CÔNG VĂN SỐ 89/LĐTBXH-LĐTL NGÀY 11 THÁNG 01 NĂM 2011 CỦA BỘ LAO ĐỘNG-THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI VỀ TRỢ CẤP THÔI VIỆC, MẤT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Kính gửi:

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum

Trả lời công văn số 1136/SLĐTBXH-LĐTL ngày 30/11/2010 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum về trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động từ công ty nhà nước chuyển sang công ty cổ phần, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Theo quy định tại khoản 8 Điều 36 Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần thì sau khi công ty nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, trường hợp người lao động bị mất việc, thôi việc trong thời gian từ năm thứ 2 đến hết năm thứ 5 kể từ ngày chuyển thành công ty cổ phần thì công ty cổ phần có trách nhiệm thanh toán 50% tổng mức trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc theo quy định của Bộ luật Lao động, số còn lại được thanh toán từ tiền thu của Nhà nước do cổ phần hóa công ty nhà nước quy định tại Điều 35 Nghị định 187/2004/NĐ-CP. Hết thời hạn trên, công ty cổ phần chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ trợ cấp cho người lao động.

2. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về việc làm thì: "Thời gian để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động đó đến khi bị mất việc làm. Trường hợp, người lao động trước đó có thời gian làm việc ở khu vực nhà nước mà chưa được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm, thì thời gian đó chỉ được tính để nhận trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động". Theo đó, người lao động làm việc ở công ty nhà nước, sau đó tiếp tục chuyển sang làm việc ở công ty cổ phần và bị mất việc làm ở công ty cổ phần thì thời gian làm việc tại các công ty nhà nước được tính trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động và Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp.

Continue reading

TÌNH CẢM ĐẤT

THU SAN & NGUYỄN THẾ HÙNG

1. Trí nhớ và tình cảm cộng đồng

Đời người trăm năm là dài. Nhưng những năm cuối đời thường ít người còn khỏe mạnh cả về sức lực thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy, khi về già sự minh mẫn cũng giảm. Người già thường hay quên. Có một số cụ bị lẫn, thậm chí không nhớ được tên người thân nữa. Cho nên, có thể nói trí nhớ cá nhân rất hạn hẹp, chỉ mạnh mẽ trong khoảng trăm năm là cùng. Trong khi đó, trí nhớ của gia tộc thì dài hơn. Có lẽ được 5-6 thế hệ. Thật vậy, ít người có thể biết và nhớ được hành trạng của cụ tổ 5 đời nhà mình, ngay cả những gia tộc lớn, có ghi chép gia phả đầy đủ cũng vậy.

Ngược lại, trí nhớ cộng đồng thì dài lâu và có thể xem như trường tồn. Thực vậy, bất kỳ người Việt nào cũng biết các vua Hùng có công dựng nước. Đó là sự kiện của bốn ngàn năm trước. Những sự kiện ngàn năm về Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn,… vẫn mãi mãi sống trong tâm trí mọi con dân Việt nam. Do vậy, có thể khẳng khái kết luận rằng trí nhớ của cộng đồng dân tộc là một trí nhớ vĩnh hằng. Một người có thể quên điều này điều nọ, nhưng cả dân tộc thì không thể quên. Tuy vậy, trí nhớ dân tộc cũng hay tập trung vào những sự kiện lớn, mà thường quên những sự kiện nhỏ. Nhớ chuyện lớn, quên chuyện nhỏ cũng là điều bình thường.

2. Tình cảm đối với đất

Gần đây, trong khi chuẩn bị Đại Hội Đảng 11, Đài truyền hình chiếu phim Bí thư tỉnh ủy. Đó là sự quay về của trí nhớ dân tộc đối với một cá nhân đặc biệt, Ông Kim Ngọc, người có công đầu trong sự nghiệp đổi mới. Ngoài dòng tư tưởng chủ đạo, bộ phim còn nói về tình cảm của con người đối với đất. Quả vậy, sau cuộc cách mạng năm 1945, nhân dân Việt nam (đặc biệt là nông dân) đã trải qua rất nhiều cung bậc tình cảm đới với đất.

Tình cảm hồ hởi: cải cách ruộng đất 1953

Tình cảm sợ hãi: các cuộc đấu tố sau cải cách ruộng đất

Tình cảm luyến tiếc: vận động đưa đất vào HTX những năm 1960

Tình cảm hờ hững: đất đã trở thành tài sản chung của HTX, nông dân chỉ còn 5%.

Continue reading

TỪ CÔNG HỮU VÔ CHỦ ĐẾN LỢI ÍCH NHÓM

image TRẦN TRỌNG THỨC

Dưới tác động của kinh tế thị trường và chủ trương phân cấp quản lý, tình trạng công hữu vô chủ diễn ra ngày càng phong phú với việc phân lô đất cho các dự án hay đấu thầu những khu đất vàng ở các đô thị. Nhờ vậy một số cá nhân có thế lực đã trục lợi qua việc biến tài sản chung thành sở hữu riêng.

Vào buổi bình minh của kinh tế thị trường ở nước ta, một số nhà phân tích tình hình đã đưa ra khái niệm "công hữu vô chủ" để mô tả tình trạng tài sản thuộc về sở hữu chung (sở hữu toàn dân) nhưng xem ra không có ai làm chủ. Hay nói cách khác, khi tài sản công đã vào tay một cơ quan, một cá nhân có quyền lực thì người ta tự cho mình quyền xử lý nó một cách vô nguyên tắc.

Tình trạng này được thể hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau, ngày càng thiên biến vạn hóa, nhưng có cùng điểm xuất phát là khái niệm làm chủ chung chung tồn tại từ thời kỳ bao cấp, dẫn đến những lạm dụng trong việc sung dụng tài nguyên mà đích đến cuối cùng là biến của chung thành của riêng. Người hưởng lợi từ tình trạng công hữu vô chủ ban đầu chỉ là những cá nhân đơn lẻ hoặc vài cơ quan nhà nước, đến nay thì đã trở thành đặc quyền của các nhóm lợi ích.

Nhiều năm trước, lợi dụng tình hình tranh tối tranh sáng trong việc quản lý tài sản công, không ít đơn vị được nhà nước giao quyền quản lý công sở, nhà xưởng, mặt bằng đã tự ý cho thuê, hay chuyển một phần diện tích sang làm nhà ở hoặc bỏ hoang. Một báo cáo của Sở Tài nguyên – Môi trường Hà Nội năm 2006 cho thấy có tới 422 điểm nhà đất với hơn hai triệu mét vuông do các doanh nghiệp thuộc trung ương quản lý sử dụng sai mục đích, trong đó đa số là cho thuê kiếm chênh lệch hoặc bỏ hoang, chưa sử dụng.

Thời kỳ tiếp theo, công hữu vô chủ biểu hiện qua việc lợi dụng những chủ trương đúng đắn của nhà nước như hoá giá nhà hay cổ phần hóa doanh nghiệp để trục lợi, biến tài sản chung thành sở hữu riêng. Biết bao nhiêu căn nhà đã được "bán rẻ như cho", biết bao nhiêu công ty quốc doanh được định giá thấp đến mức bất ngờ, gây thất thoát lớn tài sản quốc gia và làm giàu cho những kẻ cơ hội.

Những năm gần đây, dưới tác động của kinh tế thị trường và chủ trương phân cấp quản lý, tình trạng công hữu vô chủ diễn ra ngày càng phong phú với việc phân lô đất cho các dự án hay đấu thầu những khu đất vàng ở các đô thị. Phân lô là hành vi thể hiện quyền lực và chỉ những tổ chức quyền lực mới có thể biến công hữu thành tư hữu; còn đấu thầu khu đất vàng có khi lại là biểu hiện sức mạnh của đồng tiền cùng các mối quan hệ thân quen.

Continue reading

KINH NGHIỆM CỦA DOANH NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

image GS. BRUCE A. BLONIGEN – Khoa Kinh tế thuộc Đại học Oregon, chuyên gia nghiên cứu của NBER, Cộng tác viên của Trung tâm Nghiên cứu Toàn cầu hóa và Chính sách Kinh tế Leverhulme (GEP)

Giới thiệu

Điều tra chống bán phá giá (AD) bắt đầu khi có đơn kiện của một bên trong nước có liên quan. Đây là một nhà sản xuất điển hình (hoặc một nhóm nhà sản xuất) mà sản phẩm của họ đang cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của cuộc điều tra. Sau đó cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ xác định thực sự có bán phá giá hay không, bán phá giá được định nghĩa là việc doanh nghiệp nước ngoài bán sản phẩm với giá thấp hơn giá công bằng hay giá thông thường, và liệu những hành động thương mại như vậy có gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa trong vụ kiện hay không. Nếu những tiêu chuẩn này thoả mãn, một mức thuế chống bán phá giá tương đương với biên độ phá giá đã tính toán sẽ được áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu. Ở Hoa Kỳ, việc tính toán biên độ phá giá do Cục Thương mại Quốc tế của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USDOC) tiến hành, và Uỷ ban Thương mại Quốc tế (USITC) sẽ xác định tổn thất.

Có sự tác động qua lại rất lớn giữa những người đệ đơn kiện và cơ quan có thẩm quyền điều tra chống bán phá giá ở Hoa Kỳ. Bên đệ đơn phải trình cho cơ quan có thẩm quyền một đơn kiện phù hợp về trường hợp mà họ muốn điều tra và sau đó cung cấp đầy đủ thông tin cũng như các phân tích và lý lẽ pháp lý trong suốt quá trình điều tra. Các thông tin chi tiết về luật pháp cũng như cách thức mà các cơ quan của chính phủ áp dụng luật trong các trường hợp thực tế là rất quan trọng. Sự phức tạp của việc kiện tụng và quá trình đưa ra biện pháp chống bán phá giá cho thấy rằng việc các bên đệ đơn có kinh nghiệm hay có ý thức học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình kiện và kết quả của vụ kiện chống bán phá giá. Đặc biệt, người ta cho rằng các kinh nghiệm sẵn có làm giảm chi phí kiện về sau và đồng thời cũng làm tăng ảnh hưởng của những người đệ đơn khi họ tranh cãi về vụ kiện và có nhiều khả năng thu được kết quả có lợi hơn. Việc nhận thức về những tác động như vậy rõ ràng thúc đẩy việc đệ đơn nhưng tác động của nó đến kết quả vụ kiện còn rất mơ hồ như chúng ta xem xét chi tiết ở phần tiếp theo. Mặc dù việc học hỏi có thể làm tăng khả năng đưa ra phán quyết có lợi ở những vụ kiện này, nhưng người ta lại coi trọng chi phí kiện thấp hơn là những tác động như vậy nên họ thường sẽ lựa chọn các vụ kiện thiếu lý lẽ hơn.

Continue reading

BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA – Khoa Luật & Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh.

Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời (KCTT)

Trong pháp luật Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) 2004 có một chương riêng với 28 điều quy định về biện pháp KCTT (Chương VIII, các Điều từ 99 đến 126). Về bản chất, các quy định mới của các Điều từ 48 đến 53 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010 (LTT 2010) là luật riêng so với các quy định chung của BLTTDS 2004. Nói cách khác, trong tố tụng trọng tài phải áp dụng trước tiên các quy định của LTT 2010, nếu các quy định đó thiếu, chưa rõ hoặc chưa cụ thể thì cần áp dụng các nguyên tắc chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.

Biện pháp KCTT (Interim injunctive relief, Vorläufiger Rechtsschutz) được hiểu là một công đoạn tố tụng rút ngắn và giản đơn nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản tranh chấp hoặc các đảm bảo khác thiết yếu cho thi hành các nghĩa vụ, trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc. Tuy rằng mục đích hướng tới là các biện pháp cụ thể, ví dụ kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, cấm định đoạt tài sản, song Chương VII LTT 2010 các Điều từ 48 đến 53 về biện pháp KCTT là một quy trình, quy định quyền yêu cầu, thẩm quyền xem xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và yêu cầu đền bù thiệt hại nếu có.

Quy trình tố tụng này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn bị, bổ trợ cho một thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý. Đây là một chế định của luật tố tụng dân sự, thường có các đặc trưng sau:

– Thứ nhất, các biện pháp này phải do một bên yêu cầu, thường là nguyên đơn, còn cơ quan tòa án thường không có quyền tự mình ra các quyết định nhằm bảo tồn tài sản tranh chấp hoặc chứng cứ; trừ những trường hợp hết sức hãn hữu tòa án mới tự mình (ex officio) ra các lệnh tòa, ví dụ được nêu tại Điều 119, Điều 102 1-5 BLTTDS 2004;

– Thứ hai, phải có những điều kiện nhất định kèm theo các yêu cầu cho áp dụng biện pháp này, ví dụ phải có chứng cứ đủ tin rằng quyền lợi của bên yêu cầu sẽ không được đảm bảo nếu không áp dụng ngay các biện pháp ví dụ như phong tỏa tài khoản hay kê biên tài sản;

Continue reading

DỊCH VỤ MÔI GIỚI BẤT ĐỘNG SẢN: KINH NGHIỆM QUỐC TẾ, THỰC TIỄN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM

LƯU ĐỨC KHẢI – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, sự gia tăng dân số cùng tốc độ đô thị hóa chóng mặt tất yếu đã dẫn đến việc nhu cầu nhà ở của người dân và cơ sở hạ tầng cho các hãng kinh doanh trở thành vấn đề cấp bách. Chính vì vậy, dịch vụ môi giới bất động sản chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong cơ cấu các ngành dịch vụ ở nước ta.

1. Hoạt động môi giới bất động sản ở Việt Nam

Hoạt động môi giới bất động sản là hoạt động hỗ trợ chủ sở hữu bất động sản (BĐS) tìm kiếm khách hàng, đàm phán hợp đồng mua, bán, thuê, trao đổi BĐS. Quyền lợi của người môi giới là được hưởng một khoản hoa hồng. Môi giới là hoạt động thường có đối với các giao dịch về BĐS và bắt nguồn từ tính đặc thù của BĐS là không di chuyển được và các BĐS không hoàn toàn giống nhau. Đối với người bán, để tìm kiếm được người đồng ý mua BĐS của mình thì họ phải giới thiệu BĐS của mình cho những người quan tâm, mà trên thực tế có nhiều người không đủ thông tin và quỹ thời gian để thực hiện. Mặt khác, việc mua bán BĐS diễn ra khá phức tạp và thị trường này luôn biến động. Với những lý do trên đã làm nảy sinh nhu cầu khách quan của hoạt động môi giới BĐS.

Vị trí của người môi giới BĐS nằm giữa người bán và người mua BĐS và họ có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. Nghĩa vụ của người môi giới là: người đại diện cho người thuê môi giới; phải tuân theo các chỉ dẫn của người thuê môi giới; phải trung thành với người thuê môi giới. Nghĩa vụ của người thuê môi giới là: trả tiền hoa hồng cho người môi giới khi hợp đồng mua bán được thực hiện và cung cấp các thông tin về BĐS cần bán cho người môi giới.

Trên thực tế thì hoạt độngmôi giới BĐS rất phát triển, đặc biệt là các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. ở các nước này có những Luật để điều tiết hoạt động môi giới BĐS. Tiềm năng và quy mô của thị trường BĐS ở Việt Nam còn rất lớn, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Theo “Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam”, diện tích đất đô thị sẽ tăng từ 105.000ha hiện nay lên 460.000ha vào năm 2020, đưa tỷ lệ đô thị hoá từ 28% lên khoảng 45% vào năm 2025. Dân số đô thị từ 23 triệu người dự kiến sẽ tăng lên 46 triệu người vào năm 2025, kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nhà ở đô thị. Trung bình mỗi năm Việt Nam cần phát triển thêm 35 triệu m2 nhà để phấn đấu đạt 20m2 nhà ở/người tại đô thị vào năm 2020.

Continue reading

VÀNG VÀ ỨNG XỬ VỚI VÀNG

ĐỨC THÀNH

Ai đó hỏi: bạn chọn gì cho sự kiện kinh tế 2010? – Tôi nói: “vàng”

Đây chỉ là ý kiến cá nhân, có thể là chủ quan, song không ít người dân, không ít chuyên gia kinh tế hàng đầu, cả những người nắm trọng  trách trong quản lý thị trường tài chính tiền tệ năm 2010 đều phải chú ý đến nó. Nói như thế vì vàng cứ âm thầm… tăng giá từ đầu năm, để rồi 3 tháng cuối năm, gây “náo loạn” thị trường. Chưa bao giờ người ta quan tâm đến vàng đến thế và cũng  chưa bao giờ, vàng ở Việt Nam có giá cao thế, đã có lúc  vượt “đỉnh” của mọi thời đại khi đạt ngưỡng 38,5  triệu đồng/ lượng.  Có nhiều điều để bàn về vàng trong năm 2010. Câu chuyện ứng xử với vàng là điều đáng nói. 

Tạm gác những biến động đầy kịch tính của giá vàng, số liệu gây sốc là thông tin người dân Việt Nam đang sở hữu 1.000 tấn vàng, trị giá mấy chục tỷ USD. Tin tức về vàng nóng hầm hập đăng tải trên các phương tiện truyền thông: nhanh, đầy đủ, thậm chí cập nhật từng ngày, từng giờ về giá… với những bình luận, phán đoán đầy kịch tính. Còn trong dân, lúc bấy giờ giá vàng là câu chuyện ở trên đường, ở công sở… thậm chí là ở đầu chợ. Thời điểm đó, thị trường như khuyến khích người dân mua vàng để tạm trữ. Vì lạm phát tăng nhanh, tiền đồng mất giá, giá chứng khoán giảm, thị trường bất động sản lạnh lẽo. Vàng đã kích thích người dân  bằng mọi giá… chen nhau mua để cất trữ nhằm bảo vệ giá trị tài sản, thậm chí là đầu cơ nhỏ lẻ để kiếm chác. Thị trường vàng bỗng chốc xoay đúng theo kịch bản của giới đầu cơ chuyên nghiệp. Không chỉ có thế, cơ hội đầu cơ trục lợi đã lại được “tiếp sức” một cách vô tình từ tác động không đáng có của việc ban hành và thực thi chính sách của cơ quan quản lý.

Ở ta còn có một đặc thù khác, người dân có thể gửi vàng vào ngân hàng. Một khi vàng đivào ngân hàng, sẽ có chuyện cho vay bằng vàng, chuyển vàng thành tiền cho vay… Mà như vậy thì rất có khả năng vàng góp phần làm tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế. Cung tiền tăng, lại không nằm trong vòng kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước ắt sẽ góp phần tạo ra lạm phát. Thông tư 22 của Ngân hàng nhà nước ra đời không cho phép ngân hàng chuyển đổi vàng huy động được thành tiền đồng hay các hình thức tiền khác nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát. Song chính sách mới này, khi ra đời, chưa làm được nhiệm vụ đó thì đã làm “nghẽn” kênh vàng ở thời điểm nước sôi lửa bỏng. Theo nhận định của không ít chuyên gia, ở thời điểm đó là: thông tư không những chặn đường vào kênh chính thức của vàng, khuyến khích giao dịch không chính thức, khiến nguồn cung vàng bị sụt giảm do ước đến hàng trăm tấn vàng trong hệ thống ngân hàng bị ứ đọng, không lưu thông nên tác động bất lợi lên cân đối cung – cầu vàng. Trong một chừng mực nào đó, giới đầu cơ đã nhận ra tác động phụ của chính sách để thao túng giá vàng hưởng lợi, và thực tế giá vàng đã có lúc bị đẩy lên 38,2  triệu đồng/ lượng, tức là cao hơn 2 triệu đồng/lượng so với giá vàng quốc tế cùng thời điểm. Ngay sau khi vàng đạt mốc 38,2 triệu đồng lượng, Ngân hàng Nhà nước tuyên bố cho nhập vàng “với khối lượng phù hợp”, giá vàng lập tức giảm và giảm ngay trên 1 triệu đồng/lượng.

Continue reading

Ý NGHĨA CỦA VỐN VÀ LÝ DO THÁO BỎ QUY ĐỊNH VỀ VỐN PHÁP ĐỊNH

THS. TRƯƠNG TRỌNG HIỂU – Khoa Luật, ĐH Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Sau một thời gian ứng dụng Luật Doanh nghiệp (từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 cho đến Luật Doanh nghiệp năm 2005 hiện hành), có nhiều ý kiến cho rằng cần xem xét lại một số nội dung quy định trong các văn bản này1. Trong đó, dựa trên cơ sở các chức năng của vốn, nhất là chức năng bảo đảm quyền lợi cho chủ nợ2, có ý kiến cho rằng, nên lặp lại quy định về điều kiện mức vốn tối thiểu khi thành lập doanh nghiệp đối với tất cả các trường hợp đầu tư kinh doanh. Cách thức tiếp cận này là hợp lý, cần được tham khảo. Tuy nhiên, theo chúng tôi, vấn đề cần được nhìn nhận từ vai trò, ý nghĩa của vốn ở từng vị trí của tất cả các bên có liên quan. Trước hết là vai trò của vốn đối với chính doanh nghiệp; thứ hai là ý nghĩa của vốn đối với các đối tác của doanh nghiệp – chủ nợ. Ngoài ra, cũng được nhìn nhận từ phía Nhà nước – với tư cách là chủ nợ lớn nhất và với chức năng điều hòa mối quan hệ giữa hai bên nói trên.

1. Đối với doanh nghiệp sở hữu vốn

Ở vị trí của doanh nghiệp, để định vị nội dung quy định của pháp luật về vốn điều lệ, ý nghĩa của vốn cần được nhìn nhận thông qua một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần có cơ chế để doanh nghiệp tự xác định quy mô vốn theo nhu cầu và quy mô kinh doanh.

Trước hết, cần phân định rõ các khái niệm: vốn điều lệ – vốn gốc – vốn chủ sở hữu, vốn pháp định – vốn tối thiểu, vốn kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp. Trong đó, khái niệm vốn kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp cần được xác định lại vì tuy có sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa nhưng lại có sự đồng nhất.

Nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp là để tiến hành hoạt động sản xuất – kinh doanh. Muốn vậy, nhà đầu tư cần phải có vốn và vốn kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, kể cả tài sản cố định hay tài sản lưu động. Trong những giai đoạn hoạt động tiếp sau của doanh nghiệp, khi giá trị tài sản của doanh nghiệp có tăng lên, thì vốn điều lệ của chủ sở hữu vẫn giữ ở mức cũ. Vì vậy, nhà đầu tư cần phải xác định rõ nhu cầu sử dụng vốn của mình khi bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh để từ đó thiết lập quy mô vốn cũng như quy mô doanh nghiệp thích hợp. Nếu không làm được như vậy, có thể doanh nghiệp sau khi ra đời sẽ không có đủ vốn để hoạt động hoặc ngược lại, doanh nghiệp không sử dụng hết tài sản của mình cho hoạt động sản xuất thì sẽ lãng phí và chi phí làm ra sản phẩm sẽ rất cao do các khoản hạch toán chi phí, khấu hao tài sản không trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất.

Continue reading

5 BÍ QUYẾT TRONG TRANH CHẤP PHÁP LÝ

TRẦN PHƯƠNG MINH (dịch từ Entrepreneur)

Chữ ký đủ thẩm quyền chỉ là một trong nhiều cách thức bảo vệ hoạt động kinh doanh của bạn khi ký kết bản hợp đồng. Hãy đối mặt với một thực tế: Không quan tâm tới bạn nỗ lực hết mức ra sao để tránh xa nó, một ngày nào đó, bạn và công ty của bạn có thể không may mắn kết thúc một tranh chấp hợp đồng tại toà án với những phán quyết bất lợi.

Đặt những lời nói đùa sang một bên, Chris Kelleher, phụ trách chuyên mục “Pháp lý” của tạp chí Entrepreneur và là luật sư tư vấn kiêm chủ tịch hãng luật The Law Firm For Businesses chuyên giúp các chủ doanh nghiệp giải quyết sáng tạo các vấn đề pháp lý kinh doanh của họ, khẳng định rằng rất ít doanh nghiệp sẽ phủ nhận thực tế việc có mặt tại toà án luôn phức tạp và tốn kém chi phí, không chỉ về mặt các chi phí pháp lý liên quan mà còn bao hàm các nội dung phán quyết của toà án dẫn tới các chi phí khác phát sinh.

Hơn thế nữa, không ít trường hợp bạn sẽ phải mất rất nhiều thời gian quý giá, mối quan tâm và suy nghĩ khi phát sinh một tranh chấp pháp lý, trong khi nếu bản hợp đồng được soạn thảo chặt chẽ thì tất cả các khoản tiền bạc, thời gian và công sức này sẽ được dành cho công việc phát triển kinh doanh.

Với kinh nghiệm hơn 20 năm trong nghề pháp lý, Kelleher đưa ra 5 bí quyết giúp các doanh nghiệp tránh xa các tranh chấp tại toà án, hay nâng cao cơ hội chiến thắng khi có mặt ở đó.

1) Đưa thêm điều khoản “Bên thua kiện sẽ chịu toàn bộ các chi phí pháp lý phát sinh” vào các bản hợp đồng, thoả thuận kinh doanh của bạn

Thường là một cú sốc lớn với nhiều chủ doanh nghiệp khi họ thấy rằng pháp luật thường không có quy định rằng họ được bù đắp các chi phí pháp lý thậm chí cả khi thắng kiện. Bên thua kiện chỉ phải trả chi phí tố tụng mà không phải là các chi phí luật sư, chi phí pháp lý khác cho bên thắng kiện.

Continue reading

TRANH CHẤP DÂN SỰ: NGÔI MỘ CỦA AI?

HOÀNG YẾN

Một ngôi mộ, hai người đều giành là mộ của cha mình. Tranh chấp, không ai giải quyết vì pháp luật chưa quy định. Cho đến nay chưa có một văn bản pháp luật nào quy định tranh chấp về mồ mả, hài cốt thì giao cho tòa hay UBND giải quyết.

TAND một quận tại TP.HCM đang lúng túng, không biết có thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mồ mả hay không.

Một ngôi mộ, hai người giành

Trong đơn khởi kiện, ông TVT trình bày rằng năm 1985, cha ông mất, được an táng tại miếng đất mà ông mua giấy tay của một người quen. Hằng năm, ông vẫn đến chăm nom, hương khói cho người đã khuất. Được một thời gian, do hoàn cảnh khó khăn, ông phải rời TP về quê làm ăn. Nay quay trở lại, ông muốn bốc mộ cha đưa về nơi mình đang sinh sống để tiện thăm nom. Thật bất ngờ, ngôi mộ của cha ông đã được gia đình ông NVD (người mua đất gần đó sau này) trang trí, tu bổ khác hẳn.

Ông T. bèn gặp ông D., nói ý định muốn bốc mộ cha về nơi khác để an táng thì ông D. phản đối, nói ngôi mộ đó là của cha ông D., được an táng vào năm 1990 ngay trong khuôn viên nhà ông D. Bức xúc, ông T. trưng các bức ảnh khi tổ chức an táng cha mình, giấy tờ mua đất… để chứng minh ngôi mộ đó là mộ của cha mình. Tuy nhiên, ông D. cứ một mực khăng khăng rằng khi gia đình ông dọn về đây sinh sống thì mảnh đất không có bất kỳ ngôi mộ nào. Sau này cha ông chết, ông mới lập ngôi mộ trên để thờ cúng.

Ông T. đến nhờ UBND phường can thiệp nhưng ủy ban từ chối vì cho rằng vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Ông bèn khởi kiện ông D. ra TAND quận, yêu cầu được bốc mộ của cha về nơi khác chăm nom. Nhưng như đã nói, tòa cũng đang lúng túng, không biết có nên thụ lý hay không.

Continue reading

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ

Massachusetts Real Estate contractThS. NGUYỄN VĂN PHÁI – Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh

Đề nghị giao kết hợp đồng là một vấn đề quan trọng của hợp đồng. Vì vậy, Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1980 (CISG), Bộ nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT năm 2004 (PICC) và Bộ luật Dân sự năm 2005 của Việt Nam (BLDS 2005) đều có những quy định về vấn đề này. Qua những tình huống thực tiễn, chúng tôi tập trung phân tích, so sánh những quy định về đề nghị giao kết hợp đồng trong các văn bản trên để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLDS về đề nghị giao kết hợp đồng.

1. Đề nghị giao kết hợp đồng

Đề nghị giao kết hợp đồng về bản chất là một hành vi pháp lý đơn phương của một chủ thể bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với chủ thể khác theo các điều kiện xác định.

1.1. Người nhận đề nghị

Đề nghị thường hướng tới một hoặc một số người xác định. Người nhận đề nghị có thể là một thể nhân hoặc pháp nhân: cá nhân được xác định bởi họ tên, quốc tịch, hộ khẩu thường trú (hoặc địa chỉ tạm trú); pháp nhân được xác định bởi tên gọi, trụ sở và quốc tịch. Tính xác định của người được đề nghị thường được thể hiện khi bên đề nghị gửi đề nghị giao kết hợp đồng, vì khi đó bên đề nghị đã xác định được họ muốn giao kết hợp đồng với ai.

Nếu đề nghị không được gửi tới một hoặc một số người cụ thể, nó chỉ là một phần bảng báo giá hoặc được gửi ra ngoài theo một thông báo rộng rãi, nó không tạo thành một đề nghị1, như tình huống trong vụ kiện sau2:

Tóm tắt vụ kiện: Ngày 6/4/1956, bị đơn Great Minneapolis đăng quảng cáo trên báo của thành phố Minneapolis: 9h sáng thứ bảy, những chiếc áo lông mới hiệu Sharp giá 100 USD, sẽ bán cho người có mặt đầu tiên với giá 1 USD. Ngày 13/4/1956, bị đơn tiếp tục đăng quảng cáo với nội dung: khăn choàng lông thỏ màu đen dành cho phụ nữ giá 139.50 USD, sẽ bán cho người có mặt đầu tiên với giá 1 USD.

Vào một trong những ngày thứ bảy theo như đã công bố trên quảng cáo, nguyên đơn Lefkowitz là người đầu tiên có mặt tại cửa hiệu của bị đơn và trong mỗi thời điểm, nguyên đơn yêu cầu bị đơn bán áo choàng và khăn như đã quảng cáo. Trong cả hai thời điểm, bị đơn từ chối bán hàng trưng bày cho nguyên đơn và tuyên bố trong thời điểm thứ nhất rằng, do một quy tắc của hãng, quảng cáo được đưa ra và chỉ bán cho phụ nữ. Do đó, nguyên đơn đã kiện bị đơn ra tòa vì cho rằng, bị đơn đã không thực hiện đúng cam kết đã nêu trong quảng cáo.

Continue reading

VỐN ĐIỀU LỆ CỦA CÔNG TY TỪ QUY ĐỊNH CỦA NGHỊ ĐỊNH 102/2010/NĐ-CP

PHẠM HOÀI HUẤN

Luật doanh nghiệp 2005 ra đời tạo nên một luồng sinh khí mới cho nền thương nghiệp nước nhà. Trên cơ sở đó, nghị định 139/2007/NĐ-CP  được ban hành hướng dẫn thi hành một số điều của luật này. Ngày 01.10.2010 chính phủ ban hành nghị định 102/2010/NĐ-CP thay thế cho nghị định 139/2007/NĐ-CP. Được ban hành sau hơn 4 năm thực thi luật doanh nghiệp, nghị định 102/2010/NĐ-CP mang đến niềm hi vọng sẽ có những hướng dẫn tích cực trong việc thi hành luật doanh nghiệp. Tuy vậy, trên thực tế, vấn đề tài chính của công ty (bao hàm cả công ty TNHH và công ty CP) mà chủ yếu là vốn của công ty được hướng dẫn  bởi nghị định cần phải được xem xét lại trên cả phương diện lí luận và thực tiễn.

1. Bản chất của vốn góp

Góp vốn là việc thành viên công ty chuyển tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các đồng sở hữu công ty. Trên thực tế, việc góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp khác nhau, sẽ tạo nên qui chế pháp lí khác nhau đối với người góp vốn. Với vai trò là đạo luật ghi nhận các mô hình kinh doanh, việc tạo lập nên sự phong phú của các mô hình là một điều cần thiết cho các lựa chọn khởi nghiệp. Trong một chừng mực nào đó, luật doanh nghiệp 2005 của Việt nam đã thành công trong việc đa dạng hoá các lựa chọn này. Ước mơ khởi nghiệp Việt được trân trọng khi nhà làm luật Việt nam đã ghi nhận hầu hết những mô hình doanh nghiệp phổ biến của thế giới. Một trong những loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất bởi các nhà kinh doanh là mô hình công ty TNHH và công ty cổ phần. Một câu hỏi đặt ra là hai loại hình này có ưu điểm gì mà được sự ưu ái trên?

1.1.Vốn điều lệ của công ty TNHH

Nếu nhìn nhận từ góc độ của truyền thống luật Châu âu lục địa, người ta thừa nhận rằng công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp kết hợp sự “ưu việt” của mô hình công ty đối nhân và công ty đối vốn. Kết quả của sự kết hợp này là, công ty TNHH mang trong mình bản chất của một công ty “đóng” như việc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên cho người không phải là thành viên của công bị hạn chế, việc phát hành cổ phần bị cấm đoán[1]……Tóm lại, có thể nói mô hình công ty TNHH là mô hình dành cho việc kinh doanh có qui mô vừa và nhỏ. Xuất phát từ đó, vốn điều lệ của công ty TNHH được đặc trưng bởi:

Continue reading

CẦN LUẬT HÓA CHỨNG CỨ ĐIỆN TỬ

THANH TÙNG

Thực tiễn xét xử đã xuất hiện nhiều vụ tranh chấp hay phạm tội mà các chứng cứ chủ chốt, quan trọng là dữ liệu điện tử trên mạng Internet. Khi xử lý, các cơ quan tố tụng ít nhiều đều gặp lúng túng vì pháp luật chưa quy định về chứng cứ dạng này.

Năm 2007, ông ĐXG (ngụ quận Bình Thạnh, TP.HCM) đã khởi kiện một nữ phó tổng giám đốc một công ty liên doanh ra TAND huyện Dĩ An (Bình Dương) để đòi bồi thường và xin lỗi công khai.

Từ bị kiện vì nói xấu qua email, blog

Theo đơn kiện, trước đó ông G. và bị đơn hợp tác làm ăn. Vì mâu thuẫn, bị đơn đã gửi email cho những đối tác khác của họ nói xấu ông thậm tệ, sai sự thật, làm ông mất danh dự, uy tín nghiêm trọng. Kèm đơn kiện, ông G. cũng nộp cho tòa bản sao các email có nội dung xúc phạm, nói xấu ông của bị đơn.

Nhận đơn, TAND huyện Dĩ An đã chuyển vụ việc về TAND quận Bình Thạnh giải quyết bởi cả hai bên đương sự đều ngụ tại đây. Quá trình tòa chuẩn bị xét xử, phía bị đơn đã chấp nhận xin lỗi và thanh toán cho ông G. toàn bộ chi phí bỏ ra để đeo đuổi vụ kiện.

Một năm sau, cư dân mạng xôn xao vì vụ ca sĩ Phương Thanh đòi chủ nhân blog Cô gái Đồ Long phải xin lỗi công khai trên ba tờ báo. Theo Phương Thanh, một entry (bài viết) đăng trên blog Cô gái Đồ Long ám chỉ nói xấu, xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, uy tín của cô. Bị phản ứng, chủ nhân blog Cô gái Đồ Long đã xóa entry này nhưng phía Phương Thanh vẫn kịp thời sao lưu lại làm bằng.

Xử sơ thẩm, TAND quận Tân Bình (TP.HCM) đã bác yêu cầu của Phương Thanh với lý do pháp luật chưa có quy định về xử lý các trường hợp gây thiệt hại từ blog. Xử phúc thẩm, TAND TP.HCM đã hủy bản án này. Quá trình TAND quận Tân Bình thụ lý lại, Phương Thanh đã chấp nhận lời xin lỗi của chủ nhân blog Cô gái Đồ Long.

Continue reading

LUẬT CÔNG VÀ LUẬT TƯ

NCS. NGUYỄN MINH TUẤN – Đại học SAARLAND, CHLB Đức

Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), pháp luật mỗi quốc gia theo truyền thống thường được phân chia thành luật công (public law – droit public – öffentliches Recht) và luật tư (private law – droit privé – Privatrecht). Vấn đề tưởng như đã rõ ràng nhưng hóa ra lại còn đó nhiều câu hỏi cần làm sáng tỏ như: những tư tưởng, học thuyết về phân chia hệ thống pháp luật thành luật công và luật tư có từ bao giờ, được kế thừa, phát triển ra sao? quan niệm của các nhà luật học Civil Law hiện nay về vấn đề này như thế nào, những vấn đề lý luận nào còn bỏ ngỏ, cần tiếp tục giải đáp? Bài viết dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ những câu hỏi trên từ góc nhìn lịch sử luật pháp và thực tiễn lý luận ở CHLB Đức.

1. Lịch sử phân chia luật công và luật tư

– Học thuyết dựa trên cơ sở lợi ích (Interresentheorie)
Tư tưởng, học thuyết phân chia luật công và luật tư đã có rất sớm từ thời La Mã cổ đại. Nhà triết học Cicero từ thế kỷ I TCN đã đưa ra quan điểm rằng pháp luật gồm có hai bộ phận cấu thành gồm: những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân (Ius privatum) và những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ công (Ius publicum). (1)

Đến thế kỷ II SCN, nhà luật học La Mã Ulpian (170 -228 SCN) đã đưa ra học thuyết phân chia giữa luật tư (Ius civile) và luật công (Ius publicum) dựa trên cơ sở lợi ích (hay còn gọi là học thuyết lợi ích – Interessentheorie). Học thuyết này phân biệt: Luật công liên quan đến lợi ích của nhà nước và lợi ích công cộng, luật tư liên quan đến lợi ích của cá nhân. (2)
Học thuyết quan hệ giữa các chủ thể (Subjektionstheorie)

Đến thế kỷ XIX, những tư tưởng về sự phân chia giữa luật công và luật tư của Luật La Mã được kế thừa và phát triển thông qua học thuyết dựa trên quan hệ giữa các chủ thể (Subjektionstheorie). Học thuyết này phân chia: Nếu là quan hệ có tính thứ bậc (Über-Unterordnungsverhältnis) giữa nhà nước và công dân thì đó là quan hệ pháp luật do luật công điều chỉnh, còn quan hệ mà các bên tham gia là quan hệ bình đẳng (Gleichrangigkeitsverhältnis) thì đó là quan hệ pháp luật của luật tư điều chỉnh. (3)

Continue reading

CHỐNG THAM NHŨNG ĐƯỢC KHÔNG?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Có thể, nếu…

1. Việt nam có tham nhũng không?

1.1.Chuyện quốc tế.

Tham nhũng ư? Chuyện xưa như trái đất. Ở đâu có quyền lực ở đó có thể có tham nhũng, nước nào mà chẳng có tham nhũng. Rất nhiều người sẽ nói như vậy. Cách hiểu về tham nhũng (thậm chí là bản chất tham nhũng), qui mô, „chất lượng“ và hậu quả của tham nhũng cũng rất khác nhau tùy mỗi nước. Đúng thôi.

Nhưng ngày nay, qúa trình Toàn cầu hóa đã khiến tham nhũng không còn là chuyện nội bộ của mỗi quốc gia nữa. Cộng đồng quốc tế phải đặc biệt quan tâm đến việc cùng nhau tìm ra cách thức chung để giải quyết nạn tham nhũng, cũng có nghĩa là cần tìm ra những đặc trưng có giá trị phổ quát của tham nhũng.

Các nước phát triển- nơi có môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh- phải quan tâm xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa chính các công ty của mình ở thị trường nước ngoài, nơi họ có thể dễ dàng hối lộ để nhận được hợp đồng. Trong vai trò nước cung cấp viện trợ phát triển và các khoản vốn đầu tư quan trọng nhất cho phát triển, các nước này ngày càng phải quan tâm đến việc sử dụng tiền của nước nhận viện trợ. Quản trị công tồi tệ gây thất thoát, sử dụng không hiệu quả số tiền này có thể gây hậu quả dây chuyền rất nghiêm trọng đến cộng đồng quốc tế (như trường hợp khủng hoảng của Hy lạp vừa qua). Cấp viện trợ, tín dụng một cách dễ dãi không cần quan tâm đến hiệu quả sử dụng cũng sẽ khiến người đóng thuế tại nước cấp viện bất bình và có thể dẫn đến giảm mạnh độ tín nhiệm vào chính phủ.

Theo Tổ chức minh bạch quốc tế TI (Transparency International) tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực được tin cậy giao phó cho lợi ích cá nhân. „Corruption is operationally defined as the misuse of entrusted power for private gain“. Dưới góc độ pháp lý rộng hơn, luật pháp của nhiều nước Châu Âu định nghĩa tham nhũng gồm 02 yếu tố cấu thành: a) Hành vi lạm dụng vị trí quyền lực, không tôn trọng các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi, trách nhiệm công chức và luật pháp; và b) Cho lợi ích cá nhân. Những định nghĩa như vậy chủ yếu hướng vào sự lạm dụng quyền lực công (quyền lực của Nhà nước, cơ quan công quyền).

Tuy nhiên, lạm dụng quyền lực được tin cậy giao phó không chỉ trầm trọng ở cơ quan công quyền, mà còn ngày càng phát triển trong giao dịch kinh tế, dân sự, chính trị quốc tế. Vì vậy, Hội đồng Châu Âu cùng Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra một định nghĩa rộng hơn về tham nhũng. Theo đó, tham nhũng gồm các yếu tố cấu thành sau: a) Hành vi của những người được tin cậy giao phó nhiệm vụ công hoặc tư; b) Không tôn trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình; c) Nhằm đạt được các lợi ích không chính đáng. Định nghĩa này bao trùm các lĩnh vực công, tư, bán công, chuẩn mực đạo lý của xã hội dân sự, thực tiễn lợi dụng vị trí được tin cậy trong giao dịch dân sự, cũng như tham nhũng chính trị.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 01/2011/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 01 NĂM 2011 VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ, TRÁI PHIẾU ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH VÀ TRÁI PHIẾU CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Quản lý nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Pháp lệnh Ngoại hối ngày 21 tháng 12 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Trái phiếu Chính phủ” là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước.

2. “Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh” là loại trái phiếu do doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước thuộc đối tượng quy định tại Điều 32 Luật Quản lý nợ công phát hành và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.

3. “Trái phiếu chính quyền địa phương” là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương.

4. “Bán lẻ trái phiếu” là phân tích phát hành trái phiếu mà chủ thể phát hành trực tiếp bán trái phiếu cho từng đối tượng mua trái phiếu.

5. “Bảo lãnh phát hành trái phiếu” là phương thức phát hành trái phiếu mà chủ thể phát hành bán trái phiếu thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành.

6. “Bản cáo bạch” là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết trái phiếu của chủ thể phát hành và các điều khoản, thiết kế phát hành trái phiếu.

Continue reading

CHỨNG CỨ VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ?

Online ShoppingTS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Nếu như vào thập niên 90 giao dịch điện tử vẫn còn là điều xa lạ, mới mẻ đối với Việt Nam thì vào đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là trong vài năm trở lại đây, cùng với sự bùng nổ của internet và sự năng động của công chúng, nhất là giới trẻ, giao dịch điện tử ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh những phương tiện quen thuộc như điện thoại, fax, ti-vi (tivi-shopping), thì sự phát triển đầy ấn tượng của mạng nội bộ (intranet), mạng ngoại bộ (extranet) và đặc biệt là mạng toàn cầu (internet) đã khiến cho thương mại điện tử (e-commerce hay e-business) trở nên quen thuộc với người dân, thậm chí ở nhiều nước phát triển nó còn có xu hướng thay thế các phương thức giao dịch truyền thống. Lợi ích của giao dịch điện tử đã quá rõ ràng: (i) giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường và đối tác; giảm chi phí sản xuất; giảm chi phí bán hàng và tiếp thị; thông quainternet giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giao dịch; thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại; tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa. Bên cạnh những lợi ích vừa nêu, giao dịch điện tử cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý do tính chất đặc thù của loại giao dịch này là không có sự "mặt đối mặt" trực tiếp giữa người mua và người bán.

Ý thức được tầm quan trọng của giao dịch điện tử, ngày 29/11/2005, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Giao dịch điện tử. Có thể nói, đạo luật này đánh dấu bước tiến mới trong quá trình hội nhập nền kinh tế cũng như môi trường pháp lý của Việt Nam đối với thương mại quốc tế vốn đang có những thay đổi đột phá trong bối cảnh khoa học kỹ thuật bùng nổ hàng ngày, hàng giờ hiện nay.

Xét về bản chất, các giao dịch điện tử có đặc thù là luôn phải dựa trên các phương tiện trung gian – phương tiện điện tử – để tiến hành một hoặc tất cả các công đoạn của các giao dịch dân sự, thương mại. Với sự xuất hiện của các phương tiện trung gian, các giao dịch giờ đây không còn cần thiết phải được thể hiện trên giấy cũng như các bên tham gia giao dịch trong tuyệt đại đa số trường hợp không cần phải trực tiếp gặp nhau. Thực ra, sự xuất hiện của các phương tiện điện tử không làm thay đổi bản chất của các giao dịch mà chỉ làm thay đổi cách thức tiến hành các giao dịch. Việc ra đời của giao dịch điện tử trên thế giới thông qua điện thoại, máy fax, internet… lúc đầu không tránh khỏi sự hoài nghi, lo lắng về độ an toàn, tính chính xác và đặc biệt là vấn đề đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng (NTD). Tuy nhiên, trải qua hàng thập kỷ bắt đầu từ làm quen cho đến thay đổi hẳn tập quán giao dịch, người ta đã nhận ra rằng giao dịch điện tử, xét về một phương diện nào đó, giao dịch điện tử còn có tính an toàn cao hơn so với giao dịch truyền thống và sự dè dặt của công chúng đối với cách thức giao dịch mới mẻ này nhiều khi chỉ là vấn đề tâm lý.

Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO NĂM 2011

TS. LÊ QUỐC HỘI

Năm 2010, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Việc đánh giá, nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2010 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2011 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Có thể tiếp cận và đánh giá một nền kinh tế từ nhiều phương diện. Trong bài viết này, bức tranh kinh tế Việt Nam được nhìn nhận từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản.

1. Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010
Tăng trưởng kinh tế
Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hình 1 cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Uớc tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm  2010 ước đạt 1.160 USD.

Continue reading

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ BÀI HỌC CHO NHỮNG NĂM TIẾP THEO

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2010 có nhiều biến động do chịu nhiều tác động của những yếu tố quốc tế và trong nước. Nhìn lại nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính Việt Nam nói riêng sẽ là cần thiết để rút ra những bài học bổ ích cho các năm tiếp theo.

Có thể nhận diện một cách tổng quan những thành công và nghịch lý trên thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2010 như sau:

Những thành công:

Không thể phủ nhận những mảng sáng của thị trường tài chính năm 2010. Một cách chung nhất, đó là: Chủ động, linh hoạt, vật lộn và nhìn rõ ra nhiều góc khuất… nên đã cơ bản thoát khỏi nhiều nguy cơ tái khủng hoảng tài chính, bùng nổ lạm phát quá lớn và chặn được đà suy giảm kinh tế. Cụ thể về một số thành công cần ghi nhận là:

– Trong bối cảnh gần như cả thế giới, kể cả những nền kinh tế phát triển tiếp tục lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ và chưa khắc phục xong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ năm 2008, thì nền kinh tế Việt Nam vẫn kiểm soát được hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tài chính nói riêng ở mức chấp nhận được. Tốc độ tăng tín dụng tổng quát xung quanh 25%, đạt mức kỳ vọng; Chỉ số chứng khoán không mất điểm như các thách thức từng đe dọa từ đầu năm, VNINDEX vẫn giữ ở mức xung quanh 500 điểm; Thị trường bất động sản khá ổn định ở mức không bị trồi, sụt quá lớn; Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 17,2 tỉ USD, vốn giải ngân tăng 10% so với 2009 và “chạm” mức kỷ lục đã xác lập 11,5 tỉ USD năm 2008; Xuất khẩu xác lập con số kỷ lục 71,6 tỉ USD; Nhập siêu chỉ còn 17,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu; Tăng trưởng GDP khá, ở mức 6,78%. Việt Nam vẫn đứng trong số các nước tăng trưởng khá trong khu vực châu Á – vùng kinh tế đầu tầu của thế giới;

– Hầu hết các chỉ số tăng trưởng của cả 3 ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều tăng khá so với năm 2009 (lần lượt công nghiệp: 7,7%/5,57%; nông nghiệp: 2,78%/3,74% và dịch vụ: 7,52%/6,64%), kéo theo tăng trưởng GDP: 6,78%/5,32% cùng cặp so sánh năm 2010/2009 – Nghĩa là, thị trường tài chính đã từng bước đi đúng địa chỉ để kích hoạt cho nền kinh tế dần hồi phục sau suy giảm.

Continue reading