VỀ VỤ TRẺ EM TẠI NAM ĐỊNH BỊ LÀM GIẢ HỒ SƠ ĐƯA ĐI LÀM CON NUÔI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI: "KHÔNG LOẠI TRỪ KHẢ NĂNG TRỤC LỢI"

image HỒNG THÚY – Báo Pháp luật (Thực hiện)

Thông tin về việc Công an tỉnh Nam Định khám phá vụ làm giả hồ sơ trẻ sơ sinh cho người nước ngoài nhận làm con nuôi tại Trung tâm trợ giúp nhân đạo huyện Ý Yên và Trung tâm bảo trợ xã hội Trực Ninh đang làm dư luận bất bình. Liệu đây có phải là một mắt xích của đường dây đưa trẻ em ra nước ngoài làm con nuôi? Phóng viên Báo Pháp luật VN đã có cuộc phỏng vấn ông Vũ Đức Long, Cục trưởng Cục Con nuôi Quốc tế, Bộ Tư pháp về vấn đề này.

PV: Xin ông cho biết quy trình để một trẻ em bị bỏ rơi được cho đi làm con nuôi người nước ngoài được tiến hành như nào?

*. Nó rất phức tạp. Một người nước ngoài muốn xin con nuôi Việt Nam trước hết phải nộp hồ sơ tại Cục Con nuôi quốc tế, Bộ Tư pháp. Hồ sơ phải đầy đủ các loại giấy tờ theo đúng quy định của pháp luật. Nếu thấy hồ sơ hợp lệ, Cục con nuôi Quốc tế cấp cho họ một cái giấy xác nhận đã nhận hồ sơ. Sau đó, nếu có thông tin về trẻ em bỏ rơi được các Cơ sở nuôi dưỡng địa phương nhận nuôi thì Cục gửi thư đề nghị Cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu trẻ. Lúc đó, Sở Tư pháp sẽ kết hợp với Cơ sở nuôi dưỡng làm thủ tục giới thiệu đứa trẻ gửi lên Bộ Tư pháp. Trên cơ sở hồ sơ do địa phương gửi lên, Cục Con nuôi quốc tế nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy đầy đủ, hợp lệ thì sẽ làm một Công văn đề nghị Sở Tư pháp cùng với Cơ sở nuôi dưỡng chuẩn bị hồ sơ con nuôi. Hồ sơ con nuôi được quyền chuẩn bị trong 1 – 2 tháng, gồm rất nhiều loại giấy tờ như Biên bản trẻ bỏ rơi, Tường trình, Quyết định nhận vào Cơ sở nuôi dưỡng, Phiếu khám sức khoẻ của trẻ, một số đánh giá về trẻ v.v… Đồng thời Sở phải có công văn xác định trẻ đủ điều kiện. Bước tiếp theo, Cục Con nuôi Quốc tế sẽ gửi một bộ hồ sơ hợp lệ đã nhận được cùng với Thư đồng ý đề nghị địa phương cho trẻ đi làm con nuôi. Khi có Thư đề nghị của Cục, Sở Tư pháp sẽ trình hồ sơ lên UBND tỉnh, đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh (hoặc Phó Chủ tịch UBND tỉnh) ký quyết định đồng ý cho trẻ đi làm con nuôi người nước ngoài. Khi thủ tục được tiến hành hoàn tất thì địa phương mới tiến hành tổ chức bàn giao trẻ. Như vậy, toàn bộ quy trình này nếu làm đúng luật thì tối thiểu phải mất 4 tháng, trên thực tế thường kéo dài lâu hơn, phải 5 – 6 tháng. Toàn bộ hồ sơ về con nuôi quốc tế được lưu tại Bộ Tư pháp trong vòng 20 năm.

Continue reading

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

LƯƠNG ĐỨC TUẤN – Vụ pháp luật dân sự, kinh tế – Bộ Tư pháp

I. Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra
Chế độ trách nhiệm dân sự giữa cơ quan nhà nước với công dân khi công chức, viên chức nhà nước của cơ quan nhà nước gây ra trong thi hành công vụ đã được ghi nhận trong Hiến pháp của nước ta ( Điều 29 của Hiến Pháp 1959;  Điều 70 và Điều 73 của Hiến pháp năm 1980; Điều 12, Điều 71, Điều 72 và Điều 74 của Hiến pháp năm 1992 ).

Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về các quyền cơ bản của công dân trong lĩnh vực dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 10 năm 1995 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 1996 đã xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC QUA MỘT SỐ VỤ VIỆC TẠI TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

HOÀNG NGỌC CẦN – Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội

Nghị quyết 388 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá XI ban hành là một chủ trương chính sách lớn, rất mới của Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết đã thể hiện rất rõ tinh thần nhân đạo, đồng thời mang tính nhân văn hết sức sâu sắc, thể hiện bản chất ưu việc của pháp luật xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với nhận thức đó, ngay sau khi  thông tư liên tịch số 01 ngày 25 tháng 3 năm 2004 của Liên ngành trung ương hướng dẫn thực hiện, Viện trưởng – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định thành lập tổ công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho những người bị oan theo Nghị quyết 388. Tổ công tác có 06 thành viên ( bao gồm 3 đồng chí trưởng phòng nghiệp vụ khối hình sự, 1 đồng chí trưởng phòng khiếu tố và 1 lãnh đạo văn phòng ) do 1 đồng chí phó Viện trưởng Viện kiểm sát Hà Nội làm tổ trưởng. Đồng thời Viện trưởng – Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội cũng ban hành Quy định tạm thời về chế độ trách nhiệm và lề lối làm việc của tổ công tác.

Từ 18 tháng7 năm 2004 đến ngày 15 tháng 7 năm 2005, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã nhận và thụ lý 07 đơn đòi bồi thường  theo NQ 388 với tổng số tiền yêu cầu bồi thường khoảng 11 tỷ 600 triệu đồng ( có 03 đơn chưa nêu số tiền cụ thể ).

Quá trình và kết quả giải quyết:

1. Đơn của ông Hoàng Hữu Hương – sinh năm 1965:

– Trú quán: 8c phố Vôi, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, Bắc Giang.

– Thụ lý đơn ngày 18 tháng 7 năm 2004

Continue reading

KHÁI LUẬN CHUNG VỀ AN SINH XÃ HỘI

image Bài viết này được Civillawinfor tổng hợp trên cơ sở loạt bài của TS. Mạc Tiến Anh đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số 1/2005, 2/2005 và số 4/2005

TS. MẠC TIẾN ANH

1. Khái niệm

Để hiểu rõ khái niệm an sinh xã hội (ASXH), cần nhìn lại lịch sử phát triển của nhân loại.

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thoả mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác, chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… Hơn nữa, cuộc sống của con người trên trái đất phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống. Những điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi đã làm cho một bộ phận dân cư cần phải có sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường. Do đó, để tồn tại và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn.

Continue reading

NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

TS. LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp. Khi của cải xã hội ngày càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng, điều này cho thấy việc thoả mãn nhu cầu của cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.

Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời không phải lúc nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập, trái lại có nhiều trường hợp xảy ra gây cho con người bị giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, tai nạn, già yếu, thất nghiệp, nghèo đói, chết… Đồng thời, con người còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội. Những điều kiện này không phải lúc nào và ở đâu cũng thuận lợi, may mắn. Những rủi ro này là khó có thể tránh khỏi và dự báo trước được. Mỗi khi như vậy, từng cá thể phải tìm mọi cách để khắc phục. Tập hợp các rủi ro, bất lợi của các cá nhân nêu trên chính là rủi ro có tính xã hội, thậm chí lại có tính toàn cầu đòi hỏi toàn nhân loại phải giải quyết. Để giải quyết tốt những vấn đề xã hội, một trong những nhiệm vụ cơ bản của mỗi nhà nước là phải xây dựng hệ thống chính sách xã hội mà an sinh xã hội là loại chính sách xã hội phổ biến.

Continue reading

ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PHẠM TRỌNG NGHĨA – Thanh tra Bộ lao đông, thương binh và xã hội

Pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam gồm có nhiều bộ phận cấu thành khác nhau với 4 trụ cột chính là: Pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật BHXH, BHYT và pháp luật ưu đãi xã hội. Trong đó có bộ phận ra đời sớm (pháp luật cứu trợ xã hội, pháp luật ưu đãi xã hội) và có bộ phận ra đời muộn (pháp luật BHXH). Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, pháp luật an sinh xã hội đã góp phần đáng kể trong việc đảm bảo quyền được trợ cấp của những thành viên trong xã hội khi gặp rủi ro trong cuộc sống giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, pháp luật an sinh xã hội hiện hành vẫn chứa đựng những hạn chế cả về kỹ thuật lập pháp cả về tổ chức triển khai thực tiễn. Những hạn chế này đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Bài viết này nhằm mục đích nêu ra một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Xác định mô hình của hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam

Pháp luật an sinh xã hội là sự phản ánh có ý thức sự tồn tại, vận động của hệ thống an sinh xã hội trên thực tiễn. Để xây dựng một hệ thống pháp luật an sinh xã hội đồng bộ toàn diện có “sức sống”, có “tầm nhìn” vừa đảm bảo về mặt kỹ thuật lập pháp vừa đảm bảo tính khả thi trên thực tiễn, trước tiên chúng ta phải lựa chọn xây dựng được mô hình lý luận của hệ thống an sinh xã hội.
Trên thế giới vẫn tồn tại nhiều quan điểm và mô hình xây dựng hệ thống an sinh xã hội khác nhau.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT 1373 NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 2001 CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC về phong tỏa, tịch thu tài sản của các phần tử khủng bố và tài trợ cho khủng bố

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,

Khẳng định lại Nghị quyết số 1269 ngày 19/10/1999 và Nghị quyết số 1368 ngày 12/9/2001,

Tái khẳng định tội ác rõ rệt của vụ tấn công khủng bố tại New York, Washington D.C và Pennsylvania vào ngày 11/9/2001 và thể hiện quyết tâm ngăn chặn tất cả các loại hành động như vậy,

Một lần nữa, khẳng định rằng những hành động khủng bố quốc tế kiểu như thế, sẽ đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế do các hành động khủng bố gây ra,

Tái khẳng định sự tồn hữu quyền cá nhân hoặc quyền tự vệ chung theo như quy định trong hiến chương của Liên hiệp quốc trong Nghị quyết 1368 (2001),

Một lần nữa, khẳng định sự cần thiết, bằng mọi biện pháp phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc, chống lại sự đe doạ hoà bình và an ninh thế giới,

Lo ngại sâu sắc, ở hầu hết các khu vực trên thế giới về gia tăng các hành động khủng bố được hậu thuẫn bởi sự kích động hoặc chủ nghĩa cực đoan,

Kêu gọi các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố,

Nhận thức được sự cần thiết của các quốc gia hỗ trợ cho hợp tác quốc tế bằng cách áp dụng các biện pháp tăng cường phòng và chống việc tài trợ chuẩn bị bất kỳ hành động khủng bố nào trong nội địa quốc gia, thông qua các công cụ pháp luật phù hợp,

Tái khẳng định các nguyên tắc thiết lập bởi Đại Hội đồng trong tuyên ngôn tháng 10/1970 (nghị quyết 2625 (XXV) và được lặp lại bởi Hội đồng Bảo an trong Nghị quyết 1189 (1998 ) ngày 13/8/1998 cho rằng tất cả các quốc gia có nghĩa vụ kiềm chế các hoạt động tổ chức, xúi bẩy, hỗ trợ hoặc tham gia vào các hoạt động khủng bố tại các quốc gia khác hoặc đồng thuận với những hoạt động có tính tổ chức trong nội địa quốc gia mình nhằm hướng tới thực hiện các hoạt động đó.

Thực hiện theo Chương VII của Hiến chương Liên hiệp quốc.

Continue reading

NGHỊ QUYẾT 1373 NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 2001 CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC VỀ PHONG TỎA, TỊCH THU TÀI SẢN CỦA CÁC PHẦN TỬ KHỦNG BỐ VÀ TÀI TRỢ CHO KHỦNG BỐ

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,

Khẳng định lại Nghị quyết số 1269 ngày 19/10/1999 và Nghị quyết số 1368 ngày 12/9/2001,

Tái khẳng định tội ác rõ rệt của vụ tấn công khủng bố tại New York, Washington D.C và Pennsylvania vào ngày 11/9/2001 và thể hiện quyết tâm ngăn chặn tất cả các loại hành động như vậy,

Một lần nữa, khẳng định rằng những hành động khủng bố quốc tế kiểu như thế, sẽ đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế do các hành động khủng bố gây ra,

Tái khẳng định sự tồn hữu quyền cá nhân hoặc quyền tự vệ chung theo như quy định trong hiến chương của Liên hiệp quốc trong Nghị quyết 1368 (2001),

Một lần nữa, khẳng định sự cần thiết, bằng mọi biện pháp phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc, chống lại sự đe doạ hoà bình và an ninh thế giới,

Lo ngại sâu sắc, ở hầu hết các khu vực trên thế giới về gia tăng các hành động khủng bố được hậu thuẫn bởi sự kích động hoặc chủ nghĩa cực đoan,

Kêu gọi các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố,

Nhận thức được sự cần thiết của các quốc gia hỗ trợ cho hợp tác quốc tế bằng cách áp dụng các biện pháp tăng cường phòng và chống việc tài trợ chuẩn bị bất kỳ hành động khủng bố nào trong nội địa quốc gia, thông qua các công cụ pháp luật phù hợp,

Tái khẳng định các nguyên tắc thiết lập bởi Đại Hội đồng trong tuyên ngôn tháng 10/1970 (nghị quyết 2625 (XXV) và được lặp lại bởi Hội đồng Bảo an trong Nghị quyết 1189 (1998 ) ngày 13/8/1998 cho rằng tất cả các quốc gia có nghĩa vụ kiềm chế các hoạt động tổ chức, xúi bẩy, hỗ trợ hoặc tham gia vào các hoạt động khủng bố tại các quốc gia khác hoặc đồng thuận với những hoạt động có tính tổ chức trong nội địa quốc gia mình nhằm hướng tới thực hiện các hoạt động đó.

Thực hiện theo Chương VII của Hiến chương Liên hiệp quốc.

Continue reading

BÀ RỊA – VŨNG TÀU: ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC NHƯNG KHÔNG THỂ THI HÀNH DO CÔNG VĂN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH?

THANH TÙNG

Án có hiệu lực pháp luật hơn hai năm nay nhưng HĐND tỉnh kiên quyết ra hai công văn ngăn chặn làm việc thi hành án bị ngưng trệ.

Năm 1992, ông Trần Văn Đinh qua đời không di chúc để lại hai thửa đất (một gần 2.000 m2, một hơn 5.000 m2) tại xã Hòa Long, thị xã Bà Rịa (Bà Rịa-Vũng Tàu). Sau đó, sáu con người vợ lớn của ông Đinh quản lý phần lớn diện tích hai thửa đất; bốn mẹ con người vợ hai thì cất nhà ở tạm trên diện tích hơn 800 m2 thuộc thửa thứ nhất.

Tranh chấp di sản

Năm 2004, phía người vợ hai của ông Đinh khởi kiện yêu cầu chia lại cho đồng đều di sản thừa kế của người đã mất.

Tháng 9-2005, TAND thị xã Bà Rịa xử sơ thẩm, xác định tổng diện tích đất trên là tài sản chung của đồng thừa kế gồm 10 người (sáu con vợ lớn và bốn mẹ con vợ hai). Từ đó, tòa công nhận cho phía đồng nguyên đơn được sở hữu hơn 800 m2 đất đang sử dụng (thuộc thửa thứ nhất) và một phần diện tích ở thửa thứ hai. Tòa còn kiến nghị UBND thị xã thu hồi “giấy đỏ” cũ cấp năm 1992 để làm lại giấy mới. Các đồng nguyên đơn có nghĩa vụ đăng ký kê khai với UBND thị xã để cấp “giấy đỏ” mới.

Continue reading