NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI VIỆT NAM: MẤY VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP

HỒ BÁ THÂM

Mấy vấn đề đặt ra trong việc nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay

Có thể nói rằng từ lâu các học giả nước ta đã chú ý nghiên cứu con người và nhất là con người Việt Nam từ nhiều góc độ, lối nhìn mà càng về sau càng toàn diện và sâu sắc hơn. Kết quả đó cũng khá khả quan như một bước tiến dài trên con đường nghiên cứu nhiều mặt giúp cho độc giả có hiểu biết khá hệ thống ở tầm khoa học và triết học về con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng.

Tác giả Nguyễn Văn Huyên đã tổng quan những nghiên cứu về con người như một cấu trúc sinh học – xã hội, vai trò lao động và xã hội đối vôi con người, bản chất xã hội của con người, con người văn hóa, con người họat động, con người là chủ thể sáng tạo, phát triển toàn diện, những nhân tố tác động hình thành con người, mới, những đặc điểm và hệ thống phẩm chất, giá trị của con người Việt Nam cả về phương diện khảo cổ, dân tộc học, lịch sử…

Tác giả đã chú ý chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu con người Việt Nam hiện nay và nhận xét rằng những nghiên cứu này thể hiện quan niệm giản đơn, nghèo nàn trong việc tiếp cận, mang tính suy luận nhiều hơn là điều tra thực tế, thực nghiệm. Theo tôi, không chỉ có vậy, hạn chế đáng nới nhất là ít có cách đặt vấn đề xây dựng một chuyên ngành khoa học chung về con người, ít có công trình liên ngành, cho nên vẫn tồn tại một cách nhìn tản mạn, chia cắt, thiếu sự liên kết hệ thông khoa học về con người như một khoa học tương đối độc lập.

Chính cách đặt vấn đề về triển vọng của chuyên ngành khoa học mới về con người (như chúng tôi có dịp đề cập) và sự xuất hiện Viện Nghiên cứu con người đã mang lại khả năng khắc phục những hạn chế trên đây. Điều này, có nghĩa là việc nghiên cứu con người Việt Nam phải được đặt trong một hệ thống khoa học liên ngành duy nhất – quy về một mối với cái nhìn toàn diện, toàn cục, tổng thể. Phương pháp luận khoa học chuyên ngành và liên ngành, tổng hợp, đã có sự kết dính hệ thống chỉnh thể. Có như thế mới tránh được "cha chung không ai khóc", "thấy cây mà không thấy rừng" (và thấy rừng mà không thấy cây), tránh được sai lầm "sờ voi" của các thầy bói mù.

Nghiên cứu thêm một số tư liệu khác khi nghiên cứu về con người Việt Nam ở góc nhìn tâm lý dân tộc hay ở góc nhìn văn hoá truyền thống thì thấy rằng chúng ta vẫn còn những hạn chế cụ thể bộc lộ một phương pháp nghiên cứu hoặc cách nhìn, quan niệm chưa hoàn toàn biện chứng và toàn diện.

Chẳng hạn, có nghiên cứu đã chỉ ra được một số giá trị tinh thần của người Việt, dù rằng kết quả có mặt sâu sắc, có mặt còn hạn chế, nhưng lại không chú ý hay không nghiên cứu các mặt thể chất người Việt, sinh thể người Việt, hoặc nghiên cứu mặt xã hội (tuyệt đối mặt xã hội) mà không nghiên cứu mặt tự nhiên, sinh . học và ngược lại (một số nghiên cứu trong ngành y học hoặc thể dục thể chất).

Một thời chúng ta phê phán quan niệm tuyệt đối hoá nghiên cứu mặt tự nhiên của con người lại chuyển sang cực đoan khác là chỉ nhấn mạnh mặt bản chất xã hội, tổng hoà các quan hệ xã hội. Nghiên cứu con người Việt Nam chỉ nghiên cứu mặt tinh thần mà ít nghiên cứu mặt thể chất. Hoặc nghiên cứu mặt đạo đức mà không nghiên cứu mặt trí tuệ, mặt duy lý, nghiên cứu mặt duy lý không chú ý mặt tình cảm, mặt ý thức và đặc biệt là quên nghiên cứu mặt vô thức, trực giác, tâm linh, thậm chí còn phủ nhận nó. Chúng ta đã có những công trình về đạo đức của con người Việt Nam nhưng thiếu công trình khoa học về tư duy, trí tuệ, nhất là về mặt tâm linh của con người Việt Nam. Những công trình về văn hoá tâm linh, hay có chiều sâu tâm linh, rất hiếm và chưa được đánh giá. Đó là chưa kể đã có lúc phủ nhận cái tâm linh, không nghiên cứu nó như một vấn đề khoa học.

Lại có xu hướng chỉ nhấn mạnh nghiên cứu con người tập thể, con người giai cấp, nghiên cứu vĩ nhân, không có chương trình nghiên cứu các tài năng, phát triển năng khiếu hoặc ít nghiên cứu con người cá nhân, coi nhẹ cá nhân, coi cá nhân là vấn đề riêng tư, nêu vấn đề chống "chủ nghĩa cá nhân" nhưng lại không phân tích rõ nội hàm của nó chủ yếu là chống chủ nghĩa vị kỷ, ích kỷ nên không ít khi coi nhẹ cá nhân, lợi ích, năng lực cá nhân. Trong thời kỳ mới, chủ nghĩa xã hội về bản chất, xét đến cùng là giải phóng cá nhân con người. Vậy mà chúng ta phê phán mật hạn chế của tính cộng đồng nhưng vẫn không mạnh dạn đề cao con người cá nhân. Hoặc khi nghiên cứu con người giai cấp, con người dân tộc, chúng ta ít nghiên cứu con người nhân loại con người tộc loại.

Hoặc nghiên cứu con người văn hoá lại coi nhẹ con người kinh tế, con người kỹ thuật, hay nghiên cứu con người kỹ thuật lại coi nhẹ con người đạo đức, con người tâm linh. Hoặc có khi lại quá đề cao vai trò của tâm linh, đạo đức tôn giáo (Phật giáo) trong não trạng người Việt. Hoặc nghiên cứu con người tách rời hoàn cảnh mà quên cái nội lực, đến di truyền, cả di truyền văn hoá và di truyền sinh học….

Hoặc chỉ nhấn mạnh con người có ý thức, nghiên cứu mặt tình cảm, mặt trí tuệ mà ít chú ý con người nhu cầu, con người lợi ích, tức các khía cạnh nhu cẩu và lợi ích của con người, mà thoát ly mặt này thì ý thức tư tưởng chỉ còn treo lơ lửng ở trên không. Khi sang thời kỳ hoà bình, phát triển kinh tế, chúng ta chú ý hơn đến nghiên cứu mặt nhu cầu, lợi ích của con người, trước hết ở mặt vật chất thì lại có biểu hiện coi nhẹ mặt tinh thần. Nghiên cứu sâu nhu cầu của con người là một trong những vấn đề có tầm triết học (chứ không chỉ ở góc độ khoa học tâm lý) và qua đó chúng ta mới biết đầy đủ hơn những động lực và khuynh hướng phát triển của con người.

Hoặc nghiên cứu con người truyền thống, đề cao giỏi bắt chước, thông minh, giỏi chế biến, tiếp biến, dung hoà nhưng lại không nghiên cứu sâu khả năng sáng tạo và mức độ sáng tạo của con người Việt Nam, đánh giá không đúng khả năng sáng tạo của người Việt Nam. Vấn đề tính sáng tạo của người Việt Nam gần đây đã có người chú ý nghiên cứu như Trần Bạch Đằng với bài viết về năng động sáng tạo ở Bình Dương, cũng có người tìm hiểu tính năng động sáng tạo nói chung của người Việt phương Nam có những nét khá sâu nhưng nhìn chung các nghiên cứu hiện nay chỉ mới điểm qua vài nét tình hình. Theo tôi, cần có chuyên đề nghiên cứu sâu về tính sáng tạo của người Việt Nam từ lịch sử đến hiện đại (chúng tôi đã có bài viết về "Vấn đề phát huy năng lực tư duy của con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá" trong hội thảo khoa học về Văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá – TP. Hồ Chí Minh tháng 7/2002). PGS, TS. Nguyễn Văn Huyên, trong công trình "Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) đã xem xét họat động sáng tạo của con người và con người sáng tạo từ các tiền đề tâm lý, xã hội, dân chủ chính trị, văn học nghệ thuật. Nhưng ở đây tác giả mới phân tích ở cấp độ con người nói chung còn ở cấp độ cụ thể con người Việt Nam với những năng lục sáng tạo của nó như thế nào thì lại chưa được phân tích thành chuyên đề.

Hoặc trong công tác nghiên cứu khoa học cũng như trên diễn đàn, có nhiều lúc người ta chỉ nhấn mạnh mặt tất, ưu việt của người Việt Nam (như tinh thần yêu nước, đoàn kết, cần cù, thông minh, yêu đời) mà lờ đi, ít đề cập tới mặt yếu kém, bất cập, và tính xấu của con người Việt Nam. Chúng ta cũng đã có một số bài viết về tư duy và đổi mới tư duy, ở đó các tác giả đã nghiên cứu sâu hơn thực trạng lạc hậu, mặt hạn chế của con người Việt Nam như tư duy lý luận còn dấu ấn tiền khoa học, kinh nghiệm chủ nghĩa, thiếu logic chặt chẽ, ít có phát minh, sáng chế, tính tiểu nông, manh mún còn nặng… Nhưng vẫn còn rất cần nghiên cứu toàn diện và sâu hơn nữa những mặt hạn chế của con người Việt Nam trong truyền thống và hiện tại. Quả là chúng ta đang thiếu một công trình như thế. Nhưng nếu lại tuyệt đối hoá mặt xấu, yếu kém của con người Việt Nam thì thực trạng nhận thức về con người cũng sai lầm không kém.

Đúng là mỗi cách nhấn mạnh hay tạm tách rời để nghiên cứu sâu là có hạt nhân chân lý nhất định của nó nhưng khi quá nhấn mạnh, coi nhẹ những mặt khác thì có thể trở thành phi lý.

Tóm lại, trong nghiên cứu về con người Việt Nam, có lúc chúng ta thường hay nhấn mạnh một mặt, cực đoan, chưa thoát khỏi tư duy kinh nghiệm nên dễ dẫn đến nhìn nhận con người Việt Nam truyền thống và hiện đại có phần lệch lạc, tính thuyết phục khoa học chưa cao.

Vấn đế là phương pháp luận và phương pháp

Việc nghiên cứu con người Việt Nam lúc này, lúc khác có những hạn chế như vậy là do hoàn cảnh và yêu cầu thực tế từng lúc đã khiến chúng ta chú ý nhiều hơn về mặt này hay mặt khác. Song có một nguyên nhân rất quan trọng là trong quan niệm và phương pháp luận có những biểu hiện giản đơn, siêu hình, máy móc như đã nói.

Về mặt nghiên cứu bản tính người Việt (bản tính tộc người Việt) như có nhà nghiên cứu nhận xét là "chưa có cơ sở lý luận và phương pháp luận nào thật rõ ràng". "Hầu hết những bàn luận về vấn đề này đều dựa vào quan sát và suy nghĩ theo lối kinh nghiệm phải chăng chúng ta coi việc xác lập phương pháp luận cụ thể cũng như việc nghiên cứu bản tính con người Việt Nam đã hoàn chỉnh, hay hoàn chỉnh về cơ bản hoặc đã được nói và viết nhiều rồi? Phải chăng chúng ta mới đang vượt qua đoạn đầu, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ? Nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên lĩnh vực này thấy còn rất mới mẻ và có nhiều trăn trở.

Những nhận thức và quan niệm không đúng bộc lộ trong thực tế nghiên cứu và quan niệm nghiên cứu con người có nguồn gốc ở mặt phương pháp luận. Đề cao nghiên cứu cụ thể, riêng biệt (nguyên lý con người bộ phận) là cần để khám phá, đi sâu nhưng không thể coi nhẹ các vấn đề phương pháp luận biện chứng (nguyên lý con người tổng thể), hoặc ngược lại. Tại sao như vậy?

Như đã nói ở trên, do hiểu biết hạn chế về chủ nghĩa Mác – Lênin, hơn nữa lại chịu ảnh hưởng của các tư tưởng nho giáo và chủ nghĩa kinh nghiệm mang tính tư duy tiền khoa học nên trong vận dụng phương pháp luận mác xít nghiên cứu con người chúng ta đã rất phiến diện và đơn giản.

Có thể ghi nhận là trong thời gian gần đây, các công trình của GS.VS. Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001), của PGS, TS. Nguyễn Văn Huyên, "Mấy vấn đề triết học xã hội và phát triển con người" (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002) là những công trình có giá trị định hướng phương pháp luận cụ thể về nghiên cứu con người ở nước ta. Chúng ta phải biết thay đổi cách tiếp cận, tránh cách tiếp cận cũ kém hiệu quả. Phải nhìn nhận từ nhiều góc độ, bổ sung những phương pháp khoa học mới, chẳng hạn như phương pháp nhân học của các nước nói tiếng Anh, phương pháp do các chỉ số thông minh, cảm xúc… của con người, phương pháp điều tra xã hội học về các giá trị của con người…

Nghiên cứu cụ thể cả định tính và nhất là định lượng là rất cần, vì nếu không như thế thì khó thuyết phục và khó thành chủ trương chính sách phát triển. Nhưng cũng rất cần nghiên cứu ở tầng bản chất phổ quát, ở tầng lý luận triết học, nhất là về mặt phương pháp luận, nguyên tắc chung về phương pháp luận và phải biến phương pháp luận thành phương pháp thể hiện trong nghiên cứu từng mặt riêng biệt của vấn đề.

Trước hết phải thấy nguyên nhân của vấn đề là ở cách tiếp cận thiếu cái nhìn con người tổng thể theo chiều sâu, tổng thể biện chứng, nên hay cực đoan, chỉ thấy một mặt. Cách tiếp cận này có nguyên nhân trong tư duy kinh nghiệm, cảm tính, thiển cận theo diễn biến của thực tiễn từng lúc nên thiếu tầm nhìn xa, lại có biểu hiện giáo điều, ít sáng tạo đột phá, đi sâu, ít quan tâm xây dựng tầm nhìn mới khoa học, nhất là khoa học về con người. Tư duy này thường xem kinh điển có nói không, nước ngoài có ai nói không? Tư duy một dòng, một chiều như thế dễ phụ thuộc một chiều vào chính trị, đó là tư duy đồng nhất với chính trị thục tiễn.

Phải làm sao để phương pháp luận nghiên cứu con người mang tính khoa học thật sự, theo tư duy hiện đại, tư duy mạng lưới, tư duy phức hợp chứ không phải chỉ là tư duy hệ thống thứ bậc. Mặt khác cũng cần tiếp thu những nhân tố hợp lý trong tư duy triết học phương Đông về vấn đề con người như tư tưởng coi con người là "tiểu vũ trụ”, nguyên lý cứu con người tổng thể (không chỉ trong y học mà cả trong xã hội) trong chính nó và trong vũ trụ Thiên, Địa, Nhân hợp nhất, hoặc con người nằm trong hệ thống văn hoá Việt nhà, làng, nước (gắn với hệ thống hiện nay là cá nhân, tập thể, xã hội, hay giai cấp, dân tộc, nhân loại), chẳng hạn. Chúng ta còn phải nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc và cả Mỹ về phát huy trí tuệ và thu hút trí tuệ của dân tộc vào sự nghiệp phát triển đất nước. Các khoa học về con người ở đây được nghiên cứu và phát triển có tác dụng gì đối vôi phát triển đất nước.

Nghiên cứu con người Việt Nam, muốn cụ thể phải tiếp cận ở tầm nhân học cụ thể chuyên ngành. Trong nhân học, với cái nhìn toàn diện, theo tôi hiểu, không chỉ xem xét con người từ một mặt nào mà là cả từ nhân chủng, từ sinh vật và sinh thể, từ kinh tế, văn hoá, chính trị, đạo đức, từ tâm lý, tâm linh hay tư tưởng, phong tục, có lẽ phải nhìn đầy đủ các góc độ và cấp độ của con người cả bề rộng, lịch đại và đồng đại Trong khi đó, đây là một ngành học mà gần đây chúng ta mới bắt đầu chú ý tới, còn trước đây chỉ xem xét ở góc độ dân tộc học. Vì thế chủ yếu cần nhanh chóng xây dựng và hoàn chỉnh ngành Nhân học Việt Nam với hệ thống các thủ pháp nghiên cứu. Hầu như việc nghiên cứu theo phương pháp khảo sát bản chất và đặc tính toàn diện của con người của nhân học ở nước ta chưa có hệ thống. Điều đó chứng tỏ rằng không thể dừng lại ở một phương pháp luận trong dân tộc học. Chỉ có nhân học mới quy tụ được nhiều góc độ để nghiên cứu sâu và cụ thể hơn về con người Việt Nam. Do vậy, cần đẩy mạnh nghiên cứu thực nghiệm, khảo sát, thu thập các chỉ số vốn có và các chỉ số phát triển con người Việt Nam (không chỉ là chỉ số thông minh, năng lực tư duy logic mà cả chỉ số cảm xúc EQ, chỉ số sáng tạo CQ và nhiều chỉ số khác về thể chất và tinh thần nhưng hiện nay chỉ mới đánh giá được IQ). Chẳng hạn, qua điều tra chỉ số trí tuệ của học viên mới nhập thể trường trong đào tạo cán bộ chính trị nơi cấp phân đội của tác giả Trương Quang Học, có thể thấy rằng học viên có chỉ số thông minh hoặc rất thông minh nhưng học lực chỉ trung bình khá, ngược lại có học viên chỉ số thông minh trung bình trở xuống nhưng lại học khá, vì việc học còn phụ thuộc vào hứng thú, sự cần cù chăm chỉ, động cơ, phương pháp…. chúng ta còn chưa chú ý đo đếm các loại chỉ số này. Đó là không kể rằng sự phát triển trí tuệ của con người còn do tác động lớn của môi trường giáo dục chứ không chỉ ở các chỉ số tự nhiên bẩm sinh

Một điều tra xã hội học về giá trị thế giới trong quan niệm sống của người Việt Nam gần đây đã cho chúng ta nhiều điều thú vị, bớt đi suy luận và phỏng đoán mơ hồ. Nhìn chung, đây đang là một thiếu sót, một mặt yếu nhất trong các khoa học nghiên cứu con người ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu lý thuyết là cần nhưng không nên dừng lại lý thuyết mà phải hướng mạnh về thực nghiệm để có sự đo lường và trắc nghiệm cụ thể về con người Việt Nam. Nếu không đi sâu về mặt này thì khoa học con người và phát triển con người ít có kết quả khả quan và không đi xa được.

Nhưng càng đi vào nghiên cứu cụ thể lại càng phải chú ý nghiên cứu liên ngành. Về phương pháp này, chúng ta vẫn chưa mạnh làm. Hướng chung là nghiên cứu con người tổng thể, bằng phương pháp luận liên ngành như một ngành nghiên cứu về con người cả cấp độ chung, tổng quát mang tính triết học và cấp độ cụ thể của các khoa học cụ thể nhất là tâm lý học, nhân học, xã hội học..

Tức là ở đây có ba cấp độ như:

– Cấp độ triết học về con người (chủ nghĩa duy vật nhân văn)

– Cấp độ một khoa học tổng quát về con người như nhân học chẳng hạn

– Cấp độ liên ngành các ngành khoa học nghiên cứu cụ thể có liên quan tới con người.

Trong tất cả các phương pháp đó cần chú ý phương pháp luận tích hợp của triết học.

Ở đây, do vậy không chỉ cần xây dựng một khoa học chung về con người mà cả một triết học về con người (chủ nghĩa duy vật nhân văn). Đúng là. triết học Mác không vắng bóng con người mà là một cách tiếp cận mới, toàn diện và hiện thực về con người, nhưng từ đó không nên hiểu trong triết học Mác đã có một triết học hoàn chỉnh về con người. Thực ra triết học Mác chủ yếu là triết học xã hội lịch sử, còn triết học về con người chưa được hoàn thiện rõ ràng, như có người nhận xét: "Mác thuộc thế hệ sau của cách mạng Pháp, quan niệm triết học của ông là thuộc về lịch sử chứ không phải triết học về con người, đây là điều rất đáng suy nghĩ, phải chăng hiện nay cần một triết học về con người như chúng tôi đã nêu là vừa cũ, vừa mới?

Phải mạnh dạn đổi mới nhận thức về khoa học con người, cần xây dựng một hệ thống chuyên ngành nghiên cứu trực tiếp về con người, tiếp cận sớm những phương pháp nghiên cứu tiên tiến để nâng cao hiệu quả nghiên cứu. Cần nhiều phương pháp và công trình khảo sát nghiên cứu con người Việt Nam tập trung vào đối tượng thực tê’ đang sống và họat động chứ không phải từ sách vở. Vì chính như Mác đã nói, họat động của con người như thế nào thì chính họ như vậy.

Cần nhận thức đúng xu hướng chủ đạo hiện nay trong việc nghiên cứu con người Việt Nam

Trước hết phải nghiên cứu con người và văn hoá Việt từ chiều sâu cội nguồn có lịch sử văn minh khoảng gần 5000 năm trước chứ không phải là 4000 năm. Điều này xác định chính xác hơn bản sắc người Việt khác Hán và ngang Hán với truyền thống lâu đời trên cả bình diện tư duy, tư tưởng, tâm thức, đạo lý và lối sống…

Chúng ta vẫn thiếu những nghiên cứu phân tích tiền đề kinh tế xã hội, tộc người dẫn đến hình thành những phẩm chất ưu và khuyết của con người Việt Nam trong lịch sử. Đã có thời nghiên cứu khá nhiều về việc xây dựng con người mới nhưng lại xa rời nền tảng lịch sử của con người Việt Nam truyền thống.

Tại sao lại không có một công trình lớn về con người Việt Nam truyền thống, để từ đó cho ta một chân dung cụ thể và toàn diện? Dù đã có các thành quả nghiên cứu con người từ nhiều ngành khoa học mang lại nhưng cuối cùng vẫn cần một sự tổng hợp như thế. Cơ quan chịu trách nhiệm đó hoặc là Viện Triết học hoặc Viện nghiên cứu Con người ở nước ta, hay tốt nhất là có sự phối hợp hai Viện làm hạt nhân cho sự cộng tác rộng hơn. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu con người nói chung và con người Việt Nam nói riêng, theo tác giả Nguyễn Văn Huyên (Sđd, tr.272), cần được xem xét ở ba góc độ:

Con người với tư cách là sản phẩm của lịch sử tự nhiên (khía cạnh bản thể).

Con người với tư cách là chủ thể sáng tạo lịch sử (động lực và tiềm năng phát triển xã hội).

Con người văn hoá – con người với tư cách là mục đích của mình.

Tôi nhất trí với cách tiếp cận toàn diện ba mặt đó, nhưng có lẽ vẫn thiếu một cái gì đó khá cơ bản. Nên tôi cho rằng phải nhìn nhận cả phương diện thứ tư là:

"Con người như một quá trình tự phát triển thông qua mâu thuẫn với nhiều trình độ và giai đoạn khác nhau (tính giai đoạn, tính cụ thể lịch sử của con người như là tự nó và vì nó trong tiến trình tự giải phóng khỏi tha hoá và tự phát triển).

Về con người là sản phẩm của tiến hoá tự nhiên và xã hội, vừa qua các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và phác thảo được chân dung con người Việt Nam dựa vào suy luận và kinh nghiệm, nhưng lại thiếu các chỉ số từ khoa học thực nghiệm cụ thể về con người nên nhìn chung chân dung ấy còn nghèo nàn.

Về con người là chủ thể sáng tạo lịch sử thì tuy có nghiên cứu nhưng ít kết quả mới, ít khám phá về tiềm năng và năng lực thể chất và tinh thần của con người Việt Nam, nhất là các chỉ số phát triển người cụ thể của con người Việt Nam, những tiềm năng và động lục phát triển về mặt vật chất, thể chất, tinh thần không chỉ trí tuệ mà cả tâm lý, cảm xúc cũng còn nhiều hạn chế trong nghiên cứu.

Về con người là con người văn hóa toàn vẹn trong nghiên cứu cũng có những ưu điểm và hạn chế tương tự (xem: Nguyễn Văn Huyên, Sđd, tr.272 – 277).

Con người với tư cách là một quá trình tự phát triển nhiều giai đoạn cũng đã được nghiên cứu nhưng chưa rõ tính lịch sử tiến hoá từng thời đại lịch sử, cũng như sự chuyển đổi trong từng giai đoạn bước ngoặt. Đây là một lát cắt có ý nghĩa, nhất là đối với việc nghiên cứu con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Cần nghiên cứu phát triển con người sáng tạo hiện nay đang được ưu tiên như thế nào và phải như thế nào? Con người Việt Nam hiện nay liệu có kịp thời thích nghi với bối cảnh toàn cầu hoá hay không, cần và có thể phát huy, xây dựng nhung phẩm chất nào? Tức là nghiên cứu cả những khả năng vẫn có của con người Việt Nam và những tiền đề kinh tế – xã hội hiện đại đang đòi hỏi phát huy những tiềm năng ấy cùng những phẩm chất mới được tạo nên trong sự tổng hoà cái truyền thống và cái hiện đại.

Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực Việt Nam trước thách thức của thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập quốc tế là một hướng nghiên cứu lớn hiện nay. Chúng ta hy vọng chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước do GS,VS Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm sẽ mang lại nhiều kết quả khả quan.

Chúng ta nghiên cứu khá nhiều về con người Việt Nam trong kháng chiến nhưng trong xây dựng kinh tế và văn hoá thì còn quá ít công trình có hệ thống. Nhiều câu hỏi đặt ra là tại sao trong kháng chiến thì con người Việt Nam phát huy khá cao năng lực và phẩm chất của mình nhưng trong xây dụng kinh tế, văn hóa thì lại thiếu cộng tác hay kém sáng tạo, phát minh… hoặc tiềm năng sáng tạo thì khá nhưng hành vi sáng tạo (khác thường) thì ở mức trung bình. Con người Việt Nam ta hình như bằng lòng với cái đã có (an phận thủ thường) mà ít mạo hiểm trong sáng tạo, ít giám đột phá, chỉ nặng về "vận dụng sáng tạo"? tại sao trong chính trị, quân sụ và y học thì có nhiều cống hiến sáng tạo nhưng trong kinh tế và khoa học thì hầu như vắng bóng?

Hoặc khi chuyển từ thời chiến sang thời kỳ xây dựng kinh tế tại sao con người lại tha hoá với tốc độ nhanh đến thế chúng ta cần có những hướng nghiên cứu như chuyên đề phong cách tư duy người Việt, đặc tính tâm lý dân tộc, triết lý, tư tưởng triết học của con người Việt, lối sống và đạo lý… hoặc nghiên cứu sâu những khả năng, những tiềm năng thể chất và tinh thần (kể cả những khả năng huyền diệu), nghiên cứu cả con người hữu hình và con người vô hình của người Việt Nam, cả những hạn chế khiếm khuyết, "những thói hư tật xấu” (Trần Quốc Vượng) của người Việt Nam trong cộng đồng nhiều tộc người. Vấn đề cấp bách bây giờ là nghiên cứu các phẩm chất nghề nghiệp, nghiên cứu việc nâng cao chất lượng nghề, xây dựng đội ngũ công nhân và cán bộ chất lượng cao, trong đó nòng cốt là lực lượng tài năng. Đó cũng là đội ngũ phải có bản lĩnh thật sự, bản lĩnh chính trị, bản lĩnh khoa học, bản lĩnh kinh doanh, bản lĩnh nghề nghiệp nói chung có thể thích nghi và thành công trong bối cảnh thế giới ngày nay.

Nghiên cứu con người Việt Nam cần chú trọng nghiên cứu phát huy mặt tốt của con người, con đường và giải pháp xây dựng con người văn hoá, phát triển toàn diện có năng lực chuyên môn, nghề nghiệp sâu. Nghiên cứu ấy được đặt trên phương hướng nghiên cứu con người từ nhu cầu, lợi ích đa dạng cho đến cách thức, phương thức thoả mãn nhu cầu theo những giá trị nhân văn của thời đại. Đúng như mới đây, nhân ngày Nhà giáo 20/11/2002, GS, TS. Nguyễn Cảnh Toàn đã có nhận xét rất đúng là năng lực tư duy của con người Việt Nam là niềm hy vọng để chúng ta đuổi kịp các nước phát triển. Vậy chúng ta phải có cái gì sáng tạo độc đáo của Việt Nam mà nhờ đó chúng ta vượt lên, bứt phá lên? Cái đó vẫn phải bắt đầu từ trí tuệ con người Việt Nam ngày nay, trước hết là từ cá nhân và sau đó là cộng đồng. Nói sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thì cái dẫn đường, nhân sức mạnh và chất xám chủ yếu là nói trí tuệ trong sức mạnh chung đó. Điều đó càng bức thiết trong thời ký khoa học công nghệ cao. Như thế là chúng ta cần nghiên cứu sâu và hệ thống thực tế năng lực tư duy và trí tuệ con người Việt Nam. ở đó không chỉ làm rõ thực trạng, tiềm năng và cả hạn chế về năng lực tư duy, trí tuệ mà còn phải làm rõ cái gì đang kìm hãm năng lực tư duy và trí tuệ của con người Việt Nam? Đâu là giải pháp đột phá? Thực tế đang đòi hỏi một công trình như thế cả về lý thuyết và thục nghiệm. Các kết quả điều tra của thế giới gần đây chứng minh con người Việt Nam (qua học sinh, sinh viên) "được đánh giá cao về tiềm năng Toán – Tin học và Y học", có trí thông minh IQ không thua kém các nước khác (khảo sát 420 học sinh chuyên toán thì có 80% em có chỉ số IQ là trên 110′ chỉ số xuất sắc) nhưng trí sáng tạo thì sao? Chúng ta đã tập trung cho hướng cơ bản, gốc gác, có ý nghĩa chiến lược sống còn này chưa. Trong chương trình khoa học công nghệ 1995 – 2000 đã có nghiên cứu và hiện nay đang nghiên cứu các hệ thống giải pháp để phát huy trí tuệ, chuyển bị cho nguồn nhân lục và nhân tài đáp ứng yêu cầu mới của thời đại. Và theo GS. Trần Trọng Thuỷ cho biết, trong chương trình nghiên cứu sẽ do cả ba chỉ số IQ, EQ, CQ phát triển người đối với tuổi trẻ học đường ở nước ta. Đó là điều đáng mừng nhưng khoa học về con người ngày nay luôn phải chú ý phương pháp luận tổng thể, tích hợp trong nghiên cứu.

Nói chung, nghiên cứu con người Việt Nam ngày nay phải kết hợp phương pháp luận tổng thể và phương pháp luận phân tích bộ phận cụ thể, nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tế, thực nghiệm, nghiên cứu đinh tính với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu nhân cách với nghiên cứu môi trường lịch sử, trong đó con người họat động và sáng tạo với những nhu cầu, lợi ích, giá trị cụ thể… mới mang lại kết quả.

Nghiên cứu đặc tính và tiềm năng của con người và các tộc người cả về tư duy, trí tuệ và khí phách trong truyền thống và hiện đại với sự chuyển biến của thời đại trên đất nước ta như thế vẫn là hướng nghiên cứu vừa trước mắt, vừa lâu dài, nhưng không thể theo lối mòn và chậm chân được nữa!

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU CON NGƯỜI

Trích dẫn từ: http://www.chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Van-Hoa/Nghiencuu_nguoiViet-Nhanthuc_pp/

KHÁI QUÁT VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI HOA KỲ


Luật bồi thường thương mại

Luật thương mại Mỹ bao gồm một số đạo luật quy định về những trường hợp bồi thường cụ thể khi hàng hoá nước ngoài được hưởng lơị thế không công bằng trên thị trường Mỹ hoặc hàng xuất khẩu của Mỹ bị phân biệt đối xử trên thị trường nước ngoài.

Các luật áp dụng đối với hàng nhập khẩu

Hai đạo luật phổ biến nhất bảo hộ các ngành công nghiệp Mỹ chống lại hàng nhập khẩu không công bằng là Luật thuế bù giá (CVD) và Luật Chống phá giá. Cả hai luật này quy định rằng phần thuế bổ sung sẽ được ấn định đối với hàng nhập khẩu nếu chúng bị phát hiện là được trao đổi không công bằng. Cả hai luật bao gồm những thủ tục tương tự để tiến hành điều tra, ấn định thuế, và sau đó là kiểm tra và có khả năng loại bỏ thuế.

Luật thuế bù giá (CVD): Luật thuế bù giá quy định một khoản bồi thường dưới dạng thuế nhập khẩu phụ thu để bù vào phần trợ giá của sản phẩm nước ngoài, mà việc bán sản phẩm đó ở Mỹ gây thiệt hại các nhà sản xuất những hàng hoá giống hoặc tương tự của Mỹ. Trong hầu hết các trường hợp, phần trợ giá phải bù lại có thể do chính phủ nước ngoài trực tiếp trả, nhưng luật này cũng áp dụng đối với loại trợ giá gián tiếp bị phát hiện sau khi điều tra theo luật thuế bù giá.

Việc điều tra theo luật thuế bù giá thường được tiến hành do có đơn khiếu nại của các ngành công nghiệp trong nước trình lên Bộ Thương mại Mỹ và Ủy ban Thương mại Quốc tế, tuy nhiên Bộ Thương mại có thể tiến hành độc lập một luật thuế.

Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế đều có thể tiến hành điều tra. Bộ Thương mại điều tra để xác định xem có sự trợ giá “chịu thuế” trực tiếp hoặc gián tiếp ở nước hoặc lãnh thổ xuất xứ cho việc chế tạo, sản xuất hoặc xuất khẩu sản phẩm là đối tượng bị điều tra hay không.

Ðiều tra của Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định xem việc khiếu nại của ngành công nghiệp Mỹ bị thiệt hại vật chất hoặc đe doạ thiệt hại vật chất, hoặc các cơ sở kinh doanh của một ngành có bị thiệt hại vật chất hay không do hàng nhập khẩu được trợ giá. “Thiệt hại vật chất” được định nghĩa trong luật không phải là những thiệt hại nhỏ, vô hình, hoặc không quan trọng.

Ðể áp đặt thuế bù giá, bộ Thương mại phải xác định phần trợ giá chịu thuế bù giá và Ủy ban Thương mại Quốc tế phải tìm ra những thiệt hại.

Luật thuế bù giá còn đề cập đến cả các loại “trợ giá ngược chiều” — những hình thức trợ giá cho sản xuất các yếu tố đầu vào được tính vào sản phẩm cuối cùng xuất khẩu sang Mỹ.

Luật chống phá giá: Luật chống phá giá được sử dụng rộng rãi hơn luật thuế bù giá. Thuế chống phá giá được ấn định vào hàng nhập khẩu khi người ta xác định được là hàng nước ngoài được bán “phá giá”, hoặc sẽ bán phá giá ở Mỹ với giá “thấp hơn giá trị thông thường”. Thấp hơn giá trị thông thường có nghĩa là giá của hàng nhập khẩu vào Mỹ — tức là giá mua hoặc giá bán của nhà xuất khẩu — thấp hơn mức giá của hàng hoá đó ở nước xuất xứ.

Cũng giống như trường hợp theo luật thuế bù giá, các thủ tục chống phá giá được tiến hành khi có đơn khiếu kiện của một ngành công nghiệp hoặc bộ Thương mại tiến hành độc lập.

Bộ Thương mại phải điều tra để xác định xem có hiện tượng chống phá giá xảy ra hay không. Ủy ban Thương mại Quốc tế sau đó sẽ xác định xem có phải ngành công nghiệp đó của Mỹ đang bị thiệt hại về vật chất hoặc bị đe dọa thiệt hại vật chất, hoặc các cơ sở kinh doanh trong ngành bị thiệt hại do hàng nhập khẩu đó hay không.

Thuế chống phá giá sẽ được ấn định đối với sản phẩm khi việc bán phá giá và thiệt hại được xác định bằng mức chênh cao hơn của “giá trị bình thường” của hàng hoá đó với mức giá xuất khẩu, tức là giá bán tại Mỹ.

Bộ Thương mại sẽ xác định giá trị bình thường của hàng nhập khẩu bằng một trong ba cách. Theo thứ tự ưu tiên đó là: giá bán tại nước xuất xứ, giá bán của hàng hoá tại thị trường thứ ba; và “giá trị tính toán” bằng tổng chi phí sản xuất cộng với các khoản bổ sung cho lợi nhuận, tiền hoa hồng bán hàng, và các chi phí hành chính khác như đóng gói. Nếu số liệu thực tế không có, thì một “vật thay thế” cho lợi nhuận và các chi phí khác sẽ được sử dụng để xác định giá trị tính toán.

Nếu hai hoặc nhiều hơn nữa các nước bị khiếu tố về trách nhiệm chống phá giá hoặc bù giá, luật yêu cầu Ủy ban Thương mại Quốc tế đánh giá luỹ tích số lượng và ảnh hưởng của các hàng nhập khẩu tương tự từ các nước đã bị nêu trên nếu chúng cạnh tranh với nhau và với sản phẩm tương tự trên thị trường Mỹ. Nếu hàng nhập khẩu từ một nước đang bị điều tra được coi là không đáng kể thường được xác định là nhỏ hơn 3% tổng giá trị nhập khẩu của sản phẩm bị điều tra, việc điều tra nước đó sẽ bị dừng lại. Người ta cũng quy định việc miễn trừ những quy tắc luỹ tích ví dụ như việc áp dụng đối với các nước tham gia vào CBI và đối với Ixraen.

Luật chống phá giá còn cho phép các ngành của Mỹ được đệ trình khiếu nại về hoạt động bán phá giá ở nước thứ ba. Ngành công nghiệp của Mỹ có thể đệ trình một đơn khiếu nại, trong đó phải giải thích tại sao việc phá giá lại gây thiệt hại cho các công ty của Mỹ, lên văn phòng Ðại diện Thương mại Mỹ, yêu cầu cơ quan này bảo vệ những quyền lợi của Mỹ theo quy định của WTO. Nếu Ðại diện Thương mại Mỹ xác định là có đủ cơ sở để viện cớ, họ sẽ đệ trình một yêu cầu lên các cơ quan có thẩm quyền ở nước thứ ba yêu cầu họ phải thay Mỹ tiến hành việc chống phá giá.

Tương tự, theo Hiệp định Chống phá giá Trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay, chính phủ một nước thành viên WTO có thể đệ trình một đơn kiến nghị với Ðại diện Thương mại Mỹ yêu cầu mở một cuộc điều tra chống phá giá của một sản phẩm nhập khẩu vào thị trường Mỹ từ một nước thứ ba.

Các cuộc điều tra chống phá giá và thuế bù giá, áp thuế: Các đơn khiếu nại theo luật chống phá giá và luật thuế bù giá phải được đệ trình đồng thời lên Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ. Nếu đơn khiếu nại được chấp nhận thì sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn, hoặc sau khi bộ Thương mại đã bắt đầu tiến hành điều tra độc lập, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đánh giá sơ bộ về những thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với một ngành công nghiệp của Mỹ.

Các đơn khiếu nại theo luật chống phá giá và luật thuế bù giá phải được đệ trình đồng thời lên Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ. Nếu đơn khiếu nại được chấp nhận thì sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn, hoặc sau khi bộ Thương mại đã bắt đầu tiến hành điều tra độc lập, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đánh giá sơ bộ về những thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với một ngành công nghiệp của Mỹ.

Nếu đánh giá của Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là không có vi phạm thì cuộc điều tra sẽ kết thúc. Nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là có vi phạm thì bộ Thương mại sẽ đánh giá sơ bộ xem có một cơ sở hợp lý nào để tin rằng có sự trợ giá chịu thuế hoặc sự phá giá đã xảy ra hay không.

Nếu Bộ Thương mại xác định là có cơ sở hợp lý, thì trong trường hợp luật thuế bù giá, họ sẽ xác định một biên trợ giá cho từng hãng hoặc từng nước bị điều tra. Việc xác định này phải được hoàn thành trong vòng 65 ngày sau ngày bắt đầu điều tra. Thời hạn này có thể được kéo dài đến 130 ngày.

Trong trường hợp theo luật chống phá giá, sau khi đánh giá sơ bộ, Bộ Thương mại sẽ tính toán biên phá giá bình quân — mức chênh lệch cao hơn của giá trị bình thường của sản phẩm nước ngoài so với giá xuất khẩu. Ðánh giá sơ bộ phải hoàn thành trong vòng 140 ngày sau ngày bắt đầu điều tra. Tuy nhiên, thời hạn này có thể kéo dài lên 190 ngày.

Trong cả hai trường hợp, sau khi những đánh giá sơ bộ đã được hoàn thành, người nhập khẩu sản phẩm đó phải nộp bảo lãnh hoặc đặt cọc bằng tiền mặt tương đương với mức trợ giá thuần dự tính hoặc biên phá giá cho cơ quan Hải quan Mỹ.

Nếu đánh giá sơ bộ của Bộ Thương mại là không có, thì không phải nộp tiền đặt cọc, nhưng điều tra của Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế vẫn tiếp tục cho đến bước đánh giá cuối cùng.

Có một số điều khoản đưa vào hiệp định để tạm hoãn các cuộc điều tra theo cả luật chống phá giá và luật thuế bù giá nếu một số điều kiện được đáp ứng.

Trong vòng 75 ngày đánh giá sơ bộ, trong điều kiện bình thường, Bộ Thương mại sẽ đưa ra đánh giá cuối cùng đối với cả hai trường hợp theo luật chống phá giá và luật thuế bù giá, tuy nhiên thời hạn này có thể kéo dài đến 135 ngày. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại xác định là không có vi phạm, quá trình điều tra sẽ kết thúc và tiền bảo lãnh hoặc tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại là có thì Ủy ban Thương mại Quốc tế sẽ phải xác định những thiệt hại cuối cùng. Ðánh giá cuối cùng của Ủy ban Thương mại Quốc tế phải được thực hiện trong vòng 120 ngày sau khi Bộ Thương mại đưa ra đánh giá sơ bộ hoặc đến ngày thứ 45 sau khi Bộ Thương mại đưa ra đánh giá cuối cùng là có sự vi phạm.

Nếu đánh giá cuối cùng của Ủy ban Thương mại Quốc tế khẳng định là có vi phạm, thì Bộ Thương mại phát yêu cầu nộp thuế theo luật thuế bù giá hoặc chống phá giá trong vòng 7 ngày sau khi có xác nhận có của ẹy ban Thương mại Quốc tế. Lưu ý là mức thuế cuối cùng phải nộp cho hàng nhập khẩu có thể cao hơn nhiều so với mức đặt cọc.

Theo yêu cầu, Bộ Thương mại phải kiểm tra, thường là 12 tháng một lần, mức trợ giá chịu thuế hoặc biên phá giá đối với hàng hoá bị yêu cầu phải nộp thuế bù giá hoặc chống phá giá chưa giải quyết xong. Bộ Thương mại, theo yêu cầu, còn phải kiểm tra các cuộc điều tra đã bị đình chỉ để đánh giá tình trạng và sự tuân thủ hiệp định, cũng như khoản trợ giá chịu thuế thuần và biên phá giá.

Ðạo luật về các hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay quy định rằng Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành “những cuộc kiểm tra lần cuối” trong vòng 5 năm kể từ khi phát hành một lệnh để xác định xem việc hủy bỏ những lệnh có liên quan có dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hoạt động phá giá hoặc trợ giá chịu thuế hay không.

Việc hủy bỏ lệnh phá giá hoặc đình chỉ việc điều tra có thể xảy ra nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là việc hủy bỏ hoặc đình chỉ sẽ không dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành động phá giá hoặc trợ giá chịu thuế.

Các bên không đồng ý với đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế về các vụ chống phá giá hoặc thuế bù giá có thể nộp đơn yêu cầu xử lại lên Toà án Thương mại Quốc tế của Mỹ ở New York. Nếu hàng hoá từ Canada hoặc Mehico, các bên có thể yêu cầu ban hội thẩm lưỡng quốc thuộc NAFTA kiểm tra hoặc có thể kháng cáo lên Toà án Thương mại Quốc tế.

Có một số điều khoản nhất định của luật này được gọi là “những trường hợp khẩn cấp” (critical circumstances) cho phép người khiếu nại có thể yêu cầu một hành động khẩn cấp ngăn chặn làn sóng nhập khẩu đang đe dọa ngành công nghiệp trong nước.

Ðiều 201-204, Ðiều chỉnh hàng nhập khẩu: Các điều từ 201 đến 204, Luật Thương mại năm 1974 ủy quyền cho tổng thống hành động khi một sản phẩm nhất định được nhập vào Mỹ với số lượng lớn gây những thiệt hại nghiêm trọng, hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với ngành công nghiệp trong nước. Quyền này có thể sử dụng ngay cả khi hàng nhập khẩu được định giá gian lận.

Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành điều tra, trả lời khiếu nại của các đại diện thiện chí của ngành, trên cơ sở đề nghị của tổng thống hoặc Ðại diện Thương mại Mỹ, bằng việc nhận một giải pháp của Ủy ban Tài chính và Thuế vụ, Hạ nghị viện hoặc Ủy ban Tài chính Thượng nghị viện, hoặc tự quyết định.

Ủy ban Thương mại Quốc tế có 180 ngày kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại, đề nghị, hoặc quyết định để tiến hành điều tra và báo cáo đánh giá của ủy ban và bất cứ đề nghị nào lên tổng thống. Cuộc điều tra được chia làm hai giai đoạn, giai đoạn đầu là để xác định xem có thiệt hại hay không, thường phải hoàn thành trong vòng 120 ngày, và giai đoạn bồi thường nếu điều đó là cần thiết. Nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế đưa ra một đánh giá khẳng định thiệt hại, thì họ sẽ đề nghị tổng thống đưa ra những hành động cho phép tạo điều kiện cho sự điều chỉnh của ngành trước sự cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Việc làm này có thể dẫn đến tăng thuế, áp đặt thuế định ngạch, hạn chế số lượng, các biện pháp điều chỉnh, hoặc kết hợp các biện pháp trên. Ðối với các đối tác của NAFTA, Ủy ban Thương mại Quốc tế còn phải xác định xem hàng nhập khẩu từ Mehico và Canada có chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng nhập khẩu và thủ phạm chính gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp Mỹ hay không.

Ủy ban Thương mại Quốc tế cũng phải lắng nghe dư luận về các giai đoạn điều tra thiệt hại và bồi thường của họ.

Trên cơ sở nhận được báo cáo của Ủy ban Thương mại Quốc tế bao gồm đánh giá xác nhận tổn thất và để nghị bồi thường, tổng thống có 60 ngày để quyết định xem phải làm gì. Tổng thống không bị giới hạn bởi những đề nghị của Ủy ban Thương mại Quốc tế. Tổng thống có thể thực hiện đề nghị của Ủy ban Thương mại Quốc tế, có thể sửa lại một số hình thức khác trong quyền hạn của mình, hoặc không làm gì cả. Tổng thống phải báo cáo với Quốc hội về hành động của mình. Nếu hành động đó khác với những đề nghị của Ủy ban Thương mại Quốc tế, tổng thống sẽ phải giải thích lý do tại sao. Quốc hội có thể, thông qua một giải pháp chung trong vòng 90 ngày, yêu cầu tổng thống công bố những hành động do Ủy ban Thương mại Quốc tế đề nghị.

Có một số điều khoản đặc biệt trong đó cho phép cắt giảm nhập khẩu “tạm thời” nếu sắp hoàn tất quá trình điều tra.

Cắt giảm này có thể được quy định trong giai đoạn đầu cho đến khi được 4 năm và có thể được kéo dài, nhưng tổng thời gian hoãn không quá 8 năm. Nếu việc cắt giảm được chấp nhận, Ủy ban Thương mại Quốc tế quản lý sự phát triển trong các ngành được hưởng lợi từ hành động này. Khi việc cắt giảm đã được 3 năm, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đệ trình lên tổng thống và Quốc hội về tình trạng của ngành công nghiệp, không quá thời điểm giữa của giai đoạn cắt giảm.

Một ngành được cắt giảm nhập khẩu có thể yêu cầu gia hạn bằng việc đệ đơn trong khoảng từ 6 đến 9 tháng trước khi thời hạn cắt giảm kết thúc nếu ngành đó dự định gia hạn.

Ðiều 337, Bảo hộ Quyền Sở hữu Trí tuệ: Ðiều 337 chủ yếu được sử dụng để ngăn chặn sự vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của hàng nhập khẩu. Ðiều luật này xác định những hình thức xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bất hợp pháp như bằng sáng chế, thương hiệu đã đăng ký, bản quyền, nguyên lý hoạt động của sản phẩm vi mạch bán bẫn của Mỹ hợp lệ và được bảo hộ. Ðiều 337 cấm các hình thức cạnh tranh gian lận và những hành vi gian lận trong nhập khẩu và bán sản phẩm ở Mỹ, sự đe doạ hoặc ảnh hưởng của những hành động sẽ phá hoại hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng ngành công nghiệp trong nước hoặc sẽ cản trở và độc quyền hoá thương mại ở Mỹ.

Ðiều tra theo điều 337 được tiến hành trên cơ sở đơn khiếu nại hoặc do chính Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành độc lập. Nhìn chung, nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác minh hàng nhập khẩu phạm luật, họ có thể ra lệnh ngăn chặn không cho sản phẩm đó nhập vào Mỹ và có thể yêu cầu các bên trong nước có liên quan đến vụ này chấm dứt những sự liên can đến những hoạt động bất hợp pháp này. Nếu sản phẩm đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ thì không cần phải tiến hành điều tra thiệt hại.

Tổng thống có thể hủy bỏ lệnh của Ủy ban Thương mại Quốc tế trong vòng 60 ngày vì “những lý do chính trị”.

Các luật Hỗ trợ Xuất khẩu và Triển khai Hiệp định Thương mại:

Ðiều 301 của Luật Thương mại 1974 là luật quan trọng nhất của Mỹ để thực hiện quyền của các công ty Mỹ trong khuôn khổ của các hiệp định thương mại hiện hành, để thúc đẩy việc tiếp cận thị trường nước ngoài cho hàng hoá và dịch vụ của Mỹ, và để ngăn chặn những hành vi nhất định của nước ngoài như xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Luật này thiết lập một quy trình để Văn phòng Ðại diện thương mại Mỹ điều tra những hành vi của nước ngoài và thảo luận với chính phủ nước ngoài để tìm kiếm một cách giải quyết những tranh chấp, mà có thể là thoả thuận cấp chính phủ để ngăn chặn những hành động xâm phạm, hoặc để bồi thường lợi ích cho Mỹ.

Nếu không có một thoả thuận vừa ý, luật này yêu cầu Ðại diện Thương mại Mỹ sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp đã có theo hiệp định thương mại được áp dụng. Ví dụ, năm 1996 có chín vụ vi phạm điều 301 đã chuyển sang thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO. Nếu bước này vẫn chưa đưa ra được một giải pháp vừa ý đối với tranh chấp, Ðại diện Thương mại Mỹ có thể tiến hành một số bước khác, có thể bao gồm việc tạm hoãn những thoả thuận của hiệp định thương mại, ấn định thuế hoặc hạn chế nhập khẩu, và thu phí hoặc đưa ra hạn chế đối với các dịch vụ.

Việc xúc tiến các vụ theo điều 301 có thể trên cơ sở đơn kiện trong nước hoặc do Ðại diện Thương mại Mỹ độc lập tiến hành.

Quốc hội quy định rằng Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ tiến hành đánh giá hàng năm các hàng rào của nước ngoài, kết quả này được công bố hàng năm dưới dạng “Báo cáo Ðánh giá Thương mại Quốc gia về các Hàng rào Ngoại thương” (National Trade Estimate Report on Foreign Trade), còn được gọi là báo cáo NTE.

Super 301: Báo cáo NTE được sử dụng để lập một danh sách những thông lệ quốc gia ưu tiên gọi là “super 301”, chủ yếu là danh sách các nước là đối tượng của luật “super 301”.

Ðược đặt ra trong Bộ Luật chung về Thương mại và Cạnh tranh, Super 301 đã hết hạn năm 1990, nhưng tổng thống Clinton đã sử dụng lại luật này bằng quyền hành pháp của tổng thống, lần gia hạn gần đây nhất sẽ hết hạn vào cuối năm 1997. Quyền hành pháp của tổng thống quy định rằng trong vòng 6 tháng đệ trình Báo cáo NTE, Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ xác định những thông lệ ưu tiên của nước ngoài mà, nếu loại trừ, sẽ có khả năng nhất để tăng xuất khẩu của Mỹ. Ðại diện Thương mại Mỹ phải báo cáo lên Ủy ban Tài chính Thượng nghị viện vàỦy ban Tài chính và Thuế vụ về những thông lệ này. Trong vòng 21 ngày sau khi trình báo cáo, Ðại diện Thương mại Mỹ phải tiến hành điều tra theo điều 301 về các thông lệ ưu tiên của nước ngoài được xác định trong báo cáo. Vẫn chưa có một thông lệ ưu tiên nï của nước ngoài được xác định theo điều 301 kể từ năm 1989.

Ðiều 301 Ðặc biệt: Phần mở rộng thứ hai của Ðiều 301 là “Special 301”, yêu cầu Ðại diện Thương mại Mỹ xác định các nước từ chối bảo hộ đầy đủ và có hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ, hoặc các nước từ chối sự tiếp cận thị trường công bằng và trung thực đối với những người dựa vào quyền sở hữu trí tuệ. Các nước có những luật, chính sách, hoặc thông lệ nặng nề và gây sốc nhất hoặc luật, chính sách, thông lệ của các nước này có ảnh hưởng (thực tế hoặc tiềm năng) xấu nhất đối với các sản phẩm của Mỹ, và không tham gia vào các cuộc thương lượng một cách thiện chí để giải quyết các vấn đề này, bị coi là “các nước ưu tiên” (priority foreign countries).

Ðại diện Thương mại Mỹ phải quyết định nước nào cần xem xét trong vòng 30 ngày sau khi công bố Báo cáo NTE. Nếu một đối tác thương mại rơi vào danh sách “các nước ưu tiên”, trong vòng 30 ngày Ðại diện Thương mại Mỹ sẽ phải quyết định có cần tiến hành một cuộc điều tra về các luật, chính sách, thông lệ được coi là cơ sở để xét đó là một nước ưu tiên. Các nước đã được xác định sẽ có thể là đối tượng của điều 301.

Mặc dù không có trong điều 301, Ðại diện Thương mại Mỹ vẫn duy trì các nhóm quốc gia riêng biệt trong đó vẫn còn tồn tại vấn đề quyền sở hữu trí tuệ. Các quốc gia có những thông lệ có ít hơn một tác động, nhưng vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng, sẽ bị đưa vào “danh sách ưu tiên theo dõi” hoặc “danh sách theo dõi”. Các nước bị đưa vào danh sách ưu tiên theo dõi là trọng tâm của sự quan tâm song phương liên quan đến những lĩnh vực có vấn đề. Các nước thường xuyên bị đưa vào, bị chuyển sang một danh sách khác, hoặc xoá tên hoàn toàn khỏi danh sách do kết quả điều tra theo điều Special 301 hàng năm của Ðại diện thương mại Mỹ.

Ngày 30/4/1997, Ðại diện Thương mại Mỹ đã thông báo rằng có 10 nước có thể bị đưa vào danh sách ưu tiên theo dõi và 36 nước khác bị đưa vào danh sách theo dõi. Ðại diện Thương mại Mỹ còn thông báo rằng do kết quả kiểm tra theo điều 301 đặc biệt, Mỹ có thể yêu cầu WTO tiến hành giải quyết tranh chấp đối với 4 nước, đưa ra 10 vụ của WTO liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ do Mỹ khởi xướng. Chưa có quốc gia nào bị coi là nước ưu tiên.

Các cuộc kiểm tra “không định kỳ” có thể được, và thường được tiến hành vào bất cứ lúc nào trong năm, nhờ đó các nước có thể bị đưa vào hoặc xoá tên khỏi danh sách theo dõi.

=======================================

NGUỒN: Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 6/1997 – Bản dịch của Đại sứ quán Hoa kỳ tại Việt Nam