TS. PHẠM TUẤN KHẢI – Văn phòng Chính phủ
Nếu nói giải thích pháp luật (Legal Interpretation) là “làm rõ tinh thần, nội dung của một văn bản pháp luật” (1) thì việc giải thích phải gắn với thẩm quyền của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản. Mặt khác, giải thích pháp luật cũng còn bao hàm việc phải làm rõ các từ ngữ, cách hiểu thống nhất để vận dụng đúng đắn trong khi thi hành pháp luật. Ở nước ta, ngoài Hiến pháp, luật, pháp lệnh thuộc thẩm quyền của UBTVQH thì tất cả các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật đều có quyền giải thích pháp luật.
Từ góc độ thực tiễn, có thể khẳng định, các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp có thẩm quyền giải thích pháp luật. Vậy, theo cách nhìn của các nhà hoạch định chính sách (hành pháp), khi nào cần giải thích pháp luật, phạm vi, nguyên tắc và hình thức giải thích pháp luật như thế nào?
I. Hành pháp với giải thích pháp luật
Hành pháp (excutive) một trong 3 loại quyền (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của bất cứ nhà nước nào, là sự thể hiện ý chí của Chính phủ trong việc hoạch định chính sách, đề xuất các chủ trương lớn, tạo tiền đề cho lập pháp, tư pháp và bảo đảm việc thực thi pháp luật trong toàn bộ bộ máy nhà nước. Hành pháp có nhiệm vụ riêng, ngoài việc đề xuất chính sách vĩ mô, “can thiệp” vào đời sống xã hội thông qua các hình thức cưỡng chế, kiểm tra và tài phán, nó còn có nhiệm vụ “thiêng liêng cao cả” là xây dựng, ban hành pháp luật theo thẩm quyền. Bên cạnh đó, nhiệm vụ xuyên suốt của các cơ quan thực hiện chức năng hành pháp là xác lập trật tự quản lý (hành chính) từ trung ương đến địa phương, là cầu nối, là thước đo cho việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống xã hội: “Không có hành pháp, không thể xác định được hiệu quả của việc thực hiện pháp luật” (2).
Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »