TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở NHẬT BẢN

image TỪ NGUYỄN LINH

Nhật Bản được hình thành từ 4 hòn đảo chính tính từ Bắc đến Nam là: Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu. Tổng diện tích: 377.835 km2. Tổng dân số năm 2005: 127.417.244 người. Nhật Bản có 47 đơn vị hành chính địa phương tương đương cấp tỉnh trực thuộc chính quyền Trung ương. Tại mỗi tỉnh được chia ra thành các thành phố và huyện tùy thuộc vào quy mô.

Hệ thống an sinh xã hội

Hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hành Quy định cứu trợ nghèo đói vào năm 1874, sau đó lần lượt các luật liên quan đến các chính sách an sinh xã hội ra đời như: Luật Hưu trí, Luật BHYT, Luật Phúc lợi xã hội, Luật Vô gia cư… Hiện tại, hệ thống an sinh xã hội Nhật Bản bao gồm các chế độ sau:
– Cứu trợ xã hội: là chế độ mà Chính phủ đảm bảo mức sống tối thiểu cho tất cả những người gặp khó khăn trong cuộc sống và khuyến khích họ sống tự lập. Các hỗ trợ của Nhà nước bao gồm: chăm sóc y tế, kiếm sống, chi phí giáo dục, nhà ở, đào tạo nghề, xây dựng các cơ sở cứu trợ, phục hồi chức năng, chăm sóc y tế, ký túc xá cho người nghèo…

Continue reading

PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC

PGS.TS. NGUYÊN NHƯ PHÁT & TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH – Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lầm KHXH Việt Nam

1. Bồi thường Nhà nước – Sự bảo hộ pháp lý thứ phát

“Pháp luật về bồi thường Nhà nước“ là bộ phận pháp luật trong hệ thống pháp luật của CHLB Đức quy định về một loại hình trách nhiệm pháp lý đặc biệt: trách nhiệm của chủ thể thừa hành công vụ đối với các hành vi công quyền của mình trong quá trình thực hiện công vụ. Nói cách khác, loại hình trách nhiệm pháp lý này được áp dụng đối với hành vi công quyền (hành động hoặc không hành động) trên nền tảng pháp lý của Luật công. Mặc dù các chủ thể của hành vi công quyền phụng sự quốc gia theo những hình thức pháp lý khác với hình thức pháp lý của Luật dân sự, song hậu quả pháp lý của những hành vi này lại được xem xét dưới các hình thức trách nhiệm pháp lý của dân luật. Cụ thể là, nó cũng trở thành đối tượng của quyền khởi kiện theo dân luật như những vi phạm hợp đồng, ngoài hợp đồng và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

Do được hình thành trên nền tảng của các hành vi công quyền, nên pháp luật về bồi thường Nhà nước được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với các hình thức bảo vệ pháp lý của công dân trước sự xâm hại của các hành vi công quyền. Trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước, hành vi công quyền luôn tiềm ẩn một nguy cơ – xâm hại các quyền của công dân – cái luôn được Luật cơ bản (Hiến pháp liên bang)[1] của CHLB

Đức bảo hộ thông qua việc ghi nhận khả năng tố quyền theo Điều 19 khoản 4. Sự bảo hộ pháp lý này của Hiến pháp liên bang đã mở ra cho công dân Đức một khả năng, yêu cầu Tòa án xem xét lại tính hợp pháp của hành vi công quyền mà họ cho là đã vi phạm các quyền hợp pháp của họ (bảo vệ pháp lý nguyên phát- primorer Rechtsschutz). Tuy nhiên, sự bảo hộ pháp lý này không tồn tại một cách đơn lẻ. Nó được bảo vệ bổ sung thông qua pháp luật về bồi thường Nhà nước – bộ phận pháp luật đem lại một khả năng bổ sung là yêu cầu bồi thường đối với các hành vi công quyền xâm hại đến quyền công dân (bảo vệ pháp lý thứ phát- sekundọrer Rechtsschutz).

Continue reading

QUI ĐỊNH VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRÊN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Chinhphu.vn – Bộ Công Thương vừa có Thông tư hướng dẫn về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử. Đây là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho thương nhân và khách hàng khi tham gia giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam.

Chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được xem là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng

Thông tư đưa ra những quy định cơ bản của một hợp đồng thương mại điện tử; những điều khoản liên quan đến việc đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân, đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng và những quy định để đề nghị giao kết trở thành một hợp đồng thương mại điện tử, cũng như những quy định về việc chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

Để đảm bảo quyền lợi cho các khách hàng khi tham gia các website thương mại điện tử, bắt buộc các thương nhân phải công bố các điều khoản mua bán trên website của mình để khách hàng có thể xác định chính xác các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ trước khi đưa ra quyết định đặt mua.

Continue reading

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

GS.TS. NGUYỄN TRỌNG CHUẨN – Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Ý thức về trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại giúp cho người ta thấy rằng, thị trường thế giới rộng lớn, đầy tiềm năng trên phạm vi toàn cầu là môi trường vô cùng thuận lợi để tìm kiếm lợi nhuận không chỉ cho riêng mình, mà còn cho cả quê hương, đất nước và cho sự phát triển, sự tiến bộ chung của xã hội.

Bởi vậy, chỉ những ai biết tôn trọng khách hàng, biết tôn trọng đạo lý và biết lấy chữ tín làm đầu mới có hy vọng thành đạt trên cả thương trường trong nước lẫn thương trường quốc tế. Ý thức về trách nhiệm xã hội sẽ giúp những người sản xuất, kinh doanh tư điều chỉnh các hoạt động của mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực đạo đức đế hướng từ cái lợi, cái thiện và cái đẹp. Cái lỗi chính đáng sẽ càng sinh sôi, nảy nở và được củng cố thêm trên cơ sở của cái thiện, cái đẹp và của nhân nghĩa. Trong ý thức và trong sự thực hành thực tiễn trách nhiệm này sẽ có được một sự thống nhất giữa những gì khuyên ta nên làm với những gì ta có bổn phận phải làm” (I.Kant).

Continue reading

TRANH CHẤP LÃI SUẤT TRONG HỢP ĐỒNG VAY: NGÂN HÀNG CÓ QUYỀN TỰ Ý TĂNG LÃI SUẤT CHO VAY?

The-Thinker ÁI PHƯƠNG

Tuy hợp đồng ấn định mức lãi suất 0,88%/tháng nhưng viện lẽ mặt bằng lãi suất huy động tăng cao, ngân hàng đã nâng lên 1,75%/tháng.

Cần tiền cho con đi du học, ông Nguyễn Thành Kham (cư xá Chu Văn An, quận Bình Thạnh) đã làm thủ tục vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần X.

Chỉ giải ngân với lãi suất cao

Theo hợp đồng tín dụng được ký vào ngày 2-11-2007, Ngân hàng X đồng ý cho ông Kham vay gần 400 triệu đồng, thời hạn giải ngân tối đa đến hết ngày 31-12-2008. Lãi suất cho vay là 0,88%/tháng và mức lãi suất này là cố định trong thời gian 12 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực.

Ngân hàng đã làm thủ tục xuất tiền cho ông Kham (còn gọi là giải ngân) làm hai đợt với tổng số tiền hơn 150 triệu đồng. Đến 12-6, khi ông Kham đề nghị giải ngân hơn 200 triệu đồng còn lại thì ngân hàng lại cho biết mức lãi suất mới là 1,75%. Ông Kham thắc mắc thì được trả lời: “Mặt bằng lãi suất huy động tăng cao, lãi suất cho vay bình quân đang áp dụng là 1,75%/tháng. Nếu cần giải ngân gấp thì khách hàng phải chịu mức này”.

Continue reading

HOẠT ĐỘNG LUẬT SƯ: ĐANG Ở ĐÂU TRONG CÁC NHU CẦU XÃ HỘI?

logo_lawyers HUY LONG

Phát triển đội ngũ và hoạt động luật sư được đánh giá là thước đo mức độ dân chủ của một xã hội. Ở nước ta, nghề luật sư vẫn đang phấn đấu để theo kịp sự phát triển chung của thế giới. Tuy nhiên, vấn đề đang được toàn xã hội và bản thân giới luật sư quan tâm hiện nay là liệu luật sư đã thực sự phát huy được vai trò để đáp ứng nhu cầu của xã hội?

1. Luật sư đã là “cánh tay đắc lực” của doanh nghiệp?

Đồng hành …

Theo kết quả nghiên cứu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiến hành vào năm 2001 và tháng 6/2006 cho thấy triển vọng khá lớn về phát triển của đội ngũ và hoạt động luật sư ở nước ta trước sự quan tâm về các dịch vụ pháp lý phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của giới doanh nghiệp (DN). Bên cạnh đó, gần 1.000 công ty, văn phòng Luật trong nước và nước ngoài đi vào hoạt động với số luật sư ngày càng đông (hiện có gần 4.000 luật sư đang hành nghề trên cả nước) và vẫn đang tiếp tục được phát triển đã dự báo được khả năng ngày càng tăng cao của nhu cầu xã hội đối với hoạt động luật sư.

Continue reading

QUI ĐỊNH MỚI VỀ CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TRONG GIA ĐÌNH

LỆ HẰNG

Ngày 21/7/2008, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 66/2008/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư số 104/2000/TT-BTC ngày 23/10/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 19/2000/NĐ-CP ngày 09/6/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đấtLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Theo đó, các trường hợp văn bản chuyển nhượng, tặng, cho quyền sử dụng đất giữa cha, mẹ với con dâu, con rể được lập từ ngày 5/5/2008 trở đi thì không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất (CQSDĐ), kể cả khi cha, mẹ CQSDĐ cho con dâu, con rể theo pháp luật về thừa kế.

Trường hợp văn bản này được lập trước ngày 5/5/2008, nhưng đến ngày 5/5/2008 trở đi mới nộp hồ sơ kê khai thuế, nếu vẫn trong thời hạn kê khai thuế theo quy định (10 ngày, tính từ ngày lập xong văn bản chuyển nhượng, tặng, cho QSDĐ), cũng không phải nộp thuế CQSDĐ.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 176/KHXX NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 2006 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÁC NGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀ THI HÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
******

Số: 176/KHXX
V/v: Triển khai thực hiện các Nghị định
của Chính phủ về thi hành Luật thương mại

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
********

Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2006

Kính gửi : Các tòa án nhân dân và tòa án quân sự các cấp

Để thi hành Luật thương mại, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006  “Quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài” (sau đây viết tắt là Nghị định số 12) và Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 “Quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện” (sau đây viết tắt là Nghị định số 59). Nghị định số 59 thay thế Nghị định số 11/1999/NĐ-CP ngày 03/3/1999 “Về hàng hóa cấm lưu thông, dịch vụ thương mại cấm thực hiện; hàng hóa dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện”.

Để nhận thức đúng và thực hiện thống nhất một số quy định trong Nghị định số 12 và Nghị định số 59, ngày 13/9/2006, Tòa án nhân dân tối cao đã tổ chức cuộc họp gồm đại diện của các cơ quan: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Thương mại, Văn phòng Chính phủ, Ban chỉ đạo Trung ương 127/TW. Qua thảo luận, trao đổi, tất cả các đại biểu tham dự cuộc họp đều thống nhất các vấn đề cần được hướng dẫn và đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng ở trung ương sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 12 và Nghị định số 59 của Chính phủ trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự một số tội phạm.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 38/KHXX CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HƯỚNG DẪN VIỆC PHÁP NHÂN KHỞI KIỆN VÀ ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
—–
Số: 38/KHXX
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
——-

Hà Nội, ngày 29 tháng 3 năm 2007

CÔNG VĂN

HƯỚNG DẪN VIỆC PHÁP NHÂN KHỞI KIỆN VÀ ỦY QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ

Trong thời gian qua Tòa án nhân dân tối cao đã nhận được Công văn của một số Tòa án nhân dân địa phương và một số cơ quan, tổ chức kinh tế phản ánh còn có các cách hiểu khác nhau khi thực hiện hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 02) đối với các trường hợp văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của pháp nhân khởi kiện vụ án dân sự.

Để thực hiện đúng và thống nhất hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Phần I của Nghị quyết số 02 trong trường hợp pháp nhân hoặc văn phòng đại diện, chi nhánh của pháp nhân khởi kiện vụ án dân sự (vụ án dân sự gọi chung), Tòa án nhân dân tối cao giải thích và hướng dẫn bổ sung một số điểm như sau:

1. Về người đại diện hợp pháp của pháp nhân

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật dân sự và Điều 73 Bộ luật tố tụng dân sự thì người đại diện hợp pháp của pháp nhân có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Continue reading

ĐỂ SỬ DỤNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐÚNG QUI ĐỊNH, BẢO ĐẢM AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ

VÕ MƯỜI – Ngân hàng Nhà nước Quảng Ngãi

Ngày 29/12/1999, Chính phủ có Nghị định số 178/1999/ NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng (gọi tắt là Nghị định 178), trong đó Nghị định quy định tổ chức tín dụng được quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Quy định này đã mang lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng. Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc tuân thủ các điều kiện quy định về các biện pháp bảo đảm tiền vay của một số tổ chức tín dụng (TCTD) chưa được đầy đủ đã làm phát sinh nhiều khoản nợ không còn khả năng thu hồi, nguy cơ dẫn đến rủi ro đối với các ngân hàng cho vay (NHCV) là rất lớn.
Thực trạng áp dụng và nguyên nhân tồn tại
Quy định trên đã giúp NHCV chủ động hơn trong việc lựa chọn biện pháp bảo đảm tiền vay. Nhìn chung, việc được quyền tự lựa chọn, quyết định cho vay có bảo đảm bằng tài sản, cho vay không có bảo đảm đối với các NHCV trong thời gian qua không những đảm bảo tương thích với từng loại khách hàng vay, quy mô tín dụng không ngừng tăng trưởng mà còn đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả. Thực tế cho thấy, nhờ tính chủ động trong lựa chọn đã tạo điều kiện thuận lợi để NHCV có cơ hội quyết định đúng đắn biện pháp bảo đảm tiền vay, từ đó giúp nhiều doanh nghiệp nhà nước, các tổng công ty, doanh nghiệp có quy mô hoạt động lớn vay vốn không có tài sản bảo đảm đã tiết giảm được nhiều chi phí; đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các dự án/phương án khả thi và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, hoặc các doanh nghiệp có tài sản bảo đảm nhưng giá trị đảm bảo thấp đã không phải bỏ lỡ các cơ hội làm ăn, phát triển sản xuất kinh doanh.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 116/2004/KHXX NGÀY 22/07/2004 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO về việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Đất đai năm 2003

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các đơn vị trực thuộc Toà án nhân dân tối cao

Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2004. Toà án nhân dân tối cao cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư liên tịch hướng dẫn về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003. Trong khi chờ văn bản hướng dẫn của liên ngành, Toà án nhân dân tối cao lưu ý Toà án nhân dân các địa phương thực hiện một số điểm sau đây:

1. Về đối tượng đất mà tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993, các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết. Quy định này đã được hướng dẫn thi hành tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 116/2004/KHXX NGÀY 22/07/2004 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC THỰC HIỆN THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2003

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các đơn vị trực thuộc Toà án nhân dân tối cao

Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2004. Toà án nhân dân tối cao cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện kiểm sát nhân dân tối cao đang khẩn trương hoàn thiện Thông tư liên tịch hướng dẫn về thẩm quyền trong việc giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003. Trong khi chờ văn bản hướng dẫn của liên ngành, Toà án nhân dân tối cao lưu ý Toà án nhân dân các địa phương thực hiện một số điểm sau đây:

1. Về đối tượng đất mà tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993, các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết. Quy định này đã được hướng dẫn thi hành tại Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03-01-2002 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Địa chính “Hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất”.

Continue reading

VỀ VỤ TRẺ EM TẠI NAM ĐỊNH BỊ LÀM GIẢ HỒ SƠ ĐƯA ĐI LÀM CON NUÔI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI: "KHÔNG LOẠI TRỪ KHẢ NĂNG TRỤC LỢI"

image HỒNG THÚY – Báo Pháp luật (Thực hiện)

Thông tin về việc Công an tỉnh Nam Định khám phá vụ làm giả hồ sơ trẻ sơ sinh cho người nước ngoài nhận làm con nuôi tại Trung tâm trợ giúp nhân đạo huyện Ý Yên và Trung tâm bảo trợ xã hội Trực Ninh đang làm dư luận bất bình. Liệu đây có phải là một mắt xích của đường dây đưa trẻ em ra nước ngoài làm con nuôi? Phóng viên Báo Pháp luật VN đã có cuộc phỏng vấn ông Vũ Đức Long, Cục trưởng Cục Con nuôi Quốc tế, Bộ Tư pháp về vấn đề này.

PV: Xin ông cho biết quy trình để một trẻ em bị bỏ rơi được cho đi làm con nuôi người nước ngoài được tiến hành như nào?

*. Nó rất phức tạp. Một người nước ngoài muốn xin con nuôi Việt Nam trước hết phải nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi quốc tế, Bộ Tư pháp. Hồ sơ phải đầy đủ các loại giấy tờ theo đúng quy định của pháp luật. Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, Cục con nuôi Quốc tế cấp cho họ một cái giấy xác nhận đã nhận hồ sơ. Sau đó, nếu có thông tin về trẻ em bỏ rơi được các Cơ sở nuôi dưỡng địa phương nhận nuôi thì Cục gửi thư đề nghị Cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu trẻ. Lúc đó, Sở Tư pháp sẽ kết hợp với Cơ sở nuôi dưỡng làm thủ tục giới thiệu đứa trẻ gửi lên Bộ Tư pháp. Trên cơ sở hồ sơ do địa phương gửi lên, Cục Con nuôi quốc tế nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy đầy đủ, hợp lệ thì sẽ làm một Công văn đề nghị Sở Tư pháp cùng với Cơ sở nuôi dưỡng chuẩn bị hồ sơ con nuôi. Hồ sơ con nuôi được quyền chuẩn bị trong 1 – 2 tháng, gồm rất nhiều loại giấy tờ như Biên bản trẻ bỏ rơi, Tường trình, Quyết định nhận vào Cơ sở nuôi dưỡng, Phiếu khám sức khoẻ của trẻ, một số đánh giá về trẻ v.v… Đồng thời Sở phải có công văn xác định trẻ đủ điều kiện. Bước tiếp theo, Cục Con nuôi Quốc tế sẽ gửi một bộ hồ sơ hợp lệ đã nhận được cùng với Thư đồng ý đề nghị địa phương cho trẻ đi làm con nuôi. Khi có Thư đề nghị của Cục, Sở Tư pháp sẽ trình hồ sơ lên UBND tỉnh, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh (hoặc Phó Chủ tịch UBND tỉnh) ký quyết định đồng ý cho trẻ đi làm con nuôi người nước ngoài. Khi thủ tục được tiến hành hoàn tất thì địa phương mới tiến hành tổ chức bàn giao trẻ. Như vậy, toàn bộ quy trình này nếu làm đúng luật thì tối thiểu phải mất 4 tháng, trên thực tế thường kéo dài lâu hơn, phải 5 – 6 tháng. Toàn bộ hồ sơ về con nuôi quốc tế được lưu tại Bộ Tư pháp trong vòng 20 năm.

Continue reading

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

LƯƠNG ĐỨC TUẤN – Vụ pháp luật dân sự, kinh tế – Bộ Tư pháp

I. Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra
Chế độ trách nhiệm dân sự giữa cơ quan nhà nước với công dân khi công chức, viên chức nhà nước của cơ quan nhà nước gây ra trong thi hành công vụ đã được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta ( Điều 29 của Hiến Pháp 1959;  Điều 70 và Điều 73 của Hiến pháp năm 1980; Điều 12, Điều 71, Điều 72 và Điều 74 của Hiến pháp năm 1992 ).

Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đã xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC QUA MỘT SỐ VỤ VIỆC TẠI TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HOÀNG NGỌC CẦN – Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội

Nghị quyết 388 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI ban hành là một chủ trương chính sách lớn, rất mới của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết đã thể hiện rất rõ tinh thần nhân đạo, đồng thời mang tính nhân văn hết sức sâu sắc, thể hiện bản chất ưu việc của pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với nhận thức đó, ngay sau khi  thông tư liên tịch số 01 ngày 25 tháng 3 năm 2004 của Liên ngành trung ương hướng dẫn thực hiện, Viện trưởng – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định thành lập tổ công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho những người bị oan theo Nghị quyết 388. Tổ công tác có 06 thành viên ( bao gồm 3 đồng chí trưởng phòng nghiệp vụ khối hình sự, 1 đồng chí trưởng phòng khiếu tố và 1 lãnh đạo văn phòng ) do 1 đồng chí phó Viện trưởng Viện kiểm sát Hà Nội làm tổ trưởng. Đồng thời Viện trưởng – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cũng ban hành Quy định tạm thời về chế độ trách nhiệm và lề lối làm việc của tổ công tác.

Từ 18 tháng7 năm 2004 đến ngày 15 tháng 7 năm 2005, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận và thụ lý 07 đơn đòi bồi thường  theo NQ 388 với tổng số tiền yêu cầu bồi thường khoảng 11 tỷ 600 triệu đồng ( có 03 đơn chưa nêu số tiền cụ thể ).

Quá trình và kết quả giải quyết:

1. Đơn của ông Hoàng Hữu Hương – sinh năm 1965:

– Trú quán: 8c phố Vôi, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, Bắc Giang.

– Thụ lý đơn ngày 18 tháng 7 năm 2004

Continue reading

KHÁI LUẬN CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI

image Bài viết này được Civillawinfor tổng hợp trên cơ sở loạt bài của TS. Mạc Tiến Anh đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số 1/2005, 2/2005 và số 4/2005

TS. MẠC TIẾN ANH

1. Khái niệm

Để hiểu rõ khái niệm an sinh xã hội (ASXH), cần nhìn lại lịch sử phát triển của nhân loại.

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn.

Continue reading

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp. Khi của cải xã hội ngày càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng, điều này cho thấy việc thoả mãn nhu cầu của cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp, nghèo đói, chết… Đồng thời, con người còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội. Những điều kiện này không phải lúc nào và ở đâu cũng thuận lợi, may mắn. Những rủi ro này là khó có thể tránh khỏi và dự báo trước được. Mỗi khi như vậy, từng cá thể phải tìm mọi cách để khắc phục. Tập hợp các rủi ro, bất lợi của các cá nhân nêu trên chính là rủi ro có tính xã hội, thậm chí lại có tính toàn cầu đòi hỏi toàn nhân loại phải giải quyết. Để giải quyết tốt những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của mỗi nhà nước là phải xây dựng hệ thống chính sách xã hội mà an sinh xã hội là loại chính sách xã hội phổ biến.

Continue reading

ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PHẠM TRỌNG NGHĨA – Thanh tra Bộ lao đông, thương binh và xã hội

Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam gồm có nhiều bộ phận cấu thành khác nhau với 4 trụ cột chính là: Pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật BHXH, BHYT và pháp luật ưu đãi xã hội. Trong đó có bộ phận ra đời sớm (pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật ưu đãi xã hội) và có bộ phận ra đời muộn (pháp luật BHXH). Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, pháp luật an sinh xã hội đã góp phần đáng kể trong việc đảm bảo quyền được trợ cấp của những thành viên trong xã hội khi gặp rủi ro trong cuộc sống giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, pháp luật an sinh xã hội hiện hành vẫn chứa đựng những hạn chế cả về kỹ thuật lập pháp cả về tổ chức triển khai thực tiễn. Những hạn chế này đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Bài viết này nhằm mục đích nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Xác định mô hình của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam

Pháp luật an sinh xã hội là sự phản ánh có ý thức sự tồn tại, vận động của hệ thống an sinh xã hội trên thực tiễn. Để xây dựng một hệ thống pháp luật an sinh xã hội đồng bộ toàn diện có “sức sống”, có “tầm nhìn” vừa đảm bảo về mặt kỹ thuật lập pháp vừa đảm bảo tính khả thi trên thực tiễn, trước tiên chúng ta phải lựa chọn xây dựng được mô hình lý luận của hệ thống an sinh xã hội.
Trên thế giới vẫn tồn tại nhiều quan điểm và mô hình xây dựng hệ thống an sinh xã hội khác nhau.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT 1373 NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 2001 CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC về phong tỏa, tịch thu tài sản của các phần tử khủng bố và tài trợ cho khủng bố

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,

Khẳng định lại Nghị quyết số 1269 ngày 19/10/1999 và Nghị quyết số 1368 ngày 12/9/2001,

Tái khẳng định tội ác rõ rệt của vụ tấn công khủng bố tại New York, Washington D.C và Pennsylvania vào ngày 11/9/2001 và thể hiện quyết tâm ngăn chặn tất cả các loại hành động như vậy,

Một lần nữa, khẳng định rằng những hành động khủng bố quốc tế kiểu như thế, sẽ đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế do các hành động khủng bố gây ra,

Tái khẳng định sự tồn hữu quyền cá nhân hoặc quyền tự vệ chung theo như quy định trong hiến chương của Liên hiệp quốc trong Nghị quyết 1368 (2001),

Một lần nữa, khẳng định sự cần thiết, bằng mọi biện pháp phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc, chống lại sự đe doạ hoà bình và an ninh thế giới,

Lo ngại sâu sắc, ở hầu hết các khu vực trên thế giới về gia tăng các hành động khủng bố được hậu thuẫn bởi sự kích động hoặc chủ nghĩa cực đoan,

Kêu gọi các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố,

Nhận thức được sự cần thiết của các quốc gia hỗ trợ cho hợp tác quốc tế bằng cách áp dụng các biện pháp tăng cường phòng và chống việc tài trợ chuẩn bị bất kỳ hành động khủng bố nào trong nội địa quốc gia, thông qua các công cụ pháp luật phù hợp,

Tái khẳng định các nguyên tắc thiết lập bởi Đại Hội đồng trong tuyên ngôn tháng 10/1970 (nghị quyết 2625 (XXV) và được lặp lại bởi Hội đồng Bảo an trong Nghị quyết 1189 (1998 ) ngày 13/8/1998 cho rằng tất cả các quốc gia có nghĩa vụ kiềm chế các hoạt động tổ chức, xúi bẩy, hỗ trợ hoặc tham gia vào các hoạt động khủng bố tại các quốc gia khác hoặc đồng thuận với những hoạt động có tính tổ chức trong nội địa quốc gia mình nhằm hướng tới thực hiện các hoạt động đó.

Thực hiện theo Chương VII của Hiến chương Liên hiệp quốc.

Continue reading