LUẬT ĐẦU TƯ VÀ NHỮNG BẤT CẬP

Luật Đầu tư chung (ĐTC) là một trong hai luật kinh doanh quan trọng (cùng với Luật Doanh nghiệp thống nhất) để đẩy nhanh tốc độ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng như đầu tư nước ngoài và góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Luật ĐTC sẽ thay thế Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài, góp phần tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế cho các hoạt động đầu tư ở Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.

Những bất cập về Luật Đầu tư chung.

Luật Đầu tư chung (ĐTC) được Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XI thảo luận và thông qua vào tháng 11 – 2005. Trong quá trình thảo luận, có rất nhiều ý kiến chưa đồng tình ủng hộ, nên nhiều lúc tưởng chừng không thể thông qua vì trong Luật có quá nhiều bất cập. Thậm chí, Chủ t?ch Quốc hội Nguyễn Văn An khi điều khiển phiên thảo luận kỳ họp này cũng đã tuyên bố, các đại biểu cứ thảo luận kỹ, nếu chưa nhất trí thì chưa thông qua nhưng…cuối cùng vẫn thông qua.

Nhiều ý kiến của doanh nghiệp cũng như của các chuyên gia pháp luật, kinh tế cho rằng, các cơ chế quản lý như trong Luật ĐTC thể hiện sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư. Những ý kiến đóng góp của các đại biểu không phải là không có lý, vì họ e ngại Luật ĐTC sẽ “đẻ” thêm giấy phép con, vẫn nặng về thủ tục là bước lùi so với trước…

Sau đây là một số bất cập trong Luật ĐTC:

– Luật ĐTC đã đưa ra tiêu chí mới để phân loại các dự án đầu tư và áp dụng thêm thủ tục đăng ký/cấp phép đầu tư đối với dự án đầu tư trong nước, đây là những thủ tục mà cho đến nay, nhà đầu tư trong nước không phải thực hiện. Như vậy, bên cạnh việc đăng ký thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước phải có nghĩa vụ đăng ký đầu tư đối với mọi dự án đầu tư mới. Hơn thế, những dự án đầu tư nào có giá trị trên 5 tỷ đồng mà thuộc loại dự án phổ thông sẽ phải được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (giấy CNĐKĐT), còn các dự án đầu tư thuộc ba nhóm còn lại phải được Nhà nước thẩm định trước khi cấp phép đầu tư.

Nhiều người cho rằng, nguy cơ ‘’đẻ’’ ra những giấy phép con, cản trở hoạt động của nhà đầu tư là không thể tránh khỏi. Bởi lẽ, muốn được cấp phép đầu tư phải thuê tư vấn độc lập thẩm định hiệu quả của dự án, phải có chứng nhận thẩm định chất lượng thiết bị nhập từ nước ngoài. Việc tạo ra những ‘’giấy phép con’’ thể hiện tư duy cũ của người quản lý đầu tư, không phù hợp với bối cảnh hội nhập. Xu hướng chung, quản lý đầu tư phải chuyển từ ‘’tiền kiểm’’ sang ‘’hậu kiểm’’, nhằm giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tăng cường ‘’hậu kiểm’’, cơ quan quản lý sẽ phải chịu khổ và vất vả hơn trong việc thẩm định các yêu cầu đối với nhà đầu tư.

Chính vì thế, có ý kiến cho rằng, không phải cán bộ quản lý đầu tư không biết phiền toái của ‘’giấy phép con’’, thế nhưng, bằng ‘’giấy phép con’’, cơ quan quản lý đầu tư muốn nắm ‘’đằng chuôi’’, giành lấy sự an nhàn cho mình. ‘’Giấy phép con’’ có thể làm sống lại cơ chế ‘’xin- cho’’, tạo nên mảnh đất mầu mỡ cho tiêu cực, nhũng nhiễu phát sinh.

Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp mà chủ yếu để thị trường quyết định. Cụ thể, các doanh nghiệp làm ăn với nhau sẽ giám sát lẫn nhau, và họ sẽ biết ai để có thể ‘’chọn mặt gửi vàng’’!

Đáng lẽ, Luật ĐTC nên cho phép nhà đầu tư đăng ký dự án, đăng ký kinh doanh cùng một thời điểm và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực của dự án, không cần đến sự thẩm tra của Nhà nước. Nếu trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp muốn đầu tư các dự án vượt ngoài phạm vi ngành nghề đã đăng ký thì buộc phải đăng ký bổ sung. Như thế, nhà đầu tư không cần đăng ký dự án, chỉ cần đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm về dự án đầu tư ở những lĩnh vực ngành nghề đăng ký. Quản lý nhà nước về đầu tư không có nghĩa là cơ quan Nhà nước phải thẩm tra tính khả thi hay hiệu quả của dự án, vì không đủ nhân lực để làm thay chủ đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh đã kiến nghị: “Đòi hỏi giấy chấp thuận đầu tư sẽ hạn chế quyền tự chủ của doanh nghiệp, trong khi nhà đầu tư không cần đến loại giấy này”.

Theo quy định của Luật ĐTC thì những dự án phổ thông từ 5 tỷ đồng – 300 tỷ đồng phải làm nhiều thủ tục để xin Giấy chấp thuận đầu tư của cơ quan quản lý đầu tư và chịu thêm một cơ quan thanh tra mới là thanh tra đầu tư. Đây là những vấn đề nảy sinh mà Luật Khuyến khích đầu tư trong nước trước đây không qui định.

Trong khi đó, các doanh nghiệp hiện nay còn phải chịu sức ép từ các đơn vị thanh tra như: Tài chính, thuế, môi trường, xây dựng, sử dụng đất đai, lao động, hình sự, cứu hoả, thống kê… Ngoài ra, còn có các cơ quan thanh tra chuyên ngành về chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, hàng hải, bưu chính viễn thông, vệ sinh an toàn thực phẩm…Người ta đã đặt câu hỏi, bất kỳ dự án đầu tư nào cũng đều phải chịu sự thanh tra của các tổ chức nói trên, không hiểu thanh tra sẽ thực hiện những công việc gì?

– Bất kỳ dự án đầu tư nào ở doanh nghiệp mà trị giá cổ phần nhà nước từ 100 tỷ đồng trở lên cũng được coi là dự án phổ thông có điều kiện. Như vậy cho dù giá trị dự án chỉ vài tỷ đồng cũng sẽ được coi là dự án phổ thông có điều kiện và buộc phải thẩm định bởi cơ quan Nhà nước để cho phép đầu tư. Điều này, Luật hiện hành cũng không qui định.

– Dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện được coi là dự án phổ thông có điều kiện. Như vậy là trong việc thành lập doanh nghiệp ở lĩnh vực đòi hỏi vốn pháp định (Luật Doanh nghiệp không quy định vốn pháp định), chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh theo qui định hiện hành và theo Dự thảo Luật doanh nghiệp thống nhất thì nhà đầu tư còn phải lập dự án để xin thêm Giấy chấp thuận đầu tư và có thể còn phải được sự chấp thuận thêm của một vài cơ quan hành chính mới. Chẳng hạn như thành lập doanh nghiệp kiểm toán, qui định hiện hành chỉ đòi hỏi 3 kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề thì được thành lập doanh nghiệp, nếu theo như dự thảo thì nhà đầu tư còn phải lập dự án đầu tư để xin chấp thuận từ UBND tỉnh hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư nữa…

– Bất kỳ dự án đầu tư nào có qui mô vốn trên 1.500 tỷ đồng đều được coi là dự án quan trọng và phải trình Chính phủ, so với trước có thể thêm vài cơ quan hành chính Nhà nước tham gia thẩm định dự án. Cụ thể, các dự án xây dựng đô thị mới, ngoài việc xin phép các cơ quan ban ngành của UBND tỉnh, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên Môi trường, bộ chủ quản, Tổng công ty Nhà nước thì nay có thể phải xin phép thêm Bộ Kế hoạch và Đầu tư….

– Dự án không sử dụng vốn Nhà nước có qui mô trên 800 tỷ đồng trong lĩnh vực năng lượng, cơ khí chế tạo, ximăng… được coi là dự án quan trọng và phải được thẩm định để cấp phép đầu tư và phải trình Chính phủ, so với trước sẽ thêm vài cơ quan hành chính tham gia xét duyệt dự án nữa. Điều đáng lưu ý là để thẩm định một dự án thì có thể phải chịu sự điều chỉnh của nhiều Luật chuyên ngành, như vậy là nhà đầu tư sẽ phải chuẩn bị nhiều bộ hồ sơ cho các cơ quan Nhà nước khác nhau.

– Mọi dự án đầu tư của doanh nghiệp có cổ phần chi phối của Nhà nước thì đều được coi như là dự án của doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, thủ tục ra quyết định sẽ rất phức tạp vì doanh nghiệp đó bị coi là doanh nghiệp nhà nước.

Mục đích của cổ phần hoá là trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp, giảm bớt sự can thiệp của các cơ quan nhà nước, nay chúng ta lại định áp đặt trở lại cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước cho các doanh nghiệp cổ phần hoá hay chăng?

– Việc qui định bất kỳ dự án đầu tư nào có vốn góp của Nhà nước, dù chỉ là thiểu số hoặc không đáng kể thì bắt buộc nhà đầu tư phải tổ chức giám định giá trị và chất lượng thiết bị nhập khẩu tạo tài sản cố định.

Các Luật hiện hành không qui định điều này, đây không phải là vấn đề kiểm soát đầu tư hay tăng cường quản lý nhà nước mà là sự không hiểu biết về quản lý nhà nước. Và điều đó sẽ cản trở đầu tư, hạn chế quyền kinh doanh của doanh nghiệp.

Về vấn đề này, Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế và Ngân sách Nguyễn Đức Kiên cũng phải thừa nhận “Đúng là nay mai phải suy nghĩ sâu sắc hơn đối với dự án đầu tư, doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước. Nhà nước ‘’thò tay’’ đến đâu để không triệt tiêu quyền của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc điều hành… Các đại biểu phản ánh thì mình cố gắng lắng nghe”.

– Nhiều người không tán thành việc qui định bất kỳ dự án nào được xây dựng mà Nhà nước có vốn góp dù chỉ là thiểu số hoặc không đáng kể thì việc lập, thẩm định, phê duyệt kỹ thuật, dự toán, tổng dự toán được thực hiện theo qui định của pháp luật về xây dựng. Nếu qui định như vậy thì đã áp đặt đối tượng doanh nghiệp này là doanh nghiệp nhà nước rồi, điều này hoàn toàn không có căn cứ.

– Tất cả các dự án đầu tư không phân biệt qui mô vốn, mà có cổ phần Nhà nước chiếm 30% trở lên thì phải thực hiện đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thực hiện dự án theo qui định của pháp luật về đấu thầu. Như vậy, qui định này can thiệp quá sâu vào qui chế quản trị doanh nghiệp.

Tổng thư ký Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI) Nguyễn Hoàng Hải cho rằng: “Hàng ngàn doanh nghiệp cổ phần hoá mà Nhà nước nắm giữ 30% cổ phần trở lên sẽ phải chịu thêm nhiều giấy phép con khi toàn bộ các dự án đầu tư của doanh nghiệp phải trình lên bộ, UBND tỉnh, … quyết định. Đồng thời, họ còn phải mất những khoản tiền phi lý để thuê những tổ chức ‘chân gỗ’ đóng vai trò thẩm định và sẽ không tránh khỏi tình trạng nhiều doanh nghiệp tư vấn có quan hệ ‘ruột’ với cơ quan nhà nước…”. ngàn DN sẽ bị ác

– Luật vẫn còn sự phân biệt giữa doanh nghiệp trong nước và luật đầu tư nước ngoài. Điều này, Chủ nhiệm ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội cũng thừa nhận: “ Nước nào cũng có một tí ưu tiên cho ‘’con đẻ’’ của mình”.

Sự kiện Luật ĐTC được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thực hiện từ 1/7/2006, sẽ là một sự chuyển đổi môi trường rất lớn đối với các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước.

Hoàng Văn Dụ

TCCN số tháng 9/2006 (trang 54)

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU MỘT CHẾ ĐỊNH QUAN TRỌNG TRONG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2006

Ngày nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm thực hiện các quyền đó ngày càng có vị trí quan trọng trong thương mại quốc tế cũng như đối với nền kinh tế mỗi quốc gia. Đối với nền kinh tế trong nước, làm tốt việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo, bảo đảm động lực thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và thương mại; khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượng hàng hoá và tạo uy tín cho sản phẩm. Hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành mạnh, có vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế.

Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. Đây là một bước tiến dài trong việc bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Có thể nói, với việc thông qua một đạo luật thống nhất về sở hữu trí tuệ, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã xích lại gần hơn với thế giới.

Một trong những nội dung quan trọng của việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 là vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Luật dành riêng một phần gồm 3 chương, 22 điều quy định về vấn đề này, bao gồm các nội dung về quyền tự bảo vệ của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp xử lý về hành chính, dân sự, hình sự hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ…. Trong đó có một số điểm đáng chú ý sau:

1. Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định rõ các quyền mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ được phép tiến hành, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời chỉ rõ được vai trò chủ động của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình.

Cụ thể, khoản 1, Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng biện pháp công nghệ, nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; khởi kiện ra toà án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Điểm b, khoản 1, Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, hành vi không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó, bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và bị xử phạt hành chính. Quy định này đã gián tiếp khẳng định rõ hơn trong Luật quyền của chủ thể, quyền sở hữu trí tuệ trong việc yêu cầu chủ thể có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của mình buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm.

2. Các cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã được quy định cụ thể và có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng trong Luật Sở hữu trí tuệ, giúp các cơ quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ cũng như phối hợp với nhau tốt hơn trong quá trình xử lý hành vi vi phạm, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của chủ thể quyền sở hữu.

Điều 200 Luật Sở hữu trí tuệ quy định, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản lý thị trường, Hải quan, Công an và Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án, trong trường hợp cần thiết, Toà án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.

Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra, Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan.

3. Luật Sở hữu trí tuệ đã đề cao khía cạnh dân sự của quyền sở hữu trí tuệ thông qua các quy định về xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự.

Các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ xử lý tại toà dân sự sẽ được xem xét đầy đủ làm cho việc xử lý vi phạm đúng đắn, hiệu quả. Đây cũng là sự khẳng định rõ hơn của pháp luật, coi quyền sở hữu trí tuệ là một quyền dân sự (quyền nhân thân, quyền tài sản) mà việc chủ thể quyền sở hữu trí tuệ yêu cầu toà dân sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình bị xâm phạm là một quyền hết sức quan trọng, đồng thời là một công cụ hữu hiệu giúp chủ thể quyền sở hữu trí tuệ tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.

Làm rõ về vấn đề này, Luật Sở hữu trí tuệ dành 9 điều (từ Điều 202 đến Điều 209), trong đó gồm các nội dung khá chi tiết về các biện pháp dân sự, quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, các biện pháp khẩn cấp tạm thời và quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Đáng chú ý là quy định về nguyên tắc và căn cứ xác định thiệt hại và mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra trong trường hợp xử lý vi phạm bằng biện pháp dân sự. Cụ thể, thiệt hại được xác định bao gồm cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất được xác định trên cơ sở xác định các tổn thất thực tế, nếu không xác định được thì mức bồi thường thiệt hại do toà án ấn định, nhưng không quá năm trăm triệu đồng. Thiệt hại về tinh thần có thể được bồi thường từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Quy định về xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp dân sự trong Luật Sở hữu trí tuệ đã nâng cao vai trò của hệ thống cơ quan tư pháp, giảm bớt sự can thiệp của cơ quan hành chính nhà nước vào các vấn đề mang tính dân sự, tránh việc hành chính hoá các quan hệ dân sự.

4. Về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính, Luật Sở hữu trí tuệ đã phân định rõ ràng những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nào sẽ bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính bằng quy định tại Điều 211.

Cụ thể, các hành vi xâm phạm quyền sở hứu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính: Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội; Không chấm dứt hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, mặc dù đã được chủ thể quyền sở hữu trí tuệ thông báo bằng văn bản yêu cầu chấm dứt hành vi đó; Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả mạo về sở hứu trí tuệ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này; Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán vật mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được bảo hộ hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

Một điểm quan trọng ở nội dung xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hành chính trong Luật Sở hữu trí tuệ là quy định về mức tiền phạt đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Khoản 4, Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ quy định mức tiền phạt theo giá trị hàng hoá vi phạm, được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá đó. Quy định này đã khắc phục được một hạn chế vẫn thường xảy ra trong xử lý vi phạm hành chính là pháp luật ấn định một khung tiền phạt chung cho một loại hành vi vi phạm nào đó, mà trong nhiều trường hợp, vi phạm hành chính thuộc loại này đem lại lợi nhuận cho chủ thể vi phạm hoặc gây ra thiệt hại, tổn thất cho nhà nước, xã hội lớn hơn rất nhiều lần so với mức tiền phạt được quy định, dẫn đến mục đích của việc xử lý vi phạm hành chính không phát huy được tác dụng.

Thay lời kết: Có thể nói, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2006 được xem là một bước tiến quan trọng trong ngành lập pháp nước ta, góp phần xây dựng một hệ thống các tiêu chuẩn bảo hộ và các thủ tục bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách kịp thời, hiệu quả, công bằng và ít phiền hà, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, cũng như hướng đến việc gia nhập WTO trong một tương lai gần.

Hương Lan

TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP số tháng 11/2006 (trang 56)

LỊCH SỬ RA ĐỜI BẢO HIỂM HÀNG HẢI

Trước lợi nhuận mà ngành thương mại hàng hải mang lại cũng như mức độ và số lượng rủi ro phải ứng phó, các chủ tàu, các nhà buôn bán, những người vận tải luôn luôn tìm kiếm những hình thức bảo đảm an toàn cho quyền lợi của mình. Đầu tiên là vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, người ta đã tìm cách giảm nhẹ tổn thất toàn bộ một lô hàng bằng cách sang nhỏ lô hàng của mình ra làm nhiều chuyến hàng. Đây là cách phân tán rủi ro, tổn thất và có thể coi đó là hình thức nguyên khai của bảo hiểm. Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay mạo hiểm” đã xuất hiện, theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hóa trong quá trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn không phải trả khoản tiền vay cả vốn lẫn lãi. Ngược lại họ sẽ phải trả một lãi suất rất cao khi hàng hóa đến bến an toàn, như vậy có thể hiểu lãi suất cao này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm.

Song số vụ tổn thất xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và thay thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời.

Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên mà theo đó một người bảo hiểm cam kết với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển, đồng thời với việc nhận một khoản phí.

Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện còn được lưu giữ tại Floren. Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ Dương và tìm ra châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển rất nhanh.

Về cơ sở pháp lý thì có thể coi chiếu dụ Barcelona năm 1435 là văn bản pháp luật đầu tiên trong ngành bảo hiểm. Sau đó là sắc lệnh của Philippe de Bourgogne năm 1458, những sắc lệnh của Brugos năm 1537, Fiville năm 1552 và ở Amsterdam năm 1558. Ngoài ra còn có sắc lệnh của Phần Lan năm 1563 liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hàng hóa.

Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVI – XVII, cùng với sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì hoạt động bảo hiểm mới phát triển rộng rãi và ngày càng đi sâu vào nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội.

Mở đường cho sự phát triển này là luật 1601 của Anh thời Nữ hoàng Elisabeth, sau đó là Chỉ dụ 1681 của Pháp do Colbert biên soạn và Vua Louis XIV ban hành, đó là những đạo luật mở đường cho lĩnh vực bảo hiểm hàng hải.

Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán và hàng hải quốc tế, với Luân Đôn là trung tâm phồn thịnh nhất. Tàu của các nước đi từ Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờ sông Thame của thành phố Luân Đôn. Các tiệm cà phê là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm… để giao dịch, trao đổi tin tức, bàn luận trực tiếp với nhau.

Edward Lloyd’s là một thuyền trưởng về hưu bắt đầu mở quán cà phê ở phố Great Tower ở Luân Đôn vào khoảng năm 1692. Các nhà buôn, chủ ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm… thường đến đó để trao đổi các thông tin về các con tàu viễn dương, về hàng hóa chuyên chở trên tàu, về sự an toàn và tình hình tai nạn của các chuyến tàu…

Ngoài việc quản lý quán cà phê, năm 1696 Edward Lloyd’s còn cho ra một tờ báo tổng hợp về tình hình tàu bè và các vấn đề khác nhằm cung cấp thông tin cho các khách hàng của ông. Tuy nhiên, việc làm chính của ông vẫn là cung cấp địa điểm để khách hàng đến giao dịch bảo hiểm, hội họp.

Sau khi Edward Lloyd’s qua đời, người ta thấy rằng cần phải có một nơi tương tự như vậy để các nhà khai thác bảo hiểm hàng hải tập trung đến giao dịch bảo hiểm và năm 1770, “Society of Lloyd’s” với tư cách là một tổ chức tự nguyện đã thành lập và thu xếp một địa điểm ở Pope’s Head Alley cho các thành viên của họ. Sau đó tổ chức này rời địa điểm đến trung tâm hối đoái của Hoàng gia và ở đó đến năm 1828 thì rời đến toà nhà riêng của họ tại phố Leaden Hall. Tổ chức này hoạt động với tư cách là tổ chức tư nhân đến năm 1871 thì hợp nhất lại theo luật Quốc hội và trở thành Hội đồng Lloyd’s và sau này đã trở thành nơi giao dịch kinh doanh bảo hiểm và hãng bảo hiểm lớn nhất thế giới.

Sau bảo hiểm hàng hải là sự xuất hiện của bảo hiểm hỏa hoạn, đánh dấu bằng vụ cháy thảm khốc ở Luân Đôn nước Anh ngày 2/9/1666, hủy diệt 13.000 căn nhà, trong đó có hơn 100 nhà thờ trong 4 ngày để lại một sự thiệt hại quá lớn không thể cứu trợ được. Sau đó, những nhà kinh doanh ở nước Anh đã nghĩ ra việc cộng đồng chia sẻ rủi ro hỏa hoạn bằng cách đứng ra thành lập những Công ty bảo hiểm hỏa hoạn như: “Fire Office” (năm 1667), “Friendly Society” (năm 1684), “Hand and Hand” (năm 1696), “Lom Bard House” (năm 1704)… Lúc đó Công ty bảo hiểm Lloyds đã ra đời nhưng chỉ hoạt động trong lĩnh vực hàng hải. Mãi tới thế kỷ XX mới chuyển sang hoạt động cả lĩnh vực nội địa và tái bảo hiểm.

Nước Pháp do ảnh hưởng của vụ hỏa hoạn ở Luân Đôn, nên năm 1786 công ty bảo hiểm hỏa hoạn đầu tiên mới được thành lập, đó là “Company L’assurance Centree L’incendie” và “Company Royade” (năm 1788). Sự kiện đáng được lưu truyền thời gian này và trong lịch sử bảo hiểm là công trình toán học của Pascal về “Hình học của rủi ro” (Lageometric Du Hasard) năm 1654 đã đưa đến toán học xác suất. Đó là cơ sở thống kê xác suất phục vụ cho hoạt động bảo hiểm và ngày nay vẫn được coi là kỹ thuật cơ bản của ngành bảo hiểm.

Còn ở Việt Nam, bảo hiểm xuất hiện từ bao giờ? Không có tài liệu nào chứng minh một cách chính xác mà chỉ phỏng đoán vào năm 1880 có các Hội bảo hiểm ngoại quốc như Hội bảo hiểm Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ… đã để ý đến Đông Dương.

Các Hội bảo hiểm ngoại quốc đại diện tại Việt Nam bởi các công ty thương mại lớn, ngoài việc buôn bán, các công ty này mở thêm một trụ sở để làm đại diện bảo hiểm.

Vào năm 1926, Chi nhánh bảo hiểm đầu tiên là của Công ty Franco- Asietique. Đến năm 1929 mới có Công ty Việt Nam đặt trụ sở tại Sài Gòn, đó là Việt Nam Bảo hiểm Công ty, nhưng chỉ hoạt động về bảo hiểm xe ô tô. Từ năm 1952 về sau, hoạt động bảo hiểm mới được mở rộng dưới những hình thức phong phú với sự hoạt động của nhiều công ty bảo hiểm trong nước và nước ngoài.

Ở miền Bắc, ngày 15/01/1965, Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt) mới chính thức đi vào hoạt động. Trong những năm đầu, Bảo Việt chỉ tiến hành các nghiệp vụ về hàng hải như bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu viễn dương…?

TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP/ CHUYÊN SAN CÔNG NGHIỆP TIẾP THỊ số tháng 1+2 NĂM 2007

TƯ NHÂN HOÁ Ở CÁC NƯỚC TÂY ÂU

TS. TÔ CHÍNH THẮNG

I. Tình hình tư nhân hoá ở Tây Âu Khoảng mười năm trước, mọi người đều cho rằng, tư nhân hoá là một phương pháp tốt để cải thiện tình hình kinh tế châu Âu. Các chính phủ thuộc các đảng phái khác nhau đều đã lựa chọn con đường tư nhân hoá do cựu Thủ tướng Margaret Thatcher vạch ra. Bằng cách chuyển các tài sản thuộc sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân, thông qua việc bán các cổ phiếu, có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao và qua đó thu được nhiều tiền cho ngân sách nhà nước.

Quá trình tư nhân hoá đã có những tác động rõ ràng. Tại Anh, các công ty nhà nước tạo ra 12% GDP năm 1979, nhưng chỉ tạo ra 2% GDP năm 1997. Lúc đó, thậm chí Chính phủ thuộc Đảng Xã hội Pháp cũng chấp nhận tư nhân hoá. Trong thời kỳ 1997-2002, Chính phủ của Thủ tướng Jospin thuộc Đảng Xã hội tiến hành tư nhân hoá còn mạnh tay hơn các chính phủ tiền nhiệm. Chính phủ Jospin đã phát hành lần thứ nhất 7,1 tỷ USD cổ phiếu để tư nhân hoá công ty viễn thông nhà nước France Telecom trên thị trường chứng khoán năm 1997, sau đó lại phát hành lần thứ hai 10,4 tỷ USD cổ phiếu để tiếp tục tư nhân hoá công ty này.

Tư nhân hoá đã lan rộng ra tất cả các nước châu Âu. Đức đã đem bán một số tài sản nhà nước, chẳng hạn như đã bán nhiều đợt tài sản của Công ty Viễn thông Deutsche Telecom trên thị trường chứng khoán năm 1997. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha cũng đã tiến hành tư nhân hoá một cách tích cực, cụ thể là Tây Ban Nha đã bán toàn bộ một công ty nhà nước hàng đầu là Công ty Iberia trong năm 2001. Tư nhân hoá đã lan rộng đến mức nó không chỉ là hiện tượng ở châu Âu, mà trở thành một hiện tượng của toàn thế giới. Trong số 35 vụ phát hành cổ phiếu lớn nhất từ trước tới nay trên các thị trường chứng khoán, thì các vụ phát hành cổ phiếu tư nhân hoá đã chiếm 30 vụ.

Tuy vậy, đến nay, số lượng tư nhân hoá ở châu Âu đã giảm. Tại một số nước, bao gồm Hà Lan và Đức, các kế hoạch tư nhân hoá cơ sở hạ tầng như bưu điện, sân bay và đường sắt đã bị hoãn hoặc đình chỉ. Tại Italia, Chính phủ của Thủ tướng Silvio Berlusconi, một nhân vật nhiệt thành với tư nhân hoá, đã không tham gia vào quá trình tư nhân hoá. Qúa trình này đã bị ngăn chặn bởi cuộc tranh luận về các hậu quả chính trị do tư nhân hoá gây ra. ở Pháp, việc cánh tả chiếm đa số trong Nghị viện đã mang lại xung lực mới cho chương trình tư nhân hoá bị ngăn lại, nhưng vẫn có nhiều người lo ngại rằng, chính sách tư nhân hoá sẽ gây tác động không tốt về mặt chính trị.

Tư nhân hoá được tiến hành kém tích cực hơn trước là do thái độ của các nước châu Âu đối với tư nhân hoá đã có sự thay đổi đáng kể. Anh quốc, là nước đầu tiên tiến hành tư nhân hoá, bị phê phán là đi quá xa trong việc bán hệ thống đường sắt và đề ra các “sáng kiến tài chính tư nhân” trong ngành Dịch vụ y tế và Vận tải. Việc bán một phần hệ thống kiểm soát vận tải hàng không cũng gây ra nhiều cuộc tranh luận.

Chính phủ Anh cho phép phá sản Công ty Đường sắt tư nhân Railtrack là một sự kiện đáng ghi nhớ, vì việc này sẽ dẫn tới tái quốc hữu hoá đường sắt. Chính phủ Anh cũng đã trì hoãn các kế hoạch tư nhân hoá ngành Bưu điện vì đang có khó khăn về tài chính và là một ngành quốc doanh lớn, quan trọng còn lại ở Anh. Câu hỏi đặt ra cho các nước còn lại ở châu Âu là: nếu tư nhân hoá có những hạn chế ở một đất nước đã đẩy nó đi xa nhất, thì các nước khác có nên chú ý đến nó trong tương lai hay không.?

II. Các lý do làm chậm quá trình tư nhân hoá

Tư nhân hoá công ty quốc doanh đã bị chậm lại từ cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX. Theo ông Ladan Mahboobi thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năm 2001 Chính phủ các nước OECD đã thu được một số tiền không lớn là 20,6 tỷ USD từ tư nhân hoá, trong đó, 3/4 số tiền này thu được tại các nước châu Âu. Trong những năm gần đây, quy mô tư nhân hoá không lớn như những năm trước, cụ thể là không có vụ tư nhân hoá nào thu được hơn 5 tỷ USD.

Paul Gibbs, chuyên gia phân tích của Tập đoàn J.P.Morgan đã tính toán doanh thu từ tư nhân hoá .Theo số liệu trong thời kỳ 1990-2002, tổng doanh thu từ tư nhân hoá ở châu Âu đạt 675 tỷ USD, một con số rất ấn tượng. Nhưng ông nhận thấy rằng, Chính phủ các nước châu Âu chỉ thu được 38 tỷ USD từ 103 vụ tư nhân hoá trong năm 2001, là một con số rất thấp so với số tiền 104 tỷ USD thu được từ tư nhân hoá trong năm đỉnh cao 1998.

Tư nhân hoá những năm gần đây bị giảm sút so với những năm trước là do ba nguyên nhân sau: Một là, các thị trường chứng khoán hoạt động yếu; Hai là, tâm lý bi quan của nhà đầu tư tăng lên; Ba là, nhiều người vẫn chưa hiểu rõ cơ sở để tư nhân hoá thực sự là gì?

Các thị trường chứng khoán hoạt động yếu đã đặt câu hỏi về triển vọng tiếp tục tư nhân hoá, mặc dù nhiều vụ tư nhân hoá được coi là một nguồn tài chính quan trọng để bảo đảm có đủ tài chính công tại các nước (như tại Pháp, Đức và Italy) hiện đang bị thâm hụt ngân sách. Các tham luận trong cuộc họp thượng đỉnh EU thời gian qua cho thấy, những thâm hụt ngân sách là mối đe doạ đối với sự ổn định và tăng trưởng của EU. Số tiền thu được từ tư nhân hoá không được sử dụng cho mục tiêu ổn định, nhưng vẫn có những giải pháp để tránh sự ràng buộc này.

Sự mất giá nhanh của các cổ phiếu viễn thông Telecom và các cổ phiếu công nghệ trên thị trường chứng khoán đã có tác động mạnh đến triển vọng tư nhân hoá, bởi vì các cổ phiếu này có giá trị thuộc loại lớn nhất trên thị trường. Các công ty viễn thông lớn như Deutsche Telecom và France Telecom có tầm cỡ rất lớn, không thể tư nhân hoá hoàn toàn sau một vụ phát hành cổ phiếu. Trước đây, việc phát hành cổ phiếu mới dễ được chấp nhận, vì giá cổ phiếu đang ở mức cao, thì nay việc này là không thể, khi mà giá cổ phiếu của các công ty tư nhân hoá bị giảm đột ngột.

Tình hình này được thể hiện ở Công ty Enel, một công ty phân phối điện lớn nhất Italy. Chính phủ bán 34,5% giá trị công ty này trong tháng 11 năm 1999, thu về 18,7 tỷ USD. Sau đó, Công ty này đã trả giá cao để thôn tính Công ty Viễn thông Telecoms. Vì vậy, mặc dù các nhà đầu tư trước đây đều ưa thích Công ty Enel, thì nay giá cổ phiếu bị giảm 30% so với thời điểm tư nhân hoá. Năm 2001, Chính phủ Italy đã hoãn thực hiện phát hành lần thứ hai cổ phiếu tư nhân hoá Công ty Enel, nhằm thu về hàng tỷ USD. Trong khi giá cổ phiếu Enel chưa phục hồi, thì việc phát hành cổ phiếu Enel đợt hai sẽ làm cho giá cổ phiếu Enel tiếp tục giảm sút. Do sự trì hoãn phát hành cổ phiếu đợt hai mà cổ đông lớn nhất của Công ty Enel vẫn là nhà nước.

Các nhà đầu tư cá nhân có lý do chính đáng để bi quan về các cổ phiếu của các công ty tư nhân hóa, nhiều cổ phiếu trong số đó đã có những lãi suất tầm thường. ý tưởng phát hành cổ phiếu nhằm vào các nhà đầu tư cá nhân, mà không nhằm vào một số ít các nhà đầu tư tổ chức lớn, đã nhận được hưởng ứng tích cực ở châu Âu. Ngân hàng Dự trữ Italy đã coi ý tưởng này là cách để khắc phục hệ thống truyền thống, theo đó, các ngân hàng đặt mua các cổ phiếu mờ ám. ở Đức, vụ bán Công ty Viễn thông Deutsche Telecom năm 1996 đã được đánh giá là một bước tiến lớn trong phát triển văn hóa cổ phiếu, có tác dụng hỗ trợ giải quyết cuộc khủng hoảng các qũy tiền hưu trí đang ngấp nghé.

III. Các vấn đề tồn tại trong tư nhân hóa

Việc tiếp tục tư nhân hoá còn gặp khó khăn bởi lợi ích nhà đầu tư đã không được bảo đảm khi họ mua cổ phiếu trong những vụ tư nhân hoá trước đây. Chẳng hạn, các nhà đầu tư cổ phiếu viễn thông France Telecom và Deutsche Telecom đã bị cháy túi đến mức họ có thể không mua cổ phiếu nữa trong thời gian tới. Điều này đặt ra câu hỏi các chính phủ có thể làm gì để lấy lại lòng tin của nhà đầu tư. Trong khi đó, các chính phủ cũng phải tìm cách giảm bớt cổ phần của mình trong các công ty này. Thí dụ, Chính phủ Italy đang xem xét khả năng phát hành loại trái phiếu chuyển đổi để thu hút tiền và đồng thời cho phép các nhà đầu tư có thể chuyển tiền gốc trái phiếu sang cổ phiếu. Đây có thể là một cách để tránh lặp lại vấn đề như đã xảy ra đối với Công ty Enel.

ở Pháp, Chính phủ cánh hữu mới bầu với Thủ tướng Jean-Pierre Raffarin đã có nhiều kế hoạch tư nhân hóa. Bộ trưởng Tài chính Francis Mer đã gợi ý rằng, các phần sở hữu nhà nước trong các công ty Hàng không Air France và công ty Điện tử Thales có thể được bán đi, để thu về 5 tỷ Euro (4,7 tỷ USD). Lãnh đạo công đoàn nói rằng, Chính phủ đã xem xét khả năng bán một nửa cổ phần của mình trong Công ty Gaz de France, trị giá 7 tỷ USD, và nhà nước chỉ còn nắm giữ 10% cổ phần trong Ngân hàng Crédit Lyonnais, một công ty đã tư nhân hóa năm 1999.

Ông Gibbs (Công ty J.P.Morgan) nói rằng, Chính phủ sẽ phải có cách làm phù hợp với từng đối tượng tư nhân hóa, tùy theo đặc điểm kinh doanh của họ. Chẳng hạn, Ngân hàng Crédit Lyonnais có thể bị thanh lý thông qua sự chuyển nhượng thương mại cho một định chế tài chính khác, chứ không bán nó trên thị trường chứng khoán. Việc tư nhân hóa Công ty Viễn thông Telecom được tiến hành theo các điều kiện thị trường, nhưng việc bán Công ty Air France lại có thể được quy định tùy theo tình hình hoạt động trong những năm vừa qua.

Nước Pháp có may mắn là một số tài sản nhà nước là các công ty điện, gas rất được các nhà đầu tư ưa thích. Công ty Điện Electricité de France là công ty điện quốc doanh độc quyền, công ty hàng đầu của Tập đoàn Gaz de France, và là một trong những công ty lớn nhất châu Âu, trị giá hơn 60 tỷ Euro đang là đối tượng hàng đầu cho tư nhân hóa các đợt tiếp theo.

Để tiến hành tư nhân hóa, cần có báo cáo về dự kiến các đợt tư nhân hoá sẽ tiếp tục thực hiện sau này, nhằm làm giảm sự can thiệp của Chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp tư nhân hoá. Việc tư nhân hoá Công ty Gaz de France hiện vẫn chưa được Chính phủ quyết định. Chính phủ còn phải cân nhắc việc bán đi hơn 49% tài sản Công ty Gaz de France. Có nhiều ý kiến phản đối vụ tư nhân hoá Công ty Điện EDF vì cho rằng, Công ty này có trách nhiệm bảo đảm an toàn hạt nhân và trách nhiệm này được chấp hành nghiêm chỉnh khi Công ty vẫn thuộc sở hữu nhà nước.

Ngoài ra, nhiều người cho rằng, Nhà nước cần tiếp tục nắm giữ các cổ phần của mình trong các công ty công nghiệp tư nhân hoá một phần, vì các công ty này thuộc loại “chiến lược”. Nếu cánh tả thắng cử ở Pháp, Chính phủ mới sẽ cam kết nắm giữ hơn 50% cổ phần của Công ty EDF.

Quan điểm cho rằng, Nhà nước cần có cổ phần của mình trong các công ty thuộc loại chiến lược, đã giải thích phần nào câu hỏi tại sao, chỉ có một số nhỏ các vụ tư nhân hóa đã loại bỏ hoàn toàn vai trò của nhà nước trong doanh nghiệp tư nhân hóa. Thực tế có khoảng 24 công ty lớn nhất ở châu Âu, xét theo giá trị thị trường, đều có cổ phần do Chính phủ nắm giữ. Điều này cho thấy, tư nhân hóa không phải lúc nào cũng hiển nhiên như nhiều người suy nghĩ.

Về vấn đề kiểm soát quản lý, Tổ chức OECD cho biết, các chính phủ ở Tây Âu đã thu được hơn 400 tỷ USD nhờ bán tài sản nhà nước từ năm 1990. Nhưng trong nhiều trường hợp tư nhân hóa, Chính phủ vẫn duy trì quyền kiểm soát doanh nghiệp bằng cách chỉ bán một phần các cổ phiếu khi tư nhân hóa, hoặc là bằng cách duy trì cái gọi là “các cổ phiếu vàng” cho quyền chống lại sự thôn tính quyền kiểm soát của nhà nước trong hoạt động của công ty.

Ngày 4 tháng 7 năm 2001, Tòa án Hiến pháp châu Âu đã ra chỉ thị chống lại các cổ phiếu vàng, quy định rằng, chúng chỉ được phép tồn tại trong những hoàn cảnh được xác định chặt chẽ. ủy ban châu Âu lý luận rằng, cổ phiếu vàng đã hạn chế sự vận động tự do của dòng vốn trong phạm vi Liên minh châu Âu và tuyên bố rằng, các nước như Đức và Italy sẽ bị đưa ra tòa xét xử vì chính phủ các nước này vẫn nắm giữ cổ phiếu vàng trong các công ty niêm yết.

Chính phủ của các nước có nhiều cách để can thiệp vào hoạt động quản lý các công ty tư nhân hóa. ở Italy, Thủ tướng Berlusconi sắp đặt các giám đốc mới vào các công ty Enel và Eni, là các công ty nhà nước độc quyền về điện và dầu. Vai trò của Chính phủ tiền nhiệm chỉ là nhà đầu tư tài chính trong các công ty này. Nhưng khi Chính phủ mới muốn thay thế các giám đốc, thì có thể hiểu rằng, Nhà nước là chủ nhân quyết định trong thực tế. Các cổ đông thiểu số lẽ ra có thể bầu chọn các giám đốc mới, nhất là ở Công ty Enel, khi ông giám đốc Franco Tato sắp mãn nhiệm. Nhưng trong thực tế, các cổ đông này không có vai trò gì trong việc lựa chọn giám đốc.

Từ trước đến nay, Italy luôn tỏ ra tích cực trong việc tư nhân hóa. Mặc dù hơn 110 tỷ USD đã thu được từ tư nhân hóa trong thập kỷ qua, các chính phủ kế tiếp đã lo lắng về việc nhường lại quyền kiểm soát hoàn toàn. Liên đoàn các xí nghiệp công nghiệp Italy đã xuất bản báo cáo về tác động của tư nhân hóa đến nền kinh tế Italy, trong đó, chỉ khoảng 1/3 số xí nghiệp lớn tư nhân hóa mới hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm soát của nhà nước.

IV. Quyền kiểm soát và quyền sở hữu

Các nghiên cứu cho thấy, vai trò của các xí nghiệp quốc doanh ở các nước giàu đã giảm từ 8,5% GDP năm 1984 xuống còn 5% hiện nay. Nhưng mối quan hệ của chính phủ với doanh nghiệp vẫn còn mạnh hơn các con số này thể hiện. Có lẽ Pháp là một thí dụ. ở Pháp có ba làn sóng lớn tư nhân hóa, nhưng Nhà nước vẫn còn nắm giữ cổ phần trong nhiều công ty, trong số đó, một số được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Cổ phần nhà nước chiếm 55,5% trong Công ty France Telecom, 56% trong Công ty Air France, 33% trong Công ty Thales v.v. Bảy trong số 40 công ty lớn nhất ở Pháp xét theo giá trị thị trường đều có phần vốn cổ phần quan trọng do Nhà nước nắm giữ, chẳng hạn trong Công ty Renault, Chính phủ nắm giữ 25% cổ phần.

Chính phủ Pháp còn nắm giữ nhiều công ty lớn không niêm yết trong nhiều ngành công nghiệp như hóa chất, giao thông vận tải, năng lượng v.v… Công ty Phân phối điện EDF là một trong những công ty gây ấn tượng mạnh nhất châu Âu vì nó phát triển rất mạnh bên ngoài nước Pháp, trong khi vẫn giữ độc quyền trong nước. Công ty này đang ở trung tâm các giải pháp tự do hóa (nới lỏng kiểm soát). Các giải pháp nới lỏng có liên hệ trực tiếp với tư nhân hóa.

Các chuyên gia kinh tế và các nhà quan sát có ý kiến khác nhau về đánh giá vai trò của tư nhân hóa và của các giải pháp nới lỏng kiểm soát nhằm thúc đẩy cạnh tranh. Italy, nước chậm tiến hành tư nhân hóa, nhưng đã rất tích cực trong việc nới lỏng kiểm soát, nhằm thúc đẩy cạnh tranh vào giữa thập kỷ 90 thế kỷ XX, các hiệu quả từ nới lỏng kiểm soát đã được thúc đẩy thêm bởi việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng nhà nước được bán đi, nhằm cắt đứt phần lớn mối quan hệ giữa tài chính và tín dụng nhà nước với các ngành công nghiệp. Các quan chức ở ngân hàng dự trữ nói rằng, việc này là một dự báo quan trọng về triển vọng tư nhân hóa.

Việc áp dụng các giải pháp nới lỏng kiểm soát, nhằm khuyến khích cạnh tranh cũng gây ra các vấn đề cho các công ty quốc doanh được dự định tư nhân hóa. Bà Mahboobi, chuyên gia OECD bình luận rằng “Cạnh tranh và tư nhân hóa đôi khi là hai chính sách khó hoà hợp”. Các chuyên gia về cạnh tranh đã lấy trường hợp Công ty EDF làm ví dụ cho tình trạng căng thẳng này.

Công ty EDF và chủ nhân của nó là Chính phủ Pháp sẽ hài lòng khi thấy thị trường nội địa đóng lại đối với các đối thủ cạnh tranh càng lâu càng tốt, bất chấp các quy tắc của châu Âu. Bằng cách đó, Chính phủ Pháp có thể dùng lợi nhuận độc quyền để củng cố các vị thế quan trọng của EDF ở châu Âu. Việc Công ty EDF đột nhập vào Tây Ban Nha và Italy đã gây ra sự phản đối ở các nước này; và việc Pháp tỏ ra miễn cưỡng trong việc tự do hóa thị trường điện là nguyên nhân bất hòa với các nước láng giềng. Có thể thấy là sự phát triển nhanh của Công ty EDF dựa nhiều vào sự hỗ trợ của Chính phủ Pháp. Một khi EDF được tư nhân hoá hoàn toàn thì sự giúp đỡ của Chính phủ có thể cũng không còn.

Tương tự, Công ty Enel của Italy cũng bị chỉ trích mạnh vì dùng lợi nhuận của công ty điện độc quyền để xâm nhập vào ngành viễn thông ở châu Âu (mua số lượng lớn cổ phiếu viễn thông trên các thị trường chứng khoán). Các nhà phê bình nói rằng, Chính phủ Italy đã thất bại trong việc kết hợp tư nhân hóa với giải pháp nới lỏng thị trường điện năm 1999. ở Anh, cả hai chính sách đều được thực hiện và ngành công nghiệp bị chia ra nhiều thành phần để chúng cạnh tranh lẫn nhau.

Chỉ có Anh là chấp nhận sự rút lui của Nhà nước khỏi các ngành công nghiệp lớn nhất. Tuy rằng lúc đầu, sự rút lui này được thực hiện khá thận trọng. Chẳng hạn, loại cổ phần vàng được áp dụng rộng rãi để chống lại khả năng bị thôn tính nhanh (tư nhân hóa 100%) trong các ngành điện, gas. ở châu Âu, tư nhân hóa thường được coi là một giai đoạn để cải trang hiện thực kinh tế. Thông qua tư nhân hóa, các chính phủ huy động tiền cho ngân sách hoặc để nâng cấp bảng cân đối của các công ty quốc hữu. Nhưng trong nhiều trường hợp tư nhân hoá, các chính phủ không để mất quyền kiểm soát của mình và vẫn duy trì sự can thiệp vào doanh nghiệp.

Tóm lại, nhìn nhận theo hướng tích cực, quá trình tư nhân hóa diễn ra trong thời gian qua ở các nước Tây Âu đã để lại nhiều cơ hội tiếp tục phát triển trong tương lai. Để tiếp tục tư nhân hóa thì các chính phủ cần bỏ sự kiểm soát và cho phép các công ty được tự xoay sở trên các thị trường mới nổi ở châu Âu. Vấn đề ở chỗ, tư nhân hóa không thể thực hiện trong thời gian ngắn. Các thị trường chứng khoán lành mạnh hơn là một điều kiện tiên quyết. Nhưng có một đòi hỏi khẩn thiết hơn là sự sẵn sàng chấp nhận tư nhân hóa, và để tạo ra những lợi ích đầy đủ nhất thông qua tư nhân hóa thì các chính phủ cũng cần chấp nhận sự không can thiệp vào hoạt động các doanh nghiệp tư nhân hóa./.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP Số 14/2003 (trang 11)

BÀN VỀ SỞ HỮU VÀ HÌNH THỨC SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA

TS. TRẦN CÔNG DI

Ở nước ta, sau hơn 15 năm thực hiện đổi mới, với những thành công và yếu kém nhất định, có những vấn đề lý luận tưởng chừng như đã được giải quyết, thế nhưng đến nay lại nổi lên trước sự đòi hỏi của thực tiễn. Một trong những vấn đề đó là vấn đề sở hữu nhà nước, DNNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Không phải chỉ xuất phát từ một đòi hỏi nào đó của thực tiễn như sự "ồn ào" ở Mỹ về vấn đề không công nhận nền kinh tế nước ta là kinh tế thị trường, (đòi hỏi chúng ta phải trả lời kinh tế của ta là kinh tế gì, có sở hữu thế nào…), mà ngay trong quan niệm thông thường của người ta rằng CHXH dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và CNTB dựa trên chế độ tư hữu về TLSX hiện có chính xác hay không, cũng đòi hỏi những câu trả lời thoả đáng về sở hữu nói chung và các chủ thể sở hữu nói riêng.

ở đây, trong một chừng mực nhất định, bài viết muốn đứng trên giác độ của kinh tế chính trị để đưa ra cách nhìn mang tính tổng quát về sở hữu nói chung và sở hữu nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta nói riêng.

1. Về sở hữu

Sở hữu trước hết là một quan hệ chiếm hữu của con người đối với tự nhiên thông qua lao động sản xuất. Không có lao động, thì không có chiếm hữu và do đó không có sở hữu. Với tư cách là lao động chung, trừu tượng của con người, sở hữu biểu hiện như một quan hệ sản xuất phản ánh lao động xã hội tổng thể của con người tác động, chiếm hữu những điều kiện khách quan phục vụ lợi ích của con người. Lao động tổng thể được cấu thành bởi tổng số các lao động cá biệt, biểu hiện ở thời gian lao động xã hội cần thiết mà xã hội phải giành ra để sản xuất sản phẩm nhất định.

Continue reading

BUÔN BÁN TÀI SẢN ẢO MỘT VẤN ĐỀ SỐNG CÒN CỦA GAME ONLINE

NGUYỄN HẰNG – HƯNG HẢI

Việc hai nhà cung cấp game FPT Telecom và VASC gần như đồng loạt tuyên bố thừa nhận quyền mua bán, trao đổi tài sản trong game một lần nữa chứng minh tốc độ phát triển như vũ bão của ngành công nghiệp mới. Tuy nhiên, nhà quản lý vẫn tỏ ra từ tốn trước những diễn biến của đời sống công nghệ.

Nhiều gamer cho rằng điều có ý nghĩa nhất đối với người chơi game online là thành quả đạt được trong game. Các cao thủ có thể miệt mài hàng giờ bên máy tính, “cày xới” và “chinh chiến” đến quên mình cũng chỉ vì mục đích lên level, sở hữu thật nhiều đồ vật có giá trị. Việc trao đổi buôn bán tài sản ở môi trường ảo xuất hiện và diễn biến như quy luật tự nhiên. Hơn ai hết, nhà cung cấp trò chơi nào cũng ý thức được rằng bảo vệ và tạo điều kiện để thương trường trong game phát triển cũng chính là vấn đề sống còn của chính doanh nghiệp mình.

Giá trị thực của tài sản ảo

Trước khi nhà cung cấp chính thức công nhận việc giao thương, hoạt động buôn bán, trao đổi những món đồ hoặc nhân vật trong hầu hết các game đã diễn ra theo kiểu “chợ đen” và các game thủ tự thoả thuận với nhau giá cả. Không ít thương vụ có giá trị lên đến nhiều triệu đồng. Thanh Khai Sơn Kiếm dành cho nhân vật Knight đầu tiên trong game PTV từng được mua với giá 4 triệu đồng. Những bộ giáp làm phần thưởng cho giải vô địch MU VN được các game thủ lùng sục với giá từ 5 đến 7 triệu đồng. Giới mộ điệu vẫn nhắc đến kỷ lục giao dịch một bộ đồ Hoàng Kim trong Võ Lâm Truyền Kỳ với số tiền trao tay là 30 triệu đồng. Chỉ tính riêng những giao dịch nhỏ lẻ của các đồ vật trong game PTV nếu quy ra tiền mặt cũng lên đến khoảng 4 tỷ đồng/tháng.

Theo ý kiến của đa phần game thủ thì giá trị của các tài sản ảo được tạo nên từ những yếu tố: công sức của người chơi, tính ổn định, phổ biến của game và sự quý hiếm của món đồ. Trong đó, công sức của người chơi được tính bằng chi phí thời gian và tiền bạc bỏ ra để có được một nhân vật có cấp độ cao, lên điểm (phân phối các chỉ số tiềm năng). “Tiền trả cho cửa hàng Internet, trả cho nhà cung cấp game là tiền thật. Vậy những gì thu được từ số tiền thật đó không hoàn toàn ảo”, game thủ của PTV mang nick Thái Shiva tuyên bố sau khi nạp xong 720 nghìn đồng để được “giành lại miền đất hứa suốt đời.

“Có người mua thì ắt có kẻ bán. Việc trao đổi các món đồ và nhân vật trong game giữa các người chơi với nhau tuân theo đúng các quy luật của thị trường”, game thủ Nguyễn Hoài An (Hà Nội) phân tích. “Đối với những món đồ hiếm thì có khi người chơi hết số tiền bỏ ra mua đồ cũng không thể có được. Vậy tại sao lại không mua?”.

Nguyễn Khánh Toàn, một du học sinh tại Đức, cũng đồng tình: “Mua đồ ảo là mua thông tin của game đó. Đối với game thông thường, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cuốn sách về cheat code hoặc các thủ thuật để qua các màn khó. Game online cũng vậy, bạn phải trả tiền cho cái gì đó giúp bạn mạnh mẽ hơn”.

Nhiều gamer quan niệm đồ ảo trong game luôn mang giá trị thật. Nguyễn Trọng Hải, một kỹ sư máy tính, so sánh: “Đối với những người không chơi game online, những thứ đó (các tài sản ảo) thật phù phiếm. Điều này cũng giống như mang chiếc máy tính xịn nhất đến nơi không có điện vậy”.

Theo ông Trương Đình Anh, Tổng giám đốc FPT Telecom – nhà cung cấp PTVMU Việt Nam – sự phát triển và phổ biến của các trò chơi trực tuyến đã hình thành nhiều lớp game thủ trong đó có cả những người chuyên nghiệp, coi game trực tuyến là một phương tiện kiếm tiền để sinh sống, có nhu cầu bán tài sản kiếm được trong game ra tiền mặt. “Vì thế mà việc công nhận tài sản ảo trong game là một xu hướng tất yếu“, ông Trương Đình Anh khẳng định.

Ra tuyên bố công nhận quyền mua bán tài sản ảo của các game thủ chỉ sau FPT vài ngày, nhà cung cấp trò chơi trực tuyến VASC cũng tỏ ý đồng tình với FPT Telecom. “Nếu không công nhận quyền mua bán tài sản trong game, nhà cung cấp sẽ không thể kiểm soát được mâu thuẫn và những tranh chấp xung quanh việc bán đồ. Đây là một trong những biện pháp để chúng tôi điều tiết thị trường, giảm thiểu tệ nạn xung quanh những thương vụ trong game”, ông Lê Việt Thành, Phó giám đốc Trung tâm game online VASC, cho biết.

Võ lâm truyền kỳ là trò chơi được thu phí đầu tiên trong số các game có bản quyền tại Việt Nam và hiện có hàng nghìn game thủ là thành viên của các bang phái Võ lâm. Tuy nhiên, nhà cung cấp VinaGame vẫn chưa có động thái gì đặc biệt trước những diễn biến mới của thị trường. “Chúng tôi không có bình luận gì về mọi vấn đề liên quan đến tài sản ảo trong game”, ông Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, đại diện của VinaGame, nói.

Hành lang pháp lý cho tài sản ảo

Trong suốt thời kỳ “chợ đen”, việc trao đổi giữa các game thủ diễn ra phức tạp và rắc rối. Đối với những món đồ và vật dụng, việc trao đổi từ tài khoản này sang tài khoản khác tương đối đơn giản: chỉ cần “tiền trao” bên ngoài và “cháo múc” trong game là xong. Nhưng đối với các trường hợp trao đổi nhân vật thì khác hoàn toàn. Mua một nhân vật là phải mua luôn tài khoản có chứa nhân vật đó. Việc chuyển đổi các thông tin cá nhân liên quan đến tài khoản rất khó khăn, đặc biệt là địa chỉ e-mail để thông báo các xác nhận đổi mật khẩu hiện không thể thay đổi được.

Đây cũng chính là nguyên nhân của hàng loạt khúc mắc giữa người mua bán và gây khó khăn cho chính nhà cung cấp game. Nhiều trường hợp người mua sau khi trả tiền bị cướp trắng, vì e-mail không thay đổi được. Người bán sau khi nhận tiền thông báo với nhà cung cấp là bị hack, yêu cầu được cấp lại mật khẩu. Chính vì thế đa phần nhà cung cấp game hiện nay vẫn tuyên bố đứng ngoài cuộc trước các khiếu kiện xung quanh việc buôn bán tài khoản. Hiện chỉ có game PTV mới đưa vào hình thức chuyển đổi nhân vật từ tài khoản này sang tài khoản khác. VASC sau khi tuyên bố chính thức cho phép người chơi giao dịch tài sản trong RYL II bằng tiền mặt vẫn từ chối can thiệp các xung đột về tài khoản. Đại diện VASC Lê Việt Thành cho biết doanh nghiệp này đang hoàn chỉnh hệ thống trợ giúp giao dịch cho các game thủ.

Theo nhận định của VnExpress, cả giới gamer và nhà cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến trong nước đều trông ngóng một quy chế quản lý game online hoàn chỉnh và phù hợp với thực tế để có “chỗ dựa” an toàn trong khi mải mê “chinh chiến và… đi buôn”. Tuy nhiên, dù từng hứa sẽ có một quy chế quản lý game online công bố trước ngày 31/12/2005, Thứ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Đỗ Quý Doãn đến nay đã thừa nhận chưa biết lúc nào văn bản đó mới được hoàn chỉnh và đi vào thực tiễn. “Vấn đề tài sản ảo trong game chúng tôi cũng rất lưu tâm. Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng cần có thời gian để nghiên cứu thực tiễn mới có thể đưa nó vào luật được”.

Theo luật sư Nguyễn Hoàn Thành của văn phòng Luật sư Phạm và liên danh, dù các phạm trù ảo trong game chưa có luật điều chỉnh, song nếu đã dẫn đến những hệ lụy đời thường thì những gì xảy ra trong đời thực vẫn có thể áp dụng Luật dân sự hay hình sự như bình thường. “Tất nhiên, trong quan hệ con người với nhau ở thế giới ảo cũng phải tuân thủ quy tắc đạo đức nhất định. Tôi nghĩ rằng game online là vấn đề cần bổ sung vào các văn bản quản lý vật dụng Internet”, luật sư Nguyễn Hoàn Thành phân tích. “Đặc biệt, Internet là một môi trường tự do nên những quy định về nguyên tắc đạo đức nhiều khi rất quan trọng để người tham gia vào đó có ý thức tự giác. Nếu không tuân thủ theo những điều đó thì người chơi sẽ bị nhà cung cấp gạt khỏi dịch vụ hoặc ngay cả những người xung quanh loại trừ”.

Luật sư Nguyễn Hoàn Thành cũng lưu ý rằng trong những quy định về game online cần có những quy định rõ ràng về trách nhiệm của nhà cung cấp cung cấp dịch vụ. “Nhà cung cấp phải có những quy chế rõ ràng về phân phối sản phẩm và đưa ra những quy tắc nhất định đối với người tham gia chơi game. Thậm chí, họ có quyền và nghĩa vụ quản lý người tham gia game tuân thủ các quy định đó. Bởi lẽ xét về mọi phương diện kỹ thuật, dù là công nghệ hay khả năng bám sát các diễn biến thực tiễn, họ hoàn toàn có thể làm được”, ông Thành nói.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

CHÍNH PHỦ HÀN QUỐC BẢO VỆ TÀI SẢN ẢO TRONG GAME

Ngày 12/12, Bộ Thông tin – Viễn thông nước này chính thức tuyên chiến với hành động trộm cắp tài sản ảo trong game online. Theo đó, họ sẽ ban hành sách hướng dẫn phòng chống hack và giám sát chặt chẽ 70.000 website game để tránh phần mềm chứa mã gian lận.

Bộ Thông tin Viễn thông Hàn Quốc nhận định hành động gian lận không chỉ đánh cắp tài sản của người chơi mà còn gây tổn thất về tiền bạc cho chính những hãng phát hành game vì phải bỏ thời gian, công sức để bảo vệ khách hàng.

Các cuộc tấn công vào game online được cảnh báo là nỗi đe doạ mới đối với cả người dùng máy tính và những nhà phát hành game. Theo AhnLab, một công ty chuyên về bảo mật, đã có đến 527 trường hợp trộm cắp tài khoản, đồ vật của LineAge, game đang ăn khách nhất tại Hàn Quốc tính đến tháng 11/2005.

Những đồ vật như đao kiếm, khiên áo hoặc tiền trong game là công sức của người chơi thu thập được và chúng được trao đổi rộng rãi. Thống kê của Hiệp hội công nghiệp game Hàn Quốc cho thấy thị trường trao đổi đồ vật ảo trong game đạt 688 triệu USD trong năm 2004, dự kiến năm nay con số này lên đến 983 triệu USD và đạt mức 1,47 tỷ USD trong năm 2006. Có những món đồ được các game thủ trao đổi với giá tiền kỷ lục 10.000 USD.

SOURCE: GameThủ.NET

KHÔNG NÊN SỬ DỤNG THUẬT NGỮ “ẢO” ĐỐI VỚI TÀI SẢN TRONG GAME

Đó là ý kiến của luật sư Hoàng Ngọc (Đoàn luật sư Hà Nội) đối với những đồ vật, vật phẩm trong game trực tuyến. Theo ông, những tài sản đó không hề “ảo” mà có thực bởi hình thành hợp pháp từ các trò chơi hợp pháp và bằng thời gian, công sức của người chơi.

Luật sư Hoàng Ngọc nhấn mạnh rằng trên thực tế, dù trực tiếp hay gián tiếp thì các tài sản trong trò chơi cũng đã định giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Như vậy, tài sản trong trò chơi trực tuyến nên được nhìn nhận như một quyền tài sản hợp pháp của công dân, nên được gọi là “quyền tài sản trong trò chơi trực tuyến” thay cho cụm từ “tài sản ảo” như hiện nay. Nếu tiếp tục sử dụng thuật ngữ “tài sản ảo”, việc tìm kiếm các văn bản pháp lý liên quan để áp dụng sẽ rất khó khăn, dẫn tới sự lúng túng trong việc công nhận hay không công nhận thứ tài sản đặc biệt xuất hiện trong thời đại thông tin.

Ông Nguyễn Thanh Hưng, Vụ trưởng Thương mại điện tử, Bộ Thương mại, trong buổi họp về chính sách tài sản ảo ngày 27/2 đã bày tỏ sự ủng hộ của Bộ Thương mại đối với việc công nhận những tài sản trong game: “Chỉ căn cứ vào Bộ luật Dân sự, tôi cũng thấy ổn rồi. Tuy nhiên, để chi tiết hơn, chúng ta cần có thông tư hoặc một văn bản quy định cụ thể”. Đại diện Bộ Thương Mại đã trích dẫn 2 điều trong luật Dân sự làm cơ sở pháp lý cho việc công nhận giá trị những tài sản trong game: Theo Điều 163 Bộ luật Dân sự, “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Điều 181 quy định “Quyền tài sản là quyền giá trị được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”.

Trên thực tế, giá trị của những tài sản trong game được cộng đồng gamer thừa nhận. Cho dù pháp luật chưa chấp nhận, thậm chí một số nhà cung cấp vẫn tuyên bố cấm việc buôn bán bằng tiền mặt, nhưng vì bản thân là một loại tài sản nên những đồ vật trong game vẫn được người ta trao đổi, mua bán. Thị trường tài sản trong game phát triển kiểu “chợ đen” nên những tranh chấp nảy sinh như cơm bữa. Trên các diễn đàn hoặc website về game trực tuyến, bên cạnh chủ đề rao mua bán đồ vật là chủ đề phòng chống các hình thức lừa đảo. Đơn giản nhưng phổ biến là người bán sau khi nhận tiền và trao “hàng” xong liền báo cho nhà cung cấp rằng mình bị hack (bị xâm nhập và lấy mất đồ).

Anh Trương Quốc Tuấn (Quận 5, TP HCM) có nguy cơ mất trắng 2 triệu đồng khi tài khoản game Võ Lâm Truyền Kỳ đang bị nhà cung cấp khoá vĩnh viễn vì tranh chấp. “Trong buổi giải quyết tranh chấp tại văn phòng VinaGame chiều 22/2, tôi đã trình bày toàn bộ thông tin liên quan đến tài khoản”, anh Tuấn nói. “Thậm chí người tranh chấp với tôi không thể chứng minh được e-mail sử dụng để đăng ký tài khoản là của chị ta vì không có mật khẩu”.

Công ty VinaGame đã tạm khoá tài khoản trên lại với 2 lý do: không chấp nhận việc mua bán tài khoản (theo điều 14, thoả thuận giữa VinaGame với khách hàng) và hai bên tranh chấp không tự thoả thuận được. “Cách xử lý của VinaGame như vậy không thoả đáng, vô tình tiếp tay cho những kẻ lừa đảo hoặc hacker. Nếu chúng đã biết được thông tin và cố tình gây tranh chấp, người chơi kiểu gì cũng mất tài khoản. Nếu không mất vào tay kẻ lừa đảo vì thua kiện thì cũng bị VinaGame khoá lại vì không thoả thuận được với chúng”, anh Tuấn bức xúc nói.

Theo kinh nghiệm của các game master (GM – người điều hành game) thuộc trò chơi PTV, những giao dịch đồ vật còn phức tạp hơn bởi không có thông tin người chơi xác lập như tài khoản. Dựa vào số nhận dạng (ID) của món đồ, nhà cung cấp game chỉ có thể biết được món đồ đó từ một nhân vật trao cho ai, giờ nào chứ không thể biết được chủ nhân đang điều khiển nhân vật trong game là ai. Vì thế khó có thể xác định một giao dịch trong game là do chủ tài khoản hay hacker thực hiện. Trong hầu hết trường hợp, món đồ được trả lại chủ cũ khi có tranh chấp xảy ra nếu người mua không đưa ra được những thông tin chứng thực cho mua bán như screenshot (hình chụp màn hình) lúc giao dịch hoặc giấy biên nhận do 2 bên tự thảo.

Hiện chỉ có 2 nhà cung cấp game là FPT và VASC chính thức tuyên bố công nhận giá trị của tài sản ảo. Đây được coi là những cam kết của nhà cung cấp đối với gamer của mình bởi đi kèm với việc tuyên bố, nhà cung cấp game cũng phải thống nhất những quy tắc, chuẩn mực về mặt kỹ thuật để tránh các tranh chấp trong game. “Tài sản ảo thực ra là cơ sở dữ liệu nằm trong máy chủ. Ví như tất cả các tài sản trong MU hoặc Võ Lâm Truyền Kỳ nằm ở máy chủ của FPT hoặc VinaGame”, ông Nguyễn Thanh Hưng nói.

Như vậy, những tài sản trong game sẽ không còn “ảo” và dễ dàng hơn trong việc áp dụng các văn bản pháp luật nếu được nhìn nhận là một “quyền tài sản”. Theo luật sư Hoàng Ngọc, Nhà nước nên có quy định cụ thể về công nhận quyền tài sản về trò chơi trực tuyến cũng như quyền mua bán những “quyền tài sản” này để tránh cho “thị trường ảo có thực” này hoạt động theo kiếu chợ đen. Thứ hai, là phải kiểm soát được cam kết chỉ thu phí từ người chơi, không tạo ra các món đồ ảo để bán của nhà phát hành. Còn Vụ trưởng Thương mại điện tử tổng kết: “Một thứ có giá mà chuyển giao được, nó trở thành tài sản thôi. Anh thừa nhận nó và anh quản lý nó bằng pháp luật, nó sẽ đúng hướng và có lợi hơn cho xã hội”.

SOURCE: Game Thủ.NET

TÀI SẢN TRONG GAM ĐƯỢC NHÌN NHẬN NHƯNG CHƯA BẢO HỘ

HƯNG HẢI

Đó là quan điểm của đa số cơ quan chức năng trong buổi tọa đàm đóng góp ý kiến xây dựng thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến do Bộ VHTT tổ chức sáng nay tại Hà Nội. Đây cũng là lý do vấn đề này không được đưa vào nội dung của bản dự thảo lần 7 của thông tư.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin (VHTT) Đỗ Quý Doãn khẳng định: “Việc nhìn nhận đồ vật trong game là tài sản hay không rất cần thiết. Tuy nhiên, do vấn đề này còn mới và có nhiều phức tạp nên tạm thời chưa đưa vào thông tư này”.

Theo ông, thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến lần này chỉ nhằm quản lý về mặt an ninh và nội dung văn hoá. Vì vậy, những vấn đề liên quan như thuế, tài sản trong game không được đưa vào nội dung thông tư. Trước mắt, các doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ game trực tuyến sẽ tự xây dựng quy chế để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình.

Thứ trưởng Doãn nhấn mạnh: “Bộ VHTT không phủ nhận tài sản ảo. Nhưng việc công nhận tài sản ảo với đưa nội dung bảo hộ tài sản ảo vào thông tư hoàn toàn khác nhau. Vấn đề này sẽ được nghiên cứu thêm và điều chỉnh bằng văn bản khác”.

Trong văn bản đóng góp ý kiến gửi ban soạn thảo thông tư, Bộ Thương mại nêu rõ quan điểm công nhận những đồ vật trong game trực tuyến là tài sản: “Sản phẩm ảo trong trò chơi trực tuyến là tài sản theo quy định của pháp luật hiện hành … Người có sản phẩm ảo có quyền sở hữu tài sản”. Bộ Thương mại cũng khẳng định cần có các văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ các điều kiện kinh doanh đối với mua bán, chuyển nhượng sản phẩm ảo trong trò chơi trực tuyến. Tuy nhiên, Bộ Thương mại đồng ý chưa nên đưa nội dung này vào điều chỉnh trong thông tư liên tịch.

Một trong những khó khăn mà các cơ quan chức năng “tiếp tục nghiên cứu kỹ” là số phận của những tài sản này sau khi trò chơi không còn được cung cấp. Các trò chơi có thể tồn tại trong 1 tháng, 1 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa, nhưng đến khi ngừng cung cấp thì những tài sản trong game đó sẽ ra sao? Nếu không giải quyết thấu đáo vấn đề này sẽ phát sinh những tranh chấp giữa nhà cung cấp với game thủ.

Ngoài vấn đề về tài sản trong game, các nhà cung cấp game tán thành hầu hết nội dung được nêu trong bản dự thảo lần 7 của thông tư. Doanh nghiệp muốn tham gia kinh doanh game trực tuyến bắt buộc phải có 2 giấy phép: giấy phép về mặt nội dung do Bộ VHTT cấp và giấy phép cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet (OSP) do Bộ Bưu chính viễn thông cấp. Vấn đề thuế vẫn cần được nghiên cứu thêm, do đó không có mặt trong thông tư này. Các nhà cung cấp game phối hợp với các cơ quan chức năng để xây dựng hệ thống quản lý 3 giờ chơi có điểm đối với game thủ.

Dự kiến thông tư sẽ được hoàn chỉnh và trình Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm vào cuối tháng 3 này.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

VẤN ĐỀ TÀI SẢN ẢO PHẢI ĐẶT TRONG THỰC TẾ CUỘC SỐNG

HẠ THẢO

Sáng 25/4, một hội nghị bàn tròn về tài sản ảo được tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của bộ Tư pháp. Các đại biểu tham dự đều thống nhất: Nếu chỉ căn cứ trên những quy định hiện hành của luật pháp và bó hẹp trong phạm vi trò chơi thì không thể giải quyết vấn đề này.

Đây là cuộc thảo luận đầu tiên của các cơ quan nhà nước nhằm mổ sẻ “vấn đề sống còn” của loại hình giải trí game online. Từ đó có biện pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên tham gia lĩnh vực này. Theo ý kiến của các đại biểu, đây là một trong những dịch vụ ứng dụng trên Internet hoàn toàn mới và cơ quan Nhà nước không thể lảng tránh trách nhiệm quản lý. Thực tế những cuộc mua bán, trao đổi những đồ vật trong game đã diễn ra sôi động từng ngày từng giờ. Tuy chưa có những biểu hiện tiêu cực cụ thể nhưng sự phát triển tự do trong một thời gian dài sẽ dẫn đến hậu quả đáng tiếc như tại một số nước lân cận như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan.

Điểm mấu chốt để giải quyết vấn đề tài sản ảo là các quan hệ phải được đặt trong thực tế cuộc sống của thế giới thật, chứ không bó hẹp trong môi trường “có giá trị trong các game trực tuyến” như luận điểm của một số nhà cung cấp. Tuy chỉ hiện hữu trong game, nhưng những tài sản ảo hoàn toàn có ý nghĩa trong cuộc sống bằng giá trị giải trí của mình. Nếu một game thủ bỏ tiền mua một thanh kiếm hay bộ giáp trong game, chắc chắn anh ta hiểu được những đồ vật đó giúp cho sự giải trí của anh ta hấp dẫn hơn và điều đó xứng đáng với số tiền bỏ ra.

“Nếu chỉ nhìn nhận trong phạm vi tồn tại, bản thân các tài khoản e-mail, website cũng chỉ có ý nghĩa trong môi trường điện tử và không thể điều chỉnh được”, bà Đỗ Hương Nhu, chuyên viên Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, nói. “Vì vậy, không nên nhìn tài sản ảo chỉ trong game mà phải nhìn nhận có trong cuộc sống”.

Ông Trần Thanh Hải: “Đồ vật, nhân vật trong game là một dạng tài sản, chủ sở hữu là người chơi.” Ảnh: H.H.

Trong phát biểu của mình, ông Trần Thanh Hải, Phó vụ trưởng Vụ Thương mại điện tử, Bộ Thương mại, khẳng định: “Những đồ vật, nhân vật trong game trực tuyến là một dạng tài sản, chủ sở hữu là người chơi game và quyền sở hữu của họ cần được công nhận”.

Ông Thanh Hải cho rằng tài sản ảo là kết quả của sự đầu tư công sức, thời gian và tiền bạc của người chơi. Chúng hoàn toàn có thể được định giá bằng tiền theo quy luật cung cầu và chuyển giao được theo thỏa thuận. Đặc biệt, những tài sản ảo hoàn toàn có thể bị chiếm hữu, một người sử dụng sẽ loại trừ khả năng sử dụng của người khác.

Người đại diện của Bộ Thương mại cũng khẳng định ở thời điểm hiện tại, những tài sản dạng này hoàn toàn không trái với Bộ luật Dân sự 2005 và luật này chỉ không áp dụng được bởi vấn đề quá mới. Tính “không tương thích” của tài sản ảo với các quy định pháp luật hiện hành cũng được đại diện của Bộ Tư pháp cụ thể hóa trong các tham luận của mình.

Bà Nguyễn Thị Thu Vân, chuyên viên Vụ Pháp luật dân sự, Bộ Tư pháp, đã nêu ra những vướng mắc trong Bộ luật Dân sự 2005 đối với tài sản ảo. Theo đó, nếu căn cứ về tài sản theo điều 163 của Bộ luật Dân sự thì tài sản ảo không nằm trong phạm vi điều chỉnh vì không phải là giấy tờ có giá, không phải tài sản hữu hình hay vô hình. Nếu coi tài sản ảo là một quyền tài sản theo điều 181 Bộ luật Dân sự thì người chơi không có được quyền sở hữu hoàn chỉnh.

Bà Vân phân tích quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyền sử dụng. Trong đó, quyền chiếm hữu không thuộc về game thủ vì những tài sản ảo đều nằm trên máy chủ của nhà cung cấp game. Quyền định đoạt cũng không có vì tuổi thọ của phần mềm trò chơi thuộc về nhà sản xuất và nhà cung cấp, dựa trên hợp đồng bản quyền cung cấp trò chơi ký kết giữa 2 bên. Trong 3 quyền cấu thành nên quyền sở hữu, chỉ có quyền sử dụng thuộc về game thủ và vì thế không thể coi tài sản ảo thuộc sở hữu của họ.

Ngoài vấn đề về quyền sở hữu, việc công nhận tài sản ảo còn gặp trở ngại về mặt pháp lý trong giao dịch. Theo quy định về giao dịch tài sản tại điều 112 Bộ luật Dân sự 2005, người tham gia giao dịch phải trên 18 tuổi. Trên thực tế, nhiều game thủ chưa đạt được điều kiện trên nhưng vẫn tiến hành mua bán, trao đổi các đồ vật, nhân vật trong game một cách thoải mái.

Vì tính phức tạp của tài sản ảo, việc có ngay một biện pháp quản lý toàn diện theo hướng “quyền đối vật” truyền thống là không thể vì những bế tắc khi áp dụng Bộ luật Dân sự 2005. Hội nghị đề xuất hướng bảo hộ cho các tài sản ảo theo quyền đối nhân, vì biện pháp này sẽ giải quyết xung đột giữa những cá nhân khi thỏa thuận thực hiện 1 công việc. Tuy nhiên, hướng giải quyết này cũng có những hạn chế vì không giải quyết được tận gốc vấn đề là bảo hộ cho tài sản ảo.

“Mặt khác, bản thân quyền đối nhân cũng chưa được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật”, Tiến sĩ Trần Thị Thơ, chuyên viên Vụ Pháp luật dân sự, Bộ Tư pháp, nói. Bà cũng đề xuất nên có một Nghị định của Chính phủ căn cứ theo khoản 2, điều 56 của Bộ luật Ban hành văn bản pháp luật.

Trong khi chưa có một hành lang pháp lý cụ thể, đại diện các cơ quan nhà nước nêu rõ người chơi phải tự bảo vệ tài sản của mình. Mọi biện pháp của pháp luật chỉ mang tính tương đối và là cách cuối cùng để giải quyết xung đột.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

CẦN VĂN BẢN RIÊNG VỀ TÀI SẢN TRONG GAME

NGUYỄN HẰNG – HƯNG HẢI

Thứ trưởng Bộ Văn hóa thông tin Đỗ Quý Doãn cho rằng bảo hộ tài sản trong game là một vấn đề lớn, phải được nghiên cứu và quyết định ở một văn bản cấp cao, đầy đủ hơn Thông tư. Đại diện Bộ Bưu chính viễn thông cũng thừa nhận tài sản này là quyền lợi hợp pháp của người chơi.

Thứ trưởng Doãn đặt vấn đề, trò chơi nào cũng có thời hạn nhất định. Sau một vài năm, nó không còn hấp dẫn, nhà cũng cung cấp phải dừng game lại thì tài sản trong đó tất nhiên sẽ không còn. “Vì thế mà vấn đề này quá phức tạp. Chưa quốc gia nào có chế tài cho việc bảo hộ tài sản trong game. Ở Việt Nam, các chế tài pháp lý hiện nay chỉ quy định cho tài sản thật”, ông Đỗ Quỹ Doãn phân tích. “Tôi cho rằng vấn đề này phải được quy định như giao dịch thương mại điện tử với một văn bản cấp cao và toàn diện và có sự tham gia của nhiều Bộ, ngành và các cơ quan khác nhau”.

Đại diện Bộ Bưu chính Viễn thông tham gia việc soạn thảo Thông tư game online, Phó Vụ trưởng Vụ viễn thông Lê Thị Ngọc Mơ, nhận định với VnExpress: “Tài sản trong game là quyền lợi hợp pháp của người chơi và cần được bảo vệ. Tuy nhiên, coi đó là tài sản hay không thì phải xem xét kỹ vì liên quan đến nhiều vấn đề pháp luật”, bà Mơ nói.

Với chức năng đảm bảo về an toàn và an ninh cho cả hệ thống mạng Internet quốc gia, trách nhiệm của Bộ Bưu chính Viễn thông (BCVT) trong Thông tư liên tịch về quản lý trò chơi trực tuyến là xây dựng những nội dung liên quan đến hạ tầng kỹ thuật nhằm đảm bảo cân bằng giữa 3 yếu tố: thông suốt của đường truyền mạng lưới quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và quyền lợi của doanh nghiệp tham gia cung cấp game.

Bà Lê Thị Ngọc Mơ cho rằng nên đặt vấn “quản lý như thế nào” thay vì phải băn khoăn với “giấy phép gì”, vì tất cả các loại giấy phép cũng chỉ hướng đến việc quản lý. “Quan điểm của Bộ BCVT là việc quản lý phải mềm dẻo. Bản thân trò chơi trực tuyến cũng là một loại hình giải trí hiện đại, có những yếu tố tích cực nhất định như tăng số người tiếp xúc với máy tính và Internet. Đây cũng là cơ hội mở rộng thị trường đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet”, đại diện Bộ BCVT bày tỏ. “Việc quản lý loại hình giải trí này chỉ nhằm hạn chế những tác hại do chơi game quá độ và cân bằng lợi ích giữa người tiêu dùng với doanh nghiệp, giữa game trực tuyến và các ứng dụng Internet khác mà thôi”.

Theo nội dung của bản dự thảo lần 8 của Thông tư, các doanh nghiệp muốn phát hành game trực tuyến tại Việt Nam cần có 2 loại giấy phép gồm: Giấy cung cấp dịch vụ ứng dụng Internet (OSP), ghi rõ loại hình dịch vụ là “trò chơi trực tuyến” (Online games) do Bộ BCVT cấp và Văn bản phê duyệt của Bộ Văn hoá thông tin về nội dung và kịch bản của từng game.

Trong khoản 1, điều 12 của dự thảo Thông tư nêu rõ những yêu cầu về mặt kỹ thuật mà doanh nghiệp phải đáp ứng để được phép cung cấp game trực tuyến. Trong đó, bản đề án chi tiết về phương án kỹ thuật của doanh nghiệp phải thể hiện được những đảm bảo về mặt quyền lợi đối với khách hàng. “Đây sẽ là căn cứ để giải quyết những tranh chấp có thể xảy ra trong tương lai giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng”, bà Mơ khẳng định.

“Ngay cả khi đã ban hành, Thông tư này cũng chỉ là một trong những biện pháp hạn chế tác hại của game online và nó phải được phối hợp cùng những yếu tố kỹ thuật, tuyên truyền giáo dục… Tôi cho rằng, nâng cao nhận thức là vấn đề cốt lõi chứ đừng nên tuyệt đối hóa bất kỳ biện pháp nào”, ông Đỗ Quý Doãn bày tỏ.

Phó Vụ trưởng Vụ viễn thông cũng bình luận rằng biện pháp hạn chế 3 giờ là một lời cảnh báo đối với các game thủ về tác hại của việc chơi game quá sức. “Đây hoàn toàn là giải pháp mở nhắm vào ý thức của người chơi. Cũng giống như giải pháp đèn xanh đèn đỏ trong giao thông, nếu người tham gia giao thông cố tình vượt đèn đỏ khi không có bóng công an thì họ đang tự gây nguy hiểm cho chính mình”, bà Mơ dẫn chứng.

Theo thứ trưởng Đỗ Quý Doãn, Bộ VHTT đã hoàn thành nhiệm vụ của mình đối với Thông tư và đang chờ ý kiến từ phía các Bộ BCVT, Công an… để cùng thông qua. Còn các phòng ban chức năng Bộ BCVT cũng đang nghiên cứu hoàn tất văn kiện về Thông tư để trả lời Bộ VHTT. Trao đổi với VnExpress, bà Mơ cho rằng nội dung chính của bản dự thảo 8 đã có sự nhất trí cao giữa các bộ tham gia soạn thảo. Nó vẫn có thể được chỉnh sửa, nhưng chỉ xoay quanh việc cụ thể hoá các vấn đề nhằm dễ dàng triển khai khi ban hành.

Bà Mơ dự đoán, những vấn đề liên quan đến trò chơi trực tuyến báo hiệu một bước phát triển mới trong việc ứng dụng Internet. Rất có thể trong tương lai gần, những loại hình dịch vụ ứng dụng tương tự sẽ xuất hiện và cần được nghiên cứu kỹ để kịp thời điều chỉnh những nội dung mới này.

SOURCE: VNEXPRESS.NET

VẤN ĐỀ TÀI SẢN TRONG GAME CHƯA TÌM THẤY GIẢI PHÁP

Số phận của đồ vật, nhân vật trong game trực tuyến vốn được coi là “vấn đề sống còn” của loại hình giải trí này. Phía cơ quan quản lý và các nhà cung cấp vẫn có những quan điểm rất khác nhau về việc công nhận hay không những tài sản như vậy.

Đối với những nhà cung cấp đã công nhận giá trị của tài sản trong game, chúng được coi là “dữ liệu máy tính có giá trị mà người chơi có được trong quá trình tìm kiếm”. Ông Trương Đình Anh, Tổng giám đốc Công ty FPT Telecom (đơn vị cung cấp 2 game PTVMU), nói: “Những đoạn mã đó là có thực và vì thế mà những tài sản trong game không phải là ảo. Sự quý hiếm và những tính năng đặc biệt của món đồ giúp người chơi thoả mãn trong game là giá trị của nó”.

Ngược lại với ý kiến trên, Công ty VinaGame lại khẳng định: “Những vật phẩm trong trò chơi là sở hữu của đơn vị phát triển phần mềm trò chơi”. Trong trường hợp game Võ lâm truyền kỳ đang được công ty này cung cấp tại Việt Nam, quyền sở hữu vật phẩm sẽ thuộc về hãng nắm bản quyền là KingSoft tại Trung Quốc.

Ông Nguyễn Hoàng Tuấn Anh, đại diện đối ngoại của VinaGame, cũng cho biết thêm: “Quan điểm của VinaGame được dựa trên thông lệ của việc sử dụng các sản phẩm như phần mềm, sách báo, nhạc, phim, người dùng cuối được phép sử dụng và phải chấp nhận những quy định của nhà cung cấp khi sử dụng như không được sao chép, không được kinh doanh lại. Chắc chắn là không thể có chuyện người dùng cuối có quyền sở hữu sản phẩm (hay một phần của sản phẩm) được”.

Đa số game thủ cũng cho rằng những đồ vật trong game do nhân vật của họ kiếm được đều thuộc quyền sở hữu của nhân vật đó, cũng là thuộc về chủ của nhân vật. Việc mua bán, cho tặng những đồ vật trong game hoàn toàn do chủ sở hữu quyết định.

“Chúng tôi không mua bán phần mềm game, chúng tôi trao đổi những vật phẩm trong game. Giống như tôi có thể trao đổi những bản thiết kế được vẽ bằng AutoCAD chứ không mua bán phần mềm đó”, anh Nguyễn Công Vinh, một gamer của Võ lâm truyền kỳ tại Hà Nội, nói.

Thậm chí, có ý kiến cho rằng nên tách quyền sở hữu với quyền sử dụng đối với tài sản trong game. Theo ý kiến này, nhà cung cấp game sẽ nắm quyền sở hữu tài sản trong game vì những “dữ liệu máy tính có giá trị” do phần mềm của mình tạo ra. Đây là cơ sở để nhà cung cấp dịch vụ game trực tuyến đề ra những quy tắc để chuyển giao quyền sử dụng cho người chơi và thu hồi những đồ vật, tài sản trong game nếu những nguyên tắc đó bị vi phạm.

Người chơi có được quyền sử dụng tài sản trong game bằng cách trả phí cho nhà cung cấp. Quyền đó thuộc về game thủ để có thể tự do sử dụng tài sản theo ý mình hoặc trao đổi, mua bán quyền này với người khác. Trên thực tế, bấy lâu nay các game thủ cũng chỉ trao đổi nhau quyền sử dụng tài sản trong game, bất kể là tài khoản, nhân vật hay đồ vật bởi không ai có thể cắt đoạn mã máy tính ra khỏi hệ thống của trò chơi.

Bên cạnh vấn đề về chủ sở hữu tài sản ảo là câu hỏi về cách thức và mức độ bảo hộ cho loại tài sản này. Theo luật sư Nguyễn Hoàn Thành của văn phòng Luật sư Phạm và liên danh, tài sản trong game trực tuyến là đối tượng rất đặc biệt mang nhiều đặc điểm gần giống với tài sản sở hữu trí tuệ. “Vướng mắc chính trong việc xây dựng hành lang pháp lý cho những tài sản trong game là sẽ công nhận và bảo hộ cho nó như thế nào”, luật sư Thành nói. “Hiện tại vẫn còn khá nhiều vấn đề bất cập như xác định giá trị tài sản để bảo hộ trong không gian ảo, mức độ bảo hộ và trách nhiệm của nhà cung cấp đối với các tài sản đó”.

Luật sư Thành cũng nêu ra những điểm khác biệt trong việc bảo hộ tài sản trong game với tài sản thật: “Trong game, việc các nhân vật đọ sức, cướp bóc để giành những món đồ là chuyện phổ biến nhưng việc này không được chấp nhận ngoài đời thực. Mặc khác, do tính đặc thù của mình nên giá trị của những tài sản trong game cũng chưa có được hệ thống định giá rõ ràng, gây khó khăn cho việc bảo hộ những tài sản đó”. Ông Thành bổ sung, gần giống với tài sản trong game, tên miền trên Internet cũng không phải là tài sản sở hữu trí tuệ và được bảo hộ. Chính đối tượng được gắn với tên miền như một thương hiệu, loại hàng hoá hay vấn đề được quan tâm mới là tài sản và được bảo hộ.

Các đối tượng như tên miền, địa chỉ e-mail… thì lâu nay đã có khung pháp lý điều chỉnh riêng. Còn tài sản trong game hiện tại được điều chỉnh bởi thỏa thuận giữa nhà cung cấp game với các game thủ.

Việc công nhận hay không loại tài sản này phải do luật Dân sự điều chỉnh bởi luật này có những nội dung liên quan đến tài sản. Các luật khác như Thương mại điện tử, Sở hữu trí tuệ chỉ là điều chỉnh về mặt hình thức. Trong khi chờ đợi một hành lang pháp lý, các game thủ vẫn mặc nhiên thừa nhận loại tài sản này và việc trao đổi, buôn bán vẫn tiếp tục diễn ra bất chấp nhà cung cấp game có đồng ý hay không.

Hiện tại, một số công ty cung cấp game vẫn thận trọng với việc công nhận những đồ vật trong game là tài sản vì chưa thống nhất được quan điểm về sở hữu và bảo hộ.

SOURCE: Game Thủ.NET

NÂNG MỨC BỒI THƯỜNG THƯ GỬI:SOS!

NHẬT XUÂN

Mức giới hạn bồi thường bưu gửi được mỗi doanh nghiệp thực hiện một kiểu. Sự thật là doanh nghiệp chủ đạo VNPT lại có mức bồi thường bất hợp lý và cứng nhắc nhất. Quy định này đã đến lúc cần điều chỉnh.

Mỗi doanh nghiệp quy định một kiểu

Hiện nay thị trường bưu chính, chuyển phát trong nước đã phát triển rất mạnh. Bên cạnh 3 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính là VNPT, Viettel và Sài Gòn Post, còn có tới gần 100 doanh nghiệp chuyển phát khác, trong đó có những doanh nghiệp đã bắt đầu xây dựng được hình ảnh, thương hiệu như Netco, Tín Thành… Do đặc thù của dịch vụ bưu chính là phải qua nhiều khâu: giao nhận, vận chuyển, với sự tham gia của nhiều người, do đó, không có một doanh nghiệp chuyển phát hàng hoá nào cam kết là không có rủi ro trong quá trình cung cấp dịch vụ. Nhà cung cấp nào cũng có một quy chế bồi thường trong trường hợp làm thất lạc, hư hỏng hoặc chuyển phát không đúng thời gian cam kết. Mức giới hạn bồi thường được mỗi doanh nghiệp xây dựng một kiểu, cách vận dụng cũng khác nhau.

Trong số các doanh nghiệp trong nước, VNPT có sản lượng lớn nhất, số vụ việc khiếu nại về chất lượng nhiều nhất, mức bồi thường thấp và kém linh hoạt nhất. Hiện VNPT vẫn đang áp dụng mức bồi thường theo Quyết định 737/1998/QĐ-TCBĐ. Theo đó, VNPT không bồi thường đối với bưu phẩm gửi thường, chỉ bồi thường đối với bưu phẩm ghi số (bao gồm: ấn phẩm, gói nhỏ, khai giá, dịch vụ phát hàng thu tiền – COD, EMS) và bưu kiện. Số tiền bồi thường được căn cứ theo từng loại bưu gửi và được chia theo nấc khối lượng, dịch vụ EMS quốc tế có quy định riêng nhưng cũng được phân loại và nấc khối lượng như đối với dịch vụ cơ bản…

Mức bồi thường thấp nhất được áp dụng cho thư ghi số đến 100 gam là 2.600 đồng, mức bồi thường cao nhất là bưu kiện trên 10kg là 132.000 đồng. Mức bồi thường như vậy được đánh giá là quá thấp và là nguyên nhân dẫn đến những khiếu nại kéo dài. Bà Lê Thị Khang – Phó Giám đốc Trung tâm Bưu chính liên tỉnh và quốc tế khi vực 1 cho biết, khiếu nại dịch vụ trong nước khi phát sinh bồi thường thì hầu như không khách hàng nào chấp nhận số tiền được bồi thường theo quy định của Ngành vì quá ít ỏi so với giá trị hàng gửi. Nhiều khách hàng từ chối nhận bồi thường vì mức bồi thường quá thấp so với giá trị hàng hoá bị mất. Điển hình nhất là những vụ khiếu nại gửi hàng hoá có giá trị cao như điện thoại di động, máy ảnh, máy vi tính, giấy tờ quan trọng bị mất hoặc bị thay đổi nội dung.

Khác với VNPT, đại diện của Bưu chính Sài Gòn Postel cho biết, khi xây dựng quy định về bồi thường công ty cũng dựa vào mức mà doanh nghiệp chủ đạo là VNPT đang áp dụng. Tuy nhiên, do thị trường cạnh tranh quá mạnh, để giữ uy tín với khách hàng, gần đây khi tiếp thị, doanh nghiệp này đã cam kết sẽ bồi thường 100% cho khách hàng trong trường hợp hàng bị hỏng, bị mất. Đối với những lô hàng lớn có giá trị, Bưu chính Sài Gòn Postel hướng dẫn khách hàng dùng dịch vụ khai giá và hỗ trợ khách hàng mua bảo hiểm, do đó, phần lớn những phát sinh bồi thường được giải quyết ổn thoả.

Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Nội Bài (Netco) công bố mức quy định bồi thường cao gấp đôi so với mức quy định của Quyết định 737/1998/QĐ-TCCBĐ. Song ông Nguyễn Đức Thế – Tổng Giám đốc Netco cho biết, thực tế thì chi trả bồi thường tương đương với giá trị hàng hoá bị mất, đã có 1 vụ mất máy tính xách tay trị giá 28 triệu và 1 vụ mất điện thoại di động trị giá hơn 13 triệu được Netco bồi thường 100% giá trị. Sau một vài rủi ro, Netco đã kiên quyết không nhận những hàng có giá trị cao nếu như khách hàng không sử dụng dịch vụ khai giá. Bên cạnh đó, Netco cũng giống như Sài Gòn Postel, Netco cũng hỗ trợ khách hàng mua bảo hiểm những lô hàng có giá trị lớn.

Nâng mức bồi thường: Bao giờ?

Bà Lê Thị Khang nói: “Mức đền bù quá thấp làm những người trực tiếp giải quyết bồi thường cho khách hàng còn cảm thấy ngại”. Một số ý kiến khác cho biết, khi được nhận số tiền bồi thường ít ỏi, nhiều khách hàng đã bất bình, thậm chí có khách hàng còn nổi giận với người đại diện đứng ra giải quyết khiếu nại. Không ít ý kiến trên báo chí còn đặt câu hỏi, phải chăng nhân viên bưu điện lợi dụng chính sách bồi thường thấp để lấy trộm hàng của khách.

Chính vì, mức bồi thường quá thấp, VNPT chưa bị áp lực về việc bồi thường, nên họ chưa có trách nhiệm cao đối với từng khâu sản xuất trong quy trình cung cấp dịch vụ và hệ quả là khiếu nại của vô cùng nhiều. Năm 2006, riêng dịch vụ quốc tế gửi đến Công ty Bưu chính liên tỉnh và quốc tế (VPS) đã trên 3.000 vụ khiếu nại bưu gửi chiều đi, gần 7.000 vụ khiếu nại bưu gửi chiều về, còn số liệu khiếu nại đối với dịch vụ trong nước tại 64 tỉnh, thành thì lớn hơn rất nhiều.

Vậy tại sao VNPT chưa xem xét điều chỉnh mức bồi thường bưu gửi? ông Lương Tất Thắng – Phó Trưởng ban Giá cước Tiếp thị (VNPT) cho biết, mức bồi thường trước đây do Tổng cục Bưu điện ban hành dựa trên mối tương quan với cước dịch vụ, cước dịch vụ bưu chính hiện còn thấp do đó mức bồi thường cũng thấp theo. Việc xem xét để thay đổi giới hạn bồi thường phù hợp khá phức tạp, bởi mức bồi thường có mối liên hệ chặt chẽ với giá cước. ông Thắng cho rằng, cần phân cấp cho các doanh nghiệp chủ động quyết định giá dịch vụ cũng như mức bồi thường, thì việc điều chỉnh sẽ nhanh hơn và hợp lý hơn.

Theo kinh nghiệm của ông Nguyễn Duy Bình – Trưởng đại diện Feedex tại Việt Nam: “Trong chuyển phát hàng hoá quan trọng nhất là phải tạo được lòng tin của khách hàng, cung cấp một dịch vụ đáng tin cậy chứ không phải là giá cả cao hay thấp”. Rõ ràng, mức bồi thường bưu gửi đã đến lúc phải được nâng lên, nếu không việc bảo vệ quyền lợi khách hàng sẽ tiếp tục bị bỏ ngỏ và lòng tin của khách hàng sẽ không còn nữa.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

SỞ HỮU TRÍ TUỆ VỚI HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TRẦN VIỆT HÙNG – Phó cục Trưởng cục Sở hữu Trí tuệ

Trên nền tảng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 Sở Hữu trí tuệ Việt Nam đã có những giai đoạn phát triển mới, trong đó tất cả các yếu tố của hệ thống đều được đổi mới, hoàn thiện theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của đất nước và yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách về sở hữu trí tuệ tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với đòi hỏi nội tại của đất nước và yêu cầu hội nhập quốc tế. Hàng loạt văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005 đã được Cục Sở hữu trí tuệ chủ trì xây dựng và đã được ban hành (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22.09.2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ). Đặc biệt, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục Sở hữu trí tuệ đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về sở hữu trí tuệ trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, góp phần kết thúc 12 năm đàm phán gia nhập, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO kể từ ngày 11.01.2007. Thủ tục cần thiết để Việt Nam tham gia Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu đã được hoàn thành (chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11.07.2006). Luật pháp quốc tế (TRIPS/WTO, BTA…) về sở hữu trí tuệ tiếp tục được bảo đảm thi hành nghiêm túc. Thủ tục hành chính về sở hữu công nghiệp tiếp tục được cải cách, hiện đại hoá phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn, các loại đơn về sở hữu công nghiệp được xử lý theo thời hạn quy định. Công tác tự động hoá, ứng dụng công nghệ mới được coi trọng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng xử lý công việc, giảm đáng kể thời gian xử lý các loại đơn về sở hữu công nghiệp. Tính đến hết ngày 31.12.2006, Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận được 52.371 đơn các loại (tăng gần 25% so với năm 2005), trong đó có 30.944 đơn đăng ký sở hữu công nghiệp (tăng khoảng 22% so với năm 2005), đồng thời cũng đã xử lý 34.909 đơn các loại (tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái), trong đó cấp 14.473 văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp. Hoạt động hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, đa dạng về nội dung, quan hệ song phương và đa phương với các đối tác không ngừng được củng cố và phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về sở hữu trí tuệ, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện trong khuôn khổ APEC, ASEAN, EU…, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với nhiều đối tác như Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu âu (EPO) Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu âu (OHIM), các cơ quan sở hữu trí tuệ của Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga… Các dự án hợp tác với nước ngoài cũng tiếp tục được triển khai có hiệu quả, như Dự án Hợp tác kỹ thuật về sử dụng thông tin sở hữu trí tuệ tại Việt Nam do Nhật Bản tài trợ, Chương trình quốc gia dành cho Việt Nam trong khuôn khổ Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ do EU tài trợ, Chương trình Hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thuỵ Sĩ về sở hữu trí tuệ do Thụy Sỹ tài trợ, góp phần hiện đại hoá và nâng cao nâng lực cho hệ thống sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Đặc biệt, công tác hỗ trợ và tư vấn về sở hữu công nghiệp được Cục chú trọng và thực hiện thường xuyên, các hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực. Ngoài việc tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký sở hữu công nghiệp được thực hiện thường xuyên cho hàng trăm lượt người, các hoạt động nhằm hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là chỉ dẫn địa lý) cũng được tăng cường. Chương trình Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (được phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04.04.2005) đã được triển khai ngay sau khi Thông tư quản lý tài chính của Chương trình được ban hành (ngày 31.10.2006) với hàng loạt hạng mục công việc có nội dung khác nhau. Đồng thời, công tác thông tin và năng lực thông tin về sở hữu công nghiệp cũng tiếp tục được hoàn thiện, phát triển. Cục Sở hữu trí tuệ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin về sở hữu công nghiệp (hệ thống phân loại sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu phù hợp với quốc tế, các chương trình tra cứu thông tin, số hoá tư liệu sáng chế), bổ sung hàng chục vạn tư liệu sở hữu công nghiệp và phát hành các sản phẩm thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ thông tin về sở hữu công nghiệp cũng như phục vụ đắc lực công tác xử lý đơn đăng ký sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, công tác thực thi và giải quyết khiếu nại tiếp tục được Cục Sở hữu trí tuệ chú trọng theo hướng hiệu quả. Ngoài việc tiếp nhận và xử lý hàng trăm đơn khiếu nại về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục Sở hữu trí tuệ còn tham gia thẩm định, giám định pháp lý về sở hữu công nghiệp theo yêu cầu của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, cũng như tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng trăm vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về sở hữu công nghiệp. Nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm, vi phạm về sở hữu trí tuệ, nạn hàng giả, hàng nhái… tiếp tục diễn ra nghiêm trọng làm cho hệ thống sở hữu trí tuệ bị coi là thiếu hiệu quả, Cục Sở hữu trí tuệ đã chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Thủ tướng phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ” để triển khai thực hiện năm 2007.

SOURCE: TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

CỤC SỞ HỮU TRÍ TUỆ CẤP 1.475 BẰNG ĐỘC QUYỀN KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP

Năm 2006, hàng loạt văn bản pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật SHTT đã được Cục chủ trì xây dựng và ban hành như: Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật SHTT về sở hữu công nghiệp (Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006); Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và quản lí nhà nước về SHTT (Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006)… Bên cạnh đó, trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục SHTT đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về SHTT trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, tiến hành rà soát, sửa đổi, cập nhật dự thảo báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO nhằm phản ánh chính xác hệ thống SHTT của Việt Nam, góp phần kết thúc 11 năm đàm phán, chính thức đưa Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ thứ 150 của WTO. Về công tác tiếp nhận đơn đăng ký sở hữu công nghiệp, tính đến hết năm 2006, Cục SHTT đã tiếp nhận 52.371 đơn các loại (tăng gần 25% so với năm 2005), trong đó có 2.173 đơn sáng chế (tăng 11%), 238 đơn giải pháp hữu ích, 1.604 đơn kiểu dáng công nghiệp, 23.086 đơn nhãn hiệu… Cục đã xử lí và cấp được 669 Bằng sáng chế, 70 Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, 1.475 Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp…

SOURCE: TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 1+2+3/2007

KINH NGHIỆM CHỐNG CẠNH TRANH CỦA NHẬT BẢN

TIẾN NAM

Để đẩy mạnh khả năng phòng chống đối với những vi phạm tự do cạnh tranh, AMA tổ chức quản lý cạnh tranh của Nhật đã sửa đổi luật cạnh tranh và việc sửa đổi đã đem lại nhiều hiệu quả. Trong các vấn đề quan tâm cần được sửa đổi bao gồm tăng thêm tỷ lệ thuế phạt đối với vi phạm luật chống độc quyền, từ 6% lên 10% doanh thu liên quan đối với công ty lớn và áp dụng tỷ lệ hơn 50% đối với những công ty tái phạm. Sửa đổi luật chống độc quyền cho phép Cục quản lý cạnh tranh Nhật Bản (JFTC) được quyền đưa ra sự buộc tội hình sự đối với các doanh nghiệp vi phạm.

Ngoài ra, trong các khoản sửa đổi miễn thuế phạt 100% cho sự vi phạm lần đầu tiên của doanh nghiệp, giảm 10% thuế phạt vi phạm lần 2 và 30% giảm thuế phạt cho vi phạm lần 3 sẽ được xem xét miễn là họ cung cấp đầy đủ thông tin trước khi Uỷ ban thương mại tự do (JFTC) tiến hành điều tra. Hơn nữa, JFTC đã nêu rõ trong “Chính sách của uỷ ban thương mại tự do về buộc tội và điều tra bắt buộc trường hợp hình sự liên quan hành vi độc quyền”, trong đó sẽ không buộc tội hình sự đối với doanh nghiệp đầu tiên đã đưa bản thông báo trước khi cuộc điều tra khởi đầu.

Theo các điều sửa đổi, từ tháng 4/2006 đến tháng 3/2007, JFTC sử dụng biện pháp hợp pháp đối với 69 doanh nghiệp lớn. Lượng thuế phạt phải trả trong năm 2006 là 36,3 tỷ yên (tương đương US$ 302 millian) đây được coi là kỷ lục cao nhất trong lịch sử AMA về số lượng tiền trả và số lượng doanh nghiệp bị phạt.

Nhật Bản đã làm chương trình khoan dung hiệu quả hơn, thông qua việc bắt buộc đối với các Công ty lớn chứng minh rằng họ sẽ chẳng bao giờ bị phạt nếu thực hiện đúng. Sự bắt buộc năng động đó sẽ tạo ra sự khuyến khích mạnh đối với nhiều Công ty để thành lập hệ thống tuân thủ hiệu quả và tạo ra sự thúc đẩy nhằm ngăn chặn đối với các hoạt động cạnh tranh không tự do.

Dưới đây là những trường hợp cụ thể trong việc áp dụng luật sửa đổi chống cạnh tranh tại Nhật. Những trường hợp này sẽ chứng minh sự nỗ lực của JFTC trong việc chống lại các Công ty độc quyền.

Trường hợp Công ty thắng thầu nhờ sắp đặt tạo sự thuận lợi bằng cách loại bỏ đối thủ nhờ bắt tay với địa phương v.v…Trong cuộc điều tra về trường hợp này, JFTC, trong thời gian đầu tiến hành điều tra hình sự đã buộc tội 11 Công ty và các cá nhân của chúng bị khởi tố vào tháng 5 và 6/2006. Theo điều tra, 11 Công ty này đã thoả thuận trước người thắng thầu giữa các thành viên tham dự thầu bằng cách tạo ra sự thuận lợi nhờ bắt tay với địa phương… và hợp tác với nhau để sắp xếp người chiến thắng thầu với giá họ mong muốn. JFTC nhận ra rằng sự phạm pháp này ảnh hưởng rộng đến cuộc sống con người và quyết định tiến hành điều tra để buộc tội hình sự. Hiệu quả của việc cho phép quyền điều tra hình sự là rõ ràng với các chứng cứ thu thập được và JFTC đã đưa bản chất của các Công ty độc quyền ra ánh sáng.

Trường hợp thắng thầu nhờ được sự ủng hộ của tập đoàn xây dựng đường cao tốc thành phố.Đây là trường hợp thể hiện chương trình khoan dung được sử dụng từ khi việc sửa đổi có hiệu lực. Trong trường hợp này, vào 8/12/2006 JFTC tiết lộ 3 Công ty được miễn hoặc giảm thuế phạt vì đã sử dụng chương trình khoan dung.

Thắng thầu liên quan đến các dự án cửa cống của Bộ Nông nghiệp.Việc thắng thầu không minh bạch được tìm thấy trong dự án mua cửa cống bởi MLIT, cơ quan quản lý nước JMA, Bộ Nông nghiệp cũng tìm ra được nhiều doanh nghiệp liên quan đã cùng nhau thắng 1 loạt thầu và các quan chức chung của các cơ quan trên bị mua chuộc. Cụ thể, hơn 20 Công ty cùng nhau chọn những người thắng thầu để hưởng lợi, thông qua sự tiếp tay của các quan chức để đảm bảo giá dự án cửa cống không giảm. Bởi vậy, 3/8/2006 theo Điều 3 của quy định chung loại bỏ và ngăn cản sự tham gia trong thắng thầu bất chính, JFTC đã yêu cầu Bộ trưởng MLIT thực hiện biện pháp cải cách trong quản lý thầu và hợp đồng để chống sự tiếp tay của quan chức. Đây là trường hợp đầu tiên 1 cơ quan chính quyền phải tuân theo quy định loại bỏ và ngăn chặn sự tham gia bỏ thầu.

Dựa trên cơ quan điều tra, JFTC đưa ra lệnh ngừng và miễn quyền hoạt động của các Công ty và buộc trả thuế phạt, tổng số tiền phạt 1,67 tỷ yên (khoảng 14 triệu USD).

Trường hợp trúng thầu xây dựng đường tàu điện ngậm ở thành phố Nagoia. Trong vụ này Công ty nổi tiếng là tập đoàn Kajima đã thoả thuận xếp đặt người trúng thầu cho mỗi công trình để xây dựng đường tàu điện ngầm mở rộng và họ cũng đồng ý đưa ra giá hợp lý cho người thắng thầu để trúng thầu.

Dựa vào điều tra, JFTC đã phát hiện sự vi phạm quy định AMA và đã đưa buộc tội lên viện công tố đối với 5 Công ty và 5 cá nhân người đóng vai trò chính.

Ngoài việc chống lại các Công ty độc quyền và gian lận bỏ thầu, JFTC cũng đảm bảo cạnh tranh công bằng trên thị trường, chủ yếu giải quyết hoạt động thương mại không công bằng trong lĩnh vực bán lẻ, trong đó chúng tôi thường gặp các nhà bán lẻ thường ép nhà cung cấp vị trí lợi thế trong việc mặc cả. Cụ thể, nhà bán lẻ buộc nhà cung cấp gửi người hỗ trợ công việc bằng sản phẩm và kiểm kê, đòi 1 lượng tiền mà không có lý do gửi trả hàng bán. Các nhà cung cấp cũng làm việc giao dịch và đưa họ vào thế bất lợi trong cạnh tranh với các nhà cung cấp khác. Nói chung, việc lợi dụng ưu thế trong mặc cả cản trở sự cạnh tranh công bằng của nhà cung cấp và bán lẻ.

JFTC ngoài ưu tiên giải quyết các vấn đề cạnh tranh không lành mạnh còn ban hành sửa đổi các điều luật tương tự cụ thể như luật hình phạt chung các giao dịch không công bằng đối với các nhà buôn bán lẻ liên quan giao dịch với nhà cung cấp, ban hành 5/2005.Luật này quy định đối với các nhà bán lẻ, cấm bán hàng giả, buộc nhà bán sỉ giảm giá, phân công công việc của nhân viên thuộc nhà cung cấp…

JFTC tiến hành điều tra 15000 Công ty, 900 người tiêu dùng và tổ chức thành phố về nhu cầu cải cách và nhận được hơn 240 đề xuất, JFTC lựa chọn 52 vấn đề cải cách liên quan đến kinh tế.

Dựa vào cuộc điều tra, JFTC có được sự tham gia ý kiến của các Bộ liên quan để cải cách các thể chế và chính sách cạnh tranh tự do. Đồng thời hợp tác mật thiết với các nhà làm luật thuộc nhiều ngành bằng việc thành lập kênh thông tin tham gia ý kiến.

Đưa ra chính sách công nhận quyền người tiêu dùng thông qua việc cung cấp thông tin tiêu dùng. Bản sửa đổi luật “Bảo vệ người tiêu dùng” – “Khung luật quy định đối với người tiêu dùng” năm 2006 thành lập chính sách người tiêu dùng mạnh hơn. Thêm vào đó, Bảng thông báo về bảo vệ người tiêu dùng đã được chuyển thành ban người tiêu dùng quyền lực thi hành chuyển JFTC. Cùng lúc JFTC thừa nhận vai trò hỗ trợ nhóm người tiêu dùng. Kết quả là JFTC đã chứng minh nền tảng liên kết mật thiết giữa chính sách cạnh tranh và tiêu dùng.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 6/2007

CHÍNH SÁCH CẠNH TRANH CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TIẾN BÁCH

Nước Mỹ được coi là một trong những quốc gia có môi trường kinh doanh, môi trường cạnh tranh thông thoáng, trật tư, ổn định và khá bình đẳng. Nhờ môi trường kinh doanh – cạnh tranh quốc gia này, một số doanh nghiệp của Mỹ đã đạt tới tầm cỡ thống trị, thao túng, khống chế, kiểm soát một số ngành sản xuất – kinh doanh xuất khẩu trên thị trường thế giới. Để có được môi trường kinh doanh – cạnh tranh như vậy là do hệ thống luật pháp, chính sách của Mỹ trong lĩnh vực này nhằm vào 4 mục tiêu kinh tế quan trọng nhất như sau:

Trước hết, bảo vệ và duy trì cạnh tranh là mục tiêu trọng tâm bằng cách không cho phép độc quyền, cấm cạnh tranh không lành mạnh và loại bỏ hành động phân biệt và câu kết về giá.

Thứ hai là bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bằng cách cấm những hình thức kinh doanh, cạnh tranh thiếu công bằng, mang tính lừa dối.

Thứ ba là bảo vệ những hãng kinh doanh với quy mô nhỏ và hoạt động độc lập, tránh khỏi sức ép kinh tế do sự cạnh tranh của các hãng lớn gây ra.

Thứ tư là nhằm vào điều chỉnh nhiều hơn tới các yếu tố chính trị và xã hội có liên quan so với vấn đề kinh doanh và kinh tế.

Môi trường kinh doanh – cạnh tranh trong nước ở Mỹ được coi là trật tư, khá ổn định ở chỗ đã áp dụng hình sự hoá các chế tài trong luật chống độc quyền và mặc dù hầu hết các bang đều ban hành luật chống độc quyền, song các đạo luật như Sherman năm 1890, Clayton năm 1914 (bổ sung làm rõ đạo luật Sherman); đạo luật của Uỷ ban thương mại liên bang năm 1914; đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền năm 1976 của toàn liên bang vẫn được coi là cơ sở quyết định đối với tất cả các quy định cạnh tranh – chống độc quyền tại nước Mỹ. Điều đáng lưu ý là đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền là một đạo luật tách biệt nhằm tăng cường quyền lực của chính phủ Mỹ trong việc thi hành ba luật nêu trên. Tuy nhiên, ở Mỹ không phải tất cả mọi tổ chức đều phải tuân thủ theo 4 đạo luật về chống độc quyền trên đây. Nghị Viện Mỹ đã miễn trừ việc áp dụng một số quy định về chống độc quyền đối với những công đoàn nỗ lực độc quyền trong việc cung cấp lao động; những hợp tác xã nông nghiệp đôi khi tham gia vào những hành vi phản cạnh tranh; các công ty bảo hiểm chịu sự điều chỉnh theo luật cạnh tranh của bang chứ không phải theo luật của liên bang…; một số vụ giao dịch kinh doanh nhỏ liên quan đến vấn đề quốc phòng, an ninh và những hoạt động nghiên cứu phát triển của các hợp tác xã.

Luật chống độc quyền của Mỹ được coi là thông thoáng ở chỗ quan điểm của các toà án trong thực tiễn xét xử không coi việc tăng cường quy mô công ty bằng cách sáp nhập, tập trung quyền lực kinh tế thống trị một ngành hay một thị trường một cách chính đáng là vi phạm luật cạnh tranh, chống độc quyền Đối với các công ty Mỹ, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu, thống trị kinh tế ngành và thị trường quốc tế là việc sáp nhập theo chiều dọc và sáp nhập các tập đoàn. Việc này gần như trở thành xu thế chính với tốc độ cao và số lượng lớn. Ví dụ, chỉ một thời gian ngắn từ 1981 – 1982 đã có tới 8 vụ sáp nhập doanh nghiệp lớn với giá trị giao dịch từ 1 tỷ USD đến 7,8 tỷ USD. Tính riêng năm 1981, đã có tới 2.800 trường hợp sáp nhập công ty lớn, nhỏ với tổng số tiền 82,6 tỷ USD được chi tiêu vào các hoạt động sáp nhập.

Tuy nhiên, giải pháp này phát huy tác dụng trong điều kiện một nền kinh tế phát triển và tạo lợi thế về quy mô trong cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế. Nhưng với một nền kinh tế đang phát triển và việc sáp nhập công ty để đối phó với cạnh tranh trên thị trường nội địa là chính (tiến tới độc quyền) thì không thể nâng cao được năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của các công ty. Vì không có sự cạnh tranh trên thị trường nội địa một cách gay gắt để tồn tại thì doanh nghiệp làm sao nâng cao được năng lực cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế.

Hiện nay, Singapore là một quốc gia có nền kinh tế phát triển, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu của doanh nghiệp được xếp ở thứ bậc cao là nhờ chính phủ Singapore thực hiện chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư rất sớm (1966 – 1973). Mà then chốt là chính phủ thực thi chiến lược hướng về xuất khẩu như dồn mọi nỗ lực vào việc tiếp cận và phát triển thị trường nước ngoài, hỗ trợ phát triển các nhà xuất khẩu (1979 1984), xúc tiến xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (1985 – 1990). Từ 1991 đến nay, Singapore thực thi chính sách “quốc tế hoá nội địa”, mục tiêu là biến Singapore thành một trung tâm thương mại quốc tế lớn. Hệ thống chính sách kinh tế của Singapore được tập trung giải quyết bởi một Uỷ ban liên bộ của Chính phủ, do phó thủ tướng đứng đầu, dưới nó là các uỷ ban chuyên trách như IDB, TDB (Uỷ ban phát triển đầu tư – thương mại), HDB (Uỷ ban phát triển nhà ở) … Theo cơ cấu tổ chức này tránh được sự riêng rẽ, cứng nhắc trong từng bộ, đồng thời tạo được sự phối hợp đồng bộ trong hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế đất nước.

Quan điểm về xây dựng chính sách cạnh tranh của Singapore là đặt các doanh nghiệp tại Singapore (không phân biệt trong nước, ngoài nước, sở hữu) trong môi trường cạnh tranh quốc gia bình đẳng, theo kiểu chọn lọc tự nhiên, Nhà nước không bảo hộ. Nhưng nhà nước ưu tiên đầu tư cho doanh nghiệp ở các ngành quan trọng phát triển bằng cổ phần lớn của nhà nước, khi các doanh nghiệp này đủ mạnh trong cạnh tranh xuất khẩu trên thị trường quốc tế thì nhà nước bán cổ phiếu cho người dân. Ví dụ, công ty vận tải biển NEPTUNE và Công ty BUS SERVICES là hai tập đoàn lớn ở Singapore. Nhà nước Singapore chú trọng phát triển các tập đoàn kinh tế thương mại tổng hợp theo mô hình của Nhật Bản và Hàn Quốc. Các tập đoàn kinh tế thương mại tổng hợp có nhiều ưu thế trong cạnh tranh xuất khẩu do có thế lực rất lớn, có mục tiêu cụ thể, là cầu nối giữa thị trường trong nước với thị trường ngoài nước. ưu thế của các tập đoàn kinh tế – thương mại tổng hợp thể hiện ở chỗ sử dụng đội ngũ chuyên gia tinh thông nghiệp vụ và kiến thức kinh doanh quốc tế, có quy mô và tiềm lực tài chính lớn, năng động vì nắm giữ một lượng thông tin khổng lồ, kịp thời đưa ra các giải pháp khi thị trường có biến động, có đủ khả năng đầu tư tạo lập một ngành công nghiệp lớn hoặc thống trị một ngành, một thị trường lớn.

Nhà nước Singapore rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực với quan điểm là: “mọi cố gắng bằng không khi dân không được giáo dục đào tạo một cách bài bản và chuẩn mực”. Vì vậy, chính sách của Chính phủ tập trung vào giải quyết vấn đề sử dụng thiết bị, phương tiện một cách có hiệu quả nhất chứ không nhất thiết phải ào ạt đầu tư, hiện đại hoá các phương tiện thiết bị khi chưa đồng bộ với lực lượng sử dụng nó. Mặt khác, chính phủ Singapore cũng rất chú trọng chính sách lao động và tiền lương. Việc tuyển dụng lao động và đề bạt cất nhắc căn cứ vào năng lực và chuyên môn thật sự chứ không chỉ dựa vào tiêu chuẩn bằng cấp hoặc là con ông cháu cha. Càng cán bộ cấp cao càng phải được đào tạo bắt buộc và thường xuyên. Lập Quỹ tiết kiệm trung ương (CPF) để thực hiện trợ cấp xã hội, trên cơ sở bắt buộc các doanh nghiệp đóng góp 25% thu nhập, người lao động đóng 20% thu nhập vào quỹ và được hưởng lãi suất cao, khi về hưu mỗi người có khoản tiền từ 500.000 đến 1.000.000 USD để chi dùng cá nhân. Chính sách này đã tạo cho người lao động Singapore hết lòng với nhà nước và doanh nghiệp, tạo động lực lớn phát triển kinh tế đất nước và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 6/2007

TRANH CHẤP KHI TÊN MIỀN TRÙNG THƯƠNG HIỆU

HÀ ANH

Gần đây, ở nước ta phát sinh nhiều tranh chấp tên miền. Nhưng phổ biến là dạng tranh chấp phát sinh giữa một bên chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hóa (NHHH) với bên chiếm giữ trùng tên nhãn hiệu, nhưng vẫn được Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) cấp đăng ký dưới dạng tên miền.

Chiếm dụng tên miền bùng phát

Việc trục lợi tên miền thường thể hiện dưới hai xu hướng hoặc là hiện tượng “đầu cơ tên miền” hoặc là “chiếm dụng tên miền”. Nếu đầu cơ tên miền là việc đăng ký trước một số tên miền “đẹp” mà dự đoán hoặc kỳ vọng sẽ chuyển nhượng được, thì chiếm dụng tên miền là việc đăng ký có chủ đích khống chế một tên miền trùng với thương hiệu nổi tiếng nhằm hoặc lợi dụng uy tín thương hiệu đó để cạnh tranh hoặc gây cản trở việc quảng bá thương hiệu hoặc là cách gây áp lực buộc chủ thương hiệu nhận chuyển nhượng lại.

Nếu đầu cơ tên miền thường nặng tính cơ hội, thì chiếm dụng tên miền thường gây ra tranh chấp với nhiều xung đột.

Khi có khiếu nại bảo vệ việc cấp phát tên miền cấp 2 “.vn” như đã xảy ra với các NHHH như Heineken, Visa, Trung Nguyên, Vietcombank, Tiger Beer, Ford…, quan điểm của VNNIC thường không nhất quán. Việc cấp phát, thu phí tên miền dường như cơ quan quản lý chưa cân nhắc giảm thiểu việc xâm hại đến quyền lợi của chủ thể khác. Quan điểm của VNNIC về vấn đề cấp phát, quản lý tên miền dễ phát sinh tranh chấp, gây xung đột giữa quy định của bộ, ngành với quy định pháp Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT).

VNNIC áp dụng cứng nhắc nguyên tắc “ai đăng ký trước được cấp trước” và “bình đẳng không phân biệt”. Thực tế, nguyên tắc trên chỉ là phần nhỏ trong nhiều nguyên tắc khác theo quy định của ngành cũng như quy định pháp luật khác mà lẽ ra VNNIC phải vận dụng khi giải quyết việc cấp phép hoặc giải quyết tranh chấp tên miền. Trong Quyết định số 27/2005/QĐ-BBCVT, ngày 11-8-2005 của Bộ Bưu chính – Viễn thông có nhiều nguyên tắc áp dụng cho việc đăng ký, khai thác tên miền hơn chỉ vỏn vẹn hai nguyên tắc mà VNNIC viện dẫn. Đây có lẽ là nguyên cớ dẫn đến hệ lụy như thời gian qua.

Với trường hợp tên miền như heineken.vn, coke.com.vn hoặc fanta.com.vn…, chúng tôi cho rằng, VNNIC có thể bác hồ sơ đăng ký nếu vận dụng đúng quy định tại Điều 8 (c) Quyết định 27 trên. Theo đó, “tổ chức, cá nhân đăng ký sử dụng tên miền phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về mục đích và tính chính xác của thông tin cung cấp cho VNNIC và bảo đảm việc đăng ký, sử dụng tên miền không xâm phạm các quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác có trước ngày đăng ký”.

Trường hợp liên quan tên miền heineken.vn, Tập đoàn quốc tế Heineken là bên có quyền, lợi ích hợp pháp đối với NHHH heineken. Khi xét thấy việc chiếm dụng tên miền của bất kỳ chủ thể nào có xâm phạm đến lợi ích của chủ NHHH, thì VNNIC có thể ngăn chặn bằng cách bác đơn, hủy bỏ hoặc tạm thời hủy bỏ tên miền khi có tranh chấp, khiếu nại.

Trước đây, VNNIC đã từng bác đăng ký các tên miền như buoi.com.vn, banlon… với lý do tên miền vi phạm thuần phong, mỹ tục… Đây là quyết định đúng mặc dù rất cảm tính. Trường hợp trên, VNNIC không phải là không nhận định được nhãn hiệu Heineken, Ford, Tigerbeer, Biasaigon… thuộc sở hữu của ai, bằng chứng là VNNIC tự ra thông báo cho các chủ nhãn hiệu này, nhưng vì không thấy có sự phản hồi xác nhận sẽ đăng ký… VNNIC cho mình quyền cấp cho tổ chức khác không phải là chủ nhãn hiệu. Khá đơn giản khi bác đơn với lý do vi phạm mỹ tục, chỉ khác là mặc dù nhận thấy có bất ổn trong việc cấp phát tên miền trùng thương hiệu nổi tiếng, đã được bảo hộ, nhưng VNNIC vẫn cấp và thu phí “bình đẳng không phân biệt”. Cách áp dụng máy móc trên không tạo ra sự bình đẳng, mà gần như là “đánh đồng, cào bằng” giữa bên sở hữu thương hiệu uy tín, hợp pháp với một bên chuyên tâm trục lợi thương hiệu. Tên miền là đối tượng được bảo hộ theo Luật SHTT thì mới được bảo vệ? Theo quan điểm của VNNIC, tên miền chỉ là tên định danh địa chỉ Internet (IP) cho các máy chủ trên mạng và tên miền không được xem là đối tượng được bảo hộ theo Luật SHTT. Quan điểm này chưa hẳn đúng.

Điều 130, Luật SHTT cấm hành vi: “Đăng ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng”. Luật không xếp tên miền vào đối tượng SHTT được bảo hộ. Nhưng như viện dẫn trên điều luật nghiêm cấm hành vi đăng ký – chiếm giữ – sử dụng tên miền trùng hoặc gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn thể hiện rõ khi chủ sở hữu tên miền, nhưng không có quyền lợi nào liên quan đến tên miền đăng ký.

Tên miền có phải là thương hiệu?

Tên miền không phải là thương hiệu, nhưng một khi tên miền trùng với một thương hiệu nổi tiếng, một nhãn hiệu được bảo hộ thì hành vi sử dụng tên miền trên đều vi phạm.

Quan điểm của VNNIC, tên miền chỉ là tên định danh địa chỉ Internet (IP) cho các máy chủ trên mạng và tên miền không được xem là đối tượng được bảo hộ theo Luật SHTT. Đây là quan điểm không đúng. Vấn đề hoàn toàn khác khi tên miền gắn liền với tên thương hiệu cụ thể, như nhãn hiệu nổi tiếng heineken. Điều 4.10 quy định nhãn hiệu nổi tiếng là nhãn hiệu được người tiêu dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Quy định hiện hành cũng đưa ra trường hợp ngoại lệ đối với nhãn hiệu nổi tiếng quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký (Điều 6.3).

Quy định tại Điều 124.5: “Hành vi sử dụng nhãn hiệu là việc thực hiện các hành vi gắn nhãn hiệu được bảo hộ lên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh; Hoặc hành vi lưu thông, chào bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán hàng hóa mang nhãn hiệu được bảo hộ”.

Điều 129, Luật SHTT xác định hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu: sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ.

Không nên máy móc đợi tên miền là đối tượng SHTT, mới xét đến khía cạnh bảo hộ quyền sở hữu. Như trình bày, chúng tôi cho rằng bất kỳ hành vi nào có sử dụng NHHH (Điều 124) và việc sử dụng này bị xác định là hành vi xâm phạm quyền đối với NHHH (Điều 129) đều là xâm phạm. Do đó, việc sử dụng tên một nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã được bảo hộ để đăng ký tên miền đều là hành vi phạm pháp luật.

Pháp luật cấm mua bán tài nguyên Internet. Thực tế, có những nhượng bộ tên miền sau khi gắn một số nội dung, tiện ích giản đơn. Tương tự như để “lách” quy định cấm mua bán tài nguyên đất đai, ta trồng chuối để bán lại tài sản, hoa màu có trên đất, chứ không “bán” đất vậy. Theo chúng tôi, một nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đã được bảo hộ thì trong mọi hoàn cảnh, chủ nhãn hiệu không nên thoả hiệp với cả đơn vị cấp phép VNNIC lẫn với bên đầu cơ. Sẽ là bất kham một khi VNNIC yêu cầu chủ nhãn hiệu đóng hàng trăm triệu đồng mỗi năm để đăng ký hàng chục tên miền .vn hoặc .com.vn Việt Nam… chỉ vì quan ngại có người trục lợi thương hiệu.

Việc chủ nhãn hiệu đăng ký tên miền “bao vây” hoặc thương lượng với bên đầu cơ để mua lại tên miền sẽ tạo ra tiền lệ nguy hại cho thương hiệu của mình. Điều mà chủ nhãn hiệu cần làm là nên chủ động khuyến báo cho VNNIC về thông tin NHHH của mình. Đồng thời, kịp thời phản đối việc đăng – cấp tên miền có xâm phạm đến nhãn hiệu của mình. Ngoài ra, nếu không có sự minh bạch, phân định khách quan hơn từ cơ quan giữ trọng trách quản lý, cấp phép sử dụng, khai thác tài nguyên Internet như VNNIC, thì các tranh chấp trên nguồn tài nguyên Internet Việt Nam vẫn chưa có hồi kết.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG SỐ 6/2007

CÂU CHUYỆN “NHÁI” NHÃN HIỆU

QH(Theo BWPORTAL)

Nhiều doanh nghiệp rất ngại khi đối mặt với “con đường” xây dựng chỗ đứng trên thị trường cho nhãn hiệu của riêng mình, một quá trình rất lâu dài và tốn kém. Chính vì điều này, không ít hãng sản xuất vì muốn sản phẩm của mình nhanh chóng thâm nhập thành công thị trường nên đã sử dụng phần nào đặc điểm của các nhãn hiệu nổi tiếng. Tuy nhiên, các doanh nghiệp có lẽ vẫn chưa thấy hết hành vi của mình sẽ có hậu quả như thế nào?

Hãng Giant và hãng Wufa của Đài Loan là hai hãng cùng trong ngành sản xuất sản phẩm chăm sóc tóc của Đài Loan, trong đó Giant là một hãng mới, còn Wufa khá nổi tiếng với các sản phẩm dầu gội của mình. Wufa đã kiện Giant về có những hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi đã sử dụng một số đặc điểm của Wufa để xây dựng nên nhãn hiệu dầu gội của Giant.

Uỷ ban Thương mại lành mạnh Đài Loan (FTC) đã điều tra thiết kế bên ngoài, đóng gói, nhãn và mẫu mã trên vỏ hộp được sử dụng bởi cả Giant cũng như Wufa, và thấy có sự tương tự giữa chúng về những chi tiết như thiết kế và sắp xếp những mẫu mã, sắp xếp mầu sắc và chữ cái. Tuy nhiên, những từ như là “Dầu tắm Acid cao Hướng dương”, “Dầu tắm AHA” và “Dầu tắm chăm sóc da Acid cao”, “Tẩy rửa thân thể AHA” ở phía trước vỏ hộp và những từ ở phía sau bao gồm một loạt những thành phần “sunphát laureth natri, chiết xuất từ cây hướng dương” và “sunphát lauryl natri, chiết xuất từ cây hướng dương, glycol prodyleve” là tất cả những thuật ngữ miêu tả. Những thuật ngữ này thường được sử dụng trên những sản phẩm tương tự để giải thích chất lượng, thành phần và kiểu của chúng, những nội dung khó thể hiện giúp cho việc xác định xuất xứ của hàng hóa hoặc dịch vụ. Bởi vậy, FTC không cho đó là hành vi vi phạm Điều 20 Luật Thương mại lành mạnh của bên bị kiện dựa trên những dữ liệu nói trên. Hơn nữa, theo Luật Thương mại lành mạnh Đài Loan quy định rằng “một doanh nghiệp không được thực hiện các hành vi gian dối và không công bằng hiển nhiên mà có thể gây ảnh hưởng xấu tới trật tự kinh doanh”, một doanh nghiệp mà sử dụng tên của một công ty khác hoặc sao chép không phù hợp hình thức hàng hóa của người khác sẽ bị coi là khai thác thành quả lao động của người khác, vi phạm đạo đức của cạnh tranh trong kinh doanh và tạo nên cạnh tranh không lành mạnh.

Điều tra này đã chỉ ra rằng hãng Giant đã không có những cố gắng tích cực để làm cho nhãn hiệu của mình trở thành một phần nổi bật của nhãn hiệu để phân biệt các hàng hóa với nhau. Thay vào đó, Giant đã sử dụng hình ảnh hoa hướng dương có hai vòng tròn màu tía bao quanh như một phần của nhãn hàng hóa của mình, và những hàng chữ được in ở giữa vỏ hộp có nhãn hiệu bông hoa hướng dương cùng với nhãn bằng chữ ghi “Dầu tắm chăm sóc da Acid cao” màu trắng và “Dầu tắm” màu vàng. Cuối cùng, thiết kế tổng thể của vỏ hộp sản phẩm của bên bị kiện tương tự hoặc giống hệt với dấu hiệu của sản phẩm “Hoa hướng dương Mei Wu Fa” của bên khiếu kiện về bao gói, hình dáng, mẫu mã, cách sắp xếp, mầu sắc và chữ cái.

Hơn nữa, khi Giant kiếm tiền bằng cách bán dầu gội đầu và sản phẩm liên quan, Giant nên nhận biết đặc điểm của sản phẩm “Hoa hướng dương Wu Fa” của Wufa về sắp xếp mầu sắc và mẫu mã trên vỏ hộp của sản phẩm này. Tuy nhiên, khi Giant bắt đầu tiếp thị sản phẩm bị nghi vấn này, thì họ đã ghi trên bao bì dòng chữ như là “Hoa hướng dương” và “Dầu tắm chăm sóc da Acid cao” màu trắng, màu mà không làm nổi bặt sự khác nhau về cách sắp xếp màu sắc, mẫu mã ở phần nhãn phía trước giữa sản phẩm của bản thân nó và của Wufa.

Thêm nữa, vì các chữ như là “Hoa hướng dương” và “Tẩy rửa thân thể AHA” được thể hiện với màu sắc và kích thước tương tự ở cùng một vị trí, nên hình thức tổng thể bên ngoài, cách sắp xếp màu sắc và mẫu mã của nhãn hàng hóa của Giant là gần như giống hệt với sản phẩm “Hoa hướng dương Mei Wu Fa” của Wufa, hàng hoá mà được đặc trưng bởi nhãn hiệu ” Hoa hướng dương Wu Fa” và nhãn hàng hoá có ghi “Dầu tắm acid Tartaric” và “Dầu tắm AHA”. Sự tương tự giữa hai sản phẩm này về nhãn, chữ cái, vỏ hộp và các thành phần khi đó lớn hơn nhiều so với sự phân biệt giữa các đặc điểm của nhãn hiệu của họ, do đó khả năng mà Giant có dự định gắn bản thân nó với uy tín của bên khiếu kiện không thể bị loại trừ.

Mặc dù sau đó Giant sửa đổi nhãn hiệu của mình trên sản phẩm cụ thể này nhưng điều này không thay đổi được sự thật rằng thiết kế ban đầu của nó có thể dễ dàng làm cho người tiêu dùng liên tưởng đến sản phẩm “Hoa hướng dương Wu Fa” lúc thoạt nhìn. Bởi vậy, có thể kết luận rằng Giant đã sao chép một cách có chủ định mẫu mã và hình thức nhãn trên vỏ hộp sản phẩm của Wufa và bằng cách này đã gắn sản phẩm của mình với sự tín nhiệm của Wufa và khai thác thành quả lao động Wufa.Rõ ràng trong cùng một thị trường, các hãng sản xuất không thể cạnh tranh nhau bằng những hành vi không lành mạnh như vậy, bởi điều này tất yếu sẽ dẫn đến tranh chấp. Và cuối cùng thì có lẽ bên nào có những hành vi không lành mạnh sẽ phải chịu kết cục xấu. Chẳng hạn như với Giant, cơ quan chức năng của Đài Loan đã ra lệnh huỷ bỏ nhãn hiệu của sản phẩm dầu gội Giant và buộc Giant phải có những thiết kế, mẫu mã khác. Như vậy không chỉ tốn tiền thay đổi mẫu mã sản phẩm mà quá trình xâm nhập thị trường của Giant sẽ phải kéo dài hơn, những thiệt hại là được nhận thấy rõ ràng.

TẠP CHÍ TIÊU CHUẨN – ĐO LƯỜNG – CHẤT LƯỢNG/CHUYÊN SAN CHẤT LƯỢNG VÀNG SỐ 5/2007