MỘT VỤ KIỆN VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

Thấy gì qua vụ việc tàu Cần giờ kiện Bảo việt

Tàu Cần Giờ thuộc Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Sài Gòn, tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I) tại Bảo Việt Việt Nam theo đơn bảo hiểm số 5.39.03/04SGPI với thời hạn từ 20.02.2004 tới 20.02.2005 theo Quy tắc của Hội Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự chủ tàu Miền Tây nước Anh (gọi tắt là Hội West of England – WOE) và bảo hiểm thân tàu theo đơn số 5.39.03/SG với thời hạn từ 01.01.2004 tới 31.12.2004 theo Quy tắc ITC 1995.

Ngày 28/7/2004, Bảo Việt Việt Nam nhận được công văn của chủ tàu, thông báo tàu Cần Giờ đã bị Tòa án Tanzania bắt giữ vào ngày 27/7/2004 theo yêu cầu của Công ty Mohamed Enterprises của Tanzania với lý do tàu Cần Giờ là tài sản của Chính phủ Việt Nam và bị bắt là để đảm bảo cho khiếu nại mất hàng trong một hợp đồng mua gạo xảy ra từ năm 1999 với Công ty Thanh Hoà ở Tiền Giang. Như vậy việc tàu Cần Giờ bị Tòa án Tanzania bắt giữ là hoàn toàn trái pháp luật vì tàu Cần Giờ là tài sản của doanh nghiệp liên doanh và Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Sài Gòn, không phải là người gây ra thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises.

Vào cuối năm 2004, tàu Cần Giờ cùng toàn bộ thủy thủ đoàn bị bắt giữ tại Tanzania, không được thả về trước Tết Nguyên Đán 2005 đã trở thành một sự kiện tâm điểm được báo giới liên tục cập nhật thông tin, đăng tải.

Kể từ ngày tàu Cần Giờ bị bắt, Sea Sài Gòn đã áp dụng tất cả các biện pháp theo con đường ngoại giao, bằng quan hệ hữu nghị và đồng nghiệp, bằng biện pháp kinh tế và tới cơ quan cao nhất của nước ta – Chính phủ, để can thiệp giải phóng tàu, nhưng không có hiệu quả. Đến tháng 8/2005, tàu Cần Giờ mới được giải phóng và theo chủ tàu, vụ việc này đã làm Sea Sài Gòn thiệt hại trên 1 triệu Đô la Mỹ.

Ngày 21.11.2005, Bảo Việt Việt Nam nhận được Giấy triệu tập của Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu tham dự phiên tòa vào ngày 29.11.2005 để nghe thông báo về đơn khởi kiện của Công ty Sea Sài Gòn đối với Bảo Việt Việt Nam về việc bồi thường các chi phí phát sinh trong thời gian tàu Cần Giờ bị bắt giữ tại Tanzania. Đồng thời trên một số báo như báo Pháp Luật, báo Tiền Phong… cũng đăng tin về vụ Sea Sài Gòn khởi kiện đòi Bảo Việt bồi thường cho những thiệt hại xảy ra đối tàu tàu Cần Giờ và thủy thủ đoàn.

Căn cứ vào Quy tắc của WOE, Quy tắc ITC 1995 thì việc tàu Cần Giờ bị bắt tại Tanzania không thuộc phạm vi bảo hiểm P&I vì chủ tàu không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises và không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu theo điều khoản bảo hiểm loại trừ rủi ro bắt giữ. Bản thân Sea Sài Gòn, trong một lần phỏng vấn báo chí cũng thể hiện nhận thức được rằng thiệt hại xảy ra đối với tàu Cần Giờ không thuộc trách nhiệm bảo hiểm (Bài “Bằng mọi cách đưa tàu Cần Giờ về nước trước Tết” của phóng viên Cẩm Tú đăng trên Vietnamnet ra ngày 18/1/2005).

Liên quan đến sự trở về của con tàu cũng như thủy thủ đoàn của tàu Cần Giờ đó là ngay từ đầu khi nhận được đề nghị của Sea Sài Gòn, Bảo Việt Việt Nam đã tích cực phối hợp với Hội WOE chủ động thuê luật sư bảo vệ quyền lợi của chủ tàu và tìm mọi biện pháp hỗ trợ về pháp lý cũng như tài chính để giúp chủ tàu.

Tính đến tháng 4/2005, chi phí trả cho luật sư mà Bảo Việt Việt Nam phải thanh toán là 12.011 Đôla Mỹ. Kết quả tàu Cần Giờ được rời cảng Tanzania vào ngày 20/8/2005, đã có phần giúp đỡ của các cơ quan, ban ngành và sự hỗ trợ pháp lý tích cực của luật sư do Hội WOE và Bảo Việt Việt Nam chỉ định.

Trong khoảng thời gian tàu Cần Giờ bị bắt từ 27/7/2004 đến ngày tàu rời cảng Tanzania 20/8/2005, Bảo Việt Việt Nam vẫn liên tục duy trì bảo hiểm thân tàu và P&I cho tàu, tạo sự tin tưởng tuyệt đối cho Sea Sài Gòn trong thời điểm khó khăn.

Sau khi tàu Cần Giờ được giải phóng, Bảo Việt Việt Nam nhận được công văn số 106-05/CV-BGĐ của Sea Sài Gòn, thông báo tổng chi phí cảng phí và đại lý phí mà Sea Sài Gòn phải thanh toán cho tàu Cần Giờ là 113.398,52 Đô la Mỹ và đề nghị Bảo Việt Việt Nam xem xét hỗ trợ.

Do vụ việc không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu cũng như trách nhiệm dân sự chủ tàu (P & I) nên Bảo Việt Việt Nam và WOE không có cơ sở để giải quyết bồi thường cho chủ tàu. WOE đã chính thức có văn bản từ chối hỗ trợ Sea Sài Gòn do các phi phí khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm. Tuy nhiên, xét tình hình Sea Sài Gòn là khách hàng lâu năm, lại đang gặp khó khăn về tài chính do tàu bị bắt sai, Bảo Việt Việt Nam đã đồng ý hỗ trợ 20.000 Đô la Mỹ theo quy chế về bồi thường thương mại của Bảo Việt cho Sea Sài Gòn, đồng thời yêu cầu Sea Sài Gòn chuẩn bị toàn bộ các chứng từ chứng minh thiệt hại để làm thủ tục tiến hành đòi phía Mohamed Enterprise.

Như vậy có thể nói trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ cho tới khi được rời cảng Tanzania, Bảo Việt Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí với Sea Sài Gòn và dành sự giúp đỡ hỗ trợ tốt nhất có thể trong khả năng của một doanh nghiệp bảo hiểm. Điều đó phần nào giúp Sea Sài Gòn thành công trong vụ kiện đòi giải phóng tàu Cần Giờ và khắc phục một phần khó khăn về tài chính khi không may gặp rủi ro.

Trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ, Bảo Việt Việt Nam đã thường xuyên báo cáo Bộ Tài chính và thực hiện sự chỉ đạo sát sao của Bộ để xử lý vụ việc.

Được biết ngay sau khi nhận được phản ứng của Bảo Việt Việt Nam về việc Sea Sài Gòn tuyên bố khởi kiện Bảo Việt, phía Sea Sài Gòn đã chuyển lời xin lỗi và thông báo sẽ rút đơn kiện. Tuy nhiên, chỉ gần một ngày sau, Tòa Kinh tế Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh vẫn mời hai bên có mặt tại Tòa thông báo về vụ kiện nói trên.

Tại Tòa Kinh tế Tòa án Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh vào ngày 29/11/2005, đại diện Bảo Việt và Tòa án đã chờ một tiếng đồng hồ vẫn chưa thấy đại diện Sea Sài Gòn có mặt. Thư ký Tòa đã phải điện thoại cho Sea Sài Gòn và được đại diện của Sea Sài Gòn cho biết theo nghị quyết Hội đồng Quản trị, Sea Sài Gòn rút đơn kiện. Tòa đã đề nghị Sea Sài Gòn phải có mặt để Tòa hướng dẫn thủ tục rút đơn kiện. Nhưng lại một tiếng nữa trôi qua, phía Tòa lại nhận được điện thoại của Luật sư – đại diện bảo vệ quyền lợi do Sea Sài Gòn chỉ định – báo xin hoãn một tháng cho các bên có thời gian thương lượng…Tòa án cho phép Bảo Việt ra về và cũng chưa thông báo nội dung đơn kiện…

Như vậy việc Sea Sài Gòn có tiếp tục kiện hay rút đơn kiện Bảo Việt liên quan đến thiệt hại của tàu Cần Giờ vẫn còn phải tiếp tục chờ đợi gần một tháng nữa khi mà về mặt pháp lý, thiệt hại xảy ra đối với tàu Cần Giờ không thuộc phạm vi bảo hiểm theo Điều khoản bảo hiểm quốc tế và đơn bảo hiểm đã cấp; Về phía mình, Bảo Việt đã nỗ lực hết mình và đã mang lại kết quả là tàu Cần Giờ được giải phóng trở về cảng Sài Gòn Việt Nam và Sea Sài Gòn lại có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình đối với con tàu này.

Vụ việc trên cũng là một kinh nghiệm quý để Bảo Việt Việt Nam có những ứng xử thích hợp để bảo vệ uy tín của mình trên thị trường bảo hiểm đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt này.

Minh Phương

(Tổng công ty Bảo Hiểm Việt Nam)

==============================================================

Bảo Việt không đồng ý đền bù cho tàu Cần Giờ

(VietNamNet) – Trước sự việc bị Công ty vận tải biển Sài Gòn (Sea Saigon) khởi kiện và đòi bồi thường thiệt hại cho tàu Cần Giờ trong cả quá trình tàu này bị giam giữ tại Tanzania, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) đã thể hiện thái độ bất bình.

Hành trình 3 tháng trở về của tàu Cần Giờ

Hôm 21/11/2005, Bảo Việt nhận được giấy triệu tập của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu tham dự phiên tòa vào ngày 29/11 để nghe thông báo về đơn khởi kiện của Công ty Sea Saigon đối với Bảo Việt về việc bồi thường các chi phí phát sinh trong thời gian tàu Cần Giờ bị bắt giữ tại Tanzania.

Trong công văn số 106-05/CV-BGĐ được gửi đến Bảo Việt trước đó, Sea Saigon thông báo với Bảo Việt rằng tổng chi phí cảng phí và đại lý phí mà họ phải thanh toán cho tàu Cần Giờ là 113.398,52USD và đề nghị Bảo Việt xem xét hỗ trợ. Tuy nhiên, Bảo Việt cho rằng “do vụ việc không thuộc phạm vi bảo hiểm 2 bên đã ký kết nên Bảo Việt không có cơ sở để giải quyết cho chủ tàu”.

Tàu Cần Giờ thuộc Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon, tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I) tại Bảo Việt theo đơn bảo hiểm số 5.39.03/04SGPI với thời hạn từ 20/2/2004 tới 20/2/2005 theo quy tắc của Hội Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự chủ tàu miền Tây nước Anh (gọi tắt là Hội West of England – WOE) và bảo hiểm thân tàu theo đơn số 5.39.03/SG với thời hạn từ 1/1/2004 tới 31/12/2004 theo quy tắc ITC 1995.

Ngày 28/7/2004, Bảo Việt nhận được công văn của chủ tàu thông báo tàu Cần Giờ đã bị Tòa án Tanzania bắt giữ vào ngày 28/7/2004 theo yêu cầu của Công ty Mohamed Enterprises với lý do tàu Cần Giờ là tài sản của Chính phủ Việt Nam và bị bắt là để đảm bảo cho khiếu nại mất hàng trong một hợp đồng mua hàng từ năm 1999 với Công ty Thanh Hoà ở Tiền Giang. Nhưng theo Bảo Việt, việc tàu Cần Giờ bị Tòa án Tanzania bắt giữ là hoàn toàn trái pháp luật vì tàu Cần Giờ là tài sản của doanh nghiệp liên doanh, không thể đại diện cho tài sản của Chính phủ Việt Nam. Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon không phải là người gây ra thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises.

Kể từ ngày tàu Cần Giờ bị bắt, Sea Saigon đã áp dụng tất cả các biện pháp theo con đường ngoại giao và Chính phủ để can thiệp giải phóng tàu nhưng không có hiệu quả. Sau hơn 1 năm bị giam giữ, hôm 25/11 vừa qua, tàu Cần Giờ mới cập cảng Sài Gòn sau khi được giải phóng. Và theo chủ tàu, vụ việc này đã làm Sea Sài Gòn thiệt hại trên 1 triệu USD.

Trong một thông báo gửi tới báo chí, Bảo Việt khẳng định: “Căn cứ vào quy tắc của WOE, quy tắc ITC 1995 thì việc tàu Cần Giờ bị bắt tại Tanzania không thuộc phạm vi bảo hiểm P&I vì chủ tàu không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises và không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu theo điều khoản bảo hiểm loại trừ rủi ro bắt giữ. Mặc dù vậy, ngay từ đầu khi nhận được đề nghị của Sea Sài Gòn, chúng tôi đã tích cực phối hợp với WOE chủ động thuê luật sư bảo vệ quyền lợi chủ tàu và tìm mọi biện pháp hỗ trợ về pháp lý cũng như tài chính giúp chủ tàu. Tính đến thời điểm tháng 4/2005, chi phí trả cho luật sư mà Bảo Việt phải thanh toán là 12.011USD. Kết quả tàu Cần Giờ được rời cảng Tanzania vào ngày 20/8/2005 đã chứng minh những nỗ lực giúp đỡ không ngừng của các cơ quan, ban ngành và sự hỗ trợ pháp lý tích cực của luật sư do Hội WOE và Bảo Việt chỉ định”.
WOE cũng đã chính thức có văn bản từ chối hỗ trợ Sea Saigon do các phi phí khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm.

“Tuy nhiên, xét tình hình Sea Sài Gòn là khách hàng lâu năm, lại đang gặp khó khăn về tài chính do tàu bị bắt oan sai, Bảo Việt đã đồng ý hỗ trợ 20.000USD theo quy chế về bồi thường thương mại của Bảo Việt cho Sea Saigon, đồng thời yêu cầu Sea Saigon chuẩn bị toàn bộ các chứng từ chứng minh thiệt hại để làm thủ tục tiến hành đòi phía Mohamed Enterprise”, thông báo nêu rõ.

Trong khoảng thời gian tàu Cần Giờ bị bắt từ 27/7/2005 đến ngày tàu rời cảng Tanzania 20/8/2005, Bảo Việt vẫn liên tục duy trì bảo hiểm thân tàu và P&I cho tàu.

“Tuy nhiên rất tiếc Sea Saigon đã không ghi nhận thiện chí và những nỗ lực giúp đỡ đó của Bảo Việt mà còn tiến hành khởi kiện”, đại diện của Bảo Việt nói.

Sau 1 năm bị khống chế, tàu Cần Giờ mới về đến Nha Trang.

===================================================

Hợp đồng bảo hiểm trong vụ tàu Cần Giờ

(VNECONOMY )

Tàu Cần Giờ bị giam giữ tại Tanzania.

Bảo Việt khẳng định: “Trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ cho tới khi được phép rời cảng Tanzania, Bảo Việt luôn tỏ rõ thiện chí với Sea Saigon. Tuy nhiên thiện chí đó đã không được ghi nhận”.

Ngày 29/11 tới, tại Tòa án nhân dân Tp.HCM, Công ty vận tải biển Sài Gòn (Sea Saigon) chính thức khởi kiện Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt), liên quan đến việc bồi thường thiệt hại cho tàu Cần Giờ khi bị giam giữ tại Tanzania.

Về vụ việc này, Bảo Việt cũng đã có thông tin phản hồi chính thức, trong đó nhấn mạnh: “Có thể nói, trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ cho tới khi được phép rời cảng Tanzania, Bảo Việt Việt Nam luôn tỏ rõ thiện chí với Sea Saigon và dành sự giúp đỡ hỗ trợ tốt nhất có thể trong khả năng của một doanh nghiệp bảo hiểm. Điều đó phần nào giúp Sea Saigon thành công trong vụ kiện đòi giải phóng tàu Cần Giờ và khắc phục một phần khó khăn về tài chính khi không may gặp rủi ro”.

Tuy nhiên, theo Bảo Việt, “rất tiếc là Sea Saigon đã không ghi nhận thiện chí và những nỗ lực giúp đỡ đó mà còn tiến hành khởi kiện và đưa tin rộng rãi trên báo chí. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ tới thương hiệu của Bảo Việt trong bối cảnh cạnh tranh đang diễn ra mạnh mẽ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam”.

Về tính pháp lý trong trách nhiệm bồi thường bảo hiểm của Bảo Việt trong vụ việc này, Bảo Việt giải thích như sau:

Tàu Cần Giờ thuộc Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon, tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ tàu (P&I) tại Bảo Việt Việt Nam theo đơn bảo hiểm số 5.39.03/04SGPI với thời hạn từ 20/02/2004 tới 20/02/2005, theo Quy tắc của Hội Bảo hiểm Trách nhiệm dân sự chủ tàu Miền Tây nước Anh (gọi tắt là Hội West of England – WOE) và bảo hiểm thân tàu theo đơn số 5.39.03/SG với thời hạn từ 01/01/2004 tới 31/12/2004, theo Quy tắc ITC 1995.

Ngày 28/7/2004, Bảo Việt nhận được công văn của chủ tàu thông báo tàu Cần Giờ đã bị Tòa án Tanzania bắt giữ vào ngày 28/7/2004 theo yêu cầu của Công ty Mohamed Enterprises với lý do tàu Cần Giờ là tài sản của Chính phủ Việt Nam và bị bắt là để đảm bảo cho khiếu nại mất hàng trong một hợp đồng mua hàng từ năm 1999 với Công ty Thanh Hoà ở Tiền Giang.

Theo Bảo Việt, việc tàu Cần Giờ bị Tòa án Tanzania bắt giữ là hoàn toàn trái pháp luật vì tàu Cần Giờ là tài sản của doanh nghiệp liên doanh và Công ty liên doanh vận tải thủy Sea Saigon, không phải là người gây ra thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises.

Ngày 21/11/2005, Bảo Việt nhận được Giấy triệu tập của Tòa án Nhân dân Tp.HCM, yêu cầu tham dự phiên tòa vào ngày 29/11/2005 tới để nghe thông báo về đơn khởi kiện của Công ty Sea Saigon đối với Bảo Việt về việc bồi thường các chi phí phát sinh trong thời gian tàu Cần Giờ bị bắt giữ tại Tanzania.

“Căn cứ vào Quy tắc của WOE, Quy tắc ITC 1995 thì việc tàu Cần Giờ bị bắt tại Tanzania không thuộc phạm vi bảo hiểm P&I vì chủ tàu không có lỗi trong việc gây thiệt hại cho Công ty Mohamed Enterprises và không thuộc phạm vi bảo hiểm thân tàu theo điều khoản bảo hiểm loại trừ rủi ro bắt giữ”, Bảo Việt khẳng định.

Tuy nhiên, ngay từ khi nhận được đề nghị của Sea Saigon, “Bảo Việt đã tích cực phối hợp với WOE chủ động thuê luật sư bảo vệ quyền lợi chủ tàu và tìm mọi biện pháp hỗ trợ về pháp lý cũng như tài chính giúp chủ tàu”.

Tính đến thời điểm tháng 4/2005, chi phí trả cho luật sư mà Bảo Việt phải thanh toán là 12.011 Đô la Mỹ. Và trong khoảng thời gian tàu Cần Giờ bị bắt từ 28/7/2004 đến ngày tàu rời cảng Tanzania 20/8/2005, Bảo Việt vẫn liên tục duy trì bảo hiểm thân tàu và P&I cho tàu, tạo sự tin tưởng cho Sea Saigon trong thời điểm khó khăn.

Sau khi tàu Cần Giờ được giải phóng, ngày 19/8/2005 Bảo Việt Việt Nam nhận được công văn số 106-05/CV-BGĐ của Sea Saigon, thông báo tổng chi phí cảng phí và đại lý phí mà họ phải thanh toán cho tàu Cần Giờ là 113.398,52 Đô la Mỹ và đề nghị Bảo Việt Việt Nam xem xét hỗ trợ.

Do vụ việc không thuộc phạm vi bảo hiểm nên Bảo Việt Việt Nam và WOE không có cơ sở để giải quyết cho chủ tàu. WOE cũng đã chính thức có văn bản từ chối hỗ trợ Sea Saigon do các chi phí khiếu nại không thuộc phạm vi bảo hiểm.

“Tuy nhiên, xét tình hình Sea Saigon là khách hàng lâu năm, lại đang gặp khó khăn về tài chính do tàu bị bắt oan sai, Bảo Việt Việt Nam đã đồng ý hỗ trợ 20.000 Đô la Mỹ theo quy chế về bồi thường thương mại của Bảo Việt cho Sea Saigon, đồng thời yêu cầu Sea Saigon chuẩn bị toàn bộ các chứng từ chứng minh thiệt hại để làm thủ tục tiến hành đòi phía Mohamed Enterprise”, Bảo Việt cho biết.

Ngoài ra, trong suốt quá trình tàu Cần Giờ bị bắt giữ, Bảo Việt cho biết đã thường xuyên báo cáo với Bộ Tài chính Việt Nam và thực hiện sự chỉ đạo sát sao của bộ này để xử lý vụ việc.

Bảo Việt cũng e ngại rằng, xung quanh vụ việc này, những thông tin chưa đầy đủ hoặc thiếu chuẩn xác sẽ gây ảnh hưởng tới uy tín của mình.

BẢO VỆ NHÃN HIỆU THƯƠNG MẠI TRÊN INTERNET

Angelo Mazza

Với sự mở rộng của thương mại điện tử thông qua các trang web bán đấu giá (auction web site) và bán lẻ (stand-alone web site) trên Internet với nhiều sản phẩm được chào bán, những người nắm giữ các nhãn hiệu thương mại đang đối mặt với những thách thức lớn đối với việc thực thi. Khi mà những hãng kinh doanh chính đáng có thể phát triển thịnh vượng nhờ Internet thì sự tồn tại của chúng lại bị đe dọa bởi những đối thủ không trung thực – những hãng lợi dụng những kẽ hở để có được lợi thế không công bằng nhằm bán đi hàng giả như hàng chính hiệu và lảng tránh việc thực thi. Những trang web xấu này, dù có vẻ như là chúng không liên quan đến nhau hay chỉ hoạt động ở quy mô nhỏ, lại có thể dễ dàng đạt lợi nhuận hàng triệu đô-la thông qua việc khai thác những điểm yếu trong các đạo luật hiện có cũng như trong kỹ thuật thực thi pháp luật.

Tuy vậy, một khuôn khổ pháp lý quốc tế nhằm bảo vệ những người nắm giữ các nhãn hiệu thương mại hợp pháp trên Internet vẫn chưa tồn tại. Do đó, việc thực thi bởi khu vực tư nhân và các chính phủ cần có sự bền bỉ và cảnh giác. Chính phủ và người sở hữu nhãn hiệu cần nhận thức rằng họ có thể có những bước đi để bảo vệ nhãn hiệu của mình trong một thế giới Internet đầy những hoạt động mua bán suốt ngày đêm ở rất nhiều quốc gia.

Chúng ta có thể chia các chiến lược thực thi này thành hai khu vực chính, một để đối phó với các trang web bán đấu giá và một đối phó với các trang bán lẻ. Những trang web bán đấu giá cho thấy những thách thức đặc biệt đối với việc thực thi và đặt ra vấn đề về độ tin cậy của trang web (độ tin cậy của trang web liên quan đến trách nhiệm pháp lý của trang web). Vì các đạo luật và chính sách ở mỗi quốc gia và/ hoặc của trang web bán đấu giá khác nhau đáng kể nên chủ đề này quá phức tạp để bàn thảo trong bài báo ngắn này. Tuy nhiên, hiện tại, hướng tiếp cận được ưa thích là xác định trang web vi phạm và đưa ra cơ hội sửa chữa vi phạm bằng cách loại bỏ những lời chào bán vi phạm. Nếu vi phạm tiếp diễn, người có trách nhiệm quản lý trang web sẽ đóng tài khoản của người vi phạm trên trang web.

Bài viết này chỉ giới hạn ở việc xem xét tổng thể các vấn đề liên quan đến các trang web bán lẻ chào bán hàng giả. Tập trung vào những cách làm hiện tại ở Hoa Kỳ, chúng tôi sẽ đánh giá phạm vi của vấn đề, phác họa những bước đi cần được tiến hành, xem xét những khó khăn mà mỗi hành động mang lại và xác định xem đâu là những phương pháp có thể thành công.

Quá trình đối phó với các trang web bán hàng giả có thể rất tốn thời gian và không may là không làm cho các chủ sở hữu các quyền cảm thấy được xoa dịu ngay lập tức. Thành công đòi hỏi sự bền bỉ và kiến thức chuyên môn. Internet mang đến những thách thức đặc biệt đối với các chủ sở hữu trí tuệ bởi vì, trong rất nhiều trường hợp, trang web vi phạm lại đưa ra những thông tin “Đăng ký” sai hoặc không đầy đủ. Việc thiếu thông tin đầy đủ này là một rào cản lớn đối với các chủ sở hữu các quyền đang cố gắng xác định trang web và báo cảnh sát về việc bán những hàng này trên Internet.

Nhiều công ty chính hãng đã thuê các nhóm nhân viên làm việc trong văn phòng, sử dụng các phần mềm đặc biệt và thuê các nhà cung cấp dịch vụ ở bên ngoài để truy tìm những trang web bán hàng hóa giả. Khi một chủ sở hữu trí tuệ phát hiện ra một trang web chào bán hàng giả, người đó có thể bắt đầu thu thập dữ liệu, xem xét lại các cơ sở dữ liệu và thu thập các cơ sở dữ liệu Whois; thông tin để xác định những người chịu trách nhiệm về trang web.

Trong hầu hết các trường hợp, thông tin về trang web thu thập từ cơ sở dữ liệu Whois thường không chính xác hoặc hoàn toàn sai. Do không có hình phạt nào ở Hoa Kỳ đối với việc cung cấp thông tin sai lạc vào một cơ sở dữ liệu, những kẻ làm hàng giả điền các thông tin Whois với những dấu chấm, dấu gạch ngang, tên của những người đã chết và các địa chỉ ở Atlantis hoặc một nơi không thể xác định nào đó. Mặc dù đã có những cuộc bàn thảo về việc sửa đổi những đạo luật đang được áp dụng của Hoa Kỳ, yêu cầu những thông tin chính xác hơn khi đăng ký một tên miền, song những nỗ lực đó vẫn chưa cho kết quả.

Tuy nhiên, một khi một trang web bán hàng giả bị phát hiện, chủ sở hữu trí tuệ sẽ viết các bức thư yêu cầu ngừng việc bán lại và gửi chúng tới nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) và tới chính trang web. Trong hầu hết các trường hợp, trang web sẽ lờ đi những bức thư đó. Tuy nhiên, trang web đã được thông báo về việc vi phạm và không thể nói “không biết” đối với hoạt động sai phạm đó.

Nhìn chung, các ISP đều hợp tác khi được liên hệ, mặc dù theo luật pháp hiện tại, họ không bị buộc phải xác minh bất kỳ thông tin nào mà họ thu thập được. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet tuân thủ pháp luật sẽ loại bỏ những trang web vi phạm khỏi máy chủ của họ. Tuy nhiên, điều này không xảy ra khi trang web chào bán hàng giả lại là nhà cung cấp dịch vụ Interner cho chính nó và lờ đi tất cả những thư từ liên hệ. Ngoài ra, còn có những nhà cung cấp dịch vụ Internet bất hảo, trở thành nơi trú ấn an toàn cho những trang web vi phạm. Hiệu ứng không mong muốn đối với các ISP là nhiều trang web vi phạm cuối cùng sẽ chuyển sang thuê dịch vụ của những ISP ở bên ngoài nước Mỹ, nơi có luật pháp khác và các IPS thường là thiếu tinh thần hợp tác hơn.

Nếu như việc liên hệ với trang web đó gặp thất bại và kẻ làm hàng giả chơi trò chuyển sang các ISP khác, người nắm quyền hữu trí tuệ có thể có thêm những hành động khác. Họ có thể nghiên cứu thêm, và trong một số trường hợp, có thể thuê những nhà điều tra bên ngoài mua các hàng hóa giả để có thể tìm ra nguồn hàng hoặc nguồn của trang web. Việc điều tra thường cho kết quả là rất nhiều nguồn hàng giả. Mặc dù có nhiều trang web tiếng Anh và thực hiện việc kinh doanh bằng đô-la Mỹ nhưng thường thì chúng hoạt động ở ngoài biên giới nước Mỹ. Trong những trường hợp khác, chúng thu tiền tại Hoa Kỳ nhưng lại chuyên chở hàng giả tới những người mua ở nước ngoài. Việc này gây thêm những khó khăn về mặt thực thi đối với chủ sở hữu, những người phải duy trì việc thuê luật sư và nhà điều tra nước ngoài để tăng cường việc điều tra. Như thế, chủ sở hữu trí tuệ phải chịu những chi phí lớn và những đặc thù của việc thực thi ở một khu vực tài phán nước ngoài.

Người nắm quyền sở hữu trí tuệ có thể tiến hành hành động pháp lý khi đã thu thập đủ thông tin. Hành động pháp lý cho phép chủ sở hữu được yêu cầu trình ra tòa hồ sơ của nhà cung cấp dịch vụ Internet về hoạt động của trang web xấu. Thông thường, hồ sơ của các ISP đã quá hạn hoặc không còn được lưu nữa. Nếu trang web là một phần trong một chuỗi các trang web lớn hơn thuộc cùng một chủ sở hữu, nó có thể bị viện dẫn đến việc thực thi luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, do thiếu nguồn lực và các đơn vị tội phạm tin học đặc nhiệm, nên các hành động pháp lý hình sự chỉ chiếm một phần nhỏ trong việc thực thi. Chủ sở hữu của những trang web nhái (replica site) rất hiểu rằng còn thiếu các hành động thực thi mang tính hình sự này.

Những vấn đề đối với việc thực thi được phác họa ở đây chỉ có thể được giảm đi khi chính quyền có các đạo luật làm hài hòa và công bằng sân chơi Internet và hỗ trợ các nỗ lực thực thi của khu vực tư nhân. Đồng thời khu vực tư nhân cũng phải duy trì cam kết theo đuổi những kẻ vi phạm trên Internet.

_____________________________________
Angelo Mazza là đối tác của hãng Gibney, Anthony & Flaherty, LLP ở thành phố New York. Ông giám sát và chuyên về hoạt động hàng ngày trên Internet. Ông cũng là Chủ tịch Quỹ Liên minh chống hàng giả quốc tế (IACC), phụ trách giáo dục và đào tạo của IACC.

********************

CHUYÊN ĐỀ VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2006

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

CÁC CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI BẰNG TIỀN: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ

Continue reading

GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Paul E. Salmon

Việc bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ (IPR) trên thế giới có ý nghĩa sống còn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của tất cả mọi quốc gia trong tương lai. Vì các điều ước quốc tế về IPR tạo ra cơ sở pháp lý và quy định chung nên những văn bản này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ chặt chẽ sở hữu trí tuệ, và nhờ vậy sẽ thúc đẩy việc mở rộng kinh tế toàn cầu và phát triển những công nghệ mới.

Tuy nhiên, mãi đến khi vòng đàm phán Uruguay của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch (GATT) sáng lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ký kết Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu Trí tuệ (TRIPS) năm 1994 thì cộng đồng quốc tế mới có một nguồn thống nhất về các chuẩn mực và nghĩa vụ vể quyền sở hữu trí tuệ.

Tầm quan trọng của Hiệp định TRIPS được thể hiện ở ba điểm:

  1. Đây là hiệp định duy nhất đầu tiên thực sự mang tính quốc tế đã đưa ra các chuẩn mực tối thiểu về bảo hộ nhiều hình thức của sở hữu trí tuệ;

  2. Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ có những quy định cụ thể về trách nhiệm dân sự, hình sự và bảo vệ biên giới; và

  3. Đây là hiệp định quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Trên thực tế, TRIPS đặt nền tảng cho một hạ tầng cơ sở vững chắc và hiện đại trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ cho cộng đồng quốc tế.

Là một nước tích cực thực hiện Hiệp định TRIPS và tất cả các điều ước quốc tế khác về IPR nêu ra dưới đây, Chính phủ Mỹ khuyến khích các quốc gia khác tham gia và thực thi các điều ước quốc tế này.

TRIPS

Hiệp định TRIPS có hiệu lực vào năm 1995 trong khuôn khổ Hiệp định Thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới. TRIPS đã tổng hợp và xây dựng trên cơ sở các hiệp định quan trọng và mới nhất về sở hữu trí tuệ do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) thực thi với Công ước Paris về Bảo hộ Tài sản Công nghiệp và Công ước Berne về Bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật – những hiệp định có từ những năm 1880.

Hiệp định TRIPS có vị thế độc nhất trong số các điều ước quốc tế về IPR bởi lẽ việc trở thành thành viên của WTO đồng nghĩa với việc tham gia “trọn gói” các hiệp ước. Nói cách khác, các quốc gia thành viên của WTO không được phép lựa chọn các hiệp ước mà phải tuân thủ tất cả các hiệp ước đa phương của WTO, bao gồm cả TRIPS.

Hiệp định TRIPS áp dụng các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế đối với các quốc gia thành viên về sở hữu trí tuệ, trong đó có quy chế đối xử quốc gia và quy chế tối huệ quốc. TRIPS cũng đề ra các chuẩn mực tối thiểu về mức độ, phạm vi và việc sử dụng bảy hình thức sở hữu trí tuệ – quyền tác giả, nhãn hiệu, xuất xứ địa lý, thiết kế công nghiệp, bằng phát minh sáng chế, thiết kế bố trí mạch điện tử tích hợp và thông tin mật (bí mật thương mại). TRIPS cũng nêu cụ thể những hạn chế và ngoại lệ có thể chấp nhận nhằm hài hòa lợi ích sở hữu trí tuệ với lợi ích trong những lĩnh vực khác, chẳng hạn như sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế. (Toàn văn Hiệp định TRIPS cũng như phần giải thích các điều khoản của hiệp định có tại trang web của WTO http://www.wto.org).

Theo Hiệp định TRIPS, các nước phát triển hoàn toàn thực thi hiệp định này vào ngày 1/1/1996. Các quốc gia đang phát triển và những thành viên đang trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường được phép lùi ngày thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quy định trong TRIPS đến 1/1/2000. Các nước kém phát triển được phép bắt đầu thực hiện các nghĩa vụ của mình vào ngày 1/1/2006, và có khả năng được kéo dài thời kỳ chuyển giao nếu có yêu cầu. Các quốc gia đang phát triển chưa có quy định bảo hộ bằng phát minh sáng chế đối với một số lĩnh vực công nghệ nhất định tính đến thời điểm xin gia nhập thì được phép kéo dài thêm năm năm nữa, tức là đến ngày 1/1/2005, để ban hành quy định bảo hộ như vậy.

Tại Hội nghị Bộ trưởng Thương mại của WTO tại Doha năm 2001, các quốc gia kém phát triển đã được gia hạn thêm 10 năm để thực thi các quy định về bảo hộ bằng phát minh sáng chế và “bí mật thương mại” trong khuôn khổ của TRIPS vì những quy định này có liên quan đến dược phẩm.

Tuy nhiên, do Hiệp định TRIPS đã trải qua 10 năm nên không thể bao hàm được một số diễn biến mới, như các vấn đề về Internet và tác quyền kỹ thuật số, công nghệ sinh học tiên tiến, và quá trình nhất thể hóa những chuẩn mực toàn cầu về luật pháp hoặc thông lệ. Hiệp định này mới chỉ đặt nền tảng cho việc bảo hộ IPR ở mức tối thiểu chứ chưa phải tối đa.

Kể từ khi ký kết Hiệp định TRIPS, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới đã giải quyết nhiều vấn đề tác quyền kỹ thuật số trong các hiệp định về Internet, cụ thể Hiệp định Quyền tác giả của WIPO (WCT) và Hiệp định về Biểu diễn và Ghi âm của WIPO (WPPT).

Dưới đây là phần tóm lược một số hiệp định khác của WIPO bổ sung cho Hiệp định TRIPS, đề cập đến những phát triển công nghệ mới. Toàn văn các hiệp định của WIPO đề cập dưới đây có tại địa chỉ http://www.wipo.int/.

HIỆP ƯỚC VỀ LUẬT NHÃN HIỆU

Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu (TLT), được thông qua ngày 27/10/1994, đã có hiệu lực ngày 1/8/1996. Tính đến ngày 1/7/2005, 33 quốc gia, trong đó có Hoa Kỳ, đã tham gia hiệp định. TLT được ban hành để đơn giản hóa các thủ tục xin cấp phép, đăng ký và hài hòa thủ tục đăng ký nhãn hiệu giữa các quốc gia khác nhau. TLT đã hài hòa thủ tục của các cơ quan cấp phép đăng ký nhãn hiệu của các quốc gia khác nhau thông qua việc quy định những yêu cầu tối đa mà một bên tham gia có thể đưa ra.

TLT dành cho nhãn hiệu dịch vụ – dấu hiệu nhận biết đặc thù của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để phân biệt với hàng hóa – quy chế “bình đẳng” với nhãn hiệu. Trước đây, nhiều nước dành quy chế pháp lý khác nhau cho nhãn hiệu hàng hóa và nhãn hiệu dịch vụ. TLT đã yêu cầu các quốc gia thành viên đăng ký nhãn hiệu dịch vụ và dành quy chế pháp lý tương tự như nhãn hiệu hàng hóa.

Theo quan điểm của những người sở hữu nhãn hiệu, TLT đã tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho quá trình chuẩn bị và lập hồ sơ xin đăng ký. Hiệp định này đã đơn giản hóa quy trình gia hạn sau khi đăng ký, thu âm, đổi tên và địa chỉ và quyền hạn của người được ủy quyền. Các quốc gia tham gia TLT có nghĩa vụ cho phép đăng ký đa chủng loại, giúp chủ sở hữu nhãn hiệu xin đăng ký một lần cho nhiều chủng loại hàng hóa và dịch vụ.

Một khía cạnh quan trọng khác của TLT cũng đem lại lợi ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu là cấm các cơ quan cấp phép của các quốc gia thành viên yêu cầu xác thực các hồ sơ và chữ ký đối với các đơn thư xin đăng ký nhãn hiệu. Nhiều quốc gia yêu cầu bất kỳ chữ ký nào nộp kèm trong hồ sơ đăng ký nhãn hiệu cũng cần phải công chứng hoặc phải được hợp pháp hóa phù hợp với luật pháp của quốc gia đó. Theo quy định của TLT, trong hầu hết mọi trường hợp, không cần phải tuân thủ các thủ tục này nữa. Khía cạnh này cho phép người chủ sở hữu nhãn hiệu hoàn tất và nộp hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu nhanh hơn với chi phí thấp hơn.

Một lợi thế nữa của TLT là việc hài hòa thời hạn đăng kí nhãn hiệu ban đầu và gia hạn giữa các quốc gia thành viên: TLT quy định thời hạn đăng ký ban đầu là 10 năm, và có thêm 10 năm gia hạn.

Các đặc điểm chính khác của TLT còn bao gồm việc giới thiệu hệ thống ứng dụng đăng ký mục đích sử dụng (có bằng chứng chứng tỏ các nhãn hiệu này đã sử dụng trước khi đăng ký); hợp lý hóa thủ tục gia hạn; giảm thiểu những yêu cầu hoàn tất ngày nộp đơn đăng ký và đơn giản hóa thủ tục thay đổi tên và sở hữu hồ sơ và đăng ký nhãn hiệu.

Nói tóm lại, TLT nhằm tạo điều kiện thúc đẩy thương mại quốc tế: Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các cá nhân và các doanh nghiệp nhỏ đang tìm kiếm thị trường ở các quốc gia khác. Hiện tại, Ủy ban Thường trực về Nhãn hiệu, Thiết kế công nghiệp và Ký hiệu địa lý WIPO (SCT) đang đàm phán các đề xuất sửa đổi TLT. Ủy ban này kiến nghị Đại hội đồng WIPO tổ chức một hội nghị ngoại giao từ ngày 13-31/3/2006 để xem xét việc thông qua TLT sửa đổi.

HIỆP ƯỚC VỀ LUẬT CHỨNG NHẬN PHÁT MINH, SÁNG CHẾ

Hiệp ước về Luật Chứng nhận Phát minh, Sáng chế (PLT) do WIPO thông qua vào tháng 6 năm 2000 đã có hiệu lực ngày 28/4/2005. PLT là kết quả của nhiều năm tiến hành đàm phán đa phương về hài hòa hệ thống chứng nhận phát minh sáng chế trên thế giới. PLT đã hài hòa một số thủ tục đăng ký bằng phát minh sáng chế nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ những thủ tục và nguy cơ bị mất quyền sở hữu. PLT không hài hòa nội dung luật chứng nhận phát minh, sáng chế – tức là luật của mỗi quốc gia quy định các điều kiện bắt buộc để có thể nhận được bằng phát minh, sáng chế ở quốc gia đó. Tuy nhiên, WIPO đang tiến hành thương thảo nhằm hài hòa nội dung luật chứng nhận phát minh, sáng chế.

PLT tạo điều kiện cho những người nộp đơn đăng ký bằng phát minh và chủ sở hữu bằng phát minh được cấp và duy trì bằng phát minh, sáng chế khắp nơi trên thế giới thông qua việc đơn giản hóa và – ở một mức độ rộng rãi – hợp nhất các yêu cầu của quốc gia và quốc tế gắn liền với việc đăng ký và cấp bằng phát minh sáng chế.

PLT:

  • đơn giản hóa và giảm thiểu các yêu cầu đăng ký cấp bằng phát minh, sáng chế để hẹn ngày lập hồ sơ;

  • giới hạn những yêu cầu về mặt hình thức mà các bên ký kết có thể đưa ra;

  • nới lỏng những yêu cầu về mặt trình bày đối với nhiều vấn đề mang tính hình thức;

  • nới lỏng những giới hạn về thời gian mà Văn phòng Tác quyền của một quốc gia có thể đưa ra và phục hồi quyền khi một người xin đăng ký hoặc sở hữu đã không tuân thủ quy định về giới hạn thời gian và việc không tuân thủ đó đã có hậu quả trực tiếp là gây ra mất các quyền lợi; và

  • quy định việc hiệu chỉnh hoặc bổ sung các yêu cầu ưu tiên và phục hồi quyền ưu tiên.

HỆ THỐNG HIỆP ƯỚC HỢP TÁC VỀ BẰNG PHÁT MINH SÁNG CHẾ

Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sáng chế (PCT) đã bắt đầu manh nha từ năm 1966 khi Ban Điều hành Công ước Paris về Bảo hộ Quyền Sở hữu trí tuệ kêu gọi nghiên cứu tìm cách giảm bớt những gánh nặng có liên quan tới việc lập hồ sơ và được cấp bằng cho cùng một phát minh sáng chế ở các quốc gia khác nhau đối với những người đăng ký và cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế. Kết quả là Hiệp định PTC của WIPO đã được ký kết tại Washington, D.C. năm 1970 và có hiệu lực năm 1978. Hiệp định đã được sửa đổi năm 1979, 1984, 2001 và 2004. Tính đến ngày 15/9/2005 đã có 128 bên tham gia ký kết PCT.

Nhờ đơn giản hóa quá trình lập hồ sơ đăng ký bằng phát minh sáng chế nên PCT đã giúp những nhà phát minh được bảo hộ bằng phát minh của họ trên toàn thế giới. Hiệp định này cũng khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ và các cá nhân tìm cách bảo hộ bằng phát minh sáng chế của họ ở nước ngoài.

Theo hiệp định này, các công dân của một quốc gia tham gia ký kết chỉ cần lập một hồ sơ đăng ký cấp bằng phát minh duy nhất – thường được gọi là hồ sơ “quốc tế” – và gửi tới Cơ quan cấp bằng phát minh của nước họ hoặc tới WIPO với tư cách là cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Như vậy, đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế của họ sẽ tự động được gửi tới tất cả 127 quốc gia tham gia PCT.

Hiệp định cho phép những người nộp đơn có thời gian dài hơn – 30 tháng – để cam kết trang trải mọi chi phí dịch thuật, lệ phí hồ sơ trong nước và thực thi ở tất cả mọi quốc gia nơi họ muốn được bảo hộ. Nhờ cho phép người nộp đơn có nhiều thời gian và thông tin hơn để đánh giá thế mạnh trong bằng phát minh sáng chế tương lai của họ và quyết định kế hoạch tiếp thị của mình, thời hạn 30 tháng giúp các ứng viên lựa chọn tốt hơn những quốc gia nơi họ muốn nộp hồ sơ. Đây là một bước tiến quan trọng so với thời hạn ưu tiên 12 tháng đã được quy định trong Công ước Paris đối với những người nộp đơn xin cấp bằng phát minh sáng chế.

Trong khuôn khổ PCT, WIPO đã ấn hành “áp dụng tính quốc tế” cùng với hướng dẫn về việc công nhận phát minh sáng chế. Việc hướng dẫn như vậy có nghĩa là tiến hành nghiên cứu sơ bộ và/hoặc kiểm tra thông qua một “cơ quan quốc tế” – một trong 11 cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế hiện đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu về nhân lực và các yêu cầu xử lý hồ sơ khác được WIPO ủy quyền. Việc chỉ dẫn như vậy giúp người nộp đơn quyết định xem có nên tiếp tục nộp hồ sơ xin cấp bằng phát minh, sáng chế tới các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế ở trong nước hay trong khu vực hay không. Các cơ quan cấp bằng phát minh cũng được hưởng lợi từ quá trình chỉ dẫn này khi quyết định có nên cấp bằng phát minh sáng chế quốc gia hay khu vực dựa theo hồ sơ đăng ký trong khuôn khổ của PCT hay không. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã xác định những văn bản liên quan cần thiết giúp các cơ quan cấp bằng phát minh, sáng chế đảm bảo nguồn lực trong quá trình điều tra và nâng cao chất lượng kiểm tra của họ.

NGHỊ ĐỊNH THƯ MADRID VỀ HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ CÁC NHÃN HIỆU QUỐC TẾ

Nghị định thư liên quan tới Hiệp định Madrid về đăng ký các nhãn hiệu quốc tế – Nghị định thư Madrid – đã được thông qua tại thủ đô Tây Ban Nha ngày 27/6/1989, và có hiệu lực ngày 1/12/1995. Nghị định thư này là một trong hai hiệp định tạo nên hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế Madrid. Hiệp định đầu tiên – Hiệp định Madrid 1891 – đã quy định đăng ký nhãn hiệu ở một số quốc gia thông qua việc đăng ký nhãn hiệu quốc tế với WIPO tại Geneva.

Nghị định thư Madrid đã ra đời vì một số quốc gia gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện Hiệp định Madrid. Điều đó được coi là cải thiện hệ thống đăng ký nhãn hiệu quốc tế. Do đó, ngày càng nhiều chủ sở hữu nhãn hiệu đang sử dụng Nghị định thư Madrid mỗi năm để bảo hộ nhãn hiệu của họ ở nước ngoài. Tính đến ngày 15/9/2005, đã có 66 quốc gia ký kết Nghị định thư Madrid.

Nghị định thư Madrid là một hiệp định về thủ tục lập hồ sơ chứ không phải là hiệp định điều chỉnh về mặt nội dung. Nghị định thư giúp những người sở hữu nhãn hiệu – các cá nhân và doanh nghiệp – bảo vệ được nhãn hiệu của họ một cách hiệu quả cùng một lúc ở nhiều quốc gia thông qua việc lập hồ sơ xin cấp bằng phát minh sáng chế tới một cơ quan duy nhất với một ngôn ngữ, một khoản chi phí và một loại tiền tệ. Hơn nữa, không cần phải lập hồ sơ qua trung gian. Đơn xin cấp bằng phát minh, sáng chế có thể được lập bằng tiếng Anh, tiếng Pháp hoặc Tây Ban Nha.

Việc nộp hồ sơ đăng ký mang tính quốc tế cũng có hiệu quả tương tự như hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ở trong nước như đã được người nộp hồ sơ lựa chọn. Khi cơ quan bảo hộ nhãn hiệu ở một quốc gia được lựa chọn đồng ý bảo hộ thì nhãn hiệu đó sẽ được bảo hộ trong toàn hệ thống tương tự như cơ quan này đã đăng ký.

Nghị định thư Madrid cũng đơn giản hóa việc quản lý nhãn hiệu bởi lẽ một thủ tục đơn giản sẽ giúp Cục Quốc tế của WIPO cập nhật được những thay đổi sau này về sở hữu, hoặc tên, hoặc địa chỉ của người sở hữu nhãn hiệu.

Trước khi nghị định thư được ban hành, các yêu cầu hành chính phức tạp đối với việc chuyển giao tài sản bình thường của doanh nghiệp đã gây khó khăn cho những người sở hữu thực hiện việc chuyển nhượng hợp pháp các nhãn hiệu của họ trên thế giới. Nghị định thư đã cho phép người sở hữu đăng ký trên phạm vi quốc tế chỉ bằng một hồ sơ duy nhất, trả tiền một lần trước khi chuyển nhượng một nhãn hiệu ở tất cả mọi quốc gia tham gia ký kết. Việc gia hạn đăng ký cũng chỉ có duy nhất một thủ tục đơn giản. Việc đăng ký trên phạm vi quốc tế có thời hạn 10 năm và thời gian gia hạn mới là 10 năm.

Những người sở hữu nhãn hiệu có thể lựa chọn thêm một số quốc gia nữa nếu họ quyết định tìm cách bảo hộ ở nhiều quốc gia thành viên hơn hoặc nếu có thêm nhiều quốc gia mới gia nhập nghị định thư.

Nếu việc đăng ký cơ bản – hoặc việc đăng ký làm cơ sở cho đăng ký quốc tế – bị hủy vì bất kỳ lý do gì trong năm năm đầu tiên thì công ước Madrid sẽ tạo điều kiện cho người đăng ký quốc tế chuyển việc đăng ký đó thành một loạt các hồ sơ đăng ký ở các quốc gia tham gia ký kết như đã lựa chọn. Các đơn đăng ký này sẽ giữ nguyên ngày ưu tiên như đã nêu trong hồ sơ đăng ký quốc tế ban đầu ở mỗi nước. Người sở hữu cũng bảo lưu quyền ở mỗi quốc gia thành viên, ngay cả khi không thực hiện được đăng ký quốc tế.

HỆ THỐNG KÝ GỬI KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP QUỐC TẾ LA HAY

Hệ thống La Hay là hệ thống đăng ký quốc tế, cho phép chủ sở hữu bảo hộ các thiết kế công nghiệp của họ với thủ tục và chi phí thấp nhất. Chỉ cần một hồ sơ đăng ký quốc tế được nộp cho Cục Quốc tế của WIPO đã có thể thay thế một loạt các hồ sơ trước đây ở một số quốc gia và/hoặc các tổ chức liên chính phủ tham gia hệ thống La Hay. Việc quản lý đăng ký quốc tế cũng trở nên dễ dàng hơn trong hệ thống này. Ví dụ, chỉ cần một thủ tục là có thể thay đổi tên hoặc địa chỉ của chủ sở hữu, hoặc thay đổi sở hữu đối với một số hoặc tất cả các bên tham gia ký kết đã được lựa chọn.

Tính đến ngày 26/4/2005, Hệ thống La Hay đã có 42 bên tham gia ký kết.

HIỆP ƯỚC BUDAPEST VỀ CÔNG NHẬN QUỐC TẾ ĐỐI VỚI KÝ GỬI VI SINH VẬT NHẰM HOÀN TẤT THỦ TỤC BẰNG PHÁT MINH SÁNG CHẾ

Hiệp định Budapest về công nhận quốc tế đối với việc ký gửi vi sinh vật nhằm hoàn tất thủ tục bằng phát minh sáng chế đã được ký kết ngày 28/4/1977 và được sửa đổi ngày 26/9/1980. Hiệp định Budapest loại bỏ việc ký gửi vi sinh vật ở mỗi quốc gia nơi người ta đăng ký bảo hộ bằng phát minh sáng chế.

Theo hiệp định này, việc ký gửi một vi sinh vật tại “một cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” đáp ứng các yêu cầu về ký gửi trong luật về bằng phát minh sáng chế của tất cả các thành viên tham gia hiệp định. “Cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” có khả năng lưu giữ vật liệu sinh học và đã đề ra các thủ tục đảm bảo việc tuân thủ Hiệp định Budapest. Những thủ tục như vậy bao gồm các yêu cầu giữ nguyên phần ký gửi trong suốt thời gian có hiệu lực của bằng phát minh sáng chế, và các mẫu phẩm sẽ chỉ được chuyển đến những người hoặc chủ thể được phép tiếp nhận.

Việc thành lập một “cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” đem lại nhiều thuận lợi cho cả người nộp đơn đăng ký bằng phát minh lẫn quốc gia tham gia ký kết. Những người nộp đơn đăng ký được hưởng lợi vì yêu cầu ký gửi ở nhiều quốc gia nơi họ tìm kiếm sự bảo hộ đã giảm đi rất nhiều. Vì việc ký gửi duy nhất ở bất kỳ “một cơ quan ký gửi trên phạm vi thế giới” nào cũng sẽ đảm bảo yêu cầu bảo mật ở tất cả mọi quốc gia thành viên nên chi phí mà người đăng ký bằng phát minh phải trả sẽ thấp hơn rất nhiều. Sử dụng một cơ quan duy nhất làm nơi ký gửi sẽ tăng cường độ an toàn của ký gửi và tạo cơ chế phân bổ ký gửi. Các quốc gia tham gia ký kết được hưởng lợi vì họ có thể dựa vào các tiêu chuẩn thống nhất của hiệp định để đảm bảo việc ký gửi hiệu quả. Họ không cần phải tự xây dựng một cơ quan ký gửi “được công nhận” để đáp ứng các yêu cầu bảo mật bằng phát minh sáng chế quốc gia.

Tính đến tháng 5 năm 2005, đã có 60 cơ quan cấp bằng phát minh sáng chế tuân thủ các điều kiện của Hiệp định Budapest và có 35 “cơ quan ký gửi” ở 22 quốc gia khác nhau.

CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO HỘ CÁC GIỐNG CÂY MỚI

Công ước quốc tế về bảo hộ các giống cây mới (UPOV) đã thiết lập một hệ thống tài sản trí tuệ đã được quốc tế công nhận nhằm bảo vệ các giống cây mới. Công ước UPOV khuyến khích và dành phần thưởng cho những người nhân giống cây mới một cách khéo léo và sáng tạo. Bất cứ ai đưa ra giống cây mới có thể kháng bệnh, kháng hạn, kháng rét hoặc đơn giản đẹp hơn về mặt thẩm mỹ cũng đều là một nhà phát minh tương tự như ai đó đã cải thiện máy móc của xe hơi hoặc tìm ra loại thuốc mới. Sự khác biệt duy nhất là những người nhân giống cây làm việc với những sinh thể chứ không phải các chất vô tri vô giác.

Quá trình tạo ra một loại cây mới thường rất lâu và tốn kém. Tuy nhiên, việc tái tạo lại một giống cây đã có lại có thể nhanh và tương đối dễ dàng. Do đó, hệ thống bảo hộ tài sản trí tuệ hữu hiệu cần phải khuyến khích cho những đổi mới, sáng tạo bằng cách cho phép các nhà đầu tư hoàn vốn đầu tư và đồng thời truyền bá những kiến thức về phát minh đó cho những người khác để họ có thể hoàn thiện tốt hơn. Hệ thống UPOV đề ra ba nguyên tắc pháp lý cơ bản về bảo hộ nhằm khuyến khích những người nhân giống tăng cường óc sáng tạo của họ bằng cách trao cho họ độc quyền sở hữu phát minh về loại cây của họ trong khi vẫn khuyến khích tìm ra các loài cây mới.

Trong khuôn khổ hệ thống UPOV thiết lập năm 1991 – một trong những hiệp định được ký kết gần đây nhất – những đặc quyền dành cho nhà phát minh (thường được gọi là “quyền của nhà gây giống ”) đòi hỏi một bên khác ngoài chủ sở hữu các đặc quyền đó được ủy quyền:

  • tạo ra hoặc tái tạo một sản phẩm đã được bảo hộ;

  • sử dụng sản phẩm đó để nhân rộng, và

  • bán hoặc tiếp thị, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc dự trữ sản phẩm đã được bảo hộ.

Để hưởng độc quyền, người gây giống phải phát minh ra một loại cây mới hoàn toàn mới, đặc thù, thống nhất và ổn định. Tuy nhiên, theo Công ước UPOV, một người nhân giống cây nhìn chung không cần có ủy quyền từ những người nhân giống cây khác khi sử dụng các giống cây đã được bảo hộ để tiến hành các hoạt động không vì mục đích thương mại hoặc thí nghiệm nhằm tìm ra các loại cây mới. Công ước UPOV cũng cho phép mỗi quốc gia thành viên hạn chế độc quyền của người nhân giống đối với bất kỳ một loại cây nào có thể cho phép người nông dân sử dụng một phần thu hoạch của họ để trồng trên mảnh đất của họ sau này. Tuy nhiên, những hạn chế như vậy cần phải nằm trong giới hạn cho phép và cần phải bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của người nhân giống.

Các quốc gia thành viên tổ chức hội nghị của Hội đồng chấp hành – cơ quan thường trực của công ước – hai năm một lần. Các cơ quan khác của UPOV bao gồm Ủy ban Hiệp thương, Ủy ban Hành chính và Pháp luật, Ủy ban Kỹ thuật, gồm nhiều nhóm làm việc kỹ thuật (TWP) trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp. TWP họp định kỳ để chia sẻ và thảo luận những nhận xét và tiến bộ đạt được trong các lĩnh vực của nông nghiệp. Điều này giúp họ chuẩn hóa các tiêu chuẩn kiểm tra ở các quốc gia thành viên. Các cuộc họp của TWP đem lại lợi ích cho những người nhân giống vì các tiêu chuẩn càng thống nhất thì càng tăng cường tính nhất quán trong quá trình lập hồ sơ đăng ký ở nhiều quốc gia khác nhau.

Tính đến ngày 29/6/2005, đã có 59 quốc gia tham gia Công ước UPOV. Dự kiến trong vài năm tới sẽ có thêm nhiều quốc gia tham gia ký kết UPOV

Thông tin tham khảo thêm về UPOV có tại địa chỉ http://www.upov.int/.

KẾT LUẬN

Trong kỷ nguyên thông tin, với tốc độ tiến bộ công nghệ ngày càng nhanh thì chỉ thực thi Hiệp định TRIPS không thôi vẫn chưa đủ tạo lập một hệ thống sở hữu trí tuệ vững chắc. Cho dù tới thời điểm này TRIPS là hiệp định đầu tiên quy định đầy đủ về quyền sở hữu trí tuệ nhưng hiệp định này cũng đã ra đời được một thập kỷ và hiện cho thấy đây là một hiệp định “ra đời đúng lúc cấp bách”. Những tiến bộ công nghệ trong ngành thông tin, sinh học và các ngành khác đòi hỏi chúng ta phải chỉnh sửa những bộ luật quốc tế và quốc gia về bảo hộ sở hữu trí tuệ. Rất may là WIPO đã đi đầu trong việc đưa ra những chuẩn mực quốc tế mới nhằm đáp ứng những thách thức này.

WIPO cũng đã nêu ra cách đơn giản hóa và hợp lý hóa những thủ tục tìm kiếm, giữ gìn và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ ở nhiều quốc gia. Thông qua “Dịch vụ Bảo hộ Toàn cầu” và các hiệp ước mang tính dung hòa, WIPO đã giúp các nhà sáng chế và các Cục Sở hữu trí tuệ Quốc gia tiết kiệm được rất nhiều thời gian và sức lực. WIPO cũng luôn sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật cao cấp cho việc thiết lập và nâng cấp hệ thống IPR toàn cầu. Các quốc gia nên tham vấn cả WTO lẫn WIPO khi xây dựng hệ thống IPR của riêng mình.

___________________________________
Paul E. Salmon là luật sư chuyên về bằng sáng chế của Phòng Hợp tác Quốc tế, Cục Nhãn hiệu và Bằng sáng chế Hoa Kỳ. Ông Salmon đồng thời là Tùy viên về Sở hữu trí tuệ tại Geneva, Thụy Sỹ đại diện cho Chính phủ Hoa Kỳ trong các cuộc họp của WIPO và WTO. Ông thường xuyên giảng bài với chủ đề về luật quốc tế đối với bằng sáng chế.

*********

CHUYÊN ĐỀ VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 1/2006

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

TAIWAN CODE OF CIVIL PROCEDURE

PART I GENERAL PRINCIPLES § 1
  CHAPTER I THE COURT § 1
   Section 1 Jurisdiction § 1
   Section 2 Disqualification of Officers of the Court § 32
  CHAPTER II PARTIES § 40
   Section 1 Capacity to be Parties and Capacity to Litigate § 40
   Section 2 Joinder of Parties § 53
   Section 3 Intervention § 58
   Section 4 Advocates and Assistants § 68
  CHAPTER III VALUE OF CLAIM & LITIGATION EXPENSES § 77-1
   Section 1 Determination of the Value of Claim § 77-1
   Section 2 Accounting & Taxation of Litigation Expenses § 77-13
   Section 3 Bearing of Litigation Expenses § 78
   Section 4 Security for Litigation Expenses § 96
   Section 5 Litigation Aid § 107
  CHAPTER IV LITIGATION PROCEEDINGS § 116
   Section 1 Pleadings § 116
   Section 2 Service of Process § 123
   Section 3 Date & Period § 154
   Section 4 Stay of Litigation Proceedings § 168
   Section 5 Oral Argument § 192
   Section 6 Decision § 220
   Section 6-1 Court Administrator Proceeding § 240-1
   Section 7 Court Dossiers § 241
PART II PROCEDURE IN THE FIRST INSTANCE § 244
  CHAPTER I ORDINARY PROCEEDING § 244
   Section 1 Initiation of An Action § 244
   Section 2 Preparation for Oral Argument § 265
   Section 3 Evidence § 277
     Item 1 General Provisions § 277
     Item 2 Examination of Witnesses § 298
     Item 3 Expert Testimony § 324
     Item 4 Documentary Evidence § 341
     Item 5 Inspection § 364
     Item 5-1 Examination of Parties § 367-1
     Item 6 Perpetuation of Evidence § 368
   Section 4 Settlement § 377
   Section 5 Judgments § 381
  CHAPTER II MEDIATION PROCEEDING § 403
  CHAPTER III SUMMARY PROCEEDING § 427
  IV SMALL-CLAIM PROCEEDING § 436-8
PART III APPELLATE PROCEDURE § 437
  CHAPTER I PROCEDURE IN THE SECOND INSTANCE § 437
  CHAPTER II PROCEDURE IN THE THIRD INSTANCE § 464
PART IV APPEALS FROM RULINGS § 482
PART V REHEARING PROCEEDING § 496
V-I THIRD-PARTY OPPOSITION PROCEEDING § 507-1
PART VI DEMND PROCEEDING § 508
PART VII PROVISIONAL REMEDIES PROCEEDING § 522
PART VIII PUBLIC SUMMONS PROCEEDING § 539
PART IX ACTIONS CONCERNING PERSONAL AFFAIRS § 568
  CHAPTER I ACTIONS CONCERNING MARRIAGE § 568
  CHAPTER II ACTIONS CONCERNING PARENT-CHILD RELATIONSHIP § 583
  CHAPTER III INTERDICTION PROCEEDING § 597
  CHAPTER IV DECLARATION OF DEATH § 625

Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về thực hiện luật phá sản doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Chủ nhiệm đề tài: Th.S.Phạm Bình An

Thành viên tham gia: Th.S.Trần Văn Sự, Th.S. Vũ Thị Minh Nguyệt

Mục tiêu nghiên cứu:

• Chứng minh sự cần thiết và tính tất yếu của phá sản và thực hiện pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường và tại Việt Nam.

• Phân tích những vấn đề tồn tại chủ yếu trong pháp luật phá sản và quá trình thực thi pháp luật phá sản từ thực tiễn tại TP.HCM; đồng thời xác định rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan của các tồn tại này.

• Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về phá sản hiện hành và đề xuất những giải pháp khả thi để giải quyết những vướng mắc trong việc thực hiện luật phá sản.

Nội dung nghiên cứu:

Tính tất yếu của phá sản doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Một số vấn đề cơ bản về phá sản và pháp luật phá sản doanh nghiệp.

Tổng quan tình hình hoạt động của các doanh nghiệp hiện nay trên địa bàn TP.HCM. Các biện pháp giải quyết tình trạng doanh nghiệp thua lỗ kéo dài theo quy định của pháp luật Việt Nam. Những trường hợp giải quyết thủ tục phá sản doanh nghiệp theo luật định tại toà kinh tế. Những vấn đề vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp. Phân tích một số trường hợp xử lý DNNN thua lỗ tại TP.HCM. Nguyên nhân những tồn tại trong việc thực thi Pháp Luật phá sản.

Kiến nghị sửa đổi Luật Phá sản doanh nghiệp và một số kiến nghị đối với UBND TP.Hồ Chí Minh.

Hình thức: Báo cáo đề tài gồm: 01 báo cáo tóm tắt dài 32 trang và 01 báo cáo tổng hợp dài 105 trang.
Lưu trữ trên mạng LAN VKT và Thư viện VKT – VKT 10.06.99