NGHỊ QUYẾT 1373 NGÀY 28 THÁNG 9 NĂM 2001 CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN LIÊN HỢP QUỐC VỀ PHONG TỎA, TỊCH THU TÀI SẢN CỦA CÁC PHẦN TỬ KHỦNG BỐ VÀ TÀI TRỢ CHO KHỦNG BỐ

Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc,

Khẳng định lại Nghị quyết số 1269 ngày 19/10/1999 và Nghị quyết số 1368 ngày 12/9/2001,

Tái khẳng định tội ác rõ rệt của vụ tấn công khủng bố tại New York, Washington D.C và Pennsylvania vào ngày 11/9/2001 và thể hiện quyết tâm ngăn chặn tất cả các loại hành động như vậy,

Một lần nữa, khẳng định rằng những hành động khủng bố quốc tế kiểu như thế, sẽ đe dọa hoà bình và an ninh quốc tế do các hành động khủng bố gây ra,

Tái khẳng định sự tồn hữu quyền cá nhân hoặc quyền tự vệ chung theo như quy định trong hiến chương của Liên hiệp quốc trong Nghị quyết 1368 (2001),

Một lần nữa, khẳng định sự cần thiết, bằng mọi biện pháp phù hợp với Hiến chương của Liên hợp quốc, chống lại sự đe doạ hoà bình và an ninh thế giới,

Lo ngại sâu sắc, ở hầu hết các khu vực trên thế giới về gia tăng các hành động khủng bố được hậu thuẫn bởi sự kích động hoặc chủ nghĩa cực đoan,

Kêu gọi các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố,

Nhận thức được sự cần thiết của các quốc gia hỗ trợ cho hợp tác quốc tế bằng cách áp dụng các biện pháp tăng cường phòng và chống việc tài trợ chuẩn bị bất kỳ hành động khủng bố nào trong nội địa quốc gia, thông qua các công cụ pháp luật phù hợp,

Tái khẳng định các nguyên tắc thiết lập bởi Đại Hội đồng trong tuyên ngôn tháng 10/1970 (nghị quyết 2625 (XXV) và được lặp lại bởi Hội đồng Bảo an trong Nghị quyết 1189 (1998 ) ngày 13/8/1998 cho rằng tất cả các quốc gia có nghĩa vụ kiềm chế các hoạt động tổ chức, xúi bẩy, hỗ trợ hoặc tham gia vào các hoạt động khủng bố tại các quốc gia khác hoặc đồng thuận với những hoạt động có tính tổ chức trong nội địa quốc gia mình nhằm hướng tới thực hiện các hoạt động đó.

Thực hiện theo Chương VII của Hiến chương Liên hiệp quốc.

Continue reading

BÀ RỊA – VŨNG TÀU: ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC NHƯNG KHÔNG THỂ THI HÀNH DO CÔNG VĂN CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH?

THANH TÙNG

Án có hiệu lực pháp luật hơn hai năm nay nhưng HĐND tỉnh kiên quyết ra hai công văn ngăn chặn làm việc thi hành án bị ngưng trệ.

Năm 1992, ông Trần Văn Đinh qua đời không di chúc để lại hai thửa đất (một gần 2.000 m2, một hơn 5.000 m2) tại xã Hòa Long, thị xã Bà Rịa (Bà Rịa-Vũng Tàu). Sau đó, sáu con người vợ lớn của ông Đinh quản lý phần lớn diện tích hai thửa đất; bốn mẹ con người vợ hai thì cất nhà ở tạm trên diện tích hơn 800 m2 thuộc thửa thứ nhất.

Tranh chấp di sản

Năm 2004, phía người vợ hai của ông Đinh khởi kiện yêu cầu chia lại cho đồng đều di sản thừa kế của người đã mất.

Tháng 9-2005, TAND thị xã Bà Rịa xử sơ thẩm, xác định tổng diện tích đất trên là tài sản chung của đồng thừa kế gồm 10 người (sáu con vợ lớn và bốn mẹ con vợ hai). Từ đó, tòa công nhận cho phía đồng nguyên đơn được sở hữu hơn 800 m2 đất đang sử dụng (thuộc thửa thứ nhất) và một phần diện tích ở thửa thứ hai. Tòa còn kiến nghị UBND thị xã thu hồi “giấy đỏ” cũ cấp năm 1992 để làm lại giấy mới. Các đồng nguyên đơn có nghĩa vụ đăng ký kê khai với UBND thị xã để cấp “giấy đỏ” mới.

Continue reading

NGHIỆP VỤ CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

A. Cơ sở pháp lý:

– Quyết định số 1452/2003/QĐ-NHNN ngày 03/11/2003 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc ban hành Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng;

– Quyết định số 94/2004/QĐ-NHNN ngày 20/1/2004 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi một số Điều của Quy chế cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1452/2003/QĐ-NHNN ngày 03/11/2003 của Thống đốc NHNN;

– Quyết định số 1452/2003/QĐ-NHNN ngày 03/11/2003 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của NHNN Việt Nam đối với các ngân hàng có bảo đảm bằng cầm cố trái phiếuđặc biệt;

– Quyết định số 1909/2005/QĐ-NHNN ngày 30/12/2005 của Thống đốc NHNN về việc các tổ chức tín dụng sử dụng một số loại trái phiếu trong các giao dịch tái cấp vốn của NHNN.

B. Nội dung nghiệp vụ:

1. Khái niệm: Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố GTCG (sau đây gọi tắt là cho vay cầm cố): Là hình thức cho vay của NHNN Việt nam đối với các ngân hàng xin vay trên cơ sở cầm cố các GTCG để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.

Continue reading

PHÁP LUẬT AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

THS. LÊ THỊ HOÀI THU – Khoa Luật – ĐHQG Hà Nội

Thực trạng pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam

Ở nước ta, vấn đề an sinh xã hội được đặt ra từ rất sớm. Là một nước chủ yếu là nông nghiệp, nền kinh tế còn chưa phát triển, lại thường phải gánh chịu nhiều thiên tai, địch hoạ nên mầm mống về an sinh xã hội đã có trong các câu ca dao như: “lá lành đùm lá rách”, “thương người như thể thương thân”, hoặc “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… các câu thành ngữ ấy đã thể hiện tính cộng đồng ở nước ta; góp phần điều chỉnh các hành vi trong xã hội về các hoạt động mang nội dung an sinh xã hội và dần dần được Nhà nước (kể từ thời phong kiến cho đến nay) xây dựng thành các chính sách.

Giai đoạn (1945-1985), Nhà nước ta ban hành rất nhiều văn bản. Có tới hàng ngàn văn bản liên quan đến các vấn đề xã hội đó là BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước; cứu trợ xã hội đối với những người nghèo, người không may bị rủi ro trong cuộc sống; ưu đãi xã hội đối với những người có công với nước… Một đặc điểm nổi bật của hoạt động an sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ này là do Nhà nước thực hiện. Nhà nước đảm nhiệm hai chức năng: vừa là người ban hành chính sách vừa là người thực hiện chính sách thông qua bộ máy của mình.

Continue reading

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI HỆ THỐNG BẢO HIỂM XÃ HỘI PHÙ HỢP VỚI KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS. THANG VĂN PHÚC

Sự cần thiết tiếp tục đổi mới hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) trong điều kiện mới

Việt Nam thực hiện đường lối đổi mới bắt đầu từ năm 1986 thực hiện quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã đưa ra các nguyên tắc phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội, trong đó đặt vấn đề phát triển hệ thống an sinh xã hội (ASXH) như một tất yếu đảm bảo cho các giá trị của CNXH được thể hiện trong quá trình chuyển đổi đầy khó khăn, phức tạp bởi các rủi ro và nguy cơ của các xung đột xã hội. Chính vì vậy, trong nhiều kỳ Đại hội Đảng – nhất là Đại hội Đảng IX và X vừa qua, vấn đề BHXH, an sinh xã hội được xác định như một trọng tâm trong đường lối phát triển kinh tế – xã hội của đất nước với tốc độ nhanh và bền vững.

Trước hết, cần xác định bản chất của hệ thống ASXH ở nước ta phù hợp với giá trị chung nhất, bao quát nhất của khái niệm ASXH. Theo các nhà nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, và thực tiễn quản lý thời gian qua cho thấy: ASXH là một hệ thống các thể chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các khủng hoảng kinh tế – xã hội làm cho họ suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập cho ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động – hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác mà rơi vào nghèo khổ. Và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng, thông qua các mạng lưới BHXH, BHYT, trợ giúp xã hội và người nghèo.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: BÊN MUA TÀI SẢN ĐƯỢC BẢO HIỂM CÓ ĐƯỢC THỤ HƯỞNG TIỀN BẢO HIỂM KHI XẢY RA SỰ KIỆN BẢO HIỂM?

image Civillawinfor tổng hợp (Theo Hoàng Yến – Báo pháp luật TPHCM)

Chuyển bảo hiểm lòng vòng

Ngày 11-1-2007, Công ty P. ký hợp đồng mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự 24 xe ôtô loại 29 chỗ với Công ty Bảo hiểm N. (gọi tắt là Công ty Bảo hiểm).

Một ngày sau, Công ty P. chuyển nhượng năm trong số 24 xe trên cho Công ty C. Theo thỏa thuận, Công ty P. đồng ý cho Công ty C. tiếp tục thụ hưởng phần còn lại của bảo hiểm thân xe. Riêng phần bảo hiểm trách nhiệm dân sự, hai bên không bàn tới nhưng Công ty P. có giao cho Công ty C. năm giấy chứng nhận bảo hiểm xe được mua từ Công ty Bảo hiểm.

Tháng 7-2007, một trong số năm xe của Công ty C. gặp tai nạn. Công ty C. đã phải bỏ ra hơn 110 triệu đồng để đóng viện phí, bồi thường cho hành khách trên xe, bồi thường trụ điện chiếu sáng công cộng mà xe tông phải. Song song đó, Công ty C. cũng thông báo sự việc cho Công ty Bảo hiểm biết.

Continue reading

MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ TIỀN – MỘT LOẠI TÀI SẢN TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ

euros_13_by_wazari_o CIVILLAWINFOR (Tổng hợp theo vi.wikipedia.org)

1. Định nghĩa

Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Tiền là thứ để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng). Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (thí dụ tiền giấy** hoặc tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.

Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.

Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.

  • Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.
  • Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dẽ dàng chuyển thành tiền mặt.
  • Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiéu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – Thực trạng và giải pháp đảm bảo phát triển

imageTS. PHẠM NGỌC ANH– Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.

Continue reading

QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO PHÁT TRIỂN

imageTS. PHẠM NGỌC ANH – Học viện Chính trị – Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

Những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm thực hiện quyền con người

Năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng chính thức tuyên bố đường lối đổi mới, với nội dung cơ bản là chuyển nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN; dân chủ hóa đời sống xã hội trên cơ sở xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; mở cửa tăng cường giao lưu hợp tác với bên ngoài trên tinh thần Việt Nam sẵn sàng làm bạn với các nước, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển.

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người ở nước ta trong thời gian qua.

Continue reading

ĐÔI NÉT VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ MỘT SỐ NƯỚC

business_18_1 HẢI NGUYÊN

Chăm sóc y tế là một trong những chế độ trợ cấp quan trọng, mang tính đặc thù của hệ thống An sinh xã hội. Pháp luật về An sinh xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ưu tiên đảm bảo chế độ trợ cấp về y tế, thể hiện dưới hình thức bảo hiểm y tế (BHYT). Quỹ BHYT có nguồn gốc từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự bảo trợ của Nhà nước.

Mức đóng BHYT căn cứ vào thu nhập nhưng mức hưởng theo bệnh tật, do đó không được ấn định trước bởi một mức cụ thể mà phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe và bệnh lý của đối tượng thụ hưởng. So với các chế độ khác của An sinh xã hội thì chi phí BHYT là chi phí ngắn hạn, khó xác định được trước, phụ thuộc vào xác suất rủi ro bệnh tật. Quyền lợi về BHYT bị ảnh hưởng không nhỏ bởi nhà cung cấp dịch vụ, hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh. Hoạt động BHYT gắn liền với các cơ sở khám chữa bệnh. Quyền lợi về chăm sóc y tế qua chế độ BHYT còn ảnh hưởng bởi một cơ quan trung gian trực tiếp cung cấp dịch vụ, đó là các cơ sở khám chữa bệnh.

Continue reading

HỆ THỐNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI CHLB ĐỨC

imageNGUYỄN VINH QUANG (Theo IAB, Cơ quan Việc làm Liên bang Đức)

Vai trò quan trọng của một hệ thống bảo hiểm thất nghiệp là đảm bảo thu nhập trong tình trạng thất nghiệp không tự nguyện. Từ góc độ kinh tế vĩ mô, hệ thống bảo hiểm thất nghiệp là một loại hình “tự động ổn định” hỗ trợ tiêu dùng trong tình trạng kinh tế suy thoái. Các chế độ bảo hiểm thất nghiệp do đó góp phần duy trì sức tiêu dùng ở cả góc độ cá thể và kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tìm việc làm hiệu quả – tạo điều kiện kết nối tốt hơn giữa cung và cầu trong thị trường lao động. Thông qua việc chuyển rủi ro xã hội từ từng cá nhân sang cho cộng đồng gánh vác, BHXH đóng vai trò quan trong nâng cao phúc lợi cộng đồng một cách tổng thể.

Rủi ro ngắn hạn và thất nghiệp tạm thời (khoảng thời gian giữa hai việc làm) có thể dễ dàng được bảo hiểm bởi các chương trình bảo hiểm tự hạch toán. Nhưng tỷ lệ thất nghiệp cao do ảnh hưởng từ các suy thoái quốc tế và quốc gia có thể làm cho Quỹ bảo hiểm thất nghiệp mất cân đối, chi vượt thu. Khoản chi chế độ thất nghiệp trong thời điểm này giúp làm giảm nhẹ tình trạng suy thoái. Mặc dù vậy, nó phải được cấp thêm nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác bên ngoài quỹ dự phòng của chương trình. Việc này có thể được thực hiện bằng hình thức vay hoặc bao cấp. Từ trước tới nay, các chương trình trợ cấp thất nghiệp đã đảm bảo khả năng hoạt động bằng một loạt cơ chế chặt chẽ như xác định rủi ro trong các khoản mục chi tiết, giới hạn diện được bảo hiểm, và đi kèm với các điều khoản của chế độ bảo hiểm là một loạt điều kiện cụ thể, một điều kiện quan trọng nhất trong số đó có lẽ là khoảng thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp.

Continue reading

TRANH CHẤP CHA MẸ VÀ CON: DỨT RUỘT KIỆN CON

image THÁI BÌNH

Phapluattp – Không ai đành đoạn dứt tình với núm ruột do mình mang nặng đẻ đau. Nhưng bà đành nuốt nước mắt kiện con ra tòa, những mong nó tĩnh tâm mà ăn ở với bà cho phải đạo…

Vụ kiện đơn giản: Bà Nguyễn Thị Nam(*), ở Chơn Thành (Bình Phước) kiện đòi chia tài sản chung là mảnh đất ở có diện tích hơn 240 m2. Tòa công nhận cho bà được sử dụng gần 1/2 diện tích đất ở do bị đơn Đào Phú Tây đứng tên.

Với phán quyết trên, bà Nam đã thắng kiện. Nhưng thắng kiện như bà chỉ thêm cay đắng, muộn phiền bởi người thua kiện lại là con ruột của bà!

Một thời rau cháo nuôi nhau

Bà Nam kể quê bà ở Thọ Xuân (Thanh Hóa). Chồng mất sớm, để lại sáu đứa con với cảnh nhà cơ cực. Năm 1992, bà để Tây và con gái út vào Bình Phước làm ăn. Hai năm sau, cầm hai chỉ vàng tiền bán nhà ở quê, bà vào Nam cùng hai con quyết tâm lập nghiệp.

Continue reading

THÔNG BÁO VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

notary2 THS. LÊ ANH TUẤN – Cục Thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp

Thông báo được hiểu là một hình thức chuyển tải nội dung thông tin nhất định đến đối tượng được thông tin, nhằm làm cho đối tượng được nhận thông tin biết được thông tin để thực hiện những hành vi nhất định. Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc thông báo những thông tin về thi hành án đòi hỏi phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về nội dung, đối tượng thông báo về thi hành án không phải trong trường hợp nào cũng như nhau và do người có thẩm quyền thực hiện và theo hình thức nhất định.

1. Cơ sở pháp lý

Có thể nói thông báo về thi hành án là việc người có thẩm quyền thực hiện việc chuyển tải giấy tờ chứa đựng thông tin về thi hành án cho người được thông báo theo trình tự, thủ tục nhất định, nhằm bảo đảm cho việc thi hành án đúng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự tham gia vào việc thi hành án. Các giấy tờ về thi hành án được thông báo bằng nhiều hình thức khác nhau và được chuyển tải đến đối tượng được thông báo có thể trực tiếp bằng những giấy tờ đó hoặc chỉ là nội dung của những giấy tờ đó.

Việc thông báo thông tin về thi hành án cho các đương sự biết và tham gia vào việc thi hành án nhằm tạo điều kiện để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Đây là biện pháp thể hiện sự dân chủ với dân trong hoạt động của cơ quan thi hành án, để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” hoạt động của Chấp hành viên, cán bộ thi hành án; đồng thời bảo đảm quyền được thông tin, quyền được biết và tham gia vào việc thi hành án của các đương sự mà pháp luật đã quy định. Việc thông báo cho các đương sự biết về thi hành án được thực hiện đúng quy định sẽ hạn chế được những khiếu nại, tố cáo không đúng pháp luật về thi hành án của đương sự; giảm thiểu hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án của cơ quan thi hành án và cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền.

Continue reading

CÔNG VĂN CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 81/2000/KHXX NGÀY 3 THÁNG 7 NĂM 2000 VỀ VIỆC UỶ QUYỀN THAM GIA TỐ TỤNG TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN

Kính gửi:

– Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
– Các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trong thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được các công văn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phản ảnh về việc các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chưa có sự thống nhất trong vấn đề chấp nhận việc các ngân hàng uỷ quyền cho các văn phòng đại diện, chi nhánh của các ngân hàng khởi kiện, tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế.

Để bảo đảm sự thống nhất và đúng pháp luật về vấn đề uỷ quyền của các ngân hàng cho văn phòng đại diện, chi nhánh của các ngân hàng tham gia tố tụng tại Toà án nhân dân trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, các vụ án kinh tế; sau khi có ý kiến thống nhất của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 1136/KS-V12 ngày 2 tháng 6 năm 2000 và của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Công văn số 530/CV-NHHH10 ngày 15 tháng 6 năm 2000; Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:

Continue reading

CẠNH TRANH THƯƠNG MẠI: ĐÂU LÀ GIỚI HẠN LÀNH MẠNH?

image MAI HẠNH (Tổng hợp từ Nihon Keizai)

Hoạt động kinh doanh, thương mại dịch vụ trên thế giới đã biết đến nhiều tình huống trắng đen lẫn lộn, thật giả khôn lường, và hậu quả cũng khó ai đếm nổi. Những thị trường phát triển rất nhanh tất yếu cũng phát sinh không ít “vòng xoáy”. Để hoá giải những vòng xoáy đó, việc cần thiết là phải tạo dựng một thị trường trong đó các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dựa trên nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh. Sau đây là một số vụ việc đã được xử lý, có thể coi như những bài học về “thương mại lành mạnh” để các doanh nghiệp tham khảo, cùng rút kinh nghiệm.

1/ Biến khách thành chủ

Công ty TNHH Ann Treas (nguyên đơn) khiếu nại: Ông Yang Wei Min (Yang), cựu chủ tịch của công ty, sau khi rút cổ phần từ công ty cũ đã thành lập một công ty mới kinh doanh các thiết bị sản xuất và băng từ, lấy tên là Công ty TNHH Antreas (bị đơn), cố ý chơi trò “đánh lận” tên bằng tiếng Anh (cả Ann Treas và Antreas gọi theo tên Trung Quốc đều là Wechen). Ông Yang cũng đăng ký tên tiếng Anh Antreas với Uỷ ban Ngoại thương (BOFT). Hậu quả: Gây nhầm lẫn lớn cho khách hàng của Ann Treas.

Nguyên đơn khiếu nại, yêu cầu bên bị, ông Yang đại diện, phải bị cấm sử dụng tên tiếng Anh đó, đồng thời rút tên đăng ký với BOFT.

Continue reading

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VỀ CÔNG CHỨNG, CHỨNG THỰC HỢP ĐỒNG BẢO ĐẢM – KHẢ NĂNG GIẢI QUYẾT TẠI LUẬT CÔNG CHỨNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

DƯƠNG THANH MINH

1. Quy định về “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu” trong hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực

Theo quy định tại điểm 1.1.b khoản 1 Mục II của Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 04) thì trong “hồ sơ yêu cầu công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản về bất động sản” (trong đó có hợp đồng thế chấp bất động sản) phải có “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu”. Quy định này bộc lộ một số hạn chế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, quy định trên chưa thể hiện rõ “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu” phải có trong hồ sơ là của người yêu cầu công chứng, chứng thực[1] hay của chủ thể tham gia hợp hợp đồng thế chấp. Nếu là của chủ thể tham gia hợp đồng thế chấp thì áp dụng đối với các bên hay chỉ áp dụng đối với một bên, trong trường hợp chỉ áp dụng đối với một bên thì đó là bên nào, bên thế chấp hay bên nhận thế chấp.

Ngoài ra, yêu cầu về “bản sao Giấy chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu”, nếu áp dụng đối với các bên là tổ chức (ví dụ: bên nhận thế chấp là pháp nhân và có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) là không phù hợp, còn nếu áp dụng đối với người đại diện của tổ chức ký kết hợp đồng thế chấp thì cũng chưa thể hiện được.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ SỞ HỮU: NGƯỜI CÓ GIẤY TỜ SỞ HỮU HỢP PHÁP CHƯA HẲN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG NHẬN QUYỀN CỦA MÌNH?

TỬ DUY

Đại Đoàn kết – Với nhiều người chứng cứ, nhân chứng, lời khai đầy đủ, khách quan, thế nhưng một thẩm phán tại TAND huyện Chơn Thành – Bình Phước dường như chỉ dựa vào phía đương sự đưa ra những chứng cứ “khai bằng miệng” để phán quyết!

Theo đơn khiếu nại, kêu cứu của bà Nguyễn Thị Bé Tư (sinh năm 1958, ngụ khóm 3, phường 11, TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) gửi đến nhiều cơ quan chức năng và báo chí, vào thời điểm cuối năm 2002, chồng của bà Bé Tư là ông Dương Văn Sơn (sinh năm 1958, cùng ngụ địa chỉ trên) cùng anh ruột của bà là ông Nguyễn Văn Hùng (ngụ huyện Gò Công, tỉnh Tiền Giang) có đến ấp 5, xã Minh Lập, huyện Bình Long cũ (nay là huyện Chơn Thành), tỉnh Bình Phước để mua một mảnh đất. Do người có quyền sử dụng mảnh đất trên là bà Thái Thu Ngân (ngụ quận 6, TP.Hồ Chí Minh, hiện là Phó Chánh án TAND quận 6, có diện tích 47.017m2 đất) và Thái Thu Hà (ngụ tỉnh Vĩnh Long, có diện tích 83.700 m2 đất) nên bà Bé Tư đã liên hệ với em ruột là bà Nguyễn Thị Bé Năm (sinh năm 1962, ngụ quận 6, TP.Hồ Chí Minh) để nhờ hỏi bà Ngân và bà
Hà trong việc sang nhượng lại hai mảnh đất có diện tích trên.

Continue reading

QUY CHẾ ĐẠI LÝ ĐỔI NGOẠI TỆ

QUY CHẾ ĐẠI LÝ ĐỔI NGOẠI TỆ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 21/2008/QĐ-NHNN ngày 11 tháng 7 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh.

1. Quy chế này điều chỉnh hoạt động đổi ngoại tệ của tổ chức làm Đại lý đổi ngoại tệ cho Tổ chức tín dụng được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối (dưới đây gọi là Tổ chức tín dụng được phép) trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2. Hoạt động đổi ngoại tệ của các Tổ chức tín dụng được phép thực hiện theo quy định của Tổng Giám đốc (Giám đốc) Tổ chức tín dụng được phép phù hợp với quy định về mạng lưới hoạt động của Tổ chức tín dụng.

3. Hoạt động đổi đồng tiền của nước có chung biên giới với Việt Nam thực hiện theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác và không chịu sự điều chỉnh của Quy chế này.

Điều 2. Đối tượng làm Đại lý đổi ngoại tệ.

Các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần (sau đây gọi là tổ chức) có đủ các điều kiện quy định tại Điều 5 Quy chế này được làm Đại lý đổi ngoại tệ cho các Tổ chức tín dụng được phép trên cơ sở hợp đồng Đại lý đổi ngoại tệ giữa Tổ chức tín dụng và tổ chức.

Đại lý đổi ngoại tệ chỉ được hoạt động sau khi được Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (dưới đây gọi là Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh tỉnh, thành phố) trên địa bàn cấp Giấy chứng nhận đăng ký Đại lý đổi ngoại tệ.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ CỦA VỢ, CHỒNG: ĐẤU GIÁ TÀI SẢN CỦA CẢ NGƯỜI KHÔNG PHẢI THỰC HIỆN NGHĨA VỤ?

VĂN ĐOÀN

Chồng mắc nợ nhưng vợ lại bị thi hành án thị xã đấu giá đất.Theo lẽ chỉ kê biên, đấu giá diện tích đất bình quân của mỗi người trong tổng diện tích đất mà vợ chồng có chung thì THA thị xã lại “xắn” hết thảy.

Từ năm 2002 đến năm 2003, ông Đáng (ngụ phường 3, thị xã Tân An, tỉnh Long An) đã vay của ông H. tổng cộng hơn 130 triệu đồng. Tháng 9-2004, khi xét xử phúc thẩm vụ án, TAND tỉnh Long An nhận định: Ông H. cho ông Đáng mượn tiền đánh bạc nhưng không báo cho vợ ông Đáng biết. Phía người vợ cũng không có cơ sở nào khẳng định bà có biết chồng mượn nợ. Cho rằng đó là khoản nợ riêng của người chồng, tòa tuyên buộc ông Đáng phải tự mình lãnh trách nhiệm trả nợ cho ông H.

Đấu giá cả lô đất

Tháng 10-2004, Thi hành án dân sự (THA) thị xã Tân An ra quyết định buộc ông Đáng THA. Do ông Đáng không tự nguyện thi hành nên THA thị xã đã thực hiện biện pháp kê biên tài sản của ông Đáng. Kết quả xác minh của cơ quan này cho thấy ông Đáng và vợ có hai căn nhà (mỗi căn rộng khoảng 50 m2) nằm trên mảnh đất khoảng 400 m2 ở địa chỉ trên do người vợ đứng tên. Xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, THA thị xã hướng dẫn người vợ khởi kiện phân chia tài sản. Mặc dù cho rằng nhà, đất đó là tài sản riêng của mình nhưng người vợ lại không nộp đơn yêu cầu tòa án minh định rõ.

Continue reading