VIỆC SỬ DỤNG ÁN LỆ TRONG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

THS. TRIỆU QUANG KHÁNH – Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng

Án lệ là một hệ thống những nguyên tắc bất thành văn đã được công nhận và được hình thành thông qua các quyết định của toà án. Theo nghĩa hẹp, thì đó là một cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn cứ áp dụng để quyết định các vụ việc sẽ xảy ra trong tương lai. Cho đến nay, vai trò của án lệ chưa thực sự được thừa nhận trong môi trường văn hóa pháp lý nước ta.

Khi đọc bài  “Tư duy án lệ góp phần hoàn thiện pháp luật” của ThS. Nguyễn Văn Nam, trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 9 (58) tháng 9/2005, chúng tôi thấy cần đưa thêm một số minh chứng ủng hộ quan điểm: “… nên để án lệ được hiện diện trong hệ thống pháp luật nước ta với tư cách là nguồn luật có giá trị tham khảo”.

Trong lịch sử lập pháp của thế giới, án lệ là nguồn chủ yếu và quan trọng của hệ thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ, Australia…) nhưng lại chỉ được coi là nguồn thứ yếu trong hệ thống pháp luật dân sự (Pháp, Đức, ý…). Mặc dù về mặt lý luận, luật thành văn và các bộ luật vẫn giữ vai trò là nguồn chính trong hệ thống pháp luật dân sự, nhưng án lệ cũng có vai trò và tầm quan trọng riêng ở các nước theo truyền thống luật dân sự.

Ở nước ta, từ trước đến nay, án lệ chưa được thừa nhận một cách chính thức là một nguồn trong hệ thống pháp luật nước ta, nhưng án lệ (hay còn được gọi là tiền lệ án) đang dần được công nhận như là một nguồn của pháp luật Việt Nam. Biểu hiện cụ thể cho việc này chính là việc sử dụng những quy định hướng dẫn xét xử trong nhiều công văn, thông tư của Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) đối với các toà án cấp dưới trong quá trình xét xử mà những hướng dẫn này là kết quả thu được từ kinh nghiệm xét xử được TANDTC nghiên cứu và hệ thống hoá thành các quy định để hướng dẫn toà án cấp dưới trong công tác xét xử. Một biểu hiện gần đây nhất chính là việc TANDTC đã xuất bản hai tập quyết định giám đốc thẩm bao gồm các quyết định dân sự và hình sự. Đây chính là những lý do khiến chúng tôi tìm đến những minh chứng cho thấy vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự thế giới và những lý do cần coi án lệ như là một nguồn của pháp luật.

Continue reading

TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU – TỪ CÁCH ĐỊNH NGHĨA ĐẾN TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ CÓ THỂ PHÁT SINH

LÊ TÙNG

Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) đã đi vào đời sống xã hội được tròn một năm (từ 1 tháng 7 năm 2006). Giới doanh nghiệp trong và ngoài nước đều rất quan tâm đến các quy định bảo hộ của luật này, đặc biệt là các quy định có liên quan đến các hoạt động thương mại. Qua thực tiễn thực hiện các quy định của luật, chúng tôi xin đưa ra một số suy nghĩ về hình thức và các tiêu chí bảo hộ đối với tên thương mại và nhãn hiệu trong Luật SHTT.

Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) đã đi vào đời sống xã hội được tròn một năm (từ 1 tháng 7 năm 2006). Giới doanh nghiệp trong và ngoài nước đều rất quan tâm đến các quy định bảo hộ của luật này, đặc biệt là các quy định có liên quan đến các hoạt động thương mại. Qua thực tiễn thực hiện các quy định của luật, chúng tôi xin đưa ra một số suy nghĩ về hình thức và các tiêu chí bảo hộ đối với tên thương mại và nhãn hiệu trong Luật SHTT.

Sự khác biệt, trùng lặp và phụ thuộc lẫn nhau

Trước hết, hãy xem qua định nghĩa về nhãn hiệu và tên thương mại trong Luật SHTT. Theo đó, tên thương mại là “tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh”. Còn nhãn hiệu “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. ở đây, có thể thấy ngay sự khác biệt cũng như sự trùng nhau giữa tên thương mại nhãn hiệu. Cụ thể, tên thương mại là tên gọi còn nhãn hiệu là dấu hiệu. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân biệt này hoàn toàn chỉ có tính tương đối. Trong trường hợp này thì tên thương mại thường được tiếp nhận là tên đầy đủ của công ty như ghi trong Giấy đăng ký kinh doanh, còn nhãn hiệu là tên của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó do doanh nghiệp đưa ra thị trường. Đó là sự khác biệt. Trong trường hợp khác thì tên thương mại và nhãn hiệu có thể là một, do doanh nghiệp dùng tên gọi của mình làm dấu hiệu chính để phân biệt hàng hoá, dịch vụ với chủ thể khác. Vậy lúc này, tên thương mại có còn được hiểu là tên doanh nghiệp như trong Giấy đăng ký kinh doanh không? Điều này chưa được làm rõ trong các nghị định hướng dẫn thi hành và có thể, nó sẽ là nội dung tranh chấp trong thực tiễn. Trên thực tế, tên gọi của một doanh nghiệp thường được người tiêu dùng tiếp nhận một cách ngắn gọn, ví dụ “Đồng Tâm”, “Trung Nguyên”… mà ít ai biết được tên gọi đầy đủ của doanh nghiệp đó và đây chính là điểm sẽ gây tranh cãi trong tương lai, vì liệu các cơ quan chức năng có cách hiểu giống như vậy không? Đây là sự trùng nhau giữa tên thương mại và nhãn hiệu. Do vậy, các quy định của luật pháp cần phải tính đến một thực tế trong thương mại về cách hiểu và tiếp nhận của người tiêu dùng đối với tên gọi của tổ chức dùng trong kinh doanh.

Một sự khác biệt nữa là bản thân tên thương mại có thể tự động được bảo hộ (nếu đáp ứng các tiêu chí đã được quy định) mà không cần làm thủ tục đăng ký (khoản 3 Điều 6 Nghị định 103/2006) còn nhãn hiệu thì bắt buộc phải trải qua thủ tục nộp đơn đăng ký (trừ trường hợp nhãn hiệu nổi tiếng) và thẩm định. Phạm vi bảo hộ của tên thương mại, xét theo từng khía cạnh là có thể hẹp hơn phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu (trên toàn lãnh thổ Việt Nam) nhưng trong một số trường hợp sẽ là tương đương như nhãn hiệu. Cụ thể, tên thương mại sẽ chỉ được bảo hộ trong một khu vực kinh doanh và định nghĩa về khu vực kinh doanh đã được xác định là “khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng”. Việc xác định khu vực kinh doanh hạn chế hay rộng lớn sẽ là vấn đề tranh chấp trong tương lai và chính là vấn đề pháp lý sẽ phát sinh.

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tên thương mại và nhãn hiệu có thể thấy qua tiêu chí quy định về khả năng phân biệt của tên thương mại và nhãn hiệu. Tên thương mại và nhãn hiệu muốn được bảo hộ thì phải có khả năng phân biệt. Theo điều 74, khoản 2 (k) Luật SHTT thì nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu có “dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ”. Ngược lại, theo khoản 3 Điều 78 Luật SHTT thì tên thương mại chỉ được coi là có khả năng phân biệt nếu “không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác”. Chính sự phụ thuộc lẫn nhau này cũng sẽ là vấn đề pháp lý phát sinh trong tương lai và là điều mà các doanh nghiệp cần lường trước trong hoạt động thương mại.

Một số tình huống pháp lý

Qua thực trạng đăng ký kinh doanh tại Sở kế hoạch – Đầu tư các địa phương trong thời gian qua, có thể thấy một số vấn đề pháp lý đang nảy sinh như sau:

Xác định thế nào là tên thương mại của doanh nghiệp – một việc tưởng dễ mà hoá khó. Việc các doanh nghiệp có tên gọi trùng nhau trong giấy đăng ký kinh doanh (cả về tên riêng, các bổ ngữ và loại hình sản xuất, kinh doanh) trên cùng một tỉnh, thành phố thì không xảy ra, nhưng lại có thể xảy ra trên các tỉnh thành khác nhau do chúng ta không có một cơ quan chung chuyên cấp giấy đăng ký kinh doanh và vì vậy, không thể có một cơ sở dữ liệu chung duy nhất. Tuy nhiên, việc có các doanh nghiệp chỉ khác nhau về tên gọi loại hình sản xuất, kinh doanh và các bổ ngữ (ví dụ: kinh doanh thực phẩm, chế biến nông sản, v.v.) còn trùng nhau về tên riêng là điều đã xảy ra trên cùng một địa bàn. Giải quyết các tranh chấp này là rất khó vì thiếu quy định rõ ràng. Nếu như các doanh nghiệp có các lĩnh vực kinh doanh khác nhau thì dễ phân xử, nhưng trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay thì điều gì sẽ xảy ra nếu:

– các doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề;

– các tập đoàn lớn, đa ngành nghề có thể lấy cớ là uy tín của mình để có thể đè bẹp các doanh nghiệp nhỏ khác (không may trùng tên) tại các địa bàn khác;

và những tình huống khác cần chú ý:

– quy định nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu “trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng của người khác” sẽ gây khó khăn cho việc bảo hộ nhãn hiệu vì như đã biết, tên thương mại có phạm vi bảo hộ theo khu vực kinh doanh (hẹp hơn nhiều so với phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu). Vậy thì cơ quan chức năng sẽ căn cứ vào đâu để xác định khu vực kinh doanh của tên thương mại? Quy định này có thể được các bên sử dụng để làm phát sinh các tranh chấp trong tương lai. Chẳng hạn, có thể dùng để yêu cầu huỷ bỏ hiệu lực của nhãn hiệu đang được bảo hộ. Việc này nếu xảy ra thì thực sự sẽ gây sự quá tải cho các cơ quan chức năng và nếu quá tải thì việc giải quyết tranh chấp sẽ bị đình trệ và từ đó, dẫn đến thực thi pháp luật không hiệu quả.

– giả sử tên thương mại chỉ có danh tiếng trong một khu vực địa lý nhất định thì liệu một nhãn hiệu đang được bảo hộ có bị đình chỉ hiệu lực tương ứng với khu vực đó không? Chưa có quy định nào nói về vấn đề này.

– xác định đâu là tên thương mại để làm cơ sở cho việc huỷ bỏ hiệu lực của một nhãn hiệu đang được bảo hộ còn là vấn đề hết sức mơ hồ. Như đã nói ở trên, thực trạng tên doanh nghiệp trong giấy đăng ký kinh doanh có thể chỉ khác nhau về loại hình sản xuất, kinh doanh, các bổ ngữ, còn vẫn trùng nhau về tên riêng

– thực tế thẩm định các đơn nhãn hiệu tại cơ quan chức năng cũng chưa thể áp dụng quy định liên quan đến tên thương mại vì rõ ràng là thiếu quá nhiều điều kiện (không có cơ sở dữ liệu chung, không có cơ sở pháp lý để xác định tên thương mại, khu vực kinh doanh, danh tiếng v.v..). Việc áp dụng (nếu có thể) sẽ kéo dài thời gian thẩm định lên rất nhiều (đi ngược với tiêu chí rút gọn thời gian xử lý). Tuy nhiên, sự phụ thuộc giữa nhãn hiệu và tên thương mại như đã nói ở trên vẫn sẽ được áp dụng (do đã quy định trong Luật SHTT) và đây là quy định mà các doanh nghiệp cần tính đến và vận dụng sao cho linh hoạt trong các tranh chấp thương mại (kể cả với các doanh nghiệp nước ngoài).

*

Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy ngay là loại hình bảo hộ nào cũng sẽ có những bất cập đặc thù. Vấn đề là doanh nghiệp phải nắm vững và vận dụng linh hoạt những quy định của “cuộc chơi sở hữu công nghiệp” để được đảm bảo vững chắc, ổn định quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG “HÌNH SỰ HÓA” CÁC TRANH CHẤP KINH TẾ VÀ PHI “HÌNH SỰ HÓA”

TRẦN MINH CHẤT –  Phó Chủ nhiệm Khoa nghiệp vụ Cảnh sát kinh tế, Học viện Cảnh sát nhân dân

Nghiên cứu để khắc phục tình trạng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế không chỉ đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới, mà quan trọng hơn, là nhằm đảm bảo để pháp luật và để công việc thực thi pháp luật thực sự trở thành công cụ hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh; giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và các doanh nghiệp, những người tham gia kinh doanh có quan hệ thân thiện, gần gũi trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Đây là nội dung có ý nghĩa thiết thực đối với hoạt động của Quốc hội trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế.

Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 1999 thì “ hình sự hoá” là quá trình đưa một quan hệ xã hội từ chỗ chưa được điều chỉnh bằng luật hình sự trở thành đối tượng được điều chỉnh bằng luật hình sự (tội phạm).

“Phi hình sự hoá” là việc đưa một hành vi đang bị điều chỉnh bằng pháp luật hình sự trở thành một quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các qui phạm pháp luật và xã hội khác.

Khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống pháp luật cho thấy, từ khi xuất hiện nhà nước, hình thành pháp luật thì hành vi “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” luôn luôn được các giai cấp thống trị xã hội quan tâm. Trong quá trình quản lý xã hội của mình, giai cấp thống trị thông qua nhà nước để lựa chọn những quan hệ xã hội gần gũi nhất với quyền và lợi ích của mình (kể cả tích cực và tiêu cực) rồi đưa vào bên trong các quan hệ xã hội đó ý chí mang tính cưỡng chế của mình hoặc đưa quan hệ xã hội ra khỏi sự điều chỉnh bằng hình luật. Quá trình đó chính là quá trình hình sự hoá và phi hình sự hoá.

Khái niệm “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã được bàn đến trong khá nhiều các cuộc hội thảo khoa học trước đây. Nhìn chung, các nhà khoa học pháp lý đều thống nhất nhận định, những hiện tượng tiêu cực trên đã và đang tồn tại trong đời sống pháp lý của nước ta. Nó không chỉ là mối quan ngại riêng của các doanh nghiệp, của những người tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, mà nó còn đặt ra cho các nhà nghiên cứu, những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực bảo vệ pháp luật nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ bản chất, nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển và tồn tại của hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá”, từ đó tìm ra các giải pháp tối ưu nhằm loại bỏ các hiện tượng tiêu cực trên.

Bất cập trong giải quyết các tranh chấp kinh tế

Thực tiễn chỉ ra rằng, trong nền kinh tế thị trường, tranh chấp trong kinh doanh là một dạng tranh chấp kinh tế, biểu hiện những mâu thuẫn hay xung đột về quyền, nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh doanh. Cụ thể, đó là những tranh chấp phát sinh trong các khâu từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường vì mục đích sinh lợi. Về bản chất, mỗi tranh chấp xét cho cùng đều phản ánh những xung đột lợi ích kinh tế giữa các chủ thể.

Giải quyết các tranh chấp đó là cách thức, phương pháp cũng như các hoạt động để ngăn chặn, khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh để bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự, kỷ cương xã hội.

Các hình thức giải quyết các tranh chấp kinh tế theo pháp luật Việt Nam là: thương lượng; hoà giải; giải quyết bằng trọng tài; giải quyết bằng toà án.

Bản chất của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế chính là một hiện tượng tiêu cực phản ánh tính khốc liệt của cuộc đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường.

Trong thời gian qua, do rất nhiều nguyên nhân khác nhau mà các cơ quan điều tra, truy tố đã có sự “nhầm lẫn” giữa các tranh chấp kinh tế với hành vi phạm tội, dẫn đến oan sai trong hoạt động tố tụng. Sự oan sai này phản ánh thực trạng của:

– Tình trạng áp dụng sai pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế và xử lý các hành vi phạm tội về kinh tế của các cơ quan tư pháp.

– Phản ánh những hạn chế của quá trình xây dựng pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở Việt Nam.

– Phản ánh những hiện tượng tiêu cực cụ thể trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế và điều tra các vụ án kinh tế.

– Phản ánh những sai lầm, những vi phạm của chính bản thân những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.

Nguyên nhân:

– Nguyên nhân của hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế, trước hết xuất phát từ sự thiếu minh bạch trong hệ thống pháp luật hình sự, kinh tế, dân sự ở nước ta.

– Do những sai lầm, vi phạm của các cơ quan và cá nhân tiến hành các hoạt động tố tụng trong tổ chức điều tra các vụ án kinh tế cũng như từ những sai lầm, vi phạm của những người tham gia quan hệ kinh tế, dân sự.

– Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế còn có nguyên nhân từ các hoạt động của các cơ quan có chức năng kiểm tra, kiểm soát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án kinh tế…

Hậu quả

Hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và ” phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng cả về kinh tế và xã hội.

Trước tiên về kinh tế, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” thường gây ra những thiệt hại rất lớn về kinh tế cho các chủ thể tham gia các tranh chấp kinh tế (pháp nhân tan vỡ, các hợp đồng bị đổ bể, tài sản bị phong toả….)

Về xã hội, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế gây ra tiền lệ xấu đối với các quan hệ hợp đồng, đặc biệt các quan hệ trong thanh toán, tín dụng như nợ, đòi nợ, xóa nợ, gán nợ……

Lớn hơn nữa, hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” làm suy giảm lòng tin của nhân dân, các nhà đầu tư vào sự nghiệp phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước. Đồng thời gây tâm lý hoang mang cho các nhà đầu tư…

Về công tác cán bộ, hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế là một nguyên nhân làm thoái hoá, biến chất một số cán bộ trong các cơ quan điều tra, các cơ quan quản lý nhà nước khác.

Tình trạng “hình sự hoá” không chỉ gây ra những hậu quả thiệt hại về vật chất, về con người mà quan trọng hơn nó gây phiền hà cho các hoạt động kinh doanh, làm giảm năng lực sáng tạo của các doanh nghiệp, làm tổn thương lòng tin của nhân dân vào lực lượng điều tra.

Giải pháp khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế

Ngày 31 tháng 3 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ thị số 16/TTg về việc tìm kiếm và thực thi các giải pháp chống hình sự hoá các giao dịch dân sự, kinh tế, chống oan sai và bảo vệ các hoạt động kinh doanh của người dân. Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Ban nội chính TW cũng đã có công văn số 170 báo cáo Bộ Chính trị về vấn đề này. Trong báo cáo nêu rõ “Vấn đề hình sự hoá và cả phi hình sự hoá trong giải quyết các quan hệ kinh tế dân sự của các cơ quan tố tụng hiện nay, các ngành nội chính cần có sự nghiên cứu toàn diện sâu sắc….”, “ Trong thời gian qua, số vụ việc xử lý về hình sự quá nhiều, trong khi thực tế có thể chuyển qua các toà hành chính, dân sự để giải quyết…”.

Ngày 21 tháng 3 năm 2000, Bộ Chính trị đã có chỉ thị số 53/CT-TW khẳng định quyết tâm chống oan sai trong hoạt động tố tụng. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VIII tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ngày 19 tháng 4 năm 2001 cũng đã nêu rõ: “Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan tư pháp trong công tác điều tra, bắt, giam, giữ, truy tố, xét xử thi hành án không để xẩy ra những trường hợp oan, sai”.

Một là, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự.

Trong thời gian qua, các cơ quan bảo vệ pháp luật (Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) đã có nhiều văn bản hướng dẫn nhằm thực hiện các yêu cầu về nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng với mục đích chống các hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự phải áp dụng qui phạm pháp luật phù hợp. Bên cạnh đó cũng phải không ngừng hoàn thiện các qui phạm pháp luật khác như Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng dân sự, Luật doanh nghiệp… Hệ thống pháp luật này trong thực tế vẫn còn rất nhiều vấn đề chồng chéo, khó xác định ranh giới, bởi vậy rất dễ bị lạm dụng để phục vụ cho những mục đích tư lợi.

Để tạo điều kiện kích thích sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế, ngăn chặn hiện tượng “hình sự hoá” và “phi hình sự hoá” các quan hệ kinh tế, dân sự thì hệ thống pháp luật liên quan phải được xây dựng theo hướng cụ thể hoá.

Phải phân định một cách rõ ràng giữa hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế với tội phạm. Tăng cường hiệu lực pháp luật trong việc chấp hành các phán quyết của Toà án kinh tế, Toà dân sự và Trọng tài kinh tế đối với các tranh chấp kinh tế, dân sự.

Không ngừng sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật hình sự. Cụ thể, cần qui định chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, đặc biệt là biện pháp bắt khẩn cấp… Các qui định để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền tham gia tố tụng của luật sư phải được bình đẳng với điều tra viên, kiểm sát viên trong toàn bộ quá trình điều tra, xử lý các vụ án hình sự về kinh tế.

Hai là, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trong kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử nhằm chống lại hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Hoàn thiện pháp luật phải trên cơ sở tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hoàn thiện hệ thống pháp luật phải gắn liền với việc cải cách hành chính, đảm bảo phát huy một cách tốt nhất quyền giám sát kiểm tra của nhân dân cũng như các tổ chức chính trị xã hội khác đối với việc áp dụng các qui phạm pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự của các cơ quan nhà nước. Đẩy mạnh việc thi hành Chỉ thị 02/1998/CT-TTg ngày 07 tháng 1 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giáo dục và phổ biến pháp luật, nâng cao dân trí, đảm bảo để các chủ thể tham gia các quan hệ kinh tế, dân sự phân biệt được đâu là vi phạm các qui định pháp luật về kinh tế, đâu là vi phạm các qui định pháp luật về hành chính, đâu là hành vi tranh chấp dân sự, đâu là tội phạm. Tăng cường quản lý nhà nước trong áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp kinh tế, dân sự đồng thời củng cố vai trò các cơ quan kiểm tra, giám sát để đảm bảo kịp thời phát hiện và ngăn chặn, khắc phục hiện tượng “hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế và “phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế.

Ba là, tăng cường công tác đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án.

Việc đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ điều tra, truy tố, xét xử là hết sức cần thiết. Đây là tiền đề để chống các hiện tượng oan sai trong hoạt động tố tụng.

Nâng cao nhận thức pháp lý cho đội ngũ cán bộ này còn mang tính giáo dục, phòng ngừa rất cao. Bộ Công an, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần có kế hoạch thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra giám sát những hoạt động của cán bộ trong ngành mình có liên quan đến công tác điều tra, truy tố, xét xử đảm bảo để các hành vi vi phạm pháp luật về kinh tế và tội phạm kinh tế được phát hiện và xử lý đúng pháp luật, đồng thời không để hiện tượng oan sai xẩy ra.

Đấu tranh chống hiện tượng “ hình sự hoá” các tranh chấp kinh tế “ phi hình sự hoá” trong điều tra các vụ án kinh tế hiện nay ở nước ta đang là một vấn đề hết sức cần thiết. Nó là một trong những nội dung nhằm thực hiện tốt yêu cầu của Nghị quyết 08- NQ/TW về cải cách tư pháp. Đồng thời, nó có tác dụng thiết thực góp phần nâng cao năng lực, phẩm chất cán bộ trong các cơ quan điều tra, kiểm sát, toà án, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới

SOURCE: NCLP.ORG.VN (PHIÊN BẢN CŨ CỦA TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ)

BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM

Lisa C. Toohey

TÓM TẮT

Bài viết này tìm hiểu tranh chấp giữa Mỹ và Việt Nam về những thiệt hại mà người dân Việt Nam phải gánh chịu do hậu quả của việc sử dụng hoá chất diệt cỏ, Chất độc màu da cam trong cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam. Bài viết sẽ chỉ ra những vấn đề pháp lý của tranh chấp giữa các bên và không tán thành việc quá tập trung vào quá trình tố tụng, đồng thời cho rằng các hình thức giải quyết tranh chấp quốc tế khác sẽ tạo ra một cơ chế hữu hiệu hơn cho việc giải quyết tranh chấp.

Lisa Toohey là giảng viên Luật tại trường đại học tổng hợp Queensland, Australia. Trước đây bà đã từng làm việc với tư cách là luật sư nước ngoài tại Việt Nam và đã từng phục vụ cho một số tổ chức và các uỷ ban quốc tế về luật nhân đạo. Các nghiên cứu của bà tập trung vào lĩnh vực luật quốc tế và phát triển và giải quyết tranh chấp quốc tế.

Bồi thường thiệt hại do chất độc màu da cam tại Việt Nam

Lisa C. Toohey*

“Quá khứ nếu như không được giải quyết thích đáng thì không những không biến mất hay nằm xuống và ngủ yên mà còn quay trở lại làm ta xấu hổ và ám ảnh ta một cách dai dẳng”.

Desmond Tutu, người đạt giải Nobel hoà bình.

Giới thiệu

Trong cuộc chiến tranh được nhiều người biết tới với cái tên cuộc chiến tranh Việt Nam hay cuộc chiến tranh chống Mỹ, quân đội Hoa Kỳ đã rải 72 triệu lít thuốc diệt cỏ trên diện tích khoảng 4,5 triệu hec ta ở miền Nam Việt Nam, chủ yếu là loại hoá chất được biết tới với cái tên “Chất độc màu da cam”. Mặc dù loại hoá chất này được rải chủ yếu ở Việt Nam song một số vùng của Campuchia và Lào cũng đã là mục tiêu do tuyến đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua hai nước này.[1] Bảy năm sau khi Chất độc màu da cam được sử dụng lần đầu trong cuộc chiến, quân đội Hoa Kỳ đã ngừng sử dụng hoá chất này khi có những tài liệu được công bố cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm, việc tiếp xúc chất độc này có thể dẫn đến những dị tật bẩm sinh.[2] Các nghiên cứu tiếp sau đó cũng đưa ra các bằng chứng thuyết phục rằng các thành phần trong Chất độc màu da cam cũng là nguyên nhân của nhiều bệnh ung thư khác cũng như các bệnh như rối loạn chuyển hoá gây tử vong, tổn thương hệ thần kinh và rối lọan chức năng da.[3]

Hiện nay, phần lớn sự quan tâm cả về mặt chính trị và khoa học đều tập trung vào những thương tổn mà các cựu chiến binh Mỹ và Úc, ở một mức độ nhỏ hơn, phải gánh chịu.[4] Tranh chấp xung quanh vấn đề trách nhiệm của Chính phủ Mỹ và các công ty sản xuất Chất độc da cam đã được các cựu chiến binh Mỹ khởi xướng, những người thông qua các hành động cá nhân cũng như tập thể, đã đòi bồi thường cho những thiệt hại mà họ gánh chịu (“the US Class Action”)[5]. Thế nhưng hầu như chưa có sự bồi thường thiệt hại nào và mức độ chăm sóc về y tế dành cho những nạn nhân Việt Nam, Campuchia hay Lào là hết sức ít ỏi. Tuy nhiên, vào năm 2002, các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện một bộ phận dân số Việt Nam những người đã chịu đựng việc tiếp xúc nhiều với loại hóa chất này có hàm lượng dioxin cao hơn mức trung bình 33 lần và cao gấp 206 lần đối với một số cá nhân.[6] Tại một số làng, cứ mười đứa trẻ em thì có một bị dị tật bẩm sinh, bao gồm cả chậm phát triển cả về thể chất và trí tuệ, mất hoặc biến dạng chi, hoặc gặp phải các bệnh khác như là gai đôi cột sống và bại não.[7] Ngoài ra có rất nhiều giai thoại về hậu quả của Chất độc màu da cam và bất kỳ một ai đến Việt Nam đều có thể dễ dàng nhận thấy tình trạng dị tật bẩm sinh ở trẻ em rất cao, nhất là ở miền Trung và các tỉnh phía Nam Việt Nam. Rõ ràng cả về mặt vật chất và chính trị, di sản của cuộc chiến tranh vẫn như một bóng ma tiếp tục ám ảnh người dân Việt Nam.

Kể từ khi kết thúc chiến sự, Việt Nam đã nhiều lần tính đến khả năng đòi Chính phủ Mỹ bồi thường, nhưng đến tận năm 2004, đòi hỏi chính thức mới được đưa ra. Một hành động tập thể (“the Vietnamese Class Action”) được một nhóm các nguyên đơn Việt Nam tiến hành trên đất Mỹ nhằm kiện các nhà sản xuất chất độc da cam của Mỹ song nó đã bị bác bỏ ngay trong năm tiếp theo.

Bài viết này sẽ kiểm chứng nguồn gốc của Hành động Tập thể Việt Nam, xem xét diễn biến của vụ tranh chấp về trách nhiệm Chất độc màu da cam, và phân tích tại sao qúa trình tố tụng, được tiến hành kể cả ở trong nước hay quốc tế, sẽ rất khó giải quyết. Phần cuối của bài viết gợi ý rằng thay vào đó, cần tính đến một vài giải pháp không mang tính xét xử cho vấn đề bồi thường thiệt hại. Bài viết cho rằng việc chỉ tập trung vào một giải pháp dựa trên quá trình tố tụng là sai lầm vì các vấn đề pháp lý mấu chốt của tranh chấp là hết sức phức tạp và không một diễn đàn duy nhất nào có thể giải thích rõ ràng nguyên nhân hành động trong khi có thể đưa ra được phương thức giải quyết mà các nạn nhân mong muốn. Bài viết kết luận rằng các nỗ lực đang được thực hiện trong việc theo đuổi việc đòi bồi thường thiệt hại và giải quyết vấn đề hiện nay phải hướng tới một hình thức giải quyết tranh chấp quốc tế mà bao gồm cả các yếu tố mang tính tư vấn và hỗ trợ.

Phần thứ nhất – Diễn biến của tranh chấp bồi thường

thiệt hại do chất độc màu da cam

1.1 Việc sử dụng chất độc da cam ở khu vực Đông Nam Á và tác hại của nó tới sức khoẻ con người

Các nguyên nhân và hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam đều đã được đông đảo mọi người biết tới mặc dù những sự kiện chính xác dẫn tới việc leo thang chiến tranh vẫn còn hoàn toàn không rõ ràng.[8] Chiến tranh chưa hề được tuyên bố trong suốt thời gian chiến sự; hơn thế nữa, phía Mỹ dựa vào các thoả thuận điều ước với chính quyền Nam Việt Nam để “leo thang” một cách đơn thuần mức độ dính liú của Mỹ, tăng cường số quân đồn trú tới mức chưa từng có ở đây theo Hiệp định về hỗ trợ quân sự chung ở Đông Dương năm 1950. Còn có các vấn đề khác nảy sinh như quy chế của miền Bắc và miền Nam Việt Nam với tư cách quốc gia có chủ quyền và quy chế của du kích và các lực lượng kháng chiến khác theo luật nhân đạo quốc tế.

Mọi người đều biết các chiến thuật quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh, đặc biệt là việc sử dụng Chất độc màu da cam. Chất độc da cam là tên được đặt cho một loại hoá chất diệt cỏ do khoảng hơn chục nhà máy hoá chất sản xuất, kể cả các công ty như Dow Chemical Co. và Monsanto Co., và đã được đưa vào sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt – Mỹ trong các thùng không đánh dấu mà chỉ có thể nhận diện bằng các dải màu được mã hoá. Mặc dù có hàng loạt các loại thuốc diệt cỏ không đánh dấu được sử dụng trong suốt cuộc chiến, nhưng các Chất màu xanh nước biển, Chất màu xanh lá cây, Chất màu hồng, Chất màu tím và Chất màu trắng đã không được dùng một cách rộng rãi hay bị phát hiện là có nhiều độc tố như Chất độc màu da cam.[9] Chất độc màu da cam được cấu tạo bởi 2 phân tử n-butyl ester, 2,4 D và 2,4,5 T. Việc sản xuất ra 2,4,5 T vô tình đã sản sinh ra chất gây ô nhiễm được biết tới với tên hoá học TCDD[10], thường được gọi là dioxin. Từ những năm 1950 người ta đã biết dioxin là sản phẩm phụ của chất phênon khử trùng như 2,4,5-T và đây là một trong những chất độc hại nhất con người từng chế ra.[11]Dioxin là một loại lipid có thể hòa tan và vì vậy nó tập trung ở một mức độ cao trong các hệ sinh vật, nhất là trong cơ thể động vật và người. Nó cũng có thể được truyền qua sữa của các bà mẹ đang thời kỳ cho con bú.

Cần phải nhớ rằng chất 2,4,5-T không phải được sản xuất ra hay sử dụng riêng cho mục đích chiến tranh – “rất nhiều công thức của 2,4,5-T được sử dụng rộng rãi để diệt cỏ trên đường đi, cánh đồng, vùng đất đồi và đường cao tốc trên khắp thế giới”.[12] Ngược lại, dioxin không chỉ được sản xuất ra từ 2,4,5-T, nó còn là sản phẩm phụ trong quá trình sản xuất các sản phẩm nhựa PVC và tẩy rửa chất khử trùng, chúng cũng có thể bị thải ra thiên nhiên từ các nhà máy sản xuất bột giấy và giấy, từ việc đốt các phế liệu, các sản phẩm magiê và đốt cháy nhiên liệu pha chì.[13]

Ngoài việc phá huỷ lớp nguỵ trang rừng cây để có thể phát hiện kẻ thù dễ hơn, Chất độc màu da cam còn được dùng để phá huỷ mùa màng của đối phương. Trong suốt chiến dịch quân sự Operation Ranch Hand[14], chất độc màu da cam đã được trộn với các loại dầu như dầu diesel và được rải từ máy bay, máy bay trực thăng, thuyền, bình bơm xách tay xuống khu vực rừng già, các cánh đồng, sông, rừng đước và các làng mạc.[15] Như được đề cập ở phần dưới đây, việc sử dụng chất độc màu da cam như vậy có thể coi đã tạo ra một cuộc tấn công vào các mục tiêu dân sự và do đó đã vi phạm luật nhân đạo quốc tế.

Viện Y học Mỹ đã khẳng định có đủ bằng chứng về mối liên hệ giữa TTDD và các chuỗi u bưóu mềm, bệnh máu trắng Hodgkin, bệnh Hodgkin và có những bằng chứng còn hạn chế hoặc mang tính gợi ý về mối liên hệ giữa dioxin với các bệnh như:

– Ung thư tuyến hô hấp (phổi/phế quản, thanh quản, khí quản);

– Ung thư tiền liệt tuyến;

– Bệnh tra u tuỷ;

– Bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ;

– Bệnh da do tãng porphyrin biểu hiện muộn;

– Tiểu đường nhóm 2;

– Bệnh gai đôi cột sống ở con của các cựu chiến binh; và

– Bệnh dây thần kinh ngoại biên thoáng qua cấp tính và bán cấp ở con của các cựu chiến binh. [16]

Ngoài ra, vẫn còn nhiều loại bệnh khác mà nguyên nhân không được chứng minh hoặc bị bác bỏ, nhất là những dị tật bẩm sinh ở thế hệ con cái của các cựu chiến binh và các bệnh liên quan khác như xẩy thai, thai lưu, sinh con không đủ trọng lượng[17]. Bộ Các vấn đề cựu chiến binh của Mỹ đã đưa ra một danh sách các bệnh, nếu các cựu binh Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam (dù trong thời gian ngắn) mắc phải, được cho là có nguyên nhân từ việc tiếp xúc với Chất độc màu da cam.[18] Những bệnh này nhìn chung đều ứng với những “bằng chứng đầy đủ về mối liên hệ” và ‘những bằng chứng còn hạn chế hoặc mang tính gợi ý về mối liên hệ” như Viện Y học Mỹ đã đưa ra.

Mặt khác, các nghiên cứu về tác hại của dioxin ở Đông Nam Á lại khá hạn chế, các nghiên cứu của Việt Nam thường bị chỉ trích là không có giá trị hay không chính xác theo tiêu chuẩn nghiên cứu của phương tây. Theo Portier, “phần nhiều các nghiên cứu của Việt Nam đều không được công bố và chúng tôi chỉ nghe về các nghiên cưú này ở dạng sơ thảo hoặc từng phần”.[19] Vẫn chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về những thiệt hại do dioxin gây ra đối với sức khoẻ và môi trường ở Việt Nam. Có một vài lý do của việc này: song quan trọng nhất là chi phí cho một nghiên cứu và phân tích toàn diện hoàn toàn nằm ngoài khả năng tài chính của một nước đang phát triển với tổng thu nhập quốc nội hàng năm là 420 đô la Mỹ/đầu người.[20] Ngoài ra, tính nhạy cảm chính trị đối với vấn đề dioxin rất cao, nhất là người ta lo ngại nếu thế giới quá quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam thì sẽ ảnh hưởng xấu đến quan hệ song phương vẫn còn mong manh với Mỹ, tác động đến du lịch và cũng như đe doạ đến việc xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp nếu như các thiệt hại về môi trường được công bố sẽ tác động xấu đến các sản phẩm xuất khẩu như thủy sản.[21] Lào và Campuchia có ít cơ sở hạ tầng y tế công cộng hơn Việt Nam, và cũng dễ bị tổn thương với các yêu cầu chính trị không kém.[22]

Nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế cho thấy chất độc màu da cam thực sự đã gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về sức khoẻ đối với người dân Việt Nam. Vào đầu năm 2002, dân cư ở các khu vực đã phải tiếp xúc nhiều với loại hóa chất này cho thấy có hàm lượng dioxin cao gấp 33 lần trung bình, và một số trường hợp cá thể cao hơn gấp 206 lần.[23] Tại một số làng, cứ mười đứa trẻ em thì có một bị dị tật bẩm sinh, bao gồm cả chậm phát triển cả về thể chất và trí tuệ, mất hoặc biến dạng chi, hoặc các bệnh khác như là gai đôi cột sống và bại não.[24] Một nghiên cứu thực địa năm 1995 do một chuyên gia Mỹ, tiến sĩ Arnold Schecter, đã so sánh giữa các làng không bị ảnh hưởng của Chất độc màu da cam ở miền Bắc và các làng chịu ảnh hưởng ở miền Nam và cho thấy tại các làng chịu ảnh hưởng, lượng dioxin trong máu của người dân cao khoảng từ 25 đến 170 lần so với các làng ở phía Bắc.[25] Nghiên cứu thực địa tại Lào và Campuchia cũng đã bắt đầu được thực hiện nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của dioxin đến sức khoẻ người dân.[26]

1.2 Diễn biến của việc kiện tụng

Tranh chấp xung quanh vấn đề bồi thươờng thiệt hại diễn ra khá chậm chạp và chỉ bắt đầu sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ vào thập kỷ 90. Trước thời điểm này, Chính phủ Việt Nam chỉ chủ yếu tập trung vào đánh giá mức độ thiệt hại mà người dân Việt Nam phải gánh chịu chứ chưa phải để đòi đền bù. Ví dụ, Uỷ ban liên bộ 10-80[27] của Việt Nam đã được thành lập năm 1980 để điều tra tác động của các loại hoá chất như Chất độc màu da cam đối với người dân, nhưng rõ ràng là không phải để nhằm giải quyết về trách nhiệm hay đòi bồi thường thiệt hại.

Tương tự, chính phủ Mỹ cũng đã khá thận trọng trong vấn đề này cho dù năm 2002 Đại sứ Mỹ Raymon Burghardt đã thừa nhận vấn đề Chất độc màu da cam là “một bóng ma lớn” trong quan hệ Việt-Mỹ.[28] Mặc dù chưa có một đối thoại công khai nào về vấn đề bồi thường thiệt hại nhưng dù sao đã có những thảo luận nhất định trong một chừng mực nhất định về vấn đề này. Vào tháng 3/2002, Việt Nam và Mỹ đã ký bản ghi nhớ về thiết lập khuôn khổ nghiên cứu chung về tác động của Chất độc màu da cam và các chất làm rụng lá khác, mặc dù việc tiến hành nghiên cứu chủ yếu về mặt khoa học chứ không mang tính chính trị.[29]

Trong suốt quá trình ‘bình thường hoá’ quan hệ ngoại giao và thương mại với Việt Nam, Mỹ đã đưa ra một danh sách khá toàn diện các yêu cầu[30] nhưng lại từ chối giải quyết vấn đề bồi thường cho các nạn nhân chiến tranh của Việt Nam.[31] Trên thực tế, bình luận của người phát ngôn của Đại Sứ quán Mỹ tại Hà Nội ám chỉ rõ ràng việc Mỹ xem xét bình thường hoá quan hệ thương mại với Việt Nam là để đổi lại việc Việt Nam từ bỏ đòi hỏi về vấn Chất độc màu da cam:

“Quan hệ Mỹ-Việt Nam đã được bình thường hoá năm 1995 sau khi Việt Nam đã từ bỏ yêu cầu đòi giải quyết/bồi thường chiến tranh”. “Vào thời điểm bình thường hoá quan hệ, cả việc bồi thường hay giải quyết hậu quả chiến tranh đều đã không được xét đến hay chấp nhận xem xét trong tương lai”… [Và khi được hỏi liệu quan điểm này có thay đổi nếu có kết quả của việc nghiên cứu] “Tôi nghĩ bản thân lời tuyên bố đã nói lên tất cả”.[32]

Tuy nhiên, tiếp theo việc ký Hiệp định thương mại song phương giữa 2 nước năm 2001, việc theo đuổi đòi bồi thường thiệt hại thông qua quá trình tố tụng đã ngày càng các được các giới chính trị và luật gia Việt Nam nói tới.[33]

Phần thứ II- Hành động tập thể Việt Nam và các biện pháp không mang tính tố tụng khác

2.1 Hành động tập thể Việt Nam

Cuối cùng, vào tháng 1/2004, Đơn kiện tập thể theo Luật đòi bồi thường thiệt hại cho người nước ngoài (Alien Tort Claims Act) đã được đệ trình lên Toà án Liên bang Mỹ, Quận Tây Niu Oóc. Hành động này nhằm kiện 35 công ty và có điều khoản yêu cầu xác định rõ thêm các công ty bị kiện nhưng không trực tiếp nói đến chính phủ Mỹ.[34]Bên nguyên đơn gồm các nông dân ở thung lũng A Lưới và gia đình họ (một vùng được biết đến là bị nhiễm Chất độc màu da cam nặng nề nhất); một bác sĩ từng là giám đốc một bệnh viện dã chiến gần đường mòn Hồ Chí Minh và hậu quả là đã thường xuyên bị xảy thai; một cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam và những người con của anh ta, những người đang bị ung thư và bị dị dạng bẩm sinh; một cựu Bộ trưởng Y tế của Chính quyền lâm thời miền Nam Việt Nam, người đã thường xuyên phải đi lại và tiếp xúc với các vùng bị nhiễm Chất độc da cam và hậu quả cũng đã bị xảy thai nhiều lần, bị bệnh tiểu đường và ung thư, và một nguyên đơn khác có con trai chết lúc 8 tháng tuổi do bị dị dạng bẩm sinh quá nặng. Đơn kiện đã đề xuất việc hợp thành nhóm tuỳ theo mức độ bị ảnh hưởng và dự tính một nhóm có khoảng trên 3 triệu dân Việt Nam.

Đơn kiện được xây dựng trên nhiều cơ sở pháp lý khác nhau, theo cả luật pháp của Mỹ về vấn đề trách nhiệm đối với sản phẩm, vấn đề gây thiệt hại và tổn thương và luật pháp quốc tế, cho rằng các bị đơn đã âm mưu cùng với chính phủ Mỹ có hành động cấu thành tội ác chiến tranh, tội ác chống loài người, tội diệt chủng và tra tấn.

Tuy nhiên, Hành động tập thể của Việt Nam đã không tồn tại được lâu do Weinstein J đã ủng hộ yêu cầu của các bị đơn bác bỏ đơn kiện.[35] Dựa vào phán quyết năm 2004 trong vụ Sosa v. Alvarez-Machain,[36] toà án đã cho rằng các nguyên nhân bên trong của hành động là đối tượng của Điều khoản bảo vệ nhà thầu của Chính phủ vốn áp dụng đối với các yêu cầu theo luật nội dung của liên bang và các bang, và cho rằng một nhà thầu của chính phủ không phải chịu trách nhiệm về những sai sót trong các phương tiện quân sự mà được làm ra phù hợp với các yêu cầu về chủng loại của chính phủ.[37]

Mặc dù toà án bác bỏ khả năng áp dụng điều khoản bảo vệ nhà thầu chính phủ đối với các tranh chấp theo luật quốc tế.[38] Toà án cũng bác bỏ việc bên bị kiện đề nghị xem xét khả năng áp dụng Học thuyết vấn đề chính trị đối với các tranh chấp theo luật quốc tế, cho rằng:

“Việc người đứng đầu chính phủ tiến hành ủy quyền cho một bị đơn cá nhân không phải là một tấm séc trắng để làm hại các cá nhân khác với việc vi phạm luật pháp quốc tế. Trong Đệ tam quốc xã, tất cả quyền lực nhà nước đều tập trung vào Hít le; nhưng mệnh lệnh của ông ta đã không được sử dụng như là một công cụ để bào chữa trước Tòa án Nuremberg. Tính chất hợp pháp không thể bị loại bỏ do khả năng liên hệ với quyền hành pháp thậm chí ngay cả trong chiến tranh”.[39]

Tuy nhiên, toà án đã bác bỏ yêu sách theo luật quốc tế với lý do là không có một nghĩa vụ pháp lý hoặc thực tiễn mang tính tiêu chuẩn phủ nhận việc dùng thuốc diệt cỏ trong chiến tranh, và vì vậy không có cơ sở để khẳng định sự tồn tại một tập quán quốc tế liên quan đến việc sử dụng các Chất độc màu da cam. Bằng cách lập luận như vậy, quan điểm của toà án là khi xem xét việc vi phạm nguyên tắc tương xứng của luật nhân đạo quốc tế “sức mạnh của sự giáng trả lại hành vi đã xảy ra đã được nâng lên thành một rào cản đối với việc tìm ra trách nhiệm”.[40] Weinstein J cũng bác bỏ lập luận của các nguyên đơn liên quan tới tội diệt chủng, thừa nhận Mỹ không hề có ý định phạm tội ác diệt chủng.[41] Lý luận của toà án dựa trên bản Giải trình do chính quyền Hoa kỳ đệ trình khi trở thành bên ký kết Công ước về Diệt chủng. Bản Giải trình này cho rằng Điều 2 của Công ước về tội diệt chủng (điều định nghĩa về Diệt chủng), đòi hỏi “ý định cụ thể nhằm huỷ diệt toàn bộ hay một phần lớn một quốc gia, một nhóm dân tộc, sắc tộc hay tôn giáo”. [42]

Toàn bộ phán quyết thì quá lớn không thể đề cập hết trong bài này, và lại có thể là chủ đề của việc kháng cáo. Đối với mục đích hiện nay, việc vụ kiện bị bác bỏ đã thúc đẩy việc tìm kiếm các giải pháp thay thế để giải quyết tranh chấp. Các vấn đề lớn nảy sinh đối với các bị đơn trong vụ kiện này là việc chứng minh các vấn đề cần phải được giải quyết để đạt được một kết quả như mong muốn thông qua quá trình tố tụng.

2.2 Các biện pháp không mang tính tố tụng khác

Về mặt lý thuyết, có thêm 2 cách khác để dẫn đến việc tiến hành tố tụng song mỗi cách này đều có những khó khăn cản trở. Đó là: thứ nhất, khởi kiện các công ty hoá chất của Mỹ tại toà án Việt Nam; thứ hai là hành động của chính phủ Việt Nam khiếu nại chính phủ Mỹ tại một diễn đàn quốc tế. Mỗi hình thức này đều có những khó khăn rất lớn. Cũng được xem xét trong phần này là một số vấn đề khác mà có thể làm phức tạp thêm Hành động của phía Việt Nam nếu như họ vẫn tiếp tục theo kiện chứ không bỏ kiện.

Có những cản trở lớn đối với việc tiến hành vụ kiện ở các toà án Việt Nam. Trước hết là theo các nguyên tắc quốc tế kể cả học thuyết về sự lịch thiệp, một toà án ở Việt Nam sẽ không có quyền tài phán để nghe vụ việc chống lại phía Mỹ. Thêm vào đó, mặc dù Công ty Hoá chất Dow International và Monsanto đều có văn phòng ở thành phố Hồ Chí Minh, bất kể phán quyết nào đều có thể đòi hỏi phải được thi hành ở Mỹ và không có khả năng một phán quyết của Việt Nam được toà án của Mỹ chấp nhận là có hiệu lực và có thể được thi hành.

Tương tự, thực tế việc Mỹ không còn chấp nhận quyền tài phán bắt buộc của Toà án quốc tế[43] sẽ đòi hỏi (khó có thể) bước đi từ phía Mỹ tự nguyện chấp nhận quyền tài phán của Tòa án quốc tế để có thể đưa vụ việc tranh chấp giữa Mỹ và Việt Nam ra một diễn đàn quốc tế.

Xác định và chứng minh các nguyên nhân của hành động đều rất khó cho dù ở bất kỳ diễn đàn nào. Hành động tập thể của Mỹ và hành động tập thể của Việt Nam đều một phần dựa vào một loạt các yêu cầu về bồi thường thiệt hại do việc làm thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm quy định về việc cảnh báo, hành vi gây thiệt hại có chủ định và vấn đề giới hạn trách nhiệm. Nội dung chính của đơn kiện là việc tạo ra và sản xuất ra Chất độc màu da cam của các công ty hoá chất là một sai sót do mức độ độc hại của dioxin đã được sinh ra trong quá trình sản xuất, các công ty hoá chất đã vi phạm nghĩa vụ của họ khi không thông báo cho bên nguyên đơn về những nguy hiểm gắn liền với sản phẩm của họ, và việc chính phủ Mỹ sử dụng chất độc da cam đã được lờ đi. Hành động tập thể Việt Nam thực tế phức tạp hơn nhiều Hành động tập thể của Mỹ vì các lý do sẽ được trình bày dưới đây, và thêm vào đó cũng cần nhớ là Hành động tập thể của Mỹ đã được giải quyết ngay trước phiên toà và do đó vụ việc đã không bao giờ được xem xét trên thực tế của nó. Bởi vậy, khả năng thành công là rất khó mà có thể tính toán được.

Cơ sở thứ hai trong Khiếu kiện của Việt Nam dựa trên cơ sở vi phạm luật pháp quốc tế. Mặc dù nội dung của Công ước về Vũ khí sinh học năm 1972Công ước về Vũ khí Hoá học năm 1992 không được toà án chấp nhận trong Hành động tập thể của Việt Nam song có thể tranh luận một cách chắc chắn rằng, chúng là biểu hiện của các quy phạm quốc tế chống lại việc sử dụng vũ khí hóa học trong chiến tranh[44]. Cũng có nhiều bằng chứng khác cho thấy, thậm chí ngay vào thời điểm chiến sự, các nguyên tắc quốc tế lâu đời cũng đã cấm sử dụng các chất như Chất độc màu da cam trong chiến tranh.[45] Tương tự như vậy, hậu quả của chiến tranh Việt Nam đã khiến cộng đồng quốc tế phải đưa thêm Điều 35 và 55 vào Nghị định thư Bổ sung lần thứ nhất đối với các Công ước Giơnevơ năm 1977.[46] Cũng tương tự như vậy, Công ước về việc cấm sử dụng các công nghệ làm biến đổi môi trường trong các cuộc xung đột quân sự và các xung đột vũ trang khác được mở ký năm 1997 cũng cấm sử dụng chiến tranh môi trường, với việc các quốc gia nhất trí không được “tham gia vào các hoạt động quân sự hay các hoạt động thù địch khác sử dụng kỹ thuật biến đổi môi trường tác hại trên diện rộng, lâu dài và nghiêm trọng như các biện pháp hủy diệt, tàn phá hay gây thương tích”. Một lần nữa, những công ước này không có hiệu lực hồi tố – tuy nhiên chúng có thể được nhìn nhận một cách đơn giản là việc pháp điển hóa các nguyên tắc đã được thừa nhận của luật pháp quốc tế.

Tính chất của cuộc chiến đã làm phức tạp thêm quan điểm theo luật pháp quốc tế. Tất cả các nguyên nhân hành động như đã nói trên đòi hỏi, ở những mức độ khác nhau, việc xác định quy chế pháp lý của cuộc chiến tranh Việt Nam – Hoa Kỳ. Quyết định của Weinstein J không xác định địa vị của 27 nguyên đơn cá nhân và liệu họ có thể tập hợp thành một nhóm được không. Hành động tập thể của Mỹ cũng thể hiện khó khăn trong việc xác định và phân nhóm lập nhóm nguyên đơn. Những điều này phức tạp hơn trong hành động của Việt Nam khi mà các nguyên đơn khác nhau được cho là đã phải gánh chịu những mức độ thiệt hại khác nhau do các lý do khác nhau. Những nguyên đơn này gồm có: thành viên của Quân đội miền bắc Việt Nam trước đây và Việt Cộng (đối với những người này có thể đưa ra lập luận rằng luật về phòng vệ áp dụng[47]), các nhân viên Việt Nam làm việc cho chính phủ Mỹ tham gia vào việc chuyển chất độc da cam trong Chiến dịch Operation Ranch Hand (như vậy khiếu kiện của những người này giống với các cựu chiến binh Mỹ), binh lính miền Nam Việt Nam những người đã thực hiện lệnh của Mỹ, thường dân của các nước không phải là đồng minh tình cờ bị tổn thương do việc trôi dạt của các đám mây chất diệt cỏ, hay những người có đất bị rải chất độc phá huỷ mùa màng, và rất nhiều các ‘nhóm” có thể được nhận diện khác, và các thế hệ hậu duệ (cả thế hệ thứ 2 và thứ 3) của mỗi nhóm nói trên. Nhóm nguyên đơn sẽ phức tạp thêm khi có thêm sự có mặt của các nạn nhân Lào và Campuchia. Trong khi hầu hết các nhóm nguyên đơn đều có mặt trong Hành động tập thể Việt Nam ở một mức độ nào đó, đề xuất của các nguyên là nhằm tổ chức thành một hành động tập thể không phải dựa vào quy chế pháp lý của nguyên đơn trong chiến tranh mà theo mức độ thương tổn họ phải chịu đựng.

Bất kỳ một hành động trong tương lai nào cũng đòi hỏi phải nhận diện được đúng các bị đơn. Nhận diện đúng bị đơn là một yếu tố quan trọng nhưng cuối cùng việc này đã không bao giờ được kiểm chứng tại phiên toà do việc giải quyết vấn đề Hành động tập thể của Mỹ. Do chất độc màu da cam được đóng trong các thùng không đánh dấu, nên không phân biệt được các sản phẩm của các công ty khác nhau, và mỗi sản phẩm của mỗi công ty lại có hàm lượng dioxin khác nhau. Tính không chắc chắn liên quan đến nhân thân của các bị đơn đã được thừa nhận trong đơn khiếu nại đã được sửa đổi trong Hành động tập thể Việt Nam bằng việc chỉ ra một số các bị đơn giả tưởng là Công ty hoá chất ABC 1-100 mà theo đơn kiện đã được sửa đổi đại diện “ tên thật và số lượng …các thực thể….mà các nguyên đơn không biết tới… sản xuất và cung cấp chất diệt cỏ để sử dụng trong chiến tranh Việt Nam từ 1961 đến 1975, hoặc là những công ty kế thừa quyền lợi của họ trong vấn đề trách nhiệm”.[48]

Trong Hành động tập thể Việt Nam, toà án đã không giải quyết đơn kiện cá nhân cho rằng không có mối liên hệ với việc sử dụng thuốc diệt cỏ do vụ án đã bị bác bỏ, và bất kỳ quá trình tố tụng nào trong tương lai đều có thể gặp khó khăn trong vấn đề này, nhất là khi liên quan đến việc phân bổ trách nhiệm.

Còn có những phức tạp khác xung quanh vấn đề quy chế pháp lý của cuộc chiến. Như Hành động tập thể của Việt Nam đã chỉ rõ, các hành động gây thiệt hại đã được loại bỏ nhằm chống lại các công ty sản xuất Chất độc màu da cam do điều khoản bảo vệ nhà thầu của Chính phủ. Mặc dù, trong mối liên hệ với chính phủ Mỹ, rất khó hình thành bất cứ một yêu cầu thực tế bồi thường thiệt hại nào bởi những người vốn là kẻ thù trong cuộc chiến, nhưng điều này còn phụ thuộc vào đặc tính của cuộc chiến. Nếu như cuộc chiến được coi là chiến tranh thì sau đó trong một hành động gây thiệt hại, có khả năng là bên bị có thể không phải chịu bất cứ một trách nhiệm nào đối với các nguyên đơn là kẻ thù và cũng có thể là họ chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các thường dân kẻ thù hoặc thậm chí là các thường dân là đồng minh của Mỹ. Tuy nhiên, có thể nó rằng cũng phải có trách nhiệm đối với những người làm việc trong các căn cứ quân sự của Mỹ và những người đã tiếp xúc với Chất độc màu da cam trong quá trình làm việc của họ.

Tuy nhiên, các còn có nhiều cách giải thích khác nhau. Giờ đây mọi người đã hiểu hành động được cho là đã dẫn đến Nghị Quyết về Vịnh Bắc bộ của Mỹ không phải là ‘hành động xâm lược trên vùng biển quốc tế’ và thực thế là điều đó hoặc đã không xảy ra hoặc là hành động trả đũa của Bắc Việt Nam nhằm đáp lại một loạt các chiến dịch bí mật và việc xâm phạm liên tục của Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam vào lãnh thổ Bắc Việt, điều này cho thấy lịch sử phương tây coi Bắc Việt là kẻ xâm lược là không chính xác.[49] Sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam được biện minh là hỗ trợ cho quân đội pháp theo Hiệp định về hỗ trợ quân sự chung ở Đông Dương năm 1950.[50] Các bên ký kết Hiệp định này [51] đã, ngoại trừ những điều khác, nhất trí “tiếp nhận trong phạm vi lãnh thổ của mình các nhân viên quân sự Mỹ trong trường hợp được yêu cầu và nhằm mục đích của Hiệp định này, dành cho các nhân viên quân sự đó mọi sự thuận lợi để họ có thể thực hiện các trách nhiệm đã được giao của họ một cách tự do và đầy đủ nhất.[52] Chính phủ Mỹ đã coi Hiệp định này là “văn kiện điều chỉnh vấn đề quy chế pháp lý của các nhân viên và cơ sở quân sự của Mỹ ở Việt Nam”.[53] Các hành động của Mỹ có thể được xếp là ‘hành động sen đầm’ với việc Nam Việt Nam tuyên bố tình trạnh khẩn cấp năm 1964 và chiến tranh năm 1965. Bắc Việt Nam đã cho rằng cuộc xung đột đơn thuần là xung đột trong nước, trong khi Mỹ lại giữ lập trường Bắc Việt Nam là kẻ xâm lược trong một cuộc xung đột vũ trang quốc tế. Giải quyết vấn đề này không những phức tạp về mặt pháp lý mà còn hết sức nhạy cảm về mặt chính trị, nhưng có khả năng sẽ ảnh hưởng đáng kể đến các quyền pháp lý của các nguyên đơn trong vụ kiện chính phủ Mỹ.

Tóm lại rõ ràng là sự phức tạp của các vấn đề pháp lý, thực tế là nhiều vấn đề không được kiểm chứng về mặt pháp luật và chi phí khổng lồ cho việc khiếu kiện là những nhân tố làm cho vụ kiện này không phù hợp nếu giải quyết thông qua các hình thức xét xử mặc dù có khả năng hoặc thành công khi kháng cáo, hoặc có một quyết định của toà án có lợi ở Việt Nam hay Mỹ, hoặc thậm chí có một hình thức giải quyết trước cả khi ra toà có thể đạt được. Tuy vậy, Khiếu kiện tập thể của Việt Nam đã nêu ra vấn đề trách nhiệm, và đã tạo ra nền tảng cho cả hai chính phủ tìm ra các phương thức xác định khác nhau và giải quyết tranh chấp.

Phần III- Xem xét các biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế khác

Phần này sẽ tìm hiểu cách giải thích một số vấn đề liên quan đến các thực thể được gọi là ‘các bên tranh chấp’ cũng như nêu lên một số cá lợi ích then chốt, nhu cầu và quan điểm có thể tác động đến các biện pháp giải quyết tranh chấp.

Mặc dù bài viết nói đến các bên liên quan là ‘Việt Nam’ và ‘Mỹ’ nhưng không hề có ý ám chỉ các thực thể đều thuộc một nhóm hay không thể thay đổi. Thực tế lại ngược lại, vì mặc dù rất nhiều cá nhân hay các nhóm lên tiếng đại diện cho mỗi quốc gia nhưng mỗi đại diện đều mang những quan điểm cá nhân, tổ chức mà sẽ tác động đến quan điểm của họ. Ví dụ Tổng thống, một nhân viên sứ quán hay một nghị sĩ tất cả có thể phát ngôn một cách hợp pháp hay đàm phán ‘thay mặt đất nước’ nhưng mỗi một người lại có những quan điểm, ưu tiên và quan tâm riêng. Vì vậy sự hiện diện các đại diện các bên có thể dẫn đến các kết quả khác nhau, và điều này phải được xem xét khi chọn lựa các cơ chế giải quyết tranh chấp phù hợp.[54]

Tuyên bố về lợi ích do chính phủ Mỹ đưa ra trong Khiếu kiện tập thể của Việt Nam nêu bật ý nghĩa chính trị của bất kỳ giải pháp nào đạt được thông qua hoạt động tố tụng đối với vấn đề này:

Các đơn kiện của bên nguyên đơn có tác động to lớn vì chúng (nếu được chấp thuận) sẽ mở tung cánh cửa toà án của hệ thống luật pháp Mỹ cho các cá nhân và binh lính của một nước trước đây vốn là kẻ thù của Mỹ. Cuối cùng quá trình tố tụng này sẽ là thách thức đối với các biện pháp mà Mỹ đã theo đuổi cuộc chiến tranh Việt Nam, và không tránh khỏi việc đưa đến vấn đề quyền tổng chỉ huy theo Hiến pháp của Tổnt thống và tạo điều kiện cho thiên hạ phê phán lại các quyết định tiến hành chiến tranh của Tổng thống.[55]

Rõ ràng là Mỹ và các công ty hoá chất sẽ chống đối mạnh mẽ bất kỳ quá trình tố tụng nào, trước hết là do mối lo ngại một quyết định bất lợi sẽ mở ra một luồng các khiếu kiện khác từ Afghanistan, Irac và vác quốc gia khác mà Mỹ đã từng dấy chiến tranh tại đó. Điều này cho thấy sự cần thiết có một biện pháp giải quyết tranh chấp thay thế khác. Theo Astor và Chinkin,

…tranh chấp không chỉ được xem xét một cách riêng rẽ hoặc bởi bản thân những người tranh chấp hoặc những người tham gia khác. Những vấn đề tưởng như xa lạ với tranh chấp thực tế và những người tranh chấp sẽ tác động đến thành công của bất kỳ một quá trình tìm kiếm giải pháp nào, phần do những người không chấp đóng vai trò, và giải pháp cho tranh chấp.[56]

Quá trình giải quyết tranh chấp không dựa trên hoạt động tố tụng có thể được lựa chọn nhằm tận dụng sự ủng hộ và hỗ trợ cho Việt Nam của một số nhóm người ở Mỹ. Ví dụ, các cựu chiến binh, các nhà hoạt động nhân quyền, các tổ chức môi trường ở Mỹ có thể gây ảnh hưởng chính trị mạnh mẽ đối với lập trường của Mỹ cũng như đối với truyền thông và dư luận quốc tế. Các nhóm vận động hành lang đã hoạt động tích cực ở Mỹ, với các tổ chức như Hội cựu chiến binh Việt Nam của Mỹ đã có vai trò mang tính công cụ trong việc thúc đẩy các hội nghị khoa học chung và ủng hộ việc:

Chính phủ Mỹ và các công ty hoá chất đã bán hóa chất [Chất độc màu da cam] phải có trách nhiệm đạo đức đền bù cho những người Việt Nam đã phải chịu đựng do việc tiếp xúc với chất làm rụng lá trong chiến tranh Việt Nam.[57]

Hành động tập thể Việt Nam cũng đã không tính đến thực tế là Việt Nam không phải là nước duy nhất bị thiệt hại do Chất độc da cam trong chiến tranh Việt Nam-Mỹ khi mà một lượng lớn chất độc cũng được rải ở Lào và Campuchia. Việc kết hợp với hai nước này vào có thể tạo ra một tinh thần liên minh và quyết tâm mạnh mẽ hơn, một sự liên kết chắc chắn hơn và có thể gánh đỡ bớt chi phí của việc kiện tục. Việc này cũng có thể làm cho Mỹ có thêm động cơ để giải quyết tranh chấp thông qua việc tạo cơ hội cho các yêu sách nảy sinh từ cuộc chiến tranh Mỹ- Việt Nam được giải quyết một cách đồng thời.

Tuy nhiên, các nước liên quan ở Đông Nam Á cũng cần nhận thức được các lợi ích và quan điểm khác nhau giữa họ, và cũng phải ý thức được sự căng thẳng giữa các quốc gia và khả năng Mỹ đang tính đến chiến lược ‘chia để trị’ trong quá trình đàm phán. Những đau thương trong lịch sử có thể tác động đến mối quan hệ giữa các nước này là “tranh chấp lãnh thổ đã có nguồn gốc lịch sử và dân tộc lâu đời, dai dẳng” giữa Việt Nam và Campuchia. Điều này đứng độc lập với những tính toán ngắn hạn dưới những cái tên như lợi ích, nhu cầu hay cùng ý thức hệ.[58]

Vấn đề danh dự và ‘thể diện’ quốc tế cũng là những động lực quan trọng cho cả Việt Nam và Mỹ. Theo Farrell khẳng định “danh tiếng là một nhân tố xuất phát từ mong muốn của Việt Nam là nhằm tạo ra một bản sắc dân tộc và nhằm có được sự công nhận và thừa nhận về vị thế đã thay đổi của họ [là một thực thể đã lớn mạnh và độc lập]”[59]. Lịch sử đấu tranh, cả về ý thức hệ và thực chất, giữa các bên đã làm cho vấn đề thể diện đặc biệt quan trọng. Fisher và Ury coi “giữ thể diện liên quan tới việc làm hài hoà giữa một thoả thuận với các nguyên tắc và hình ảnh của bản thân những người đàn phám. Không nên đánh giá thấp tầm quan trọng của việc này.” [60]

Có thể thấy một mức độ thực dụng cao trong kiện cáo của Việt Nam về chất độc da cam. Thay vì xem xét khả năng trừng phạt hay đòi hỏi công lý như các nhà hoạt động nhân quyền phương Tây như Tatchell cổ vũ,[61] Việt Nam chủ yếu tập trung vào vấn đề đền bù. Theo Việt Nam lập luận, cái giá của việc khôi phục công lý quá cao khi mà các gia đình nạn nhân đều không có nguồn tài chính để chi trả cho các nhu cầu y tế cơ bản của các nạn nhân. Ngược lại, tính nhậy cảm của Mỹ đối với chiến tranh Việt Nam, mặc dù không còn mạnh mẽ như trong các thập kỷ trước, cũng có thể cản trở thành công của tiến trình gải quyết vụ việc theo hướng hoà giải. Không có sự nhận diện của các bên liên quan với mục tiêu đạt được một quá trình giải quyết tranh chấp, khả năng thành công sẽ ở mức độ thấp nhất. Chính vì lý do này mà cơ chế nhằm khôi phục lại công lý như là hoà giải mang tính chuyển tiếp hoặc các uỷ ban theo hướng hội đồng hội đồng hoà giải đều không được xét tới trong bài viết này.

Các tính toán tài chính là hết sức quan trọng đối với Việt Nam. Các bước được coi là theo thông lệ của một hệ thống khiếu kiện như tìm hiểu, giữ người làm chứng và các bước đàm phán đòi hỏi chi phí rất cao. Khiếu kiện tập thể của Mỹ đã đưa ra mức chi phí có thể đạt được – phí trước phiên toà lên đến 40 triệu đôla, khoản này bằng với 0,12% GDP hàng năm của cả Việt Nam.[62] Người Việt Nam coi khoản tiền đó là không biện minh được, và chi phí cho kiểm tra khoa học không nằm trong tính toán của họ. Một nạn nhân chất độc da cam cho biết “để kiểm tra một gia đình tốn tới 1000 đôla Mỹ…. Nếu như chúng tôi có số tiền như thế thì cho các gia đình chẳng tốt hơn sao?”[63] Bởi vậy quan tâm chính của Việt Nam (và các nước Đông Nam Á khác) là cơ chế giải quyết tranh chấp phải tốn ít chi phí càng tốt.

3.1 Đàm phán

Theo đã trình bày ở trên, hành động pháp lý có vai trò thúc đẩy các bên đi đến đàm phán với nhau. Có hai khả năng cho việc đàm phán ad hoc: một là các bên đàm phán thực chất nhằm giải quyết vấn đề; thứ hai, các bên đàm phán để thoả thuận về một mô hình giải quyết tranh chấp mang nhiều tính tổ chức (structured) như Điều tra hay Trọng tài. Do không tồn tại các quy định về quyền tài phán mang tính chất bắt buộc áp đặt cứ bên nào phải tham gia vào việc giải quyết tranh chấp nên đàm là một nhân tố không thể thiếu trong bất kỳ một cơ chế giải quyết tranh chấp khác mà các bên có thể sử dụng.

Lợi ích của một giải pháp thông qua đàm phán là bản thân quá trình này không đòi hỏi bất kỳ một nền tảng nào dưới hình thức cơ bản như các thoả thuận hay cơ quan xét xử và nó cho phép các bên liên quan có hoàn toàn chủ động đối với vấn đề thời gian và nội dung đàm phán. Một lợi ích quan trọng khác trong vụ kiện hiện nay là một giải pháp có được nhờ đàm phán có thể tránh được một tuyên bố về trách nhiệm, và do đó sẽ cho phép cả 2 bên giữ được thể diện. Đàm phán là một nhân tố phổ biến trong quan hệ giữa các quốc gia, được thực hiện thông qua các kênh ngoại giao, các cuộc tiếp xúc giữa các chính phủ và các tổ chức quốc tế. Trong trường hợp Việt Nam và Mỹ, phần lớn việc đàm phán về bồi thường thiệt hại do Chất độc màu da cam đã diễn ra thông qua các kênh ngoại giao và khi nào cũng vậy, vấn đề này chỉ được thảo luận trong một nhóm các vấn đề chính trị khác như cựu binh Mỹ mất tích trong chiến tranh (MIA), nhân quyền, hỗ trợ kinh tế và cơ cấu lại các khoản nợ. Đây là biểu hiện của quyền lực mà theo truyền thống Mỹ đối xử với VN trong quan hệ của mình với nước này. Để bảo đảm việc có tiến bộ trong đàm phán giả quyết tranh chấp, Việt Nam cần phải đảm bảo rằng đàm phán ngoại giao chỉ gói gọn trong vấn đề giải quyết hậu quả chất độc da cam.

Đàm phán thông qua ‘Môi giới’ và Đàm phán cấp cao là hai hình thức đàm phán khác nữa. Việc sử dụng môi giới về bản chất có thể tận dụng vị trí trung lập mà bên thứ 3 đưa ra, người mà có thể có vai trò như nhà đàm phán con thoi trong một số hòan cảnh nhất định. Điều này cho phép các bên liên quan giữ được thể diện trong một số hoàn cảnh mang nặng tính tình cảm. Đàm phán cấp cao bao gồm các cuộc tiếp xúc giữa các nguyên thủ quốc gia có thể được dùng cho nhiều lý do, trong đó có việc tạo ra niềm tin vì lợi ích của cộng đồng. Đây cũng là một nhân tố ‘giữ thể diện’ bằng cách cho thấy giải quyết tranh chấp một cách ép buộc là không cần thiết và các bên liên quan có mối liên hệ công tác mạnh mẽ với nhau. Theo Merrills nhận xét:

ngoại giao cấp cao có thể tạo thuận lợi cho thỏa thuận bằng cách cho phép các thủ tục hành chính được bỏ qua ở một mức độ nhất định trong khi đưa ra một giải pháp để thỏa thuận dưới hình thức nâng cao danh tiếng cho các nhà lãnh đạo có liên quan. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng ngoại giao cấp cao thường là đỉnh cao của rất nhiều cuộc đàm phán thông thường khác và ít nhất trong một số trường hợp phản ánh không gì khác ngoài mong muốn tạo ra lợi ích chính trị từ một thoả thuận vốn đã được định sẵn.[64]

Ngoài ra, Astor và Chinkin cũng nhận xét

thực tế bao trùm của đàm phán quốc tế là việc liên tục gửi các thông điệp chung và cá nhân và kiểm tra lập trường của các bên trong quá trình giao tiếp chính thức và không chính thức Có nhiều mục đích cho việc liên lạc và không phải lúc nào các mục đích cũng được định hình trước chứ chưa nói đến có thể dẫn đến giải quyết được tranh chấp.[65]

Cho dù cách xử sự có được tính toán trước hay không, thì thông điệp chính thức và cá nhân rõ ràng mà Mỹ gửi đi cho thấy việc giải quyết thông qua đàm phán sẽ hạn chế cơ hội thành công. Nếu để ý đến tinh thần trong tuyên bố trích ở phần trước của nhân viên Sứ quán Mỹ và các hình thức đàm phán trước đây, có vẻ như đàm phán ad hoc hay cấp cao sẽ có rủi ro là không thúc đẩy được tranh chấp tiến tới một giải pháp mà độc lập với các vấn đề chính trị khác. Các nhà đàm phán ngoại giao cũng có trách nhiệm nặng nề đối với những người ủng hộ họ, những người ở nước ngoài bao gồm cả cộng đồng người di tản và những người làm ăn với phía bên kia. Quan hệ thương mại được cả hai bên đánh giá cao và bởi vậy điều quan trọng đối với các nhà ngoại giao là không được làm tổn hại đến mối quan hệ đang manh nha giữa hai quốc gia, và cũng không được làm phương hại tới những lợi ích trong nước của các công dân nước mình. Điều này có thể dẫn tới việc tránh đi chứ không giải quyết những lĩnh vực tranh chấp quan trọng. Đây là vấn đề thực sự được quan tâm trong trường hợp quan hệ Việt Nam-Mỹ, trong đó các kênh ngoại giao đều khá mới nhưng đã có một lượng lớn các vấn đề ngoại giao đòi hỏi phải thảo luận.[66]

Mặc dù đàm phán với tư cách là phương thức duy nhất giải quyết tranh chấp nhưng dường như không hoàn toàn phù hợp cho tranh chấp này nhưng đàm phán có thể tiếp tục giải quyết các vấn đề thủ tục nhằm xác định hình thức một cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính tổ chức. Merrills đã chỉ ra rằng phương thức này có những lợi ích đáng kể khi mà một bên được đòi hỏi phải nhượng bộ một cách đáng kể đáp ứng, như trong vụ tranh chấp Hồ Lanoux trong đó “thoả thuận cuối cùng của các bên giải quyết tranh chấp dựa vào trọng tài đã mang lại lợi ích cho cả hai quốc gia trong việc giải quyết dứt điểm vấn đề đã được đàm phán suốt 40 năm và trong việc xoá bỏ được một vấn đề hết sức gai góc giữa Pháp và Tây Ban nha”. [67]Các biện pháp các bên liên quan có thể dựa vào gồm trọng tài, hoà giải, trung gian và điều tra.

3.5 Trọng tài

Hầu hết các trọng tài quốc tế thường được đề cập tới một tòa trọng tài trên cơ sở một điều khoản giải quyết tranh chấp mang tính bắt buộc trong một hiệp định quốc tế. Tuy nhiên, vẫn có cơ hội cho tranh chấp như vấn đề bồi thường thiệt hại do Chất độc màu da cam được đưa ra tòa trọng tài trên cơ sở sự nhất trí của các bên. Trọng tài là một biện pháp giải quyết tranh chấp phổ biển và dễ hiểu đối với cả Mỹ và Việt Nam và cho phép các bên quyết định phạm vi điều tra, các kết quả giải quyết tranh chấp có thể có và tính chất của trọng tài. Theo Merril, Vụ Beagle Channel[68] đã cho thấy việc lựa chọn một hội đồng trọng tài đã có thể đưa tới một giải pháp mà cả 2 cùng thắng vì trong vụ đó một bên muốn giải quyết vụ việc bằng con đường xét xử bằng Tòa án quốc tế nhưng đã không đáp ứng yêu cầu của phía bên kia muốn vụ việc được xét xử bằng trọng tài bao gồm các luật gia.

Một số các tổ chức quốc tế đã dự thảo các quy tắc về việc hoạt động của trọng tài và đã thông qua một số các quy tắc nhằm tránh các bất đồng về thành phấn và quy tắc trọng tài tiến hành. Một trong các hình thức trọng tài trọng tài được sử dụng phổ biến nhất là quy tắc trọng tài UNCITRAL được thông qua năm 1976.[69] Các thể chế như Tòa trọng tài thường trực quốc tế có thể cung cấp địa điểm cho trọng tài ở nước thứ 3.

Tòa trọng tài giả quyết yêu sách bồi thường Mỹ-Iran là một hình mẫu giá trị về hệ thống trọng tài mang tính thể chế được thành lập để nghe các yêu sách của cá nhân và nhà nước. Tòa trọng tài này được thành lập năm 1981 theo Tuyên bố về giải quyết các yêu sách và đã giải quyết xấp xỉ 4000 yêu sách kể từ khi được thành lập.

Một trong những ưu điểm của hình thức giải quyết tranh chấp này là cả tranh chấp Nhà nước-Nhà nước và tranh chấp Nhà nước-cá nhân đều có thể được giải quyết theo một hệ thống các quy tắc được chính thức hóa, sử dụng việc kết hợp luật của cả mỗi nước. Sau khi nhất trí về nguyên tắc các điều khoản của việc bồi thường[70], mỗi cá nhân hoặc các gia đình có thể được coi là một tranh chấp riêng lẻ và được giải quyết theo từng trường hợp cụ thể. Trong khi điều này tránh được các vấn đề hành động tập thể đi cùng với các hành động riêng trong nước Mỹ, một vấn đề tồn tại là địa điểm cho trọng tài và các chi phí đi cùng với việc tham dự và đại diện của các bên Việt Nam.

Trọng tài sẽ là một trong nhiều hình thức giải quyết tranh chấp được các bên ủng hộ nếu mà các bên có khả năng đạt được một thỏa thuận sơ bộ và nếu như họ tìm kiếm một giải pháp cuối cùng, có thể được thi hành, mang tính tổ chức cho các yêu sách và một biện pháp bảo đảm rằng việc bồi thường thiệt hại được phân bổ trong các thành viên của các nhóm nạn nhân trên cơ sở từng cá nhân một. Bất tiện lớn nhất sẽ là vấn đề chi phí đi kèm với việc nge từng vụ ciệc và các khó khăn trong việc thi hành các biện pháp bảo đảm việc nge tranh tụng là công bằng và có thể chấp nhận được với cả 2 bên.

3.3 Hội đồng Hoà giải

Hội đồng Hoà giải, giống như trọng tài, là phương pháp giải quyết tranh chấp trên cơ sở đồng thuận khi mà thẩm quyền của các tổ chức giải quyết tranh chấp được các bên trao cho thông qua thỏa thuận của các bên.

Tuy nhiên, trong mối quan hệ với mức độ tự chủ dành cho các bên tranh chấp, Hội đồng trọng tài hoàn toàn khác biệt với Trọng tài. Khi mà một trọng tài viên chỉ có thể đưa ra phán quyết phù hợp với mong muốn mà các bên tìm kiếm, phạm vi vai trò của Ủy ban Hòa giải không phải là việc phân xử và quyết định trong bất cứ trường hợp nào không bị hạn chế trong các yêu cầu mà các bên tìm kiếm. Điều này tạo ra cơ hội cho một giải pháp cùng thắng hơn là giải pháp bên được bên thua vốn được coi là kết quả của trọng tài hoặc quá trình tố tụng.

Như Raiffa đã chỉ ra nhấn mạnh, hoà giải viên đóng một số vai trò và tạo ra một cơ chế có ý nghĩa cho các bên trong việc giữ thể diện và hạn chế sự khác biệt của họ vào các vấn đề nội dung hơn là các vấn đề mang tính thủ tục. Một số vai trò của hoà giải mà Raiffa gợi ý bao gồm:

– Giúp việc trao đổi thông tin (trước đàm phán, ngoại giao con thoi);

– Thăm dò nhu cầu đàm phán ở cấp thâp hoặc bằng cách không chính thức;

– Giúp tạo các thuận lợi, tóm tắt các tranh chấp, chuẩn bị các văn kiện đưa ra công khai;

– Giúp thiết lập quan hệ, ổn định và kiểm soát tình cảm của những người chủ chốt, tạo điều kiện xoá bỏ các tranh cãi mang tính cá nhân và cách ly con người khỏi vấn đề;

– Tạo điều kiện bằng việc can thiệp có tính chất phân tích trong việc giải quyết vấn đề, tìm hiểu các cơ hội không chác chắn, dự đoán, sử dụng các mô hinh bơỉ các chuyên gia trung lập, giúp đỡ các bên xây dựng các nô hình mẫu mà có thể được sử dụng một cách riêng lẻ hay tập thể;

– Tạo điều kiện chuẩn bị các thoả thuận mang tính thoả hiệp, khai thác các khác biệt trong việc đánh giá về khả năng xảy ra của một sự việc, việc không thích mạo hiểm, các thỏa hiệp tạm thời và giá trị của chung và các nhu cầu mang tính hình thức khác.[71]

Cũng giống như trọng tài, Hội đồng hoà giải được đưa ra dưới sự bảo trợ của nhiều tổ chức, bao gồm Toà trọng tài thường trực. UNCITRAL cũng đã dự thảo quy tắc cho Hội đồng hoà giải và đã được hoàn tất vào năm 1980 mà cũng giống như quy tắc trọng tài, có các lợi thế của việc cần thiết phải thảo luận về các vấn đề thủ tục bằng cách thông qua một mô hinh mẫu mang tính quốc tế được chấp nhận.

Merrils cũng chứng minh một số các ví dụ thành công của hình thức hội đồng hòa giải ad hoc bao gồm Ủy ban hoà giải Pháp – Xiêm năm 1947, và đặc biệt là ví dụ về Ủy ban Hòa giải Bỉ – Đan Mạch năm 1952. Trong Vụ giữa Bỉ- Đan Mạch, Chính phủ Đan Mạch đã yêu cầu chính phủ Bỉ bồi thường thiệt hại do mất 2 tàu buôn trong thời gian chiến tranh khi Bỉ bị Đức xâm lược.Vấn đề pháp luật khá phức tạp là xác định tính chất của tranh chấp, nhưng hội đồng hòa giải đã bị chia rẽ đối với cách tiếp cận vấn đề pháp lý phù hợp. Điều đó đã được xử lý khi Hội đồng bỏ qua những vấn đề chưa được giải quyết này và đề xuất một giải pháp tổng thể có tính đến những vấn đề không rõ ràng về mặt pháp lý.[72] Có rất nhiều điểm giống nhau giữa vụ tranh chấp Bỉ- Đan Mạch và vụ tranh chấp giữa Mỹ- Việt Nam và vụ việc cho thấy khả năng sử dụng thủ tục hội đồng hòa giải. Cuối cùng một ưu điểm khác của hội đồng hòa giải là nó có thể kết hợp rất tốt với các thủ tục khác để tạo ra một thủ tục mang tính kết hợp như Hội đồng hòa giải – trọng tài (được đề cập dưới đây).

3.4. Hoà giải

Hoà giải có thể được coi như là một hình thức đàm phán có định hướng hay có tổ chức (structured) với người hoà giải đóng vai trò làm bên thứ 3 trung lập trong việc tạo thuận lợi hoặc định hướng cho các bên nhằm đạt tới một giải pháp cho tranh chấp của họ. Trên trường quốc tế, rất nhiều tổ chức quốc tế như là Liên hợp quốc, Hội chữ thập đỏ quốc tế đề xuất việc thực hiện vai trò của người hoà giải; vai trò người hòa giải cũng có thể do một quan chức nhà nước cao cấp của một quốc gia trung lập thứ 3 đảm nhiệm. Giống như đàm phán, bản chất thoả thuận của hoà giải làm cho việc các bên tham dự đầy đủ vào quá trình trở thành hết sức cần thiết nếu như tranh chấp được giải quyết.

Phẩm chất cá nhân của người hoà giải đóng vai trò then chốt trong tiến trình hoà giải do công việc hết sức quan trọng của người hòa giải là thiết lập mối quan hệ với tất cả các bên và khuyến khích họ bày tỏ lợi ích, thực hiện việc nhân nhượng, xem xét các đề xuất và các phản đề xuất về giải pháp cho tranh chấp. Một chức năng quan trọng khác của người hoà giải là kiểm tra thực tế bất cứ một giải pháp nào được đưa ra nhằm bảo đảm rằng các bên sẽ tự nguyện và có khả năng thực hiện thỏa thuận của mình – điều này đặc biệt quan trọng khi mà bản thân những nhà hoà giải không có thẩm quyền ép buộc các bên phải giữ quyết định và ở cấp độ quốc tế không có việc đưa ra một toà án do sự vi phạm thoả thuận về giải quyết tranh chấp. Boule[73] đã xác định 4 loại hoà giải khác nhau, trong mỗi loại đó các nhà hoà giải sẽ đóng các vai trò khác nhau:

Hoà giải nhằm giải quyết: tập trung vào việc tìm ra một giải pháp thỏa hiệp giữa các quan điểm đã được ấn định và thông thường chỉ liên quan riêng đến việc bồi thường thiệt hại mang tính chất tiền tệ;

Hoà giải mang tính chất hỗ trợ trong đó hoà giải viên “tiến hành việc hoà giải theo một giới hạn chặt chẽ nhằm xác định vấn đề một cách toàn diện, tập trung vào nhu cầu và lợi ích của các bên và cố gắng xây dựng một giải pháp mang tính đột phá mà các bên có thể áp dụng vào giải quyết vấn đề”;[74]

Hoà giải mang tính liệu pháp: tập trung chủ yếu vào vấn đề bên trong quan hệ giữa các bên mà gây ra tranh chấp. Loại hình này thường được đề cập tới như là hình thức hoà giải chuyển tiếp; và

Hoà giải mang tính chất đánh giá: trong đó chuyên môn cá nhân của nhà hoà giải được sử dụng để “định hướng và đưa ra lời khuyên” cho các bên. Hoà giải mang tính chất đánh giá thường được tiến hành bởi các luật sư hoặc cách chuyên gia về lĩnh vực tranh chấp, những người có khuynh hướng sử dụng sự phán đoán của họ về các kết quả có thể xảy ra tại trọng tài hoặc quá trình tố tụng để hướng các bên tới một giải pháp.

Như đã được nêu ở phần đầu của phần này, tập trung chính của Việt Nam chủ yếu là trên vấn đề bồi thường thiệt hại, do việc công lý được phục hồi về thực chất được xem là một việc làm quá tốn kém. Cũng tương tự như vậy, dường như có một nhận thức mang truyền thống văn hóa và lịch sử như là những cân nhắc mang tính lâu dài và không có một nhận thức giống nhau là quan hệ cần được hàn gắn – hơn là quan hệ tự nó sẽ được hàn gắn qua thời gian. Điều này hoàn toàn trái ngược với nhận thức của Phương tây là việc “khép lại” xung đột là hoàn toàn cần thiết và mối quan hệ cần được khôi phục lại một cách tích cực. Vì những lý do này, dường như việc hòa giải mang tính liệu pháp có thể không thích hợp trong bối cảnh. Ở một khía cạnh khác, việc tập trung vào đòi bồi thường thiệt hại không có nghĩa là việc giải quyết thông qua hòa giải là một lựa chọn thích hợp. Nếu như đề xuất một hòa giải viên, các bên cần lưu ý là tư cách cá nhân của hòa giải viên, mức độ tin cậy của người này với bên kia và có hay không việc hòa giải do hòa giải viên đó tiến hành phù hợp với ý tưởng của các bên về việc họ muốn tranh chấp được giải quyết thế nào.

3.5 Uỷ ban điều tra:

Đặc điểm chính của một Uỷ ban điều tra để phân biệt nó với các loại hình xét xử khác là phạm vi vai trò của Uỷ ban điều tra:[75] dù là lâm thời hay mang tính thể chế, vai trò các thành viên uỷ ban được giới hạn trong việc tìm hiểu thực tế hơn là đưa ra một quyết định giải quyết tranh chấp. Nhìn chung, uỷ ban không có quyền quyết định bất cứ vấn đề pháp luật hoặc quyết định chính thức bất cứ hình thức trách nhiệm nào, mặc dù Bar Yaacov giải thích rằng thuật ngữ điều tra đã không được sử dụng một cách đồng nhất trong cả thực tiễn lẫn trong việc nghiên cứu, ghi nhận rằng một loạt các hoạt động tìm hiểu thực tế do Liên hợp quốc (hoặc Hội quốc liên trước đây) tiến hành thường được đề cập tới như là “hoạt động điều tra”.[76]

Ví dụ về sự thành công của Ủy ban điều tra bao gồm Nhóm điều tra tình hình Hungary (1956), Uỷ ban đặc biệt về chính sách Apertheid của chính phủ Cộng hoà Nam phi (1961), Uỷ ban điều tra của Liên hợp quốc về các sự kiện biên giới Hy Lạp (1946), về các xung đột biên giới giữa Honduras và Nicaragua (1957), Panama và Cu Ba (1958), và giữa Venezuela và Cộng hoà Dominicana (1960).

Các quy định pháp lý chính được pháp điển hóa về Ủy ban điều tra được phát triển từ các Công ước La Hay về Giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế năm 1899 và 1907. Quy tắc thủ tục lựa chọn cho Ủy ban điều tra về tìm hiểu sự thật của của Toà trọng tài thường trực đã được thông qua năm 1997 và một lần nữa được dựa trên quy tắc UNCITRAL.

Tác giả bài viết cho rằng một Uỷ ban điều tra là hình thức hoàn toàn thích hợp cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại do Chất độc màu da cam giữa Việt Nam-Hoa Kỳ. Cụ thể, việc thiết lập một uỷ ban với đại diện từ cả 2 nước và với một chủ tịch uỷ ban là người trung lập sẽ cho phép việc xem xét và thẩm định thiệt hại mà không động chạm đến vấn đề pháp lý và vấn đề trách nhiệm. Điều này là có lợi cho cả hai bên vì nếu xét từ quan điểm của Việt Nam, các tranh cãi pháp lý tốn kém và những hành động tạm thời có thể tránh được, còn đối với phía Mỹ, vấn đề trách nhiệm sẽ không được thảo luận. Trong khi điều này một thập kỷ trước đây có thể không phải là một nhân tố mang tính thúc đẩy mạnh mẽ cho phía Mỹ nhưng do kết quả của việc ngiên cứu gần đây ở Mỹ, người ta đã thừa nhận rằng:

“Chính phủ và những nhà sản xuất Chất độc màu da cam không nghi ngờ gì đã biết trước khi Chất độc mau da cam được rải là dioxin là một chất rất độc hại có thể đưa đến những nguy hiểm cho những người tiếp xúc…. Cũng có những lý do để tin rằng ca chính phủ lẫn những nhà sản xuất đều không thực hiện trách nhiệm tiến hành những thí nghiệm và kiểm tra thích hợp trước khi sản xuất và sử dụng hóa chất, tiết lộ nhanh chóng về các nguy hiểm và thi hành các biện pháp đề phòng cần thiết thông qua việc cảnh báo và các việc làm tương tự”.[77]

Thêm vào đó, các tài liệu trước đây được coi là bí mật vào thời điểm ban hành Nghị quyết về vấn đề Vịnh Bắc Bộ đã được công bố và cho thấy các lý do mà Chính phủ Mỹ cho rằng các hành động xâm lược đã diễn ra, thực tế, đã được tô vẽ một cách cẩu thả nhằm phục vụ mục đích chính trị.[78]Các phản ứng trong nước và quốc tế về việc Mỹ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác là đáng kể và việc thảo luận vấn đề này trong bối cảnh cuộc chiến Việt Mỹ và vấn đề trách nhiệm của Mỹ sẽ tạo thêm các phản ứng tiêu cực từ phía dư luận.

3.6 Các thủ tục mang tính kết hợp:

Bản chất thỏa thuận của các thủ tục giải quyết tranh chấp có nghĩa là các cũng có thể đưa ra một hình thức giải quyết tranh chấp mang tính kết hợp, theo đó các bên thỏa thuận trước việc chuyển từ thủ tục này sang thủ tục khác trong trường hợp không đạt được giải pháp cho tranh chấp.

Một số thủ tục mang tính kết hợp có khả năng đáp ứng các nhu cầu và lợi ích của các bên bao gồm:

Kết hợp giữa hoà giải-trọng tài: đây là một hình thức phổ biến cho việc giải quyết tranh chấp trong nước do nó cho phép các bên cơ hội đạt được một thoả thuận thông qua việc đồng thuận, nhưng họ được bảo đảm rằng một thỏa thuận mang tính ràng buộc cuối cùng sẽ được một Hội đồng trọng tài đưa ra trong trường hợp việc hòa giải không đưa tới giải pháp cho tranh chấp. Các bên cũng có thể muốn thỏa thuận về tính chất của Hội đồng trọng tài trước khi đưa ra hoà giải hoặc họ cũng có thể tìm kiếm việc chỉ định một Hội đồng trọng tài như là kết quả cuối cùng của việc hoà giải. Việc kết hợp này cho phép cả 2 bên cơ hội thiết lập quan hệ giữa các bên (thông qua hoà giải) với việc tin tưởng là tranh chấp cuối cùng sẽ được giải quyết vào thời điểm kết thúc của quá trình giải quyết tranh chấp với một quyết định trọng tài có thể được thi hành.

Kết hợp giữa Hội đồng hòa giải – trọng tài: Có các đặc điểm tương tự như việc kết hợp giữa hoà giải – trọng tài được nêu trên, hình thức này là một lựa chọn cho phép tranh chấp được giải quyết thông qua Hội đồng duy nhất mà vai trò của Hội đồng sẽ được chuyển từ là người tạo điều kiện thuận lợi sang người xét xử nếu như thỏa thuận không đạt được ở thủ tục thứ nhất (Hội đồng hòa giải).

Kết hợp giữa hòa giải – Hội đồng hòa giải: Thủ tục này có một số điểm tương tự như thủ tục Hội đồng hòa giải- trọng tài nêu trên ngoại trừ việc các bên giữ một quyền kiểm soát về phạm vi của giải pháp và xem xét một loạt các giải pháp trong phạm vi lớn hơn do Hội đồng đưa ra.

Kết hợp giữa điều tra – đàm phán: thủ tục này có lợi thế là tránh được vấn đề trách nhiệm hoặc việc áp đặt một giải pháp thông qua xét xử đối với các bên. Sử dụng Uỷ ban điều tra có thể tuyên bố về các vấn đề thiệt hại chính và các bên sau đó có thể tự đàm phán về một thoả thuận giữa họ.

Kết hợp giữa điều tra – trọng tài: như đã được trình bày ở trên, thủ tục này cũng như các thủ tục khác có lợi thế trong việc tránh đề cập vấn đề trách nhiệm. Tuy nhiên, nó khác là một biện pháp được ấn định cho việc phân bổ và phân xử các yêu sách cá nhân được quyết định và do đó được quyết định một cách duy nhất bằng bên thứ 3.

KẾT LUẬN

Thiệt hại do chất độc màu da cam chỉ là một trong nhiều loại thiệt hại mà cuộc chiến tranh Việt Nam gây ra cho con người, môi trường cũng như quan hệ giữa các quốc gia. Trong khi rất nhiều các vết thương tình cảm cần thời gian để hàn gắn một cách đầy đủ, cơ hội nắm bắt vấn đề thiệt hại đối với con người và môi trường ở Việt Nam không nên bị bỏ qua hoặc phải chờ đợi bởi các tính toán chính trị không cần thiết.

Hành động tập thể Việt Nam có thể có thế mạnh khi kháng cáo, tuy nhiên mục đích của bài viết này cho rằng việc chỉ tập trung vào kháng cáo có thể là sai lầm. Có các bằng chứng hết sức thuyết phục và mạnh mẽ về các thiệt hại ở Việt Nam là do Chất độc màu da cam gây ra bất kể chúng có được coi là thích hợp cho quá trình tố tụng hay không. Trong khi quá trình tố tụng đòi hỏi các nguyên đơn phải cung cấp một số loại chứng cứ nhất định, các biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính thay thế khác có khả năng chấp nhận những thực tế này, với thực tế là hai bên sẽ phải bỏ ra một chi phí lớn hơn nhiều lần số tiền tranh chấp thực tế để chứng minh yêu sách của mình. Nói một cách đơn giản, hàng triệu đô la để chứng minh và phản lại các chứng minh về nguyên nhân thiệt hại ở Việt Nam có thể được sử dụng một cách hữu hiệu và dễ dàng hơn ở Việt Nam để giảm nhẹ các nỗi đau mà người dân ở đây phải gánh chịu và phần nào đó có thể bù đắp cho những thiệt hại về môi trường.

Phần thứ III của bài viết này giới thiệu một loạt các cơ chế khá tiết kiệm mà có khả năng giải quyết vấn đề theo cách thích hợp cả về mặt chính trị và pháp lý. Mục đích của bài viết này không phải là gợi ý một biện pháp duy nhất nào mà thay vào đó giới thiệu một loạt các biện pháp giải quyết tranh chấp hiện có. Việc lựa chọn thận trọng trong số các biện pháp này sẽ không những thoả mãn các nhu cầu và lợi ích thiết yếu của các bên mà còn cho phép giả quyết tranh chấp và các vấn đề cơ bản của cuộc chiến tranh đồng thời tạo động lực cho việc phát triển hơn nữa quan hệ Việt – Mỹ.


* Giảng viên và nghiên cứu viên tại Trung tâm luật công, luật ưuốc tế và luật so sánh, Trường Luật TC Beirne, Trường đại học tổng hợp Queensland, Australia. Email: l.toohey@law.uq.edu.au. Tác giả xin chân thành cám ơn giáo sư Camille Cameron, trường đại học Melbourne vì sự dộng viên và chỉ dẫn mang tính xây dựng của bà đối với bài viết này.[1] Bài viết này chủ yếu chỉ tập trung vào Việt nam, tuy nhiên, các cơ chế giải quyết tranh chấp được thảo luận trong bài viết cũng hoàn toàn phù hợp cho Lào và Campuchia. Các vấn đề liên quan tới một hành động tập thể của 3 nước sẽ được giời thiệu tóm tắt ở phần sau.

[2] Viện Y học, Cựu chiến binh và chất độc màu da cam, các tác động sức khoẻ của hoá chất diệt cỏ được sử dụng ở Việt Nam, (1994), Washington., D.C., National Academy Press, at 74, extracting Bionetics Research Labaratories (1968), Evaluation of Carcinogenic, Teratogenic, and Mutagenic Activities of Selected Presticides and Industrial Chemicals.

[3] Institute of Medicine, Updated Summary of Findings in Occupational, Enviromental and Veterans Studies Regarding the Association between Specific Heath Outcomes and Exposure to Herbicides (2000), at 3.

[4] Có một số bằng chứng, mặc dù còn chưa đầy đủ về việc Australia đã sử dụng Chất độc màu da cam ở một số khu vực xung quanh, kể cả vùng Núi Đất. Xin xem Dux, J. and Young, Agent Orange: The Bitter Harvest. (1980). Toronto, Hodder and Stoughton).

[5] In Re Agent Orange Production Liability 611 F. Supp. 1396 (E.D.N.Y. 1985) sub norm. Michael F. Ryan at al, Plaitiffs, v. Dow Chemical Company, et al, Defendants. MDL No. 381. 79-C-747, In Re Agent Orange Product Liability 611 F. Supp. 1267 (E.D.N.Y. 1985), aff’d, 818 F.2d 187 (2d Cir), petition for cert. filed sub nom. Lombardi v. Dow Chem. Co., 56 USL. W. 3249 (No. 87-436, Dec. 15, 1987).

[6] Brunnstrom, D. Vietnam Blood Dioxin Levels “Startling”- US Expert (2002). Reuters News Service.

[7] Satchell, M. Questions in a Village (1999), US News and World Report,.126: 62

[8] Có một quan điểm được thừa nhận chung về các sự kiện cho thấy một cuộc xung đột do miền Bắc Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, mặc dù sau đó Tổng Thống Johnson được cho là đã bình luận “ với tất cả những gì tôi biết thì hải quân chúng ta đã bắn vào các con cá heo ở đó”. Xem Burner, Divid, Bernhard, Virginia and Kutler, Stanley. Firsthand American: A History of the United States. Volume 2, 4th ed. (st. James, NY: Brandywine Press, 1966), at 952.

[9] Các nghiên cứu đã được thực hiện ở 3 loại chất này. Tuy nhiên, Dux và Young cho rằng Chất màu hồng, Chất màu xanh lá cây và Chất màu tía cũng chứa một hàm lượng cao chất TCĐ. Xem Dux, J. and Young, P. J, footnote số 4.

[10] An Abbreviation for tetrachlorodibenzodioxin

[11] [11]. Xem Johson, B.L. Congressional Testimony by the Assistant Surgeon General on the Public Heath Implication of Dioxin (1992). Subcommittee on Human Resources and Intergovernmental Relations Committee on Government Operations. http://www.atsdr.cdc.gov/test-06-10-92.htm.

[12] Như trên

[13]. EPA’s Dioxin Limits.(1990), 3 Alkaline Paper Advocate. http://palimpsest.stanford.edu/byorg/abbey/ap/ap03/ap03-6

[14] Chiến dịch Operation Ranch Hand là một chiến dịch do Không quân Mỹ tiến hành như là một phần trong chiến dịch lớn hơn Operation Trail Dust.

[15] Dux, J and Young, note 4 nêu trên, trang 13 và 28.

[16] Institute ò Medicine, note 3 nêu trên

[17] Như trên

[18] US Department of Veterans Affairs, Agent Orange-Herbicide Exposure (1991). http:// http://www.vba.va.gv/bln/21/benefits/herbicide/AOno3.htm.

[19] Christopher Portier, Chủ tịch Hội nghị quốc tế về Chất độc màu da cam ở hà Nội nam 2002. Trích trong US. Vietnam Discuss Effects of Agent Orange (2002). Reuters News Agency.

[20] Projected 2002 statistic. Nguồn: Vietnam Economic and Trade Information of the Australian Department of Foreign Affairs and Trade. Để so sánh, thu nhập quốc dân tính theo đầu người của Mỹ là 36,300 & và của Australia là 21,000 &.

[21] Jones, O. B. Vietnam ForgivesBbutCan’t Forget, (2000). The Guardian. Lon don. Những lo ngại là hoàn toàn có cơ sở: nông nghiệp đóng góp ¼ tổng thu nhập của Việt Nam và sử dụng một lượng lớn dân số. Hơn thế nữa, việc kết luận về mức độ dioxin đã được những người phản đổi việc xuất khẩu cá bas a vào Mỹ sử dụng (mặc dù không có các căn cứ khoa học). Xem Brunnstrom, note 6 nêu trên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dioxin không được cây cối hấp thụ cũng như hoà tan trong nước

[22] Lào có mức thu nhập quốc dân tính theo đầu người là 333 $, Campuchia là 260 $. Nguồn: Vietnam Economic and Trade Information of the Australia Department of Foreign Affairs and Trade (2001 data).

[23] Brunnstrom, note 6. Xem them Hatfield Consultants Ltd, Report to the Vietnamese National Committee for the Investigation of the Consequence of the Chemicals Used during the Vietnam War (10-80 Committêee ), Preliminary Assessment of Environmental Impacts Related to Spraying of Agent Orange Herbicide During the Vietnam War, (1998), Vancouver.

[24] Satchell, M, note 7 nêu trên.

[25] Reported in Cayo, D. Children of Agent Orange (2000) United Nations Development Programme Vietnam, http:// http://www.undp. Org.vn/dmu/events/Events-2000/000420a.

[26] Schecter, A., Payuk, M., et al. Update on Agent Orange and Dioxin Findíng in Vietnam. Laos and Cambodia. ( Paper presented at the 130th Annual Meeting of APHA, Philadelphia, 2002. and Scheter, A., My Samedy, et al. Agent Orange in Cambodia: Dioxin Blood Levels in Cambodián in 1999. (Paper presented at the 128th Annual Meeting of ÂPH, Boston, 2000.

[27] Uỷ ban này được biết tới với cái tên Uỷ ban điều tra hậu quả chất độc màu da cam ở Việt Nam.

[28] Brunnstrom, D. HanoiMeeting Probes “Last Ghost” of Vietnam War (2002). Reuters News Service.

[29] Sứ quán Mỹ tại Hà Nội, Việt Nam- Mỹ ký Thoả thuận về việc nghiên cứu Chất độc màu da cam/Dioxin (2002). http:// usembassy.state.gov/Vietnam/wwwh020310ii.html.

[30] Những vấn đề này bao gồm: giải quyết vấn đề người tị nạn, kiểm kê đầy đủ số tù binh chiến tranh và những người mất tích trong chiến tranh, trả nợ quốc gia, các vấn đề an ninh, việc thâm nhập thị trường Việt Nam, quyền sở hữu trí tuệ và vấn đề hợp tác thi hành pháp luật nói chung. Xem, Manyin, M. E., TheVietnam- US Normalization Process: Issue Brief for Congress, Congressional Rearche Service, (2002), Washington, D.C.

[31] Ghi nhận rằng không chỉ bao gồm các nạn nhân Chất độc màu da cam, mà còn cả các nạn nhân do mìn và các gia đình người Việt Nam có thân nhân mất tích trong chiến tranh.

[32] Brunnstrom, D., note 28 nêu trên.

[33] Blagov, S. U.S. Far from Settling “Agent Orange” Score in Vietnam (1999). Asia Time Online. Copy Available at http://www.twnside.org.sg/title/1883-cn.htm. Và tác giải cũng đã các cuộc phỏng vấn với một số học giả và những người làm công tác pháp lý ở Hà Nội vào cuối năm 2002.

[34] The Vietnam Association for Victims of Agent Orange/Dioxin, et al. v. The Dow Chemical Company, Monsanto Copany, et al. Complaint filed 30 January 2004.

[35] In Re Agent Orange Product Liability: The Vietnam Association for Victims of Agent Orange/Dioxin et al v, The Dow Chemical Company; Monsanto Company et al. MDL No 381 04-CV-400 US District Court (EDNY 2005), at 11-15

[36] 124 S.Ct 2739

[37] In Re Agent Orange Product Liability: The Vietnam Association for Victims of Agent Orange/Dioxin et al v, The Dow Chemical Company; Monsanto Company et al. MDL No 381 04-CV-400 US District Court (EDNY 2005), at 11-15.

[38] Như trên, trang 141

[39] Như trên, trang 99

[40] Như trên, trang 129

[41] Như trên, trang 180-181

[42] Như trên, trang 180

[43] Do vụ Nicaragua, Mỹ đã không còn chấp nhận quyền tài phán bắt buộc của Tòa án Quốc tế

[44] Thực tế, cuộc chiến tranh Việt Nam đã là một động lực cho đàm phán những công ước này, đặc biệt là Công ước về vũ khí hóa học mà việc đàm phán công ước này đã được bắt đầu vào năm 1969.

[45] Trong Tuyên bố La hay về ngăn cấm việc sử dụng khí gas gây ngạt năm 1899, các bên ký kết nhất trí “tránh việc sử dụng phóng ra các vật thể mà có thể khuyếch tán khí gas gây ngạt thở hoặc khí gas độc”. Việc ngăn cấm này đã được mở rộng tại Hội nghị Hòa bình La hay lần thứ hai năm 1907, bao gồm cả “chất độc và vũ khí chứa chất độc” và được thay thế bằng Nghị định thư Geneva về ngăn cấm việc sử dụng các khí gas gây ngạt thở, chất độc và các loại khí gas khác trong chiến tranh” năm 1925 được thông qua tại Hội nghị quốc tế được tổ chức dưới sự bảo trợ của Hội quốc liên. Xem them Mathew, R. J. a. M., Tomothy L. H “The Influence of Humanitarian Principles in Negotiation of Arms Control Treaties”. (1999), 834 International Review of the Red Cross 331.

[46] Điều 35 quy định rằng “Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp hoặc các phương pháp chiến tranh mà đã có chủ định hoặc đã dự tính trước gây tổn hại nghiêm trọng, lâu dài và trên diện rộng đối với môi trường”. Việc nghiêm cấm này đã được đề cập cụ thể trong 2 phần của điều 55.

[47] Tuy nhiên một vấn đề cấp thiết hơn là tỷ lệ dung Chất độc màu da cam chống lại Việt Nam- Trong Vụ Nicaragua, Tòa án Quốc tế đã tuyên bố “có một nguyên tắc cụ thể theo đó việc phòng vệ chỉ có thể biện hộ cho các biện pháp tương xứng với việc tấn công bằng vũ khí và cần thiết để đáp trả nó, một nguyên tắc đã được thừa nhận trong luật quốc tế

[48] In re Agent Orange Product Liability Litigation, Amended Class Action, filed September 10, 2004, at 2.

[49] Xem Richter, B. Tonkin Incident Might Not Have Occurred (2002). San Antonio Express. San Antonio: Online Edition. And Burner, D., Bernhard, V., et al., First Hand America: A History of the US. (1998). New York, Brandywine Press, Incorporated. Burner, Bernard et al quote President Johnson as saying “For all I know, our navy was shooting at whales out there”. (at 952).

[50] Prugh, G. S., Law at War, Vietnam, 1964-1973. (1975). Washington, Dept. of the Army, at 87.

[51] Các bên ký kết gồm: Pháp. Mỹ, Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiệp định này đã được đăng ký với Tổng Thư ký Liên hợp quốc theo Điều 102 Hiến chương của Liên hợp quốc.

[52] Điều IV của Hiệp định

[53] Prugh, G. S, note 50 ở trên, trang 88.

[54] Điều này đặc biệt gắn với việc sử dụng các cuộc đàm phán ngoại giao- xem phần dưới.

[55] Statement of Interest of the United State, In re Agent Orange Litigation, at 4-5.

[56] Astor, H. and Chinkin, C. Dispute Resolution in Australia. (2002).Sydney, Lexis Nexis Butterworths, at 390-1

[57] Brunnstrom, D. Vets Say Vietnam Dioxin Victims Should Be Helped (2002). Reuters News Service.

[58] Cooke Farrell, E., The Socialist Republic of Vietnam and the Law of the Sea. (1998). The Hague, Martinus Nijhoff Publishers, at 186-7.

[59] Như trên, trang 9

[60] Fisher, R., W. Ury, et al., Getting to Yes: Negotiating an Agreement whithout Giving In . (1999). London, Random House Business Books, at 31.

[61] Xem Leonard, M and Blackhurst, R., I Don’t Think Anybody Thought Much About Whether Agent Orange Was against the Rules of War. (2002). The Observer, London.

[62] Vietnam Economic and Trade Information, Australia Department of Foreign Affairs and Trade (2001 data).

[63] Quoted in Dreyfuss, R. Apocalypse Still (2000) Mother John Website

[64] Merrills, J. G., International Dispute Settlement. ( 1998). Cambridge; New York, Cambridge University Press, at 9.

[65] Astor, H. and Chinkin, C. note 56 nêu trên, trang 406.

[66] Một khối lượng lớn các thảo luận có thể dẫn đến một công việc mệt mỏi cho những nhà đàm phán và thiếu một mục đích đưa vấn đề tranh chấp nên bàn thảo luận

[67] Merrills, J.G, note 64 như trên, trang 12.

[68] Argentina v. Chile (1977), 52 International Law Reports 93.

[69] Xem website: http://www.unicitral.org/english/texts/arbitration/arb-rules.htm.

[70] Thỏa thuận này có thể đạt được bằng cách hoặc là thông qua đàm phán, hòa giải hoặc các biện pháp mang tính quyết định khác, tạo ra một cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính kết hợp. Xem phần dưới về các biện pháp mang tính kết hợp. Thỏa thuận sơ bộ cần đạt được về các vấn đề như quyền tài phán của trọng tài, luật áp dụng, thành phần của trọng tài và luật điều chỉnh họat động của trọng tài.

[71] Raiffa, H., “Analytical Barriers” in K. Arrow, R, Mnookin, L. Ross, A. Tversky and R. Wilson, Eds. Barriers to Conflict Resolution (1995) New York, W.W. Norton & Co. at 132.

[72] Merrills, J.G, note 64 như trên, trang 67

[73] Boulle, L., Mediation: Principles, Process, Practice. (1996). Sydney, Butterworths, at 29-30.

[74] Như trên, trang 14

[75] “Ủy ban” trong nghĩa này được đề cập tới một hội đồng xét xử.

[76] Bar-Yaacov, N. The Handling of International Disputes by Means of Inquiry. (1974). London; New York, Published for the Royal Institute of International Affairs by Oxford University Press, at 5-17

[77] In Re Agent Orange Production Liability 611 F. Supp. 1267 (E.D.N.Y. 1985), aff’d, 818, F. 2d. 187 (2d Cir.), petition for cert. filed sub nom. Lombardi v. Dow Chem. Co., 56 USL. W. 3249 (No. 87-436, Dec. 15, 1987).

[78] Prugh, G. S., như note 50 ở trên.

XÁC ĐỊNH PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THẨM QUYỀN ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

TS. ĐỖ VĂN ĐẠI

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam.

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Để tồn tại, doanh nghiệp phải có người đại diện. Việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong giao dịch sẽ tuân theo pháp luật Việt Nam nếu doanh nghiệp đó là doanh nghiệp Việt Nam và giao dịch đó được thực hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp Việt Nam giao dịch với các doanh nghiệp nước ngoài thông qua người đại diện, thì việc xác định ai là người có thẩm quyền đại diện của các doanh nghiệp này để thực hiện một giao dịch lại trở nên phức tạp. Bởi về vấn đề này, pháp luật trong nước và pháp luật nước ngoài quy định không giống nhau. Trong khi đó, thực tiễn pháp lý Việt Nam trong những năm gần đây thường xảy ra những tranh chấp về thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế. Vì vậy, trong những trường hợp đó, việc quy định sử dụng pháp luật nước nào để điều chỉnh là cần thiết. Ví dụ:

Ngày 28/10/1995, Công ty Kurihara Kogyo được thành lập theo pháp luật Nhật Bản có chi nhánh tại Singapore ký với Công ty HN (là công ty liên doanh) một hợp đồng. Ngày 06/6/1998, Công ty HN ký một hợp đồng thanh toán trong đó thỏa thuận chọn trọng tài Hồng Kông khi các bên có tranh chấp. Người đại diện ký kết của Công ty HN là ông Thành và người đại diện của bên kia là ông Tài. Sau đó, Công ty HN cho rằng “ông Thành – Tổng giám đốc Công ty liên doanh không có quyền ký thỏa thuận trọng tài vì đây là vấn đề xác định vốn Công ty liên doanh nên phải do Hội đồng quản trị Công ty liên doanh quyết định”. Công ty HN cũng cho rằng, “ông Tài không đủ thẩm quyền ký hợp đồng thanh toán 06/6/1998 vì ông Tài là Giám đốc Công ty liên doanh Kurihara Thăng Long ký hợp đồng với Công ty liên doanh HN 28/10/1995, rồi lại thay mặt Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore – ký hợp đồng là không đúng quy định của pháp luật”(Xem Quyết định số 01/QĐ ngày 21/9/2001, thụ lý số 01/KTST ngày 18/6/2001 của TAND TP. Hà Nội).

Để biết ông Thành và ông Tài có thẩm quyền ký kết giao dịch trên hay không, chúng ta phải xác định pháp luật nước có thẩm quyền giải quyết. Chọn pháp luật nước nào khi ở đây có ba hệ thống pháp luật có thể được sử dụng: pháp luật Nhật Bản, pháp luật Singapore và pháp luật Việt Nam? Pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định rõ về vấn đề này. Vì vậy, chúng ta cùng nghiên cứu và tìm hướng giải quyết.

Thực trạng pháp luật Việt Nam

Thực trạng văn bản

Bộ luật Dân sự Việt Nam hiện nay có quy định về xác định pháp luật điều chỉnh năng lực hành vi dân sự của cá nhân (Điều 762) và năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân nước ngoài (Điều 765). Tuy nhiên, cần thấy rằng, năng lực hành vi hay năng lực pháp luật dân sự của cá nhân hay pháp nhân và thẩm quyền đại diện doanh nghiệp là hai vấn đề khác nhau. Năng lực là khả năng của ai đó làm việc gì. Trong khi đó, thẩm quyền là khả năng của một ai đó thay mặt chủ thể khác thực hiện một hành vi pháp lý. Ví dụ, công ty A hoàn toàn có khả năng ký kết một thoả thuận trọng tài nhưng liệu ông B, phó giám đốc của công ty, có thể thay mặt công ty ký một thoả thuận trọng tài hay không lại là vấn đề thẩm quyền của ông B. Ngược lại, ông A là giám đốc một công ty có thể không có năng lực dân sự để ký thỏa thuận trọng tài để giải quyết một số tranh chấp cá nhân của mình, nhưng hoàn toàn có thể ký một thỏa thuận trọng tài với đối tác của công ty trên danh nghĩa là người có thẩm quyền đại diện công ty.

Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng đã có các quy định về xác định pháp luật áp dụng điều chỉnh năng lực pháp luật dân sự nhưng chưa có các quy định về vấn đề thẩm quyền. Luật Doanh nghiệp năm 2005 có những quy định về pháp luật áp dụng và quốc tịch của doanh nghiệp (Điều 3, 4) nhưng cũng không cho biết là pháp luật nước nào sẽ được chọn để điều chỉnh thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế. Như vậy, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, rõ ràng về việc xác định pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp trong quan hệ có yếu tố nước ngoài.

Thực tiễn pháp lý

Thực tiễn pháp lý Việt Nam có hai xu hướng xác định pháp luật áp dụng về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp.

Xu hướng thứ nhất là xác định thẩm quyền thông qua nghiên cứu một hệ thống pháp luật (pháp luật một nước). Ví dụ, tại Quyết định số 51/KTPT ngày 26/10/2001, Toà phúc thẩm TANDTC tại TP. Hồ Chí Minh có nhận xét: “Hợp đồng mua bán mà Công ty Recofi (Pháp) và Công ty Sunimex (Việt Nam) có quy định tại Điều 11 là việc thoả thuận chọn Trọng tài thuộc Phòng thương mại quốc tế Paris là không chặt chẽ theo điều lệ mẫu quy định. Do đó, khi phát sinh tranh chấp; quan điểm của mỗi bên hoàn toàn khác biệt nhau, không giải quyết thân thiện với nhau được theo nội dung của hợp đồng, mà phải ký thêm các điều kiện thoả thuận về việc chọn Trọng tài. Ngày 15/8/1998, các bên tiến hành ký kết các thể thức tham chiếu ICC vụ kiện số 9677/AC/DG. Phía Sunimex do ông Minh làm đại diện. Nhưng ở thời điểm này, ông Minh chỉ giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Sunimex theo quyết định của UBND TP. Hồ Chí Minh. Việc ông Minh tham gia ký đã không đủ tư cách là người đại diện hợp pháp để thoả thuận thể thức tham chiếu ICC ngày 15/8/1988 theo quy định của pháp luật Việt Nam, đã vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Điều 102 Bộ luật Dân sự, Điều 37 Luật Doanh nghiệp nhà nước và trái với Điều 19 Điều lệ hoạt động của Tổng công ty Sunimex”.

Ví dụ trên cho thấy, tòa án Việt Nam đã sử dụng pháp luật Việt Nam để cho rằng, ông Minh là người không có thẩm quyền đại diện công ty Sunimex trong giao dịch với Công ty Recofi, bởi lẽ, ông Minh chỉ là Phó Tổng Giám đốc Sunimex.

Xu hướng thứ hai là để xác định một người có thẩm quyền đại diện hay không, tòa án còn dẫn chiếu pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam (pháp luật hai nước), ví dụ:

Ngày 20/4/1993, Công ty Novus của Nga ký hợp đồng và hai phụ lục hợp đồng để bán cho Công ty Vinatex của Việt Nam một số lượng thép. Đại diện ký hợp đồng và phụ lục của bên bán là ông Malitski (Tổng giám đốc Công ty Novus) và bên mua là ông Nội (đại diện của Công ty Vinatex tại Nga). Thời gian sau, hai bên phát sinh tranh chấp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, phía Việt Nam cho rằng, ông Nội không đủ tư cách ký hợp đồng và không được ủy quyền ký hợp đồng; còn phía Nga cho rằng, ông Nội có thẩm quyền ký kết hợp đồng (các bên không có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của ông Malitski). Xung quanh thẩm quyền đại diện của ông Nội, tòa án nhận định: “Căn cứ Quy chế về tổ chức và hoạt động của Cơ quan Đại diện kinh tế thương mại Việt Nam ở nước ngoài – ban hành kèm theo Nghị định 283/HĐBT ngày 8/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, căn cứ Khoản 2, Điều 2 Quy định số 299/TMDL-XNK ngày 09/4/1992 quy định về ký kết và quản lý hợp đồng Vinatex – chiểu theo quy định của pháp luật Việt Nam, ông Nội là người không đủ thẩm quyền, không được ủy quyền để ký kết hợp đồng cũng như ký kết thỏa thuận trọng tài nêu trên”. Mặt khác, “Xét thấy, tại giải trình ngày 08/4/1996 của Công ty Novus gửi Tòa án trọng tài thương mại quốc tế, đại diện Công ty Novus nêu ra một trong những lý do để từ chối việc ký kết văn bản của Công ty là: “Theo Điều lệ của Công ty Novus thì chỉ có Tổng giám đốc mới có quyền ký bất kỳ văn bản nào mà không cần giấy ủy nhiệm. Mọi cán bộ trọng trách của Công ty Novus chỉ có thể ký kết hợp đồng khi có ủy quyền do Tổng giám đốc Công ty cấp…”. Đây cũng là nguyên tắc chung thống nhất được ghi nhận ở cả hai nước, bên ký kết đều phải tuân thủ và thực tế đều đã biết” (Xem Quyết định số 59/KTPT ngày 04/6/1998, thụ lý số 174 ngày 13/12/1997 của Toà phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội).

Như vậy, để biết ông Nội có thẩm quyền đại diện Công ty Vinatex hay không, tòa án Việt Nam đã dẫn chiếu những quy định của pháp luật hai nước.

Từ những ví dụ trên, có thể nói là thực tiễn pháp lý Việt Nam chưa thống nhất về xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp trong quan hệ quốc tế.

Phương hướng giải quyết

Giải pháp có thể: Có thể xác định một người nào đó là đại diện của doanh nghiệp bằng nhiều hệ thống pháp luật hay không ?

Những tranh chấp được đề cập trên đây liên quan đến thẩm quyền để thiết lập một thỏa thuận trọng tài hay một hợp đồng. Đây không phải là một đặc thù của Việt Nam, bởi ở Pháp, những tranh chấp liên quan đến thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Pháp (xem ví dụ 1) hay của doanh nghiệp nước ngoài (xem ví dụ 2) đối với việc ký kết một số giao dịch cũng thường xuyên xảy ra. Vì vậy, chúng ta có thể áp dụng pháp luật của nước sở tại – nơi mà các giao dịch được ký kết – theo nguyên tắc, nếu giao dịch được ký tại Việt Nam thì xác định thẩm quyền đại diện doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam; nếu giao dịch được thiết lập ở nước ngoài thì theo pháp luật nước ngoài. Tuy nhiên, giải pháp này có nhược điểm là làm cho việc xác định thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nơi ký kết giao dịch, trong khi đó nơi này hoàn toàn có thể là sự lựa chọn tình cờ (một thỏa thuận trọng tài có thể được ký ở Việt Nam, hay ở nước mà đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở hoặc ở một nước thứ ba). Thực tiễn pháp lý một số nước trên thế giới cho thấy, những tranh chấp về thẩm quyền đại diện doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở những giao dịch. Vì vậy, việc lấy tiêu chí pháp luật của quốc gia mà tại đó đã thiết lập giao dịch như trên, không bao trùm được hết những vấn đề pháp lý cần giải quyết (xem ví dụ 3).

Ngoài ra, chúng ta có thể sử dụng pháp luật của tòa án (ở đây là pháp luật Việt Nam), pháp luật nơi doanh nghiệp có trụ sở để giải quyết. Chúng ta cũng có thể xem xét đồng thời hai hay nhiều hệ thống pháp luật nêu trên cùng một lúc để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp.

Giải pháp nên sử dụng: Vì vấn đề thẩm quyền liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, thiết nghĩ, chúng ta nên sử dụng pháp luật của nước nơi doanh nghiệp có trụ sở vào thời điểm mà người đại diện thiết lập giao dịch trên danh nghĩa của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp được đại diện có trụ sở ở nước ngoài, thì chúng ta xác định là người nào đó có thể đại diện doanh nghiệp hay không theo pháp luật của nước ngoài này. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có trụ sở tại Việt Nam, thì xác định thẩm quyền này theo pháp luật Việt Nam như Tòa án đã làm trong tranh chấp giữa Recofi của Pháp và Sunimex của Việt Nam mà chúng tôi đã đề cập ở trên.

Thông thường, các bên có tranh chấp về thẩm quyền đại diện của một doanh nghiệp tham gia giao dịch, nhưng đôi khi, thẩm quyền đại diện của cả hai doanh nghiệp tham gia giao dịch đều gây tranh cãi. Trong trường hợp này, tòa án phải nghiên cứu pháp luật của cả hai nước. Tuy nhiên, ở đây tòa án không nên sử dụng cả pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam để xác định thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam hay của doanh nghiệp nước ngoài, mà chỉ nghiên cứu pháp luật Việt Nam để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp Việt Nam và áp dụng pháp luật nước ngoài để xem xét thẩm quyền đại diện của doanh nghiệp nước ngoài. Đó cũng là giải pháp được sử dụng trong tranh chấp mà chúng tôi đề cập ở phần trên. Cụ thể, liên quan đến thẩm quyền đại diện của ông Thành đối với Công ty HN, tòa án đã có nhận xét sau: “Theo tài liệu do phía Công ty HN xuất trình và theo lời trình bày của đại diện khách sạn thì đây là hợp đồng thanh toán cuối cùng của hợp đồng cung cấp thiết bị điện và vật liệu để sửa chữa, mở rộng khách sạn HN được ký giữa Công ty liên doanh HN và Công ty Kurihara Kogyo Singapore 28/10/1995 – Bổ sung ngày 05/3/1997, chứ không phải là bản quyết toán tăng vốn của toàn bộ Công ty liên doanh. Do đó, ông Thành ký hợp đồng thanh toán ngày 06/6/1998 là hoàn toàn có đủ thẩm quyền, phù hợp với Điều 12 Điều lệ Công ty liên doanh, không vi phạm điều 8, khoản 1 điểm c Pháp lệnh hợp đồng kinh tế như Công ty đưa ra”. Còn về thẩm quyền đại diện của ông Tài đối với Công ty Kurihara, tòa án cho rằng: “Theo giải trình và hồ sơ yêu cầu mà Công ty Kurihara Kogyo Ltd – chi nhánh Singapore xuất trình, thì ông Tài được Tổng giám đốc chi nhánh Singapore bổ nhiệm làm Giám đốc tại thông báo bổ nhiệm có lực từ 01/7/1990 và Giám đốc cao cấp tại thông báo bổ nhiệm có hiệu lực từ 01/7/2000. Trong quá trình Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông giải quyết tranh chấp, phía Công ty HN không thắc mắc gì về tư cách ông Tài cũng như về pháp nhân Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông cũng đã thừa nhận tư cách pháp nhân của Công ty Kurihara Kogyo Ltd – Chi nhánh Singapore. Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, phía Công ty HN cũng không thắc mắc hay đưa ra được chứng cứ hợp pháp khẳng định ông Tài hoặc Công ty Kurihara Kogyo không đủ năng lực ký kết thỏa thuận trọng tài theo luật Singapore”.

Ví dụ 1: Henri, Tổng giám đốc Công ty Aliment sain của Pháp, tham gia đầu tư bất động sản ở Marốc (với tư cách cá nhân). Trong quá trình đầu tư, Henri đã ký chấp nhận bảo lãnh một khoản tiền với tư cách là Tổng giám đốc Công ty Aliment sain. Khi bị người nhận bảo lãnh (một ngân hàng Marốc) khởi kiện, Công ty Aliment sain cho rằng Henri không có thẩm quyền ký kết bảo lãnh trên. Tòa phúc thẩm Paris đã giải quyết vấn đề thẩm quyền này theo pháp luật của Pháp (xem Tòa phúc thẩm Paris ngày 26/3/1966: Tạp chí JDI năm 1966, tr. 841, bình luận B. Goldman và Tạp chí RCDIP năm 1968, tr. 58, bình luận Y. Loussouarn).

Ví dụ 2: Một người đại diện của Công ty General (doanh nghiệp của Ê – cốt) đã ký chấp nhận một bảo lãnh. Khi bị người nhận bảo lãnh khởi kiện, Công ty General đã viện dẫn pháp luật Pháp để cho rằng hợp đồng bảo lãnh trên là không hợp pháp (theo pháp luật Pháp, hợp đồng bảo lãnh phải được Hội đồng quản trị cho phép). Nhưng theo Tòa án, pháp luật điều chỉnh thẩm quyền đại diện của Công ty General không phải là pháp luật Pháp mà là pháp luật của nước nơi Công ty có trụ sở, tức là pháp luật Ê – cốt (xem Tòa dân sự, Tòa án tối cao Pháp ngày 8/12/1998: Tạp chí RCDIP 1999, tr. 284, bình luận M. Menucq).

Ví dụ 3: vụ kiện giữa một công ty Pháp (bị đơn) và một công ty Đức (nguyên đơn) tại Pháp. Trong quá trình tố tụng, bị đơn cho rằng người tham gia vụ kiện của nguyên đơn không phải là người đại diện của doanh nghiệp Đức. Trước phản tố này, Tòa phúc thẩm Grenoble đã viện dẫn pháp luật Đức để giải quyết (xem Tòa phúc thẩm Grenoble ngày 7/11/1989: Tạp chí Droit des sociétés tháng 5/1990, bình luận số 121). ở đây, vấn đề thẩm quyền được đặt ra không liên quan đến giao dịch dân sự mà đến tố tụng trước Tòa án Pháp.

Các bài viết cùng tác giả: http://phapluatdansu.edu.vn/?s=%22%C4%90%E1%BB%96+V%C4%82N+%C4%90%E1%BA%A0I%22

SOURCE: CHƯA XÁC ĐỊNH

SO SÁNH QUI TRÌNH LẬP PHÁP GIỮA THỤY ĐIỂN VÀ VIỆT NAM

TÀO THỊ QUYÊN

Thuỵ Điển là quốc gia Bắc Âu có thể chế chính trị quân chủ lập hiến. Là một nhà nước đơn nhất, các đơn vị hành chính ở Thuỵ Điển được chia thành ba cấp: cấp trung ương, cấp vùng và cấp địa phương.

1. Khái quát cơ quan lập pháp Thuỵ Điển

Thuỵ Điển là quốc gia Bắc Âu có thể chế chính trị quân chủ lập hiến. Là một nhà nước đơn nhất, các đơn vị hành chính ở Thuỵ Điển được chia thành ba cấp: cấp trung ương, cấp vùng và cấp địa phương. Các cơ quan nhà nước ở trung ương bao gồm Nghị viện (Riksdag), Chính phủ, các bộ và các cơ quan nhà nước trung ương. Dựa trên thuyết tam quyền phân lập, quyền lực nhà nước ở Thuỵ Điển được phân thành ba nhánh: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp được trao cho nguyên thủ quốc gia và Chính phủ, quyền tư pháp được trao cho hệ thống toà án bao gồm các toà thẩm quyền chung và các toà chuyên trách.

Nghị viện Thuỵ Điển là cơ quan lập pháp cao nhất bao gồm 349 nghị sĩ được chọn thông qua cuộc tổng tuyển cử được tổ chức bốn năm một lần. Để được bầu vào Nghị viện, ứng cử viên phải là thành viên của một đảng chính trị nào đó. Số lượng ghế trong Nghị viện của mỗi đảng tương ứng với số phiếu bầu mà đảng đó dành được trong cuộc tổng tuyển cử gần nhất. Đảng nào nhận được ít hơn bốn phần trăm tổng số phiếu bầu trong cả nước sẽ không có vị trí trong Nghị viện, trừ khi đảng đó chiếm ít nhất 12% số phiếu trong một đơn vị bầu cử.

Một trong những thẩm quyền quan trọng của Nghị viện Thuỵ Điển là thông qua luật. Điều đáng lưu ý là, ở Thuỵ Điển có sự phân định rõ ràng những lĩnh vực được điều chỉnh bởi luật do Nghị viện ban hành và những lĩnh vực được điều chỉnh bởi văn bản do Chính phủ ban hành. Chương 8 của Đạo luật của nhà nước xác định những vấn đề phải được điều chỉnh bởi văn bản luật do Nghị viện ban hành[1].

2. So sánh quy trình lập pháp của Thuỵ Điển và Việt Nam

Giai đoạn đề xuất sáng kiến lập pháp và chuẩn bị dự án

Theo pháp luật Thuỵ Điển, có hai nhóm chủ thể có quyền đề xuất sáng kiến lập pháp là Chính phủ và nghị sĩ. Trong đó, phần lớn các sáng kiến lập pháp xuất phát từ sự đệ trình của Chính phủ dưới dạng bản dự thảo kiến nghị lập pháp. Trước khi đệ trình bản dự thảo kiến nghị lập pháp ra trước Nghị viện, Chính phủ kiểm tra các phương án lựa chọn thông qua một uỷ ban thẩm tra do Chính phủ chỉ định với quy trình đặc biệt. Thành viên Uỷ ban thẩm tra thường là các chuyên gia, công chức nhà nước hoặc chính trị gia. Kết quả thẩm tra của Uỷ ban được trình bày dưới hình thức một bản báo cáo. Bản báo cáo này được xuất bản và tập hợp trong Các báo cáo chính thức của Chính phủ Thuỵ Điển (The Swedish Government Offical Reports)[2].

Sau khi Uỷ ban thẩm tra đệ trình bản dự thảo kiến nghị và tập hợp ý kiến trong bản báo cáo, Chính phủ chuyển bản báo cáo đó tới các cơ quan nhà nước, các tổ chức hoặc địa phương có liên quan để lấy ý kiến. Theo quy định của luật pháp Thuỵ Điển, bất cứ tổ chức và cá nhân nào cũng có quyền nhận được bản photocopy báo cáo thẩm tra và đề xuất ý kiến của mình tới Chính phủ. Đặc biệt, trong giai đoạn này, đại diện của các tổ chức phi chính phủ thường có cơ hội đối diện trực tiếp với Chính phủ để trình bày ý kiến của mình về vấn đề được đề cập trong báo cáo thẩm tra. Thời hạn dành cho việc lấy ý kiến góp ý đối với bản báo cáo thẩm tra được quy định là ba tháng. Kết quả của việc lấy ý kiến góp ý này phải được trình bày bằng văn bản để các bên liên quan có thể dễ dàng tiếp cận.

Theo pháp luật Việt Nam, chủ thể có quyền trình sáng kiến lập pháp bao gồm Chính phủ, đại biểu Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên[3]. Tuy nhiên, phần lớn các sáng kiến lập pháp ở Việt Nam cũng xuất phát từ Chính phủ. Các cơ quan và cá nhân có quyền sáng kiến lập pháp phải lập báo cáo phân tích chính sách kèm theo Tờ trình về việc ban hành văn bản mới hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản hiện hành. Tờ trình phải cung cấp nội dung thông tin về các vấn đề sau: (i) sự cần thiết của những vấn đề cần điều chỉnh bởi văn bản quy phạm pháp luật; (ii) đối tượng và phạm vi áp dụng, tác động tới kinh tế, xã hội, môi trường; (iii) nguồn lực bảo đảm thi hành; (iv) điều kiện để cơ quan soạn thảo thể hiện dự án văn bản quy phạm pháp luật đề xuất. Nội dung tờ trình còn nêu ra các phương án có thể được lựa chọn cho những vấn đề mà văn bản đề cập tới và phân tích rõ lý do của các phương án đó. Tuy nhiên, ở Việt Nam, báo cáo phân tích chính sách kèm theo tờ trình cơ quan và cá nhân có sáng quyền lập pháp đưa ra không được xuất bản công khai thành tập tài liệu chính thức như ở Thuỵ Điển, do đó không phải tất cả cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân đều có thể tiếp cận báo cáo phân tích chính sách và đóng góp ý kiến.

Như vậy, những khác biệt cơ bản của hai quy trình này là: thứ nhất, tính công khai của các báo cáo phân tích chính sách kèm theo Tờ trình về việc ban hành văn bản và ý nghĩa của các đề xuất, kiến nghị do các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân đóng góp vào bản kiến nghị lập pháp; thứ hai, nếu như ở Việt Nam, Chính phủ soạn thảo chương trình xây dựng luật để trình lên Uỷ ban thường vụ Quốc hội và thông qua cơ quan này trình Quốc hội để thảo luận thông qua[4] thì ở Thuỵ Điển, Chính phủ không soạn thảo chương trình xây dựng luật. Trong chương trình xây dựng luật do Chính phủ Việt Nam soạn thảo bao gồm phần danh sách các dự luật và phần phân tích chính sách nêu rõ tại sao lại lập danh sách như vậy. Tuy nhiên, thực tế việc thông qua chương trình xây dựng luật ở Việt Nam cho thấy, Quốc hội chủ yếu chỉ thảo luận và thông qua danh sách của các dự án luật chứ không xem xét phần phân tích chính sách. Vì thế, phần phân tích chính sách trong Tờ trình của Chính phủ về dự kiến chương trình cũng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Đây đang được coi là điểm bất cập trong quy trình lập pháp ở Việt Nam, bởi lẽ, đáng ra việc phân tích chính sách phải được tập trung đầu tư nhiều để đưa ra những lý lẽ, thông tin, những căn cứ khoa học và thực tiễn xác đáng cho việc lập các dự thảo văn bản, làm cơ sở cho toàn bộ tiến trình ban hành một văn bản, nhưng lại chưa được các nhà lập pháp và vạch chính sách của Việt Nam quan tâm đúng mức. Điều này dẫn đến tình trạng phổ biến là nhiều dự án luật của Việt Nam thiếu phần phân tích chính sách mang tính khoa học và chi tiết với những tiêu chí rõ ràng cho toàn bộ quy trình ban hành văn bản; thứ ba, ở Thuỵ Điển, Chính phủ phân công cơ quan thẩm tra và dự kiến tiến độ chuẩn bị dự án, còn ở Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tham gia vào quy trình lập pháp ngay từ giai đoạn này, với vai trò là cơ quan phân công cơ quan trình dự án, cơ quan thẩm tra các dự án thuộc chương trình và dự kiến tiến độ chuẩn bị các dự án.

Trong giai đoạn soạn thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật ở Việt Nam phải tiến hành những công việc sau: đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dự án luật, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến nội dung chính của dự án; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự án; chuẩn bị đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự án; tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan và các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; chuẩn bị tờ trình và tài liệu có liên quan đến dự án; phối hợp với cơ quan, tổ chức hữu quan chuẩn bị dự thảo các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; đối chiếu, có tính đến điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Tiếp đó, đối với những dự án luật do Chính phủ chuẩn bị trình Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo trình Bộ Tư pháp thẩm định với những nội dung sau: (i) sự cần thiết ban hành luật, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự án; (ii) sự phù hợp của nội dung dự án với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; (iii) tính khả thi của văn bản; (iv) việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo; (v) ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo văn bản.

ở giai đoạn này, các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác cũng có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản về dự án luật mà nội dung của dự án có liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành, lĩnh vực của mình. Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho cơ quan thẩm định và các cơ quan được tham vấn. Sau khi nhận được kết quả thẩm định và các ý kiến tham vấn, cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu ý kiến thẩm định, ý kiến tham vấn chỉnh lý dự án luật để trình Chính phủ.

Như vậy, nếu như ở Việt Nam có sự phân biệt rõ ràng công việc soạn thảo văn bản trình Chính phủ với công việc thẩm định văn bản, thì ở Thuỵ Điển, trên cơ sở sáng kiến lập pháp do Chính phủ đề xuất, Uỷ ban thẩm tra có trách nhiệm thẩm tra và lập báo cáo về dự án luật để trình Chính phủ.

Giai đoạn Chính phủ xem xét dự án luật và đệ trình dự thảo trước Quốc hội

Theo pháp luật Thuỵ Điển, sau khi Uỷ ban thẩm tra chuyển báo cáo thẩm tra tới Chính phủ, Chính phủ sẽ phê chuẩn danh sách các kiến nghị lập pháp và các ý kiến của các cơ quan, tổ chức đã được tham vấn. Chính phủ trình bày kiến nghị lập pháp của mình trong Dự thảo văn bản luật (Government Bill). Dự luật sẽ được chuyển tới Hội đồng lập pháp (Council on Legislation). Cơ quan này chỉ có ở Thuỵ Điển với thành viên là các thẩm phán của Toà án tối cao và Toà án Hành chính tối cao[5]. Hội đồng lập pháp có trách nhiệm thẩm tra xem dự luật có mâu thuẫn với văn bản hiện hành nào không và điều quan trọng nhất là xem xét tính hợp hiến của dự luật. Như vậy, cơ quan này có chức năng giám sát trước (judicial preview). Tuy nhiên, ý kiến của Hội đồng lập pháp (có thể là đồng ý hoặc phản đối dự án luật) cũng không có giá trị ràng buộc chính thức đối với Nghị viện và Chính phủ[6]. Sau khi nhận được kết quả thẩm tra của Hội đồng lập pháp, Chính phủ sẽ đệ trình dự luật trước Quốc hội.

Đối với kiến nghị lập pháp do nghị sĩ đề xuất, nghị sĩ phải đệ trình kiến nghị của mình dưới dạng sáng kiến lập pháp cá nhân. Sáng kiến này có thể do một nghị sĩ hoặc một nhóm nghị sĩ đề xuất. Pháp luật Thuỵ Điển quy định rõ nghị sĩ được đệ trình dự luật về những vấn đề nào và khi nào họ có quyền đệ trình kiến nghị lập pháp. Thông thường, sáng kiến lập pháp cá nhân được đệ trình sau khi Chính phủ đã đệ trình dự luật và phải trên cơ sở kiến nghị của Chính phủ. Thời hạn thành viên nghị viện có thể đệ trình kiến nghị phản hồi là 15 ngày kể từ ngày Chính phủ đệ trình dự luật trước Quốc hội.

Theo pháp luật Việt Nam, sau khi cơ quan chủ trì soạn thảo trình dự án luật ra trước Chính phủ, Chính phủ có trách nhiệm xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định trình dự án luật ra trước Quốc hội.

Như vậy, nếu như ở Thuỵ Điển có Hội đồng lập pháp là cơ quan chuyên trách việc xem xét tính hợp hiến, sự phù hợp của dự luật đối với những văn bản luật hiện hành thì Việt Nam không có cơ quan chuyên trách này. Tuy nhiên, công việc của Hội đồng lập pháp cũng tương tự như việc thẩm định dự án luật của Bộ Tư pháp ở Việt Nam tiến hành trước khi dự án luật được cơ quan chủ trì soạn thảo chỉnh lý và trình Chính phủ. Vì vậy, tuy do hai cơ quan khác nhau thực hiện và tại hai thời điểm khác nhau nhưng dự án luật ở Việt Nam và ở Thuỵ Điển đều được thẩm định tính hợp hiến và sự phù hợp với các văn bản hiện hành.

Giai đoạn từ khi Quốc hội tiếp nhận dự thảo luật đến khi thông qua luật

Theo pháp luật Thuỵ Điển, khi dự luật của Chính phủ và kiến nghị lập pháp cá nhân của nghị sĩ được đệ trình tới Nghị viện, chúng sẽ được ghi vào chương trình làm việc của Nghị viện. Phiên họp của Nghị viện chưa đưa ra quyết định về dự luật ngay, mà chờ đến khi dự luật được xem xét cẩn thận bởi một uỷ ban của Nghị viện. Hành động đệ trình dự luật ra trước uỷ ban của Nghị viện được gọi là việc xin ý kiến của uỷ ban đó. Thông thường, không có một cuộc tranh luận nào về dự luật trong thời gian chờ phiên họp để Nghị viện quyết định về dự luật. Tuy nhiên, trong thời gian này, các thành viên của Nghị viện cũng có thể yêu cầu tổ chức diễn đàn tranh luận và cuộc tranh luận đó được gọi là tranh luận chờ quyết định của phiên họp Nghị viện. Các thành viên Nghị viện cũng có quyền yêu cầu tổ chức diễn đàn tranh luận khi dự luật được chuyển tới Uỷ ban để xin ý kiến, tuy nhiên điều này hiếm khi xảy ra.

Như vậy, trước khi Nghị viện quyết định liệu có thông qua dự luật hoặc sửa đổi, dự án luật phải được xem xét kỹ lưỡng bởi một uỷ ban của Nghị viện. Nghị viện Thuỵ Điển bao gồm 16 uỷ ban, mỗi uỷ ban chịu trách nhiệm về một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực nhất định. Việc phân công xem xét dự luật ở Nghị viện được thực hiện bởi nghị sĩ ở các uỷ ban khác nhau. Các nghị sĩ đến từ các đảng khác nhau có đại diện tại Nghị viện. Các đảng lớn hơn sẽ có nhiều nghị sĩ đại diện tại Nghị viện hơn so với các đảng nhỏ hơn. Theo cách đó, thành phần các uỷ ban thường phản ánh tương quan quyền lực của các đảng ở trong Nghị viện. Mỗi đảng có một nhóm đảng viên tại Nghị viện là những người có trách nhiệm thảo luận và chuẩn bị những vấn đề sẽ được giải quyết tại các uỷ ban của Nghị viện. Nghị sĩ tại các uỷ ban phải tham khảo ý kiến của các nhóm đảng của họ. Nhưng thực chất, mỗi nghị sĩ đều có tư cách cá nhân tại Nghị viện và không có nguyên tắc nào bắt buộc nghị sĩ phải theo đường lối của đảng mình.

Việc xem xét dự luật bởi uỷ ban phải được tổ chức thành phiên họp uỷ ban. Uỷ ban thường mời các chuyên gia và các đại diện của các tổ chức khác nhau tham dự phiên họp uỷ ban để thu nhận thêm thông tin và tiếp thu ý kiến. Những phiên họp này được mở công khai cho công chúng và các cơ quan thông tin của Nghị viện. Tuy nhiên, cũng có những phiên họp được tổ chức kín. Tại các phiên họp này, các nghị sĩ thảo luận về những vấn đề của dự án luật mà họ quan tâm. Sau khi uỷ ban quyết định, các nhân viên của bộ phận thư ký uỷ ban sẽ soạn thảo báo cáo của uỷ ban. Báo cáo của uỷ ban chứa đựng những đề xuất sẽ đưa ra phiên họp Nghị viện để quyết định. Nội dung của báo cáo này do các thành viên của uỷ ban quyết định. Thông thường có thể có một nhóm thiểu số thành viên uỷ ban không đồng ý với ý kiến của đa số. Những người này có thể trình những ý kiến bất đồng của họ tới Nghị viện. Để đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ cho Nghị viện quyết định, những ý kiến bất đồng này cũng phải được nêu rõ trong báo cáo của uỷ ban.

Sau khi hoàn tất, uỷ ban trình báo cáo ra phiên họp Nghị viện và nhấn mạnh những vấn đề cần thảo luận trong dự luật của Chính phủ. Các nghị sĩ đều nhận được bản photocopy báo cáo và được thông báo thời gian nghiên cứu báo cáo đó. Nếu tất cả nghị sĩ đồng ý thông qua dự luật thì không cần thiết phải tổ chức tranh luận tại phiên họp Nghị viện. Trong trường hợp có các ý kiến khác nhau, cuộc tranh luận tại phiên họp sẽ được tổ chức. Khi đó, tại phiên họp Nghị viện, thành viên của uỷ ban đã xem xét dự luật trình bày quan điểm của mình và tất cả nghị sĩ đều có quyền tham gia tranh luận. Máy tốc ký sẽ ghi lại tất cả những ý kiến đã được phát biểu tại phiên họp. Đồng thời, bản ghi lại các tranh luận được công khai để công chúng theo dõi.

Việc ra quyết định về dự luật sẽ được tiến hành sau khi các nghị sĩ kết thúc tranh luận. Nếu chỉ có một loại ý kiến về dự luật, phát ngôn viên của Nghị viện – người thay mặt cho toàn thể nghị sĩ – sẽ hỏi xem tất cả nghị sĩ có chấp nhận ý kiến đó không. Nếu có nhiều ý kiến thì sẽ tổ chức bỏ phiếu và kết quả bỏ phiếu phải nêu rõ tỉ lệ các đảng bỏ phiếu cho từng ý kiến như thế nào. Sau đó, Nghị viện sẽ chuyển tới Chính phủ văn bản tóm tắt về quyết định của mình đối với dự luật. Các văn bản như hiến pháp và đạo luật sau khi được Nghị viện thông qua, thường sẽ được xuất bản trong Tập công báo SFS.

Theo pháp luật Việt Nam, căn cứ vào chương trình xây dựng luật đã được thông qua và trước khi dự luật được đưa ra thảo luận lần đầu tại kỳ họp của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội tiến hành thẩm tra dự án luật. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây: (i) sự cần thiết phải ban hành văn bản, đối tượng, phạm vi điều chỉnh; (ii) sự phù hợp của nội dung dự luật với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, tính hợp hiến, hợp pháp của dự luật và tính thống nhất của văn bản với hệ thống pháp luật; (iii) việc tuân thủ thủ tục và trình tự soạn thảo; (iv) tính khả thi của dự án.

Sau khi nghe cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật thuyết trình về dự án, nghe báo cáo thẩm tra của các cơ quan thẩm tra về dự án đó, Quốc hội thảo luận về những nội dung cơ bản và những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo Đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu Quốc hội và chuẩn bị những nội dung cơ bản của dự án luật để trình Quốc hội biểu quyết làm cơ sở cho việc chỉnh lý.

Sau kỳ họp, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo việc tiếp thu, chỉnh lý dự án luật đã được Quốc hội cho ý kiến. Cơ quan chủ trì thẩm tra, cơ quan trình dự án, Uỷ ban Pháp luật, Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan, căn cứ vào ý kiến của đại biểu Quốc hội, giúp Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chỉnh lý dự thảo luật. Để thực hiện việc chỉnh lý văn bản, trong giai đoạn này, Ban công tác lập pháp – cơ quan chuyên môn trực thuộc Uỷ ban thường vụ Quốc hội – có trách nhiệm chủ trì trong việc phối hợp với cơ quan thẩm tra dự án, cơ quan trình dự án, Uỷ ban Pháp luật, Bộ Tư pháp để hoàn thiện về mặt kỹ thuật văn bản.

Bản dự án luật đã được chỉnh lý sau kỳ họp sẽ tiếp tục được lấy ý kiến tại Hội nghị đại biểu chuyên trách, được thảo luận tại các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương. Đối với những dự án lớn, quan trọng, dự án luật phải được tổ chức lấy ý kiến nhân dân một lần nữa. Sau đó, Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội thông qua dự án luật đã được tiếp thu, chỉnh lý.

Tại phiên họp toàn thể của Quốc hội lần tiếp sau, Quốc hội xem xét thông qua luật. Nếu văn bản được Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước ký lệnh công bố văn bản đó. Sau đó, văn bản được đăng trên Công báo của Chính phủ.

Như vậy, trong giai đoạn này của quy trình lập pháp Thuỵ Điển, dự luật cũng được xem xét kỹ bởi một uỷ ban chuyên trách lĩnh vực có liên quan đến nội dung dự án. Công việc này tương tự với thủ tục thẩm tra được tiến hành bởi Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội ở Việt Nam. Quá trình xem xét và thẩm tra dự án luật ở cả hai quy trình lập pháp của Việt Nam và Thuỵ Điển đều có tổ chức các buổi thảo luận để thành viên của các uỷ ban trình bày ý kiến. Nhưng điểm khác nhau của hai quy trình trên là ở chỗ: thứ nhất, đối với quy trình lập pháp của Thuỵ Điển, trên cơ sở xem xét, thảo luận kỹ lưỡng bởi các thành viên uỷ ban và có tiếp thu thêm những ý kiến của các chuyên gia và đại diện của các tổ chức, chính uỷ ban đó có nhiệm vụ hoàn tất báo cáo để trình ra trước phiên họp của Nghị viện. Trong khi đó, ở quy trình lập pháp của Việt Nam, cơ quan trình dự luật để Quốc hội thông qua là Uỷ ban thường vụ Quốc hội; thứ hai, trình tự tiến hành giai đoạn này ở Việt Nam phức tạp hơn và có nhiều công đoạn hơn so với ở Thuỵ Điển. ở Việt Nam, sau khi có kết quả thẩm tra, Quốc hội sẽ tổ chức ngay kỳ họp để thảo luận và cho ý kiến về những nội dung của dự luật. Trên cơ sở tiếp thu và chỉnh lý dự án luật đã được Quốc hội cho ý kiến, Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức lấy ý kiến tại Hội nghị đại biểu chuyên trách, tổ chức thảo luận tại các Đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương và tổ chức lấy ý kiến nhân dân một lần nữa đối với những dự án lớn, quan trọng, sau đó mới chỉnh lý lại toàn bộ dự án để trình Quốc hội thông qua. Như vậy, để được thông qua bởi Quốc hội, dự án luật ở Việt Nam phải được thảo luận ít nhất hai lần tại hai kỳ họp của Quốc hội.

Từ những phân tích trên, chúng ta thấy rằng, thể chế chính trị, cơ cấu tổ chức cơ quan lập pháp cũng như đặc điểm thành viên của cơ quan này có ảnh hưởng lớn tới quy trình lập pháp của mỗi quốc gia. Nếu như ở Thuỵ Điển, Nghị viện được tổ chức thành các uỷ ban và các nghị sĩ thường là chuyên trách, Nghị viện hoạt động thường xuyên, không cần thiết phải có cơ quan thường trực và do vậy, mỗi uỷ ban có vai trò chính trong quy trình lập pháp đối với các dự án luật thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách; thì ở Việt Nam, do thành phần đại biểu Quốc hội chủ yếu là đại biểu kiêm nhiệm, Quốc hội hoạt động không thường xuyên, nên Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội và cơ quan này có vai trò hết sức quan trọng trong quy trình lập pháp. Mặt khác, do có đại diện của nhiều đảng phái khác nhau trong Nghị viện Thuỵ Điển, nên các buổi thảo luận tại uỷ ban cũng như trong phiên họp Nghị viện, đều diễn ra những cuộc tranh luận gay gắt giữa đảng viên đại diện cho các đảng phái và thường là ý kiến của đảng chiếm đa số ghế trong nghị viện sẽ dành ưu thế. Những cuộc tranh luận như vậy hoàn toàn khác với cuộc tranh luận giữa các đại biểu Quốc hội Việt Nam trong phiên họp Quốc hội. Các tranh luận ở Việt Nam không phải là tranh luận của các nhóm đảng viên đại diện cho lợi ích của các đảng phái đối lập nhau, mà là tranh luận nhằm tìm ra giải pháp chung hợp lý nhằm giải quyết thoả đáng những vấn đề mà dự án luật đặt ra.

3. Một số kiến nghị

Từ những nghiên cứu, so sánh quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam và của Nghị viện Thụy Điển nêu trên, chúng tôi cho rằng, để tiếp tục nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội Việt Nam, một trong những biện pháp quan trọng hiện nay là cải tiến quy trình lập pháp. Việc cải tiến này cần được tiến hành trên cơ sở kế thừa những yếu tố và những khâu hợp lý của quy trình lập pháp hiện có, loại bỏ những yếu tố, những khâu không cần thiết, kém hiệu quả; đồng thời tiếp thu có chọn lọc những yếu tố khoa học và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong quy trình lập pháp của các quốc gia tiên tiến. Trong số rất nhiều quốc gia mà Việt Nam đang tiến hành nghiên cứu, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm, chúng tôi thiết nghĩ, Thụy Điển là một quốc gia cần được quan tâm nghiên cứu kỹ để có thể vận dụng những kinh nghiệm quý báu từ hoạt động lập pháp của họ. Với mục đích học hỏi kinh nghiệm của Thụy Điển nhằm hoàn thiện quy trình lập pháp của Việt Nam, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến sau đây:

Thứ nhất, cần nhận thức đúng tầm quan trọng của công đoạn lập báo cáo phân tích chính sách ngay từ giai đoạn đề xuất sáng kiến lập pháp, để đưa ra những báo cáo chính sách cụ thể và khoa học, làm cơ sở cho các hoạt động soạn thảo văn bản sau này. Các cơ quan và cá nhân có quyền đề xuất sáng kiến lập pháp khi đưa dự án luật vào chương trình xây dựng luật phải kèm theo tài liệu phân tích chính sách. Các chương trình xây dựng pháp luật hàng năm chỉ được thông qua khi có tài liệu phân tích chính sách đủ sức thuyết phục. Điều đó sẽ góp phần giảm lãng phí công sức và tiền bạc để soạn thảo những văn bản chưa rõ về đối tượng điều chỉnh và mục đích định hướng hành vi, hoặc tránh tình trạng vì dự án đã đưa vào chương trình nên phải thông qua một đạo luật chủ yếu mang ý nghĩa tuyên ngôn mà ít ý nghĩa điều chỉnh.

Thứ hai, cần quy định các chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp phải công khai các dự án và có các hình thức thích hợp tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan ngay từ giai đoạn đầu của quy trình lập pháp. Để nâng cao chất lượng của việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và ý kiến nhân dân đối với dự án luật, cần phải có kế hoạch, thời gian hợp lý trong việc tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức và ý kiến nhân dân để tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc mà vẫn đảm bảo chất lượng của dự án; quy định rõ ràng hơn trách nhiệm của các cơ quan soạn thảo trong việc tiếp thu ý kiến góp ý. Để có căn cứ xác định trách nhiệm của các bên có liên quan trong vấn đề này, cần có tài liệu bằng văn bản lưu tất cả những ý kiến góp ý (kể cả đồng ý và không đồng ý với dự án luật). Đặc biệt, cần có cơ chế phản hồi việc lấy ý kiến góp ý. Đó là trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền thông tin lại hoặc phúc đáp lại cho các đối tượng được lấy ý kiến về việc tập hợp, tổng hợp, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản. Việc phản hồi có thể được thực hiện thông qua các hình thức như đăng, phát các bản báo cáo tổng hợp ý kiến, báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản trên phương tiện thông tin đại chúng hoặc qua việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, qua công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội; đồng thời đầu tư ngân sách thích đáng cho việc lấy ý kiến góp ý về các dự án luật.

Thứ ba, cải tiến quy trình soạn thảo dự án văn bản luật trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, các cơ quan có liên quan, Ban soạn thảo và các thành viên của Chính phủ; tăng cường tính trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân trong việc soạn thảo; nghiên cứu cách thành lập Uỷ ban soạn thảo văn bản của Thụy Điển và vận dụng, để từng bước thực hiện phương pháp dùng chuyên gia trong xây dựng văn bản. Không nhất thiết dự án nào cũng thành lập Ban soạn thảo do một bộ chủ trì với thành phần chủ yếu là đại diện lãnh đạo các ngành có liên quan, rồi lại thành lập Tổ biên tập giúp việc cho Ban soạn thảo. Cách thức này vừa hình thức vừa rườm rà, tốn kém. Vì vậy, trong thời gian tới có thể thành lập Tổ chuyên gia do Thủ tướng Chính phủ quyết định, trong đó huy động các chuyên gia có năng lực chuyên môn từ các bộ, ngành, các nhà khoa học. Để nâng cao chất lượng xây dựng văn bản pháp luật của Chính phủ trước khi trình Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ phải có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất ngay từ đầu quy trình soạn thảo dự án.

Thứ tư, tiếp tục hoàn thiện khâu chỉnh lý dự thảo văn bản. Cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan trình dự án không chỉ là chuẩn bị dự thảo luật cho đến khi dự án được trình ra trước Quốc hội, mà phải có trách nhiệm cùng với các cơ quan của Quốc hội tiếp tục việc chỉnh lý, hoàn chỉnh dự thảo luật cho đến khi dự thảo được Quốc hội thông qua. Để việc chỉnh lý có chất lượng, nhất là đối với những dự án lớn hoặc có nội dung phức tạp, cần có cơ chế để huy động các nhà khoa học, các chuyên gia pháp lý, hoặc chuyên gia về lĩnh vực mà dự án điều chỉnh, tham gia vào việc chỉnh lý dự án, đồng thời cũng có thể huy động các đại biểu Quốc hội chuyên trách tham gia chỉnh lý dự thảo để tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội.

Thứ năm, đổi mới thủ tục xem xét và thông qua dự án luật:

– Để mỗi dự luật đều được xem xét kỹ lưỡng cả về những nguyên tắc chung cũng như những nội dung chi tiết hoặc kỹ thuật soạn thảo, cần tiếp tục nghiên cứu, cải tiến các bước của quy trình thảo luận thông qua dự án luật. Ngoài các hình thức thảo luận tại Tổ, Đoàn đại biểu Quốc hội và thảo luận tại Hội trường, cần quy định về các hình thức thảo luận tại Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội, hoặc thảo luận tại các Tiểu ban chuyên đề. Hình thức thảo luận theo các Tiểu ban chuyên đề có thể do các uỷ ban của Quốc hội chủ trì. Với hình thức này, dự án sẽ được xem xét chuyên sâu theo từng khía cạnh.

– Đề cao vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của Chủ tọa phiên họp Quốc hội. Quy định rõ về quyền của Chủ tọa phiên họp trong việc yêu cầu các đại biểu Quốc hội chỉ thảo luận những vấn đề còn có ý kiến khác nhau hoặc những ý kiến không đồng ý với dự thảo luật, không lập luận về những nội dung đã được phát biểu rõ tại Hội trường, quyền yêu cầu chấm dứt thảo luận và đề nghị tiến hành biểu quyết về vấn đề đang thảo luận.

– Nghiên cứu việc quy định về trình tự xem xét, thông qua dự án luật theo thủ tục rút gọn trong trường hợp cần thiết.

[1] Xem Instrument of Government, Chapter 8.

[2] Xem trang Web: http://www.Riskdagen.se/ How law are made.

[3] Điu 87 Hiến pháp 1992.

[4] Điu 22, Lut Ban hành văn bn quy phm pháp lut.

[5] Xem Instrument of Government, Chapter 8, Art (Tiếng Anh).

[6] Michael Bogdan, “Swedish law in the new millenium”, Printed in Sweden by Elanders Gotab, Stockholm 2000, tr. 80 (tiếng Anh).

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ THÁNG 12/2006

THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP TẠI HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Ở Hoa Kỳ không có qui định chung về việc thành lập doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các bang. Qui định này ở mỗi bang một khác. Luật của các bang về các loại hình doanh nghiệp có thể không hoàn toàn giống nhau; tuy nhiên, ở tất cả các bang đều tồn tại bốn loại hình doanh nghiệp cơ bản. Về mặt pháp lý, ở Hoa Kỳ, không có loại hình văn phòng đại diện như ở Việt Nam. Hầu hết các bang đều không yêu cầu vốn tối thiểu để thành lập doanh nghiệp. Thủ tục thành lập doanh nghiệp ở các bang đều đơn giản và nhanh chóng. Các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự điều tiết của pháp luật giống như các công ty trong nước.

Các loại hình doanh nghiệp

Nghiên cứu về loại hình doanh nghiệp ở Hoa Kỳ không những để lựa chọn loại hình phù hợp cho mình mà còn để hiểu kỹ hơn về đối tác của mình. Qua giới thiệu tóm tắt về các loại hình doanh nghiệp dưới đây ở Hoa Kỳ ta có thể thấy quan hệ với doanh nghiệp tư nhân một chủ hoặc doanh nghiệp hợp danh có thể có nhiều rủi ro hơn là với doanh nghiệp là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.

Doanh nghiệp tư nhân một chủ

(Sole Proprietorship)

Doanh nghiệp tư nhân một chủ là loại hình doanh nghiệp thành lập nhanh nhất và dễ nhất. Thông thường bạn chỉ cần điền vào mẫu đơn đăng ký mua tại các cửa hàng văn phòng phẩm và gửi đến cơ quan đăng ký ở bang hoặc quận. Tùy thuộc và qui định của từng bang, bạn có thể phải gửi nhiều bản và/hoặc phải có chứng nhận chữ ký. Cùng với đơn bạn phải nộp một khoản tiền đăng ký nhỏ, thông thường bằng séc do ngân hàng phát hành (cashier’s check) hoặc lệnh trả tiền (money order).

Mục đích chủ yếu của việc đăng ký là giúp cho những người quan tâm tìm những người kinh doanh bằng tên không phải là tên riêng của họ. Chủ doanh nghiệp toàn quyền quyết định và tự chịu trách nhiệm vô hạn (bằng cả tài sản cá nhân của mình) đối với mọi vấn đề liên quan đến kinh doanh. Cuối năm, lãi hoặc lỗ trong kinh doanh sẽ được tính vào thu nhập của chủ doanh nghiệp để nộp thuế thu nhập cá nhân.

Doanh nghiệp hợp danh (Partnership)

Việc đăng ký thành lập doanh nghiệp hợp danh cũng đơn giản và tương tự như doanh nghiệp tư nhân một chủ. Doanh nghiệp hợp danh có thể gồm hai hoặc nhiều chủ. Mức độ tham gia của từng chủ do các chủ tham gia quyết định và được thoả thuận bằng văn bản với sự giúp đỡ của luật sư và có chữ ký của tất cả những người tham gia. Có cả doanh nghiệp hợp danh đầy đủ và doanh nghiệp hợp danh có giới hạn. Chủ hợp danh đầy đủ thông thường chia sẻ sở hữu, công việc, và trách nhiệm (managing partner), còn chủ hợp danh có giới hạn sẽ không tham gia vào các quyết định quản lý và sẽ không chịu trách nhiệm đối với các vấn đề nảy sinh từ các quyết định của người quản lý.

Loại hình doanh nghiệp này có thuận lợi là kết hợp được sở trường và tài năng của các chủ thành viên. Tuy nhiên, hầu hết các nhà tư vấn kinh doanh đều không khuyến nghị loại hình doanh nghiệp này vì nó có thể trục trặc còn tệ hại hơn những cuộc hôn nhân không may mắn. Doanh nghiệp hợp danh thường phải giải thể nếu một hoặc nhiều chủ thành viên chính thức từ bỏ doanh nghiệp (vì lý do chết chẳng hạn).

Lãi hoặc lỗ trong kinh doanh chia cho các chủ doanh nghiệp hợp danh được tính vào thu nhập của những người này để nộp thuế thu nhập cá nhân.

Công ty cổ phần (corporation)

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp chính thống hơn. Các doanh nghiệp lớn hàng đầu của Hoa Kỳ đều thuộc loại hình công ty cổ phần. Công ty cổ phần là một pháp nhân độc lập có thể tiếp tục hoạt động ngay cả khi chủ không còn tồn tại. Quyền sở hữu công ty cổ phần có thể chuyển nhượng cho người khác. Doanh nghiệp thuộc loại này có thể bán cổ phiếu để huy động vốn, và chủ doanh doanh nghiệp không phải chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân đối với các phán quyết pháp lý. Ví dụ, bạn là chủ công ty cổ phần sẽ không phải bán nhà riêng của mình để trả tiền điều trị cho một khách hàng bị thương do dùng sản phẩm của công ty. Tuy nhiên, sự miễn trừ này sẽ không được áp dụng nếu tòa án phán quyết rằng bạn đã biết mình đang kinh doanh một loại hàng nguy hiểm có thể gây thương vong cho khách hàng và bạn lập ra công ty chỉ để bảo vệ mình.

Vì lý do trên, các doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu vào Hoa Kỳ các sản phẩm ăn uống vào trong người hoặc bôi lên da hoặc các sản phẩm có thể gây hại, đặc biệt là các sản phẩm dành cho trẻ em nên thành lập công ty cổ phần ngay từ đầu.

Việc đăng ký thành lập công ty cổ phần được tiến hành ở cấp bang. Công ty cổ phần có thể đăng ký thành lập ở bất cứ bang nào mà mình muốn và không nhất thiết phải ở bang mà công ty sẽ thực sự kinh doanh. Ví dụ, do các luật công ty và thuế thuận lợi, nên Bang Delaware là nơi đăng ký kinh doanh của trên một nửa trong số 500 doanh nghiệp lớn nhất Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp mới và nhỏ thì nên đăng ký thành lập ở chính bang mà doanh nghiệp dự kiến sẽ thực sự kinh doanh.

Có hai hoại công ty cổ phần là công ty cổ phần bình thường (“C corporation” hay còn thường được gọi là “General corporation”) và công ty cổ phần nhỏ (“S corporation” – S là viết tắt của chữ “small” của tiếng Anh nghĩa là nhỏ). Về thủ tục đăng ký, doanh nghiệp làm thủ tục đăng ký thành lập công ty cổ phần bình thường, sau đó điền thêm một mẫu đơn đăng ký loại hình công ty cổ phần nhỏ.

Các đặc điểm của công ty cổ phần bình thường:

Có ba cấp quyền lực: cổ đông, giám đốc, cán bộ quản lý (có thể cùng một người);

  • Không hạn chế số cổ đông;
  • Công ty có thể sở hữu cổ phần ở các công ty khác và có thể nhận lãi cổ phần với 80% được miễn thuế.
  • Các cổ đông sở hữu công ty và bầu các giám đốc ;
  • Các cán bộ quản lý điều hành công việc hàng ngày của công ty;
  • Các cổ đông nhỏ không có trách nhiệm đối với công ty;
  • Có thể chuyển thành công ty nhỏ nếu đủ điều kiện;
  • Được phép giới hạn trách nhiệm đối với chủ công ty, giám đốc và cán bộ quản lý;
  • Nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trên cơ sở lãi tịnh với thuế suất thường thấp hơn thuế thu nhập cá nhân;
  • Quyết toán tài chính theo năm tài chính; Lỗ của công ty có thể được chuyển sang các năm sau để tính thuế;
  • Có thể giữ lại một phần thu nhập để tái đầu tư phát triển;
  • Được phép tính chi phí thuế an sinh xã hội và các phúc lợi khác cho chủ và nhân viên vào chi phí kinh doanh của công ty.

Những đặc điểm chủ yếu của công ty cổ phần nhỏ:

  • Bị hạn chế số lượng cổ đông và cổ đông phải là công dân Hoa Kỳ;
  • Cổ đông và giám đốc phải là các cá nhân chứ không thể là pháp nhân;
  • Được giới hạn trách nhiệm như công ty cổ phần bình thường;
  • Công ty không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Lãi hoặc lỗ của công ty chia cho chủ công ty được tính vào thu nhập của những người này để nộp thuế thu nhập cá nhân (chủ doanh nghiệp tránh bị đánh thuế hai lần gồm thuế lãi cổ phần và thuế thu nhập cá nhân);
  • Quyết toán tài chính theo năm lịch;

Công ty cổ phần nhỏ có thể là sự lựa chọn phù hợp hơn đối với các trường hợp: (1) Công ty có một chủ sở hữu là cá nhân; (2) Công ty dự kiến lỗ trong những năm đầu hoạt động và chủ công ty có thu nhập thường xuyên có thể trừ lỗ của công ty vào đó; (3) Công ty không có ý định dùng lãi kinh doanh để tái đầu tư phát triển.

Tên của doanh nghiệp thuộc loại hình công ty cổ phần phải có chữ cuối cùng là: Corporation, Company, Incorporated, Limited, Syndicate, Union, Society, Club, Foundation, Fund, Institute, Asociation; hoặc sử dụng một trong những từ viết tắt là: Co., Corp., Inc., hoặc Ltd..

Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Company)

Công ty trách nhiệm hữu hạn là sự kết hợp giữa loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần và doanh nghiệp hợp danh. Công ty trách nhiệm hữu hạn đã trở thành loại hình doanh nghiệp hết sức phổ biến trong những năm gần đây ở Hoa Kỳ. Giống như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn tồn tại độc lập với chủ sở hữu về mặt pháp lý; Chủ sở hữu và cán bộ quản lý không phải chịu trách nhiệm cá nhân về nợ và các nghĩa vụ của công ty. Cũng giống như doanh nghiệp hợp danh hoặc công ty cổ phần nhỏ, công ty trách nhiệm hữu hạn không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp mà lãi hoặc lỗ của công ty chia cho chủ sở hữu được tính vào thu nhập của những người này để nộp thuế thu nhập cá nhân.

Tên của công ty trách nhiệm hữu hạn phải có chữ cuối cùng là: LLC., L.L.C., hoặc Limited Liability Company.

Loại hình doanh nghiệp phù hợp

với các doanh nghiệp Việt Nam tại Hoa Kỳ

Từ những đặc điểm và qui định của pháp luật Hoa Kỳ đối với các loại hình doanh nghiệp như đã nêu ở trên, ta có thể thấy doanh nghiệp cổ phần bình thường là loại hình phù hợp nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam muốn thành lập công ty chi nhánh ở Hoa Kỳ. Hơn nữa, pháp luật Hoa Kỳ qui định doanh nghiệp cổ phần bình thường nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Hoa Kỳ; do vậy, các cơ quan đăng ký kinh doanh ở Hoa Kỳ cũng khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài thành lập loại hình doanh nghiệp này tại Hoa Kỳ.

Thành lập doanh nghiệp và triển khai hoạt động

Thủ tục và giấy tờ thành lập doanh nghiệp ở mỗi bang một khác, song nói chung đều đơn giản và nhanh chóng. Cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký kinh doanh ở các bang cũng khác nhau, có thể là sở thương mại hoặc văn phòng phát triển doanh nghiệp…, hoặc thậm chí được phân cấp cho quận. Trang web của cơ quan đăng ký kinh doanh các bang hoặc quận cung cấp đầy đủ các thông tin và hướng dẫn tỉ mỉ các thủ tục đăng ký kinh doanh.

Các doanh nghiệp Việt Nam muốn thành lập doanh nghiệp tại Hoa Kỳ có thể nộp đơn trực tiếp đến cơ quan đăng ký kinh. Việc đăng ký này cũng có thể tiến hành trên mạng Internet. Phí đăng ký thành lập công ty không đáng kể (tùy theo từng bang và loại hình công ty, nhưng thông thường không quá 300 USD). Sau khi đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan thuế, mở tài khoản tại ngân hàng, và xin giấy phép kinh doanh đối với những ngành nghề cần giấy phép kinh doanh do cơ quan quản lý chuyên ngành cấp.

Tuy nhiên, do chưa hiểu thủ tục và chưa có kinh nghiệm nên khó hoàn chỉnh hồ sơ; cho nên, để tránh tốn phí thời gian, bạn nên thuê công ty làm dịch vụ đăng ký thành lập doanh nghiệp tại bang mà bạn muốn thành lập công ty hướng dẫn thủ tục, và lập và nộp hồ sơ. Bạn cũng có thể dùng địa chỉ của công ty dịch vụ này làm địa chỉ liên lạc tạm thời với chính quyền trong khi công ty mới thành lập của bạn chưa triển khai hoạt động và/hoặc chưa có địa chỉ riêng. Luật pháp nhiều bang yêu cầu công ty nước ngoài phải có người/công ty của bang đó đứng ra làm đại diện liên lạc khi cần thiết. Chi phí thuê dịch vụ đăng ký thành lập công ty cũng không lớn, thông thường không quá 500 – 700 USD.

Nhằm hỗ trợ phát triển kinh doanh tại bang, hầu hết chính quyền các bang đều có bộ phận hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. Doanh nghiệp nước ngoài cũng có thể tìm đến tổ chức này để được giúp đỡ trong đó có việc hướng dẫn thủ tục và giúp đỡ đăng ký doanh nghiệp. Những dịch vụ do tổ chức này cung cấp thường là miễn phí hoặc với giá cả phải chăng.

Dịch vụ thành lập công ty tại Bang Delaware

Công ty Delaware Company chuyên làm dịch vụ đăng ký thành lập công ty ở Bang Delaware đã quảng cáo trên trang web là khách hàng thuê dịch vụ của họ có thể nhận được giấy đăng ký thành lập doanh nghiệp trong vòng một ngày làm việc. Giá trọn gói cho dịch vụ này chỉ là 299 USD bao gồm cả phí đăng ký trả cho chính quyền bang, phí đại lý đăng ký hàng năm của năm đầu tiên, và một số tài liệu và dịch vụ khác.

Nhiều thành phố lớn ở Hoa Kỳ có trung tâm thương mại quốc tế (international bussiness center) hoặc tổ chức tương tự để hỗ trợ các doanh nghiệp nước ngoài thành lập doanh nghiệp và triển khai hoạt động nhanh chóng. Những trung tâm này có thể cung cấp nhiều dịch vụ từ cho thuê trụ sở “chìa khóa trao tay” (có đầy đủ phương tiện làm việc) với giá phải chăng và thời hạn thuê linh hoạt (kể cả thuê ngắn hạn) đến tư vấn có giảm giá về thị trường, luật pháp, thuế, thiết lập quan hệ bạn hàng, tiếp cận vốn, thuê nhân viên, quảng cáo, tiếp thị; và đến giúp đỡ các nhân viên mới chuyển đến sớm ổn định cuộc sống….

SOURCE: thương vụ thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ

CƠ CHẾ HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Hiến pháp Hoa Kỳ qui định Quốc hội Hoa Kỳ có quyền quản lý ngoại thương và quyết định về thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, do việc tăng hoặc giảm thuế nhập khẩu, ấn định hạn ngạch nhập khẩu, hoặc đàm phán các hiệp định thương mại quốc tế rất phức tạp và ảnh hưởng đến lợi ích không những của Hoa Kỳ mà còn của các nước khác; nên nhiều trách nhiệm trong những lĩnh vực này đã đuợc Quốc hội uỷ quyền cho các cơ quan hành pháp. Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được Quốc hội uỷ quyền, các cơ quan hành pháp được uỷ quyền có trách nhiệm tham vấn thường xuyên và chặt chẽ với các uỷ ban có liên quan của Quốc hội và các nhóm cố vấn của khu vự tư nhân.

Quốc hội liên bang

Vai trò của Quốc hội trong chính sách thương mại cơ bản gồm hai phần: ban hành và giám sát thi hành các luật thương mại.

Tất cả các luật thương mại ở Hoa Kỳ đều do Quốc hội ban hành. Quốc hội có thể uỷ quyền cho chính quyền tiến hành các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, song tất cả các hiệp định thương mại song phương và đa phương do chính quyền ký kết với các nước đều phải được Quốc hội thông qua mới có hiệu lực thi hành.

Luật thương mại qui định rõ năm thành viên của Uỷ ban Chính sách và Tài chính (Ways and Means Committee) thuộc Hạ viện và năm thành viên của Uỷ ban Tài chính Thượng viện (Finance Committee) được chỉ định là cố vấn của Quốc hội cho các đoàn đàm phán thương mại quốc tế của chính quyền. Văn phòng Đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) – là cơ quan chủ trì đàm phán thương mại quốc tế của chính quyền – có trách nhiệm cung cấp cho các cố vấn này đầy đủ thông tin về mục tiêu và tình hình các cuộc đàm phán thương mại quốc tế của Hoa Kỳ cũng như những khả năng có thể phải điều chỉnh luật pháp hiện hành của Hoa Kỳ để phù hợp với hiệp định sẽ ký kết.

Quốc hội cũng yêu cầu USTR và Uỷ ban thương mại quốc tế (ITC) của Hoa Kỳ gửi các báo cáo hàng năm để Quốc hội nắm được tình hình thực thi các luật và chương trình thương mại. Đáng chú ý là báo cáo hàng năm của USTR với tiêu đề: “Báo cáo đánh giá thương mại quốc gia về các rào cản ngoại thương” và báo cáo hàng năm của ITC với tiêu đề “Năm thương mại: Hoạt động của chương trình các hiệp định thương mại”.

Để đảm bảo các cơ quan chính quyền triển khai đúng các luật thương mại, Quốc hội yêu cầu các cơ quan này phải thường xuyên tham khảo ý kiến Quốc hội và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để tranh thủ ý kiến của công chúng trước khi trình dự thảo hiệp định hoặc dự thảo luật triển khai.

Ngoài ra, Quốc hội có thể điều tiết và kiểm soát việc thực hiện các luật và chương trình thương mại thông qua quyền phân bổ ngân sách của mình cho các cơ quan chính quyền về thương mại.

Chính quyền liên bang

Chính sách thương mại là nhân tố cơ bản của chính sách kinh tế và ngoại giao của Hoa Kỳ. Do các quyết định về chính sách thương mại có ảnh hưởng sâu rộng đến cả lợi ích trong và nước ngoài nên có nhiều cơ quan chính phủ Hoa Kỳ có vai trò trong hoạch định các chính sách thương mại. Nhiều cơ chế phối hợp liên ngành đã được sử dụng để phối hợp các quan điểm và lợi ích khác nhau nhằm đảm bảo cho chính sách thương mại quốc gia được nhất quán và cân bằng.

Uỷ ban chính sách thương mại (TPC) chịu trách nhiệm chính trong phối hợp chính sách thương mại. TPC bao gồm Trưởng Đại diện thương mại (USTR) là chủ tịch và các thành viên là Bộ trưởng các Bộ Thương mại, Ngoại giao, Nông nghiệp, Tài chính và Lao động. Ngoài ra, đại diện của các cơ quan khác cũng được mời dự họp về chính sách thương mại khi cần thiết.

Chức năng cơ bản của TPC là: giúp Tổng thống thực hiện các chức năng của Tổng thống theo các luật thương mại và cố vấn cho USTR thực hiện các chức năng của USTR; giúp Tổng thống và cố vấn cho USTR trong việc xây dựng và thực hiện các mục tiêu chính sách thương mại quốc tế; và cố vấn cho Tổng thống và USTR trong việc phối hợp giữa các mục tiêu chính sách thương mại quốc tế với các lĩnh vực chính sách lớn khác. Khi cần quyết định của Tổng thống về chính sách thương mại, chủ tịch TPC (USTR) sẽ đệ trình lên Tổng thống các khuyến nghị và lời khuyên của TPC.

Dưới TPC có hai nhóm phối hợp trực thuôc: Nhóm rà soát chính sách thương mại (TPRG) và Uỷ ban tham mưu về chính sách thương mại (TPSC). TPSC bao gồm các quan chức cao cấp của các cơ quan thành viên TPC. TPSC có hơn 60 tiểu ban và nhóm theo lĩnh vực công việc. Các vấn đề không đạt được sự nhất trí trong TPSC hoặc có tầm quan trọng thì sẽ được chuyển sang TPRG để xem xét. TPRG gồm các thành viên cấp thứ trưởng các cơ quan thành viên TPC và phó đại diện USTR. Các vấn đề không đạt được sự nhất trí trong TPRG sẽ được chuyển lên TPC để xem xét.

Nấc cuối cùng trong cơ chế liên ngành về thương mại là Uỷ ban Kinh tế Quốc gia (NEC) do Tổng thổng làm chủ tịch. Các thành viên khác của NEC gồm Phó Tổng thống, các Bộ trưởng Ngoại giao, Tài chính, Nông nghiệp, Thương mại, Lao động, Bộ Phát triển Đô thị và Nhà ở, Giao thông Vận tải, và Năng lượng; Chủ nhiệm Cơ quan Bảo vệ Môi trường; Giám đốc Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ; chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế; Cố vấn An ninh Quốc gia; và các trợ lý Tổng thống về chính sách kinh tế, chính sách đối nội, chính sách khoa học và công nghệ.

Khi các quyết định về chính sách được đưa ra trong cơ chế liên ngành này, USTR sẽ đảm đương trách nhiệm chỉ đạo triển khai thực hiện quyết định đó.

Đại diện Thương mại

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (USTR) là thành viên nội các, mang hàm đại sứ và có những nhiệm vụ sau:

– Chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng và điều phối thực hiện chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kỳ;

– Là cố vấn chính cho Tổng thống về chính sách thương mại quốc tế và tư vấn cho Tổng thống về ảnh hưởng của các chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ đối với thương mại quốc tế;

– Chịu trách nhiệm lãnh đạo tiến hành và là đại diện chính của Hoa Kỳ trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, kể cả các cuộc đàm phán về trao đổi hàng hoá và đầu tư trực tiếp;

– Phối hợp chính sách thương mại với các cơ quan khác;

– Là phát ngôn viên chính của Tổng thống về thương mại quốc tế;

– Báo cáo và chịu trách nhiệm trước Tổng thống và Quốc hội về việc điều hành chương trình các hiệp định thương mại, kể cả cố vấn về các hàng rào phi thuế, các hiệp định nông sản quốc tế, và các vấn đề khác liên quan đến chương trình các hiệp định thương maị; và

– Là chủ tịch Uỷ ban chính sách thương mại TPC.

Theo luật, USTR là đại điện cao cấp tại tất cả các cơ quan mà Tổng thống lập ra để cố vấn cho Tổng thống về các chính sách kinh tế trong đó các vấn đề thương mại quốc tế đóng vai trò chủ đạo. Luật cũng qui định USTR tham dự tất cả các hội nghị thượng đỉnh kinh tế và các cuộc họp quốc tế khác mà tại đó thương mại quốc tế là một chủ đề chính. USTR có trách nhiệm lãnh đạo phía Hoa Kỳ tại tất cả các cuộc đàm phán về bất cứ vấn đề gì nằm dưới sự bảo trợ của Tổ chức Thương mại Thế giới. Luật Cạnh tranh và Thương mại Omnibus năm 1988 đã nâng thêm tầm quan trọng của USTR bằng cách phân cấp trách nhiệm thực hiện các hành động theo điều 301 của Luật này từ Tổng thống sang cho USTR. Tuy nhiên, việc thực hiện này phải tuân theo sự chỉ đạo cụ thể của Tổng thống, nếu có.

Văn phòng USTR có hai phó Đại diện, một làm việc tại Washington, D.C và một ở Geneva, Thuỵ Sĩ.

Bộ Thương mại

Trách nhiệm chính về thương mại của Bộ Thương mại tập trung vào Cơ quan Quản lý Thương mại Quốc tế và Cục Quản lý Xuất khẩu.

Cơ quan Quản lý Thương mại Quốc tế có trách nhiệm quản lý nhà nước về ngoại thương đối với các mặt hàng phi nông nhiệp, chỉ đạo và điều hành công tác phát triển xuất khẩu và cơ quan xúc tiến thương mại Hoa Kỳ ở nước ngoài, thực thi luật chống bán phá giá và luật thuế chống bù giá, kiểm soát xuất khẩu, hỗ trợ điều chỉnh thương mại cho các công ty, nghiên cứu và phân tích ngoại thương, và theo dõi việc tuân thủ các hiệp định thương mại quốc tế trong đó Hoa Kỳ là một bên tham gia.

Cục Quản lý Xuất khẩu đặc trách kiểm soát việc xuất khẩu hàng hoá và công nghệ vì lý do an ninh quốc gia, chính sách đối ngoại, và thiểu cung. Cục Quản lý Xuất khẩu cấp giấy phép xuất khẩu dựa trên các quy chế kiểm soát xuất khẩu.

Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới

Cục Hải quan và Bảo vệ Biên giới trực thuộc Bộ An ninh Nội địa Hoa Kỳ. Người đứng đầu Cục này (Commissioner of Customs) do Tổng thống bổ nhiệm và được Quốc hội thông qua.

Cục có chức năng thu thuế nhập khẩu và thi hành hơn 400 luật và các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Một số trách nhiệm của Hải quan bao gồm việc ngăn chặn và tịch thu hàng hoá nhập vào bất hợp pháp; giải quyết thủ tục cho người, tàu chuyên chở, hàng hoá, thư từ vào và ra khỏi Hoa Kỳ; quản lý hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác, và hỗ trợ thực thi các luật của Hoa Kỳ về quyền tác giả, quyền sáng chế và thương hiệu.

Uỷ ban Thương mại Quốc tế (Hoa Kỳ)

Uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) là một cơ quan độc lập và gần như là toà án. ITC thực hiện các công việc nghiên cứu, báo cáo và điều tra, và khuyến nghị lên Tổng thống và Quốc hội về rất nhiều các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế.

Các nhiệm vụ của ITC được qui định trong các Luật Thuế quan năm 1930, Luật Điều chỉnh Nông nghiệp, Luật Phát triển Thương mại năm 1962, Luật Thương mại năm 1974, Luật về các Hiệp định Thương mại năm 1979, Luật Thương mại và Thuế quan năm 1984, Luật Cạnh tranh và Thương mại Omnibus năm 1988, và Luật về các Hiệp định Vòng Uruguay.

Theo các luật trên, ITC có trách nhiệm cố vấn, điều tra, nghiên cứu, và thu thập và phân tích số liệu thuộc các lĩnh vực: cố vấn đàm phán thương mại; ưư đãi thuế quan phổ cập chung; hạn chế nhập khẩu để hỗ trợ các ngành công nghiệp trong nước; thương mại Đông – Tây; điều tra về thiệt hại do hàng nhập khẩu được trợ giá hoặc bán phá giá gây ra đối với ngành công nghiệp liên quan của Hoa Kỳ (đây là một trong những chức năng chính của ITC); ảnh hưởng của nhập khẩu đối với các chương trình nông nghiệp; các tập quán không công bằng trong thương mại nhập khẩu; xây dựng hệ thống dữ liệu thống kê thống nhất; các vấn đề liên quan đến biểu thuế nhập khẩu của Hoa Kỳ; nghiên cứu thương mại quốc tế; lập các báo cáo tóm tắt về thương mại và thuế quan.

Theo Điều 337 của Luật Thuế quan năm 1930, ITC có quyền ra lệnh thực thi các hành động để cứu trợ ngành công nghiệp trong nước trong tình huống khẩn cấp do những biện pháp hoặc hành động cạnh tranh không bình đẳng của hàng nhập khẩu gây ra. Tuy nhiên, Tổng thống có quyền phủ quyết những hành động do ITC đưa ra.

ITC có sáu uỷ viên, trong đó có không quá ba uỷ viên từ một đảng chính trị. Nhiệm kỳ của các uỷ viên là chín năm, trừ trường hợp được bổ nhiệm thay thế người chưa hết nhiêm kỳ. Các uỷ viên đã phục vụ trên 5 năm có thể không được bổ nhiệm lại. Chủ tịch và phó chủ tịch được Tổng thống bổ nhiệm với nhiệm kỳ 2 năm. Chủ tịch kế nhiệm phải là người thuộc đảng chính trị khác với chủ tịch hết nhiệm kỳ.

Các Uỷ ban Cố vấn Tư nhân hoặc Chính phủ

Năm 1974, Quốc hội Hoa Kỳ đã thành lập hệ thống uỷ ban cố vấn khu vực tư nhân để đảm bảo rằng các chính sách thương mại và các mục tiêu đàm phán thương mại của Hoa Kỳ phản ánh thoả đáng các lợi ích thương mại và kinh tế của Hoa Kỳ. Gần 30 năm qua, Quốc hội đã mở rộng và nâng tầm vai trò của hệ thống này, đến nay bao gồm 33 uỷ ban cố vấn, với số thành viên cố vấn xấp xỉ 1.000 người.

USTR quản lý một cơ cấu uỷ ban cố vấn ba cấp. Các uỷ ban này họp thường kỳ, thu thập những thông tin nhậy cảm về các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra và các vấn đề chính sách thương mại khác, và báo cáo lên Tổng thống ý kiến của mình về tất cả các hiệp định thương mại được ký kết theo luật thương mại Hoa Kỳ.

Cấp cao nhất, Uỷ ban Cố vấn Chính sách và Đàm phán Thương mại (ACTPN), là một cơ quan gồm 45 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm bao gồm đại diện của Chính phủ, công đoàn, công nghiệp, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ, dịch vụ, bán lẻ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, và công chúng. Nhóm này, được triệu tập họp theo yêu cầu của USTR, xem xét các vấn đề chính sách thương mại trong bối cảnh tổng thể lợi ích quốc gia.

Cấp thứ hai bao gồm 7 uỷ ban cố vấn chính sách, đại diện cho các lĩnh vực kinh tế nói chung, như công nghịêp, nông nghiệp, công đoàn, và dịch vụ. Vai trò của cấp này là cố vấn cho chính phủ về những ảnh hưởng của các bịên pháp thương mại đối với các lĩnh vực tương ứng của họ.

Cấp thứ ba bao gồm 25 uỷ ban cố vấn phân theo lĩnh vực, chức năng, và kỹ thuật, bao gồm các chuyên gia từ các lĩnh vực khác nhau. Các chuyên gia này cung cấp thông tin và ý kiến kỹ thuật cụ thể về các vấn đề thương mại liên quan đến lĩnh vực cụ thể của họ. Các thành viên của cấp thứ hai và cấp thứ ba do USTR và các bộ trưởng của các bộ hoặc cơ quan có liên quan bổ nhiệm.

Source: Thương vụ thương mại Việt Nam Tại Hoa Kỳ

SƠ LƯỢC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Như đã giới thiệu sơ bộ ở phần “Hệ thống Chính trị”, Hoa kỳ là một nước cộng hoà liên bang gồm 50 bang. Ngoài hệ thống pháp luật liên bang, mỗi bang đều có hệ thống pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của liên bang. Trong trường hợp có sự mâu thuẫn giữa luật liên bang và luật bang hoặc luật địa phương, thì luật liên bang sẽ có hiệu lực. Có những giao dịch hoặc vấn đề chịu sự điều tiết của riêng luật liên bang, riêng luật bang, hoặc có thể cả luật biên bang và luật bang. Ví dụ, ở Hoa kỳ không có những qui định chung áp dụng cho cả liên bang về thành lập công ty hoặc văn phòng đại diện mà những qui định này ở mỗi bang một khác.

Hiến pháp Hoa kỳ qui định quyền quản lý ngoại thương và thu thuế xuất nhập khẩu thuộc về các cơ quan quản lý nhà nước liên bang, do vậy các hoạt động xuất nhập khẩu chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của hệ thống luật liên bang. Tuy nhiên, có một số luật của một số bang cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu. Ví dụ, nhập khẩu xe hơi vào Hoa kỳ chịu sự điều tiết trực tiếp và chủ yếu của các luật liên bang liên quan đến nhập khẩu xe hơi. Tuy nhiên, do luật bảo vệ môi trường của một số bang đề ra những yêu cầu bảo vệ môi trường khắt khe hơn so với các luật liên bang về môi trường, cho nên xe hơi nhập khẩu muốn tiêu thụ được ở các bang đó phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường của các bang đó. Một ví dụ khác, luật của Bang Pennsylvania chỉ qui định nguyên liệu nhồi trong đồ chơi không được có chất gây hại, trong khi đó luật của Bang Ohio lại qui định khắt khe hơn là nguyên liệu nhồi trong đồ chơi phải là mới và phải được kiểm tra phòng truyền nhiễm bệnh do vi khuẩn.

Hoa kỳ và tất cả các bang (trừ bang Louisiana theo hệ thống luật Châu Âu) đều theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – thường được dịch sang tiếng Việt là hệ thống thông luật). Điều này có nghĩa là những giải thích luật của toà án sẽ trở thành luật áp dụng trong các trường hợp sau và tương tự. Do vậy, ngoài việc nghiên cứu các luật, việc nghiên cứu các quyết định của toà án cũng là một phần không thể thiếu để hiểu đầy đủ về luật pháp Hoa kỳ đối với một vấn đề nào đó.

Phần này nhằm giới thiệu tóm tắt những nội dung cơ bản của một số luật liên bang của Hoa kỳ về thương mại và có liên quan đến thương mại. Vì là tóm tắt, nên nó không thể chứa đựng tất cả những chi tiết cần thiết hoặc là cơ sở pháp lý cho những giao dịch kinh doanh cụ thể. Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu cẩn thận hoặc sử dụng tư vấn pháp lý để nắm được tất cả các yêu cầu pháp lý hiện hành của Hoa kỳ áp dụng đối với lĩnh vực hoặc ngành hàng kinh doanh của mình.

Source: thương vụ thương mại Việt Nam tại Hoa Kỳ

MỘT SỐ LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Các công ty kinh doanh tại Hoa Kỳ cần phải biết rằng Hoa Kỳ có rất nhiều luật để bảo vệ người tiêu dùng. Những luật này được áp dụng cho gần như mọi sản phẩm sản xuất, phân phối hay bán trên thị trường này.

Các nguồn luật bảo vệ người tiêu dùng bao gồm các luật của liên bang và các bang. Hoa Kỳ theo hệ thống luật Anh – Mỹ (common law system – hay được dịch là hệ thống thông luật) nên các phán quyết của tòa án diễn giải các luật bảo vệ người tiêu dùng cũng trở thành luật. Continue reading

TẬP QUÁN VÀ VĂN HÓA KINH DOANH TẠI HOA KỲ

THƯƠNG VỤ VIỆT NAM TẠI HOA KỲ

Hiểu về văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở một nước ngoài sẽ có ích cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh với các bạn hàng ở nước đó. Phần này nhằm tóm tắt và hướng dẫn một số nét cơ bản về văn hóa kinh doanh ở Hoa Kỳ với hy vọng phần nào giúp các doanh nghiệp Việt Nam, nhất là các doanh nghiệp mới thiết lập quan hệ kinh doanh với các bạn hàng ở Hoa Kỳ, giao tiếp và duy trì quan hệ kinh doanh có hiệu quả hơn với các bạn hàng ở nước này.

Là một nước có diện tích lớn thứ 3 trên thế giới và với khoảng 290 triệu dân có nguồn gốc từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới, Hoa Kỳ là một xã hội đa dạng nhất trên thế giới. Mặc dù đại bộ phận người Mỹ được coi là có nguồn gốc từ Châu Âu, song những người thiểu số như người gốc Mỹ (người da đỏ), người Mỹ gốc Phi, người Hispanic, và người Châu á cũng rất đông. Hiện nay, mỗi năm có tới trên một triệu người nước ngoài di cư đến Hoa Kỳ sinh sống và làm ăn, và dự kiến đến năm 2050 người Mỹ da trắng chỉ còn chiếm dưới 50%. Các cộng đồng đang sinh sống ở Hoa Kỳ đều có những bản sắc riêng của họ, kể cả ngôn ngữ, tôn giáo, tín ngưỡng, và phong tục; do vậy, rất khó có thể khái quát chính xác được văn hóa nói chung và văn hóa kinh doanh nói riêng ở nước này. Phần giới thiệu dưới đây chỉ là những nét cơ bản và hướng dẫn chung.

Một số nét cơ bản

Cách viết họ tên

Tên người Mỹ được viết theo thứ tự tên riêng trước, sau đó đến tên đệm và cuối cùng là họ. Họ lấy theo họ bố; không dùng họ mẹ. Ví dụ, Bill William Clinton trong đó Bill là tên riêng, William là tên đệm, và Clinton là họ. Tên đệm thường được viết tắt hoặc thậm chí không viết. Ví dụ, Bill William Clinton thường được viết là Bill W. Clinton hoặc chỉ viết ngắn gọn là Bill Clinton. Họ tên cũng có thể viết theo tứ tự họ trước rồi đến tên riêng, và cuối cùng là tên đệm. Trong trường hợp này sau họ có dấu phẩy. Ví dụ: Clinton, Bill William.

Phụ nữ Mỹ khi lấy chồng đổi họ theo họ chồng. Có một số người dùng cả họ mình và họ chồng. Ví dụ, Hillary Rodham Clinton, trong đó Hillary là tên riêng; Rodham là họ của Hillary; và Clinton là họ của chồng.

Cách xưng hô

Trừ một số trường hợp đặc biệt, người Mỹ thường gọi nhau bằng tên riêng. Tuy nhiên, có một số nguyên tắc phổ biến mà các nhà kinh doanh nước ngoài nên theo.

  • Đối với lần tiếp xúc trực tiếp hoặc qua thư từ đầu tiên, nên gọi nhau bằng Mr., Mrs., Miss, Ms. hoặc Dr. và tiếp theo là họ. Ví dụ, Mr. Clinton.
  • Có thể gọi tên riêng khi được mời hoặc sau khi đã có quan hệ thân mật.
  • Không gọi tên riêng (trừ phi được mời) đối với những người hơn nhiều tuổi, hoặc có địa vị hoặc cấp bậc cao hơn mình nhiều, hoặc đối với những người mà bạn muốn thể hiện sự tôn trọng.
  • Đối với trẻ em thì luôn luôn có thể gọi tên riêng.
  • Đối với quân nhân hoặc cảnh sát nên gọi bằng cấp bậc (nếu biết) hoặc gọi chung là “Officer” và tiếp theo là họ. Ví dụ, General Clark hoặc Officer Lugar.
  • Đối với người mới gặp lần đầu và không biết tên (ví dụ như nhân viên bán hàng, thư ký, lái xe, nhân viên khách sạn…) có thể gọi “Sir”, “Mr.”, “M’am” hoặc “Miss”.

Một số tính cách đặc trưng của người Mỹ

Khác với một số nền văn hóa khác, nhất là văn hóa Châu á, nhìn chung, người Mỹ rất coi trọng tự do cá nhân và tính tự lập. Gia đình, cộng đồng, tôn giáo, hoặc tổ chức là thứ yếu so với các quyền cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân này cũng dẫn đến một tính cách nổi bật của người Mỹ là cạnh tranh.

Phong cách chung của doanh nhân Mỹ là ít chú ý đến nghi lễ, đi thẳng vào vấn đề, và muốn có kết quả nhanh. Trong đàm phán, người Mỹ thường xác định trước và rõ mục tiêu cần đạt được, chiến lược và chiến thuật đàm phán, và dùng số liệu để chứng minh cho các luận điểm của mình. Họ muốn dành chiến thắng về phần mình, song cũng sẵn sàng thỏa hiệp trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. ở Hoa Kỳ, “có đi có lại” là nguyên tắc quan trọng trong đàm phán chính trị cũng như trong kinh doanh.

Người Mỹ thích nói thẳng, rõ ràng, và dễ hiểu. Họ không thích kiểu nói vòng vo, xa xôi, hoặc ví von. Nhìn chung, khi người Mỹ nói “được” thì có nghĩa là được và “không được” có nghĩa là không được. Người Mỹ không ngại ngùng khi trả lời “tôi không biết” nếu như họ không biết về vấn đề mà bạn quan tâm, hoặc “tôi không phụ trách việc này” nếu như vấn đề bạn quan tâm không trong phạm vi trách nhiệm của họ. Tuy nhiên, người Mỹ thường sẵn sàng chỉ cho bạn biết bạn phải hỏi ai hoặc tìm ở đâu để có những thông tin mà bạn cần, hoặc ai là người phụ trách việc mà bạn quan tâm.

Tính thẳng thắn và sự lịch thiệp cũng có mức độ khác nhau tuỳ theo vùng. Người New York nổi tiếng là trực tính, và thậm chí hơi thô bạo nếu so sánh với văn hóa Châu á. Người ở vùng Trung Tây cũng thẳng thắn nhưng thường lịch sự hơn nhiều. Người California không phải lúc nào cũng nói đúng ý nghĩ của họ. Ví dụ ở Los Angeles – miền đất của những giấc mơ – nếu ai đó nói với bạn “Tôi sẽ trở lại vấn đề này với bạn” thì cũng có thể là họ sẽ làm như vậy thật, song cũng có thể họ ngụ ý là “Bạn không có cơ hội”.

Nhìn chung, người Mỹ không có thói quen nói hoặc cười to trong khi ăn uống hoặc ở nơi công cộng. Họ rất tự giác xếp hàng đợi đến lượt mình khi có từ hai người trở lên, và không có thói quen chen ngang hàng. Tại cửa ra vào thang máy, tầu điện ngầm, hoặc xe buýt, người ở ngoài thường đợi cho người ở trong ra hết rồi mới vào. Người Mỹ có thói quen cám ơn khi được người khác giúp đỡ dù chỉ là một việc rất nhỏ như nhường đường chẳng hạn.

Chào hỏi

Cũng như ở các nơi khác, ở Hoa Kỳ, bắt tay là một cách chào phổ biến. Bạn có thể bắt tay cả đàn ông và phụ nữ ở những lần gặp nhau đầu tiên hoặc sau đó. Người Mỹ có thói quen bắt tay chặt dùng cả bàn tay chứ không phải chỉ ngón tay (không có nghĩa là bóp chặt đến mức làm đau tay người khác) để thể hiện sự thân thiện và nhiệt tình. Bắt tay lỏng lẻo có thể bị coi là không chắc chắn, thiếu tự tin, và thậm chí là hờ hững trong quan hệ. Rất ít khi thấy người Mỹ dùng cả hai tay để bắt tay. Thỉnh thoảng bạn có thể thấy đàn ông với đàn bà hoặc đàn bà với đàn bà chào nhau bằng cách ôm, và thậm chí cọ má vào nhau hoặc hôn nhẹ lên má nhau. Hình thức chào này thường chỉ dành cho những người là bạn bè lâu, hoặc ít nhất cũng đã quen nhau. Ngoài ra, người Mỹ rất ít đụng chạm vào nhau.

Không nên hỏi tuổi, hoặc thu nhập của người Mỹ. Tôn giáo, chính trị, và tình dục cũng là những lĩnh vực nhạy cảm ở Mỹ. Tốt nhất là bạn nên tránh những chủ đề này trừ phi với những người bạn thân.

Khi nói chuyện, người Mỹ thường nhìn thẳng vào người đối diện và đứng không qúa gần. Không nhìn thẳng vào người mình đang nói chuyện, nói năng nhỏ nhẹ, thái độ bẽn lẽn có thể bị coi là người không có quyền hành hoặc yếu đuối. Bạn cũng có thể nhìn thấy người Mỹ gác chân nọ lên chân kia và ngả người về phía sau khi ngồi nói chuyện với khách. Những nét văn hóa này thường mẫu thuẫn với truyền thống tôn trọng lễ phép và khiêm tốn của người Châu á. Nói như vậy không có nghĩa là người Mỹ kiêu ngạo hoặc thô lỗ. Người Mỹ thường coi trọng tính hiệu qủa hơn là sự lịch thiệp.

Cử chỉ, điệu bộ

Người Mỹ cũng sử dụng cử chỉ, điệu bộ ở những mức độ khác nhau trong giao tiếp để nhấn mạnh điều mình muốn nói hoặc có thể chỉ theo thói quen tự nhiên. Lắc đầu từ bên nọ sang bên kia có nghĩa là không đồng ý. Gật đầu có nghĩa là đồng ý. Rướn lông mày thể hiện sự ngạc nhiên. Nhún vai thể hiện sự hoài nghi hoặc không chắc chắn. Trong nhà hàng khi muốn gọi người phục vụ bạn có thể giơ tay lên cao và chìa ngón tay trỏ ra để thu hút sự chú ý của họ. Tuy nhiên, nếu vẫy hoặc chỉ thẳng ngón tay trỏ vào người khác lại có nghĩa là buộc tội hoặc thách thức người đó. Giơ tay ra với lòng bàn tay hướng về phía trước có nghĩa là dừng lại. Đối với người Mỹ giơ ngón tay giữa lên bị coi là tục tĩu và thách đố.

Thời gian là tiền bạc

ở Hoa Kỳ, “thời gian là tiền bạc”. Thời gian cũng được coi là một loại hàng hóa như tất cả các loại hàng hóa khác. Người Mỹ tiết kiệm thời gian cũng như tiết kiệm tiền bạc. Những người cung cấp dịch vụ như luật sư, kế toán, tư vấn, các nhà tâm lý học, thợ sửa chữa cơ khí… thường tính phí hoặc tiền công dựa trên số giờ làm việc cho khách hàng, đôi khi kể cả thời gian tiếp và/hoặc nói chuyện qua điện thoại với khách hàng. Do vậy, các nhà kinh doanh, khi cần sử dụng luật sư, cần phải chuẩn bị rất kỹ các câu hỏi và nội dung cần tư vấn, và đi thẳng vào vấn đề để tiết kiệm tối đa thời gian sử dụng luật sư, tức là tiết kiệm chi phí cho chính mình.

Tương tự như vây, các nhà kinh doanh Mỹ không có nhiều thời gian để nói chuyện rông dài hoặc đọc những bức thư dài hoặc chờ đợi sự trả lời chậm trễ. Các bức thư chào hàng hoặc giao dịch trước hết phải thu hút được sự chú ý của người đọc, và phải ngắn gọn và rõ ràng (Xin xem thêm mục hướng dẫn viết thư chào hàng), trả lời thẳng vào các vấn đề hoặc cung cấp đúng những thông tin mà đối tác yêu cầu. Sự chậm trễ trả lời các thư hỏi hàng của đối tác Mỹ chắc chắn sẽ làm mất cơ hội kinh doanh.

Giao tiếp kinh doanh

Gặp gỡ làm việc

Người Mỹ muốn biết trước nội dung cuộc gặp, vai trò và quyền hạn, và thậm chí cả thân thế sự nghiệp của khách. Rất nhiều trường hợp, nhất là đối với các cuộc gặp với các quan chức chính phủ hoặc lãnh đạo doanh nghiệp cấp cao, bên chủ thường yêu cầu gửi trước tiểu sử tóm tắt của trưởng đoàn. Họ thường định trước thời lượng cho các cuộc gặp gỡ (các cuộc tiếp xã giao thường kéo dài 30 – 45 phút và hiếm khi quá 1 tiếng) và không ngại ngùng chủ động kết thúc khi hết giờ, nhất là khi họ có việc bận tiếp sau đó, hoặc thấy cuộc gặp không mang lại lợi ích gì. Không thiếu những cuộc gặp kết thúc trong khi phía khách chưa kịp đề cập hết các vấn đề muốn nói.

Người Mỹ thường rất đúng giờ. Sự chậm trễ được hiểu là thiếu quan tâm, coi thường đối tác hoặc kém cỏi trong sắp xếp thời gian. ở các thành phố lớn thường xảy ra tắc nghẽn giao thông thì có thể cho phép sớm muộn đôi chút song không nhiều. Nếu không may bị muộn 10 -15 phút thì nên gọi điện thoại báo trước và xin lỗi, và, nếu có thể, cho biết lý do. Nhiều thành phố ở Hoa Kỳ rất rộng; đi từ địa điểm này đến địa điểm khác có khi mất hàng giờ. Do vậy, khi sắp xếp các cuộc gặp cần phải tính trước thời gian đi lại và trừ hao thời gian tắc nghẽn giao thông. Ngược lại, đến sớm có thể làm bên chủ bối rối do chưa sẵn sàng tiếp đón hoặc được hiểu là quá sốt ruột hoặc không có việc gì tốt hơn để làm. Nói chung, nên đến vào đúng thời gian ghi trên giấy mời hoặc đã hẹn.

Cũng vì muốn tiết kiệm thời gian, nên các cuộc gặp làm việc với người Mỹ thường là ngắn, tập trung và đi thẳng vào vấn đề. Đối với một số nền văn hóa vừa gặp nhau đã bàn ngay đến chuyện làm ăn thì có thể bị coi là mất lịch sự, trong khi đó người Mỹ lại thích nói chuyện làm ăn trước, sau đó mới nói đến chuyện cá nhân và các chuyện khác. Vì vậy, thường thì khách, nhất là những người chào hàng phải chuẩn bị rất kỹ và đi thẳng vào nội dung sau những câu chào hỏi xã giao ngắn gọn. Yêu cầu này càng quan trọng nếu cuộc làm việc được tiến hành thông qua phiên dịch vì thực chất thời gian làm việc chỉ còn tối đa một nửa. Trong các cuộc họp hoặc gặp gỡ làm việc, người Mỹ có thể cắt ngang lời nhau để hỏi hoặc nêu ý kiến của mình. Thói quen này có thể bị coi là bất lịch sự trong một số nền văn hóa Châu á. Do vậy, các nhà kinh doanh nước ngoài không nên ngạc nhiên khi bị người Mỹ cắt lời để hỏi hoặc nêu ý kiến của họ.

Khi thấy không còn nội dung cần thảo luận và bên chủ không muốn nói sang vấn đề khác thì khách cũng nên chủ động kết thúc cuộc gặp. Nếu cuộc gặp đã đủ dài và bạn thấy có người vào phòng thì thầm với người tiếp chính bên chủ hoặc đưa cho người đó một mảnh giấy thì bạn cũng nên hiểu đó là tín hiệu bên chủ muốn kết thúc cuộc gặp. Trước khi kết thúc cuộc gặp nên chủ động tóm tắt những việc đã bàn hoặc thỏa thuận và nói rõ những việc mà hai bên dự định sẽ triển khai. Sau mỗi cuộc gặp gỡ quan trọng, phía khách nên gửi thư cám ơn và tranh thủ nhắc lại những vấn đề mà hai bên đã bàn hoặc thoả thuận.

Kiểm tra an ninh tại nơi làm việc

Sau sự kiện khủng bố 11/9, việc kiểm tra an ninh được thực hiện rất nghiêm ngặt không những tại các sân bay mà còn tại các nơi làm việc quan trọng và đông người. Khách đến làm việc nhất là tại các cơ quan của chính phủ và các tòa nhà lớn ở những thành phố lớn, nên mang theo giấy tờ tùy thân có dán ảnh để xuất trình tại thường trực, và không nên mang theo hành lý cồng kềnh. ở một số công sở, do người ra vào đông, cho nên việc đăng ký để lấy thẻ ra vào và kiểm tra an ninh đôi khi khá mất thời gian. Để không bị muộn hoặc bị rút ngắn thời gian cuộc gặp, khách đến làm việc (nhất là các đoàn đông người) ở những công sở này thường phải đến sớm để “trừ hao” thời gian đăng ký lấy thẻ ra vào và kiểm tra an ninh.

Trang phục

Ngoài xã hội, nhìn chung, người Mỹ mặc rất thoải mái, không cầu kỳ và không quan tâm nhiều đến cách ăn mặc của người khác. Trên đường phố, đôi khi rất khó có thể phân biệt đẳng cấp, địa vị xã hội hoặc nghề nghiệp dựa vào quần áo bề ngoài. Nữ nhân viên bán hàng tại một siêu thị có thể mặc đẹp và đắt tiền hơn một nữ luật sư giỏi có mức lương cao hơn gấp nhiều lần.

Tuy nhiên, trong công sở, tại các hội nghị, hội thảo, tiệc và các cuộc tiếp khách các doanh nhân Mỹ cũng mặc chỉnh tề và đẹp như ở các nước khác. Khách đến thăm và làm việc thường mặc com lê thẫm mầu và cravát. Mùa hè, mùa xuân, hoặc những dịp không trang trọng lắm có thể mặc com lê sáng mầu. Doanh nhân nữ cũng thường mặc com lê với màu sắc đa dạng hơn so với nam giới. Mặc gọn gàng và chỉnh tề quan trọng hơn là kiểu cách. Một số thương nhân dùng chất lượng giầy và đồng hồ đeo tay để thể hiện mình. Thứ Sáu hàng tuần thường là ngày người Mỹ ăn mặc ít nghi lễ nhất tại các công sở. Mặc dù nhìn chung người Mỹ không cầu kỳ trong ăn mặc nhưng nếu một doanh nhân đến giao dịch mặc một bộ com lê quá cũ và hoặc nhàu nhĩ chắc chắn sẽ tạo ấn tượng ban đầu không hay đối với đối tác.

Nghi lễ xã giao

Người Mỹ quan tâm nhiều đến nội dung và hiệu quả công việc hơn là nghi lễ xã giao. Họ quan tâm nhiều đến năng lực chuyên môn và khả năng quyết định vấn đề hơn là chức vụ hay tuổi tác của đối tác. Họ có thể cử một chuyên viên kỹ thuật trẻ đến gặp một lãnh đạo cấp cao của bên đối tác không phải vì coi thường đối tác mà bởi vì chuyên viên kỹ thuật trẻ đó là người nắm vững nhất về vấn đề cần trao đổi. Mặt khác, người Mỹ có thể bực mình nếu bên đối tác được đại diện bởi một cấp thấp hơn, nhưng không phải vì lý do họ bị coi thường mà vì lý do đại diện bên đối tác không đủ thẩm quyền quyết định vấn đề mà hai bên đang quan tâm.

Do chi phí lao động đắt, các công ty và công sở ở Hoa Kỳ hầu như không có người tiếp tân riêng như thường thấy ở các công sở và doanh nghiệp Việt Nam. Khách (kể cả quan chức cao cấp) đến làm việc có thể được mời uống hoặc không. Nếu có, cà phê, trà, nước lọc và nước giải khát thường được để sẵn ở một bàn nhỏ trong phòng tiếp khách để khách tự phục vụ. Để tiết kiệm thời gian, ở Hoa Kỳ còn tổ chức kiểu vừa ăn sáng hoặc trưa vừa thảo luận công việc tại nhà hàng hoặc ngay tại công sở của họ.

Đối xử bình đẳng với phụ nữ

Khoảng trên 60% phụ nữ Mỹ đi làm. Số phụ nữ Mỹ đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong kinh doanh mặc dù vẫn còn ít, song đang tăng lên. ở Hoa Kỳ vẫn chưa hết sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, phụ nữ có cương vị cao trong các cơ quan hoặc công ty nhiều hơn, và họ có quyền lực hơn so với ở các nơi khác trên thế giới. Phụ nữ Mỹ không muốn mình bị coi là đặc biệt hoặc không quan trọng. Nếu gặp những đối tác kinh doanh là nữ, bạn hãy đối xử với họ như đối xử với các đối tác nam giới và không nên phật ý vì cho rằng bên chủ đã đưa phụ nữ ra tiếp bạn. Nếu họ là chủ mời bạn đi ăn, hãy cứ để họ trả tiền như những người đàn ông khác. Trong kinh doanh, phụ nữ Mỹ cũng quyết đoán không kém gì nam giới.

Đối xử bình đẳng với những người khác chủng tộc

Hoa Kỳ là một nước đa chủng tộc. Người nước ngoài di cư đến Hoa Kỳ sinh sống và kinh doanh ngày càng nhiều. Trong thực tế cuộc sống ở Hoa Kỳ vẫn chưa hết sự phân biệt chủng tộc. Tuy nhiên, luật pháp Hoa Kỳ cấm mọi hành động phân biệt chủng tộc. Người nước ngoài đến Hoa Kỳ kinh doanh cần hết sức tránh các hành động, hoặc ngôn ngữ thể hiện sự phân biệt chủng tộc. Ví dụ thay cho từ “black American” (người Mỹ đen) người ta dùng một từ khác lịch sự và ít phân biệt chủng tộc hơn là “African American” (người Mỹ gốc Phi).

Mời cơm làm việc

Khách nước ngoài đến làm việc có thể được bên chủ mời ăn sáng, trưa, hoặc tối, và vừa ăn vừa làm việc. Tuy nhiên, bên chủ cũng có thể mời khách ăn sau khi kết thúc công việc thành công. Nguời Mỹ có thể thảo luận công việc trước khi ăn. Họ hầu như không uống đồ uống có cồn khi ăn sáng hoặc ăn trưa vì vẫn còn trong giờ làm việc. ở Hoa Kỳ, hầu như không có cảnh ép hoặc thi nhau uống rượu trong bữa ăn. Khi được mời, bạn có thể từ chối và nói thẳng lý do, nếu bạn không muốn uống. Không uống rượu là chuyện bình thường ở Hoa Kỳ.

Nếu bên chủ không sắp xếp chỗ ngồi trước thì khách có thể chờ họ mời ngồi, hoặc có thể tự chọn chỗ ngồi nếu bên chủ để khách tự chọn. ở những bữa tiệc ngồi lớn đông người, thường có bố trí trước chỗ ngồi cho một số người hoặc cho tất cả. Mục đích chủ yếu của việc bố trí trước này là để đảm bảo nghi lễ ngoại giao và/hoặc tiện cho trao đổi công việc. Nếu trên giấy mời có ghi “RSVP” thì bạn cần phải xác nhận có dự hay không càng sớm càng tốt.

Danh thiếp

Danh thiếp không quan trọng đối với người Mỹ. Người Mỹ trao danh thiếp cho nhau không trịnh trọng như người Châu á. Người Mỹ thường chỉ nhìn lướt qua hoặc thậm chí không nhìn danh thiếp trước khi cất đi hoặc bỏ vào túi. Thói quen này không có nghĩa là Người Mỹ không tôn trọng đối tác, bởi vì họ quan niệm tập trung vào người đang đối thoại với mình quan trọng và thể hiện tôn trọng hơn là nhìn vào danh thiếp. Tuy nhiên, danh thiếp của đối tác vẫn được các nhà kinh doanh Mỹ lưu giữ để có địa chỉ liên hệ khi cần thiết, đặc biệt là đối với những người mà sau cuộc nói chuyện họ thấy cần phải giữ quan hệ.

Vị trí ngồi khi tiếp khách

Sắp xếp chỗ ngồi giữa khách và chủ như thế nào chủ yếu phụ thuộc vào tiện nghi trong phòng. Khách đến đàm phán hoặc thảo luận công việc thường được mời ngồi theo hình thức đàm phán – khách ngồi đối diện với chủ, trong đó trưởng đoàn hoặc người có chức vụ cao nhất của các bên ngồi ở vị trí chính giữa bên mình. Bàn tiếp khách có thể là hình chữ nhật, bầu dục, hoặc tròn.

Trong các cuộc tiếp khách xã giao, nếu trong phòng là bộ bàn ghế thường dùng để tiếp khách đàm phán, thì người tiếp chính bên chủ thường ngồi ở đầu bàn (vị trí số 1 trong sơ đồ dưới đây). Những người khác của bên chủ ngồi một bên. Đoàn khách ngồi một bên, trong đó trưởng đoàn hoặc người có chức vụ cao nhất trong đoàn khách ngồi gần nhất với người tiếp chính bên chủ (vị trí số 2 trong sơ đồ dưới đây).

Sơ đồ vị trí ngồi trong các cuộc tiếp xã giao

Nếu trong phòng là bộ xa lông, thì người tiếp chính bên chủ và trưởng đoàn bên khách có thể ngồi cạnh nhau cùng hướng về một phía (như thường thấy trong các cuộc tiếp xã giao khách quốc tế của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta), hoặc bên khách và bên chủ ngồi đối diện nhau.

Cấm hút thuốc

Hút thuốc bị cấm ngày càng ở nhiều nơi ở Hoa Kỳ. Bạn luôn luôn phải hỏi xem có được phép hút thuốc hay không trước khi châm lửa hút thuốc. Pháp luật cấm hút thuốc trên máy bay, trong nhiều nhà hàng, và ở các nơi công cộng. Hút thuốc thường bị cấm trong các tòa nhà làm việc; do vậy, những người hút thuốc, bất kể là ai, đều phải ra khỏi nhà và xuống đường để hút thuốc, kể cả trong những ngày mùa đông giá lạnh. Khách đến làm việc cần hết sức tránh hút thuốc trong phòng làm việc không hút thuốc của bên chủ. Đối với những cuộc làm việc dài, thường có bố trí thời gian giải lao để cho những người hút thuốc ra ngoài hút thuốc, nếu không, bạn có thể chủ động xin phép tạm nghỉ để ra ngoài hút thuốc.

Tặng quà

Tặng quà ở Hoa Kỳ không quan trọng như ở các nơi khác trên thế giới, và thậm chí còn có thể gây phiền toái. Thà là không tặng quà còn hơn là tặng sai hoặc tặng không đúng người. Luật pháp Hoa Kỳ thực tế cấm các quan chức chính phủ nhận quà trong quá trình thi hành công việc. Những món quà có giá trị từ 50 USD trở nên đều phải nộp lại cho cơ quan. Các doanh nghiệp cũng thường theo dõi chặt chẽ việc tặng quà. Tặng quà không phải là một tập quán bình thường ở Hoa Kỳ, nên tặng quà cũng có thể gây bối rối cho người nhận do họ không chuẩn bị quà để tặng lại hoặc làm bối rối những người khác do họ không mang theo quà để tặng. Đối với các cuộc tiếp các quan chức cấp cao nước ngoài, bên chủ thường hỏi trước xem bên khách có mang quà tặng hay không để họ chuẩn bị quà tặng đáp lễ.

Tuy nhiên, người Mỹ có thể vui vẻ nhận lời mời đi uống với bạn tại một quán ba hoặc đi ăn tại một nhà hàng. Bạn cũng có thể tặng vé hoặc mời họ đi xem biểu diễn văn nghệ hoặc một sự kiện thể thao, hoặc đi chơi gôn. Những món quà mang tính kỷ niệm và liên quan đến công việc (ví dụ như bút, lịch, giấy ghi lời nhắn, và những thứ tương tự) cũng có thể được chấp nhận một cách vui vẻ. Những món quà khiêm tốn (nhưng không phải qúa rẻ tiền) đặc trưng cho nước bạn hoặc công ty bạn (ví dụ như hàng thủ công mỹ nghệ, sách giới thiệu về đất nước con người, hoặc vật kỷ niệm của công ty, và những thứ tương tự) cũng có thể dùng làm quà tặng sau khi kết thúc công việc.

Luật chống tham nhũng ở nước ngoài của Hoa Kỳ

Các cuộc điều tra do Uỷ ban chứng khoán và ngoại hối Hoa Kỳ (SEC) tiến hành vào giữa những năm 70 cho thấy trên 400 công ty Hoa Kỳ đã thừa nhận đã trả các khoản tiền bất hợp pháp lên tới trên 300 triệu USD cho các quan chức, các chính trị gia, và các đảng phái chính trị nước ngoài. Nhằm chấm dứt tình trạng hối lộ các quan chức nước ngoài và khôi phục lòng tin của công chúng đối với hệ thống kinh doanh Hoa Kỳ, năm 1977, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành Luật Chống tham nhũng ở nước ngoài (US Foreign Corrupt Practices Act – FCPA) ).

Luật này cấm tất cả mọi cá nhân và công ty Hoa Kỳ, kể cả các công ty nước ngoài có phát hành chứng khoán đã được đăng ký ở Hoa Kỳ hối lộ các quan chức và nhân viên của các đảng phái chính trị, hoặc chính phủ ở nước ngoài (cán bộ và nhân viên công ty nhà nước cũng coi là quan chức và nhân viên chính phủ).

Các đối tượng chịu sự điều chỉnh của luật này cũng có thể bị coi là vi phạm luật này nếu họ ra lệnh, uỷ quyền, hoặc giúp đỡ người khác (ví dụ như công ty con hoặc đại lý của họ ở nước ngoài) vi phạm các điều khoản chống hối lộ của Luật này. Công ty Hoa Kỳ sẽ bị coi là vi phạm luật này khi họ chào hoặc hứa sẽ trả tiền, hoặc trả tiền (ví dụ như hoa hồng) cho một người nào đó (ví dụ như đại lý bán hàng) mà họ biết rằng hoặc có lý do để biết rằng toàn bộ hoặc một phần số tiền đó sẽ được dùng để hối lộ các quan chức hoặc nhân viên của các đảng phái chính trị, hoặc chính phủ ở nước ngoài. Ví dụ, một công ty Hoa Kỳ chấp nhận trả tỷ lệ hoa hồng cao bất hợp lý cho một đại lý bán hàng ở nước ngoài trong một thương vụ bán thiết bị quân sự cho chính phủ nước ngoài mà không yêu cầu đại lý này giải thích lý do thì cũng có thể cũng bị coi là vi phạm luật này.

Trả tiền, hoặc biếu hiện vật/dịch vụ có giá trị nhằm tác động đến một hành động hoặc quyết định tuỳ ý của quan chức để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình (ví dụ như để xin giấy phép đầu tư, bán hàng, hoặc giành hợp đồng thầu xây dựng …) bị coi là hành vi hối lộ.

Tuy nhiên, trả tiền, hoặc biếu hiện vật/dịch vụ chỉ nhằm thúc đẩy các công việc thường lệ của chính phủ không bị coi là hành vi hối lộ. Ví dụ, trả tiền cho nhân viên hải quan làm ngoài giờ nhằm hoàn thành sớm các thủ tục hải quan để có thể kịp xếp hàng xuất khẩu hợp pháp xuống tầu không bị coi là vi phạm Luật FCPA này. Trả tiền phù hợp với các văn bản pháp luật và qui định của nước ngoài cũng không bị coi là hối lộ.

Vi phạm luật chống tham nhũng ở nước ngoài có thể bị xử lý hình sự hoặc dân sự. Công ty có thể bị phạt tới 2 triệu USD. Cá nhân lãnh đạo, nhân viên, đại lý, và cổ đông công ty trực tiếp vi phạm có thể bị phạt tới 100.000 USD, hoặc bị tù tới 5 năm, hoặc phải chịu cả hai hình phạt này. Cá nhân hoặc công ty vi phạm luật này còn có thể bị cấm làm ăn với chính phủ Hoa Kỳ.

Luật FCPC đã được sửa đổi bổ xung năm 1998. Theo sửa đổi này, công ty hoặc cá nhân người nước ngoài cũng bị coi là vi phạm luật này nếu họ tiến hành, trực tiếp hoặc thông qua đại lý, việc trả tiền hối lộ trong phạm vi lãnh thổ Hoa Kỳ.

Thông tin thường xuyên

Giữ liên hệ và thông tin thường xuyên với bạn hàng Hoa Kỳ là rất quan trọng. Các nhà kinh doanh Hoa Kỳ nổi tiếng là không kiên nhẫn và rất ghét sự im lặng. Họ muốn được thông tin thường xuyên về những diễn biến trong kinh doanh bất kể là tốt hoặc xấu. Do vậy, ngay cả trong các trường hợp không đáp ứng được các yêu cầu mua hàng của phía Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên trả lời không đáp ứng được nhu cầu để giữ quan hệ và liên hệ lại khi có thể. Nếu cần thời gian để nghiên cứu hoặc thu thập thông tin trước khi trả lời thì cũng nên thông báo cho đối tác biết đã nhận được yêu cầu và sẽ trả lời sau và, nếu có thể, hẹn thời gian trả lời cụ thể. Không nhất thiết phải chờ có đầy đủ thông tin rồi mới trả lời một thể; Những nội dung nào có thể trả lời trước thì trả lời; Những nội dung chưa trả lời được thì hẹn trả lời sau.

Ăn ở và đi lại

Khách sạn và nhà nghỉ

ở Hoa Kỳ, đặc biệt là ở trung tâm các thành phố lớn, giá thuê phòng khách sạn rất đắt. Giá phòng tại những khách sạn xa trung tâm thường rẻ hơn, song ở những khách sạn này chưa chắc đã kinh tế hơn. Các thành phố ở Hoa Kỳ thường là rất rộng và giao thông công cộng không thuận tiện, (do sử dụng phương tiện ô tô riêng là chủ yếu) cho nên đi lại từ ngoại ô vào trung tâm thành phố thường phải sử dụng xe thuê hoặc taxi. Giá thuê xe với người lái hoặc taxi ở Hoa Kỳ rất đắt. Hơn nữa, các khách sạn xa trung tâm thường xa các dịch vụ công cộng, do vậy khách ở thường phải sử dụng dịch vụ của khách sạn. Dịch vụ của khách sạn thường đắt hơn dịch vụ ở ngoài.

Ngoài những khách sạn đắt tiền với giá phòng có khi tới 3.000 – 4.000 USD/đêm, ở Hoa Kỳ còn có nhiều motel (tạm dịch sang tiếng Việt là nhà nghỉ dọc đường) với giá rất rẻ, có khi chỉ khoảng 25 – 30 USD/đêm. Những motel này có các phòng ở khép kín, sạch sẽ, và có những tiện nghi tối thiểu như TV và điện thoại. Motel thường thấy ở những điểm nút giao thông, dọc đường cao tốc chính, hoặc ở ven đô. Một số khách sạn (thường gọi là suite hotel) còn có cả bếp và một số dụng cụ nấu ăn cơ bản.

Các khách sạn thường tính cước điện thoại đắt hơn nhiều lần so với giá cước công cộng. Ngoài ra, nhiều khách sạn còn tính cả tiền nối mạng (trung bình khoảng 20 – 30 USD). Khách có thể tiết kiệm bằng cách sử dụng điện thoại di động của cá nhân (điện thoại di động mang từ Việt Nam sang không dùng được vì khác dải tần) hoặc mua thẻ điện thoại trả tiền trước để gọi qua máy trong phòng khách sạn hoặc máy điện thoại công cộng. Nhiều khách sạn có điện thoại công cộng ngay trong sảnh (lobby) hoặc trước cửa. Mặc dù có một số khách sạn thu phí sử dụng máy điện thoại trong phòng để gọi bằng thẻ điện thoại trả tiền trước, song nếu cộng cả phí này thì gọi bằng thẻ trả tiền trước vẫn rẻ hơn so với sử dụng cả máy và đường dây điện thoại của khách sạn.

Giá khách sạn cũng thay đổi theo mùa và theo ngày. Giá phòng in trên các tờ rơi hoặc quảng cáo trên các trang web thường là giá thấp nhất, và chưa kể thuế và dịch vụ. Giá phòng đôi thông thường cao hơn giá phòng đơn. Giá thuê phòng tại những khách sạn gần khu tổ chức hội chợ triển lãm trong thời gian diễn ra hội chợ triển lãm có thể cao gấp đôi so với những lúc khác. Do nhu cầu phòng ở trong dịp diễn ra hội chợ cao, nên nhiều khách sạn yêu cầu phải trả 100% tiền phòng ngay khi đặt phòng. Trong trường hợp không sử dụng hết số tiền đã trả do giảm số phòng hoặc số đêm ở, khách sạn sẽ giữ số tiền thừa đó để khách quay trở lại ở lần sau chứ không trả lại tiền.

Những khách sạn phục vụ chủ yếu đối tượng khách du lịch (ví dụ như các khách sạn ở gần các khu nghỉ hoặc vui chơi giải trí) thì giá phòng thường cao hơn vào dịp cuối tuần vì khách thường đến đông vào những ngày này. Những khách sạn phục vụ chủ yếu đối tượng khách đến ở vì công việc (ví dụ như các khách sạn hạng sang ở khu trung tâm thương mại) thì giá phòng trong những ngày làm việc thường cao hơn giá vào cuối tuần.

Đặt phòng trên mạng Internet (thông qua trang web của các hãng du lịch hoặc của khách sạn) thông thường rẻ hơn so với gọi điện thoại đặt trực tiếp với khách sạn (vì khách sạn thường có hợp đồng giá ưu đãi cho các hãng du lịch, hoặc không tốn nhân lực để trả lời điện thoại). Hơn nữa, đặt phòng càng sớm thì giá thường càng rẻ hơn. Tuy nhiên, khi đặt phòng qua trang web trên mạng Internet cần phải chú ý các điều kiện qui định trong đó, nhất là các điều kiện về đặt cọc, trả tiền, và huỷ phòng. Nhiều trường hợp, nhất là trường hợp đã trả một phần hoặc toàn bộ tiền trước khi hủy phòng không lấy lại được tiền. Hầu hết các hãng du lịch đều có thể chào trọn gói phòng khách sạn, vé may bay, và cho thuê xe. Giá trọn gói thường rẻ hơn so với tổng giá đặt lẻ cộng lại.

Trong các khách sạn thường có một số phòng dành cho những người hút thuốc. Khi nhận phòng tại khách sạn, người hút thuốc cần phải đăng ký ở những phòng này và tuyệt đối không được hút thuốc trong phòng “không hút thuốc”. Trong một số nhà hàng có thể có khu vực dành riêng cho người hút thuốc. Nếu bạn muốn hút thuốc trong khi ăn thì bạn cần phải chọn chỗ ngồi ở khu vực này.

ở một số khách sạn ở Hoa Kỳ, nhất là ở những thành phố đông người như New York hoặc San Francisco chẳng hạn, có thể xẩy ra mất hành lý khi để ở sảnh; do vậy, khách phải cẩn thận với hành lý của mình và không nên để hành lý tại sảnh khách sạn mà không có người trông. Nếu bạn đã trả phòng mà không muốn mang hành lý đi theo bạn có thể gửi lại khách sạn không mất tiền trong một vài ngày, và phải nhớ lấy và giữ phiếu gửi hành lý để xuất trình khi nhận lại hành lý.

Đi lại bằng máy bay

ở Hoa Kỳ, có tới vài chục hãng hàng không (không kể các hãng nước ngoài) kinh doanh các tuyến bay nội địa. Mỗi hãng mạnh ở một số tuyến khác nhau, nhằm vào những đối tượng khách khác nhau, và với các điều kiện dịch vụ khác nhau nên giá vé cũng rất khác nhau, có khi chênh nhau đến 2 – 3 lần trên cùng tuyến bay. Bay thẳng thường đắt hơn nhiều (nhưng tiết kiệm được nhiều thời gian) so với phải chuyển máy bay dọc đường. ở một thành phố hoặc xung quanh đó có thể có hai ba sân bay khác nhau; do vậy, bạn phải báo cho người ra đón mình biết rõ sây bay bạn sẽ đến hoặc khi mua vé máy bay bạn phải chọn sân bay gần với địa điểm đến.

Cũng giống như khách sạn, giá vé máy bay thay đổi theo mùa, theo ngày và theo giờ bay. Bay vào những giờ không thuận tiện, nhất là vào đêm khuya hoặc sáng sớm giá vé thường rẻ hơn. ở Hoa Kỳ, có thể mua vé máy bay trên mạng Internet một cách dễ dàng. Nói chung, bạn nên truy cập trang web của nhiều hãng hàng không khác nhau hoặc nhiều hãng du lịch khác nhau để so sánh và lựa chọn phù hợp nhất với mình. Khi mua vé trên mạng cần đặc biệt chú ý đến các điều kiện giao dịch vì có loại vé đã mua rồi không trả lại được hoặc có một số điều kiện ràng buộc khác. Vé máy bay mua qua mạng Internet có khi chỉ những thông tin in ra từ máy tính trong đó có ghi tên hành khách, chuyến bay, và giá vé.

Do hậu qủa của Vụ khủng bố 11/9/2001, việc kiểm tra an ninh tại các sân bay ở Hoa Kỳ hiện nay rất chặt chẽ và phiền toái. Hành lý gửi cùng chuyến bay không được khóa để thuận tiện cho kiểm tra an ninh. Nếu khóa, nhân viên an ninh được quyền phá khóa để kiểm tra. Ngoài hành lý xách tay, hành khách còn phải cởi cả áo khoác (kể cả com lê), giầy, thắt lưng, mũ để đưa qua máy chiếu. Máy tính xách tay có thể phải bật lên để chứng tỏ máy hoạt động bình thường. Sau khi đi qua cổng từ, hành khách còn có thể bị kiểm tra xác suất bằng dụng cụ dò kim loại trên người.

Những hành khách mang quốc tịch hoặc đến từ những nước mà Hoa Kỳ cho là thù địch với họ thường là những đối tượng bị kiểm tra chặt chẽ hơn. Để tránh những phiền toái có thể xẩy ra, nếu bạn có nhận mang hộ ai đó thứ gì ra hoặc vào Hoa Kỳ, bạn cũng nên kiểm tra cẩn thận để tránh nhận mang những thứ bị cấm mà mình không biết. Các đồ dùng bằng kim loại nhọn sắc (dao, kéo, bấm mong tay…) không được phép mang theo trong hành lý xách tay.

Nhằm hạn chế một phần nguy cơ không tặc cướp máy bay để đâm vào các mục tiêu ở Thủ đô Washington D.C., Cơ quan an toàn hàng không Hoa Kỳ gần đây qui định hành khách trên các chuyến bay cất đi từ hoặc đến sân bay Ronald Reagan (sân bay nằm trong địa phận Thủ đô Washington D.C.) phải ngồi yên tại chỗ trong vòng 30 phút đầu sau khi máy bay cất cánh và 30 phút cuối trước khi máy bay hạ cánh. Do vậy, bạn cần phải chuẩn bị sẵn sàng để không phải đi vệ sinh trong thời gian này.

Trên một số tuyến bay nội địa, có một số hãng hàng không không xếp chỗ ngồi (ghi trên thẻ lên máy bay) cho khách trên máy bay mà để khách tự chọn chỗ ngồi theo ý thích. Trong trường hợp này, trên thẻ lên máy bay của khách chỉ ghi các ký hiệu A hoặc B hoặc C. Tại cửa lên máy bay hành khách xếp hàng theo hàng ghi trên thẻ. Thông thường khách xếp ở hàng A được mời lên máy bay trước, tiếp đến là hàng B, và sau đó là hàng C.

Để tiết kiệm tối đa chi phí và có thể hạ giá vé tới mức thấp nhất, hầu hết các hãng hàng không không phục vụ bữa ăn trên các tuyến bay nội địa, ngoài nước uống.

Khi nhập cảnh vào Mỹ bạn nhớ không nên mang theo thực phẩm tươi sống (kể cả rau quả). Những thứ này bị cấm mang theo người vào Mỹ do sợ mang theo dịch bệnh truyền nhiễm.

Đi lại bằng ô tô

Các thành phố ở Hoa Kỳ thường rất rộng. Phương tiện giao thông chính ở Hoa Kỳ là ô tô cá nhân. Mặc dù một số thành phố (New York, Chicago, Washington DC …) có hệ thống tầu điện ngầm và/hoặc xe buýt khá thuận tiện, song nhìn chung hệ thống giao thông công cộng ở Hoa Kỳ rất kém. Khách nước ngoài đến Hoa Kỳ làm việc, nhất là mới đến lần đầu, thường phải sử dụng tắc xi hoặc xe thuê với người lái. Những người thông thạo đường sá và có bằng lái xe hợp lệ có thể thuê ô tô tự lái để đi lại.

Giá thuê ô tô để tự lái, và giá xăng ở Hoa Kỳ rất rẻ. Giá thuê xe 4 chỗ để tự lái một ngày (24 tiếng) chỉ khoảng 40-50 USD. Giá xăng hiện tại ở Hoa Kỳ cũng chỉ tương đương 7.000 – 8.000 đồng Việt Nam/lít. Thuê xe để tự lái ở Hoa Kỳ rất dễ dàng, song bạn cần phải có thẻ tín dụng thông dụng. Do giá nhân công lao động ở Hoa Kỳ rất đắt nên giá thuê xe cùng với người lái khá đắt. Ví dụ, giá thuê xe 40-50 chỗ cùng với người lái tại New York rẻ nhất cũng phải 80-100 USD/giờ, tối thiểu phải thuê 4 giờ một ngày, chưa kể tiền típ cho lái xe. ở một số thành phố khác giá thuê có thể còn đắt hơn.

ở những thành phố như Washington DC, San Francisco, New York và Chicago…, taxi có thể là phương tiện phù hợp nhất để đi lại trong thành phố đối với khách lạ. Đối với các thành phố lớn như Miami, Houston, và Los Angeles, do khoảng cách từ nơi nọ đến nơi kia rất xa, cho nên taxi có thể đắt đến mức không chịu nổi. Hơn nữa, vẫy xe taxi trên đường ở những thành phố này cũng rất khó và thường là phải gọi điện thoại đến hãng taxi để đặt xe.

Cho tiền phục vụ

ở Hoa Kỳ có tập quán cho tiền phục vụ (tiếng Anh là “tip”). Tập quán này được pháp luật thừa nhận và thu nhập tiền tip cũng phải chịu thuế. Nếu bạn nhờ người khuôn vác trong khách sạn mang hành lý cho bạn từ sảnh lên phòng hoặc ngược lại thì bạn nên cho họ khoảng 1 USD mỗi kiện. Tại các nhà hàng bạn nên cho phục vụ khoảng từ 15 – 20 % trị giá hoá đơn. Tiền tip cho lái xe tắc xi, thợ cắt tóc, hoặc người phục vụ ở quán ba cũng vào khoảng 15% trị giá dịch vụ. Đối với lái xe thuê đưa đón đoàn đi làm việc hàng ngày, bạn cũng nên cho họ mỗi ngày khoảng 10 -15 USD.

Có người quan niệm đây là khoản cho tuỳ ý – tức là, nếu phục tốt hoặc tôi thích thì tôi cho còn không cũng chẳng sao. Nhưng thực tế không phải như vây. Tuy đây không phải là khoản cho bắt buộc nhưng cũng gần như bắt buộc. Khách hàng sẽ bị ấn tượng rất xấu, và bị đối xử không thân thiện hoặc thậm chí hằn học nếu không cho tiền tip. Có nhà hàng tự động tính tiền tip gộp vào trong hóa đơn tiền ăn. Bạn nên để ý nếu trong hóa đơn đã có khoản tiền ghi là “service charge” hoặc “gratuity” thì bạn không phải cho thêm tiền tip nữa. Nếu bạn trả tiền bằng thẻ tín dụng thì bạn có thể cộng cả tiền tip vào tiền hóa đơn trước khi ký chấp nhận trả tiền.

Giờ làm việc và ngày nghỉ

Giờ làm việc hàng ngày phổ biến nhất là từ 9 giờ sáng đến 5 giờ chiều, trong đó có khoảng nửa đến một tiếng ăn trưa. Các ngân hàng thường mở cửa từ 10 giờ sáng đến 3 giờ chiều. Tuy nhiên, cũng có nhiều ngoại lệ. Nhiều nơi có thể bắt đầu và kết thúc ngày làm việc sớm hơn. Các công ty kinh doanh thường làm việc nhiều giờ hơn và kết thúc ngày làm việc muộn hơn. Có ngân hàng mở cửa sớm hơn và đóng cửa muộn hơn thông thường. Một số công ty áp dụng chế độ giờ làm việc linh hoạt để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên, nhất là trong việc đưa đón con đi học.

ở Hoa Kỳ không có qui định ngày nghỉ thống nhất trong cả nước. Về nguyên tắc, những ngày nghỉ liên bang chỉ áp dụng với thủ đô Washington DC và các nhân viên thuộc các cơ quan liên bang. Chính quyền các bang quyết định các ngày nghỉ trong bang mình. Nhìn chung, các bang đều nghỉ theo các ngày nghỉ liên bang. Các ngày nghỉ ở Hoa Kỳ thường vào thứ Hai trong tuần để tránh gián đoạn công việc, đồng thời tạo thuận lợi cho sinh hoạt gia đình, nhất là nếu muốn đi nghỉ xa nhà. ở Hoa Kỳ có 10 ngày nghỉ chính trong năm là:

Tết Dương lịch: Ngày 1 tháng 1

Ngày Martin Luther King: Thứ Hai tuần thứ ba tháng 1

Ngày Tổng thống: Thứ Hai tuần thứ ba tháng 2

Ngày Tưởng nhớ: Thứ Hai tuần cuối tháng 5

Ngày Độc lập: Ngày 4 tháng 7

Ngày Lao động: Thứ Hai tuần đầu tháng 9

Ngày Columbus: Thứ Hai tuần thứ hai tháng 10

Ngày Cựu chiến binh: Ngày 11 tháng 11

Ngày Tạ ơn: Thứ Năm tuần thứ tư tháng 11

Ngày Nô en: Ngày 25 tháng 12

Nếu Tết dương lịch, Ngày Độc lập, hoặc Ngày Nô en rơi vào cuối tuần thì được nghỉ bù vào thứ Sáu trước đó hoặc thứ Hai sau đó. Khi những ngày nghỉ lễ này rơi vào thứ Năm hoặc thứ Ba, thông thường các công ty cho nghỉ luôn một mạch cho đến hết tuần hoặc hết ngày lễ.

Nếu không phải vì những công việc cấp thiết thì các nhà kinh doanh nước ngoài không nên đến Hoa Kỳ để bàn chuyện kinh doanh vào tuần trước Nô en và tuần sau Tết dương lịch. Nhiều người ở Hoa Kỳ nghỉ làm từ Nô en đến hết Tết dương lịch; vì vậy, họ thường bận rộn vào dịp trước và sau đó.

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Hoa Kỳ là một nước cộng hoà liên bang thực hiện chế độ chính trị tam quyền phân lập. Hiến pháp Hoa Kỳ qui định quyền lập pháp thuộc về Quốc hội, quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Toà án tối cao. Mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưng không được trái với Hiến pháp của Liên bang.

Quốc hội Liên bang:

Quốc hội Liên bang Hoa Kỳ gồm Thượng viện và Hạ viện. Ngoài quyền lập pháp, Quốc hội còn giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp và tư pháp.

Trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ

Thượng viện gồm 100 thượng nghị sĩ, trong đó mỗi bang có hai thượng nghị sĩ. Các khu hành chính trực thuộc không có đại diện tại Thượng viện. Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là 6 năm. Hai năm một lần, Thượng viện tổ chức bầu cử lại 1/3 số thượng nghị sĩ. Về mặt pháp lý, Phó Tổng thống là Chủ tịch Thượng viện. Song trên thực tế, điều hành công việc hàng ngày của Thượng viện là thủ lĩnh phe đa số trong Thượng viện. Phó Tổng thống chỉ bỏ phiếu khi cần thiết để tránh bế tắc trong trường hợp Thượng viện rơi vào tình huống 50/50 về một vấn đề nào đó.

Hạ viện gồm 435 hạ nghị sĩ. Nhiệm kỳ của hạ nghị sĩ là 2 năm. Khác với Thượng viện, số hạ nghị sĩ đại diện cho bang phụ thuộc vào dân số của bang. Mỗi bang có quyền có tối thiểu một hạ nghị sĩ. Việc phân bổ số hạ nghị sĩ cho các bang được tiến hành 10 năm một lần dựa trên kết quả điều tra dân số. Ngoài ra, các khu hành chính trực thuộc như Samoa, Thủ đô Washington DC, Guam, và Virgin Islands cũng có đại diện không có quyền bỏ phiếu; Khu vực Puerto Rico được đại diện bởi một Cao uỷ thường trú. Đứng đầu Hạ viện là Chủ tịch Hạ viện. Chủ tịch Hạ viện là người thứ hai sau Phó Tổng thống kế nhiệm Tổng thống.

Phân chia quyền lực giữa hai viện: Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại, và ban hành luật cần thiết cho hoạt động của chính quyền. Trong đó, Thượng viện có đặc quyền cố vấn và thông qua các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài và các chức vụ do Tổng thống bổ nhiệm. Ví dụ, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được chính phủ hai nước ký tháng 7 năm 2000 và đến tháng 11 năm 2001 mới được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành.

Tất cả các dự luật liên quan đến tài chính (thuế và phân bổ ngân sách) đều do Hạ viện đề xuất; Thượng viện có thể bỏ phiếu thay đổi dự luật của Hạ viện và khi đó hai viện sẽ họp chung để giải quyết bất đồng. Hạ viện có quyền bỏ biếu buộc tội Tổng thống và các các quan chức liên bang, và Thượng viện có quyền quyết định có bãi chức người bị buộc tội đó hay không.

Cả Thượng viện và Hạ viện đều có những uỷ ban riêng của mình. Tuy nhiên, giữa Thượng viện và Hạ viện có một số uỷ ban phối hợp để xử lý một số công việc chung.

Dân biểu (thượng và hạ nghị sĩ liên bang và bang) được bầu từ các khu vực bầu cử. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của các dân biểu là bảo vệ và đem lại càng nhiều lợi ích cho các cử tri của mình càng tốt. Một trong những cách thông thường nhất để thực hiện nhiệm vụ này là đấu tranh dành ngân quĩ liên bang và bang cho các dự án ở khu vực bầu cử của mình. Khá nhiều khoản tiền dành cho các dự án ở địa phương được lẩn trong các khoản tiền phân bổ cho các cơ quan của chính quyền liên bang và bang.

Một cách khác mà các dân biểu thường làm là kiến nghị và vận động các cơ quan lập pháp và hành pháp thông qua các luật pháp và quyết định có lợi cho cử tri của mình. Ví dụ, nhiều thượng và hạ nghị sĩ của các bang ở Hoa Kỳ có nuôi cá catfish đã bảo trợ và tích cực vận động Quốc hội Liên bang thông qua dự luật cấm cá da trơn của Việt Nam mang tên catfish trên thị trường Hoa Kỳ.

Chính quyền liên bang:
Quyền hạn của chính quyền liên bang do Hiến pháp Liên bang qui định và chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực có ảnh hưởng đến toàn liên bang như ngoại giao, quốc phòng và an ninh, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý di dân, bảo hộ sở hữu trí tuệ, và một số lĩnh vực khác.
Nhà trắng – nơi ở và làm việc của Tổng thống Hoa Kỳ
Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp liên bang và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm. Theo luật hiện hành, mỗi tổng thống chỉ được phục vụ không quá 2 nhiệm kỳ. Tất cả các dự luật liên bang được Quốc hội liên bang thông qua phải được Tổng thống ký mới trở thành luật. Hiến pháp cho phép Tổng thống quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội liên bang thông qua.
Ngoài Tổng thống, bộ máy hành pháp Hoa Kỳ còn có Phó Tổng thống, 15 bộ và trên 60 ủy ban độc lập. Các bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và phải được Thuợng viện thông qua.
Trong hệ thống hành pháp liên bang còn có Văn phòng Nhà trắng, Văn phòng quản trị và tài chính, các hội đồng cố vấn. Các hội đồng cố vấn đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách của Tổng thống. Đáng chú ý nhất là Hội đồng an ninh quốc gia, Hội đồng cố vấn kinh tế, và Hội đồng chính sách phát triển.
Hệ thống tòa án liên bang: Hệ thống tòa án liên bang gồm Tòa án liên bang tối cao và các tòa án liên bang khu vực. Chánh án và các thẩm phán Tòa án tối cao liên bang do Tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện thông qua với nhiệm kỳ suốt đời. Những người này chỉ từ nhiệm khi họ muốn hoặc bị buộc tội. Toà án tối cao liên bang có quyền vô hiệu hoá bất cứ luật lệ liên bang hoặc bang nào mà toà xét thấy là trái với Hiến pháp. Ví dụ, năm 1897, Toà án tối cao liên bang đã ra phán quyết bác bỏ luật của Bang Louisiana cấm mua bảo hiểm của các hãng bảo hiểm ngoài bang trừ phi các hãng bảo hiểm đó đáp ứng đuợc một số điều kiện tiên quyết nhất định.
Trụ sở Tòa án tối cao Liên bang Hoa Kỳ
Các đảng phái chính trị: Hệ thống chính trị Hoa Kỳ chủ yếu do hai Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa kiểm soát. Đảng Dân chủ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề an sinh xã hội, y tế, giáo dục và công ăn việc làm cho nguời nghèo, và do vậy được đông đảo người nghèo và giới công đoàn ủng hộ. Đảng này chủ trương tăng cường quyền quản lý hành chính trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội.
Ngược lại, Đảng Cộng hòa muốn giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ đối với nền kinh tế, để nền kinh tế vận động theo qui luật của thị trường. Đảng này thường quan tâm nhiều hơn đến các giới chủ, các thế lực tài phiệt, giới chuyên gia và các tầng lớp trung lưu. Trong lĩnh vực đối ngoại, Đảng Cộng hòa thường chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự và cứng rắn hơn trong việc giải quyết các xung đột quốc tế.
Trong các cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ ứng cử viên Đảng Cộng hòa thường có ưu thế tại các bang phía Nam, trong khi đó ứng cử viên Đảng Dân chủ thường có ưu thế tại các bang phía Bắc.
Biểu tượng con lừa của Đảng Dân chủ vàcon voi của Đảng Cộng hoà
Hệ thống chính quyền bang: Hệ thống chính quyền bang nói chung cũng tương tự như hệ thống chính quyền liên bang. Đứng đầu ngành hành pháp bang là thống đốc bang. Thống đốc bang do cử tri bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 2 hoặc 4 năm tùy theo bang. Có bang giới hạn số nhiệm kỳ của thống đốc bang, có bang không. Ngoài quyền hành pháp, thống đốc bang còn có quyền kiến nghị và phủ quyết luật pháp bang, và một số quyền tư pháp.
ở cấp bang cũng có quốc hội bang gồm 2 viện như liên bang (trừ Bang Nebraska chỉ có một viện). Quốc hội bang cũng có quyền làm một số luật áp dụng trong bang (chủ yếu trong các lĩnh vực an sinh xã hội như y tế, giáo dục, an toàn, đạo đức, và phúc lợi của dân chúng trong bang). Quốc hội bang có quyền sửa đổi và thông qua ngân sách bang do thống đốc bang đề xuất, trong đó có việc tăng, giảm, hoặc hoàn thuế. Dưới bang là quận, thành phố, thị trấn, và làng.
Hoạt động vận động hành lang: Có thể nói vận động hành lang là một trong những đặc trưng nổi bật của hệ thống chính trị Hoa Kỳ. Tại Thủ đô Washington DC hiện nay có tới trên 12 nghìn người vận động hành lang chuyên nghiệp hoạt động. Các doanh nghiệp, các công đoàn, các hiệp hội kinh doanh, các nhóm tôn giáo, các trường đại học, các bang, các tổ chức xã hội, thậm chí cả chính phủ nước ngoài đều tiến hành các hoạt động vận động hành lang.

Vận động hành lang được coi là một hình thức đề đạt ý nguyện của dân chúng đến các các cơ quan quản lý nhà nước; do vậy, được pháp luật Hoa Kỳ cho phép. Trên thực tế, các nhóm lợi ích thường tiến hành các hoạt động vận động hành lang để tác động tới các quyết định lập pháp và hành pháp nhằm phục vụ cho lợi ích của mình. Vận động hành lang cũng có thể không liên quan đến một biện pháp luật pháp hoặc chính sách hoặc quyết định cụ thể mà chỉ nhằm cổ vũ cho một quan điểm hoặc một mối quan tâm nào đó.

Vận động hành lang không chỉ đơn thuần là nêu kiến nghị hoặc nguyện vọng. Những người vận động hành lang thường phải cung cấp các lý lẽ, chứng cứ, và thậm chí các bằng chứng khoa học có sức thuyết phục hỗ trợ cho kiến nghị hoặc nguyện vọng của mình. Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, những thông tin và lý lẽ thu lượm được từ các hoạt động vận động hành lang cũng là những nguồn thông tin bổ xung tốt phục vụ cho các cơ quan này trong công việc lập pháp và hành pháp của mình.

Các hoạt động vận động hành lang có thể do nhóm hoặc cá nhân có lợi ích trực tiếp tiến hành bằng cách gặp gỡ, gọi điện thoại, hoặc gửi kiến nghị đến các dân biểu của mình cũng như với các cơ quan chính quyền. Vận động hành lang cũng có thể được tiến hành một cách gián tiếp thông qua các chiến dịch báo chí truyền thông, thuê các công ty hoặc cá nhân vận động hành lang chuyên nghiệp thay mặt tiến hành những việc nói trên, thông qua các tổ chức quần chúng, đảng phái, thậm chí thông qua các cuộc biểu tình…

Các tổ chức và cá nhân làm dịch vụ vận động hành lang chuyên nghiệp có thu tiền đều phải đăng ký với Quốc hội, trừ những những trường hợp có mức phí dịch vụ dưới 5.000 USD trong thời gian 6 tháng. Thời hạn đăng ký là trong vòng 45 ngày kể từ khi bắt đầu tiếp xúc vận động hành lang hoặc kể từ ngày ký hợp đồng với khách hàng.

Hầu hết các hiệp hội kinh doanh và công ty lớn của Hoa Kỳ đều có đại diện của mình ở Thủ đô Washington DC và ở thủ phủ các bang mà họ có hoạt động kinh doanh để tiến hành các hoạt động vận động hành lang đối với quốc hội và chính quyền liên bang và bang.

Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, các công ty Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến các vòng đàm phán thương mại đa biên và song phương giữa Hoa Kỳ và các nước. Họ thường xuyên vận động và thậm chí gây sức ép với Quốc hội và Chính quyền liên bang để đảm bảo kết quả các cuộc đàm phán thương mại quốc tế có lợi cho hoạt động kinh doanh của mình.

Ví dụ, trong vấn đề hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam, các nhà sản xuất dệt may nội địa Hoa Kỳ đã liên tục gây sức ép với Quốc hội và Chính quyền đòi đàm phán sớm hiệp định dệt may và thậm chí đòi đơn phương áp đặt hạn ngạch với Việt Nam. Ngược lại, các nhà nhập khẩu và bán lẻ Hoa Kỳ đã tích cực vận động chính phủ Hoa Kỳ không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu hoặc dành cho Việt Nam hạn ngạch cao. Nhiều công ty thuộc cả hai phía đã cử đại diện vào Việt Nam và đến Washington DC để vận động trong quá trình đàm phán nhằm giành thuận lợi tối đa cho những mặt hàng mà họ quan tâm.

CÔNG VĂN SỐ 3744/BTP – HCTP CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ CÔNG CHỨNG GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Trong thời gian qua, Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số tổ chức, cá nhân gặp vướng mắc khi yêu cầu công chứng giao dịch bảo đảm. Nhằm thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về công chứng đối với giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp có ý kiến như sau:

1. Về công chứng hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

Khoản 2 Điều 319 của Bộ luật dân sự quy định: “Các bên được thoả thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.

Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) thì “nghĩa vụ được bảo đảm là một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ dân sự, có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện mà việc thực hiện nghĩa vụ đó được bảo đảm bằng một hoặc nhiều giao dịch bảo đảm” (khoản 5) và “nghĩa vụ trong tương lai là nghĩa vụ dân sự mà giao dịch dân sự làm phát sinh nghĩa vụ đó được xác lập sau khi giao dịch bảo đảm được giao kết” (khoản 6).

Như vậy, theo các quy định nêu trên thì tổ chức, cá nhân có quyền ký kết giao dịch bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai. Trong trường hợp này, do nghĩa vụ được bảo đảm (ví dụ: nghĩa vụ trả nợ trong các hợp đồng vay) chưa được xác lập tại thời điểm ký kết giao dịch bảo đảm nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng, nên việc yêu cầu phải ghi cụ thể về lãi suất, số tiền vay, thời hạn vay và các nội dung khác về hợp đồng sẽ ký trong tương lai là không phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về công chứng hợp đồng thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 của Bộ luật dân sự và Điều 5 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì các bên có quyền thoả thuận dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện thực hiện nhiều nghĩa vụ và thoả thuận về việc tài sản đó có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (nghĩa vụ được bảo đảm có thể là một phần hoặc toàn bộ khoản vay). Do đó, khi các bên đã thoả thuận rõ về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm theo Điều 5 của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP thì việc yêu cầu các bên phải xoá đăng ký thế chấp đối với hợp đồng thế chấp trước, rồi mới thực hiện công chứng đối với hợp đồng thế chấp sau là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Riêng đối với trường hợp thế chấp nhà ở theo quy định tại Điều 114 của Luật nhà ở thì giá trị tài sản nhà ở phải lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ và chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng.

3. Về việc công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất trong cụm công nghiệp, tổ công nghiệp

Theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 2 của Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 21/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thì “trường hợp chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao thì phải có xác nhận của Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao”.

Do đó, đối với những trường hợp không thuộc quy định nêu trên, ví dụ: thế chấp quyền sử dụng đất thuộc cụm công nghiệp, tổ công nghiệp, thế chấp đất ở… thì cụm công nghiệp, tổ công nghiệp không có thẩm quyền xác nhận hợp đồng thế chấp đó. Trong trường hợp này, các bên ký kết hợp đồng thế chấp có quyền yêu cầu công chứng viên thực hiện việc công chứng hợp đồng theo thủ tục do pháp luật quy định.
4. Về quy định “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật”

Một số công chứng viên cho rằng “đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật” theo Điều 5 của Luật công chứng đã loại bỏ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của Bộ luật dân sự và do đó đã không công chứng đối với các hợp đồng, giao dịch có đối tượng là tài sản hình thành trong tương lai. Cách hiểu như vậy là sai. Tài sản hình thành trong tương lai cũng được coi là tài sản có thật nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý để chứng minh. Vì vậy, Bộ Tư pháp yêu cầu các công chứng viên không được từ chối công chứng hợp đồng, giao dịch thuộc loại này.

5. Về công chứng hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức

Việc ngân hàng ký kết hợp đồng thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức là hoạt động thuộc nghiệp vụ của ngân hàng và đã được pháp luật ngân hàng quy định. Mặt khác, hợp đồng bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cho vay theo hạn mức là một dạng cụ thể của hợp đồng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai. Do đó, việc từ chối công chứng đối với hợp đồng bảo đảm có thoả thuận dùng để bảo đảm cho các khoản vay theo hạn mức (ví dụ: các bên thoả thuận “tài sản bảo đảm cho dư nợ tối đa là … triệu đồng”) là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Bộ Tư pháp yêu cầu các Phòng công chứng nghiên cứu, thực hiện.

LEGAL WRITING STYLE FOR ESSAYS

CÁC BẠN SINH VIÊN LUẬT THÂN MẾN, HIỆN NAY CÁC BẠN ĐANG LÀM QUEN VỚI BÀI TẬP DẠNG LUẬN CHO CÁ NHÂN (BÀI TẬP TUẦN VÀ NHÓM (THÁNG), BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ. TÔI XIN GỬI ĐẾN CÁC BẠN MỘT BÀI VIẾT HƯỚNG DẪN VIẾT CÁC BÀI LUẬN CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG LUẬT. HY VỌNG NÓ SẼ GIÚP ÍCH CÁC BẠN PHẦN NÀO

image Legal writing is unique and unlike any other writing style you will have experienced. It is factual, straight to the point and omits any ‘filling words’ or ‘waffle’.

Your work should explain the facts and reasoning of the cases or statutes you have found that relate to your essay, clearly and concisely, and show how they interelate and how they apply to the facts of the scenario. You will compare the facts of previous cases to the facts of your scenario, looking for similarities and differences. You will apply general rules derived from those cases to your specific situation.

In legal writing, you always have to explain every step of this analysis, even when you are sure that the reader knows more about the law and facts than you do. The point of your assignments is not to remind your lecturer what he or she knows, but to demonstrate what you know.

Moreover, your lecturer is preparing you to practice law in the real world, so you cannot take any shortcuts. Your supervisor in a law office may be a bright, experienced lawyer, who may not remember this client’s situation and who is too busy to read the authority you find in your research. Your supervisor will rely on your thorough explanations of cases, statutes, and other authority in your memorandum.

If you are writing for a court, you cannot be sure that the judge will read the authorities you cite. The judge may rely on a law clerk who has only recently graduated from law school. Your document must educate these readers about what law exists and how it applies to your situation.

Pretend that your reader is blindfolded and trying to walk up a staircase in your house. Given your sight and familiarity with the house, you could bound up the staircase three steps at a time. But the reader needs to move deliberately, step by step. Because you know the way, you must lead your reader, step by step. While your reader will be happy to arrive at the top, the journey — your analysis — will be more important than standing on the top step — arriving at your conclusion.

(Adapted from Source: Suzanne E. Rowe (2000) Legal Reseach, Writing and Analysis)
Writing essays to length

Most essays have a word limit which are designed to make you think carefully about how to organise and illustrate your answer. Check with your institution whether references, footnotes and/or bibliography are included in the word count.

In law assignments, word limits are often restrictive so that you develop concise writing skills and omit any irrelevant material – every sentence counts and you will need to sustain a sharp focus on the question and limiting any tangential discussion.

To keep within the word limit, you will need to:
Limit yourself only to the relevant issues and ideas
Select and use only relevant material, legal authority and examples, using only one source for each point made (unless you have an unlimited word count for references)
Reword concepts from source material very concisely, making the relevance of each source very clear

With law essays, you should give priority to primary source material – statutes, statutory instruments and cases. Journals and Halsbury’s Laws of England are secondary source materials – this means that although they describe the law, they are not the law; and sometimes they are wrong!
Structure (Law Essays)

Unless you are told otherwise, the very minimum requirements of a law essay or problem question are an introduction, a body and a conclusion.

Introduction
As a very rough guide, for essay style questions, the introduction will represent about 10% of your word count, outlining perhaps a brief interpretation of the question and what you intend to cover in the essay.

For problem questions, the introduction will be fairly short and simple, outlining for example the areas of law and main statutes/cases that the question is concerned with.

Body
The body of your answer, accounting for the majority of the word count, should demonstrate your understanding of the area and develop your argument. It is a good idea here to keep referring explicitly to the question asked.

Conclusion
The conclusion for essay style questions will represent about 10 – 15% of your word count. This must summarise your main findings and points, and usually will reach a conclusion and answer the question set, which must be consistent with your findings and arguments in the body of the essay. You should never introduce new points or material in the conclusion.

For problem questions, the length of your conclusion will depend on how you have approached the question. If you have reached conclusions in the body of your answer, there is little point repeating them here and you may just end up summarising your findings, e.g. “in conclusion, Jessie has a binding contract with Eve and will be bound by its terms, as agreed between the parties on the 18th of June” etc.

Structure (Law Reports)

You may be asked to write a report about a specific area of law. A report will be a neutral presentation, often dealing with the current law, proposals for change and whether those proposals have been approved by leading bodies and interested parties. A report will also often consider alternatives to proposed change.

A good structure for a law report would be as follows:
Title Page – showing the title of the report, the author, the person for whom the report is prepared, and the date of completion
Summary/Synopsis/Executive Summary (approx 10% of word count) – this will identify:
The purpose of the report
The scope of the report – issues covered/not covered
The important results and findings
The conclusions and recommendations
Acknowledgement of any assistance in researching and compiling the report
Table of contents – not including the title and contents page!
Body of report – this will include:
Introduction – what is the report about
Discussion – divided into sections and sub sections, presented clearly and confined to fact rather than analysis/opinion
Conclusion – this should:
Relate back to the findings in the body of the report
Include a clear summary of the main points
Outline the findings of the research

There should be nothing in the conclusion that has not already been mentioned in the body of the report.
Recommendations – these should:
Emerge from the conclusions
Suggest what is to be done, who is to do it and how/when it is to be done
Be justified based on findings, not just the opinion of the writer
Bibliography
Appendix/Appendices – containing supplementary material too detailed for the main body of the report, such as tables, charts, statistics, questionnaires etc

(Adapted from Source: NCI Learning Centre: Study Skills/Writing Skills/Writing Reports)
Structure (Law Dissertations)

The structure of a dissertation is quite similar to a report. Although it will depend very much on what you are presenting, the following is an acceptable structure for a law dissertation:
Title Page – showing the title of the dissertation and the author
Abstract – summarising what the reader can expect to find in the dissertation. Be concise and don’t reference or use quotes in this part (150 – 300 words)
Table of contents – not including the title and contents page!
Introduction – this should be a short summary (100 – 200 words) of what the objectives are/what you are going to write about
Background – this should assume the reader knows nothing and give them a full account of what they need to know to appreciate the issues at stake
Methodology– what you are going to do and how you plan on doing it (200 – 300 words)
Literature Review – a review of relevant theory and the most recent published information on the issue.
Evidence – what you have discovered and what you have concluded from it. This most not simply be descriptive but must make a considered analysis of the findings, moving towards a detailed and visionary strategy for development.
Conclusion – what you have discovered and what you have concluded from it. This most not simply be descriptive but must make a considered analysis of the findings, moving towards a detailed and visionary strategy for development.
Recommendations – where appropriate. These should emerge from the conclusion, suggest what is to be done, who is to do it and how/when it is to be done, and be justified based on findings, not just the opinion of the writer

(Adapted from Source: ‘Dissertations’, Stephen Ginns, July 2002)

Interpreting Law Essay Questions

The first step with a law essay question is to identify what exactly you are being asked to do. Most law essay questions contain directives as to what is required, and the most common ones are defined below. For those we have missed, try looking up the actual word in the dictionary (www.m-w.com).

Account for
Explain, clarify, give reasons

Analyse
Resolve into component parts. Examine critically and minutely.

Assess
Determine the value of, weigh up (similar to evaluate)

Compare
Look for similarities and differences between, perhaps reach conclusions about which is preferable

Contrast
Set in opposition in order to bring out the differences

Criticise
Make judgments (backed by the discussion of the evidence or reasoning involved)

Define
State the exact meaning of a word or phrase. In some cases it may be necessary or desirable to examine different possible meanings or often used definitions.

Describe
Give a detailed or graphic account

Discuss
Explain, then give two or more sides of the issue and any implications

Evaluate
Make an appraisal of the worth or validity or effectiveness of something in the light of its truth or usefulness (similar to assess)

Explain
Make plain, interpret and account for, give reasons

How far..?
Determine to what extent – usually this requires looking at evidence or arguments for or against, and weighing them up

Illustrate
Make clear and explicit. Use carefully chosen examples.

Interpret
Explain the meaning of, make clear and explicit, usually giving judgment

Justify
Show adequate grounds for decisions or conclusions, answer the main objection likely to be made about them.

Outline
Give the main features or general principles of the subject, omitting minor details and emphasising structure and argument (similar to summarise)

State
Present in a brief, clear form

Summarise
Give a concise, clear explanation or account of – present the chief factors and omit minor details and examples (similar to outline)

(Source: Open University : Assessment Guide 1, W100, Appendix)

Planning Your Law Essay

The next step is to plan your essay: as we identified, the minimum requirements will be an introduction, body and conclusion, unless you are dealing with a report or dissertation.

When you have done some research, you may wish to make a rough plan of where you intend to go with the essay. For example:

Question: Recent case law suggests that litigants are generally better advised to pursue a claim in misrepresentation rather than for breach of contract. Discuss.

Comment: Note that the question asks you to ‘discuss’ – this requires that you offer an explanation of the issue/quote and then give two or more sides of the issue and any implications.

This question calls for a general comparison of the remedies for misrepresentation and breach of contract, but more specifically, it requires a focus on the recent body of case law from the Court of Appeal in which damages under Section 2 of the Misrepresentation Act (1967) have been equated with those available for an action in deceit. Your answer should therefore include a comparison of the following points:

(a) the availability of rescission and repudiation;
(b) the basis upon which damages are awarded in misrepresentation and for breach of contract.

Sample Law Essay Plan

Introduction
For a pre-contractual statement constituting both a breach of contract and misrepresentation, the representee must choose which action to pursue. Which is best?
Remedies for breach of contract (repudiation and/or damages), remedies for misrepresentation (rescission and/or damages)
What the essay will cover: a consideration of § the availability of repudiation and rescission, § the basis for awarding damages in each area.
Contract remedies depend whether the term which the defendant has broken is a condition or warranty, whereas in misrepresentation it is the culpability of the defendant which determines the available remedies.

Body
The difference between repudiation and rescission
How contract terms are classified and why this is important
The basis for awarding damages for breach of contract
The basis of awarding damages for misrepresentation
The advantages of suing under Section 2 of the Misrepresentation Act 1967
The relevance of contributory negligence, fraud and direct consequences damages, and loss of opportunity damages
Use of a deceit measure for all non-innocent misrepresentations, disregard of any foreseeability criterion
Potentially enhanced recovery of non-pecuniary losses
Award of quasi ‘loss of bargain’ damages
Contrast with difficulties recovering damages for innocent misrepresentations
Possible bars to rescission including exercise of judicial discretion under Section 2(2) of the Misrepresentation Act 1967 (per William Sindall plc v Cambridgeshire County Council (1994) 1 WLR 1016)
General emphasis on reliance losses in tort

Conclusion
Summarise main issues/comparisons

(Adapted from Source: Brown, I & Chandler, A (2005/6) Law of Contract, Oxford University Press)

Law Essays – writing your introduction
Your introduction will often be an analysis of the question posed, identifying the area of law, key legislation and main points you intend to address in the essay. You may even spell out what you intend to show in your writing. For this reason, it is suggested that you review your introduction when you have finished to make sure it reflects the direction you have taken, or even leave writing your introduction until last!

Law Essays – writing the body
The body of your answer, accounting for the majority of the word count, should demonstrate your understanding of the area and develop your argument. It is a good idea here to keep referring explicitly to the question asked.

The body may include:

– A discussion of the main issues raised by the question
– Positive and negative views
– Pros and cons for different approaches
– Problems with the area of law in discussion

You can refer to authoritive opinion, e.g. quotes from Hansard, Law Commission Reports, opinions from Text Books but note that you should not give your personal opinion ever in law essays. Rather, you should give a legal opinion based on the sources you have found.

You should aim to:

(a) write in continuous prose
(b) make sure everything you say is relevant
(c) start a new paragraph for each main idea
(d) use short, clear sentences in preference to long, rambling ones.
(e) support each main idea with examples, relevant facts or legal authorities, making clear where it was that information or quotations you use came from.

Make sure that you keep referring back to the question posed – this will help you stay on track.

Law Essays – writing your conclusion
The final section is your conclusion – this should summarise your main findings, highlight any major issues that have arisen from your discussion, and discuss the implications of your findings. If reform is required, you could say so here – if reform is already proposed or underway, this is something you should explain.

Tackling Law Essay Problem Questions

The formula for tackling a law/legal problem question is as follows:
Offer a brief introduction identifying the relevant area of law and any major legislation or cases that will be relevant

Follow Law Teacher
Identify relevant issues – do not repeat the question or the facts
Identify relevant legislation and/or case law (use only one or two relevant cases for each point you make and don’t just regurgitate the facts of the precedent case)
Apply the facts to the legislation/case law
Conclude (you may not be able to give a definite answer)

Many students lose marks by failing to achieve a proper balance of these tasks e.g. by writing everything they know about the law in that area and concluding very briefly in relation to the facts.

Where there are several issues in the question, you may want to break your answer into sub headings to avoid confusion. Where two issues are dealt with by the same legislation/case law, you can include these in one heading to avoid repetition.

Example of a law problem question
This example applies the formula given above to a problem question. It uses numbers only to identify which part of the above formula is being dealt with.

Question: “John was employed by Stealthjet plc in their factory assembling a new top secret design of high-tech fighter jets for military use. He was killed in an explosion at the factory. His Widow, Jessica, wishes to establish that the defective design of the fighter jets, or the system for making them, caused the explosion, and so to recover damages from Stealthjet plc. Advise Jessica whether she is likely to succeed in a claim against Stealthjet plc”.

SECTION 1 (INTRODUCTION): The principle area that this question is concerned with, is the doctrine of public interest immunity. This doctrine is intended to ensure that documents are not revealed in the course of litigation if it is not in the public interest to do so. Originally, such a claim could only be made by the Crown and was known as ‘Crown Privilege’. In Duncan v Cammell Laird (1942) AC 624, the House of Lords held that any claim made by the Crown under the doctrine must be accepted; however, this was reversed in Conway v Rimmer (196  Ac 910, and it is now for the Courts to decide whether or not it is in the public interest for the documents to be disclosed.

This is your introduction. In a problem question this will be very brief, identifying the area of law, and any major cases or statutes that are significant.

SECTION 2: In this scenario, Jessica will be suing her late husband’s employers, Stealthjet plc, for negligence in failing to provide him with a safe system of work. She will need to obtain the plans of the fighter jets and of their manufacturing system in order to identify the defects that gave rise to the explosion. However, the Ministry of Defence will want to claim that it is against the public interest that these plans be disclosed, despite the fact that the Ministry are not a party to the case. The course of English legal proceedings means that disclosing documents requires them to be revealed to the other parties and their legal representatives, and to the judge. There is ample opportunity for the documents to get into the wrong hands.

Here you are identifying the major issues and facts – you should be looking at any problems that arise out of the scenario. There is no need to repeat the question as this just wastes your word count and suggests you haven’t really understood what is being asked.

SECTION 3. In Conway v Rimmer, the House of Lords held that, in deciding whether documents should be disclosed or not, two aspects of the public interest had to be balanced. The first was a public interest in ensuring no harm was done to national interest by disclosing the documents which should be kept secret. The second related to the public interest in ensuring that the conduct of litigation was not frustrated. In Conway, the Court distinguished between claims based on the contents of the relevant documents, and those based on a class to which the documents belonged – generally, contents claims would be stronger than class claims.As a consequence of the Scott Inquiry into the Matrix Churchill affair, the government announced that it would no longer make class claims, but only claims based on the contents of particular documents. If required, the Courts could inspect the documents to weigh up the value of the arguments for and against disclosure.

This section deals with the relevant legislation and/or case law. There is only one case relevant to this scenario – however, for other areas of law (e.g. contract, tort) you may find there are many, and you need to be selective, using only one or two recent valid cases to support your argument.

SECTION 4. Applying the principles of these cases to the facts of the scenario, it seems probable that the likelihood of Jessica establishing the liability of Stealthjet plc will be almost completely dependent on access to the documents which, if they should reveal design flaws, will prove her case in themselves. The litigation will be frustrated if she is unable to gain access to them.However, against disclosure, the public interest immunity claim will be based on the contents of the documents, and it will be extremely difficult to dispute a claim that it will pose a grave threat to national security if the plans of how to build the new military fighter jet (which are “top secret”) fell into the wrong hands. Inspection of the documents is unlikely to be necessary to convince the Court that these are genuine state secrets.Comparison may be made to Duncan v Cammell Laird (1942) where the Admirality was clearly justified in wishing to keep secret the plans of its latest submarine.

This section applies the relevant legislation and/or case law to the facts of the scenario. It weighs up the strength of each side of the argument but doesn’t yet propose a conclusion (although it may be apparent as to which argument will succeed).

SECTION 5. Whilst there is no doubt that the Courts have the power to order the disclosure of documents in the interests of justice, even where their content is sensitive, it is doubtful that they would do so in this case. Although there is a public interest that the litigation is not frustrated, there is a stronger public interest that the plans to the military jet do not fall into the wrong hands, and this would be a strong possibility if disclosure were ordered. The Court is, therefore, unlikely to order disclosure of the plans that Jessica needs to establish her case and the case would, therefore, fail.

(Adapted from Source: Clements, R & Kay J (2004/5) Constitutional and Administrative Law (3rd Edition) Oxford University Press

The final section is your conclusion. You need to make sure in this section that you have answered the question posed (i.e. in this case, whether Jessica is likely to succeed). The conclusion draws together the various parts of your findings – you may not, however, always be able to give a firm conclusion. If the outcome depends on some factor you do not know, you should say so (and you can give more than one possible outcome in such a case).

Referencing your law essay

Each university has a different referencing system and indeed, the referencing requirements for each course may vary still so you need to check your individual course guidelines carefully.

The Harvard system is by far the most common referencing system used on law courses.

The Harvard Referencing System – a guide

Citations within the text

Quotations
If the quote is less than a line it may be included in the body of the text in quotation marks. Longer quotations are indented and single-spaced – quotation marks are not required.
For citations of particular parts of the document the page numbers etc. should be given after the year in parentheses.

Summaries or paraphrases give the citation where it occurs naturally or at the end of the relevant piece of writing.
Diagrams and illustrations should be referenced as though they were a quotation if they have been taken from a published work.
If details of particular parts of a document are required, e.g. page numbers, they should be given after the year within the parentheses.
Rules for citation in text for printed documents also apply to electronic documents except where page numbering is absent. If an electronic document does not include page numbering or an equivalent internal referencing system, the extent of the item may be indicated in terms such as the total number of lines, screens, etc., e.g. “[35 lines]” or “[approx. 12 screens]“.
Quotations Examples
i) Where the author’s name is quoted as part of the sentence, the year is given in parentheses.
e.g. In a popular study Harvey (1992) argued that we have to teach good practices
e.g. As Harvey (1992, p.21) said, good practices must be taught and so

ii) If the name is not quoted as part of the sentence, both name and year are given in parentheses:-
e.g. A more recent study (Stevens 199  has shown the way theory and practical work interact.
e.g. Theory rises out of practice, and once validated, returns to direct or explain the practice (Stevens 1998).

iii) When an author has published more than one cited document in the same year, these are distinguished by adding lower case letters (a,b,c, etc.) after the year and within the parentheses:-
e.g. Johnson (1994a) discussed the subject

iv) If there are two authors the surnames of both should be given:-
e.g. Matthews and Jones (1997) have proposed that

v) If there are more than two authors the surname of the first author only should be given, followed by et al.:-
e.g. Office costs amount to 20% of total costs in most business (Wilson et al. 1997)
(A full listing of names should appear in the bibliography)

vi) If the work is anonymous then Anon should be used:-
e.g. In a recent article (Anon 199  it was stated that

vii) If it is a reference to a newspaper article with no author the name of the paper can be used in place of Anon:-
e.g. More people than ever seem to be using retail home delivery (The Times 1996)
(Use the same style in the bibliography)

viii) If you refer to a source quoted in another source you cite both in the text:-
e.g. A study by Smith (1960 cited Jones 1994) showed that
(List only the work you have read, i.e. Jones, in the bibliography.)

ix) If you refer to a contributor in a source you cite just the contributor:-
e.g. Software development has been given as the cornerstone in this industry (Bantz 1995).

x) If you refer to a person who has not produced a work, or contributed to one, but who is quoted in someone else’s work it is suggested that you should mention the person’s name and you must cite the source author:-
e.g. Richard Hammond stressed the part psychology plays in advertising in an interview with Marshall (1999).
e.g. Advertising will always play on peoples’ desires, Richard Hammond said in a recent article (Marshall 1999, p.67) (Also list the work that has been published, i.e. Marshall, in the bibliography)

Personal communications do not provide recoverable data and so are not included in the reference list. Cite personal communications in the text only. Give initials as well as the surname of the communicator and provide as exact a date as possible.
e.g. Many designers do not understand the needs of disabled people according to J. O. Reiss (personal communication, April 18, 1997).
Bibliography
At the end of a piece of work list references to documents cited in the text. This list may be called a Bibliography or References. You may be required to list references not cited in the text but which make an important contribution to your work. These are usually listed under the heading of Further Reading.
In the Harvard System, the references are listed in alphabetical order of author’s names. If you have cited more than one item by a specific author they should be listed chronologically (earliest first), and by letter (1993a, 1993b) if more than one item has been published during a specific year.

Whenever possible, elements of a bibliographical reference should be taken from the title page of the publication.
For place of publication give the city. If more than one town/city is listed give the first one or the location of the publishers head office. If the town/city is not well known, you may in addition add a county, region or state.
Always retain the words Books or Press. Where the publisher is a university and the place or location is included in the name of the university, do not repeat the place of publication.

Each reference should use the elements and punctuation given in the following examples for the different types of published work you may have cited. Underlining is an acceptable alternative to italics when bibliographies are hand written.

Reference to a book
Author’s SURNAME, INITIALS.
Year of publication
Title
Edition (if not the first)
Place of publication and Publisher.
e.g. MERCER, P.A. AND SMITH, G., (1993) Private view data in the UK, 2nd ed, London, Longman.

Reference to a contribution in a book
Contributing author’s SURNAME, INITIALS., Year of publication, Title of contribution, Followed by In: INITIALS. SURNAME, of author or editor of publication followed by ed. or eds. if relevant, Title of book, Place of publication, Publisher, Page number(s) of contribution.
e.g. BANTZ, C.R., 1995. Social dimensions of software development. In: J.A. ANDERSON, ed. Annual review of software management and development. Newbury Park, CA: Sage, 502-510.

Reference to an article in a journal
Author’s SURNAME, INITIALS., Year of publication. Title of article. Title of journal, Volume number and (part number), Page numbers of contribution.
e.g. EVANS, W.A., 1994. Approaches to intelligent information retrieval. Information processing and management, 7 (2), 147-168.

Reference to a newspaper article
Author’s SURNAME, INITIALS., (or NEWSPAPER TITLE,) Year of publication. Title of article. Title of newspaper, Day and month, Page number/s and column number.
e.g INDEPENDENT, 1992. Picking up the bills. Independent, 4 June, p.28a.

Reference to a map
Originator’s SURNAME, first name or initials, (may be cartographer, surveyor, compiler, editor, copier, maker, engraver, etc.) year of publication. Title, Scale. (should be given normally as a ratio) Place of publication: Publisher.
e.g. MASON, James, 1832. Map of the countries lying between Spain and India, 1:8,000,000. London: Ordnance Survey.

Reference to a conference paper
Contributing author’s SURNAME, INITIALS., Year of publication. Title of contribution. Followed by In: INITIALS. SURNAME, of editor of proceedings (if applicable) followed by ed. Title of conference proceedings including date and
place of conference. Place of publication: Publisher, Page numbers of contribution.
e.g. SILVER, K., 1991. Electronic mail: the new way to communicate. In: D.I. RAITT, ed. 9th international online information meeting, 3-5 December 1990 London. Oxford: Learned Information, 323-330.

Reference to a publication from a corporate body (e.g. a government department or other organisation)
NAME OF ISSUING BODY, Year of publication. Title of publication. Place of publication: Publisher, Report Number (where relevant). e.g. UNESCO, 1993. General information programme and UNISIST. Paris: Unesco, (PGI-93/WS/22).

Reference to a thesis
Author’s SURNAME, INITIALS., Year of publication. Title of thesis. Designation, (and type). Name of institution to which submitted.
e.g. AGUTTER, A.J., 1995. The linguistic significance of current British slang. Thesis (PhD). Edinburgh University.

Reference to a patent
ORIGINATOR, (name of applicant) Year of publication. Title of patent. Series designation which may include full date.
e.g. PHILIP MORRIS INC., 1981. Optical perforating apparatus and system. European patent application 0021165 A1. 1981-01-07.

Reference to a video, film or broadcast
Title, Year. (For films the preferred date is the year of release in the country of production.) Material designation. Subsidiary originator. (Optional but director is preferred, SURNAME in capitals) Production details “ place: organisation.
e.g. Macbeth, 1948. Film. Directed by Orson WELLES. USA: Republic Pictures.
e.g. Birds in the Garden, 1998. Video. London: Harper Videos.

Programmes and series
The number and title of the episode should normally be given, as well as the series title, the transmitting organisation and channel, the full date and time of transmission.
e.g. Yes, Prime Minster, Episode 1, The Ministerial Broadcast, 1986. TV, BBC2. 1986 Jan 16.
e.g. News at Ten, 2001. Jan 27. 2200 hrs.

Contributions: individual items within a programme should be cited as contributors.
e.g. BLAIR, Tony, 1997. Interview. In: Six O’clock News. TV, BBC1. 1997 Feb 29. 1823 hrs.

Electronic Material
The British Standard BS 5605:1990 does not include recommendations for electronic sources. The recommendations in this document follow best practice in referencing electronic resources and where possible follow the guidance of the British Standard.

Reference to web pages/sites and e-books
Author’s / Editor’s SURNAME, INITIALS., Year. Title [online]. (Edition). Place of publication, Publisher (if ascertainable). Available from: URL [Accessed Date].
e.g. HOLLAND, M., 2004. Guide to citing Internet sources [online]. Poole, Bournemouth University. Available from:
http://www.bournemouth.ac.uk/library/using/guide_to_citing_internet_sourc.html
[Accessed 4 November 2004].

Reference to e-journals
Author’s SURNAME, INITIALS., Year. Title. Journal Title [online], volume (issue), location within host. Available from: URL [Accessed Date].
e.g. KORB, K.B., 1995. Persons and things: book review of Bringsjord on Robot-Consciousness. Psycoloquy [online], 6 (15). Available from:
http://psycprints.ecs.soton.ac.uk/archive/00000462/ [Accessed 20 May 2004].

Reference to mailbase/listserv e-mail lists
Author’s SURNAME, INITIALS., Day Month Year. Subject of message. Discussion List [online] Available from: list e-mail address [Accessed Date].
e.g. BRACK, E.V., 2 May 2004. Re: Computing short courses. Lis-link [online]. Available from: jiscmail@jiscmail.ac.uk [Accessed 17 Jun 2004].
e.g. JENSEN, L.R., 12 Dec 1999. Recommendation of student radio/tv in English. IASTAR [online]. Available from: LISTSERV@FTP.NRG.DTU.DK [Accessed 29 Apr 2004].

It should be noted that items may only be kept on discussion group servers for a short time and hence may not be suitable for referencing. A local copy could be kept by the author who is giving the citation, with a note to this effect.

Reference to personal electronic communications (e-mail)
Sender’s SURNAME, INITIALS. (Sender’s e-mail address), Day Month Year. ubject of Message. e-Mail to Recipient’s INITIALS. SURNAME (Recipient’s email ddress).
e.g. LOWMAN, D. (deborah_lowman@pbsinc.com), 4 Apr 2000. RE: ProCite and nternet Refere. e-Mail to P. CROSS (pcross@bournemouth.ac.uk).

Reference to CD ROMs and DVDs
This section refers to CD-ROMs which are works in their own right and not bibliographic databases.

Author’s SURNAME, INITIALS., Year. Title [type of medium CD-ROM]. (Edition). Place of publication, Publisher (if ascertainable). Available from: Supplier/Database identifier or number (optional) [Accessed Date] (optional).
e.g. HAWKING, S.W., 1994. A brief history of time: an interactive adventure. [CDROM]. Crunch Media
Citing Unpublished Material
See BS 6371:1983. Citation of unpublished documents. B.S.I. (Talbot Campus Library & Learning Centre and Bournemouth House Library 028.7 BRI).

Remember that you must acknowledge your source very time you refer to someone else’s work. Failure to do so amounts to plagiarism, which is against University rules and is a serious offence.
(This referencing guide is based on material on the Bournemouth University Website
HOLLAND, M., 2004. Guide to citing Internet sources [online]. Poole, Bournemouth University. Available from:
http://www.bournemouth.ac.uk/library/using/guide_to_citing_internet_sourc.html
[Accessed 3 February 2006])

Avoiding plagiarism in your essays

Plagiarism can be any of the following:

• Passing off someone else’s words as your own
• Passing off someone else’s ideas as your own
• Rewording a source but retaining the original ideas it contains, without giving due credit
• Failing to put a quote in quotation marks
• Copying large sections of someone else’s words or ideas, even if credit is given or quotation marks are used
• Giving incorrect information about the source of a quotation – for example, citing a source that the real author has found and used, that you do not have a copy of
• Changing the words but copying the sentence structure of a source without giving credit

(Source adapted from http://www.plagiarism.org)

These are just examples and are not exhaustive.

Your university will have their own guidelines on plagiarism which you should familiarise yourself with, but in short, your lecturers will be looking for original work. To be original your work must not contain words or ideas copied, paraphrased, edited, summarised or rearranged from any website, book, journal, essay or any other source, either in whole or in part.

Where it is necessary to include a direct quote, particularly for law pieces or where analysing a piece of text, you should ensure that direct quotes appear in quotation marks and are fully referenced. Extensive use of direct quotations is not permitted.

Using correct punctuation in your essay

Punctuation helps to keep your writing flowing smoothly and makes it more understandable to the reader. The most common errors students make relate to commas, colons and semi colons.

Commas
I often see work that either entirely omits the use of commas or litters them right the way through the text at every pause or break in the flow of writing. The hard and fast rule is that you DON’T use a comma unless to omit it would change the meaning of the text. Read through the examples for more guidance.
To avoid confusion, use commas to separate words and word groups with a series of three or more.
For example, my ??10,000,000 estate is to be split among my husband, daughter, son, and nephew.
If you omit the comma after “son”, this would indicate that the son and nephew would have to split one-third of the estate.
Use a comma to separate two adjectives when the word “and” can be inserted between them.
For example, “He is a strong, healthy man.”

Here’s another example: “We stayed at an expensive summer resort.” You would not say expensive and summer resort so no comma is necessary.

Use a comma when an “ly” adjective is used with other adjectives.
NOTE: To test if a “ly” word is an adjective, see if it can be used alone with the noun. If it can, use the comma.
“Felix was a lonely, young boy.” – lonely can be used with boy so it is adjective and therefore a comma should be used.
“I get headaches in brightly lit rooms” – brightly is not an adjective because it cannot be used alone with rooms; therefore, no comma is used between brightly and lit.

Use commas before or surrounding the name or title of a person directly addressed.
“Will you, Shirley, do that assignment for me?”
“Yes, Doctor, I will.”
Use a comma to separate the day of the month from the year.
For example, “Kathleen met her husband on December 5, 2003, in Mill Valley, California.”

BUT
If any part of the date is omitted, leave out the comma.
For example , “They met in December 2003 in Mill Valley.”
Use a comma to separate the city from the county or state and after the state. Some businesses no longer use the comma after the state.
For example I lived in Radcliffe on Trent, Nottinghamshire, for 20 years.
OR I lived in Radcliffe on Trent, Nottinghamshire for 20 years.

Use commas to surround degrees or titles used with names.
For example “Jennifer Wiss, LL.B, knew Sam Sunny, Jr.”
NOTE: Sometimes people having names with Jr. attached do not use a comma before the Jr. If they do not use the comma, then you should not.

Use commas to set off expressions that interrupt the flow of the sentence.
For example, “I am, as you have probably noticed, very nervous about this”.

When starting a sentence with a weak clause, use a comma after it. Conversely, do not use a comma when the sentence starts with a strong clause followed by a weak clause.
For example, “If you are not sure about this, let me know now.”
“Let me know now if you are not sure about this.”

Use a comma after phrases of more than three words that begin a sentence.
For example, “To apply for this job, you must have previous experience.”
“On February 14 many couples give each other chocolates or flowers.”
If something or someone is sufficiently identified, the description following it is considered nonessential and should be surrounded by commas.
For example, “Freddy, who has a limp, was in an auto accident.” – Freddy is named so the description is not essential.
“The boy who has a limp was in an auto accident.” – We do not know which boy is being referred to without further description; therefore, no commas are used.

Use a comma to separate two strong clauses joined by a coordinating conjunction-and, or, but, for, nor. You can omit the comma if the clauses are both short.
For example, “I have painted the entire house, but he is still working on sanding the doors.”
“I paint and he writes.” – this is short and does not need a comma.

Use the comma to separate two sentences if it will help avoid confusion.
For example, “I chose the colors red and green, and blue was his first choice.” – without the comma, it could be that green and blue were his first choice, or it could be that I chose red and green.

A comma splice is an error caused by joining two strong clauses with only a comma instead of separating the clauses with a conjunction, a semicolon, or a period. A comma splice creates what is known as a run-on sentence.
So for example, incorrect – “Time flies when we are having fun, we are always having fun.” (Comma splice)
Correct – “Time flies when we are having fun and we are always having fun.”
Also correct – “Time flies when we are having fun; we are always having fun.”
Also correct – “Time flies when we are having fun. We are always having fun.”
If the subject does not appear in front of the second verb, do not use a comma.
For example, “He thought quickly when asked that difficult question but still did not answer correctly.”
If the sentance read “he thought quickly when asked that difficult question, but he still did not answer correctly”, a comma would be appropriate.

Use commas to introduce or interrupt direct quotations shorter than three lines.
For example, He actually said, “I do not care.”
“Why,” I asked, “do you always forget to do it?”

Use a comma to separate a statement from a question.
For example, “I can go, can’t I?”
Use a comma to separate contrasting parts of a sentence.
For exampel, “That is my money, not yours.”

Use a comma when beginning sentences with introductory words such as well, now, or yes.
For example, “Yes, I do need that report.”
“Well, I never thought I’d live to see the day…”

Colons and Semi Colons
Good writing in English will usually make use of the colon and the semi-colon. Unfortunately many students fail to use these correctly. Although these look similar and have similar names, their functions are completely different.

The colon
A colon consists of two dots, one above the other:
:

The colon is often used to introduce a list of items. For example:

The animal enclosure contains four interesting species: crocodiles, gorillas, tigers, and lions.
This sentence contains a list of four animals. The first part of the sentence tells you that there will be four animals; then the colon tells you “here are the four animals”.
You can also use a colon to introduce an explanation or a definition of something. For instance:

I’ll give you the definition of boredom: watching soap operas on a Friday evening!

“Giraffe: a large fleet African ruminant mammal.”

The semi-colon
A semi-colon consists of a comma with a dot above it:
;

The semi-colon is often used to join together two independent clauses — in other words, it joins two clauses that could be sentences. For example:

Andy has white hair; Jessica has pink hair.
These two clauses could be separate sentences: “Andy has white hair. Jessica has pink hair.” However, when we use a semi-colon, we are usually suggesting that there is a relationship between the sentences, but we are not making that relationship clear. Usually, you can tell from the context what the relationship is.
In the example above, the relationship is probably one of contrast; we could also use “but” to make this clear: “Andy has white hair but Mary has pink hair.” When we use a semi-colon, it is often because we want to make the reader think about the relationship for herself. This is useful in many situations, such as when writing cautiously, ironically, or humorously.
One more very common use of the semi-colon is to join two clauses using a transition such as however, therefore, on the other hand, etc. Here are some examples:
She drives a red car all week; in addition, she drives a lorry at the weekends.
Muriel is a size 12; however, she wears size 14 jeans.
You should always eat healthily; otherwise, you might get ill.
Andrew does not eat red meat; therefore, it is necessary to serve him only white meat and vegetables

Final evaluation of your essay

You need to read over your work for a final time before you submit it. Initially this will be to check your spelling and grammar, but you must also consider carefully the most common mistakes made by students answering law essay/problem questions, which are costly in terms of marks. These are:
The student fails to answer the question or neglects part of the question. Usually every fact given in the question will be relevant so consider each in turn and look at whether they give rise to any legal issues.
The student fails to address what is being asked of them – for example, they are asked to ‘discuss’ an issue but they present a one-sided-argument
The essay is poorly structured, perhaps missing an introduction or failing to reach a conclusion based on the evidence presented
The arguments are weak, not supported by evidence/reason or authority, or are non existent
The materials used are not properly referenced or no supporting material is cited
The student has included too much background or description and not enough critical analysis

What ‘they’ are looking for in your essay

What is required will depend on the assignment set and the university you attend. In most cases, your lecturer will assess your work for its content, presentation and quality of analysis.

Content
Your assignment should demonstrate accurate knowledge of the area under question. It is an opportunity for you to show your understanding of the key concepts, legal debates and legal authority surrounding a specific issue or series of issues. The content must be relevant to the precise question asked, and referring explicitly to the question throughout the assignment will help you stay focused.

Presentation
Your assignment should show evidence of careful planning. You should present your legal concepts, ideas and arguments clearly, concisely and precisely, and ensure they are backed by legal authority or other appropriate evidence. Terms should be used carefully and the meanings they are being given should be defined explicitly where necessary (and you also need to define any acronyms or abbreviations where they are first used, e.g. “…as defined by the Human Rights Act 1998 (“HRA1998”)”. Your grammar, spelling and punctuation should be accurate and your essay should be organised into logical paragraphs, using an appropriate structure.

Quality of analysis
Your lecturer will be looking for both description and analysis; therefore, instead of merely describing the legal rules or concepts in any one area, you should attempt to analyse what they mean and their implications, and demonstrate that you are aware of the wider factors influencing the legal rules or concepts in that area. Aim to show you are aware of the debates at stake. Material should be carefully and critically considered (‘critically’, of course, does not only imply negative evaluation) – but consider the definition of any descriptives used in the question (see above). Legal authority or evidence must support all assertions. Ensure that you use a logical train of argument.

(Adapted from Source: Open University : Assessment Guide 1, W100, Appendix)

Guessing your Essay Grade

Most universities provide a copy of their grading scheme and a good student will be able to estimate their grade having reference to this. The following is a rough guide as to the characteristics of each grade band (the actual percentages will depend on your university grading system):

1st Class Standard:
A 1st Class piece will display most, if not all, of the following characteristics:

· special signs of excellence such as unusual clarity, excellence of presentation, originality of argument
· comprehensive knowledge of the subject
· excellent understanding of issues and debates
· confidence in the selection and interpretation of materials/authority
· logical and convincing development of an argument
· written style appropriate to the level of the work
· fluent and articulate expression
· correct use of academic referencing
· evidence of independent thought and judgment in answering the question

2:1 Standard:
A 2:1 piece will display most, if not all, of the following characteristics:

· a richer and more developed argument than a 2:2, with a clearly stated and well argued conclusion, showing the ability to range over appropriate areas of the subject matter with acuteness of analysis, intelligent challenges to the question set, and an abundance of appropriate authority or evidence intelligently applied
· thorough knowledge of the subject; few if any minor factual errors
· good understanding of issues and debates
· ability to select and interpret appropriate material/authority
· solid development of an argument
· a written style appropriate to the level of the work
· clear expression
· correct use of academic referencing
· a balanced and well considered answer to the question

2:2 Standard:
A 2:2 piece will display most, if not all, of the following characteristics:

· a considered argument marshalling some of the advantages and disadvantages, where appropriate, with well selected authority or evidence
· adequate, although incomplete, knowledge of the subject; some factual errors
· satisfactory understanding of issues and debates
· reasonable, although flawed, ability to select and interpret appropriate material/authority
· some flaws or gaps in the construction of an argument
· a written style not entirely appropriate for study at the level of work
· poor or unclear expression
· incorrect use of academic referencing
· a partial or incomplete answer to the question

3rd Standard:
A piece in this grade band will display most, if not all, of the following characteristics:

· some signs of use of relevant evidence to tackle the question, even though treatment may be one sided or scant
· incomplete knowledge of the subject; some factual errors
· some understanding of issues or debates
· some difficulty with the selection and interpretation of appropriate material/authority
· some flaws or gaps in the construction of an argument
· a written style inappropriate for study at this level
· expression that is not always clear or consistent
· incorrect use of academic referencing
· a partial or incomplete answer to the question

Fail – Below 39%
A piece in this grade band will display most, if not all, of the following characteristics:

· irrelevant content, vagueness, error, general lack of understanding
· limited knowledge of the subject
· significant factual errors
· little understanding or actual misunderstanding of the issues and debates
· severe difficulty in selecting and interpreting material
· illogical or incomplete development of argument
· a written style entirely inappropriate for study at this level
· confused, muddled or misleading, or incoherent expression
· incorrect use or absence of academic referencing
· too short

========================

SOURCE: HTTP://LAWTEACHER.NET

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM: Thành tựu và những vấn đề cần phải giải quyết về lập pháp

NGUYỄN DUY QUÍ

Từ sau Cách mạng Tháng tám 1945, quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam đã trải qua hơn 60 năm với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình đó đang được phát triển ở một tầm cao mới, với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trên các mặt: Hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”*. Để biến Nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, chúng ta hãy cùng nhìn lại những gì đã làm được trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận và trong hoạt động thực tiễn, từ đó đi đến giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất.

Những thành tựu

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan

Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Các đạo luật tổ chức của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và đang được tiếp tục trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.

Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam xuất phát từ định hướng XHCN mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội với những mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu hướng toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước ta không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình

Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng, đã được khái quát trên các mặt chính sau đây:

Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường không phủ nhận quy luật khách quan của thị trường mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong CNTB và kinh tế thị trường trong CNXH. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường XHCN tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.

Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền XHCN là chế độ dân chủ nhất nguyên. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nước ta.

Ba là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền XHCN là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền XHCN có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc thực hiện dân chủ.

Những vấn đề cần giải quyết

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết là chúng ta phải sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra trong giai đoạn loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho thể chế kinh tế mới. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ, kiên quyết hơn, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tư duy pháp lý mới có thể được phác thảo trên những nét chính sau đây:

Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta trong giai đoạn phát triển đến năm 2010 và giai đoạn tiếp theo

Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình luật pháp của nước ta được xây dựng theo lý thuyết nào. Dĩ nhiên, chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp dụng ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp của nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố: Dân tộc và hiện đại.

Cần có các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ người Việt Nam trong tiến trình xây dựng và thực thi các thể chế pháp lý. Các kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật trong các giai đoạn lịch sử cho thấy các thế hệ người Việt Nam khá thành công trong việc tiếp thu các giá trị pháp lý nước ngoài, làm nên một bản sắc pháp lý Việt Nam. Xin hãy lấy Quốc triều hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) để suy ngẫm. Bộ luật Hồng Đức, theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú: “Thật là cái mẫu mực để trị nước, các khuôn phép để buộc dân”. Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp lý và các quy tắc pháp luật của Trung Hoa thời phong kiến, nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn là bộ luật của người Việt Nam, là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, chứ không phải là sự sao chép máy móc pháp luật của nhà Đường hay nhà Minh. Trong lịch sử, dân tộc ta đã rất thông minh và chủ động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để cách tân đất nước. Ngày nay, chúng ta vẫn cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật nước ngoài một cách chủ động để tiếp tục củng cố và phát triển đất nước.

Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta cần phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp

Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp. Kế hoạch xây dựng luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ sở đề xuất của các cơ quan hữu quan để tập hợp, cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế hoạch vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu “giữ chỗ” và trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu “ghi danh” đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua kế hoạch xây dựng luật hàng năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định của pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản; trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân phù hợp. Hiện nay, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), công tác xây dựng luật của nước ta trở nên rất khẩn trương, không những phải xây dựng các đạo luật mới đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới mà còn phải rà soát lại toàn bộ luật pháp của nước ta để có thể bổ sung, hoàn thiện nhằm đảm bảo sự tương thích của pháp luật nước ta với không gian pháp lý có tính quốc tế theo nguyên tắc: Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia.

Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật. Thực tiễn xây dựng luật ở nước ta thời gian qua cho thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần nhiều đều có dung lượng khá lớn, các quy phạm và đối tượng điều chỉnh cũng khá lớn. Do vậy, thời gian xây dựng luật phải kéo dài. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế.

Ba là, tăng cường lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng các dự thảo luật. Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự thảo luật. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo luật phải được thông báo công khai, minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng, củng cố được niềm tin của nhân dân vào pháp luật; mặt khác, khi đã được ban hành, luật sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

Chú thích:

* Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 253.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2007

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM: THÀNH TỰU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT VỀ LẬP PHÁP

NGUYỄN DUY QUÍ

Từ sau Cách mạng Tháng tám 1945, quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam đã trải qua hơn 60 năm với nhiều giai đoạn phát triển đặc thù. Ngày nay, quá trình đó đang được phát triển ở một tầm cao mới, với nhiều đòi hỏi và nhu cầu cải cách mới. Trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX (2001), Đảng ta đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được Đảng ta đặt ra như một nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trên các mặt: Hệ thống thể chế, chức năng, nhiệm vụ; tổ chức bộ máy; cán bộ, công chức; phương thức hoạt động”*. Để biến Nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội, chúng ta hãy cùng nhìn lại những gì đã làm được trên lĩnh vực nghiên cứu lý luận và trong hoạt động thực tiễn, từ đó đi đến giải quyết vấn đề đặt ra một cách hiệu quả nhất.

Những thành tựu

Đối với Việt Nam, vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền đang được đặt ra như một tất yếu lịch sử và tất yếu khách quan

Tính tất yếu lịch sử của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam bắt nguồn từ chính lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà nước ta. Ngay từ khi thành lập và trong quá trình phát triển, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã và luôn là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật và luôn vận hành trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Các đạo luật tổ chức của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các đạo luật về chính quyền địa phương được xây dựng trên cơ sở các Hiến pháp năm 1946, năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Những lần Hiến pháp được sửa đổi và thông qua là những bước củng cố cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quan nhà nước. Vì vậy, có thể nói, quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam là một quá trình lịch sử được bắt đầu ngay từ Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp năm 1946. Quá trình này đã trải qua hơn nửa thế kỷ và đang được tiếp tục trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước.

Tính tất yếu khách quan của việc xây dựng nhà nước pháp quyền của Việt Nam xuất phát từ định hướng XHCN mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng, để xây dựng được một chế độ xã hội với những mục tiêu như vậy thì công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tính tất yếu khách quan ấy còn xuất phát từ đặc điểm của thời đại với xu hướng toàn cầu hóa. Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách nhà nước, cải cách pháp luật, bảo đảm cho Nhà nước ta không ngừng vững mạnh, có hiệu lực để giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện dân chủ, củng cố độc lập, tự chủ và hội nhập vững chắc vào đời sống quốc tế.

Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam là một nhà nước vừa phải thể hiện được các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền đã được xác định trong lý luận và thực tiễn của một chế độ dân chủ hiện đại, vừa khẳng định được bản sắc, đặc điểm của riêng mình

Sự khác nhau cơ bản giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN nói chung, trong đó có Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam nói riêng, đã được khái quát trên các mặt chính sau đây:

Một là, cơ sở kinh tế của nhà nước pháp quyền XHCN là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường không phủ nhận quy luật khách quan của thị trường mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường trong CNTB và kinh tế thị trường trong CNXH. Do vậy, đặc tính của nền kinh tế thị trường XHCN tạo ra sự khác nhau giữa nhà nước pháp quyền tư sản và nhà nước pháp quyền XHCN.

Hai là, cơ sở chính trị của nhà nước pháp quyền XHCN là chế độ dân chủ nhất nguyên. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà lệ thuộc vào chỗ đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Vì vậy, điều kiện để xây dựng nhà nước pháp quyền không thể là chế độ đa đảng hay chế độ một đảng và không thể coi đó là căn cứ để đánh giá tính chất và trình độ của một nền dân chủ. Sự lãnh đạo của Đảng cộng sản – đảng duy nhất cầm quyền đối với đời sống xã hội và đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân của nước ta.

Ba là, cơ sở xã hội của nhà nước pháp quyền XHCN là khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Với khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhà nước pháp quyền có được cơ sở xã hội rộng lớn và khả năng to lớn trong việc tập hợp, tổ chức các tầng lớp nhân dân thực hành và phát huy dân chủ. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tuy không loại bỏ được sự phân tầng xã hội theo hướng phân hoá giàu nghèo, nhưng có khả năng xử lý tốt hơn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Những mâu thuẫn xã hội phát sinh trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường do được điều tiết thông qua pháp luật, chính sách và các công cụ khác của nhà nước nên ít có nguy cơ trở thành các mâu thuẫn đối kháng và tạo ra các xung đột có tính chất chia rẽ xã hội. Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm ổn định chính trị, đoàn kết các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung của sự phát triển. Nhờ vậy, nhà nước pháp quyền XHCN có được sự ủng hộ rộng rãi từ phía xã hội, nguồn sức mạnh từ sự đoàn kết toàn dân, phát huy được sức sáng tạo của các tầng lớp dân cư trong việc thực hiện dân chủ.

Những vấn đề cần giải quyết

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết là chúng ta phải sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý đã được đặt ra trong giai đoạn loại bỏ cơ chế pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp, xây dựng cơ chế pháp lý cho thể chế kinh tế mới. Ngày nay, một lần nữa nhu cầu đổi mới tư duy pháp lý lại được đặt ra với tính cấp thiết mạnh mẽ, kiên quyết hơn, phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tư duy pháp lý mới có thể được phác thảo trên những nét chính sau đây:

Xác định và quán triệt cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp nước ta trong giai đoạn phát triển đến năm 2010 và giai đoạn tiếp theo

Điều này có nghĩa là chúng ta cần nhanh chóng xác định mô hình luật pháp của nước ta được xây dựng theo lý thuyết nào. Dĩ nhiên, chúng ta không thể áp dụng một cách máy móc các mô hình lý thuyết hiện đang được áp dụng ở các quốc gia trên thế giới. Nhưng chúng ta cũng không thể không tính đến sự ảnh hưởng và chi phối của các lý thuyết này đối với sự vận động của đời sống pháp luật hiện đại. Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng các cơ sở lý thuyết cho mô hình luật pháp của nước ta cần đặt trong mối quan hệ giữa hai yếu tố: Dân tộc và hiện đại.

Cần có các nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ người Việt Nam trong tiến trình xây dựng và thực thi các thể chế pháp lý. Các kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật trong các giai đoạn lịch sử cho thấy các thế hệ người Việt Nam khá thành công trong việc tiếp thu các giá trị pháp lý nước ngoài, làm nên một bản sắc pháp lý Việt Nam. Xin hãy lấy Quốc triều hình luật thời Lê (Bộ luật Hồng Đức) để suy ngẫm. Bộ luật Hồng Đức, theo đánh giá của sử gia Phan Huy Chú: “Thật là cái mẫu mực để trị nước, các khuôn phép để buộc dân”. Điều cần nhấn mạnh là, mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng pháp lý và các quy tắc pháp luật của Trung Hoa thời phong kiến, nhưng Bộ luật Hồng Đức vẫn là bộ luật của người Việt Nam, là sản phẩm văn hóa của người Việt Nam, chứ không phải là sự sao chép máy móc pháp luật của nhà Đường hay nhà Minh. Trong lịch sử, dân tộc ta đã rất thông minh và chủ động trong việc tiếp thu pháp luật nước ngoài để cách tân đất nước. Ngày nay, chúng ta vẫn cần tiếp thu có chọn lọc các giá trị pháp luật nước ngoài một cách chủ động để tiếp tục củng cố và phát triển đất nước.

Nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hoá, bảo đảm sự tương thích của pháp luật quốc gia với các không gian pháp lý có tính quốc tế đang đòi hỏi chúng ta cần phải đẩy mạnh việc đổi mới công tác lập pháp

Một là, đổi mới công tác kế hoạch lập pháp. Kế hoạch xây dựng luật nếu chỉ được tiến hành trên cơ sở đề xuất của các cơ quan hữu quan để tập hợp, cân đối và thông qua sẽ không thể khắc phục được tình trạng không hoàn thành kế hoạch vì không ít dự án luật được đăng ký theo kiểu “giữ chỗ” và trên thực tế, rất khó xây dựng do chưa xác định được đầy đủ tính chất, mục tiêu, đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh. Sự đăng ký văn bản theo kiểu “ghi danh” đã không ràng buộc một cách chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đề xuất dự luật. Để khắc phục tình trạng này, nên chăng, thay vì xây dựng và thông qua kế hoạch xây dựng luật hàng năm và 5 năm thường lệ, Quốc hội chỉ cần thông qua các sáng kiến pháp luật. Cá nhân, cơ quan (theo quy định của pháp luật) nêu sáng kiến pháp luật có trách nhiệm lập luận các căn cứ về sự cần thiết của mục tiêu, đối tượng cần điều chỉnh và tính khả thi của công tác xây dựng văn bản; trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận, thông qua và giao trách nhiệm xây dựng dự thảo cho các cơ quan, tổ chức và cá nhân phù hợp. Hiện nay, nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), công tác xây dựng luật của nước ta trở nên rất khẩn trương, không những phải xây dựng các đạo luật mới đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới mà còn phải rà soát lại toàn bộ luật pháp của nước ta để có thể bổ sung, hoàn thiện nhằm đảm bảo sự tương thích của pháp luật nước ta với không gian pháp lý có tính quốc tế theo nguyên tắc: Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế đã ký kết hoặc tham gia.

Hai là, thay đổi quan niệm về quy mô các đạo luật. Thực tiễn xây dựng luật ở nước ta thời gian qua cho thấy, các đạo luật được xây dựng và thông qua phần nhiều đều có dung lượng khá lớn, các quy phạm và đối tượng điều chỉnh cũng khá lớn. Do vậy, thời gian xây dựng luật phải kéo dài. Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn, nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, đáp ứng kịp thời các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn thể hiện ở việc dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế.

Ba là, tăng cường lắng nghe và tiếp thu ý kiến của nhân dân đóng góp xây dựng các dự thảo luật. Các dự thảo luật một khi được xây dựng ngắn gọn, ít điều khoản sẽ rất dễ dàng cho nhân dân tiếp cận. Sự tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật của đông đảo các tầng lớp nhân dân là điều kiện quan trọng để pháp luật phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm cho pháp luật thật sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cần quy định, việc lấy ý kiến của nhân dân đối với các dự án luật là điều kiện bắt buộc trong quá trình xây dựng dự thảo luật. Đặc biệt, việc tiếp thu ý kiến của nhân dân vào các dự thảo luật phải được thông báo công khai, minh bạch. Có như vậy, nhân dân mới cảm thấy ý kiến của mình được tôn trọng, củng cố được niềm tin của nhân dân vào pháp luật; mặt khác, khi đã được ban hành, luật sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả.

Chú thích:

* Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 253.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 7/2007

QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ – MỘT ĐIỀU KIỆN CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

PHẠM ĐÌNH CHƯỚNG

Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, đối tượng sở hữu trí tuệ được bổ sung không ngừng, đặc biệt trong khoảng 30 năm gần đây, thế nhưng vài năm gần đây đã thấy nhu cầu phải bổ sung thêm.

Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là xây dựng một cơ chế đủ sức chống lại tình trạng chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ trong cạnh tranh và là nền tảng cho mọi nỗ lực sáng tạo. Trong bối cảnh hiện nay của nền kinh tế thế giới khi mà hàm lượng trí tuệ ngày càng cao trong các sản phẩm hàng hóa, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cần được tăng cường hơn nữa để làm tiền đề đưa nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế mới “Nền kinh tế tri thức”. Đó là lược trích nội dung bài tham luận của ông Phạm Đình Chướng tại Hội thảo “Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” tại Hà Nội ngày 21-22/6/2000

1. Tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) và hệ thống bảo hộ SHTT.

Khái niệm “tài sản trí tuệ” hay SHTT (intellectual property) bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ này và vốn dĩ được dùng để chỉ các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, gồm: Các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật; các sáng chế, các kiểu dáng sản phẩm (hay kiểu dáng công nghiệp) và các nhãn hiệu hàng hóa (kể cả nhãn hiệu dịch vụ).

Gắn liền với khái niệm trên là hai khái niệm xuất hiện sớm hơn (nửa cuối thế kỷ XIX), đó là “sở hữu công nghiệp” (SHCN) (industrial property) gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu hàng hóa và “bản quyền” (copyright) gồm các tác phẩm khoa học, văn học, nghệ thuật.

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN) cũng như các sáng tạo trong kinh doanh, “nội hàm” của SHTT ngày càng mở rộng. Danh sách các đối tượng SHTT được bổ sung không ngừng và đặc biệt nhanh trong khoảng 30 năm gần đây. Ngày nay, có thêm những đối tượng sau đây được liệt kê thuộc các đối tượng SHTT: Các chủng vi sinh mới; các giống cây trồng mới; các thiết kế bố trí mạch tích hợp (mạch IC); phần mềm máy tính; các thông tin bí mật liên quan đến công nghệ hoặc kinh doanh (know-how và trade secret).Vài năm gần đây lại đã thấy nhu cầu phải kể thêm các chương trình vệ tinh mã hóa, tên miền trên Internet (Domain name)…

Trong lý luận về SHTT, các tài sản trên đây có các đặc tính đáng chú ý: Là kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ (chứ không phải là hoạt động trí tuệ thông thường); vô hình nhưng có thể được lưu giữ và thể hiện trên các vật mang nhất định; có khả năng lan truyền, sao chép (nhân bản) mà không làm mất sự hiện diện tại nguồn.

Các dạng tài sản trí tuệ đều là sản phẩm, sự thể hiện, là thước đo đồng thời là động lực của sự tiến bộ nói chung của xã hội về tinh thần, vật chất và trình độ công nghệ sản xuất, công nghệ kinh doanh.

Các tài sản trí tuệ có thể sẽ bị hạn chế lan truyền, tức là bị giữ lại tại nguồn nếu sự lan truyền không bù đắp được các nỗ lực trong quá trình tìm tòi để sáng tạo ra tài sản.

Mục tiêu của hệ thống SHTT là khuyến khích hoạt động sáng tạo; cổ vũ đầu tư tìm kiến các giải pháp kỹ thuật – mỹ thuật ứng dụng, các tác phẩm cũng như các sáng kiến kinh doanh mới; thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh đồng thời sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất các nguồn lực trí tuệ của xã hội.

Việc tạo dựng, củng cố giá trị của mọi đối tượng SHTT thực chất là một quá trình đầu tư tốn kém về vật chất và trí tuệ. Trong khi đó, bản chất của cạnh tranh lại là tìm kiếm các biện pháp giảm bớt chi phí và tăng cường lợi nhuận. Việc sao chép, mô phỏng, thậm chí đắp cắp nguyên vẹn các thành quả sáng tạo kỹ thuật – kinh doanh của đối thủ là biện pháp hấp dẫn nhất để đạt được mục tiêu trên. Bởi vậy, nguy cơ chiếm đọat các sản phẩm trí tuệ là nguy cơ thường xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh tế thị trường công nghiệp hóa. Nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn nguy cơ này, mọi nỗ lực chính đáng đều bị vùi dập bởi tệ nạn chiếm đoạt hoặc cạnh tranh không lành mạnh. Một cơ chế pháp luật chống lại nguy cơ như vậy là đòi hỏi ngày càng gay gắt.

Biện pháp để đạt được các mục tiêu trên là thông qua việc vận hành hệ thống các qui phạm pháp luật mà xây dựng và duy trì một lĩnh vực hoạt động gọi là hệ thống bảo hộ quyền SHTT – trong đó quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến đối tượng mang nội dung, quan hệ quyền và nghĩa vụ và các quan hệ đó được điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế -xã hội. Hệ thống bảo hộ quyền SHTT được cấu thành bởi hai hệ thống chủ chốt đó là hệ thống SHCN và hệ thống quyền tác giả.

Hệ thống SHCN lại bao gồm: Hệ thống bảo hộ sáng chế (hay còn gọi là hệ thống patent; hệ thống bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và hệ thống bảo hộ thông tinbí mật. Nguyên tắc chung của các hệ thống này là thông qua việc thừa nhận và bảo vệ của pháp luật đối với các quyền SHTT mà chủ thể các quyền đó (người nắm giữ quyền) được bảo đảm các điều kiện thuận lợi nhất trong một thời gian nhất định đủ để khai thác nhằm không những bù đắp các chi phí đầu tư tạo ra giá trị của các đối tượng đó mà còn có thể thu được lợi nhuận để tiếp tục tạo ra các thành tựu mới. Một cách tổng quát, mọi đối tượng nói trên đều được coi là đối tượng sở hữu, các quan hệ xã hội liên quan tới các đối tượng đó được điều chỉnh chủ yếu theo nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ sở hữu.

2. Khuynh hướng phát triển SHTT trong vài chục năm sắp tới.

+ Khuynh hướng thứ nhất, SHTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu chính sách kinh tế – thương mại của các quốc gia, chế độ bảo hộ SHTT phát triển ngược với chế độ bảo hộ mậu dịch.

Các động thái phát triển hoạt động thương mại, kinh tế trong khoảng 10 năm gần đây bộc lộ rõ khuynh hướng vốn đã có các dấu hiệu từ trước, đó là song song với xu hướng gỡ bỏ dần các hàng rào mậu dịch dạng phi thuế, giảm bớt các chế độ bảo hộ mậu dịch, tự do hóa thương mại là xu hương tăng cường các hàng rào bảo hộ SHTT bằng cách củng cố và tăng cường các biện pháp chế tài và mở rộng phạm vi bảo hộ các thành quả sáng tạo KH&CN và kinh doanh, SHTT nói chung và SHCN nói riêng ngày càng gắn chặt, trở thành hoạt động của bộ phận kinh tế thương mại. Khuynh hướng nói trên sẽ tiếp tục và ngày càng rõ nét trong những năm sắp tới.

+ Khuynh hướng thứ hai, SHTT sẽ nhanh chóng mở rộng phạm vi và nội dung sang các đối tượng mới đồng thời có thể sẽ phát sinh các nguyên tắc bảo hộ mới cho các đối tượng không truyền thống.

Vài chục năm truớc đây, hệ thống bảo hộ SHCN được coi là gồm có hai hệ thống chủ chốt: Hệ thống thứ nhất đó là hệ thống patent dùng để bảo hộ các sản phẩm sáng tạo kỹ thuật và mỹ thuật ứng dụng và hệ thống thứ hai là hệ thống nhãn hiệu dùng để bảo hộ các kết quả sáng tạo kinh doanh và thương mại. Sau đó có thêm hệ thống thứ ba – bảo hộ thông tin bí mật (know-how và bí quyết thương mại). Việc phát triển nhanh chóng các ngành công nghệ mới làm xuất hiện nhiều đối tượng mới không phải là các đối tượng truyền thống, do đó các hệ thống truyền thống nói trên dường như sẽ không đủ thích hợp để thực hiện mục tiêu bảo hộ. Cho tới nay, việc áp dụng nguyên tắc truyền thống cho các thành tựu công nghệ sinh học – nhất là đối với gen và chủng vi sinh cũng như giống vi sinh vật – và trong công nghệ điện tử – tin học – nhất là đối với thiết kế bố trí mạch tích hợp và phần mềm máy tính đã tỏ ra không hoàn toàn thích hợp. Vì vậy, bản thân các nguyên tắc bảo hộ SHCN cũng đang tiếp tục thay đổi theo hướng mở rộng và linh hoạt hơn.

Hệ thống bảo hộ quyền tác giả cũng có sự mở rộng tương tự như vậy. Vốn dĩ các đối tượng bảo hộ chỉ bao gồm các tác phẩm (khoa học, văn học, nghệ thuật), gần đây đã xuất hiện các đối tượng mới, đó là chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu. Từ chỗ chỉ bao gồm các vấn đề liên quan đến quyền tác giả, hệ thống này mở rộng cả tới các vấn đề về quyền của người thể hiện (quyền của người biểu diễn, người ghi âm, ghi hình… được coi là “quyền kế cận”).

+ Khuynh hướng thứ ba, các thao tác hành chính liên quan tới việc xác lập quyền SHCN sẽ ngày càng đơn giản, nhanh chóng; các thành tựu công nghệ mới – nhất là công nghệ thông tin – sẽ được ứng dụng và làm thay đổi căn bản hoạt động của các cơ quan SHCN.

+ Khuynh hướng thức tư, các hoạt động SHTT diễn ra theo hướng toàn cầu hóa rộng lớn và triệt để.

Việc toàn cầu hóa các hoạt động kinh tế – thương mại là nhân tố hàng đầu có tính chất quyết định đối với việc thúc đẩy sự toàn cầu hóa hoạt động SHTT – trong đó có SHCN. Những năm sắp tới khuynh hướng này sẽ càng bộc lộ rõ. Sự thâm nhập có tính chất toàn cầu các thành quả công nghệ mới đòi hỏi mọi quốc gia đều phải thiết lập các chế độ bảo hộ SHTT theo các tiêu chuẩn thống nhất khiến cho dường như sẽ không còn nền kinh tế nào không gắn liền với chế độ bảo hộ SHTT.

3. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS – WTO): Thách thức về SHTT đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập.

Đầu năm 1995, Việt Nam đã nộp đơn gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Để tham gia WTO, chúng ta cần đáp ứng một số yêu cầu, trong đó có yêu cầu về SHTT được nêu trong “Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTT” – gọi tắt là Hiệp định TRIPS.

+Ba vấn đề trụ cột của GATT 1994 (WTO): Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ và bảo hộ SHTT.

Trong ba vấn đề trên, chỉ có vấn đề thứ nhất (thương mại – hay buôn bán – hàng hóa) là nội dung truyền thống của GATT. Cả hai vấn đề sau (thương mại dịch vụ và SHTT) đều là nội dung mới xuất hiện trong GATT 1994.

Lý do của việc xuất hiện vấn đề về SHTT trong GATT 1994:

– Vai trò, ảnh hưởng ngày càng cao của các sản phẩm trí tuệ đối với kết cấu giá trị của các sản phẩm truyền thống và các ngành truyền thống; xu hướng tăng giá trị và tăng khả năng cạnh tranh nhờ tăng hàm lượng trí tuệ.

– Xuất hiện nhiều sản phẩm mới, thậm chí xuất hiện nhiều ngành mới chủ yếu dựa trên việc khai thác trí tuệ: Nền công nghiệp bản quyền ngày càng phát triển (phim ảnh, ti vi, video, giải trí, phần mềm máy tính…). Sản phẩm của ngành công nghiệp bản quyền chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong thương mại.

– Đầu tư cho trí tuệ ngày càng cao và tốn kém. Trong khi đó khuynh hướng sử dụng mà không đầu tư (thực chất là đánh cắp kết quả đầu tư trí tuệ) càng ngày càng nghiêm trọng. Đã xuất hiện các “nền công nghiệp hàng giả”.

Ngăn chặn tình trạng gian lận thương mại, cạnh tranh bất chính là nhu cầu cấp bách liên quan đến SHTT.

+ Hiệp định TRIPS.

Nội dung về SHTT của GATT 1994 được lập thành một văn bản riêng và được gọi là “Hiệp định TRIPS”. Hiệp định TRIPS là Hiệp định đa phương chi tiết, đầy đủ nhất về SHTT trong lịch sử phát triển hoạt động này.

Các khối, các khu vực thương mại khác (EU, NAFTA, ASEAN – AFTA…) cũng coi Hiệp định TRIPS là phù hợp với mình. Các điều kiện về SHTT nêu trong Hiệp định TRIPS là tiêu chuẩn mà Việt Nam phải đáp ứng để hội nhập với khu vực và thế giới.

+ Các tiêu chuẩn về bảo hộ SHTT do Hiệp định TRIPS ấn định. Mọi thành viên của WTO đều phải thiết lập hệ thống bảo hộ SHTT một cách đầy đủ, có hiệu quả theo 4 tiêu chuẩn tối thiểu nhất định về: Nguyên tắc đối xử quốc gia và nguyên tắc bảo hộ; các đối tượng bắt buộc phải được bảo hộ và mức độ, phạm vi bảo hộ các đối tượng đó; hệ thống bảo đảm thực thi và thời hạn thực hiện các tiêu chuẩn đó.

Thứ nhất: Tiêu chuẩn về đối xử quốc gia và nguyên tắc bảo hộ.

Các nước thành viên WTO phải tuân thủ các qui định về nguyên tắc đối xử quốc gia cũng như các nguyên tắc bảo hộSHTT đã được qui định trong các hiệp ước quốc tế: Công ước Paris về bảo hộ SHCN (1883 – 1967); Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật (1886 – 1971); Công ước Rome (1961) về bảo hộ người biểu diễn, người sản xuất chương trình ghi âm, ghi hình, tổ chức phát thanh, truyền hình; Hiệp ước Washington về bảo hộ SHTT trong lĩnh vực mạch tích hợp (1989).

Thứ hai: Các đối tượng SHTT bắt buộc phải bảo hộ.

– Bản quyền (quyền tác giả): Các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, bao gồm cả chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu theo các nguyên tắc của Công ước Berne nhưng không bao gồm các qui định về quyền tinh thần.

– Quyền kề cận, theo nguyên tắc của Công ước Rome.

– Quyền SHCN: Nhãn hiệu hàng hóa (bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ); chỉ dẫn địa lý (bao gồm cả tên gọi xuất xứ hàng hóa); kiểu dáng công nghiệp; sáng chế; thiết kế bố trí (topography) mạch tích hợp; chống cạnh tranh bất chính và thông tin bí mật (bí quyết kỹ thuật và bí quyết thương mại).

– Giống cây trồng.

Thứ ba: Tiêu chuẩn đối với hệ thống bảo đảm thực thi.

– Phải bảo đảm khả năng khiếu kiện cho người có quyền SHTT khi quyền đó bị xâm phạm.

– Phải bảo đảm khả năng khiếu naị cho người bị xử lý khi áp dụng các biện pháp chế tài hoặc khi giải quyết tranh chấp nếu người đó cho rằng mình bị xử lý sai hoặc không thỏa đáng.

– Phải có qui định rõ ràng về trình tự, thủ tục tố tụng và thủ tục hành chính liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp hoặc xử lý các xâm phạm về SHTT; các thủ tục đó phải đơn giản, có hiệu quả.

– Phải có các qui định về các biện pháp chế tài, kể cả các biện pháp hành chính hoặc hình sự để bảo đảm ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyển SHTT, trong đó đặc biệt phải chú ý các biện pháp khẩn cấp, tạm thời.

– Phải có các biện pháp kiểm soát biên giới (hải quan) hữu hiệu nhằm ngăn chặn các sản phẩm xâm phạm tham gia vào lưu thông.

– Phải bảo đảm các biện pháp chế tài hình sự, chống lại các hành vi xâm phạm nghiêm trọng, qui mô lớn.

– Phải có các biện pháp thích hợp ngăn chặn và xử lý các hành vi lạm dụng quyền, đền bù thiệt hại cho bất kỳ bên nào.

Thứ ba: Thời hạn phải đạt được các tiêu chuẩn về SHTT.

Thời gian áp dụng các tiêu chuẩn về SHTT do Hiệp định TRIPS ấn định là: Từ 1/1/1996 cho các nước phát triển; từ 1/1/2000 cho các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường và từ 1/1/2005 cho các nước kém phát triển.

+ Hiện trạng của Việt Nam – so sánh với Hiệp định TRIPS.

So với Hiệp định TRIPS, hệ thống SHTT của Việt Nam đã đáp ứng được một số tiêu chuẩn nhưng còn những tiêu chuẩn khác chưa đáp ứng được. Cụ thể là:

– Chưa gia nhập và cũng chưa thừa nhận ba Hiệp ước về SHTT: Công ước Berne; Công ước Rome và Hiệp ước Washington.

– Các đối tượng sau chưa được pháp luật bảo hộ: Chỉ dẫn địa lý (mới chỉ bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hóa); thiết kế bố trí mạch tích hợp; thông tin bí mật; chống cạnh tranh không lành mạnh và giống cây trồng.

– Hệ thống thực thi chưa đủ mạnh cả về phương diện luật pháp lẫn khả năng thực thi.

– Chưa có qui định về khả năng và thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn khẩn cấp hoặc tạm thời cũng như giải quyết vấn đề đền bù thiệt hại.

4. Một số khuyến nghị.

– Để tìm kiếm các nguồn lực cho phát triển, Việt Nam chủ trương không khuyến khích nền công nghiệp hàng giả, chủ trương tôn trọng quyền SHTT của mọi chủ thể, nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý các hành vi giả mạo, đánh cắp, tiếm đoạt kết quả đầu tư sáng tạo.

– Chính sách khuyến khích đầu tư cho sáng tạo công nghệ và sáng tạo trong kinh doanh không chỉ chú trọng về phương diện tinh thần mà cần phải bảo đảm các điều kiện cần thiết về pháp lý thông qua hệ thống các qui phạm pháp luật để người đã đầu tư có khả năng khai thác các thành quả.

– Trong khi chú trọng bảo đảm lợi ích cho người có công sáng tạo, cần phải đồng thời chú trọng bảo đảm lợi ích của xã hội, nói cách khác phải tạo ra một trạng thái cân bằng tương đối giữa lợi ích của xã hội và lợi ích của người sở hữu các thành quả sáng tạo.

– Song song với việc bảo đảm quyền SHTT, cần phải có các biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn nguy cơ lạm dụng quyền SHTT.

– Việc phát triển SHCN trước hết là phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước do đó phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước đồng thời phải phù hợp với đòi hỏi của qúa trình hội nhập.

Điều kiện của Việt Nam chưa đòi hỏi và chưa cho phép ngay một lúc hệ thống SHCN của mình có trình độ ngang hàng với trình độ chung của thế giới. Vì vậy, tiến trình phát triển hoạt động này phải được coi là một quá trình gồm nhiều bước, trong đó mỗi bước được xác định bởi nhu cầu và khả năng của thực tiễn để tiến tới xây dựng một hệ thống SHCN toàn diện, có trình độ tương xứng với khu vực và thế giới.

SOURCE:  TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC SỐ 11/2000

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐỖ QUỐC TUẤN

Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên không phải là đề tài mới, nhưng chưa bao giờ cũ trong các trường đại học. Bên cạnh phương pháp luận chung, ở mỗi một ngành học, hoạt động NCKH của sinh viên còn có những đặc thù riêng. Bài viết của tác giả sẽ cung cấp cho độc giả cái nhìn tổng quan về hoạt động NCKH của sinh viên trong lĩnh vực Kỹ thuật hàng không (KTHK) – một lĩnh vực còn khá mới mẻ đối với chúng ta.

Để từng bước nâng cao khả năng NCKH của sinh viên, ở nhiều trường đại học trong và ngoài nước đã có rất nhiều hình thức hướng dẫn sinh viên phát triển tính sáng tạo trong học tập, nâng cao khả năng nghiên cứu như: Cải tiến phương pháp học tập, làm các bài tập lớn, đồ án tốt nghiệp… Tất cả các công việc đều theo quy trình, thứ tự cụ thể và mang bản chất riêng. Bài viết đề cập đến một số vấn đề thực tế khi tiến hành công việc nghiên cứu trong lĩnh vực KTHK và khái quát mối tương quan giữa các khâu trong quá trình nghiên cứu của sinh viên.

Trong lĩnh vực KTHK, sinh viên có thể tham gia các công việc như: Cải tiến nâng cao chất lượng của hệ thống, thiết kế chế tạo hệ thống mới… Để tham gia và đạt hiệu quả cao, sinh viên phải có trình độ ngoại ngữ nhất định (đọc và dịch tài liệu một cách thông thạo, mở rộng và cập nhật được những kiến thức mới). Tính hiệu quả và sự thành công của sản phẩm nghiên cứu phụ thuộc rất lớn vào việc lựa chọn đề tài, cách thức tổ chức công việc, trong đó phải tính đến các thao tác phân tích, hình thành các thuật toán, rút ra những kết luận có tính quyết định cho từng giai đoạn nghiên cứu, đó là những vấn đề khái quát chung, trong thời gian tiến hành công việc có thể phát sinh nhiều vấn đề đòi hỏi người nghiên cứu phải nhanh nhạy, chuyển đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế.

Trong lĩnh vực KTHK việc nghiên cứu, thiết kế, cải tiến các hệ thống lớn là quan trọng và cần thiết. Không những thế, công nghệ của nó còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như: Kỹ thuật điện – điện tử; radio; laser; cơ học ứng dụng; kỹ thuật tự động hoá… Cấu trúc của hệ thống KTHK bao gồm rất nhiều khâu, hoặc các máy kết hợp lại. Trong hệ thống, phần cứng là thiết bị nhỏ lẻ liên kết với nhau, còn phần mềm có thể coi là những thuật toán cho mối quan hệ giữa các khâu, chương trình nằm trong các vi mạch điều khiển hoặc các phương trình điều khiển của hệ thống. Để cải tiến được hệ thống kỹ thuật, người nghiên cứu phải có khả năng nắm rõ hệ thống và có sáng kiến phù hợp, tương xứng với trình độ khoa học và công nghệ mới. Một vấn đề đặt ra là trình độ nghiên cứu của sinh viên, nhất là khả năng thông thạo ngoại ngữ, cũng như kinh nghiệm trong công việc, điều kiện cơ sở vật chất và các nguồn lực phục vụ cho quá trình nghiên cứu còn hạn chế. Xét chung về mặt bằng kiến thức, sinh viên chưa đủ điều kiện trong tất cả các lĩnh vực, do đó đòi hỏi phải có phương pháp phù hợp khi tiến hành công việc nghiên cứu.

Các hệ thống của máy bay, về cơ bản được mô phỏng bằng tổ hợp các hàm truyền và đã được giới thiệu trong các tài liệu trong nước cũng như nước ngoài. Từ trước đến nay, đa số nghiên cứu được tiến hành dựa vào các tài liệu đó, trên cơ sở phân tích các sơ đồ, bảng – biểu. Để đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật trong tình hình mới, đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp nghiên cứu, thiết kế, chế tạo tiên tiến, đảm bảo độ chính xác cao và linh hoạt trong khai thác ứng dụng. Một trong những phương pháp tiên tiến là phương pháp mô phỏng, thử nghiệm và kiểm định bằng máy tính. Nhiều phần mềm được phổ biến rộng rãi như Simulink trong Matlab hoặc VisSim… ứng dụng các phần mềm đó, người nghiên cứu có thể dễ dàng mô phỏng được hệ thống hoặc thay đổi cấu trúc hệ thống bằng các thao tác đơn giản dễ hiểu. Ngoài ra, nó cho phép đánh giá kết quả cũng như chất lượng ở mọi vị trí trên hệ thống, từ đó có thể đưa ra những quyết định phù hợp cho quá trình xây dựng, thay đổi cấu trúc cũng như thuộc tính của hệ thống. Mô phỏng bằng thời gian thực khi sử dụng các gói phần mềm khác của Matlab, ví dụ như gói Stateflow cho phép nhìn thấy quá trình thay đổi tín hiệu theo thời gian, và có thể điều chỉnh thời gian cho quá trình xảy ra nhanh hay chậm nếu cần thiết. Công cụ mô phỏng bằng Matlab cho phép lập trình và thiết lập hệ thống ảo, có thể cảm nhận được bằng trực quan qua hình ảnh 2D hoặc 3D, đồng thời có thể chuyển đổi sang hệ thống kỹ thuật số, làm nền tảng cơ bản cho quá trình ứng dụng công nghệ kỹ thuật số để nâng cao chất lượng hệ thống. Tác dụng của phương pháp mô phỏng là giảm chi phí cho quá trình thí nghiệm, làm phong phú thêm và phát triển tính năng ưu việt của hệ thống, đem lại kết quả sát với thực tế khi tiến hành trên hệ thống thật, cũng như đánh giá được sự ảnh hưởng giữa các cơ cấu, từ đó có sự thay đổi chính xác tiết kiệm thời gian và công sức.

Đối với các hệ thống điện – điện tử của máy bay, đa số được trang bị bởi rất nhiều vi mạch điều khiển. Sự phát triển trong việc thiết lập các vi mạch điều khiển ngày nay cho phép người nghiên cứu dễ dàng tư duy và tiếp cận với bản chất làm việc của các vi mạch. Cụ thể là, các ngôn ngữ lập trình bậc cao và các phần mềm hỗ trợ giúp người lập trình cho hệ thống đi sâu hơn vào khai thác bản chất của hệ thống và vai trò của vi mạch điều khiển đó trong hệ thống. Sau khi chương trình được viết và biên dịch sang mã máy nhờ các phần mềm, mã máy sẽ được tích hợp dễ dàng lên chíp nhờ bộ nạp. Thị trường vi mạch phong phú và đa dạng có thể cung cấp linh kiện phù hợp về giá thành cũng như yêu cầu kỹ thuật. Việc thay đổi linh kiện đó cũng được tiến hành ngay trong quá trình làm việc với phần mềm, dựa trên các thư viện linh kiện ảo có trong phần mềm đó.

Đa số công việc NCKH của sinh viên nói chung được tiến hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc của người đang tiến hành công việc nghiên cứu. Tiến trình nghiên cứu được biểu thị theo sơ đồ dưới đây:

Tiến trình này bao gồm nhiều khâu có quan hệ với nhau bằng các quá trình trao đổi vật chất và thông tin để phục vụ cho nghiên cứu. Khối “người hoặc nhóm nghiên cứu” đóng vai trò trung tâm và có mối quan hệ mật thiết với khối khác. Tiến trình công việc được bắt đầu từ những yêu cầu thực tế, hoặc của các tổ chức quan tâm đến kết quả nghiên cứu và khả năng đầu tư nghiên cứu. Các yêu cầu này được chuyển đến người hướng dẫn trực tiếp hoặc tổ chức phụ trách nghiên cứu. Người hướng dẫn nắm vững yêu cầu của công việc cần làm và phải đánh giá được khả năng thực hiện công việc của mình cũng như nhóm nghiên cứu do mình phụ trách và có trách nhiệm với công việc đó. Sau đó người hướng dẫn truyền đạt và phân tích những yêu cầu của công việc, nhấn mạnh mục đích và cung cấp những thông tin cần thiết ban đầu cho người nghiên cứu hoặc nhóm nghiên cứu đó.

Dựa trên cơ sở kiến thức sẵn có cùng với sự hỗ trợ về điều kiện cơ sở vật chất từ bên ngoài theo các quá trình (8-9-10-11-13 minh hoạ trên sơ đồ), người hoặc nhóm nghiên cứu hình thành các phương án giải quyết (quá trình 4). Sự hỗ trợ này không phải là hoàn toàn mà đòi hỏi người nghiên cứu phải nỗ lực tìm tòi và say mê, tâm huyết với công việc, đó chính là nguồn tài liệu dồi dào trong các thư viện, thư viện điện tử. Ngoài ra, còn đòi hỏi người nghiên cứu phải kiên trì trong quá trình tiến hành các thực nghiệm hoặc thí nghiệm kiểm tra, bên cạnh đó phải tận dụng có hiệu quả các trang bị kỹ thuật có sẵn để phục vụ cho nghiên cứu. Sau khoảng thời gian nhất định, các phương án giải quyết được đưa ra thảo luận chung cùng người hướng dẫn để tìm ra phương án tối ưu. Trong quá trình tìm tòi thu thập thông tin và đề xuất các phương án trong từng giai đoạn, người hướng dẫn có trách nhiệm theo dõi và gợi mở tạo hướng tư duy cho sinh viên. Tiếp theo đó là các bước nghiên cứu sâu và tiến hành các thí nghiệm lớn cũng như kiểm định kết quả nghiên cứu. Kết quả sẽ được đánh giá, nếu đáp ứng yêu cầu sẽ được phân bổ theo các quá trình (16-17-18-19) đến các tổ chức liên quan. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu có thể mổ xẻ vấn đề và giao nhiệm vụ cho các thành viên trên cơ sở năng lực, thế mạnh của từng cá nhân. Và khi có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thành viên, việc nghiên cứu sẽ tiến triển nhanh hơn, có nhiều phương án giải quyết và chất lượng hiệu quả cao hơn.

Nếu nghiên cứu độc lập, người nghiên cứu phải có cách nhìn tổng quát trước tiên về hệ thống, thu thập, xử lý thông tin liên quan, sau đó rút ra các vấn đề cần bổ sung và nghiên cứu chi tiết. Có thể việc thu thập thông tin chỉ đơn giản như nắm bắt được tính ưu việt trong các lĩnh vực khác liên quan tới vấn đề nghiên cứu, hoặc khả năng giải quyết các bài toán đặt ra, nhưng rất hiệu quả trong phân tích đánh giá tìm ra hướng đi đúng cho nghiên cứu hệ thống lớn. Có thể kết hợp được nhiều nguồn thông tin đã chọn lọc, tạo mối liên hệ giữa các thành phần của hệ thống, từ đó đi sâu hơn vào các mắt xích của hệ thống, công việc cải tiến hay làm mới có thể được hình thành từ những mắt xích này. Thường thì nghiên cứu độc lập đòi hỏi người nghiên cứu phải có khả năng tư duy rất cao, cùng với nghị lực và tính kiên trì, khi đó mới có thể vượt qua khó khăn để đi đến đích.

NCKH đem lại sự đam mê, phát triển sự sáng tạo và nâng cao tầm hiểu biết. Chính vì vậy, việc tư duy logic, khoa học cùng với sự đánh giá tối ưu cho các quá trình hoặc các vấn đề khi nghiên cứu sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, tránh lãng phí thời gian và đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra. Đây chỉ là ý kiến, nhận định có tính chất tham khảo trên cơ sở quan sát phương pháp giảng dạy và hướng dẫn NCKH ở nước ngoài, sau đó khái quát lại để có cơ sở đánh giá vai trò, vị trí của mỗi khâu trong tiến trình nghiên cứu nói chung và trong lĩnh vực hàng không nói riêng, nhằm sử dụng và phát triển tối ưu khả năng nghiên cứu của sinh viên, đem lại kết quả cao nhất đáp ứng nhu cầu đặt ra.

SOURCE: TẠP CHÍ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC 6/2006

215 CÂU HỎI – ĐÁP VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Bảo về quyền sở hữu trí tuệ là nhiệm vụ quan trọng, cần thiết phải đẩy mạnh. Để góp phần giúp bạn đọc, nhất là Thanh tra các Sở KH&CN có được những hiểu biết cơ bản về sở hữu trí tuệ và các quy định, các kỹ năng thanh tra kiểm tra, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, Chương trình hợp tác đặc biệt Việt Nam – Thụy Sỹ về sở hữu trí tuệ đã tài trợ cho việc biên soạn tập tài liệu này (KS Lê Văn Kiều – Chánh Thanh tra Bộ KH&CN biên soạn). Tập tài liệu bao gồm 5 phần với 196 trang. Phần I – Một số khái niệm cơ bản về sở hữu trí tuệ; Phần II – Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp; Phần III – Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Phần IV – Xử lý bằng biện pháp hành chính hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Phần V – Tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về sở hữu công nghiệp. Tạp chí Hoạt động Khoa học xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc cuốn “215 câu hỏi – đáp pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp”.

BẠN ĐỌC CÓ THỂ TÌM MUA SÁCH Ở CÁC HIỆU SÁCH TIỀN PHONG/TRÀNG TIỀN