CHUYÊN ĐỀ LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 3/1997 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – quá khứ, hiện tại và tương lai
2. Một số nội dung chủ yếu của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996
3. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
4. Nghị định 12/CP ngày 18/12/1997 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ LUẬT TỤC

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 1/1997 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Phát biểu khai mạc hội thảo của đồng chí Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc
2. Phát biểu của bác sỹ Y Ngông Niê Kđăm, Uỷ viên ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội
3. Bài phát biểu của đồng chí Huỳnh thị Xuân, Phó chủ tịch Uỷ Ban nhân dân tỉnh Đaklak
4. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Đaklak.
5. Luật tục và văn hoá dân tộc (sở văn hoá thông tin Đaklak)
6. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Gia lai
7. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Kon Tum
8. Tham luận của Sở Văn hoá thông tin tỉnh Ninh Thuận
9. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng
10. Tham luận của Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi.
11. Tham luận của Sở Tư pháp Tỉnh Bình Định.
12. Tham luận của Sở VHTT tỉnh Bình Định.
13. Phát biểu bế mạc hội thảo của đồng chí Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Tháng 3/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
Phần I. Những vấn đề chung về công ty.
Phần II. Thực trạng pháp luật về công ty ở Việt Nam.
Phần III. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về công ty.
Tài liệu tham khảo  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 6/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Mối quan hệ giữa điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam và pháp luật Việt Nam (Trích kết quả báo cáo đề tài)
2. Kinh nghiệm chuyển hoá quy phạm pháp luật quốc tế vào pháp luật trong nước ở Cộng hoà Pháp và một số nước châu Âu.
3. Một số vấn đề ký kết và thực hiện Hiệp định tương trợ Tư pháp trong lĩnh vực về dân sự, hôn nhân và gia đình
4. Một số vấn đề thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của CHXHCN Việt Nam trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự.
5. Một số vấn đề về thực tiễn ký kết và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại.
6. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ký kết các hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài của Việt Nam
7. Một số nhận xét về thực tiễn ký kết và áp dụng điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng hải tại Việt Nam
8. Một số vấn đề về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế trong lĩnh vực tránh đánh thuế hai lần.
9. Một số vấn đề về ký kết và thực hiện Hiệp định tín dụng giữa CHXHCN Việt Nam và Ngân hàng thế giới.
10. Một số thực tiễn quốc tế và thực tiễn Việt Nam trong quá trình chuyến hoá các quy phạm của điều ưóc quốc tế vào pháp luật trong nước về lĩnh vực ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự.  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ HƯƠNG ƯỚC

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 10/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Đình Lộc, Bộ trưởng Bộ Tư pháp tại hội thảo khoa học về Hương ước tổ chức tại Hải Hưng.
2. Bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Du, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Hưng.
3. Vai trò của Hương ước trong việc xây dựng nông thôn mới ở Hải Hưng.
4. Yêu cầu quản lý Nhà nước đối với việc ban hành và thực hiện Hương ước (quy ước làng).
5. Một số kiến nghị cụ thể về quản lý Nhà nước đối với việc lập, ban hành và nội dung của quy ước làng văn hoá ở Hà Bắc.
6. Mấy ý kiến về quy ước văn hoá ở nông thôn hiện nay.
7. Mấy suy nghĩ về Hương ước trong văn hoá quản lý nông thôn.
8. Quy ước làng- một phương tiện giúp chính quyền địa phương quản lý xã hội và xây dựng đời sống văn hoá cơ sở.
9. Vấn đề hương ước của tỉnh Hà Tây.
10. Xây dựng Hương ước là thực tế khách quan cần được chỉ đạo quản lý chặt chẽ.
11. Hương ước với việc quản lý văn hoá làng xã qua việc thực hiện nông thôn Hải Hưng.
12. Quy ước văn hoá để xây dựng làng văn hoá, khối phố văn hoá.
13. Vai trò của quy ước làng văn hoá trong việc xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình.
14. Đôi điều về quy ước làng hiện nay.  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THỜI PHÁP THUỘC

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

1998

Mục lục

Phần thứ nhất: Vài nét chính về xã hội và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc
I. Xã hội và pháp luật Việt Nam dưới thời Lê
II. Xã hội và pháp luật Việt Nam dưới thời Nguyễn
III. Xã hội và pháp luật Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Phần thứ hai: Một số chế định về dân sự
I. Chế định về sở hữu
II. Chế định về khế ước
III. Chế định hôn nhân và gia đình
IV. Chế định thừa kế
V. Chế định trách nhiệm dân sự
VI. Chế định thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự
Tài liệu tham khảo

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ XV ĐẾN THỜI PHÁP THUỘC

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

1998

Mục lục

Phần thứ nhất: Vài nét chính về xã hội và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời Pháp thuộc
I. Xã hội và pháp luật Việt Nam dưới thời Lê
II. Xã hội và pháp luật Việt Nam dưới thời Nguyễn
III. Xã hội và pháp luật Việt Nam dưới thời Pháp thuộc
Phần thứ hai: Một số chế định về dân sự
I. Chế định về sở hữu
II. Chế định về khế ước
III. Chế định hôn nhân và gia đình
IV. Chế định thừa kế
V. Chế định trách nhiệm dân sự
VI. Chế định thủ tục giải quyết các tranh chấp dân sự
Tài liệu tham khảo

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

BẢO VỆ QUYỀN TRẺ EM TRONG PHÁP LUẬT VỀ QUỐC TỊCH VÀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Tác giả/tập thể tác giả

VIện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

I. Luật quốc tịch Việt Nam và bảo vệ quyền trẻ em
PTS.Nguyễn Thành Trì, Chuyên viên Viện NCKH Pháp lý, Bộ Tư pháp
II. Đăng ký khai sinh với vấn đề bảo vệ quyền trẻ em
PTS. Trần Thất, Phó Vụ trưởng Vụ Công chứng, Giám định, Hộ tịch, Lý lịch tư pháp
III. Đăng ký nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam
PTS.Dương Thanh Mai, Phó Viện trưởng Viện NCKH Pháp lý, Bộ Tư pháp
Lương Thị Lanh, Chuyên viên Vụ Công chứng, Giám định, Hộ tịch, Lý lịch tư pháp
IV. Đăng ký nhận cha, mẹ, con với việc bảo vệ quyền trẻ em
Nguyễn Quang Hưng, Chuyên viên Viện NCKH Pháp lý, Bộ Tư pháp
V. Việc đăng ký giám hộ trong pháp luật Việt Nam
PTS. Hoàng Thế Liên, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Bộ Tư pháp-Viện trưởng Viện NCKH Pháp lý, Bộ Tư pháp
VI. Việc thay đổi, cải chính hộ tịch của trẻ em trong pháp luật Việt Nam
Dương Bạch Long, Chuyên viên Viện NCKH Pháp lý, Bộ Tư pháp
VII. Quyền trẻ em và đăng ký hộ tịch trong các hiệp định quốc tế và song phương
PTS.Phạm Văn Lợi và Cử nhân Luật Nguyễn Văn Hiển, Chuyên viên Viện NCKH Pháp lý, Bộ Tư pháp
* Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em (Trích những điều liên quan trực tiếp)

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

HỎI ĐÁP VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC NGÀY 1-7-1991

Tác giả/tập thể tác giả

VIện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC NGÀY 1-7-1991
CHƯƠNG II: GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở GIỮA CÁ NHÂN VỚI CÁ NHÂN ĐƯỢC XÁC LẬP TRƯỚC NGÀY 1-7-1991
Mục I: Thuê nhà ở giữa cá nhân với cá nhân
Mục II: Cho mượn, cho ở nhờ nhà ở giữa cá nhân với cá nhân
Mục III: Mua bán nhà ở giữa cá nhân với cá nhân .
Mục IV: Đổi nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.
Mục V : Tặng cho nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.
Mục VI: Thừa kế nhà ở giữa cá nhân với cá nhân.
Mục VII: Quản lý nhà vắng chủ giữa cá nhân với cá nhân.
Mục VIII: Sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, làm thêm diện tích,xây dựng mới.
CHƯƠNG III: GIAO DỊCH DÂN SỰ VỀ NHÀ Ở GIỮA CÁ NHÂN VỚI CƠ QUAN, TỔ CHỨC
CHƯƠNG IV: PHƯƠNG THỨC TRẢ NHÀ Ở GIỮA CƠ QUAN, TỔ CHỨC VỚI CÁ NHÂN
CHƯƠNG V: GIÁ CHO THUÊ NHÀ Ở KHI CHƯA TRẢ LẠI NHÀ
CHƯƠNG VI: THỦ TỤC CHUYỂN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở, XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở
Mục I: Thủ tục chuyển quyền sở hữu trong trường hợp mua bán nhà ở
Mục II: Thủ tục chuyển quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp tặng cho nhà ở
Mục III: Thủ tục xác lập chuyển quyền sở hữu nhà ở trong trường hợp đổi nhà ở
Mục IV: Thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà ở do thừa kế
Mục V: Thủ tục xác lập chuyển quyền sở hữu nhà ở vắng chủ do thừa kế
Mục VI: Thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà ở vắng chủ cho người là bố, mẹ, vợ, chồng, con của chủ sở hữu
Mục VII: Thủ tục xác lập quyền sở hữu đối với nhà ở do cơ quan, tổ chức thuê, mượn của cá nhân
Mục VIII: Thủ tục xác lập quyền sở hữu nhà ở đối với diện tích làm thêm, nhà ở xây dựng mới
CHƯƠNG VII: CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁ NHÂN VÀ HỘ GIA ĐÌNH SỬ DỤNG ĐẤT

Tác giả/tập thể tác giả

VIện NCKH Pháp lý

Năm xuất bản

2000

Mục lục

CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG III. CHUYỂN ĐỔI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA CÁ NHÂN, HỘ GIA ĐÌNH.
CHƯƠNG IV. THUÊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG V. THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT .
CHƯƠNG VI. THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH Ở CẤP CƠ SỞ

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
PHẦN II. ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
CHƯƠNG II. ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
CHƯƠNG III. ĐĂNG KÝ KHAI TỬ
CHƯƠNG IV. ĐĂNG KÝ VIỆC NUÔI CON NUÔI
CHƯƠNG V. ĐĂNG KÝ VIỆC GIÁM HỘ
CHƯƠNG VI. ĐĂNG KÝ VIỆC NHẬN CHA, MẸ, CON
CHƯƠNG VII. ĐĂNG KÝ CÁC VIỆC THAY ĐỔI, CẢI CHÍNH HỘ TỊCH; GHI VÀO SỔ CÁC THAY ĐỔI HỘ TỊCH KHÁC
CHƯƠNG VIII. ĐĂNG KÝ QUÁ HẠN, ĐĂNG KÝ LẠI CÁC VIỆC HỘ TỊCH
CHƯƠNG IX. ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH Ở CẤP CƠ SỞ

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
PHẦN II. ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH
CHƯƠNG II. ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
CHƯƠNG III. ĐĂNG KÝ KHAI TỬ
CHƯƠNG IV. ĐĂNG KÝ VIỆC NUÔI CON NUÔI
CHƯƠNG V. ĐĂNG KÝ VIỆC GIÁM HỘ
CHƯƠNG VI. ĐĂNG KÝ VIỆC NHẬN CHA, MẸ, CON
CHƯƠNG VII. ĐĂNG KÝ CÁC VIỆC THAY ĐỔI, CẢI CHÍNH HỘ TỊCH; GHI VÀO SỔ CÁC THAY ĐỔI HỘ TỊCH KHÁC
CHƯƠNG VIII. ĐĂNG KÝ QUÁ HẠN, ĐĂNG KÝ LẠI CÁC VIỆC HỘ TỊCH
CHƯƠNG IX. ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên PGS. TS. Hoàng Thế Liên 

Năm xuất bản

2003

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU
Phần thứ nhất. NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. ĐỀN BÙ THIỆT HẠI ĐỐI VỚI CÁC LOẠI ĐẤT
Mục I. Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
Mục II. Đền bù thiệt hại đối với đất ở
Mục III. Đền bù thiệt hại đối với đất chuyên dùng
CHƯƠNG III. CƠ CHẾ THỰC HIỆN ĐỀN BÙ THIỆT HẠI
CHƯƠNG IV. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀN BÙ THIỆT HẠI KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Phần thứ hai. CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề Tháng 7/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Những vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng Luật hôn nhân và gia đình
2. Luật pháp về ly hôn của Canada
3. Một vài nét về chế độ hôn nhân và gia đình của chính quyền Sài gòn trước đây.
4. Luật Hôn nhân nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
5. Trích một số quy định luật Triều Lê về hôn nhân và gia đình  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM TẬP I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (TỪ ĐIỀU 1 ĐẾN ĐIỀU 171 BỘ LUẬT DÂN SỰ)

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ Biên PGS. TS. Hoàng Thế Liên
Nguyễn Đức Giao
 

Đơn vị xuất bản: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Năm xuất bản

2001

Mục lục

Phần thứ nhất. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Chương I. Những nguyên tắc cơ bản
Chương II. Cá nhân
Mục 1. NĂNG LỰC PHÁP LUẬT DÂN SỰ, NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ CỦA CÁ NHÂN
Mục 2. QUYỀN NHÂN THÂN
Mục 3. NƠI CƯ TRÚ
Mục 4. HỘ TỊCH
Mục 5. GIÁM HỘ
Mục 6. TUYÊN BỐ MẤT TÍCH, TUYÊN BỐ CHẾT
Chương III. Pháp nhân
Mục 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ PHÁP NHÂN
Mục 2. CÁC LOẠI PHÁP NHÂN
CHƯƠNG IV. Hộ gia đình, tổ hợp tác
Mục 1. HỘ GIA ĐÌNH
Mục 2. TỔ HỢP TÁC
Chương V. Giao dịch dân sự
Chương VI. Đại diện
CHƯƠNG VII. Thời hạn
CHƯƠNG VIII. Thời hiệu

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

VAY VỐN THEO HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN: LÃI SUẤT VÀ PHƯƠNG THỨC HẠNH TOÁN

Việt Nam đã gia nhập WTO. Thị trường tài chính sẽ phát triển rất mạnh. Điều đó sẽ mang lại cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính nhiều cơ hội vay và cho vay vốn. Bên cạnh đó, do sự biến động của lãi suất trên thị trường tài chính sẽ mang đến cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính rủi ro lớn khi vay vốn đặc biệt là vay dài hạn. Để hạn chế những rủi ro này, các doanh nghiệp khi vay vốn có thể sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất.

Hợp đồng quyền chọn lãi suất là giao dịch quyền chọn lãi suất vay hoặc cho vay đối với các khoản vay hoặc cho vay dựa trên lãi suất tại ngày đáo hạn hợp đồng.
Hiện nay, họat động cho vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất chủ yếu được áp dụng đối với các khoản vay trung hạn và vay bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp có thể kết hợp cả hợp đồng vay vốn theo quyền chọn lãi suất và hợp đồng quyền chọn thanh toán bằng ngoại tệ.
Vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất có đặc điểm:
  – Tại ngày vay, doanh nghiệp có quyền lựa chọn thanh toán tiền lãi vay khi đáo hạn bằng một tỷ lệ lãi suất định trước tại ngày đáo hạn hay thanh toán theo lãi suất trên thị trường tài chính. Để có được quyền này, doanh nghiệp phải trả quyền phí.
  – Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn thì doanh nghiệp sẽ thanh toán lãi vay cho các tổ chức tài chính theo lãi suất trong hợp đồng quyền chọn.
  – Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn, doanh nghiệp không thực hiện hợp đồng quyền chọn mà sẽ thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính.
  – Hợp đồng quyền chọn lãi suất có hai dạng:
    + Hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa: Là loại hợp đồng được áp dụng khi khách hàng vay vốn theo lãi suất thả nổi nhưng không phải trả vượt quá một mức lãi suất được xác định trước trong hợp đồng. Trường hợp lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất xác định trước khách hàng trả theo lãi suất trên thị trường.
    + Hợp đồng quyền chọn hai đầu: Là loại hợp đồng được áp dụng khi khách hàng vay lãi suất thả nổi nhưng với mong muốn phải trả lãi suất trong một khung xác định trước.
Trong hai loại hợp đồng trên, hợp đồng quyền chọn lãi suất chặn trên tối đa được sử dụng phổ biến hơn.
Từ những đặc điểm trên của hợp đồng quyền chọn lãi suất khi vay vốn, trong phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập đến phương pháp hạch toán trong trường hợp doanh nghiệp vay vốn sử dụng hợp đồng quyền chọn lãi suất tối đa.
1. Nguyên tắc hạch toán
  – Chi phí quyền chọn được hạch toán vào chi phí tài chính theo nguyên tắc kỳ kế toán.
  – Lãi vay phải trả được hạch toán vào chi phí tài chính.
  – Nếu chi phí lãi vay và phí quyền chọn thỏa mãn các điều kiện được vốn hóa theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 16 “Chi phí đi vay” sẽ được tính vào giá trị thực tế của tài sản.
  – Doanh nghiệp được quyền trích trước chi phí lãi vay theo đúng quy định.
  – Các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến ngoại tệ khi thực hiện hợp đồng vay vốn được hạch toán dựa trên các nguyên tắc sau:
    + Đối với vật tư, hàng hóa, tài sản, chi phí, thuế phải được quy đổi theo tỷ giá thực tế tại thời điểm phát sinh.
    + Bên Có của tài khoản nợ vay phải được quy đổi theo tỷ giá thực tế.
    + Bên Nợ của tài khoản nợ vay phải được quy đổi theo tỷ giá ghi sổ kế toán.
    + Bên Có của tài khoản tiền phải được quy đổi theo tỷ giá ghi sổ kế toán (tỷ giá ghi sổ kế toán được xác định theo một trong bốn phương pháp: bình quân gia quyền, Nhập trước – Xuất trước, Nhập sau – Xuất trước và thực tế đích danh).
    + Chênh lệch tỷ giá phát sinh khi thanh toán nợ vay và lãi vay được ghi nhận vào doanh thu tài chính (nếu lãi tỷ giá) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá).
    + Cuối kỳ kế toán, kế toán phải đánh giá lại nợ vay có gốc bằng ngoại tệ theo tỷ giá thực tế vào lúc cuối kỳ. Chênh lệch tỷ giá được hạch toán vào bên Có TK4131 (nếu lãi tỷ giá) hoặc bên Nợ TK4131 (nếu lỗ tỷ giá).
+ Cuối niên độ kế toán, kế toán tiến hành xử lý chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá được ghi nhận vào doanh thu tài chính (nếu lãi tỷ giá) hoặc chi phí tài chính (nếu lỗ tỷ giá).
2. Phương pháp hạch toán
2.1. Khi giao địch ký kết hợp đồng
Trong giai đoạn này phát sinh các chi phí giao dịch, ký kết hợp đồng và quyền phí, kế toán định khoản như sau:
      Nợ TK142-Chi phí trả trước ngắn hạn (Chi phí giao dịch, quyền phí)
            Có TK111, 112
2.2. Khi thực hiện hợp đồng vay vốn
a. Phản ánh nợ gốc vay:
      Nợ TK112(2)-Nếu nhập vào tài khoản tiền gởi (Theo tỷ giá thực tế)
      Nợ TK151,152,153,211,213.. Nếu mua vật tư, tài sản (Theo tỷ giá thực tế)
      Nợ TK315, 331, 342 – Nếu thanh toán nợ (Theo tỷ giá ghi sổ kế toán)
       Nợ TK635 – Chi phí tài chính (Tỷ giá ghi sổ kế toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế)
            Có TK341 – Vay dài hạn (Theo tỷ giá thực tế)
            Có TK515-D.thu tài chính (Tỷ giá ghi sổ kế toán nhỏ hơn tỷ giá thực tế)
b. Trích trước chi phí lãi vay
      Nợ TK635
            Có TK335 – Chi phí lãi vay trích trước
c. Kết chuyển quyền phí, chi phí giao dịch
      Nợ TK635 – Nếu không được vốn hóa
            Có TK142
2.3. Cuối kỳ, tiền hành đánh giá nợ gốc vay theo tỷ giá thực tế cuối kỳ
– Nếu tỷ giá cuối kỳ lớn hơn tỷ giá ghi sổ kế toán của khoản vay, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái kế toán định khoản:
      Nợ TK413(1) – Chênh lệch tỷ giá hối đoái
            Có TK341
– Nếu tỷ giá cuối kỳ nhỏ hơn tỷ giá ghi sổ kế toán của khoản vay, phần chênh lệch tỷ giá hối đoái kế toán định khoản:
      Nợ TK341
            Có TK413(1) – Chênh lệch tỷ giá hối đoái
2.4. Khi đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp thanh toán nợ gốc và lãi
a./ Trường hợp lãi suất trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất vay vốn xác định trước trong hợp đồng, doanh nghiệp thanh toán lãi vay theo lãi suất định trước trong hợp đồng. Phần chênh lệch giữa lãi suất trên thị và lãi suất được xác định trong hợp đồng được ghi nhận là một khoản lãi. Kế toán định khoản:
      Nợ TK341 – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán
      Nợ TK335, 635 – Tiền lãi vay tính theo lãi suất thị trường tài chính
            Có TK112(2) – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán (cả gốc và lãi, lãi được xác định theo lãi suất trong hợp đồng)
            Có TK711 – Chênh lệch giữa lãi suất trên thị trường tài chính và lãi suất trong hợp đồng.
Bên cạnh đó, lãi hoặc lỗ tỷ giá hối đoái kế toán phản ánh vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính.
b./ Trường hợp lãi suất trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất vay vốn xác định trước trong hợp đồng, doanh nghiệp không thanh toán lãi vay theo lãi suất định trước trong hợp đồng mà thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính. Kế toán định khoản:
      Nợ TK341 – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán
      Nợ TK335, 635 – Tiền lãi vay tính theo lãi suất thị trường tài chính
            Có TK112(2) – Theo tỷ giá ghi sổ kế toán (cả gốc và lãi, lãi được xác định theo lãi suất trên thị trường tài chính)
Bên cạnh đó, lãi hoặc lỗ tỷ giá hối đoái kế toán phản ánh vào doanh thu tài chính hoặc chi phí tài chính.
Trên đây là một số nôị dung bàn về nghiệp vụ vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất và phương pháp hạch toán mà chúng tôi trao đổi cùng bạn đọc.
Nguyễn Trung Lập Đại học Duy Tân

VỀ QUAN HỆ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA

ĐOÀN QUANG THỌ –  Tạp chí Triết học

Quan hệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, cũng như quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận, song ở đây, vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.

Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện ra mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã hội tư bản. Từ đó, các ông đi đến dự báo về sự thay thế chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bằng chế độ công hữu. Việc thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công hữu, theo quan điểm của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trình lâu dài. Tuy nhiên, vào giai đoạn lịch sứ đó, các ông chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chế độ công hữu.

Khi vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào điều kiện cụ thể ở nước Nga, V.I.Lênin đá chỉ ra hai con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước tư bản phát triển, sau khi giai cấp vô sản giành được chính quyền, sẽ chuyển trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đối với các nước lạc hậu, con đường đó phải trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ khác nhau. Ngay sau cách mạng tháng Mười, trong tác phẩm “Về bệnh ấu trĩ “tả khuynh” và tính tiểu tư sản”, V.I.Lênin đã cực lực phê phán những tư tưởng nóng vội muốn xác lập ngay chế độ công hữu. Đặc biệt, trong chính sách kinh tế mới, ông đã đưa ra tư tưởng về nền kinh tế nhiều thành phần, về các hình thức kinh tế quá độ, đặc biệt là vấn đề sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là “sự chuẩn bị vật chất đầy đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội, là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội”, là “nấc thang lịch sử”, là “bước tiến lên” chủ nghĩa xã hội.

Sau khi V.I.Lênin mất, Liên Xô đã đi vào thực hiện công nghiệp hoá, đẩy mạnh quốc hữu hoá và tập thế hoá, thực hiện quản lý kinh tế theo mô hình kế hoạch hoá tập trung. Mô hình đó đá phát huy tác dụng tích cực trong điều kiện Liên Xô bị các nước tư bản bao vây, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Từ đó dẫn đến quan điểm tuyệt đối hoá mô hình kế hoạch hoá tập trung, tuyệt đối hoá công hữu được hình thức: toàn dân và tập thể. Thậm chí, vào những năm 80 của thế kỷ XX, ở Liên Xô đã không ít người cho rằng, hình thức sớ hữu tập thể đang từng bước chuyển thành sở hưu toàn dân. Như vậy, vào giai đoạn lịch sử đó đã xuất hiện quan niệm cho rằng, chế độ công hữu phát triển đến đỉnh cao se trớ thành một hình thức sở hữu duy nhất là sở hữu toàn dân. Song, giờ đây, trên thực tế, mô hình đó đã sụp đổ còn chủ nghĩa tư bản thì vẫn tiếp tục phát triển. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại mô hình sở hữu xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, mới có thể đi đến một quan niệm nhất quán về sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Muốn có câu trả lời đúng cho vấn đề này, trước hết phải có phương pháp tiếp cận đúng. Chúng ta không thể lấy ý muốn chủ quan thay thế các quy luật khách quan. Theo quy luật thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển cửa lực lượng sản xuất. Trong lịch sử, sự phát triển của lực lượng sản xuất là quá trình không ngừng đổi mới và hoàn thiện công cụ lao động, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ người lao động, là quá trình hình thành, phát triển phân công lao động xã hội, chuyểền từ lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân lên lực lượng sản xuất có tính chất xã hội. Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, khi khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò to lớn, lực lượng sản xuất đã mang tính quốc tế, quá trình chuyển biến đó ngày một rõ ràng hơn.

Cùng với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, các chế độ sở hữu cũng như các hình thức sở hữu cũng thay đổi. Trong lịch sử phát triền của nhân loại, các chế độ sở hữu đã lần lượt thay thế nhau: từ chế độ công hữu nguyên thuỷ đến chế độ chiếm hưu nô lệ, phong kiến, chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa và chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa. Lịch sử phát triển của nhân loại cũng cho thấy, không có một chế độ sở hữu nào là thuần nhất một hình thức sở hữu, mà nó là sự đan xen nhiều loại hình, nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Tuy nhiên, trong đó có một loại hình sở hữu đóng vai trò chi phối, quy định bản chất của chế độ sở hữu trong từng giai đoạn lịch sử. Xu hướng phát triển của nhân loại không phải đi đến chỗ đơn nhất hoá mà ngược lại, ngày càng đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Nếu như trong xã hội nguyên thuỷ chỉ mới có công hữu nguyên thuỷ thì ngày nay, trong các nước đều đan xen rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Xu hướng phát triển đó là tất yếu, phù hợp với quá trình xã hôi hoá của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất có tính xã hội đòi hỏi quan hệ sản xuất cung phải có tính xã hội. Tính xã hội ở đây thể hiện trong tính đa dạng của nó, chính tính đa dạng đó mới tạo ra sự kết hợp tối ưu các yếu tố của lực lượng sản xuất. Trước đây, nói đến chế độ công hữu là nói đến quá trình biến tư liệu sản xuất thành sở hữu toàn dân và tập thể, và cuối cùng, đi đến một hình thức sở hưu duy nhất là sở hưu toàn dân. Từ đó dẫn đến công hữu hoá ồ ạt, càng nhanh càng tốt. Song thực tiễn đã cho thấy, đó là quan điểm sai lầm. Chế độ công hưu xã hôi chủ nghĩa không hề gạtạt bỏ tính đa dạng các hình thức sở hữu mà ngược lại, chúng thống nhất với nhau. Trong tính đa dạng các hính thức sở hữu, công hữu phải giữ vai trò chi phối. Điều đó cho phép phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đồng thời giữ vững được bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đòi hỏi “phải trải qua một thòi kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời kỳ quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế”. Trong đường lối kinh tế, Đảng ta đề ra: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuân phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa hay quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề rất mới mẻ về lý luận và thực tiễn. Phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chúng ta chưa thể có ngay chủ nghĩa xã hội theo đúng nghĩa của nó, mà đó là một quá trình, là mục tiêu mà chúng ta phải đạt tới. Trong quá trình đó, phải từng bước xác lập chủ nghĩa xã hội, phải tạo ra những điều kiện, những tiền đề để phát triển theo đúng quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, tránh nguy cơ chệch hướng. Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải kết hợp mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu xã hội và mục tiêu bảo vệ môi trường nhằm thực hiện “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, Đảng ta chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Và “từ các hình thức sở hữu cơ bản: sớ hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng, đan xen, hỗn hợp”. Để đạt được điều đó, đòi hỏi chúng ta phải thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu đài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.

Theo đó, có thể nói, quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa hai mặt: một mặt, phải đa dạng hoá các hình thức sớ hữu và coi đó là một trong những điều kiện tất yếu của kinh tế thị trường, mặt khác, phải không ngừng củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Đó là yếu tố quyết định đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa về mặt kinh tế. Việc kết hợp hai mặt đó là nét đặc thù của quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

SOURCE: TẠP CHÍ TRIẾT HỌC (Chưa xác định cụ thể số phát hành)

TIẾP CẬN HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TỪ GÓC ĐỘ CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

LAN HƯƠNG

Khi gia nhập WTO, vấn đề tranh chấp thương mại liên quan đến việc thực thi nghĩa vụ pháp lý được quy định bởi các hiệp định của WTO là điều rất có thể xảy ra đối với bất kỳ một quốc gia thành viên nào. Việt Nam đang trong quá trình chuẩn bị gia nhập WTO và trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO là điều rất cần thiết.

Hệ thống giải quyết tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ và thực thi các nghĩa vụ pháp lý của các quốc gia thành viên được quy định trong các hiệp định của WTO. Đây là một phần quan trọng trong thực tế vận hành của tổ chức này. Hệ thống giải quyết tranh chấp cũng có tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên của WTO và việc chấp nhận quyền tài phán của hệ thống giải quyết tranh chấp đã được hàm chứa khi thành viên đó gia nhập WTO.

1. Khái quát các bước của quá trình giải quyết tranh chấp theo quy định của WTO:

Khi có tranh chấp nảy sinh, nước khiếu nại cần nêu vấn đề với nước bị khiếu nại và đề nghị tham vấn để tìm ra cách giải quyết. Đề nghị tham vấn phải được thông báo cho Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB). Trong vòng 10 ngày, cơ quan bị khiếu kiện phải trả lời đề nghị tham vấn và hai bên bắt đầu quá trình tham vấn trong khoảng thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày bên khiếu kiện nhận được đề nghị tham vấn. Nếu bên bị kiện không đáp ứng được thời hạn trên hoặc kết thúc tham vấn, mà hai bên không thoả thuận được, thì bên khiếu kiện có thể đề nghị DSB cho thành lập Ban Hội thẩm.

Ban Hội thẩm tiến hành các hoạt động xem xét, đánh giá, thẩm định một cách khách quan các tài liệu đệ trình, cũng như những trình bày của các bên tại các cuộc họp, đồng thời dự thảo Báo cáo mô tả để các bên đóng góp ý kiến. Báo cáo được tiếp tục hoàn chỉnh và các bên lại có cơ hội được đóng góp ý kiến trước khi Ban Hội thẩm đưa ra báo cáo cuối cùng gửi tới các bên và gửi DSB. Quá trình này diễn ra thông thường là 6 tháng kể từ ngày thành lập Ban Hội thẩm. DSB sẽ xem xét và thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm sớm nhất vào ngày thứ 20 và muộn nhất là sau 60 ngày kể từ ngày báo cáo được gửi, trừ khi có một bên tranh chấp thông báo chính thức cho DSB về quyết định kháng cáo của mình. Trong trường hợp có kháng cáo, báo cáo của Ban Hội thẩm sẽ được DSB xem xét thông qua chỉ sau khi hoàn thành việc phúc thẩm kháng cáo.

Sau khi có kháng cáo, DSB sẽ giao cho Cơ quan phúc thẩm xem xét lại báo cáo của Ban Hội thẩm. Việc xem xét này được tiến hành trong 60 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không được quá 90 ngày, sau đó Ban Hội thẩm phải đưa ra báo cáo của mình. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc quy định ngược lại các ý kiến và kết luật của Ban Hội thẩm. Báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được DSB xem xét thông qua trong vòng 30 ngày sau khi báo cáo được chuyển tới các thành viên.

Tại cuộc họp của DSB được tổ chức trong vòng 30 ngày sau ngày thông qua báo cáo của Ban Hội thẩm hoặc cơ quan phúc thẩm, bên có nghĩa vụ phải thông báo cho DSB về các dự định của mình đối với việc thực hiện các khuyến nghị và phán quyết, việc thực thi có thể được quy định trong một khoảng thời gian hợp lý. Nếu việc thực hiện không đạt được sự tuân thủ hoàn toàn thì nước bị khiếu kiện có thể đề nghị bồi thường bằng một biện pháp khác.

Trường hợp các khuyến nghị và phán quyết không được thực hiện trong khoảng thời gian hợp lý, nước thắng kiện có quyền yêu cầu DSB cho phép tạm hoãn thi hành việc áp dụng đối với nước không thực hiện phán quyết những nhượng bộ hoặc nghĩa vụ khác tương ứng đối với nước vi phạm này (biện pháp trả đũa). Tuy nhiên, biện pháp trả đũa chỉ là tạm thời và chỉ được áp dụng cho tới khi bên thua kiện đã thực hiện những khuyến nghị hay phán quyết hoặc các bên đã thoả thuận được về một biện pháp giải quyết thoả đáng.

Trong quá trình giải quyết tranh chấp, bất cứ lúc nào, các bên cũng có thể sử dụng trung gian, hoà giải, môi giới để giải quyết tranh chấp.

2. Quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước thành viên là nước đang phát triển trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO

Thoả thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU) đề cập đến địa vị đặc biệt của các thành viên WTO là các nước đang phát triển. Trong các quy định này, đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các thành viên là nước đang phát triển không có nghĩa làm giảm nhẹ nghĩa vụ, làm tăng các quyền về nội dung hoặc cho phép thời gian ân hạn, mà là thuật ngữ mang tính thủ tục. Cụ thể là:

2.1. Trong tham vấn: Nếu tham vấn là biện pháp do một nước thành viên đang phát triển áp dụng thì các bên có thể đồng ý kéo dài thời hạn tham vấn thông thường. Nếu vào cuối giai đoạn tham vấn, các bên không thể đồng ý kết thúc tham vấn thì Chủ tịch DSB có thể kéo dài thời hạn tham vấn.

2.2. Giai đoạn xét xử của Ban Hội thẩm: Khi tranh chấp xảy ra giữa một nước thành viên đang phát triển với một nước thành viên phát triển, căn cứ vào yêu cầu của nước thành viên đang phát triển, Ban Hội thẩm phải có ít nhất một hội thẩm viên từ nước thành viên đang phát triển. Nếu bị đơn là nước thành viên đang phát triển, Ban Hội thẩm phải giành đủ thời gian cần thiết để thành viên này chuẩn bị và đệ trình lý lẽ bào chữa của mình.

2.3. Trong thực thi các quyết định của DSB: ở giai đoạn thực thi, DSB cho phép dành sự quan tâm đặc biệt đối với các vấn đề ảnh hưởng đến lợi ích của các nước thành viên đang phát triển.

2.4. Hỗ trợ về mặt pháp lý: Ban Thư ký WTO có 1 chuyên gia chuyên trách và 2 tư vấn gia độc lập làm việc bán chuyên trách để thực hiện việc tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho các nước thành viên đang phát triển trên nguyên tác tôn trọng tính trung lập, khách quan, đồng thời Ban Thư ký cũng tiến hành việc tổ chức các khoá đào tạo đặc biệt về hệ thống giải quyết tranh chấp cho các nước thành viên.

3. Những ưu điểm của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO:

3.1. Bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên theo Hiệp định WTO:

Hệ thống giải quyết tranh chấp WTO là một hệ thống chặt chẽ và quan trọng đối với việc giải quyết mâu thuẫn trong thương mại quốc tế và làm dịu đi những bất bình đẳng giữa các quốc gia mạnh và yếu. Thay vì việc bên mạnh có đủ khả năng quyết định kết quả của các mối quan hệ, mâu thuẫn như trước kia, với hệ thống giải quyết tranh chấp WTO, các tranh chấp đã được giải quyết trên cơ sở các quy định pháp luật quốc tế. Nhờ cơ chế giải quyết tranh chấp này, các thành viên WTO có thể đảm bảo rằng, các quyền của mình theo Hiệp định WTO được thực hiện. Khi một thành viên có sự không tuân thủ theo Hiệp định WTO, hệ thống giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra cách giải quyết bằng một quyết định độc lập buộc phải thi hành ngay và nếu thành viên thua kiện không chịu thi hành thì sẽ có thể bị trừng phạt thương mại.

3.2. Giải quyết tranh chấp nhanh chóng:

Hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO bao gồm các thủ tục tương đối cụ thể về cả các bước tiến hành cũng như thời gian tương ứng. Có thể nói, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO hoạt động tương đối nhanh và hơn rất nhiều so với hệ thống giải quyết tranh chấp trong nước hoặc các hệ thống tài phán quốc tế khác.

3.3. Làm rõ các quyền và nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên WTO:

Các quyền và nghĩa vụ của quốc gia thành viên được quy định trong Hiệp định WTO thường mang tính bao trùm và có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nguyên nhân chính là do các hiệp định quốc tế này thường là kết quả của các vòng đàm phán đa phương. Hệ thống giải quyết tranh chấp có mục tiêu làm rõ các quy định của Hiệp định WTO phù hợp với những quy tắc về tập quán trong giải thích công pháp quốc tế ở mỗi tranh chấp cụ thể nhằm làm rõ các quyền và nghĩa vụ áp dụng cho các bên tranh chấp.

3.4. Đảm bảo sự an toàn và dự báo trước cho hệ thống thương mại đa phương:

Mục tiêu của hệ thống giải quyết tranh chấp là bảo đảm có một hệ thống hoạt động trên cơ sở quy định pháp luật, tin cậy, hiệu quả và nhanh chóng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định WTO, thông qua đó làm hệ thống thương mại trở nên an toàn hơn và có khả năng dự đoán trước.

4. Những khó khăn đối với thành viên là nước đang phát triển khi tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp WTO:

Khó khăn lớn nhất khi áp dụng hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO trong thương mại quốc tế đối với thành viên là nước đang phát triển chính là vấn đề tài chính. Trước tiên, khi tham gia vào vụ kiện, các nước phải trả chi phí tư pháp mà đối với nước đang phát triển thì đó là một khoản chi phí không nhỏ. Bên cạnh đó là những tổn thất về lợi ích kinh tế và thương mại mà các nước này phải gánh chịu trong suốt quá trình tranh chấp đang được giải quyết. Thậm chí, trong trường hợp nước đang phát triển là nguyên đơn thắng kiện thì cũng không nhận được bất kỳ khoản bồi thường nào cho những thiệt hại mà họ phải gánh chịu trong suốt thời gian bị đơn thực hiện phán quyết.

Các nước đang phát triển thường thiếu nguồn nhân lực với các kiến thức chuyên môn cụ thể về giải quyết tranh chấp của WTO, trong điều kiện đó, khi tham gia vào các vụ kiện, nước thành viên là nước đang phát triển thường phải thuê đại diện cho mình trong quá trình giải quyết tranh chấp và phải chịu tốn kém không nhỏ.

Cuối cùng, khi nước thành viên là nước đang phát triển thắng kiện, bên thua kiện không chịu thi hành phán quyết, phần nhiều trường hợp bên thắng kiện là nước đang phát triển không có khả năng thực tiễn để viện dẫn đến quyền được tạm dừng thực hiện nghĩa vụ và như vậy có nghĩa là biện pháp trả đũa mà hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO đưa ra không thể mang lại hiệu quả để buộc bên thua kiện phải thi hành nghĩa vụ theo pháp quyết mà DSB đã đưa ra.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP kì I tháng 7/2006 (trang 50)

LĨNH VỰC ÁP DỤNG VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH

THS. LÝ QUỐC HÙNG

Luật Cạnh tranh đã được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005. Để thực thi Luật này, ngày 15 tháng 9 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh. Việc Luật Cạnh tranh được thông qua và có hiệu lực đã góp phần vào hoàn thiện khung khổ pháp lý trong lĩnh vực pháp luật về kinh tế, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.

1. Lĩnh vực áp dụng của Luật Cạnh tranh

Theo quy định tại Điều 1 của Luật, lĩnh vực áp dụng (phạm vi điều chỉnh) được áp dụng đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về cạnh tranh và theo Nghị định 116/2005/ NĐ-CP hướng dẫn, chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh và tố tụng cạnh tranh.

1.1 Hành vi hạn chế cạnh tranh

Theo Luật Cạnh tranh, hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.

Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh gồm 8 loại thoả thuận sau:

1. Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;

2. Thoả thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ;

3. Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, dịch vụ;

4. Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư;

5. Thoả thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;

6. Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;

7. Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận;

8. Thông đồng để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

Đối với những hành vi từ 1 đến 5, nếu các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 30% trở lên thì sẽ bị cấm. Luật cũng cấm các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đối với các hành vi từ 6 đến 8.

Đối với việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp được coi là có vị trí này khi doanh nghiệp đó có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.

Đối với nhóm doanh nghiệp, họ được coi là có vị trí thống lĩnh thị trường nếu cùng hành động nhằm gây hạn chế cạnh tranh và thuộc một trong các trường hợp sau:

– Hai doanh nghiệp có tổng thị phần từ 50% trở lên trên thị trường liên quan;

– Ba doanh nghiệp có tổng thị phần từ 65% trở lên trên thị trường liên quan;

– Bốn doanh nghiệp có tổng thị phần từ 75% trở lên trên thị trường liên quan.

Theo Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền khi trên thị trường liên quan không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ đối với hàng hoá, dịch vụ mà doanh nghiệp đó đang kinh doanh. Để ngăn ngừa những doanh nghiệp lợi dụng vị trí độc quyền trong kinh doanh, Luật Cạnh tranh nêu rõ những hành vi bị cấm như bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành nhằm mục đích loại bỏ đối thủ, áp đặt những điều kiện, cách thức bất lợi buộc doanh nghiệp khác phải chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến hợp đồng, ngăn cản việc tham gia thị trường của doanh nghiệp mới… Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước hay cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích thì được Nhà nước kiểm soát thông qua các quyết định giá mua, giá bán, số lượng, phạm vi thị trường… khi các doanh nghiệp tham gia các hoạt động này.

Đối với việc tập trung kinh tế, Luật Cạnh tranh xác định có bốn loại hành vi chính, đó là: sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh giữa các doanh nghiệp. Theo đó, các hành vi này sẽ bị cấm khi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% thị phần liên quan trừ khi một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong tình trạng phá sản, giải thể hoặc khi tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ. Trường hợp các doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không bị xác định là tập trung kinh tế.

1.2. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Luật xác định rõ các hành vi sau là hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội và bán hàng đa cấp bất chính;

1.3. Thẩm quyền giải quyết

Theo quy định của Luật, việc giải quyết vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ thuộc thẩm quyền của Hội đồng Cạnh tranh. Hội đồng này do Chính phủ thành lập gồm 11 đến 15 thành viên. Thành viên Hội đồng do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại với nhiệm kỳ là 5 năm.

Đối với các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh khác theo quy định của pháp luật sẽ do Cục Quản lý Cạnh tranh (Bộ Thương mại) xử lý. Bên cạnh đó Cục Quản lý Cạnh tranh có trách nhiệm: Thụ lý, tổ chức điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh để Hội đồng cạnh tranh xử lý theo quy định của pháp luật; Thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ (đối với tập trung kinh tế); Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế.

Trường hợp không nhất trí với quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại ra Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền (Điều 115).

2. Lợi ích trong việc thực thi Luật Cạnh tranh

2.1.Đảm bảo sự bình đẳng của các doanh nghiệp

Quy định của Luật Cạnh tranh tạo cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế khi tham gia vào thị trường được bình đẳng như nhau. Sự bình đẳng thể hiện ở chỗ nếu các doanh nghiệp, dù doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, tư nhân hay có vốn đầu tư nước ngoài, nếu vi phạm các quy định về hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh đều sẽ bị xử lý. Luật xác định rõ những hành vi nhằm cảnh báo và có tính chất ngăn ngừa để các doanh nghiệp biết và không được thực hiện các hành vi đó. Chẳng hạn việc cấm khuyến mại, nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một điển hình (Điều 46 Luật Cạnh tranh). Chúng ta đều biết rằng trong nền kinh tế thị trường, việc khuyến mại của các doanh nghiệp là việc làm bình thường và theo sách lược kinh doanh của từng đơn vị, nhưng nếu hành động khuyến mại có tính chất như gian dối về giải thưởng, phân biệt đối xử, gây nhầm lẫn… thì đều vi phạm Luật Cạnh tranh và bị cấm.

2.2. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Có điều rõ ràng là khi thực hiện Luật Cạnh tranh, các doanh nghiệp đều có cơ hội như nhau, không sợ rằng mình khi tham gia vào thị trường đối với mặt hàng nào đó mà lại thấy rằng lĩnh vực đó đã có doanh nghiệp lớn hay giữ vị trí độc quyền chi phối làm cản trở việc gia nhập thị trường. Sự tham gia rộng rãi và đa dạng của các thành phần kinh tế làm bức tranh thị trường trở nên sống động, thúc đẩy sự gia tăng số lượng doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế. Các doanh nghiệp có điều kiện cạnh tranh phù hợp với quy định của pháp luật. Trong quá trình cạnh tranh đó, sẽ có những doanh nghiệp thất bại và có nhiều doanh nghiệp thành công. Xét một cách tổng thể, cạnh tranh góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.

2.3. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Bằng các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh, Luật Cạnh tranh nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Nếu như trước đây, việc bán hàng đa cấp bất chính (là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh) chưa được quy định thì nay, hành vi này đã được xác định trong Luật (Điều 48). Còn việc bán hàng đa cấp theo phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hoá tuân theo các quy định của Luật Cạnh tranh là hợp pháp. Các điều kiện này được quy định tại khoản 11 Điều 3 của Luật và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 110/2005/NĐ-CP ngày 24/8/2005 hướng dẫn về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp. Đây chỉ là một ví dụ, còn trong thực tế nhờ cạnh tranh và Luật Cạnh tranh, quyền lợi người tiêu dùng được chú ý, nâng cao và bảo vệ.

SOURCE: TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP số tháng 8/2006 (trang 53)