ĐA DẠNG HÓA CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ: NHỮNG ĐIỀU CẦN TRÁNH

image NGUYỄN MINH PHONG

Việc đa dạng hoá đầu tư của các tập đoàn và doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước là xu thế tất yếu, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh doanh, từ sự xuất hiện cung cầu mới, từ xu hướng phát triển ngành và sự phát triển của khoa học công nghệ, cũng như từ sự gia tăng áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ tiềm năng, buộc các doanh nghiệp phải bám sát thị trường và phải nhạy bén, năng động nắm bắt những thời cơ mới cho phép không ngừng mở rộng quy mô, tạo ra lợi nhuận cao và giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh.

1. Sự cần thiết và tác động hai mặt của đa dạng hóa đầu tư

Trong nền kinh tế hiện đại, đa dạng hoá đầu tư đã, đang và sẽ tiếp tục trở thành xu hướng phát triển ngày càng đậm nét của các tập đoàn kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Trên thực tế, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT), ngoài các sản phẩm, dịch vụ liên quan tới viễn thông và công nghệ thông tin, còn mở rộng sang lĩnh vực dịch vụ quảng cáo, kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng; Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) ngoài lĩnh vực hoạt động truyền thống là sản xuất kinh doanh điện năng, viễn thông công cộng và cơ khí điện lực, còn đầu tư mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực tài chính – ngân hàng; Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cũng không bó khuôn trong lĩnh vực cao su, mà còn đầu tư vào ngành cơ khí, quản lý khai thác cảng biển, vận tải, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng, bất động sản, dịch vụ khách sạn, du lịch nội địa, quốc tế; Tập đoàn Vinashin ngoài lĩnh vực chuyên sâu của mình, cũng đã đầu tư vào dịch vụ vận tải biển, thuỷ điện, tài chính, chế tạo cơ khí…

Continue reading

PHÓ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU CÓ QUYỀN NGĂN THI HÀNH BẢN ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT?

THANH TÙNG

Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 22-7 có bài “Bà hội đồng tỉnh “ngăn” thi hành án” phản ánh việc Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu Nguyễn Thị Hồng Xinh ra hai công văn ngăn chặn việc thi hành một bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật từ hơn hai năm nay (Civillawinfor đã đăng lại bài báo này với tiêu đề, Bà rịa – Vũng tàu: Án có hiệu lực nhưng không thể thi hành do công văn của Hội đồng nhân dân tỉnh?).

Sau khi Báo đăng, nhiều bạn đọc ở Bà Rịa-Vũng Tàu đã gửi đơn thư, hồ sơ tố cáo bà Xinh can thiệp vào việc thi hành án trái pháp luật tương tự, trong đó có vụ của bà Phạm Thị Huệ, ngụ thôn Vạn Hạnh, thị trấn Phú Mỹ (Tân Thành).

Đòi đất cho ở nhờ

Theo đơn của bà Huệ, năm 1987, anh bà “mua” 3.000 m2 đất ở thôn Vạn Hạnh. Khai phá được thêm khoảng 3.500 m2 nữa, anh bà hợp thức hóa quyền sử dụng đất (có “giấy đỏ”), xin phép cất nhà sinh sống. Sau đó, do phải chuyển đi nơi khác chữa bệnh, anh bà đã giao toàn bộ nhà, đất cho bà quản lý, sử dụng.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TIỀN: CÓ GIẤY VAY TIỀN TÒA TUYÊN… KHÔNG TRẢ

CÔNG BÌNH (Báo Công an nhân dân)

Ông Trần Thái Trung ở phường Kim Long, TP Huế kiện bà Võ Thị Kim Loan, chủ doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc, đá quý Kim Loan, nợ 300 triệu đồng. TAND TP Huế phân xử bà Loan phải trả nợ cho ông Trung, nhưng TAND tỉnh lại bác phán quyết của TAND TP, tuyên… bà Loan không phải trả(?).

“Sơ thẩm” bảo trả, “phúc thẩm” bảo không

Vào khoảng tháng 4/2007, ông Trần Thái Trung (là khách hàng bán vàng) gặp bà Kim Loan. Qua nói chuyện, bà Loan gợi ý là cần vay tiền để kinh doanh và sẽ trả lãi cao. Nếu ông Trung có thì cho bà Loan vay. Do biết bà Loan là doanh nghiệp trẻ, hiện có uy tín và muốn có lãi cao nên ông Trung đồng ý cho bà Loan vay tiền.

Ông Trung đã trực tiếp cho bà Loan vay số tiền 300 triệu đồng. Bà Loan có viết “Giấy mượn tiền” ghi ngày 20/4/2006 (thực tế ngày vay là 20/4/2007, nhưng bà Loan viết nhầm là 20/4/2006).

Continue reading

TÔI CÓ NÊN CHO CHÁU NHẬN CHA KHÔNG?

smm_heart VŨ THỊ VÂN HƯƠNG – Quận Gò Vấp – TPHCM

Tôi là giáo viên trung học đã về hưu, hiện sống tại TP Hồ Chí Minh. Năm 18 tuổi, tôi rời quê Cần Thơ, lên Sài Gòn theo học đại học. Như là định mệnh và duyên số, tại đây tôi đã gặp gỡ và yêu tha thiết một giáo viên trung học, quê ở Phan Thiết, đang dạy ở Sài Gòn. Anh tên là Nam.

Những năm yêu nhau, tôi không hề biết từ lâu anh đã tham gia hoạt động cách mạng bí mật ở nội thành Sài Gòn. Mãi về sau, trong một lần cùng anh về thăm nhà ở Phan Thiết, anh mới cho tôi biết chuyện này. Cha anh là người đã dẫn dắt anh hoạt động cách mạng. Học xong đại học, do bố mẹ tôi già yếu, muốn con gái ở gần, hơn nữa tôi lại là con một, nên tôi quyết định về quê dạy học, còn anh vẫn ở Sài Gòn. Một năm sau hai chúng tôi làm lễ cưới.

Năm 1970, khi tôi có thai bốn tháng thì được tin sét đánh: Chồng tôi bị bắt do cơ sở bị lộ. Tôi như người mất hồn, bỏ cả dạy học, bụng mang dạ chửa về Sài Gòn và ra cả Phan Thiết quê anh để dò thăm tin tức của anh. Đau đớn hơn, cũng vào thời điểm đó, trong một trận chiến đấu ngay tại quê nhà, cha anh bị thương nặng và hy sinh. Chưa kịp gặp chồng thì tôi được tin anh bị đày ra Côn Đảo. Trước hai cái tin đau đớn, chồng hy sinh, con duy nhất bị bắt, bị đày ra Côn Đảo, mẹ anh ngã bệnh, mắt mờ dần rồi mù hẳn, một năm sau thì bà mất. Những ngày chồng tôi bị tù Côn Đảo, tôi sinh cháu đầu lòng, đặt tên là Quỳnh. Khi cha hy sinh, mẹ mất, chồng tôi cũng không được về chịu tang.

Continue reading

KHÁI LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI

Bài viết này được Civillawinfor tổng hợp trên cơ sở loạt bài của TS. Mạc Tiến Anh đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội các số 5/2005, 2/2005, số 6/2005 và số 7/2005

TS. MẠC TIẾN ANH

1. Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội (BHXH)

Để hiểu rõ khái niệm về bản chất của BHXH có nhiều cách tiếp cận khác nhau và một trong cách tiếp cận là từ xã hội và lịch sử.

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở… Để thỏa mãn nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết. Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thoả mãn nhu cầu càng cao, có nghĩa là việc thoả mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người. Trong thực tế cuộc sống, không phải người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe, khả năng lao động hoặc những may mắn khác để hoàn thành nhiệm vụ lao động, công tác hoặc tạo nên cho mình và gia đình một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngược lại, người nào cũng có thể gặp phải những rủi ro, bất hạnh như ốm đau, tai nạn, hay già yếu, chết hoặc thiếu công việc làm do những ảnh hưởng của tự nhiên, của những điều kiện sống và sinh hoạt cũng như các tác nhân xã hội khác… Khi rơi vào các trường hợp đó, các nhu cầu thiết yếu của con người không vì thế mà mất đi. Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới. Bởi vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau. Để khắc phục những rủi ro, bất hạnh giảm bớt khó khăn cho bản thân và gia đình thì ngoài việc tự mình khắc phục, người lao động phải được sự bảo trợ của cộng đồng và xã hội.

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP NGÀY 3 THÁNG 4 NĂM 2008 HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Toà án nhân dân; Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Tư pháp thống nhất hướng dẫn một số điểm như sau:

A. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

I. CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ THUỘC THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN (QUY ĐỊNH TẠI KHOẢN 4 ĐIỀU 25 VÀ KHOẢN 2 ĐIỀU 29 BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ)

1. Các tranh chấp về quyền tác giả

a) Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, tác phẩm phái sinh;

b) Tranh chấp giữa các đồng tác giả về phân chia quyền đồng tác giả;

c) Tranh chấp giữa cá nhân và tổ chức về chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm;

d) Tranh chấp giữa chủ sở hữu quyền tác giả với tác giả về tiền nhuận bút, tiền thù lao cho tác giả sáng tạo tác phẩm trên cơ sở nhiệm vụ được giao hoặc hợp đồng;

đ) Tranh chấp về thực hiện quyền nhân thân hoặc quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả;

e) Tranh chấp về quyền tác giả đối với chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu giữa người cung cấp tài chính và các điều kiện vật chất có tính chất quyết định cho việc xây dựng, phát triển chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu với người thiết kế, xây dựng chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu;

Continue reading

NÊN HAY KHÔNG KHI MUA XE MÁY BẰNG GIẤY TỜ TRAO TAY VỚI NGƯỜI KHÔNG ĐỨNG TÊN CHỦ SỞ HỮU?

THẠNH HƯNG – NGUYỄN HỒNG GIAN

TUOITRE – Thay vì giao dịch với chủ sở hữu hợp pháp, nhiều người đã dễ dãi chấp nhận mua giấy tay các tài sản có giá trị lớn. Đến khi sang tên không được, người mua bị thiệt đơn thiệt kép.

Tháng 4-2006, bà G bỏ ra 3.500 USD mua của ông Đ. một xe Honda @. Xe đó do bà A đứng tên và đã được sang tay qua nhiều người. Khi bán cho bà G, ông Đ hứa hẹn: “Từ từ bà A sẽ sang tên xe…”. Nhưng rồi viện lẽ không có giao dịch gì với bà G, bà A  từ chối ký giấy bán xe cho bà G. Thế là bà G phải mất công gửi đơn đến UBND phường nơi ông Đ cư trú để nhờ can thiệp. Song cả ba lần được mời ông Đ đều không đến.

Không còn cách nào khác, bà G. khởi kiện ông Đ ra Tòa án nhân dân quận (cũng là nơi ông Đ cư ngụ) để tranh chấp hợp đồng mua bán xe. Theo yêu cầu của tòa, bà G đóng gần 1,5 triệu đồng tạm ứng án phí. Tưởng chỉ cần chờ ngày được tòa mời lên hòa giải, xét xử nhưng rồi một, hai tháng trôi qua tòa vẫn im ỉm. Sốt ruột, bà G quyết định không nhờ tòa nữa mà phải “tự xử” bằng cách… sang lại xe cho người quen của bà A để lấy tiền mua xe khác (tất nhiên là bà có thể đứng tên).

Continue reading

MỘT CỰU CHIẾN BINH 15 NĂM ĐI KIỆN VÌ BỊ THU HỒI ĐẤT TỪ QUYẾT ĐỊNH LẠ LÙNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN?

CONGANTPHCM – Chuyện hy hữu đã xảy ra tại huyện Tịnh Biên, An Giang. Khi thu hồi đất của dân không bồi hoàn, xã lấy lý do đất công thổ quốc gia. Qua hồ sơ, toàn bộ diện tích đất trên đã được Ủy ban nhân dân (UBND) xã An Nông cùng địa chính huyện Tịnh Biên đồng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thế chấp ngân hàng.

Kiểu giải quyết lạ lùng của UBND xã đã đẩy ông Vũ Hùng Mạnh (SN 1953, ngụ thị trấn tịnh biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, nguyên sĩ quan Trung đoàn II, Sư đoàn 330, Quân khu 9 đã phục viên) và gia đình lâm cảnh trắng tay. Vợ phát bệnh, bốn đứa con bỏ học…, Người lính năm xưa lao vào vòng khiếu kiện.

Hai lần mất đất

Trong căn nhà trống trước dột sau, ông Mạnh nói trong nước mắt: “Tài sản tui bị mất hết. Mười lăm năm tui lao vào vòng khiếu kiện cũng là khoảng thời gian tui chứng kiến sự thờ ơ của chính quyền địa phương. Gia đình tui lâm vào cảnh khốn khó không gì bù đắp được. Tui quyết kiện tới cùng”.

Continue reading

VAY VỐN THEO HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN LÃI SUẤT

THS. NGUYỄN TRUNG LẬP – ĐẠI HỌC DUY TÂN ĐÀ NẴNG

Hợp đồng quyền chọn lãi suất là giao dịch quyền chọn lãi suất vay hoặc cho vay đối với các khoản vay hoặc cho vay dựa trên lãi suất tại ngày đáo hạn hợp đồng.Hiện nay, hoạt động cho vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất chủ yếu được áp dụng đối với các khoản vay trung hạn và vay bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp có thể kết hợp cả hợp đồng vay vốn theo quyền chọn lãi suất và hợp đồng quyền chọn thanh toán bằng ngoại tệ.

Vay vốn theo hợp đồng quyền chọn lãi suất có đặc điểm:

-Tại ngày vay, doanh nghiệp có quyền lựa chọn thanh toán tiền lãi vay khi đáo hạn bằng một tỷ lệ lãi suất nhất định trước tại ngày đáo hạn hay thanh toán theo lãi suất trên thị trường tài chính. Để có được quyền này, doanh nghiệp phải trả quyền phí.

– Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vốn vay trên thị trường tài chính lớn hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn thì doanh nghiệp sẽ thanh toán theo lãi vay cho các tổ chức tài chính theo lãi suất trong hợp đồng quyền chọn.

– Nếu tại ngày đáo hạn hợp đồng, lãi suất vay vốn trên thị trường tài chính nhỏ hơn lãi suất thực hiện theo hợp đồng quyền chọn, doanh nghiệp sẽ không thực hiện hợp đồng quyền chọn mà sẽ thanh toán lãi vay theo lãi suất trên thị trường tài chính.

Continue reading

THỦ TỤC CÔNG CHỨNG GIAO DỊCH, HỢP ĐỒNG

A. HỒ SƠ CÔNG CHỨNG

1. Hồ sơ hợp lệ yêu cầu công chứng bao gồm:

a) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, văn bản;

b) Bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu; bản sao giấy tờ chứng minh thẩm quyền của người đại diện (nếu là người đại diện);

c) Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo quy định của Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật đất đai năm 2003 ; bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định của Nghị định số 60/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ; bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở được cấp theo quy định của pháp luật về nhà ở (sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); Trường hợp trong thời hạn theo quy định tại Điều 184 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, nếu người đang sử dụng đất chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải có bản sao một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai; trường hợp người sử dụng đất có tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính thì phải có xác nhận bằng văn bản (bản sao) của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất.

d) Hợp đồng, văn bản về bất động sản.

2. Ngoài các giấy tờ nêu tại điểm 1 khoản này, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà hồ sơ yêu cầu công chứng còn có thêm một hoặc các giấy tờ sau đây:

a) Bản sao Sổ hộ khẩu đối với trường hợp nhận chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp hoặc nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, trong khu vực rừng phòng hộ;

b) Đơn xin tách thửa, hợp thửa trong trường hợp thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với một phần thửa đất;

c) Bản sao Giấy chứng tử của người để lại di sản, giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản, nếu là người được hưởng di sản theo pháp luật;
Bản sao Di chúc, Giấy chứng tử của người để lại di sản, nếu là người được hưởng di sản theo di chúc mà trong di chúc đó không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người;
Bản sao Giấy chứng tử của người để lại di sản, giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản mà người nhận thừa kế là người duy nhất;

d) Bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở được cấp theo quy định của pháp luật về nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng được cấp theo quy định của Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15/07/2005 của Chính phủ (gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất) đối với trường hợp có tài sản gắn liền với đất mà người sở hữu tài sản đó bán, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn;

đ) Văn bản xác nhận tiền sử dụng đất, tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước đối với trường hợp bên có quyền sử dụng đất là tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm mà đã trả trước tiền thuê đất hàng năm cho nhiều năm; tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01/07/2004 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm;

e) Bản sao giấy phép xây dựng hoặc dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với trường hợp thế chấp tài sản hình thành trong tương lai mà theo quy định của pháp luật thì tài sản đó phải được cấp phép xây dựng hoặc phải lập dự án đầu tư.

3. Phòng công chứng, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn không được đòi hỏi người yêu cầu công chứng nộp thêm giấy tờ ngoài các giấy tờ trong hồ sơ yêu cầu công chứng nêu tại điểm 1 và 2 nêu trên.

B. THỦ TỤC, TRÌNH TỰ CÔNG CHỨNG HỢP ĐỒNG, GIAO DỊCH

1. Người yêu cầu công chứng nộp một (01) bộ hồ sơ yêu cầu công chứng và xuất trình bản chính của giấy tờ đã nộp bản sao để đối chiếu; Phòng công chứng tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ yêu cầu công chứng.

Trường hợp người có bất động sản không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai hoặc có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hiện trạng sử dụng đất biến động so với nội dung ghi trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Phòng công chứng phải gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin địa chính (Mẫu số 03/PYCCC) đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin về thửa đất. Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có dấu hiệu đã bị sửa chữa hoặc giả mạo, nếu thấy cần thiết thì Phòng công chứng gửi Phiếu yêu cầu (Mẫu số 03/PYCCC) đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để yêu cầu cung cấp thông tin về thửa đất. Thời gian cung cấp thông tin về thửa đất của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không tính vào thời hạn công chứng nêu tại điểm 4 dưới đây.

2. Trường hợp hồ sơ yêu cầu công chứng hợp lệ thì Phòng công chứng ghi vào Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch (ban hành kèm theo Thông tư số 03/2001/TP-CC ngày 14/03/2001 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực) và thực hiện công chứng.

Trường hợp không công chứng được trong ngày nhận hồ sơ thì Phòng công chứng ghi vào Sổ công chứng hợp đồng, giao dịch và viết Phiếu hẹn (Mẫu số 02/PH) trao cho người yêu cầu công chứng. Nếu hồ sơ không hợp lệ hoặc khi giải quyết yêu cầu công chứng mà phát hiện người có bất động sản không đủ điều kiện thực hiện quyền của người có bất động sản theo quy định của pháp luật thì Phòng công chứng trả lại hồ sơ và thông báo rõ lý do bằng văn bản cho người yêu cầu công chứng.

3. Trường hợp công chứng văn bản phân chia tài sản thừa kế, văn bản nhận tài sản thừa kế thì thời hạn niêm yết là 30 ngày đối với việc phân chia tài sản thừa kế, nhận tài sản thừa kế và không tính vào thời hạn công chứng nêu tại điểm 4 dưới đây.

4. Thời hạn công chứng hợp đồng, văn bản về bất động sản cụ thể như sau:

a) Trong ngày nhận hồ sơ đối với hợp đồng, văn bản về bất động sản trong trường hợp là hộ gia đình, cá nhân; nếu nộp hồ sơ yêu cầu công chứng sau ba (03) giờ chiều thì việc công chứng được thực hiện chậm nhất trong ngày làm việc tiếp theo; trường hợp hợp đồng, văn bản có tình tiết phức tạp thì không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ;

b) Không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đối với hợp đồng, văn bản về bất động sản trong trường hợp là tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; trường hợp hợp đồng thế chấp thì không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

C. LỆ PHÍ CÔNG CHỨNG

1. Cá nhân, tổ chức Việt Nam và nước ngoài yêu cầu Phòng công chứng thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, chữ ký… theo quy định của pháp luật thì phải nộp lệ phí công chứng theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC- BTP ngày 21/11/2001 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp Hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí công chứng, chứng thực.

2. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định về lệ phí công chứng khác với quy định tại Thông tư này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó.

3. Lệ phí công chứng thu bằng Đồng Việt Nam theo mức thu quy định.

Đối với cá nhân có hộ khẩu thường trú tại các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/07/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa, thì mức thu bằng 50% mức thu lệ phí công chứng quy định tại Biểu mức thu ban hành kèm theo Thông tư số 93.

4. Cơ quan công chứng đồng thời thực hiện việc thu lệ phí theo quy định có trách nhiệm:

a) Niêm yết công khai mức thu lệ phí công chứng tại trụ sở cơ quan nơi thu lệ phí.

b) Đăng ký, kê khai lệ phí công chứng với cơ quan Thuế địa phương nơi cơ quan công chứng đóng trụ sở.

c) Tổ chức thu, nộp lệ phí công chứng và mở tài khoản tạm gửi tiền thu lệ phí công chứng tại Kho bạc nhà nước địa phương nơi đặt trụ sở. Tuỳ theo số tiền thu lệ phí nhiều hay ít mà định kỳ hàng ngày (đối với Phòng công chứng thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) hoặc tối đa là 10 ngày một lần (đối với cơ quan công chứng khác), cơ quan công chứng tiến hành lập bảng kê, gửi tiền thu lệ phí vào tài khoản mở tại Kho bạc nhà nước.

d) Khi thu tiền lệ phí công chứng cơ quan thực hiện công chứng phải cấp cho người nộp tiền lệ phí biên lai thu lệ phí công chứng do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành. Biên lai nhận tại Cục Thuế địa phương và được quản lý, sử dụng theo quy định của Bộ Tài chính.

MỨC THU LỆ PHÍ CÔNG CHỨNG ÁP DỤNG TẠI PHÒNG CÔNG CHỨNG

(Ban hành kèm theo Thông tư Liên tịch Bộ Tài chính – Bộ Tư pháp số: 93/2001/TTLT/BTC-BTP ngày 21 tháng 11 năm 2001)

STT

VIỆC CÔNG CHỨNG

ĐƠN VỊ TÍNH

MỨC THU

1

Các việc công chứng được xác định mức thu theo giá trị tài sản hoặc giá trị ghi trong hợp đồng, gồm:

– Công chứng hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất (tính trên giá trị tài sản)

–     Công chứng hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh (tính trên giá trị ghi trong hợp đồng)

–     Công chứng hợp đồng vay tiền có hoặc không có cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh; hoặc chỉ công chứng hợp đồng cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh (tính trên số tiền vay ghi trong hợp đồng vay)

Đ/trường hợp

1.1

Dưới 20.000.000 đồng

Đ/trường hợp

10.000

1.2

Từ 20.000.000 đến dưới 50.000.000 đồng

Đ/trường hợp

20.000

1.3

Từ 50.000.000 đến dưới 100.000.000 đồng

Đ/trường hợp

50.000

1.4

Từ 100.000.000 đến dưới 300.000.000 đồng

Đ/trường hợp

100.000

1.5

Từ 300.000.000 đến dưới 1.000.000.000 đồng

Đ/trường hợp

200.000

1.6

Từ 1.000.000.000 đến dưới 2.000.000.000 đồng

Đ/trường hợp

500.000

1.7

Từ 2.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng

Đ/trường hợp

1.000.000

1.8

Từ 3.000.000.000 đến dưới 5.000.000.000 đồng

Đ/trường hợp

1.500.000

1.9

Từ trên 5.000.000.000 đồng trở lên

Đ/trường hợp

2.000.000

2

Công chứng văn bản bán đấu giá bất động sản

Đ/trường hợp

50.000

3

Công chứng hợp đồng bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ khác

Đ/trường hợp

50.000

4

Công chứng hợp đồng thuê, mượn nhà ở hoặc nhà sử dụng vào mục đích khác không phải để ở, công trình xây dựng khác, tàu bay, tàu thuỷ, dây chuyền sản xuất

Đ/trường hợp

50.000

5

Công chứng hợp đồng thuê, mượn tài sản khác

Đ/trường hợp

20.000

6

Công chứng hợp đồng uỷ quyềN

Đ/trường hợp

20.000

7

Công chứng giấy uỷ quyền

Đ/trường hợp

10.000

8

Công chứng việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng, giao dịch (trừ việc sửa đổi, bổ sung tăng giá trị ghi trong hợp đồng thì áp dụng mức thu quy định tại điểm 1)

Đ/trường hợp

20.000

9

Công chứng việc huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch

Đ/trường hợp

10.000

10

Công chứng di chúc

Đ/trường hợp

20.000

11

Nhận lưu giữ di chúc

Đ/trường hợp

50.000

12

Công bố di chúc

Đ/trường hợp

30.000

13

Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản

Đ/trường hợp

50.000

14

Công chứng văn bản khai nhận di sản

Đ/trường hợp

50.000

15

Công chứng văn bản từ chối nhận di sản

Đ/trường hợp

10.000

16

Công chứng hợp đồng, giao dịch khác

Đ/bản

20.000

17

Công chứng bản sao giấy tờ; cấp bản sao hợp đồng, giao dịch đã được công chứng

Đ/trường hợp

1.000 từ trang thứ 3 trở lên thì mỗi trang thu 500, tối đa không quá 50.000/ bản

18

Công chứng chữ ký cá nhân

Đ/trường hợp

10.000

19

Công chứng bản dịch giấy tờ

Đ/bản

5000

20

Công chứng các việc khác

Đ/trường hợp

5000

CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP (Theo http://congchung.moj.gov.vn)

CỔ PHẦN

Cổ phần là khái niệm chỉ các chứng nhận hợp lệ về quyền sở hữu một phần đơn vị nhỏ nhất của doanh nghiệp nào đó. Quyền sở hữu này dù chỉ là một phần cũng cho phép người sở hữu cổ phần những đặc quyền nhất định, thường là:

* Hưởng một phần tương ứng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh, thông qua phần chia lãi sau thuế gọi là Cổ tức;
* Quyền được tham gia quyết định kinh doanh quan trọng trong các phiên họp thường niên hay bất thường, và sức mạnh quyền này tỉ lệ với số cổ phần nắm giữ;
* Quyền được tiếp tục tham gia đóng góp vốn khi doanh nghiệp phát hành bổ sung các cổ phần mới, hoặc phát triển các dự án mới cần gọi vốn;
* Và một số quyền khác tùy theo qui định pháp luật.

Cổ phần có giá trị và có thể được trao đổi mua bán trên thị trường mở hoặc thị trường giao dịch tập trung, tùy loại hình doanh nghiệp và trạng thái cổ phần đã được niêm yết hay chưa. Giá của cổ phần trên thị trường nhìn chung là liên tục thay đổi tùy thuộc vào quan hệ cung-cầu, lòng tham-sợ hãi, và nhận thức chung liên tục thay đổi của cả thị trường về các điều kiện thương mại cũng như hướng phát triển của doanh nghiệp, của nền kinh tế, sự ổn định chính trị và nhiều yếu tố liên quan mật thiết khác nữa.

Các dao động liên tục của giá cổ phần có một phần nguyên nhân do các lực lượng thị trường liên tục tương tác để tìm kiếm (còn gọi là hình thành) một giá trị cân bằng, biểu hiện qua “giá cân bằng.”

Trong các nền kinh tế phát triển nơi mà các thị trường tài chính và thị trường vốn vận hành hiệu quả, thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch các cổ phần được xem như một công cụ để đánh giá giá trị các doanh nghiệp, và từ đó có thể đánh giá giá trị của cả một nền kinh tế.

SOURCE: SAGA.VN

CẦN THIẾT QUI ĐỊNH VIỆC ĐĂNG ẢNH CÁ NHÂN TRONG DỰ THẢO LUẬT BÁO CHÍ SỬA ĐỔI

ist2_1165926-citizen-journalist-or-film-student-vector NAM THANH

Dự án Luật Báo chí sửa đổi đã có nhiều quy định chi tiết, rõ ràng hơn cho tác nghiệp của các nhà báo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng hở trong luật. Ví dụ như vấn đề sử dụng ảnh cá nhân vẫn chưa được đề cập một cách cụ thể. Nhiều trường hợp báo chí bị “đáo tụng đình” vì xài ảnh tùy tiện, không xin phép.

Luật chưa rõ, lại “chỏi” nhau

Bộ luật Dân sự quy định nguyên tắc: Muốn sử dụng ảnh cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác. Tuy nhiên, tìm đỏ con mắt trong Bộ luật Dân sự cũng như các văn bản liên quan, chúng tôi không thấy một điều luật nào định nghĩa thế nào là “vì lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng”. Hiểu thế nào về vấn đề này dường như chỉ tùy thuộc vào nhận thức của từng người chứ không có một chuẩn mực pháp lý rõ ràng.

Đưa ảnh một kẻ trộm, một tên móc túi, một quan chức tham ô, một giám đốc cố ý làm trái… để mọi người cảnh giác, để răn đe, phòng ngừa chung có được xem là vì lợi ích công cộng, vì lợi ích của nhà nước? Nếu buộc báo chí phải xin phép những người này thì thật là vô lý, tréo ngoe nhưng nếu không xin phép, họ có thể viện dẫn luật dân sự để kiện báo.

Continue reading

ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI Ở VIỆT NAM

PHÒNG KINH DOANH NGOẠI TỆ VIETTINBANK

Công cụ phái sinh là một công cụ bắt nguồn từ một sản phẩm gốc đã có từ trước. Các công cụ phái sinh ngoại hối gồm: kỳ hạn tiền tệ, hoán đổi tiền tệ, hợp đồng tương lai tiền tệ, hợp đồng quyền chọn tiền tệ.

Sử dụng công cụ phái sinh để bảo hiểm rủi ro tỷ giá

Ví dụ ngày 10/01, một Công ty xuất khẩu Việt Nam được thông báo là sẽ nhận USD 1.000.000 từ việc bán hàng hoá cho nước ngoài sau hai tháng tức là vào ngày 10/03. Về nguyên tắc, khoản thu nhập này sẽ phải chuyển đổi ra VND để phục vụ sản xuất kinh doanh trong nước, do không chắc chắn về tỷ giá giữa USD/VND sau hai tháng nữa, nên nếu tỷ giá USD/VND tăng nhà xuất khẩu sẽ có lãi, ngược lại nếu giảm nhà xuất khẩu sẽ thiệt hại. Để đảm bảo chắc chắn khoản thu nhập USD 1.000.000 đó bằng giá trị của ngày hôm nay. Công ty xuất khẩu sẽ sử dụng một trong những công cụ phái sinh nói trên để bảo hiểm rủi ro tỷ giá như sau:

– Sử dụng công cụ kỳ hạn: đó là bán kỳ hạn USD 1.000.000 với tỷ giá, ví dụ là 16.000 VND/USD, có ngày giá trị rơi vào ngày nhận tiền là ngày 10/03. Giao dịch này, Công ty không phải chịu một khoản phí nào và qua đó biết chắc chắn được giá trị số tiền mình thu được là bao nhiêu khi đến hạn nhận tiền bất chấp sự tăng, giảm của tỷ giá giao ngay trên thị trường.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: CHA RUỘT CỦA CON LÀ NGƯỜI YÊU CŨ?

THANH LƯU

Vợ nói đã có con riêng với người khác từ trước khi đăng ký kết hôn, chồng thì cứ khăng khăng bảo đó là con chung…

TAND quận 9 (TP.HCM) đang thụ lý một vụ ly hôn khá lạ. Người vợ nhất định đòi chia tay và buộc chồng phải trả lại con để cháu bé đoàn tụ với cha ruột thật sự. Người chồng lại một mực cho rằng cháu bé chính là con mình vì giấy khai sinh ghi rành rành anh là cha cháu.

Cha ruột của con là người yêu cũ?

Theo chị Võ Thị Hon – người đứng đơn ly hôn, trước khi chị sinh con (tháng 9-2004), anh Nguyễn Văn Lạc – người yêu của chị, cũng là cha ruột của đứa bé trong bụng đã bị bắt vì lái đò ẩu làm chết người.

Lúc ấy, chị rơi vào hoàn cảnh hết sức bơ vơ, ngặt nghèo: Gia đình anh Lạc không nhìn nhận chị và cháu bé bởi giận chuyện chưa cưới hỏi mà đã có con. Ngoài ra, gia đình anh Lạc còn gây áp lực buộc chị phải trao cháu bé cho anh D. (bạn của anh anh Lạc) nuôi.

Continue reading

SƠ ĐỒ QUI TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT CỦA QUỐC HỘI ( Từ khi xây dựng chương trình luật, pháp lệnh đến khi được thông qua)

SUY NGẪM 11

Nhân việc Mỹ sẽ phải dựa hoàn toàn vào Nga trong việc đưa phi hành gia lên trạm vũ trụ quốc tế ISS và trở về trái đất trong vòng ít nhất là 5 năm nữa. Howard McCurdy, một chuyên gia không gian tại Đại học Mỹ ở Washington, cho rằng:“Chuyện này gần giống như độc quyền và không ai muốn phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất”.Cũng theo McCurdy: “Ta thường rất ngại nặng tay với người cung cấp duy nhất cho một dịch vụ thiết yếu”.

Như vậy, chuyện độc quyền trong kinh doanh không chỉ ở Việt Nam, nhưng họ luôn nhận thấy và nêu ra mặt trái của sự độc quyền đó, còn chúng ta???

Civillawinfor tổng hợp từ thethao.com.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU MẪU HỘ TỊCH VÀ SỔ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

1. DANH MỤC BIỂU MẪU HỘ TỊCH, SỔ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH SỬ DỤNG TẠI UBND CẤP XÃ, HUYỆN VÀ SỞ TƯ PHÁP

Ngày 01 tháng 4 năm 2006, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu lực thi hành. Để triển khai Nghị định này, Ban Biên tập xin cung cấp các văn bản có liên quan:

Quyết định số 01/2006 về việc ban hành sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch
Công văn số 2112/BTP-HCTP hướng dẫn các địa phương một số nội dung liên quan đến việc việc in, phát hành, sử dụng sổ đăng ký hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch
– Danh mục các sổ, biểu mẫu hộ tịch ban hành kèm theo Quyết định 01/2006/QĐ-BTP (trong đó Mục II do Sở Tư pháp in và phát hành):

Continue reading

PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VÀ ĐẦU TƯ VỚI VẤN ĐỀ HỘI NHẬP

BÙI XUÂN HẢI

Hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới, nhất là khi chúng ta đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Pháp luật của chúng ta, nhất là pháp luật kinh doanh cũng nên được xây dựng gần hơn với pháp luật của các nền kinh tế phát triển. ở phạm vi hẹp, chúng tôi chỉ phân tích nguyên tắc đối xử quốc gia trong pháp luật doanh nghiệp và đầu tư; mô hình các tổ chức kinh doanh và quyền thành lập, góp vốn vào công ty của tổ chức để thấy pháp luật doanh nghiệp và đầu tư Việt Nam còn có những điểm cần bàn trong quá trình hội nhập.

1. Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với nguyên tắc đối xử quốc gia

Nguyên tắc đối xử quốc gia (the national treatment principle) là một nguyên tắc cơ bản trong quan hệ thương mại quốc tế của WTO. Cùng với nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (most-favoured nation), nguyên tắc đối xử quốc gia được WTO coi là một trong những nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ thương mại giữa các thành viên của tổ chức này nhằm thực hiện mục tiêu không phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại (trade without discrimination)[1]. Nguyên tắc đối xử quốc gia được cho là có nguồn gốc từ các thỏa thuận giữa các lãnh địa thành phố ở Italia từ thế kỷ thứ XI, rồi từ khi Thỏa thuận chung về Thuế quan và thương mại (the General Agreement on Tariffs and Trade GATT) ra đời, thì nguyên tắc đối xử quốc gia là một nguyên tắc quan trọng trong việc giải quyết vấn đề bảo hộ hay phân biệt đối xử[2]. Theo WTO, nguyên tắc này đòi hỏi sự đối xử của quốc gia đối với người nước ngoài và người trong nước bình đẳng như nhau (treating foreigners and locals equally), có nghĩa là đối xử với người nước khác như chính người dân nước mình (giving others the same treatment as ones own nationals). Hàng hóa trong nước và hàng hóa được nhập khẩu từ nước ngoài (ít nhất là khi đã vào thị trường nội địa), các dịch vụ, thương hiệu, bản quyền hay sáng chế từ nước ngoài cần được đối xử bình đẳng như của trong nuớc[3].

Continue reading

MỘT SỐ LƯU Ý TRONG KÊ BIÊN, XỬ LÝ TÀI SẢN CHUNG, TÀI SẢN ĐANG CẦM CỐ, THẾ CHẤP, BẢO LÃNH

moj.gov.vn – Thời gian qua, một số cơ quan thi hành án gặp vướng mắc trong việc kê biên tài sản chung, tài sản đang cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặc biệt là tài sản của vợ chồng để thi hành nghĩa vụ của một người (vợ hoặc chồng) theo bản án, quyết định của Toà án. Một số trường hợp, khi thi hành nghĩa vụ của một người vợ hoặc chồng, Chấp hành viên đã kê biên tài sản chung của vợ chồng, nhưng sau khi bán tài sản đã chi trả hết số tiền bán tài sản để thi hành án mà không trả lại phần tài sản cho vợ hoặc chồng là người không phải thi hành án. 

Vì vậy, khi kê biên tài sản cần lưu ý:

1. Chấp hành viên phải thực hiện đúng thứ tự kê biên tài sản theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 41 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004.

Trong trường hợp người phải thi hành án vừa có bất động sản là tài sản riêng vừa có phần động sản là tài sản chung với người khác mà phần tài sản trong khối tài sản chung đủ để thi hành án, thì Chấp hành viên phải giải thích để người phải thi hành án đề nghị kê biên tài sản nào trước đảm bảo thi hành án.

Continue reading