LỰA CHỌN MÔ HÌNH ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT VỀ CÔNG NHẬN, THI HÀNH BẢN ÁN DÂN SỰ THƯƠNG MẠI CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI

THS. DƯ NGỌC BÍCH

Đặt vấn đề

Việt Nam đang ngày càng tham gia sâu rộng vào thương mại và đầu tư quốc tế. Để xúc tiến thương mại quốc tế và đầu tư, chúng ta cần có được lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài và những đối tác nước ngoài đầu tư tại Việt Nam hay giao dịch thương mại với đối tác Việt Nam. Việt Nam cần có luật pháp mang tính ổn định và dự đoán được, trong đó phải kể đến một lĩnh vực quan trọng: công nhận và thi hành bản án dân sự thương mại của tòa án nước ngoài (sau đây gọi là bản án nước ngoài).

Hiện nay, chúng ta mới chỉ ký kết một số Hiệp định Tương trợ tư pháp trong đó có quy định vấn đề công nhận, thi hành bản án của hai nước ký kết[1], không thể bắt kịp với số lượng các quốc gia và vùng lãnh thổ đối tác đang gia tăng rất nhanh[2]. Nguyên tắc có đi có lại được bổ sung vào Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (Bộ luật TTDS 2004) được mong đợi là sẽ khắc phục khiếm khuyết của Pháp lệnh Công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài năm 1993 (đã hết hiệu lực) đối với bản án của tòa án của nước không có điều ước quốc tế. Vì vậy, việc sửa đổi luật nhằm tạo điều kiện mở rộng khả năng công nhận và thi hành bản án nước ngoài đã được nêu lên trong dự thảo thứ chín của “Đánh giá những yêu cầu toàn diện nhằm phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010”[3]. Những nhà hoạch định cũng đã đưa ra đề nghị Việt Nam gia nhập các điều ước quốc tế đa phương về tương trợ tư pháp nhằm tạo thêm cơ hội để công nhận thi hành bản án nước ngoài[4].

Tuy nhiên, đàm phán thành công điều ước quốc tế đa phương không phải là công việc dễ dàng như đã được thấy qua những cố gắng trong việc đàm phán dự thảo công ước The Hague về công nhận bản án nước ngoài[5]. Và chúng ta cũng không nên chờ đợi những công ước đa phương đó[6]. Một khả năng khác là Việt Nam có thể tiếp tục ký kết các hiệp định song phương về vấn đề công nhận bản án, nhưng với khoảng 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đối tác như hiện nay thì công việc này phải tốn rất nhiều thời gian và chi phí, chưa nói đến việc có thể dẫn đến xung đột giữa một rừng hiệp định song phương. Vì vậy sửa đổi hợp lý luật trong nước về vấn đề công nhận thi hành bản án nước ngoài sẽ là một lựa chọn tốt nhất hiện nay[7].

Continue reading

KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG Ở MỸ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

image TS. PHAN MINH NGỌC – Phó giám đốc nghiên cứu, SMBC, Singapore

THS. PHAN THÚY NGA – Giám đốc Goldsun Co, Hà Nội

Cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ, bắt nguồn từ những khoản cho vay thế chấp bất động sản (BĐS) dưới chuẩn, đã bước sang một cục diện mới khi mà những “đại gia” như Lehman bị phá sản, Merrill Lynch thì buộc phải tìm cách tự bán mình cho các ngân hàng khác để tìm đường tồn tại, còn Bộ Tài chính Mỹ thì đang ráo riết xúc tiến kế hoạch giải cứu ngành tài chính của nước này với khoản kinh phí khổng lồ “vô tiền khoáng hậu” 700 tỷ USD, một kế hoạch mà một số người chỉ trích là kế hoạch “tiền đổi lấy rác”.

Nếu nghiên cứu kế hoạch giải cứu này ta sẽ thấy được “gót chân Asin” của nó và cũng là một bài học hữu ích cho Việt Nam khi cũng đang phải đối mặt với nguy cơ nợ xấu và mất thanh khoản trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, với việc giá BĐS tiếp tục tụt dốc và thị trường BĐS đang trong tình trạng đóng băng.

Quay trở lại trường hợp của Mỹ, cuộc khủng hoảng hiện tại có thể được xem như hình thành qua 4 bước sau đây (theo phân tích của giáo sư kinh tế học Paul Krugman, người từng giành giải Nobel kinh tế học trước đây):

1. Bong bóng BĐS nổ bục ra từ cuối năm 2006 đã dẫn đến một làn sóng mất khả năng chi trả và giải chấp các tài sản thế chấp. Đến lượt nó lại dẫn đến sự sụt giảm giá cả của các loại chứng khoán có BĐS thế chấp – là những tài sản mà rốt cuộc thì giá trị của chúng cũng chính là giá trị của những BĐS được thế chấp này.

2. Những thua lỗ, tổn thất tài chính này đã làm cho nhiều tổ chức tài chính lâm vào tình trạng có quá ít tiền vốn, nói cách khác, có quá ít tài sản so với khối lượng vay nợ của họ. Điều này đặc biệt nghiêm trọng vì ai cũng tranh nhau vay nợ quá nhiều để đầu tư khi thị trường đang trong trạng thái tăng trưởng kiểu bong bóng trong những năm trước đây.

3. Vì các tổ chức tài chính có quá ít vốn so với các nghĩa vụ nợ của họ nên họ đã không đủ khả năng hoặc không sẵn lòng cung cấp tín dụng mà nền kinh tế có nhu cầu.

Continue reading

THĂM DÒ DƯ LUẬN VỀ NHỮNG YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA SINH VIÊN LUẬT

Kết quả thăm dò dư luận trên trang thông tin pháp luật dân sự về những yếu tố quyết định đến hiệu quả học tập của sinh viên luật dựa trên 3498 bầu chọn tính đến ngày 22/12/2008:

 

Nội dung bầu chọn Bầu chọn Tỷ lệ
Ý thức tự học của sinh viên

607

17%

Phương pháp sư phạm của giáo viên

431

12%

Trình độ giáo viên

396

11%

Chương trình đào tạo

369

11%

Nội dung môn học

302

9%

Học liệu

297

8%

Ảnh hưởng từ xã hội

213

6%

Sự hỗ trợ từ khoa chuyên ngành

207

6%

Sự hỗ trợ từ nhà trường

200

6%

Kinh tế

197

6%

Sự hỗ trợ từ bộ môn

167

5%

Ảnh hưởng của gia đình

153

4%

Ý kiến khác

32

1%

Continue reading

MỘT SỐ LƯU Ý ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRONG THỜI KINH TẾ HỘI NHẬP

HỒNG HÀ

Các chuyên gia có uy tín trên thế giới đều nhận định nguyên nhân của cơn bão khủng hoảng tài chính tại Mỹ bắt đầu từ phố Wall là do sự lạm dụng thái quá của các tập đoàn tài chính phố Wall trong vòng quay đồng vốn, tạo ra những giá trị tài sản ảo, đồng tiền ảo, lợi nhuận ảo và cả lỗ ảo. Trong chu chuyển tiền tệ trên thế giới trước khủng hoảng thì tỷ lệ chu chuyển ảo lớn gấp hàng trăm lần chu chuyển thật, tài sản ảo cũng lớn gấp hàng trăm lần tài sản thật. Phố Wall đã sản sinh ra cơ chế chứng khoán hoá các hợp đồng kinh tế mà trong đó tỷ lệ rất lớn là các hợp đồng “tương lai”.

Phương thức này đã phát huy tác dụng rất mạnh trong những thập niên cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21. Nó làm quả bong bóng nền kinh tế thế giới tăng lên theo cấp số nhân. Thí dụ, một công ty mua một căn nhà, họ chỉ phải bỏ ra 5% giá trị ngôi nhà đó, nhưng họ lại được sở hữu cả ngôi nhà. Họ ký hợp đồng cho thuê ngôi nhà đó, và chứng khoán hoá hợp đồng cho thuê này. Sau đó, họ lại huy động một phần khoản tiền chứng khoán hoá đó để đầu tư vào một dự án ở nước khác, và họ lại dùng dự án đó để ký hợp đồng với các đối tác khác. Như vậy, với một số lượng tiền ít ỏi ban đầu, sau một thời gian ngắn, họ có thể thu lại một số lượng tài sản trên giấy rất lớn. Tài sản trên giấy này lại có giá đối với một số định chế tài chính. Và khi một trong những hợp đồng mà họ đã ký kết không được thực hiện theo kế hoạch, thì toàn bộ tài sản khổng lồ này trở lại giá trị thực ban đầu.

Trên đây chỉ là một thí dụ đơn giản nhất trong vận hành của tài chính thế giới trong thời gian vừa qua. Nhưng dù sao những hoạt động này vẫn được coi là những hoạt động hợp pháp, và rủi ro về sự thất bại cũng được coi như là những rủi ro bất khả kháng. Song song với những hoạt động hợp pháp này, không thiếu những kẻ lợi dụng những hình thức hoạt động kiểu này để thực hiện các hành vi lừa đảo. Tạo ra những cái bẫy cho những người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG: BUỘC NGƯỜI ĐI CAI NGHIỆN OAN?

ÁI NHÂN

Sau hai năm một ngày trong trung tâm cai nghiện, một người đã cương quyết khởi kiện UBND huyện vì cho rằng mình bị oan…  Mới đây, trong vụ anh S., ngụ xã Đồng Khởi, Châu Thành (Tây Ninh) kiện UBND huyện này vì cho rằng mình bị buộc đi cai nghiện oan, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM đã tuyên hủy bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Tây Ninh để xử lại vì còn nhiều khuất tất.

Nghi trộm xe lại… đưa đi cai

Theo hồ sơ, anh S. cho bạn mượn xe máy, sau đó bạn anh S. đem đổi xe cho người khác, dẫn đến việc anh S. bị nghi có dính tới một vụ trộm cắp xe máy. Ngày 24-2-2006, Công an xã Đồng Khởi đã mời anh S. đến làm việc nhưng không hỏi han gì về nội dung nghi vấn là trộm cắp xe máy mà lại bắt anh đi xét nghiệm ma túy, cho ra kết quả dương tính.

Gần chục ngày sau, anh S. bị kêu đến huyện nộp phạt vì “đã có hành vi chứa chấp, tổ chức hút chích” dù trước đó chưa hề nhận được quyết định xử phạt. Trong ngày này, anh S. bị buộc thử ma túy và kết quả là dương tính. Dựa vào đó, Công an huyện đã ra quyết định đưa anh S. vào “lưu trú tạm thời” 15 ngày tại Trung tâm giáo dục lao động và xã hội tỉnh Tây Ninh.

Anh S. một mực kêu oan nên trước khi nhập trại, lúc 19 giờ cùng ngày, anh lại được thử nước tiểu và cho ra kết quả âm tính! Thế rồi, tưởng rằng chỉ phải lưu trú tạm thời chờ sự việc được làm sáng tỏ nhưng từ đó, anh S. phải ở lại trung tâm luôn. 27 ngày sau anh mới nhận được quyết định của UBND huyện Châu Thành về việc đưa anh vào cơ sở chữa bệnh vì “đã sử dụng trái phép chất ma túy”.

Sơ thẩm: Bác đơn

Sau khi ở Trung tâm đúng hai năm một ngày, ngày 3-3-2008, anh S. đã được thả. Quá uất ức, sau đó anh đã khởi kiện ra TAND tỉnh Tây Ninh yêu cầu hủy quyết định trên của UBND huyện Châu Thành. Trong đơn anh khẳng định mình có nhân thân tốt, chưa hề nghiện ma túy. Việc Công an huyện Châu Thành thử ma túy với kết quả dương tính đối với anh là không chính xác, làm anh phải đi cai nghiện oan.

Continue reading

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. NGUYỄN QUANG TUẤN –  Bộ Khoa học và Công nghệ

Trong bài phát biểu trước Quốc hội ngày 31-03-2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ việc quản lý và sử dụng đất là một trong những vấn đề khó khăn, còn nhiều vướng mắc trong lãnh đạo, điều hành và quản lý của Chính phủ. Trên quan điểm phát triển bền vững, bài viết muốn trao đổi về một số biện pháp góp phần giải quyết vấn đề này.

1. Phản ứng của người dân

Phản ứng của người dân địa phương đối với các dự án sử dụng đất là một hiện tượng phổ biến trên thế giới. Một số nhà nghiên cứu coi những bức xúc của người dân như là “phản ứng của sự hẹp hòi và ích kỷ”. Song, đa số cho rằng, người dân có quyền phản ứng lại các quyết định gây ảnh hưởng đến cuộc sống của họ và sự phản ứng này là một cách kiểm tra đối với những quyết định không hiệu quả của cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.

Về kinh tế, không ít các dự án phát triển trên thực tế đã gây thiệt hại cho cộng đồng địa phương, chủ yếu liên quan đến việc bồi thường đất. Sự ra đời của Luật Đất đai năm 1993 và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân đã tạo ra những cơ hội lớn cho phát triển thị trường bất động sản. Khoảng 15 năm trở lại đây, giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia tăng với tốc độ phi mã, trong khi đó giá bồi thường đất thu hồi cho các dự án thường thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Trong rất nhiều trường hợp, sau khi phải di chuyển để nhường đất cho các dự án, người dân nhận được số tiền bồi thường không đủ để duy trì hiện trạng cuộc sống như trước khi có dự án. Có nhiều trường hợp, khi chuyển đến nơi cư trú mới, người dân bị mất đi cơ hội sản xuất, kinh doanh, những dịch vụ phúc lợi xã hội, hoặc các điều kiện tiện nghi do kết cấu hạ tầng nơi đến không được như nơi ở cũ. Những bức xúc về đất đai của người dân đã dẫn đến việc khiếu kiện, khiếu nại vượt cấp của hàng chục (thậm chí có thể là hàng trăm) ngàn hộ dân trong cả nước.

Về xã hội, việc phải di dời khỏi quê hương bản quán có thể gây nên những bức xúc về tình cảm và tâm linh đối với người dân; đất đai thờ phụng bị tác động bởi các dự án cũng tạo ta những tâm lý lo ngại. Ngoài ra, việc chuyển mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp và đô thị có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm ở các vùng nông thôn. Đối với đa số nông dân, việc chuyển đổi nghề nghiệp từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp không đơn giản. Vì vậy, nhiều người cảm thấy lo lắng cho tương lai gia đình họ.

Continue reading

BÁO CÁO KHẢO SÁT CẢI CÁCH THUẾ Ở ANH

Phần 1: Tổng quan về hệ thống thuế của Anh

1. Giới thiệu chung về Cơ quan Thuế Vương quốc Anh

Hệ thống thuế của Anh gồm hai tổ chức chịu trách nhiệm quản lý thu thuế: Cơ quan Thu nội địa (Cơ quan Thuế) Anh, chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế trực thu và Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế gián thu và thuế tiêu thụ đặc biệt. Cả hai cơ quan đều trực thuộc Bộ Ngân khố (Bộ Tài chính) của Anh.  Hiện nay, Anh đang chuẩn bị để sáp nhập hai tổ chức thu thuế này thành một. Việc hợp nhất hai tổ chức này xuất phát từ 02 yêu cầu:

            – Theo xu hướng phát triển của thế giới và khuyến nghị của các tổ chức quốc tế;

            – Theo yêu cầu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thiểu sự trùng lắp việc giám sát và quản lý của 02 cơ quan thu.

Hoạt động của cơ quan Thuế được thanh, kiểm tra thường xuyên. Văn phòng Thanh tra Quốc gia, trực thuộc Chính phủ, chịu trách nhiệm kiểm tra hoạt động của cơ quan thuế nhằm đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật, qua đó bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Bên cạnh Văn phòng Thanh tra Quốc gia còn có Uỷ an Kế toán công của Hạ nghị viện, Thanh tra của Nghị viện, Uỷ ban của Nghị viện về Quản lý hành chính công là các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra hoạt động của Cơ quan Thuế. Thường niên có các cuộc họp giữa đại diện của Nghị viện và Tổng cục trưởng Tổng cục thuế để chất vấn hoạt động của Cơ quan Thuế.

Nhiệm vụ và chức năng của cơ quan thuế nội địa gồm:

– Quản lý các loại thuế trực thu;

– Quản lý các khoản phúc lợi xã hội;

– Quản lý các chương trình bảo hiểm quốc gia;

– Quản lý tiền lương hưu;

– Quản lý và theo dõi các khoản tín dụng sinh viên.

Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan thuế nội địa :

Ban Lãnh đạo Cơ quan thuế Anh gồm 3 thành viên: Tổng cục trưởng và hai Tổng cục phó. Tổng cục trưởng chịu trách nhiệm về việc đưa ra quyết định trong toàn bộ hệ thống của mình. Tổ chức của Cơ quan thuế Anh bao gồm các bộ phận:

– Quản lý đối tượng nộp thuế: gồm các văn phòng địa phương, văn phòng trung ương (bảo hiểm quốc gia, các khoản phải thu, trung tâm liên lạc), văn phòng quản lý ĐTNT lớn.

Continue reading

TRỌNG TÀI – PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TÒA ÁN CỦA TÂY BAN NHA

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Giải quyết tranh chấp ngoài Toà án (Alternative Dispute Resolution)[1] là phương thức giải quyết tranh chấp được ưa thích sử dụng tại mọi quốc gia. Cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Toà án thường bao gồm trọng tài, trung gian và hoà giải.

Bài viết dưới đây của tác giả Đặng Hoàng Oanh giới thiệu về hệ thống giải quyết tranh chấp ngoài Toà án tại Tây Ban Nha, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến trọng tài, một phương thức giải quyết tranh chấp hữu hiệu, được sử dụng nhiều nhất trong thương mại quốc tế. Hy vọng bài viết sẽ  cung cấp thêm một số thông tin hữu ích, phục vụ việc soạn thảo Luật trọng tài thương mại của Việt Nam hiện nay.

Bài viết gồm 2 phần: Phần 1 giới thiệu chung về hệ thống giải quyết tranh chấp ngoài Toà án của Tây Ban Nha; Phần 2 đi sâu nghiên cứu các quy định cụ thể về trọng tài –  một phương thức giải quyết tranh chấp được các thương gia Tây Ban Nha ưa thích lựa chọn nhất, do những ưu việt vốn có của nó  so với phương thức giải quyết tranh chấp truyền thống bằng Toà án.

I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP NGOÀI TOÀ ÁN TẠI TÂY BAN NHA

Ở Tây Ban Nha, hệ thống trọng tài, trung gian và hoà giải được áp dụng để giải quyết các tranh chấp. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có cơ quan nào chịu trách nhiệm về thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Toà án trên toàn lãnh thổ Tây Ban Nha, cũng chưa có một cơ quan đăng ký trung ương để lưu giữ hồ sơ về tổ tụng trọng tài. Những công việc này do các Cộng đồng tự trị tự mình thực hiện.

Năm 1984, chính quyền trung ương thành lập hệ thống để giải quyết các khiếu nại và yêu cầu của người tiêu dùng hoặc người sử dụng. Nhờ đó, ở cấp trung ương, cũng như tại nhiều khu vực và vùng lãnh thổ, đã có các Hội đồng trọng tài. Các hội đồng này được lập ra để phân xử các vấn đề liên quan đến hoạt động tiêu dùng nói chung và bảo vệ người tiêu dùng. Ở cấp quốc gia, các Hội đồng trọng tài giải quyết đơn khiếu kiện của các hiệp hội người tiêu dùng và người sử dụng trong nước. Các Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực quan hệ thương mại phức tạp và loại trừ những xung đột có ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật. Theo hệ thống này, thông qua thoả thuận trước, các bên có thể yêu cầu một hoặc nhiều trọng tài viên giải quyết tranh chấp của mình. Sau khi giải quyết tranh chấp, các trọng tài viên có sáu tháng để công bố quyết định về vụ việc. Cách duy nhất để hoãn hoặc chấm dứt vụ việc trong thời hạn 6 tháng này là các bên phải thoả thuận về việc hoãn hoặc chấm dứt.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN TÁC ĐỘNG KHỦNG HOẢNG KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PGS.TS. LÊ QUỐC LÝ – Vụ trưởng Vụ tài chính – tiền tệ, Bộ kế hoạch và đầu tư

Cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ đã diễn ra ngày một sâu rộng trong các tháng qua và đã lan rộng ra khắp thế giới, đã có nhiều tác động không thuận đến các nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, mức độ phạm vi ảnh hưởng chưa thể đánh giá và dự báo chính xác do tình hình khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đang tiếp tục diễn biến khó lường. Do vậy, trong bài báo này, bước đầu chúng tôi xin phân tích, đánh giá và đề xuất một số giải pháp ngăn chặn tác động khủng hoảng kinh tế Mỹ và thế giới đến nền kinh tế nước ta trong thời gian tới.

I.  ĐIỂM LƯỢC TÌNH HÌNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ MỸ VÀ THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN QUA

Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ và thế giới đã có mầm mống khởi nguồn từ trước ngày 6/8/2007 khi Công ty Thế chấp nhà Mỹ (American Home Morgage) làm đơn xin phá sản. Tiếp theo sự khởi nguồn này là nhiều ngân hàng và công ty lâm vào khó khăn và bộc lộ rõ nét là sự sụp đổ và khó khăn của các ngân hàng và công ty tài chính lớn và nổi tiếng ở Mỹ (Wachovia, Washington Mutual Inc, Bear Sterns, Fannie Mae, Fredie Mac, Lehman Brothers, Merrill Lynch, Tâp đoàn bảo hiểm quốc tế Mỹ (AIG), Goldman Sachs, Morgan Stanley…).

Bên cạnh sự sụp đổ của các tên tuổi lớn, hàng loạt các tổ chức tài chính khác cũng đã đổ theo với các khoản nợ có liên quan tới các vụ sụp đổ nói trên và sự giảm mạnh về giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Ngày 3/10, với 263 phiếu thuận và 171 phiếu chống Hạ viện Mỹ đã thông qua kế hoạch 700 tỷ USD nhằm giải cứu ngành tài chính nước này thoát khỏi khủng hoảng.

Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp của Chính phủ Mỹ đã đưa ra nhưng đến đầu tháng 11 này, các cơ quan của Mỹ đã phải đóng của thêm một ngân hàng nữa là Freedom Bank đưa tổng số ngân hàng bị giải thể là 17 ngân hàng. Đến thời điểm hiện nay thì nhiều người dân Mỹ thi nhau xin phá sản, cụ thể là tháng 10/2008, cá nhân nộp đơn xin phá sản tăng 8% so với tháng trước (108.905 lượt người), tức là mỗi ngày có 4.936 đơn xin phá sản, tăng 34% so với cùng kỳ năm 2007. Tại một số bang của Mỹ, tình hình người dân lâm vào phá sản rất cao, như tại bang Nevada, số đơn xin phá sản trong tháng 10/2008 tăng 70% so với cùng kỳ năm trước, bang California và Florida là 80% và 62%. Tóm lại nền kinh tế Mỹ hiện nay là khá trầm trọng và đã lây lan khủng hoảng này sang hầu khắp các nước trên thế giới.

Các thị trường chứng khoán trên thế giới đồng loạt sụt giảm mạnh trước diễn biến thị trường tài chính Mỹ. Đặc biệt, ngày 17/9, bất chấp nỗ lực giải cứu AIG, thị trường chứng khoán Mỹ đã có mức sụt giảm kỷ lục do đợt bán tháo cổ phiếu được coi là tồi tệ nhất kể từ sau sự kiện 11/9/2001. Continue reading

HỢP TÁC XÃ: VẤN ĐỀ CŨ, CÁCH NHÌN MỚI

ĐÀO THẾ TUẤN – Viện sĩ, Chủ tịch Hội khoa học phát triển nông thôn

Quá coi trọng phát triển kinh tế thị trường trong lúc chưa chú ý đúng mức việc phát triển nền kinh tế mang tính xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn mà chúng ta đang phải đối mặt: chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn chậm, giải quyết đầu ra cho nông sản khó khăn, giá cả tăng cao dẫn đến lạm phát… Vì vậy, phải nhận thức rằng, xây dựng nền kinh tế mang tính xã hội mà nòng cốt là mô hình hợp tác xã, chính là thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa trong đường lối phát triển kinh tế của nước ta hiện nay.

Nền kinh tế mang tính xã hội

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, một số tổ chức kinh tế quốc tế đóng ở Oa-sinh-tơn như: Quỹ tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới cùng Chính phủ Hoa Kỳ đưa ra một chương trình cải cách kinh tế trọn gói, gọi là “Sự đồng thuận Oa-sinh-tơn” (Washington consensus), kêu gọi sẽ cho các nước vay tiền nếu chấp nhận mô hình tự do chủ nghĩa mới với mở cửa thị trường và tư nhân hóa.

Chương trình “điều chỉnh cơ cấu” này, bao gồm các biện pháp góp phần giúp cho thị trường định giá, ổn định vĩ mô để chấm dứt lạm phát, xóa bỏ các hạn chế buôn bán và mở cửa thị trường cho hàng hóa và vốn nước ngoài, được các nước châu Mỹ La-tinh, châu Á, châu Phi và một số nước xã hội chủ nghĩa cũ hưởng ứng.

Cuộc cải cách này đã thành công ở Chi-lê, Trung Quốc, Việt Nam, Ấn Độ, và một số nước Đông Á, nhưng lại thất bại ở nhiều nước Mỹ La-tinh và châu Phi cũng như Đông Âu. Một số nơi đã phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng tài chính rất nghiêm trọng như Mê-xi-cô (1994), Đông Á và Đông – Nam Á (1997), Nga (1998 ) Ác-hen-ti-na (2001).

Trước tình trạng này, các sáng kiến về một nền kinh tế mang tính xã hội và tương trợ nẩy sinh khắp nơi.

Kinh tế mang tính xã hội dùng để chỉ các nhóm người (chứ không phải là vốn) giữ một vai trò kinh tế như các hợp tác xã, các hội tương trợ và hội quản lý. Các tổ chức này mang tính tự nguyện và hợp tác, độc lập đối với nhà nước, tự chủ trong quản lý. Một đặc điểm quan trọng là, tổ chức kinh tế mang tính xã hội hoạt động nhằm cung cấp dịch vụ cho hội viên hay tập thể chứ không vì lợi nhuận của một số cá nhân.

Continue reading

NHỮNG DẤU HIỆU CẦN SUY NGẪM TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG Ở KHỐI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI HIỆN NAY

KIM ANH

Từ ngày 5-12, lãi suất cơ bản sẽ giảm từ 11% xuống 10%/năm. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng giảm từ 12% xuống 11%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 10% xuống 9%/năm, và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam giảm từ 10% xuống 9%/năm. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay hơn nữa, đồng thời các tổ chức tín dụng được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với những dự án kinh doanh có hiệu quả cao.

Từ động tác đón đầu…

Dù đến ngày 5-12 lãi suất cơ bản mới giảm xuống còn 10%/năm, và lãi suất cho vay tối đa chỉ còn 15%/năm, nhưng từ ngày 1-12-2008, hàng loạt ngân hàng thương mại đã giảm mạnh lãi suất cho vay lẫn huy động vốn.

Ngày 1-12, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mạnh tay giảm thêm 1,6% lãi suất cho vay VND, đưa lãi suất vay vốn ngắn hạn cao nhất về mức 13%/năm. Đặc biệt, mức lãi suất thấp nhất – 11,4%/năm, đã được áp dụng cho các đối tượng vay vốn kinh doanh các mặt hàng có thị trường tiêu thụ ổn định, trực tiếp sản xuất sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế, các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ, và các khoản vay tài trợ xuất khẩu, thu mua lúa gạo. Lãi suất cho vay trung, dài hạn bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng phí tối thiểu là 3%/năm. “Đáy” lãi suất cho vay 11,4%/năm của BIDV chỉ tồn tại đúng một ngày.

Ngày 2-12 Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã giảm mạnh lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND từ mức 12%/năm xuống còn 11%/năm. Một lãnh đạo của Vietcombank cho biết, đợt điều chỉnh giảm lãi suất lần này, Vietcombank hướng tới mục tiêu tập trung tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.

Continue reading

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HIỆN TÀI LIỆU THẬT, GIẢ TRONG GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

LS. BÙI QUANG THẠCH – VIETINBANK

Nền kinh tế – xã hội đất nước đang trong giai đoạn đổi mới, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Sự cạnh tranh trong kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) cũng được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, trong đó có nhiều trường hợp dẫn đến vụ việc tranh chấp, khiếu kiện phải đưa ra Toà án để giải quyết.

Thị trường đã tạo động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng cũng có mặt trái của nó, thực tế đã nảy sinh nhiều loại tội phạm mới hoạt động trên nhiều lĩnh vực, thể hiện nhiều nhất là trong khâu giao dịch tiền tệ với các Ngân hàng. Chúng đã lợi dụng sơ hở của cán bộ trong khi giao dịch, dùng một số loại giấy tờ giả mạo như: Chứng minh nhân dân (CMND), hộ khẩu, hộ chiếu, sổ đỏ… lừa đảo để cầm cố, thế chấp vay tiền, lĩnh tiền của các cơ quan, DN và các Ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản.

Qua công tác điều tra cho thấy đã có một số Ngân hàng mắc phải vấn đề này. Đối tượng đã dùng CMND giả đưa vào Ngân hàng để giao dịch vay tiền, lĩnh tiền. Về phía Ngân hàng do sơ suất của một số cán bộ chỉ một chút lơ là, thiếu tinh thần trách nhiệm đã để cho đối tượng lợi dụng lừa đảo và chiếm đọat tài sản, khi phát hiện được thì đối tượng đã cao chạy xa bay. Ngân hàng thì mất vốn, cán bộ để xảy ra thì phải bồi thường vật chất, nặng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về phía Ngân hàng khi có vụ việc xảy ra phải có trách nhiệm báo với cơ quan pháp luật để điều tra truy tìm thủ phạm, mất nhiều thời gian và chi phí, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh và uy tín của đơn vị, nội bộ mâu thuẫn nghi kị lẫn nhau.

Xuất phát từ thực tế trên và yêu cầu công tác phải đảm bảo tuyệt đối an toàn về tài sản của Nhà nước, của cơ quan và của chính bản thân người Giao dịch viên (GDV), Kiểm soát viên, bài viết này cung cấp một số kiến thức cơ bản về nhận biết thông thường đối với một số loại giấy tờ và chữ ký thật, giả khi thực hiện giao dịch với khách hàng với mục đích nhằm giới thiệu cho các GDV nhận biết về đặc điểm, hình dáng, kích thước, mầu sắc, dấu vết của một số loại giấy tờ như CMND, Hộ chiếu, tài liệu thật/giả và giám định chữ ký phục vụ cho công tác chuyên môn khi giao dịch với khách hàng. Từ đó giúp cho GDV có được kiến thức cơ bản phát hiện được các hành vi, thủ đoạn của tội phạm dùng giấy tờ giả để giao dịch, thế chấp, cầm cố nhằm chiếm đoạt tiền và tài sản của các cơ quan tổ chức, cá nhân và đưa ra các biện pháp phòng chống ngăn chặn.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TÀI SẢN GIỮA CHA MẸ VÀ CON: KHỐN KHỔ VÌ CON!

THANH TÙNG

Bà N. đăm đăm nhìn về ngôi nhà đã bị vợ chồng con trai chiếm, nước mắt ràn rụa trên đôi gò má xương xẩu. Bà khóc vì đạo lý ở đời đảo lộn, tình máu mủ bị lấp vùi chỉ vì lòng tham… Bà N. từng là chủ cửa hàng bán xe máy, xe đạp ở TP Mỹ Tho (Tiền Giang), có một gia đình khá giả, êm ấm. Mọi việc chỉ bắt đầu từ năm 2004 khi bà phải lên TP.HCM điều trị căn bệnh tim quái ác dài ngày. Đi chữa bệnh, bà giao lại việc kinh doanh cửa hàng cho vợ chồng con trai đầu.

Lừa cả mẹ mình

Việc buôn bán thường xuyên cần đến vốn nên người con đầu đã đề nghị bà chuyển quyền sở hữu nhà, sang tên cửa hàng để tiện thế chấp vay tiền ngân hàng làm ăn. Nghĩ chỉ cho con đứng tên tạm, bà không một chút mảy may nghi ngờ. Trước khi viết giấy tặng cho để hợp thức hóa, bà còn dặn: “Sau này má mất đi thì căn nhà là đồng sở hữu của ba anh em con, không đứa nào được bán, để làm nhà thờ gia tộc nghe chưa”.

Vợ chồng người con đầu tỏ ra ngoan ngoãn vâng lời. Nào ngờ ngay sau khi sang tên, họ đã thế chấp nhà vay tiền tiêu xài riêng. Năm 2007, sợ ngân hàng phát mại nhà, bà N. phải đi vay tiền bên ngoài trả nợ để chuộc lại giấy tờ nhà rồi nhờ người cất giữ. Bị quản lý giấy tờ, con dâu bắt đầu xúi chồng chửi rủa, đay nghiến, thậm chí đánh bà mỗi khi trong nhà xảy ra xung đột. Cắn răng chịu mãi không thấu, bà N. phải tố giác ra chính quyền. Trưởng khu phố đã rất nhiều lần mời vợ chồng người con đến thuyết phục, khuyên giải. Lần nào họ cũng cam kết, cũng hứa không ngược đãi bà nữa nhưng sau đó họ lại tái phạm! Đã hơn một lần công an phường phải xử phạt hành chính vợ chồng người con về hành vi ngược đãi mẹ và đánh người gây thương tích, gây rối trật tự công cộng.

Nỗi đau nối tiếp nỗi đau

Sống chung một mái nhà, những bữa cơm của bà N. chan đầy nước mắt. Có lần bà vừa đưa chén cơm lên miệng, con dâu đã ụp ngay nồi cơm xuống đất. Bà cự nự thì đứa con trai bất hiếu bênh vợ tấn bà vào tường đánh tới tấp khiến bà phải vào bệnh viện.

Continue reading

TÌM HƯỚNG GIẢI QUYẾT CHO VIỆC CẢI CÁCH GIÁO DỤC TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG

GS. NGUYỄN ĐĂNG HƯNG – Đại học Liège, Bỉ

Tóm tắt

Trong bài này, tôi sẽ đề cập những bước đột phá trong việc cải cách hệ thống giáo dục Việt Nam bao gồm ba điểm sau đây,

1. Đổi mới tư duy về giáo dục…

2. Vì sự chệch hướng kéo dài hàng mấy thập kỷ, cần có quyết tâm, thời gian và lộ trình trong việc cải tổ, tuy nhiên có những việc cấp bách cần làm ngay…

3. Đâu là hướng gii quyết sau khi chấp nhận cơ chế thị trường cho nền giáo dục ?

Đây là những ý kiến, những kinh nghiệm cá nhân đã được tích lủy sau 15 năm lăn lộn với Giáo dục và Đào tạo tại Việt Nam.

1. Nội dung cần thiết của đổi mới tư duy

1.1 Lãnh đạo và qun lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ tốt.

Đổi mới tư duy theo tôi trước hết là đoạn tuyệt với lề lối tập trung quan liêu, nói nôm na là thói quen ôm đồm, bao biện, cái gì cũng muốn nắm, cái gì cũng muốn quản lý mà không có khả năng, không có tài lực, không có phương pháp, gây trì trệ, nhũng nhiễu cho nền giáo dục quốc dân… Lãnh đạo và quản lý tốt phải đồng nghĩa với phục vụ tốt. Phục vụ muốn có hiệu quả thì phải mở cơ chế cho thật thoáng để tăng cường khả năng phục vụ. Đây là nguyên tắc làm việc cũa các nước tiên tiến có trình độ phát triển cao.

1.2 Cần nhanh chóng trao quyền tự quản cho các trường đại học

Chẳng hạn, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cần nhanh chóng trao quyền tự quản cho các trường đại học, bắt đầu bằng những trường trọng điểm, những trường lớn. Quyền tự quản này bao gồm quyền tuyển sinh, cấp bằng, quản lý và bổ nhiệm nhân sự, tổ chức và kế hoạch việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học… Bộ chỉ dừng lại ở quản lý khung : ngân sách (phần nhà nuớc rót về trường như thế dĩ nhiên gián tiếp chi phối việc bổ nhiệm nhân sự), học trình quốc gia (bất cứ trường nào cũng phải tuân thủ chương trình học do bộ đề ra), chế độ (mức lương tối thiểu, chức danh, học hàm, tài trợ những hướng phát triển trọng điểm, cho bổng học sinh nghèo, hỗ trợ học sinh vùng sâu vùng xa…), thanh tra giám sát, hiệp thương hợp tác quốc tế trên bình diện vĩ mô, vân vân…

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: TÒA ÁN TUYÊN LỐ, THI HÀNH ÁN BÓ TAY

THỤY CHÂU

Án tòa cho phép nguyên đơn hưởng hơn 3.300 m2 đất trong khi diện tích thực tế chỉ còn khoảng 2.000 m2. Thi hành án dân sự TP.HCM vừa gửi công văn đề nghị các cơ quan thẩm quyền xem xét lại một bản án của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM theo trình tự giám đốc thẩm. Tháng 5-2008, khi xử phúc thẩm vụ tranh chấp nhà đất, tòa này tuyên án không phù hợp thực tế khiến việc thi hành án bị tắc tỵ.

Chia đi chia lại khối di sản

Ông S. và ông Q. tranh chấp căn nhà và hơn 3.300 m2 đất ở quận Tân Phú. Đó là di sản do cha mẹ họ chết để lại mà không có di chúc. Năm 1994, anh em họ đã ký tờ cam kết phân chia di sản nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương. Theo đó, ông S. được hưởng toàn bộ khối di sản trên.

Năm 2001, ông Q. tự dọn về ở trên phần nhà đất mà ông S. được chia. Một năm sau, họ lại phân chia di sản dưới sự chứng kiến của UBND phường Tây Thạnh. Lần này, phần đất ông S. được quyền sử dụng hụt đi nhiều so với ban đầu. Vậy là ông S. nộp đơn khiếu nại cách phân chia mới. Đến tháng 11-2006, ông S. nộp đơn kiện ông Q. ra tòa để yêu cầu ông này tôn trọng cam kết đã lập năm 1994.

Hẳn nhiên là ông Q. không chịu. Theo ông Q., anh em họ đã thỏa thuận phân chia lại di sản vào năm 2002. Phần tài sản ông đang chiếm giữ là tài sản mà ông mới được chia lại. Do vậy, ông S. không có quyền yêu cầu ông ra khỏi khu đất đó. Theo lập luận của ông Q., biên bản lập năm 2002 thể hiện ý chí sau cùng của các đồng thừa kế, lại có xác nhận của chính quyền địa phương nên đã vô hiệu tờ thỏa thuận lập năm 1994.

Thỏa thuận ban đầu có hiệu lực

Trước khi phát sinh tranh chấp này, hai ông từng kéo nhau ra tòa trong một vụ án khác. Tờ thỏa thuận phân chia di sản năm 1994 cũng đã được đem ra bàn luận trong vụ án. Lần đó, cấp phúc thẩm thừa nhận tính pháp lý của tờ thỏa thuận năm 1994 và bác bỏ thỏa thuận năm 2002.

Continue reading

CHẾ ĐỘ PHÂN CHỦNG (JIM CROW) TRONG LỊCH SỬ HOA KỲ

image GS TS. DAVID PILGRIM (Ferris State University) – TRẦN NGỌC CỰ  dịch                  

Việc đắc cử của Barack Obama, một người da màu, vào chức vụ Tổng thống của một nước giàu mạnh nhất thế giới có ý nghĩa lịch sử cực kì to lớn. Đây là một “quantum leap”, một bước phát triển không thể đảo ngược, có sức đúc bê tông những chiến thắng của cuộc đấu tranh can đảm và ngoan cường (brave and resilient) của người da đen kéo dài trên 150 năm. Một cuộc đấu tranh mà thành quả của nó mọi sắc dân thiểu số khác đang chung hưởng trên đất nước Hoa Kỳ: đó là những đạo luật và cơ chế dân quyền Mỹ, nhằm chống lại nhiều hình thức phân biệt đối xử trong xã hội, chủ yếu là chống kì thị chủng tộc, điển hình là chế độ phân chủng Jim Crow.[1]

Jim Crow là gì?

Jim Crow là tên gọi của một chế độ giai cấp đặt cơ sở trên màu da, một chế độ được áp dụng chủ yếu, nhưng không riêng gì, tại các bang miền Nam và các bang cùng biên giới với miền Nam [xét theo địa lí của thời Nội chiến Mỹ], trong giai đoạn từ năm 1877 đến giữa thập niên 60 của thế kỉ trước. Nội hàm của Jim Crow không chỉ nằm trong một loạt luật lệ nghiêm khắc nhắm vào người da đen. Mà đó là một lối sống. Dưới chế độ Jim Crow, người Mỹ gốc châu Phi bị đưa xuống hàng công dân thứ cấp. Jim Crow tiêu biểu cho việc hợp thức hoá chế độ phân chủng chống lại người da đen. Để củng cố chế độ Jim Crow, thậm chí nhiều giáo sĩ và nhiều nhà thần học Ki-tô-giáo cũng rao giảng rằng người da trắng là dân được Chúa chọn (Chosen People), còn người da đen thì bị rủa sả phải làm thân nô lệ, và Thiên Chúa hậu thuẫn cho chế độ phân chủng. Các nhà nghiên cứu về sọ não, về tông giống (cranilogoists, phrenologists, eugenicists), và cả những nhà xã hội học theo thuyết tiến hoá Darwin, đủ mọi trình độ, hùa nhau yểm trợ cái tín lí cho rằng người da đen bẩm sinh là thấp kém hơn người da trắng về mặt tri thức và văn hóa. Những chính trị gia chủ trương phân chủng cũng tung ra những bài diễn văn hùng hồn về mối hoạ to lớn của việc cho người da đen hội nhập vào dòng chính của xã hội Hoa kì: đó là sự pha giống với người da trắng. Các nhà báo cũng thường gọi người da đen bằng các từ miệt thị như niggers, coons, hay darkies, và tệ hại hơn nữa, những bài viết của họ đã làm gia tăng những định kiến tiêu cực về người da đen. Ngay cả trò chơi trẻ em cũng miêu tả dân da đen như một giống người hạ đẳng. Tất cả các định chế xã hội quan trọng đều phản ánh và hỗ trợ việc áp chế người da đen.

Continue reading

15 ƯU ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN TRONG DẠY HỌC

image TRƯƠNG VỸ QUYỀN – TRẦN MỸ PHƯƠNG

– Thảo luận có thể giúp người học khai thác được nhiều khía cạnh của một vấn đề.

– Thảo luận có thể giúp tăng cường khả năng chịu đựng và sự quan tâm của người học đến các vấn đề phức tạp.

– Thảo luận có thể giúp người học chấp nhận và đào sâu thêm những giả thiết của mình.

– Thảo luận khuyến khích người học biết cách lắng nghe một cách kiên nhẫn và lịch sư.

– Thảo luận có thể giúp người học rút ra được những kiến giải mới từ các ý kiến khác nhau.

– Thảo luận tăng cường tính linh hoạt tư duy của người học.

– Thảo luận khiến người học chú tâm hơn đến các đề tài đang được bàn thảo.

– Thảo luận giúp cho những ý tưởng và sự thể nghiệm của người học được tôn trọng.

– Thảo luận giúp cho người học hiểu rõ được những đặc điểm của quá trình thảo luận dân chủ.

– Thảo luận tạo điều kiện cho người học trở thành người tham gia sáng tạo tri thức.

– Thảo luận giúp người học phát triển khả năng trao đổi suy nghĩ và quan điểm một cách rõ ràng.

– Thảo luận giúp người học hình thành thói quen tương tác trong học tập.

– Thảo luận giúp cho người học trở nên cởi mở và dễ thấu hiểu người khác hơn.

– Thảo luận có thể giúp người học phát triển năng lực phân tích và tổng hợp.

– Thảo luận có thể làm biến chuyển tư duy của người học.

Continue reading

PHÁT BIỂU CỦA BARAK OBAMA VỪA ĐẮC CỬ TỔNG THỐNG HOA KỲ NGÀY 4/11/2008 TẠI CHICAGO

barak_blog BARAK OBAMA – PHẠM THỊ LY Dịch theo  Remarks of President-Elect Barack Obama, Election Night Tuesday, November 4th, 2008, Chicago, Illinois

Xin chào Thành phố Chicago!

Nếu trong các bạn có ai còn ngờ vực liệu nước Mỹ có phải là nơi tất cả mọi điều đều là có thể; có ai còn tự hỏi giấc mơ của người sáng lập nước Mỹ liệu có còn tồn tại trong thời đại của chúng ta; có ai còn đặt dấu hỏi về sức mạnh nền dân chủ của chúng ta, thì ngày hôm nay chính là câu trả lời cho những người ấy. 

Đó là câu trả lời của dòng người nối dài chưa từng thấy trên đất nước này ở các nhà thờ, trường học được dùng làm địa điểm bầu cử, của những người đã chờ đợi ba bốn tiếng đồng hồ để bỏ phiếu, đối với nhiều người, đây là lần đầu tiên trong đời họ đi bầu như vậy, vì họ tin rằng lần này nhất định là khác; họ tin rằng tiếng nói của họ có thể tạo nên ý nghĩa khác biệt ấy.  

Đây là câu trả lời của những người già và người trẻ,  người giàu và người nghèo, người dân chủ và  người cộng hòa,  người da đen và da trắng, người Latinh, người châu Á, người Mỹ bản xứ, người đồng tính, người bình thường, người khuyết tật và không khuyết tật- những người Mỹ đã gửi đi một thông điệp cho thế giới rằng chúng ta đã không còn là một tập hợp những tiểu bang dân chủ hay cộng hòa: chúng ta là, và bao giờ cũng sẽ là Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ!  

Đó là câu trả lời đã dẫn dắt những người từ lâu bị người khác làm cho trở thành hoài nghi, e sợ, ngờ vực những gì chúng ta có khả năng đạt được, để họ có thể chạm tay vào khúc quanh của lịch sử và uốn lịch sử theo những hy vọng của họ về một tương lai tốt đẹp hơn. 

Còn một chặng đường dài trước mặt, nhưng đêm nay, vì những gì chúng ta đã làm trong ngày hôm nay, trong cuộc bầu cử này, trong thời khắc này, thay đổi đã đến với nước Mỹ.

Continue reading

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUỐC TỊCH VIỆT NAM NĂM 2008 (Dự thảo 1)

CHÍNH PHỦ 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Quốc tịch Việt Nam số …./2008/QH12 ngày       tháng        năm 2008;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

CHƯƠNG 1: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1.  Phạm vi áp dụng
Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 11, Điều 37, Điều 38 và Điều 41 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 về giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam; thủ tục, trình tự giải quyết việc xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam, việc cấp giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam.

Điều 2. Giá trị của giấy tờ do cơ quan nước ngoài cấp hoặc chứng thực

Giấy tờ kèm theo đơn xin giải quyết các việc về quốc tịch Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp hoặc chứng thực phải được hợp pháp hóa lãnh sự; giấy tờ bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt, bản dịch phải được chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Điều 3.
Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam
Ngoài các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 11 Luật Quốc tịch Việt Nam thì một trong các giấy tờ sau đây cũng có giá trị chứng minh có quốc tịch Việt Nam:
1. Sổ hộ khẩu;
2. Thẻ cử tri mới nhất;
3. Giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam của cha mẹ, của cha hoặc mẹ;
4. Giấy xác nhận đăng ký công dân do Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp;
5. Giấy tờ, tài liệu chứng minh đương sự là người có quốc tịch Việt Nam theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia;
6. Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi đối với trẻ em là người nước ngoài.

Continue reading