THỎA THUẬN HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Sau đây gọi là “Việt Nam”)

CHÍNH PHỦ QUÉBEC
(Sau đây gọi là “Québec”)

Dưới đây được chỉ định là các Bên,

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong một môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Bên phải có những biện pháp thích hợp cho phép trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình của mình và bảo đảm gia đình thay thế cho trẻ em không có môi trường gia đình gốc;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho trẻ em đó tại Nước gốc của mình;

Dựa trên các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20 tháng 11 năm 1989, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi;

Mong muốn thiết lập các quy định chung nhằm bảo đảm việc tôn trọng những quyền của trẻ em thường trú tại Việt Nam được những ngươi cư trú tại Québec nhận làm con nuôi và nhằm phòng ngừa việc thu lợi vật chất bất chính, bắt cóc trẻ em, bán và buôn bán trẻ em từ việc nuôi con nuôi;

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CỘNG HÒA ITALIA

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Italia (sau đây gọi là các Nước ký kết);

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được trưởng thành trong môi trường yêu thương, hạnh phúc và cảm thông của gia đình;

Thừa nhận rằng, mỗi Nước ký kết cần áp dụng các biện pháp thích hợp bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc trong môi trường gia đình, những trẻ em không có gia đình được chăm sóc trong môi trường thay thế gia đình;

Thừa nhận rằng, nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp nhằm đem lại một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em đó ngay tại nước gốc của mình;

Thừa nhận rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Hiệp định này được hưởng trên lãnh thổ của mỗi Nước ký kết đầy đủ những quyền và lợi ích mà trẻ em là công dân hoặc thường trú trên lãnh thổ của Nước ký kết đó được hưởng;

Đã quyết định ký kết Hiệp định này với các điều khoản dưới đây:

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ HỢP CHỦNG QUỐC HOA KỲ

Sweet Look bw1(e-mail) Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (sau đây gọi là các Bên);

Nhận thức rằng, để bảo đảm sự phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường yêu thương, hạnh phúc của gia đình;

Nhận thức rằng, các Bên cam kết trên cơ sở ưu tiên, áp dụng các biện pháp thích hợp để bảo đảm cho trẻ em được chăm sóc trong môi trường gia đình ruột thịt;

Nhận thức rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp nhằm đem lại một môi trường gia đình ổn định cho trẻ em trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em đó ngay tại Nước gốc của mình;

Mong muốn khẳng định rằng, công dân của Bên này nhận trẻ em là công dân của Bên ký kết kia làm con nuôi, được tiến hành trên cơ sở tôn trọng những giá trị và nguyên tắc cơ bản của mỗi Bên, phù hợp với Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế ngày 29 tháng 5 năm 1993 (sau đây gọi tắt là Công ước La Hay về nuôi con nuôi), đặc biệt là những điều khoản về việc bảo vệ lợi ích cho trẻ em một cách tốt nhất và tôn trọng những quyền cơ bản của trẻ em, nhằm ngăn chặn việc bắt cóc, buôn bán trẻ em và thu lợi bất hợp pháp từ quá trình nhận nuôi con nuôi, cũng như bảo vệ quyền và lợi ích của cha mẹ nuôi và cha mẹ đẻ;

Đã thỏa thuận như sau:

Continue reading

MUA BÁN TRẺ EM VÀ PHỤ NỮ: MỘT THỰC TẾ NHỨC NHỐI

responsibility21. Mỗi ngày có ít nhất 2 phụ nữ và trẻ em bị bán

VTCnews – Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2008, đã có 193 vụ với hơn 430 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục hoặc bị cưỡng bức lao động (trung bình mỗi ngày có ít nhất 2 phụ nữ, trẻ em bị đem bán).

Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) vừa cho biết thông tin trên tại cuộc họp báo sáng nay, 27/6, công bố Thông tư liên tịch số 03/2008 hướng dẫn trình tự, thủ tục xác minh, tiếp nhận phụ nữ trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về.

Theo Thông tư này, phụ nữ, trẻ em bị sử dụng vũ lực hoặc bị đe dọa sử dụng vũ lực, bị bắt cóc, bị ép buộc dưới nhiều hình thức để bán ra nước ngoài; bị lừa gạt, lợi dụng tình trạng dễ bị tổn thương để bán ra nước ngoài; đưa ra nước ngoài để nhận lợi ích vật chất khác… đều được xác định là nạn nhân của các vụ buôn bán ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể).

Continue reading

HIỆP ĐỊNH HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ LIÊN BANG THỤY SỸ

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên bang Thụy Sỹ (dưới đây được gọi là các Nước ký kết),

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Nước ký kết phải có các biện pháp thích hợp bảo đảm cho trẻ em được lớn lên trong môi trường gia đình và bảo đảm gia đình thay thế đối với trẻ em không có môi trường gia đình;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế là biện pháp phù hợp tạo cho trẻ em một gia đình ổn định trong trường hợp không tìm được gia đình thích hợp cho trẻ em ngay tại nước gốc của mình;

Thừa nhận rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi theo Hiệp định này phải được hưởng trên lãnh thổ của mỗi Nước ký kết đầy đủ các quyền và lợi ích mà trẻ em là công dân hoặc thường trú trên lãnh thổ của Nước ký kết được hưởng;

Đã quyết định ký kết hiệp định này.

Continue reading

MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC VỀ VẤN ĐỀ NUÔI CON NUÔI THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 68/2002/NĐ-CP NGÀY 10 THÁNG 7 NĂM 2002 CỦA CHÍNH PHỦ

PHẠM VĂN CHUNG

Thực hiện các văn bản của Chính phủ và Bộ Tư pháp về vấn đề nuôi con nuôi. Trong những năm vừa qua các Sở Tư pháp đã tích cực tham mưu UBND các tỉnh, thành phố ban hành các văn bản về công tác nuôi con nuôi và quan tâm triển khai đưa công tác này vào thực tế cuộc sống. Do vậy việc quản lý và giải quyết vấn đề nuôi con nuôi trong nước, nuôi con nuôi quốc tế thời gian quan đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, đáp ứng tốt nhu cầu về nuôi con nuôi của người dân trên địa bàn cả nước.

Tuy nhiên, qua hơn 5 năm thực hiện các văn bản của Chính phủ về vấn đề nuôi con nuôi nói chung và nuôi quốc tế nói riêng. Đặc biệt là từ khi ban hành Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và Gia đình về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài (sau đây gọi tắt là NĐ 68), chúng tôi nhận thấy có một số khó khăn, vướng mắc sau đây:

Continue reading

TRANH CHẤP NUÔI CON NUÔI

GIA TUỆ

TAND TP Cần Thơ vừa xử phúc thẩm một vụ án khá lạ ở địa phương: Chị Nguyễn Thị Lượm, ngụ ấp Thới Bình B, xã Thới Thạnh (Cờ Đỏ) kiện ông hàng xóm là Nguyễn Văn Tám ra tòa để tranh chấp quyền nuôi… con nuôi.

Ai cũng muốn nuôi con

Theo chị Lượm trình bày, trước đây ngày 16-11-2001, mẹ chị có xin một cháu trai tại Bệnh viện 121 (Cần Thơ) về nuôi và cho chị ra xã Thạnh Hòa (Phụng Hiệp) đứng tên làm giấy khai sinh cho cháu với tên là NCB. Sau đó, vợ chồng chị đem theo cháu B. chuyển đến huyện Cờ Đỏ sống nhờ ở nhà một người bạn là ông Tám.

Là chỗ thân quen, vợ chồng chị Lượm lại ở nhờ nhà ông Tám nên mỗi lần đi làm xa, vợ chồng chị đều để cháu B. ở nhà cho ông trông nom giúp. Mãi hơn hai năm trước, đến khi vợ chồng chị có điều kiện cất nhà riêng và qua xin rước cháu B. về thì ông Tám quyến luyến, nhất quyết không chịu giao trả cháu.

Đòi con hoài không được, cuối cùng chị Lượm phải khởi kiện ra TAND huyện Cờ Đỏ để nhờ phân xử, buộc ông Tám trả lại cháu B. để chị nuôi dưỡng, chăm sóc và cho đi học.

Continue reading

CON NUÔI THỰC TẾ: PHÁP LUẬT CÓ CÔNG NHẬN?

HOÀNG THƯ – BỘ TƯ PHÁP

Trên tờ báo của ngành mới đây có nêu ra vướng mắc của một trường hợp cụ thể tại TP. HCM . Mặc dù quan hệ con nuôi đã được thực tế thừa nhận từ năm 1990 giữa ông bà P.V.Đ với cháu P.N.D, nhưng đến nay để hợp thức hoá quan hệ đó trên giấy tờ lại vướng quy định của pháp luật nên không thể thực hiện được. Chúng tôi đã trao đổi với một số chuyên gia pháp luật và ghi nhận được những ý kiến khác nhau về vấn đề này.

* Ông Nguyễn Quốc Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp: Chưa có cơ chế giải quyết

Con nuôi thực tế không phải bây giờ mới phát sinh mà trước lúc Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) được thông qua năm 2000, các nhà làm luật đã đặt ra vấn đề nên hay không công nhận con nuôi thực tế. Điều này xuất phát từ một thực tiễn là có rất nhiều trường hợp, vì những lý do khác nhau, đã không đăng ký nhận nuôi con. Sau một thời gian dài gắn bó, giữa người nuôi và người được nuôi đã phát sinh quan hệ tình cảm nhưng nếu pháp luật không thừa nhận thì sẽ rất thiệt thòi cho họ. Tuy nhiên, trong quá trình thảo luận tại hội trường, Quốc hội đã không chấp nhận vấn đề con nuôi thực tế. Như vậy, chỉ những trường hợp con nuôi có đăng ký theo quy định của pháp luật mới được thừa nhận là có phát sinh quan hệ, quyền lợi và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi. Ngay cả nghị định hướng dẫn thi hành Luật cũng không công nhận con nuôi thực tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đứng về mặt pháp lý, tại thời điểm này, vấn đề trên chưa có cơ chế giải quyết.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẤM DỨT VIỆC NUÔI CON NUÔI

THS. NGUYỄN THỊ LAN – KHOA LUẬT DÂN SỰ – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Luật hôn nhân gia đình (Luật HN&GĐ) năm 2000 chưa đưa ra khái niệm về chấm dứt việc nuôi con nuôi, vì vậy, có thể đưa ra khái niệm về chấm dứt việc nuôi con nuôi như sau:

Chấm dứt việc nuôi con nuôi là việc chấm dứt quan hệ giữa cha mẹ và con do Toà án quyết định theo yêu cầu các chủ thể mà pháp luật quy định.

1. Căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định những căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi sau:

– Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi.

– Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;

– Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật này.

Sau đây, chúng tôi đi sâu phân tích từng căn cứ cụ thể:

a. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi

Đối với căn cứ này, chúng tôi thấy cần đặt ra vấn đề cần giải quyết là:

Hành vi tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi của cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên phải đảm bảo sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Hay nói cách khác phải đảm bảo sự thống nhất giữa mặt chủ quan và khách quan của các chủ thể. Tuy nhiên, sự tự nguyện này có cần thiết từ hai bên chủ thể (có sự thoả thuận của cha mẹ nuôi và con nuôi) hay chỉ cần một bên chủ thể (hoặc bên cha mẹ nuôi hoặc bên con nuôi). Thậm chí về phía cha mẹ nuôi nếu một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bên kia không đồng ý chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì có thể chấm dứt việc nuôi con nuôi không? Và chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với cả cha, mẹ nuôi hay chỉ với người muốn chấm dứt quan hệ đó?

Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định cụ thể về việc nếu là vợ chồng nhận nuôi con nuôi thì có bắt buộc có sự đồng ý của hai vợ chồng hay không, trước đó Nghị định số 83/CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ quy định nếu người nuôi con nuôi có vợ hoặc chồng thì trong đơn xin nhận nuôi phải có chữ kí của cả hai vợ chồng. Điều này dẫn đến cách hiểu là có thể cả hai vợ chồng nhận nuôi con nuôi và họ trở thành cha mẹ nuôi của đứa trẻ hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng muốn nhận nuôi con nuôi còn bên kia chỉ đồng ý cho vợ hoặc chồng mình nhận nuôi con nuôi và như vậy chỉ phát sinh quan hệ nuôi con nuôi giữa đứa trẻ với một bên vợ hoặc chồng (là cha nuôi hoặc mẹ nuôi) còn người kia không đương nhiên trở thành mẹ nuôi hoặc cha nuôi của đứa trẻ mà chỉ có thể trở thành cha dượng hoặc mẹ kế của nó mà thôi. Từ sự phân tích trên đây, có thể nhận thấy, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi có thể xảy ra các trường hợp cụ thể là: Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi; chỉ cha nuôi hoặc mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn quan hệ nuôi con nuôi vẫn tồn tại giữa con nuôi và người còn lại hoặc đương nhiên chấm dứt quan hệ bố dượng mẹ kế với đứa trẻ.

Ví dụ 1: Ông A và bà B là vợ chồng nhận anh X là con nuôi. Khi đã thành niên vì thường xuyên mâu thuẫn với ông A là cha nuôi nên anh X và ông A đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi còn bà B và anh X vẫn tồn tại mối quan hệ nuôi con nuôi.

Ví dụ 2: Ông A và bà B là vợ chồng, bà B muốn nhận anh X làm con nuôi, ông A không muốn điều đó nhưng đồng ý cho vợ mình nhận anh X làm con nuôi. Ông A trở thành bố dượng của anh X. Sau đó bà B và anh X đã tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ giữa ông A và anh X cũng chấm dứt.

Ngoài ra, nếu chỉ một bên chủ thể là cha nuôi, mẹ nuôi hoặc người con nuôi muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì quan hệ nuôi con nuôi có được chấm dứt hay không? Tức là ở đây chỉ có sự tự nguyện của một bên chủ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhận nuôi con nuôi là nhằm gắn bó tình cảm giữa cha mẹ và con, nếu một bên nhận thấy không thể đạt được mục đích ấy và muốn chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì nên chấm dứt mối quan hệ này. Điều này hoàn toàn hợp lý.

b. Con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi

Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định về các tội danh này. Trong thực tế chúng ta gặp những trường hợp người con nuôi có hành vi ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi như đối xử tồi tệ; gây nên sự đau đớn về thể xác và tinh thần cho cha, mẹ nuôi. Cần lưu ý rằng chỉ trong trường hợp người con nuôi có hành vi vi phạm đối với cha mẹ nuôi thì mới được coi là căn cứ để chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Nếu hành vi vi phạm đối với người khác thì không được coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi. Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của người con đối với chỉ một bên cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì có coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với cả người kia không? Chúng tôi cho rằng đó cũng là căn cứ để chấm dứt việc nuôi con nuôi.

Chính hành vi này đã phá vỡ mục đích của việc nuôi con nuôi, dẫn đến tình cảm của cha mẹ nuôi và con nuôi không còn nữa. Do đó, chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là hoàn toàn phù hợp.

c. Cha mẹ nuôi đã có các hành vi quy định tại khoản 3 Điều 67 hoặc khoản 5 Điều 69 của Luật HN&GĐ năm 2000

Khoản 3 Điều 67 quy định: “Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi để bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác”.

Khoản 5 Điều 69 quy định: “Không phải là người đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa bị xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em; các tội xâm phạm tình dục đối với trẻ em; có hành vi xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức xã hội”.

Có thể nói đây là sự vi phạm pháp luật rất nghiêm trọng của cha, mẹ nuôi. Việc pháp luật quy định đây là một căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi là nhằm đảm bảo quyền lợi cho người con nuôi, tách người con nuôi khỏi môi trường có nguy cơ sẽ ảnh hưởng đến nhân cách, lối sống, thể chất… của người con nuôi. Trong trường hợp này hành vi của cha mẹ nuôi được quy định tại khoản 3 Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 được coi là căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khi hành vi đó được thực hiện với bất kể một người nào chứ không chỉ đối với người con nuôi. Điều này có là phù hợp với thực tế khách quan hay không? Khi cha, mẹ nuôi có hành vi vi phạm pháp luật đối với người khác liệu có phá vỡ mục đích của việc thiết lập quan hệ nuôi con nuôi hay không? Nếu chỉ hoặc cha nuôi hoặc mẹ nuôi có hành vi vi phạm thì chỉ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi với người đó hay với cả người còn lại? Theo quan điểm của chúng tôi, chủ thể nào vi phạm thì coi là căn cứ áp dụng đối với chủ thể đó còn các chủ thể khác tuỳ từng trường hợp để xác định, căn cứ vào ý chí của họ có muốn tiếp tục quan hệ nuôi con nuôi hay không?

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định các căn cứ chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi khá rõ ràng và cụ thể. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2000 không phân định rõ “chấm dứt nuôi con nuôi” và “huỷ nuôi con nuôi”, các văn bản hướng dẫn Luật HN&GĐ năm 2000 cũng không quy định cụ thể về vấn đề này. Chúng ta thấy rằng hai thuật ngữ này là khác nhau và hậu quả pháp lý của chúng cũng khác nhau. Chính vì vậy, cần có sự phân biệt hai thuật ngữ này để bảo vệ quyền lợi của các bên chủ thể cũng như đảm bảo đúng ý nghĩa xã hội của việc nuôi con nuôi.

+ Nếu việc nuôi con nuôi là hợp pháp (đảm bảo đúng mục đích luật định, các bên đáp ứng đầy đủ các điều kiện nuôi con nuôi, trình tự thủ tục luật định) nhưng trong quá trình nuôi con nuôi các bên có các hành vi được quy định tại Điều 76 Luật HN&GĐ năm 2000 và có đơn của những người có quyền yêu cầu, toà án sẽ ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi.

+ Nếu việc nuôi con nuôi là trái pháp luật, tức là tại thời điểm xin xác lập quan hệ nuôi con nuôi các bên hoặc một trong hai bên đã vi phạm các điều kiện luật định (vi phạm các quy định tại các Điều 68,69,70,71 Luật HN&GĐ năm 2000) hoặc người xin nhận nuôi con nuôi với mục đích khác (khoản 3 Điều 67 Luật HN&GĐ năm 2000). Trong trường hợp này buộc phải ra quyết định huỷ việc nuôi con nuôi trái pháp luật, coi như chưa bao giờ tồn tại quan hệ pháp lý giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.

Về vấn đề này, khi nghiên cứu hệ thống luật gia đình cũ, tác giả Vũ Văn Mẫu đã phân biệt hai hình thức: Sự truất bãi và sự tiêu huỷ. Theo tác giả, “… Sự truất bãi khác sự tiêu huỷ ở điểm các hiệu lực của sự truất bãi nghĩa dưỡng chỉ bắt đầu khi có bản án truất bãi nghĩa dưỡng; trái lại, sự tiêu huỷ có hiệu lực hồi tố và xoá hết các hiệu lực của sự nghĩa dưỡng đã xảy ra trong quá khứ như không hề bao giờ có sự nghĩa dưỡng giữa người con nuôi và người đứng nuôi….”(1).

Như vậy, xét ở mọi phương diện từ bản chất pháp lý, nguyên nhân, tính hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi và huỷ nuôi con nuôi là không thể đồng nhất. Chấm dứt nuôi con nuôi không có ý nghĩa là một chế tài. Còn huỷ nuôi con nuôi trái pháp luật là một chế tài đối với hành vi vi phạn mục đích và điều kiện nuôi con nuôi theo luật định. Vì vậy, các văn bản hướng dẫn cần phân biệt rõ hai thuật ngữ này để việc giải quyết các tranh chấp được chính xác.

2. Quyền yêu cầu toà án chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 77 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

– Con nuôi đã thành niên, cha, mẹ đẻ, người giám hộ của con nuôi, cha, mẹ, nuôi theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc để nghị viện kiểm sát yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

– Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

– Cơ quan, tổ chức sau đây theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự có quyền tự mình yêu cầu toà án hoặc đề nghị viện kiểm sát yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000:

+ Uỷ ban bảo vệ chăm sóc trẻ em

+ Hội liên hiệp phụ nữ

– Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác có quyền đề nghị viện kiểm sát xem xét, yêu cầu toà án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp quy định tại điểm 2 và điểm 3 Điều 76 của Luật HN&GĐ năm 2000.

Như vậy, quyền yều cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là khá rộng nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong mối quan hệ nuôi con nuôi, đặc biệt là người con nuôi.

3. Hậu quả pháp lý khi chấm dứt việc nuôi con nuôi

Điều 78 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định:

– Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng.

– Trong trường hợp con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu con nuôi có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích chia một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận giữa con nuôi và cha mẹ nuôi; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu toà án giải quyết.

– Khi việc nuôi con nuôi chấm dứt, theo yêu cầu của cha mẹ đẻ hoặc của người đã làm con nuôi, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định việc người đã làm con nuôi được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt.

Như chúng ta đã biết, khi quan hệ nuôi con nuôi được xác lập về nguyên tắc các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con sẽ phát sinh (Điều 74 Luật HN&GĐ năm 2000), bao gồm quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Vậy, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì đương nhiên quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản giữa cha mẹ và con cũng chấm dứt.

a. Quan hệ nhân thân

Các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa cha mẹ và con như nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con (Điều 34); nghĩa vụ và quyền của con (Điều 35); nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 36); nghĩa vụ và quyền giáo dục con (Điều 37); đại diện cho con (Điều 38) sẽ chấm dứt. Khi trở thành con nuôi người khác thì người con nuôi này có thể sẽ thay đổi họ tên của mình, do đó, khi chấm dứt việc nuôi con nuôi người con nuôi có thể được lấy lại họ, tên mà cha mẹ đẻ đã đặt theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp người con nuôi chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom nuôi dưỡng. Trong thực tế, không phải bất kỳ trường hợp nào khi chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi thì người con nuôi đều có cá nhân hoặc tổ chức nhận nuôi dưỡng ngay, vì vậy, quyền lợi của đứa trẻ có thể bị ảnh hưởng. Hoặc đối với cha mẹ nuôi bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, già yếu… mà chưa có nơi nương tựa thì rõ ràng quyền lợi của họ cũng bị ảnh hưởng. Về vấn đề này, trước đây, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 1986 đã có hướng dẫn nếu người con nuôi chưa thành niên không có ai nuôi dưỡng thì sẽ không chấm dứt việc nuôi con nuôi, dù có đủ căn cứ chấm dứt, cho đến khi người con đó có người khác nuôi dưỡng hoặc người con nuôi đã thành niên có khả năng lao động. Quy định này là xuất phát từ việc bảo đảm quyền lợi của người con nuôi… Hiện nay, không có hướng dẫn về vấn đề này. Theo quan điểm của chúng tôi nên có hướng dẫn tương tự và để tránh xung đột giữa hai bên cha mẹ nuôi và con nuôi cũng như đảm bảo quyền lợi cho họ nên chăng nếu cha mẹ nuôi có hành vi quy định tại khoản 3 Điều 76 thì áp dụng hạn chế quyền của cha mẹ đôi với con, trong trường hợp này người cha, mẹ nuôi đó vẫn phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng đứa trẻ; nếu người con nuôi có hành vi quy định tại khoản 2 Điều 76 thì cha mẹ nuôi kết hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan áp dụng biện pháp giáo dục người con nuôi…. Như vậy, khi giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi cần thiết phải quan tâm bảo vệ quyền và lợi ích của người chưa thành niên, người đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

b. Quan hệ tài sản

Các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa cha mẹ và con như bồi thường thiệt hại do con gây ra (Điều 40); quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 60); quyền quản lý, định đoạt tài sản riêng của con (Điều 44,45,46) sẽ chấm dứt. Nếu con nuôi có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó, nếu có công sức đóng góp vào khối tài sản chung của gia đình cha mẹ nuôi thì được trích chia một phần từ khối tài sản chung đó theo thoả thuận hoặc do toà án giải quyết./.


(1).Xem: Vũ Văn Mẫu, “Việt Nam dân luật lược giải”.

Các bài viết cùng tác giả: http://atomic-temporary-1682933.wpcomstaging.com/?s=%22NGUY%E1%BB%84N+TH%E1%BB%8A+LAN%22

SOURCE: TẠP CHÍ LUẬT HỌC SỐ 6/2004

MỘT SỐ NỘI DUNG LIÊN QUAN ĐẾN NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

I. NGƯỜI XIN NHẬN CON NUÔI, TRẺ EM ĐƯỢC CHO LÀM CON NUÔI

1. Người xin nhận con nuôi

Theo Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), người xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi bao gồm:

1.1. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi (danh mục các nước kèm Thông tư này). Người thuộc đối tượng này được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi.

1.2. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi:

a) Người có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. Thời gian 06 tháng được tính theo một lần nhập – xuất cảnh Việt Nam; nếu hai vợ chồng xin nhận con nuôi thì chỉ cần một người đáp ứng điều kiện này;

b) Người có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam. Người gốc Việt Nam được hiểu theo quy định tại Thông tư số 2461/2001/TT-BNG ngày 5 tháng 10 năm 2001 của Bộ Ngoại giao, là người hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam; người có cha đẻ, mẹ đẻ hoặc ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hiện nay hoặc trước đây đã từng có quốc tịch Việt Nam;

c) Người có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.

Quan hệ họ hàng được hiểu là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là cô, cậu, dì, chú, bác với trẻ em là cháu được xin làm con nuôi (theo bên nội hoặc bên ngoại). Trường hợp người có quan hệ họ hàng là ông, bà xin nhận cháu hoặc anh, chị em xin nhận nhau làm con nuôi, thì không giải quyết.

Quan hệ thân thích là quan hệ giữa người xin nhận con nuôi là chồng với con riêng của vợ hoặc vợ với con riêng của chồng.

1.3. Người thường trú tại nước mà nước đó và Việt Nam không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi và cũng không thuộc các trường hợp quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), thì chỉ được xin nhận con nuôi là trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em mất năng lực hành vi dân sự, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo khác đang sống tại gia đình hoặc tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, hoặc trẻ em mồ côi đang sống tại gia đình.

1.4. Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được xin bất kỳ trẻ em nào quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) làm con nuôi, không phụ thuộc vào việc Việt Nam với nước ngoài nơi người đó định cư cùng hoặc không cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi.

Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài được hiểu là người có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài, không kể người đó đã nhập quốc tịch nước ngoài hay chưa.

2. Trẻ em được cho làm con nuôi

Theo Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trẻ em được cho làm con nuôi bao gồm:

2.1. Trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp tại Việt Nam. Cơ sở nuôi dưỡng được thành lập hợp pháp được hiểu là cơ sở bảo trợ xã hội được thành lập theo Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31/5/2001 của Chính phủ (sau đây gọi là cơ sở nuôi dưỡng). Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo Sở Tư pháp phối hợp với Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thông báo cho Cục Con nuôi quốc tế danh sách các cơ sở nuôi dưỡng này và danh sách trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng đó có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi.

Việc giới thiệu trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng làm con nuôi phải tuân thủ các quy định sau:

a) Ưu tiên giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở trong nước; việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là biện pháp cuối cùng, khi không thể tìm được mái ấm gia đình cho trẻ em ở trong nước;

b) Chỉ được giới thiệu trẻ em làm con nuôi sau 30 ngày, kể từ ngày trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng; đối với trẻ sơ sinh bị bỏ rơi thì chỉ được giới thiệu làm con nuôi sau 60 ngày, kể từ ngày phát hiện trẻ em bị bỏ rơi;

c) Trẻ em bị bỏ rơi đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng chỉ được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng cấp tỉnh trở lên mà không có thân nhân đến nhận và cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi (nội dung thông báo theo mẫu kèm Thông tư này).

2.2. Trẻ em đang sống tại gia đình được cho làm con nuôi người nước ngoài nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

Đối với trẻ em có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, thì chỉ được giải quyết cho làm con nuôi của cô, cậu, dì, chú, bác (bên nội hoặc bên ngoại) ở nước ngoài, nếu trẻ em đó bị mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị mồ côi mẹ hoặc cha, còn người kia không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó; trường hợp trẻ em còn cha, mẹ nhưng cả cha và mẹ đều không có khả năng lao động và không có điều kiện để nuôi dưỡng trẻ em đó, thì trẻ em cũng được giải quyết cho làm con nuôi.

Trong trường hợp trẻ em tuy có quan hệ họ hàng với người xin nhận con nuôi, nhưng trẻ em đó còn cả cha và mẹ, sức khoẻ của trẻ em và của cha mẹ bình thường, cha mẹ vẫn có khả năng lao động và có điều kiện để bảo đảm chăm sóc con mình tại Việt Nam, thì không giải quyết cho làm con nuôi ở nước ngoài.

2.3. Trẻ em khuyết tật, tàn tật, là nạn nhân của chất độc hoá học, nhiễm HIV/AIDS, mắc bệnh hiểm nghèo khác (trước đây sống tại cơ sở nuôi dưỡng hoặc sống tại gia đình) đang được chữa trị ở nước ngoài, nếu được người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài xin nhận làm con nuôi, thì được xem xét giải quyết tại Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài như đối với trẻ em không còn hộ khẩu thường trú ở trong nước.

II. MỘT SỐ HƯỚNG DẪN VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC NUÔI CON NUÔI

1. Hồ sơ của người xin nhận con nuôi

Hồ sơ của người xin nhận con nuôi gồm các giấy tờ theo quy định tại Điều 41 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần chú ý một số điểm sau:

a) Đơn xin nhận trẻ em làm con nuôi phải ghi đầy đủ theo mẫu quy định, trong đó nguyện vọng của người xin nhận con nuôi về trẻ em cần xin làm con nuôi (như số lượng trẻ, độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khoẻ) phải phù hợp với giấy phép hoặc bản điều tra về hoàn cảnh gia đình, xã hội do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

b) Trong trường hợp khi nộp hồ sơ mà người xin nhận con nuôi chưa có hộ chiếu, chỉ có bản sao có công chứng giấy chứng minh nhân dân, giấy thông hành hoặc thẻ cư trú và trên các giấy tờ của Việt Nam đều ghi họ tên, ngày tháng năm sinh của người đó theo loại giấy tờ này, thì khi đến Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, người xin nhận con nuôi không phải nộp bản sao hộ chiếu;

c) Đối với người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung):

– Nếu thuộc điểm a thì phải có bản chụp thị thực nhập – xuất cảnh Việt Nam (01 lần) hoặc giấy tờ khác để chứng minh việc đã ở Việt Nam từ 06 tháng trở lên.

– Nếu thuộc điểm b thì phải có giấy tờ phù hợp để chứng minh (có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam).

– Nếu thuộc điểm c thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của trẻ em xác nhận người đó có quan hệ họ hàng với trẻ em được xin làm con nuôi; bản chụp giấy chứng nhận kết hôn của người xin con nuôi với cha hoặc mẹ của trẻ em được xin làm con nuôi và giấy khai sinh của trẻ em đó để chứng minh quan hệ thân thích; bản chụp quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho nhận con nuôi, giấy khai sinh của con nuôi và của trẻ em được xin làm con nuôi để chứng minh người đó đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin làm con nuôi;

d) Đối với trường hợp người xin nhận con nuôi là vợ chồng, nhưng trong quá trình giải quyết hồ sơ, một trong hai bên vợ hoặc chồng chết, nếu người kia muốn tiếp tục xin nhận con nuôi, thì phải làm lại những giấy tờ nói tại các điểm a, c, và d khoản 1 Điều 41 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung).

2. Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ

Thủ tục tiếp nhận và xử lý hồ sơ của người xin nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 42 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần lưu ý một số điểm như sau:

2.1. Trước khi tiếp nhận hồ sơ, Cục Con nuôi quốc tế phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về việc người xin nhận con nuôi thuộc đối tượng quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và hướng dẫn tại điểm 1 mục II Thông tư này.

2.2. Việc nộp hồ sơ được thực hiện như sau:

a) Người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) nộp hồ sơ xin nhận con nuôi thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hữu quan.

Người đứng đầu Văn phòng con nuôi nước ngoài, nhân viên của Văn phòng con nuôi nước ngoài được uỷ quyền hợp lệ hoặc người đại diện của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phải trực tiếp nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại Cục Con nuôi quốc tế;

b) Người xin nhận con nuôi thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) trực tiếp nộp hồ sơ xin nhận con nuôi tại Cục Con nuôi quốc tế, nếu xin nhận trẻ em tại Việt Nam làm con nuôi hoặc tại Cơ quan đại diện Ngoại giao, Cơ quan Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, nếu xin nhận trẻ em Việt Nam ở nước ngoài làm con nuôi.

2.3. Sau khi kiểm tra thấy hồ sơ của người xin nhận con nuôi đầy đủ và hợp lệ, Cục Con nuôi quốc tế cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ (theo mẫu kèm Thông tư này) cho người nộp hồ sơ; thời gian thụ lý hồ sơ được tính kể từ ngày cấp Phiếu tiếp nhận hồ sơ.

3. Trường hợp xin đích danh

Việc xin đích danh trẻ em Việt Nam làm con nuôi chỉ được áp dụng đối với các trường hợp sau:

a) Người xin nhận con nuôi thuộc diện quy định tại khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 79 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung);

b) Người xin nhận con nuôi quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) mà thuộc một trong các trường hợp:

– Có thời gian công tác, học tập, làm việc tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên;

– Có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam;

– Có quan hệ họ hàng, thân thích với trẻ em được xin làm con nuôi hoặc đang có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được xin nhận làm con nuôi.

4. Hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi

Hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài gồm các giấy tờ quy định tại Điều 44 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần lưu ý một số giấy tờ sau:

4.1. Đối với Giấy khai sinh của trẻ em, có thể nộp bản sao từ sổ gốc hoặc bản sao công chứng, chứng thực từ bản chính.

4.2. Đối với giấy xác nhận sức khoẻ, có thể nộp giấy do tổ chức y tế cấp huyện trở lên của Việt Nam cấp; khuyến khích nộp giấy xác nhận sức khoẻ của trẻ em do tổ chức y tế chất lượng cao hoặc tổ chức y tế cấp tỉnh trở lên cấp.

4.3. Đối với trẻ em có cha, mẹ thuộc diện không còn khả năng lao động hoặc không có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con, thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của cha, mẹ trẻ em.

4.4. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, để bảo đảm nguồn gốc rõ ràng của trẻ em, cần phải có:

a) Bản tường trình của người phát hiện trẻ em bị bỏ rơi, trong đó thể hiện rõ ràng, đầy đủ các thông tin về người phát hiện (họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, địa chỉ liên lạc, nghề nghiệp, số chứng minh nhân dân) và chữ ký của người đó; nếu người đó không biết chữ thì phải điểm chỉ nhưng phải ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ;

b) Biên bản về việc trẻ em bị bỏ rơi, trong đó ghi rõ ngày tháng năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi, giới tính, đặc điểm nhận dạng, tài sản và các đồ vật khác của trẻ em (nếu có), có đủ chữ ký của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người lập biên bản và những người khác có liên quan, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan Công an nơi trẻ em bị bỏ rơi.

c) Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi;

d) Văn bản cam đoan của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.

4.5. Đối với giấy đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, phải bảo đảm rằng:

a) Việc đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài phải hoàn toàn tự nguyện, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; tuyệt đối nghiêm cấm việc người xin nhận con nuôi gặp gỡ, tiếp xúc với người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em để đưa ra những thoả thuận về tài chính, lợi ích vật chất khác hoặc bất kỳ mục đích vụ lợi nào để có được sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi;

b) Trước khi tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em phải nhận thức một cách rõ ràng và đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc đồng ý cho trẻ em làm con nuôi theo hình thức trọn vẹn/vĩnh viễn và có thể dẫn đến việc chấm dứt mối quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa trẻ em và cha, mẹ đẻ theo pháp luật nước ngoài; sự đồng ý này không thể bị rút lại;

c) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi mà không xác định được cha, mẹ đẻ do cha, mẹ cố tình giấu địa chỉ, cung cấp địa chỉ giả hoặc tuy có địa chỉ của cha, mẹ nhưng vào thời điểm xác minh, cha, mẹ có lý do chính đáng yêu cầu giữ kín thông tin hoặc cha, mẹ đã chuyển đi nơi khác không rõ địa chỉ, thì chỉ cần sự tự nguyện đồng ý của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó;

d) Trong trường hợp trẻ em được đưa vào cơ sở nuôi dưỡng mà cha, mẹ đẻ chưa thể hiện rõ nguyện vọng cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, nhưng xác định được địa chỉ của cha, mẹ đẻ, thì còn phải có văn bản tự nguyện đồng ý của cha, mẹ đẻ cho con làm con nuôi người nước ngoài; nếu cha, mẹ đẻ chưa đủ 18 tuổi, thì còn phải có sự đồng ý bằng văn bản của người giám hộ của cha, mẹ trẻ em đó; nếu những người này không biết chữ, thì phải điểm chỉ vào văn bản tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi và ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, quê quán, số chứng minh nhân dân và chữ ký của người viết hộ.

5. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi trong trường hợp xin không đích danh

Mọi trường hợp xin nhận trẻ em làm con nuôi thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam (không thuộc diện quy định tại điểm 3.1, tiểu mục 3 mục III Thông tư này) được áp dụng như trường hợp xin không đích danh theo quy định tại Điều 51 Nghị định 68/2002/NĐ-CP. Trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi được thực hiện như sau:

5.1. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người xin nhận con nuôi, căn cứ vào danh sách trẻ em đang sống tại cơ sở nuôi dưỡng, đặc điểm và các điều kiện của trẻ em, nguyện vọng của người xin nhận con nuôi, Cục Con nuôi quốc tế có công văn kèm theo bản chụp Phiếu tiếp nhận hồ sơ và đơn của người xin nhận con nuôi gửi Sở Tư pháp để Sở hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng xem xét giới thiệu trẻ em.

5.2. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được công văn của Cục Con nuôi quốc tế, Sở Tư pháp có công văn đề nghị cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện (thuộc danh sách trẻ em đã báo cáo), phù hợp với nguyện vọng của người xin nhận con nuôi để giới thiệu làm con nuôi và trả lời bằng văn bản cho Cục Con nuôi quốc tế, kèm theo các giấy tờ nói tại điểm 5.3, tiểu mục 3, mục III Thông tư này.

5.3. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Sở Tư pháp, cơ sở nuôi dưỡng xác định trẻ em có đủ điều kiện để giới thiệu làm con nuôi và có công văn (theo mẫu kèm Thông tư này) trả lời cho Sở Tư pháp, kèm theo các giấy tờ sau:

a) Bản chụp Giấy khai sinh (kèm 02 ảnh 9×12 hoặc 10×15) của trẻ em;

b) Bản chụp Biên bản bàn giao trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng; trường hợp trẻ em bị bỏ rơi tại cơ sở nuôi dưỡng thì chỉ cần bản tường trình của người phát hiện;

c) Bản chụp quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận trẻ em vào cơ sở nuôi dưỡng;

d) Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải có:

– Giấy tờ chứng minh việc cơ sở nuôi dưỡng đã thông báo trước đó ít nhất 30 ngày trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên về việc trẻ em bị bỏ rơi (như báo tỉnh hoặc giấy xác nhận về việc đã đưa tin trên đài phát thanh, truyền hình tỉnh).

– Văn bản của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng (theo mẫu kèm Thông tư này) khẳng định về việc sau 30 ngày, kể từ ngày thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng từ cấp tỉnh trở lên mà trẻ em không có thân nhân đến nhận và đồng thời cũng không được người trong nước nhận làm con nuôi.

5.4. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lời của Sở Tư pháp, Cục Con nuôi quốc tế thông báo cho người xin nhận con nuôi về kết quả giới thiệu trẻ em làm con nuôi (thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam).

5.5. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Cục Con nuôi quốc tế, người xin nhận con nuôi phải trả lời bằng văn bản cho Cục Con nuôi quốc tế về việc đồng ý hay không đồng ý nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi (thông qua Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam).

5.6. Chỉ sau khi nhận được văn bản đồng ý của người xin nhận con nuôi đối với trẻ em được giới thiệu theo thủ tục trên đây, Cục Con nuôi quốc tế mới có Công văn gửi Sở Tư pháp để hướng dẫn cơ sở nuôi dưỡng lập hồ sơ cho trẻ em được giới thiệu làm con nuôi (Công văn 1); lúc này cơ sở nuôi dưỡng mới chính thức lập hồ sơ cho trẻ em.

Trong trường hợp người xin nhận con nuôi từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu, Cục Con nuôi quốc tế có công văn gửi Sở Tư pháp để Sở thông báo cho cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu cho người khác; người xin nhận con nuôi chỉ được giới thiệu trẻ em khác sau 12 tháng, kể từ ngày có văn bản từ chối.

6. Thủ tục kiểm tra hồ sơ của trẻ em

6.1. Sau khi nhận đủ 04 bộ hồ sơ của trẻ em do cơ sở nuôi dưỡng chuyển đến, Sở Tư pháp tiến hành kiểm tra toàn bộ các giấy trong hồ sơ, thẩm tra tính hợp pháp của các giấy tờ và xác minh làm rõ về nguồn gốc của trẻ em theo quy định tại Điều 45 Nghị định 68/2002/NĐ-CP, đặc biệt lưu ý đối với những giấy tờ như đã nêu tại điểm 4 mục III Thông tư này.

Trong trường hợp yêu cầu cơ quan Công an xác minh theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Nghị định 68/2002/NĐ-CP, thì Sở Tư pháp phải gửi bản chụp kết quả xác minh của cơ quan Công an kèm theo 01 bộ hồ sơ của trẻ em cho Cục Con nuôi quốc tế.

6.2. Cục Con nuôi quốc tế kiểm tra toàn bộ hồ sơ của trẻ em theo quy định tại Điều 46 Nghị định 68/2002/NĐ-CP và chỉ gửi công văn cho ý kiến đồng ý giải quyết việc người nước ngoài xin nhận trẻ em làm con nuôi (Công văn 2), kèm theo 01 bộ hồ sơ của người xin nhận con nuôi gửi Sở Tư pháp để trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định, nếu xét thấy hồ sơ của trẻ em đã bảo đảm đầy đủ, hợp lệ theo đúng quy định của Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung) và hướng dẫn tại Thông tư này.

7. Hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi

Việc hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi được thực hiện theo quy định tại Điều 47 Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung), trong đó cần chú ý một số điểm sau:

Trường hợp có lý do chính đáng mà người xin nhận con nuôi không thể có mặt tại Việt Nam trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của Sở Tư pháp để hoàn tất thủ tục xin nhận con nuôi, thì người đó phải có văn bản đề nghị Sở Tư pháp cho gia hạn. Nếu đồng ý cho gia hạn, Sở Tư pháp thông báo cho Văn phòng con nuôi nước ngoài tại Việt Nam để Văn phòng báo cho người xin nhận con nuôi; thời gian gia hạn không quá 60 ngày kể từ ngày có văn bản của Sở Tư pháp cho phép gia hạn.

Trường hợp có lý do chính đáng mà người xin nhận con nuôi không thể có mặt tại Việt Nam trong thời hạn trên, thì người đó phải uỷ quyền bằng văn bản cho Văn phòng con nuôi nước ngoài đến Sở Tư pháp nộp lệ phí và bản cam kết (theo mẫu quy định) về việc thông báo định kỳ 06 tháng một lần cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Cục Con nuôi quốc tế về tình hình phát triển của con nuôi trong 03 năm đầu tiên, sau đó mỗi năm tiếp theo, thông báo một lần cho đến khi con nuôi đủ 18 tuổi; trong văn bản uỷ quyền người xin nhận con nuôi phải cam đoan không được từ chối nhận trẻ em đã được giới thiệu; văn bản uỷ quyền phải có chữ ký của người xin nhận con nuôi, không cần công chứng hay chứng thực.

8. Hoàn tất thủ tục xuất cảnh Việt Nam cho trẻ em

8.1. Sau khi có quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi và việc giao nhận con nuôi đã được tiến hành tại Sở Tư pháp, các cơ quan chức năng có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để hoàn tất thủ tục cho trẻ em xuất cảnh Việt Nam, nhập cảnh và cư trú tại nước tiếp nhận.

8.2. Trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi là trẻ em sống tại cơ sở nuôi dưỡng, thì tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em phải do Giám đốc Sở Tư pháp ký xác nhận; trường hợp trẻ em được cho làm con nuôi là trẻ em sống tại gia đình, thì tờ khai đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em phải do Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ em có hộ khẩu thường trú, ký xác nhận.

9. Cha, mẹ nuôi xin huỷ quyết định cho nhận con nuôi

Trường hợp đã có quyết định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho người nước ngoài nhận trẻ em làm con nuôi và việc giao nhận con nuôi đã được tiến hành tại Sở Tư pháp nhưng trẻ em chưa xuất cảnh Việt Nam, cha mẹ nuôi có đơn xin huỷ quyết định nuôi con nuôi vì lý do chính đáng (như việc cha, mẹ nuôi đột nhiên mắc bệnh hiểm nghèo, không đủ sức khoẻ để chăm sóc con nuôi; con nuôi mắc bệnh hiểm nghèo không thể xuất cảnh Việt Nam vì nguy hiểm đến tính mạng; con nuôi không thể hoà nhập được với cha, mẹ nuôi và đòi ở lại Việt Nam hoặc vì lý do chính đáng khác), Cục Con nuôi quốc tế có trách nhiệm báo cáo trình Lãnh đạo Bộ Tư pháp để phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét giải quyết.

Nếu xét thấy lý do xin huỷ quyết định cho nhận con nuôi là chính đáng, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiến hành huỷ/thu hồi quyết định cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi và chỉ đạo việc nhận lại trẻ em về cơ sở nuôi dưỡng hoặc về gia đình để tiếp tục nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

SOURCE: Thông tư số 08/2006/TT-BTP về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài do Bộ Tư Pháp ban hành

THỎA THUẬN HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

THỎA THUẬN

HỢP TÁC VỀ NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ QUÉBEC

CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Sau đây gọi là “Việt Nam”) và

CHÍNH PHỦ QUÉBEC
(Sau đây gọi là “Québec”)

Dưới đây được chỉ định là các Bên,

Thừa nhận rằng, để phát triển hài hòa nhân cách của mình, trẻ em phải được lớn lên trong một môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, tình thương yêu và sự cảm thông;

Thừa nhận rằng, mỗi Bên phải có những biện pháp thích hợp cho phép trẻ em được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình của mình và bảo đảm gia đình thay thế cho trẻ em không có môi trường gia đình gốc;

Thừa nhận rằng, việc nuôi con nuôi quốc tế có lợi thế mang lại một gia đình vững bền cho trẻ em trong trường hợp không thể tìm được một gia đình phù hợp cho trẻ em đó tại Nước gốc của mình;

Dựa trên các quy định của Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em ngày 20 tháng 11 năm 1989, đặc biệt những quy định nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền của trẻ em trong việc nuôi con nuôi;

Mong muốn thiết lập các quy định chung nhằm bảo đảm việc tôn trọng những quyền của trẻ em thường trú tại Việt Nam được những ngươi cư trú tại Québec nhận làm con nuôi và nhằm phòng ngừa việc thu lợi vật chất bất chính, bắt cóc trẻ em, bán và buôn bán trẻ em từ việc nuôi con nuôi;

Căn cứ vào Thỏa thuận hợp tác kinh tế và kỹ thuật giữa Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Québec được ký ngày 16 tháng 01 năm 1992 và Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Canada ký ngày 27 tháng 6 năm 2005,

Thỏa thuận các quy định sau:

Chương 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1. Đối tượng

Thỏa thuận này nhằm thiết lập cơ chế hợp tác giữa Việt Nam và Québec và thủ tục giải quyết yêu cầu xin con nuôi quy định tại Thỏa thuận này, cấu thành khuôn khổ theo đó cha mẹ nuôi người Québec có thể thực hiện việc xin trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

2. Phạm vi của Thỏa thuận

Thỏa thuận này được áp dụng đối với việc nuôi con nuôi, do những người cư trú tại Québec xin nhận trẻ em thường trú tại Việt Nam không quá độ tuổi cho làm con nuôi theo quy định của pháp luật Việt Nam.

3. Những biện pháp phòng ngừa

1. Các Bên tiến hành các biện pháp thích hợp, phù hợp với pháp luật của mình, nhằm phòng ngừa việc thu lợi bất chính từ việc nuôi con nuôi được quy định tại Thỏa thuận này.

2. Các Cơ quan Trung ương, các tổ chức được cấp phép và các cơ quan có thẩm quyền khác trong lĩnh vực nuôi con nuôi, trong quá trình hoạt động, phải tuân thủ các quy định nhằm phòng ngừa việc bắt cóc, bán hoặc buôn bán trẻ em, các hình thức bóc lột gây tổn hại cho trẻ em cũng như nhằm thu các nguồn lợi bất chính.

Chương 2

CÁC CƠ QUAN VÀ TỔ CHỨC CÓ TRÁCH NHIỆM THI HÀNH THỎA THUẬN

4. Cơ quan Trung ương

Cơ quan Trung ương của các Bên được chỉ định nhằm thi hành Thỏa thuận này: về phía Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là Cục Con nuôi quốc tế thuộc Bộ Tư pháp và về phía Québec là Ban Thư ký về nuôi con nuôi quốc tế thuộc Bộ Y tế và các Dịch vụ xã hội.

5. Các cơ quan có thẩm quyền và các tổ chức

1. Để áp dụng Thỏa thuận này, các Cơ quan Trung ương có quyền hành động, trực tiếp hoặc thông qua sự trợ giúp của các cơ quan có thẩm quyền của mỗi Bên, cũng như các tổ chức được cấp phép trong lĩnh vực nuôi con nuôi, phù hợp với pháp luật của nước mình.

2. Đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ họ hàng, trong những trường hợp đặc biệt hoặc khi có quy định của pháp luật, những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của tổ chức được cấp phép theo quy định của Thỏa thuận này sẽ do chính những người xin con nuôi hoặc Cơ quan Trung ương Québec thực hiện, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế và các Dịch vụ xã hội Québec.

6. Các tổ chức được cấp phép

1. Tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ các quyền của trẻ em, đề cao các quyền lợi trẻ em hoặc cải thiện các điều kiện sống của trẻ em, được Bộ trưởng Bộ Y tế và các Dịch vụ xã hội Québec cấp phép, sau khi nhận được Giấy phép của Bộ Tư pháp Việt Nam, có quyền tiến hành tại Việt Nam các hoạt động nhân đạo và phi lợi nhuận nhằm hỗ trợ những người cư trú tại Québec nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi.

2. Tổ chức được cấp phép tiến hành những thủ tục trên phù hợp với các quy định của Thỏa thuận này và pháp luật hiện hành của Việt Nam và Québec.

Chương 3

THỦ TỤC NUÔI CON NUÔI

7. Trách nhiệm của Cơ quan Trung ương Québec

1. Cơ quan Trung ương Québec bảo đảm rằng người xin nhận con nuôi có đủ điều kiện và phù hợp để nhận con nuôi, và cấp thư xác nhận, nhất là cam kết của người xin nhận con nuôi và khả năng nuôi con nuôi.

2. Cơ quan này bảo đảm việc người xin con nuôi đã tiếp cận những thông tin sẵn có về trẻ em ở Nước gốc, đặc biệt về tình trạng sức khoẻ, hoàn cảnh cá nhân, gia đình, xã hội và tâm sinh lý, và các thông tin về cha mẹ đẻ, nếu có thể.

3. Cơ quan Trung ương Québec cũng bảo đảm, trước khi cho phép người xin con nuôi tiếp tục những thủ tục xin con nuôi, căn cứ vào kết quả đánh giá tâm sinh lý và xã hội và các thông tin do Cơ quan trung ương Việt Nam chuyển đến, những người xin con nuôi đáp ứng đầy đủ các điều kiện để nhận trẻ em được giới thiệu làm con nuôi.

8. Trách nhiệm của tổ chức được cấp phép

1. Tổ chức được cấp phép chuyển cho Cơ quan Trung ương Việt Nam hồ sơ của người xin con nuôi, kèm theo thư của Cơ quan Trung ương Québec xác nhận, nhất là cam kết và khả năng nhận con nuôi của người xin con nuôi và công hàm gồm các thông tin, tài liệu sau về người xin con nuôi:

a) Họ và tên, giới tính, ngày sinh, số hộ chiếu hoặc thẻ căn cước, nơi cư trú, nghề nghiệp, địa chỉ liên lạc;

b) Năng lực pháp luật dân sự;

c) Khả năng nuôi con nuôi, đặc biệt là các điều kiện về kinh tế, hoàn cảnh cá nhân, gia đình, sức khỏe và môi trường xã hội;

d) Lý do xin nhận con nuôi;

e) Đặc điểm của trẻ em mà người xin con nuôi có khả năng nhận làm con nuôi (độ tuổi, giới tính và các đặc điểm khác).

2. Tổ chức được cấp phép bảo đảm hồ sơ xin con nuôi đáp ứng tất cả các quy định theo pháp luật Việt Nam và Québec, và hồ sơ xin con nuôi phải kèm theo bản dịch sang tiếng Việt được chứng thực phù hợp. Chi phí dịch thuật hồ sơ do người xin con nuôi chịu.

9. Trách nhiệm của Cơ quan Trương ương Việt Nam

1. Cơ quan Trung ương Việt Nam bảo đảm:

a) Trẻ em được giới thiệu làm con nuôi có đủ điều kiện được nhận làm con nuôi theo pháp luật Việt Nam;

b) Sau khi xem xét khả năng nuôi dưỡng trẻ em trong nước thì việc nuôi con nuôi quốc tế là giải pháp phù hợp nhất đối với quyền lợi của trẻ em;

c) Đã có sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi của các cá nhân, tổ chức, hoặc cơ quan được quyền đồng ý cho trẻ em làm con nuôi, những cá nhân, tổ chức đó phải được tư vấn và thông tin theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi về hệ quả của sự đồng ý đó và sự đồng ý cho trẻ em làm con nuôi chỉ được đưa ra sau khi trẻ em được sinh ra;

d) Căn cứ vào độ tuổi và sự trưởng thành của trẻ em, trẻ em đã được tư vấn và phải được thông tin theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi về hệ quả của việc đồng ý làm con nuôi, các mong muốn và ý kiến của trẻ em đã được xem xét và trẻ em đã đồng ý làm con nuôi khi pháp luật đòi hỏi;

e) Các cá nhân và tổ chức hoặc cơ quan quy định tại các điểm c) và d) của đoạn này phải được thông tin theo những hình thức do pháp luật đòi hỏi về những sự lựa chọn khác và các hệ quả pháp lý của việc nhận nuôi con nuôi trọn vẹn, cá nhân và tổ chức hoặc các cơ quan tự nguyện đồng ý cho trẻ em làm con nuôi trọn vẹn bằng văn bản, theo mẫu quy định của pháp luật;

f) Không có bất kỳ một yêu cầu trả tiền hoặc sự đền bù nào được đưa ra để nhận được sự đồng ý chấp thuận cho trẻ em làm con nuôi theo quy định tại các điểm c) và d) của đoạn này.

2. Khi Cơ quan Trung ương Việt Nam xem xét khả năng được nhận làm con nuôi của trẻ em và các điều kiện quy định tại đoạn trên được đáp ứng, Cơ quan Trung ương Việt Nam chuyển hồ sơ người xin con nuôi cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để tiếp tục giải quyết việc xin con nuôi và thông báo cho tổ chức được cấp phép biết.

10. Giới thiệu trẻ em

1. Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, sau khi bảo đảm việc giới thiệu trẻ em phù hợp với ý kiến được nêu tại bản đánh giá tâm sinh lý và xã hội của người xin con nuôi, gửi cho tổ chức được cấp phép để tổ chức này chuyển lại cho người xin con nuôi bản báo cáo, trong đó bao gồm các thông tin sau về trẻ em được giới thiệu làm con nuôi:

a) Họ và tên, giới tính, ngày sinh, nơi cư trú;

b) Khả năng được nhận làm con nuôi;

c) Hoàn cảnh cá nhân, gia đình, xã hội và tâm sinh lý;

d) Tình hình sức khoẻ;

e) Các nhu cầu đặc biệt, nếu có.

2. Người xin con nuôi trong thời hạn sớm nhất, phải chuyển cho Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam, qua tổ chức được cấp phép, trả lời về việc giới thiệu trẻ em.

3. Không có bất cứ sự tiếp xúc nào giữa người xin con nuôi với trẻ em hoặc với những người trông nom trẻ em trước khi Cơ quan Trung ương Việt Nam nhận được ý kiến trả lời đồng ý bằng văn bản của cha mẹ nuôi về việc giới thiệu trẻ em, trừ trường hợp nhận trẻ em có họ hàng làm con nuôi.

11. Bàn giao trẻ em cho cha mẹ nuôi

1. Quyết định giao trẻ em cho cha mẹ nuôi và việc bàn giao trẻ em đó cho cha mẹ nuôi được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Cơ quan Trung ương Việt Nam xác nhận bằng văn bản các điều kiện và thủ tục giải quyết việc cho, nhận con nuôi đã được thực hiện theo đúng các quy định của Thỏa thuận này.

3. Các cơ quan Trung ương của hai Bên giám sát để các cơ quan hành chính có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em xuất cảnh Nước gốc, cũng như là nhập cảnh và thường trú tại Québec.

Chương 4

PHÁP LUẬT ÁP DỤNG VÀ BẢO VỆ TRẺ EM ĐƯỢC NHẬN LÀM CON NUÔI

12. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi

1. Theo quy định của pháp luật Québec, Tòa án Québec công nhận hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi tuân theo pháp luật Québec.

2. Tổ chức được cấp phép thông báo cho Cơ quan Trung ương Việt Nam các quyết định do Tòa án Québec tuyên về việc nuôi con nuôi và gửi cho Cơ quan Trung ương Việt Nam bản sao quyết định đó.

3. Quyết định do Tòa án Québec tuyên đương nhiên được công nhận tại Việt Nam. Việc công nhận này bao gồm cả những hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Québec.

4. Tại Québec, việc nuôi con nuôi làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của con nuôi như con đẻ.

13. Bảo vệ trẻ em

1. Québec bảo đảm trẻ em do những người cư trú tại Québec nhận làm con nuôi theo các quy định của Thỏa thuận này và các quy định của pháp luật hiện hành được bảo vệ và hưởng những quyền như trẻ em ở Québec.

2. Khi việc chăm sóc trẻ em tại gia đình cha mẹ nuôi không còn phù hợp với quyền lợi tốt nhất của trẻ em, cơ quan có thẩm quyền Québec bảo đảm tất cả các biện pháp cần thiết được tiến hành nhằm bảo vệ trẻ em đó. Theo quy định của pháp luật Québec, các cơ quan có thẩm quyền của Québec chịu trách nhiệm chuyển trẻ em đến một môi trường phù hợp với sự phát triển của trẻ em. Khi trẻ em được giao cho một gia đình khác trước khi quyết định cho làm con nuôi phát sinh đầy đủ hiệu lực tại Québec, Cơ quan Trung ương Québec thông báo cho Cơ quan Trung ương Việt Nam.

Chương 5

HỢP TÁC

14. Trao đổi thông tin

1. Nhằm thực hiện tốt Thỏa thuận này và tuân thủ pháp luật của mỗi Bên, các Cơ quan Trung ương trao đổi thông tin về pháp luật áp dụng trong lĩnh vực nuôi con nuôi, đặc biệt các quy định liên quan đến người xin con nuôi, các số liệu thống kế và các thông tin hữu ích khác.

2. Khi Cơ quan Trung ương Bên này nhận được từ Cơ quan Trung ương Bên kia yêu cầu thông tin, có nêu rõ lý do, đối với một trường hợp cụ thể, Cơ quan Trung ương đó tiến hành những biện pháp thích hợp để đáp ứng yêu cầu trong chừng mực mà pháp luật cho phép. Cơ quan Trung ương đó chỉ được sử dụng các thông tin phục vụ vào mục đích đã nêu trong đơn yêu cầu và nhằm bảo vệ quyền lợi cao nhất của trẻ em. Cơ quan đó cũng bảo đảm tính bí mật của các thông tin.

15. Bảo vệ thông tin cá nhân

Tất cả các thông tin cá nhân liên quan đến việc nuôi con nuôi theo Thỏa thuận này phải được bảo vệ và giữ bí mật trong chừng mực pháp luật hiện hành của Việt Nam và Québec quy định.

16. Bảo quản thông tin sẵn có liên quan đến nguồn gốc trẻ em

Các Bên bảo quản thông tin sẵn có liên quan đến nguồn gốc của trẻ em, tình trạng sức khỏe trước đây và hoàn cảnh gia đình. Việc tiếp cận thông tin trên phải tuân thủ các điều kiện theo quy định pháp luật mỗi Bên.

17. Thực hiện Thỏa thuận

1. Việt Nam và Québec hợp tác nhằm thực hiện tốt Thỏa thuận này. Để thực hiện tốt, các Bên thành lập nhóm công tác hỗn hợp bao gồm đại diện của các Cơ quan Trung ương. Các đại diện của cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi ở Việt Nam và Québec và tổ chức được cấp phép của Québec có thể được mời, nếu cần thiết, tham gia các cuộc họp nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam và Québec.

2. Nhóm công tác hỗn hợp nhóm họp ít nhất hai năm một lần, theo cơ chế luân phiên tại Việt Nam và Québec, nhằm xem xét việc thực hiện Thỏa thuận này và đánh giá kết quả thực hiện, đề xuất giải quyết các vấn đề khó khăn có thể xảy ra.

3. Các Bên thông tin cho nhau về việc thực hiện Thỏa thuận và có các quy định cần thiết để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện, nếu có.

Chương 6

NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG

18. Miễn hợp pháp hóa

Các giấy tờ, tài liệu nhằm sử dụng cho việc nuôi con nuôi do các cơ quan có thẩm quyền của Bên này lập và chuyển cho Cơ quan Trung ương hoặc các cơ quan có thẩm quyền của Bên kia được miễn hợp pháp hóa lãnh sự.

19. Ngôn ngữ liên hệ

Các Cơ quan Trung ương trao đổi trực tiếp với nhau bằng ngôn ngữ của mỗi Bên.

20. Sửa đổi

1. Các Bên có thể sửa đổi Thỏa thuận này thông qua việc trao đổi công hàm, trong đó nói rõ ngày có hiệu lực của những sửa đổi đó. Tuy nhiên, những sửa đổi do hai Bên thống nhất không được ảnh hưởng tới các hồ sơ xin con nuôi đang được giải quyết.

2. Trong thời hạn ba tháng trước khi áp dụng Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế, đối với những trường hợp nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi của người xin con nuôi Québec, các Bên sẽ xem xét lại các quy định của Thỏa thuận này.

3. Sau khi Công ước La Hay có hiệu lực tại Việt Nam và Québec, những quy định nào của Thỏa thuận này không phù hợp với Công ước sẽ bị đình chỉ áp dụng cho tới khi các quy định sửa đổi trong Thỏa thuận có hiệu lực.

21. Hiệu lực

Mỗi Bên thông báo cho nhau việc hoàn tất các thủ tục theo quy định trong nước để Thỏa thuận này có hiệu lực. Thỏa thuận này sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai sau khi nhận được văn bản thông báo sau cùng.

22. Thời hạn

1. Thỏa thuận này được ký kết cho thời hạn 5 năm và được mặc nhiên gia hạn mỗi lần 5 năm, trừ trường hợp ít nhất 6 tháng trước khi Thỏa thuận hết hiệu lực, một Bên thông báo cho Bên kia bằng văn bản ý định chấm dứt hiệu lực của Thỏa thuận này.

Thỏa thuận có thể bị chấm dứt vào bất kỳ thời điểm nào nếu một Bên chuyển cho Bên kia văn bản về ý định chấm dứt. Thỏa thuận sẽ chấm dứt vào ngày đầu tiên của tháng thứ sáu sau ngày nhận đựơc ý kiến trên.

2. Trong trường hợp chấm dứt hoặc không gia hạn Thỏa thuận, các Bên sẽ tiến hành những biện pháp cần thiết để hoàn tất tất cả các hồ sơ xin con nuôi được Cơ quan Trung ương Québec hoặc tổ chức được cấp phép nộp tại Cơ quan Trung ương Việt Nam, trong khuôn khổ của Thỏa thuận này.

Để làm bằng, đại diện của các Bên đã ký Thỏa thuận này.

Làm tại Québec, ngày 15 tháng 9 năm 2005, thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau./.

THAY MẶT CHÍNH PHỦ QUÉBEC
BỘ TRƯỞNG BỘ ĐỐI NGOẠI QUÉBEC
MONIQUE GAGNON – TREMBLAY
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ VÀ CÁC
DỊCH VỤ XÃ HỘI

Philippe Couillard
THAY MẶT CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
ĐẠI SỨ ĐẶC MỆNH TOÀN QUYỀN VIỆT NAM TẠI CA-NA-ĐA

Nguyễn Thị Hồi

NHÌN LẠI MỘT NĂM THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 158/2005/ND-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

Ngày 27/12/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP (có hiệu lực ngày 01/4/2006) thay thế cho Nghị định 83/1998/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Qua hơn 1 năm thực hiện đã được được một số kết quả bước đầu. Công tác đăng ký, quản lý hộ tịch từng bước ổn đinh và đi vào nề nếp. Cơ sở vật chất bước đầu được cải thiện. Người dân đã nhận thức tầm quan trọng của giấy tờ hộ tịch nên không tùy tiện sữa chữa, thêm, bớt. Tự giác thực hiện đi đăng ký các sự kiện hộ tịch. Không còn tình trạng “sinh không khai, tử không báo” như trước đây.

Cán bộ hộ tịch cấp xã đã xác định được tầm quan trọng của công tác này nên đã tuân thủ trình tự, thủ tục của Nghị định. Nghiệp vụ được nâng cao nên thụ lý giải quyết nhanh chóng, hướng dẫn rõ ràng cho dân nên không có khiếu nại về hộ tịch.

Kết quả một năm thực hiện công tác đăng ký, quản lý hộ tịch của thành phố Đồng Hới thể hiện qua số liệu cụ thể sau: UBND thành phố đã thực hiện cấp lại bản chính giấy khai sinh cho144 trường hợp; Thay đổi CCHT cho116 trường hợp. UBND xã, phường: đăng ký khai sinh 2852 ­­trường hợp; kết hôn: 990 tr­­ường hợp; Đăng ký tử: 560 trư­­ờng hợp. Đăng ký lại: 8 trường hợp và thay đổi cải chính hộ tịch: 156  tr­ường hợp.

So với Nghị định 83/CP thì Nghị định 158 đã tháo gỡ những vướng mắc trên thực tế mà Nghị định 83 chưa giải quyết được. Đó là: đơn giản thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết công việc phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, thuận tiện cho người dân.

Để thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, trước hết phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết về mục đích, ý nghĩa của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch; quyền và nghĩa vụ công dân về đăng ký hộ tịch… Xác định công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch có vai trò và ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công tác hộ tịch. Vì thế trước ngày Nghị định có hiệu lực phòng Tư pháp thành phố Đồng Hới đã tham m­ưu cho Uỷ ban nhân dân thành phố tổ chức hội nghị triển khai và tổ chức lớp tập huấn cho lãnh đạo UBND, cán bộ Tư pháp-Hộ tịch cấp xã, đồng thời tổ chức tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân trên địa bàn thành phố.

Nghị định 158 có nhiều điểm mới, đặc biệt việc phân cấp cho UBND các xã, phường  thực hiện việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân dưới 14 tuổi. UBND cấp huyện thực hiện việc cấp bản chính giấy khai sinh và thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân từ 14 tuổi trở lên.  Đây là việc mới, lần đầu thực hiện lại chưa có hướng dẫn cụ thể nên khi thực hiện còn gặp phải vướng mắc:

Nhiều tr­ường hợp cải chính họ tên, chữ đệm và các nội dung khác trong Giấy khai sinh là để hợp pháp hóa hồ sơ hiện tại do công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trước đây còn lỏng lẻo, do người dân chưa hiểu biết quy định pháp luật về hộ tịch. Không thụ lý giải quyết thì công dân rất khó khăn trong việc phải thay đổi tất cả các loại giấy tờ tuỳ thân. Nếu cho phép cải chính thì không đảm bảo nguyên tắc của Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP: “ Mọi giấy tờ đều phải phù hợp giấy khai sinh”.

.           Sổ đăng ký hộ tịch hiện đang lưu trữ ghi chép không đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhiều nội dung như: mục phần khai về cha mẹ trong sổ đăng ký khai sinh có đơn vị chỉ ghi về cha hoặc mẹ; cấp giấy khai sinh không ghi số, quyển số hoặc cấp bản chính nhưng không vào sổ hộ tịch. Số gốc và bản chính giấy khai sinh  không trùng nhau…

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân có nhiều nơi tạm trú khác nhau còn gặp nhiều khó khăn do không đủ điều kiện, thời gian để xác minh.

Nghị định 158/ 2005/ NĐ-CP chưa quy định cụ thể như:  Được cấp lại mấy lần bản chính Giấy khai sinh, nội dung xác nhận thay đổi, cải chính hộ tịch…

Về trách nhiệm phối hợp trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến hộ tịch tại khoản 2 Điều 99 chỉ mới quy định Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp mà bỏ sót Bộ Giáo dục-Đào tạo trong khi trên thực tế việc điều chỉnh văn bằng, chứng chỉ cho phù hợp với giấy tờ hộ tịch là rất lớn. Do quy chế quản lý văn bằng chỉ cấp một lần nên khi có sai sót hoặc cần đính chính thì chưa được thụ lý giải quyết do chưa có văn bản hướng dẫn của ngành. Khó khăn cho công dân trong trường hợp có sai lệch giữa văn bằng, chứng chỉ với giấy tờ hộ tịch.

Việc đăng ký lại việc sinh theo quy định tại Đ 46 NĐ: chỉ giải quyết trong trường hợp sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được. Về thủ tục: trong trường hợp xuất trình được bản sao khai sinh hợp lệ thì không cần phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi đăng ký khai sinh trước đây. Như vậy, nếu công dân xin đăng ký lại tại nơi thường trú hiện tại để đảm bảo đúng nguyên tắc quy định tại Đ 46 NĐ thì cán bộ tư pháp phải trực tiếp đi xác minh hoặc gửi công văn đề nghị xác minh sẽ không đảm bảo về thời gian và kinh phí thực hiện. Bên cạnh những vướng mắc thì công tác đăng ký, quản lý hộ tịch công gặp phải một số khó khăn:

Khó khăn về con người thực hiện nhiệm vụ: Cán bộ t­­ư pháp ngoài nhiệm vụ đăng ký hộ tịch còn phải thực hiện chứng thực theo Nghị định 79/2007/ NĐ-CP trong khi hầu hết chỉ có 1 cán bộ t­ư pháp, đặc biệt có đơn vị Bắc Lý thành phố Đồng Hới có trên 13.000 dân vẵn chỉ có 01 cán bộ tư pháp trong khi Nghị định quy định trên 10.000 dân bố trí 02 cán bộ.

Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc: phòng còn chật hẹp, thiếu bàn, ghế, máy vi tính nên ch­ưa đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân và còn ảnh hưởng đến chất lượng công tác này.

Về thời hạn giải quyết: Việc cấp bản sao hộ tịch quy định phải thực hiện trong ngày nhưng trên thực tế không đáp ứng được do điều kiện công tác của lãnh đạo địa phương. Mặt khác việc cấp bản chính giấy khai sinh từ Sổ lư­u đăng ký hộ tịch còn khó khăn do nhận chuyển giao Sổ l­ưu hộ tịch  từ Sở Tư­ pháp chỉ có từ năm 1995 đến nay, vì vậy đối với  nhu cầu cấp lại bản chính Giấy khai sinh từ năm 1995 trở về tr­ước thì phải mất nhiều thời gian xác minh, yêu cầu UBND cấp xã cung cấp thông tin và xác nhận mới cấp đư­ợc bản chính. Sổ l­ưu đăng ký hộ tịch ở một số đơn vị  từ năm1965 đến 1980 do l­ưu trữ không cẩn thận, bảo quản  không tốt nên hiện nay nhiều sổ rách nát, nhiều trang không sử dụng đ­ược nên nhiều trường hợp chưa đáp ứng được yêu cầu cấp giấy tờ hộ tịch cho công dân.

Về kinh phí phục vụ cho công tác đăng ký quản lý hộ tịch: Do chưa có quy định về đầu tư kinh phí cho công tác này nên lứng túng khi thực hiện. Các địa phương chưa cấp kinh phí ban đầu cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch nên còn luẩn quẩn trong việc nhận và thanh toán biều mẫu (Sở nợ nhà xuất bản, Phòng nợ Sở và UBND cấp xã nợ phòng). Nhận trước và thanh toán sau để kịp thời phục vụ, khi có tiền thu lệ phí biểu mẫu thì mới thanh toán do vậy cán bộ tư pháp phải mở sổ  theo dõi việc nhận và thanh toán biều mẫu, mất nhiều thời gian trong khi cả cán bộ phòng và cán bộ tư pháp cơ sở không có nghiệp vụ kế toán…

 Trước yêu cầu cần thiết của việc xây dựng một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, nâng cao tính  chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ tư pháp và đẩy mạnh hiệu quả công tác hộ tịch; Trước những khó khăn, vướng mắc qua hơn một năm thực hiện Nghị định 158 xin mạnh dạn đề xuất, kiến nghị:

Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP và kịp thời ban hành công văn hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc thực tế của địa phương trong quá trình thực hiện.

Chỉ đạo các địa phương  bổ sung biên chế, bố trí cán bộ đủ tiêu chuẩn đảm nhiệm công tác tư pháp.

 Hàng năm có kế hoạch tổ chức tập huấn chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ cấp huyện, cấp xã. Tổ chức tọa đàm tại cơ sở, lắng nghe ý kiến cơ sở để kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong thực tiễn.

            Phối hợp với các Bộ có liên quan ban hành Thông tư liên tịch để giải quyết các trường hợp liên quan đến hộ tịch ( phối hợp thực hiện việc điều chỉnh hồ sơ công dân theo Giấy khai sinh đối với những trường hợp không thuộc phạm vi cải chính hộ tịch) như Bộ Công an, Bộ nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục-Đào tạo và Bộ Tài chính để công tác này được thực hiện thống nhất, chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc./.

Hoàng Hồng

 HTTP://WWW. MOJ.GOV.VN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CỦA NCS NGUYỄN PHƯƠNG LAN VỀ ĐỀ TÀI: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Văn Thanh và TS. Đinh Trung Tụng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những kết luận mới của luận án:

1. Luận án đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, chế định pháp lý về nuôi con nuôi, các hình thức nuôi con nuôi, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức nuôi con nuôi này. Trước đây, các vấn đề này chưa hề được đề cập đến.

2. Luận án đã làm rõ cơ sở xã hội – lịch sử của việc nuôi con nuôi và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Luận án phân biệt việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em khác và làm rõ ý nghĩa của việc nuôi con nuôi.

3. Luận án đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, như còn thiếu vắng quy định về các hình thức nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa được quy định đầy đủ và chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các điều kiện nuôi con nuôi chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, chưa có quy định về huỷ việc nuôi con nuôi v.v…

4. Luận án đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật:

– Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có một số nội dung cơ bản sau: Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi con nuôi đơn giản. Luận án khẳng định, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi phải gắn với mỗi hình thức nuôi con nuôi tương ứng và cần được quy định cụ thể. Cần bổ sung, sửa đổi các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi, quy định điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi; cần quy định việc nuôi con nuôi giữa những người họ hàng. Cần sửa đổi, bổ sung các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo hướng cụ thể, trực tiếp. Cần quy định về huỷ việc nuôi con nuôi. Cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luận án kiến nghị phải xây dựng Luật nuôi con nuôi, nhằm đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước La Hay.

– Nhóm giải pháp về hoàn thiện các thiết chế giải quyết việc nuôi con nuôi: luận án kiến nghị mở rộng và tăng thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của Việt Nam theo Công ước La Hay. Cơ quan này có thẩm quyền quyết định việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài.

– Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: cần cho phép thành lập một số tổ chức con nuôi được uỷ quyền, các tổ chức này sẽ thực hiện một số chức năng do Cơ quan Trung ương giao cho. Cần mạnh dạn thực hiện xã hội hoá một số khâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thúc đẩy việc nuôi con nuôi có hiệu quả, đặc biệt là việc nhận nuôi con nuôi trong nước. Việc tuyên truyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thận trọng, tránh thông tin một chiều và khuynh hướng “thương mại hóa”.

========*********===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA

Luận án Tiến sĩ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Lan về đề tài: “CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHẾ ĐỊNH PHÁP LÝ VỀ NUÔI CON NUÔI Ở VIỆT NAM”

Chuyên ngành: Luật Dân sự; Mã số: 62.38.30.01; Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Văn Thanh và TS. Đinh Trung Tụng; Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Luật Hà Nội.

Những kết luận mới của luận án:

1. Luận án đã xây dựng các khái niệm cơ bản như khái niệm con nuôi, nuôi con nuôi, chế định pháp lý về nuôi con nuôi, các hình thức nuôi con nuôi, đồng thời làm rõ bản chất và hệ quả pháp lý của mỗi hình thức nuôi con nuôi này. Trước đây, các vấn đề này chưa hề được đề cập đến.

2. Luận án đã làm rõ cơ sở xã hội – lịch sử của việc nuôi con nuôi và chỉ ra những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới việc nuôi con nuôi trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Luận án phân biệt việc nuôi con nuôi với các hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ em khác và làm rõ ý nghĩa của việc nuôi con nuôi.

3. Luận án đã chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật nuôi con nuôi hiện hành, như còn thiếu vắng quy định về các hình thức nuôi, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi chưa được quy định đầy đủ và chưa tương đồng với pháp luật quốc tế, các điều kiện nuôi con nuôi chưa chặt chẽ, chưa phản ánh và phù hợp với bản chất của quan hệ nuôi con nuôi, chưa có quy định về huỷ việc nuôi con nuôi v.v…

4. Luận án đã đề xuất ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật:

– Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nuôi con nuôi có một số nội dung cơ bản sau: Luận án làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để quy định hình thức nuôi con nuôi đầy đủ bên cạnh hình thức nuôi con nuôi đơn giản. Luận án khẳng định, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi phải gắn với mỗi hình thức nuôi con nuôi tương ứng và cần được quy định cụ thể. Cần bổ sung, sửa đổi các điều kiện của việc nuôi con nuôi, như cần quy định độ tuổi tối thiểu của người nhận nuôi, quy định điều kiện của trẻ em được nhận làm con nuôi; cần quy định việc nuôi con nuôi giữa những người họ hàng. Cần sửa đổi, bổ sung các căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi theo hướng cụ thể, trực tiếp. Cần quy định về huỷ việc nuôi con nuôi. Cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài khi có hành vi vi phạm trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Luận án kiến nghị phải xây dựng Luật nuôi con nuôi, nhằm đáp ứng yêu cầu gia nhập Công ước La Hay.

– Nhóm giải pháp về hoàn thiện các thiết chế giải quyết việc nuôi con nuôi: luận án kiến nghị mở rộng và tăng thẩm quyền cho Cục con nuôi quốc tế là cơ quan Trung ương về nuôi con nuôi của Việt Nam theo Công ước La Hay. Cơ quan này có thẩm quyền quyết định việc cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài.

– Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: cần cho phép thành lập một số tổ chức con nuôi được uỷ quyền, các tổ chức này sẽ thực hiện một số chức năng do Cơ quan Trung ương giao cho. Cần mạnh dạn thực hiện xã hội hoá một số khâu trong lĩnh vực nuôi con nuôi để thúc đẩy việc nuôi con nuôi có hiệu quả, đặc biệt là việc nhận nuôi con nuôi trong nước. Việc tuyên truyền trong lĩnh vực nuôi con nuôi cần thận trọng, tránh thông tin một chiều và khuynh hướng “thương mại hóa”.

========*********===========

TÌM ĐỌC LUẬN ÁN TẠI THƯ VIỆN ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI/ THƯ VIỆN QUỐC GIA