GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP: CÁC BÀI VIẾT CHỦ TRƯƠNG CHẾ ĐỘ LIÊN BANG

“Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người?”
– James Madison, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang 1787-1788

Theo Thomas Jefferson, một trong những nhà khai quốc của Mỹ và sau này là vị tổng thống thứ ba của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang (The Federalist Papers) là “lời bình luận hay nhất về các nguyên tắc của chính quyền… từng được viết ra”. Theo John Stuart Mill, nhà triết học Anh thế kỷ XIX, Tập luận thuyết liên bang (tên thường gọi của tập 85 bài tiểu luận ngắn này) là “bản chuyên luận bổ ích nhất mà chúng ta có về chính quyền liên bang”. Nhà bình luận chính trị sắc sảo người Pháp Alexis de Tocqueville viết năm 1835 cho rằng đây là “một cuốn sách xuất sắc mà các chính khách của mọi quốc gia cần phải quen thuộc”.

Các nhà sử học, các luật gia và các nhà khoa học chính trị đương đại nói chung đều nhất trí cho rằng Tập luận thuyết liên bang là trước tác triết học chính trị và chính quyền thực dụng quan trọng nhất được viết ra từ trước đến nay tại Hoa Kỳ. Cuốn sách này đã được sánh với các cuốn sách Nền cộng hòa của Plato, Khoa học chính trị của Aristotle và Leviathan của Thomas Hobbes. Cuốn sách cũng được các nhà lãnh đạo ở nhiều quốc gia mới hình thành tại Mỹ latinh, châu Á và châu Phi tham khảo trong quá trình soạn thảo hiến pháp cho đất nước mình.

Các đại biểu ký kết bản Hiến pháp dự thảo tại Philadelphia ngày 17 tháng Chín năm 1787 nêu điều kiện rằng Hiến pháp chỉ có hiệu lực sau khi được 9 trong số 13 bang thông qua tại các hội nghị phê chuẩn. Mặc dù không được quy định rõ nhưng chỉ một phiếu chống của một trong hai bang chủ chốt – New York hoặc Virginia – là có thể phá vỡ toàn bộ công trình này bởi tầm vóc và sức mạnh của hai bang ấy. Các đại biểu của cả hai bang New York và Virginia đều có những ý kiến rất khác nhau về Hiến pháp. Và thống đốc bang New York George Clinton đã thể hiện rõ sự chống đối của ông.

Người ta dễ nghĩ rằng một tác phẩm được biểu dương và có ảnh hưởng lớn như tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang là kết quả chín muồi của kinh nghiệm cả một đời người trong học thuật và nghệ thuật cai quản. Thực ra, phần lớn cuốn sách là sản phẩm của hai người trai trẻ. Alexander Hamilton ở New York 32 tuổi và James Madison ở Virginia 36 tuổi. Hai người đã viết một cách hết sức khẩn trương – đôi khi tới bốn bài viết trong một tuần. Một học giả lớn tuổi hơn, John Jay, sau này được cử làm chánh án đầu tiên của Tòa án Tối cao, đã đóng góp năm bài viết.

Hamilton, vốn là một phụ tá của Washington trong thời kỳ Cách mạng, đã đề nghị Madison và Jay cùng tham gia công việc hết sức quan trọng này. Mục đích của họ là thuyết phục cơ quan lập pháp bang New York phê chuẩn bản Hiến pháp vừa mới được dự thảo. Họ chia nhau viết một loạt bài cho các báo ở New York dưới cùng một bút danh “Publius” trong đó họ giải thích và bảo vệ Hiến pháp.

Hamilton là người khởi xướng kế hoạch, phác thảo trình tự các chủ đề sẽ đem ra bàn luận và đề cập một cách hùng hồn hầu hết các chủ đề này trong 51 bài viết. Nhưng 29 bài viết của Madison tỏ ra là những bài đáng ghi nhớ nhất ở chỗ chúng kết hợp sự thẳng thắn, sự cân đối và sức mạnh lập luận. Không rõ cho lắm Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, được viết ra trong khoảng thời gian từ tháng Mười năm 1787 tới tháng Năm năm 1788, đã có ảnh hưởng quyết định đến việc phê chuẩn miễn cưỡng Hiến pháp của bang New York hay không, nhưng rõ ràng những bài viết này đã trở thành và vẫn là những bài bình luận có căn cứ xác đáng nhất về văn kiện này.

Một kiểu chủ nghĩa liên bang mới

Phương pháp tiếp cận đầu tiên và dễ thấy nhất mà Tập luận thuyết liên bang đã sử dụng là một cách định nghĩa mới về chế độ liên bang. Mới giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng chống lại một chế độ quân chủ áp bức, những người cựu định cư tại Mỹ không hề có ý muốn thay thế chế độ đó bằng một chế độ tập trung khác, không chịu một sự cương tỏa nào. Mặt khác, kinh nghiệm của họ về tình trạng bất ổn định và vô tổ chức theo Điều lệ Liên bang, do sự ghen tị và cạnh tranh giữa các bang, khiến họ dễ chấp nhận việc lập ra một chính quyền quốc gia hùng mạnh hơn. Một số bài trong Các bài viết chủ trương chế độ liên bang cho rằng có khả năng lập được một kiểu cân bằng mới, chưa từng có ở một nơi nào khác. Quả vậy, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang này bản thân nó đã là một sự cân bằng giữa khuynh hướng theo chủ nghĩa quốc gia của Hamilton, người phản ánh những lợi ích thương mại của một thành phố cảng là New York, với sự thận trọng của Madison, người cùng chia sẻ mối hoài nghi của đông đảo các điền chủ ở Virginia về một chính quyền điều hành từ xa.

Thay vì chủ quyền tuyệt đối của mỗi bang theo Điều lệ Liên bang, Madison đề xuất các bang sẽ giữ phần “chủ quyền còn lại” trong mọi lĩnh vực không cần đến sự quan tâm chung của quốc gia. Ông cho rằng, chính quá trình phê chuẩn Hiến pháp thể hiện khái niệm chủ nghĩa liên bang nhiều hơn là chủ nghĩa quốc gia. Ông nói: “Sự nhất trí và phê chuẩn này sẽ do nhân dân đưa ra, không phải với tư cách là những cá nhân hợp thành toàn bộ một quốc gia, mà là những người hợp thành những bang riêng biệt khác nhau trong đó có họ… Vì vậy, việc thiết lập Hiến pháp sẽ không phải là một hành động quốc gia mà là một hành động liên bang.

Hamilton đề xuất cái được ông gọi là “sự đồng quy” quyền lực giữa các chính quyền quốc gia và bang. Nhưng, cách so sánh của ông về những hành tinh quay chung quanh mặt trời song vẫn giữ trạng thái riêng, đã nhấn mạnh nhiều hơn đến một chính quyền trung ương. Hamilton và Jay (cũng ở New York) đã dẫn ra các ví dụ về các liên minh trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại và châu Âu đương thời luôn bị tan rã vào những thời điểm khủng hoảng. Đối với các tác giả của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, mặc dù họ có những bất đồng gì đi nữa, bài học là quá rõ ràng: việc tồn tại như một quốc gia được tôn trọng, đòi hỏi việc chuyển giao những quyền lực quan trọng, tuy là hạn chế, cho chính quyền trung ương. Họ tin rằng điều này có thể đạt được mà không làm mất đi bản sắc hay sự tự chủ của các bang riêng biệt.

Kiểm soát và cân bằng

Các bài viết chủ trương chế độ liên bang cũng là trường hợp đề cập cụ thể đầu tiên trong sách báo chính trị về ý tưởng cơ chế kiểm soát và cân bằng như một cách hạn chế quyền lực của chính quyền và ngăn chặn sự lạm quyền. Những ngôn từ này được dùng chủ yếu nhằm đề cập tới hệ thống lập pháp lưỡng viện được cả Hamilton và Madison coi là ngành có quyền lực nhất trong chính quyền. Như nhận thức ban đầu, Hạ viện đầy quyền lực được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu sẽ chịu sự kiểm soát và cân bằng của một Thượng viện mang tính bảo thủ hơn do các cơ quan lập pháp các bang bầu ra (Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17 năm 1913 đã thay đổi điều khoản này nhằm cho phép tiến hành phổ thông đầu phiếu bầu ra các thượng nghị sĩ). Tuy nhiên, có lúc Madison đã lập luận một cách tổng quát hơn rằng “các cơ quan tự kiểm soát lẫn nhau”, và Hamilton nhận xét rằng “một Quốc hội dân chủ sẽ chịu sự kiểm soát của một thượng viện dân chủ và cả hai viện sẽ chịu sự kiểm soát của một tổng thống dân chủ”.

Trong bài tiểu luận xuất sắc nhất của mình (bài số 78), Hamilton bênh vực quyền của Tòa án Tối cao trong việc phán quyết về tính tuân thủ Hiến pháp của các luật do cơ quan lập pháp quốc gia hoặc bang thông qua. ông cho rằng quyền “phê duyệt” có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử này là một sự kiểm soát thích hợp đối với cơ quan lập pháp, nơi mà điều rất dễ xảy ra là “hơi thở độc hại của bè cánh có thể đầu độc nguồn nươực công lý”. Hamilton công khai phản bác hệ thống của nước Anh trong việc cho phép Quốc hội phủ quyết bằng đa số phiếu đối với mọi quyết định của tòa án mà Quốc hội thấy trái ý. Đúng ra, “các tòa án phải được coi là tấm khiên bảo vệ của một Hiến pháp hạn chế chống lại các vi phạm lập pháp”. Chỉ có quá trình sửa đổi Hiến pháp vất vả và khó khăn, hoặc sự chuyển đổi dần từng bước của các thành viên Tòa án Tối cao sang một quan điểm khác, mới có thể đảo ngược việc giải thích về văn kiện này của Tòa án Tối cao.

Bản chất con người, chính quyền và các quyền của cá nhân

Đằng sau khái niệm về kiểm soát và cân bằng là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người. Trong khi Madison và Hamilton tin tưởng rằng con người ở trạng thái hoàn thiện nhất, luôn có lý trí, kỷ luật và công bằng, họ cũng công nhận tính dễ bị tổn thương trước sự đam mê, cố chấp và lòng tham. Trong một đoạn văn nổi tiếng, sau khi bàn về các biện pháp cần thiết nhằm giữ gìn quyền tự do, Madison viết: “Những biện pháp như thế sẽ cần thiết cho việc kiểm soát sự lạm dụng của chính quyền, điều này có thể là một sự phản ánh về bản chất con người. Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người? Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền. Nếu các thiên thần cai quản thì không cần thiết phải có sự kiểm soát đối với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong. Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có nghĩa vụ tự kiểm soát mình”.

Trong bài viết nổi bật và độc dáo nhất của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang (bài số 10), Madison đã đề cập tới thách thức kép này. Mối quan tâm chính của ông là sự cần thiết phải “phá bỏ và kiểm soát sự bạo ngược của bè cánh”, ý nói các đảng phái chính trị, và ông coi đó là hiểm hoạ lớn nhất đối với chính quyền công cộng. “Tôi hiểu một số công dân… được liên kết lại và được kích thích bởi một xung động về tình cảm hay lợi ích đe doạ các quyền của những công dân khác, hay các lợi ích lâu dài và tổng thể của cộng đồng”.

Những tình cảm hay lợi ích đe doạ các quyền của những công dân khác có thể mang tính tôn giáo, chính trị hoặc phổ biến nhất là kinh tế. Các đảng phái có thể phân chia theo người giàu người nghèo, theo chủ nợ và con nợ, hoặc theo của cải sở hữu. Madison viết: “Những lợi ích về đất đai, lợi ích về sản xuất, lợi ích về thương mại, lợi ích về tiền bạc, cùng với nhiều lợi ích nhỏ bé hơn khác ngày càng gia tăng ở các quốc gia văn minh, và được phân chia thành các giai cấp khác nhau, được kích thích bởi những tình cảm và quan điểm khác nhau. Việc quản lý những hình thức lợi ích đa dạng và chồng chéo nhau này tạo nên nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống lập pháp hiện đại…”.

Làm thế nào những người dân bình đẳng, có lý trí và tự do hòa giải được vô số những đòi hỏi khác nhau hoặc những bè cánh hình thành từ những lợi ích khác nhau? Do không thể đặt tình cảm hay lợi ích riêng ra ngoài vòng pháp luật nên hình thức chính quyền hợp lý phải có khả năng ngăn chặn việc áp đặt ý chí riêng của mọi bè cánh, dù đa số hay thiểu số, lên quyền lợi chung. Madison cho rằng lá chắn bảo vệ một đảng phái chuyên quyền là hình thức chính quyền cộng hòa (hay đại diện) với xu hướng “sàng lọc và mở rộng các ý kiến của công chúng bằng cách truyền đạt chúng thông qua phương tiện của một tổ chức công dân được lựa chọn”.

Nhưng theo Madison điều còn quan trọng hơn nữa là việc mở rộng nền tảng địa lý và dân chúng của nền cộng hòa, như sẽ diễn ra dưới chính quyền quốc gia mà Hiến pháp mới đề xuất. ông viết: “Vì mỗi đại diện sẽ do một số lượng lớn những công dân trong nền cộng hòa bầu ra, cho nên việc những ứng cử viên không đáng tin cậy thực hiện thành công những thủ đoạn thường thấy trong các cuộc bầu cử sẽ trở nên khó khăn hơn… Sự ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo bè cánh có thể châm ngòi cho một ngọn lửa trong nội bộ bang của họ nhưng sẽ không thể lan thành một đám cháy lớn lan rộng ra khắp các bang khác”.

Điều đang được hối thúc ở đây là nguyên tắc đa nguyên, một nguyên tắc hoan nghênh sự đa dạng vì lợi ích như một sự chứng thực đối với sự đa dạng cá nhân và quyền tự do, nhưng quan trọng hơn là vì tác động tích cực của nó trong việc dung hòa những tình cảm và lợi ích có tính xung đột. Cũng như sự đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo tại Hợp chúng quốc khiến cho khó có thể áp đặt một giáo hội duy nhất, sự đa dạng của các bang với nhiều địa hạt và mối quan tâm khác nhau khiến cho một phe phái hay một đảng bị kích động và mang tính áp chế tiềm tàng khó có thể giành được thắng lợi trong toàn quốc. Sự khẳng định cho lý lẽ của Madison có thể thấy trong sự phát triển của các chính đảng lớn tại Mỹ, những đảng phái có xu hướng ôn hòa và phi lý tưởng bởi vì mỗi đảng đều hàm chứa một sự đa dạng về lợi ích cục bộ và kinh tế.

Sự phân quyền

ý tưởng về phân quyền giữa các ngành khác nhau trong chính quyền nhằm tránh để xảy ra sự chuyên chế của quyền lực tập trung được liệt vào phạm trù rộng lớn kiểm soát và cân bằng lẫn nhau. Nhưng tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang nhận thấy một ưu điểm khác của việc phân quyền, cụ thể là sự gia tăng về tính hiệu quả và tác dụng của chính quyền. Bằng cách giới hạn ở những chức năng chuyên biệt, các ngành chính quyền khác nhau phát triển cả về kỹ năng chuyên môn, cả về ý thức tự hào đối với vai trò của mình, một điều sẽ không thể có được nếu các quyền lực này được gộp chung lại hoặc bị chồng chéo ở một mức độ nào đó.

Những phẩm chất có thể vô cùng quan trọng đối với một chức năng này lại có thể không thích hợp đối với một chức năng khác. Do vậy Hamilton đã coi “năng lực tiềm tàng của tổ chức hành pháp” là thiết yếu đối với việc bảo vệ đất nước trước sự tấn công của nước ngoài, đối với việc quản lý pháp luật một cách công bằng, bảo vệ tài sản và quyền tự do cá nhân mà ông coi là những quyền lợi có quan hệ chặt chẽ. Mặt khác, không phải năng lực mà “sự thận trọng và khôn ngoan” mới là những phẩm chất tối ưu đối với một nhà lập pháp, người phải giành được lòng tin của người dân và dung hòa được những lợi ích đa dạng của họ.

Những yêu cầu khác nhau này cũng lý giải tại sao quyền hành pháp nên được đặt trong tay một người, tức tổng thống, vì nhiều người điều hành có thể dẫn đến tình trạng tê liệt và “làm mất tác dụng phần lớn các biện pháp của chính quyền, trong hầu hết những trường hợp khẩn cấp quan trọng của đất nước” . Nghĩa là khi bộ máy lập pháp, phản ánh ý chí của người dân, đã đưa ra những đánh giá thận trọng và được bàn luận thấu đáo bằng việc thông qua một đạo luật, nhà hành pháp phải vững vàng thực thi đạo luật đó một cách công minh, chống lại bất kỳ sự biện hộ vì lợi ích riêng tư nào cho trường hợp ngoại lệ. Và trong trường hợp xảy ra sự tiến công của nước ngoài, nhà hành pháp phải có quyền lực và sức mạnh để ứng phó nhanh và có uy lực. Đối với ngành tư pháp, những phẩm chất đề ra cũng rất đặc biệt: không phải là sức mạnh và sự nhanh nhẹn của nhà hành pháp, cũng không phải sự cảm thông với thái độ của công chúng hay khả năng thỏa hiệp của nhà lập pháp, mà là “sự liêm chính và ôn hoà”. Và do được bổ nhiệm suốt đời, các thẩm phán tránh được các áp lực của công chúng, của cả ngành hành pháp lẫn lập pháp.

Những vấn đề chính trị trường tồn

Những bình luận đáng ghi nhớ trong Các bài viết chủ trương chế độ liên bang về chính quyền, xã hội, quyền tự do, sự chuyên chế và bản chất của chính khách không phải luôn dễ tìm thấy. Phần lớn những bài viết này đều có ghi ngày tháng hoặc lặp đi lặp lại hay theo một văn phong cổ xưa. Các tác giả không có cả thời gian lẫn xu hướng sắp đặt những suy nghĩ của mình theo một trình tự và hình thức hoàn chỉnh. Song Các bài viết chủ trương chế độ liên bang vẫn không thể thiếu đối với bất cứ ai quan tâm nghiêm túc đến những vấn đề lý thuyết và thực tiễn chính trị trường tồn được Hamilton và Madison nêu lên. Clinton Rossitor, nhà sử học chính trị lỗi lạc trong thế kỷ XX đã viết: “Chưa một ngòi bút nào ở Mỹ đưa ra được những câu trả lời hùng hồn, cứng rắn và bổ ích hơn”. “Thông điệp của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang là như sau: không thể có hạnh phúc nào nếu thiếu tự do, không có tự do nào nếu thiếu sự tự trị, không có sự tự trị nào nếu thiếu sự tuân thủ hiến pháp, không có sự tuân thủ hiến pháp nào nếu thiếu nền tảng đạo đức – và sẽ không có một điều nào trong những điều tốt đẹp lớn lao trên đây nếu thiếu ổn định và trật tự” .

********************************

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH QUYỀN HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2000

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại ViệtNam

GIẢI THÍCH HIẾN PHÁP: CÁC BÀI VIẾT CHỦ TRƯƠNG CHẾ ĐỘ LIÊN BANG

“Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người?”
– James Madison, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang 1787-1788

Theo Thomas Jefferson, một trong những nhà khai quốc của Mỹ và sau này là vị tổng thống thứ ba của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang (The Federalist Papers) là “lời bình luận hay nhất về các nguyên tắc của chính quyền… từng được viết ra”. Theo John Stuart Mill, nhà triết học Anh thế kỷ XIX, Tập luận thuyết liên bang (tên thường gọi của tập 85 bài tiểu luận ngắn này) là “bản chuyên luận bổ ích nhất mà chúng ta có về chính quyền liên bang”. Nhà bình luận chính trị sắc sảo người Pháp Alexis de Tocqueville viết năm 1835 cho rằng đây là “một cuốn sách xuất sắc mà các chính khách của mọi quốc gia cần phải quen thuộc”.

Các nhà sử học, các luật gia và các nhà khoa học chính trị đương đại nói chung đều nhất trí cho rằng Tập luận thuyết liên bang là trước tác triết học chính trị và chính quyền thực dụng quan trọng nhất được viết ra từ trước đến nay tại Hoa Kỳ. Cuốn sách này đã được sánh với các cuốn sách Nền cộng hòa của Plato, Khoa học chính trị của Aristotle và Leviathan của Thomas Hobbes. Cuốn sách cũng được các nhà lãnh đạo ở nhiều quốc gia mới hình thành tại Mỹ latinh, châu Á và châu Phi tham khảo trong quá trình soạn thảo hiến pháp cho đất nước mình.

Các đại biểu ký kết bản Hiến pháp dự thảo tại Philadelphia ngày 17 tháng Chín năm 1787 nêu điều kiện rằng Hiến pháp chỉ có hiệu lực sau khi được 9 trong số 13 bang thông qua tại các hội nghị phê chuẩn. Mặc dù không được quy định rõ nhưng chỉ một phiếu chống của một trong hai bang chủ chốt – New York hoặc Virginia – là có thể phá vỡ toàn bộ công trình này bởi tầm vóc và sức mạnh của hai bang ấy. Các đại biểu của cả hai bang New York và Virginia đều có những ý kiến rất khác nhau về Hiến pháp. Và thống đốc bang New York George Clinton đã thể hiện rõ sự chống đối của ông.

Người ta dễ nghĩ rằng một tác phẩm được biểu dương và có ảnh hưởng lớn như tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang là kết quả chín muồi của kinh nghiệm cả một đời người trong học thuật và nghệ thuật cai quản. Thực ra, phần lớn cuốn sách là sản phẩm của hai người trai trẻ. Alexander Hamilton ở New York 32 tuổi và James Madison ở Virginia 36 tuổi. Hai người đã viết một cách hết sức khẩn trương – đôi khi tới bốn bài viết trong một tuần. Một học giả lớn tuổi hơn, John Jay, sau này được cử làm chánh án đầu tiên của Tòa án Tối cao, đã đóng góp năm bài viết.

Hamilton, vốn là một phụ tá của Washington trong thời kỳ Cách mạng, đã đề nghị Madison và Jay cùng tham gia công việc hết sức quan trọng này. Mục đích của họ là thuyết phục cơ quan lập pháp bang New York phê chuẩn bản Hiến pháp vừa mới được dự thảo. Họ chia nhau viết một loạt bài cho các báo ở New York dưới cùng một bút danh “Publius” trong đó họ giải thích và bảo vệ Hiến pháp.

Hamilton là người khởi xướng kế hoạch, phác thảo trình tự các chủ đề sẽ đem ra bàn luận và đề cập một cách hùng hồn hầu hết các chủ đề này trong 51 bài viết. Nhưng 29 bài viết của Madison tỏ ra là những bài đáng ghi nhớ nhất ở chỗ chúng kết hợp sự thẳng thắn, sự cân đối và sức mạnh lập luận. Không rõ cho lắm Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, được viết ra trong khoảng thời gian từ tháng Mười năm 1787 tới tháng Năm năm 1788, đã có ảnh hưởng quyết định đến việc phê chuẩn miễn cưỡng Hiến pháp của bang New York hay không, nhưng rõ ràng những bài viết này đã trở thành và vẫn là những bài bình luận có căn cứ xác đáng nhất về văn kiện này.

Một kiểu chủ nghĩa liên bang mới

Phương pháp tiếp cận đầu tiên và dễ thấy nhất mà Tập luận thuyết liên bang đã sử dụng là một cách định nghĩa mới về chế độ liên bang. Mới giành được thắng lợi trong cuộc cách mạng chống lại một chế độ quân chủ áp bức, những người cựu định cư tại Mỹ không hề có ý muốn thay thế chế độ đó bằng một chế độ tập trung khác, không chịu một sự cương tỏa nào. Mặt khác, kinh nghiệm của họ về tình trạng bất ổn định và vô tổ chức theo Điều lệ Liên bang, do sự ghen tị và cạnh tranh giữa các bang, khiến họ dễ chấp nhận việc lập ra một chính quyền quốc gia hùng mạnh hơn. Một số bài trong Các bài viết chủ trương chế độ liên bang cho rằng có khả năng lập được một kiểu cân bằng mới, chưa từng có ở một nơi nào khác. Quả vậy, Các bài viết chủ trương chế độ liên bang này bản thân nó đã là một sự cân bằng giữa khuynh hướng theo chủ nghĩa quốc gia của Hamilton, người phản ánh những lợi ích thương mại của một thành phố cảng là New York, với sự thận trọng của Madison, người cùng chia sẻ mối hoài nghi của đông đảo các điền chủ ở Virginia về một chính quyền điều hành từ xa.

Thay vì chủ quyền tuyệt đối của mỗi bang theo Điều lệ Liên bang, Madison đề xuất các bang sẽ giữ phần “chủ quyền còn lại” trong mọi lĩnh vực không cần đến sự quan tâm chung của quốc gia. Ông cho rằng, chính quá trình phê chuẩn Hiến pháp thể hiện khái niệm chủ nghĩa liên bang nhiều hơn là chủ nghĩa quốc gia. Ông nói: “Sự nhất trí và phê chuẩn này sẽ do nhân dân đưa ra, không phải với tư cách là những cá nhân hợp thành toàn bộ một quốc gia, mà là những người hợp thành những bang riêng biệt khác nhau trong đó có họ… Vì vậy, việc thiết lập Hiến pháp sẽ không phải là một hành động quốc gia mà là một hành động liên bang.

Hamilton đề xuất cái được ông gọi là “sự đồng quy” quyền lực giữa các chính quyền quốc gia và bang. Nhưng, cách so sánh của ông về những hành tinh quay chung quanh mặt trời song vẫn giữ trạng thái riêng, đã nhấn mạnh nhiều hơn đến một chính quyền trung ương. Hamilton và Jay (cũng ở New York) đã dẫn ra các ví dụ về các liên minh trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại và châu Âu đương thời luôn bị tan rã vào những thời điểm khủng hoảng. Đối với các tác giả của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, mặc dù họ có những bất đồng gì đi nữa, bài học là quá rõ ràng: việc tồn tại như một quốc gia được tôn trọng, đòi hỏi việc chuyển giao những quyền lực quan trọng, tuy là hạn chế, cho chính quyền trung ương. Họ tin rằng điều này có thể đạt được mà không làm mất đi bản sắc hay sự tự chủ của các bang riêng biệt.

Kiểm soát và cân bằng

Các bài viết chủ trương chế độ liên bang cũng là trường hợp đề cập cụ thể đầu tiên trong sách báo chính trị về ý tưởng cơ chế kiểm soát và cân bằng như một cách hạn chế quyền lực của chính quyền và ngăn chặn sự lạm quyền. Những ngôn từ này được dùng chủ yếu nhằm đề cập tới hệ thống lập pháp lưỡng viện được cả Hamilton và Madison coi là ngành có quyền lực nhất trong chính quyền. Như nhận thức ban đầu, Hạ viện đầy quyền lực được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu sẽ chịu sự kiểm soát và cân bằng của một Thượng viện mang tính bảo thủ hơn do các cơ quan lập pháp các bang bầu ra (Điều sửa đổi Hiến pháp thứ 17 năm 1913 đã thay đổi điều khoản này nhằm cho phép tiến hành phổ thông đầu phiếu bầu ra các thượng nghị sĩ). Tuy nhiên, có lúc Madison đã lập luận một cách tổng quát hơn rằng “các cơ quan tự kiểm soát lẫn nhau”, và Hamilton nhận xét rằng “một Quốc hội dân chủ sẽ chịu sự kiểm soát của một thượng viện dân chủ và cả hai viện sẽ chịu sự kiểm soát của một tổng thống dân chủ”.

Trong bài tiểu luận xuất sắc nhất của mình (bài số 78), Hamilton bênh vực quyền của Tòa án Tối cao trong việc phán quyết về tính tuân thủ Hiến pháp của các luật do cơ quan lập pháp quốc gia hoặc bang thông qua. ông cho rằng quyền “phê duyệt” có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử này là một sự kiểm soát thích hợp đối với cơ quan lập pháp, nơi mà điều rất dễ xảy ra là “hơi thở độc hại của bè cánh có thể đầu độc nguồn nươực công lý”. Hamilton công khai phản bác hệ thống của nước Anh trong việc cho phép Quốc hội phủ quyết bằng đa số phiếu đối với mọi quyết định của tòa án mà Quốc hội thấy trái ý. Đúng ra, “các tòa án phải được coi là tấm khiên bảo vệ của một Hiến pháp hạn chế chống lại các vi phạm lập pháp”. Chỉ có quá trình sửa đổi Hiến pháp vất vả và khó khăn, hoặc sự chuyển đổi dần từng bước của các thành viên Tòa án Tối cao sang một quan điểm khác, mới có thể đảo ngược việc giải thích về văn kiện này của Tòa án Tối cao.

Bản chất con người, chính quyền và các quyền của cá nhân

Đằng sau khái niệm về kiểm soát và cân bằng là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người. Trong khi Madison và Hamilton tin tưởng rằng con người ở trạng thái hoàn thiện nhất, luôn có lý trí, kỷ luật và công bằng, họ cũng công nhận tính dễ bị tổn thương trước sự đam mê, cố chấp và lòng tham. Trong một đoạn văn nổi tiếng, sau khi bàn về các biện pháp cần thiết nhằm giữ gìn quyền tự do, Madison viết: “Những biện pháp như thế sẽ cần thiết cho việc kiểm soát sự lạm dụng của chính quyền, điều này có thể là một sự phản ánh về bản chất con người. Nhưng bản thân chính quyền là gì nếu không phải là sự phản ánh rộng lớn nhất trong mọi phản ánh về bản chất con người? Nếu con người là những thiên thần thì sẽ không cần thiết phải có chính quyền. Nếu các thiên thần cai quản thì không cần thiết phải có sự kiểm soát đối với chính quyền dù từ bên ngoài hay bên trong. Trong việc tạo khuôn khổ cho một chính quyền do con người quản lý con người, điều khó khăn nhất là ở chỗ: trước hết, chính quyền phải có khả năng kiểm soát những người bị quản lý; kế tiếp, chính quyền phải có nghĩa vụ tự kiểm soát mình”.

Trong bài viết nổi bật và độc dáo nhất của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang (bài số 10), Madison đã đề cập tới thách thức kép này. Mối quan tâm chính của ông là sự cần thiết phải “phá bỏ và kiểm soát sự bạo ngược của bè cánh”, ý nói các đảng phái chính trị, và ông coi đó là hiểm hoạ lớn nhất đối với chính quyền công cộng. “Tôi hiểu một số công dân… được liên kết lại và được kích thích bởi một xung động về tình cảm hay lợi ích đe doạ các quyền của những công dân khác, hay các lợi ích lâu dài và tổng thể của cộng đồng”.

Những tình cảm hay lợi ích đe doạ các quyền của những công dân khác có thể mang tính tôn giáo, chính trị hoặc phổ biến nhất là kinh tế. Các đảng phái có thể phân chia theo người giàu người nghèo, theo chủ nợ và con nợ, hoặc theo của cải sở hữu. Madison viết: “Những lợi ích về đất đai, lợi ích về sản xuất, lợi ích về thương mại, lợi ích về tiền bạc, cùng với nhiều lợi ích nhỏ bé hơn khác ngày càng gia tăng ở các quốc gia văn minh, và được phân chia thành các giai cấp khác nhau, được kích thích bởi những tình cảm và quan điểm khác nhau. Việc quản lý những hình thức lợi ích đa dạng và chồng chéo nhau này tạo nên nhiệm vụ chủ yếu của hệ thống lập pháp hiện đại…”.

Làm thế nào những người dân bình đẳng, có lý trí và tự do hòa giải được vô số những đòi hỏi khác nhau hoặc những bè cánh hình thành từ những lợi ích khác nhau? Do không thể đặt tình cảm hay lợi ích riêng ra ngoài vòng pháp luật nên hình thức chính quyền hợp lý phải có khả năng ngăn chặn việc áp đặt ý chí riêng của mọi bè cánh, dù đa số hay thiểu số, lên quyền lợi chung. Madison cho rằng lá chắn bảo vệ một đảng phái chuyên quyền là hình thức chính quyền cộng hòa (hay đại diện) với xu hướng “sàng lọc và mở rộng các ý kiến của công chúng bằng cách truyền đạt chúng thông qua phương tiện của một tổ chức công dân được lựa chọn”.

Nhưng theo Madison điều còn quan trọng hơn nữa là việc mở rộng nền tảng địa lý và dân chúng của nền cộng hòa, như sẽ diễn ra dưới chính quyền quốc gia mà Hiến pháp mới đề xuất. ông viết: “Vì mỗi đại diện sẽ do một số lượng lớn những công dân trong nền cộng hòa bầu ra, cho nên việc những ứng cử viên không đáng tin cậy thực hiện thành công những thủ đoạn thường thấy trong các cuộc bầu cử sẽ trở nên khó khăn hơn… Sự ảnh hưởng của các nhà lãnh đạo bè cánh có thể châm ngòi cho một ngọn lửa trong nội bộ bang của họ nhưng sẽ không thể lan thành một đám cháy lớn lan rộng ra khắp các bang khác”.

Điều đang được hối thúc ở đây là nguyên tắc đa nguyên, một nguyên tắc hoan nghênh sự đa dạng vì lợi ích như một sự chứng thực đối với sự đa dạng cá nhân và quyền tự do, nhưng quan trọng hơn là vì tác động tích cực của nó trong việc dung hòa những tình cảm và lợi ích có tính xung đột. Cũng như sự đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo tại Hợp chúng quốc khiến cho khó có thể áp đặt một giáo hội duy nhất, sự đa dạng của các bang với nhiều địa hạt và mối quan tâm khác nhau khiến cho một phe phái hay một đảng bị kích động và mang tính áp chế tiềm tàng khó có thể giành được thắng lợi trong toàn quốc. Sự khẳng định cho lý lẽ của Madison có thể thấy trong sự phát triển của các chính đảng lớn tại Mỹ, những đảng phái có xu hướng ôn hòa và phi lý tưởng bởi vì mỗi đảng đều hàm chứa một sự đa dạng về lợi ích cục bộ và kinh tế.

Sự phân quyền

ý tưởng về phân quyền giữa các ngành khác nhau trong chính quyền nhằm tránh để xảy ra sự chuyên chế của quyền lực tập trung được liệt vào phạm trù rộng lớn kiểm soát và cân bằng lẫn nhau. Nhưng tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang nhận thấy một ưu điểm khác của việc phân quyền, cụ thể là sự gia tăng về tính hiệu quả và tác dụng của chính quyền. Bằng cách giới hạn ở những chức năng chuyên biệt, các ngành chính quyền khác nhau phát triển cả về kỹ năng chuyên môn, cả về ý thức tự hào đối với vai trò của mình, một điều sẽ không thể có được nếu các quyền lực này được gộp chung lại hoặc bị chồng chéo ở một mức độ nào đó.

Những phẩm chất có thể vô cùng quan trọng đối với một chức năng này lại có thể không thích hợp đối với một chức năng khác. Do vậy Hamilton đã coi “năng lực tiềm tàng của tổ chức hành pháp” là thiết yếu đối với việc bảo vệ đất nước trước sự tấn công của nước ngoài, đối với việc quản lý pháp luật một cách công bằng, bảo vệ tài sản và quyền tự do cá nhân mà ông coi là những quyền lợi có quan hệ chặt chẽ. Mặt khác, không phải năng lực mà “sự thận trọng và khôn ngoan” mới là những phẩm chất tối ưu đối với một nhà lập pháp, người phải giành được lòng tin của người dân và dung hòa được những lợi ích đa dạng của họ.

Những yêu cầu khác nhau này cũng lý giải tại sao quyền hành pháp nên được đặt trong tay một người, tức tổng thống, vì nhiều người điều hành có thể dẫn đến tình trạng tê liệt và “làm mất tác dụng phần lớn các biện pháp của chính quyền, trong hầu hết những trường hợp khẩn cấp quan trọng của đất nước” . Nghĩa là khi bộ máy lập pháp, phản ánh ý chí của người dân, đã đưa ra những đánh giá thận trọng và được bàn luận thấu đáo bằng việc thông qua một đạo luật, nhà hành pháp phải vững vàng thực thi đạo luật đó một cách công minh, chống lại bất kỳ sự biện hộ vì lợi ích riêng tư nào cho trường hợp ngoại lệ. Và trong trường hợp xảy ra sự tiến công của nước ngoài, nhà hành pháp phải có quyền lực và sức mạnh để ứng phó nhanh và có uy lực. Đối với ngành tư pháp, những phẩm chất đề ra cũng rất đặc biệt: không phải là sức mạnh và sự nhanh nhẹn của nhà hành pháp, cũng không phải sự cảm thông với thái độ của công chúng hay khả năng thỏa hiệp của nhà lập pháp, mà là “sự liêm chính và ôn hoà”. Và do được bổ nhiệm suốt đời, các thẩm phán tránh được các áp lực của công chúng, của cả ngành hành pháp lẫn lập pháp.

Những vấn đề chính trị trường tồn

Những bình luận đáng ghi nhớ trong Các bài viết chủ trương chế độ liên bang về chính quyền, xã hội, quyền tự do, sự chuyên chế và bản chất của chính khách không phải luôn dễ tìm thấy. Phần lớn những bài viết này đều có ghi ngày tháng hoặc lặp đi lặp lại hay theo một văn phong cổ xưa. Các tác giả không có cả thời gian lẫn xu hướng sắp đặt những suy nghĩ của mình theo một trình tự và hình thức hoàn chỉnh. Song Các bài viết chủ trương chế độ liên bang vẫn không thể thiếu đối với bất cứ ai quan tâm nghiêm túc đến những vấn đề lý thuyết và thực tiễn chính trị trường tồn được Hamilton và Madison nêu lên. Clinton Rossitor, nhà sử học chính trị lỗi lạc trong thế kỷ XX đã viết: “Chưa một ngòi bút nào ở Mỹ đưa ra được những câu trả lời hùng hồn, cứng rắn và bổ ích hơn”. “Thông điệp của Các bài viết chủ trương chế độ liên bang là như sau: không thể có hạnh phúc nào nếu thiếu tự do, không có tự do nào nếu thiếu sự tự trị, không có sự tự trị nào nếu thiếu sự tuân thủ hiến pháp, không có sự tuân thủ hiến pháp nào nếu thiếu nền tảng đạo đức – và sẽ không có một điều nào trong những điều tốt đẹp lớn lao trên đây nếu thiếu ổn định và trật tự” .

********************************

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH QUYỀN HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2000

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại ViệtNam

HIẾN PHÁP, MỘT VĂN KIỆN TRƯỜNG TỒN

“ … Điều khoản này được đưa vào một bản Hiến pháp, được xây dựng với dụng ý sẽ trường tồn qua nhiều thời đại và do đó thích ứng được với những khủng hoảng khác nhau trong các vấn đề của con người”
– John Marshall, Chánh án Tòa án Tối cao,
phát biểu trong vụ McCulloch kiện bang Maryland, 1819

Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ là công cụ trung tâm của chính quyền Hoa Kỳ và là bộ luật tối cao của đất nước. Trong 200 năm qua, Hiến pháp đã định hướng cho sự tiến hóa của các thể chế chính quyền và tạo cơ sở cho ổn định chính trị, tự do cá nhân, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.

Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp thành văn lâu đời nhất thế giới vẫn còn hiệu lực, một hiến pháp từng được dùng làm mô thức cho một số hiến pháp khác trên thế giới. Sở dĩ bản Hiến pháp này có được sức trường tồn chính là nhờ tính đơn giản và linh hoạt của nó. Khởi thủy được soạn thảo vào cuối thế kỷ XVIII nhằm tạo khuôn khổ cho việc cai quản 4 triệu dân của 13 bang rất khác biệt nhau nằm trên bờ Đại Tây Dương, những điều khoản cơ bản của bản Hiến pháp này đã được xây dựng vững chãi đến mức chỉ với 27 điều sửa đổi, hiện nay nó có thể đáp ứng nhu cầu của hơn 260 triệu người dân Mỹ tại 50 bang còn đa dạng nhiều hơn nữa, trải dài từ Đại Tây Dương cho đến Thái Bình Dương.

Con đường dẫn đến bản Hiến pháp không hề thẳng tắp hay suôn sẻ. Phải đợi mãi đến năm 1787, sau khi đã trải qua những cuộc tranh luận sôi nổi và một thời gian tồn tại 6 năm của một hình thái liên bang ban đầu, mới xuất hiện được một văn kiện dự thảo. Năm 1776, 13 thuộc địa của Anh tại châu Mỹ tuyên bố độc lập đối với mẫu quốc. Trước đó một năm, nổ ra chiến tranh giữa các thuộc địa với nước Anh, một cuộc chiến tranh giành độc lập kéo dài trong sáu năm khốc liệt. Ngay trong khi đang còn chiến tranh, các thuộc địa – giờ đây tự gọi là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ – đã thảo ra một thỏa thuận ngắn gọn liên kết họ lại thành một quốc gia. Thỏa thuận ngắn gọn này, gọi là “Điều lệ Liên bang và Liên minh vĩnh cửu”, được thông qua tại một đại hội của các bang vào năm 1777, và được chính thức ký kết vào tháng Bảy năm 1778. Điều lệ này bắt đầu có hiệu lực sau khi được Maryland, bang thứ 13, phê chuẩn vào tháng 3 năm 1781.

Điều lệ Liên bang tạo ra một liên minh lỏng lẻo giữa các bang và thiết lập một chính quyền liên bang với những quyền lực rất hạn chế. Trong các vấn đề tối quan trọng như quốc phòng, tài chính và thương mại, chính quyền liên bang phải lệ thuộc vào các cơ quan lập pháp của các bang. Đó không phải là một cách tổ chức có khả năng dẫn tới ổn định và sức mạnh. Chỉ sau một thời gian ngắn, mọi người đều thấy rõ những mặt yếu của Liên bang. Về phương diện chính trị và kinh tế, quốc gia mới hình thành này hầu như rơi vào cảnh hỗn loạn. Nói như George Washington, người sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ vào năm 1789, 13 bang được liên kết với nhau chỉ “bởi một sợi dây bằng cát”.

Chính trong tình huống không báo trước điều gì tốt đẹp này, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ được xây dựng. Tháng Hai năm 1787, cơ quan lập pháp của nền cộng hòa, gọi là Continental Congress (Đại hội lục địa), kêu gọi các bang cử đại biểu tới Philadelphia thuộc bang Pennsylvania để xem xét lại bản Điều lệ này. Hội nghị Lập hiến được triệu tập vào ngày 25 tháng Năm 1787 tại Hội trường Độc lập, nơi 11 năm trước, bản Tuyên ngôn Độc lập đã được thông qua vào ngày 4 tháng Bảy năm 1776. Mặc dù các đại biểu chỉ được ủy quyền sửa đổi Điều lệ Liên bang, nhưng họ đã gạt hẳn bản đó sang một bên và bắt tay vào xây dựng một hiến chương cho một hình thức chính quyền tập trung hơn và hoàn toàn mới. Văn kiện mới này, tức Hiến pháp, được hoàn thành vào ngày 17 tháng Chín năm 1787, và được chính thức thông qua vào ngày 4 tháng 3 năm 1789.

55 đại biểu dự thảo Hiến pháp bao gồm hầu hết những nhà lãnh đạo lỗi lạc, còn gọi là các Nhà khai quốc, của quốc gia mới. Họ đại diện cho rất nhiều lợi ích, nguồn gốc xuất thân và địa vị khác nhau. Tuy nhiên, tất cả đều tán thành các mục tiêu trung tâm được thể hiện trong lời mở đầu của Hiến pháp: “Chúng tôi, những người dân Hợp chúng quốc, nhằm mục đích hình thành một liên bang hoàn hảo hơn, thiết lập công lý, bảo đảm sự bình yên trong nước, chu cấp cho sự phòng thủ chung, đẩy mạnh phúc lợi chung, và đảm bảo lợi ích của tự do cho bản thân chúng ta và cho các thế hệ mai sau, quyết định xây dựng và ban hành bản Hiến pháp này của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”.

Thống nhất một dân tộc đa dạng

Mục tiêu trên hết của Hiến pháp là tạo ra một chính quyền dân cử vững mạnh, trực tiếp đáp ứng ý nguyện của nhân dân. Khái niệm tự trị không phải bắt nguồn từ người Mỹ; thực vậy, một mức độ tự trị nhất định đã tồn tại ở Anh lúc bấy giờ. Nhưng mức độ mà Hiến pháp đặt Hợp chúng quốc dưới sự cai quản của nhân dân là chưa từng có, có thể nói là mang tính cách mạng so với các chính quyền khác trên khắp thế giới. Vào thời gian Hiến pháp được thông qua, người Mỹ đã có rất nhiều kinh nghiệm trong nghệ thuật tự trị. Từ lâu trước khi độc lập được tuyên bố, các thuộc địa đã là những thực thể hoạt động như những đơn vị chính quyền, đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân. Và sau ngày bắt đầu Cách mạng – từ ngày 1-1-1776 đến 20-4-1777 – 10 trong số 13 bang đã thông qua hiến pháp riêng của mình. Hầu hết các bang đã có một thống đốc bang do cơ quan lập pháp của bang bầu ra. Bản thân cơ quan lập pháp này được bầu ra bằng phổ thông đầu phiếu.

Bản Điều lệ Liên bang đã tìm cách thống nhất những bang tự trị này. Ngược lại, bản Hiến pháp thiết lập một chính quyền trung ương, hay liên bang, hùng mạnh với nhiều quyền lực rộng rãi trong việc quản lý các mối quan hệ giữa các bang, và chịu trách nhiệm hoàn toàn trong các lĩnh vực như ngoại giao và quốc phòng.

Đối với nhiều người, tập trung hóa là điều khó chấp nhận. Phần lớn những người định cư tại Mỹ là những người dân châu Âu đã rời bỏ quê hương mình để thoát khỏi sự áp bức về tôn giáo và chính trị, cũng như thoát khỏi những khuôn mẫu kinh tế cứng nhắc của Thế giới Cũ trói buộc con người vào một địa vị nhất định trong cuộc sống mà không đếm xỉa đến tài năng hay nghị lực của họ. Những người định cư này tôn vinh quyền tự do cá nhân và họ tỏ ra cảnh giác đối với bất kỳ thứ quyền lực nào – nhất là quyền lực của chính quyền – có thể sẽ cắt xén các quyền tự do cá nhân.

Sự đa dạng của quốc gia mới cũng là một trở ngại rất lớn đối với sự thống nhất. Những người được Hiến pháp trao cho quyền bầu cử và kiểm soát chính quyền trung ương ở thế kỷ XVIII đại diện cho nhiều nguồn gốc xuất thân, tín ngưỡng và lợi ích khác nhau. Hầu hết họ đến từ nước Anh, nhưng cũng từ cả Thụy Điển, Na Uy, Pháp, Hà Lan, Phổ, Ba Lan, và nhiều nước khác cũng đã gửi người nhập cư đến Thế giới Mới. Tín ngưỡng tôn giáo của họ rất đa dạng và phần lớn vẫn được duy trì mạnh mẽ. Có những người Anh giáo, Thiên Chúa giáo La Mã, có những tín đồ Calvin, những người Pháp theo đạo Tin Lành, những người theo giáo phái Tin Lành của Martin Luther, những tín đồ giáo phái Quaker, những tín đồ Do Thái giáo. Trên phương diện kinh tế và xã hội, người dân Mỹ bao gồm từ tầng lớp qúy tộc điền địa tới thành phần nô lệ và những người hầu làm thuê trả nợ. Nhưng xương sống của đất nước này là tầng lớp trung lưu – điền chủ, thương nhân, thợ cơ khí, thủy thủ, thợ đóng tàu, thợ dệt, thợ mộc và nhiều loại người khác.

Người dân Hoa Kỳ lúc đó, cũng như hiện nay, có những ý kiến rất khác nhau về hầu như mọi vấn đề, kể cả ý kiến về việc thoát khỏi Đế chế Anh. Trong thời gian diễn ra Cách mạng Mỹ, một số đông những người trung thành với Đế chế Anh – gọi là những người bảo thủ, những người Tory – đã rời bỏ đất nước tới định cư phần lớn tại miền đông Canađa. Những người ở lại lập ra một khối đối lập khá mạnh, mặc dù giữa họ với nhau cũng có những bất đồng về lý do chống đối cách mạng cũng như việc cần có những thỏa hiệp nào với nền cộng hòa mới ở Mỹ.

Trong hai thế kỷ qua, tính đa dạng của người Mỹ đã tăng lên, thế nhưng tính thống nhất cơ bản của đất nước này còn trở nên mạnh mẽ hơn nữa. Trong suốt thế kỷ XIX và bước sang thế kỷ XX, một dòng người nhập cư bất tận đã đóng góp những tài năng và những di sản văn hóa của họ cho đất nước đang lớn mạnh này. Những người tiên phong đã vượt qua dãy núi Appalachian miền đông đến định cư tại Thung lũng Mississippi và Đại Bình Nguyên ở trung tâm của lục địa, rồi vượt qua dải Rocky Moutains tới được bờ Thái Bình Dương – cách xa vùng duyên hải Đại Tây Dương do những người khai hoang đầu tiên lập ra tới 4.500 kilômét về phía tây. Và cùng với sự mở rộng của đất nước, mọi người cũng thấy được kho tài nguyên thiên nhiên bao la của đất nước: những dải rừng gỗ nguyên sinh rộng lớn, những trữ lượng than, đồng, sắt và dầu mỏ khổng lồ, thủy lực dồi dào và đất đai màu mỡ.

Sự giàu có của đất nước này đã tạo ra kiểu đa dạng riêng của nó. Những nhóm lợi ích khu vực và thương mại đặc biệt nổi lên. Các chủ tàu biển ở vùng bờ biển miền Đông chủ trương tự do buôn bán. Các nhà chế tạo công nghiệp miền Trung – Tây đòi lập ra thuế nhập khẩu để bảo hộ vị trí của họ trong thị trường Hoa Kỳ đang mở rộng. Các điền chủ mong muốn cước phí vận tải thấp và giá nông sản cao, những người chủ các nhà máy xay và những người làm bánh muốn có giá ngũ cốc thấp; những người vận hành xe lửa muốn thu mức cước phí vận chuyển cao nhất có thể. Những chủ ngân hàng ở New York, những người trồng bông ở miền Nam, những người chăn nuôi gia súc ở Texas và những người khai thác rừng ở Oregon, mỗi lớp người có những cách nhìn nhận khác nhau về nền kinh tế và vai trò điều tiết của chính quyền.

Công việc liên tục không ngừng của Hiến pháp và của chính quyền mà Hiến pháp đã lập ra là quy tụ những lợi ích đa dạng này về một mối nhằm tạo ra một nền tảng chung và đồng thời bảo vệ những quyền cơ bản của mọi người dân.

So với những phức tạp của chính quyền ngày nay, các vấn đề của việc cai quản bốn triệu dân trong các điều kiện kinh tế kém phát triển hơn nhiều xem ra quả là nhỏ bé. Nhưng những người soạn thảo Hiến pháp xây dựng nó không chỉ cho hiện tại mà còn cho cả tương lai. Họ ý thức sâu sắc về sự cần thiết của một cơ cấu chính quyền không chỉ hoạt động trong thời đại họ, mà còn cho nhiều thế hệ mai sau. Do vậy, họ đã đưa vào Hiến pháp một điều khoản quy định việc sửa đổi văn kiện này khi các điều kiện xã hội, kinh tế hay chính trị đòi hỏi. Đã có 27 điều sửa đổi được thông qua kể từ ngày Hiến pháp được phê chuẩn, và tính linh hoạt của Hiến pháp đã tỏ ra là một trong những mặt mạnh lớn nhất của nó. Nếu không có mức độ linh hoạt đó, không thể hình dung một văn kiện soạn thảo cách đây hơn 200 năm mà vẫn còn có thể phục vụ hữu hiệu nhu cầu của 260 triệu dân và hàng nghìn đơn vị chính quyền ở mọi cấp tại Hoa Kỳ ngày nay. Cũng như không thể hình dung nó có thể áp dụng với một hiệu lực và độ chính xác như nhau cho các vấn đề của cả các thị trấn nhỏ lẫn các thành phố lớn.

Vì vậy Hiến pháp và chính quyền liên bang đứng ở đỉnh của hình tháp chính quyền gồm cả chính quyền địa phương lẫn chính quyền bang. Trong hệ thống chính quyền Hoa Kỳ, mỗi cấp chính quyền đều có một mức độ tự chủ lớn với những quyền hạn nhất định dành riêng cho cấp chính quyền đó. Tranh chấp giữa các cấp chính quyền khác nhau được giải quyết tại các tòa án. Tuy nhiên, có những vấn đề liên quan đến lợi ích quốc gia đòi hỏi sự hợp tác đồng thời của mọi cấp chính quyền, và Hiến pháp cũng có những điều khoản đề cập đến những vấn đề đó. Chẳng hạn, các trường công ở Mỹ phần lớn do chính quyền địa phương quản lý, tuân theo những tiêu chuẩn áp dụng trong toàn bang. Nhưng chính quyền liên bang cũng trợ giúp các trường học, vì biết đọc, viết viết và có trình độ học vấn là những vấn đề lợi ích quốc gia thiết yếu, và chính quyền áp dụng những tiêu chuẩn đồng nhất nhằm đẩy mạnh sự bình đẳng về cơ hội học tập. Trong các lĩnh vực khác, như nhà ở, y tế và phúc lợi, cũng có một sự hợp tác tương tự giữa các cấp chính quyền.

Không một sản phẩm nào của xã hội loài người được coi là hoàn hảo. Dù đã qua nhiều lần sửa đổi, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có lẽ vẫn còn chứa đựng những khiếm khuyết, chúng sẽ bộc lộ ra trong những thời kỳ căng thẳng sau này. Nhưng hai thế kỷ phát triển và phồn thịnh vô song đã chứng tỏ tầm nhìn xa trông rộng của 55 con người đã làm việc suốt mùa hè năm 1787 để đặt nền móng cho chính quyền Mỹ. Nói như Archibald Cox, nguyên Tổng chưởng lý Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, “Bản Hiến pháp nguyên thủy vẫn còn có ích cho chúng ta mặc dù đã có những thay đổi sâu rộng trong mọi khía cạnh của đời sống ở Mỹ, bởi vì những người soạn thảo nó đã được phú cho một thiên tài là nói ra đủ lời nhưng không nói quá nhiều… Khi mà kế hoạch đề ra tại Hội nghị lập hiến thành công, khi mà đất nước lớn mạnh và phồn vinh cả về mặt vật chất lẫn trong việc thực hiện những lý tưởng của nó, tức là bản Hiến pháp đã tạo dựng được cho mình uy thế và quyền lực lớn hơn rất nhiều so với uy thế và quyền lực của bất kỳ cá nhân hay tập thể nào”.

Công việc soạn thảo hiến pháp

Khoảng thời gian từ lúc phê chuẩn Điều lệ Liên bang năm 1781 đến lúc soạn thảo Hiến pháp mới vào năm 1787 là một thời kỳ đầy rẫy những yếu kém, tranh chấp và xáo động. Trong Điều lệ Liên bang, không có điều khoản nào quy định ngành hành pháp có quyền thi hành luật pháp, cũng như quy định hệ thống tòa án quốc gia có quyền giải thích pháp luật. Quốc hội lập pháp là cơ quan duy nhất trong chính quyền quốc gia, nhưng nó hoàn toàn không có quyền buộc các bang phải làm bất cứ điều gì trái với ý nguyện của họ. Trên lý thuyết, Quốc hội có thể tuyên bố chiến tranh và thiết lập quân đội nhưng nó không thể buộc bất cứ bang nào cung cấp quân số, vũ khí và trang thiết bị cho quân đội. Quốc hội phải trông cậy vào các bang để có nguồn thu tài trợ các hoạt động của mình, nhưng lại không thể xử phạt bất kỳ một bang nào với lý do không đóng góp vào ngân sách liên bang. Các bang được quyền kiểm soát việc đánh thuế cùng mức thuế và từng bang có thể phát hành đồng tiền riêng. Khi có tranh chấp giữa các bang – và có nhiều tranh cãi về ranh giới bang không được giải quyết – thì Quốc hội đóng vai trò trung gian hòa giải và phân xử nhưng vẫn không thể buộc các bang phải chấp nhận các quyết định của mình.

Kết quả là một sự hỗn loạn thực sự. Không có quyền thu thuế, chính quyền liên bang rơi vào tình trạng mắc nợ. Bảy trong số 13 bang in tiền giấy với khối lượng lớn, có mệnh giá cao nhưng sức mua thực tế thấp, để trả cho các cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Cách mạng và hàng loạt chủ nợ để thanh toán nợ nần giữa điền chủ nhỏ và các chủ đồn điền lớn.

Ngược lại, cơ quan lập pháp bang Massachusetts lại áp đặt một đồng tiền bị kiểm soát chặt chẽ cùng với mức thuế cao, gây ra việc lập nên một đội quân điền chủ nhỏ dưới sự lãnh đạo của Daniel Shays – nguyên là một đại úy quân đội trong Chiến tranh Cách mạng. Mưu đồ chiếm lấy cơ quan lập pháp của bang Massachusets, Shays và những người khác đã đòi bãi bỏ việc bắt nợ tài sản và cầm cố không công bằng. Quân đội đã được huy động để đàn áp cuộc bạo động, nhưng chính quyền liên bang đã không có ý kiến gì.

Việc thiếu một đồng tiền thống nhất và ổn định cũng đã phá vỡ hoạt động buôn bán giữa các bang với nhau và giữa các bang với các nước khác. Không chỉ giá trị của tiền giấy giữa các bang không thống nhất mà một số bang (như New York và Virginia) lại đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu từ các bang khác, do đó gây ra những hành động trả đũa. Đến nỗi các bang đã có thể tuyên bố, như lời cơ quan thanh tra tài chính liên bang, rằng “uy tín nhà nước của chúng ta không còn nữa”. Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn khi các bang mới giành được độc lập này do đã đột ngột tách khỏi Anh nên không còn được hưởng đối xử ưu đãi tại các cảng của Anh nữa. Khi Đại sứ Hoa Kỳ John Adams tìm cách đàm phán một hiệp định thương mại vào năm 1785 thì người Anh đã từ chối với lý lẽ viện ra rằng các bang riêng lẻ không bị ràng buộc bởi hiệp định này.

Một chính quyền trung ương non yếu, không đủ sức mạnh hậu thuẫn cho các chính sách của mình bằng lực lượng quân sự, thì tất yếu sẽ bị trói tay cả trong lĩnh vực ngoại giao. Người Anh không chịu rút quân đội của họ ra khỏi các căn cứ và thương cảng thuộc “Lãnh thổ miền Tây Bắc” (Northwest Territory) của quốc gia mới này như họ đã thỏa thuận trong hòa ước năm 1783 đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Cách mạng. Vấn đề trở nên tồi tệ hơn nữa khi các sĩ quan Anh ở các vùng biên giới phía bắc và các sĩ quan Tây Ban Nha ở phía nam cung cấp vũ khí cho bộ tộc người Anhđiêng và xúi giục họ tấn công những người định cư Mỹ. Người Tây Ban Nha, nắm trong tay việc kiểm soát Florida và Louisiana cũng như toàn bộ lãnh thổ phía tây sông Mississipi, cũng từ chối không cho phép các điền chủ ở miền tây dùng cảng New Orleans để vận chuyển hàng hóa.

Mặc dù có những dấu hiệu phồn vinh trở lại ở một vùng của quốc gia non trẻ này nhưng các vấn đề trong và ngoài nước vẫn tiếp tục gia tăng. Người ta ngày càng thấy rõ rằng chính quyền trung ương của liên bang không đủ mạnh để thiết lập một hệ thống tài chính lành mạnh, quản lý thương mại, thực thi các hiệp ước hoặc dùng đến sức mạnh quân sự chống lại kẻ thù ngoại bang khi cần thiết. Những chia rẽ nội bộ giữa điền chủ và thương nhân, giữa con nợ và chủ nợ và giữa bản thân các bang với nhau ngày càng trở nên nghiêm trọng. Với cuộc bạo động của những người nông dân cùng quẫn do Shays cầm đầu vào năm 1786 còn in đậm trong tâm trí mọi người, George Washington đã cảnh báo: “Bang nào cũng chứa đựng những chất dễ cháy mà chỉ cần một tia lửa cũng có thể cháy bùng lên”.

Ý thức về thảm hoạ chính trị và việc cần phải có sự thay đổi triệt để đã bao trùm bầu không khí Hội nghị lập hiến được bắt đầu vào ngày 25 tháng Năm năm 1787. Tất cả các đại biểu đều tin rằng phải có một chính quyền trung ương hữu hiệu với những quyền lực cưỡng bách rộng rãi để thay thế cho Quốc hội bất lực lập ra theo Điều lệ Liên bang. Thoạt đầu các đại biểu nhất trí rằng chính quyền mới sẽ gồm ba ngành tách biệt – lập pháp, tư pháp và hành pháp, – từng ngành có những quyền riêng biệt để cân đối với những quyền của hai ngành kia. Mọi người cũng nhất trí rằng ngành lập pháp – giống như Nghị viện Anh – cần gồm có hai viện.

Tuy nhiên, ngoài điểm trên đây, vẫn có những bất đồng quan điểm sâu sắc đôi khi có nguy cơ phá vỡ Hội nghị và làm gián đoạn các cuộc thảo luận trước khi hiến pháp được thảo ra. Các bang lớn thì ủng hộ việc phân bổ số người đại diện trong cơ quan lập pháp tỷ lệ với số dân – mỗi bang cần có số phiếu biểu quyết nhiều ít tuỳ theo số dân của mình. Sợ bị sự áp đảo của các bang lớn, các bang nhỏ một mực đòi tất cả các bang đều có quyền đại diện ngang nhau. Vấn đề này đã được giải quyết bằng sự “Thỏa hiệp Lớn”, một biện pháp dành cho các bang có quyền đại diện ngang bằng nhau trong một viện và quyền đại diện tỷ lệ theo số dân trong viện kia. Mỗi bang sẽ có hai ghế trong Thượng viện. Số ghế trong Hạ viện sẽ phụ thuộc vào dân số từng bang. Vì được cho là gần gũi hơn với thái độ của đa số dân cư, Hạ viện được trao quyền khởi xướng mọi luật lệ liên quan tới các nguồn thu và ngân sách của liên bang.

Sự Thỏa hiệp Lớn này đã chấm dứt mối bất hòa giữa các bang lớn và nhỏ, nhưng trong suốt mùa hè năm đó các đại biểu cũng đã đi đến nhiều thỏa hiệp khác. Một số đại biểu, lo sợ phải trao quá nhiều quyền lực cho người dân, đã yêu cầu bầu cử gián tiếp đối với tất cả quan chức liên bang; nhưng những đại biểu khác lại muốn một nền tảng cử tri càng rộng lớn càng tốt. Một số muốn loại trừ các lãnh thổ miền tây khỏi khả năng sau này có thể được mang quy chế bang; nhưng những đại biểu khác lại nhận thấy sức mạnh tương lai của đất nước nằm ở những vùng đất nguyên sơ bên ngoài dãy núi Appalachian. Có những lợi ích cục bộ cần được cân đối, có những quan điểm khác nhau về nhiệm kỳ, quyền lực và phương thức bầu chọn tổng thống cần được dung hòa, và những quan niệm đối lập nhau về vai trò của ngành tư pháp liên bang.

Con đường dẫn tới thỏa hiệp không mấy khó khăn nhờ có phẩm chất ưu tú của các đại biểu tham gia Hội nghị. Chỉ một số ít các nhà lãnh đạo vĩ đại của cuộc Cách mạng Mỹ vắng mặt: Thomas Jefferson và John Adams – cả hai là những vị tổng thống tương lai – khi ấy làm nhiệm vụ phái viên của Mỹ tại Pháp và Anh; John Jay bận công việc với tư cách ngoại trưởng của Liên bang. Một số nhỏ những người khác như Samuel Adams và Patrick Henry quyết định không tham gia vì tin rằng cơ cấu chính quyền hiện có đã là lành mạnh rồi. Trong số những người tham dự, người danh tiếng nhất, vượt xa tất cả những người khác, là George Washington, vị tư lệnh của quân đội Mỹ và là người anh hùng của cuộc Cách mạng, chủ trì Hội nghị. Benjamin Franklin – nhà khoa học, học giả và nhà ngoại giao cao niên sáng suốt, cũng có mặt. Và cũng có những nhân vật lỗi lạc như James Madison của bang Virginia, thống đốc Morris của Pennsylvania và Alexander Hamilton – một luật sư trẻ sáng giá đến từ New York.

Cả những đại biểu trẻ nhất, còn ở độ tuổi 20 và 30, cũng đã thể hiện những tài năng thiên bẩm về chính trị và trí tuệ. Như lời Thomas Jefferson khi đó đang ở Paris đã viết cho John Adams tại London: “Đây thực sự là một sự quần tụ của những á thần”.

Một số ý tưởng thể hiện trong Hiến pháp là mới mẻ, nhưng nhiều ý tưởng được đúc rút từ truyền thống cai trị của Anh và từ kinh nghiệm thực tiễn trong chế độ tự trị của 13 bang. Bản Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện chỉ đường quan trọng, hướng tâm trí các đại biểu tập trung vào những ý tưởng tự trị và bảo toàn những quyền cơ bản của con người. Những bài viết của các nhà triết học chính trị châu Âu như Montesquieu và John Locke cũng có nhiều ảnh hưởng.

Đến cuối tháng 7, hội nghị cử ra một ủy ban để dự thảo một văn kiện dựa trên những thỏa thuận đã đạt được. Sau thêm một tháng thảo luận và gọt giũa nữa, một ủy ban thứ hai do thống đốc Morris đứng đầu, hoàn thành bản dự thảo cuối cùng, được đệ trình để ký kết vào ngày 17 tháng Chín. Không phải tất cả các đại biểu đều hài lòng với kết quả này; một số đã bỏ về trước buổi lễ, và trong số những người ở lại, có ba người không chịu ký là Edmund Randolph và George Mason của Virginia, Elbridge Gerry của Massachusetts. Trong số 39 người đặt bút ký có lẽ chẳng ai hoàn toàn thỏa mãn và quan điểm của họ đã được Benjamin Franklin tóm tắt đầy đủ khi ông nói: “Có một vài phần trong bản Hiến pháp này hiện tại tôi chưa chấp thuận, nhưng tôi không đoan quyết là tôi sẽ không bao giờ chấp thuận những phần ấy”. Tuy nhiên ông chấp nhận bản Hiến pháp này “bởi tôi chẳng thể mong đợi một văn kiện xuất sắc hơn và tôi cũng không thể quả quyết rằng đây không phải là văn kiện xuất sắc nhất”.

Washington với hội nghị lập hiến

Khi đã có đủ đại biểu đến Philadelphia để tạo thành số đại biểu tối thiểu hợp lệ cho việc triệu tập Hội nghị lập hiến, George Washington được nhất trí bầu làm chủ tịch Hội nghị. Ông miễn cưỡng chấp nhận vinh dự này vì cho rằng mình không đủ tiêu chuẩn. Diễn văn khai mạc của ông là những lời nói với niềm tự hào và lý tưởng của những người tham dự Hội nghị: “Chúng ta hãy cùng giương cao một lá cờ mà những người sáng suốt và trung thực có thể sửa đổi”.

Với tư cách người chủ trì, Washington đã tỏ ra kiên định, nhã nhặn nhưng lạnh lùng, chỉ tham gia các cuộc tranh luận vào ngày cuối cùng của Hội nghị. Ông là một nhân vật gây ấn tượng sâu sắc, cả về mặt hình thể lẫn tinh thần, đến nỗi một đại biểu nhận xét rằng Washington là “người duy nhất mà tôi cảm thấy hơi sợ khi gặp mặt”.

Sự ủng hộ của Washington cho một Liên bang hùng mạnh đã bắt rễ từ kinh nghiệm khi làm tổng tư lệnh Quân đội Lục địa trong thời kỳ Cách mạng Mỹ. Ông còn nhớ ông đã phải cố thuyết phục quân lính bang New Jersey của mình tuyên thệ trung thành với Hợp chúng quốc. Họ đã cự tuyệt và nói “New Jersey là đất nước của chúng ta !”. Trong một khoảng thời gian nghỉ giữa Hội nghị, Washington đã trở lại chiến trường cách mạng Valley Forge, bang Pennsylvania, gần đó, nơi ông và quân đội của mình đã trải qua một mùa đông khắc nghiệt do các bang không chịu đóng góp vào sự nghiệp chung.

Khi Hội nghị kết thúc và bắt đầu tiến trình phê chuẩn, Washington từ bỏ sự im lặng của mình và nhân danh Hội nghị làm việc đầy nhiệt huyết, góp phần thuyết phục một số người chống đối của bang Virginia quê hương ông hãy thay đổi lập trường. Ông công nhận tác dụng của những người phê phán khi họ đưa ra Tuyên ngôn Nhân quyền (sau đó trở thành 10 điều sửa đổi đầu tiên của Hiến pháp) trước cử toạ. Đồng thời, ông biểu dương James Madison và Alexander Hamilton về sự ủng hộ của họ đối với Hiến pháp trong tập Các bài viết chủ trương chế độ liên bang, khi ông viết rằng họ đã “rọi một ánh sáng mới vào khoa học chính quyền; họ đã đem đến một sự bàn luận đầy đủ và công bằng về quyền con người và giải thích những quyền ấy một cách rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi không thể không để lại một ấn tượng lâu dài”.

Phê chuẩn: một bước mở đầu

Trước mắt là tiến trình phê chuẩn gay go gian khổ, nghĩa là phải có ít nhất 9 bang chấp thuận Hiến pháp. Delaware là bang hành động đầu tiên, tiếp ngay sau đó là New Jersey và Georgia. Tại Pennsylvania và Connecticut, Hiến pháp đã được chấp thuận với một đa số lớn. Một cuộc tranh cãi gay gắt đã xảy ra ở Massachusetts. Bang này cuối cùng đặt điều kiện cho việc phê chuẩn của mình là bổ sung 10 điều sửa đổi đảm bảo một số quyền cơ bản nhất định trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do hội họp; quyền được xét xử bởi bồi thẩm đoàn; và việc cấm khám xét hoặc bắt giữ vô căn cứ. Một số bang khác cũng đưa vào những điều khoản tương tự, và những điều sửa đổi này – nay được gọi là bản Tuyên ngôn Nhân quyền – đã được đưa vào Hiến pháp năm 1791.

Đến cuối tháng Sáu năm 1788, Maryland, South Carolina và New Hampshire đã đồng ý, qua đó đáp ứng yêu cầu cần có sự phê chuẩn của 9 bang. Về mặt pháp lý, Hiến pháp đã có hiệu lực. Nhưng hai bang đầy thế lực và quan trọng là New York và Virginia, cùng hai bang nhỏ hơn là North Carolina và Rhode Island vẫn lưỡng lự. Người ta thấy rõ là nếu không có sự chấp thuận của New York và Virginia thì Hiến pháp vẫn còn đặt trên một nền tảng bấp bênh.

Virginia bị chia rẽ sâu sắc, nhưng ảnh hưởng của George Washington khi đưa ra những lý lẽ hậu thuẫn cho việc phê chuẩn đã thuyết phục được cơ quan lập pháp bang này thông qua với đa số phiếu sít sao vào ngày 26 tháng Sáu năm 1788. Tại New York, Alexander Hamilton, James Madison và John Jay đã viết một loạt bài lý luận xuất sắc bênh vực Hiến pháp – được gọi là Các bài viết chủ trương chế độ liên bang – và giành được một đa số phiếu sít sao ủng hộ việc chấp thuận vào ngày 26 tháng Bảy. Tháng Mười Một có thêm sự chấp thuận của North Carolina. Rhode Island tiếp tục đứng ngoài cho tới năm 1790 khi không còn chỗ đứng cho một bang nhỏ và yếu thế bị bao bọc bởi một thể chế cộng hòa lớn mạnh.

Tiến trình tổ chức chính quyền bắt đầu ngay sau khi có sự phê chuẩn của Virginia và New York. Ngày 13 tháng Chín năm 1788, Quốc hội quyết định thành phố New York là nơi đặt trụ sở của chính quyền mới. (Đến năm 1790, thủ đô được chuyển đến Philadelphia và năm 1800, chuyển đến Washington, D.C.). Quốc hội lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Giêng năm 1789 làm ngày lựa chọn các đại cử tri (những đại biểu bỏ phiếu bầu ra tổng thống), lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Hai là ngày các đại cử tri họp lại để bầu chọn tổng thống, và lấy ngày Thứ Tư đầu tiên của tháng Ba làm ngày khai mạc Quốc hội khóa mới.

Theo Hiến pháp, cơ quan lập pháp của từng bang có quyền quyết định cách lựa chọn các đại cử tri, cũng như cách bầu ra các hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ. Một số bang quyết định chọn cách phổ thông đầu phiếu, một số bang khác chọn cách để cho cơ quan lập pháp bầu chọn, và một số ít bang kết hợp cả hai cách trên. Những cuộc tranh chấp diễn ra kịch liệt; những chậm trễ trong những cuộc bầu cử đầu tiên theo Hiến pháp mới là điều không thể tránh khỏi. Ví dụ, New Jersey đã lựa chọn cách phổ thông đầu phiếu, nhưng lại quên không ấn định rõ thời gian kết thúc bỏ phiếu, nên thời gian bỏ phiếu kéo dài tới ba tuần.

Việc thực thi hoàn toàn và cuối cùng Hiến pháp được ấn định vào ngày 4 tháng Ba năm 1789. Nhưng đến ngày đó, mới chỉ có 13 trong số 59 hạ nghị sĩ và 8 trong số 22 thượng nghị sĩ có mặt tại thành phố New York. (Số ghế phân bổ cho North Carolina và Rhode Island vẫn bỏ trống cho tới khi các bang này phê chuẩn Hiến pháp). Cuối cùng cũng có được số đại biểu tối thiểu hợp lệ tại Hạ viện vào ngày 1 tháng Tư và tại Thươùng viện vào ngày 1 tháng Sáu. Cả hai viện sau đó họp liên tịch để kiểm các lá phiếu của các đại cử tri.

Không ai ngạc nhiên khi George Washington được nhất trí bầu làm tổng thống đầu tiên, và John Adams của bang Massachusetts làm phó tổng thống. Adams đến New York ngày 21 tháng Tư và Washington đến vào ngày 23 tháng Tư. Hai người tuyên thệ nhậm chức ngày 30 tháng Tư năm 1789. Công việc thiết lập chính quyền mới đã được hoàn tất. Song việc giữ gìn chế độ cộng hòa đầu tiên trên thế giới mới chỉ bắt đầu.

Hiến pháp với tư cách là bộ luật tối cao

Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tự coi là “bộ luật tối cao của đất nước”. Điều này có nghĩa là khi hiến pháp hoặc luật pháp của các bang do các cơ quan lập pháp của các bang hoặc Quốc hội thông qua, bị phát hiện là trái với Hiến pháp liên bang, thì chúng sẽ không có hiệu lực. Những phán quyết mà Tòa án Tối cao đưa ra trong hai thế kỷ qua đã khẳng định và củng cố nguyên tắc về quyền tối thượng của Hiến pháp.

Quyền lực tối hậu thuộc về người dân Hoa Kỳ, những người có thể thay đổi bộ luật cơ bản, nếu họ mong muốn, bằng cách sửa đổi Hiến pháp hoặc – ít nhất trên lý thuyết – thảo ra một hiến pháp mới. Tuy nhiên, người dân không trực tiếp thực hiện quyền lực đó của mình. Họ ủy nhiệm việc tiến hành những công việc thường nhật cho các quan chức nhà nước do dân cử hoặc được bổ nhiệm.

Theo Hiến pháp, quyền lực của các quan chức nhà nước là có giới hạn. Các hoạt động công ích của họ phải tuân thủ Hiến pháp và những đạo luật đã được ban hành theo Hiến pháp. Các quan chức dân cử phải ra ứng cử theo định kỳ, và khi đó quá trình làm việc của họ sẽ được công chúng xem xét kỹ lưỡng. Các quan chức được bổ nhiệm thì phục vụ tuỳ theo ý muốn của cá nhân hay cơ quan bổ nhiệm họ, và có thể bị cách chức bất kỳ lúc nào. Có một ngoại lệ là việc tổng thống bổ nhiệm các chánh án Tòa án Tối cao và các thẩm phán liên bang khác cho một nhiệm kỳ suốt đời, để họ khỏi phải chịu những ràng buộc hoặc ảnh hưởng chính trị.

Thông thường nhất, nhân dân Mỹ thể hiện ý nguyện của mình bằng cách bỏ phiếu kín. Tuy nhiên, Hiến pháp có điều khoản quy định việc phế truất các quan chức trong những trường hợp có hạnh kiểm sai trái hoặc có sai phạm cực kỳ nghiêm trọng bằng quy trình luận tội. Điều II khoản 4 quy định: “Tổng thống, Phó tổng thống và mọi quan chức dân sự của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ sẽ bị cách chức nếu bị luận tội, và sau đó bị kết tội là phản quốc, nhận hối lộ hoặc những tội và những hành động phạm pháp nghiêm trọng khác” .

Luận tội là việc một cơ quan lập pháp buộc tội một quan chức chính quyền có hành vi sai trái; điều này, không như người ta thường nghĩ, không có nghĩa là đã kết tội theo tội danh đó. Theo quy định của Hiến pháp, Hạ viện phải đưa ra những lời buộc tội là có hành vi sai trái khi bỏ phiếu biểu quyết dự luật luận tội. Quan chức bị buộc tội sau đó được xét xử tại Thượng viện với sự chủ toạ của chánh án Tòa án Tối cao.

Luận tội được coi là một biện pháp quyết liệt, một biện pháp chỉ được sử dụng trong những trường hợp hãn hữu ở Hoa Kỳ. Kể từ năm 1797, Hạ viện mới biểu quyết điều khoản luận tội đối với 16 quan chức liên bang: 2 tổng thống, 1 thành viên nội các, 1 thượng nghị sĩ, 1 chánh án Tòa án Tối cao và 11 thẩm phán liên bang.

Năm 1868, Tổng thống Andrew Johnson bị luận tội về những vấn đề liên quan đến cách đối xử thích đáng đối với các bang bại trận sau khi kết thúc cuộc Nội chiến. Tuy nhiên Thượng viện đã thiếu một phiếu để đủ 2/3 số phiếu thuận cần thiết cho việc kết tội, và Johnson vẫn tại vị cho đến hết nhiệm kỳ. Năm 1974, do vụ Watergate, Tổng thống Richard Nixon đã từ chức sau khi Uỷ ban Tư pháp của Hạ viện kiến nghị luận tội, và trươực khi toàn thể Hạ viện kịp bỏ phiếu thông qua dự luật luận tội.

Mới đây năm 1998, Tổng thống Bill Clinton bị Hạ viện luận tội về tội khai man và cản trở hoạt động tư pháp. Sau khi xét xử, Thượng viện miễn tội cho vị tổng thống này về cả hai điều buộc tội: Thượng viện đã biểu quyết với số phiếu 55-45 là không phạm tội khai man, và biểu quyết với số phiếu bằng nhau 50-50 về tội cản trở hoạt động tư pháp. Để cách chức tổng thống phải có biểu quyết có tội với đa số 67 phiếu về cả hai lời buộc tội.

Những nguyên tắc của chính quyền

Mặc dù Hiến pháp đã thay đổi trên nhiều phương diện kể từ khi được thông qua lần đầu, những nguyên tắc cơ bản của nó ngày nay vẫn được giữ nguyên như hồi năm 1789:

  • Ba ngành cơ bản của chính quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp – vẫn độc lập và tách biệt với nhau. Quyền lực của từng ngành được cân đối hài hòa với quyền lực của hai ngành còn lại. Mỗi ngành đóng vai trò kiềm chế khả năng lạm quyền của hai ngành kia.
  • Hiến pháp, cùng với các luật được thông qua phù hợp với các điều khoản của Hiến pháp và những hiệp ước do tổng thống ký kết và được Thượng viện chấp thuận, đứng trên mọi đạo luật, mọi nghị định hành pháp và các quy định khác.
  • Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền như nhau được hưởng sự bảo vệ của pháp luật. Tất cả các bang đều bình đẳng, và không bang nào được hưởng ưu đãi đặc biệt của chính quyền liên bang. Trong khuôn khổ của Hiến pháp, mỗi bang phải công nhận và tôn trọng luật pháp của các bang khác. Chính quyền các bang cũng như chính quyền liên bang phải có hình thức dân chủ trong đó quyền lực tối hậu thuộc về nhân dân.
  • Nhân dân có quyền thay đổi hình thức chính quyền quốc gia của mình bằng những biện pháp pháp lý được chính Hiến pháp quy định.

Các điều khoản về sửa đổi Hiến pháp

Các tác giả bản Hiến pháp đã nhận thức sâu sắc rằng muốn cho Hiến pháp có thể trường tồn và theo kịp sự lớn mạnh của đất nươực thì thỉnh thoảng sẽ cần phải có những thay đổi. Họ cũng ý thức được rằng không thể để cho tiến trình thay đổi diễn ra dễ dãi, cho phép có những điều sửa đổi thiếu suy xét và được thông qua vội vã. Cũng với sự cân nhắc tương tự, họ muốn đảm bảo không để cho một thiểu số có thể cản trở hành động mà đa số người dân mong muốn. Giải pháp của họ là nhằm tạo ra một quá trình kép qua đó Hiến pháp có thể được sửa đổi.

Với hai phần ba số phiếu thuận tại mỗi viện, Quốc hội có thể khởi xướng việc sửa đổi. Hoặc theo cách khác, cơ quan lập pháp của hai phần ba số bang có thể yêu cầu Quốc hội triệu tập một đại hội toàn quốc để bàn luận và dự thảo sửa đổi. Trong cả hai trường hợp, sửa đổi chỉ có hiệu lực khi được sự chấp thuận của ba phần tư số bang.

Ngoài quá trình trực tiếp thay đổi Hiến pháp, hiệu lực của các điều khoản trong Hiến pháp có thể được thay đổi bằng sự giải thích tư pháp. Ngay từ sớm trong lịch sử của nền cộng hòa, năm 1803 trong vụ Marbury kiện Madison, Tòa án Tối cao đã thiết lập nguyên tắc giám sát tư pháp, tức là quyền của Tòa án trong việc giải thích các đạo luật của Quốc hội và quyết định các đạo luật đó có mang tính hợp hiến hay không. Nguyên tắc này cũng bao gồm cả quyền lực của Tòa án trong việc giải thích ý nghĩa của nhiều phần trong hiến pháp khi áp dụng vào các điều kiện xã hội, kinh tế, chính trị và pháp luật luôn thay đổi. Qua nhiều năm, một loạt quyết định của Tòa án, về những vấn đề từ quy định của chính quyền đối với phát thanh và truyền hình cho tới các quyền của người bị kết án trong các vụ án hình sự, đã đem lại hiệu quả là cập nhật mục đích chính của luật hiến pháp mà không có sự thay đổi đáng kể nào trong bản thân Hiến pháp.

Các luật của Quốc hội, được thông qua để thực thi những điều khoản của luật cơ bản hoặc để thích nghi nó với những điều kiện thay đổi, cũng mở rộng và, theo những cách thức tinh tế, làm thay đổi ý nghĩa của Hiến pháp. Về điểm này, các quy chế và quy định của nhiều cơ quan chính quyền liên bang có thể cũng có tác dụng tương tự. Theo quan điểm của tòa án, sự kiểm nghiệm chặt chẽ trong cả hai trường hợp là nhằm kiểm định xem liệu các luật và quy chế này có tuân thủ Hiến pháp hay không.

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền

Hiến pháp được sửa đổi 27 lần kể từ năm 1789 và chắc chắn sẽ còn tiếp tục được sửa đổi trong tương lai. Những thay đổi bao quát nhất đã được tiến hành trong vòng hai năm sau ngày Hiến pháp được thông qua. Trong thời kỳ này, 10 điều sửa đổi đầu tiên, được gọi chung là bản Tuyên ngôn Nhân quyền, đã được bổ sung. Quốc hội đã chấp thuận cả khối 10 điều khoản sửa đổi này trong tháng Chín năm 1789 và 11 bang đã phê chuẩn chúng vào cuối năm 1791.

Phần lớn việc phản đối ban đầu đối với Hiến pháp không phải xuất phát từ những người chống đối việc củng cố khối liên bang mà là từ những chính khách cảm thấy rằng các quyền cá nhân phải được quy định cụ thể. Một trong những chính khách đó là George Mason, tác giả bản Tuyên bố về nhân quyền của bang Virginia – tiền thân của Tuyên ngôn Nhân quyền. Với tư cách là đại biểu của Hội nghị Lập hiến, Mason từ chối ký vào văn kiện này do ông cảm thấy các quyền cá nhân không được bảo vệ đầy đủ. Dĩ nhiên, việc phản đối của Mason gần như làm bế tắc việc phê chuẩn của bang Virginia. Như đã nói ở trên, do cũng có những suy nghĩ tương tự, Massachusetts đặt điều kiện cho việc phê chuẩn của mình là bổ sung những đảm bảo cụ thể về quyền cá nhân. Khi Quốc hội khóa đầu tiên nhóm họp, quan điểm chung đối với việc thông qua những sửa đổi này gần như hoàn toàn nhất trí, và Quốc hội không mất nhiều thời gian cho việc soạn thảo những sửa đổi này.

Những sửa đổi này ngày nay vẫn còn nguyên vẹn như khi chúng được viết ra từ hai thế kỷ trước. Điều sửa đổi đầu tiên bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được hội họp bình yên và quyền yêu sách chính quyền sửa chữa sai lầm. Điều sửa đổi thứ hai bảo đảm cho công dân được quyền mang vũ khí. Điều sửa đổi thứ ba quy định rằng quân đội không được đóng tại nhà dân khi không được phép của chủ sở hữu. Điều sửa đổi thứ tư không cho phép khám xét, bắt giữ và tịch thu tài sản vô căn cứ.

Bốn điều sửa đổi tiếp theo liên quan tới hệ thống tư pháp. Điều sửa đổi thứ năm cấm xét xử tội phạm nghiêm trọng nếu không có bản cáo trạng của bồi thẩm đoàn. Điều sửa đổi này cấm xét xử lặp lại đối với cùng một vi phạm; cấm xử phạt mà chưa có sự phán xét của pháp luật và quy định rằng không thể bắt buộc một người bị buộc tội làm chứng chống lại bản thân người đó. Điều sửa đổi thứ sáu bảo đảm xét xử nhanh chóng, công khai đối với các vi phạm hình sự. Điều sửa đổi này đòi hỏi việc xét xử bởi một bồi thẩm đoàn công minh, đảm bảo quyền tư vấn pháp luật cho người bị buộc tội và quy định rằng các nhân chứng buộc tội phải tham dự phiên tòa và đối chất với người bị kết tội. Điều sửa đổi thứ bảy đảm bảo việc xét xử bởi bồi thẩm đoàn trong các vụ kiện dân sự liên quan tới bất cứ thứ gì có trị giá trên 20 USD. Điều sửa đổi thứ tám cấm bắt nộp phạt hoặc thế chấp quá nặng và xử phạt tàn ác hoặc bất bình thường.

Hai điều cuối cùng trong 10 điều sửa đổi này bao gồm những tuyên bố theo nghĩa rộng của Hiến pháp: điều sửa đổi thứ chín tuyên bố rằng việc liệt kê các quyền không nhất thiết phải đầy đủ; rằng con người có những quyền khác không được đề cập cụ thể trong Hiến pháp. Điều sửa đổi thứ mười quy định rằng các quyền hạn mà Hiến pháp không trao cho chính quyền liên bang cũng không ngăn cấm đối với các bang thì được dành cho các bang hoặc cho nhân dân.

Sự bảo vệ sống còn đối với các quyền tự do cá nhân

Tính sâu sắc của Hiến pháp trong việc tổ chức chính quyền liên bang đã đem lại cho Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tính ổn định phi thường qua hai thế kỷ. Tuyên ngôn Nhân quyền và những điều sửa đổi Hiến pháp sau đó đã đặt các quyền cơ bản của con người vào trung tâm của hệ thống pháp lý Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Vào những thời điểm xảy ra khủng hoảng quốc gia, các chính quyền có xu hướng tìm cách tạm đình chỉ những quyền này vì lợi ích an ninh quốc gia, nhưng tại Hoa Kỳ, những biện pháp này luôn luôn được tiến hành một cách miễn cưỡng và cẩn trọng nhất. Ví dụ, trong thời chiến nhà cầm quyền quân sự kiểm duyệt thư từ giữa Hoa Kỳ và các nước khác và đặc biệt là thư từ từ mặt trận gửi về nhà cho các gia đình. Song, ngay cả trong thời chiến thì quyền được xét xử công bằng theo hiến pháp cũng không bị bãi bỏ. Những người bị buộc tội hình sự – và cả những đối tượng bao gồm công dân các nước thù địch bị buộc tội làm gián điệp, đảo chính và những hoạt động nguy hiểm khác – đều có quyền tự bảo vệ và, theo hệ thống luật pháp Hoa Kỳ, được coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh là phạm tội.

Những điều sửa đổi Hiến pháp sau Tuyên ngôn Nhân quyền bao gồm một loạt rộng rãi nhiều chủ đề. Một trong những điều sửa đổi có ảnh hưởng sâu rộng nhất là điều sửa đổi thứ 14 được phê chuẩn vào năm 1868, trong đó thiết lập một định nghĩa đơn giản và rõ ràng về quyền công dân và khẳng định sự đảm bảo bao trùm đối với việc xét xử công bằng theo pháp luật. Thực chất, điều sửa đổi thứ 14 áp dụng những điều khoản bảo vệ của Tuyên ngôn Nhân quyền cho các bang. Những điều sửa đổi khác đã hạn chế quyền lực tư pháp của chính quyền quốc gia, thay đổi phương thức bầu cử tổng thống, nghiêm cấm chế độ nô lệ, bảo vệ quyền bầu cử chống lại việc cự tuyệt quyền đó với lý do chủng tộc, màu da, giới tính hoặc điều kiện nô lệ trước đây; mở rộng quyền của Quốc hội trong việc thu thuế đối với các khoản thu nhập cá nhân; và thiết lập việc bầu cử thượng nghị sĩ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo hình thức phổ thông đầu phiếu.

Bản tuyên ngôn nhân quyền

Điều sửa đổi thứ nhất: Quốc hội sẽ không đặt ra một đạo luật nào tôn trọng việc thiết lập tôn giáo, hoặc cấm đoán việc tự do thực hành tôn giáo đó; hoặc thu hẹp tự do ngôn luận, tự do báo chí, hoặc quyền của người dân được hội họp bình yên, và được kiến nghị với chính quyền sửa chữa những điều gây bất bình.

Điều sửa đổi thứ hai: Một lực lượng dân vệ được điều hành tốt là cần thiết cho an ninh của một quốc gia tự do, cho nên quyền của người dân được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị xâm phạm.

Điều sửa đổi thứ ba: Không một người lính nào, trong thời bình, được đóng quân tại bất kỳ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo quy định của pháp luật.

Điều sửa đổi thứ tư: Quyền của người dân được an toàn về thân thể, nhà ở, giấy tờ và tài sản, chống lại mọi khám xét và bắt giữ vô căn cứ, sẽ không bị vi phạm, và không được có một giấy phép khám xét nào, trừ phi có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận và đặc biệt là phải miêu tả địa điểm khám xét, những người và vật sẽ bị bắt giữ.

Điều sửa đổi thứ năm: Không một người nào bị buộc phải chịu trách nhịêm về một trọng tội hoặc một tội ác bỉ ổi nào khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Đại bồi thẩm đoàn, ngoại trừ những trường hợp xảy ra trong các lực lượng vũ trang trên bộ hoặc hải quân, hoặc trong lực lượng dân vệ, khi thực tế đang thực thi công vụ trong thời chiến hoặc khi có mối nguy hiểm công cộng. Không một ai bị xử hai lần có hại đến mạng sống hoặc đến thân thể đối với cùng một vi phạm. Không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại chính mình trong bất kỳ một vụ án hình sự nào. Không một ai bị tước đoạt mạng sống, quyền tự do hoặc tài sản nếu chưa qua một quá trình xét xử theo đúng luật. Không một tài sản riêng nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.

Điều sửa đổi thứ sáu: Trong bất kỳ một sự truy tố hình sự nào, người bị tố cáo phải có quyền được xét xử nhanh chóng và công khai, bởi một đoàn bồi thẩm công minh của bang hay quận nơi đã diễn ra tội ác (nơi đó đã được xác định trước bằng luật pháp), được thông báo về tính chất và nguyên nhân của lời tố cáo, được đối chất với những nhân chứng chống lại mình, được hưởng một tiến trình bắt buộc để thu thập những bằng chứng có lợi cho mình, và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.

Điều sửa đổi thứ bảy: Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu trị giá tranh chấp vượt quá 20 USD thì có quyền được xét xử bởi một đoàn bồi thẩm, và không một sự việc nào đã được một đoàn bồi thẩm xét xử lại bị xem xét lại ở bất kỳ một tòa án nào tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ theo cách khác chứ không phải theo đúng những quy tắc của thông luật.

Điều sửa đổi thứ tám: Không được đòi hỏi thế chấp quá đáng hoặc phạt quá nặng, không được trừng phạt một cách tàn ác hoặc không bình thường.

Điều sửa đổi thứ chín: Việc liệt kê một số quyền nhất định trong Hiến pháp không được hiểu là phủ nhận hoặc hạ thấp những quyền khác của người dân.

Điều sửa đổi thứ mười: Các quyền mà Hiến pháp không trao cho Hợp chúng quốc, cũng không ngăn cấm đối với các bang, thì được dành cho các bang hoặc cho nhân dân.

Điều sửa đổi gần đây nhất gồm điều sửa đổi thứ 22 giới hạn tổng thống chỉ được tại vị hai nhiệm kỳ; điều sửa đổi thứ 23 trao cho công dân thuộc quận Columbia quyền bỏ phiếu; điều sửa đổi thứ 24 trao cho công dân quyền bỏ phiếu cho dù không nộp thuế bầu cử; điều sửa đổi thứ 25 quy định việc thay thế chức vụ phó tổng thống khi chức vụ này bị bỏ trống giữa nhiệm kỳ; điều sửa đổi thứ 26 hạ thấp độ tuổi được bầu cử xuống còn 18 tuổi; và điều sửa đổi thứ 27 có liên quan tới việc bổ sung cho đủ số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ của Hợp chúng quốc.

Điều quan trọng là phần lớn trong 27 điều sửa đổi này xuất phát từ những nỗ lực liên tục nhằm mở rộng quyền tự do của cá nhân các công dân hoặc tự do chính trị, trong khi chỉ có rất ít điều sửa đổi liên quan tới việc tăng cường cơ cấu chính quyền cơ bản được dự thảo tại Philadelphia năm 1787.

Cuộc tranh luận về chế độ nô lệ

Từ “chế độ nô lệ” không xuất hiện trong Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nhưng văn kiện đã có sự thừa nhận gián tiếp đối với thể chế này. Các đại biểu tham dự Hội nghị Lập hiến quy định rằng ba phần năm số nô lệ sẽ phải được tính đến khi xác định số hạ nghị sĩ mà mỗi bang được bầu vào Hạ viện. Hiến pháp sau đó yêu cầu phải trả lại cho chủ sở hữu những nô lệ bỏ trốn (“những người được sở hữu để lao động hoặc phục dịch”) đã vượt qua biên giới bang. Và Hiến pháp ấn định một thời hạn – năm 1808 – sau đó Quốc hội sẽ không bị ngăn cấm chấm dứt việc buôn bán nô lệ (“việc di cư hoặc nhập cư của những người hiện đang sống ở bất kỳ bang nào sẽ được cân nhắc để chấp nhận”).

Từng điều khoản trong những điều khoản này đã được tranh luận sôi nổi tại hội nghị và mỗi điều khoản rốt cuộc đã được chấp nhận trên tinh thần thỏa hiệp. Ngay cả các thành viên các tổ chức chống chế độ nô lệ tại miền Bắc, như Alexander Hamilton, cũng phản đối việc tiếp tục bàn luận về vấn đề chế độ nô lệ, cho rằng nỗ lực ấy nhất định sẽ làm chia rẽ các bang và gây nguy hại cho mục tiêu cấp bách hơn là xây dựng một chính quyền quốc gia hùng mạnh. Những đại biểu miền Nam lỗi lạc như George Washington và James Madison những người vốn căm ghét chế độ nô lệ nhưng tin rằng nó sẽ mất đi khi Liên bang được xác nhận, cũng yêu cầu có sự thỏa hiệp.

Tuy nhiên, vấn đề đạo đức đã được nêu lên một cách sôi nổi trong nhiều dịp tại hội nghị. Morris, Thống đốc bang Pennsylvania tố cáo chế độ nô lệ như là một “thể chế nhục nhã, là sự nguyền rủa của thiên đường đối với những bang thịnh hành chế độ này” . Ông đối lập sự thịnh vượng và nhân phẩm của những vùng tự do với “tình cảnh khổ cực và đói nghèo” của những bang duy trì chế độ nô lệ.

Lời công kích hùng hồn nhất đối với chế độ nô lệ tại hội nghị xuất phát từ George Mason bang Virginia, người mà Jefferson gọi là “con người thông thái nhất thế hệ ông”. Mason nói: “Chế độ nô lệ sản sinh ra tác động xấu xa nhất đối với phong tục tập quán. Bất kỳ người chủ nô nào sinh ra đã là một tên bạo chúa nhỏ… Chế độ nô lệ không khuyến khích được nghệ thuật và sản xuất. Người nghèo khinh bỉ lao động khi họ thấy lao động do nô lệ thực hiện… Tôi cho rằng điều thiết yếu là chính quyền chung cần phải có quyền lực ngăn chặn sự phát triển của chế độ nô lệ”.

Thời gian sau đó, phong trào đòi bãi bỏ chế độ nô lệ chắc đã sử dụng cũng những luận cứ ấy và cũng đã có cảm nhận tương tự về sự xâm phạm đạo đức ấy, nhưng lúc đó, vấn đề chế độ nô lệ bị lảng tránh, cả với tư cách là một danh từ cũng như là một thách thức về đạo lý. Cuối cùng, phải cần tới ngọn lửa bi thảm của cuộc Nội chiến (1861-1865) để chấm dứt cảnh nô lệ tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và đưa đất nước này lên con đường đầy gian khổ tiến tới sự bình đẳng chủng tộc hoàn toàn.

Hệ thống liên bang

Những nhà kiến tạo khuôn khổ cho Hiến pháp đã có trong đầu những mục tiêu rõ ràng. Họ đã thể hiện những mục tiêu này với một sự sáng sủa xuất sắc trong lời mở đầu 6 điểm dài 52 từ cho văn kiện chính.

Vấn đề xây dựng một “Liên bang hoàn hảo hơn” là vấn đề hiển nhiên đặt ra cho 13 bang vào năm 1787. Đã hoàn toàn rõ ràng là hầu như bất kỳ hình thức liên bang nào cũng sẽ hoàn hảo hơn hình thức hiện tồn tại theo Điều lệ Liên bang. Nhưng việc thiết lập một cơ cấu khác để thay thế nó đòi hỏi phải có những sự lựa chọn hết sức quan trọng.

“… Hình thành một Liên bang hoàn hảo hơn”

Tất cả các bang đều mong muốn có quyền tự chủ mà họ có được từ sau khi tách khỏi Anh 11 năm trước đó. Việc cân đối “quyền lực của các bang” với nhu cầu về một chính quyền trung ương không phải là một việc dễ dàng. Những nhà tạo lập Hiến pháp thực hiện được việc này bằng cách để các bang giữ lại mọi quyền lực cần thiết để điều tiết đời sống thường nhật của công dân bang mình, với điều kiện là những quyền lực này không mâu thuẫn với nhu cầu và phúc lợi của cả nước. Việc phân chia quyền lực này, được gọi là chủ nghĩa liên bang, về cơ bản cũng giống như ngày nay. Quyền lực của mỗi bang đối với những công việc của địa phương – trong những vấn đề như giáo dục, y tế, tổ chức kinh doanh, điều kiện làm việc, hôn nhân và ly hôn, thuế địa phương và quyền hạn của cảnh sát thông thường – được công nhận đầy đủ và chấp nhận rằng hai bang kề cận nhau vẫn thường có những luật rất khác nhau trong cùng một lĩnh vực.

Sự sắp đặt của Hiến pháp cho dù rất sáng tạo nhưng cuộc tranh cãi về quyền của các bang vẫn tiếp tục dai dẳng cho tới sau đó ba phần tư thế kỷ, tức năm 1861, khi một cuộc chiến tranh kéo dài bốn năm bùng nổ giữa các bang miền Bắc và miền Nam. Cuộc chiến tranh được biết đến như là cuộc Nội chiến hay cuộc Chiến tranh giữa các bang, và vấn đề nền tảng là quyền của chính quyền liên bang trong việc quản lý chế độ nô lệ ở những bang mới gia nhập liên bang. Những người dân miền Bắc đòi hỏi chính quyền liên bang phải có quyền này trong khi những người miền Nam cho rằng chế độ nô lệ là vấn đề do từng bang tự quyết định. Khi một nhóm các bang phía Nam tìm cách tách khỏi Liên bang thì chiến tranh đã nổ ra và được tiến hành trên nguyên tắc gìn giữ nền cộng hòa. Với thất bại của các bang miền Nam và việc các bang này tái nhập Liên bang, ưu thế của chủ nghĩa liên bang đã được tái khẳng định và chế độ nô lệ bị xóa bỏ.

“… Thiết lập công lý”

Bản chất của nền dân chủ Hoa Kỳ được chứa đựng trong bản Tuyên ngôn Độc lập, với đoạn câu ngân vang “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng”, và những khẳng định tiếp theo như “Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Hiến pháp không phân biệt con người theo của cải hay địa vị của họ; tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, tất cả đều chịu sự phán xét và trừng phạt bình đẳng khi họ vi phạm pháp luật. Điều này cũng được áp dụng tương tự đối với các tranh chấp dân sự liên quan đến tài sản, giao ước pháp lý và dàn xếp kinh doanh. Được tự do tiếp cận tòa án là một trong những đảm bảo thiết yếu đươùc ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền.

“… Bảo đảm sự bình yên trong nước”

Sự ra đời đầy sóng gió của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và tình trạng bất ổn trên biên giới phía Tây đã khiến người dân Hoa Kỳ tin rằng cần có sự ổn định nội bộ để quốc gia non trẻ này có thể phát triển và phồn thịnh. Chính quyền liên bang được thiết lập theo Hiến pháp phải đủ mạnh để bảo vệ các bang trước sự xâm lăng từ bên ngoài và trước sự xung đột và bạo lực trong nước. Từ năm 1815 đến nay, không một mảnh đất nào trên lục địa Hoa Kỳ bị một nước ngoài xâm lược. Chính quyền các bang nhìn chung đủ mạnh để duy trì trật tự trong phạm vi biên giới của mình. Nhưng đằng sau họ là sức mạnh đáng sợ của chính quyền liên bang, được Hiến pháp trao quyền sử dụng những biện pháp cần thiết để gìn giữ hòa bình.

“… Chu cấp cho sự phòng thủ chung”

Ngay cả khi nền độc lập đã được đảm bảo, quốc gia non trẻ này vẫn phải đối mặt với những hiểm hoạ thực sự từ nhiều phía. Ơ± vùng biên giới phía tây, những người định cư phải đối mặt với mối đe doạ thường xuyên từ các bộ lạc Anhđiêng thù địch. Ơ± phía bắc, người Anh vẫn sở hữu Canađa mà các tỉnh miền đông đông nghịt những người bảo thủ Mỹ đầy hằn thù, những người vẫn trung thành với Vương triều Anh trong Chiến tranh Cách mạng. Người Pháp sở hữu vùng lãnh thổ Lousiana rộng lớn ở miền trung – tây lục địa. Ơ± phía nam, người Tây Ban Nha chiếm giữ Florida, Texas và Mêhicô. Cả ba cường quốc châu Âu này đều có thuộc địa ở vùng biển Caribê, nằm trong phạm vi có thể tiến công bờ biển nước Mỹ. Ngoài ra, các quốc gia châu Âu còn đang bị lôi cuốn vào một loạt cuộc chiến lan tràn cả sang Thế giới Mới.

Trong những năm đầu, mục tiêu của Hiến pháp nhằm chu cấp cho “sự phòng thủ chung” tập trung vào việc mở mang lãnh thổ liền bên kia dãy núi Appalachian và thương lượng hòa bình với các bộ lạc thổ dân Mỹ sinh sống ở khu vực đó. Tuy nhiên, trong một thời gian ngắn, việc nổ ra chiến tranh với Anh năm 1812, những cuộc đụng độ với người Tây Ban Nha tại Florida và cuộc chiến tranh với Mêhicô năm 1846 đã làm nổi rõ tầm quan trọng của sức mạnh quân sự.

Sức mạnh kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ tăng lên khiến cho sức mạnh quốc phòng cũng trở nên hùng mạnh. Hiến pháp phân chia trách nhiệm quốc phòng giữa hai ngành lập pháp và hành pháp: chỉ Quốc hội mới có quyền tuyên bố chiến tranh và phân bổ ngân sách cho quốc phòng, tuy tổng thống là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và chịu trách nhiệm cao nhất đối với công cuộc phòng thủ đất nước.

“… Đẩy mạnh phúc lợi chung”

Vào cuối cuộc Cách mạng, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ở trong một hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Các nguồn lực bị cạn kiệt, uy tín bấp bênh và tiền giấy cũng chẳng có chút giá trị gì. Thương mại và công nghiệp gần như ngừng hoạt động, các bang và chính quyền liên bang gần như chìm ngập trong nợ nần. Tuy nhân dân không phải đứng trước nguy cơ chết đói nhưng triển vọng phát triển kinh tế quả thực rất mong manh.

Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của chính quyền quốc gia mới là phải đặt nền kinh tế lên một nền tảng vững chắc. Điều khoản đầu tiên trong Hiến pháp quy định rằng: “Quốc hội sẽ có quyền đặt ra và thu các loại thuế… để thanh toán các khoản nợ… và chu cấp cho phúc lợi chung của Hợp chúng quốc”.

Quyền thu thuế đã giúp cho chính quyền thanh toán những khoản nợ trong chiến tranh và đặt đồng tiền lên một nền tảng vững chắc hơn. Bộ trưởng tài chính được bổ nhiệm để theo dõi các công việc tài chính của đất nước và bộ trưởng ngoại giao được bổ nhiệm để xử lý các quan hệ với các nước khác. Bộ trưởng chiến tranh cũng được bổ nhiệm để chịu trách nhiệm về an ninh quân sự của cả nước, và Tổng chưởng lý được bổ nhiệm làm công việc của quan chức cao nhất của chính quyền liên bang trong việc bảo vệ luật pháp. Sau đó, khi đất nước được mở rộng và nền kinh tế trở nên phức tạp hơn, thì phúc lợi của người dân đòi hỏi phải thành lập thêm các cơ quan hành pháp khác.

“… Bảo đảm lợi ích của tự do cho bản thân chúng ta và cho các thế hệ mai sau”

Việc nhấn mạnh đến quyền tự do cá nhân là một trong những đặc trưng nổi bật của nền cộng hòa mới ở Mỹ. Phần đông xuất thân từ một hoàn cảnh bị đàn áp về tôn giáo và chính trị, người dân Mỹ quyết tâm giữ gìn tự do tại Thế giới Mới. Những người xây dựng Hiến pháp, trong khi trao quyền cho chính quyền liên bang, đã thận trọng bảo vệ các quyền của mọi người bằng cách giới hạn quyền lực của cả chính quyền liên bang lẫn các chính quyền các bang. Kết quả là, người dân Mỹ được tự do đi lại, tự quyết định về công ăn việc làm, tôn giáo và niềm tin về chính trị, tìm đến tòa án để có công lý và sự bảo vệ khi họ cảm thấy những quyền này bị vi phạm.

********************************

KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH QUYỀN HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, năm 2000

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại ViệtNam

CÁC BƯỚC CỤ THỂ CẢI CÁCH LUẬT THƯƠNG MẠI

J.Peter Byrne

Luật thương mại của mỗi nước phải phản ánh được các truyền thống về văn hoá, thương mại và pháp lý đặc thù của nước đó. Tuy nhiên, nó cũng phải đáp ứng được tính hợp lý về kinh tế và phải được xây dựng trên những kinh nghiệm thực tiễn của các nước có nhiều kinh nghiệm trong các giao dịch thương mại. Phần này xem xét một số bước cụ thể nhằm cải cách hiệu quả luật thương mại tại một nước đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội để đi theo nền kinh tế thị trường và họ thấy rằng luật thương mại của mình không phù hợp với những thực tiễn mới.

Xây dựng luật hợp đồng hiện đại và hữu ích cần được ưu tiên. Như chúng tôi đã nhấn mạnh, hầu hết luật thương mại chỉ là sự cụ thể hoá luật hợp đồng đối với các hình thức giao dịch cụ thể. Nếu một nước có luật hợp đồng hiệu quả, thì các bên là doanh nghiệp có thể tham gia hàng loạt các giao dịch bằng những thoả thuận riêng rẽ được giải thích theo các luật lệ chung, mặc dù hợp đồng đó có thể có hiệu lực cao hơn hay thấp hơn so với bộ luật thương mại đầy đủ đang có hiệu lực. Nói cách khác, công việc kinh doanh có thể hoàn toàn bị tê liệt, nếu các bên không thể ký kết các hợp đồng có hiệu lực thi hành trong khi họ có thể đánh giá hợp lý hiệu lực pháp lý của các hợp đồng này.

Các luật mới cần do những người có chuyên môn áp dụng và những người này sẽ sớm xuất hiện trong tương lai. Nhiều nước kinh tế thị trường nhận thấy bị cản trở do thiếu các luật sư, kế toán viên, thẩm phán và những nhà quản lý được đào tạo đầy đủ. Mặc dù thị trường có thể khích lệ đáng kể con người đào tạo những ngành nghề này, song cũng cần phải có thời gian để hệ thống giáo dục có thể thích nghi. Trong khi nguồn nhân lực như vậy chưa có, sẽ là sai lầm nếu các nước ban hành các luật, theo đó đòi hỏi các bên và các luật sư phải có sự sành sỏi nhất định mà vốn dĩ họ hầu như không có. Chẳng hạn như, sẽ là sai lầm của một nước khi không có đội ngũ làm luật có trình độ cao song lại đưa ra các phương pháp hoặc thuật ngữ của Bộ luật Dân sự Ðức, hoặc khi không có nhiều chuyên gia tài chính có kinh nghiệm nhưng lại đưa ra một phiên bản luật giống chương 11 Bộ luật Phá sản Hoa Kỳ. Tốt hơn là nên đưa ra các luật đơn giản hơn, có tính trực tiếp hoặc rõ ràng hơn cho thời điểm hiện tại.

Công việc soạn thảo luật thương mại cần giao cho một nhóm các học giả và luật sư hành nghề kết hợp với việc tạo điều kiện thảo luận rộng rãi với các nhóm có quyền lợi bị ảnh hưởng. Bất chấp các quy định hiến pháp của một nước về công tác ban hành luật, công việc soạn thảo luật thương mại cần được giao cho nhóm các luật sư không còn tham gia vào con đường chính trị. Các chính trị gia không hiểu nhiều về các yếu tố kỹ thuật của luật thương mại và do đó có thể sẽ ban hành các quy định có lợi cho các nhóm có quyền lợi được thiên vị. Sẽ là nguy hiểm nếu giao công việc soạn thảo luật cho một nhóm quá xa rời với sự cần thiết của các tình huống thương mại hiện tại. Do đó, mặc dầu các nhà soạn thảo luật cần tham vấn các nhóm có quyền lợi bị ảnh hưởng trong tất cả các giai đoạn soạn thảo, song cũng nên tạo cơ hội cho công chúng đóng góp ý kiến rộng rãi về dự thảo luật trước khi thông qua. Chẳng hạn như luật về các công cụ thanh toán phải được các ngân hàng chấp nhận rộng rãi, do họ là đối tượng thực thi chủ yếu luật này. Tương tự như vậy, đại diện cho quyền lợi của giới tiêu dùng cần phải có điều kiện để phát hiện ra những dự thảo luật có thể gây thiệt thòi cho người tiêu dùng.

Các luật sư nước ngoài cần chuyển xuống vị trí là nhà tư vấn. Luật sư của các nước có luật thương mại vận hành tốt hoàn toàn và có thể trợ giúp đắc lực cho các luật sư trong nước thông qua đào tạo và hỗ trợ trong quá trình soạn thảo, vì họ có chuyên môn và những quan điểm mà luật sư trong nước không có. Ngoài ra, luật thương mại của các nước sẽ trở lên tương đồng với nhau hơn khi so sánh với sự tác động của luật lên các thể chế văn hoá bản xứ, chẳng hạn như hôn nhân. Tuy nhiên, ý định “giao khoán” cho các luật sư nước ngoài soạn thảo luật thương mại ít khi mang lại các dự thảo luật hiệu quả. Các luật sư nước ngoài đôi khi thiếu đánh giá đầy đủ về truyền thống pháp luật và các điều kiện kinh doanh ở một nước để họ có thể tự mình soạn thảo luật một cách hiệu quả.

Ðược xây dựng dựa trên những mô hình phù hợp. Một số nước xã hội chủ nghĩa đã có luật thương mại từ những ngày đầu của chủ nghĩa xã hội. Trong một số trường hợp, các luật thương mại này là phù hợp và hiện đại vào thời điểm năm 1945 và được hiện đại hoá thành công thông qua các lần sửa đổi luật; bộ luật thương mại của Cộng hoà Séc là một ví dụ. Trong những trường hợp khác, nhiều luật thương mại là lạc hậu vào thời điểm năm 1945 và cần được bãi bỏ. Tuy nhiên, ở các trường hợp khác, luật đó có thể là hoàn chỉnh vào thời điểm năm 1945, song phạm vi điều chỉnh của nó đã thay đổi vượt ra ngoài phạm vi công nhận vào những năm 90. Về mặt kỹ thuật, đưa ra một lựa chọn đúng đắn không có gì khó khăn do các luật sư am hiểu có thể đánh giá những luật cũ dựa trên những diễn biến hiện tại đang xảy ra. Nhưng về mặt chính trị, lựa chọn đó có thể rất đau đớn, đặc biệt tại những nước mà quan niệm về độc lập hoặc thịnh vượng trước đây có sự gắn bó chặt chẽ với luật thương mại cũ không còn hiệu quả.

Việc lựa chọn mô hình nước ngoài nào cho xây dựng luật cũng khó khăn không kém. Một nước có thể nghiêng theo hệ thống pháp luật của quốc gia mà họ có mối quan hệ truyền thống hoặc có chung nguồn gốc sắc tộc, nhưng có thể bản thân luật thương mại của quốc gia đó là phức tạp và vượt quá mức cần thiết. Nói chung, những nước đang nổi lên nên đi theo các đạo luật mới được thông qua gần đây của những quốc gia có nhiều điểm đồng nhất về thương mại và pháp luật với họ. Lẽ dĩ nhiên, các mô hình đó cần phải được đánh giá thận trọng về tính hữu ích trong quá trình xây dựng luật của quốc gia đang soạn thoả.

*****************************************************

LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI: NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Ấn phẩm của Chưong trình Thông tin Quốc tế, tháng 8/1994

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

CÁC LOẠI HÌNH LUẬT THƯƠNG MẠI

J.Peter Byrne

Phần trước trình bày những nguyên tắc chung là nền tảng của luật thương mại hiện đại. Phần này trình bày những nhánh chính của luật thương mại và những nguyên tắc cụ thể áp dụng cho từng nhánh. Trước hết, cần đề cập đến tác động quan trọng của luật tài sản.

Các quyền tài sản rõ ràng về đất đai, các tài sản kinh doanh hay sở hữu trí tuệ sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Chủ sở hữu tài sản sẽ sẵn sàng hơn trong việc đầu tư để cải thiện khoản tài sản này nếu họ được đảm bảo là sẽ có lợi nhờ việc đầu tư. Tương tự như vậy, những nghi ngại về phạm vi hay thời hạn của quyền sở hữu sẽ gây cản trở lớn cho những cố gắng của các bên nhằm hợp tác hay trao đổi nguồn lực nhằm gia tăng giá trị của họ. Sự bình đẳng hay cơ sở của việc phân loại quyền tài sản đặt ra những vấn đề pháp lý vượt quá phạm vi điều chỉnh của luật thương mại, nhưng sự minh bạch của quyền tài sản có tác động rất lớn đến hiệu quả của các giao dịch thương mại.

Hợp đồng. Luật hợp đồng cơ bản là phương tiện để xác lập quan hệ hợp đồng, là những luật lệ quy định việc giải thích, thực hiện hợp đồng và quy định các chế tài giải quyết vi phạm. Luật hợp đồng không chỉ điều chỉnh các giao dịch thương mại mà còn mở rộng điều chỉnh nhiều hình thức cam kết nhất trí khác như giao dịch của người tiêu dùng, hợp đồng xây dựng và quan hệ lao động. Vì phạm vi điều chỉnh rộng, nên các thuật ngữ của luật rất khái quát.

Luật hợp đồng là nền tảng cho tất cả các hình thức luật thương mại khác vì mỗi luật thương mại trước hết là sự chi tiết hoá các dạng thoả thuận thương mại chuyên biệt. Những luật thương mại được cụ thể hoá này có thể được coi là luật lệ cho các hình thức giao dịch riêng biệt và được các thương gia lựa chọn do họ phải tốn nhiều thời gian để xem xét các vấn đề. Nhưng những luật thương mại chuyên biệt chi tiết hơn làm giảm bớt những khó khăn này bằng cách áp dụng những luật lệ này cho một kiểu giao dịch phù hợp mà không cần các bên phải dẫn ra các luật lệ đó. Tuy nhiên, tầm quan trọng của luật hợp đồng là rất rõ ràng vì các bên có thể tự do thay đổi các luật lệ bằng những điều khoản trong hợp đồng của riêng mình.

Bán hàng. Luật bán hàng là ví dụ điển hình của một lĩnh vực trong luật thương mại và là sự cụ thể hoá luật hợp đồng để điều chỉnh một loại hình giao dịch quan trọng cụ thể. Việc mua bán hàng hoá hữu hình trực tiếp thanh toán ngay không cần có bất kỳ một luật nào điều chỉnh. Thoả thuận mua bán một khối lượng hàng hoá trong tương lai với một mức giá nào đó được coi là một hợp đồng và dĩ nhiên do luật hợp đồng duy nhất điều chỉnh. Tuy nhiên, nhiều giao dịch bán hàng được thực hiện mà không có luật sư do các thương nhân bận rộn ở xa nhau, tiến hành giao dịch bằng thư từ, điện thoại, fax, sử dụng các đơn đặt hàng in sẵn, các mẫu vận đơn và hoá đơn. Do đó, cần có một luật bán hàng cụ thể để giải quyết những vấn đề như thời điểm và cách thức xác lập hợp đồng khi giao dịch diễn ra, bên nào phải chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hoá hay chịu rủi ro khi hàng hoá hư hỏng và chế tài nào sẽ được áp dụng khi hàng hoá không phù hợp với yêu cầu của bên mua hay khi bên mua không thanh toán. Như chúng tôi đã đề cập, các bên vẫn có thể tự do quy định các điều khoản điều chỉnh những vấn đề này, song hầu hết các giao dịch bán hàng diễn ra quá thường xuyên đến nỗi có lúc phát sinh chi phí khi giao kết hợp đồng theo tập quán gây ra.

Các công cụ thanh toán. Các giao dịch thương mại diễn ra thuận lợi nhờ có các hình thức thanh toán đa dạng và thuận tiện. Giao dịch bằng tiền mặt không còn phù hợp lắm trong các giao dịch thương mại. Kinh doanh hiện đại sử dụng nhiều công cụ thanh toán và hầu hết các công cụ này đều sử dụng các tiện ích ngân hàng. Mỗi giao dịch có thể được coi là một hợp đồng giữa người thanh toán, người được thanh toán và ngân hàng. Nhưng sẽ là không hiệu quả nếu phải xác lập một hợp đồng mới cho mỗi lần thanh toán, do đó các nước đề ra luật gồm các quy định hoàn toàn tiên liệu được để điều chỉnh các hình thức thanh toán. Thực tế, những giao dịch thanh toán này được quy định tỉ mỉ tạo điều kiện cho các giao dịch ngân hàng diễn ra hiệu quả và tăng mức độ an toàn cho người được thanh toán. Họ không còn nghi ngờ về hiệu lực của các hình thức thanh toán.

*****************************************************

LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI: NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Ấn phẩm của Chưong trình Thông tin Quốc tế, tháng 8/1994

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam

LUẬT ĐIỀU CHỈNH NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

J.Peter Byrne

Kinh tế thị trường tạo ra của cải cho xã hội thông qua việc trao đổi. Nhìn chung, các bên, vì mục đích riêng của mình, sẽ trao đổi hàng hoá và dịch vụ khi họ tin rằng việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ đó sẽ mang lại thêm lợi ích cho họ. Khi các bên đồng ý trao đổi, mỗi bên cần những gì mà họ nhận được hơn là những gì họ bỏ ra để trao đổi . Qua đó, các bên đều mong muốn được lợi hơn thông qua việc trao đổi. Nếu thị trường có thể vận hành một cách hoàn hảo, việc trao đổi không ngừng có thể phân bổ mọi nguồn lực tới các bên cần nó nhất, thúc đẩy tính hiệu quả trong việc tạo ra của cải xã hội và thỏa mãn mong muốn của mọi người.

Khác với nền kinh tế chịu sự quản lý của nhà nước, kinh tế thị trường dựa trên vô số các quyết định và sự nỗ lực của từng cá nhân. Các quyết định của người bán và người mua tạo ra cung và cầu, quyết định giá cả và cho biết số lượng hàng hoá cần sản xuất ra. Sự can thiệp quá lớn của chính phủ vào quá trình này sẽ dẫn tới sự thiếu hụt, dư thừa, hàng hóa kém chất lượng, lạc hậu và kém hiệu quả về kinh tế. Cơ chế can thiệp đó có thể còn không khuyến khích các cá nhân tham gia tích cực vào hoạt động sản xuất.

Luật thương mại dành một phần rất lớn để thúc đẩy và bảo vệ cơ chế trao đổi thị trường nói trên. Bốn nguyên tắc cơ bản sau chi phối hầu hết các qui định của luật thương mại. Ðó là:

Quyền tự do hợp đồng. Quyền tự do của các bên trong việc quyết định có tham gia vào một giao dịch cụ thể và đồng ý về các điều khoản của giao dịch đó hay không là nền tảng pháp lý của nền kinh tế thị trường. Từng cá nhân có thể tham gia vào các mối quan hệ pháp lý một cách nhanh chóng và trực tiếp mà không có bất kỳ sự can thiệp chính trị hay ngoại giao nào. Do vậy, các bên có thể đưa ra các quyết định kinh tế tức thì, có liên quan trực tiếp đến sự thành công của họ. Ngoài ra, các bên sẽ tự quyết định sự được mất trong phần lớn các cuộc thương lượng của họ (với điều kiện là không bên nào bị ở vị thế quá bất lợi).

Luật thương mại chỉ có hiệu lực ràng buộc các nghĩa vụ pháp lý khi các bên tham gia được cho là đã tự nguyện gánh vác các nghĩa vụ đó. Một bộ luật thương mại có thể qui định cụ thể khi nào một bên đã thực sự gánh vác các nghĩa vụ pháp lý đó, ví dụ như là việc xác định ranh giới khi việc thỏa thuận về một thương vụ nào đó trở thành một cam kết mang tính hợp đồng. Nhưng các bên có thể tự thỏa thuận các điều khoản cho các cam kết của họ. Thậm chí ngay cả khi khi bộ luật thương mại có các qui định về việc thực hiện các giao dịch cụ thể nào đó, các bên vẫn có quyền tự do bãi bỏ hoặc thay đổi các quy tắc áp dụng. Một ví dụ điển hình là Ðiều 6 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Bán hàng hoá quốc tế, cho phép các bên “không phải áp dụng Công ước này hoặc…làm giảm bớt hay thay đổi hiệu lực của bất kỳ điều khoản nào của Công ước này,”

Tất nhiên, tự do hợp đồng cũng có những giới hạn của nó. Nhìn chung, các hợp đồng nhằm thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật như buôn bán thuốc phiện bất hợp pháp, sẽ không xác lập các quyền hợp pháp. Bản thân các hợp đồng khác có thể có hiệu lực,song có thể dẫn tới các chế tài pháp lý độc lập, chẳng hạn như hợp đồng gây cản trở buôn bán cạnh tranh. Trong cả hai ví dụ trên, nói chung luật trước hết sẽ bảo vệ cho những người không phải là các bên của hợp đồng. Ngoài ra, một số bên như người tiêu dùng hay những nhóm đối tượng thiểu số có thể còn có những bảo vệ đặc biệt trong các đàm phán bất lợi với điều kiện là họ không thể tự bảo vệ đầy đủ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, các nước thường cho phép các bên mua bán tự đàm phán với nhau và không can thiệp sâu vào các hợp đồng riêng chẳng hạn như bằng cách ấn định mức giá “phải chăng” hay các tiêu chuẩn chất lượng bắt buộc.

Bảo vệ các mong muốn hợp lý. Các bên tham gia các giao dịch thương mại thường dựa vào luật để bảo vệ các quyền của mình trong tương lai. Thường thì không thể hoặc không hiệu quả nếu các bên đồng thời ngừng việc thực hiện. Chẳng hạn, một người thợ thủ công nhận làm đồ đạc đặt đóng giờ đây sẽ dựa vào luật để buộc người mua thực hiện nghĩa vụ nhận đồ đạc và thanh toán tiền trong tương lai. Các quyền và nghĩa vụ đó có thể do luật áp dụng hay do thoả thuận giữa các bên xác lập. Toà án nên thận trọng khi thi hành các điều khoản trong thoả thuận, mà thông qua các điều khoản đó các bên đã thoả thuận bảo vệ mình trước những bất trắc trong tương lai.

Nhiều khi, khó có thể bảo vệ được các mong muốn của cả hai bên. chẳng hạn như người mua có thể ký hợp đồng với người bán buôn nào đó để mua cam vào một ngày nhất định theo mức giá nhất định. Thời tiết lạnh làm hỏng rất nhiều cam khiến cho mức giá hiện thời hay “giao ngay” tăng kỷ lục, khiến người bán giao cam bị lỗ lớn. Bên bán có thể đã không dự liệu được việc giá tăng cao như vậy, nhưng bên mua đã ký hợp đồng có kỳ hạn chủ yếu nhằm giúp họ tránh việc tăng giá đột ngột. Luật bán hàng của các nước khác nhau về cách thức giải quyết các tình huống bất ngờ này, song tất cả đều áp dụng việc phân bổ những rủi ro có thể thấy trong hợp đồng giữa các bên.

Ngăn chặn sự gian lận và lạm quyền. Các quyết định của thị trường không thể phân bổ các nguồn lực một cách có hiệu quả trừ phi các quyết định đó là sản phẩm của sự lựa chọn tự do và được thông tin. Các giao dịch thương mại có sự gian lận hay cưỡng ép sẽ không có hiệu lực pháp luật. Những giao dịch đó còn làm mất đi lòng tin của mọi người vào thị trường và hệ thống pháp luật.

Không có gì ngạc nhiên khi luật thương mại nghiêm cấm sự gian lận và cưỡng ép. Chẳng hạn, các hợp đồng được xác lập trên cơ sở cưỡng ép hay gian lận của một bên nào đó sẽ không có hiệu lực, ký hậu giả mạo séc cũng không có hiệu lực và những con nợ đang trong quá trình phá sản không được hưởng các quyền lợi từ việc phá sản. Ðiều này chỉ áp dụng trong phạm vi nạn nhân của sự gian lận không thể bảo vệ mình mà không gây tổn hại đến bên thứ ba vô can. Ví dụ, theo luật của một số nước thì ai có được hàng hoá thông qua gian lận sẽ không có quyền sở hữu hợp pháp đối với hàng hoá đó, nhưng có thể chuyển quyền sở hữu hợp pháp hàng hoá đó cho một người mua vô can nào đó vì mục đích giá trị.

Giảm chi phí giao dịch. Luật thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia và thực hiện các giao dịch với chi phí thấp nhất cùng với hạn chế tối thiểu sự gian lận. Nếu chi phí thực hiện giao dịch cao thì các bên sẽ bỏ lỡ các cơ hội có lợi. Do vậy, các thủ tục cần thiết để xác lập một hợp đồng có hiệu lực, chẳng hạn như thủ tục chứng thực của cơ quan công chứng trong một số hệ thống pháp lý, đã không còn nữa. Một ví dụ khác nữa là hệ thống nộp thông báo về các giấy tờ bảo đảm theo Ðiều 9 Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ đã được đơn giản hoá.

Có thể cách quan trọng nhất mà bộ luật thương mại hiện đại đã làm để giảm bớt các chi phí giao kết hợp đồng là quy định các điều kiện chuẩn cho những thoả thuận cụ thể. Chẳng hạn như các luật hiện đại điều chỉnh về mua bán hàng hoá chủ yếu là các quy định sẵn có về phân bổ rủi ro và hướng dẫn việc thực hiện, cho dù các bên vẫn có thể tự do thay đổi các quy định áp dụng thông qua thỏa thuận. Việc áp dụng các quy định đó hoàn toàn tiên liệu được khiến các bên không cần thiết phải quy định trong thoả thuận của mình những vấn đề và các trường hợp bất ngờ xa vời, từ đó đơn giản hoá đáng kể quá trình ký kết thoả thuận. Một ví dụ khác về việc đưa thêm điều khoản đó là luật điều chỉnh phương thức thanh toán bằng séc; mặc dù phần lớn các điều khoản về mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng có thể thay đổi theo thoả thuận, song việc sử dụng séc trong thương mại đã trở lên thuận lợi hơn thông qua việc tiêu chuẩn hoá pháp lý các quyền ghi trong loại séc thường thấy này.

**************************************************

LUẬT KINH DOANH VÀ THƯƠNG MẠI: NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Ấn phẩm của Chưong trình Thông tin Quốc tế, tháng 8/1994

bản dịch đại sứ quán hoa kỳ tại việ tnam

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HIẾN PHÁP HOA KỲ

James Madison tuyên bố “khi xây dựng một hệ thống mà chúng ta mong muốn sẽ tồn tại trong một thời gian dài, chúng ta không nên bỏ qua những thay đổi trong khoảng thời gian đó”. Hiến pháp được xây dựng để phục vụ lợi ích của người dân – dù giàu hay nghèo, người miền Bắc hay miền Nam, nông dân, công nhân và doanh nhân. Trong suốt nhiều năm, Hiến pháp đã được vận dụng đáp ứng những nhu cầu thay đổi của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Các đại biểu dự Đại hội Lập hiến tin tưởng mạnh mẽ vào sự lãnh đạo của đa số, nhưng họ muốn bảo vệ các nhóm thiểu số chống lại bất kỳ sự bất công nào của đa số. Họ đã đạt được mục đích này thông qua việc phân chia và cân bằng quyền lực của chính phủ quốc gia. Những mục tiêu cơ bản khác của hiến pháp còn có sự tôn trọng quyền của cá nhân và các bang, nhân dân cầm quyền, sự tách rời giữa nhà thờ và nhà nước, và vị thế tối cao của chính phủ quốc gia.

Hiến pháp đã được sửa đổi 27 lần, trong đó có Tuyên ngôn Nhân quyền. Các điều bổ sung sửa đổi có thể được đề xuất bởi hai phần ba thành viên trong mỗi viện hay bởi một đại hội toàn quốc do Quốc hội triệu tập theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp của hai phần ba số bang. Một Điều bổ sung sửa đổi trở thành bộ phận của Hiến pháp sau khi được phê chuẩn hoặc bởi cơ quan lập pháp của ba phần tư số bang hoặc bởi các đại hội ở ba phần tư số bang. Quốc hội quyết định nên sử dụng hình thức phê chuẩn nào và thời gian các bang phải xem xét mỗi Điều bổ sung sửa đổi. Trong nhiều trường hợp, Quốc hội chọn thời hạn bảy năm để xem xét một Điều bổ sung sửa đổi.

Các đại biểu dự Đại hội Lập hiến biết rằng họ không thể soạn thảo luật cho mọi khả năng tình huống. Do đó, họ trao cho Quốc hội quyền thông qua tất cả các luật “cần thiết và hợp lý” để thực hiện các quyền lực Hiến pháp trao cho Tổng thống, Quốc hội, và các tòa án liên bang. Quốc hội đã thông qua luật thành lập những tổ chức hành chính như Cục Hàng không Liên bang và Cục Bưu điện. Quốc hội cũng đã thông qua luật điều tiết thương mại liên bang, qua đó kiểm soát nhiều khía cạnh của nền kinh tế Mỹ.

PHÁN QUYẾT CỦA TÒA ÁN. Thẩm phán liên bang và bang áp dụng Hiến pháp trong nhiều vụ án. Tòa án Tối cao có quyền lực cuối cùng trong việc diễn đạt ý nghĩa của Hiến pháp trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào. Tòa án có quyền xem xét lại về pháp lý – tức là họ có thể tuyên bố một bộ luật là bất hợp hiến. Tòa án Tối cao có quyền này do phán quyết của Chánh án John Marshall trong vụ Marbury kiện Madison năm 1803. Kể từ đó, tòa án đã phán quyết hơn 100 bộ luật liên bang và hàng trăm bộ luật bang là bất hợp hiến.

HÀNH ĐỘNG CỦA TỔNG THỐNG. Những Tổng thống mạnh đã sử dụng quyền lực của mình để mở rộng những ngôn từ đơn giản trong Điều 2 của Hiến pháp thành nguồn quyền lực mạnh mẽ của tổng thống. Những Tổng thống mạnh như vậy có George Washington, Thomas Jefferson, Andrew Jackson, Abraham Lincoln, Theodore Roosevelt, Woodrow Wilson, Franklin D.Roosevelt, và George W. Bush. Ví dụ, Washington đã biến Tổng thống trở thành nhân vật hàng đầu trong lĩnh vực đối ngoại. Lincoln đã sử dụng những quyền trong điều này để giải phóng nô lệ nổi loạn ở các bang miền Nam trong cuộc Nội chiến (1861-1865).

TẬP QUÁN đã làm cho Hiến pháp trở nên linh hoạt và đã tăng thêm quyền của chính phủ quốc gia. Ví dụ, nội các của Tổng thống đã phát triển từ những nội dung trong Điều 2 cho phép người đứng đầu “yêu cầu đóng góp ý kiến bằng văn bản của cán bộ phụ trách từng bộ phận điều hành, về bất kỳ chủ đề nào liên quan đến nhiệm vụ của từng bộ phận đó”.

HÀNH ĐỘNG CỦA BANG VÀ ĐẢNG PHÁI. Hiến pháp quy định về một phương thức chung để bầu cử Tổng thống. Hiến pháp không đề cập tới các đảng phái chính trị. Nhưng luật của các bang và hoạt động của các đảng phái chính trị đã làm thay đổi hệ thống bầu cử trong hiến pháp thành những chiến dịch vận động và những cuộc bầu cử thú vị diễn ra ngày nay.

Hiến pháp đã tiếp tục phát triển đáp ứng những yêu cầu của một xã hội ngày càng phát triển thông qua tất cả những phương thức trên. Nhưng tinh thần và nội dung của Hiến pháp vẫn nhất quán. Con người mỗi thế hệ đã vận dụng các điều khoản của Hiến pháp để giải quyết các vấn đề của mình theo những cách có vẻ là hợp lý đối với họ.

Chính khách người Anh William E. Gladstone đã mô tả Hiến pháp là “tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người”. Trong một thế giới đổi thay và tranh đấu, nhân dân Mỹ không có tài sản nào quý giá hơn văn kiện vĩ đại này. Toàn văn Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, kèm theo chú giải, được trình bày trong những trang tiếp theo. Sau toàn văn là phần giải thích.

********************************************************

HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VÀ CHÚ THÍCH
Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004

Phỏng theo TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA WORLD BOOK, bản quyền của Công ty World Book năm 2004.
Được phép của Nhà xuất bản. Địa chỉ trên Internet: ww.worldbook.com

bản dịch đại sứ quán hoa kỳ tại việ tnam

CÁC ĐIỀU BỔ SUNG SỬA ĐỔI CỦA HIẾN PHÁP HOA KỲ CÓ CHÚ THÍCH

 CÁC ĐIỀU NÀY bổ sung vào và là điều bổ sung sửa đổi của Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ được Quốc hội đề xuất và được các bang phê chuẩn theo Điều 5 của Hiến pháp ban đầu.

Mười điều bổ sung sửa đổi đầu tiên, hay còn được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền, được đề xuất ngày 25/9/1789 và được phê chuẩn ngày 15/12/1791. Ban đầu, các Điều bổ sung sửa đổi chỉ hạn chế Chính phủ Liên bang. Nhưng Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 tuyên bố rằng không bang nào có thể tước đoạt cuộc sống, quyền tự do, hay tài sản của bất kỳ ai mà không thông qua “quy trình pháp lý phù hợp”. Tòa án Tối cao đã diễn đạt những từ này có nghĩa là hầu hết Tuyên ngôn Nhân quyền được áp dụng để giới hạn quyền của các bang cũng như của các chính quyền địa phương.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 1 TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TỰ DO NGÔN LUẬN VÀ BÁO CHÍ; QUYỀN HỘI HỌP VÀ KIẾN NGHỊ

Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình.

CHÚ THÍCH: Nhiều quốc gia chỉ có một tôn giáo và một nhà thờ chính thống (chính thức) và hỗ trợ bằng ngân quỹ của chính phủ. Điều bổ sung sửa đổi này nghiêm cấm Quốc hội thành lập hoặc bằng bất cứ cách thức nào khác hỗ trợ cho một nhà thờ chính thống như vậy. Điều này được giải thích là cấm chính phủ tán thành hay hỗ trợ cho các học thuyết tôn giáo. Ngoài ra, Quốc hội có thể không thông qua các đạo luật hạn chế việc thờ cúng, ngôn luận hoặc báo chí, hoặc ngăn cản nhân dân hội họp một cách hòa bình. Quốc hội cũng không được ngăn cản nhân dân yêu cầu chính phủ bồi thường do những đối xử bất công. Tòa án Tối cao giải thích Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 áp dụng Điều bổ sung sửa đổi thứ nhất đối với các bang cũng như đối với chính phủ liên bang.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 2 QUYỀN MANG VŨ KHÍ

Xét thấy lực lượng dự bị có tổ chức nghiêm chỉnh là rất cần thiết cho nền an ninh của một quốc gia tự do, quyền của dân chúng được giữ và sử dụng vũ khí sẽ không bị vi phạm.

CHÚ THÍCH: Sửa đổi này được giải thích theo hai cách. Một số người tin rằng nó cho phép các công dân bình thường quyền sở hữu các loại vũ khí. Những người khác cho rằng nó chỉ cho phép các bang quyền được duy trì quân đội riêng của họ.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 3 NƠI Ở CỦA BINH LÍNH

Không một quân nhân nào trong thời bình được đóng quân trong bất cứ nhà dân nào nếu không được sự đồng ý của chủ nhà, và ngay trong thời chiến cũng chỉ theo qui định của luật pháp.

CHÚ THÍCH: Điều bổ sung sửa đổi này phát sinh trực tiếp từ một vụ kiện cũ chống lại người Anh khi bắt buộc nhân dân phải nhận binh lính vào ở trong nhà của họ.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 4 LỆNH TRUY NÃ VÀ BẮT GIỮ

Quyền của con người được đảm bảo về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và tài sản khỏi mọi sự khám xét và bắt giam, quyền này sẽ không được vi phạm. Không một lệnh, trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng căn cứ vào lời tuyên thệ hoặc sự xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ.

CHÚ THÍCH: Biện pháp này không ngăn cấm các nhà chức trách pháp lý truy nã, thu giữ hàng hóa hay bắt giữ người. Nó chỉ yêu cầu đơn giản rằng trong hầu hết các trường hợp các nhà chức trách phải có lệnh truy nã của tòa án khi chứng minh được yêu cầu cần thiết phải có lệnh này. Tòa án Tối cao quy định rằng các bằng chứng có được do vi phạm Điều bổ sung sửa đổi thứ 4 sẽ không được coi là bằng chứng trong phiên tòa xét xử tội phạm.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 5 QUYỀN TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Không một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình và cáo trạng của Bồi thẩm đoàn, trừ những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp hiểm nguy. Không một ai sẽ bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.

CHÚ THÍCH: Một tội phạm tử hình là một người bị trừng phạt bằng cái chết. Một tội phạm bị tước quyền công dân là một người có thể bị trừng phạt bằng cái chết hoặc tống giam. Điều sửa đổi này bảo đảm rằng không ai phải hầu tòa với tư cách là tội phạm liên bang như vậy trừ khi một bồi thẩm đoàn đã kết tội (buộc tội) ông ta hoặc bà ta. Bồi thẩm đoàn là một nhóm người đặc biệt được lựa chọn để quyết định xem có đủ bằng chứng chống lại một người đang bị kiện hay không. Một người không thể bị đe dọa hai lần (xét xử hai lần) cho cùng một tội bởi cùng một chính phủ. Tuy nhiên họ có thể bị xét xử lần thứ hai nếu bồi thẩm đoàn không thể nhất trí về lời tuyên án, nếu vụ án bị coi là sai vì một số lý do, hoặc nếu họ yêu cầu một phiên tòa xét xử mới. Điều sửa đổi này cũng bảo đảm rằng một người không thể bị buộc phải làm chứng chống lại chính mình. Điều khoản về quy trình tố tụng đúng, tuyên bố rằng không một người nào bị tước đi cuộc sống, tự do hay tài sản mà không có “một tiến trình tố tụng đúng” là một trong những điều khoản quan trọng nhất của Hiến pháp. Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 giữ nguyên các cụm từ này nhằm hạn chế quyền hạn của các bang. Cụm từ này phản ánh ý tưởng cho rằng cuộc sống, tự do hay tài sản của một người không phải phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệm ý của các quan chức chính phủ. Ý tưởng này có nguồn gốc từ bộ Magna Carta, quy định rằng quốc vương Anh không thể bắt giam hay làm hại một người “trừ khi do phán quyết theo luật pháp của các Thượng Nghị sỹ hoặc theo luật của đất nước". Tòa án Tối cao đã áp dụng điều khoản về quy trình tố tụng đúng – đây là một khoản trong Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 hạn chế quyền hạn của các bang – trong nhiều tình huống khác nhau. Cho đến giữa thế kỷ XIX, tòa án đã sử dụng điều khoản về quy trình tố tụng đúng để chống lại các điều luật ngăn cản nhân dân sử dụng tài sản của họ theo ý muốn. Ngày nay, tòa án sử dụng điều khoản về quy trình tố tụng đúng để chống lại các điều luật can thiệp vào quyền tự do cá nhân. Điều sửa đổi này cũng nghiêm cấm chính phủ lấy tài sản của cá nhân kể cả vì mục đích công mà không có khoản đền bù xứng đáng. Quyền lấy tài sản cá nhân sử dụng cho mục đích công của chính phủ được gọi là quyền sung công tài sản. Các chính phủ sử dụng nó nhằm đòi đất tư để xây dựng quốc lộ, trường học và các cơ sở hạ tầng công cộng khác, tuy nhiên họ phải trả cho chủ sở hữu đất một khoản đền bù công bằng.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 6 QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG

Trong mọi trường hợp truy tố hình sự, bị cáo có quyền được xét xử một cách nhanh chóng và công khai bởi một Bồi thẩm đoàn công bằng của bang hoặc khu vực nơi tội trạng xảy ra, nơi đã được pháp luật chỉ định trước; bị cáo phải được thông báo về tính chất và lý do buộc tội, được đối chất với các nhân chứng chống lại mình, được quyền triệu tập những nhân chứng để biện minh và được sự giúp đỡ của luật sư bào chữa.

CHÚ THÍCH: Một người bị buộc tội phải được xét xử công khai và thích hợp bởi một bồi thẩm đoàn vô tư không thành kiến. Yêu cầu có một phiên tòa công khai và nhanh chóng nảy sinh từ một thực tế là một vài vụ án chính trị ở Anh đã bị trì hoãn trong nhiều năm và sau đó được tổ chức xét xử bí mật. Những người bị buộc tội phải được thông báo về lời buộc tội chống lại họ và phải được phép gặp trực tiếp các nhân chứng chống lại họ. Nếu không, những người vô tội có thể bị trừng phạt nếu tòa án cho phép sử dụng lời khai của các nhân chứng vô danh làm bằng chứng. Điều sửa đổi này đảm bảo rằng các cá nhân bị xét xử có thể gặp mặt và kiểm tra chéo những người buộc tội họ. Cuối cùng, những người bị buộc tội phải có một luật sư bảo vệ cho họ nếu họ mong muốn như vậy. Nếu một bị đơn hình sự không thể thuê luật sư thì Tòa án Tối cao quy định phải chỉ định một luật sư đại diện cho người bị buộc tội đó.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 7 QUYỀN TRONG CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

Trong những vụ kiện tụng theo thông luật, nếu giá trị tranh chấp quá 20 đôla, thì quyền được xét xử bởi Bồi thẩm đoàn sẽ được tôn trọng và không một vụ việc nào đãđược Bồi thẩm đoàn xét xử lại phải xem xét lại lần nữa ở bất cứ tòa án nào của Hoa Kỳ, mà phải căn cứ theo các quy tắc của thông luật.

CHÚ THÍCH: Điều bổ sung sửa đổi thứ 6 yêu cầu các vụ án hình sự phải được xử án có hội thẩm. Điều bổ sung sửa đổi thứ 7 yêu cầu tương tự cho các vụ án dân sự nếu chi phí xử án lớn hơn 20 đô-la Mỹ. Điều sửa đổi này chỉ áp dụng cho các tòa án liên bang. Tuy nhiên, hầu hết hiến pháp của các bang đều yêu cầu xét xử có hội thẩm cho các vụ kiện dân sự cũng như hình sự.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 8 TIỀN BẢO LÃNH, TIỀN PHẠT VÀ HÌNH PHẠT

Không đòi hỏi những khoản tiền bảo lãnh quá cao, không áp đặt những khoản tiền phạt quá mức và không áp dụng những hình phạt dã man và khác thường.

CHÚ THÍCH: Tiền bảo lãnh, tiền phạt và hình phạt phải công bằng và nhân đạo. Trong vụ Furman kiện Georgia, năm 1972 Tòa án Tối cao đã quy định rằng án tử hình, hình phạt sau đó đã thực hiện, đã vi phạm điều sửa đổi này. Tòa án cho rằng án tử hình là hình phạt tàn nhẫn và bất thường do nó không được áp dụng công bằng và thống nhất. Sau quyết định đó, nhiều bang đã thông qua điều luật mới về hình phạt tử hình được xây dựng nhằm phù hợp với sự phản đối của Tòa án Tối cao. Tòa án quy định rằng án tử hình có thể được thực hiện trong các trường hợp tử hình nếu áp dụng một số tiêu chuẩn nhất định để tránh áp dụng án tử hình một cách tuỳ tiện và thất thường.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 9 QUYỀN CỦA NHÂN DÂN

Việc liệt kê một số quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp những quyền khác của người dân.

CHÚ THÍCH: Một số người lo sợ rằng việc liệt kê các quyền trong Tuyên ngôn Nhân quyền sẽ được giải thích là các quyền khác không được liệt kê sẽ không được bảo vệ. Điều bổ sung sửa đổi này được thông qua nhằm ngăn cản các giải thích sai lầm như vậy.

Tuyên ngôn Nhân quyền Điều bổ sung sửa đổi thứ 10 QUYỀN CỦA CÁC BANG VÀ CỦA NHÂN DÂN

Những quyền lực không được Hiến pháp trao cho Liên bang và không bị ngăn cấm đối với các bang, thì thuộc về các bang cụ thể hoặc nhân dân.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này được thông qua nhằm cam đoan rằng chính phủ quốc gia sẽ không nuốt chửng các bang. Nó xác nhận rằng các bang hoặc nhân dân có tất cả các quyền lợi mà chính phủ quốc gia không có. Ví dụ, các bang có quyền quản lý các vấn đề như kết hôn và ly dị.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 11 CÁC VỤ KIỆN CHỐNG LẠI CÁC BANG Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 4/3/1794 và được thông qua vào ngày 7/2/1795.

Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ không được giải thích với mục đích mở rộng ra các vụ tố tụng về luật pháp hay công lý mà công dân của một bang khác hoặc công dân và đối tượng của một nước khác dựa vào đó để khởi kiện hoặc truy tố một bang của Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này khiến cho công dân của một bang không thể kiện một bang khác ra tòa án liên bang. Điều sửa đổi này xuất phát từ vụ Chisholm kiện bang Georgia năm 1793, trong đó một người đàn ông từ Nam Carolina kiện bang Georgia về việc thừa kế. Bang Georgia cho rằng họ không thể bị kiện tại tòa án liên bang, tuy nhiên Tòa án Tối cao quy định rằng điều đó là có thể. Sau đó bang Georgia sẽ phát động một phong trào nhằm bổ sung điều sửa đổi này vào Hiến pháp. Tuy nhiên, các cá nhân vẫn có thể có các hành động chống lại chính quyền các bang tại tòa án liên bang để ngăn các chính quyền này không được tước bỏ các quyền hợp hiến của họ.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 12 BẦU TỔNG THỐNG VÀ PHÓ TỔNG THỐNG Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 9/12/1803 và được thông qua vào ngày 27/7/1804.

Các đại cử tri sẽ họp lại trong từng bang của họ và bằng lá phiếu bầu Tổng thống và Phó Tổng thống. ít nhất một trong hai người này sẽ không phải là cư dân cùng một bang với họ. Họ sẽ ghi vào lá phiếu tên người được bầu là Tổng thống và trên lá phiếu khác tên người được bầu làm Phó Tổng thống. Và họ sẽ lập ra các bản danh sách khác nhau những người bầu cho Tổng thống, những người bầu cho phó Tổng thống và cả số phiếu bầu cho mỗi người. Họ sẽ ký xác nhận vào những danh sách này, niêm phong và chuyển lên Chính phủ Hoa Kỳ, trình lên Chủ tịch Thượng viện. Chủ tịch Thượng viện trước sự hiện diện của Thượng viện và Hạ viện, sẽ mở tất cả các hồ sơ đã được chứng nhận và các phiếu bầu sẽ được đem ra đếm. Người có số phiếu nhiều nhất trong cuộc bầu cử cho Tổng thống sẽ đắc cử Tổng thống nếu con số này là đa số trong tổng số đại cử tri được chỉ định; nếu không ai đạt số phiếu như vậy thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu bầu Tổng thống trong những người có số phiếu bầu cao nhất, nhưng không quá 3 người. Nhưng trong việc bầu Tổng thống này, việc bỏ phiếu sẽ được tính theo các bang, đại diện của mỗi bang có một phiếu bầu. Số đại biểu qui định để tiến hành việc này gồm một hoặc các thành viên của hai phần ba các bang và phải có đa số các bang. (Nếu Hạ viện đã được trao quyền bầu cử mà không bầu ra Tổng thống [trước ngày 4 tháng 3 tiếp theo], thì Phó Tổng thống sẽ là quyền Tổng thống, cũng giống như trường hợp Tổng thống qua đời hoặc không đủ năng lực như Hiến pháp quy định). Người có số phiếu bầu nhiều nhất cho Phó Tổng thống sẽ đắc cử Phó Tổng thống nếu số phiếu này là đa số phiếu của tổng số đại cử tri được chỉ định; nếu không có ai được đa số phiếu, thì Thượng viện sẽ căn cứ vào hai người có số phiếu cao nhất trong danh sách để bầu ra phó Tổng thống. Số đại biểu cần thiết cho mục đích này gồm hai phần ba trong tổng số thượng nghị sĩ và đa số trong tổng số là tiêu chuẩn cần thiết để chọn lựa. Người nào không đủ tiêu chuẩn hợp hiến để đảm nhận chức vụ Tổng thống thì cũng không đủ tiêu chuẩn để được chọn làm Phó Tổng thống Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này quy định rằng các thành viên của Đại cử tri đoàn, được gọi là các đại cử tri, bầu một người làm Tổng thống và một người làm Phó Tổng thống. Điều sửa đổi này xuất phát từ cuộc bầu cử năm 1800. Lúc đó, mỗi đại cử tri bầu hai người, không xác định rõ bầu ai làm Tổng thống. Người nhận được nhiều phiếu nhất sẽ trở thành Tổng thống, và người có số phiếu thứ nhì sẽ làm Phó Tổng thống. Thomas Jefferson, ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ, và Aaron Burr, ứng cử viên phó tổng thống cũng của Đảng Dân chủ đã nhận được cùng một số lượng phiếu. Kết quả ngang bằng này đã đưa cuộc bầu cử vào Hạ viện do đảng đối lập, Đảng Liên bang, kiểm soát. Hạ viện cuối cùng đã chọn Jefferson nhưng quyết định mất quá nhiều thời gian khiến mọi người lo lắng rằng sẽ không thể chọn được Tổng thống trước ngày Lễ nhậm chức. Hạ viện cũng đã chọn một Tổng thống khác – John Quincy Adams vào năm 1825.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 13 BÃI BỎ CHẾ ĐỘ NÔ LỆ Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 31/1/1865 và được thông qua vào ngày 6/12/1865.

Khoản 1

Không một chế độ nô lệ hoặc lao dịch cưỡng bức nào có thể tồn tại ở Hoa Kỳ hoặc ở một nơi nào thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ, trừ trường hợp trừng phạt thích đáng đối với tội phạm hình sự mà đương sự phạm phải.

CHÚ THÍCH: Tuyên bố Giải phóng Nô lệ của Tổng thống Abraham Lincoln năm 1863 đã giải thoát cho các nô lệ tại Hợp bang vẫn còn đang nổi loạn. Điều sửa đổi này hoàn tất việc bãi bỏ chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ.

Khoản 2

Quốc hội sẽ có quyền thực thi điều này bằng quyền lập pháp tương ứng.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 QUYỀN CÔNG DÂN Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 13/6/1866 và được thông qua vào ngày 9/7/1868.

Khoản 1

Tất cả những người sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc được nhập quốc tịch ở Hoa Kỳ và thuộc thẩm quyền tài phán ở đó, đều là công dân của Hoa Kỳ và của bang mà họ sinh sống. Không một bang nào được ban hành hoặc thực thi bất cứ đạo luật nào nhằm hạn chế đặc quyền hoặc quyền bất khả xâm phạm của công dân Hoa Kỳ. Cũng không một bang nào có thể tước đoạt sinh mệnh, tự do hoặc tài sản của một cá nhân mà không theo một quy trình do luật định. Cũng không thể phủ nhận quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng của một cá nhân trong phạm vi thẩm quyền tài phán của bang đó.

CHÚ THÍCH: Mục đích cơ bản của điều sửa đổi này là nhằm trao cho các nô lệ cũ quyền công dân của Hoa Kỳ lẫn các bang nơi họ sống và nhằm bảo vệ họ khỏi sự phân biệt đối xử của các bang. Các điều khoản trong điều sửa đổi này xác định rõ tư cách công dân có được như thế nào. Tư cách công dân của bang là một phần của tư cách công dân quốc gia. Bằng cách sống trong một bang, mọi công dân Hoa Kỳ sẽ tự động trở thành công dân của bang đó. Tất cả những người đã được nhập tịch (trao tư cách công dân) theo luật đều là công dân Hoa Kỳ. Bất cứ ai được sinh ra tại Hoa Kỳ cũng là một công dân của quốc gia này bất kể quốc tịch của bố mẹ, trừ khi bố mẹ họ là đại diện ngoại giao của nước khác hoặc là kẻ thù trong thời kỳ chiếm đóng của chiến tranh. Các trường hợp như vậy được coi là các ngoại lệ do bố mẹ của họ không phải là “đối tượng của quyền tài phán” của Hoa Kỳ. Điều sửa đổi này không trao tư cách công dân cho những người Mỹ thổ dân đang sống trong các vùng bảo tồn, tuy nhiên Quốc hội đã thông qua một điều luật cho phép trao quyền công dân cho họ. Cụm từ "tiến trình tố tụng đúng" được giải thích là nhằm nghiêm cấm các bang vi phạm hầu hết các quyền mà Tuyên ngôn Nhân quyền bảo vệ khỏi sự hạn chế của chính phủ liên bang. Nó cũng được giải thích là nhằm bảo vệ các quyền khác bằng chính hiệu lực của nó. Tuyên bố rằng một bang không thể từ chối bất cứ ai “sự bảo vệ bình đẳng của pháp luật” đã đặt ra nền tảng cho nhiều quy định của Tòa án Tối cao về quyền công dân. Ví dụ, vụ án năm 1954 (Brown kiện Ban Giáo dục) đã tuyên bố sự phân biệt chủng tộc trong các trường công lập chính là sự phủ nhận đối với nguyên tắc bảo vệ bình đẳng theo pháp luật. Sau đó Tòa án Tối cao đã quy định rằng bất cứ dạng phân biệt chủng tộc nào được các chính quyền ủng hộ đều trái với Hiến pháp.

Khoản 2

Số Hạ nghị sĩ được phân chia theo tổng số nhân khẩu của các tiểu bang, [ngoại trừ những người da đỏ không phải nộp thuế]. Nhưng trong bất cứ một cuộc bầu cử đại cử tri (để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống Hoa Kỳ), bầu cử các Hạ nghị sĩ trong Quốc hội, các quan chức hành pháp và tư pháp của bang hoặc các thành viên của cơ quan lập pháp nơi đó, nếu quyền bầu cử của nam công dân tuổi 21 và là công dân Hoa Kỳ bị phủ nhận hoặc hoặc bị tước bỏ vì lý do nào đó (không kể trường hợp những người tham gia phiến loạn hoặc phạm các tội khác), thì số đại cử tri ở đó sẽ bị giảm bớt theo tỷ lệ giữa tổng số nam công dân và số nam công dân ở độ tuổi 21 tại bang đó.

CHÚ THÍCH: Phần này đề xuất hình phạt đối với các bang từ chối trao quyền bầu cử trong các cuộc bầu cử liên bang cho tất cả các công dân nam giới trưởng thành. Các bang hạn chế việc bầu cử có thể bị giảm số đại biểu của họ tại Hạ viện. Hình phạt này chưa bao giờ được thực hiện. Phần này đã được hủy bỏ bởi Điều bổ sung sửa đổi thứ 19 và 26.

Khoản 3

Những ai với tư cách là thành viên của Quốc hội, hoặc một quan chức của Hoa Kỳ, hoặc một thành viên của một cơ quan lập pháp của bang, hoặc quan chức hành chính hay tư pháp của bất cứ một bang nào đã tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp của Hoa Kỳ nhưng lại tham gia các cuộc nổi dậy hay phiến loạn chống lại Hiến pháp hoặc trợ giúp hay úy lạo kẻ thù, thì không thể là thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ trong Quốc hội, hoặc đại cử tri để bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, hoặc phụ trách một cơ quan dân sự hay quân sự nào của Hoa Kỳ hay của một bang nào đó. Nhưng Quốc hội có thể với 2/3 số phiếu của hai phần ba thành viên mỗi Viện để bác bỏ sự nghiêm cấm nói trên.

CHÚ THÍCH: Phần này chỉ đáng quan tâm về mặt lịch sử. Mục đích của nó là nhằm ngăn cản các quan chức liên bang đã từng tham gia vào Hợp bang không được trở thành quan chức liên bang nữa.

Khoản 4

Giá trị của những khoản nợ công cộng của Hoa Kỳ, được luật pháp đảm bảo, kể cả những khoản nợ để trả cho các khoản phụ cấp và tiền thưởng cho công việc phục vụ trấn áp các cuộc nổi dậy và phiến loạn, không bị chất vấn. Tuy nhiên Hoa Kỳ và bất cứ bang nào đều không thừa nhận hoặc thanh toán các khoản nợ hay trái vụ liên quan tới sự hỗ trợ các cuộc nổi dậy và phiến loạn chống lại Hoa Kỳ, hoặc đối với những yêu cầu bồi thường cho tình trạng mất mát nô lệ hoặc giải phóng nô lệ. Những khoản tiền, nghĩa vụ và yêu cầu loại này phải bị coi là phi pháp và không có giá trị.

CHÚ THÍCH: Phần này đảm bảo rằng các khoản nợ trong thời kỳ Nội chiến của Liên bang sẽ được thanh toán, tuy nhiên các khoản nợ của Hợp bang sẽ mất hiệu lực. Phần này cũng nói rằng các chủ nô cũ sẽ không được thanh toán cho các nô lệ đã được giải phóng.

Khoản 5

Bằng luật lệ thích hợp, Quốc hội có quyền triển khai xem xét điều khoản này.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 15 QUYỀN BỎ PHIẾU CỦA NGƯỜI MỸ GỐC PHI Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 26/2/1869 và được thông qua vào ngày 3/2/1870.

Khoản 1

Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế, dựa vào lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây.

CHÚ THÍCH: Những người Mỹ gốc Phi từng là nô lệ đã trở thành công dân theo các điều khoản của Điều bổ sung sửa đổi thứ 14. Điều bổ sung sửa đổi thứ 15 nghiêm cấm các bang không được từ chối trao quyền bầu cử cho các công dân vì lí do chủng tộc. Một vài bang miền Nam đã từ chối trao quyền bầu cử cho những người Mỹ gốc Phi mặc dù có Điều sửa đổi này cho đến những năm 1960, khi Quốc hội thông qua các đạo luật buộc thực hiện Bản sửa đổi và Tòa án Tối cao tuyên bố các hành vi và thủ tục pháp lý trái với Hiến pháp là các hành vi mà kết quả của chúng vi phạm các quy định của Hiến pháp.

Khoản 2

Quốc hội sẽ có quyền triển khai điều khoản này bằng luật lệ thích hợp.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 16 THUẾ THU NHẬP Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 12/7/1909 và được thông qua vào ngày 3/2/1913.

Quốc hội sẽ có quyền ban hành và thu các khoản thuế thu nhập có từ bất cứ nguồn nào mà không phân bổ tỷ lệ giữa các bang và không dựa vào bất cứ sự thống kê và điều tra dân số nào.

CHÚ THÍCH: Năm 1894, Quốc hội thông qua luật thuế thu nhập, nhưng Tòa án Tối cao tuyên bố rằng đó là thuế trực tiếp và phải được phân bố cho các bang và do vậy khiến việc thu thuế là không thể thực hiện được. Điều sửa đổi này cho phép Quốc hội thu thuế thu nhập mà không phải phân bố đều.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 17 BẦU CỬ TRỰC TIẾP THƯỢNG NGHỊ SỸ Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 13/5/1912 và được thông qua vào ngày 8/4/1913.

(1) Thượng viện của Hoa Kỳ sẽ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang do dân chúng ở đó bầu ra với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một lá phiếu biểu quyết. Ðại cử tri ở mỗi bang phải có đủ phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của đại cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất.

(2) Khi có chỗ trống trong số đại diện của tiểu bang trong Thượng viện, cơ quan hành pháp của bang đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào chỗ trống, với điều kiện là cơ quan lập pháp của bang đó trao quyền tạm thời cho cơ quan hành pháp cho đến khi nhân dân bầu chọn được người bổ sung vào những chỗ trống theo luật lệ sẵn có.

(3) Ðiều khoản này sẽ không được giải thích làm ảnh hưởng đến việc bầu cử hoặc nhiệm kỳ của thượng nghị sĩ được bầu ra, cho đến khi nó có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này lấy quyền bầu cử các Thượng Nghị sỹ từ tay cơ quan lập pháp của bang trao cho các cử tri của bang.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 18 LUẬT CẤM RƯỢU Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 18/12/1917 và được thông qua vào ngày 16/1/1919.

Khoản 1

[Một năm sau khi phê chuẩn điều khoản này của Hiến pháp, việc sản xuất, mua bán hoặc chuyên chở các loại rượu có cồn ở trong nước, nhập khẩu từ nước ngoài, xuất khẩu từ Hoa Kỳ và các lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Hoa Kỳ đều bị cấm.

Khoản 2

Quốc hội và các bang có quyền lực như nhau khi triển khai điều khoản này của Hiến pháp.

Khoản 3

Ðiều khoản này sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn bởi cơ quan lập pháp của các bang như một điều bổ sung của Hiến pháp trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển đến các bang như Hiến pháp quy định].

CHÚ THÍCH: Đây là điều bổ sung sửa đổi lệnh cấm nhằm ngăn cấm nhân dân pha chế, bán hoặc vận chuyển rượu. Điều này đã bị hủy bỏ bởi Điều bổ sung sửa đổi thứ 21 năm 1933.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 19 QUYỀN BẦU CỬ CỦA PHỤ NỮ Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 4/6/1919 và được thông qua vào ngày 18/8/1920.

Khoản 1

Quyền bầu cử của các công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Liên bang hoặc bất cứ bang nào với lý do giới tính.

Khoản 2

Quốc hội có quyền thực hiện điều khoản này bằng luật lệ thích hợp.

CHÚ THÍCH: Các điều sửa đổi nhằm trao quyền bầu cử cho phụ nữ đã lần lượt được trình trước Quốc hội trong hơn 40 năm trước khi điều sửa đổi này cuối cùng đã được thông qua.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 20 CÁC ĐIỀU KHOẢN VỀ TỔNG THỐNG VÀ QUỐC HỘI Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 2/3/1932 và được thông qua vào ngày 23/1/1933.

Khoản 1

Nhiệm kỳ của Tổng thống và Phó Tổng thống sẽ kết thúc vào đúng trưa ngày 20 tháng giêng, và nhiệm kỳ của các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ kết thúc vào đúng trưa của ngày 3 tháng giêng của năm mà những nhiệm kỳ trên sẽ kết thúc, nếu điều khoản này vẫn chưa được phê chuẩn và nhiệm kỳ của những người kế nhiệm họ sẽ bắt đầu từ thời điểm đó.

Khoản 2

Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần và kỳ họp sẽ bắt đầu vào giữa trưa ngày 3 tháng giêng, trừ trường hợp họ có thể căn cứ vào luật để xác định một ngày khác.

Khoản 3

Nếu vào thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống đắc cử qua đời, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ trở thành Tổng thống. Nếu trước thời điểm bắt đầu nhiệm kỳ đã được ấn định mà Tổng thống chưa đắc cử hoặc Tổng thống đã đắc cử nhưng không đủ tư cách, thì Phó Tổng thống đắc cử sẽ đảm đương cương vị Tổng thống cho đến khi Tổng thống được xác định là có đủ tư cách. Quốc hội có thể căn cứ vào luật để quyết định về trường hợp khi cả Tổng thống đắc cử và Phó Tổng thống đắc cử đều không đủ điều kiện, tuyên bố ai sẽ đứng ra đảm đương quyền Tổng thống hoặc xác định cách thức để chọn người đảm đương chức vụ Tổng thống cho đến khi Tổng thống hay Phó Tổng thống có đủ tư cách.

Khoản 4

Quốc hội có thể căn cứ vào luật để quy định trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Hạ viện có thể chọn làm Tổng thống khi Hạ viện đưưược trao quyền lựa chọn đó; và trong trường hợp có sự qua đời của bất cứ cá nhân nào trong những người mà Thượng viện có thể chọn làm Phó Tổng thống khi Thượng viện đưưược trao quyền lựa chọn đó.

Khoản 5

Khoản 1 và khoản 2 sẽ có hiệu lực bắt đầu vào ngày 15 tháng 10 sau khi điều khoản này được phê chuẩn.

Khoản 6

Ðiều này của Hiến pháp sẽ không có hiệu lực trừ phi được phê chuẩn như những điều bổ sung của Hiến pháp bởi cơ quan lập pháp của ba phần tư các tiểu bang trong 7 năm kể từ ngày được đệ trình.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này, được gọi là điều sửa đổi về viên chức sắp mãn nhiệm, chuyển ngày nhậm chức của Tổng thống và các thành viên Quốc hội mới được bầu gần hơn với thời gian bầu cử. “Viên chức sắp mãn nhiệm” là một quan chức vẫn phải tiếp tục làm việc mặc dù không được bầu lại. Trước khi điều sửa đổi này có hiệu lực, các thành viên Quốc hội và tổng thống không được bầu lại trong cuộc bầu cử tháng 11 vẫn phải tiếp tục giữ cương vị đó cho đến tháng 3 năm sau.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 21 HỦY BỎ CÁC LỆNH CẤM Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 20/2/1933 và được thông qua vào ngày 5/12/1933.

Khoản 1

Kể từ nay, điều bổ sung sửa đổi số 18 của Hiến pháp bị bãi bỏ.

Khoản 2

Việc chuyên chở hay nhập khẩu nhằm cung cấp và sử dụng rượu có cồn ở bất cứ bang nào hoặc lãnh thổ và vùng thuộc sở hữu của Hoa Kỳ mà vi phạm luật ở những nơi đó sẽ bị nghiêm cấm.

Khoản 3

Ðiều này sẽ không có hiệu lực trừ phi nó được các đại hội của các bang phê chuẩn như một điều bổ sung của Hiến pháp, theo qui định của Hiến pháp, trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển đến các bang.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này chỉ đơn giản hủy bỏ Điều bổ sung sửa đổi thứ 18.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 22 GIỚI HẠN NHIỆM KỲ TỔNG THỐNG TRONG HAI NHIỆM KỲ Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 24/3/1947 và được thông qua vào ngày 27/2/1951.

Khoản 1

Không người nào được bầu giữ chức vụ Tổng thống quá hai nhiệm kỳ và không người nào đã đảm đương chức vụ Tổng thống hoặc là quyền Tổng thống quá hai năm trong nhiệm kỳ mà người khác đã đắc cử Tổng thống sẽ được bầu vào chức vụ Tổng thống hơn một nhiệm kỳ. Nhưng điều khoản này không áp dụng đối với những người đang giữ chức Tổng thống khi điều khoản này được Quốc hội đề nghị và sẽ không ngăn cản bất cứ ai có thể giữ chức Tổng thống hoặc quyền Tổng thống trong thời gian điều khoản này có hiệu lực đúng vào nhiệm kỳ của họ, vì vậy họ sẽ tiếp tục cương vị Tổng thống hay quyền Tổng thống trong thời gian nhiệm kỳ còn lại.

Khoản 2

Ðiều này sẽ không có hiệu lực trừ phi nó sẽ được cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang phê chuẩn như một điều bổ sung vào Hiến pháp trong vòng 7 năm kể từ ngày Quốc hội chuyển tới các bang.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này quy định rằng không ai được bầu làm Tổng thống hơn hai lần. Không có Tổng thống nào đã từng giữ cương vị của mình nhiều hơn hai năm so với nhiệm kỳ của các tổng thống khác được bầu hơn một lần. Một Tổng thống có thể giữ cương vị đó trong hơn 10 năm. Điều sửa đổi này được những người cho rằng Tổng thống Franklin D. Roosevelt không nên hoạt động trong bốn nhiệm kỳ ủng hộ. Không có Tổng thống nào khác được ra tranh cử trong hơn hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 23 QUYỀN BẦU CỬ TRONG QUẬN COLUMBIA Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 16/6/1960 và được thông qua vào ngày 29/3/1961.

Khoản 1

Các địa hạt cấu thành nên các khu vực bầu cử chính quyền của Hoa Kỳ sẽ được tổ chức theo thể thức mà Quốc hội quy định như sau:

Số đại cử tri bầu Tổng thống và Phó Tổng thống mà các địa hạt có được bằng tổng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ trong Quốc hội, nếu đó là một bang, nhưng nếu số đại cử tri không nhiều hơn so với bang ít dân số nhất, thì họ sẽ được ghép vào số đại cử tri do các bang bổ nhiệm, nhưng xuất phát từ mục đích của cuộc bầu Tổng thống và Phó Tổng thống, thì họ sẽ được coi là các đại cử tri do một bang bổ nhiệm, và họ sẽ họp với nhau ở khu vực bầu cử và hoàn thành trách nhiệm do điều 12 của Hiến pháp qui định.

Khoản 2

Quốc hội có quyền đem lại hiệu lực cho điều khoản này bằng luật lệ phù hợp.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này cho phép các công dân của Quận Columbia được bầu cử tổng thống. Tuy nhiên, họ không có thành viên nào trong Quốc hội để bầu.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 24 THUẾ BẦU CỬ Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 27/8/1962 và được thông qua vào ngày 23/1/1964.

Khoản 1

Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ trong các vòng bầu cử sơ bộ, hoặc trong các cuộc bầu cử Tổng thống hay Phó Tổng thống, cuộc bầu đại cử tri để bầu Tổng thống, Phó Tổng thống, thượng nghị sĩ hay hạ nghị sĩ trong Quốc hội, sẽ không bị phủ nhận hoặc hạn chế bởi Hoa Kỳ hay một bang nào với lý do không có khả năng nộp thuế thân hoặc thuế khác.

Khoản 2

Quốc hội có quyền thực thi điều này bằng luật lệ phù hợp.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này nghiêm cấm một bang buộc các cử tri phải nộp thuế thân hay thuế bầu cử trước khi họ có thể bầu cử trong cuộc bầu cử quốc gia. Tòa án Tối cao đã giải thích điều khoản bảo vệ bình đẳng của Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 là nhằm ngăn cấm việc đánh thuế bầu cử trong các cuộc bầu cử bang. Thuật ngữ thuế bầu cử (poll tax) không có nghĩa là thuế đánh vào việc bầu cử. Nó xuất phát từ một từ Anh cổ “poll” có nghĩa là “đầu”. Một vài bang đã từng sử dụng các loại thuế như vậy để ngăn cản những người nghèo và người Mỹ gốc Phi không được bầu cử.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 25 TỔNG THỐNG BỊ TÀN PHẾ VÀ VIỆC KẾ NHIỆM Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 6/7/1965 và được thông qua vào ngày 10/2/1967.

Khoản 1

Trong trường hợp Tổng thống bị phế truất, qua đời hoặc từ chức, Phó Tổng thống sẽ trở thành Tổng thống.

Khoản 2

Trong trường hợp vị trí Phó Tổng thống bị bỏ trống, Tổng thống sẽ chỉ định một người làm Phó Tổng thống, nhưng phải được đa số phiếu bầu của cả hai viện trong Quốc hội.

CHÚ THÍCH: Phần này quy định việc bổ sung chỗ khuyết trong chức danh phó tổng thống. Năm 1973, Gerald R. Ford trở thành Phó Tổng thống đầu tiên được chọn theo các điều khoản của sửa đổi này. Ông được Tổng thống Richard M. Nixon bổ nhiệm sau khi Phó Tổng thống Spiro T. Agnew từ chức. Năm 1974, Nixon từ chức và Ford trở thành Tổng thống. Nelson A. Rockefeller sau đó trở thành Phó Tổng thống theo thủ tục mới. Lần đầu tiên, nước Mỹ có cả Tổng thống và Phó Tổng thống không phải do được bầu cử vào cương vị đó. Trước khi điều sửa đổi này có hiệu lực, các chỗ khuyết trong chức vị phó tổng thống thường để trống cho đến kỳ bầu cử tổng thống tiếp theo.

Khoản 3

Trong trường hợp Tổng thống chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố rằng Tổng thống không thể thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình và cho đến khi Tổng thống chuyển đến họ một văn bản với nội dung ngược lại thì những quyền lực và trách nhiệm đó sẽ do Phó Tổng thống thực thi với tư cách quyền Tổng thống.

CHÚ THÍCH: Phần này quy định rằng Phó Tổng thống kế nhiệm chức vụ tổng thống nếu Tổng thống bị tàn phế. Phó Tổng thống George H. W. Bush trở thành quyền Tổng thống đầu tiên. Ông chính thức giữ cương vị này trong tám giờ đồng hồ ngày 13/7/1985, khi Tổng thống Ronald Reagan phẫu thuật ung thư.

Khoản 4

Trong mọi trường hợp khi Phó Tổng thống và đa số các quan chức chủ yếu của cơ quan hành pháp hay cơ quan tương đương nào khác mà Quốc hội đã quy định bằng luật, chuyển lên Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản của họ tuyên bố rằng Tổng thống không thể thực thi những quyền lực và trách nhiệm của mình, thì Phó Tổng thống sẽ ngay lập tức nắm quyền lực và trách nhiệm đó với tư cách quyền Tổng thống.

Sau đó, khi Tổng thống chuyển lên quyền Chủ tịch của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố về năng lực của mình, Tổng thống có thể tiếp tục thực thi quyền lực và nhiệm vụ với điều kiện trong vòng 4 ngày Phó Tổng thống và đa số các quan chức chủ yếu của cơ quan hành pháp hay cơ quan tương đương mà Quốc hội đã qui định chuyển đến Chủ tịch lâm thời của Thượng viện và Chủ tịch Hạ viện văn bản tuyên bố về việc Tổng thống có đủ năng lực thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình. Nếu không phải trong kỳ họp, trong vòng 48 tiếng đồng hồ Quốc hội sẽ phải họp để giải quyết vấn đề đó. Nếu Quốc hội trong vòng 21 ngày sau khi nhận được văn bản tuyên bố nói trên hoặc nếu vào thời điểm đó không phải là kỳ họp thì trong vòng 21 ngày, Quốc hội phải họp để với hai phần ba số phiếu của cả hai Viện quyết định về việc Tổng thống không thể thực thi các quyền và trách nhiệm của mình, và Phó Tổng thống sẽ tiếp tục thực thi công việc đó với tư cách là quyền Tổng thống, trong trường hợp ngược lại, Tổng thống sẽ tiếp tục thực thi quyền lực và trách nhiệm của mình.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 26 QUYỀN BẦU CỬ CHO NHỮNG NGƯỜI ĐỦ 18 TUỔI Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 23/3/1971 và được thông qua vào ngày 1/7/1971.

Khoản 1

Quyền bầu cử của công dân Hoa Kỳ từ 18 tuổi trở lên sẽ không bị tước bỏ hoặc hạn chế bởi Liên bang hay bất cứ bang nào với lý do tuổi tác.

Khoản 2

Quốc hội có quyền thực hiện điều này bằng luật lệ thích hợp.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này nghiêm cấm các bang từ chối quyền bầu cử của các công dân do tuổi của họ nếu họ đã đủ 18 tuổi trở lên.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 27 LƯƠNG CỦA THÀNH VIÊN QUỐC HỘI Điều sửa đổi này được đề xuất vào ngày 25/9/1789 và được thông qua vào ngày 7/5/1992.

Trước cuộc bầu cử hạ nghị sĩ, không một điều luật nào nhằm thay đổi các khoản trợ cấp cho công việc của thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ có hiệu lực.

CHÚ THÍCH: Điều sửa đổi này đầu tiên được James Madison đề xuất, đã được Quốc hội thông qua năm 1789 và đệ trình cho các bang phê chuẩn, nhưng sau 200 năm nó vẫn chưa được phê chuẩn bởi 38 bang theo điều kiện cần thiết. Chỉ trích của dư luận về vấn đề lương cho thành viên quốc hội tăng lên khiến bang Michigan phê chuẩn điều sửa đổi này vào ngày 7/5/1992, là bang phê chuẩn thứ 38. Điều sửa đổi này đảm bảo rằng nếu các Thượng Nghị sỹ hay các Hạ Nghị sỹ bỏ phiếu yêu cầu tăng lương thì chỉ có thành viên của các Quốc hội sau đó (có thể bao gồm cả các cựu thành viên lẫn những thành viên mới được bầu) mới được hưởng lợi từ việc tăng lương này.


Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004

Phỏng theo TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA WORLD BOOK, bản quyền của Công ty World Book năm 2004. Được phép của Nhà xuất bản. Địa chỉ trên Internet: ww.worldbook.com

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa kỳ tại Việt nam

HIẾN PHÁP HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ VÀ CHÚ THÍCH

Toàn văn Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ sau đây phản ánh câu chữ và cách sử dụng nguyên bản. Các dấu ngoặc vuông [] thể hiện những phần đã bị thay đổi hoặc bị thay thế bởi các sửa đổi. Các đoạn thêm vào có tiêu đề “Chú thích”, không phải là nội dung của Hiến pháp. Các đoạn này giải thích nghĩa của một số câu, hay mô tả việc áp dụng thực tiễn của một số đoạn nào đó.

Lời mở đầu

Chúng tôi, nhân dân Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ.

Ðiều I, Khoản 1

NGÀNH LẬP PHÁP

Toàn bộ quyền lực lập pháp được thừa nhận tại đây sẽ được trao cho Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội gồm có Thượng viện và Hạ viện.

CHÚ THÍCH: Ba điều đầu tiên của Hiến pháp phân chia quyền của Chính phủ Hoa Kỳ giữa ba ngành riêng biệt: (1) ngành lập pháp, đại diện bởi Quốc hội; (2) ngành hành pháp, đại diện bởi Tổng thống; (3) và ngành tư pháp, đại diện bởi Tòa án Tối cao. Sự phân chia theo hiến pháp này, tức là sự phân chia quyền lực, là nhằm tránh làm cho bất kỳ ngành nào của chính phủ trở nên quá mạnh. Ngoài ra, Hiến pháp thiết lập sự kiểm soát và cân bằng thông qua cung cấp các phương tiện để mỗi ngành được yêu cầu phải phối hợp với các ngành khác nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Ví dụ, Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán liên bang nhưng Thượng viện phải khẳng định phê chuẩn họ.

Quốc hội hai viện hay lưỡng viện là một trong những thỏa hiệp quan trọng nhất của Đại hội Lập hiến. Các bang nhỏ tại Đại hội đã ủng hộ Kế hoạch New Jersey, theo đó mỗi bang sẽ có số đại diện bằng nhau. Các bang lớn ủng hộ Kế hoạch Virginia với số đại diện tùy theo số dân. Thỏa hiệp là mỗi viện được chọn lựa ra theo mỗi kế hoạch.

Ðiều I, Khoản 2

HẠ VIỆN

(1) Hạ viện sẽ gồm có các thành viên cứ 2 năm một lần được dân chúng ở các bang bầu ra. Ðại cử tri ở mỗi bang phải có phẩm chất cần thiết như là phẩm chất của đại cử tri ở bang có cơ quan lập pháp đông đảo nhất.

CHÚ THÍCH: Thành viên của Hạ viện được bầu theo nhiệm kỳ hai năm. Nếu một người đủ tư cách bầu cho “cơ quan có số đông nhất” của cơ quan lập pháp bang của mình, thì người đó cũng đủ tư cách bỏ phiếu bầu nghị sỹ Quốc hội. (Tất cả các bang trừ Nebraska đều có cơ quan lập pháp bang gồm hai viện). Vấn đề ai có thể bỏ phiếu bầu các nhà lập pháp bang là do bang quyết định và phải theo các quy định hạn chế của Hiến pháp và luật liên bang, ví dụ như Đạo luật về Quyền bầu cử năm 1965. Các điều bổ sung sửa đổi thứ 15, 19, 24 và 26 cấm các bang từ chối hay hạn chế quyền bỏ phiếu của công dân với lý do chủng tộc, giới tính, hay không trả thuế; hay tuổi tác nếu người đó ít nhất là 18 tuổi.

(2) Những người có thể được bầu làm hạ nghị sĩ phải từ 25 tuổi trở lên và phải là công dân của Hoa Kỳ ít nhất 7 năm và vào thời điểm được bầu phải là cư dân ở bang mà người đó được lựa chọn.

CHÚ THÍCH: Mỗi bang tự quyết định các yêu cầu về cư trú hợp pháp, theo các quy định hạn chế của Hiến pháp. Hầu hết các Hạ Nghị sỹ không chỉ sống trong bang mà còn ở các quận nơi họ được chọn.

(3) Hạ nghị sĩ và các loại thuế trực thu sẽ được phân bổ theo các bang [mà có thể tính gộp vào trong Liên bang tùy theo số lượng tương ứng được xác định bằng cách tính tổng số gồm những người tự do, kể cả những người làm việc theo thời hạn và 3/5 số những người còn lại, không tính những người da đỏ vốn không nộp thuế] . Công việc thống kê thực sự sẽ tiến hành trong vòng ba năm sau cuộc họp đầu tiên của Quốc hội Hoa Kỳ và 10 năm một lần tiến hành theo luật định. Mỗi hạ nghị sĩ sẽ đại diện cho không quá 30000 người. Nhưng mỗi bang sẽ có ít nhất một hạ nghị sĩ. Và trước khi việc thống kê và điều tra dân số được tiến hành, thì bang New Hampshire sẽ được quyền bầu ba đại biểu, bang Massachusetts được bầu tám đại biểu, bang đảo Rhodes và Providence Plantations được bầu một đại biểu, bang Connecticut được bầu năm đại biểu, bang New York được bầu sáu đại biểu, bang New Jersey bốn đại biểu, bang Pennsynvania tám đại biểu, bang Delaware một đại biểu, bang Maryland sáu đại biểu, bang Virginia mười đại biểu, bang Bắc Carolina năm đại biểu, bang Nam Carolina năm đại biểu và bang Georgia ba đại biểu.

CHÚ THÍCH: Tác động của đoạn này đã bị thay đổi nhiều bởi các điều bổ sung sửa đổi và những điều kiện mới. Hiện nay nó chỉ quy định ba điều: (1) số Hạ Nghị sỹ của mỗi bang phải dựa vào số dân bang đó; (2) Quốc hội phải biết rằng dân số Hoa Kỳ được điều tra 10 năm một lần; (3) và mỗi bang có ít nhất một Hạ Nghị sỹ.

Những từ “và khoản thuế trực thu” có nghĩa là thuế bầu cử. Điều bổ sung sửa đổi thứ 16 cho Quốc hội quyền đánh thuế người dân tùy theo thu nhập của người đó, thay vì theo số dân của bang nơi họ đang sống.

Khi nói đến “ba phần năm tất cả số những người khác”, “những người khác” có nghĩa là nô lệ. Vì hiện không còn nô lệ nữa nên nội dung này của đoạn không còn mang ý nghĩa nào. Yêu cầu nên có không quá một Hạ Nghị sỹ trên 30.000 dân hiện không có hiệu lực thực tế nữa. Năm 1929, Quốc hội đã cố định tổng số Hạ Nghị sỹ là 435 và con số này vẫn giữ nguyên kể từ đó.

(4) Khi khuyết ghế dân biểu ở bất cứ một bang nào thì chính quyền ở đó sẽ ban hành lệnh bầu cử để bổ sung vào những chỗ trống đó.

CHÚ THÍCH: Nếu có một ghế bị khuyết trong Hạ viện, thống đốc bang phải tổ chức một cuộc bầu cử đặc biệt để bổ sung vị trí này. Tuy nhiên, nếu cuộc bầu cử theo kế hoạch định kỳ kế tiếp sắp được tổ chức thì thống đốc có thể để ghế này vẫn khuyết thay vì tổ chức một cuộc bầu cử đặc biệt.

(5) Hạ viện sẽ bầu ra Chủ tịch và các quan chức khác của Viện và họ là những người duy nhất có quyền kết tội các quan chức.

CHÚ THÍCH: Hạ viện chọn ra một viên chức làm Chủ tịch Hạ viện để điều khiển các cuộc họp. Riêng Hạ viện có quyền buộc tội một quan chức liên bang. Hạ viện đã luận tội 16 quan chức liên bang, trong đó có hai tổng thống là Andrew Johnson năm 1868 và William Jefferson Clinton năm 1998. Thượng viện sẽ xử các vụ luận tội này.

Ðiều I, Khoản 3

THƯỢNG VIỆN

(1) Thượng viện Hoa Kỳ sẽ gồm có hai thượng nghị sĩ của mỗi bang [do cơ quan lập pháp ở đó bầu ra] với nhiệm kỳ 6 năm và mỗi thượng nghị sĩ sẽ có một phiếu biểu quyết.

CHÚ THÍCH: Đầu tiên, Hiến pháp quy định rằng cơ quan lập pháp mỗi bang nên chọn hai Thượng Nghị sỹ của bang đó. Điều bổ sung sửa đổi thứ 17 thay đổi điều này bằng cách cho phép cử tri mỗi bang được chọn ra Thượng Nghị sỹ của mình.

(2) Ngay sau khi Thượng viện được bầu ra và nhóm họp lần đầu, các thượng nghị sĩ sẽ được phân chia sao cho đồng đều thành ba cấp. Thượng nghị sĩ cấp 1 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ hai của nhiệm kỳ, thượng nghị sĩ cấp 2 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ tư, thượng nghị sĩ cấp 3 sẽ kết thúc nhiệm kỳ vào cuối năm thứ 6, sao cho sau mỗi hai năm có thể bầu lại một phần ba thượng nghĩ sĩ. [Và khi có chỗ trống do từ chức hoặc nguyên nhân nào khác trong thời gian ngừng họp của cơ quan lập pháp ở bất cứ bang nào, thì chính quyền ở đó có thể tạm thời bổ nhiệm cho đến kỳ họp tiếp đó của cơ quan lập pháp và khi đó sẽ bổ sung vào chỗ trống].

CHÚ THÍCH: Các thượng nghị sỹ được bầu theo nhiệm kỳ sáu năm. Hai năm một lần, một phần ba số Thượng Nghị sỹ được bầu lại và hai phần ba lưu nhiệm. Sự sắp xếp này làm cho Thượng viện trở thành cơ quan mang tính liên tục, không giống như Hạ viện khi toàn bộ thành viên được bầu hai năm một lần. Điều bổ sung sửa đổi thứ 17 thay đổi phương thức lấp ghế khuyết. Thống đốc chọn ra một Thượng Nghị sỹ cho đến khi cử tri bầu ra một người mới.

(3) Những người được bầu làm thượng nghị sĩ phải ở độ tuổi 30 trở lên và có 9 năm là công dân Hoa Kỳ, đồng thời khi được bầu phải là cư dân của bang mà người đó được tuyển chọn.

CHÚ THÍCH: Năm 1806, Henry Clay của bang Kentucky được bổ nhiệm lấp vào một ghế chưa hết nhiệm kỳ trong Thượng viện. Ông mới chỉ 29 tuổi, trẻ hơn một vài tháng so với độ tuổi tối thiểu, nhưng không ai phản đối việc bổ nhiệm này. Năm 1793, Albert Gallatin được bầu vào Thượng viện từ bang Pennsylvania. Ông bị cấm nhậm chức vì chưa đủ chín năm là công dân Hoa Kỳ.

(4) Phó Tổng thống Hoa Kỳ sẽ là Chủ tịch Thượng viện, nhưng không có quyền bỏ phiếu, trừ trường hợp số phiếu chống ngang nhau khi biểu quyết.

CHÚ THÍCH: Phó Tổng thống làm Chủ tịch Thượng viện. Ông này chỉ bỏ phiếu khi tỷ lệ phiếu là ngang bằng nhau. Quyền phá vỡ thế cân bằng của Phó Tổng thống có thể rất quan trọng. Ví dụ năm 1789, Phó Tổng thống John Adams bỏ lá phiếu quyết định Tổng thống có thể cách chức các thành viên Nội các mà không cần Thượng viện phê chuẩn.

(5) Thượng viện lựa chọn những quan chức khác và cả Chủ tịch Lâm thời khi Phó Tổng thống Hoa Kỳ vắng mặt hoặc khi Phó Tổng thống đảm nhận chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Thượng viện bầu ra một quan chức gọi là Chủ tịch Lâm thời để chủ trì các cuộc họp khi Phó Tổng thống vắng mặt.

(6) Thượng viện là nơi duy nhất có quyền xét xử tất cả các vụ bị kết tội. Khi nhóm họp để xét xử, thượng nghị sĩ sẽ phải tuyên thệ hoặc thề. Trong trường hợp xét xử Tổng thống, Chánh án Tòa án Tối cao sẽ chủ tọa phiên tòa. Không một ai bị kết án nếu không được sự nhất trí của hai phần ba các thượng nghị sĩ có mặt.

CHÚ THÍCH: Điều khoản quy định Chánh án, chứ không phải là Phó Tổng thống, sẽ đứng đầu Thượng viện khi Tổng thống bị xét xử có lẽ xuất phát từ thực tế là việc Thượng viện kết tội Tổng thống sẽ làm cho Phó Tổng thống trở thành Tổng thống thay thế. Cụm từ “tuyên thệ hay xác nhận” có nghĩa là các Thượng Nghị sỹ phải tuyên thệ khi xử các vụ luận tội, cũng như các thành viên ban hội thẩm trong phiên tòa bình thường.

(7) Mức án áp dụng trong những vụ buộc tội này không vượt quá sự cách chức và tước quyền của bị cáo đang đảm nhận một chức tước danh dự, có lợi tức hoặc có lợi lộc trong chính quyền Hợp chủng quốc, tuy vậy họ vẫn có thể bị truy tố, xét xử, kết án và trừng phạt theo luật định.

CHÚ THÍCH: Nếu một người bị luận tội có tội thật, người đó có thể bị cách chức và cấm không được giữ các chức vụ liên bang nữa. Thượng viện không thể áp đặt bất kỳ hình phạt nào khác, nhưng người đó cũng có thể bị xử trong các phiên tòa bình thường. Thượng viện đã kết tội bảy người, tất cả họ đều là thẩm phán. Tất cả những người này đã bị cách chức, nhưng chỉ có hai trong số này không được giữ bất kỳ chức vụ liên bang nào.

Ðiều I, Khoản 4

TỔ CHỨC CỦA QUỐC HỘI

(1) Thời gian, địa điểm và cách thức tiến hành bầu cử thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ sẽ do cơ quan lập pháp của mỗi bang qui định. Nhưng vào bất cứ lúc nào Quốc hội cũng có thể dựa theo luật đặt ra hoặc thay đổi các qui định đó, [chỉ trừ qui định về địa điểm bầu thượng nghị sĩ].

CHÚ THÍCH: Chừng nào các cơ quan lập pháp bang còn bầu ra Thượng Nghị sỹ thì các cơ quan này sẽ không để cho Quốc hội quyết định nơi bầu cử. Điều này có thể sẽ cho Quốc hội quyền ra lệnh cho từng bang phải đặt thủ phủ ở đâu. Những từ “ngoại trừ những nơi chọn Thượng Nghị sỹ” bị gạt bỏ bởi Điều bổ sung sửa đổi thứ 17.

(2) Quốc hội sẽ họp ít nhất mỗi năm một lần [và phiên họp này sẽ vào ngày thứ hai đầu tiên của tháng 12], trừ trường hợp Quốc hội có thể qui định một ngày khác dựa theo luật.

CHÚ THÍCH: Ở châu Âu, các vị vua có thể ngăn không cho quốc hội họp, đôi khi trong nhiều năm liền, đơn giản là bằng cách không triệu tập họ lại. Đây là lý do để yêu cầu Quốc hội Hoa Kỳ phải họp ít nhất một lần một năm. Điều bổ sung sửa đổi thứ 20 đã thay đổi ngày khai mạc phiên họp sang ngày 3 tháng 1, trừ khi Quốc hội định ra một ngày khác theo luật.

Ðiều I, Khoản 5

(1) Mỗi viện sẽ có thẩm quyền về cuộc bầu cử của mình, về kết quả của cuộc bầu cử đó và về việc đánh giá tiêu chuẩn của các nghị sĩ. Ða số trong mỗi Viện sẽ tổ chức một nhóm đại biểu theo qui định để triển khai công việc, còn thiểu số có quyền trì hoãn phiên họp và có thể được trao quyền buộc những thành viên vắng mặt phải tham gia công việc theo đúng thể thức và phải nhận một hình thức kỷ luật theo qui chế của mỗi Viện.

CHÚ THÍCH: Mỗi viện xác định các thành viên của mình có đủ tư cách phù hợp với Hiến pháp và có được bầu ra theo đúng quy cách hay không. Khi xem xét tiêu chuẩn của các thành viên, mỗi viện có thể chỉ xem xét tuổi tác, tư cách công dân và các yêu cầu về nơi cư trú được nêu trong Hiến pháp. Tuy nhiên khi kiến nghị sa thải một thành viên, mỗi viện trong Quốc hội có thể xem xét các vấn đề khác có liên quan đến khả năng làm việc của thành viên đó. Thảo luận và tranh luận có thể tiếp tục về việc có đủ số đại biểu cần thiết hay không, chừng nào còn cần đủ số đại biểu để bỏ phiếu cuối cùng.

(2) Mỗi Viện có thể quy định những qui chế của mình, thi hành kỷ luật những thành viên có hành vi sai phạm và khai trừ một thành viên với sự nhất trí của hai phần ba số thành viên.

CHÚ THÍCH: Mỗi viện đề ra quy định riêng của mình. Ví dụ, Hạ viện đề ra giới hạn thời gian chặt chẽ đối với tranh luận để đẩy nhanh công việc. Chấm dứt tranh luận ở Thượng viện thì khó hơn nhiều. Theo quy định của Thượng viện, một Thượng Nghị sỹ có thể phát biểu bao lâu tùy ý trừ khi Thượng viện bỏ phiếu kết thúc, tức là kiến nghị chấm dứt tranh luận. Đối với hầu hết các vấn đề, việc kết thúc cần có phiếu thuận của 60 thượng nghị sỹ, hay ba phần năm tổng số thượng nghị sỹ. Mỗi viện có thể cách chức một thành viên của mình bằng hai phần ba số phiếu.

(3) Mỗi Viện ấn hành một tờ nội san về công việc của mình và thông báo theo định kỳ các công việc đó trên tờ nội san, trừ những việc mà Viện cho là cần phải giữ bí mật. Những phiếu thuận và phiếu chống của các thành viên thuộc hai Viện về mọi vấn đề sẽ được công bố trên nội san theo yêu cầu của một phần năm các thành viên có mặt.

CHÚ THÍCH: Biên bản Hạ viện và Biên bản Thượng viện được xuất bản cuối mỗi kỳ họp Quốc hội. Trong đó có tất cả các dự luật và nghị quyết được xem xét trong kỳ họp, cũng như mọi cuộc bỏ phiếu. Tất cả các thông điệp của Tổng thống gửi Quốc hội cũng được đưa vào đây.

Điều quan trọng hơn là Hồ sơ Quốc hội được xuất bản hàng ngày và đăng tải nguyên văn các cuộc tranh luận.

(4) Trong thời gian khóa họp của Quốc hội, nếu không được sự đồng ý của Viện kia, thì không một Viện nào có thể nghỉ họp quá ba ngày hoặc chuyển sang địa điểm khác với địa điểm mà hai Viện đã quyết định.

Ðiều I, Khoản 6

(1) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ được nhận một khoản trợ cấp cho công việc của mình do luật định và được Ngân khố của Hợp chủng quốc thanh toán. Trong mọi trường hợp, trừ khi có tội phản quốc, trọng tội và tội vi phạm nền an ninh, họ được hưởng đặc quyền không bị bắt giam trong thời gian tham dự khóa họp của Viện, trong khi tới cuộc họp và trở về nhà từ cuộc họp. Ðối với những lời phát biểu và tranh luận của họ trong cả hai Viện này, họ có quyền không bị chất vấn ở những nơi khác.

CHÚ THÍCH:

Đặc quyền miễn trừ (không bị bắt giữ) khi đi họp quốc hội nay hầu như không còn ý nghĩa gì. Thành viên Quốc hội, cũng như bất kỳ ai khác, có thể bị bắt giữ khi vi phạm luật pháp. Họ có thể bị xét xử, kết tội và đi tù.

Sự miễn trừ của quốc hội đối với các cáo buộc bôi nhọ và vu khống vẫn rất quan trọng. Bôi nhọ là một tuyên bố bằng văn bản sai sự thật nhằm phá hoại thanh danh của một người. Vu khống là một phát ngôn cũng nhằm mục đích như vậy. Miễn trừ theo điều khoản phát ngôn và tranh luận có nghĩa là thành viên Quốc hội có thể nói bất cứ gì theo ý mình về công việc của quốc hội mà không sợ bị kiện. Quyền miễn trừ này mở rộng ra bất cứ lời phát ngôn nào của thành viên trong các cuộc tranh luận, trong báo cáo chính thức hay khi đang bỏ phiếu.

(2) Trong thời gian được bầu làm thượng nghị sĩ hoặc hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hoa Kỳ. Trong thời gian đó tiền lương của họ sẽ không bị giảm và không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội.

CHÚ THÍCH: Những điều khoản này ngăn không cho các thành viên Quốc hội tạo ra các công việc mà có thể họ sẽ được bổ nhiệm sau này, hay khi đang phục vụ trong Quốc hội thì không được tăng lương của những công việc mà họ hy vọng sẽ đảm nhận trong tương lai, và không được giữ chức vụ khác trong các ngành khác của chính phủ.

Năm 1909, Thượng Nghị sỹ Philander C. Knox rút khỏi Thượng viện để trở thành Ngoại trưởng. Nhưng lương của Ngoại trưởng đã được tăng khi Knox còn làm Thượng Nghị sỹ. Để ông Knox chấp nhận chức vụ mới, Quốc hội đã thôi không tăng lương trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ của ông Knox.

Ðiều I, Khoản 7

(1) Tất cả dự luật về tích lũy tổng thu nhập sẽ do Hạ viện đề xuất, nhưng Thượng viện có quyền đề nghị hoặc chấp thuận những điều sửa đổi trong các dự luật này cũng như đối với những dự luật khác.

CHÚ THÍCH: Các dự luật thuế phải xuất phát từ Hạ viện. Truyền thống luật thuế xuất phát từ Hạ viện của cơ quan lập pháp có từ nước Anh. Ở Anh Quốc, Hạ viện phản ánh chính xác hơn mong muốn của người dân vì người dân bầu ra các thành viên. Họ không bầu ra các Thượng Nghị sỹ. Ở Mỹ, kể từ khi thông qua Điều bổ sung sửa đổi thứ 17, quy định này không còn ý nghĩa vì người dân bầu ra cả Thượng Nghị sỹ và Hạ Nghị sỹ. Ngoài ra, Thượng viện có thể sửa đổi một dự luật thuế đến mức trên thực tế có thể soạn thảo mới lại toàn bộ.

(2) Mỗi dự luật đã được thông qua tại Hạ viện và Thượng viện trước khi trở thành luật đều phải đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ. Nếu tán thành, Tổng thống sẽ ký nhận, nếu không Tổng thống sẽ trả lại Viện đưa ra dự luật đó cùng với ý kiến không tán thành. Viện này sẽ thông báo rộng rãi ý kiến không tán thành trong nội san và tiến hành xem xét lại dự luật. Nếu sau khi xem xét lại và hai phần ba thành viên của Viện đó đồng ý thông qua dự luật, thì nó sẽ được gửi cho Viện kia, kèm theo ý kiến không tán thành. Và Viện đó cũng sẽ xem xét. Nếu được hai phần ba thành viên của Viện đó phê chuẩn, thì nó sẽ trở thành một đạo luật. Nhưng trong các trường hợp này, phiếu bầu của cả hai Viện đều phải ghi rõ tán thành hay không tán thành. Tên của những người tán thành và không tán thành dự luật sẽ được đưa vào nội san của mỗi Viện. Những dự luật mà Tổng thống không gửi trả lại trong vòng 10 ngày (không kể chủ nhật) sau khi đệ trình lên sẽ trở thành đạo luật, coi như Tổng thống đã ký phê chuẩn, trừ trường hợp Quốc hội đang không nhóm họp nên Tổng thống không thể gửi trả lại cho Quốc hội được và trong trường hợp đó thì dự luật sẽ không trở thành luật.

CHÚ THÍCH: Một dự luật do Quốc hội thông qua sẽ được đệ trình lên cho Tổng thống ký. Nếu Tổng thống không đồng ý với dự luật, ông có 10 ngày không kể chủ nhật để trả lại nơi đệ trình kèm theo văn bản phản đối. Hành động này gọi là phủ quyết. Quốc hội có thể thông qua một điều luật bất chấp Tổng thống phủ quyết với tỷ lệ phiếu bầu là hai phần ba số thành viên có mặt ở mỗi viện. Tổng thống cũng có thể để cho một dự luật thành luật mà không cần ký sau 10 ngày. Nhưng một dự luật đệ trình lên Tổng thống trong 10 ngày cuối của một kỳ họp Quốc hội không thể trở thành luật trừ khi nó được ký. Nếu một dự luật bị Tổng thống phản đối đến tay Tổng thống gần cuối kỳ họp, dự luật đó đơn giản có thể bị giữ lại chưa ký. Khi Quốc hội ngừng họp, dự luật đó bị loại bỏ. Trường hợp này được gọi là phủ quyết ngầm.

(3) Những mệnh lệnh, nghị quyết hoặc biểu quyết cần sự nhất trí của Thượng viện và Hạ viện (trừ trường hợp Quốc hội nghỉ họp), sẽ được đệ trình lên Tổng thống Hoa Kỳ, và trước khi có hiệu lực, chúng phải qua sự phê chuẩn của Tổng thống, hoặc nếu Tổng thống không chấp thuận, cần phải có sự chấp thuận lần thứ hai của hai viện với hai phần ba thành viên của mỗi viện, theo đúng các qui chế và giới hạn được qui định cho các trường hợp về dự luật.

Ðiều I, Khoản 8

QUYỀN HẠN CỦA QUỐC HỘI

Quốc hội sẽ có quyền:

(1) Đặt ra và thu các khoản thuế, thuế quan, thuế môn bài để trả các khoản nợ và chi phí cho quốc phòng và phúc lợi công cộng của Hoa Kỳ. Nhưng các khoản thuế quan và thuế môn bài đều phải thống nhất trên toàn cõi Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Thuế nhập khẩu là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Thuế nội địa là thuế đánh vào việc buôn bán, sử dụng hoặc sản xuất, và đôi khi đánh vào các quy trình kinh doanh hay các đặc quyền. Ví dụ, thuế doanh nghiệp, thuế thuốc lá và thuế giải trí là thuế nội địa. Thuế hải quan là thuật ngữ chung bao gồm cả thuế nhập khẩu và thuế nội địa.

(2) Vay tiền theo tín dụng cho Hoa Kỳ.

(3) Qui định về thương mại với ngoại quốc, giữa các bang và với các bộ lạc da đỏ.

CHÚ THÍCH: Phần này, được gọi là điều khoản thương mại, quy định một số quyền hạn cao nhất của Quốc hội. Tòa án Tối cao đã giải thích thương mại không chỉ là buôn bán mà còn là tất cả các dạng hoạt động thương mại khác. Tòa án Tối cao quy định rằng “thương mại giữa các bang” – thương mại liên bang – không chỉ là các giao dịch qua ranh giới giữa các bang mà còn là bất cứ hoạt động nào ảnh hưởng đến thương mại của hơn một bang. Quyền quản lý thương mại là quyền khuyến khích, xúc tiến, cấm hoặc hạn chế thương mại. Do vậy, Quốc hội có thể thông qua các điều luật và cung cấp tài chính để nâng cấp đường thủy, quy định các biện pháp an toàn đường không và cấm vận chuyển giữa các bang một số hàng hóa nhất định. Quốc hội có thể quy định việc đi lại của người dân, sự di chuyển của tàu hỏa, dòng chuyển dịch của cổ phiếu và trái phiếu và tín hiệu truyền hình cũng như Internet. Quốc hội có thể quy định việc chạy trốn khỏi cảnh sát bang hay địa phương qua các đường ranh giới bang để sử dụng thương mại liên bang cho các hành vi phạm tội khác nhau là tội phạm liên bang. Quốc hội cũng cấm những người vận hành các phương tiện liên bang hay phục vụ các hành khách liên bang đối xử bất công với khách hàng do chủng tộc, giới tính, dân tộc, tuổi già hay sự tàn tật của họ.

(4) Xây dựng đạo luật thống nhất về việc nhập quốc tịch và luật thống nhất trong toàn lãnh thổ Hoa Kỳ về các vấn đề phá sản.

(5) Ðúc và in tiền, qui định giá trị của đồng tiền trong nước và đồng tiền nước ngoài, xác định tiêu chuẩn cân đo.

CHÚ THÍCH: Từ phần này, cùng với phần cho phép Quốc hội quản lý thương mại và vay tiền, Quốc hội đã có quyền thành lập các ngân hàng quốc gia và thiết lập Hệ thống Dự trữ Liên bang.

(6) Trừng phạt những vụ làm giả trái phiếu và đồng tiền đang lưu hành ở Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Công trái là trái phiếu chính phủ.

(7) Xây dựng các trạm bưu điện và mạng lưới bưu điện.

(8) Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học và các nghệ thuật hữu ích bằng cách đảm bảo quyền sở hữu của các tác giả và nhà phát minh đối với các tác phẩm và phát minh trong thời gian hạn định.

CHÚ THÍCH: Sách, âm nhạc, tranh ảnh, băng video, đĩa video kỹ thuật số (DVD), và phim có thể đăng ký bản quyền theo luật này.

(9) Thiết lập các tòa án dưới quyền của Tòa án tối cao.

CHÚ THÍCH: Các tòa án liên bang “dưới Tòa án Tối cao” bao gồm các tòa án cấp hạt của Hoa Kỳ và các tòa phúc thẩm Hoa Kỳ.

(10) Xác định rõ và trừng phạt các tội cướp biển và trọng tội xẩy ra trên biển và những sự vi phạm luật pháp quốc tế.

CHÚ THÍCH: Quốc hội, chứ không phải là các bang, có quyền xét xử các tội phạm phạm tội tại các vùng biển.

(11) Tuyên chiến, ban bố văn bản trao quyền cho các tầu tư nhân được phép tấn công các tầu nước ngoài và soạn thảo những luật liên quan tới sự chiếm dụng đất và nguồn nước.

CHÚ THÍCH: Chỉ có Quốc hội mới có thể tuyên bố chiến tranh. Tuy nhiên, Tổng thống, với tư cách là Tổng Tư lệnh, có thể đưa Hoa Kỳ vào chiến tranh mà không cần có tuyên bố chiến tranh chính thức từ Quốc hội. Các cuộc chiến không được tuyên bố là Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), Chiến tranh Việt Nam (1957-1975) và các cuộc chiến tranh Vùng Vịnh (1991, 2003).

Giấy phép chặn bắt và trả đũa là các tài liệu cho phép các tàu tư nhân có thể tấn công tàu địch. Những giấy tờ này hiện nay không còn được ban hành nữa.

(12) Nuôi dưỡng và cung cấp cho quân đội, nhưng việc chi tiêu khoản tiền này chỉ trong thời hạn không quá hai năm.

(13) Thiết lập và duy trì quân chủng hải quân.

(14) Soạn thảo các luật lệ và các qui chế về lực lượng lục quân và hải quân.

(15) Trù liệu việc xây dựng lực lượng dự bị nhằm thực thi luật pháp của Liên bang, trấn áp các cuộc phiến loạn và đẩy lùi xâm lăng.

CHÚ THÍCH: Quốc hội trao cho Tổng thống quyền quyết định lúc nào thì coi là có sự xâm chiếm hay khởi nghĩa (nổi loạn) của một bang. Lúc đó, Tổng thống có thể kêu gọi lực lượng dân quân của bang, nay là Lực lượng Phòng vệ Quốc gia, cũng như các lực lượng vũ trang thường trực khác.

(16) Trù liệu sự tổ chức, vũ trang và duy trì kỷ luật các lực lượng dự bị của các bang, và trù liệu việc lãnh đạo các lực lượng này khi nào được huy động vào lực lượng liên bang Hoa Kỳ, trong khi vẫn giành cho các bang cụ thể quyền bổ nhiệm sỹ quan và quyền huấn luyện lực lượng dự bị của mỗi bang theo chuyên ngành mà quốc hội đã quy định.

CHÚ THÍCH: Chính phủ liên bang hỗ trợ các bang duy trì quân đội, còn được coi là Lực lượng Phòng vệ Quốc gia. Cho đến năm 1916, các bang vẫn được quyền kiểm soát hoàn toàn lực lượng dân quân của mình. Năm đó, Đạo luật Quốc phòng ra đời quy định về tài chính cho Lực lượng Phòng vệ các bang và để biệt phái các lực lượng này tham gia vào quân đội quốc gia trong những hoàn cảnh nhất định.

(17) Thực thi quyền lập pháp đặc biệt trong mọi trường hợp đối với những quận huyện (diện tích không quá 10 hải lý vuông) bằng cách Quốc hội tiếp nhận sự nhượng quyền của các bang đặc biệt, trở thành cơ quan lãnh đạo của Chính phủ Hoa Kỳ và thực thi quyền lãnh đạo đối với tất cả những địa điểm đã được mua lại theo sự đồng ý của cơ quan lập pháp của bang và cũng theo cách như vậy xây dựng các pháo đài, kho vũ khí, xưởng chế tạo vũ khí, kho cảng và các cơ sở cần thiết khác.

CHÚ THÍCH: Phần này quy định Quốc hội là cơ quan lập pháp không chỉ cho Quận Columbia, mà còn cho các khu vực thuộc sở hữu liên bang nơi tọa lạc các pháo đài, căn cứ hải quân, kho vũ khí và các công trình hoặc các tòa nhà liên bang khác.

(18) Soạn thảo mọi điều luật cần thiết và đúng đắn để thực thi những quyền lực nói trên, cũng như tất cả những quyền lực khác đã được Hiến pháp này trao cho Chính phủ Hoa Kỳ, hoặc cho bất cứ một cơ quan và quan chức nào khác.

CHÚ THÍCH: Phần này, chính là điều khoản “cần thiết và thích hợp” nổi tiếng, cho phép Quốc hội giải quyết nhiều vấn đề không được nêu cụ thể trong Hiến pháp này. Sự linh hoạt này giải thích vì sao Hiến pháp này là một trong những hiến pháp thành văn lâu đời nhất và vì sao nó cần ít sự sửa đổi chính thức như vậy.

Ðiều I, Khoản 9

CÁC QUYỀN KHÔNG CHO PHÉP ĐỐI VỚI QUỐC HỘI

(1) Việc nhập cư hoặc nhập khẩu của những người hiện đang sống ở bất cứ bang nào sẽ được cân nhắc để chấp nhận, sẽ không bị Quốc hội cấm đoán trước năm 1808, nhưng sẽ đánh thuế không quá 10 đôla cho mỗi người nhập cư.

CHÚ THÍCH: Đoạn này liên quan đến việc buôn bán nô lệ. Những người buôn bán nô lệ, cũng như một vài chủ nô, muốn chắc chắn rằng Quốc hội không thể ngăn cản bất kỳ ai đem nô lệ châu Phi vào đất nước trước năm 1808. Năm 1808, Quốc hội đã cấm việc nhập khẩu nô lệ.

(2) Quyền được tòa án thẩm định lý do bắt giam sẽ không bị tước đoạt, trừ trường hợp có phiến loạn và xâm lược và do yêu cầu nhằm đảm bảo nền an ninh chung.

CHÚ THÍCH: Lệnh về đình quyền giam giữ là lệnh của tòa án yêu cầu các nhà chức trách đang giam giữ một người nào đó phải đưa người đó ra xét xử tại tòa. Các nhà chức trách phải giải thích cho quan tòa vì sao người kia lại bị giam giữ. Nếu họ không giải thích thỏa đáng thì quan tòa có thể yêu cầu phòng thích tù nhân.

(3) Lệnh tước quyền công dân và tử hình không cần xét xử sẽ không được thông qua.

CHÚ THÍCH: Lệnh tước quyền công dân và tử hình không cần xét xử là một đạo luật đã được một cơ quan lập pháp thông qua nhằm trừng phạt một người mà không cần xét xử. Luật hồi tố là luật khiến một hành động phạm tội trở thành một hành động không bất hợp pháp khi nó đã diễn ra. Luật này cũng bao gồm một đạo luật nhằm tăng hình phạt đối với một hành động phạm tội của quá khứ.

(4) Sẽ không đặt ra loại thuế thân [hoặc các loại thuế trực thu khác], nếu không tương ứng với cuộc điều tra dân số kể trên trong điều này.

CHÚ THÍCH: Thuế thân là thuế thu quân bình đối với tất cả mọi người. Nó còn được gọi là thuế thân hay thuế bầu cử. Tòa án Tối cao cho rằng phần này nghiêm cấm thuế thu nhập, tuy nhiên Điều bổ sung sửa đổi lần thứ 16 đã hủy bỏ hiệu lực quyết định của tòa án.

(5) Sẽ không đặt ra loại thuế hoặc thuế nhập khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu từ bất cứ bang nào.

CHÚ THÍCH: Trong câu này, xuất khẩu có nghĩa là được gửi đến các bang khác hoặc ra nước ngoài. Các bang miền Nam lo sợ rằng chính phủ mới sẽ đánh thuế vào các hàng hóa xuất khẩu của họ và khiến nền kinh tế của họ bị thiệt hại. Câu này ngăn cấm loại thuế như vậy. Tuy nhiên, Quốc hội có thể ngăn cấm việc vận chuyển một số mặt hàng nhất định cũng như quy định các điều kiện vận tải của các mặt hàng.

(6) Trong những quy chế về thương mại và thu nhập sẽ không có sự ưu tiên nào đối với bến cảng của bất cứ bang nào so với những bang khác. Tầu thuyền từ một bang nào đó sẽ không bị bắt buộc phải cập bến, chịu sự kiểm tra và nộp thuế ở một bang khác.

CHÚ THÍCH: Quốc hội không được thiết lập các bộ luật liên quan đến thương mại bênh vực một bang này hơn bang khác. Tàu đi từ một bang này đến một bang khác không cần phải trả thuế.

(7) Sẽ không được rút bất cứ khoản tiền nào từ Ngân khố, trừ trường hợp được pháp luật cho phép. Bản báo cáo tài chính thu chi thường kỳ của những khoản tiền công cộng phải được công bố thường xuyên.

CHÚ THÍCH: Không được sử dụng tiền của chính phủ mà không được sự cho phép của Quốc hội. Quốc hội phải chuẩn bị đầy đủ số liệu để phát hành các báo cáo tài chính định kỳ.

(8) Hoa Kỳ sẽ không ban tặng các tước hiệu quý tộc. Những người đảm nhận những chức vụ có lợi tức nếu không được sự đồng ý của Quốc hội sẽ không được phép nhận bất cứ quà tặng, lương bổng, hoặc bất cứ danh hiệu, tước vị nào do vua chúa hoặc chính phủ nước ngoài nào trao tặng.

CHÚ THÍCH: Quốc hội không được phép trao cho bất cứ người nào danh hiệu quý tộc, như bá tước hay công tước. Các quan chức liên bang không được phép nhận quà tặng, văn phòng, các khoản thanh toán hay các chức danh của nước ngoài mà không được sự đồng ý của Quốc hội.

Ðiều I, Khoản 10

CÁC QUYỀN KHÔNG CHO PHÉP ĐỐI VỚI CÁC BANG

(1) Không một bang nào được phép tham gia vào bất cứ một hiệp ước, khối đồng minh hoặc liên hiệp nào; không được phép cấp giấy phép trưng dụng, bắt giữ tàu thuyền nước ngoài; không được đúc tiền hoặc phát hành trái phiếu; hoàn toàn không được dùng các đồng tiền vàng và bạc để thanh toán các khoản nợ; không được thông qua luật trừng phạt con người mà không qua xét xử và luật trừng phạt con người về một hành vi không vi phạm pháp luật hoặc một đạo luật nào phương hại đến nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; không được ban tặng các tước hiệu quý tộc.

(2) Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không một bang nào được đặt ra thuế và thuế quan đánh vào hàng nhập khẩu và xuất khẩu, trừ trường hợp hết sức cần thiết cho việc thực hiện các điều luật về thanh tra, và hệ thống thuế đánh vào hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu do một bang nào đó đặt ra sẽ phải đóng góp cho Ngân khố Hoa Kỳ, đồng thời tất cả các điều luật này đều phải đệ trình lên để Quốc hội xét duyệt và kiểm soát.

CHÚ THÍCH: Nếu không có sự đồng ý của Quốc hội, một bang không được đánh thuế vào các hàng hóa xuất hoặc nhập vào bang trừ các khoản phí nhỏ để thanh toán chi phí kiểm tra.

(3) Nếu không được sự đồng ý của Quốc hội, không một bang nào được đánh thuế tàu, duy trì các đội quân và tàu chiến trong thời kỳ hòa bình, ký kết hiệp định hoặc thỏa ước với một bang khác hoặc với lực lượng nước ngoài hoặc tham gia vào cuộc chiến tranh, trừ trường hợp thực sự bị xâm lược hoặc lâm vào tình trạng sắp xẩy ra nguy biến và không thể trì hoãn.

CHÚ THÍCH: Chỉ có chính phủ liên bang có quyền lập hiệp ước hoặc đàm phán với các quốc gia nước ngoài.

Ðiều II, Khoản 1

NGÀNH HÀNH PHÁP

(1) Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ. Tổng thống giữ chức vụ của mình trong nhiệm kỳ 4 năm và cùng với Phó Tổng thống cũng được bầu ra theo cùng một nhiệm kỳ và được bầu cử theo thể thức sau đây:

(2) Theo thể thức mà cơ quan lập pháp ở đó qui định, mỗi bang sẽ cử ra một số đại cử tri bằng tổng số thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mà bang sẽ bầu ra trong Quốc hội. Nhưng không một thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ hoặc một quan chức nào đảm nhiệm chức vụ có lợi tức sẽ được chọn làm đại cử tri.

CHÚ THÍCH: Phần này thiết lập Đại cử tri đoàn, là một nhóm người được lựa chọn trong mỗi bang theo cách thức luật pháp bang đó quy định. Tất cả các bang hiện tại đều quy định rằng các cử tri bầu ra các đại cử tri này. Các đại cử tri này sẽ bầu ra Tổng thống và Phó Tổng thống.

(3) [Các đại cử tri sẽ họp ở bang của mình và bỏ phiếu bầu hai người và ít nhất một trong hai người không phải là cư dân trong cùng một bang vớingười kia. Họ sẽ lập bản danh sách về những người đi bầu và số phiếu bầu của mỗi người, ký và xác nhận vào danh sách, gắn xi niêm phong và chuyển lên cơ quan Chính phủ Hoa Kỳ, đệ trình lên Chủ tịch Thượng viện. Với sự có mặt của Thượng viện và Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện sẽ mở tất cả cứ liệu đã được xác nhận và sẽ đếm số lượng phiếu bầu. Người có nhiều phiếu bầu nhất sẽ là Tổng thống, nếu như số phiếu bầu này chiếm đa số trong tổng số các đại cử tri được bầu ra, và nếu từ hai người trở lên có đa số phiếu bầu và có số phiếu bầu bằng nhau, thì Hạ viện sẽ ngay lập tức bỏ phiếu để bầu một trong những người đó làm Tổng thống. Nếu không người nào có đa số phiếu bầu, thì Hạ viện cũng theo thể thức như vậy, chọn 5 người có số phiếu bầu nhiều nhất trong danh sách để bầu ra Tổng thống. Nhưng trong việc bầu Tổng thống, công việc bầu cử tiến hành ở các bang, hạ nghị sĩ ở mỗi bang có một phiếu bầu. Số đại biểu tiến hành công việc này sẽ gồm một thành viên hoặc những thành viên thuộc hai phần ba số bang và điều cần thiết cho cuộc bầu cử phải gồm đại biểu của đa số các bang. Trong mọi trường hợp, sau khi bầu Tổng thống, người có số phiếu nhiều nhất do các đại cử tri bầu cho sẽ là Phó Tổng thống. Nhưng nếu từ hai người trở lên có số phiếu bầu bằng nhau, thì Thượng viện sẽ chọn trong số đó để bỏ phiếu bầu ra Phó Tổng thống].

CHÚ THÍCH: Điều bổ sung sửa đổi thứ 12 của Hiến pháp đã thay đổi thủ tục bầu cử Tổng thống và Phó Tổng thống này.

(4) Quốc hội có thể quyết định thời gian bầu các đại cử tri và ngày mà các đại cử tri sẽ bỏ phiếu để bầu cử và đó sẽ là cùng một ngày trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.

(5) Người có đủ tiêu chuẩn được bầu làm Tổng thống phải là công dân sinh ra tại bản địa hoặc là công dân Hoa Kỳ trong thời gian thực hiện Hiến pháp này, từ 35 tuổi trở lên và đã có 14 năm cư trú ở Hoa Kỳ.

(6) Trong trường hợp Tổng thống bị cách chức hoặc qua đời, từ chức hoặc không đủ năng lực trong việc thực thi quyền lực và nhiệm vụ của mình, thì mọi quyền lực và nhiệm vụ sẽ chuyển giao cho Phó Tổng thống. Quốc hội sẽ căn cứ vào luật bổ khuyết một quan chức vào ghế trống trong các trường hợp truất quyền, tử vong, từ chức hoặc không đủ năng lực của cả Tổng thống và Phó Tổng thống; quan chức nào thay quyền Tổng thống hoặc Phó Tổng thống sẽ thi hành nhiệm vụ cho đến khi chấm dứt tình trạng không đủ năng lực và khi đã bầu được Tổng thống mới.

CHÚ THÍCH: Vào ngày 9/8/1974, Tổng thống Richard M. Nixon đã từ chức tổng thống và Phó Tổng thống Gerald R. Ford đã kế nhiệm. Cho đến nay, chỉ có cái chết mới có thể rút ngắn nhiệm kỳ của một Tổng thống Hoa Kỳ. Điều bổ sung sửa đổi thứ 25 quy định rằng Phó Tổng thống kế nhiệm chức tổng thống nếu Tổng thống bị tàn phế, và xác định cụ thể các điều kiện áp dụng cho sự kế nhiệm này.

(7) Trong nhiệm kỳ của mình, Tổng thống sẽ được nhận một khoản tiền lương trả cho công việc của mình, khoản tiền này sẽ không tăng và cũng không giảm trong suốt nhiệm kỳ này và Tổng thống cũng không có quyền được nhận bất cứ một khoản tiền nào khác của Hoa Kỳ hoặc bất cứ một bang nào.

CHÚ THÍCH: Hiến pháp cho phép một người nghèo có thể trở thành Tổng thống bằng cách trả lương cho chức vị đó. Lương của Tổng thống không thể tăng hay giảm trong suốt thời gian đương nhiệm của ông ta/bà ta. Tổng thống có thể không nhận bất cứ khoản thanh toán nào từ chính phủ liên bang hoặc các bang, nhưng dĩ nhiên là được trả bằng rất nhiều các dịch vụ khác.

(8) Trước khi bắt đầu điều hành văn phòng của mình, Tổng thống sẽ tuyên thệ hoặc thề như sau: “Tôi trân trọng tuyên thệ (hoặc thề) rằng tôi sẽ giữ chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ với lòng trung thành và tận dụng hết khả năng của mình để duy trì, giữ gìn và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ”.

CHÚ THÍCH: Hiến pháp không quy định ai sẽ thực hiện lễ tuyên thệ cho Tổng thống mới được bầu. Tổng thống George Washington được Robert R. Livingston, sau này là một quan chức bang New York, làm lễ tuyên thệ. Sau đó việc Chánh án Tòa án Tối cao của Hoa Kỳ điều hành buổi lễ tuyên thệ cho Tổng thống trở thành thông lệ. Calvin Coolidge được bố của ông, một thẩm phán hòa giải, thực hiện lễ tuyên thệ cho mình tại quê nhà Vermont. Coolidge thực hiện lại lễ tuyên thệ trước Thẩm phán Adolph A. Hoehling của Tòa án Tối cao của Quận Columbia.

Ðiều II, Khoản 2

(1) Tổng thống sẽ là Tổng tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của lực lượng dự bị ở một số bang. Khi bắt đầu thực sự bắt tay vào công, Tổng thống có thể yêu cầu các quan chức phụ trách các cơ quan hành pháp đề xuất ý kiến bằng văn bản về bất cứ vấn đề nào liên quan tới nhiệm vụ của những cơ quan đó. Tổng thống có quyền hủy bỏ bản án hoặc ân xá đối với những hành vi chống lại Hoa Kỳ, trừ những trường hợp xét xử các vụ trọng tội.

CHÚ THÍCH: Quyền hạn của Tổng thống trong vai trò Tổng Tư lệnh rất rộng lớn. Tuy nhiên, kể cả trong thời chiến, Tổng thống vẫn phải tuân thủ luật pháp của đất nước.

(2) Theo thỏa thuận và sự đồng ý của Thượng viện – với sự nhất trí của hai phần ba số thượng nghị sĩ có mặt, Tổng thống có quyền ký kết các điều ước. Và cũng theo thỏa thuận, đồng ý của Thượng viện, Tổng thống sẽ bổ nhiệm các đại sứ, các công sứ, lãnh sự, các quan tòa của Tòa án tối cao và những quan chức khác của Hoa Kỳ. Những việc bổ nhiệm này không làm trái với những qui định và sẽ được thực hiện theo luật định, nhưng Quốc hội có thể căn cứ vào các điều luật mà thực hiện quyền bổ nhiệm các quan chức cấp dưới trong các tòa án hoặc các vụ viện mà họ cho là phù hợp.

CHÚ THÍCH: Các quy định trong Hiến pháp cho rằng trong một vài vấn đề Thượng viện sẽ hoạt động như là cơ quan cố vấn của Tổng thống, ở một mức độ nào đó cũng giống như Thượng viện Anh cố vấn cho nhà vua tại Vương quốc Anh.

Tổng thống có thể ký kết các hiệp ước và bổ nhiệm nhiều quan chức chính phủ. Tuy nhiên hai phần ba đại diện có mặt của Thượng viện phải phê duyệt trước khi hiệp ước được xác nhận. Ngoài ra, các trường hợp bổ nhiệm cao cấp cần có sự chấp thuận của quá nửa số Thượng Nghị sỹ có mặt.

(3) Tổng thống sẽ có quyền bổ sung vào những chỗ trống có thể xẩy ra trong thời gian giữa hai kỳ họp của Thượng viện bằng cách cấp giấy ủy nhiệm có thời hạn đến cuối kỳ họp sau của Thượng viện.

CHÚ THÍCH: Khi Thượng viện đang không trong kỳ họp, Tổng thống có thể tạm thời bổ nhiệm các chức vụ cần có sự chấp thuận của Thượng viện.

Ðiều II, Khoản 3

Theo thường lệ, Tổng thống sẽ thông báo thường kỳ cho Quốc hội về tình hình của Liên bang và đề nghị Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống thấy cần thiết và thích hợp. Trong trường hợp cần thiết, Tổng thống có quyền triệu tập hai Viện hoặc một trong hai Viện. Trong trường hợp bất đồng giữa hai Viện về thời gian hoãn họp, Tổng thống sẽ quyết định về thời gian cuộc họp sẽ hoãn đến bao giờ mà Tổng thống cho là thích hợp. Tổng thống sẽ tiếp kiến các đại sứ và các công sứ. Tổng thống đôn đốc việc thi hành pháp luật một cách đúng đắn và sẽ giao phó nhiệm vụ cho tất cả các quan chức của Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Hàng năm Tổng thống phát biểu Thông điệp Liên bang trước Quốc hội. Tổng thống George Washington và John Adams tự mình trực tiếp phát biểu các thông điệp. Trong hơn 100 năm sau đó, hầu hết các Tổng thống đều thực hiện thông điệp bằng văn bản và đọc trước Quốc hội. Tổng thống Woodrow Wilson đã phát biểu thông điệp trực tiếp, cũng như Tổng thống Franklin D. Roosevelt và tất cả các tổng thống sau Roosevelt. Thông điệp trước Quốc hội nổi tiếng nhất là Học thuyết Monroe và Tuyên bố “Mười bốn điểm” của Tổng thống Wilson.

Trong suốt thế kỷ XIX, Tổng thống thường triệu tập phiên họp Quốc hội. Ngày nay, Quốc hội tổ chức họp thường xuyên. Chưa có Tổng thống nào từng yêu cầu ngừng họp Quốc hội.

Trách nhiệm “quan tâm sao cho các bộ luật được thực thi một cách trung thực” đưa Tổng thống lên thành người đứng đầu quản lý việc thực thi luật pháp của chính phủ quốc gia. Mọi quan chức liên bang, dân sự hay quân sự, đều nhận quyền hạn của mình từ Tổng thống.

Ðiều II, Khoản 4

Tổng thống, Phó Tổng thống và các quan chức dân sự của Hoa Kỳ sẽ bị cách chức khi bị buộc tội phản quốc, tội nhận hối lộ cùng những tội nghiêm trọng khác.

Ðiều III, Khoản 1

NGÀNH TƯ PHÁP

Quyền lực tư pháp của Hoa Kỳ sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những tòa án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp. Các quan tòa của Tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới sẽ giữ chức vụ của mình đến suốt đời nếu luôn luôn có hành vi chính đáng, và trong thời gian đã nêu trên, họ được nhận khoản tiền lương cho công việc của mình và khoản tiền này sẽ không bị giảm đi trong suốt thời gian đó.

CHÚ THÍCH: Hiến pháp trao cho các tòa án liên bang một sự độc lập đáng kể đối với cả Quốc hội và Tổng thống. Việc đảm bảo cho các quan tòa duy trì nhiệm vụ của mình với “tư cách đạo đức tốt” có nghĩa là chỉ cần họ không bị tố cáo và kết tội thì họ có thể đương nhiệm suốt đời. Điều này bảo vệ các quan tòa khỏi bất cứ nguy cơ sa thải nào từ phía Tổng thống đã bổ nhiệm họ hay bất cứ Tổng thống nào trong suốt cuộc đời họ. Quy định không được giảm lương của thẩm phán đã bảo vệ các thẩm phán khỏi áp lực của Quốc hội, cơ quan có thể đe dọa cố định mức lương của họ ở mức thấp đến nỗi họ buộc phải từ chức.

Ðiều III, Khoản 2

(1) Quyền lực tư pháp căn cứ vào Hiến pháp này sẽ có hiệu lực đối với tất cả các vụ việc trên phương diện luật pháp và công lý, các điều luật của Hoa Kỳ, các hiệp ước đã hoặc sẽ ký dưới thẩm quyền của Chính phủ; đối với các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, đối với các trường hợp liên quan tới luật pháp hàng hải và hải quân; đối với các tranh chấp mà Hoa Kỳ là một bên, đối với các cuộc tranh chấp giữa hai bang trở lên, giữa một bang với các công dân của bang khác, giữa các công dân của các bang khác nhau, giữa các công dân trong một bang tranh chấp đất đai do các bang khác nhau cấp, giữa một bang hoặc các công dân của bang đó với các bang khác [hoặc các công dân và đối tượng của bang khác].

CHÚ THÍCH: Quyền giải quyết “các vụ việc nảy sinh từ Hiến pháp này” của các tòa án liên bang là cơ sở cho quyền của Tòa án Tối cao có thể tuyên bố các bộ luật của Quốc hội là không phù hợp với Hiến pháp. Quyền “xem xét lại của tòa án” là một quyết định lịch sử của Chánh án Tòa án Tối cao John Marshall trong vụ Marbury kiện Madison năm 1803.

Điều bổ sung sửa đổi thứ 11 đã xóa cụm từ “giữa một bang và các công dân của bang khác” và loại bỏ các vụ tố tụng của các công dân chống lại một bang khỏi phạm vi giải quyết của các tòa án liên bang.

(2) Trong các trường hợp liên quan tới các đại sứ, các công sứ và các lãnh sự, và các trường hợp mà một bang thuộc về một bên, thì Tòa án tối cao phải mở phiên tòa sơ thẩm. Trong những trường hợp khác, căn cứ vào luật pháp, vụ việc và cả những ngoại lệ và tuân theo những quy chế do Quốc hội đề xuất, Tòa án tối cao sẽ mở phiên tòa phúc thẩm.

CHÚ THÍCH: Tuyên bố rằng Tòa án Tối cao có quyền lực pháp lý đầu tiên trong các vụ việc ảnh hưởng đến các chính phủ nước ngoài và các đại diện của họ và trong các vụ việc mà chính quyền của một bang là một trong các bên tham gia có nghĩa là các vụ việc thuộc dạng này sẽ được tống đạt trực tiếp lên Tòa án Tối cao. Trong các trường hợp khác, Tòa án Tối cao có thẩm quyền chống án. Điều này có nghĩa là các vụ việc được xét xử đầu tiên tại một tòa án cấp thấp hơn và có thể gửi lên đến Tòa án Tối cao để xem xét lại nếu Quốc hội cho phép kháng cáo đối với các dạng vụ việc này. Quốc hội không được tước bỏ hay sửa đổi quyền lực pháp lý đầu tiên của Tòa án Tối cao, tuy nhiên nó có thể tước bỏ quyền kháng cáo gửi lên đến tòa án đó hoặc sửa đổi các điều kiện mà một bên phải đáp ứng để thực hiện kháng án.

(3) Trừ những trường hợp bị buộc trọng tội, việc xét xử các tội sẽ phải thông qua Bồi thẩm đoàn và phiên tòa xét xử sẽ mở tại bang đã xẩy ra vụ việc phạm tội. Nhưng nếu vụ việc không xẩy ra trong bất cứ bang nào, thì phiên tòa sẽ họp ở một nơi mà Quốc hội căn cứ vào luật để quyết định.

Ðiều III, Khoản 3

(1) Tội phản quốc chống lại Hoa Kỳ bao gồm hành vi gây chiến tranh tấn công nước này hoặc ủng hộ kẻ thù, trợ giúp và úy lạo chúng. Không một ai bị phán quyết về tội phản quốc, trừ phi có hai người làm chứng về hành vi phạm tội hoặc có sự thú tội công khai trước tòa.

CHÚ THÍCH: Không ai có thể bị buộc tội phản quốc chống lại Hoa Kỳ trừ khi ông ta/bà ta thú nhận điều đó trong một tòa án công khai, hoặc trừ khi có hai nhân chứng chứng nhận rằng ông ta hoặc bà ta đã thực hiện một hành động phản quốc. Nói chuyện hoặc suy nghĩ về một hành động phản quốc không phải là tội phản quốc.

(2) Quốc hội có quyền xác định hình phạt cho tội phản quốc. Nhưng không một sự trừng phạt nào hay việc tịch thu tài sản lại thực hiện đối với những người thân của kẻ phạm tội, mà chỉ thực hiện đối với bản thân họ mà thôi.

CHÚ THÍCH: Cụm từ “việc tịch thu tài sản và quyền công dân đối với một người phản quốc sẽ không ảnh hưởng đến thân nhân” có nghĩa là gia đình của một kẻ phản bội không phải chịu chung tội lỗi đó. Trước đây, gia đình của một tội phạm cũng có thể bị trừng phạt.

Ðiều IV* (*Hầu hết nội dung của điều này đều lấy nguyên bản từ các Điều khoản Hợp bang cũ).

Ðiều IV, Khoản 1

MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC BANG

Mỗi bang đều phải tin tưởng tuyệt đối vào các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng của các bang khác. Quốc hội bằng những luật có tính chất chung quy định cách thức chứng thực các điều luật, hồ sơ và thủ tục tố tụng đó, cũng như hiệu lực của chúng.

CHÚ THÍCH: Phần này yêu cầu các bang tôn trọng các đạo luật, hồ sơ và quy tắc xử án của các bang khác.

Ðiều IV, Khoản 2

(1) Công dân của mỗi bang sẽ được hưởng mọi đặc quyền và quyền bất khả xâm phạm như công dân của các bang khác.

CHÚ THÍCH: Điều này có nghĩa là các công dân đi lại giữa các bang có quyền được hưởng tất cả các đặc quyền và sự miễn trừ được tự động áp dụng với công dân của các bang đó. Một vài đặc quyền như quyền bầu cử không được tự động áp dụng đối với quyền công dân mà yêu cầu một thời gian cư trú và có thể các tiêu chí khác nữa. Từ “công dân” trong điều khoản này không bao gồm các tập đoàn.

(2) Cá nhân bị truy tố về tội phản quốc, trọng tội hoặc một tội nào khác mà trốn tránh pháp luật và bị tìm thấy ở một bang khác, thì theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của bang mà người đó chạy trốn, sẽ bị trao trả lại và dẫn độ về bang có thẩm quyền xét xử.

CHÚ THÍCH: Nếu một người phạm tội tại một bang và chạy trốn sang bang khác, thống đốc của bang nơi phạm nhân đó thực hiện hành vi phạm tội có thể yêu cầu trao trả kẻ chạy trốn đó. Quá trình trao trả một người bị buộc tội được gọi là dẫn độ. Trong một vài trường hợp, một thống đốc có thể từ chối dẫn độ. Thống đốc có thể làm như vậy do việc phạm tội đã cách đây nhiều năm, hoặc do ông ta hoặc bà ta tin rằng người bị buộc tội có thể đã không được xét xử công bằng tại bang kia.

(3) [Không một cá nhân nào vốn bị giam cầm, quản thúc, khổ sai ở một bang bỏ trốn sang một bang khác lại có thể dựa vào luật lệ và qui chế ở địa phương mới để trốn tránh những hình phạt nói trên, ngược lại cá nhân đó phải được trao trả lại theo yêu cầu của bên mà cá nhân đó buộc phải làm việc và lao động].

CHÚ THÍCH: Một “người được giữ để phục vụ hoặc lao động” là một nô lệ hoặc một nô bộc khế ước (một người bị ràng buộc bởi một hợp đồng phục vụ cho một ai đó trong nhiều năm). Hiện tại không một ai tại Hoa Kỳ bị ràng buộc vào tình trạng nô lệ, do vậy phần này của Hiến pháp đã được loại bỏ trong Điều bổ sung sửa đổi thứ 13 và hiện không còn hiệu lực.

Ðiều IV, Khoản 3

MỐI QUAN HỆ GIỮA BANG VÀ LIÊN BANG

(1) Những bang mới có thể được Quốc hội chấp nhận gia nhập vào Liên bang này; nhưng không một bang mới nào sẽ được thành lập hoặc dựng nên dưới thẩm quyền của bất cứ bang nào khác; cũng không một bang nào sẽ được hình thành bằng cách sát nhập hai bang trở lên hoặc các vùng của các bang khác nếu không được sự đồng ý của cơ quan lập pháp ở các bang có liên quan cũng như của Quốc hội.

CHÚ THÍCH: Các bang mới không được phép hình thành bằng cách chia cắt hay sát nhập vào các bang khác mà không được sự tán thành của các cơ quan lập pháp bang và Quốc hội. Trong suốt cuộc Nội chiến (1861-1865), bang Virginia đấu tranh cho phe Liên minh, tuy nhiên nhân dân miền Tây của bang lại ủng hộ Liên bang. Sau khi miền Tây Virginia tách khỏi Virginia, Quốc hội đã chấp nhận một bang mới trên vùng đất mà Virginia đã nổi dậy.

(2) Quốc hội có quyền hoạch định và xây dựng các luật lệ và qui chế cần thiết liên quan tới lãnh thổ hoặc sở hữu khác thuộc về Hoa Kỳ; và không một điều nào trong Hiến pháp này sẽ được giải thích làm tổn hại đến bất cứ tuyên bố nào của Hoa Kỳ hay của bất cứ một bang cụ thể nào khác.

Ðiều IV, Khoản 4

Hoa Kỳ sẽ đảm bảo cho mỗi bang trong Liên bang này một thể chế chính quyền cộng hoà; và sẽ bảo vệ mỗi bang chống lại sự xâm lược; và theo yêu cầu của cơ quan lập pháp hoặc hành pháp (khi cơ quan lập pháp không thể nhóm họp) để chống lại tình trạng bạo lực trong nước.

CHÚ THÍCH: Phần này yêu cầu Chính phủ Liên bang đảm bảo rằng mọi bang đều có “tổ chức chính quyền cộng hòa”. Một chính quyền cộng hòa là một chính quyền trong đó nhân dân bầu ra các đại diện để quản lý bang. Tòa án Tối cao quy định rằng Quốc hội, chứ không phải các tòa án, phải quyết định xem một chính quyền bang có tính chất cộng hòa hay không. Nếu Quốc hội chấp nhận các Thượng Nghị sỹ và Hạ Nghị sỹ của một bang thì hành động đó biểu thị rằng Quốc hội cho rằng chính quyền bang đó là cộng hòa.

Cơ quan lập pháp hoặc thống đốc của một bang có thể yêu cầu sự trợ giúp của liên bang trong việc giải quyết các cuộc nổi loạn hay các dạng tội ác nội bộ khác. Tuy nhiên Tổng thống không cần sự chấp thuận của một bang trong việc gửi các lực lượng liên bang, bao gồm cả các lực lượng quân đội để thực hiện các đạo luật liên bang. Trong cuộc bãi công Pullman năm 1894, Chính phủ Liên bang đã gửi các sư đoàn tới Illinois mặc dù thống đốc bang không muốn. Năm 1957 Tổng thống Eisenhower đã quốc hữu hóa Lực lượng Phòng vệ bang Arkansas nhằm tước bỏ quyền chỉ huy của Thống đốc bang Arkansas Orval Faubus và gửi Quân đội Hoa Kỳ đến Arkansas để giúp đỡ họ thực hiện các mệnh lệnh của tòa án hạt liên bang nhằm xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc tại trường Little Rock.

Ðiều V

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

Khi hai phần ba thành viên của cả hai Viện đều xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp ở hai phần ba các bang, Quốc hội sẽ đưa ra những điều sửa đổi đối với Hiến pháp này và sẽ triệu tập Ðại hội để đề xuất những điều sửa đổi; cả trong hai trường hợp chúng đều có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang, hoặc bởi Ðại hội của ba phần tư các bang, theo một thể thức phê chuẩn do Quốc hội đề nghị với điều kiện là không một điều sửa đổi nào có thể được đề xuất trước năm 1808 theo một cách thức ảnh hưởng đến đoạn 1 và đoạn 4 trong khoản 9 của Ðiều 1; và không một bang nào, nếu bản thân không đồng ý, lại có thể bị tước đoạt quyền bỏ phiếu bình đẳng trong Thượng viện.

CHÚ THÍCH: Hiến pháp có thể được đề nghị sửa đổi nếu có hai phần ba phiếu bầu của mỗi viện của Quốc hội hoặc do một hội nghị quốc gia do Quốc hội triệu tập theo yêu cầu của hai phần ba các bang. Để trở thành một phần của Hiến pháp, các điều bổ sung sửa đổi phải được các cơ quan lập pháp hoặc các hội nghị trong ba phần tư các bang thông qua (phê chuẩn).

Ý tưởng của những người soạn thảo Hiến pháp là nhằm gây khó khăn cho việc thông qua một điều bổ sung sửa đổi. Quốc hội đã xem xét hơn 9.000 điều bổ sung sửa đổi nhưng chỉ đề xuất 33 bản và đệ trình cho các bang. Trong số này, chỉ có 27 điều được phê chuẩn. Chỉ có một điều bổ sung sửa đổi thứ 21 được các hội nghị bang phê chuẩn. Tất cả các điều khác đều được các cơ quan lập pháp bang phê chuẩn.

Hiến pháp không giới hạn thời gian quy định các bang phê chuẩn một điều bổ sung sửa đổi được đề xuất. Tuy nhiên, tòa án quy định rằng các điều bổ sung sửa đổi phải được thông qua trong một “thời gian hợp lý” và Quốc hội phải quyết định thời gian như thế nào là hợp lý, như trường hợp xảy ra khi Điều bổ sung sửa đổi thứ 27 ngày 7/5/1992 được phép ban hành – hơn 202 năm sau khi được đề xuất. Từ đầu những năm 1900, hầu hết các điều bổ sung sửa đổi được đề xuất đều yêu cầu phê chuẩn trong vòng bảy năm.

Ðiều VI

CÁC KHOẢN NỢ QUỐC GIA

(1) Mọi khoản nợ đã ký kết và những cam kết có trước khi thông qua Hiến pháp này vẫn có hiệu lực đối với Liên bang được thành lập trong khuôn khổ Hiến pháp này cũng như đối với Liên minh cũ.

CHÚ THÍCH: Phần này cam kết rằng tất cả các khoản nợ và các nghĩa vụ Hoa Kỳ thực hiện trước khi ban hành Hiến pháp này sẽ được tôn trọng.

QUYỀN TỐI CAO CỦA CHÍNH PHỦ QUỐC GIA

(2) Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này; bất cứ một điều gì trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp Liên bang đều không có giá trị.

CHÚ THÍCH: Phần này, được xem là điều khoản tối cao, được gọi là then chốt của Hiến pháp – tức là phần giữ cho toàn bộ kết cấu ổn định nguyên vẹn. Nó đơn giản nghĩa là khi các đạo luật liên bang xung đột với luật quốc gia thì luật quốc gia có hiệu lực cao hơn. Nó cũng có nghĩa là luật quốc gia muốn có hiệu lực phải phù hợp với Hiến pháp.

(3) Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ, các thành viên của cơ quan lập pháp các bang, các quan chức trong cơ quan hành pháp của Liên bang lẫn tiểu bang đều phải tuyên thệ hoặc xác nhận sự ủng hộ Hiến pháp này. Nhưng không một điều kiện tôn giáo nào bị coi là bắt buộc như tiêu chuẩn để bổ nhiệm vào các chức vụ, công sở của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

CHÚ THÍCH: Phần này yêu cầu các quan chức của bang và liên bang phải tuyệt đối trung thành đối với Hiến pháp của Hoa Kỳ chứ không phải là hiến pháp của bất kỳ bang nào. Phần này cũng nghiêm cấm bất cứ hình thức kiểm tra tín ngưỡng nào có mục đích xem xét việc trao quyền cho các quan chức liên bang. Điều khoản này chỉ áp dụng đối với chính quyền quốc gia, tuy nhiên Điều bổ sung sửa đổi thứ 14 áp dụng cùng một nguyên tắc này đối với các chính quyền bang và địa phương.

Ðiều VII

PHÊ CHUẨN HIẾN PHÁP

Việc các đại hội của 9 bang phê chuẩn là đủ điều kiện để thiết lập hiến pháp giữa các bang (vốn cũng tham gia phê chuẩn Hiến pháp này).

(Tuyên bố sau đây cho thấy những sửa chữa của người sao chép đối với tài liệu gốc)

Từ “the” viết xen vào giữa dòng thứ bảy và thứ tám của trang thứ nhất, từ “thirty” được viết một phần vào phần xóa bỏ trong dòng thứ 15 của trang thứ nhất, từ “is tried” được viết xen vào giữa dòng thứ 32 và 33 của trang thứ nhất và từ “the” được viết xen vào giữa dòng thứ 43 và 44 của trang thứ hai. — Thư ký William Jackson chứng thực

Hiến pháp được đại biểu các bang có mặt nhất trí thông qua trong đại hội vào ngày 17 tháng 9 năm 1787 Thiên chúa Giáng sinh, vào năm độc lập thứ 12 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ðể chứng thực, chúng tôi có mặt tại đây đồng ý và ký tên.

Go. Washington – Tổng thống, Ðại biểu Bang Virginia

Bang Delaware Geo: Read Gunning Bedford Jun John Dickinson Richard Bassett Jaco: Broom

Bang Maryland James Mchenry Dan Of St Thos. Jenifer Danl Carroll

Bang Virginia John Blair– James Madison Jr.

Bang Bắc Carolina Wm. Blount Richd. Dobbs Spaight Hu Williamson

Bang Nam Carolina J. Rutledge Charles Cotesworth Pinckney Charles Pinckney Pierce Butler

Bang Georgia William Few Abr Baldwin

Bang Newhampshire John Langdon Nicholas Gilman

Bang Massachusetts Nathaniel Gorham Rufus King

Bang Connecticut Wm. Saml. Johnson Roger Sherman

Bang New York Alexander Hamilton

Bang New Jersey Wil: Livingston David Brearley Wm. Paterson Jona: Dayton

Bang Pennsylvania B Franklin Thomas Mifflin Robt Morris Geo. Clymer Thos. Fitzsimons Jared Ingersoll James Wilson Gouv Morris


Ấn phẩm của Chương trình Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004

Phỏng theo TỪ ĐIỂN BÁCH KHOA WORLD BOOK, bản quyền của Công ty World Book năm 2004. Được phép của Nhà xuất bản. Địa chỉ trên Internet: ww.worldbook.com

Bản dịch của Đại sứ quán Hoa kỳ tại Việt nam

NHỮNG ĐIỀU BẤT CẬP TRONG LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

LS. NGUYỄN MẠNH BÁCH

Luật Doanh nghiệp được thông qua vào tháng 11-2005 và sẽ có hiệu lực từ tháng 7-2006 là một nỗ lực đáng ghi nhận nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật để Việt Nam gia nhập cộng đồng thương mại thế giới. Tuy nhiên, làm luật mà vội vàng thì không tránh khỏi những bất cập. Chúng tôi xin nêu lên một số ý kiến có tính cách tham khảo liên quan đến những nhầm lẫn hay bất cập trong Luật Doanh nghiệp.

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn

Điều 60, khoản 2 quy định: “trường hợp tăng vốn điều lệ bằng việc tiếp nhận thêm thành viên phải được sự nhất trí của các thành viên”. Ở đây có sự nhầm lẫn bởi vì việc tăng vốn điều lệ thuộc thẩm quyền quyết định của hội đồng thành viên, mà theo điều 52 quy định việc thông qua quyết định của hội đồng thành viên không có trường hợp nào cần phải có sự nhất trí của các thành viên.

Điều 66, khoản 1 quy định: “chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rút vốn một phần hoặc toàn bộ vốn đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty”.

Quy định này thiếu chính xác khiến điều luật không có nghĩa. Thực vậy, vấn đề đặt ra là: việc rút vốn dưới “hình thức khác” được thực hiện trên thực tế như thế nào? Và “liên đới” chịu trách nhiệm với ai? Ngoài việc chuyển nhượng một phần hay toàn bộ vốn cho người khác, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên còn có thể giảm vốn điều lệ, và trong trường hợp này một mình họ phải chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty.

Đối với công ty cổ phần

Các quy định về công ty cổ phần cho thấy nhiều sự lúng túng của nhà làm luật. Trước hết xin nói về điều 80, có hai vấn đề:

– Khoản 1: cổ đông phổ thông phải “thanh toán đủ số cổ phần đã cam kết mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”. Ở đây có sự nhầm lẫn. Sự thật chỉ riêng các cổ đông sáng lập là phải thanh toán đủ số cổ phần phổ thông đăng ký mua trong thời hạn trên. Đối với các cổ đông khác, trên nguyên tắc họ phải thanh toán đủ một lần khi đăng ký mua, nhưng không nhất thiết phải trong thời hạn 90 ngày như nói trên, bởi vì công ty có quyền rao bán cổ phần trong thời hạn ba năm sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (điều 84).

– Khoản 5: “cổ đông phổ thông phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty… thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty”. Quy định này vô nghĩa bởi vì khó có thể hình dung làm thế nào một cổ đông phổ thông lại có thể nhân danh công ty thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn của công ty nếu họ không phải là người có thẩm quyền trong cơ cấu quản lý công ty.

Điều 84, khoản 5 quy định: “trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông”.

Quy định này không rõ ràng, có thể dẫn đến các giải thích sai lệch. Sự thật quy định này chỉ liên quan đến số cổ phần phổ thông tối thiểu (20% tổng số cổ phần được quyền chào bán) mà các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua khi đăng ký kinh doanh; số cổ phần này không được tự do chuyển nhượng trong thời hạn ba năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ngoài số cổ phần tối thiểu này, cổ phần phổ thông khác của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng như đối với các cổ đông khác.

Điều 86, khoản 4 quy định: “cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày được tỷ lệ sở hữu đó”.

Vấn đề đặt ra là: mục đích của việc đăng ký này là gì? Phải chăng để Nhà nước kiểm soát công ty? Nhưng như thế là vi phạm quyền tự chủ của doanh nghiệp được xác nhận tại điều 8. Hoặc Nhà nước muốn kiểm soát việc đầu tư của tư bản tư nhân? Nhưng điều này đã lỗi thời trong thời đại mới. Dầu sao thì thủ tục này cũng có thể khiến các nhà đầu tư e ngại.

Điều 89 quy định: “cổ phần, trái phiếu của công ty cổ phần… phải được thanh toán đủ một lần”.

Khó khăn đặt ra trong trường hợp các cổ đông sáng lập không góp đủ vốn điều lệ và phải rao bán cổ phần sau khi đăng ký kinh doanh (đây là trường hợp thông thường). Đại hội đồng thành lập chỉ có thể được triệu tập để thiết lập cơ cấu quản lý đầu tiên của công ty khi toàn bộ cổ phần của công ty đã được đăng ký mua. Đối với công ty có vốn điều lệ lớn nếu buộc người mua cổ phần phải thanh toán đủ một lần khi đăng ký mua thì thời gian rao bán có thể kéo dài và việc triệu tập đại hội đồng thành lập sẽ bị đình trệ, gây thiệt hại cho cổ đông và công ty.

Tham chiếu luật của các quốc gia khác, người mua cổ phần không bắt buộc phải thanh toán giá tiền ngay một lần mà có thể trả trước 50%, số tiền còn lại sẽ thanh toán trong thời hạn quy định tại phiếu đăng ký mua; mọi việc thanh toán chậm trễ sẽ chịu lãi và người nào thanh toán không đúng hạn sẽ phải bồi thường thiệt hại cho công ty nếu có. Như vậy, đại hội đồng sáng lập có thể được triệu tập ngay sau khi toàn bộ cổ phần của công ty đã được đăng ký mua mặc dù chưa thanh toán đủ.

Đối với doanh nghiệp tư nhân

Điều 144 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình… Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp”.

Vấn đề đặt ra là phạm vi trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong trường hợp này. Nếu hiểu theo văn từ thì mặc dù đã cho thuê, chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm như không hề có sự thuê mướn này. Đây là một điều trái với nguyên tắc pháp lý thông thường trong việc cho thuê tài sản nên khó có thể chấp nhận được. Sự thực chủ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về tài sản cho thuê và không chịu trách nhiệm về công việc khai thác tài sản này. Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ bảo đảm cho người thuê sử dụng ổn định cơ sở kinh doanh. Nghĩa vụ này bao gồm: bảo đảm cho người thuê không bị quấy nhiễu trong thời gian thuê, bảo đảm các hư hỏng của cơ sở kinh doanh.

Do tính ổn định cố hữu của luật pháp, luật sai thì khó sửa. Có thể nghĩ đến một giải pháp “chữa cháy” là Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Doanh nghiệp, nhưng có những vấn đề vượt quá quyền hạn của Chính phủ thì Quốc hội phải ra luật sửa đổi, và như thế thì thật là “một lần không chín, chín lần không nên”.

Có thể nghĩ đến một giải pháp “chữa cháy” là Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành Luật Doanh nghiệp, nhưng có những vấn đề vượt quá quyền hạn của Chính phủ thì Quốc hội phải ra luật sửa đổi, và như thế thì thật là “một lần không chín, chín lần không nên”.

SOURCE: Thời báo Kinh tế Sài Gòn tháng 05/2006