BÀI TOÁN CỦA GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG WTO

PHẠM ĐỖ NHẬT TIẾN

12 năm trước, dù các nước đang phát triển (chiếm đa số trong WTO) không tán thành, nhưng Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) vẫn được thông qua. Khác với cách nhìn chung của những người trong ngành giáo dục vốn coi giáo dục là một phúc lợi xã hội hoạt động theo nguyên tắc phi thương mại thì thông qua GATS, WTO có cách nhìn khác: Giáo dục là một dịch vụ trong hoạt động thương mại và thương mại dịch vụ giáo dục cần được tự do hoá.

Cùng với việc gia nhập WTO, giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam với vận hội và nhiều thách thức mới đang bắt đầu. Tác giả nhận diện bài toán của GDĐH Việt Nam trong WTO khi đặt vào bối cảnh chung để tìm một số lời giải.

Vấn đề chung

Quốc tế hoá giáo dục và giáo dục xuyên biên giới

Quốc tế hoá giáo dục là một biểu hiện của toàn cầu hoá trong lĩnh vực giáo dục. Đó là quá trình tích hợp các yếu tố quốc tế vào chức năng, nhiệm vụ và tiến trình tổ chức thực hiện giáo dục, diễn ra theo chiều đo nội tại và chiều đo bên ngoài. Chiều đo nội tại của quốc tế hoá giáo dục là việc đổi mới chương trình giáo dục, phương pháp dạy và học, hoạt động nghiên cứu và hợp tác trong phạm vi của một nước nhằm hướng tới tính quốc tế và liên văn hoá trong giáo dục và đào tạo. Chiều đo bên ngoài của quốc tế hoá giáo dục là sự dịch chuyển xuyên biên giới của 4 nhân tố cơ bản: Người học, nhà giáo, chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục. Chiều đo này có một tên gọi riêng là giáo dục xuyên biên giới.

Giáo dục xuyên biên giới trong 10 năm gần đây phát triển mạnh mẽ và mang hai đặc trưng cơ bản: 1/ Bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới vốn có từ lâu của người học và nhà giáo, đã hình thành và tăng cường việc dịch chuyển xuyên biên giới của chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục; 2/ Bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế phi thương mại (thông qua hợp tác quốc tế với các dự án ODA và liên kết đào tạo) đã hình thành và phát triển sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế thương mại. Như vậy, GDĐH xuyên biên giới nhằm mục đích thương mại chỉ là một nhánh trong dòng chảy chung của quốc tế hoá giáo dục.

Vai trò của các tổ chức quốc tế trong quốc tế hoá giáo dục và một số điều về GATS

Hiện nay, có 2 tổ chức quốc tế hàng đầu thúc đẩy tiến trình quốc tế hoá giáo dục, đó là UNESCO và WTO. UNESCO là tổ chức giáo dục, khoa học, văn hoá của Liên hợp quốc với 188 nước thành viên, theo quan điểm coi giáo dục là một quyền lợi cơ bản của con người và việc tiếp cận GDĐH được thực hiện trên cơ sở chính đáng. Trong bối cảnh quốc tế hoá giáo dục, UNESCO có nhiệm vụ tăng cường hợp tác quốc tế giữa các nước, thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới không nhằm mục đích lợi nhuận. WTO là tổ chức thương mại thế giới, hiện có 150 nước thành viên với quan điểm cơ bản coi giáo dục là một trong 12 ngành dịch vụ khả mại (tradable service) thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS; dịch vụ này cần được từng bước tự do hoá thương mại trên cơ sở đàm phán. Có thể nói, cả UNESCO, WTO đều có nhiệm vụ đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá giáo dục, tuy nhiên, GATS hướng tới việc thúc đẩy giáo dục xuyên biên giới nhằm mục đích lợi nhuận.

Đồng thời là thành viên của cả 2 tổ chức, nhiều nước chấp nhận cả 2 cơ chế giáo dục xuyên biên giới: Có lợi nhuận và không lợi nhuận. Thực ra, dù có chính thức chấp nhận hay không thì cả 2 cơ chế hoạt động này đã trở thành hiện thực. Vấn đề là tìm mối cân bằng giữa 2 cơ chế để GDĐH thực hiện được sứ mệnh của mình theo mục tiêu cụ thể và lâu dài của mỗi nước.

GATS có 3 mục tiêu chính: Khuyến khích tự do hoá thương mại càng nhiều càng tốt; từng bước mở rộng tự do hoá thương mại thông qua đàm phán; thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp. Phạm vi điều chỉnh của GATS là các dịch vụ, bao gồm 12 ngành, trong đó có 5 phân ngành với các dịch vụ (giáo dục tiểu học, trung học, đại học, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác). Về bản chất, việc tham gia GATS tự nó không làm cho giáo dục của một nước tốt lên hay xấu đi. Nó chỉ mở ra các cơ hội mới cùng các thách thức mới. Đối với các nước đang phát triển, các cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển giáo dục, tạo cục diện cạnh tranh để nâng cao chất lượng, học tập kinh nghiệm để đổi mới quản lý… và kèm theo là một loạt thách thức liên quan: Nguy cơ giảm bớt vai trò của Nhà nước trong giáo dục, tình trạng khó kiểm soát về chất lượng, sự gia tăng bất bình đẳng…Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với mỗi nước là xác định điểm mạnh và điểm yếu của ngành giáo dục, có chính sách và biện pháp phù hợp để khai thác cơ hội, vượt qua thách thức, tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro.

Việt Nam và bài học trong hội nhập quốc tế

Cùng với tiến trình đổi mới đất nước, Việt Nam đã chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế: Là thành viên của AFTA, của APEC, đã ký hiệp định thương mại với EU, với Mỹ và mới đây là thành viên của WTO.

Vụ cá ba sa trước đây và vụ giày da gần đây là một trong những bài học quan trọng mà nước ta đã có được trong quá trình hội nhập. Đó là bài học về chuẩn kép và tính vị kỷ thương mại của các nước phát triển. Về lý thuyết, hội nhập quốc tế là cơ hội để các nước đang phát triển rút bớt khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển nhưng trên thực tế thương mại, các nước phát triển luôn sử dụng con bài chuẩn kép, tức là một mặt luôn gây áp lực buộc các nước đang phát triển phải dỡ bỏ các rào cản theo yêu cầu tự do hoá thương mại, mặt khác tìm mọi cách củng cố các hàng rào bảo hộ kinh tế nước mình. Tính vị kỷ thương mại là đặc điểm của các nước giàu. Vì vậy cho đến nay, hội nhập quốc tế về cơ bản vẫn là một cuộc chơi bất bình đẳng, một quá trình tiếp tục đưa “nước chảy chỗ trũng”. Chỉ có một số ít nước đang phát triển đã vượt được lên thách thức, biến cơ hội thành hiện thực, trong đó có Việt Nam. Bài học thành công là: Nếu trong toàn cầu hoá, chủ động hội nhập là điều kiện cần để phát triển và rút bớt khoảng cách tụt hậu thì điều kiện đủ là phải có hệ thống chính sách chủ động và linh hoạt, có tư duy mới và năng lực quản lý phù hợp, đồng thời có sự chuẩn bị chu đáo nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro.

Bài toán đối với GDĐH Việt Nam trong GATS

Việt Nam cũng đã có những bước đi chủ động trong hội nhập giáo dục, tiếp nhận giáo dục xuyên biên giới theo cả 2 cơ chế: Không lợi nhuận và có lợi nhuận. Chúng ta cũng đã xây dựng được về cơ bản khung pháp lý cho phương thức hiện diện thương mại theo cả 2 cơ chế. Bên cạnh một số vấn đề nảy sinh liên quan chủ yếu đến công tác quản lý các cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam và quản lý lưu học sinh, thành công nổi bật là tạo được sự đóng góp đáng kể của các phương thức cung ứng đó cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ diễn ra trong khung cảnh truyền thống của giáo dục khi các hoạt động quốc tế hoá giáo dục được thực hiện chủ yếu trong khuôn khổ của các hiệp định song phương. Vấn đề gì sẽ nảy sinh khi nước ta gia nhập WTO, tham gia GATS và mở cửa để giáo dục được thực hiện theo quy định của GATS?

Hiện nay, trong tổng số 150 nước thành viên WTO, mới chỉ có 45 nước cam kết thực hiện GATS trong dịch vụ giáo dục, chủ yếu là các nước thuộc khối OECD với tư cách là các nước xuất khẩu giáo dục. Trong các nước đang phát triển ở châu á có Trung Quốc và Thái Lan, với tư cách chủ yếu là các nước nhập khẩu giáo dục (tuy rằng cả 2 nước này đều có chiến lược xuất khẩu giáo dục). Ngoài ra, có một số nước thu nhập thấp ở châu Phi với những cam kết mạnh mẽ nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào giáo dục. Nhìn chung, các nước đang phát triển vẫn giữ thái độ “chờ xem”.

Xét theo cấp học thì các cam kết tập trung khá nhiều ở GDĐH (với 36 nước), tuy nhiên chủ yếu là GDĐH tư thục. Quan điểm phổ biến hiện nay là coi giáo dục công lập không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS. Xét theo phương thức thì tiêu thụ ngoài nước (2) được cam kết mạnh mẽ nhất, hầu như không có điều kiện ràng buộc; tiếp đến là cung ứng xuyên biên giới (1) và hiện diện thương mại (3); phương thức hiện diện thể nhân (4) chịu nhiều ràng buộc nhất.

Vấn đề đặt ra là sau khi gia nhập WTO, bao giờ, như thế nào và với điều kiện gì, Việt Nam sẽ có cam kết về tự do hoá thương mại dịch vụ giáo dục. Để trả lời, có thể đưa ra 2 kịch bản là: “Chờ xem” (như phần lớn các nước đang phát triển) và “chủ động” (như Trung Quốc và Thái Lan). Việc chọn kịch bản nào phụ thuộc vào định hướng phát triển GDĐH, hiệu lực bộ máy, năng lực quản lý và tiềm lực của hệ thống GDĐH trong nước để có thể khai thác tốt nhất các cơ hội và giảm thiểu rủi ro khi tham gia GATS trong lĩnh vực giáo dục. Chúng ta đã có Nghị quyết số14 /2005/NQ-CP, ngày 2.11.2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020. Theo đó, “đến năm 2020, GDĐH Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới; có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tuy nhiên, cả hiệu lực bộ máy, năng lực quản lý và tiềm lực hệ thống của chúng ta còn có nhiều yếu kém, chưa đảm bảo để GDĐH Việt Nam mở cửa thành công trong khuôn khổ của GATS (các yếu kém này đã được phân tích trong Đề án đổi mới GDĐH Việt Nam) và việc khắc phục chúng cũng là một nhiệm vụ của việc thực hiện Nghị quyết này.

Vì vậy, Việt Nam có thể lựa chọn một kịch bản trung gian “chờ xem” từ nay đến 2010, sau đó sẽ là chủ động có những cam kết về thực thi GATS. Giai đoạn “chờ xem” chính là giai đoạn chuẩn bị về luật pháp, chính sách và nhân lực để nâng cao hiệu lực bộ máy, năng lực quản lý và tiềm lực hệ thống, đảm bảo thành công khi mở cửa. Dĩ nhiên, vấn đề đặt ra sẽ là mở cửa như thế nào và với những điều kiện gì.

Trước hết, về nguyên tắc, cũng giống như nhiều nước khác, Việt Nam cần chính thức khẳng định giáo dục công lập không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS. Việc mở cửa sẽ chỉ thực hiện trong khu vực GDĐH tư thục. Như vậy, GDĐH Việt Nam sẽ tiếp tục tiến trình quốc tế hoá theo cả hai lôgic phi thương mại và thương mại. Theo lôgic phi thương mại, GDĐH Việt Nam sẽ đẩy mạnh và phát huy lợi thế đã có của hợp tác quốc tế, hội nhập sâu vào GDĐH thế giới trong khuôn khổ của một không gian GDĐH và nghiên cứu khoa học thế giới theo định hướng của UNESCO. Theo lôgic thương mại, khu vực GDĐH tư thục sẽ được mở ra để chào đón các nhà đầu tư nước ngoài. Đó là điều mà chúng ta đã làm trước khi có GATS. Sự khác biệt khi tham gia GATS là phải tính đến những rủi ro có thể nảy sinh khi phải tuân thủ các quy định của GATS, trong đó cần quan tâm đặc biệt là quy tắc tối huệ quốc và quy tắc đối xử quốc gia.

Tiếp theo, việc mở cửa sẽ khác nhau đối với từng phương thức cung ứng giáo dục. Đối với phương thức 1, theo khuyến nghị của các chuyên gia, khi mà việc đào tạo trên mạng còn rất khó kiểm soát về chất lượng, thì tốt nhất là chưa có cam kết gì. Đối với phương thức 2 và 4, cam kết theo các quy định hiện hành. Đối với phương thức 3, cần khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài mở trường đại học tại Việt Nam; đó cũng là cách hữu hiệu để đẩy mạnh du học tại chỗ, chuyển thách thức về chảy máu chất xám thành cơ hội tiếp máu chất xám. Cần chú ý rằng trong GDĐH, phương thức hiện diện thương mại vẫn chưa được các nhà cung ứng giáo dục nước ngoài mặn mà lắm vì vốn đầu tư lớn, rủi ro nhiều và thu hồi chậm. Vì vậy, sau khi có cam kết về GATS như nêu trên, bức tranh GDĐH Việt Nam sẽ chỉ có biến động chủ yếu ở khu vực tư thục với sự ra đời của một số cơ sở giáo dục nước ngoài. Do vậy, bài toán của GDĐH Việt Nam sau khi gia nhập WTO là: Về phía Nhà nước, làm thế nào để bảo đảm người học thực sự được tiếp nhận giáo dục có chất lượng do các cơ sở GDĐH nước ngoài cung cấp? Về phía các trường đại học tư thục Việt Nam, làm thế nào để cạnh tranh thành công với các cơ sở GDĐH nước ngoài?

Đôi điều về lời giải

Trong bối cảnh cụ thể của bài toán GDĐH Việt Nam sau khi nước ta gia nhập WTO, cần thiết làm rõ một số nội dung sau:

Bảo đảm chất lượng

• Củng cố và sớm hoàn thiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục (năm 2005) và các văn bản hướng dẫn kèm theo, đặc biệt chú trọng việc xã hội hoá kiểm định chất lượng giáo dục, tức là huy động sự tham gia của các tổ chức, cá nhân có năng lực. Đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế trong kiểm định chất lượng giáo dục, tham gia mạng kiểm định chất lượng giáo dục quốc tế.

• Xây dựng môi trường thông tin minh bạch, cập nhật và dễ tiếp cận về các chương trình GDĐH và các cơ sở GDĐH có uy tín trên thế giới để tránh cho người học khỏi là nạn nhân của những hàng giả trong GDĐH xuyên biên giới.

• Tuyên truyền, giáo dục để người học và gia đình xác định tiêu chí đầu tiên trong việc chọn trường khi du học (dù là tại chỗ hay ra nước ngoài) là sự bảo đảm của nhà trường về chất lượng.

Xây dựng năng lực cạnh tranh

Vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH trong quá trình hội nhập quốc tế cũng được đề cập trong Đề án đổi mới GDĐH. Trong đó, “sức cạnh tranh của hệ thống GDĐH” được hiểu là năng lực của hệ thống GDĐH trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cạnh tranh chứ không được hiểu theo nghĩa cạnh tranh thị trường. Khái niệm cạnh tranh thị trường không đặt ra cho khu vực GDĐH công lập trên thế giới (các trường này tạo ra danh tiếng, đẳng cấp, “thương hiệu” của mình không bằng cạnh tranh mà bằng trách nhiệm xã hội của mình trong việc thực hiện sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao phó). Các trường đại học công lập Việt Nam cũng theo con đường đó. Hơn nữa, nếu đặt ra yêu cầu cạnh tranh đối với các trường đại học công lập thì theo quy định của GATS, các trường này sẽ mặc nhiên thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này.

Vấn đề cạnh tranh chỉ được đặt ra đối với các trường đại học tư thục. Các trường này phải cạnh tranh mới tồn tại được. Hiện nay, ở nước ta, có thể nói cục diện cạnh tranh giữa các trường đại học tư thục chưa đáng kể vì cung chưa đáp ứng cầu, nhưng với xu thế đẩy mạnh xã hội hoá GDĐH và bước tiến trong hội nhập quốc tế, chắc chắn từ năm 2010 trở đi, cục diện này sẽ khá sôi nổi. Khi đó thách thức với các trường đại học tư thục trong nước là sức ép cạnh tranh của cả dịch vụ giáo dục nhập khẩu cũng như đầu tư trực tiếp của các nhà cung ứng giáo dục nước ngoài.

Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các trường đại học Việt Nam, phải chú ý nâng cao môi trường giáo dục vĩ mô, chất lượng thể chế và mức độ sẵn sàng trong đổi mới công nghệ. Trong đó, môi trường giáo dục vĩ mô là môi trường trong đó các rào cản không cần thiết và bất lợi cho sự phát triển các trường đại học tư thục được dỡ bỏ. Chất lượng thể chế là sự phù hợp của hệ thống luật pháp về giáo dục đối với các yêu cầu nêu trên về môi trường giáo dục vĩ mô và sự nghiêm minh trong tổ chức thực hiện. Ngoài việc ban hành Luật GDĐH, chúng ta cần ban hành Luật giáo dục ngoài công lập. Ngoài ra, về mặt chính sách, cần lưu ý là các trường đại học nước ngoài đang được ưu đãi hơn so với các trường đại học tư thục trong nước, vì vậy, khi thực thi quy tắc đối xử quốc gia theo quy định của GATS, Việt Nam sẽ phải giải bài toán ngược là làm thế nào để các trường đại học tư thục trong nước không bị phân biệt đối xử so với các trường đại học nước ngoài. Mức độ sẵn sàng trong đổi mới công nghệ phải được coi là một trong những vấn đề cấp bách đối với các trường đại học vì ngày nay, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả, tạo ra sức cạnh tranh của trường đại học được thực hiện chủ yếu theo con đường hiện đại hoá nhà trường, trên cơ sở vận dụng và phát triển công nghệ thông tin và truyền thông. Hiện nay, đang có một khoảng cách cần nhanh chóng rút ngắn giữa các trường đại học tư thục của Việt Nam với các trường đại học nước ngoài.

Bên cạnh nỗ lực tự hoàn thiện mình để nâng cao chất lượng của các trường đại học tư thục, kinh nghiệm cho thấy, một yếu tố hết sức quan trọng là sự đoàn kết của các trường dưới một mái nhà chung là Hiệp hội các trường đại học ngoài công lập. Chỉ có như vậy, các trường mới tạo thành một khối thống nhất, có sức cạnh tranh cao để thành công trong hội nhập.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 2/2007

MỘT SỐ ĐIỂM CƠ BẢN VỀ LUẬT CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ

PHẠM GIA CHƯƠNG

Ngày 29.11.2006, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khóa XI đã thông qua Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) với trên 84% số phiếu tán thành. Đây là một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động CGCN, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường công nghệ. Từ đó, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững. Dưới đây, bài viết giới thiệu một số nét cơ bản về sự cần thiết phải ban hành Luật, nội dung cơ bản của Luật và công việc đang được Bộ Khoa học và Công nghệ tập trung giải quyết để sớm đưa Luật đi vào cuộc sống.

Sự cần thiết ban hành Luật CGCN

Trong hơn 20 năm đổi mới và mở cửa, hoạt động CGCN ở nước ta và hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này đã góp phần đáng kể nâng cao trình độ công nghệ của các ngành sản xuất, dịch vụ và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời ngăn chặn các công nghệ, thiết bị lạc hậu từ nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam. Qua từng thời kỳ, hoạt động quản lý nhà nước về thẩm định, giám định và CGCN cũng được đổi mới từng bước theo hướng giảm thủ tục hành chính, tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới, ứng dụng và thương mại hoá công nghệ. Trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thuỷ sản, xây dựng, bưu chính – viễn thông, giao thông vận tải, năng lực công nghệ đã được cải thiện nhờ tiếp nhận và ứng dụng nhiều công nghệ tiên tiến, hiện đại, góp phần chuyển dịch cơ cấu và nâng cao chất lượng sản phẩm, duy trì tốc độ tăng trưởng và kim ngạch xuất khẩu của ngành. Tuy nhiên, xét trên phạm vi của cả nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng chủ yếu vẫn là yếu tố vốn và lao động; yếu tố về công nghệ tuy có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ. Tồn tại hiện nay của nền kinh tế là đổi mới công nghệ chưa trở thành nhu cầu bức thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp. Điều này dẫn tới thực trạng là trình độ công nghệ của nhiều ngành và doanh nghiệp còn lạc hậu, năng lực công nghệ nhìn chung chậm được cải thiện, nhiều lĩnh vực công nghệ cao chậm được ứng dụng và phổ biến, nhiều sản phẩm kém sức cạnh tranh ngay cả ở thị trường trong nước. Không chỉ thực trạng công nghệ lạc hậu, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động CGCN cũng chưa theo kịp với những thay đổi của đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt là với các đòi hỏi của kinh tế thế giới. Có thể nêu một số điểm bất cập cần khắc phục như: Từ năm 1988 trở lại đây, Nhà nước đã ban hành hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến CGCN, trong đó có hiệu lực pháp lý cao nhất là Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về CGCN chưa thống nhất và đồng bộ. Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định 4 điều mang tính nguyên tắc về CGCN. Những quy định cụ thể chủ yếu nằm trong các văn bản hướng dẫn thi hành, hiệu lực pháp lý thấp, thiếu ổn định, ảnh hưởng tới niềm tin của các chủ thể nắm giữ công nghệ, đặc biệt là các đối tác nước ngoài khi tiến hành đầu tư, CGCN tại Việt Nam. Chưa tạo được cơ chế thực sự thông thoáng cho các doanh nghiệp khi tham gia đổi mới và CGCN. Thiếu các chính sách hỗ trợ đồng bộ, khả thi để thúc đẩy hoạt động ứng dụng, đổi mới, thương mại hoá công nghệ trong nước. Phương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực này chưa phù hợp với cơ chế thị trường, hạn chế quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động CGCN. Thiếu cơ sở pháp lý cần thiết thúc đẩy việc hình thành và hoạt động của các tổ chức dịch vụ hỗ trợ CGCN (thông tin, tư vấn, môi giới, đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ), mặc dù loại dịch vụ này là một yếu tố cấu thành quan trọng, không thể thiếu của thị trường công nghệ.

Trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc ban hành Luật CGCN là hết sức cần thiết và cấp bách. Đây là một đạo luật chuyên ngành thống nhất điều chỉnh hoạt động CGCN, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, phát triển, đổi mới và thương mại hoá công nghệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thị trường công nghệ, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế, phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Quan điểm xây dựng và một số nội dung cơ bản của Luật CGCN

Thực hiện Nghị quyết số 49/2005/QH11 ngày 19.11.2005 của Quốc hội khoá XI về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2006, Chính phủ đã giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị Dự án Luật CGCN. Luật này được soạn thảo theo tinh thần quán triệt các quan điểm chỉ đạo cơ bản sau:

– Thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về khuyến khích hoạt động ứng dụng, đổi mới, CGCN phục vụ phát triển bền vững kinh tế – xã hội.

– Đẩy mạnh tiếp thu, ứng dụng, làm chủ công nghệ nhập hiện đại, nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế; nâng cao tỷ trọng đóng góp của yếu tố công nghệ vào năng lực cạnh tranh quốc gia để hội nhập và công nghiệp hoá thành công.

– Tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động CGCN trên cơ sở bảo đảm tôn trọng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự do cam kết, thoả thuận giữa các bên tham gia hoạt động CGCN; Nhà nước chỉ can thiệp vào các quan hệ này nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.

Ngày 29.11.2006, Luật CGCN đã được Quốc hội khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1.7.2007. Luật gồm 7 chương với 61 điều quy định về hoạt động CGCN tại Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài và từ nước ngoài vào Việt Nam; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động CGCN; thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN; các biện pháp khuyến khích, thúc đẩy hoạt động CGCN.

Khác với quy định hiện hành về CGCN, Luật CGCN chia công nghệ thành 3 loại: Công nghệ được khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao, công nghệ cấm chuyển giao. Trừ một số công nghệ thuộc danh mục hạn chế chuyển giao phải xin phép trước khi ký kết hợp đồng CGCN, tất cả các công nghệ được chuyển giao còn lại do các bên tự thoả thuận mà không cần phải làm các thủ tục đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, các bên giao kết hợp đồng CGCN có quyền đăng ký hợp đồng để làm cơ sở hưởng các ưu đãi của pháp luật. Về nội dung hợp đồng CGCN, Luật chỉ quy định một số nội dung bắt buộc phải có trong hợp đồng, còn lại do các bên tham gia hợp đồng thoả thuận. Đặc biệt đáng chú ý là Luật CGCN cũng như Bộ luật Dân sự hiện nay không quy định về thời hạn của hợp đồng và để cho các bên tự thoả thuận. Trong trường hợp CGCN có yếu tố nước ngoài, Luật cũng cho phép thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Luật đã có những quy định rõ ràng về chính sách miễn giảm thuế để thúc đẩy CGCN. Quy định về phân chia thu nhập từ hoạt động CGCN được tạo ra bằng ngân sách nhà nước: Nhà nước giao quyền sở hữu công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì nghiên cứu và phát triển công nghệ đó; xác định rõ quyền của tập thể, cá nhân tạo ra công nghệ trong trường hợp này. Quy định việc góp vốn bằng công nghệ, thế chấp tài sản thuộc sở hữu nhà nước để tiến hành hoạt động CGCN. Quy định về các loại hình dịch vụ CGCN (bao gồm: Môi giới, tư vấn, đánh giá, định giá, giám định và xúc tiến CGCN) và quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ CGCN.

Bên cạnh đó, Luật còn khuyến khích chuyển giao các công nghệ cao, công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao; tạo ra ngành công nghiệp, dịch vụ mới, tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu; sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; bảo vệ sức khoẻ con người; phòng chống thiên tai dịch bệnh, sản xuất sạch thân thiện môi trường; phát triển ngành nghề truyền thống. Khuyến khích CGCN cho các vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn các công nghệ: Nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản, công nghệ cung cấp nước sạch, bảo vệ môi trường, công nghệ nâng cao năng suất chất lượng hiệu quả của làng nghề truyền thống. Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng đổi mới công nghệ (bằng việc cho phép doanh nghiệp được trích một phần lợi nhuận trước thuế hàng năm để lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ). Khuyến khích người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài CGCN vào Việt Nam, đặc biệt được ưu đãi khi CGCN thuộc danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao hoặc công nghệ chuyển giao vào địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thị trường công nghệ, bao gồm: Các trung tâm dịch vụ, giao dịch công nghệ, triển lãm công nghệ, chợ, hội chợ công nghệ, cơ sở ươm tạo công nghệ và doanh nghiệp công nghệ; tham gia công bố, phổ biến, trình diễn công nghệ trong và ngoài nước.

Việc thành lập Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia đã được Luật CGCN đề cập đến nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ; thúc đẩy việc CGCN phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ở các vùng nông thôn, miền núi, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; hỗ trợ ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hỗ trợ đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ việc chuyển giao, đổi mới, hoàn thiện công nghệ.

Về vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động CGCN, Luật đã quy định các vấn đề: Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, chương trình, cơ chế, chính sách, biện pháp thúc đẩy hoạt động CGCN, đổi mới công nghệ; công bố danh mục các công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước, ban hành danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, danh mục công nghệ cấm chuyển giao; chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện pháp luật, phổ biến và thực hiện giáo dục pháp luật về CGCN; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động CGCN.

Để Luật CGCN sớm đi vào cuộc sống, Bộ Khoa học và Công nghệ đang khẩn trương tiến hành một số công việc:

– Xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật CGCN; Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực CGCN; danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao, danh mục công nghệ cấm chuyển giao; Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.

– Ban hành theo thẩm quyền các văn bản nhằm hướng dẫn thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về CGCN.

– Đẩy mạnh các hoạt động nhằm kích cầu, kích cung công nghệ; hoạt động thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường công nghệ; các hoạt động dịch vụ tư vấn, đánh giá, định giá, giám định công nghệ, môi giới, xúc tiến CGCN.

– Phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương, các cơ quan thông tấn, báo chí đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn thực hiện Luật.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 2/2007

ÁP DỤNG HỆ THỐNG MADRID VỀ ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU Ở VIỆT NAM

TRẦN HỮU NAM

Từ năm 1949, nước ta đã gia nhập Thoả ước Madrid và gần đây (11.7.2006) tham gia Nghị định thư Madrid về nhãn hiệu hàng hoá. Và cũng cho đến nay, chúng ta đã xác lập được khung pháp lý cơ bản và toàn diện về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN). Đây là cơ hội để nhãn hiệu của các nước trong hệ thống Madrid được bảo hộ ở Việt Nam và hàng hoá trong nước vươn ra thị trường quốc tế.

Quá trình tham gia Hệ thống Madrid của Việt Nam

Việt Nam gia nhập Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hoá từ ngày 8.3.1949 cùng thời gian với việc gia nhập Công ước Paris về bảo hộ SHCN. Sau đó, việc thực hiện nghĩa vụ nước thành viên và áp dụng Thỏa ước Madrid của Việt Nam bị gián đoạn và ảnh hưởng do những biến động của lịch sử. Từ năm 1954 đến 30.4.1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa (nhà cầm quyền ở miền Nam lúc đó) tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thành viên Thỏa ước Madrid của Việt Nam. Trong thời gian này có hơn 20.000 nhãn hiệu quốc tế được đăng ký tại miền Nam Việt Nam theo Thỏa ước Madrid.

Từ 30.4.1975, nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là đại diện hợp pháp và duy nhất của Việt Nam trong các điều ước quốc tế. Tuy nhiên, Việt Nam chỉ thực sự tiếp tục kế thừa các quyền và nghĩa vụ với tư cách thành viên của Thỏa ước Madrid vào năm 1976 (theo Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam).

Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thành viên Thỏa ước Madrid, Việt Nam đã sẵn sàng tham gia Nghị định thư Madrid vì so với Thỏa ước, Nghị định thư có nhiều ưu điểm và tạo thuận lợi hơn cho các nhà sản xuất và kinh doanh để Việt Nam sớm hội nhập nền kinh tế thế giới, thực hiện đầy đủ các thỏa thuận song phương và đa phương về sở hữu trí tuệ (SHTT).

Nghị định thư Madrid bắt đầu có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 11.7.2006. Trong thời gian trước khi Nghị định thư Madrid có hiệu lực tại Việt Nam, Cơ quan SHTT của Việt Nam đã được Văn phòng quốc tế của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) và một số nước thành viên Nghị định thư thảo luận và chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế trong áp dụng và vận hành Nghị định thư.

Các văn bản pháp luật Việt Nam liên quan đến đăng ký nhãn hiệu quốc tế

Giai đoạn 1982-1996

Để thực hiện có hiệu quả nghĩa vụ thành viên của Công ước Paris và Thỏa ước Madrid, Việt Nam đã xây dựng nhiều văn bản pháp luật về bảo hộ các đối tượng SHCN, bao gồm cả đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa ở Việt Nam.

Ngày 14.12.1982, Nhà nước ban hành Điều lệ về nhãn hiệu, đây là văn bản pháp lý đầu tiên về đăng ký và bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa được ban hành kèm theo Nghị định 197-HĐBT ngày 14.12.1982 và được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 84- HĐBT ban hành ngày 20.3.1990. Điều lệ này quy định: “Cá nhân, pháp nhân nước ngoài được hưởng các quyền do Điều lệ quy định, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo nguyên tắc có đi có lại”.

Ngày 28.1.1989, Pháp lệnh Bảo hộ quyền SHCN được ban hành nhằm nâng cao hiệu lực pháp luật của hệ thống bảo hộ quyền SHCN ở Việt Nam. Điều 3 của Pháp lệnh quy định: “Quyền SHCN của tổ chức, cá nhân nước ngoài được bảo hộ theo Pháp lệnh và Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc theo nguyên tắc có đi có lại”.

Nhìn chung, các văn bản pháp luật của Việt Nam trong giai đoạn này mới chỉ đưa ra những quy định chung mang tính nguyên tắc về bảo hộ đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, chưa cụ thể hóa các quy định của các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia trong hệ thống pháp luật quốc gia.

Giai đoạn từ 1996 đến 1.7.2006

Trong Bộ luật Dân sự (có hiệu lực từ ngày 1.7.1996) có một chương riêng về quyền SHCN (chương II, phần 6), đã xác lập khung pháp lý cơ bản và toàn diện nhằm bảo hộ quyền SHCN nói chung và đối với nhãn hiệu nói riêng, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, trong đó có Thỏa ước Madrid. Điều 837 của Bộ luật Dân sự đã ghi nhận nguyên tắc chung: “Bảo hộ quyền SHCN của người nước ngoài, pháp nhân nước ngoài đối với các đối tượng SHCN đã được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cấp văn bằng bảo hộ” trên cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết và tham gia.

Trên cơ sở đó đã có những văn bản quy định chi tiết được ban hành, trong đó có các quy định cụ thể liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu theo hướng phù hợp với Công ước Paris và Thỏa ước Madrid, bao gồm: Nghị định 63/CP ngày 24.10.1996 của Chính phủ quy định chi tiết về SHCN; Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 1.2.2001 của Chính phủ sửa đổi và bổ sung một số điều của Nghị định 63/CP và Thông tư 3055/TT-SHCN ngày 31.12.1996 hướng dẫn thi hành các quy định về thủ tục xác lập quyền SHCN và một số thủ tục khác trong Nghị định 63/CP.

Giai đoạn từ 1.7.2006 đến nay

Luật SHTT đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thông qua ngày 29.11.2005 và có hiệu lực từ ngày 1.7.2006. Luật SHTT có 6 phần, quy định riêng biệt về các đối tượng của quyền SHTT, trong đó phần thứ ba quy định về SHCN, đã xác lập được khung pháp lý cơ bản và toàn diện nhằm bảo hộ quyền SHCN nói chung và nhãn hiệu nói riêng theo hướng phù hợp với những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, trong đó có Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid. Đây là một bước ngoặt quan trọng đối với sự phát triển của hoạt động SHCN. Điều 120 của Luật SHTT đã ghi nhận nguyên tắc chung, đó là “đơn đăng ký SHCN nộp theo các điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên được gọi chung là đơn quốc tế; đơn quốc tế và xử lý đơn quốc tế phải tuân thủ Điều ước quốc tế có liên quan; Chính phủ hướng dẫn thi hành quy định về đơn quốc tế và trình tự, thủ tục xử lý đơn quốc tế của Điều ước quốc tế có liên quan phù hợp với nguyên tắc của Chương này”.

Trên cơ sở các nguyên tắc chung đó, các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật SHTT sẽ sớm được ban hành trong đó có các quy định cụ thể liên quan đến nhãn hiệu quốc tế phù hợp với Công ước Paris và Hệ thống Madrid.

Áp dụng Hệ thống Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu tại Việt Nam

Đối với các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ tại Việt Nam

Nhãn hiệu đăng ký theo Thỏa ước Madrid được xem xét theo từng giai đoạn.

Giai đoạn 1: Trước thời điểm Nghị định 63/CP có hiệu lực (ngày 24.10.1996), nhãn hiệu đăng ký quốc tế được chấp nhận bảo hộ ở Việt Nam mà không được công bố dưới bất kỳ hình thức nào từ phía cơ quan quản lý nhà nước về SHCN. Hiệu lực của nhãn hiệu đăng ký quốc tế tại Việt Nam là sau một năm kể từ ngày Văn phòng quốc tế công bố trên công báo nhãn hiệu quốc tế và không bị Cục SHTT Việt Nam từ chối bảo hộ.

Giai đoạn 2: Từ thời điểm Nghị định 63/CP được ban hành cho đến khi Nghị định 06/CP có hiệu lực (ngày 16.2.2001). Nhãn hiệu đăng ký theo Thỏa ước Madrid được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam thì được công bố trên công báo SHCN theo quy định của Điều 31.2b Nghị định 63/CP. Thời điểm hiệu lực áp dụng giống như giai đoạn trên.

Giai đoạn hiện nay: Từ thời điểm Nghị định 06/CP có hiệu lực, nhãn hiệu đăng ký quốc tế được công bố trên công báo SHCN và sẽ được Cục SHTT cấp quyết định chấp nhận bảo hộ nhãn hiệu đăng ký quốc tế cho các nhãn hiệu được bảo hộ. Hiệu lực của nhãn hiệu quốc tế tính từ ngày đăng ký quốc tế được công bố trên công báo nhãn hiệu quốc tế của WIPO.

Quy trình xử lý đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu

Để được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam, nhãn hiệu đăng ký quốc tế phải qua trình tự xử lý như sau:

Theo quy định tại Điểm 25 Thông tư 3055, sau khi nhận được Thông báo của Văn phòng quốc tế về đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam, Cục SHTT sẽ tiến hành một số thao tác kỹ thuật và xét nghiệm nội dung đơn (xem xét về khả năng bảo hộ của nhãn hiệu) như đối với đơn nhãn hiệu nộp trực tiếp theo thể thức quốc gia. Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhãn hiệu đăng ký quốc tế được công bố trên công báo nhãn hiệu quốc tế của WIPO (sau khi đã hợp lệ về hình thức), Cục SHTT phải có kết luận về khả năng bảo hộ của nhãn hiệu đăng ký quốc tế có chỉ định Việt Nam. Đối với những nhãn hiệu có khả năng bị từ chối một phần hoặc toàn phần, Cục SHTT sẽ thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn thông qua Văn phòng quốc tế, có nêu rõ lý do từ chối. Nếu trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày nhãn hiệu đăng ký quốc tế công bố trên Công báo nhãn hiệu quốc tế của WIPO mà Văn phòng quốc tế không nhận được thông báo từ chối liên quan đến đăng ký quốc tế nhãn hiệu nào đó, điều đó có nghĩa là nhãn hiệu đó được bảo hộ ở Việt Nam. Những nhãn hiệu đăng ký quốc tế được công nhận bảo hộ ở Việt Nam sẽ được công bố trên công báo SHCN Việt Nam. Phạm vi bảo hộ của các nhãn hiệu nếu có thay đổi sẽ được Cục SHTT xác nhận theo nội dung đăng ký nhãn hiệu đó và được Văn phòng quốc tế ghi nhận vào đăng bạ quốc tế nhãn hiệu.

Nhãn hiệu đăng ký quốc tế theo Nghị định thư được xem xét như đối với nhãn hiệu quốc tế theo Thỏa ước Madrid nhưng có một số lưu ý về thời hạn từ chối; thời hạn chuyển thông báo từ chối đến Văn phòng quốc tế và thời hạn trả lời các thiếu sót liên quan đến thông báo từ chối của cơ quan quốc gia; thời hạn từ chối trong trường hợp có phản đối và một số lưu ý khác trong quá trình ra thông báo từ chối đăng ký quốc tế.

Theo thống kê của Cục SHTT, số lượng đăng ký quốc tế nhãn hiệu yêu cầu chỉ định mới, mở rộng lãnh thổ và gia hạn hiệu lực bảo hộ hiện nay là 56.055.

Đối với các đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam

Mặc dù Thỏa ước Madrid mang lại nhiều lợi ích cho các nhà sản xuất và kinh doanh về thủ tục, thời gian, chi phí, quản lý và Việt Nam được chấp nhận là thành viên chính thức của Thỏa ước Madrid từ 8.3.1949, nhưng cho đến năm 1986 mới chỉ có một nhãn hiệu đầu tiên của Việt Nam được yêu cầu bảo hộ ở nước ngoài thông qua Thỏa ước này, nhãn hiệu thứ hai được yêu cầu bảo hộ năm 1994 và đến nay đã có 123 nhãn hiệu có nguồn gốc Việt Nam được yêu cầu bảo hộ ở nhiều nước khác nhau theo Thỏa ước Madrid với tổng số nước được yêu cầu chỉ định ước tính khoảng 900 lượt nước cho nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ khác nhau. Số lượng đơn yêu cầu bảo hộ theo Thỏa ước tăng lên chủ yếu trong 5 năm trở lại đây, điều này chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam đã nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ra nước ngoài. Trong đó có các doanh nghiệp lớn của Nhà nước nhưng đồng thời cũng có những cơ sở nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 3/2007

CHIẾN LƯỢC TIÊU CHUẨN HOÁ CỦA HOA KỲ

NGÔ TẤT THẮNG

Trong lĩnh vực tiêu chuẩn, Hoa Kỳ là một trong những quốc gia hàng đầu có khung tiêu chuẩn với nhiều điểm ưu việt, đem lại lợi ích thiết thực cho các nước đã và đang áp dụng. Bài viết dưới đây giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về hoạt động tiêu chuẩn của Hoa Kỳ.

Những nguyên tắc cơ bản

Chiến lược tiêu chuẩn Hoa Kỳ (The United State Standards Strategy – USSS) là văn bản sửa đổi của Chiến lược tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (NSS) được phê chuẩn tháng 8.2000. NSS khẳng định, Hoa Kỳ cam kết theo đuổi cách tiếp cận chuyên ngành đối với hoạt động tiêu chuẩn hoá tự nguyện phạm vi trong nước và quốc tế. Khung tiêu chuẩn hoá được xây dựng dựa trên sức mạnh có tính truyền thống của Hoa Kỳ, đó là: Đồng thuận, mở, công khai và minh bạch; đồng thời nhấn mạnh đến sự nhanh chóng, phù hợp và đáp ứng yêu cầu của công chúng.

Năm 2004, Viện Nghiên cứu tiêu chuẩn quốc gia Hoa Kỳ (ANSI) đã tổ chức một Hội đồng xem xét và sửa đổi NSS. Hơn 100 thành viên đại diện cho các ngành công nghiệp; các doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn; các chuyên gia xây dựng tiêu chuẩn; các tập đoàn; hội người tiêu dùng; đại diện của nhà nước liên bang và chính quyền các bang đã tham gia vào quá trình xem xét này. Các thành viên tham dự đã nhất trí cam kết xây dựng một chiến lược tiêu chuẩn Hoa Kỳ với một tên mới và tinh thần mở, công bằng. Bản sửa đổi của NSS nay được gọi là USSS. Sự thay đổi tên này thừa nhận quá trình toàn cầu hoá và nhu cầu tiêu chuẩn cần được xây dựng để đáp ứng yêu cầu của những người có liên quan, vượt qua giới hạn về biên giới quốc gia. Tên gọi mới đồng thời cũng phản ánh môi trường tiêu chuẩn hoá, kết hợp chặt chẽ với những hình thức mới của hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, có các cách tiếp cận linh hoạt hơn và đưa ra cấu trúc mới.

USSS được xây dựng dựa trên sự nỗ lực điều phối của một nhóm gồm nhiều đối tượng khác nhau, đại diện cho những người có liên quan trong chính phủ, các ngành công nghiệp, các tổ chức xây dựng tiêu chuẩn, các tập đoàn sản xuất, các hiệp hội người tiêu dùng và các cơ quan nghiên cứu. Các thành phần tham gia thể hiện cam kết xây dựng tiêu chuẩn công khai, cân bằng và minh bạch. ANSI có vai trò phối hợp và thúc đẩy các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện, đồng thời là đại diện của Hoa Kỳ trong hoạt động xây dựng tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, dựa trên quan điểm cân bằng quyền lợi của khu vực công và tư nhân để xem xét các nguyên tắc và chiến lược nhằm định hướng cho Hoa Kỳ trong xây dựng tiêu chuẩn và tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn quốc tế. Việc xây dựng USSS đã thể hiện mục tiêu, tư tưởng và tầm nhìn tương lai của hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh quốc tế hiện nay.

Một vấn đề quan trọng đã được hầu hết cộng đồng các quốc gia trên thế giới nhìn nhận là tiêu chuẩn xây dựng cần phải đáp ứng nhu cầu của thị trường và xã hội, không được tạo ra rào cản cho thương mại. Khi chấp thuận Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại của Tổ chức Thương mại thế giới (TBT/WTO), các thành viên của WTO đã thừa nhận rằng mục tiêu và những nguyên tắc cơ bản đã được xây dựng và được chấp nhận toàn cầu là khuôn khổ để thúc đẩy hợp tác và ngăn cản việc sử dụng tiêu chuẩn trở thành rào cản kỹ thuật.

Thực tế cho thấy, hệ thống tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đã dựa trên một số nguyên tắc sau:

Tính minh bạch: Các bên có quan tâm đều có thể tiếp cận những thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động tiêu chuẩn.

Tính mở: Mọi đối tượng có quyền lợi bị ảnh hưởng đều có thể tham gia.

Tính công bằng, không thiên vị: Không một đối tượng có quyền lợi nào có thể làm ảnh hưởng đến quá trình xây dựng tiêu chuẩn và tiêu chuẩn không thiên vị đối với bất cứ đối tượng nào.

Tính hiệu quả và phù hợp: Tiêu chuẩn phải phù hợp và đáp ứng một cách có hiệu quả đối với mục tiêu quản lý và các nhu cầu của thị trường cũng như sự đòi hỏi của phát triển khoa học và công nghệ.

Tính đồng thuận: Tiêu chuẩn được xây dựng thông qua sự đồng thuận của các bên có quyền lợi bị ảnh hưởng.

Tính khả thi: Tiêu chuẩn dựa trên cơ sở thực thi (chỉ rõ những đặc tính cần thiết hơn là những thiết kế quá chi tiết) ở những nơi có thể.

Tính mạch lạc, chặt chẽ: Quá trình xây dựng tiêu chuẩn khuyến khích sự mạch lạc, chặt chẽ để ngăn ngừa sự chồng chéo và mâu thuẫn với nhau về nội dung của tiêu chuẩn.

Bảo đảm công bằng: Mọi quan điểm đưa ra đều phải được xem xét và mọi yêu cầu đều có thể thực hiện được.

Hỗ trợ kỹ thuật: Hỗ trợ cho các nước đang phát triển trong việc hình thành và áp dụng tiêu chuẩn.

Ngoài ra, đối với những thành viên có lợi ích bị ảnh hưởng, Hoa Kỳ cũng đã bổ sung một số nguyên tắc:

Tính linh hoạt: Cho phép sử dụng phương pháp luận khác nhau để đáp ứng nhu cầu của công nghệ và các lĩnh vực sản xuất khác nhau.

Đảm bảo đúng lúc: Đảm bảo những vấn đề mang tính thủ tục hành chính không làm ảnh hưởng đến việc thoả mãn mong đợi của thị trường.

Đảm bảo cân bằng: Giữa những đối tượng có lợi ích bị ảnh hưởng.

Từ các nguyên tắc trên, cộng đồng tiêu chuẩn Hoa Kỳ đã cam kết kiên trì theo đuổi thực hiện việc xây dựng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

Định hướng

Hiện nay, hoạt động tiêu chuẩn hoá của Hoa Kỳ tập trung vào tiêu chuẩn hoá chuyên ngành (lĩnh vực) dựa trên sự hỗ trợ của một hạ tầng cơ sở năng động. Cách tiếp cận chuyên ngành trong xây dựng tiêu chuẩn cho phép các bên có quyền lợi xác định được vấn đề riêng của mình và tự đưa ra phương pháp giải quyết. Điều này cũng cho phép xây dựng tiêu chuẩn một cách có hiệu quả, thúc đẩy quá trình đổi mới và cạnh tranh. Thực tế cho thấy, không có một giải pháp nào đưa ra có thể đồng thời thoả mãn tất cả các nhu cầu của các ngành. Bởi vậy, các ngành cần phải tự đưa ra kế hoạch xây dựng tiêu chuẩn riêng cho mình. Mục đích của chiến lược này là cung cấp hướng dẫn, sự gắn kết logic và khuyến khích khả năng sáng tạo trong xây dựng tiêu chuẩn. Do vậy, chiến lược tiêu chuẩn hoá của Hoa Kỳ bao gồm một tập các sáng kiến chiến lược có khả năng áp dụng rộng rãi và sẽ được sử dụng một cách thích hợp trong những chuyên ngành cụ thể. Định hướng tương lai trong chiến lược xây dựng tiêu chuẩn Hoa Kỳ được dựa trên các quan điểm sau:

– Đẩy mạnh việc tham gia của chính phủ trong việc xây dựng và sử dụng những tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện, thông qua sự cộng tác giữa khu vực công và tư nhân. Trên thực tế, sự tin cậy của chính phủ vào các tiêu chuẩn đồng thuận một cách tự nguyện ngày càng tăng lên.

– Quan tâm tới vấn đề môi trường, sức khoẻ và an toàn trong việc xây dựng những tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện – đây là vấn đề trọng tâm của hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ hiện tại và tương lai.

– Nâng cao sự đáp ứng của hệ thống tiêu chuẩn đối với mong đợi và nhu cầu của người tiêu dùng. Đại diện các quyền lợi của người tiêu dùng tham gia trong hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ là rất cần thiết để bảo đảm rằng các nhu cầu của cá nhân sẽ được xem xét, chú trọng.

– Tích cực thúc đẩy việc áp dụng trên toàn cầu những nguyên tắc đã được quốc tế công nhận trong việc xây dựng tiêu chuẩn. Một mục tiêu quan trọng của tiêu chuẩn hoá quốc tế là xác định những yêu cầu để sản phẩm và dịch vụ có thể được chấp nhận ở tất cả các thị trường trên toàn cầu.

– Khuyến khích cách tiếp cận của chính phủ sử dụng các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện làm các công cụ phục vụ cho nhu cầu quản lý. Thương mại toàn cầu sẽ thuận lợi hơn nếu chính phủ sử dụng các cách tiếp cận chung để biến tiêu chuẩn trở thành các công cụ phục vụ nhu cầu quản lý của mình.

– Ngăn ngừa việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn trở thành rào cản kỹ thuật trong thương mại đối với sản phẩm và dịch vụ của Hoa Kỳ.

– Tăng cường những chương trình ở tầm quốc tế để nâng cao sự hiểu biết sao cho các tiêu chuẩn chuyên ngành tự nguyện, định hướng thị trường và dựa trên cơ sở tự nguyện có thể mang lại lợi ích cho hoạt động buôn bán kinh doanh, cho lợi ích người tiêu dùng nói riêng và toàn xã hội nói chung.

– Tiếp tục cải thiện quy trình và công cụ để xây dựng, truyền bá một cách có hiệu quả và kịp thời các tiêu chuẩn đồng thuận tự nguyện tới mọi đối tượng quan tâm. Những năm gần đây, hệ thống tiêu chuẩn của Hoa Kỳ đã có những bước tiến bộ đáng kể trong việc bảo đảm tính kịp thời, thích ứng và tương thích của tiêu chuẩn dựa trên việc sử dụng công nghệ tiên tiến, đẩy mạnh việc xây dựng tiêu chuẩn trực tuyến và phổ biến tiêu chuẩn bằng con đường điện tử hoá.

– Thúc đẩy sự hợp tác và gắn kết chặt chẽ trong hệ thống tiêu chuẩn Hoa Kỳ. Điều này được đặt ra để ngăn ngừa sự chồng chéo và đôi khi tạo ra các tiêu chuẩn mâu thuẫn nhau.

– Coi việc giáo dục tiêu chuẩn là một ưu tiên quan trọng trong khu vực nghiên cứu, khu vực công và tư nhân của Hoa Kỳ. Chương trình giáo dục bao gồm cả việc xây dựng và sử dụng tiêu chuẩn cần thiết phải trở thành nội dung hoạt động ưu tiên của Hoa Kỳ. Những chương trình này cần hướng vào nhu cầu của các nhà lãnh đạo, cơ quan hành pháp cấp cao – những người tham gia xây dựng tiêu chuẩn; sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng và những người quan tâm.

– Duy trì các mô hình cấp vốn một cách bền vững, ổn định cho hệ thống tiêu chuẩn hoá Hoa Kỳ. Sẽ không có một phương pháp cấp vốn duy nhất cho hệ thống tiêu chuẩn hoá Hoa Kỳ. Hệ thống tiêu chuẩn hoá nào đáp ứng được nhu cầu của khu vực tư nhân và công cộng thì người muốn được hưởng thụ kết quả từ hệ thống tiêu chuẩn hoá sẽ là người đảm bảo cung cấp kinh phí cho hệ thống đó.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 4/2007

BÀN THÊM VỀ LUẬN ÁN TIẾN SỸ: VẤN ĐỀ ĐẦU VÀO

NGUYỄN VĂN TUẤN

Theo tác giả, một điều rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo tiến sỹ là vấn đề đầu vào, tức là khâu hình thành ý tưởng trước khi nghiên cứu sinh bắt tay vào nghiên cứu. Muốn vậy, việc công bố các công trình nghiên cứu đã có trên mạng là rất cần thiết nhằm tránh hiện tượng trùng lắp hay đạo văn. Bên cạnh đó, việc công bố các bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học uy tín trong và ngoài nước cũng là điều cần thiết.

Những ai quan tâm đến vấn đề đào tạo tiến sỹ ở trong nước đều cảm thấy phấn khởi trước tin Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chấn chỉnh quy trình đào tạo tiến sỹ. Hiện nay, Bộ đang trong quá trình hoàn thiện Dự thảo Quy chế đào tạo tiến sỹ và lấy ý kiến đóng góp của các bộ/ngành liên quan để có thể trình ban hành trong thời gian sớm nhất. Theo Dự thảo quy chế, các luận án tiến sỹ phải công bố trên mạng và trước khi bảo vệ luận án, nghiên cứu sinh phải có một bài báo khoa học đăng trên một tạp chí khoa học quốc tế hay kỷ yếu hội nghị*.

Việc công bố các luận án tiến sỹ trên mạng là một hướng đi đúng và phù hợp với xu hướng phát triển trên thế giới. Tại các nước Bắc âu, hầu hết các trường đại học đều công bố toàn bộ luận án tiến sỹ và thạc sỹ trên mạng. Tại Bắc Mỹ, một số trường đại học lớn không chỉ công bố các luận án tiến sỹ hiện tại, mà còn đưa lên mạng các luận án được thực hiện từ những năm đầu thế kỷ XX trở về sau. Tại Anh và úc, các trường đại học cũng hoặc là có dự án cho việc công bố hoặc đã dần dần công bố luận án tiến sỹ và thạc sỹ trên mạng. Trong môi trường thông tin mở rộng và vấn nạn đạo văn tràn lan trên thế giới ngày nay, việc công bố các công trình nghiên cứu trên mạng là một điều cần thiết, một cách ngăn ngừa tình trạng chồng chéo về đề tài nghiên cứu.

Tuy nhiên, trong điều kiện hiện tại và bối cảnh ở nước ta, cần phải xác định mục tiêu cụ thể và nghiên cứu hệ quả của việc công bố luận án trên mạng. Có phải mục tiêu là để nâng cao chất lượng luận án hay đáp ứng sự tò mò của công chúng, kể cả các chuyên gia cùng ngành? Luận án đã được thông qua và học vị đã cấp, liệu mục tiêu đó có đạt được hay không? Nếu có người phát hiện luận án có vấn đề thì cơ chế giải quyết như thế nào? Ai sẽ là người đứng ra giải quyết vấn đề và phương án giải quyết ra sao? Nếu luận án được đánh giá là không đạt tiêu chuẩn, học vị sẽ bị thu hồi hay nghiên cứu sinh phải quay lại học tiếp? Những tiêu chuẩn cho một luận án tiến sỹ là gì, ai đặt ra? Nói tóm lại, có rất nhiều câu hỏi và vấn đề cần phải xem xét hay tham khảo các trường đại học phương Tây.

Theo tôi, công bố luận án tiến sỹ trên mạng là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để nâng cao chất lượng học vị tiến sỹ. Tiến sỹ là một học vị đạt được nhờ vào nghiên cứu khoa học. Sản phẩm chính của nghiên cứu khoa học là bằng sáng chế và những bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt (tiếng Anh gọi là “peer-reviewed journals”). Nói cho cùng, luận án tiến sỹ chính là tập hợp những kết quả nghiên cứu trong thời gian nghiên cứu sinh theo học. Thật vậy, ở các trường đại học Bắc âu, nội dung chính của luận án tiến sỹ là tập hợp những bài báo nghiên cứu đã công bố trong thời gian nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giáo sư. Chính vì thế, ở các đại học Bắc âu, người ta quy định nghiên cứu sinh phải công bố ít nhất 3 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế, nội dung luận án chủ yếu là những bài báo này cộng với vài chương tóm lược phương pháp và thảo luận về kết quả nghiên cứu. Nhiều trường đại học ở Anh, úc, Mỹ và ngay cả Trung Quốc, nghiên cứu sinh chỉ được phép viết luận án khi nào đã công bố một số bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học có bình duyệt nghiêm chỉnh.

Có ý kiến cho rằng, yêu cầu nghiên cứu sinh công bố ít nhất một bài báo khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế là một “thách thức lớn”. Theo tôi, đào tạo một tiến sỹ không chỉ dựa vào một vài bài báo khoa học hay một luận án, mà là đào tạo một nhà khoa học chuyên nghiệp và độc lập. Trước đây, tôi đề nghị 7 tiêu chuẩn cho học vị tiến sỹ (Tạp chí Hoạt động Khoa học số tháng 8.2006). Trong 7 tiêu chuẩn đó, tôi cũng đề nghị nên khuyến khích nghiên cứu sinh công bố ít nhất một bài báo trên các tạp chí khoa học quốc tế trước khi viết luận án. Thật ra, công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một điều gần như tất yếu trong quá trình học tiến sỹ (tôi dùng hai chữ “diễn đàn” ở đây để chỉ các tạp chí khoa học có hệ thống bình duyệt và các hội nghị khoa học quốc tế với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín). Nhiều đại học ở châu âu, châu Mỹ và úc khuyến khích nghiên cứu sinh công bố vài bài báo khoa học trước khi viết luận án tiến sỹ. Ngày nay, các đại học lớn ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Philipin… cũng có quy định tương tự.

Bài báo khoa học, nói cho cùng, là một bản báo cáo những gì nghiên cứu sinh đã làm và tại sao làm, kết quả ra sao và có ý nghĩa gì, những gì cần làm tiếp. Người đọc bản báo cáo là những đồng nghiệp, kể cả chuyên gia và nghiên cứu sinh, trên toàn thế giới. Chính những người đọc này là những người “phản biện” thích hợp nhất và có lẽ công bằng nhất. Vì thế, công bố những gì đã nghiên cứu là một hình thức “thử lửa” tốt nhất cho nghiên cứu sinh, bởi qua đó mà đồng nghiệp trong và ngoài nước có thể thẩm định chất lượng của công trình nghiên cứu và luận án của nghiên cứu sinh. Nếu công trình nghiên cứu được đồng nghiệp đánh giá cao, thì bài báo đó còn thể hiện một sự đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Hiện nay, sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế còn rất hạn chế, nếu không muốn nói gần như là con số không. Do đó, việc công bố bài báo khoa học còn là một hình thức thực tế nhất để đóng góp vào việc nâng cao năng suất khoa học của Việt Nam.

Bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế còn là một cơ hội để nghiên cứu sinh làm quen với quá trình hội nhập quốc tế. Nhiều người nghĩ rằng sau khi làm xong luận án tiến sỹ, có mảnh bằng trong tay là xong. Thật ra, hoàn tất luận án và được mang danh “tiến sỹ” chỉ mới là bước đầu trong sự nghiệp khoa bảng, bởi vì nghiên cứu sinh còn phải “tiêu tốn” một thời gian làm nghiên cứu hậu tiến sỹ ở một trường đại học khác. Để có một chân nghiên cứu hậu tiến sỹ là một cuộc cạnh tranh gay gắt. Hàng năm, có hàng chục ngàn tiến sỹ trên khắp thế giới cạnh tranh nhau để xin được vài trăm vị trí nghiên cứu hậu tiến sỹ. Những người thành công thường là những nghiên cứu sinh đã có vài bài báo khoa học trong khi học tiến sỹ. Vì thế, công bố bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế còn là một hình thức đảm bảo và nâng cao khả năng cạnh tranh của nghiên cứu sinh trên trường quốc tế.

Công bố kết quả nghiên cứu trên các diễn đàn khoa học quốc tế không phải là một thách thức lớn, nếu công trình nghiên cứu tiến sỹ có chất lượng xứng đáng với học vị. Nói cách khác, nếu đề án nghiên cứu được suy xét cẩn thận, với những ý tưởng mới và có ích, phương pháp thực hiện đạt chuẩn khoa học, thì việc công bố kết quả không phải là một vấn đề gì to tát lắm. Nếu đề án nghiên cứu không có giá trị khoa học hay không xứng đáng một luận án tiến sỹ thì nghiên cứu sinh cũng chẳng học được gì sau ba hay bốn năm theo học.

Để đảm bảo một công trình nghiên cứu tiến sỹ có chất lượng và xứng đáng là một đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ, vấn đề quan trọng là đầu vào, tức là khâu hình thành ý tưởng trước khi nghiên cứu sinh bắt tay vào nghiên cứu. ở các nước phương Tây và theo kinh nghiệm của người viết bài này, trước khi ghi danh học tiến sỹ, nghiên cứu sinh và giáo sư hướng dẫn phải soạn thảo một đề án ngắn (khoảng 2-3 trang). Đề án này sẽ được một hội đồng khoa học gửi cho 3 nhà nghiên cứu trong và ngoài trường đại học để thẩm định xem có xứng đáng một công trình nghiên cứu cấp tiến sỹ hay không và giáo sư hướng dẫn có đủ tư cách để hướng dẫn luận án hay không. Chỉ khi nào đề án được hội đồng khoa học đó thông qua thì nghiên cứu sinh mới bắt đầu nghiên cứu. Với “đầu vào” như thế, việc công bố kết quả nghiên cứu không phải là một thách thức lớn.

Người viết bài này đã có dịp đọc, xem xét và góp ý một số đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ trong nước thuộc ngành y khoa. Nhận xét đầu tiên là tất cả những đề án tôi đã đọc qua đều không xứng đáng một luận án tiến sỹ, bởi vì ý tưởng không có gì mới và thiếu phương pháp khoa học. Thiếu cái mới trong ý tưởng nghiên cứu, tôi nhận ra, là vì thiếu thông tin. Thật vậy, tôi nhận thấy rằng tất cả nghiên cứu sinh mà tôi tiếp xúc đều rất nhiệt tình làm nghiên cứu và say mê học hỏi, nhưng vì không có trong tay những y văn mới nhất (một phần là do hệ thống Internet tại đại học và thông tin ở trong nước còn kém), nên các đề án họ soạn thảo cực kỳ… đơn sơ. Với các đề án mà ý tưởng chỉ lặp lại y văn của 30 năm về trước và những phương pháp nghiên cứu quá thô sơ, thì kết quả của nghiên cứu không thể cống hiến gì cho nền y học nước nhà, chứ chưa nói đến việc công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế. Những nghiên cứu như thế chẳng những làm tốn tiền của ngân sách nhà nước, làm mất uy tín khoa học quốc gia, mà còn làm thui chột tài năng của giới trẻ.

Một cách lý tưởng, học vị tiến sỹ là một loại “hộ chiếu quốc tế” để tham gia nghiên cứu khoa học. Trong một vài phát biểu trước, tôi có đề nghị rằng để đảm bảo tính quốc tế của học vị tiến sỹ ở trong nước, mỗi đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ ở vài ngành khoa học nên mời ít nhất một giáo sư uy tín ở nước ngoài tham gia hướng dẫn. Sự có mặt của các giáo sư quốc tế như thế sẽ giúp cho nghiên cứu sinh có thêm thông tin, học thêm về phương pháp khoa học và nhất là thiết lập mối bang giao khoa học sau khi tốt nghiệp (rất cần thiết cho giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sỹ như tôi đã nêu ở phần trên).

Nói tóm lại, tôi rất hoan nghênh những đổi mới về quy chế đào tạo tiến sỹ với việc nhấn mạnh vào việc công bố bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế. Việc công bố kết quả nghiên cứu không chỉ là điều kiện cần cho một học vị tiến sỹ, mà còn thể hiện một sự đóng góp vào việc nâng cao sự có mặt của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, quy chế mới về đào tạo tiến sỹ của Bộ Giáo dục và Đào tạo cần phải thêm phần thẩm định đề án nghiên cứu cấp tiến sỹ một cách nghiêm chỉnh theo chuẩn mực quốc tế trước khi nghiên cứu sinh đăng ký theo học. Duy trì chất lượng cao từ “đầu vào” cũng chính là một khâu quan trọng để đảm bảo sự thành công trong chương trình đào tạo tiến sỹ.

[*] Phát biểu trên Người lao động, một cán bộ của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết: “Để được công nhận là tiến sỹ, các nghiên cứu sinh cũng phải có ít nhất một bài đăng trên tạp chí khoa học hoặc kỷ yếu của hội nghị khoa học chuyên ngành nước ngoài, một bài đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín trong nước do cơ sở đào tạo quy định, và điểm TOEFL quốc tế 500 hoặc tương đương”.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 5/2007

PHÁT TRIỂN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM NHÌN TỪ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ ĐÀO TẠO

Trong những năm qua, hợp tác đào tạo quốc tế của các trường đại học (ĐH) Việt Nam đã góp phần đáng kể trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc xây dựng đất nước, thực hiện chuyển giao công nghệ đào tạo, góp phần quan trọng vào đào tạo đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý trong các trường ĐH. Tuy nhiên, là thành viên của WTO, bên cạnh những cơ hội mới, hoạt động này ở nước ta cũng sẽ gặp nhiều thách thức mà nếu không có những biện pháp tháo gỡ thích hợp thì sẽ gặp nhiều khó khăn.

Hợp tác đào tạo quốc tế và những kết quả đạt được

Hợp tác đào tạo quốc tế ở đây được giới hạn là sự hợp tác giữa các trường ĐH trong nước với các trường ĐH nước ngoài nhằm cung cấp cơ hội học tập cho sinh viên Việt Nam, có thể là đưa sinh viên Việt Nam ra nước ngoài học tập, có thể là đào tạo theo các chương trình quốc tế cho các sinh viên ngay tại Việt Nam (du học tại chỗ). Bài viết này tập trung vào các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế tại Việt Nam, bao gồm: Các chương trình quốc tế tại Việt Nam do các trường ĐH nước ngoài cung cấp hoặc do các trường ĐH Việt Nam liên kết với các trường ĐH nước ngoài cung cấp. Trong các chương trình này, người học sau khi tốt nghiệp sẽ được nhận bằng cấp (cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ) do trường ĐH nước ngoài cấp, hoặc do trường ĐH nước ngoài và trong nước cùng cấp.

Trong những năm qua, đặc biệt là từ đầu thập niên 90 thế kỷ XX đến nay, hoạt động hợp tác đào tạo quốc tế đã cung cấp hàng vạn cử nhân, kỹ sư, thạc sỹ thuộc nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong đó đáng kể nhất là đào tạo hàng ngàn thạc sỹ về kinh tế và quản trị kinh doanh, đây là lực lượng quan trọng góp phần đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường. Hợp tác đào tạo quốc tế thực sự đã giúp các trường ĐH Việt Nam thực hiện những bước đi vững chắc trong hội nhập giáo dục quốc tế. Thông qua các hoạt động này, nhiều trường ĐH lớn đã có được đội ngũ giảng viên có thể đảm đương giảng dạy các chương trình quốc tế, thực hiện được trao đổi giảng viên với nhiều trường ĐH ở các khu vực khác nhau trên thế giới. Đồng thời, thông qua hoạt động này, các trường ĐH trong nước cũng có một đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục – đào tạo có thể xây dựng và điều hành các chương trình quốc tế. Nhiều chương trình đào tạo của một số trường ĐH Việt Nam đã được các trường có uy tín của châu âu, Hoa Kỳ, Australia công nhận tương đương và cho phép thực hiện chuyển đổi kết quả học tập. Nhiều trường ĐH Việt Nam đã tham gia vào các liên kết, liên minh giáo dục quốc tế, một số trường đã được các tổ chức giáo dục nước ngoài có uy tín đánh giá và công nhận là thành viên chính thức.

Những cơ hội, thách thức của đào tạo hợp tác quốc tế trong giai đoạn hội nhập

Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO, các trường ĐH Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức phải vượt qua để khẳng định vị thế của mình. Các cơ hội là: 1- Tiếp tục hợp tác một cách bình đẳng hơn với các trường, các tổ chức giáo dục quốc tế, có cơ hội để tham gia vào các liên minh, liên kết giáo dục quốc tế – điều này làm cho giáo dục và đào tạo Việt Nam khẳng định được vị thế của mình; 2- Các trường cũng có cơ hội lớn để thực hiện đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý theo các tiêu chuẩn của các trường ĐH tiên tiến trên thế giới; 3- Các trường có điều kiện thuận lợi hơn trong trao đổi, phát triển chương trình, giáo trình, tài liệu giảng dạy và học tập; trao đổi giáo viên, sinh viên với các trường ĐH và các tổ chức giáo dục quốc tế; 4- Cơ hội để xuất khẩu dịch vụ giáo dục ra nước ngoài (đặc biệt, trong giai đoạn trước mắt là các thị trường như: Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, các tỉnh phía Nam của Trung Quốc, các nước trong khu vực…).

Tuy nhiên, những thách thức cơ bản của hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo giai đoạn này là không ít.

Thứ nhất, nhu cầu về hợp tác đào tạo quốc tế không những tăng lên về quy mô mà còn trở nên càng phức tạp, đa dạng về phương thức, kèm theo những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng. Các chương trình quốc tế phải tuân thủ các quy định của các tổ chức kiểm định chất lượng quốc tế hoặc các quy định của các trường ĐH, các tổ chức đào tạo nước ngoài. Việc nâng cao chất lượng một mặt đòi hỏi người học phải cố gắng cao hơn, mặt khác đòi hỏi các trường đối tác phía Việt Nam phải có đầu tư cả về cơ sở vật chất và con người.

Thứ hai, với việc trở thành thành viên của WTO, thị trường giáo dục ĐH Việt Nam sẽ mở cửa hơn với sự tham gia nhiều hơn của các tổ chức giáo dục, các trường ĐH nước ngoài, tạo ra cạnh tranh lớn hơn. Trong bối cảnh đó, các chương trình quốc tế tại Việt Nam sẽ thực sự bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt, điều này cũng sẽ kéo theo việc các trường ĐH Việt Nam phải cạnh tranh không chỉ bằng học phí mà quan trọng hơn là bằng chất lượng các dịch vụ được cung cấp.

Thứ ba, hội nhập quốc tế đòi hỏi các trường ĐH Việt Nam phải được cơ cấu lại để thích ứng với thể chế của kinh tế thị trường. Nhìn chung, các trường ĐH hiện nay chưa được tổ chức theo mô hình cung cấp dịch vụ theo yêu cầu của thị trường, chưa thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường. Điều này sẽ hạn chế sự thích ứng cũng như khả năng cạnh tranh của các trường ĐH Việt Nam. Hơn nữa, do thông tin cung cấp trên thị trường bị sai lệch, bóp méo, “khách hàng” luôn không có đủ thông tin về dịch vụ giáo dục được cung cấp. Nhà nước cũng chưa có “chế tài” nhằm hỗ trợ người học có được thông tin đầy đủ, chính xác để lựa chọn các chương trình phù hợp. Có thể nói đây là một “khuyết tật” của thị trường giáo dục Việt Nam trong giai đoạn vừa qua cũng như sẽ tồn tại trong khoảng 5 năm tới.

Thứ tư, nằm trong hệ thống WTO, hệ thống giáo dục Việt Nam phải hội nhập với các nước, tuy nhiên, Việt Nam còn thiếu (hoặc chưa có) những hiệp định song phương và đa phương về công nhận văn bằng, chuyển đổi tín chỉ giáo dục. Điều này là khó khăn và thách thức rất lớn đối với hệ thống giáo dục Việt Nam khi hội nhập. Đây cũng là công việc mà Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam phải thực hiện trong những năm tới.

Những kiến nghị

Để vượt qua những hạn chế, tăng thêm cơ hội thành công trong hội nhập, Nhà nước và các trường ĐH cần thực hiện:

Một là, coi hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học là bước đi tiên phong để nâng cao chất lượng giáo dục ĐH Việt Nam trong hội nhập. Có định hướng rõ ràng và có kế hoạch cụ thể để khai thác những cơ hội, nguồn lực và tiềm năng mà hợp tác đào tạo quốc tế mang lại để nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục ĐH trong nước.

Hai là, để hợp tác thành công trong giai đoạn này, các trường ĐH Việt Nam cần được cơ cấu lại (tổ chức, nhân lực, tài chính) theo định hướng thị trường (nhu cầu của người học), tập trung vào xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học.

Ba là, cần coi công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam trong điều kiện của hội nhập: 1- Nhìn nhận lại theo quan điểm tích cực của hội nhập, mạnh dạn loại bỏ chương trình đào tạo giáo viên theo cách đào tạo công chức hành chính hiện nay, thay vào đó là chương trình và cách thức đào tạo giáo viên mới hướng theo các tiêu chuẩn, các chuẩn mực quốc tế (Trường ĐH Kinh tế Quốc dân đã thử nghiệm xây dựng chương trình đào tạo giáo viên theo chuẩn mực quốc tế, tuy nhiên kế hoạch tổng thể này muốn thành công phải có sự hỗ trợ từ các cơ quan/ban ngành, đặc biệt là từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo); 2- Nhanh chóng xây dựng các tiêu chuẩn giảng viên ĐH dựa trên các chuẩn quốc tế (của các trường tiên tiến trong khu vực và thế giới) và lấy tiêu chuẩn đó làm cơ sở để thực hiện đào tạo, phát triển và đánh giá đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trong các trường ĐH Việt Nam; 3- Các trường ĐH Việt Nam phải đưa ra những quy định, tiêu chuẩn mới về hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên (giảng viên đại học phải dành ít nhất mỗi năm 3 tháng cho nghiên cứu khoa học).

Bốn là, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có nghiên cứu đánh giá đầy đủ, toàn diện về hoạt động hợp tác đào tạo quốc tế nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục ĐH trong nước và hiệu quả của công tác này. Thực tế cho thấy, đã có một số chương trình nâng cao chất lượng đào tạo ĐH trong nước lặp lại cách làm của các chương trình hợp tác quốc tế cách đây 10 năm, nếu như chúng ta áp dụng bài học kinh nghiệm từ các chương trình quốc tế thì sẽ tiết kiệm được thời gian và tiền bạc.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 8/2007 (TÁC GIẢ CHƯA XÁC ĐỊNH)

NHỮNG NÉT NỔI BẬT TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA CỤC SHTT TỪ NĂM 2002 ĐẾN NAY

Trong thời gian qua, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, Cục Sở hữu Trí tuệ (SHTT) đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật, xác lập và bảo hộ quyền, tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế về SHTT… góp phần quan trọng vào việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống SHTT của nước ta theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế và định hướng phát triển nền kinh tế, đảm bảo lợi ích của quốc gia và xã hội. Với truyền thống 25 năm phấn đấu, nhất là thành tựu 5 năm gần đây, hy vọng rằng trong thời gian tới, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) cùng sự nỗ lực của toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, Cục sẽ vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần đưa hệ thống SHTT thực sự trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.

Cục Sáng chế rồi đến Cục Sở hữu Công nghiệp (SHCN) và sau đó là Cục SHTT, là cơ quan trực thuộc Bộ KH&CN, Cục SHTT có chức năng, nhiệm vụ được quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động ban hành theo Quyết định số 14/2004/QĐ-BKHCN ngày 25.6.2004 của Bộ trưởng Bộ KH&CN. Theo đó Cục được giao thực hiện các nhiệm vụ cơ bản là: Tham mưu cho Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT; xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch, chương trình, dự án nhằm phát triển hệ thống SHTT trong phạm vi cả nước; thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực SHTT tại Việt Nam và trên trường quốc tế; đại diện Nhà nước trong các quan hệ hợp tác quốc tế về SHTT; chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về SHTT cho các cơ quan quản lý SHTT thuộc các Bộ/ngành và địa phương trong cả nước; tổ chức thực hiện công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học về SHTT; tổ chức các hoạt động thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản xuất, kinh doanh, nâng cao nhận thức xã hội về SHTT.

Với mục tiêu xây dựng và củng cố hệ thống SHTT nhằm đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của đất nước, cũng như những đòi hỏi bắt buộc của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngay từ năm 1995 cùng với việc Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hệ thống SHTT của nước ta không ngừng được đổi mới và ngày càng hoàn thiện. Từ một hệ thống có nhiều khiếm khuyết, phải đối mặt với những thách thức to lớn về năng lực và hiệu quả, đến nay tất cả các yếu tố của hệ thống SHTT nước ta đều được đổi mới, hoàn thiện theo hướng chất lượng, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập, bảo đảm lợi ích quốc gia và lợi ích xã hội.

Trong suốt chặng đường 25 năm kể từ khi thành lập đến nay(1982-2007), đặc biệt là giai đoạn 2002-2006, hoạt động của Cục SHTT đã được triển khai mạnh mẽ, đúng hướng và đạt được những kết quả nổi bật cụ thể sau đây:

Thực hiện chức năng tham mưu cho Nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và chính sách về SHTT

Với sự nỗ lực của Cục, hàng loạt văn bản pháp luật về SHTT đã được xây dựng và ban hành trong giai đoạn từ 2002 đến nay, nhằm bổ sung những quy định còn thiếu hoặc sửa đổi những quy định không phù hợp với sự phát triển của đất nước hoặc chưa đáp ứng các yêu cầu của TRIPS/WTO và Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA). Đặc biệt, trong năm 2005, Cục đã chủ trì đề xuất phương án dự thảo Phần thứ 6 – Quyền SHTT trong Bộ luật Dân sự sửa đổi, đề xuất này đã được Quốc hội chấp nhận và thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khoá XI (Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH XI). Đồng thời, cũng trong năm 2005, Cục đã chủ trì xây dựng và hoàn thiện dự thảo Luật SHTT – đạo luật chuyên ngành đầu tiên về SHTT của Việt Nam. Trong vòng 10 tháng, nhờ những nỗ lực to lớn và tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, sau nhiều lần tu chỉnh, dự thảo Luật SHTT đã được hoàn thành và được Quốc hội chính thức thông qua ngày 29.11.2005 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2006), nâng cấp vượt bậc hiệu lực của toàn hệ thống pháp luật SHTT, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ngay sau khi hoàn thành Luật SHTT, Cục đã khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật. Kết quả là, hàng loạt văn bản đã được ban hành: Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 của Chính phủ, Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22.9.2006 của Chính phủ, Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN ngày 14.2.2007 của Bộ KH&CN. Đồng thời với việc chủ trì xây dựng các văn bản pháp luật về SHTT, Cục cũng tích cực tham gia góp ý, xây dựng nhiều văn bản, chính sách về hoặc có liên quan tới lĩnh vực SHTT.

Trong tiến trình đàm phán gia nhập WTO, Cục đã trực tiếp chuẩn bị nội dung, phương án và tham gia đàm phán về SHTT trong các phiên đàm phán song phương và đa phương với các nước thành viên WTO, tiến hành rà soát thường xuyên, cập nhật, sửa đổi dự thảo báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (phần nội dung về SHTT) nhằm thể hiện chính xác hệ thống SHTT của Việt Nam, góp phần kết thúc đàm phán về SHTT tại phiên đa phương thứ 15, ngày 22-29.10.2006 (Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11.1.2007). Luật pháp quốc tế về SHTT (TRIPS/WTO, BTA…) tiếp tục được bảo đảm thi hành nghiêm túc, thông qua việc xây dựng báo cáo thực trạng về SHTT của Việt Nam và kiến nghị các biện pháp cần thiết để thực hiện các cam kết quốc tế về SHTT.

Đồng thời với việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, Cục còn hoạch định các chính sách về quản lý và phát triển hoạt động SHTT, xây dựng và triển khai các Đề án, Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thúc đẩy các hoạt động SHTT trong phạm vi cả nước: Đề án “Đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ quyền SHTT” do Chính phủ giao cho Bộ KH&CN chủ trì thực hiện theo các Quyết định số 35/2002/QĐ-TTg ngày 12.3.2002 và số 37/2002/QĐ-TTg, ngày 14.3.2002; Đề án “Hoàn thiện hệ thống pháp luật SHTT Việt Nam” thuộc Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 của Đảng; Đề án “Khảo sát, đánh giá thực tiễn hoạt động sáng kiến ở Việt Nam nhằm đề xuất cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt động sáng tạo kỹ thuật nói chung”; Đề án: “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT” thuộc Chương trình hành động của Chính phủ; “Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg ngày 4.4.2005 và đang được triển khai thực hiện trong giai đoạn 2005-2010.

Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và duy trì quyền SHCN cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

Cục SHTT là cơ quan duy nhất tại Việt Nam thực hiện chức năng đại diện Nhà nước trong việc xác lập, bảo hộ và duy trì các quyền SHCN. Số đơn yêu cầu xác lập quyền SHCN nộp liên tục gia tăng và do vậy khối lượng công việc mà Cục phải giải quyết cũng ngày càng lớn. Cụ thể là trong thời gian từ 1.1.2002 đến 31.12.2006, Cục đã tiếp nhận tổng số 107.586 đơn đăng ký SHCN đối với các đối tượng SHCN khác nhau (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu). Cũng trong khoảng thời gian này, Cục đã xử lý và cấp 62.268 Văn bằng bảo hộ các loại và thu nộp ngân sách nhà nước 287 tỷ đồng từ phí và lệ phí SHCN. Ngoài các đơn đăng ký SHCN, mỗi năm Cục còn tiếp nhận và giải quyết hàng chục nghìn đơn các loại khác liên quan đến quyền SHCN như sửa đổi, gia hạn, duy trì, chuyển nhượng Văn bằng bảo hộ, khiếu nại, yêu cầu thẩm định, tra cứu. Thủ tục hành chính về SHCN cũng không ngừng được cải cách, hiện đại hoá bằng việc áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công việc, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, góp phần tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trên thị trường Việt Nam và quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển KH&CN và tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Thực hiện chức năng đại diện Nhà nước trong các quan hệ quốc tế về SHTT

Trong thời gian qua, hoạt động hợp tác quốc tế về SHTT được đẩy mạnh, đa dạng về nội dung, quan hệ song phương và đa phương với các đối tác không ngừng được củng cố và phát triển. Cục SHTT đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác đa phương về SHTT, trong đó đã tổ chức thành công các sự kiện về SHTT trong khuôn khổ APEC, gây ấn tượng tốt đẹp cho bạn bè quốc tế. Cục cũng đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, EU… Quan hệ hợp tác tốt đẹp về SHTT với nhiều đối tác như Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO), Cơ quan Sáng chế châu âu (EPO), Cơ quan Nhãn hiệu và Kiểu dáng công nghiệp châu âu (OHIM), Thụy Sỹ, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga tiếp tục được Cục duy trì và phát triển. Các dự án hợp tác với nước ngoài (MOIPA, UTIPINFO, ECAP-II, SPC) tiếp tục được triển khai có hiệu quả, góp phần hiện đại hoá và nâng cao năng lực cho hệ thống SHTT của Việt Nam. Kết quả là Việt Nam đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, có hiệu quả của các nước và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực hoàn thiện khung pháp luật về SHTT, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống quản lý và thực thi quyền SHTT, cung cấp thông tin tư liệu và nâng cao nhận thức xã hội về SHTT.

Thực hiện chức năng đảm bảo các hoạt động sự nghiệp về SHTT

Trong thời gian qua, công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức về SHTT được triển khai thường xuyên, có hệ thống, với quy mô ngày càng rộng lớn. Cục SHTT tiếp tục chú trọng công tác đào tạo ngắn hạn và dài hạn về SHTT nhằm tạo nguồn nhân lực bổ sung có trình độ cơ bản và chuyên sâu cho hệ thống SHTT, nâng cao nhận thức, kiến thức và kỹ năng chuyên môn về SHTT cho đội ngũ cán bộ quản lý, thực thi quyền SHTT, cán bộ nghiên cứu và triển khai, các doanh nghiệp thuộc các ngành, địa phương trong cả nước. Nhiều hội thảo quốc gia, quốc tế, các lớp tập huấn với các chủ đề khác nhau cũng được tổ chức thường xuyên. Chức năng đầu mối của Cục tại khu vực miền Trung và miền Nam tiếp tục được đẩy mạnh.

Công tác hỗ trợ và tư vấn về SHCN được chú trọng và bước đầu được triển khai trên nhiều lĩnh vực nhằm hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp. Ngoài công tác tư vấn, hướng dẫn thủ tục đăng ký SHCN được thực hiện thường xuyên cho hàng trăm lượt người, các hoạt động nhằm hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp xây dựng và phát triển tài sản trí tuệ (đặc biệt là chỉ dẫn địa lý) cũng được tăng cường. Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp (được phê duyệt theo Quyết định số 68/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4.4.2005) đã được triển khai, hàng loạt hạng mục công việc đã được thực hiện đầy đủ, theo tiến độ chung của Chương trình.

Công tác thông tin về SHCN tiếp tục được hoàn thiện, năng lực thông tin tiếp tục được phát triển. Cục tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu thông tin về SHCN, thường xuyên duy trì trao đổi thông tin chuyên ngành với 27 quốc gia và tổ chức quốc tế, xây dựng kho tư liệu SHCN với khoảng 25 triệu sáng chế, 1,5 triệu kiểu dáng công nghiệp và gần 3 triệu nhãn hiệu. Đồng thời, Cục cũng thường xuyên hướng dẫn, phổ biến và tổ chức khai thác, sản xuất sản phẩm thông tin phục vụ nhu cầu nghiên cứu, ứng dụng, kinh doanh của hàng trăm lượt tổ chức, cá nhân. Công báo SHCN được phát hành đều đặn, các tin bài về SHTT được cung cấp thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên trang tin điện tử của Cục.

Trong những năm qua, Cục SHTT cũng chú trọng tăng cường công tác thực thi và giải quyết khiếu nại theo hướng hiệu quả, tích cực tham gia các hoạt động tư pháp, tố tụng liên quan đến giải quyết khiếu nại và tranh chấp quyền SHCN tại Toà án, đặc biệt là phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thực thi xử lý hàng ngàn vụ vi phạm hành chính và xâm phạm về SHCN. Nhằm khắc phục tình trạng xâm phạm, vi phạm về SHTT, Cục đã chủ trì nghiên cứu, tu chỉnh và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả thực thi quyền SHTT”.

Bước sang giai đoạn mới, giai đoạn thực hiện các cam kết của Việt Nam với tư cách là thành viên chính thức của WTO, Cục SHTT xác định phương hướng hoạt động của mình nhằm củng cố và tạo ra những thay đổi quan trọng về chất đối với toàn bộ hệ thống SHTT. Các nhiệm vụ ưu tiên bao gồm:

– Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT.

– Đảm bảo chất lượng và tiến độ xử lý đơn đăng ký SHCN bằng việc nâng cao năng lực cán bộ và áp dụng các công nghệ hiện đại.

– Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ của Cục và toàn bộ hệ thống.

– Tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động hợp tác quốc tế song phương và đa phương, tranh thủ sự giúp đỡ chuyên môn từ bạn bè quốc tế.

– Đẩy mạnh hoạt động thông tin SHTT, nâng cao năng lực và chất lượng cung cấp thông tin SHTT.

– Tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các cơ quan trong hệ thống bảo vệ quyền SHTT nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền SHTT.

– Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và kiến thức về SHTT trong toàn xã hội.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2007

215 CÂU HỎI – ĐÁP PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Phần I: Một số khái niệm về sở hữu trí tuệ (42 câu hỏi).

Phần II: Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (24 câu hỏi).

Phần III: Các hành vi vi phạm, xâm phạm sở hữu công nghiệp (43 câu hỏi).

Phần IV: Xử lý bằng biện pháp hành chính, hình sự, dân sự các hành vi vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (88 câu hỏi).

Phần V: Tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về sở hữu công nghiệp (18 câu hỏi).

VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA KHUÔN MẪU GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

TRỊNH HÒA BÌNH

Gia đình là phạm trù xuất hiện rất sớm trong lịch sử loài người; là một thiết chế xã hội quan trọng, liên quan đến hoạt động của toàn xã hội và mỗi cá nhân. Theo quan điểm hệ thống, mỗi thiết chế ấy biến đổi sẽ dẫn đến cả hệ thống biến đổi và ngược lại, những thiết chế xung quanh gia đình trong hệ thống xã hội nói chung (như kinh tế, pháp luật, văn hóa…) biến đổi cũng khiến cho gia đình biến đổi theo. Gia đình Việt Nam không nằm ngoài quy luật này. Vậy khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi gì trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập? Nhân Ngày Gia đình Việt Nam (28.6), Tạp chí xin giới thiệu một số phân tích, lý giải về vấn đề này.

Biến đổi gia đình Việt Nam từ sau đổi mới và những kiến giải khoa học

Trên bình diện quản lý xã hội, qua sự thay đổi trong các nội dung điều, khoản của Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2000 so với nội dung trước khi sửa đổi có thể thấy được những biến đổi trong thiết chế xã hội đặc biệt này trước và sau đổi mới. Căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình mới, người ta nhận thấy đã có những biến đổi sau: Thứ nhất, quan niệm về gia đình, vấn đề sở hữu, các mối quan hệ trong gia đình có nhiều biến đổi. Thứ hai, gia đình biến đổi theo hướng có nhiều yếu tố cá nhân hơn. Thứ ba, các vấn đề trong gia đình ngày càng đa dạng và trở nên phức tạp1. Đây là một thực tế không thể phủ nhận được trong bối cảnh đất nước có nhiều thay đổi trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội…

Từ cách tiếp cận xã hội học, xét về bản chất, gia đình có 4 chức năng cơ bản (sinh sản, giáo dục, kinh tế và tâm lý – tình cảm). Cả 4 chức năng này đã và đang xuất hiện những yếu tố mới. Điều này đã được nhiều nghiên cứu chuyên sâu về gia đình chỉ ra. Tuy nhiên, song hành cùng sự biến đổi về kinh tế, xã hội ở nước ta, chức năng nào biến đổi nhiều nhất, tạo được dấu ấn rõ nét cho khuôn mẫu mới của gia đình trong xã hội hiện đại vẫn đang là vấn đề có nhiều bàn cãi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Nếu có gì gọi là mới trong gia đình Việt Nam hiện đại thì có lẽ là sự tăng cường yếu tố dân chủ trong cái tổ chức rất đáng yêu, cần phải yêu này. Xã hội mới tạo điều kiện cho mỗi người có giá trị tự thân. Thêm một nhân tố nữa để bảo đảm sự bình đẳng trong các tương quan và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình. Không có áp bức, thống trị ở đây – xét về mặt khái quát”2.

Nhiều học giả khác lại cho rằng, vấn đề giáo dục gia đình đang có xu hướng thay đổi trong xã hội hiện đại bởi những vấn đề mà giới trẻ hiện nay đang gặp phải như các tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, sự tôn kính đối với ông bà cha mẹ có xu hướng giảm sút… hay sự chuyển giao, phó mặc chức năng này của gia đình cho các thiết chế xã hội khác như trường học, dịch vụ xã hội (dịch vụ chăm sóc trẻ, giúp việc tại nhà)… Sự biến đổi về quy mô, kiểu loại gia đình, những biến đổi trong đời sống hôn nhân, tâm lý – tình cảm và sự lựa chọn trong kết hôn cũng được quan tâm đáng kể trong những nghiên cứu về gia đình trong thời gian qua.

Rõ ràng, rất nhiều khía cạnh khác nhau của gia đình đều đang có những biến đổi trong điều kiện xã hội biến đổi, điều đó đã tạo nên sự biến đổi khuôn mẫu gia đình nói chung. Vì thế, việc xác định rõ ràng, chuẩn xác đặc trưng của gia đình Việt Nam hiện nay là một vấn đề không dễ dàng.

Về xu hướng biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay

Với khái niệm “Tam giác gia đình”3 của tác giả Hồ Ngọc Đại: “Gia đình là một khái niệm mới được hình thành từ ba thành phần, gồm những “đại lượng khác tên” là bố, mẹ và con cái hình thành nên một tam giác gia đình” đặt trong bối cảnh gắn với tam giác đời sống xã hội mà ba đỉnh là cá nhân – gia đình – xã hội thì đây là một mối liên hệ khó có thể bóc tách được. Điều này cho thấy sự biến đổi của gia đình luôn gắn với sự biến đổi của các cá nhân và xã hội. Hiển nhiên, gia đình là hệ quả của mối tương tác giữa các cá nhân và xã hội đang sống. Gia đình với chức năng của nó sẽ cố gắng điều hoà các mối quan hệ này phù hợp với hoàn cảnh xã hội. Dưới đây xin đề cập hai chiều tác động (cá nhân và xã hội) đến gia đình dẫn đến việc biến đổi khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện đại.

Tác động cá nhân đến gia đình

Mặc dù chưa có khái niệm chuẩn và thống nhất về gia đình nhưng dường như có sự đồng thuận rộng rãi ở một điểm: Gia đình là tập hợp các cá nhân có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng… trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa các thành viên (hay cá nhân). Có thể quy giản quan hệ này thành 3 mối quan hệ chủ yếu: Vợ – chồng, cha mẹ – con cái, anh chị – em (con cái với nhau). 3 mối quan hệ cơ bản này có ảnh hưởng lớn đến thiết chế gia đình. ở từng thời điểm lịch sử khác nhau thì các mối quan hệ này có những đặc trưng khác nhau. Ví dụ, trong xã hội truyền thống thì quan hệ vợ – chồng, cha – con, anh – em theo một tôn ti, trật tự chặt chẽ nhưng cho đến nay, sức nặng của tôn ti, trật tự đó không còn bao nhiêu nữa mà thay vào đó là sự bình đẳng hơn theo kiểu “trên kính dưới nhường”. Mỗi cá nhân trong gia đình đều xác lập một vị thế và không gian riêng cần các thành viên khác tôn trọng. Điều này có nghĩa là tự do cá nhân được đề cao. Vả chăng, trong bối cảnh xã hội hiện đại, sự ra đời của các phương tiện truyền thông mới (điện thoại di động, Internet…) càng làm cho xu hướng cá nhân hoá mạnh mẽ hơn… Phải chăng, những thực tiễn đó đã dẫn đến các mối quan hệ trong gia đình lỏng lẻo hơn, và đó cũng là nguyên nhân của sự rạn nứt trong gia đình ngày nay như nhiều nhà nghiên cứu đã đặt câu hỏi? Khó có thể khẳng định đó là mối quan hệ nhân – quả nhưng rõ ràng, khi mỗi cá nhân theo đuổi những lợi ích riêng của mình như học vấn, địa vị, kinh tế… thì các mối quan hệ trong gia đình bị “nhạt” đi. Và cái tôn ti, trật tự kia hầu như không còn sức mạnh để níu kéo các thành viên trong gia đình lại với nhau. Mô phỏng trong tam giác gia đình của Hồ Ngọc Đại thì diện tích của tam giác sẽ lớn hơn, do vậy các cạnh (thể hiện mối quan hệ) đó sẽ bị kéo dài ra. Theo quy luật của cơ học thì sức đàn hồi, hay “độ cứng” của vật thể tỷ lệ nghịch với chiều dài của vật thể đó. Vận dụng mô hình toán học và cơ học này vào trong quan hệ gia đình có thể thấy rằng các mối quan hệ đó “dễ” bị đứt gãy hơn so với khi các quan hệ đó còn “khép kín”. Sự lỏng lẻo trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình sẽ dẫn đến những hệ quả tích cực và tiêu cực nhất định

Về mặt tích cực, tính cơ động, hướng ngoại trong các thành viên trong gia đình càng lớn thì thiết chế đó càng phát triển trên bình diện kinh tế, giáo dục, vị thế xã hội… do các cá nhân đầu tư nhiều thời gian, tâm huyết hơn để giành các lợi ích đó cho riêng mình. Điều này ảnh hưởng rất tích cực đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước nói chung. Không chỉ vậy, nó còn là một chỉ báo cho bình quyền của các thành viên, đặc biệt là phụ nữ trong gia đình được giải phóng trong quá trình dân chủ hoá xã hội trở nên mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục hơn, các thành viên có điều kiện phát huy hết năng lực của cá nhân mà không bị ràng buộc theo kiểu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” hoặc “trên bảo dưới nghe”…

Tuy nhiên, những hệ lụy tiêu cực của mối quan hệ lỏng lẻo này là cái giá phải trả. Đó là sự rạn nứt trong gia đình, là nguồn gốc của những biểu hiện tiêu cực trong xã hội như tệ nạn xã hội, văn hoá ứng xử xuống cấp, đạo đức bị coi nhẹ hay tình trạng ly hôn, ly thân, sống độc thân gia tăng… mà xã hội đang cố gắng có những giải pháp kiềm chế.

Tác động xã hội đến gia đình

Sự biến đổi kinh tế, xã hội của nhân loại dẫn đến sự thay thế lẫn nhau của các hình thái gia đình. Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đã và đang gặt hái nhiều thành tựu to lớn trên nhiều lĩnh vực, nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự biến đổi khuôn mẫu của gia đình. Đây là một quy luật tất yếu, khôn cưỡng. Đánh giá một cách công bằng, những đổi thay về kinh tế, xã hội, tăng cường giao lưu văn hoá đã mang lại cho gia đình những luồng sinh khí mới như nâng cao thu nhập, mức sống, mức hưởng thụ, trình độ tiêu dùng, đời sống vật chất và tinh thần, thông tin của các thành viên. Chưa bao giờ trong lịch sử có những biến chuyển lớn đến như vậy diễn ra trong khung cảnh của gia đình. Những tiến bộ trong quan niệm về bình đẳng, bình quyền, loại bỏ những tập tục, chuẩn mực lạc hậu trong xã hội cũ cũng đã tạo điều kiện cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là nữ giới được phát triển và nâng cao vị thế xã hội.

Tuy nhiên, mặt trái của những biến đổi xã hội và giao lưu văn hoá, thông tin cũng ảnh hưởng rất lớn đến khuôn mẫu gia đình Việt Nam hiện nay, dẫn tới những hệ lụy nhất định. Ví dụ như, sự cám dỗ của vật chất hay sức ép của vấn đề nghèo đói, thu nhập, vị thế xã hội đã khiến cho gia đình biến đổi một số đặc trưng về chức năng và quy mô. ở không ít gia đình, do quá chú trọng vào việc kiếm tiền, tăng thu nhập, giành vị thế xã hội…, mà cha mẹ giảm đi sự quan tâm tới con cái, giữa các thành viên ít giao tiếp với nhau hơn. Có nhà nghiên cứu cho rằng, thậm chí trong một bộ phận gia đình, sự tồn tại của các thành viên bên cạnh nhau giống như sự gá lắp rời rạc, thưa vắng dần sự quan tâm, lo lắng, chăm chút cho nhau và các thành viên trong gia đình thì dường như “gặp nhau lần nào cũng vội”4. Khi đó, hầu như trường học và các thiết chế xã hội khác đã phải “làm thay” nhiều chức năng của gia đình. Có thể thấy sự biến đổi rất rõ ở các gia đình trong thời gian qua khi mà quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng, quy mô lớn đã, đang và sẽ làm cho quá trình mất đất nông nghiệp diễn ra ngày càng nhiều, tốc độ đô thị hoá ngày càng nhanh khiến cho nhiều gia đình nông thôn trở thành gia đình thành thị “cưỡng bức” trong điều kiện mất đất song chuyển đổi nghề nghiệp chậm, thiếu việc làm, gây ra tình trạng bất ổn định trong gia đình. Bên cạnh đó, tệ nạn xã hội như ma tuý, mại dâm, bệnh tật… lại có nguy cơ phát triển, làm tha hoá một bộ phận dân cư, nhất là giới trẻ. Những yếu tố ngoại cảnh này đã ảnh hưởng không nhỏ tới gia đình, làm thay đổi cả quy mô, cơ cấu, quan hệ và chất lượng gia đình5. Quan niệm về hôn nhân, gia đình hiện nay cũng đang dần dần thay đổi do hoàn cảnh xã hội tác động. Những hiện tượng như quan hệ tình dục trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, sống thử, kết hôn muộn, sống độc thân, ly thân, ly hôn không ngừng tăng lên và có tính đột biến6. Đây là những biểu hiện vốn chưa xuất hiện trong gia đình Việt Nam truyền thống mà nó chính là sản phẩm của xã hội phương Tây du nhập vào nước ta trong quá trình mở cửa, hội nhập. Văn hoá phương Tây tràn vào một cách ồ ạt phần nào vượt qua sự kiểm soát của gia đình, nhà trường và xã hội, ảnh hưởng đến tính bền vững của gia đình và làm cho cấu trúc của gia đình dễ “vỡ” hơn. Với sự nâng cao tính cơ động kinh tế, xã hội thì gia đình tỏ ra là một thiết chế xã hội nhạy cảm và năng động đối với những thay đổi của môi trường kinh tế, xã hội. Điều đó dẫn đến những biến đổi về lượng cũng như về chất của gia đình theo bối cảnh xã hội.

Tựu chung lại, có thể khái quát một số xu hướng biến đổi đặc trưng khuôn mẫu từ gia đình truyền thống đến gia đình hiện đại như sau:

Thứ nhất, quy mô, kích cỡ gia đình Việt Nam đang dần dần “thu hẹp lại”, gia đình hạt nhân đang trở nên phổ biến, dần thay thế gia đình mở rộng nhiều thế hệ sống trong một mái nhà. Xu hướng này biểu hiện rõ nét hơn khi tốc độ đô thị hoá ngày càng gia tăng.

Thứ hai, chức năng giáo dục thế hệ trẻ và truyền thụ văn hoá đang ít nhiều bị xem nhẹ. Gia đình đang có xu hướng “giao phó” chức năng này cho thiết chế trường học và hệ thống các dịch vụ xã hội khác.

Thứ ba, chức năng kinh tế gia đình đang có xu hướng chuyển phần “sản xuất” sang “tiêu dùng”. Vẫn tồn tại với tư cách là một đơn vị kinh tế, song các thành viên trong gia đình lại theo đuổi các mục đích khác nhau, theo đó là các hoạt động kinh tế khác nhau, mỗi thành viên có một “tài khoản” riêng mà không cùng sản xuất và chung một “nguồn ngân sách” như trong gia đình truyền thống.

Thứ tư, các mối quan hệ trong gia đình trở nên lỏng lẻo, sợi dây liên kết các thành viên đang bị “nới rộng ra” theo hướng tự chủ, phát triển độc lập và cá nhân hoá. Khuynh hướng này có thể làm suy yếu tính cộng đồng, cộng cảm trong phạm vi gia đình.

Thứ năm, vai trò điều hoà đời sống tâm lý – tình cảm trong gia đình hiện nay cũng đang bị “xói mòn”. Người già và trẻ em đang phải đối mặt với sự cô đơn, sự thiếu quan tâm và chăm sóc từ các thành viên khác trong gia đình. Họ đang dần bị “đẩy” ra các nhà dưỡng lão, nhà trẻ, trung tâm chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ xã hội khác.

Thứ sáu, cấu trúc gia đình dễ biến động, thiếu tính bền vững hơn do sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, hạnh phúc, trách nhiệm với gia đình của các thành viên cũng như trong các chuẩn mực giá trị, quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Qua phân tích, có thể đi đến kết luận rằng, gia đình Việt Nam đã và đang biến đổi dưới sự tác động của những biến đổi về kinh tế, xã hội và giao lưu văn hoá toàn cầu. Sự biến đổi đó không tách rời hoàn toàn với những đặc trưng của gia đình truyền thống mà là sự điều chỉnh, thích nghi với những hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới. Thực tế, gia đình Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức và phải lựa chọn cho mình một khuôn mẫu phù hợp, trong đó có sự cân bằng giữa việc bảo lưu những yếu tố truyền thống bền vững với những thay đổi không ngừng của xã hội hiện đại. Với khả năng thích ứng cao trên nền tảng văn hoá truyền thống, gia đình Việt Nam vẫn hoàn toàn có khả năng gìn giữ được những nét bản sắc đặc trưng của nó ngay trong điều kiện phát triển của thế giới hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Xem Phát triển Xã hội ở Việt Nam. Một tổng quan xã hội học năm 2000. Trịnh Duy Luân chủ biên. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2002.

2 Bài viết: Một tổ hợp đẹp, xinh xắn, cân đối và mạnh mẽ. Những nghiên cứu Xã hội học về gia đình Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội. Hà Nội, 1996.

3 Hồ Ngọc Đại. Tam giác gia đình. Tạp chí Xã hội học. Số 3.1990, trang 4.

4 Trịnh Hoà Bình. Chương trình thời sự Chào buổi sáng (VTV1). Nhân ngày Gia đình Việt Nam (28.6.2006).

5 Chính sách và giải pháp nhằm phát triển gia đình ở Hà Nội (Báo cáo tổng hợp). Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và Trung tâm Xã hội học – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện tháng 3.2005.

6 Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 2.4.2007.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 6/2006

VỀ CÁC THUẬT NGỮ PHÁT MINH, PHÁT HIỆN, SÁNG CHẾ

Ở nước ta, trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN), việc sử dụng một số thuật ngữ còn chưa được thống nhất và chưa chính xác. Gần đây, Tạp chí Hoạt động Khoa học đã đăng tải một số ý kiến bàn về các khái niệm KH &CN và KHCN. Tiếp theo, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc ý kiến về việc dùng các thuật ngữ: Phát minh, phát hiện, sáng chế.

Chúng ta thường gặp những cách viết khác nhau về các khái niệm phát minh, phát hiện, sáng chế. Chẳng hạn: “Mỗi năm trôi qua, giới khoa học trên thế giới đều bội thu với những phát minh độc đáo, mang lại tiện ích thực sự cho cuộc sống con người, ví dụ như bàn chải đánh răng biết hát, máy giặt truyền động bằng xe đạp…”1. Ngay một thuật ngữ invention dịch ra tiếng Việt cũng không nhất quán, khi thì phát minh, khi thì sáng chế. Hầu hết các từ điển Anh – Việt đều dịch invention theo cả hai nghĩa “phát minh và sáng chế”, thậm chí có người còn dịch cả patent và license là phát minh hoặc bằng phát minh (!)Vậy nên hiểu và viết thế nào để nhất quán về bản chất khoa học và phù hợp với những quy định về bảo hộ pháp luật đối với các đối tượng được bảo hộ theo Luật Sở hữu trí tuệ V (SHTT) của Việt Nam?

Việc hiểu đúng các thuật ngữ phát minh, phát hiện và sáng chế không những có tác dụng trong việc phân loại các sản phẩm của nghiên cứu, mà còn có ý nghĩa trong việc xác định giá trị thương mại, giải quyết hợp lý khi có tranh chấp xảy ra.

Khái niệm phát minh, phát hiện và sáng chế

Phát minh (tiếng Anh là Discovery, tiếng Pháp là Découverte, tiếng Nga là Otkrưtije)

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Phát minh: Sự phát hiện một sự vật, một hiện tượng hoặc một quy luật tồn tại khách quan của tự nhiên mà con người chưa từng biết tới. Phát minh làm thay đổi, nâng cao trình độ nhận thức của con người đối với tự nhiên và tạo cơ sở để con người lợi dụng, chế ngự tự nhiên. Phát minh khoa học là yếu tố quyết định đối với tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Phát minh thường gắn liền với những nghiên cứu cơ bản trong khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Phát minh phản ánh các mối quan hệ hiện thực khách quan cơ bản và những tính chất của các hiện tượng trong thế giới hiện thực”2.

Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì phát minh là sự khám phá ra những quy luật, những tính chất hoặc những hiện tượng của thế giới vật chất tồn tại một cách khách quan mà trước đó chưa ai biết, nhờ đó làm thay đổi cơ bản nhận thức của con người3.

Một số ví dụ về phát minh như: Archimède phát minh định luật sức nâng của nước, Newton phát minh định luật vạn vật hấp dẫn, Nguyễn Văn Hiệu phát minh định luật bất biến tiết diện của các quá trình sinh hạt…

Phát minh có các tiêu chí sau: Chỉ có trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, đã tồn tại khách quan (không có tính mới), có khả năng áp dụng để giải thích thế giới, nhưng chưa thể áp dụng trực tiếp vào sản xuất hoặc đời sống mà phải thông qua các giải pháp kỹ thuật, nó không có giá trị thương mại.

Phát hiện (tiếng Anh cũng là Discovery, tiếng Pháp là Découverte): Là việc khám phá ra những vật thể, những quy luật xã hội đang tồn tại một cách khách quan. Ví dụ: Kock phát hiện vi trùng lao, Marie Curie phát hiện nguyên tố phóng xạ radium, Colomb phát hiện châu Mỹ, Adam Smith phát hiện quy luật “bàn tay vô hình” của kinh tế thị trường…4.

Tương tự như phát minh, phát hiện cũng không có tính mới, nó chỉ khám phá ra các vật thể hoặc các quy luật xã hội, làm thay đổi nhận thức, chưa thể áp dụng trực tiếp vào đời sống, nó không có giá trị thương mại. Bởi vậy người ta không mua, bán, chuyển quyền sử dụng các phát minh, phát hiện.

Sáng chế (tiếng Anh và tiếng Pháp là Invention, tiếng Nga là Izobretenije)

Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế: Giải pháp kỹ thuật mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới, có trình độ sáng tạo, có khả năng áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội. Sáng chế là một trong những đối tượng sở hữu công nghiệp được pháp luật bảo hộ” 5.

Luật SHTT của Việt Nam định nghĩa: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”.

Ví dụ: James Watt sáng chế máy hơi nước, Nobel sáng chế công thức thuốc nổ TNT…

Giải pháp kỹ thuật có thể tồn tại dưới các hình thức sau: Là dạng vật thể, ví dụ: Máy móc, dụng cụ, thiết bị, linh kiện…; là dạng chất thể, ví dụ: Thực phẩm, dược phẩm, vật liệu…; là dạng quy trình, ví dụ: Quy trình xử lý nước thải, quy trình công nghệ sản xuất xi măng…

Sáng chế có khả năng áp dụng trực tiếp vào sản xuất và đời sống, nó có ý nghĩa thương mại, trong thực tế người ta có thể mua, bán sáng chế (chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế) hoặc license sáng chế (chuyển quyền sử dụng sáng chế).

Có 3 tiêu chí bắt buộc để một giải pháp kỹ thuật được cấp Bằng độc quyền sáng chế (Patent), đó là: Có tính mới (so với thế giới); có trình độ sáng tạo; có khả năng áp dụng công nghiệp.

Tính mới là một trong những tiêu chí hàng đầu của sáng chế (phát minh và phát hiện không có tiêu chí này). Như vậy, một sáng chế không sử dụng tình trạng kỹ thuật đã biết.

Trình độ sáng tạo của sáng chế được thể hiện trên 3 khía cạnh, đó là: Vấn đề cần giải quyết, giải pháp cho vấn đề đó và các ưu điểm của sáng chế so với tình trạng kỹ thuật đã biết.

Khả năng áp dụng công nghiệp của một sáng chế là việc sản xuất, sử dụng sáng chế đó bằng những phương tiện kỹ thuật ở một quy mô nhất định. Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định.

Có bảo hộ quyền SHTT đối với phát minh, phát hiện và sáng chế không?

Luật SHTT đã chỉ rõ đối tượng quyền SHTT bao gồm: Quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng.

Bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện

Bản viết về phát minh và phát hiện được coi là tác phẩm khoa học, là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật và theo Luật SHTT.

Cần phải nhấn mạnh rằng, Luật SHTT không bảo hộ bản thân phát minh và phát hiện, mà chỉ bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện. Tuy nhiên, việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện không đồng nghĩa với việc bắt buộc phải cấp văn bằng bảo hộ chúng. Quyền tác giả đối với bản viết về phát minh và phát hiện tự động phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm viết về chúng được định hình dưới một dạng vật chất nhất định, nhân đây cũng cần nhắc lại là một số người đã quan niệm sai rằng để một tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả thì nhất thiết phải đăng ký bảo hộ nó. Luật SHTT quy định: “… việc nộp đơn để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả”. Không một quốc gia nào trên thế giới lại cấp Patent cho phát minh, ngoại trừ trước đây có Liên Xô (cũ) đã cấp Diplôm cho phát minh.

Bảo hộ sáng chế

Sáng chế là một trong các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của Công ước Paris 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp và theo Luật SHTT. Căn cứ phát sinh quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là Bằng độc quyền sáng chế (Patent), có hiệu lực trên lãnh thổ quốc gia cấp bằng và kéo dài trong thời hạn 20 năm. Như vậy, để bảo hộ một sáng chế, bắt buộc nó phải được cấp Patent (khác biệt cơ bản so với phát minh và phát hiện).

Cần lưu ý rằng, Luật SHTT coi bản thân phát minh không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế. Như vậy, nói “bảo hộ phát minh” là sai.

Sự khác nhau về việc bảo hộ bản viết về phát minh, phát hiện và bảo hộ sáng chế

Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ bản viết về phát minh và phát hiện theo cơ chế quyền tác giả, đó là pháp luật không ngăn cấm người khác quyền sử dụng bản thân phát minh và phát hiện, nhưng lại ngăn cấm hành vi của người khác sửa chữa, thay đổi, xuyên tạc bản thân phát minh và phát hiện.

Đặc trưng đáng chú ý nhất của việc bảo hộ sáng chế theo cơ chế quyền sở hữu công nghiệp, đó là pháp luật ngăn cấm người khác quyền sử dụng sáng chế trong thời hạn và trên lãnh thổ được bảo hộ nếu chưa được phép của chủ sở hữu sáng chế.

Quyền nhân thân không thể chuyển giao của tác giả phát minh và phát hiện tồn tại vĩnh viễn, bao gồm: Quyền đặt tên cho phát minh và phát hiện; quyền đứng tên đối với phát minh và phát hiện; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện. Trong khi đó, quyền nhân thân của tác giả sáng chế chỉ bao gồm: Được ghi tên là tác giả trong Bằng độc quyền sáng chế; quyền được nêu tên trong các tài liệu công bố, giới thiệu về sáng chế.

Như vậy, trong trường hợp đã chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế hoặc chuyển quyền sử dụng sáng chế, thì tác giả của sáng chế không có quyền ngăn cấm chủ sở hữu mới hoặc người sử dụng mới quyền cải tiến sáng chế mà mình là tác giả. Quy định này trái ngược hoàn toàn với quyền bảo vệ sự toàn vẹn của phát minh và phát hiện đối với tác giả của chúng.

1 Nguồn1: VnExpress (theo Báo Sài Gòn Giải phóng ngày 10.12.2006).

2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2003.

3 Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2005 (xuất bản lần thứ mười, có chỉnh lý và bổ sung), trang 25.

4 Vũ Cao Đàm, đã dẫn, trang 26.

5 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, đã dẫn.

================

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 6/2007

TỔNG MỤC LỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT (1975-1996)

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

1997

Mục lục

PHẦN THỨ NHẤT: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO THẨM QUYỀN BAN HÀNH
PHẦN THỨ HAI: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO THỜI GIAN BAN HÀNH
PHẦN THỨ BA: MỤC LỤC CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT SẮP XẾP THEO VẤN ĐỀ CHUYÊN NGÀNH

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ BÀI VIẾT VÀ NÓI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

Tác giả/tập thể tác giả

Viện NCKH Pháp lý 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

Lời nhà xuất bản
I. GIAI ĐOẠN 1919-1945
II. GIAI ĐOẠN 1945-1954
III. GIAI ĐOẠN 1954-1969

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên Hoàng Thế Liên 

Năm xuất bản

2000

Mục lục

CHƯƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
CHƯƠNG II. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP
CHƯƠNG III. THỰC TIỄN 1 NĂM THI HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP-THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CHƯƠNG IV. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN BẢO ĐẢM THI HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP
Phụ lục

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM Tập IIIThừa kế; chuyển quyền sử dụng đất; sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài (Từ Điều 634 đến Điều 838 Bộ luật dân sự

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên Hoàng Thế Liên
Nguyễn Đức Giao 

Năm xuất bản

2001

Mục lục

Phần thứ tư. THỪA KẾ
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. THỪA KẾ THEO DI CHÚC
CHƯƠNG III. THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT
CHƯƠNG IV. THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN
Phần thứ năm: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. HỢP ĐỒNG CHUYỂN ĐỔI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG III. HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG IV. HỢP ĐỒNG THUÊ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG V. THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Phần thứ sáu: QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG I. QUYỀN TÁC GIẢ
Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Các quyền của tác giả, quyền của chủ sở hữu tác phẩm
Mục 3: Hợp đồng sử dụng tác phẩm
Mục 4: Quyền, nghĩa vụ của người biểu diễn, của tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, tổ chức phát thanh, truyền hình
CHƯƠNG II. QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Xác lập quyền sở hữu công nghiệp
Mục 3: Chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp, tác giả sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp
Mục 4: Sử dụng hạn chế quyền sở hữu công nghiệp
Mục 5: Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
CHƯƠNG III. CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Mục 1: Những quy định chung
Mục 2: Hợp đồng chuyển giao công nghệ
Phần thứ bảy: QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

NHỮNG NỘI DUNG CẤM VI PHẠM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

 

Tác giả/tập thể tác giả

Chủ biên PGS. TS. Hoàng Thế Liên  

Năm xuất bản

2002

Mục lục

Chú dẫn của Nhà xuất bản
Lời nói đầu
ĐIỀU CẤM
CHƯƠNG I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG II. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC
CHƯƠNG III. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG VÀ KHAI THÁC THỦY SẢN

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

BÌNH LUẬN KHOA HỌC MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

Tác giả/tập thể tác giả

Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý 

Năm xuất bản: 1997

Mục lục

Lời Nhà xuất bản
Lời nói đầu
CHƯƠNG I. BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM- QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ CÁC QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
CHƯƠNG III. TÀI SẢN VÀ QUYỀN SỞ HỮU
CHƯƠNG IV. NGHĨA VỤ DÂN SỰ VÀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
CHƯƠNG V. THỪA KẾ
CHƯƠNG VI. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CHƯƠNG VII. QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG VIII. QUAN HỆ DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ VỀ CẠNH TRANH, CHỐNG CẠNH TRANH BẤT HỢP PHÁP VÀ KIỂM SOÁT ĐỘC QUYỀN

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 1/1996 

Mục lục

Lời nói đầu
I. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh
1. Cạnh tranh – động lực thúc đẩy nền kinh tế
2. Cạnh tranh – tính chất và mực độ biểu hiện
3. Cạnh tranh bất hợp pháp
4. Chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền
II. Kinh nghiệm chống cạnh tranh bất hớp và kiểm soát độc quyền ở một số nước trên thế giới
* Ở Mỹ
* Ở Cộng hoà Liên bang Đức
* Ở Vương quốc Anh
* Ở Cộng hoà Pháp
* Ở Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
* Ở Hàn Quốc
* Ở Nhật Bản
* Ở một số nước mà trước đây có nền kinh tế chỉ huy
III. Khái quát pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ, hành vi mang tính cạnh tranh ở thời ký đổi mới
1. Tác động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường đối với hệ thống pháp luật
2. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh các quan hệ mang tính cạnh tranh
IV. Sự cần thiết và những đòi hỏi cấp bách từ thị trường đối với việc xây dựng luật về cạnh tranh
1. Những hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh
2. Độc quyền ở Việt Nam – sản phẩm của cơ chế cũ

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 8/1996 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Một số nét về pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện
2. Về một số chế định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành và những kiến nghị
3. Hoà giải trong tố tụng dân sự Việt Nam
4. Một số vấn đề về Giám đốc thẩm và Tái thẩm
5. Về Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp

CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ THẨM PHÁN Ở TOÀ ÁN NHÂN DÂN Ở ĐỊA PHƯƠNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Thông tin khoa học pháp lý chuyên đề

Số Tháng 7/1997 

Mục lục

Lời giới thiệu
1. Quản lý thẩm phán là một hình thức quản lý cán bộ, quản lý lao động đặc thù
Báo cáo dẫn đề của Đồng chí Nguyễn Văn Sản, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ nhiệm đề tài
2. Vị trí, vai trò của người Thẩm phán trong Toà án nhân dân hiện nay
TS. Đinh Ngọc Hiện, Phó Viện trưởng Viện KHXX – TANDTC
3. Quản lý Thẩm phán Toà án nhân dân địa phương – Thực trạng và giải pháp.
Vụ Quản lý Toà án địa phương, Bộ Tư pháp
4. Để có một tiêu chí đánh giá chất lượng xét xử của Thẩm phán
Trần Quốc Phú, Chánh Thanh tra Bộ Tư pháp
5. Mối quan hệ giữa các cơ quan trong vấn đề bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, thuyên chuyển công tác…Thẩm phán – Thực trạng và giải pháp
Vụ Quản lý Toà án địa phương
6. Vấn đề quản lý Thẩm phán huyện – Thực trạng, những vấn đề đặt ra, giải pháp
Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái
7. Thực trạng công tác quản lý Toà án nhân dân quận, huyện về mặt tổ chức từ năm 1992 đến nay ở thành phố Hà Nội.
Sở Tư pháp TP Hà Nội
8. Vấn đề tuyển chọn và đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Toà án huyện – Thực trạng, vấn đề đặt ra, giải pháp.
Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ
9. Mối quan hệ của các cơ quan địa phương trong việc tuyển chọn Thẩm phán để đề nghị bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, thị xã – Thực trạng các vấn đề đặt ra và giải pháp
Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương
10. Hoạt động xét xử của Thẩm phán – Thực trạng vấn đề đặt ra và giải pháp.
Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
11. Thực tiễn công tác xét xử án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội và một số đề xuất.
Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
12. Thực tiễn xét xử án sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái và một số kiến nghị.
Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái
13. Một số nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp dân sự – Giải pháp khắc phục.
Toà án nhân dân tỉnh Hà Tây  

Đơn vị xuất bản: Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp

Nơi có thể mượn: Thư viện Đại học Luật HN/ Thư viện Bộ tư pháp