Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Theo báo Pháp Luật TP.HCM ngày 26/11/2008, Quốc hội Ấn Độ vừa thông qua Bộ Luật về quyền tiếp cận thông tin. Theo đó, thái độ phục vụ người dân của các cơ quan chức năng đã được luật hóa. Nếu vi phạm, luật áp dụng các hình thức chế tài đối với cán bộ quan liêu, vô trách nhiệm trong giải quyết các bức xúc của dân. Ví dụ, đối với với hành vi không trả lời dân có thể bị phạt tiền …
Luật này xuất phát từ thực tế, tại Ấn Độ, người dân rất sợ phải đến cơ quan công quyền làm giấy tờ. Bởi vì, mỗi lần như thế họ đều phải mòn mỏi chờ đợi và bất lực trước hiện trạng hồ sơ bị “bỏ quên” trong thời gian dài, không được cơ quan chức năng giải quyết hay có ý kiến hồi âm.
Từ chuyện người ngẫm đến ta, có lẽ xây dựng, cải cách và hoàn thiện nền hành chính quốc gia là điều cần và phải làm, nhưng chưa đủ nếu chúng ta không xây dựng văn hóa hành chính?
CIVILLAWINFOR
Filed under: Cùng suy ngẫm | Leave a comment »
TS. DIỆP GIA LUẬT
Trái phiếu đô thị là loại trái phiếu đầu tư có kỳ hạn từ một năm trở lên, do chính quyền địa phương ủy quyền cho kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địa phương lập ra, phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trình mang tính công cộng như đường xá, bến cảng, trường học, bệnh viện,…Kinh nghiệm các nước phát triển cho thấy phát hành trái phiếu đô thị được xem là lựa chọn hiệu quả trong huy động vốn cho đầu tư.
Ở VN những năm qua, đã có một số đô thị lớn như: TP.HCM, Hà Nội được sự cho phép của Chính phủ đã chủ động phát hành trái phiếu tài trợ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, song hình thức huy động này vẫn còn nhiều khó khăn, quy mô còn hạn chế. Vì vậy, trong thời gian tới với sự hình thành và phát triển các đô thị lớn như việc mở rộng Thủ đô Hà Nội, chỉnh trang và phát triển TP. Hải Phòng, TP.HCM … chắc chắn sẽ tạo áp lực tăng nhu cầu vốn. Cho nên, việc nghiên cứu vận dụng phương thức phát hành trái đô thị để huy động vốn đầu tư rất cần thiết. Với mục tiêu cung cấp các dữ liệu lý luận nhằm đa dạng hóa các kênh huy động vốn, đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị của các địa phương. Bài báo tập trung phân tích tình hình phát hành trái phiếu đô thị của các địa phương để từ đó đề ra các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động phát hành trái phiếu đô thị ở VN trong thời gian tới.
1. Thực trạng phát hành trái phiếu đô thị ở VN
Dựa vào những điểm mốc của việc hình thành khung pháp lý và cơ chế phân cấp NSNN cho việc phát hành trái phiếu đô thị, có thể chia làm hai giai đoạn cơ bản:
– Giai đoạn: từ năm 1991 đến năm 2003
Cơ chế phân cấp của ngân sách trong giai đoạn này còn mang nạng tính tập trung, phần lớn nguồn thu các dự án đầu tư đều do NSTW thực hiện. Vì vậy, chỉ có một số địa phương vận dụng nội dung các văn bản pháp lý về phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu công trình để đầu tư cho các công trình địa phương. Những trái phiếu này được đảm bảo thanh toán bằng nguồn ngân sách địa phương.
Filed under: Thị trường chứng khoán | Leave a comment »
PHƯƠNG ĐỨC
Trong kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa coi trọng yếu tố pháp luật. Sẽ thật là sai lầm nếu doanh nghiệp tiếp tục hướng đi trên. Kinh tế phát triển, pháp luật sẽ ngày một hoàn thiện hơn, điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mặt khác trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày một sâu và rộng, các quốc gia thường xuyên ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhau, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế … thì những quy định pháp luật về kinh doanh là vô cùng phức tạp. Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật.
1/ “Hạ sách”: tư vấn pháp luật là biện pháp cuối cùng
Đã có thời chỉ những doanh nghiệp nhỏ, quản lý yếu kém mới cần đến tư vấn pháp luật chỉ khi doanh nghiệp bị pháp luật “sờ gáy và không còn cách giải quyết nào khác thì mới sử dụng hạ sách thuê tư vấn pháp luật. Một thái độ như thế vẫn còn tồn tại trong giới kinh doanh và luật sư nói chung. doanh nghiệp xem luật sư như “bác sĩ của công ty. Luật sư xem doanh nghiệp như “con bệnh pháp luật”. Thái độ này tương phản với thực tế hiện nay ở các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới ở các doanh nghiệp trong các nước phát triển, họ có thói quen thường xuyên sử dụng tư vấn pháp luật vì tư vấn pháp luật đem lại nhiều lợi ích “siêu hưởng nhưng rất thực tế cho họ. Đây cũng là lý do tồn tại của các hãng luật trên thế giới. Một số hãng luật này đã có mặt ở Việt Nam từ nhiều năm nay.
2/ “Thượng sách”: tư vấn pháp luật có nhiều lợi ích “siêu tưởng”
Xem xét lợi ích của tư vấn pháp luật đối với doanh nghiệp, cần đặt tư vấn pháp luật trong môi trường pháp luật kinh doanh hiện nay.
Nhiều cuộc hội thảo pháp luật về kinh doanh cho thấy, bên cạnh những tích cực thì pháp luật về kinh doanh hiện còn gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Đó là tình trạng xây dựng pháp luật không có tầm nhìn xa, chỉ thấy cây mà không thấy rừng, dẫn đến pháp luật lạc hậu quá xa so với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội thay vì lợi ích cục bộ mà cơ quan soạn thảo xây dựng “luật đá luật”, hay vì luật không quy định cụ thể nên phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành vốn được ban hành chậm, thậm chí còn hướng dẫn sai luật. Ví dụ, trong một cuộc hội thảo pháp luật mới đây đã tổng kết được 11 “điểm nóng” liên quan đến lĩnh vực hải quan, đại diện Tòa Kinh tế Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nêu ra 14 điểm vướng mắc của Luật Phá sản Doanh nghiệp, có báo cáo còn nói Luật Phá sản Doanh nghiệp bị phá sản để chỉ sự bất cập của luật so với đời sống kinh doanh của doanh nghiệp.
Filed under: LTM - Pháp luật cạnh tranh, SINH VIÊN VÀ THỰC TIỄN, Tranh tụng và luật sư | 1 Comment »
Hầu hết mọi nơi trên thế giới, các hình thức đầu tư chứng khoán là một chủ đề được nhiều người quan tâm. Và cách tiếp cận thị trường chứng khoán dễ dàng nhất là thông qua các công ty chứng khoán. Tuy nhiên, cách thức tiếp cận trên cũng có rất nhiều vấn đề cần được lưu ý, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nghiệp dư lần đầu tiên làm quen với môi trường này.
Có thể thấy tại các công ty chứng khoán, số lượng khách hàng đến mở tài khoản giao dịch nói riêng hay lượng người quan tâm đến chứng khoán nói chung ngày một tăng. Các công ty chứng khoán được làm đại lý phát hành chứng khoán niêm yết cho các tổ chức phát hành; tự kinh doanh chứng khoán và nhiều dịch vụ tư vấn đầu tư khác. Ngoài ra, những đơn vị này được thực hiện tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ tài chính khác.
Tìm hiểu những về một số thuật ngữ và hoạt động của các công ty chứng khoán
Khi bắt đầu làm quen với việc kinh doanh chứng khoán, việc đầu tiên chúng ta phải làm là mở tài khoản tại một công ty chứng khoán. Khi ấy, chúng ta sẽ gặp một loạt các thuật ngữ “bí hiểm” như : full-service brokerage firms, discount firms, wire houses, boutique firms… Vậy những thuật ngữ trên có ý nghĩa như thế nào và chúng khác nhau ra sao?
Các công ty môi giới chứng khoán hiện nay trên thế giới được chia thành 2 nhóm chính (classified into two main categories): full-service brokerage firms (tạm dịch là công ty tổng hợp) và discount firms (công ty chuyên doanh).
Khi quyết định sử dụng dịch vụ của một công ty chuyên doanh, các nhà đầu tư chỉ có thể nhận được 2 loại dịch vụ duy nhất là thực hiện lệnh (order execution) và thanh toán (clearance) khi lệnh mua/bán (buy/sell order) của nhà đầu tư đã được “khớp” (matched) với 1 hoặc nhiều lệnh khác. Một trong những ưu điểm chính của các công ty chuyên doanh” là phí hoa hồng (commissions) sẽ thấp hơn khoảng từ 1/4 cho đến 2/3 so với trường hợp các công ty tổng hợp.
Filed under: LTM - Chủ thể kinh doanh, Thị trường chứng khoán | Leave a comment »
HƯƠNG GIANG
Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (THADS) có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan THADS trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ và quan hệ phối hợp với các cơ quan hữu quan.
Khác với Pháp lệnh THADS 2004, Luật THADS đã qui định rõ, hệ thống tổ chức THADS gồm Cơ quan quản lý và Cơ quan THADS. Theo đó, “Cơ quan quản lý THADS thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác THADS và thực hiện quản lý chuyên ngành về THADS sự theo quy định của Chính phủ” (khoản 2 Điều 179) và “Cơ quan quản lý THA thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện trách nhiệm, quyền hạn quy định tại Điều này theo quy định của Chính phủ” (khoản 2 Điều 180). Còn cơ quan THADS được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp quân khu (Điều 15).
So với Pháp lệnh THADS 2004, qui định về hệ thống tổ chức cơ quan THADS trong Luật THADS đã thể hiện rõ tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan THADS. Trong khi Pháp lệnh chỉ qui định về vấn đề này trong 1 điều luật (điều 11) thì Luật THADS đã dành 4 điều (15-18) với các qui định cụ thể về hệ thống tổ chức cơ quan THADS (điều 15); nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS cấp tỉnh (điều 16), cấp quân khu (điều 17) và cấp huyện (điều 18).
Theo điều 11 Pháp lệnh THADS 2004, “tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các Cơ quan THA do Chính phủ quy định”. Vì thế, cho đến trước 1/7/2009, các vấn đề về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan THADS các cấp do Nghị định số 50/2005/NĐ-CP (ngày 11/4/2005) của Chính phủ về cơ quan quản lý THADS, cơ quan THADS và cán bộ, công chức làm công tác THADS và các văn bản liên quan điều chỉnh.
Filed under: TTDS - Thi hành án dân sự | Leave a comment »
CHÍ HIẾU
Vietnamnet – Hai ngày nay, gia đình chị Nguyễn Thị Lê bị hàng xóm tổ chức hàn một rào sắt bịt cổng “nhốt” trong chính căn nhà của mình. “Con đường duy nhất” để ra ngoài là phải trèo qua hàng rào sắt cao gần 2m, hoặc nhờ người quen tiếp tế lương thực qua những khe sắt, chẳng khác nào một nhà tù!
Bị hàng xóm nhốt hay tự tay nhốt mình?!
Cánh đây chừng nửa tháng, do nhu cầu sinh hoạt nên gia đình chị Lê (ở số 56, tổ 3 ngõ 5A, thị trấn Cầu Diễn – huyện Từ Liêm – Hà Nội) tiến hành chuyển cổng chính từ bên phải sân sang bên trái 3m. Cổng được xây dựng trên phần đất của gia đình chị Lê và mở ra ngõ đi chung của cả xóm.
Tuy nhiên, với lí do “chưa xin phép” hàng xóm, ngày 17/12, ông Ngô Văn Huy – gia đình đối diện nhà chị Lê đã thuê thợ hàn sắt dựng một lưới sắt cao khoảng 2, rộng 3m áp sát cổng mới vừa mở của nhà chị Lê và bịt mất lối đi này.
Sự việc ngay sau đó đã được Công an thị trấn Cầu Diễn lập biên bản, yêu cầu ông Huy dở bỏ hàng rào sắt bịt cổng nhà chị Lê. Đồng thời, cũng yêu cầu nhà chị Nguyễn Thị Lê tạm dừng việc dời cổng mới, vẫn phải đi bằng cổng cũ.
Phần thì bức xúc vì mở cổng ngay trên phần đất nhà mình mà vẫn bị… đình chỉ, phần vì khẩn thiết cho sinh hoạt, nhà chị Lê vẫn tiến hành xây bít cổng cũ, mở cổng mới.
Để “đáp trả”, sáng 24/12 ông Ngô Văn Huy lại cho dựng trở lại hàng rào sắt chắn lối đi duy nhất này.
Cổng ra vào duy nhất bị rào, mọi sinh hoạt của 2 mẹ con chị Lê cùng 3 sinh viên trọ học trong khu nhà phải ra vào bằng cách trèo qua hàng rào sắt cao gần 2m: từ dắt xe đi làm, mua lương thực…
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | Leave a comment »
TS. TRẦN CÔNG HÒA – CN. LÊ THỊ THÚY
Trong những năm qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc với việc mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tăng cường mạng lưới và hiện đại hóa công nghệ. Cả nước hiện có 84 ngân hàng (gồm: 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN), 31 Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị (NHTMCP), 4 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, 5 Ngân hàng liên doanh, 37 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 02 ngân hàng chính sách: Ngân hàng phát triển Việt Nam – VDB và Ngân hàng chính sách xã hội – VBSP).
Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam có quy mô còn rất nhỏ và trình độ phát triển chưa cao so với các ngân hàng của các nước phát triển. Hiện tại, trên 90% thị phần hoạt động ngân hàng do 16/84 NHTM lớn nhất Việt Nam và 02 ngân hàng chính sách nắm giữ, trong đó riêng các NHTMQD đã nắm giữ trên 70% thị phần.
Cùng góp phần đánh giá sự phát triển của hệ thống các NHTM Việt Nam trong thời gian qua, nhìn nhận xu hướng phát triển trong thời gian tới, bài viết này sẽ tập trung vào phân tích sự phát triển của 16 NHTM lớn nhất Việt Nam thông qua một số chỉ số tài chính chủ yếu trong giai đoạn từ 2004 đến nay. Để đảm bảo phân tích, đánh giá phù hợp với quy mô và lịch sử phát triển của các nhóm ngân hàng, trong các phần 1 và 2, chúng tôi sẽ phân tích theo nhóm và có so sánh đánh giá chung giữa các nhóm: Nhóm I: 4 NHTMNN (VBARD, VCB, BIDV, ICB); Nhóm II: MHB và 11 ngân hàng lớn nhất trong nhóm các NHTMCP; việc đánh giá các ngân hàng chính sách sẽ không đề cập trong nghiên cứu này do tính không tương đồng về mục tiêu và phạm vi hoạt động.
PHẦN 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: QUY MÔ TĂNG CHÓNG MẶT
Các NHTMNN vẫn là chủ đạo, ông lớn chiếm phần hơn.
Khi xét đến quy mô vốn của ngân hàng, những chỉ tiêu không thể không nhắc đến là tổng tài sản, khả năng huy động vốn từ thị trường và vốn chủ sở hữu. Đây là những chỉ tiêu quan trọng nhất, tập trung nhất và bao quát nhất thể hiện tiềm lực về tài chính và sức cạnh tranh của ngân hàng.
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG | Leave a comment »
NGUYỄN VĂN NGHĨA
Để bảo đảm mọi bản án, quyết định của Toà án, Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh, thể hiện tính tôn nghiêm của pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành hai Nghị quyết quan trọng đó là Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Sau hơn ba năm triển khai thực hiện, cho đến nay từng nội dung về cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự được quy định trong hai Nghị quyết trên về cơ bản đã lần lượt được thể chế hoá vào trong các quy định của pháp luật và từng bước đi vào thực tiễn cuộc sống. Tập trung nhất đó là trong năm 2008, đã có hai văn bản pháp luật chuyên ngành quan trọng chứa đựng nhiều nội dung đổi mới trong công tác thi hành án dân sự đó là Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự và Luật thi hành án dân sự được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008. Dưới đây là những nội dung cơ bản về cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự đã được thể chế hoá để triển khai thực hiện trên thực tế trong thời gian tới, bao gồm:
Một là,đổi mới, nâng cao vị thế và hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Cho đến nay, công tác thi hành án ở Việt Nam vẫn được giao cho nhiều cơ quan giúp Chính phủ quản lý, trong đó Bộ Tư pháp được giao nhiệm quản lý thi hành các bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và các quyết định về dân sự trong các bản án, quyết định về hình sự. Do còn thiếu sự tập trung thống nhất, đặc biệt là thiếu cơ chế phối kết hợp có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý thi hành án nên đây là một trong số những nguyên nhân làm cho tình trạng án dân sự tồn đọng kéo dài trong thời gian qua. Vì vậy, để góp phần khắc phục hạn chế này, Nghị quyết số 48-NQ/TW đã khẳng định: “Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất về công tác thi hành án”. Tiếp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã tiếp tục khẳng định: “Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện chuyển giao công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”. Đây là một chủ trương lớn của Đảng, phù hợp với xu thế hội nhập, cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chủ trương này, theo tinh thần của Chương trình số 06-CTr/CCTP ngày 19/9/2007 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp đã được giao phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tiến hành nghiên cứu, xây dựng Đề án chuẩn bị các điều kiện cần thiết để giao cho Bộ Tư pháp thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án.
Filed under: TTDS - Thi hành án dân sự | Leave a comment »
VÕ TRÍ HẢO
1. Cơ sở của mô hình tài phán hiến pháp Hoa Kỳ
Cơ sở hiến pháp – hai đường ranh giới cứng
Hiến pháp Hoa Kỳ được sinh ra với chức năng là một bản văn giới hạn quyền lực nhà nước. Sự giới hạn này được xác định thông qua hai đường ranh giới cứng (xem sơ đồ).
Sơ đồ: ranh giới cứng [1] được định ra trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Đường ranh giới mềm được xác lập bởi các văn bản luật và dưới luật.
Một hành vi xâm phạm vào đường ranh giới mềm thường thuộc đối tượng của “bảo pháp” (tài phán thông thường), còn hành vi xâm phạm hai đường ranh giới cứng là đối tượng của “tài phán hiến pháp”.
Cơ sở lý luận
Hoa Kỳ là một quốc gia áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân định và kìm chế đối trọng. Theo nguyên tắc này, không có cơ quan nhà nước nào là “tối cao” hay “có quyền lực nhà nước cao nhất” mà đều nằm trong thế cân bằng, đối trọng với nhau. Chính vì vậy, bất kỳ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp nào có hành vi xâm phạm đến hiến pháp đều bị xem xét lại. Và founding fathers (tạm dịch: các vị cha lập quốc) đã trao quyền tài phán hiến pháp cho cơ quan tư pháp với lập luận:
– So với hoạt động lập pháp và hoạt động hành pháp, hoạt động tư pháp ít khi xâm hại đến hiến pháp nhất;
– Cần phải trao quyền này cho các cơ quan tư pháp để đủ sức đối trọng lại với “quyền nắm giữ túi tiền thiên hạ” [2] của Nghị viện và “quyền nắm giữ thanh gươm thiên hạ” [3] của Chính phủ. Nếu không thì nhánh quyền lực tư pháp sẽ quá yếu và thế cân bằng, đối trọng bị phá vỡ, nguyên tắc tam quyền phân định bị đe dọa; tự do của nhân dân bị đe dọa;
– Các thẩm phán có đòi hỏi về học vấn, thâm niên công tác, phẩm chất trung thực, tính chuyên nghiệp, tính độc lập cao hơn những người hoạt động trong các cơ quan hành pháp, lập pháp.
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
NGUYỄN ĐĂNG DUY NHẤT
Tự nhận thức là cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc. Tự nhận thức cũng cho phép bạn hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về bạn cũng như thái độ và phản hồi của bạn.Sự tự nhận thức là cơ sở – nền tảng – nền móng – hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy cảm xúc. Nó phải có trước, bởi nếu không hiểu bản thân và cảm xúc của mình, làm sao chúng ta có thể biết và hiểu người khác cảm xúc như thế nào?
Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình và mình say mê cái gì. Điều này hướng chúng ta đến những công việc yêu thích, khiến chúng ta làm việc vui vẻ, hiệu quả. Nó dẫn tới những mối quan hệ, cả trong công việc lẫn quan hệ cá nhân, ở đó chúng ta sẽ đóng góp có tính xây dựng và tích cực hơn. Và nó cũng dẫn đến cuộc sống chân thật hơn cũng như làm cho chúng ta hài lòng hơn.
Càng hiểu rõ bản thân, chúng ta càng có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểu hiện. Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thay đổi nhằm đến được nơi cần đến. Không có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắt chúng ta, khiến ta trở thành người mà mình không muốn. Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta có thể lựa chọn cách hành động hoặc phản ứng trong một tình huống nào đó hoặc với một người nào đó. Sự lựa chọn này trở thành sức mạnh, một sức mạnh nội tại không ai có thể lấy đi.
Một phần quan trọng khác của quá trình tự nhận thức là bạn cần hiểu rõ về trí óc và cơ thể mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi người cũng như phương pháp vận hành của chúng. Hình dung về trí óc còn được gọi là người que. Mô hình về trí óc và cơ thể của người que do Tiến sĩ Thruman Fleet, thuộc Đại học San Antonio, bang Texas, đưa ra vào khoảng năm 1934.
Filed under: Kinh nghiệm học tập | Leave a comment »
Vừa qua một phụ nữ mái tóc đã điểm bạc, tay ôm một chồng giấy tờ đến gặp phóng viên ĐS &PL trình bày việc gia đình bà bị án oan, sắp rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”. Lau vội những giọt nước mắt, người phụ nữ giới thiệu mình tên là Nguyễn Thị Trinh, trú tại TP.Pleiku – là bị đơn trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bà Trinh đề nghị báo ĐS &PL vào cuộc, bảo vệ lẽ phải cho người dân “thấp cổ bé họng” như bà.
Tin bạn mất… nhiều thứ
Căn cứ vào tài liệu và bản án dân sự phúc thẩm số 62 ngày 4.10.2007 của TAND tỉnh Gia Lai cho thấy: từ ngày 17.7.2005 đến ngày 25.8.2005 (âm lịch), bà Nguyễn Thị Trinh có viết 3 giấy vay tiền của bà Tôn Nữ Mỹ Loan với tổng số tiền là 250 triệu đồng (ngày 17.7 vay 50 triệu đồng, ngày 28.7 vay 50 triệu đồng và ngày 25.8 vay 150 triệu đồng). Bà Trinh có thế chấp quyết định cấp đất mang tên chồng là Trịnh Mai (chồng bà). Ngoài ra, giấy vay tiền thứ 4 ghi ngày 16.10.2005 (âm lịch) còn thể hiện bà Trinh vay 300 triệu đồng của bà Loan. Thời hạn vay là 1 năm, lãi suất 2,5%/tháng. Cho rằng bà Trinh vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay như hợp đồng đã giao kết, bà Loan đã nộp đơn yêu cầu TAND TP. Pleiku buộc bà Trinh phải trả tổng số nợ gốc là 550 triệu đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng, bà Trinh đã thừa nhận 4 giấy nợ là do bà viết. Nhưng bà cho rằng, 2 giấy nhận nợ ngày 17.7 và ngày 28.7 có cùng số tiền vay 50 triệu đồng thực chất chỉ là một khoản nợ (lý do bà Loan nói bị mất giấy nợ ngày 17.7 nên yêu cầu bà viết lại giấy nợ ngày 28.7). Về giấy vay tiền 300 triệu đồng, bà Trinh thừa nhận mình viết, nhưng chưa ghi tên người cho vay và ngày, tháng, năm. Giấy vay tiền này bà ghi trước, để đến nhà chị Tuyết vay tiền, nhưng không được. Vì lúc đó bà có việc phải đi TP.HCM nên chưa lấy lại tờ giấy vay nợ đó. Sau đó, bà Loan lấy giấy vay tiền này, ghi tên mình (Tôn Nữ Mỹ Loan – PV) là người cho vay để kiện bà. Ngược lại, bà Loan cho biết, trước đó đã cho bà Trinh vay 250 triệu đồng. Thấy số tiền cho vay lớn, nhưng không có tài sản thế chấp có giá trị tương đương, nên bà nói chuyện với bà Trinh. Theo đó, bà bỏ ra tiếp 126.070.000 đồng để cho bà Trinh trả cho ngân hàng. Mục đích là lấy giấy tờ nhà đã thế chấp tại ngân hàng, mang đến thế chấp cho chị Tuyết vay 300 triệu đồng, để trả nợ cho mình. Lúc đó, bà Trinh đã viết trước giấy nhận nợ cho chị Tuyết. Nhưng khi đến nhà chị Tuyết, thì chị Tuyết không cho vay, mà đòi thẩm định và phải có công chứng. Bà Trinh yêu cầu phải giao tiếp 173.030.000 đồng mới đưa giấy tờ nhà cho bà. Khi giao đủ tiền, bà Trinh đã giao giấy tờ nhà cho bà và nói: “bây giờ chị mượn tiền của em, thì em cứ ghi tên em và ngày tháng năm vào, miễn sao giấy nợ chị viết có chữ ký của chị là được rồi”. Bà Loan thừa nhận mình đề tên và ngày tháng vào giấy vay tiền 300 triệu đồng.
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | 1 Comment »
NGUYỄN CHÍ THÀNH
Cuộc khủng tài chính tại Mỹ đã có những dấu hiệu từ hơn một năm trước, bắt đầu bằng sự sụt giảm của thị trường bất động sản (BĐS) “từ bong bóng BĐS đến khủng hoảng tài chính”. Cuộc khủng hoảng BĐS nhanh chóng làm suy yếu hệ thống tài chính – ngân hàng của Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới. Sự sụt giá trên thị trường BĐS và các khoản đầu tư tài chính – BĐS nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập đoàn tài chính – ngân hàng.
Nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân hàng và công ty tài chính xiết chặt “hầu bao”, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng tăng vọt từng giờ. Các nguồn cung về tài chính bỗng trở nên cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ sụp đổ của hệ thống tài chính – ngân hàng và tất yếu một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện xảy ra. Hiện nay, “cơn bão” khủng hoảng tài chính đã diễn ra trên toàn thế giới và đang gây ra một “cơn địa chấn” đối với nền kinh tế toàn cầu.
Trước tình hình thị trường BĐS nước ta đang sụt giảm như hiện nay đã làm không ít người lo ngại sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến hệ thống tài chính – ngân hàng và hậu quả đối với nền kinh tế sẽ là không nhỏ. Tuy nhiên, theo số liệu công bố chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), “tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh BĐS đến nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống, số dư nợ trên chưa phải là lớn, tỷ trọng vẫn còn thấp và như vậy là không đáng lo ngại. Tín dụng BĐS hiện vẫn trong tầm kiểm soát của các ngân hàng thương mại (NHTM)”. Hơn nữa, nước ta đến nay vẫn chưa chứng khoán hoá các hợp đồng cho vay BĐS, do vậy, sự sụt giảm của thị trường BĐS sẽ không gây ra những tác động lớn như thị trường Mỹ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thị trường BĐS diễn biến như hiện nay chưa tác động lớn đến hệ thống NHTM, nhưng nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến các khoản nợ vay BĐS hiện nay của các NHTM trở thành nợ xấu, bởi vì:
Về phía các doanh nghiệp (DN) và chủ đầu tư BĐS
– Các DN và chủ đầu tư BĐS hiện đang thiếu vốn trầm trọng để triển khai các dự án vì phần lớn vốn của các DN và nhà đầu tư đều phải dựa vào sự tài trợ của các ngân hàng. Trong khi đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo NHNN Việt Nam (NHNN) cần có biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các NHTM rà soát lại các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao, trong đó có BĐS, tăng cường hơn nữa kiểm soát và phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cho vay BĐS. Chính vì vậy, buộc các NHTM sẽ tiếp tục siết chặt cho vay BĐS theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Việc duy trì các chính sách thắt chặt quản lý thị trường BĐS cùng với lãi suất cho vay cao không chỉ là khó khăn của các DN và các nhà đầu tư BĐS mà còn là rào cản trong tiếp cận vốn vay từ NHTM đối với người có nhu cầu mua nhà ở thật sự.
Filed under: Thị trường bất động sản | Leave a comment »
NGUYỄN CHÍ THÀNH
Cuộc khủng tài chính tại Mỹ đã có những dấu hiệu từ hơn một năm trước, bắt đầu bằng sự sụt giảm của thị trường bất động sản (BĐS) “từ bong bóng BĐS đến khủng hoảng tài chính”. Cuộc khủng hoảng BĐS nhanh chóng làm suy yếu hệ thống tài chính – ngân hàng của Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới. Sự sụt giá trên thị trường BĐS và các khoản đầu tư tài chính – BĐS nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập đoàn tài chính – ngân hàng.
Nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân hàng và công ty tài chính xiết chặt “hầu bao”, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng tăng vọt từng giờ. Các nguồn cung về tài chính bỗng trở nên cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ sụp đổ của hệ thống tài chính – ngân hàng và tất yếu một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện xảy ra. Hiện nay, “cơn bão” khủng hoảng tài chính đã diễn ra trên toàn thế giới và đang gây ra một “cơn địa chấn” đối với nền kinh tế toàn cầu.
Trước tình hình thị trường BĐS nước ta đang sụt giảm như hiện nay đã làm không ít người lo ngại sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến hệ thống tài chính – ngân hàng và hậu quả đối với nền kinh tế sẽ là không nhỏ. Tuy nhiên, theo số liệu công bố chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), “tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh BĐS đến nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống, số dư nợ trên chưa phải là lớn, tỷ trọng vẫn còn thấp và như vậy là không đáng lo ngại. Tín dụng BĐS hiện vẫn trong tầm kiểm soát của các ngân hàng thương mại (NHTM)”. Hơn nữa, nước ta đến nay vẫn chưa chứng khoán hoá các hợp đồng cho vay BĐS, do vậy, sự sụt giảm của thị trường BĐS sẽ không gây ra những tác động lớn như thị trường Mỹ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thị trường BĐS diễn biến như hiện nay chưa tác động lớn đến hệ thống NHTM, nhưng nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến các khoản nợ vay BĐS hiện nay của các NHTM trở thành nợ xấu, bởi vì:
Về phía các doanh nghiệp (DN) và chủ đầu tư BĐS
– Các DN và chủ đầu tư BĐS hiện đang thiếu vốn trầm trọng để triển khai các dự án vì phần lớn vốn của các DN và nhà đầu tư đều phải dựa vào sự tài trợ của các ngân hàng. Trong khi đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo NHNN Việt Nam (NHNN) cần có biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các NHTM rà soát lại các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao, trong đó có BĐS, tăng cường hơn nữa kiểm soát và phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cho vay BĐS. Chính vì vậy, buộc các NHTM sẽ tiếp tục siết chặt cho vay BĐS theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Việc duy trì các chính sách thắt chặt quản lý thị trường BĐS cùng với lãi suất cho vay cao không chỉ là khó khăn của các DN và các nhà đầu tư BĐS mà còn là rào cản trong tiếp cận vốn vay từ NHTM đối với người có nhu cầu mua nhà ở thật sự.
Filed under: Thị trường bất động sản | Leave a comment »
THS. NGUYỄN MẬU VIỆT HƯNG – Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội
Mục đích của định hướng dư luận xã hội là góp phần điều chỉnh hành vi, hướng tới làm thay đổi thái độ, nhận thức và hành động của các nhóm xã hội theo hướng có lợi cho một giai cấp nhất định.
1. Định hướng dư luận xã hội, một hoạt động quan trọng trong công tác tuyên giáo
Với tư cách là một hoạt động quan trọng trong lĩnh vực tuyên giáo, hoạt động định hướng dư luận xã hội là việc sử dụng các phương thức thông tin nhất định tác động vào các nhóm đề mang tính thời sự.
Ở đây dư luận xã hội được hiểu là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự”. Cách tiếp cận này cho thấy dư luận xã hội là hình thức tập hợp ngẫu nhiên ý kiến cá nhân thành những luồng ý kiến khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau cùng đánh giá, phán xét về một vấn đề, một sự kiện, một hiện tượng nào đó, nó có thể đúng, có thể sai, vì vậy người ta không thể dựa vào số đông người phản ánh làm căn cứ để kết luận sự đúng đắn của một vấn đề mà sự phản ánh đó bước đầu chỉ là sự bộc lộ của trạng thái tâm lý mang tính chủ quan của người đánh giá như tâm trạng, thái độ, tình cảm, mong muốn, nhu cầu… Các trạng thái tâm lý này luôn phụ thuộc vào trình độ nhận thức, lối sống của người phán xét. Số lượng người tán thành hoặc phản đối nhiều hay ít về một vấn đề nào đó một mặt có ý nghĩa như là sự thể hiện thái độ, tâm tư, nguyện vọng của nhóm xã hội mang ý kiến đó, mặt khác nó thể hiện quan điểm cá nhân của họ được quy định bởi hệ thống giá trị, chuẩn mực, lối sống trong quá trình xã hội hoá mà họ được tham gia. Điều này nói lên rằng công tác nghiên cứu nắm bắt dư luận xã hội có vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình định hướng dư luận xã hội. Cái khó của việc sử dụng thông tin dư luận xã hội là ở chỗ phải có cơ sở khách quan cho việc lựa chọn và sử dụng một luồng ý kiến nào đó trong số các luồng ý kiến đa dạng và trái ngược nhau đã được thu thập, phân loại để đưa ra kết luận, loại bỏ yếu tố chủ quan trong các luồng ý kiến khác nhau, phân tích, so sánh đối chiếu một cách khoa học, tìm ra ý nghĩa thực của những luồng thông tin thu được. Sử dụng thông tin dư luận không phải là sự chấp nhận đa số ý kiến tán thành, ủng hộ hay phản đối một vấn đề nào đó mà điều quan trọng là dựa trên cơ sở nào để tìm hiểu, đánh giá đúng đắn nguyên nhân phát sinh các luồng ý kiến đó trong các nhóm xã hội khác nhau.
Filed under: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI, Kinh nghiệm học tập, Thăm dò dư luận | Leave a comment »
ĐTH – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp
Một trong những thành tựu lớn nhất của nhân loại trong thể kỷ 20 là đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Hệ thống này trước hết phải kể đến Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn Nhân quyền (1948) và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị). Bên cạnh đó, hệ thống này còn có hàng trăm văn kiện quốc tế khác được ban hành dưới nhiều cấp độ pháp lý hình thức khác nhau như điều ước, công ước, nghị định thư, hướng dẫn, khuyến nghị… được các quốc gia thừa nhận và tôn trọng.
1. Hiến chương Liên hợp quốc
Hiến chương Liên hợp quốc được ban hành ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Đây là văn bản quốc tế rất quan trọng, không chỉ là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng thành lập Liên hợp quốc mà còn là văn kiện ghi nhận sự bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Hiến chương đã đặt nền móng cho việc thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của các quyền con người trên thế giới.
Lời mở đầu của Hiến chương xác định quyết tâm của nhân dân các nước: “…phòng ngừa cho những thế hệ tương lại khỏi thảm hoạ chiến tranh; …Tin tưởng vào những nguyên tắc cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, vào quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ; Tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước và các nguồn khác của Luật quốc tế đặt ra; Khuyến khích sự tiến bộ xã hội và nâng cao điều kiện sống trong một nền tự do rộng rãi hơn”. Điều 1 của Hiến chương xác định mục đích của Liên hợp quốc là “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con người và tự do cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Điều 3 Hiến chương kêu gọi các quốc gia “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người”. Hiến chương kêu gọi tất cả các nước cùng phối hợp hành động với Liên hợp quốc để đạt được việc tôn trọng và thực hiện quyền con người trên phạm vi toàn cầu.
Filed under: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, Quyền nhân thân, Điều ước quốc tế | Leave a comment »
HOÀNG TÚ ANH
Điều đáng lưu ý là cho đến nay tất cả các nước khi tiến hành điều tra áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng Việt Nam đều áp dụng cách so sánh giá xuất khẩu của Việt Nam với giá xuất khẩu của một nước thứ ba. Điều này có nghĩa là Việt Nam được xem như là một nước không có nền kinh tế thị trường mở. Ví dụ, Colombia khi điều tra đã lấy giá gạo xuất khẩu của Việt Nam so sánh với giá gạo xuất khẩu của Thái Lan. Tương tự, Canada đã lấy giá tỏi xuất khẩu của Việt Nam so với giá tỏi xuất khẩu của Mêhicô. Rõ ràng, cách áp dụng như vậy là không công bằng đối với hàng hóa của Việt Nam và thường dẫn đến việc hàng Việt Nam bị coi là bán phá giá.
Việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới và kinh tế khu vực sẽ mang lại cho các quốc gia các lợi ích và song song là các thách thức mới. Việt Nam cũng không là ngoại lệ khi mà chúng ta đang dần hoà nhập vào nền kinh tế thế giới với các nghiệp vụ kinh doanh mang tính chất xuyên quốc gia phát sinh và từ đó cũng nảy sinh các vấn đề mang tính chất quốc tế cần giải quyết.
Khi đó, việc tìm hiểu về luật kinh tế khi kinh doanh trên thương trường quốc tế trở nên mang tính sống còn. Chiến dịch chống cá tra và cá ba sa Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ thông qua vụ kiện bán phá giá đã là một ví dụ điển hình và kết quả của vụ kiện đã là một bài học quá đắt đỏ. Tất nhiên, các cuộc đương đầu như vậy sẽ không chỉ đối với Mỹ mà ở khắp các thị trường khác Canađa, các nước thuộc Liên minh châu Âu, …Không những thế, hiện tượng bán phá giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đã manh nha hình thành trên thị trường Việt Nam dưới các hình thức khác nhau nhằm thôn tính các doanh nghiệp Việt Nam yếu thế và ít kinh nghiệm.
Vậy thế nào là bán phá giá?
Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm được coi là bán phá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự trong nước theo các điều kiện buôn bán thông thường. Theo khái niệm như vậy thì có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của một nước đến một quốc gia nội địa nếu xét thấy:
Filed under: Chống bán phá giá, LTM - Pháp luật cạnh tranh | Leave a comment »
Việt nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thunhập với hơn 50 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Mục đích ký kết các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách: (a) miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt nam cho các đối tượng cư trú của nước ký kết hiệp định; hoặc (b) khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt nam đã nộp tại nước ký kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lý cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế các nước kết trong công tác quản lý thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản.
Các hiệp định Việt nam đã ký kết:
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG, LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT QUỐC TẾ | 1 Comment »
PHAN GIA TUỆ
Tòa phúc thẩm hủy án sơ thẩm để điều tra lại dẫn đến việc VKS đình chỉ vụ án vì đương sự không thực hiện tội phạm. Tòa sơ thẩm hay VKS phải bồi thường? Hơn hai năm lâm vào vòng tố tụng vì bị quy kết cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác, ngày 18-12-2007, ông Lê Văn Nhỏ, ngụ ấp 4, xã Khánh An, U Minh (Cà Mau) đã chính thức được minh oan. Từ đó đến nay, yêu cầu bồi thường oan của ông vẫn chưa hề được giải quyết.
Chuyện bé xé ra to
Vụ việc bắt đầu từ chiều 25-8-2004, khi nhà ông Nhỏ và một hàng xóm xảy ra cãi vã. Bà Trương Thị Vĩnh ở cùng xóm đến xem, sau đó có lời qua tiếng lại với gia đình ông Nhỏ gây mất trật tự. Một lúc sau, đội dân phòng ấp 4 cử ba dân phòng mang theo một cây dùi cui màu đen (kích thước 2,5 x 60 cm) đến can thiệp. Đến nhà ông Nhỏ, ba dân phòng đã mời các bên chửi nhau qua quán nước gần đó lập biên bản.
Theo hồ sơ, trong lúc đó, con trai bà Vĩnh nghe tin chạy đến, xông vào nhà ông Nhỏ ẩu đả với các con của ông Nhỏ. Lúc này ba dân phòng cùng bà Vĩnh và vợ ông Nhỏ rời khỏi quán giải khát về tới. Vào nhà, thấy con trai đang bị các con ông Nhỏ đè đánh, bà Vĩnh xông vào kéo con ra. Thế là vợ ông Nhỏ dùng một vật màu đen (không xác định được vật gì) đánh con bà Vĩnh. Một dân phòng can ra thì bị bà này đánh trúng tay chảy máu.
Thấy sự việc quá căng thẳng, một dân phòng khác đã bỏ cây dùi cui lên bàn để rảnh tay can ngăn, kéo con trai bà Vĩnh ra thì ông Nhỏ chộp lấy cây dùi cui đánh nhiều cái vào đầu, vai, tay của bà Vĩnh, sau đó để lại dùi cui lên bàn rồi bỏ ra nhà sau. Vợ ông Nhỏ còn dùng vỏ chai nước ngọt đánh trúng vai, tay của bà Vĩnh mấy cái…
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | Leave a comment »