NGHỊ ĐỊNH SỐ 60/2010/NĐ-CP NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÀNG KHÔNG DÂN DỤNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 44/2002/PL-UBTVQH10 ngày 02 tháng 7 năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính số 04/2008/PL-UBTVQH12 ngày 02 tháng 4 năm 2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (sau đây gọi chung là Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính);
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng

2. Vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng là những hành vi do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm quy định của pháp luật về hàng không dân dụng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:

a) Vi phạm quy định về tàu bay;

b) Vi phạm quy định về cảng hàng không, sân bay;

c) Vi phạm quy định về nhân viên hàng không;

d) Vi phạm quy định về hoạt động bay;

đ) Vi phạm quy định về hoạt động vận chuyển hàng không và hàng không chung;

e) Vi phạm quy định về an ninh hàng không.

3. Các hành vi vi phạm hành chính khác tại cảng hàng không, sân bay bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tương ứng.

Continue reading

THẤY GÌ QUA VIỆC NHÃN HIỆU DO CÁC DOANH NGHIỆP NGHỆ AN ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC BẢO HỘ HOẶC BỊ TỪ CHỐI BẢO HỘ?

TS. TRẦN VĂN HẢI – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Dẫn nhập

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi mà Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO thì các doanh nghiệp không những chỉ phải quan tâm đến công tác tổ chức sản xuất, kinh doanh mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nhãn hiệu (trước đây gọi là nhãn hiệu hàng hóa). Nhãn hiệu là một trong những yếu tố làm nên giá trị của một doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp người tiêu dùng không quan tâm đến tên doanh nghiệp mà chỉ biết đến sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu, ví dụ người tiêu dùng chỉ biết đến nhãn hiệu Clear, OMO, Lipton… chứ không cần biết đến tên doanh nghiệp Unilever, nhưng trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu nhãn hiệu là phải tổ chức sản xuất, kinh doanh để làm nên giá trị của hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu, mặt khác doanh nghiệp còn có quyền chống lại mọi sự xâm phạm đến nhãn hiệu của mình do các chủ thể khác thực hiện.

Vậy trên thực tế, các doanh nghiệp Nghệ An (cụm từ “doanh nghiệp Nghệ An” dùng để chỉ doanh nghiệp có trụ sở trên địa bàn tỉnh Nghệ An) đã làm như thế nào để xây dựng và phát triển nhãn hiệu của mình? Bài nghiên cứu này sẽ phân tích một số trường hợp các doanh nghiệp Nghệ An nộp đơn đề nghị bảo hộ nhãn hiệu đã được Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) chấp nhận bảo hộ hoặc đã bị từ chối bảo hộ, trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị để các doanh nghiệp có thể tự xây dựng và phát triển nhãn hiệu của mình.

1. Tổng quan về việc bảo hộ nhãn hiệu cho các doanh nghiệp Nghệ An

Theo số liệu do Cục SHTT quản lý cập nhật đến 19.3.2010 thì các doanh nghiệp Nghệ An đã có 330 đơn đề nghị được bảo hộ nhãn hiệu, trong đó đã có 158 Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp, tỷ lệ thành công là 47,8% (tỷ lệ này ở Hà Tĩnh là 47,4%). So sánh số Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu do Cục SHTT đã cấp cho doanh nghiệp các tỉnh khác (không kể các doanh nghiệp thuộc địa bàn Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) thì số lượng nhãn hiệu được bảo hộ cho các doanh nghiệp Nghệ An thuộc tốp trên, nhưng tỷ lệ thành công của nhãn hiệu được bảo hộ/số đơn đề nghị thì thuộc tốp trung bình. Bảng số liệu sau đây minh họa cho nhận định này, chúng tôi chọn Hà Tĩnh làm đối chứng vì Hà Tĩnh và Nghệ An đều tách ra từ tỉnh Nghệ Tĩnh cũ (lưu ý: trong năm 2009 số Giấy Chứng nhận đăng ký nhãn hiệu được cấp cho Hà Tĩnh nhiều hơn số đơn là do đơn được nộp từ các năm trước).

Continue reading

THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP CẦN QUAN TÂM GÌ?

LS. ANH HỒNG NGÂN & LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật Phước & Partners

Quyết định thành lập doanh nghiệp (DN) là một quyết định quan trọng đối với bất kỳ nhà đầu tư nào, đặc biệt là những người mới khởi nghiệp. Sau quyết định quan trọng đó, chính là lúc các nhà đầu tư tiến hành các thủ tục pháp lý để thành lập DN. Thủ tục pháp lý thành lập DN hiện nay khá đơn giản và thời gian xin cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (ĐKKD) cũng không dài, nên có rất nhiều DN được thành lập trong những năm gần đây.

Trong giai đoạn tiền thành lập này, các nhà đầu tư thường có khuynh hướng tập trung vào các vấn đề thương mại khác của DN như tìm hiểu thị hiếu khách hàng tiềm năng, chọn địa điểm kinh doanh, tìm nguồn vốn, nguồn nhân lực, nguồn cung cấp để phục vụ cho dự án kinh doanh…

Việc làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận ĐKKD thường được nhà đầu tư xem nhẹ và coi là bước thủ tục phải làm mà không đặt trọng tâm vào. Tuy nhiên, trong thực tế có một số vấn đề pháp lý phát sinh có liên quan đến thủ tục xin cấp giấy chứng nhận ĐKKD mà các nhà đầu tư (đặc biệt là những người mới khởi nghiệp) cần lưu ý.

1. Cần xác định ngành nghề kinh doanh cho DN

Xác định được ngành nghề kinh doanh cho DN rất quan trọng vì ngoài thủ tục ĐKKD thông thường, ở một số loại ngành nghề, các nhà đầu tư còn phải xin thêm giấy phép kinh doanh, phải có chứng chỉ hành nghề, hoặc phải đáp ứng thêm một số điều kiện đặc thù của ngành nghề đó mà pháp luật quy định cũng như phải thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.

Hiện nay pháp luật DN quy định ba loại hình của ngành nghề kinh doanh chính mà đòi hỏi nhà đầu tư phải thỏa mãn thêm một số yêu cầu đối với việc ĐKKD, đó là: (i) các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, (ii) các ngành, nghề kinh doanh phải có vốn pháp định, và (iii) các ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề.

Continue reading

M&A CẦN NHIỀU HƠN MỘT KHUNG PHÁP LÝ

NGUYỄN LAN PHƯƠNG

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam và thế giới đang trải qua giai đoạn khó khăn, hầu hết các doanh nghiệp (DN) đang phải xoay sở cho chính mình thì xu hướng mua bán và sát nhập (M&A) đang phát triển mạnh tại Việt Nam… Sắp tới đây, sẽ có nhiều doanh nghiệp sẵn sàng bán hoặc sáp nhập DN.

Xu hướng tương lai

Hiện nay, có khoảng 350.000 DN đang hoạt động tại Việt Nam, với 95% trong số này là DN nhỏ và vừa. Theo kế hoạch phát triển đến năm 2010, con số này sẽ lên đến 500.000 DN. Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch &Đầu tư) sẽ có khoảng 50% số DN Việt Nam có thể sáp nhập với các đối tác là nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Hoạt động M&A tuy mới mẻ với thị trường Việt Nam, nhưng, ở nước ngoài thì hoạt động này đã trở nên phổ biến. Các nhà đầu tư nước ngoài đã quen với các hoạt động M&A tại nước sở tại nên họ sẽ có thuận lợi hơn khi đầu tư vào Việt Nam theo hình thức này.

Có thể thấy, qua các thương vụ M&A, khá nhiều DN vẫn tỏ ra lúng túng, chưa được trang bị những kiến thức cơ bản và tổng thể về M&A, dẫn đến nhiều cuộc thương thảo không thành công, hoặc DN được mua lại, sáp nhập với những điều kiện, giá trị chưa thỏa mãn. DN Việt Nam có thể phải chịu những thiệt thòi nếu thiếu kinh nghiệm và kiến thức cần thiết về M&A.

Phía bên mua, nhà đầu tư nước ngoài am tường quản trị, có tiềm lực tài chính, có nhiều kinh nghiệm trong sáp nhập mua lại DN, có thể đưa ra hợp đồng phức tạp với những điều kiện khó khăn cho DN Việt Nam…

Khung pháp lý hiện hành còn nhiều bất cập

Thị trường mua bán và sáp nhậ doanh nghiệp Việt Nam ở thời điểm này khá hấp dẫn và có khả năng thu hút đồng vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian qua, cũng đã có nhiều thương vụ M&A thực hiện thành công. Song, vẫn tồn tại không ít khó khăn từ hành lang pháp lý, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục mà điển hình nhất là khung pháp lý chưa thực sự rõ ràng, nằm rải rác ở một số luật như Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Chứng khoán… cũng gây nhiều khó khăn cho cả bên mua và bên bán. Vấn đề hậu M&A thường các doanh nghiệp bên bán ít khi quan tâm đến.

Continue reading

KHI NÀO DOANH NGHIỆP LÀ MỘT PHÁP NHÂN?

LG. CAO BÁ KHOÁT – Thành viên Tổ Thi hành Luật Doanh nghiệp của Thủ tướng Chính phủ

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 và BLDS năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

Tuy có nhiều tên gọi khác nhau, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) 1 thành viên, công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh… nhưng nếu xét về trách nhiệm tài sản của nhà đầu tư đối với các khoản nợ của doanh nghiệp thì chỉ có hai loại:

Một là, nhà đầu tư phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, thường gọi họ là các thể nhân;

Hai là, nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp, loại doanh nghiệp này được gọi một tên chung là pháp nhân.

Một người khởi nghiệp muốn thành lập doanh nghiệp của mình, trước hết phải có nhận thức đầy đủ về pháp nhân, phải thấy được pháp nhân khác với không có tư cách pháp nhân như thế nào? Theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Dân sự, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ 4 điều kiện sau đây:

1. Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận

Pháp nhân là người do pháp luật sinh ra. Pháp nhân không có đời sống sinh học, không biết yêu, ghét, chỉ có đời sống pháp lý. Do vậy, pháp nhân phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận. Được khai sinh hợp pháp là dấu hiệu đầu tiên của một tổ chức muốn được công nhận là pháp nhân. Như vậy, một doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, tức là được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận việc khai sinh ra doanh nghiệp và tương tự như vậy với các DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…

Continue reading

SỰ KHÁC NHAU GIỮA CHI NHÁNH CÔNG TY VÀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN

VŨ XUÂN TIỀN

(Bài được viết vào thời điểm Luật Doanh nghiệp năm 2005 chưa được ban hành, nên một số thông tin có thể không còn phù hợp – Civillawinfor)

1. Thế nào là công ty TNHH một thành viên?

Các điều 46, 47, 48, 49 và 50 Luật Doanh nghiệp ban hành năm 1999 đã quy định về công ty TNHH một thành viên. Khoản 1 Điều 46 quy định “Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp”. Khoản 4 điều 46 quy định “Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”.

Từ những quy định đã trích dẫn trên, một công ty đã thành lập và hoạt động ở một tỉnh, thành phố, ví dụ là Hà Nội, có quyền thành lập một công ty TNHH một thành viên tại một tỉnh khác. Thủ tục thành lập công ty TNHH một thành viên tương tự như thủ tục thành lập công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

2. Sự giống nhau giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên

Giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên có những điểm giống nhau như sau:

– Đều là những đơn vị có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, tài khoản riêng tại ngân hàng;

– Đều do một công ty có vị trí là công ty mẹ đầu tư vốn.

3. Sự khác nhau giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên

Những khác biệt chủ yếu giữa chi nhánh công ty và công ty TNHH một thành viên thể hiện qua bảng so sánh sau đây:

Tiêu chí so sánh

Chi nhánh công ty

Công ty TNHH một thành viên

Hình thức công nhận Đăng ký hoạt động chi nhánh Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Vốn điều lệ Không ghi nhận, do công ty giao cho chi nhánh Qui định tại Điều lệ và ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Trách nhiệm của chủ sở hữu khi giải thể, phá sản Chủ sở hữu chịu trách nhiệm toàn bộ Chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã góp vào công ty
Tổ chức công tác kế toán Là đơn vị kế toán cấp cơ sở, công ty là đơn vị kế toán cấp trên, báo cáo tài chính phải hợp nhất với báo cáo tài chính của công ty Là đơn vị kế toán độc lập, báo cáo tài chính không bắt buộc phải hợp nhất trong BCTC của công ty mẹ (chỉ phải hợp nhất theo yêu cầu quản trị nội bộ)
Nghĩa vụ nộp thuế TNDN Có thể chuyển lợi nhuận trước thuế về công ty để nộp thuế TNDN Không được chuyển lợi nhuận trước thuế về công ty mẹ, phải nộp thuế TNDN tại trụ sở công ty
Tài khoản kế toán sử dụng khi công ty chuyển vốn Vốn giao cho chi nhánh là giao vốn cho đơn vị trực thuộc, theo dõi trên TK 136.1 hoặc 138 Vốn góp cho công ty là một khoản đầu tư tài chính. Công ty mẹ theo dõi trên TK 2218- Đầu tư dài hạn khác
Về mã số đối tượng nộp thuế Theo mã số đối tượng nộp thuế của công ty Được cấp một mã số độc lập

 

Continue reading

ĐƠN GIẢN HÓA THỦ TỤC HÀNH CHÍNH LIÊN QUAN ĐẾN THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT

HỒ QUANG HUY

Thực tiễn cho thấy, thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là giao dịch chủ yếu trong số các giao dịch mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thực hiện ở nước ta trong thời gian qua. Ngoài ra, theo khảo sát của IFC thì bất động sản là tài sản chủ yếu mà các ngân hàng Việt Nam lựa chọn để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ vay (hiện chiếm khoảng 80%). Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất có ý nghĩa quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện các quyền dân sự và giúp môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước thực sự thông thoáng, hiệu quả.

1. Đối với quy định về công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Xuất phát từ tính chất phức tạp của các quan hệ về bất động sản (trong đó đặc biệt là quyền sử dụng đất) và do nhận thức của người dân, doanh nghiệp còn hạn chế nên bên cạnh thiết chế đăng ký thế chấp, Nhà nước cần tiếp tục duy trì thiết chế công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các giao dịch. Việc thực hiện công chứng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất không chỉ trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức, mà còn giúp tăng cường hơn nữa trật tự xã hội, hạn chế những tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, giao dịch. Mặt khác, thực tiễn cho thấy, nếu Nhà nước không quy định công chứng bắt buộc đối với hợp đồng thế chấp về quyền sử dụng đất thì sẽ làm phát sinh khó khăn cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, vì những vấn đề mang tính pháp lý (ví dụ: người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện; có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội…) thực sự “nằm ngoài”khả năng của cán bộ đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất. Do vậy, công chứng có thể xem là một “bộ lọc” quan trọng và cần thiết trước khi người dân, doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký theo quy định của pháp luật. 

2. Rà soát, hoàn thiện các quy định liên quan đến công chứng và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

Trong thời gian tới, thủ tục công chứng và đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện nhằm khắc phục một số tồn tại chủ yếu sau đây:

Continue reading

LỖ HỔNG PHÁP LÝ NHÌN TỪ CÂU CHUYỆN JETSTAR

NGUYỄN MAI PHƯƠNG – Chuyên viên tư vấn cao cấp – Công ty luật EPLegal

Thời điểm Jetstar Pacific buộc phải gỡ bỏ tất cả các biểu tượng Jetstar không còn bao lâu, nhưng những tranh cãi vẫn chưa có hồi kết. Vậy thực sự mắc mớ của câu chuyện này ở đâu? Các hãng hàng không nước ngoài có khả năng và tư cách thế nào trong chiến lược định vị thị trường tại Việt Nam? Có thể trả lời câu hỏi này nhìn từ khía cạnh pháp lý.

Lối tắt để thâm nhập thị trường

Theo Luật Hàng không dân đụng, các nhà đầu tư nước ngoài có thể tham gia vào thị trường dịch vụ vận chuyển hàng không trên các đường bay nội địa một cách hợp pháp bằng cách hợp tác với các pháp nhân hoặc cá nhân Việt Nam dưới hình thức thành lập công ty liên doanh. Tuy nhiên, phần vốn góp của các nhà đầu tư nước ngoài trong liên doanh không được vượt quá 49% vốn điều lệ của công ty liên doanh và phần vốn góp của từng nhà đầu tư nước ngoài không được quá 30%. Theo quy định này, tập đoàn Qantas (Úc) và hãng hàng không AirAsia (Malaysia) đã mua lại cổ phần của hai hãng hàng không nội địa để chuyển thành hai công ty liên doanh tương ứng là Jetstar Pacific Airlines (JPA) và VietJet AirAsia (VJA). Vì vậy, căn cứ theo Luật nói trên và được sự chấp thuận của Bộ Giao thông Vận tải (MOT), tỷ lệ sở hữu của phía nước ngoài trong JPA (27%) và VJA (30%) là hoàn toàn hợp lệ.

Tuy nhiên, tính hợp pháp của việc các liên doanh này cung cấp các chuyến bay nội địa vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Vì chưa có một định nghĩa chính thức cho khái niệm “hãng hàng không nội địa” trong pháp luật về hàng không dân dụng nên tạm thời khái niệm “công ty trong nước” hay “doanh nghiệp Việt Nam” sẽ được sử dụng ở đây. Theo Điều 2 của Quyết định 88/2009/QĐ – TTg ban hành quy chế về góp vốn và mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam bao gồm doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện cổ phần hóa hoặc được chuyển đổi sang các hình thức khác, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Như vậy, một công ty trong nước không được định nghĩa dựa trên tỷ lệ sở hữu của phía nước ngoài mà bởi quyền tài phán mà doanh nghiệp đó chịu ràng buộc. Nếu xét theo khía cạnh này thì cả JPA và VJA đều được xem là doanh nghiệp trong nước. Mặc dù các quy định của pháp luật cho phép thành lập công ty liên doanh trong ngành hàng không dân dụng, nhưng vẫn chưa điều chỉnh rõ ràng về khả năng và điều kiện để các liên doanh này khai thác các đường bay nội địa cũng như một định nghĩa cụ thể cho khái niệm “hãng hàng không nội địa”. Do đó, việc thành lập công ty liên doanh có thể mang lại nhiều rủi ro cho nhà đầu tư nước ngoài vì chưa xác định được khả năng cung cấp các chuyển bay nội địa của các công ty liên doanh này.

Continue reading

CẦN ĐIỀU CHỈNH LẠI CÁC KHÁI NIỆM “ĐẦU TƯ” VÀ “VỐN ĐẦU TƯ”

VŨ QUANG VIỆT

1. Thế nào là đầu tư?

Đầu tiên cũng nên giải thích cho rõ hơn thế nào là “đầu tư” theo quan điểm của quốc tế. Từ ngữ quốc tế chính xác là gross capital formation, có thể dịch là “tích lũy tài sản cố định gộp”.

Thế nào là tích lũy tài sản cố định gộp? Đó là sự tăng/giảm về tài sản cố định (có thể là do đầu tư, có thể do người khác cho, có thể là giảm đi do đem bán) do kết quả của quá trình sản xuất. Việc giảm do tai nạn cháy nhà, phá hủy để xây mới không được tính vào đây vì đây là các hành động không nằm trong diện giao dịch trong sản xuất.

Gọi là “gộp” vì chưa tính phần mất mát vì tuổi thọ giảm và vì năng suất giảm của tài sản cố định theo thời gian cũng như sự lạc hậu của tài sản. Phần mất mát này có thể gọi tạm là khấu hao tài sản cố định, nhưng về mặt kinh tế nó hoàn toàn khác ý niệm dùng trong hạch toán doanh nghiệp vì nó phải phản ảnh sự mất mát liên quan đến tuổi thọ và năng suất, do đó phải được các nhà thống kê tính toán.

 

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 316/BC-UBTVQH12 NGÀY 21 THÁNG 04 NĂM 2010 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT THUẾ NHÀ, ĐẤT

Kính thưa:
Các vị đại biểu Quốc hội,

Dự án Luật thuế nhà, đất đã được Quốc hội khóa 12 cho ý kiến tại kỳ họp thứ 6. Sau kỳ họp, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Cơ quan thẩm tra, Cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, lấy ý kiến nhân dân để hoàn chỉnh Dự án Luật.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo Quốc hội về việc tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật này như sau:

I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Về sự cần thiết ban hành, phạm vi áp dụng và tên gọi của luật

Theo quy định của Dự thảo luật thì Luật thuế nhà, đất được ban hành để áp dụng thuế đối với hai loại đối tượng là: (1) nhà ở và (2) đất phi nông nghiệp.

Nhiều ý kiến tán thành về sự cần thiết ban hành luật. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị chưa ban hành luật tại thời điểm hiện nay. Cần khảo sát, đánh giá và cân nhắc tính hợp lý của việc ban hành.

Dưới đây, UBTVQH xin báo cáo cụ thể về sự cần thiết ban hành luật đối với từng loại đối tượng (nhà và đất) như sau:

a. Về sự cần thiết ban hành luật thuế áp dụng đối với đất phi nông nghiệp

UBTVQH cho rằng, cần thiết ban hành luật thuế áp dụng đối với đất phi nông nghiệp với lý do sau:

Thứ nhất, Pháp lệnh thuế nhà, đất được UBTVQH thông qua ngày 3/7/1992, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 1994, quy định về điều tiết nguồn thu đối với đất phi nông nghiệp. Pháp lệnh này bước đầu đặt cơ sở cho việc tăng cường quản lý, động viên đóng góp của người sử dụng đất vào NSNN, tăng cường nguồn lực cho ngân sách địa phương.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 324/BC-UBTVQH12 NGÀY 17 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA Ủ̉Y BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT AN TOÀN THỰC PHẨM

Kính gửi:
Các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XII đã xem xét, cho ý kiến về dự thảo Luật An toàn thực phẩm. Đa số ý kiến đại biểu tán thành với sự cần thiết ban hành và nội dung cơ bản của dự thảo Luật An toàn thực phẩm, báo cáo thẩm tra của Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đồng thời đóng góp nhiều ý kiến cho Dự thảo Luật. Sau kỳ họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu, tiếp thu ý kiến đóng góp của các vị đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật An toàn thực phẩm và gửi xin ý kiến các đoàn đại biểu Quốc hội; đồng thời tổ chức nhiều hội nghị để xin ý kiến của đại diện nhiều cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, chuyên gia trong và ngoài nước. Tại Phiên họp thứ 27 (tháng 1/2010) và Phiên họp thứ 30 (tháng 4/2010), Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật An toàn thực phẩm để chuẩn bị trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 7.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật An toàn thực phẩm như sau:

I – VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CÒN CÓ Ý KIẾN KHÁC NHAU

1. Về quản lý đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ

Có ý kiến đề nghị làm rõ Luật có quản lý an toàn thực phẩm đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ lẻ hay chỉ quy định đối với thực phẩm được sản xuất, kinh doanh quy mô công nghiệp.

Về vấn đề này, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thấy rằng, ở Việt Nam, việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ còn phổ biến, liên quan tới đời sống của 9,4 triệu hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông sản và người kinh doanh thực phẩm quy mô nhỏ lẻ. Vì vậy, để phù hợp với điều kiện thực tiễn và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, dự thảo Luật quy định theo hướng:

– Mọi cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đều phải bảo đảm an toàn thực phẩm, việc quản lý an toàn thực phẩm dựa trên tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, các quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành (Điều 3); Nhà nước có chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển hệ thống cung cấp thực phẩm an toàn; khuyến khích và có lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống thực hành sản xuất tốt (GMP), thực hành nông nghiệp tốt (GAP) (Điều 4), quy định về quyền và nghĩa vụ của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Điều 7 và Điều 8 Chương II), quy định về điều kiện bảo đảm an toàn trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Chương IV).

Continue reading

VIỆT NAM CẢM NHẬN MẶT TRÁI CỦA THƯƠNG MẠI TỰ DO

image TRẦN LÊ ANH

Với việc thực thi Hiệp định Thương mại Song phương Việt Nam – Hoa Kỳ và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nền kinh tế của Việt Nam giờ đã hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu. Thương mại hàng hoá chiếm hơn 150% tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Trong khoảng thời gian từ 2001 đến 2008, xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam tăng hơn ba lần, đạt gần 63 tỉ USD trong năm 2008. Sự suy thoái kinh tế toàn cầu đã đẩy xuất khẩu của Việt Nam xuống dưới 57 tỉ USD trong năm ngoái, nhưng nó được dự báo là sẽ phục hồi trở lại trong năm nay khi nhu cầu ở Mỹ và các thị trường xuất khẩu quan trọng khác tăng lên.

Mặc dù vậy, điều này không làm giảm bớt những lo ngại về thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam, khi mà con số này đã lên đến bằng 12,8% GDP trong năm 2008. Thâm hụt thương mại đều đặn không hẳn là tiêu cực, đặc biệt là khi nó đưa đến việc nhập khẩu máy móc và công nghệ để thúc đẩy tăng trưởng, trường hợp của Việt Nam là có vấn đề với những lý do sau:

Việt Nam nhập khẩu số lượng lớn nguyên liệu và phụ tùng để phục vụ cho guồng máy xuất khẩu, đặc biệt là cho các ngành công nghiệp may mặc và giày dép. Điều này chứng tỏ Việt Nam thiếu các ngành công nghiệp phụ trợ cần thiết để thu lợi ích kinh tế lớn hơn từ xuất khẩu và đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá. Sự lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu đầu vào cũng làm cho kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương bởi những thay đổi từ thị trường bên ngoài, bao gồm cả sự biến đổi nhanh chóng của giá cả hàng nguyên liệu.

Thâm hụt thương mại gia tăng của Việt Nam với Trung Quốc kể từ năm 2001 là một nguyên nhân đặc biệt đáng quan tâm. Trong năm 2009, thâm hụt với Trung Quốc lớn hơn 11 tỷ USD, chiếm hơn 91% tổng thâm hụt thương mại của Việt Nam.
Thách thức từ hàng nhập khẩu Trung Quốc, vốn đã đe dọa sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước, có thể gia tăng khi Việt Nam tham gia vào tự do hóa thương mại hơn nữa thông qua Khu vực Thương mại Tự do Asean-Trung Quốc – điều này sẽ cho phép một tỷ lệ lớn hơn của hàng hóa Trung Quốc vào thị trường Việt Nam mà không phải chịu thuế nhập khẩu từ năm 2015.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 56/2010/NĐ-CP NGÀY 24 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 107/2007/NĐ-CP NGÀY 25 THÁNG 6 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT CƯ TRÚ

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cư trú ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú như sau:

1. Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 3. Nghiêm cấm các hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

1. Quy định về hộ khẩu theo Luật Cư trú gồm các nội dung sau đây:

a) Đăng ký, quản lý thường trú;

b) Đăng ký, quản lý tạm trú;

c) Thông báo lưu trú;

d) Khai báo tạm vắng.

2. Các hành vi lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị nghiêm cấm, gồm:

a) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản khác liên quan đến quy định về hộ khẩu mà làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân;

b) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản khác liên quan đến quy định về hộ khẩu trái với quy định của Luật Cư trú và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành;

Continue reading

MỐI LIÊN HỆ GIỮA DI SẢN THỪA KẾ KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO NỘI DUNG DI CHÚC VỚI DI SẢN THỪA KẾ THEO DI CHÚC

THS. VŨ THỊ LAN HƯƠNG – Bộ môn Luật, Đại học Lao động xã hội

Phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc lần đầu tiên được quy định trong Thông tư 81 ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao. Theo Thông tư này, nếu bằng di chúc người có di sản định đoạt, vì lợi ích của người khác, một phần tài sản lớn hơn giá trị của di sản trừ đi giá trị các “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thì các phần di sản được hưởng theo di chúc sẽ bị cắt giảm theo yêu cầu của những người này. Những người “thừa kế bắt buộc” bao gồm vợ, chồng; con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu. Phần này được ấn định bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật.

Kế thừa các quy định tại Thông tư 81, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 bổ sung: 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật được tính bằng cách giả định toàn bộ di sản được chia theo pháp luật (Điều 20). Pháp lệnh cũng thay cụm từ “phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc” thành “những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc”.

Sau Pháp lệnh Thừa kế, Bộ luật Dân sự (BLDS) 1995 và 2005 tiếp tục quy định về vấn đề này. Cụ thể, Điều 669 BLDS năm 2005 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như sau: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động.

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được hưởng một phần di sản tối thiểu bằng 2/3 một suất theo luật được xác định bằng cách giả định toàn bộ di sản chia theo pháp luật”.

Continue reading

THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 01/2010/TTLT-TANDTC-BLĐTB&XH-VKSNDTC NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2010 CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG BẢO LÃNH CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Căn cứ Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ Bộ luật tố tụng dân sự ngày 15 tháng 6 năm 2004;

Căn cứ Bộ luật dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tại Tòa án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao thống nhất hướng dẫn như sau:

Chương I.

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư liên tịch này hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động (sau đây viết tắt là hợp đồng bảo lãnh) giữa doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài với người bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

Điều 2. Tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh

Tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh quy định tại Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11-7-2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp hướng dẫn chi tiết một số vấn đề về nội dung hợp đồng bảo lãnh và việc thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là một loại tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quy định tại khoản 3 Điều 25 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA HOA KỲ VỀ QUẢN LÝ KIỂM SOÁT HÀNH VI THỎA THUẬN HẠN CHẾ CẠNH TRANH

MINH NGỌC (Tổng hợp)

Mỹ là một nước mà chủ nghĩa tư bản đã có bước phát triển nhanh trong thế kỷ XIX. Sự tích tụ tư bản dưới hình thức Tơrớt đã làm cho một số nghành công nghiệp ở Mỹ như sắt thép, đường,thuốc lá… rơi vào những tập đoàn tư bản lớn.Sự lạm dụng vị thế của những tập đoàn này trên thị trường vào cuố thế kỷ XIX làm cho người dân Mỹ họ đã gây sức ép để cho nhà nước phải ban hành những đạo luật chống Tơrớt với sự mở đầu bằng đạo luật Sherman năm 1890 luật Clayton năm 1914 hai luật cơ bản cho chính sách chống Tơrớt của Mỹ.

Năm 1936 luật Robinson- Patman đã ban hành và nghiêm khắc hơn trong việc xử lý các hành vi phân biệt đối xử . Đến đầu năm 1980 chính sách cạnh tranh của Mỹ được coi là chính sách chặt chẽ và nghiêm khắc nhất của thế giới.

Trên thực tế hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Mỹ theo luật Sherman là nghiêm cấm mọi hành vi ngăn cản thương mại theo chiều ngang và chiều dọc. Theo chiều ngang, các thỏa thuận giữa các đối thủ cạnh tranh về những khía cạnh, cạnh tranh quan trọng như giá cả và sản lượng có thể được coi là phạm pháp và phải chị hình phạt rất nặng về tiền hoặc bỏ tù.Tác động thực tế hoặc sự hợp lý của giá cả hoặc phân chia thị trường được thỏa thuận không được chấp nhận là lý do cho thỏa thuận chiều ngang. Bản thân của các thỏa thuận này là vi phạm pháp luật. Người ta có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn như chấm dứt hoặc dình chỉ thỏa thuận. Các thỏa thuận theo chiều ngang khác cũng coi như là phạm pháp nhưng tính pháp lý của chúng lại phụ thuộc vào kết quả kiểm tra tức là phụ thuộc vào tác động thực tế của cạnh tranh đối với thỏa thuận.

Ngăn cản thỏa thuận chiều ngang thường được sử dụng để bảo đảm rằng các nghành được giải quy chế không tiếp tục thói quen cũ của mình.Sau khi giải quyết quy chế của nghành hàng không hành vi ngoan cố đã bị phát giác. Nghành hàng không đã bị kiện khi họ duy trì các thỏa thuận giá thông qua các tín hiệu truyền trên mạng . Các thỏa thuận về tiền cước xe tải đã bị kết tội ấn định giá theo chiều ngang.Các thỏa thuận cạnh tranh không lành mạnh của các hãng truyền hình cáp bị kết tội phân chia thị trường.

Continue reading

NHỮNG TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG CƠ BẢN (Core labor standards – CLS):

A. Tiêu chuẩn lao động cơ bản (CLS)3.  ILO định nghĩa trẻ em là người từ 14 tuổi trở xuống. là gì?

1. CLS là tập hợp bốn quyền và nghĩa vụ cơ bản tại nơi làm việc đã được công nhận trên toàn thế giới.

(i) Loại bỏ mọi hình thức lao động cưỡng ép hoặc bắt buộc;

(ii)  Đưa vào hiệu lực việc thủ tiêu chế độ sử dụng lao động trẻ em, và đặt ưu  tiên hàng đầu là loại trừ những hình thức lao động nguy hiểm nhất;

(iii) Tạo  cơ hội công bằng và chống phân biệt đối xử về việc làm; và  

(iv) Tự do liên kết và quyền được thương thuyết tập thể.

2. Trong rất nhiều nguyên tắc về lao động, bốn nguyên tắc trên đây đã đạt được sự  đồng thuận trên toàn thế giới và được coi như những tiêu chuẩn lao động “cốt lõi”. Đặc biệt, sự ủng hộ quốc tế đối với các tiêu chuẩn trên cho thấy sự nhận thức rằng các tiêu chuẩn này có thể được áp dụng đối với mọi quốc gia trên toàn thế giới không phân biệt trình độ phát triển kinh tế. CLS này không thiết lập một mức cụ thể cho điều kiện làm việc, tiền lương, hay sức khỏe và tiêu chuẩn an toàn để áp dụng trên toàn thế giới. Chúng không nhằm mục đích thay đổi lợi thế cạnh tranh của bất cứ quốc gia nào. Những quyền lợi cơ bản này đã tuyên bố nhiều lần trong các văn kiện và tuyên ngôn về nhân quyền quốc tế như Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 và Công Ước về Quyền Trẻ Em năm 1989. Bản Tuyên Ngôn của Hội nghị cấp cao Copenhagen năm 1995 về Phát Triển Xã Hội là sự kiện nổi bật nhất trong thời gian gần đây thể hiện rõ bốn nguyên tắc trên như những tiêu chuẩn lao động cơ bản.

CLS đã một lần nữa được minh chứng trong Tuyên bố về Những nguyên tắc và  quyền cơ bản tại nơi làm việc2 bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Bản tuyên  bố này kêu gọi các quốc gia thành viên tuân thủ theo bốn nguyên tắc trên, kể cả  khi quốc gia đó đã phê chuẩn những hiệp định có liên quan. Nó cũng đã xác định vai trò của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) trong việc thúc đẩy sự tuân thủ CLS. Những hoạt động tiếp theo sau bản Tuyên bố này bao gồm các báo cáo thường niên của những thành viên không phê chuẩn các hiệp định cốt lõi và một báo cáo toàn cầu hàng năm về các quyền cơ bản khác. Các hoạt  động này bổ sung cho các thủ tục giám sát chi tiết của ILO đối với những hiệp định đã được phê chuẩn.

Continue reading

NHẬN DẠNG HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH THEO LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ NĂM 2005

THANH MAI (Tổng hợp)

Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ bao gồm:

1. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, nguồn gốc thương mại của hàng hoá, dịch vụ

Theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 16 Nghị định 106/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ được điều chỉnh theo pháp luật cạnh tranh.

Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật Sở hữu trí tuệ, bao gồm :
– Buộc chấm dứt hành vi xâm phạm;

– Buộc xin lỗi, cải chính công khai;

– Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;

– Buộc bồi thường thiệt hại;

– Buộc tiêu huỷ hoặc buộc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ.

2. Sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn về xuất xứ, cách sản xuất, tính năng, chất lượng, số lượng hoặc đặc điểm khác của hàng hoá, dịch vụ; về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ.

Continue reading

THỰC TIỄN TỐ TỤNG: KHI TÒA ÁN TRONG CUNG HƠN TRỌNG CHỨNG…

HOÀNG YẾN

Trọng chứng hay trọng cung không quan trọng bằng bản lĩnh nghề nghiệp và cái tâm sáng của người thẩm phán khi giải quyết án.

Trên thực tế, xử án dân sự, các tòa thường dựa trên nguyên tắc trọng chứng hơn trọng cung. Tuy nhiên, mới đây Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã dựa trên các lời khai của đương sự để sửa một bản án sơ thẩm. Phán quyết của tòa rất thuyết phục, nhận được đồng tình cao từ phía VKS.

Sơ thẩm: Trọng chứng

Theo hồ sơ, tháng 5-2008, bà NTTT kiện ông Y. (anh chồng) ra TAND TP.HCM đòi chia 1/2 căn nhà ở đường Cô Giang (phường 2, quận Phú Nhuận). Theo bà T., căn nhà trên do cha mẹ chồng cho tiền chồng bà và ông Y. mua năm 1987. Sau đó, anh em họ đã đưa cả gia đình bên chồng về ở chung. Cha mẹ chồng bà bán nhà cũ, anh chị em nào có gia đình thì cho tiền ra ở riêng. Nay chồng bà đã mất, bà làm ăn thất bại, không có nhà ở nên yêu cầu ông Y. chia 1/2 căn nhà cho bà. Kèm đơn kiện, bà T. nộp bản sao giấy tờ nhà đứng tên chồng bà cùng ông Y.

Ngược lại, ông Y. khẳng định cha mẹ ông mua căn nhà trên để hai anh em ông đứng tên giùm. Ý của các cụ là muốn để căn nhà này làm nhà thờ dòng họ lâu dài. Trước đây, tám anh em ông cùng ở chung với cha mẹ tại đây, sau trưởng thành, có gia đình đều được cha mẹ cho tiền ra riêng. Bản thân ông và chồng bà T. cũng không còn ở trong nhà này. Nhà hiện do hai người em ở đó quản lý di sản, thờ cúng cha mẹ. Vì vậy, ông không đồng ý chia một nửa căn nhà cho bà T.

Xử sơ thẩm hồi tháng 8-2009, TAND TP.HCM đã dựa vào giấy tờ nhà để chấp nhận yêu cầu của bà T., bác toàn bộ lời khai của ông Y., của các anh chị em ông (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và các nhân chứng về nguồn gốc căn nhà. Theo tòa, các nhân chứng chỉ nghe lời cha chồng bà T. nói mua nhà, còn cụ thể hơn thì không ai nắm. Ngoài những lời khai thì không có chứng cứ nào khác xác định căn nhà này là do cha mẹ ông Y. để lại cho tất cả anh chị em.

Continue reading