DỰ THẢO LUẬT VỀ HỘI (Dự thảo 11)

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Luật này quy định về hội.

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Hội

1. Hội là tổ chức tự nguyện, bao gồm những người có cùng nhu cầu, mục đích, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên và cộng đồng; góp phần phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

2. Hội bao gồm hội có tư cách pháp nhân, hội không có tư cách pháp nhân.

Hội có tư cách pháp nhân là hội hoạt động thường xuyên, có điều lệ, đăng ký và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Hội không có tư cách pháp nhân là hội hoạt động không thường xuyên, không có điều lệ, hoạt động theo quy định của Chính phủ.

3. Hội có tư cách pháp nhân được tổ chức dưới hình thức hội đơn nhất hoặc liên hiệp.

Điều 2. Bảo đảm quyền lập hội

1. Công dân có quyền lập hội, gia nhập hội, ra khỏi hội theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền lập hội của công dân, tạo điều kiện cho hội hoạt động và phát triển.

3. Tổ chức và hoạt động của hội phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật.

Continue reading

NHỮNG DẤU HIỆU CẦN SUY NGẪM TRONG CHO VAY TIÊU DÙNG Ở KHỐI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI HIỆN NAY

KIM ANH

Từ ngày 5-12, lãi suất cơ bản sẽ giảm từ 11% xuống 10%/năm. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn và lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng giảm từ 12% xuống 11%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 10% xuống 9%/năm, và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc bằng đồng Việt Nam giảm từ 10% xuống 9%/năm. Điều này sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại hạ lãi suất cho vay hơn nữa, đồng thời các tổ chức tín dụng được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với những dự án kinh doanh có hiệu quả cao.

Từ động tác đón đầu…

Dù đến ngày 5-12 lãi suất cơ bản mới giảm xuống còn 10%/năm, và lãi suất cho vay tối đa chỉ còn 15%/năm, nhưng từ ngày 1-12-2008, hàng loạt ngân hàng thương mại đã giảm mạnh lãi suất cho vay lẫn huy động vốn.

Ngày 1-12, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mạnh tay giảm thêm 1,6% lãi suất cho vay VND, đưa lãi suất vay vốn ngắn hạn cao nhất về mức 13%/năm. Đặc biệt, mức lãi suất thấp nhất – 11,4%/năm, đã được áp dụng cho các đối tượng vay vốn kinh doanh các mặt hàng có thị trường tiêu thụ ổn định, trực tiếp sản xuất sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế, các đối tượng là doanh nghiệp nhỏ, và các khoản vay tài trợ xuất khẩu, thu mua lúa gạo. Lãi suất cho vay trung, dài hạn bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng phí tối thiểu là 3%/năm. “Đáy” lãi suất cho vay 11,4%/năm của BIDV chỉ tồn tại đúng một ngày.

Ngày 2-12 Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) đã giảm mạnh lãi suất cho vay ưu đãi bằng VND từ mức 12%/năm xuống còn 11%/năm. Một lãnh đạo của Vietcombank cho biết, đợt điều chỉnh giảm lãi suất lần này, Vietcombank hướng tới mục tiêu tập trung tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và nông thôn, xuất khẩu, nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.

Continue reading

THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NĂM 2009: NGÀNH NÀO HẤP DẪN NHẤT

image QUỲNH LAM

Một số dự báo nhận định thị trường lao động năm 2009 sẽ có sự “đổi ngôi” giữa các ngành nghề. Một phần nguyên do của hiện tượng này đến từ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới, và cũng đến từ cả những khó khăn nội tại của nền kinh tế trong nước.

Tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin u ám

Năm 2007 được xem là năm hoàng kim của ngành tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin. Năm 2008, những nghề này bắt đầu nằm trong diện chịu nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới cũng như những khó khăn trong nước.
Theo bà Winnie Lam, Giám đốc bộ phận Tư vấn nhân sự của Navigos Group, công ty cung cấp giải pháp nhân sự và tuyển dụng hàng đầu Việt Nam, trong tình hình kinh tế hiện nay, doanh nghiệp cũng như người lao động thường thận trọng hơn trong việc thay đổi nhân sự, thay đổi công việc. Với các công ty, thường thì họ chọn giải pháp hoặc bình ổn, hoặc thay đổi theo chiều hướng cắt giảm nhân sự.
Bà Winnie Lam cho rằng, khi quyết định cắt giảm nhân sự xảy ra, ảnh hưởng nhiều nhất sẽ đến với những ngành nghề đã phát triển quá nóng trong những năm qua. Tài chính, bất động sản, công nghệ thông tin chính là những ngành được dự báo là ảnh hưởng nhiều nhất.
Ngoài ra, sự đổ vỡ hàng loạt ngân hàng lớn trên thế giới vừa qua đã khiến cho lĩnh vực tài chính, vốn thu hút nhiều nhân lực những năm gần đây, co cụm lại và đối mặt với một cuộc khủng hoảng thừa. Điều này cũng đã và đang thể hiện ở trong nước.
Ví dụ, tại Citigroup, ngân hàng lớn thứ hai của Mỹ cũng vừa có kế hoạch sa thải thêm 52.000 nhân viên vào đầu năm 2009. Trong 9 tháng đầu năm 2008, tập đoàn này cũng đã cắt giảm 23.000 việc làm. Kế hoạch cắt giảm việc làm này nằm trong chính sách cắt giảm chi tiêu để đối phó với tình hình khủng hoảng.

Continue reading

VẤN ĐỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG LÀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NHÌN TỪ MỘT VỤ ÁN

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Nguyễn Thị A (ngụ tại thành phố (TP) Vũng Tàu) là chủ sở hữu 3 tàu đánh cá (số hiệu: BV-9244-TS, BV-9342-TS, BV-5741-TS) và đã thế chấp cho Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT) Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu (cho 3 hợp đồng tín dụng (HĐTD) với tổng nợ gốc 2.250 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng và 60 tháng) theo các hợp đồng thế chấp số 0612.0278 ngày 24/11/2006, số 0612.0299 ngày 28/12/2006 và số 0744.0003 ngày 10/01/2007 (các hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm tại TP. Hồ Chí Minh).

Trong tháng 4/2007, Nguyễn Thị A cùng 4 đồng phạm khác dùng 3 tàu trên đi biển để cắt cáp viễn thông. Khi bị khởi tố hình sự, cơ quan điều tra đã kê biên và giao 3 tàu cá cho gia đình A quản lý. Tại bản án sơ thẩm số 83/2008/HS-ST ngày 04/04/2008, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên: Nguyễn Thị A và các đồng phạm khác phạm vào tội “phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, với các mức án từ 3 đến 12 năm tù; xét thấy: trước khi các bị cáo sử dụng 3 tàu đánh cá làm phương tiện phạm tội thì 3 tàu này đã được thế chấp hợp pháp cho ngân hàng nên bản án đã giao cho NHCT Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu cùng Thi hành án và gia đình bà A thanh lý trước hạn 3 HĐTD, xử lý bán 3 tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại, nếu có, tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngày 18/04/2008, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có kháng nghị số 210/VKS đề nghị Toà phúc thẩm căn cứ Điều 41 Bộ luật Hình sự (BLHS) tuyên xử tịch thu 3 chiếc tàu để sung quỹ nhà nước (các bị cáo cũng có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt).

Giao dịch bảo đảm hợp pháp cũng trở nên vô nghĩa!

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 19/9/2008, đại diện VKSND tối cao giữ nguyên kháng nghị và Hội đồng xét xử đã tuyên: bác các kháng cáo và chấp nhận kháng nghị về việc xử lý tịch thu 3 tàu cá là vật chứng, với nhận định: mặc dù 3 tàu cá được thế chấp hợp lệ nhưng việc thế chấp không làm mất đi quyền sở hữu (của A với 3 tàu cá) nên vẫn đủ điều kiện tịch thu. Phán quyết này đã đẩy các khoản nợ vay có tài sản bảo đảm hợp pháp của bà A tại ngân hàng trở thành các khoản nợ không có bảo đảm, giao dịch bảo đảm trên thực tế cũng trở nên vô nghĩa. Và không ai khác, chính ngân hàng – người đã làm tất cả những việc mà luật quy định phải làm, là người phải gánh chịu một tình huống rủi ro vốn không thể lường định.

Continue reading

VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG TÍN CHỈ ĐẠI HỌC CHÂU ÂU

image GS. HÀ DƯƠNG TƯỜNG – Đại học Công nghệ Compiègne, Cộng hòa Pháp

Vấn đề “liên thông” giữa các trường đại học, cao đẳng là một vấn đề được bàn thảo nhiều ở Việt Nam (VN) trong vài năm gần đây. Tuy chỉ là một vấn đề “kỹ thuật” (trong nghĩa là những giải pháp được chọn lựa trong vấn đề này tương đối độc lập với các chọn lựa về cơ sở triết lý, tinh thần chủ đạo của giáo dục đại học), song nó có tầm quan trọng không nhỏ trong xã hội hiện nay, khi nhu cầu học thường xuyên của công dân, yêu cầu chuyển đổi công việc làm trong một đời người càng ngày càng lớn.

VN lại đương đẩy mạnh cuộc hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhất là với các nước láng giềng trong khu vực, dù là trong hay ngoài ASEAN, và việc tiếp nhận người lao động từ các nước khác cũng như việc người Việt đi lao động ở ngoại quốc (không chỉ giới hạn trong lao động giản đơn !) ngày sẽ càng nhiều. Những chuẩn mực so sánh được với đại học các nước khác do đó càng cần được tuân thủ, song song với yêu cầu nâng cao chất lượng của các trường, các cơ sở đào tạo trong nước.

Trong điều kiện đó, hiển nhiên cuộc cải tổ đang diễn biến tại châu Âu có thể gợi cho ngành đại học VN những ý tưởng, mở ra những cách tiếp cận mới… Tiếp theo bài “Giáo dục đại học theo hệ thống tín chỉ. Một kinh nghiệm” đã được đăng trên trang mạng của xêmina “Chấn hưng giáo dục”, bài viết này cố gắng trình bày một số nét chính của cuộc cải tổ đó, đứng về góc nhìn “liên thông” trong giáo dục đại học, như một đóng góp nhỏ vào cuộc thảo luận “kỹ thuật” nhưng cần thiết này.

Bài này sẽ gồm hai phần chính :

1/ Từ Tuyên bố Sorbonne ti Tuyên b Bologne, mt bước ngoặt của đại học châu Âu, trình bày quá trình và nội dung cuộc cải tổ.

2/ Hệ thống tín chỉ ECTS : một chuẩn mc liên thông dựa trên khối gi học tập, trình bày một vài nét chính về hệ thống tín chỉ này.

Trong cả hai phần, bài cũng sẽ cung cấp một vài thông tin về cuộc cải tổ trong đại học Pháp, như một ví dụ, vừa vì tác giả biết về nền đại học này nhiều hơn về các nền đại học của những nước châu Âu khác, vừa vì Pháp là một nước cho tới nay đại học chủ yếu là theo hệ thống niên chế, kinh nghiệm của sự chuyển đổi hệ thống có thể hữu ích nhiều cho VN chăng. Sau cùng là một vài lời kết luận.

Continue reading

VỀ THỰC CHẤT CỦA BƯỚC CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

NGUYỄN HỮU VƯỢNG

Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo xu hướng thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Ở nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới, mà hơn thế, còn là công cụ, là phương thức để đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Nền kinh tế nước ta hiện đang ở giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính – bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề đặc biệt có ý nghĩa, rất cần phải được nghiên cứu, xem xét: Nhận thức được thực chất của bước chuyển này, chi phối được nó, chúng ta sẽ tính được những sai lầm chủ quan, nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, “nhập ngoại” các mô hình kinh tế thị trường ngoại lai một cách máy móc.

Đúng như ý kiến của một số nhà nghiên cứu lý luận, thực chất của bước chuyển đó trước hết là ở sự đổi mới các quan hệ sở hữu. Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiều sở hữu tương đối thuần nhất với hai hình thức tập thể và Nhà nước, thì hiện nay, cùng với hình thức sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở hữu đó, trong thực tiễn vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau. Song về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thị trường.

Điều có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế quá độ ở nước ta hiện nay có lẽ vẫn là sự thừa nhận xu hướng chủ yếu trong sự vận động của nó: tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế Nhà nước để kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy và điều chỉnh các hoạt động của toàn bộ nền kinh tế đề trên cơ sở đó, giải quyết các vấn đề xã hội ngay ở tầng vĩ mô sao cho tăng trưởng kinh tế không trở nên mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thường của đời sống xã hội.

Continue reading

QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO VỀ CON NGƯỜI và quá trình hiện đại hóa xã hội

TS. NGUYỄN THANH – Đại học Mở TPHCM

TS. ĐỖ MINH HỢP  –  Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam

Khó có thể không nhận thấy một sự thực hiển nhiên là đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay đang tiến hành công cuộc hiện đại hóa, chính vì vậy mà chúng ta có thể khẳng định rằng, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan. Nhưng, vấn đề không hẳn là ở tính chất khách quan của quá trình hiện đại hóa mà còn ở khả năng đạt tới trình độ, tính hiện đại. Đây là vấn đề về chủ thể của hiện đại hóa, vì hiện đại hóa không những là một quá trình khách quan mà còn là một chính sách, tức nó có chủ thể của mình. Đến lượt mình, chủ thể này lại thể hiện là đại diện của một nền văn hóa xác định, do vậy khả năng thành công, tiến độ, tốc độ của hiện đại hóa cần được và trước hết phải được khảo cứu trên bình diện chủ thể của nó.

Trước khi đi sâu vào vấn đề khả năng hiện đại hóa đối với các xã hội phương Đông cùng với nền văn hóa Khổng giáo chiếm ưu thế, chúng tôi nghĩ rằng, cần phải khái quát những đặc điểm của xã hội hiện đại để có được cái nhìn rõ hơn về quá trình này trên phương diện chủ thể của nó.

Theo chúng tôi, một xã hội hiện đại là xã hội có những dấu hiệu sau đây: 1) mức độ đô thị hóa, 2) mức độ biết chữ và sự hiện diện một hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, 3) số lượng báo chí lưu hành, 4) dân chủ hóa chính trị, 5) bảo đảm tự do kinh doanh, 6) thừa nhận xã hội là một cơ thể thế tục, 7) nâng cao tính ổn định xã hội, 8 ) phân hóa ngành nghề, 9) hệ thống tổ chức xã hội của quần chúng, 10) ý thức của công dân về tổ quốc của mình, 11) hệ thống pháp luật phát triển, 12) tự do tinh thần. Hiện đại hóa đòi hỏi phải cải biến toàn bộ cơ cấu của xã hội, toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội và điều quan trọng nhất là cải biến bản thân con người. Hiện đại hóa không những là cải thiện mức sống vật chất mà còn là cải biến quan niệm, tâm tính của con người. Sống trong căn hộ hiện đại, có xe ô tô riêng, có đồ ăn phương Tây, ăn mặc kiểu phương Tây, tất cả những thứ đó vẫn chưa đủ để nói tới hiện đại hóa. Đối với một người thì hiện đại hóa có nghĩa là có tri thức và quan niệm hiện đại, hành động phù hợp với các chuẩn mực hiện đại, còn đối với cơ thể xã hội thì cần phải nói tới nhà nước pháp quyền, xu hướng dẫn tới công bằng, hợp lý và đồng thuận. Sẽ sai lầm nếu cho rằng, hiện đại hóa là hoàn toàn đoạn tuyệt với toàn bộ kinh nghiệm văn hóa và xã hội trước đó; hiện đại hóa không phải là một cuộc vận động chống lại truyền thống hay phi truyền thống, mà kế thừa, phát huy truyền thống. Hiện đại hóa có một phương diện quan trọng là hiện đại hóa chính trị. Nó bao gồm việc thay đổi cơ cấu và chức năng của hệ thống chính trị, hợp lý hóa hệ thống này; bao gồm việc dân chủ hóa quá trình thực hiện quyền lực của đa số (dân quyền), nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ.

Continue reading

QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO VỀ CON NGƯỜI VÀ QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA XÃ HỘI

TS. NGUYỄN THANH – Đại học Mở TPHCM

TS. ĐỖ MINH HỢP  –  Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam

Khó có thể không nhận thấy một sự thực hiển nhiên là đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay đang tiến hành công cuộc hiện đại hóa, chính vì vậy mà chúng ta có thể khẳng định rằng, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan. Nhưng, vấn đề không hẳn là ở tính chất khách quan của quá trình hiện đại hóa mà còn ở khả năng đạt tới trình độ, tính hiện đại. Đây là vấn đề về chủ thể của hiện đại hóa, vì hiện đại hóa không những là một quá trình khách quan mà còn là một chính sách, tức nó có chủ thể của mình. Đến lượt mình, chủ thể này lại thể hiện là đại diện của một nền văn hóa xác định, do vậy khả năng thành công, tiến độ, tốc độ của hiện đại hóa cần được và trước hết phải được khảo cứu trên bình diện chủ thể của nó.

Trước khi đi sâu vào vấn đề khả năng hiện đại hóa đối với các xã hội phương Đông cùng với nền văn hóa Khổng giáo chiếm ưu thế, chúng tôi nghĩ rằng, cần phải khái quát những đặc điểm của xã hội hiện đại để có được cái nhìn rõ hơn về quá trình này trên phương diện chủ thể của nó.

Theo chúng tôi, một xã hội hiện đại là xã hội có những dấu hiệu sau đây: 1) mức độ đô thị hóa, 2) mức độ biết chữ và sự hiện diện một hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, 3) số lượng báo chí lưu hành, 4) dân chủ hóa chính trị, 5) bảo đảm tự do kinh doanh, 6) thừa nhận xã hội là một cơ thể thế tục, 7) nâng cao tính ổn định xã hội, 8 ) phân hóa ngành nghề, 9) hệ thống tổ chức xã hội của quần chúng, 10) ý thức của công dân về tổ quốc của mình, 11) hệ thống pháp luật phát triển, 12) tự do tinh thần. Hiện đại hóa đòi hỏi phải cải biến toàn bộ cơ cấu của xã hội, toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội và điều quan trọng nhất là cải biến bản thân con người. Hiện đại hóa không những là cải thiện mức sống vật chất mà còn là cải biến quan niệm, tâm tính của con người. Sống trong căn hộ hiện đại, có xe ô tô riêng, có đồ ăn phương Tây, ăn mặc kiểu phương Tây, tất cả những thứ đó vẫn chưa đủ để nói tới hiện đại hóa. Đối với một người thì hiện đại hóa có nghĩa là có tri thức và quan niệm hiện đại, hành động phù hợp với các chuẩn mực hiện đại, còn đối với cơ thể xã hội thì cần phải nói tới nhà nước pháp quyền, xu hướng dẫn tới công bằng, hợp lý và đồng thuận. Sẽ sai lầm nếu cho rằng, hiện đại hóa là hoàn toàn đoạn tuyệt với toàn bộ kinh nghiệm văn hóa và xã hội trước đó; hiện đại hóa không phải là một cuộc vận động chống lại truyền thống hay phi truyền thống, mà kế thừa, phát huy truyền thống. Hiện đại hóa có một phương diện quan trọng là hiện đại hóa chính trị. Nó bao gồm việc thay đổi cơ cấu và chức năng của hệ thống chính trị, hợp lý hóa hệ thống này; bao gồm việc dân chủ hóa quá trình thực hiện quyền lực của đa số (dân quyền), nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ.

Continue reading

HIỂU ĐƯỢC SỰ KHÁC BIỆT GIỮA QUYẾT ĐỊNH “MUỐN” VÀ “NÊN”

image MINH HÀ (Dịch từ HSB)

Bánh pizza hay món sa-lát? Những người tiêu dùng có những ý kiến khác nhau khi mua những thứ mà họ muốn (bánh pizza) với những món ăn họ nên mua (món sa-lát). Trong bản nghiên cứu thói quen mua hàng tạp hóa và thuê đĩa DVD trực tuyến của người tiêu dùng, Katy Milkman và Todd Rogers thuộc trường Kinh doanh Harvard, cùng với giáo sư Max Bazerman, cung cấp những hiểu biết sâu sắc về sự xung đột giữa muốn và nên cũng như trách nhiệm của các nhà quản lý trong những lĩnh vực như dự đoán nhu cầu, thói quen mua sắm của người tiêu dùng, và cách xếp đặt hàng hóa cho phù hợp.

Những khái niệm chính bao gồm:

  • Mọi người thường nghĩ rằng họ sở hữu nhiều cái tôi với những quyền lợi cạnh tranh khác nhau – cái “tôi muốn” đấu tranh với cái “tôi nên”. Cái tôi muốn đòi hỏi phải có sự hài lòng ngay lập tức trong khi cái tôi nên lại hướng tới quyền lợi lâu dài hơn.

  • Khi đặt mua hàng cho một khoảng thời gian dài (trong vòng 5 ngày) thì người mua hàng trực tuyến sẽ cân nhắc chất lượng hàng hóa hơn là khi đặt mua hàng cho ngày hôm sau.

  • Các cửa hàng tạp hóa nên đặt hàng hóa (“nên” bán) ở gần nơi ra vào để có thể dễ tìm thấy. Những người bán lẻ hay bán buôn trực tuyến nên lường trước được thời gian chuyển giao đơn hàng đúng theo yêu cầu hơn nữa vì khách hàng không muốn mất thời gian.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU NHÀ: AI LÀ CHỦ SỞ HỮU THỰC SỰ TRONG VỤ “ĐÒI LẠI” NGÔI NHÀ TRỊ GIÁ 16 TỶ ĐỒNG?

THÀNH NAM

Một bên có tên trên hợp đồng mua bán và đã được cấp “sổ đỏ” chứng nhận quyền sử dụng, sở hữu nhà đất. Phía kia lại có giấy tờ gốc chứng minh được mình mới thực sự là người đã bỏ tiền ra mua nhà đất và “trót” nhờ phía bên kia đứng tên hộ vì quen biết, tin tưởng. Rắc rối đã phát sinh khi phía được cấp “sổ đỏ” đâm đơn ra tòa đòi quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.

Ai bỏ tiền mua nhà, đất?

Trao đổi với phóng viên ngày 3-12, đại diện TAND quận Hai Bà Trưng cho biết, theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ và ông Trần Thiện Cường (phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng), năm 1995, ông bà đã làm hợp đồng mua bán nhà, đất tại địa chỉ 100 Đại Cồ Việt (số cũ là 54) tại Phòng Công chứng số 1 TP Hà Nội.

Tiếp đó, năm 2001, ông bà được UBND TP Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với diện tích nhà đất này. Sau đó, ông bà  Cường – Lệ có cho ông Nguyễn Văn Điền – Giám đốc Công ty TNHH Long Sơn mượn để sử dụng. Đến năm 2006, ông bà nhiều lần đề nghị ông Điền trả lại nhà nhưng không được đáp ứng. Cuối cùng, ông Cường và bà Lệ đã khởi kiện đề nghị tòa án buộc ông Điền phải trả lại toàn bộ nhà đất tại 100 Đại Cồ Việt.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Điền, sự thật lại không phải như vậy. Ông Điền cho biết, đầu năm 1993, ông đã có ý định mua nhà tại địa chỉ 100 Đại Cồ Việt. Do việc mua nhà khi đó gặp khó khăn về mặt thủ tục, ông Điền đã nhờ ông Lê Văn Hợp và ông Nguyễn Văn Sắc (nhân viên Công ty Kinh doanh nhà) đứng ra lo thủ tục.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ: NHỔ NHẦM RĂNG, BỒI THƯỜNG RA SAO?

ÁI NHÂN

Nguyên đơn: Bệnh viện nhổ nhầm răng gây mất thẩm mỹ. Luật sư: Mất răng hàm chứ đâu phải răng cửa, có ai trông thấy đâu mà bảo mất thẩm mỹ…

Bà A vừa kháng cáo quyết định của TAND quận X (TP.HCM) đình chỉ giải quyết vụ bà kiện giám đốc bệnh viện Z đòi bồi thường 100 triệu đồng vì bị nhổ nhầm răng. Theo tòa, sau khi thụ lý, cán bộ tòa đã hai lần đến nhà gửi giấy triệu tập xét xử nhưng bà A đều đi vắng. Nhà không còn ai, cán bộ tòa phải niêm yết nhưng bà A cũng không đến nên tòa mới đình chỉ. Trong khi đó, bà A lại nói không nhận được giấy triệu tập, không hay biết gì về thông báo niêm yết…

Bị nhổ nhầm răng?

Vụ kiện ngộ nghĩnh này bắt đầu từ đầu năm nay. Theo đơn kiện, bà A có một cái răng hàm bị hỏng gây đau nhức đã lâu. Cuối năm 2007, bà đến bệnh viện Z để nhổ. Tại đây, sau khi được khám cẩn thận, bà được một bác sĩ gây tê rồi nhổ răng.

Nhổ xong, bà A yên tâm về nhà. Một giờ sau, khi thuốc tê giảm tác dụng thì bà thấy đau âm ỉ. Thắc mắc, bà xăm soi và phát hiện cái răng cần nhổ vẫn còn nguyên trong khi cái răng tốt kế bên thì đã… biến mất.

Vẫn đau nhức bởi cái răng hỏng, lại thêm tiếc cái răng khỏe bị “nhổ oan”, bà A rất tức giận, lập tức trở lại bệnh viện Z khiếu nại với bác sĩ đã nhổ răng cho mình. Tại đây, bác sĩ này nói đã nhổ răng theo đúng yêu cầu của bà. Hơn nữa, trước khi nhổ, bác sĩ còn khám răng theo đúng quy định nên không thể có chuyện nhổ nhầm răng.

Tranh cãi không có kết quả, bà A khiếu nại lên giám đốc bệnh viện Z. Ông này xem xét những điều bà A trình bày và hồ sơ của bác sĩ dưới quyền của mình rồi khẳng định là không hề có việc nhổ nhầm răng.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN

TRẦN VĂN TRUYỀN – Tổng Thanh tra Chính phủ

Thời gian qua, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã đạt được những kết quả, góp phần vào việc ổn định an ninh, chính trị, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số địa phương vẫn có chiều hướng gia tăng. Bài viết chỉ rõ nguyên nhân, nêu ra những giải pháp cần triển khai thực hiện tốt nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian tới.

Khiếu nại, tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khiếu nại, tố cáo là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức. Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước. Vì vậy, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân đặc biệt quan tâm. Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật, góp phần phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; tạo cơ sở pháp lý trong giải quyết khiếu nại, tố cáo Nhà nước ta đã ban hành Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004, 2005. Để phát huy và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của cả hệ thống chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW ngày 6-3-2002 về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay.

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI VÀ THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY

image TRẦN DUY HƯƠNG  – Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của con người đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật Nhà nước bảo vệ. Những chính sách, pháp luật về đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và nhất là về tôn giáo đã đi vào cuộc sống, được các giáo hội, các tu sĩ, chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo hoan nghênh. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang làm tất cả những gì có thể làm được nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới.

Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ tuyên bố vào năm 1776 ghi rõ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tuyên ngôn của cách mạng tư sản Pháp (1789) tuyên bố: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Những lời tuyên bố trong các tuyên ngôn nói trên đã khẳng định sự mong muốn của con người, của công dân với hai tư cách: tư cách con người nói chung và tư cách công dân của một quốc gia dân tộc nói riêng. Tuy nhiên, ở thời kỳ đầu, quyền con người mới được thể hiện với ý nghĩa trừu tượng, còn quyền công dân, trong đó cơ bản là quyền tư hữu thiêng liêng thì không bị giới hạn.

Quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân loại, của các dân tộc bị áp bức trên thế giới nhằm xác lập quyền bình đẳng, tự do trong các quan hệ giữa người và người, cũng như giữa các dân tộc; và đó cũng là thành quả đấu tranh của loài người nhằm hướng tới làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản thân mình. Đó là quyền của mỗi người với tư cách là thực thể tự nhiên và xã hội, không phân biệt quốc tịch, màu da, ngôn ngữ, chính kiến, v.v.. được bảo đảm bằng luật pháp quốc tế và quốc gia mà trước hết là luật pháp quốc gia.

Continue reading

NHỮNG ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT VỀ LUẬT LAO ĐỘNG TIÊU CHUẨN CỦA NHẬT BẢN

 image TLAMJP

Luật Lao Động tiêu chuẩn của Nhật Bản và những điều luật có liên quan khác điều chỉnh những đối tượng Lao Động nước ngoài đang làm việc tại Nhật Bản. Những điều luật này quy định trong những điều kiện nào thì các Lao Động nước ngoài tại Nhật Bản phải tuân thủ (trích dẫn).

(1) Nghiêm cấm có sự phân biệt chủng tộc dựa trên quốc tịch.

Điều luật này nghiêm cấm các nhà tuyển dụng có sự phân biệt đối xử với những công nhân về vấn đề lương, thời gian làm việc, các điều kiện làm việc do quốc tịch, tôn giáo hay địa vị xã hội của họ (điều 3 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

(2) Có chỉ dẫn rõ ràng về điều kiện làm việcTrong hợp đồng Lao Động, nhà tuyển dụng phải ghi rõ mức lương, thời gian làm việc, các điều kiện làm việc, cùng những vấn đề cụ thể khác. Các nhà tuyển dụng cần phải ghi rõ ra bằng văn bản rõ ràng những điều kiện này cho người được tuyển dụng biết (tại chú thích tuyển dụng) (theo điều luật 15 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

(3) Nghiêm cấm ép buộc Lao Động, trung gian bóc lột sức Lao Động

Nhà tuyển dụng không được quyền ép buộc người Lao Động bằng những hành động vi phạm hoặc gợi ý trái với ý muốn của người Lao Động. Trừ phi có sự cho phép của Luật Pháp, nhà tuyển dụng không được phép kiếm lợi nhuận từ việc phỏng vấn của người này như là sự kinh doanh cho sự tuyển dụng của người kia (điều 5 và điều 6 của Luật Lao Động tiêu chuẩn).

(4) Nghiêm cấm việc trong hợp đồng miêu tả sự đền bù do việc vi phạm hay không thực hiện hợp đồng.Việc miêu tả sự đền bù do việc vi phạm hay không thực hiện hợp đồng này như là việc một công nhân từ chức trước khi hoàn thành hợp đồng vân vân (điều 16 của Luật Lao Động cơ bản).

Continue reading

NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ NGHỊ QUYẾT SỐ 19/2008/QH12 NGÀY 03 THÁNG 6 NĂM 2008 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THÍ ĐIỂM CHO TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI MUA VÀ SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT – BỘ TƯ PHÁP

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhà ở không chỉ là tài sản lớn của mỗi cá nhân, hộ gia đình, nhà ở cũng được coi là điều kiện cần thiết đứng thứ ba sau ăn và mặc để giúp con người có thể yên tâm tham gia lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Đối với người nước ngoài có nhu cầu vào đầu tư làm ăn, học tập và sinh sống tại Việt Nam thì vấn đề nhà ở cũng là một trong những mối quan tâm hàng đầu của họ khi vào Việt Nam. Hiện nay, số lượng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc và sinh sống ngày càng nhiều thông qua nhiều con đường khác nhau như: làm việc trong các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài (Đại sứ quán, Lãnh sự quán), trong các tổ chức quốc tế của nước ngoài như UNDP, UNICEF, WHO, WB…, thông qua các dự án đầu tư, hợp tác khoa học, chuyên gia trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hoá thể thao… Đặc biệt, sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), số lượng người nước ngoài vào Việt Nam càng nhiều hơn thì vấn đề nhà ở cho người nước ngoài cũng cần phải được quan tâm giải quyết thoả đáng.

Trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách về nhà ở có liên quan đến người nước ngoài như Luật đất đai năm 2003, Luật nhà ở năm 2005, Luật kinh doanh bất động sản năm 2006…Các chính sách này đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, từng bước tạo điều kiện để người nước ngoài được tham gia đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề mà người nước ngoài quan tâm là quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của chính bản thân họ thì pháp luật lại chưa có quy định.

Qua nghiên cứu các chính sách về nhà ở mà Nhà nước ta đã ban hành trong thời gian vừa qua cho thấy, hiện nay pháp luật mới chỉ quy định cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam đầu tư kinh doanh bất động sản theo các dự án, trong đó có đầu tư xây dựng nhà ở để bán, cho thuê, còn vấn đề sở hữu nhà ở của các cá nhân nước ngoài như: các nhà ngoại giao, các nhà khoa học, các chuyên gia, các kỹ sư nước ngoài có tay nghề cao được mời vào Việt Nam làm việc hoặc những người đang làm việc tại một số tổ chức quốc tế có nhiều đóng góp cho Việt Nam như UNDP, WHO, UNICEF…và các tổ chức nước ngoài không có chức năng kinh doanh bất động sản thì chưa được đề cập. Do vậy, chưa khuyến khích được nhiều người, đặc biệt là các chuyên gia giỏi, những người có tay nghề cao vào Việt Nam làm việc.

Continue reading

NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LUẬT TRƯNG MUA, TRƯNG DỤNG TÀI SẢN

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT – BỘ TƯ PHÁP

Ngày 03 tháng 6 năm 2008, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá 12 đã thông qua Luật trưng mua, trưng dụng tài sản . Đây là văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, được soạn thảo và ban hành theo quy định tại Điều 23 Hiến pháp năm 1992.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

1. Tình hình trưng mua, trưng dụng tài sản ở Việt Nam

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những yêu cầu đặt ra là phải đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu về nhân lực, vật lực trong trường hợp xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra chiến tranh, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, tai nạn và các tình huống cấp thiết khác đe doạ nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và tính mạng, sức khoẻ của nhân dân, tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân. Trong những trường hợp đó, các quốc gia đều cho phép thực hiện trưng thu, trưng mua, trưng dụng tài sản của các tổ chức, cá nhân.

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, tại các Sắc lệnh số 9 ngày 06 tháng 9 năm 1945 và Sắc lệnh số 68 ngày 30 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời đã quy định: Trong thời kỳ quốc gia còn cần phải bảo vệ và củng cố nền độc lập trên khắp địa hạt Việt Nam, các nhà chức trách quân sự hoặc hành chính, nếu không điều đình thoả thuận được với tư nhân thì có quyền trưng dụng bất động sản; trưng thu hoặc trưng dụng động sản.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, trong từng thời kỳ Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực hiện chính sách trưng mua, trưng dụng tài sản:

a) Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ: Việc trưng mua, trưng dụng chủ yếu là huy động nhân lực, vật lực phục vụ kháng chiến. Với lòng yêu nước thiết tha, nhân dân đã hưởng ứng các biện pháp huy động của Nhà nước, trong đó đại bộ phận là quyên góp, ủng hộ Nhà nước; chỉ một số ít là trưng mua, trưng dụng. Khuôn khổ pháp lý để thực hiện trưng mua, trưng dụng trong thời kỳ này là Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời, Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà… Theo quy định tại các văn bản này, thì trong trường hợp cấp thiết, Nhà nước thực hiện trưng thu, trưng mua, trưng dụng tài sản là bất động sản, động sản của các tổ chức, cá nhân. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng được thanh toán tiền trưng mua hoặc tiền bồi thường tài sản trưng dụng. Tiền trưng mua hoặc tiền bồi thường được trả bằng tiền hoặc hiện vật. Người có tài sản trưng mua, trưng dụng phải chấp hành quyết định của cấp có thẩm quyền.

Continue reading

NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT – BỘ TƯ PHÁP

Tài sản nhà nước là điều kiện vật chất cơ bản giữ vị trí quan trọng đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, an ninh quốc phòng, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức, hội, đoàn thể cần được thể chế hoá bằng các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài sản.

Tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khoá XII, Quốc hội đã thông qua Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, ngày 12 tháng 6 năm 2008 Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 04/2008/L- CTN công bố Luật. Đây là lần đầu tiên các quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được quy định thống nhất trong một văn bản Luật, tạo tiền đề pháp lý cao trong việc quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản nhà nước.

II. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Thứ nhất: Yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững đòi hỏi phải phát huy cao độ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trong đó tài sản nhà nước là nguồn lực to lớn và đầy tiềm năng. Để phát huy có hiệu quả nguồn lực quan trọng này cần phải có Luật điều chỉnh việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Thứ hai: Cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và sự chuyển dịch cơ chế quản lý sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tài sản nhà nước không ngừng được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng, đối tượng sử dụng ngày càng đa dạng, nhiều nội dung mới xuất hiện đặt ra yêu cầu phải đổi mới công tác quản lý như: việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập để phát triển các hoạt động sự nghiệp, thực hiện xã hội hoá, giảm sức ép chi từ ngân sách nhà nước; việc đi thuê và cho thuê tài sản; việc sử dụng tài sản nhà nước để liên doanh, liên kết, … Theo đó, cơ chế tài chính đối với một số lĩnh vực, một số đối tượng đã có những thay đổi quan trọng (như chính sách tài chính khuyến khích xã hội hoá, khuyến khích huy động nguồn lực). Trong khi đó cơ chế quản lý tài sản nhà nước hiện hành tuy đã có những nội dung được đổi mới, nhưng nhìn chung còn manh mún, nặng về xử lý tình thế chưa theo kịp với tình hình thực tiễn. Để phù hợp với các tiến trình này, cơ chế quản lý tài sản nhà nước cần phải được hoàn thiện bổ sung cho phù hợp và phải được thể chế hoá thành luật.

Continue reading

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC: VẪN CÒN LẠC HẬU, CHẬM ĐỔI MỚI

THIÊN LONG

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức (ĐTBD CBCC) luôn được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thông qua hoạt động ĐTBD, bộ máy Nhà nước mới nâng cao hiệu lực quản lý, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, ổn định quốc phòng an ninh. Tuy nhiên, do một số chính sách còn thụ động, không sát với thực tế, nên hoạt động ĐTBD không phát huy hết được hiệu quả như các nhà làm chính sách mong muốn.

ĐTBD không sát với yêu cầu công việc của người học

Nhận xét về công tác ĐTBD CBCC hiện nay, ông Vũ Văn Quý – Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Tư pháp nêu ý kiến: CBCC chủ yếu bắt buộc lựa chọn các lớp học để nhằm hoàn chỉnh tiêu chuẩn, hoặc học để được bổ nhiệm, được chuyển ngạch cao hơn như học về quản lý Nhà nước. Tuy việc cử công chức đi học có lựa chọn, nhưng chủ yếu dựa vào thâm niên công tác, bậc lương, không qua thi cử. Đi học các lớp này, học viên chủ yếu vẫn là đối phó, học cho qua để lấy chứng chỉ, chứ chưa thật sự có mục đích học để nâng cao trình độ. Theo ông Vũ Văn Quý, chúng ta nên căn cứ vào vị trí công tác, yêu cầu nghiệp vụ cụ thể của từng cán bộ, công chức để xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp ĐTBD, tránh ĐTBD giống nhau, tràn lan cho mọi đối tượng. Ví dụ: đối với cán bộ đối ngoại, cần phải đào tạo sâu về ngoại ngữ; cán bộ quản lý đào tạo sâu về nghiệp vụ quản lý… Nếu tất cả CBCC đều học tất cả các loại chương trình, thì hiệu quả đào tạo sẽ kém đi.

Nói về công tác ĐTBD CBCC ở Hà Nội, bà Nguyễn Thị Vinh – Phó giám đốc Sở Nội vụ Hà Nội khảng khái nêu một số hạn chế: chúng ta chưa có tiêu chỉ đánh giá chất lượng ĐTBD CBCC. Hiện nay tiêu chí đánh giá kết quả ĐTBD còn là vấn đề nan giải, cần phải quan tâm nhiều hơn. Tình trạng lạc hậu, chậm đổi mới trong công tác ĐTBD là vấn đề “biết rồi, nói mãi”. Sự chậm đổi mới trong đào tạo thể hiện ở chỗ đào tạo còn định hướng theo cung. Nghĩa là ta có gì thì ĐTBD cái ấy, chứ chưa xuất phát từ nhu cầu đào tạo, từ sự cần thiết của các kỹ năng thực hiện công việc. Đối tượng ĐTBD còn tràn lan, đặc biệt là ở cấp quận, huyện. CBCC tham gia vào các khoá ĐTBD chủ yếu là do yêu cầu duy trì hay chuyển ngạch, trang bị cho mình các loại văn bằng, chứng chỉ, mà chưa chú trọng đến nâng cao năng lực làm việc.

Continue reading

VẤN ĐỀ TÊN GỌI VÀ CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN VÙNG BIỂN ĐÔNG

Đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Đại học Mở bán công TPHCM năm 2005 do Đinh Kim Phúc làm chủ nhiệm đề tài, cùng với các thành viên: Huỳnh Tấn Dũng, Huỳnh Trung Trực, Nguyễn thị Mộng Thúy, Hứa văn Đức và Th.S Mạnh Ngọc Hùng.

I. Ý nghĩa đề tài:

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia độc lập, có nền văn hiến
lâu đời và đang phát triển ở vùng Đông Nam Á. Diện tích chung toàn vùng lãnh thổ của Việt Nam là 329.314,5km2, dân số 82.032.300 người, mật độ trung bình trong cả nước là 249 người/km2 (số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2004). Lãnh thổ Việt Nam gồm có vùng núi, vùng trung du và đồng bằng, vùng biển, hải đảo và vùng trời. Phía Bắc, Việt Nam tiếp giáp với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và có đường biên giới chạy dài 1.150km. Về phía Tây, nước Việt Nam tiếp giáp nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân dân Lào và có 1.650km đường biên giới với nước này. Phía Tây Nam, Việt Nam tiếp giáp với lãnh thổ của Vương quốc Campuchia, có chiều dài 1.137km đường biên giới chung. Bờ biển của Việt Nam kể từ biên giới Việt-Trung cho đến biên giới Việt-Campuchia dài khoảng 3.260km. Nếu tính cả bờ biển các đảo và quần đảo trên biển Đông thì chiều dài này còn lớn hơn nhiều, khiến Việt Nam có độ dài bờ biển lớn hơn Thailand, ngang bằng với Malaysia và đứng đầu các nước ở bán đảo Trung Ấn. Theo Công ước Quốc tế, mỗi quốc gia có quyền ấn định lãnh hải của mình là 12 hải lý kể từ đường cơ sở, vùng tiếp giáp lãnh hải rộng 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế được quy định với chiều rộng là 200 hải lý. Thềm lục địa cũng được tính cho đến 200 hải lý. Như vậy, Việt Nam có chủ quyền trên một vùng biển khá rộng lớn, khoảng 1 triệu km2 ở biển Đông .Vùng biển Việt Nam hiện nay tiếp giáp với ranh giới, lãnh hải của tám quốc gia: Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Brunei, Campuchia, Thailand và Singapore.

Continue reading