CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG PHÁP LUẬT CỘNG HOÀ PHÁP[1]

381819075_1a6737187a_m TS. NGUYỄN THỊ THU VÂN

1. Sự ra đời chế định trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong pháp luật Cộng hoà Pháp
Khác với một số quốc gia theo hệ thống pháp luật thành văn khác (như Nhật Bản, Trung Quốc), Cộng hoà Pháp không có một đạo luật riêng biệt về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chế định về trách nhiệm bồi thường Nhà nước trong pháp luật Pháp nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau và có phạm vi khá rộng. Vào thời điểm khi mới hình thành, chế định này không phải là kết quả trực tiếp của một quy trình pháp điển hoá các quy phạm pháp luật cụ thể, nghĩa là không xuất phát từ ý chí của nhà lập pháp, mà nó là kết quả của thực tiễn xét xử của các toà án Pháp. Sau nhiều năm, việc hoàn thiện chế định này mới được thực hiện qua việc ban hành một số đạo luật. Hiện nay, Pháp cũng không có hướng ban hành một đạo luật riêng biệt điều chỉnh vấn đề này.
Quá trình phát triển chế định bồi thường Nhà nước của Cộng hoà Pháp cho thấy, trước năm 1873, trong pháp luật Pháp cũng như trong thực tiễn xét xử không tồn tại chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đối với cá nhân. Trong thời kỳ này, trừ một số trường hợp ngoại lệ mà cơ quan Nhà nước phải bồi thường thiệt hại do việc thực hiện công trình công cộng gây ra, Nhà nước không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công dân. Chỉ đến ngày 8/02/1873, lần đầu tiên, qua Bản án Blanco[2] – bản án tạo ra một điểm mốc quan trọng trong sự hình thành chế định bồi thường Nhà nước của Cộng hoà Pháp và được coi là một “hòn đá tảng” trong nền pháp luật hành chính của Pháp – các thẩm phán của Toà án xung đột thẩm quyền đã thừa nhận trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Continue reading

TÌM HIỂU PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC Ở CANADA

image CAO ĐĂNG VINH –      Vụ PL Dân sự – Kinh tế, Bộ Tư pháp

Ngày 14 tháng 5 năm 1953, Luật về Trách nhiệm Nhà nước (Crown Liability Act) của Liên bang Canada được ban hành có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm của Nhà nước đối với tất cả các loại thiệt hại do vi phạm ngoài hợp đồng gây ra do lỗi cố ý vi phạm cũng như do những lỗi bất cẩn của các cơ quan/công chức Nhà nước. Luật đã đi theo hướng xác định Nhà nước có thể phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do cơ quan/công chức của mình gây ra như các cá nhân khác theo quy định của pháp luật dân sự nói chung.

Năm 1990, Luật về Trách nhiệm Nhà nước được sửa đổi thành Luật về Thủ tục và Trách nhiệm Nhà nước (Crown Liability and Proceedings Act). Luật này bao gồm Lời nói đầu, giải thích thuật ngữ và 2 phần, với tổng số 36 điều (section). Bên cạnh đó, Chính phủ Canada cũng ban hành Quy định hướng dẫn các nguyên tắc và thủ tục liên quan đến thủ tục tố tụng ở Toà án cấp bang theo quy định tại Phần II của Luật về Thủ tục và Trách nhiệm Nhà nước. Trên cơ sở các quy định chung của Liên bang, nhiều bang cũng ban hành Luật riêng hướng dẫn như bang Manibota ban hành Luật về Thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1990, bang Ontario ban hành Luật về Thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1990 (được sửa đổi năm 1994, 1997, 2004), bang Nova Scotia ban hành Luật về Thủ tục khởi kiện Nhà nước năm 1989 (được sửa đổi năm 1991), …

Continue reading

DÂN SỐ VIỆT NAM: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT

PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH CỬ – Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân

Sau 15 năm (1993 – 2008 ) thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa VII, về chính sách Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, tình hình dân số nước ta đã có những thay đổi rất căn bản. Mục tiêu cốt lõi của chính sách này là giảm sinh và thực hiện “mỗi cặp vợ chồng có 2 con” đã đạt được. Năm 1999, Liên hợp quốc đã tặng Giải thưởng Dân số cho Việt Nam. Để có những khuyến nghị phù hợp góp phần xây dựng và thực hiện chính sách dân số giai đoạn từ 2008 đến 2015, việc làm rõ những đặc điểm nổi bật của dân số nước ta hiện nay là vấn đề rất cần thiết.

1 – Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh

Theo Tổng cục Thống kê, năm 2006, Việt Nam có khoảng 84.155.800 người; năm 2008, con số đó không dưới 86 triệu, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Nhưng, nếu chỉ nói đến số dân hay quy mô dân số thì chưa thể hiểu hết tình hình. Cần phải xem xét mối tương quan giữa số dân và tài nguyên, nhờ đó mà nhân loại tồn tại và phát triển. Trước hết là đất đai – thứ tài nguyên mà nếu thiếu, chúng ta cũng không nhập khẩu được. Một cách đơn giản nhất, chung nhất, người ta dùng chỉ tiêu mật độ dân số để nghiên cứu mối quan hệ giữa dân số và đất đai.

Continue reading

BÁO ĐỘNG GIỚI TÍNH DÂN SỐ: 112 BÉ TRAI/100 BÉ GÁI

population-six-billion-1 VOV – Trong khi dân số Việt Nam đang tăng ở mức báo động thì tình trạng chênh lệch giới tính ở trẻ sơ sinh cũng đang trở thành mối quan tâm của nhiều người. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, điều này sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khó lường khác…
Kết quả điều tra mới nhất về các vấn đề nóng của dân số Việt Nam của Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) cho thấy, năm 2007 cứ 112 bé trai ra đời mới có 100 bé gái được sinh ra, cao hơn năm 2006 và hơn mức bình thường (tỷ lệ 107/103). Đáng chú ý, năm 2007 có tới 35 tỉnh có tỷ lệ giới tính khi sinh là 110 bé trai/100 bé gái trở lên, trong khi đó năm 2006 có 19 tỉnh.

Khi tỉ lệ giới tính trai-gái ở mức 106/100 các chuyên gia về dân số đã bắt đầu lo ngại. Tuy nhiên khi đạt đến mức 110/100, thì thực sự trở thành điều báo động vì những tác hại tiềm ẩn về lâu dài. Số lượng bé trai ở nhiều vùng tại Việt Nam đã vượt số lượng bé gái đến 20%. Hậu quả của việc chênh lệch giới tính trẻ sơ sinh chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khó lường khác.

Continue reading