BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS. TS. LÊ QUỐC LÝ

Tình hình lạm phát năm 2007 (12,63%) và bốn tháng đầu năm 2008 (11,6%) ở nước ta đã và đang đặt ra đòi hỏi làm thế nào để kiểm soát được lạm phát, đưa tỷ lệ lạm phát xuống thấp ở mức có thể chấp nhận được. Nguyên nhân gây ra lạm phát thì có nhiều, nhưng trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) với lạm phát ở nước ta hiện nay, nhằm tìm ra một lời giải nhỏ trong lời giải tổng thể cho kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế.

1. Khái niệm và bản chất của lạm phát

Trước khi đi vào phân tích mối quan hệ giữa bội chi NSNN với tình hình lạm phát ở nước ta, chúng tôi muốn tóm lược lại khái niệm và bản chất của lạm phát để tiện luận giải trong phần sau.

Lạm phát là một quá trình giá tăng liên tục, tức là mức giá chung tăng lên hoặc là quá trình đồng tiền liên tục giảm giá. Nguyên nhân gây ra lạm phát có nhiều, bao gồm:

Continue reading

NGHỊCH LÝ TRONG QUI ĐỊNH VỀ CHO VAY BẰNG NGOẠI TỆ

TS. PHAN MINH NGỌC – THS. PHAN THÚY NGA

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) mới đây ban hành Quyết định 09/2008/QĐ-NHNN ngày 10/4/2008 về cho vay bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng vay là người cư trú. Cụ thể, theo quyết định mới này, khách hàng vay là người cư trú có thể được vay vốn bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn sau:

(1) Để thanh toán cho nước ngoài tiền nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

(2) Để trả nợ nước ngoài trước hạn, nếu khoản vay đó đảm bảo các điều kiện: Chấp hành đúng các quy định về vay, trả nợ nước ngoài theo quy định của pháp luật về ngoại hối; khách hàng vay có khả năng trả nợ gốc và lãi vốn vay bằng ngoại tệ, tiết kiệm được chi phí vốn vay so với việc vay vốn nước ngoài;

(3) Để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư và hướng dẫn của NHNN. Nhu cầu vay này lần đầu tiên được đưa vào đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ của các TCTD.

Continue reading

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

NGỌC HÀ – Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Phát triển kinh tế thị trường, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), dân chủ hóa xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.

Trong thời gian vừa qua, việc xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả. Một khối lượng lớn các văn bản quy phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực xây dựng thể chế kinh tế thị trường đã được ban hành. Các văn bản quy phạm pháp luật đã bao quát một phạm vi rộng lớn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh. Quy trình xây dựng được thực hiện đúng luật và dân chủ hơn. Chất lượng các văn bản được nâng cao hơn. Những kết quả đã đạt được trong việc xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thời gian qua không chỉ đáp ứng những thông lệ quốc tế khi Việt Nam gia nhập WTO mà còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng, theo đánh giá của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa X, “Hệ thống thể chế, pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc”.

Continue reading

PHẢI THẬT SỰ CHẤP NHẬN PHẢN BIỆN

image GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN

Nâng “guồng máy cái” đào tạo trí thức

Để nghị quyết thiết thực đi vào cuộc sống, trước tiên việc đánh giá nguồn lực này là đóng góp một cách khách quan và trung thực là một yêu cầu bức thiết. Việc đánh giá phải dựa trên một thang giá trị cụ thể. Ngày trước, ông cha ta sắp đặt thang giá trị “sĩ, nông, công, thương” nhưng xã hội thời ấy đã bổ sung “Nhất sĩ, nhì nông; hết gạo chạy rông, nhất nông, nhì sĩ”. Thang giá trị trong xã hội của chúng ta hiện nay “theo cơ chế thị trường với định hướng xã hội chủ nghĩa” là gì và đang chuyển biến ra sao trong thời buổi hội nhập, đó là điều mà xã hội mong đợi ở Trung ương.

Nguồn nhân lực của chúng ta đang được đào tạo thế nào với một Luật Giáo dục (2005) rất “khung” cho tất cả các cấp đào tạo, trong đó rất nhiều điều khoản được triển khai theo “quy định của bộ trưởng” hoặc “do bộ trưởng quy định”? Ngành giáo dục đã và đang tiến hành khá nhiều cải cách, từ chữ viết, sách giáo khoa đến phân ban và các hình thức thi cử. Tất cả các việc làm đó đã mang lại hiệu quả như thế nào, thiết nghĩ cũng cần được đánh giá vì lĩnh vực trí tuệ đòi hỏi kiến thức thật.

Trong Quốc hội khóa XI, việc du học đại học ở nước ngoài ngày càng nhiều đã được nhiều đại biểu Quốc hội nêu lên nhằm cảnh báo về sự mất lòng tin của không ít người đối với nền đại học nước nhà. Tình hình trên hiện nay đã phát triển sang các cấp trung học và tiểu học, chưa kể phương thức “du học ngay trong nước” ở các cấp này. Du học để tiếp thu cái hay, cái chưa có ở trong nước rất khác với đi vì thiếu niềm tin vào nền giáo dục nước nhà. Nghị quyết cần phân tích thực trạng này và sớm nâng cao chất lượng của ngành giáo dục, guồng máy cái đào tạo những người trí thức tương lai.

Tình trạng chảy máu chất xám trong bộ máy nhà nước, trong các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng lãng phí chất xám có và có đáng lo hay không hay ở mức độ bình thường như ở các quốc gia khác? Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, với mức lương và với chính sách sử dụng cán bộ hiện nay, việc giữ được và bổ sung thêm những người có năng lực, ưu tú trong bộ máy của hệ thống chính trị cần được Trung ương đánh giá.

Đảng đã có hai nghị quyết của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào năm 1994 và 2004. Việc thực hiện chính sách và phát huy nguồn lực này đã làm được đến đâu, với tốc độ ra sao?

Chịu nghe những điều không thuận tai

Thực tế, xây dựng chính sách và quản lý nhà nước trong thời gian qua chỉ ra rằng cách tiếp cận bao cấp bắt đầu từ định nghĩa đối tượng – chi li nhất có thể được. Sau đó, đưa ra các chính sách đãi ngộ mà không quan tâm đúng mức đến đóng góp cho xã hội của đối tượng đó. Do đó, nghị quyết cần đổi mới cách tiếp cận, có chú ý “đầu vào” nhưng “đầu ra” mới quan trọng.

Nhiều bài viết đã nói rằng người trí thức tự trọng không muốn có một sự đãi ngộ nào đặc biệt ngoài đồng lương cho phép họ yên tâm nuôi gia đình và làm việc. Ngoài một điều kiện làm việc tránh cho họ cái cảnh phải “khuấy nước nên hồ” và một môi trường làm việc trung thực, cho phép họ sáng tạo và được đánh giá kết quả lao động công bằng. Nhiều địa phương đã có chính sách “trải thảm đỏ” để mời trí thức về địa phương làm việc nhưng kết quả không cao vì nhiều người vẫn e dè, thậm chí có người về rồi lại ra đi. Tại sao? Phải chăng bên cạnh việc chấp hành mệnh lệnh quyền uy, người trí thức còn cần được thuyết phục bằng lý lẽ, bằng sự tin cậy?

Chủ trương của Đảng là “phát huy quyền và trách nhiệm của trí thức trong tham mưu, thẩm định, phản biện các chủ trương, đường lối, chính sách, các dự án…”. Làm sao để thực hiện chủ trương đúng đắn này? Có ý kiến cho rằng cần một môi trường dân chủ, nghĩa là chí ít người được phản biện, góp ý, phải chịu nghe những điều không thuận tai; phải giải tỏa các âu lo “thẳng thắn, thật thà thường thua thiệt” bằng hành động cụ thể. Mong rằng nghị quyết sẽ khẳng định Đảng, với phương thức lãnh đạo đổi mới, xem việc có nhiều ý kiến để xây dựng đất nước là một điều quý giá và hạnh phúc cho dân tộc.

Có đánh giá cho rằng “một bộ phận không nhỏ trí thức hám danh, hám lợi, hám quyền, hám chức”. Có hay không? Và tại sao có thể xảy ra được tình trạng này khi tuyệt đại bộ phận đội ngũ trí thức hiện nay đã trưởng thành trong chế độ ta, đã được đào tạo, tuyển chọn, cơ cấu, cất nhắc; cộng đồng trí thức không thể tự phong hay tự ban cho mình danh, lợi, quyền và chức? Tại sao có tình trạng “mất đoàn kết, thiếu tinh thần hợp tác, thậm chí cơ hội ở một mức độ nhất định”? Nguyên nhân nào là chủ quan, nguyên nhân nào từ cơ chế, chính sách sử dụng cán bộ, từ thang giá trị đã được áp dụng để đánh giá?
Chú trọng tính thực thi của chủ trương

Người trí thức sống không chỉ trong môi trường trí thức mà còn trong lòng xã hội. Vì vậy, chính sách đối với trí thức là phải được đặt trong tổng thể các mối quan hệ xã hội. Thông thường khi đề ra các chính sách đối với một đối tượng, chúng ta xét riêng đối tượng đó và đề ra rất nhiều biện pháp, chính sách hết sức thuận lợi để vận động. Nhưng sẽ còn lại bao nhiêu là khả thi và được thực thi khi vấn đề trí thức được xem xét trong mối quan hệ tổng thể, không tách biệt? Một số không ít chính sách sẽ “nằm trên giấy” mà đến khi kiểm điểm không biết trách nhiệm đó quy về cho ai ngoài… “cơ chế”!

“Ôm nhiều thì siết không chặt”. Tôi xin kiến nghị với Trung ương xem và phân tích sâu các nguyên nhân và có kế hoạch khắc phục cụ thể, có địa chỉ, nhiệm vụ và giải pháp hàng đầu để phát huy nguồn lực tri thức của đất nước, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những điểm mấu chốt, tính khả thi và thực thi.

Người ta vẫn nói rằng “Nhìn thấy được nguyên nhân là đã giải quyết được phân nửa vấn đề”. Nếu các nguyên nhân của những thành tựu và nhất là của những thiếu sót, yếu kém được Trung ương phân tích thẳng thắn, sâu sắc, có địa chỉ thì nghị quyết chắc chắn sẽ sớm đi vào cuộc sống, sẽ ít đi “khoảng cách giữa nói và làm” và sẽ không còn nghe lặp lại khi kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết rằng “chủ trương, chính sách đúng nhưng việc thực hiện còn nhiều yếu kém”.

TRÍCH DẪN TƯ: http://www.phapluattp.vn/news/can-canh/view.aspx?news_id=221049

PHÁP CHẾ DOANH NGHIỆP CẦN HAY KHÔNG?

CAO THỊ HUYỀN THƯƠNG – CLB Pháp chế doanh nghiệp – Bộ Tư pháp

Hiện nay nước ta có khoảng hơn 300.000 Doanh nghiệp đăng ký và hoạt động theo luật doanh nghiệp, trên thực tế thì doanh nghiệp hoạt động khác hẳn với con số trên bởi có nhiều doanh nghiệp “ma” hay doanh nghiệp hoạt động tự do không đăng ký kinh doanh và con số này đang tăng lên từng ngày.

Tuy nhiên một thực tế đáng buồn hơn những con số đó là sự quan tâm đến vấn đề pháp chế trong mỗi doanh nghiệp. Trong quá trình xây dựng Nghị định hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp (đã ký ban hành ngày 28/5/2008 ) tại cuộc toạ đàm lấy ý kiến cho dự thảo Nghị định, có những con số được đưa ra mà không chỉ những nhà làm luật thấy buồn lòng mà bất kỳ ai đọc đến cũng thấy vừa buồn vừa lo cho nền kinh tế hội nhập: có 50 – 80% doanh nghiệp phải nhờ cậy tất cả các mối quan hệ như: bạn bè, người thân hoặc với cơ quan nhà nước mới tiếp cận thông tin đặc biệt là thông tin pháp lý . Tại địa phương đang đứng số một hiện nay trong việc thu hút đầu tư và phát triển kinh tế là Vĩnh Phúc nhưng kết quả điều tra của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc cũng cho thấy, khoảng 70-80% trong số hơn 1.300 doanh nghiệp không hiểu hoặc hoặc hiểu không đầy đủ pháp luật về kinh doanh.

Continue reading