QUYỀN VỀ HỌ, TÊN CỦA CÁ NHÂN: CHUYỆN BI HÀI Ở LÀNG ĐỔI HỌ

MẠNH DƯƠNG

Sự rắc rối trong cách đặt họ tên từ bao đời nay khiến cho nhiều thế hệ kế tiếp ở xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây phải rơi vào những chuyện bi hài không đáng có.

 Đàn ông ai cũng họ… “Nguyễn”

Người dân ở Sơn Đồng vẫn quen gọi tên xã của mình là xã đổi họ. Ông già bán nước ở đầu làng tên Nguyễn Doãn Thạc giải thích: “Con gái sinh ra thì lấy “chi” (họ gốc của bố) làm họ và lấy chữ “thị” làm tên đệm, con trai thì lấy “Nguyễn” làm đầu và lấy “chi” làm tên đệm. Tất cả nam giới trong xã này đều có họ giống nhau, tức là họ “Nguyễn”. Chính vì thế mà chúng tôi cứ quen gọi nôm na xã mình là xã đổi họ”…

Chúng tôi được ông Thạc dẫn đến gặp một trưởng lão trong xóm; đó là cụ Nguyễn Khánh Lư, nguyên là nhà giáo, nhà báo và là người nghiên cứu văn hóa – lịch sử Sơn Đồng. Cụ Lư cũng là một thế hệ “đổi họ” trong xã. Là nhà nghiên cứu nhưng cụ Lư cho đến giờ vẫn chưa lý giải một cách thấu đáo về nguyên nhân của hiện tượng trên. Đối với phần đông dân số Sơn Đồng, việc “đổi họ” như là một tập tục bất khả kháng truyền từ đời này qua đời khác. Theo phỏng đoán của cụ Lư thì có thể do từ thời xưa, việc này xuất phát vì lý do dân chúng ở đây muốn phục tùng và tỏ thái độ tôn thờ triều Nguyễn. Còn theo một lý giải khác, việc thay tên đổi họ nhằm tránh sự truy sát của quân thù. Người dân tập trung lại sống với nhau, lâu dần việc đổi họ trở thành thói quen để bảo vệ gia tộc. Cũng có ý khác cho rằng, thời xưa, một người trong xã chống lại nhà vua và bị lưu đày, kể từ đó muốn được đi thi, nam giới ở đây phải đổi sang họ Nguyễn để che mắt triều đình. Họ “Nguyễn” được phân chia thành “Nguyễn thôn trong” và “Nguyễn thôn ngoài”, bao gồm các chi: Đăng, Đức, Nghiêm, Vân, Quý, Doãn, Chí, Phan, Khánh, Viết. Sở dĩ có sự phân chia như vậy vì họ “Nguyễn” được phân làm nhiều chi, như chi trưởng, chi thứ; rồi các chi lại tiếp tục phân tiếp. Continue reading

TRANH CHẤP TÊN THƯƠNG MẠI VÀ NHÃN HIỆU: HAI DOANH NGHIỆP CÙNG MANG NHÃN HIỆU BÌNH MINH

HOÀNG TÚ

Nhựa “Ống Bình Minh” nhập nhằng với nhựa “Bình Minh”. Hai công ty đều được cấp giấy phép hợp pháp.

Mới đây, Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM đã nhận được đơn của Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh khiếu nại việc công ty này bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với tên thương mại và nhãn hiệu “Bình Minh”.

Xâm phạm cả tên thương mại lẫn nhãn hiệu

Đầu tháng 3-2008, Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh phát hiện có một công ty cùng kinh doanh trong ngành nhựa, cùng hoạt động tại TP.HCM và có tên thương mại, nhãn hiệu mang hai chữ “Bình Minh” giống mình.

Đáng chú ý là công ty này thành lập hoàn toàn hợp pháp theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cấp ngày 15-2-2008. Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp này có tên đầy đủ là Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ và Sản xuất nhựa Ống Bình Minh. Theo đó, tên thương hiệu của công ty này là “Ống Bình Minh”, dẫn đến tên đối ngoại là “Ong Binh Minh Platics Plastics”. Điều này rất dễ làm người tiêu dùng lầm lẫn với Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh với tên thương hiệu là “Bình Minh” và tên đối ngoại là “Binh Minh Plastics”.

Continue reading

THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI BẰNG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

PGS.TS. NGUYỄN ĐÔNG PHONG & THS. NGUYỄN HỮU HUY NHỰT

BCO1047 Đặt vấn đề

Các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế thâm nhập thị trường thế giới bằng những phương thức khác nhau. Đó có thể là xuất khẩu (trực tiếp hoặc gián tiếp), đầu tư ra nước ngoài, hoặc thực hiện nhượng quyền kinh doanh. Hoạt động nhượng quyền kinh doanh (franchising) được coi là khởi nguồn tại Mỹ, vào giữa thế kỷ 19, lần đầu tiên trên thế giới, nhà sản xuất máy may Singer ký cho thực hiện hợp đồng nhượng quyền kinh doanh. Hiện nay, hoạt động nhượng quyền đã có mặt tại hơn 160 nước trên thế giới. Các hệ thống nhượng quyền kinh doanh toàn cầu như: Kentucky, Burger Khan, Five Star Chicken, Jollibee, Carvel, Baskin Robbins, Texas Chicken, Kentucky Fried Chicken, Chili’s… đã đầu tư vào VN sau khi thành công tại các thị trường lân cận như: Nhật, Indonesia, Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines. Các hệ thống khác như Dunkin Donuts, McDonald’s, 7-Eleven’s hiện đã kết thúc giai đoạn nghiên cứu thị trường. Hoạt động nhượng quyền kinh doanh đang phát triển rất nhanh tại VN, với sự tham gia của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các hoạt động đó đã có doanh số 1,5 triệu USD vào năm 1996, trên 4 triệu USD vào năm 1998 và từ đó đến nay liên tục phát triển với tốc độ tăng trưởng dự báo 15-20%/năm [1] .

Trong khuôn khổ của bài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào phân tích hoạt động nhượng quyền kinh doanh của các doanh nghiệp VN thời gian qua, từ đó tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động này và đề ra các giải pháp phát triển.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH ĐẾN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

PGS. TS. PHƯƠNG NGỌC THẠCH

Chính sách đất đai của nước ta đang hướng tới chủ trương giá đất theo giá thị trường và khuyến khích đấu giá đất để đất có giá cao đã làm giá đất tăng lên nhanh chóng. Thủ Tướng CP vừa qua ban hành Nghị định 123/2007/NĐ-CP cho phép UBND cấp tỉnh được quyết định giá các lọai đất dao động trên dưới 20% khung giá đất do chính phủ quy định. Nghị định xác định giá đất tối đa ở các đô thị đặc biệt là 67,5 triệu đồng, như vậy giá đất cao nhất ở Hà Nội và TP.HCM là 81 triệu đồng/m2.

Giá cả BĐS ở nước ta đã tăng lên giả tạo gấp hàng chục lần chỉ trong thời gian ngắn. Giá bán của căn hộ cao cấp đến nay (đầu năm 2008 ) đã tăng gấp 3 lần so với đầu năm 2007, từ 1.200 USD lên 4.500 USD/m2, giá thuê văn phòng tại TP.HCM đã tăng lên từ 30-50% so với đầu năm 2007. TP.HCM, Hà nội nằm trong Top 10 thành phố trên thế giới có mức giá nhà đất tăng. Việc tăng giá BĐS đã mang lại lợi nhuận lớn cho các công ty kinh doanh trong lĩnh vực BĐS như Phú Mỹ Hưng, Hoàng Anh-Gia lai, Bitexco…. Theo tính toán tỷ suất lợi nhuận kinh doanh trong lĩnh vực đất đai địa ốc ở VN luôn cao hơn Thái Lan trên 10-15%.

Các nhà đầu tư dựa vào lợi nhuận thấy các thị trường khác không hấp dẫn bằng thị trường bất động sản, đã lao vào kinh doanh bất động sản. Có khá nhiều doanh nghiệp nước ngoài như Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan và đến nay cả Nhật …cùng với các doanh nghiệp trong nước tăng cường đầu tư vào BĐS.

Continue reading

NHỮNG GIẢI PHÁP giúp doanh nghiệp Việt Nam đối phó với rào cản “chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu

GS.TS. VÕ THANH THU & GS.TS. ĐOÀN THỊ THANH XUÂN

Nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam (VN) đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện và bảo vệ thành công đề tài: “Đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp VN – trường hợp TP.HCM”.

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế quản lý chống bán phá giá quốc tế được áp dụng trên những thị trường xuất khẩu chủ yếu của VN, như: EU, Mỹ…, rút ra những bước và thủ tục có liên quan đến quá trình điều tra chống bán phá giá; Nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, rút ra các bài học cho VN; Nghiên cứu thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của VN, đặc biệt phân tích kỹ các vụ kiện lớn, như: cá basa, tôm sú, giày mũ da, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét, kết luận mang tính khách quan và khoa học, nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn để đề xuất hệ thống các giải pháp hướng dẫn cho các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng xuất khẩu của VN, đồng thời đưa ra các kiến nghị giải pháp đối với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, VCCI cùng Hiệp hội các ngành hàng xuất khẩu, để bảo vệ hàng hoá xuất khẩu của VN tránh khỏi các vụ kiện và chiến thắng khi bị kiện bán phá giá. Bài báo dưới đây xin giới thiệu những nội dung chính yếu của công trình nghiên cứu nêu trên.

Continue reading

NHỮNG GIẢI PHÁP GIÚP CÁC DOANH NGHIỆP VN ĐỐI PHÓ VỚI RÀO CẢN “CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ” Ở NƯỚC NHẬP KHẨU

GS.TS. VÕ THANH THU & GS.TS. ĐOÀN THỊ THANH XUÂN

Nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam (VN) đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu, nhóm nghiên cứu đã thực hiện và bảo vệ thành công đề tài: “Đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản “Chống bán phá giá” ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp VN – trường hợp TP.HCM”.

Trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế quản lý chống bán phá giá quốc tế được áp dụng trên những thị trường xuất khẩu chủ yếu của VN, như: EU, Mỹ…, rút ra những bước và thủ tục có liên quan đến quá trình điều tra chống bán phá giá; Nghiên cứu thực trạng và kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của các nước Trung Quốc, Ấn Độ, rút ra các bài học cho VN; Nghiên cứu thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của VN, đặc biệt phân tích kỹ các vụ kiện lớn, như: cá basa, tôm sú, giày mũ da, nhóm nghiên cứu đã đưa ra những nhận xét, kết luận mang tính khách quan và khoa học, nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn để đề xuất hệ thống các giải pháp hướng dẫn cho các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng xuất khẩu của VN, đồng thời đưa ra các kiến nghị giải pháp đối với Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, VCCI cùng Hiệp hội các ngành hàng xuất khẩu, để bảo vệ hàng hoá xuất khẩu của VN tránh khỏi các vụ kiện và chiến thắng khi bị kiện bán phá giá. Bài báo dưới đây xin giới thiệu những nội dung chính yếu của công trình nghiên cứu nêu trên.

Continue reading

TRÍ THỨC LÀ AI?

image Nhân dịp Hội nghị TW7 – BCHĐCSVN họp thảo luận và ra nghị quyết về thanh niên, nông dân và trí thức, Civillawinfor xin đăng bài viết của nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên, giúp chúng ta nhận diện được phần nào Trí thức là ai?

 

PHẠM  XUÂN NGUYÊN

Trí thức là người có tri thức và biết suy nghĩ khác biệt và độc lập, và là người chỉ truy cầu một mục đích: chân lý. Từ vị thế này, trí thức mới có thể tác động và ảnh hưởng đến sự phát triển và tồn vong của xã hội và quốc gia…

Bàn chuyện trí thức, “trước khi ngồi vào bàn hãy thống nhất khái niệm”, tôi xin nêu lên một số quan niệm và cách hiểu về “trí thức” ở nước ngoài. Chữ “Intelligentsia” mà ta dịch là “trí thức” gốc từ Nga. Cách đây gần hai chục năm trên một tờ tạp chí Liên Xô có một cuộc thảo luận bàn tròn về “Trí thức xưa và nay”. Tham gia thảo luận là các nhà đông phương học Liên Xô hồi đó. Tôi xin trích dịch một số ý kiến nêu ra đây tham khảo i.

Continue reading

VƯỚNG MẮC VỀ GIẢM MỨC BỒI THƯỜNG TRONG XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI NGƯỜI GÂY THIỆT HẠI CÓ LỖI VÔ Ý

HỒ KHẢI HÀ

Điều 605 BLDS năm 2005. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

“… Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình (Khoản 2)…”

….Thực tế các tòa lại không áp dụng vì thiếu hướng dẫn.

Một chuyện gây xôn xao dư luận gần đây là việc các bị cáo trong vụ cháy Chợ Lớn Quy Nhơn (Bình Định) phải bồi thường cho những người bị hại hơn 122 tỷ đồng. Nhiều người đã cho rằng họ có còng lưng làm cả đời cũng không thể trả nợ nổi vì gia cảnh ai cũng nghèo khó. Tòa tuyên như vậy là thiếu thực tế, cứng nhắc vì không áp dụng luật để giảm mức bồi thường cho các bị cáo…

Hầu như không áp dụng

Việc không áp dụng được khoản 2 Điều 605 BLDS không riêng gì ở TAND tỉnh Bình Định, chúng tôi đã tìm hiểu ở rất nhiều tòa khác và được biết các tòa hầu như không áp dụng quy định này.

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: HÒA GIẢI KHÔNG THÀNH THÌ CHUYỂN SANG TÒA

KHÁNH LY

Từ năm 1958, gia đình ông Chu Xuân Huy đã cư ngụ tại 469/7E Nguyễn Kiệm, phường 9, quận Phú Nhuận, TP.HCM.
Trong giấy chủ quyền nhà mà ông được cấp năm 1990, quận chỉ công nhận diện tích nhà, không công nhận sân phía trước. Tuy nhiên, họa đồ bổ túc hồ sơ nhà của ông Huy có thể hiện phần diện tích sân này.

Năm 1972, bà C. mua lại căn nhà giáp sân nhà ông Huy, có cửa chính trổ ra đường Nguyễn Kiệm. Từ thời chủ trước, căn nhà này đã có một cửa nhỏ phía sau nhưng chỉ để thông thoáng, không phải lối đi. Mâu thuẫn giữa hai nhà phát sinh khi bà C. sửa cửa sau và đã xây lấn sang sân nhà ông Huy. Ông Huy làm đơn khiếu nại bà C., UBND phường 9 đã mời hai bên đến để hòa giải nhưng không thành.

Sau đó, bà C. gửi đơn khiếu nại nhà ông Huy lấn chiếm hẻm chung làm sàn nước, dây phơi che chắn cửa sau nhà bà. Viện lẽ ông Huy chỉ được công nhận phần diện tích đất có nhà, phần còn lại là hẻm chung nên UBND quận đã ra thông báo yêu cầu gia đình ông Huy không được che chắn, bao bọc cửa phía sau nhà bà C.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN: CỤ ÔNG 74 TUỔI XIN LY HÔN VÌ VỢ MẢI BẾ CHÁU?

couple-fighting-kids  VTCnews – Mặc con cháu và những cán bộ hòa giải can ngăn. Cụ ông 74 tuổi vẫn một mực đòi “giải thoát cuộc đời” khỏi người đàn bà đã cùng ông hơn 50 năm sống đời vợ chồng.

Tòa án Nhân dân (TAND) huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên vừa đưa một vụ ly hôn khá hy hữu ra phân xử. Nguyên đơn là cụ ông 74 tuổi, kiên quyết đòi ly hôn với cụ bà 70 tuổi.

Ông đòi bỏ, bà xin hàn gắn

Năm 1956, đám cưới của ông Đoàn, bà Hoan được tổ chức theo phong tục tập quán của địa phương. Họ đón nhau về, cùng xây dựng tổ ấm trên mảnh đất do cha mẹ ông Đoàn để lại, đồng lòng vượt qua những khó khăn và có với nhau 4 mặt con. Đến bây giờ, các con của ông bà đã lập gia đình, có công việc ổn định và con cái đề huề.

Vậy nhưng, bà mải mê đi bế cháu ngoại, không chịu quan tâm chăm sóc ông, nên năm 2005 ông Đoàn kiên quyết đòi bỏ vợ. Toà án 2 cấp ở Hưng Yên đã ra quyết định bác đơn xin ly hôn của ông Đoàn vì nhiều lí do, trong đó có sự tha thiết được hàn gắn đời sống vợ chồng của bà Hoan.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ KINH TẾ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

imageTS. LÊ XUÂN BÁ – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

1. “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai

Đây là định nghĩa do Ủy ban Liên hợp quốc về môi trường và phát triển đưa ra. Về nội dung, phát triển bền vững được hiểu là một quá trình bao gồm không chỉ các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, mà còn có cả các mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Quan niệm về phát triển bền vững được hình thành qua một khoảng thời gian tương đối dài, xuất phát từ yêu cầu giải quyết những vấn đề mà các quốc gia gặp phải trong tiến trình phát triển của mình. Trước đây, trong quan niệm về phát triển của các quốc gia công nghiệp, vấn đề tăng trưởng kinh tế được thể hiện chủ yếu qua chỉ tiêu GDP luôn được coi trọng. Quan niệm này cũng được coi là kim chỉ nam tại các nước công nghiệp mới và các nước đang phát triển trong những năm 50 và 60 của Thế kỷ, trước khi các nước này bắt đầu bước vào công nghiệp hóa nhằm mục đích đuổi kịp các nước phát triển.

Continue reading

QUI CHẾ VỀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM

Quy chế về tiền gửi tiết kiệm

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN

ngày 13 tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)

clip_image001

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Quy chế này điều chỉnh các hoạt động nhận và chi trả tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam giữa tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và người gửi tiền.

Điều 2. Tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm

1. Các tổ chức tín dụng được thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng.

2. Các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng được pháp luật cho phép nhận tiền gửi tiết kiệm.

Điều 3. Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm

1. Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam là các cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

2. Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là các cá nhân người cư trú.

Continue reading

QUI CHẾ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ IN, ĐÚC TIỀN VIỆT NAM

Quy chế tổ chức, quản lý in, đúc tiền Việt Nam

(Ban hành kèm theo Quyết định số 02/2007/QĐ-NHNN

ngày 16 tháng 01 năm 2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước )

Chương I

Quy định chung

 Điều 1. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh

1. Quy chế này quy định việc tổ chức, quản lý in, đúc tiền Việt Nam gồm: tiền giấy, tiền kim loại, tiền mẫu, tiền lưu niệm (gọi chung là tiền Việt Nam) của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (viết tắt là Ngân hàng Nhà nước).

2. Nhà máy in, đúc tiền thực hiện việc in, đúc tiền theo hợp đồng với Ngân hàng Nhà nước (Cục Phát hành và Kho quỹ), trên cơ sở kế hoạch in, đúc tiền đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (viết tắt là Thống đốc NHNN) phê duyệt.

Điều 2. Nguyên tắc tổ chức, quản lý in, đúc tiền Việt Nam

1. Hoạt động in, đúc tiền Việt Nam chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước theo quy định tại Quy chế này và các quy định của pháp luật có liên quan.

Continue reading

BỎ QUYÊN NÔNG DÂN, KHÔNG THỂ CÓ CÔNG NGHIỆP HÓA VỮNG CHẮC

image GS.VS. ĐÀO THẾ TUẤN – Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam (PHANO)
TS. ĐÀO THẾ ANH – Giám đốc Trung tâm NC và PT Hệ thống nông nghiệp (CASRAD), Ủy viên ban chấp hành PHANO

image Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta hiện nay về thực chất là vấn đề phát triển bền vững. Nếu công cuộc Đổi mới dẫn đến sự phân hóa xã hội quá mức, tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn thì sự phát triển sẽ không bền vững.

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là ba vấn đề khác nhau nhưng nếu không cùng được giải quyết một cách đồng bộ thì không thể công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước một cách vững chắc được.

Lượng nông sản thấp, giá thành cao

Vấn đề đầu tiên là nông nghiệp. Hiện nay, có ý kiến cho rằng nông nghiệp nước ta trong thời gian qua đã phát triển tương đối tốt, đã giải quyết được an ninh lương thực, đồng thời việc xuất khẩu nông sản gần đây đang phát triển tốt trong điều kiện giá lương thực và nông sản thế giới tăng. Trong quá trình công nghiệp hóa, phần của nông nghiệp trong sản phẩm trong nước (GDP) giảm dần, nhưng không có nghĩa là vai trò của nông nghiệp ngày càng giảm.

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CANADA

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Canada (sau đây gọi là các Nước ký kết):

Công nhận rằng, để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông;

Công nhận rằng, mỗi Nước ký kết phải tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình;

Công nhận rằng, vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài có lợi là đem lại một gia đình lâu dài cho những trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại nước gốc của mình;

Tin tưởng vào sự cần thiết phải áp dụng những biện pháp nhằm bảo đảm việc nuôi con nuôi nước ngoài được thực hiện vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em và để ngăn chặn việc dụ dỗ, bán hoặc buôn bán trẻ em;

Công nhận rằng, tại Canada, vấn đề nuôi con nuôi thuộc thẩm quyền của Tỉnh bang và lãnh thổ;

Mong muốn thiết lập những quy định chung vì mục đích này, có tính đến hai chế độ pháp luật của Canada và các nguyên tắc được công nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em được thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading

THỎA THUẬN HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Sau đây gọi là “Việt Nam”)

CHÍNH PHỦ QUÉBEC
(Sau đây gọi là “Québec”)

Dưới đây được chỉ định là các Bên,

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong một môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Bên phải có những biện pháp thích hợp cho phép trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình của mình và bảo đảm gia đình thay thế cho trẻ em không có môi trường gia đình gốc;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho trẻ em đó tại Nước gốc của mình;

Dựa trên các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20 tháng 11 năm 1989, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi;

Mong muốn thiết lập các quy định chung nhằm bảo đảm việc tôn trọng những quyền của trẻ em thường trú tại Việt Nam được những ngươi cư trú tại Québec nhận làm con nuôi và nhằm phòng ngừa việc thu lợi vật chất bất chính, bắt cóc trẻ em, bán và buôn bán trẻ em từ việc nuôi con nuôi;

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ: CÓ HAY KHÔNG CÓ HÀNH VI LỪA GẠT BIẾN HỢP ĐỒNG MUA THÀNH HỢP ĐỒNG TẶNG CHO?

THÁI HIẾU

Hợp đồng mua bán nhà bỗng thành hợp đồng tặng cho, người được “cho” nhà còn “tự nhiên” được phó công an phường cấp sổ tạm trú dài hạn trong nhà nói trên.

Khoảng giữa năm 2005, bà Hoàng Thị Yến (61 Phan Xích Long, phường 3, quận Phú Nhuận, TP.HCM) đồng ý cho ông Nguyễn Tòng Tuấn (Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Tây) thuê một phần vỉa hè trước nhà để bán thịt bò với giá 600 ngàn đồng/tháng. Việc này cả hai chỉ giao ước bằng lời.

Bán nhà nhưng ký giấy cho

Đến giữa năm 2006, người con trai duy nhất của bà Yến bị bệnh nặng, phải vào bệnh viện để điều trị dài ngày. Để trang trải viện phí cho con cùng một ít nợ nần, bà Yến vay một người quen 40 triệu đồng có đóng lãi hàng tháng và phải thế chấp giấy chủ quyền nhà cho người này để làm tin. Vào đầu năm 2008, người chủ nợ cần tiền nên yêu cầu bà phải hoàn trả hết số tiền đã mượn. Bà Yến phải kêu bán căn nhà. Một người mua bán gần nhà bà Yến hỏi mua với giá 1,35 tỷ đồng nhưng sau đó lo không đủ tiền nên người này từ chối. Thấy vậy, ông Tuấn ngỏ lời xin mua căn nhà này với giá 1,2 tỷ đồng. Bà Yến đồng ý.

Continue reading

GIÁO SƯ PHAN ĐÌNH DIỆU "ĐỪNG VỘI NÓI CHUYỆN ĐÃI NGỘ TRÍ THỨC THẤP, CAO"

THANH PHÁCH – Báo Đại đoàn kết

imageTrao đổi về Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp  hóa- hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế” trình Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) tới đây, Giáo sư Phan Đình Diệu cho rằng, một khi chưa có quan niệm đúng đắn về trí thức và một cơ chế để tạo môi trường cho người trí thức phát huy hết năng lực thì rất khó bàn đến chuyện đãi ngộ thế nào là xứng đáng với những đóng góp của họ.

P.V: Thưa Giáo sư, một trong những điểm nhấn của Đề án là khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Cá nhân ông đặt kỳ vọng gì ở Đề án này?

Giáo sư Phan Đình Diệu: Trí thức không đơn giản là người lao động trí óc. Vấn đề “thế nào là người trí thức?” đã được thảo luận từ hơn một thế kỷ trước. Paul A. Baran, một nhà kinh tế học Mỹ theo chủ nghĩa Marx, trong một bài báo viết vào đầu những năm 1960, đã căn cứ vào một câu nói của Marx và viết: “trí thức là người nói sự thật, phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không lùi bước trước kết luận của chính mình, hoặc trước xung đột với quyền lực, bất cứ quyền lực nào”. Nói cách khác, thông qua lao động trí óc, người trí thức phải là người luôn suy nghĩ, và đưa những suy nghĩ, hiểu biết của mình đóng góp cho sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Do vậy, trí thức rất cần một môi trường tự do cho suy nghĩ, sáng tạo, và tự do trao đổi ý kiến, suy nghĩ với nhau để hình thành nên những đóng góp có ý nghĩa đối với xã hội..

* Nói như vậy, theo ông, tiêu chuẩn trí thức của thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế có điểm nào khác với trước đây?

– Thú thật, tôi cũng không thuộc lắm những tiêu chuẩn được đặt ra trước đây. Và về bản thân, tôi cũng chưa bao giờ dám tự xem là mình đã đạt được các tiêu chuẩn của một người trí thức. Còn nay, trước yêu cầu mới của sự phát triển đất nước, thì tôi nghĩ nếu căn cứ vào các tiêu chí kể trên, chúng ta phải phấn đấu rất nhiều để có những đóng góp xứng đáng vào giai đoạn mới của sự phát triển đất nước, cả về phương diện nâng cao năng lực lao động riêng của bản thân cũng như rèn luyện năng lực và bản lĩnh để cùng đóng góp vào những vấn đề chung của đất nước.

* Trí thức cũng là sản phẩm của nền giáo dục. Nhưng nhìn vào những vấn đề “nổi cộm” của ngành giáo dục hiện nay, có thể hi vọng gì vào đội ngũ trí thức?

– Hy vọng vào đội ngũ trí thức hiện có hay vào đội ngũ tương lai mà nền giáo dục hiện nay sẽ đào tạo ra? Tôi tin rằng đội ngũ trí thức hiện nay, nếu được huy động và phát huy mọi năng lực một cách đầy đủ, có thể có khả năng để vực dậy và phát triển dần một nền giáo dục đang yếu kém của chúng ta. Trong nhiều năm qua, ý kiến đóng góp cũng đã khá nhiều và phong phú, nhưng tiếc thay, nói thì nhiều mà nghe thì chưa được bao nhiêu. Còn về đội ngũ trí thức tương lai mà nền giáo dục hiện nay sẽ góp phần quan trọng để đào tạo nên thì…. đành phải chờ xem!

* Thực tế, đội ngũ trí thức hiện nay chưa thể hiện hết vai trò quan trọng trước những vấn đề quan trọng của đất nước. Và qua hơn hai chục cuộc thảo luận, đóng góp cho Đề án này, rất nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân là chưa có một cơ chế mang tính đột phá để tạo ra động lực mạnh mẽ cho trí thức đóng góp hết khả năng cho sự phát triển của xã hội?

– Đúng! Cơ chế ở đây là phải tạo môi trường cho việc tranh luận, trao đổi ý kiến, suy nghĩ, sáng tạo để tìm ra giải pháp hữu ích. Trước đây, tôi cũng hay phát biểu về giáo dục. Cách đây vài năm, tôi cũng đã từng đề xuất với Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam tổ chức một hội nghị trí thức trong và ngoài nước góp ý kiến vào việc xây dựng, phát triển đất nước. Nhưng cuối cùng cũng không được tổ chức. Trí thức vẫn chưa có điều kiện tự do tạo ra những diễn đàn thực sự cho trao đổi ý kiến và tranh luận.

* Một vấn đề khác cũng được nhắc đến nhiều khi thảo luận về Đề án, đó là chính sách đãi ngộ trí thức hiện nay rất hạn chế?

– Khoan nói đến chuyện chế độ đãi ngộ cao hay thấp mà hãy nói đến sự tương xứng. Thẳng thắn nói rằng, với cung cách quản lý thế này thì năng suất hay sản phẩm do trí thức làm ra có thật cao không mà đòi hưởng đãi ngộ cao. Chừng nào hệ thống tổ chức chưa làm cho trí thức phát huy khả năng của mình thì chừng đó chưa thể tìm ra được phương thức đãi ngộ tương xứng với những đóng góp của họ.

* Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

SOURCE:  Báo Đại đoàn kết

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Suy-ngam/Dung_voi_noi_chuyen_dai_ngo_tri_thuc_thap_cao/

PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ Ý KIẾN TRONG VIỆC XÂY DỰNG LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA VIỆT NAM

image THS. NGUYỄN ĐỖ KIÊN – Vụ Tổ chức cán bộ – Bộ Tư pháp

I. Sự hình thành và phát triển chế độ bồi thường nhà nước của Trung Quốc

Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949. Năm 1949 “Cương lĩnh cộng đồng” do Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng phái dân chủ khác của Trung Quốc cùng phối hợp soạn thảo và thống nhất ban hành với nội dung có ý nghĩa như một bản Hiến pháp. Năm 1954, Trung Quốc ban hành Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong đó, Điều 99 Hiến pháp đã lần đầu tiên ghi nhận vấn đề bồi thường đối với hành vi vi phạm pháp luật do cơ quan nhà nước hoặc nhân viên của cơ quan nhà nước xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời, chính sách và pháp luật của Trung Quốc trong thời kỳ này cũng đã qui định nhiều nội dung liên quan đến bồi thường nhà nước trong các văn bản pháp luật khác nhau.

Continue reading