếu là chống chủ nghĩa vị kỷ, ích kỷ nên không ít khi coi nhẹ cá nhân, lợi ích, năng lực cá nhân. Trong thời kỳ mới, chủ nghĩa xã hội về bản chất, xét đến cùng là giải phóng cá nhân con người. Vậy mà chúng ta phê phán mật hạn chế của tính cộng đồng nhưng vẫn không mạnh dạn đề cao con người cá nhân. Hoặc khi nghiên cứu con người giai cấp, con người dân tộc, chúng ta ít nghiên cứu con người nhân loại con người tộc loại.
Hoặc nghiên cứu con người văn hoá lại coi nhẹ con người kinh tế, con người kỹ thuật, hay nghiên cứu con người kỹ thuật lại coi nhẹ con người đạo đức, con người tâm linh. Hoặc có khi lại quá đề cao vai trò của tâm linh, đạo đức tôn giáo (Phật giáo) trong não trạng người Việt. Hoặc nghiên cứu con người tách rời hoàn cảnh mà quên cái nội lực, đến di truyền, cả di truyền văn hoá và di truyền sinh học….
Hoặc chỉ nhấn mạnh con người có ý thức, nghiên cứu mặt tình cảm, mặt trí tuệ mà ít chú ý con người nhu cầu, con người lợi ích, tức các khía cạnh nhu cẩu và lợi ích của con người, mà thoát ly mặt này thì ý thức tư tưởng chỉ còn treo lơ lửng ở trên không. Khi sang thời kỳ hoà bình, phát triển kinh tế, chúng ta chú ý hơn đến nghiên cứu mặt nhu cầu, lợi ích của con người, trước hết ở mặt vật chất thì lại có biểu hiện coi nhẹ mặt tinh thần. Nghiên cứu sâu nhu cầu của con người là một trong những vấn đề có tầm triết học (chứ không chỉ ở góc độ khoa học tâm lý) và qua đó chúng ta mới biết đầy đủ hơn những động lực và khuynh hướng phát triển của con người.
Hoặc nghiên cứu con người truyền thống, đề cao giỏi bắt chước, thông minh, giỏi chế biến, tiếp biến, dung hoà nhưng lại không nghiên cứu sâu khả năng sáng tạo và mức độ sáng tạo của con người Việt Nam, đánh giá không đúng khả năng sáng tạo của người Việt Nam. Vấn đề tính sáng tạo của người Việt Nam gần đây đã có người chú ý nghiên cứu như Trần Bạch Đằng với bài viết về năng động sáng tạo ở Bình Dương, cũng có người tìm hiểu tính năng động sáng tạo nói chung của người Việt phương Nam có những nét khá sâu nhưng nhìn chung các nghiên cứu hiện nay chỉ mới điểm qua vài nét tình hình. Theo tôi, cần có chuyên đề nghiên cứu sâu về tính sáng tạo của người Việt Nam từ lịch sử đến hiện đại (chúng tôi đã có bài viết về "Vấn đề phát huy năng lực tư duy của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" trong hội thảo khoa học về Văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá – TP. Hồ Chí Minh tháng 7/2002). PGS, TS. Nguyễn Văn Huyên, trong công trình "Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) đã xem xét họat động sáng tạo của con người và con người sáng tạo từ các tiền đề tâm lý, xã hội, dân chủ chính trị, văn học nghệ thuật. Nhưng ở đây tác giả mới phân tích ở cấp độ con người nói chung còn ở cấp độ cụ thể con người Việt Nam với những năng lục sáng tạo của nó như thế nào thì lại chưa được phân tích thành chuyên đề.
Hoặc trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như trên diễn đàn, có nhiều lúc người ta chỉ nhấn mạnh mặt tất, ưu việt của người Việt Nam (như tinh thần yêu nước, đoàn kết, cần cù, thông minh, yêu đời) mà lờ đi, ít đề cập tới mặt yếu kém, bất cập, và tính xấu của con người Việt Nam. Chúng ta cũng đã có một số bài viết về tư duy và đổi mới tư duy, ở đó các tác giả đã nghiên cứu sâu hơn thực trạng lạc hậu, mặt hạn chế của con người Việt Nam như tư duy lý luận còn dấu ấn tiền khoa học, kinh nghiệm chủ nghĩa, thiếu logic chặt chẽ, ít có phát minh, sáng chế, tính tiểu nông, manh mún còn nặng… Nhưng vẫn còn rất cần nghiên cứu toàn diện và sâu hơn nữa những mặt hạn chế của con người Việt Nam trong truyền thống và hiện tại. Quả là chúng ta đang thiếu một công trình như thế. Nhưng nếu lại tuyệt đối hoá mặt xấu, yếu kém của con người Việt Nam thì thực trạng nhận thức về con người cũng sai lầm không kém.
Đúng là mỗi cách nhấn mạnh hay tạm tách rời để nghiên cứu sâu là có hạt nhân chân lý nhất định của nó nhưng khi quá nhấn mạnh, coi nhẹ những mặt khác thì có thể trở thành phi lý.
Tóm lại, trong nghiên cứu về con người Việt Nam, có lúc chúng ta thường hay nhấn mạnh một mặt, cực đoan, chưa thoát khỏi tư duy kinh nghiệm nên dễ dẫn đến nhìn nhận con người Việt Nam truyền thống và hiện đại có phần lệch lạc, tính thuyết phục khoa học chưa cao.
Vấn đế là phương pháp luận và phương pháp
Việc nghiên cứu con người Việt Nam lúc này, lúc khác có những hạn chế như vậy là do hoàn cảnh và yêu cầu thực tế từng lúc đã khiến chúng ta chú ý nhiều hơn về mặt này hay mặt khác. Song có một nguyên nhân rất quan trọng là trong quan niệm và phương pháp luận có những biểu hiện giản đơn, siêu hình, máy móc như đã nói.
Về mặt nghiên cứu bản tính người Việt (bản tính tộc người Việt) như có nhà nghiên cứu nhận xét là "chưa có cơ sở lý luận và phương pháp luận nào thật rõ ràng". "Hầu hết những bàn luận về vấn đề này đều dựa vào quan sát và suy nghĩ theo lối kinh nghiệm phải chăng chúng ta coi việc xác lập phương pháp luận cụ thể cũng như việc nghiên cứu bản tính con người Việt Nam đã hoàn chỉnh, hay hoàn chỉnh về cơ bản hoặc đã được nói và viết nhiều rồi? Phải chăng chúng ta mới đang vượt qua đoạn đầu, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ? Nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên lĩnh vực này thấy còn rất mới mẻ và có nhiều trăn trở.
Những nhận thức và quan niệm không đúng bộc lộ trong thực tế nghiên cứu và quan niệm nghiên cứu con người có nguồn gốc ở mặt phương pháp luận. Đề cao nghiên cứu cụ thể, riêng biệt (nguyên lý con người bộ phận) là cần để khám phá, đi sâu nhưng không thể coi nhẹ các vấn đề phương pháp luận biện chứng (nguyên lý con người tổng thể), hoặc ngược lại. Tại sao như vậy?
Như đã nói ở trên, do hiểu biết hạn chế về chủ nghĩa Mác – Lênin, hơn nữa lại chịu ảnh hưởng của các tư tưởng nho giáo và chủ nghĩa kinh nghiệm mang tính tư duy tiền khoa học nên trong vận dụng phương pháp luận mác xít nghiên cứu con người chúng ta đã rất phiến diện và đơn giản.
Có thể ghi nhận là trong thời gian gần đây, các công trình của GS.VS. Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001), của PGS, TS. Nguyễn Văn Huyên, "Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) là những công trình có giá trị định hướng phương pháp luận cụ thể về nghiên cứu con người ở nước ta. Chúng ta phải biết thay đổi cách tiếp cận, tránh cách tiếp cận cũ kém hiệu quả. Phải nhìn nhận từ nhiều góc độ, bổ sung những phương pháp khoa học mới, chẳng hạn như phương pháp nhân học của các nước nói tiếng Anh, phương pháp do các chỉ số thông minh, cảm xúc… của con người, phương pháp điều tra xã hội học về các giá trị của con người…
Nghiên cứu cụ thể cả định tính và nhất là định lượng là rất cần, vì nếu không như thế thì khó thuyết phục và khó thành chủ trương chính sách phát triển. Nhưng cũng rất cần nghiên cứu ở tầng bản chất phổ quát, ở tầng lý luận triết học, nhất là về mặt phương pháp luận, nguyên tắc chung về phương pháp luận và phải biến phương pháp luận thành phương pháp thể hiện trong nghiên cứu từng mặt riêng biệt của vấn đề.
Trước hết phải thấy nguyên nhân của vấn đề là ở cách tiếp cận thiếu cái nhìn con người tổng thể theo chiều sâu, tổng thể biện chứng, nên hay cực đoan, chỉ thấy một mặt. Cách tiếp cận này có nguyên nhân trong tư duy kinh nghiệm, cảm tính, thiển cận theo diễn biến của thực tiễn từng lúc nên thiếu tầm nhìn xa, lại có biểu hiện giáo điều, ít sáng tạo đột phá, đi sâu, ít quan tâm xây dựng tầm nhìn mới khoa học, nhất là khoa học về con người. Tư duy này thường xem kinh điển có nói không, nước ngoài có ai nói không? Tư duy một dòng, một chiều như thế dễ phụ thuộc một chiều vào chính trị, đó là tư duy đồng nhất với chính trị thục tiễn.
Phải làm sao để phương pháp luận nghiên cứu con người mang tính khoa học thật sự, theo tư duy hiện đại, tư duy mạng lưới, tư duy phức hợp chứ không phải chỉ là tư duy hệ thống thứ bậc. Mặt khác cũng cần tiếp thu những nhân tố hợp lý trong tư duy triết học phương Đông về vấn đề con người như tư tưởng coi con người là "tiểu vũ trụ”, nguyên lý cứu con người tổng thể (không chỉ trong y học mà cả trong xã hội) trong chính nó và trong vũ trụ Thiên, Địa, Nhân hợp nhất, hoặc con người nằm trong hệ thống văn hoá Việt nhà, làng, nước (gắn với hệ thống hiện nay là cá nhân, tập thể, xã hội, hay giai cấp, dân tộc, nhân loại), chẳng hạn. Chúng ta còn phải nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và cả Mỹ về phát huy trí tuệ và thu hút trí tuệ của dân tộc vào sự nghiệp phát triển đất nước. Các khoa học về con người ở đây được nghiên cứu và phát triển có tác dụng gì đối vôi phát triển đất nước.
Nghiên cứu con người Việt Nam, muốn cụ thể phải tiếp cận ở tầm nhân học cụ thể chuyên ngành. Trong nhân học, với cái nhìn toàn diện, theo tôi hiểu, không chỉ xem xét con người từ một mặt nào mà là cả từ nhân chủng, từ sinh vật và sinh thể, từ kinh tế, văn hoá, chính trị, đạo đức, từ tâm lý, tâm linh hay tư tưởng, phong tục, có lẽ phải nhìn đầy đủ các góc độ và cấp độ của con người cả bề rộng, lịch đại và đồng đại Trong khi đó, đây là một ngành học mà gần đây chúng ta mới bắt đầu chú ý tới, còn trước đây chỉ xem xét ở góc độ dân tộc học. Vì thế chủ yếu cần nhanh chóng xây dựng và hoàn chỉnh ngành Nhân học Việt Nam với hệ thống các thủ pháp nghiên cứu. Hầu như việc nghiên cứu theo phương pháp khảo sát bản chất và đặc tính toàn diện của con người của nhân học ở nước ta chưa có hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng không thể dừng lại ở một phương pháp luận trong dân tộc học. Chỉ có nhân học mới quy tụ được nhiều góc độ để nghiên cứu sâu và cụ thể hơn về con người Việt Nam. Do vậy, cần đẩy mạnh nghiên cứu thực nghiệm, khảo sát, thu thập các chỉ số vốn có và các chỉ số phát triển con người Việt Nam (không chỉ là chỉ số thông minh, năng lực tư duy logic mà cả chỉ số cảm xúc EQ, chỉ số sáng tạo CQ và nhiều chỉ số khác về thể chất và tinh thần nhưng hiện nay chỉ mới đánh giá được IQ). Chẳng hạn, qua điều tra chỉ số trí tuệ của học viên mới nhập thể trường trong đào tạo cán bộ chính trị nơi cấp phân đội của tác giả Trương Quang Học, có thể thấy rằng học viên có chỉ số thông minh hoặc rất thông minh nhưng học lực chỉ trung bình khá, ngược lại có học viên chỉ số thông minh trung bình trở xuống nhưng lại học khá, vì việc học còn phụ thuộc vào hứng thú, sự cần cù chăm chỉ, động cơ, phương pháp…. chúng ta còn chưa chú ý đo đếm các loại chỉ số này. Đó là không kể rằng sự phát triển trí tuệ của con người còn do tác động lớn của môi trường giáo dục chứ không chỉ ở các chỉ số tự nhiên bẩm sinh
Một điều tra xã hội học về giá trị thế giới trong quan niệm sống của người Việt Nam gần đây đã cho chúng ta nhiều điều thú vị, bớt đi suy luận và phỏng đoán mơ hồ. Nhìn chung, đây đang là một thiếu sót, một mặt yếu nhất trong các khoa học nghiên cứu con người ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu lý thuyết là cần nhưng không nên dừng lại lý thuyết mà phải hướng mạnh về thực nghiệm để có sự đo lường và trắc nghiệm cụ thể về con người Việt Nam. Nếu không đi sâu về mặt này thì khoa học con người và phát triển con người ít có kết quả khả quan và không đi xa được.
Nhưng càng đi vào nghiên cứu cụ thể lại càng phải chú ý nghiên cứu liên ngành. Về phương pháp này, chúng ta vẫn chưa mạnh làm. Hướng chung là nghiên cứu con người tổng thể, bằng phương pháp luận liên ngành như một ngành nghiên cứu về con người cả cấp độ chung, tổng quát mang tính triết học và cấp độ cụ thể của các khoa học cụ thể nhất là tâm lý học, nhân học, xã hội học..
Tức là ở đây có ba cấp độ như:
– Cấp độ triết học về con người (chủ nghĩa duy vật nhân văn)
– Cấp độ một khoa học tổng quát về con người như nhân học chẳng hạn
– Cấp độ liên ngành các ngành khoa học nghiên cứu cụ thể có liên quan tới con người.
Trong tất cả các phương pháp đó cần chú ý phương pháp luận tích hợp của triết học.
Ở đây, do vậy không chỉ cần xây dựng một khoa học chung về con người mà cả một triết học về con người (chủ nghĩa duy vật nhân văn). Đúng là. triết học Mác không vắng bóng con người mà là một cách tiếp cận mới, toàn diện và hiện thực về con người, nhưng từ đó không nên hiểu trong triết học Mác đã có một triết học hoàn chỉnh về con người. Thực ra triết học Mác chủ yếu là triết học xã hội lịch sử, còn triết học về con người chưa được hoàn thiện rõ ràng, như có người nhận xét: "Mác thuộc thế hệ sau của cách mạng Pháp, quan niệm triết học của ông là thuộc về lịch sử chứ không phải triết học về con người, đây là điều rất đáng suy nghĩ, phải chăng hiện nay cần một triết học về con người như chúng tôi đã nêu là vừa cũ, vừa mới?
Phải mạnh dạn đổi mới nhận thức về khoa học con người, cần xây dựng một hệ thống chuyên ngành nghiên cứu trực tiếp về con người, tiếp cận sớm những phương pháp nghiên cứu tiên tiến để nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Cần nhiều phương pháp và công trình khảo sát nghiên cứu con người Việt Nam tập trung vào đối tượng thực tê’ đang sống và họat động chứ không phải từ sách vở. Vì chính như Mác đã nói, họat động của con người như thế nào thì chính họ như vậy.
Cần nhận thức đúng xu hướng chủ đạo hiện nay trong việc nghiên cứu con người Việt Nam
Trước hết phải nghiên cứu con người và văn hoá Việt từ chiều sâu cội nguồn có lịch sử văn minh khoảng gần 5000 năm trước chứ không phải là 4000 năm. Điều này xác định chính xác hơn bản sắc người Việt khác Hán và ngang Hán với truyền thống lâu đời trên cả bình diện tư duy, tư tưởng, tâm thức, đạo lý và lối sống…
Chúng ta vẫn thiếu những nghiên cứu phân tích tiền đề kinh tế xã hội, tộc người dẫn đến hình thành những phẩm chất ưu và khuyết của con người Việt Nam trong lịch sử. Đã có thời nghiên cứu khá nhiều về việc xây dựng con người mới nhưng lại xa rời nền tảng lịch sử của con người Việt Nam truyền thống.
Tại sao lại không có một công trình lớn về con người Việt Nam truyền thống, để từ đó cho ta một chân dung cụ thể và toàn diện? Dù đã có các thành quả nghiên cứu con người từ nhiều ngành khoa học mang lại nhưng cuối cùng vẫn cần một sự tổng hợp như thế. Cơ quan chịu trách nhiệm đó hoặc là Viện Triết học hoặc Viện nghiên cứu Con người ở nước ta, hay tốt nhất là có sự phối hợp hai Viện làm hạt nhân cho sự cộng tác rộng hơn. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng, theo tác giả Nguyễn Văn Huyên (Sđd, tr.272), cần được xem xét ở ba góc độ:
Con người với tư cách là sản phẩm của lịch sử tự nhiên (khía cạnh bản thể).
Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử (động lực và tiềm năng phát triển xã hội).
Con người văn hoá – con người với tư cách là mục đích của mình.
Tôi nhất trí với cách tiếp cận toàn diện ba mặt đó, nhưng có lẽ vẫn thiếu một cái gì đó khá cơ bản. Nên tôi cho rằng phải nhìn nhận cả phương diện thứ tư là:
"Con người như một quá trình tự phát triển thông qua mâu thuẫn với nhiều trình độ và giai đoạn khác nhau (tính giai đoạn, tính cụ thể lịch sử của con người như là tự nó và vì nó trong tiến trình tự giải phóng khỏi tha hoá và tự phát triển).
Về con người là sản phẩm của tiến hoá tự nhiên và xã hội, vừa qua các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và phác thảo được chân dung con người Việt Nam dựa vào suy luận và kinh nghiệm, nhưng lại thiếu các chỉ số từ khoa học thực nghiệm cụ thể về con người nên nhìn chung chân dung ấy còn nghèo nàn.
Về con người là chủ thể sáng tạo lịch sử thì tuy có nghiên cứu nhưng ít kết quả mới, ít khám phá về tiềm năng và năng lực thể chất và tinh thần của con người Việt Nam, nhất là các chỉ số phát triển người cụ thể của con người Việt Nam, những tiềm năng và động lục phát triển về mặt vật chất, thể chất, tinh thần không chỉ trí tuệ mà cả tâm lý, cảm xúc cũng còn nhiều hạn chế trong nghiên cứu.
Về con người là con người văn hóa toàn vẹn trong nghiên cứu cũng có những ưu điểm và hạn chế tương tự (xem: Nguyễn Văn Huyên, Sđd, tr.272 – 277).
Con người với tư cách là một quá trình tự phát triển nhiều giai đoạn cũng đã được nghiên cứu nhưng chưa rõ tính lịch sử tiến hoá từng thời đại lịch sử, cũng như sự chuyển đổi trong từng giai đoạn bước ngoặt. Đây là một lát cắt có ý nghĩa, nhất là đối với việc nghiên cứu con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cần nghiên cứu phát triển con người sáng tạo hiện nay đang được ưu tiên như thế nào và phải như thế nào? Con người Việt Nam hiện nay liệu có kịp thời thích nghi với bối cảnh toàn cầu hoá hay không, cần và có thể phát huy, xây dựng nhung phẩm chất nào? Tức là nghiên cứu cả những khả năng vẫn có của con người Việt Nam và những tiền đề kinh tế – xã hội hiện đại đang đòi hỏi phát huy những tiềm năng ấy cùng những phẩm chất mới được tạo nên trong sự tổng hoà cái truyền thống và cái hiện đại.
Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực Việt Nam trước thách thức của thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế là một hướng nghiên cứu lớn hiện nay. Chúng ta hy vọng chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước do GS,VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm sẽ mang lại nhiều kết quả khả quan.
Chúng ta nghiên cứu khá nhiều về con người Việt Nam trong kháng chiến nhưng trong xây dựng kinh tế và văn hoá thì còn quá ít công trình có hệ thống. Nhiều câu hỏi đặt ra là tại sao trong kháng chiến thì con người Việt Nam phát huy khá cao năng lực và phẩm chất của mình nhưng trong xây dụng kinh tế, văn hóa thì lại thiếu cộng tác hay kém sáng tạo, phát minh… hoặc tiềm năng sáng tạo thì khá nhưng hành vi sáng tạo (khác thường) thì ở mức trung bình. Con người Việt Nam ta hình như bằng lòng với cái đã có (an phận thủ thường) mà ít mạo hiểm trong sáng tạo, ít giám đột phá, chỉ nặng về "vận dụng sáng tạo"? tại sao trong chính trị, quân sụ và y học thì có nhiều cống hiến sáng tạo nhưng trong kinh tế và khoa học thì hầu như vắng bóng?
Hoặc khi chuyển từ thời chiến sang thời kỳ xây dựng kinh tế tại sao con người lại tha hoá với tốc độ nhanh đến thế chúng ta cần có những hướng nghiên cứu như chuyên đề phong cách tư duy người Việt, đặc tính tâm lý dân tộc, triết lý, tư tưởng triết học của con người Việt, lối sống và đạo lý… hoặc nghiên cứu sâu những khả năng, những tiềm năng thể chất và tinh thần (kể cả những khả năng huyền diệu), nghiên cứu cả con người hữu hình và con người vô hình của người Việt Nam, cả những hạn chế khiếm khuyết, "những thói hư tật xấu” (Trần Quốc Vượng) của người Việt Nam trong cộng đồng nhiều tộc người. Vấn đề cấp bách bây giờ là nghiên cứu các phẩm chất nghề nghiệp, nghiên cứu việc nâng cao chất lượng nghề, xây dựng đội ngũ công nhân và cán bộ chất lượng cao, trong đó nòng cốt là lực lượng tài năng. Đó cũng là đội ngũ phải có bản lĩnh thật sự, bản lĩnh chính trị, bản lĩnh khoa học, bản lĩnh kinh doanh, bản lĩnh nghề nghiệp nói chung có thể thích nghi và thành công trong bối cảnh thế giới ngày nay.
Nghiên cứu con người Việt Nam cần chú trọng nghiên cứu phát huy mặt tốt của con người, con đường và giải pháp xây dựng con người văn hoá, phát triển toàn diện có năng lực chuyên môn, nghề nghiệp sâu. Nghiên cứu ấy được đặt trên phương hướng nghiên cứu con người từ nhu cầu, lợi ích đa dạng cho đến cách thức, phương thức thoả mãn nhu cầu theo những giá trị nhân văn của thời đại. Đúng như mới đây, nhân ngày Nhà giáo 20/11/2002, GS, TS. Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhận xét rất đúng là năng lực tư duy của con người Việt Nam là niềm hy vọng để chúng ta đuổi kịp các nước phát triển. Vậy chúng ta phải có cái gì sáng tạo độc đáo của Việt Nam mà nhờ đó chúng ta vượt lên, bứt phá lên? Cái đó vẫn phải bắt đầu từ trí tuệ con người Việt Nam ngày nay, trước hết là từ cá nhân và sau đó là cộng đồng. Nói sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thì cái dẫn đường, nhân sức mạnh và chất xám chủ yếu là nói trí tuệ trong sức mạnh chung đó. Điều đó càng bức thiết trong thời ký khoa học công nghệ cao. Như thế là chúng ta cần nghiên cứu sâu và hệ thống thực tế năng lực tư duy và trí tuệ con người Việt Nam. ở đó không chỉ làm rõ thực trạng, tiềm năng và cả hạn chế về năng lực tư duy, trí tuệ mà còn phải làm rõ cái gì đang kìm hãm năng lực tư duy và trí tuệ của con người Việt Nam? Đâu là giải pháp đột phá? Thực tế đang đòi hỏi một công trình như thế cả về lý thuyết và thục nghiệm. Các kết quả điều tra của thế giới gần đây chứng minh con người Việt Nam (qua học sinh, sinh viên) "được đánh giá cao về tiềm năng Toán – Tin học và Y học", có trí thông minh IQ không thua kém các nước khác (khảo sát 420 học sinh chuyên toán thì có 80% em có chỉ số IQ là trên 110′ chỉ số xuất sắc) nhưng trí sáng tạo thì sao? Chúng ta đã tập trung cho hướng cơ bản, gốc gác, có ý nghĩa chiến lược sống còn này chưa. Trong chương trình khoa học công nghệ 1995 – 2000 đã có nghiên cứu và hiện nay đang nghiên cứu các hệ thống giải pháp để phát huy trí tuệ, chuyển bị cho nguồn nhân lục và nhân tài đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Và theo GS. Trần Trọng Thuỷ cho biết, trong chương trình nghiên cứu sẽ do cả ba chỉ số IQ, EQ, CQ phát triển người đối với tuổi trẻ học đường ở nước ta. Đó là điều đáng mừng nhưng khoa học về con người ngày nay luôn phải chú ý phương pháp luận tổng thể, tích hợp trong nghiên cứu.
Nói chung, nghiên cứu con người Việt Nam ngày nay phải kết hợp phương pháp luận tổng thể và phương pháp luận phân tích bộ phận cụ thể, nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tế, thực nghiệm, nghiên cứu đinh tính với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu nhân cách với nghiên cứu môi trường lịch sử, trong đó con người họat động và sáng tạo với những nhu cầu, lợi ích, giá trị cụ thể… mới mang lại kết quả.
Nghiên cứu đặc tính và tiềm năng của con người và các tộc người cả về tư duy, trí tuệ và khí phách trong truyền thống và hiện đại với sự chuyển biến của thời đại trên đất nước ta như thế vẫn là hướng nghiên cứu vừa trước mắt, vừa lâu dài, nhưng không thể theo lối mòn và chậm chân được nữa!
SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI
Trích dẫn từ: http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Van-Hoa/Nghiencuu_nguoiViet-Nhanthuc_pp/
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Luật bồi thường thương mại
Luật thương mại Mỹ bao gồm một số đạo luật quy định về những trường hợp bồi thường cụ thể khi hàng hoá nước ngoài được hưởng lơị thế không công bằng trên thị trường Mỹ hoặc hàng xuất khẩu của Mỹ bị phân biệt đối xử trên thị trường nước ngoài.
Các luật áp dụng đối với hàng nhập khẩu
Hai đạo luật phổ biến nhất bảo hộ các ngành công nghiệp Mỹ chống lại hàng nhập khẩu không công bằng là Luật thuế bù giá (CVD) và Luật Chống phá giá. Cả hai luật này quy định rằng phần thuế bổ sung sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công bằng. Cả hai luật bao gồm những thủ tục tương tự để tiến hành điều tra, ấn định thuế, và sau đó là kiểm tra và có khả năng loại bỏ thuế.
Luật thuế bù giá (CVD): Luật thuế bù giá quy định một khoản bồi thường dưới dạng thuế nhập khẩu phụ thu để bù vào phần trợ giá của sản phẩm nước ngoài, mà việc bán sản phẩm đó ở Mỹ gây thiệt hại các nhà sản xuất những hàng hoá giống hoặc tương tự của Mỹ. Trong hầu hết các trường hợp, phần trợ giá phải bù lại có thể do chính phủ nước ngoài trực tiếp trả, nhưng luật này cũng áp dụng đối với loại trợ giá gián tiếp bị phát hiện sau khi điều tra theo luật thuế bù giá.
Việc điều tra theo luật thuế bù giá thường được tiến hành do có đơn khiếu nại của các ngành công nghiệp trong nước trình lên Bộ Thương mại Mỹ và Ủy ban Thương mại Quốc tế, tuy nhiên Bộ Thương mại có thể tiến hành độc lập một luật thuế.
Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế đều có thể tiến hành điều tra. Bộ Thương mại điều tra để xác định xem có sự trợ giá “chịu thuế” trực tiếp hoặc gián tiếp ở nước hoặc lãnh thổ xuất xứ cho việc chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm là đối tượng bị điều tra hay không.
Ðiều tra của Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định xem việc khiếu nại của ngành công nghiệp Mỹ bị thiệt hại vật chất hoặc đe doạ thiệt hại vật chất, hoặc các cơ sở kinh doanh của một ngành có bị thiệt hại vật chất hay không do hàng nhập khẩu được trợ giá. “Thiệt hại vật chất” được định nghĩa trong luật không phải là những thiệt hại nhỏ, vô hình, hoặc không quan trọng.
Ðể áp đặt thuế bù giá, bộ Thương mại phải xác định phần trợ giá chịu thuế bù giá và Ủy ban Thương mại Quốc tế phải tìm ra những thiệt hại.
Luật thuế bù giá còn đề cập đến cả các loại “trợ giá ngược chiều” — những hình thức trợ giá cho sản xuất các yếu tố đầu vào được tính vào sản phẩm cuối cùng xuất khẩu sang Mỹ.
Luật chống phá giá: Luật chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế bù giá. Thuế chống phá giá được ấn định vào hàng nhập khẩu khi người ta xác định được là hàng nước ngoài được bán “phá giá”, hoặc sẽ bán phá giá ở Mỹ với giá “thấp hơn giá trị thông thường”. Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá của hàng nhập khẩu vào Mỹ — tức là giá mua hoặc giá bán của nhà xuất khẩu — thấp hơn mức giá của hàng hoá đó ở nước xuất xứ.
Cũng giống như trường hợp theo luật thuế bù giá, các thủ tục chống phá giá được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành công nghiệp hoặc bộ Thương mại tiến hành độc lập.
Bộ Thương mại phải điều tra để xác định xem có hiện tượng chống phá giá xảy ra hay không. Ủy ban Thương mại Quốc tế sau đó sẽ xác định xem có phải ngành công nghiệp đó của Mỹ đang bị thiệt hại về vật chất hoặc bị đe dọa thiệt hại vật chất, hoặc các cơ sở kinh doanh trong ngành bị thiệt hại do hàng nhập khẩu đó hay không.
Thuế chống phá giá sẽ được ấn định đối với sản phẩm khi việc bán phá giá và thiệt hại được xác định bằng mức chênh cao hơn của “giá trị bình thường” của hàng hoá đó với mức giá xuất khẩu, tức là giá bán tại Mỹ.
Bộ Thương mại sẽ xác định giá trị bình thường của hàng nhập khẩu bằng một trong ba cách. Theo thứ tự ưu tiên đó là: giá bán tại nước xuất xứ, giá bán của hàng hoá tại thị trường thứ ba; và “giá trị tính toán” bằng tổng chi phí sản xuất cộng với các khoản bổ sung cho lợi nhuận, tiền hoa hồng bán hàng, và các chi phí hành chính khác như đóng gói. Nếu số liệu thực tế không có, thì một “vật thay thế” cho lợi nhuận và các chi phí khác sẽ được sử dụng để xác định giá trị tính toán.
Nếu hai hoặc nhiều hơn nữa các nước bị khiếu tố về trách nhiệm chống phá giá hoặc bù giá, luật yêu cầu Ủy ban Thương mại Quốc tế đánh giá luỹ tích số lượng và ảnh hưởng của các hàng nhập khẩu tương tự từ các nước đã bị nêu trên nếu chúng cạnh tranh với nhau và với sản phẩm tương tự trên thị trường Mỹ. Nếu hàng nhập khẩu từ một nước đang bị điều tra được coi là không đáng kể thường được xác định là nhỏ hơn 3% tổng giá trị nhập khẩu của sản phẩm bị điều tra, việc điều tra nước đó sẽ bị dừng lại. Người ta cũng quy định việc miễn trừ những quy tắc luỹ tích ví dụ như việc áp dụng đối với các nước tham gia vào CBI và đối với Ixraen.
Luật chống phá giá còn cho phép các ngành của Mỹ được đệ trình khiếu nại về hoạt động bán phá giá ở nước thứ ba. Ngành công nghiệp của Mỹ có thể đệ trình một đơn khiếu nại, trong đó phải giải thích tại sao việc phá giá lại gây thiệt hại cho các công ty của Mỹ, lên văn phòng Ðại diện Thương mại Mỹ, yêu cầu cơ quan này bảo vệ những quyền lợi của Mỹ theo quy định của WTO. Nếu Ðại diện Thương mại Mỹ xác định là có đủ cơ sở để viện cớ, họ sẽ đệ trình một yêu cầu lên các cơ quan có thẩm quyền ở nước thứ ba yêu cầu họ phải thay Mỹ tiến hành việc chống phá giá.
Tương tự, theo Hiệp định Chống phá giá Trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay, chính phủ một nước thành viên WTO có thể đệ trình một đơn kiến nghị với Ðại diện Thương mại Mỹ yêu cầu mở một cuộc điều tra chống phá giá của một sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Mỹ từ một nước thứ ba.
Các cuộc điều tra chống phá giá và thuế bù giá, áp thuế: Các đơn khiếu nại theo luật chống phá giá và luật thuế bù giá phải được đệ trình đồng thời lên Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ. Nếu đơn khiếu nại được chấp nhận thì sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn, hoặc sau khi bộ Thương mại đã bắt đầu tiến hành điều tra độc lập, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đánh giá sơ bộ về những thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với một ngành công nghiệp của Mỹ.
Các đơn khiếu nại theo luật chống phá giá và luật thuế bù giá phải được đệ trình đồng thời lên Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ. Nếu đơn khiếu nại được chấp nhận thì sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn, hoặc sau khi bộ Thương mại đã bắt đầu tiến hành điều tra độc lập, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đánh giá sơ bộ về những thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với một ngành công nghiệp của Mỹ.
Nếu đánh giá của Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là không có vi phạm thì cuộc điều tra sẽ kết thúc. Nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là có vi phạm thì bộ Thương mại sẽ đánh giá sơ bộ xem có một cơ sở hợp lý nào để tin rằng có sự trợ giá chịu thuế hoặc sự phá giá đã xảy ra hay không.
Nếu Bộ Thương mại xác định là có cơ sở hợp lý, thì trong trường hợp luật thuế bù giá, họ sẽ xác định một biên trợ giá cho từng hãng hoặc từng nước bị điều tra. Việc xác định này phải được hoàn thành trong vòng 65 ngày sau ngày bắt đầu điều tra. Thời hạn này có thể được kéo dài đến 130 ngày.
Trong trường hợp theo luật chống phá giá, sau khi đánh giá sơ bộ, Bộ Thương mại sẽ tính toán biên phá giá bình quân — mức chênh lệch cao hơn của giá trị bình thường của sản phẩm nước ngoài so với giá xuất khẩu. Ðánh giá sơ bộ phải hoàn thành trong vòng 140 ngày sau ngày bắt đầu điều tra. Tuy nhiên, thời hạn này có thể kéo dài lên 190 ngày.
Trong cả hai trường hợp, sau khi những đánh giá sơ bộ đã được hoàn thành, người nhập khẩu sản phẩm đó phải nộp bảo lãnh hoặc đặt cọc bằng tiền mặt tương đương với mức trợ giá thuần dự tính hoặc biên phá giá cho cơ quan Hải quan Mỹ.
Nếu đánh giá sơ bộ của Bộ Thương mại là không có, thì không phải nộp tiền đặt cọc, nhưng điều tra của Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế vẫn tiếp tục cho đến bước đánh giá cuối cùng.
Có một số điều khoản đưa vào hiệp định để tạm hoãn các cuộc điều tra theo cả luật chống phá giá và luật thuế bù giá nếu một số điều kiện được đáp ứng.
Trong vòng 75 ngày đánh giá sơ bộ, trong điều kiện bình thường, Bộ Thương mại sẽ đưa ra đánh giá cuối cùng đối với cả hai trường hợp theo luật chống phá giá và luật thuế bù giá, tuy nhiên thời hạn này có thể kéo dài đến 135 ngày. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại xác định là không có vi phạm, quá trình điều tra sẽ kết thúc và tiền bảo lãnh hoặc tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại là có thì Ủy ban Thương mại Quốc tế sẽ phải xác định những thiệt hại cuối cùng. Ðánh giá cuối cùng của Ủy ban Thương mại Quốc tế phải được thực hiện trong vòng 120 ngày sau khi Bộ Thương mại đưa ra đánh giá sơ bộ hoặc đến ngày thứ 45 sau khi Bộ Thương mại đưa ra đánh giá cuối cùng là có sự vi phạm.
Nếu đánh giá cuối cùng của Ủy ban Thương mại Quốc tế khẳng định là có vi phạm, thì Bộ Thương mại phát yêu cầu nộp thuế theo luật thuế bù giá hoặc chống phá giá trong vòng 7 ngày sau khi có xác nhận có của ẹy ban Thương mại Quốc tế. Lưu ý là mức thuế cuối cùng phải nộp cho hàng nhập khẩu có thể cao hơn nhiều so với mức đặt cọc.
Theo yêu cầu, Bộ Thương mại phải kiểm tra, thường là 12 tháng một lần, mức trợ giá chịu thuế hoặc biên phá giá đối với hàng hoá bị yêu cầu phải nộp thuế bù giá hoặc chống phá giá chưa giải quyết xong. Bộ Thương mại, theo yêu cầu, còn phải kiểm tra các cuộc điều tra đã bị đình chỉ để đánh giá tình trạng và sự tuân thủ hiệp định, cũng như khoản trợ giá chịu thuế thuần và biên phá giá.
Ðạo luật về các hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay quy định rằng Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành “những cuộc kiểm tra lần cuối” trong vòng 5 năm kể từ khi phát hành một lệnh để xác định xem việc hủy bỏ những lệnh có liên quan có dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hoạt động phá giá hoặc trợ giá chịu thuế hay không.
Việc hủy bỏ lệnh phá giá hoặc đình chỉ việc điều tra có thể xảy ra nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là việc hủy bỏ hoặc đình chỉ sẽ không dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành động phá giá hoặc trợ giá chịu thuế.
Các bên không đồng ý với đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế về các vụ chống phá giá hoặc thuế bù giá có thể nộp đơn yêu cầu xử lại lên Toà án Thương mại Quốc tế của Mỹ ở New York. Nếu hàng hoá từ Canada hoặc Mehico, các bên có thể yêu cầu ban hội thẩm lưỡng quốc thuộc NAFTA kiểm tra hoặc có thể kháng cáo lên Toà án Thương mại Quốc tế.
Có một số điều khoản nhất định của luật này được gọi là “những trường hợp khẩn cấp” (critical circumstances) cho phép người khiếu nại có thể yêu cầu một hành động khẩn cấp ngăn chặn làn sóng nhập khẩu đang đe dọa ngành công nghiệp trong nước.
Ðiều 201-204, Ðiều chỉnh hàng nhập khẩu: Các điều từ 201 đến 204, Luật Thương mại năm 1974 ủy quyền cho tổng thống hành động khi một sản phẩm nhất định được nhập vào Mỹ với số lượng lớn gây những thiệt hại nghiêm trọng, hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với ngành công nghiệp trong nước. Quyền này có thể sử dụng ngay cả khi hàng nhập khẩu được định giá gian lận.
Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành điều tra, trả lời khiếu nại của các đại diện thiện chí của ngành, trên cơ sở đề nghị của tổng thống hoặc Ðại diện Thương mại Mỹ, bằng việc nhận một giải pháp của Ủy ban Tài chính và Thuế vụ, Hạ nghị viện hoặc Ủy ban Tài chính Thượng nghị viện, hoặc tự quyết định.
Ủy ban Thương mại Quốc tế có 180 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, đề nghị, hoặc quyết định để tiến hành điều tra và báo cáo đánh giá của ủy ban và bất cứ đề nghị nào lên tổng thống. Cuộc điều tra được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn đầu là để xác định xem có thiệt hại hay không, thường phải hoàn thành trong vòng 120 ngày, và giai đoạn bồi thường nếu điều đó là cần thiết. Nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế đưa ra một đánh giá khẳng định thiệt hại, thì họ sẽ đề nghị tổng thống đưa ra những hành động cho phép tạo điều kiện cho sự điều chỉnh của ngành trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Việc làm này có thể dẫn đến tăng thuế, áp đặt thuế định ngạch, hạn chế số lượng, các biện pháp điều chỉnh, hoặc kết hợp các biện pháp trên. Ðối với các đối tác của NAFTA, Ủy ban Thương mại Quốc tế còn phải xác định xem hàng nhập khẩu từ Mehico và Canada có chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nhập khẩu và thủ phạm chính gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp Mỹ hay không.
Ủy ban Thương mại Quốc tế cũng phải lắng nghe dư luận về các giai đoạn điều tra thiệt hại và bồi thường của họ.
Trên cơ sở nhận được báo cáo của Ủy ban Thương mại Quốc tế bao gồm đánh giá xác nhận tổn thất và để nghị bồi thường, tổng thống có 60 ngày để quyết định xem phải làm gì. Tổng thống không bị giới hạn bởi những đề nghị của Ủy ban Thương mại Quốc tế. Tổng thống có thể thực hiện đề nghị của Ủy ban Thương mại Quốc tế, có thể sửa lại một số hình thức khác trong quyền hạn của mình, hoặc không làm gì cả. Tổng thống phải báo cáo với Quốc hội về hành động của mình. Nếu hành động đó khác với những đề nghị của Ủy ban Thương mại Quốc tế, tổng thống sẽ phải giải thích lý do tại sao. Quốc hội có thể, thông qua một giải pháp chung trong vòng 90 ngày, yêu cầu tổng thống công bố những hành động do Ủy ban Thương mại Quốc tế đề nghị.
Có một số điều khoản đặc biệt trong đó cho phép cắt giảm nhập khẩu “tạm thời” nếu sắp hoàn tất quá trình điều tra.
Cắt giảm này có thể được quy định trong giai đoạn đầu cho đến khi được 4 năm và có thể được kéo dài, nhưng tổng thời gian hoãn không quá 8 năm. Nếu việc cắt giảm được chấp nhận, Ủy ban Thương mại Quốc tế quản lý sự phát triển trong các ngành được hưởng lợi từ hành động này. Khi việc cắt giảm đã được 3 năm, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đệ trình lên tổng thống và Quốc hội về tình trạng của ngành công nghiệp, không quá thời điểm giữa của giai đoạn cắt giảm.
Một ngành được cắt giảm nhập khẩu có thể yêu cầu gia hạn bằng việc đệ đơn trong khoảng từ 6 đến 9 tháng trước khi thời hạn cắt giảm kết thúc nếu ngành đó dự định gia hạn.
Ðiều 337, Bảo hộ Quyền Sở hữu Trí tuệ: Ðiều 337 chủ yếu được sử dụng để ngăn chặn sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng nhập khẩu. Ðiều luật này xác định những hình thức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bất hợp pháp như bằng sáng chế, thương hiệu đã đăng ký, bản quyền, nguyên lý hoạt động của sản phẩm vi mạch bán bẫn của Mỹ hợp lệ và được bảo hộ. Ðiều 337 cấm các hình thức cạnh tranh gian lận và những hành vi gian lận trong nhập khẩu và bán sản phẩm ở Mỹ, sự đe doạ hoặc ảnh hưởng của những hành động sẽ phá hoại hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng ngành công nghiệp trong nước hoặc sẽ cản trở và độc quyền hoá thương mại ở Mỹ.
Ðiều tra theo điều 337 được tiến hành trên cơ sở đơn khiếu nại hoặc do chính Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành độc lập. Nhìn chung, nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác minh hàng nhập khẩu phạm luật, họ có thể ra lệnh ngăn chặn không cho sản phẩm đó nhập vào Mỹ và có thể yêu cầu các bên trong nước có liên quan đến vụ này chấm dứt những sự liên can đến những hoạt động bất hợp pháp này. Nếu sản phẩm đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì không cần phải tiến hành điều tra thiệt hại.
Tổng thống có thể hủy bỏ lệnh của Ủy ban Thương mại Quốc tế trong vòng 60 ngày vì “những lý do chính trị”.
Các luật Hỗ trợ Xuất khẩu và Triển khai Hiệp định Thương mại:
Ðiều 301 của Luật Thương mại 1974 là luật quan trọng nhất của Mỹ để thực hiện quyền của các công ty Mỹ trong khuôn khổ của các hiệp định thương mại hiện hành, để thúc đẩy việc tiếp cận thị trường nước ngoài cho hàng hoá và dịch vụ của Mỹ, và để ngăn chặn những hành vi nhất định của nước ngoài như xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Luật này thiết lập một quy trình để Văn phòng Ðại diện thương mại Mỹ điều tra những hành vi của nước ngoài và thảo luận với chính phủ nước ngoài để tìm kiếm một cách giải quyết những tranh chấp, mà có thể là thoả thuận cấp chính phủ để ngăn chặn những hành động xâm phạm, hoặc để bồi thường lợi ích cho Mỹ.
Nếu không có một thoả thuận vừa ý, luật này yêu cầu Ðại diện Thương mại Mỹ sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp đã có theo hiệp định thương mại được áp dụng. Ví dụ, năm 1996 có chín vụ vi phạm điều 301 đã chuyển sang thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Nếu bước này vẫn chưa đưa ra được một giải pháp vừa ý đối với tranh chấp, Ðại diện Thương mại Mỹ có thể tiến hành một số bước khác, có thể bao gồm việc tạm hoãn những thoả thuận của hiệp định thương mại, ấn định thuế hoặc hạn chế nhập khẩu, và thu phí hoặc đưa ra hạn chế đối với các dịch vụ.
Việc xúc tiến các vụ theo điều 301 có thể trên cơ sở đơn kiện trong nước hoặc do Ðại diện Thương mại Mỹ độc lập tiến hành.
Quốc hội quy định rằng Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ tiến hành đánh giá hàng năm các hàng rào của nước ngoài, kết quả này được công bố hàng năm dưới dạng “Báo cáo Ðánh giá Thương mại Quốc gia về các Hàng rào Ngoại thương” (National Trade Estimate Report on Foreign Trade), còn được gọi là báo cáo NTE.
Super 301: Báo cáo NTE được sử dụng để lập một danh sách những thông lệ quốc gia ưu tiên gọi là “super 301”, chủ yếu là danh sách các nước là đối tượng của luật “super 301”.
Ðược đặt ra trong Bộ Luật chung về Thương mại và Cạnh tranh, Super 301 đã hết hạn năm 1990, nhưng tổng thống Clinton đã sử dụng lại luật này bằng quyền hành pháp của tổng thống, lần gia hạn gần đây nhất sẽ hết hạn vào cuối năm 1997. Quyền hành pháp của tổng thống quy định rằng trong vòng 6 tháng đệ trình Báo cáo NTE, Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ xác định những thông lệ ưu tiên của nước ngoài mà, nếu loại trừ, sẽ có khả năng nhất để tăng xuất khẩu của Mỹ. Ðại diện Thương mại Mỹ phải báo cáo lên Ủy ban Tài chính Thượng nghị viện vàỦy ban Tài chính và Thuế vụ về những thông lệ này. Trong vòng 21 ngày sau khi trình báo cáo, Ðại diện Thương mại Mỹ phải tiến hành điều tra theo điều 301 về các thông lệ ưu tiên của nước ngoài được xác định trong báo cáo. Vẫn chưa có một thông lệ ưu tiên nï của nước ngoài được xác định theo điều 301 kể từ năm 1989.
Ðiều 301 Ðặc biệt: Phần mở rộng thứ hai của Ðiều 301 là “Special 301”, yêu cầu Ðại diện Thương mại Mỹ xác định các nước từ chối bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ, hoặc các nước từ chối sự tiếp cận thị trường công bằng và trung thực đối với những người dựa vào quyền sở hữu trí tuệ. Các nước có những luật, chính sách, hoặc thông lệ nặng nề và gây sốc nhất hoặc luật, chính sách, thông lệ của các nước này có ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) xấu nhất đối với các sản phẩm của Mỹ, và không tham gia vào các cuộc thương lượng một cách thiện chí để giải quyết các vấn đề này, bị coi là “các nước ưu tiên” (priority foreign countries).
Ðại diện Thương mại Mỹ phải quyết định nước nào cần xem xét trong vòng 30 ngày sau khi công bố Báo cáo NTE. Nếu một đối tác thương mại rơi vào danh sách “các nước ưu tiên”, trong vòng 30 ngày Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ phải quyết định có cần tiến hành một cuộc điều tra về các luật, chính sách, thông lệ được coi là cơ sở để xét đó là một nước ưu tiên. Các nước đã được xác định sẽ có thể là đối tượng của điều 301.
Mặc dù không có trong điều 301, Ðại diện Thương mại Mỹ vẫn duy trì các nhóm quốc gia riêng biệt trong đó vẫn còn tồn tại vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Các quốc gia có những thông lệ có ít hơn một tác động, nhưng vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng, sẽ bị đưa vào “danh sách ưu tiên theo dõi” hoặc “danh sách theo dõi”. Các nước bị đưa vào danh sách ưu tiên theo dõi là trọng tâm của sự quan tâm song phương liên quan đến những lĩnh vực có vấn đề. Các nước thường xuyên bị đưa vào, bị chuyển sang một danh sách khác, hoặc xoá tên hoàn toàn khỏi danh sách do kết quả điều tra theo điều Special 301 hàng năm của Ðại diện thương mại Mỹ.
Ngày 30/4/1997, Ðại diện Thương mại Mỹ đã thông báo rằng có 10 nước có thể bị đưa vào danh sách ưu tiên theo dõi và 36 nước khác bị đưa vào danh sách theo dõi. Ðại diện Thương mại Mỹ còn thông báo rằng do kết quả kiểm tra theo điều 301 đặc biệt, Mỹ có thể yêu cầu WTO tiến hành giải quyết tranh chấp đối với 4 nước, đưa ra 10 vụ của WTO liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ do Mỹ khởi xướng. Chưa có quốc gia nào bị coi là nước ưu tiên.
Các cuộc kiểm tra “không định kỳ” có thể được, và thường được tiến hành vào bất cứ lúc nào trong năm, nhờ đó các nước có thể bị đưa vào hoặc xoá tên khỏi danh sách theo dõi.
=======================================
Filed under: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ, Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Một người thân vừa mới qua đời tại Pháp, không để lại di chúc. Người đã mất có thể là bố, mẹ, bác, cô, vợ, chồng, anh chị, em ruột hay anh chị em họ với một hoặc nhiều người sống tại Việt Nam. Xung quanh vấn đề thừa kế có yếu tố nước ngoài, có nhiều câu hỏi sẽ đặt ra: Ai sẽ là người được hưởng thừa kế? Luật của Pháp có quy định giống luật Việt Nam về quyền thừa kế của vợ hoặc chồng goá hay không? Trình tự giải quyết thừa kế ở pháp được tiến hành ra sao? Đâu là những khoản phí phải trả? Trong hàng loạt vấn đề pháp lý, thuế khoá do việc mở thừaa kế sẽ đặt ra, vấn đề nào cần phải giải quyết trước? Điều gì nên làm và điều gì tuyệt đối không nên làm? Xin chia sẻ cùng các đồng nghiệp một vài hiểu biết về thủ tục thừa kế tiến hành tại Pháp.
Trình tự giải quyết.
Việc giải quyết thừa kế tại Pháp sẽ qua bốn giai đoạn và do một Công chứng viên, được nhà nước uỷ quyền, chịu trách nhiệm thực hiện.
Lập danh sách những người thừa kế.
Trong giai đoạn đầu tiên này, cần lập danh sách những người có quyền hưởng thừa kế và kỳ phần tương ứng của họ.
Để làm việc này, người công chứng viên yêu cầu thân nhân của người quá cố cung cấp tài liệu xác định những thành viên của gia đình mà việc thừa kế có thể sẽ liên hệ đến ( sổ hộ khẩu gia đình, thoả ước hôn nhân bản án ly dị…) tiếp theo, người công chứng viên tập hợp những giấy tờ thể hiện ý chí của người quá cố định đoạt một phần hay toàn bộ di sản thừa kế: di chúc, hợp đồng tặng cho tài sản giữa vợ chồng. Người công chứng viên sẽ tra cứu cơ sở dữ liệu tại Trung tâm lưu trữ di chúc để kiếm những di chúc mà người quá cố đã lập.
Xác định khối di sản thừa kế.
Trong giai đoạn này, Công chứng viên thống kê khối di sản người quá cố để lại, trong đó liệt kê tài sản có (gồm số dư tài khoản, chứng khoản, động sản, bất động sản) cùng với ước tính giá trị của nhưng tài sản này và những khoản nợ. Để làm việc này, người công chứng viên thu thập những giấy tờ như chứng từ sở hữu, giấy báo có ngân hàng, sổ tiết kiệm, hoá đơn… cho phép xác tài sản có và tài sản nợ trong khối di sản. Những người thừa kế cũng cần cung cấp cho người công chứng viên những giao dịch khác nhau người quá cố đã thực hiện như mua, bán, đổi chác, lập công ty, tặng cho.. Tuỳ theo từng trường hợp mà người công chứng viên lập bản tình trạng khối di sản hoặc lập bản kiểm kê tài sản.
Kê khai thừa kế.
Sau hai bước trên, công chứng viên thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký bất động sản (do có sự chuyển dịch quyền sở hữu) và khai thừa kế gồm lập và gửi cho Cơ quan quản lý thế chấp Giấy chứng nhận bất động sản đối với tài sản trả thuế do cơ quan thuế vụ trong thời hạn 6 tháng kể từ thời điểm mở thừa kế hoặc đề nghị trả chậm hoặc trả từng phần khoản thuế này.Những người thừa kế có thể quyết định trong giai đoạn này việc chia hoặc không chia, một phần hoặc toàn bộ di sản với lời tư vấn của công chứng viên.
Phân chia thực tế di sản thừa kế.
Việc phân chia thực tế khối di sản thừa kế là giai đoạn cuối cùng. Những người thừa kế có thể quyết định không phân chia khối di sản và trong trường hợp này, họ giữ chế độ sở hữu chung (theo phần) bao lâu tuỳ thích.
Tuy vậy, khi chế độ sở hữu chung tỏ ra không phù hợp, những người thừa kế (là đồng chủ sở hữu) có thể quyết định phân chia khối di sản. Về nguyên tắc, quyết định phân chia di sản có thể xảy ra bất cứ lúc nào và theo nguyên tắc tự chia và tự thoả thuận. Trong trường hợp có bất đồng nghiêm trọng (ví dụ như thành phần tài sản của mỗi suất thừa kế hay việc định giá những tài sản đó) tranh chấp sẽ do Toà án giải quyết (tốn thêm thời gian và tiền bạc cho vụ kiện dân sự).
Mất bao nhiêu thời gian ?
Thời gian giải quyết thừa kế tuỳ thuộc nhiều vào đặc điểm từng trường hợp. Trung bình là mất 6 tháng kể từ ngày mở thừa kế. Đó cũng là thời hạn mà luật yêu cầu phải nộp các khoản thuế từ thừa kế. Nếu chậm nộp, thì sẽ phải chịu phạt 0,75%/tháng trên khoản tiền chậm nộp.
Ngoài những trình tự giải quyết chung nói trên, có thể có thêm những thủ tục đặc biệt và như vậy, thời gian sẽ kéo dài thêm vài ba tháng. Ví dụ, nếu có người thừa kế là vị thành niên hoặc người không có năng lực hành vi (đặt dưới chế độ giám hộ hoặc đỡ đầu), thì có thể phải triệu tập Hội đồng gia đình, tham khảo ý kiến của thẩm phán giám hộ hoặc xin phép những người này. Một số tài sản phải được xử lý đặc biệt như sản nghiệp thương mại, nông trại, doanh nghiệp cần phải duy trì hay cần chuyển quyền khai thác cho người khác. Đôi khi phải trưng cầu giám định hoặc người quản lý tư pháp. Việc tìm kiếm những người thừa kế theo luật hoặc theo di chúc đôi khi được trao cho chuyên gia phả hệ, và có thể nói trước thời gian tìm kiếm là bao lâu.
Còn có nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng đến quá trình giải quyết thừa kế, và đến thời hạn giải quyết như: Mức độ hoà thuận giữa những người thừa kế, tầm quan trọng của khối di sản hoặc khoản nợ, sự xuất hiện người thừa kế nước ngoài hoặc tài sản thừa kế nằm ở nước ngoài.
Chi phí ?
Những chi phí mà những người thừa kế trả trong quá trình giải quyết thừa kế tại Pháp sẽ bao gồm 3 loại: Thuế trả cho Nhà nước Pháp (gồm thuế thu nhập từ thừa kế giao động từ 5% đến 60% tuỳ theo mức độ gần gũi giữa người thừa kế và người để lại thừa kế và giá trị tài sản được nhận, thuế tem, thuế trên giá trị gia tăng do chuyển nhượng bất động sản), các chi phí mà Công chứng viên đã chi (chi phí để xin một số giấy tờ bắt buộc, lệ phí đăng ký bất động sản) và tiền thù lao của công chứng viên chịu trách nhiệm giải quyết thừa kế (theo biểu thù lao Nhà nước qui định).
=========================
Luật sư Trần Nguyên Hạnh
Văn Phòng Luật sư Nam Á
Nguồn thông tin: http://www.luatsuhanoi. org.vn
Filed under: 4. THỪA KẾ, 5. PL áp dụng đối với QHDS CÓ YTNN | Leave a comment »
NGUYỄN VĂN CƯƠNG
Nhằm góp phần đảm bảo cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân và tổ chức trong xã hội, ngày 12/5/1994, Trung Quốc ban hành Luật Bồi thường nhà nước, đạo luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/1995.
Luật Bồi thường nhà nước được chia làm 6 chương, gồm có 35 điều. Chương 1: “Những quy định chung”, gồm 2 điều (Điều 1 và Điều 2) quy định mục đích và nguyên tắc bồi thường nhà nước. Chương 2: “Bồi thường hành chính”, gồm 12 điều (từ Điều 3 đến Điều 14), quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các cơ quan hành chính khi thực thi nhiệm vụ, quyền hạn trái pháp luật gây ra. Chương 3: “Bồi thường hình sự” gồm 10 điều (từ Điều 15 đến Điều 24), quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự (hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự) gây ra cho cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác trong xã hội. Chương 4: “Hình thức và cách xác định bồi thường”, gồm 9 điều (từ Điều 25 đến Điều 33), quy định về hình thức bồi thường và cách xác định mức bồi thường. Chương 5: “Các quy định bổ sung”, gồm 2 điều (từ Điều 34 đến Điều 35) quy định nguyên tắc không thu phí, lệ phí, án phí, thuế đối với yêu cầu đòi bồi thường của người bị thiệt hại (Điều 34) và thời điểm có hiệu lực của Luật (Điều 35).
Theo quy định của chương 1, Luật Bồi thường nhà nước nhằm mục đích: (1) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác khi cơ quan nhà nước không thực thi đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. (2) khuyến khích các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Điều này cũng có nghĩa là, việc ban hành Luật Bồi thường nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Trung Quốc, đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, theo đó không chỉ cá nhân, pháp nhân và các tổ chức trong xã hội có trách nhiệm tôn trọng, tuân thủ pháp luật mà bản thân cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức cũng phải tuân thủ pháp luật khi thực thi quyền lực nhà nước.
Phạm vi trách nhiệm bồi thường nhà nước
Theo quy định tại chương 2 và chương 3 của Luật Bồi thường Nhà nước, việc bồi thường nhà nước được đặt ra trong 2 lĩnh vực: hành chính và hình sự (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự). Đối với các thiệt hại do các cơ quan nhà nước thực hiện trong các hoạt động tố tụng như xét xử và thi hành án dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, thương mại, hành chính gây ra, việc bồi thường được áp dụng tương tự như trong lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, Luật Bồi thường nhà nước chưa đề cập đến các thiệt hại do các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, lập quy gây ra.
a. Bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hành chính
Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc quy định người bị thiệt hại được bồi thường đối với thiệt hại về quyền nhân thân và quyền tài sản. Cụ thể là Điều 3 quy định: Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường khi cơ quan hành chính hoặc cán bộ, công chức của cơ quan này khi thực thi nhiệm vụ có một trong những hành vi nào trong các hành vi sau đây xâm phạm quyền nhân thân:
(1) Giam giữ công dân một cách trái pháp luật hoặc áp dụng một cách trái pháp luật các biện pháp cưỡng chế hành chính xâm phạm quyền tự do thân thể của công dân;
(2) Bắt giữ một cách trái pháp luật hoặc tước đoạt các quyền tự do thân thể bởi các phương tiện bất hợp pháp khác;
(3) Sử dụng bạo lực gây thương tích hoặc làm chết người;
(4) Sử dụng trái pháp luật vũ khí, các phương tiện cưỡng c hế gây thương tích hoặc làm chết người;
(5) Các hành vi trái pháp luật khác gây thương tích hoặc làm chết người.
Điều 4 quy định:
Người bị thiệt hại có quyền bồi thường nếu cơ quan hành chính hoặc cán bộ, công chức của cơ quan này khi thực thi nhiệm vụ có một trong những hành vi sau đây xâm phạm tới quyền tài sản:
(1) áp dụng một cách trái pháp luật các chế tài hành chính như phạt tiền, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận, buộc đình chỉ hoạt động sản xuất, kinh doanh, tịch thu tài s ản;
(2) áp dụng một cách trái pháp luật các biện pháp cưỡng chế hành chính như niêm phong, phong toả, cấm sử dụng, khai thác tài sản;
(3) Chiếm dụng tài sản, thu các khoản phí trái với quy định của nhà nước;
(4) Thực hiện các hành vi trái pháp luật khác gây thiệt hại về tài sản”.
Bên cạnh đó, Điều 5 của Luật cũng quy định những trường hợp, cơ quan nhà nước không chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại, đó là: (1) Việc thực thi nhiệm vụ quyền hạn được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; (2) Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi của các cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác; (3) các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
Để đảm bảo quyền của người bị thiệt hại, Điều 6 của Luật về quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại. Trường hợp người bị thiệt hại là cá nhân chết, thì người thừa kế của người này có quyền yêu cầu bồi thường. Trường hợp người bị thiệt hại là pháp nhân, tổ chức khác đã bị chấm dứt hoạt động thì người kế thừa pháp nhân, tổ chức đó có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Điều 7 của Luật quy định: cơ quan nào gây ra thiệt hại thì cơ quan đó phải có trách nhiệm bồi thường. Nếu có nhiều cơ quan cùng liên đới gây ra thiệt hại thì các cơ quan đó cùng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp tổ chức được ủy quyền thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về hành chính theo quy định của pháp luật mà gây thiệt hại, thì tổ chức được ủy quyền phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ của cơ quan hành chính khác mà gây thiệt hại thì cơ quan hành chính đã ủy quyền phải chịu trách nhiệm bồi thường. Trường hợp cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường không còn tồn tại thì cơ quan kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó sẽ phải bồi thường. Trường hợp không có cơ quan kế thừa nhiệm vụ, quyền hạn thì cơ quan ra quyết định chấm dứt sự tồn tại của cơ quan có trách nhiệm bồi thường sẽ phải bồi thường.
Để được bồi thường thiệt hại, người bị thiệt hại phải gửi đơn yêu cầu đến cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Trong thời hạn 2 tháng, cơ quan nhận đơn phải xem xét bồi thường thiệt hại. Nếu không được bồi thường hoặc không thoả mãn với mức bồi thường, người bị thiệt hại có thể khởi kiện tại Toà án có thẩm quyền trong thời hạn 3 tháng kể từ khi hết thời hạn giải quyết việc bồi thường (Điều 13).
Sau khi bồi thường, cơ quan đã thực hiện việc bồi thường có trách nhiệm xử lý người có hành vi cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và các tổ chức khác để buộc người này phải chịu một phần hoặc toàn bộ phần tiền đã bồi thường và chế tài hành chính. Trường hợp có dấu hiệu tội phạm, người gây thiệt hại sẽ bị điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật hình sự (Điều 14).
b. Bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hình sự
Điều 15 của Luật Bồi thường nhà nước Trung Quốc quy định: người bị thiệt hại bởi hành vi của cơ quan tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có quyền yêu cầu bồi thường trong các trường hợp sau:
– Bị giam giữ trái pháp luật mà không có bằng chứng rõ ràng về việc thực hiện hành vi phạm tội;
– Bị bắt giữ trái pháp luật mà không có chứng cứ về việc thực hiện hành vi phạm tội;
– Bị kết tội và đã bị thi hành án nhưng được tuyên là vô tội;
– Bị bức cung, nhục hình dẫn đến gây thương tích hoặc làm chết người;
– Bị gây thương tích hoặc chết do cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng trái phép các vũ khí, công cụ hỗ trợ.
Điều 16 của Luật cũng quy định, người bị thiệt hại về tài sản được bồi thường khi cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự có một trong các hành vi sau:
– Thực hiện một cách trái pháp luật việc niêm phong, phong toả, hoàn trả tài sản;
– Tịch thu tài sản, phạt tiền do bị kết tội nhưng sau đó lại được tuyên vô tội.
Tuy nhiên, Nhà nước không chịu trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp sau đây:
– Việc bị bắt, giam giữ hoặc kết tội là do chính người bị thiệt hại đã cố ý khai báo gian dối, giả mạo chứng cứ;
– Cơ quan tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình;
– Thiệt hại xảy ra là do người bị thiệt hại tự gây ra;
– Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
Về cơ quan chịu trách nhiệm bồi thường, Điều 19 của Luật quy định: cơ quan nào gây thiệt hại thì cơ quan đó có trách nhiệm bồi thường. Đối với trường hợp giam giữ thì cơ quan quyết định việc giam giữ phải có trách nhiệm bồi thường. Đối với trường hợp bắt giữ thì cơ quan quyết định việc bắt giữ phải có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp người bị kết tội bị xét xử nhưng sau đó vô tội thì Toà án đã kết tội phải có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp án sơ thẩm tuyên có tội, án phúc thẩm tuyên vô tội thì Toà sơ thẩm phải có trách nhiệm bồi thường.
Để được bồi thường, người bị thiệt hại phải gửi đơn yêu cầu tới cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải giải quyết yêu cầu bồi thường trong vòng 2 tháng, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu bồi thường. Trong thời hạn đó nếu người yêu cầu bồi thường không được giải quyết bồi thường hoặc được giải quyết nhưng không thoả mãn với mức bồi thường, thì trong vòng 30 ngày, kể từ khi hết thời hạn giải quyết bồi thường, người đó có quyền khiếu nại lên cấp trên trực tiếp của cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Trường hợp cơ quan có trách nhiệm bồi thường là toà án nhân dân thì việc khiếu nại được chuyển lên Hội đồng giải quyết bồi thường của Toà án nhân dân ở cấp cao hơn.
Trong vòng 2 tháng, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, cơ quan nhận được đơn phải có trách nhiệm xem xét, giải quyết. Nếu vẫn không đồng ý với quyết định giải quyết của cơ quan này, người khiếu nại có thể gửi đơn đến Hội đồng giải quyết bồi thường của Toà án cùng cấp với cơ quan giải quyết đơn khiếu nại việc bồi thường để yêu cầu giải quyết bồi thường. Quyết định của Hội đồng giải quyết bồi thường có hiệu lực thi hành (Điều 23).
Hội đồng giải quyết bồi thường được thành lập tại các Toà án từ cấp bậc trung trở lên, bao gồm từ 3 đến 7 thẩm phán hoạt động theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số (Điều 23).
Sau khi bồi thường, cơ quan đã bồi thường phải xử lý và yêu cầu cán bộ, công chức có lỗi trong việc gây ra thiệt hại phải bồi hoàn một phần hoặc toàn bộ khoản bồi thường (Điều 24).
Hình thức bồi thường và xác định mức bồi thường
Điều 25 của Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc quy định, hình thức bồi thường chủ yếu sẽ là bồi thường bằng tiền. Trường hợp tài sản bị thu giữ trái pháp luật vẫn còn hoặc có thể khôi phục nguyên trạng được thì tài sản này sẽ được trả lại và khôi phục lại nguyện trạng.
Trường hợp quyền tự do của công dân bị xâm hại thì mức bồi thường cho mỗi ngày bị xâm hại là mức tiền lương trung bình mỗi ngày của người lao động tính được trong năm trước đó (Điều 26).
Trường hợp sức khoẻ bị xâm hại thì tiền chi phí y tế và thu nhập bị mất do không lao động được sẽ được bồi thường. Tiền thu nhập bị mất được tính theo mức tiền lương trung bình mỗi ngày của người lao động tính trong năm trước đó nhưng tổng số tiền được bồi thường tối đa là 5 lần tiền lương năm của người lao động đó.
Trường hợp mất khả năng lao động thì tùy theo mức độ mất khả năng lao động mà người bị thiệt hại được bồi thường chi phí chữa trị và phần thu nhập bị mất do mất khả năng lao động nhưng phần thu nhập bị mất được bồi thường tối đa là 10 lần lương trung bình của người lao động trong năm trước đó (đối với trường hợp mất một phần khả năng lao động) và 20 lần mức lương trung bình của người lao động trong năm trước đó (đối với trường hợp mất toàn bộ khả năng lao động). Tiền mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác cũng được bồi thường.
Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì mức bồi thường là 20 lần tiền lương năm trung bình của người lao động trong năm trước đó. Tiền mà người bị chết có nghĩa vụ cấp dưỡng cho người khác cũng được bồi thường.
Trường hợp quyền tài sản bị xâm hại, thì việc giải quyết bồi thường được quy định như sau:
– Trường hợp tịch thu tài sản, thì tài sản sẽ được hoàn trả;
– Trường hợp tài sản bị niêm phong, phong toả thì lệnh niêm phong, phong toả sẽ bị hủy. Nếu vì sự niêm phong, phong toả này mà tài sản bị thiệt hại thì phần thiệt hại này sẽ được bồi thường;
– Trường hợp tài sản được hoàn trả mà có thể khôi phục nguyên trạng thì tài sản sẽ được khôi phục nguyên trạng, trường hợp không khôi phục được thì phần thiệt hại sẽ được bồi thường;
– Nếu tài sản không hoàn trả lại được do bị mất, bị tiêu hủy thì sẽ được bồi thường toàn bộ giá trị;
– Nếu tài sản đã bị bán đấu giá thì tiền bán đấu giá sẽ được hoàn trả;
– Nếu giấy phép hoặc giấy chứng nhận bị thu hồi trái pháp luật thì giấy phép và giấy chứng nhận được cấp lại và thiệt hại do hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ sẽ được bồi thường.
– Các thiệt hại khác đối với tài sản sẽ được bồi thường theo thực tế xảy ra.
Thời hiệu yêu cầu bồi thường
Theo Điều 32 của Luật Bồi thường nhà nước của Trung Quốc, thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm, kể từ khi việc thực thi nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan, cán bộ công chức gây ra thiệt hại chính thức được xác định là trái pháp luật. Thời hạn bị giam giữ không được tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường.
SOURCE:TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ 7/2005
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, Trách nhiệm dân sự | Leave a comment »