NGHỊ ĐỊNH SỐ 88/2008/NĐ-CP NGÀY 5/8/2008 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Điều 36 Bộ Luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Nghị định này quy định việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác.

2. Nghị định này áp dụng với các tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading →

MỨC PHÍ MỚI CHO NGƯỜI CÓ ĐƠN THI HÀNH ÁN

NGUYỄN ĐÌNH THƠ

Người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án sẽ phải nộp 2,5% trên số tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận nhưng tối đa không vượt quá 100 triệu đồng. Đó là một trong những nội dung sửa đổi căn bản của Thông tư số 68/2008/TTLT-BTC-BTP vừa được Liên bộ Tài chính và Tư pháp ban hành ngày 21/7 vừa qua.

Trước đây, tuỳ thuộc vào số tiền và mức giá trị tài sản khác nhau, người có đơn yêu cầu thi hành án phải nộp số % tương ứng, chẳng hạn: Mức 5% áp dụng đối với những tài sản có giá trị từ 1 triệu đến dưới 100 triệu đồng; đối với tài sản từ 100 triệu đến 200 triệu đồng, người được thi hành án phải nộp 5 triệu đồng + 4% của phần tiền hoặc giá trị tài sản thực nhận vượt quá 100 triệu đồng…(Thông tư số 43/2006/TTLT-BTC-BTP ngày 19/5/2006)

Không thu phí thi hành án đối với các khoản: Tiền cấp dưỡng; tiền bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm; tiền lương, tiền công lao động; tiền trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc; tiền bảo hiểm xã hội; tiền bồi thường thiệt hại vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động; trường hợp người yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án với tổng số tiền hoặc giá trị tài sản dưới 1 triệu đồng.

Continue reading →

TRANH CHẤP GIỮA CƠ QUAN SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TỰ Ý NGHỈ VIỆC

HOÀNG YẾN

Học xong, làm hơn năm rồi nghỉ

Theo đơn khởi kiện của Bưu điện TPHCM, năm 1998, ông T. vào làm việc cho Bưu điện theo hợp đồng lao động không thời hạn. Tháng 7-2003, ông được Bưu điện cử đi học thạc sĩ tại Úc với chi phí khoảng 40 ngàn USD. Ngoài ra, bưu điện còn chi khoảng 41 triệu đồng để ông học Anh văn trước khi đi du học. Bù lại, ông T. cam kết sẽ phục vụ Bưu điện ít nhất 10 năm sau khi học về.

Được cơ quan chi 40 ngàn USD cho đi học tại Úc, nhân viên cam kết làm 10 năm nhưng khi học xong về làm việc được năm rưỡi thì nghỉ, không chịu bồi thường chi phí đào tạo…

Xong khóa học, về làm việc được 18 tháng thì ông T. xin nghỉ việc nên Bưu điện TP yêu cầu ông hoàn trả gần 582 triệu đồng chi phí đào tạo (đã khấu trừ 18 tháng phục vụ). Ban đầu ông T. xin được giảm một nửa do hoàn cảnh khó khăn. Bưu điện không chấp nhận, chỉ cho ông trả thành hai lần. Ông T. đồng ý nhưng lại muốn thanh toán bằng cách trích lương hàng tháng và trả khoảng 40 triệu đồng một năm nhưng Bưu điện cũng không chấp nhận.

Continue reading →

THỰC THI QUYỀN TÁC GIẢ

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Trường Đại học Luật Hà Nội

I. Quy định pháp luật hiện hành về thực thi quyền tác giả

1. Các công ước quốc tế về thực thi quyền tác giả

Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng như tổ chức thương mại thế giới (WTO) đều khẳng định rằng: khai thác quyền sở hữu trí tuệ là công cụ quan trọng trong việc tạo ra của cải và giảm đói nghèo. Các tổ chức này cũng kết luận: có luật sở hữu trí tuệ chưa đủ, điều quan trọng là luật sở hữu trí tuệ được thực thi như thế nào. Giá trị của các tài sản trí tuệ phụ thuộc đáng kể vào việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ; có được hệ thống thực thi quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả là cách tốt nhất để hạn chế những hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo rằng người có quyền cũng như toàn xã hội có thể được hưởng lợi từ những tài sản trí tuệ[1].

Trong nỗ lực nhằm bảo hộ và thực thi hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền tác giả nói riêng, nhiều công ước quốc tế về quyền tác giả đã ra đời[2]. Tuy nhiên, không phải trong mọi công ước quốc tế về quyền tác giả, các quốc gia thành viên đều đề cập đến vấn đề thực thi quyền này. Vấn đề thực thi quyền tác giả được quy định chủ yếu trong Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật kí kết tại Berne, Thuỵ Sĩ năm 1886, được bổ sung lần cuối cùng tại Paris năm 1979; và Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tụê (viết tắt là Hiệp định TRIPs), được kí kết ngày 15/4/1994 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1995[3].

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA: CHỦ SỞ HỮU KHÔNG CÓ LỖI CŨNG PHẢI BỒI THƯỜNG?

NGUYÊN TRƯỜNG

TAND huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) vừa giải quyết một vụ đòi bồi thường do tai nạn giao thông gây nhiều tranh cãi: Trước đó, công an xác định người đã chết có lỗi nên không khởi tố. Đến khi xử vụ gia đình người đã chết kiện đòi bồi thường, tòa lại kết luận tai nạn xảy ra do lỗi hỗn hợp và buộc hai người còn sống phải liên đới bồi thường cho gia đình người đã chết vì là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ.

Người chết có lỗi

Theo chồng bà Nhung (người bị tai nạn chết) kể lại, ngày 7-8-2007, bà Nhung chạy xe máy đến đoạn đường Cầu Ông Điệp (thị trấn Mỹ Xuyên) thì bị ông H. chạy xe máy ngược chiều va chạm mạnh làm bà văng ra khỏi xe, té sấp xuống mặt đường. Cùng lúc đó, một chiếc xe tải (loại 1,5 tấn) do ông T. lái đổ dốc cầu với vận tốc cao, thắng không kịp, cán qua người bà Nhung, kéo bà đi vài mét dẫn đến chết.

Sau hơn hai tháng xác minh, Công an huyện Mỹ Xuyên đã xác định người có lỗi là bà Nhung (vượt trái phép dẫn đến tai nạn). Ngày 23-10-2007, công an huyện đã ra quyết định không khởi tố vụ án vì bà Nhung đã mất. Sau đó, chồng bà Nhung khiếu nại quyết định này nhiều lần nhưng từ công an huyện đến công an tỉnh đều trả lời rằng không đủ yếu tố để khởi tố vụ án.

Continue reading →

LUẬT CÁC CÔNG CỤ CHUYỂN NHƯỢNG – THỰC TRẠNG, SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN

THS. ĐOÀN THÁI SƠN – Ngân hàng Nhà nước Việt nam

Theo Nghị quyết số 35/2004/QH11 về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2005, dự án Luật Các công cụ chuyển nhượng sẽ được Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ bảy (tháng 5/2005) và thông qua tại kỳ họp thứ tám (tháng 11/2005). Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ giao là cơ quan chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, soạn thảo dự án Luật này (Luật công cụ chuyển nhượng đã được ban hành năm 2005 – Civillawinfor)

Để góp phần hoàn thiện dự án Luật Các công cụ chuyển nhượng trước khi trình Quốc hội thông qua, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập thực trạng pháp luật về công cụ chuyển nhượng, sự cần thiết phải ban hành và một số vấn đề pháp lý cơ bản về dự án Luật Các công cụ chuyển nhượng. Để thống nhất cách hiểu về các loại công cụ, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ sử dụng thuật ngữ “hối phiếu” để gọi hối phiếu, hối phiếu đòi nợ1 (bill of exchange, draft) và thuật ngữ “kỳ phiếu” để gọi hối phiếu nhận nợ2, lệnh phiếu3, giấy nhận nợ (promissory note). Lý do cho việc sử dụng các thuật ngữ này sẽ được chúng tôi giải thích tại phần sau của bài viết.

Continue reading →

BÀN VỀ GIÁ BÁN CỔ PHẦN ƯU ĐÃI CHO CÁN BỘ CÔNG NHÂN VIÊN VÀ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN KHI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC CỔ PHẦN HÓA

TS. TÔN THANH TÂM

1. Cổ phần hóa – xu hướng của thời hội nhập

Xu hướng cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói chung, các ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) nói riêng như: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam VCB (đã hoàn tất cổ phần hóa và phát hành cổ phần lần đầu ra công chúng – IPO), Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB)… đang trở thành xu thế chung của thời hội nhập. Cổ phần hóa nhằm thay đổi vai trò sở hữu vốn và tài sản tại các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần, trong đó Nhà nước nắm giữ một phần vốn (thường tối thiểu là 51%) và bên ngoài (có thể là pháp nhân, tư nhân..) nắm giữ tối đa là 49%. Tuy nhiên, tỷ lệ này còn tùy thuộc vào tầm quan trọng ngành nghề mà doanh nghiệp đó đang đảm nhận đối với nền kinh tế quốc dân để Chính phủ xem xét, quyết định đưa ra tỷ lệ Nhà nước cần nắm giữ là cao hay thấp. Có một điều chúng ta phải thừa nhận rằng: “cổ phần hóa”có nghĩa là thay đổi tính chất sở hữu vốn, tài sản từ “Doanh nghiệp nhà nước” sang “Doanh nghiệp cổ phần” đã mang lại cho chúng ta những thay đổi lớn về nhận thức, tính năng động, sáng tạo và hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ NHÃN HIỆU HÀNG HÓA NỔI TIẾNG

image THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Kể từ khi Việt nam chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước cho đến nay đã chứng tỏ là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, nhà sản xuất nước ngoài. Ngày càng nhiều nhãn hiệu hàng hoá nôỉ tiếng xuất hiện và được sử dụng tại nước ta như : Malboro, Coca-cola, Pepsi-Cola, Honda, Toyota, Ford, Mercedes, Sony, Nike, Adidas, Pampers, Colgate, Kodak, Bristol Myers, Levis, Johnson & Johnson, Shell, Mobil, Esso..

Việt nam đã trở thành thành viên của công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp từ 8/3/1949. Trong khi đó những hiểu biết về nhãn hiệu nổi tiếng nói chung và nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng nói riêng của chúng ta không nhiều (thực tế cho thấy không ít nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng bị vi phạm tại Việt Nam. Ví dụ: vụ Công ty Phillip Moris (Mỹ)- chủ sở hữu của nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng Malboro đã kiện Công ty Lotaba (Thanh Hoá), Công ty thuốc lá Khánh Hoà, Công ty Goldern Desire về việc làm giả thuốc lá gắn nhãn hiệu Malboro tại Việt Nam). Chính vì vậy, việc tìm hiểu các vấn đề pháp lý và thực tiễn về nhãn hiệu hàng hoá nổi tiếng không chỉ có ý nghía đối với các nhà quản lý, nhà sản xuất mà cả đối với người tiêu dùng.

Continue reading →

TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON: "TRUẤT NGỰA TRUY PHONG"

CẨM DUYÊN

TAND huyện Tuy An (Phú Yên) đang giải quyết một vụ kiện đòi truy nhận cha và yêu cầu giải quyết tiền cấp dưỡng cho một cháu bé ngoài giá thú. Người bị kiện không thừa nhận cháu bé là giọt máu rơi của mình trong khi trước đó đã cùng mẹ cháu có một thời gian yêu thương, chung sống và đưa nhau đến xã đăng ký kết hôn…

Say tình, trót dại

Cha mất sớm, chị gái cũng qua đời sau một cơn bạo bệnh, cô E. sống côi cút cùng mẹ trong căn nhà vách đất xiêu vẹo ở Tuy An. Cuộc sống trông chờ vào hai sào ruộng nên mẹ con họ gặp không ít khó khăn thế nhưng cô E. vẫn cố học hết bậc phổ thông trung học rồi thi đậu vào Trường trung học Y tế Phú Yên. Ra trường, không xin được việc nên tháng 5-2006, cô đành kiếm cơm trái nghề bằng công việc đánh máy cho UBND xã nơi cô sống với mức lương mỗi tháng 540 ngàn đồng.

Cô E. tường trình, khi làm việc ở xã, cô được anh H. – phó bí thư xã đoàn kết bạn thân tình rồi dần dà yêu thương nhau. Mật ngọt tình yêu đã khiến cô nhiều lần trao thân gửi phận cho anh H. và dẫn đến hậu quả là cô mang bầu.

Bị gia đình cấm cản, ngày 14-6-2007, anh H. vẫn quyết tâm bảo vệ tình yêu và hạnh phúc của mình. Anh tìm đến nhà cô E. thưa chuyện với mẹ cô E. rồi xin ở lại đó như là con rể. Biết tin con gái mình đã mang bầu, mẹ cô E. đành im lặng chấp nhận. Bốn ngày sau khi nhập gia, anh H. và cô E. cùng ký tên vào tờ khai xin đăng ký kết hôn rồi đem tới cho cán bộ chuyên trách tư pháp xã xác nhận.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC NHÌN TỪ GÓC ĐỘ RANH GIỚI GIỮA BỒI THƯỜNG VÀ ĐỀN BÙ

StudentLoans TS. DƯƠNG VĂN  HẬU

Xét về mặt truyền thống, nhận thức về ranh giới giữa bồi thường và đền bù xuất phát từ sự bất hợp pháp. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng “lý luận về hậu quả sai trái” và cơ sở khách quan của sự cẩu thả, và với sự hội tụ của các cơ sở lý thuyết về bồi thường và đền bù, ranh giới giữa bồi thường và đền bù đang dần biến mất. Khái niệm khiến cho chúng ta nhìn lại nghiên cứu truyền thống về các biện pháp bồi thường nhà nước, mà nó đồng thời cũng có ảnh hưởng to lớn đến định hướng sửa đổi Luật Bồi thường Nhà nước. Vì vậy, cần thiết phải cơ cấu lại các yếu tố của bồi thường nhà nước và đền bù hành chính.

Sự hợp pháp và bất hợp pháp của hành vi được coi là sự kiểm định ranh giới giữa bồi thường và đền bù không chỉ là một học thuyết chung chung trong giới nghiên cứu luật hành chính, mà nó cũng chiếm một vị trí quan trọng trong lý luận về luật hành chính ở các nước khác. Tuy nhiên, với việc ngày càng nhấn mạnh ý tưởng về bảo vệ quyền con người, phạm vi, và mức độ của bồi thường và đền bù càng mở rộng và tăng cường, và vì thế mà sự kiểm định đó trở nên đáng nghi ngờ đối với các học giả, và ở đây có xu hướng hội tụ ngày càng tăng của bồi thường và đền bù trong thực tiễn tư pháp. Chính vì vậy, điều cần thiết đối với chúng ta là xem xét ranh giới giữa bồi thường và đền bù và dự đoán xu hướng phát triển của Luật về Bồi thường Nhà nước.

Continue reading →

GIẢI THÍCH PHÁP LUẬT- CÁCH NHÌN CỦA HÀNH PHÁP

TS. PHẠM TUẤN KHẢI – Văn phòng Chính phủ

Nếu nói giải thích pháp luật (Legal Interpretation) là “làm rõ tinh thần, nội dung của một văn bản pháp luật” (1) thì việc giải thích phải gắn với thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản. Mặt khác, giải thích pháp luật cũng còn bao hàm việc phải làm rõ các từ ngữ, cách hiểu thống nhất để vận dụng đúng đắn trong khi thi hành pháp luật. Ở nước ta, ngoài Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của UBTVQH thì tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật đều có quyền giải thích pháp luật.

Từ góc độ thực tiễn, có thể khẳng định, các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp có thẩm quyền giải thích pháp luật. Vậy, theo cách nhìn của các nhà hoạch định chính sách (hành pháp), khi nào cần giải thích pháp luật, phạm vi, nguyên tắc và hình thức giải thích pháp luật như thế nào?

I. Hành pháp với giải thích pháp luật

Hành pháp (excutive) một trong 3 loại quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của bất cứ nhà nước nào, là sự thể hiện ý chí của Chính phủ trong việc hoạch định chính sách, đề xuất các chủ trương lớn, tạo tiền đề cho lập pháp, tư pháp và bảo đảm việc thực thi pháp luật trong toàn bộ bộ máy nhà nước. Hành pháp có nhiệm vụ riêng, ngoài việc đề xuất chính sách vĩ mô, “can thiệp” vào đời sống xã hội thông qua các hình thức cưỡng chế, kiểm tra và tài phán, nó còn có nhiệm vụ “thiêng liêng cao cả” là xây dựng, ban hành pháp luật theo thẩm quyền. Bên cạnh đó, nhiệm vụ xuyên suốt của các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp là xác lập trật tự quản lý (hành chính) từ trung ương đến địa phương, là cầu nối, là thước đo cho việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội: “Không có hành pháp, không thể xác định được hiệu quả của việc thực hiện pháp luật” (2).

Continue reading →

ỨNG DỤNG CỦA LUẬT SO SÁNH TRONG XÂY DỰNG LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật  Hà Nội

1. Lý do ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ

Luật so sánh được công nhận là công cụ đắc lực trợ giúp cho hoạt động lập pháp và sửa đổi pháp luật, giải thích pháp luật, hiểu các quy định pháp luật và hỗ trợ cho sự thống nhất, hài hoà hoá pháp luật[1]. Trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 của nước ta (sau đây gọi là Luật sở hữu trí tuệ)[2], Luật so sánh cũng đã chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng của nó. Việc thông qua Bộ luật dân sự (Bộ luật dân sự sửa đổi)[3] và Luật sở hữu trí tuệ trong năm 2005 đã đánh dấu thành công trong hoạt động đổi mới hệ thống pháp luật, thể hiện thành công của tiến trình hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ nước ta. Trong bài viết này, tác giả bàn về vấn đề ứng dụng của Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ bằng việc giải quyết ba câu hỏi: Tại sao phải ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Luật so sánh được ứng dụng như thế nào trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ? Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ đem lại những kết quả ra sao?

Cho đến nay, còn nhiều ý kiến khác nhau về Luật so sánh, tuy nhiên, cho dù Luật so sánh là một môn khoa học hàn lâm hay một phương pháp nghiên cứu, mọi người đều thừa nhận rằng Luật so sánh có tính ứng dụng rất cao, bao gồm ứng dụng trong hoạt động lập pháp[4]. Việc ứng dụng Luật so sánh trong quá trình xây dựng Luật sở hữu trí tuệ xuất phát từ những lý do sau đây:

Continue reading →

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: LY HÔN GIẢ, MẤT NHÀ THẬT

ÁI PHƯƠNG

Năm 2002, khi vợ chồng anh T., chị C. (quận 8, TP.HCM) đang sống đầm ấm thì người chị vợ là Việt kiều về nước ghé thăm. Không biết nghe lời tỉ tê sao đó mà chị C. bàn chuyện ly hôn giả để chồng có thể kết hôn với người chị vợ. Nếu mọi việc êm xuôi, anh T. sẽ tìm cách bảo lãnh chị C. đi định cư ở nước ngoài.

Mua nhà khi đã ly hôn

Sau đó, cả hai cũng được tòa án xử cho ly hôn. Nhưng vì chỉ ly hôn trên giấy nên anh T. và chị C. lại nắm tay nhau ra về và tiếp tục chung sống. Không ngờ, do trục trặc thủ tục nên việc kết hôn giả giữa anh T. và người chị vợ không thành. Năm 2004, anh T. làm thủ tục đăng ký kết hôn lại với vợ cũ.

Đến năm 2007, vợ anh T. nộp đơn ra tòa xin ly hôn thật. Không giống như lần ly hôn giả êm xuôi trước đó, lần này giữa họ nảy sinh nhiều bất đồng trong việc phân chia tài sản, trong đó có căn nhà mua năm 2003 (trước thời điểm hai người kết hôn lại) nằm ở phường 9, quận 8. Theo lời chị C., chị đã tự bỏ gần 400 triệu đồng để mua căn nhà này. Lúc đó, hai vợ chồng đang trong thời kỳ ly hôn. Hợp đồng mua nhà và giấy tờ nhà chỉ do một mình chị đứng tên.

Continue reading →

SUY NGẪM 13

Ngày 7/8/2008, Vietnam Airlines đã chính thức kiện hành khách Lê Văn Hanh đòi bồi thường do đã mở cửa thoát hiểm trên chuyến bay VN 925, hành trình Đài Bắc-Hà Nội ngày 2/8/2008. Hậu quả của hành vi trên khiến chuyến bay bị chậm hơn hai giờ, gây thiệt hại nhiều về kinh tế. Có thể ông Hanh sẽ bị phạt ở mức 25 triệu đồng.

Việc hành khách gây thiệt hại cho hãng vận chuyển có nghĩa vụ bồi thường là tất yếu và đúng luật. Vấn đề là, Vietnamairlines có thiện chí bồi thường cho hành khách bị thiệt hại do có nhiều chuyến bay bị hủy, chậm giờ, hành lý thất lạc hay không???

– Civillawinfor tổng hợp theo phapluattp.com.vn

BẦN VỀ THUẬT NGỮ "NHÃN HIỆU HÀNG HÓA" VÀ "THƯƠNG HIỆU"

brands-thumb THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – ĐHL Hà Nội

Ở nước ta, đã từ lâu, thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá” vẫn được sử dụng nhằm mục đích phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất, kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bên cạnh thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá”, thuật ngữ “thương hiệu” được sử dụng phổ biến nhằm mục đích phân biệt này. Hiện nay, ở nước ta, đang có nhiều cách hiểu khác nhau về hai thuật ngữ này và cũng không ít người lúng túng khi sử dụng chúng. Bởi vậy, việc làm rõ các thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá” và “thương hiệu” để trên cơ sở đó sử dụng chính xác từng thuật ngữ là vô cùng cần thiết.

1. Sử dụng các thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hoá” và “thương hiệu” ở Việt Nam

Về ngữ nghĩa, từ trước đến nay, trong các từ điển Tiếng Việt không giải nghĩa từ “nhãn hiệu hàng hoá’ mà chỉ giải nghĩa từ nhãn hiệu. Theo đó, “nhãn hiệu là dấu hiệu của nơi sản xuất dán hay in trên mặt hàng”.

Continue reading →

"NỔI SÓNG" NHƯỢNG QUYỀN BÁN LẺ Ở VIỆT NAM

Concession_Stand_Samuel_Oil_9x12_$425_GS_71007_fs NGUYỄN KHÁNH TRUNG

VnEconomy – Theo thống kê của Hội đồng Nhượng quyền thương mại Thế giới năm 2004, Việt Nam có khoảng 70 hệ thống nhượng quyền hoạt động, trong đó phần lớn là các thương hiệu nước ngoài.

Đến 2006, có khoảng 530 hồ sơ đăng ký nhượng quyền thương mại trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo dự đoán, hoạt động nhượng quyền thương mại sẽ tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng 25-30% trong 2-3 năm tới.

Theo lịch sử phát triển nhượng quyền, như một quy luật tất yếu, các ngành hàng bán lẻ, thực phẩm, thức uống đã là những hệ thống nhượng quyền tiên phong đối với các vùng đất mới và Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Trong số các ngành có thể áp dụng mô hình nhượng quyền thương mại thì bán lẻ là một trong những ngành có tỉ lệ nhượng quyền cao nhất, chỉ sau ngành thực phẩm.

Tại Trung Quốc, tỉ lệ nhượng quyền trong lĩnh vực bán lẻ chiếm 30%, sau lĩnh vực thực phẩm (35%). Tại Nhật, tỉ lệ đó là 32% nếu tính theo số hệ thống nhượng quyền và 36% nếu tính theo số cửa hàng nhượng quyền.

Continue reading →

TRANH CHẤP XÁC ĐỊNH CHA CHO CON: CÓ ĐỦ CHỨNG CỨ ĐỂ KẾT LUẬN MỘT CÁN BỘ Y TẾ LÀ CHA?

divorce HOÀNG ANH

Mới đây, TAND TP Mỹ Tho (Tiền Giang) đã thụ lý vụ kiện “tìm cha cho con” của chị H. – một phụ nữ có hoàn cảnh khá bi đát ở huyện Chợ Gạo. Trong đơn khởi kiện, chị H. đề nghị TAND TP Mỹ Tho buộc anh V. – một cán bộ y tế phải thừa nhận là cha của cháu bé 14 tháng tuổi con chị.

“Quất ngựa truy phong”…

Theo đơn của chị H., năm 2006, chị và anh V. đã gặp nhau và nảy sinh tình cảm. Khi mới biết nhau, anh V. giới thiệu mình là bác sĩ, còn độc thân và mong muốn cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Tin lời anh V., trong quá trình quen biết, chị H. đã nhiều lần chiều người yêu.

Đến cuối năm 2006, thấy mình có thai, chị H. thông báo. Lúc này anh V. mới cho biết mình đã có… vợ và hai con nên không thể cưới chị được. Tuy nhiên, anh V. nói là muốn có một đứa con trai để nối dòng vì cả hai đứa con của anh V. đều là gái. Thế rồi từ khi chị H. có thai, anh V. vẫn hay lui tới chăm sóc và hứa sẽ có trách nhiệm với hai mẹ con chị. Ngoài việc thường xuyên tới lui, anh V. còn liên lạc với chị H. cả qua thư từ.

Continue reading →

QUẢNG NGÃI: "GIẤY ĐỎ" CẤP SAI, BỐN NĂM CHƯA GIẢI QUYẾT XONG

ÁI PHƯƠNG

Nếu đương sự không chịu nộp lại “giấy đỏ” được cấp thì UBND huyện cần ra quyết định hủy bỏ.

Không bằng lòng với việc nhà thờ và nhà hương hỏa của cha mẹ để lại bỗng biến thành nhà riêng của hai đồng thừa kế, ông Đặng Ngọc Sinh (57 Điện Biên Phủ, quận Bình Thạnh, TP.HCM) đã gửi nhiều đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền. Thế nhưng đã bốn năm nay, vụ việc của ông vẫn chưa được giải quyết xong.

Rối rắm vì quá nhiều sai sót

Năm 1973, cha mẹ ông Sinh lập di chúc để lại nhà thờ và nhà hương hỏa cho các con làm nơi thờ cúng. Nhà hương hỏa nằm trên mảnh đất hơn 100 m2, còn mảnh đất có nhà thờ rộng 1.500 m2. Hai căn nhà này tọa lạc tại thị trấn Đức Phổ, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi).

Continue reading →

BÀN VỀ CÁC QUI ĐỊNH XỬ LÝ HẬU QUẢ CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ VÔ HIỆU TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 1995 VÀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ SỬA ĐỔI {1}

THS. NGUYỄN NHƯ QUỲNH – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật Hà Nội

Khi một giao dịch dân sự không thoả mãn đầy đủ bốn điều kiện quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như Điều 113[2] của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) bị coi là vô hiệu và vấn đề đặt ra là phải xử lý hậu quả của giao dịch. Việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể tham gia. Bởi vậy, nếu không giải quyết thoả đáng sẽ không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể và dẫn đến sự mất ổn định trong giao lưu dân sự. Bài viết này xin bàn thêm về các quy định hiện hành xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu trong Bộ luật dân sự năm 1995 và dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) đang lấy ý kiến của đông đảo các tầng lớp nhân dân và sẽ được thông qua vào tháng 5 năm nay.

1. Về cơ cấu của phần Giao dịch dân sự

Phần Giao dịch dân sự được quy định từ Điều 130 đến Điều 147, Chương V, Phần thứ nhất của Bộ luật dân sự năm 1995 và từ Điều 112 đến Điều 129 của dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi). Trong Bộ luật dân sự năm 1995, cơ cấu của phần Giao dịch dân sự là: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự (Điều 130-135); các loại giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 136-144); thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 145); xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 146-147). Trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hiện nay, cơ cấu này không thay đổi. Cụ thể: Những vấn đề chung về giao dịch dân sự (Điều 112-117); các loại giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 118-126); thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 127); xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 128-129). Xét một cách khái quát, bố cục của chương Giao dịch dân sự trong Bộ luật dân sự năm 1995 cũng như trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) hợp lý . Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng hơn, cơ cấu của phần này vẫn bộc lộ sự bất hợp lý.

Continue reading →