SUY NGẪM 51

5 nốt thăng năm 2010:

1. Ngoại giao nâng Việt Nam lên một vị thế đáng kể trên trường quốc tế;

2. GS. Ngô Bảo Châu được giải Fields về toán học;

3. Vinashin là nỗi đau, nhưng cũng là cú huých tốt để Việt Nam chuyển đổi các nền tảng tư duy kinh tế và sở hữu lạc hậu;

4. Từ sự kiện con cá tra nằm trong “danh sách đỏ” của Quỹ Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (WWF), Việt Nam đã có trải nghiệm đáng kể và có được ứng xử nhanh nhạy, mạnh mẽ và thích hợp hơn trong bảo vệ lợi ích của mình;

5. Khu vực kinh tế tư nhân chiếm khoảng 48% tổng GDP của Việt Nam (45,6% tổng GDP năm 2006 ) và tạo ra 50,2% việc làm của cả nước.

5 nốt trầm năm 2010:

1. Pháp luật Việt Nam chưa theo kịp xu thế hội nhập của đất nước, khi nhà làm luật dự liệu Viện Kiểm sát có quyền tham gia 100% vụ việc dân sự và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình;

2. Kinh tế tăng trưởng cao, nhưng không theo kịp sự mất giá của đồng tiền;

3. Chính sách tiền lương cho công chức tiếp tục bất hợp lý, tạo nguy cơ có thực, đẩy công chức vào đối tượng nghèo hoặc cận nghèo nếu chỉ biết sống bằng đồng lương theo đúng nghĩa;

4. Qua sự kiện Vietnam Idol, văn hóa tôn trọng quan điểm, nhận thức của những người khác với mình dường như chưa có trong nhiều người Việt;

5. Sau những sự kiện “ồn ào”, khó có thể thấy Hà Nội đã 1000 năm tuổi.

CIVILLAWINFOR

ÁN LỆ VÀ SỰ DU NHẬP NÓ VÀO VIỆT NAM

LS. NGUYỄN NGỌC BÍCH – Công ty Luật hợp danh D.C

Nguồn gốc và ý nghĩa của án lệ

Án lệ là một từ ngữ được đưa ra vào khoảng năm 1960 tại miền Nam Việt Nam (giáo sư Vũ Văn Mẫu) khi tiếng Việt bắt đầu được dùng để dạy học tại Trường Luật Saigon.

Trong tiếng Anh nó là “precedent”, nghĩa là tiền lệ; còn trong tiếng Pháp nó là “jurisprudence”, là một sự tập hợp các phán quyết của các tòa án. Trong bối cảnh chung lúc đó, danh từ “án lệ” được dùng cho “jurisprudence” và được tác giả giải nghĩa là “đường lối giải thích và áp dụng dạng luật pháp của các tòa án về một điểm pháp lý đã được coi như thành một lệ khiến các thẩm phán có thể noi theo đó mà xét xử trong các trường hợp tương tự”.

Tuy nhiên, dù là “tiền lệ” hay “tập hợp” thì các bản án đều là chung thẩm; nghĩa là đã được các bên tranh chấp nhìn nhận và thi hành. Để hiểu đúng về “án lệ”, chúng ta sẽ xem xét nó trong khuôn khổ của hệ thống Thông luật của các nước Anglo-Saxon, tiêu biểu là Anh và Mỹ và hệ thống Dân luật của các nước Âu châu, tiêu biểu là Pháp.

Thông luật bắt đầu ở Anh, khoảng thế kỷ 13; còn Dân luật, bắt đầu từ thời La Mã cổ đại, nhưng trở thành hệ thống quy củ thì phải đến đầu thế kỷ 19 ở Pháp. Hai cái này cách nhau sáu thế kỷ và chúng cho ta thấy sự tiến hóa của loài người về tri thức trong lĩnh vực luật pháp. Lịch sử cho thấy, luật pháp – ý chí của nhà cầm quyền – chỉ thể hiện khi trong xã hội có sự tranh chấp. Thật vậy, khi người dân tranh chấp với nhau, họ đến chính quyền để nhờ phân giải. Khi ấy, chính quyền ra quyết định dựa trên một cơ sở nào đó.

Vậy thì vào thế kỷ thứ 13, luật pháp thành văn chưa có ở Anh; tranh chấp của công dân được đưa ra trước quan chưởng lý (chancellor) của triều đình. Vị này đã dựa trên tập tục, luân lý, đạo đức đang được tuân giữ trong địa phương có liên quan để xem xét sự tranh chấp và tuyên bố bản án. Để độc giả dễ hiểu tôi xin lấy thí dụ bây giờ để mô tả chuyện ngày xưa. Trước năm 2005 ở ta không có luật về chơi hụi (họ, biêu, phường), tuy nhiên trong cuộc sống người ta chơi hụi rất nhiều; vì đó là nhu cầu giúp đỡ nhau khi có người cần tiền. Khi chơi hụi, các người chơi đều biết các quy định và họ tuân giữ. Thí dụ hốt hụi, giật hụi. Đó là tập tục có sẵn trong xã hội; ở bên Anh người ta gọi là luật chung (common law). Trở lại thế kỷ 13 ở Anh, có hai người đến tòa thưa nhau về tội giật hụi. Quan tòa sẽ xem xét nội vụ và ra bản án trong đó viết là “trong tập tục chơi hụi, người nào đã hốt hụi rồi thì sau đó phải đóng đủ cho chủ hụi cho đến khi người cuối cùng đã hốt hụi chót. Bị đơn đã không làm như thế, nay tòa buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn X đồng, kèm với tiền lãi và tiền phạt”. Ta thấy, quy định về giật hụi đã có sẵn; nay tòa lấy ra và tuyên bố nó cho mọi người. Người ta gọi đó “luật do tòa quyết định” (decisional law). Trong hệ thống Thông luật, tòa án làm ra luật, bằng cách nêu lên hay tuyên bố luật chung đã có sẵn trong xã hội. Vậy là xong vụ tranh chấp thứ nhất. Lần sau, tại địa phương khác, có người cũng thưa nhau về giật hụi nữa; vị chưởng lý sẽ lấy bản án cũ ra áp dụng. Thật là thuận tiện và “chắc cú”. Và bản án trước trở thành “tiền lệ” cho bản án sau. Nguyên tắc tiền lệ trong Thông luật có nguồn gốc như thế. Có thể lúc đầu áp dụng tiền lệ là một sự thuận tiện cho thẩm phán; nhưng về sau – vô tình – nó giúp thống nhất hóa quan điểm xét xử trong những vụ án có những tình tiết giống nhau. Đi xa hơn nữa về sau này nguyên tắc ấy trở thành một mối lợi cho người dân mà chúng tôi sẽ đề cập.

Continue reading

HIỆU LỰC CỦA CHẤP NHẬN GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005 – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ LUẬT SO SÁNH

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

“Chấp nhận chỉ có hiệu lực khi đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”. Đây là quy tắc chung mà bất kỳ luật gia nào cũng phải thừa nhận. Nhưng có một vài sự đáp ứng điều kiện của chấp nhận rất khó đánh giá. Nên có thể có các quy chế riêng, đôi khi gây tranh luận. Chẳng hạn Unidroit cho rằng, về nguyên tắc chung, chấp nhận bằng hành động chỉ có hiệu lực khi người đề nghị được thông báo về hành động đó. Như vậy khó có thể phân biệt giữa chấp nhận bằng hành động với chấp nhận bằng các cách thức khác khi người đề nghị nhận được một thông báo “Tôi đã hành động theo đề nghị của quí ngài”? Tuy nhiên Unidroit cũng đã nhấn mạnh rằng những thông báo như vậy chỉ cần thiết nếu bản thân hành động không bao hàm sự thông báo chấp nhận trong một khoảng thời gian hợp lý1.

Chấp nhận đề nghị là giao kết hợp đồng, tuy nhiên nhất thiết phải đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định2. Hợp đồng được giao kết là hậu quả pháp lý mấu chốt và quan trọng nhất của chấp nhận. Nói cách khác, đó chính là điểm mấu chốt của hiệu lực của chấp nhận. Tuy nhiên trước tiên cần phải nghiên cứu thời điểm chấp nhận có hiệu lực và thời điểm hợp đồng được giao kết.

Thời điểm chấp nhận có hiệu lực theo pháp luật Việt Nam chính là thời điểm người đề nghị nhận được chấp nhận. Mặc dù Điều 397, khoản 1 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2005 không có quy định rõ ràng về thời điểm này. Song nếu giải thích nó trong mối quan hệ với các Điều 391, khoản 1 và Điều 400 của BLDS 2005, thì chúng ta có kết quả nêu trên.

Thời điểm giao kết hợp đồng giữa những người gặp mặt nhau hoặc trao đổi trực tiếp với nhau được BLDS 2005 quy định: Đối với hợp đồng giao kết bằng lời nói là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung của hợp đồng; đối với hợp đồng giao kết bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản (Điều 404 khoản 3 và khoản 4). Việc giao kết hợp đồng bằng văn bản theo tinh thần của Điều khoản này cũng có thể được hiểu trong trường hợp bên này gửi cho bên kia một bản văn hợp đồng để cùng nhau trao đổi, thoả thuận nhằm đi đến ký kết, hoặc nếu chấp nhận thì ký vào và gửi lại. Đặc biệt Điều 397, khoản 2 BLDS 2005 buộc người được đề nghị phải trả lời ngay về việc có chấp nhận hay không trong trường hợp các bên trực tiếp giao tiếp với nhau qua điện thoại hoặc qua các phương tiện giao tiếp khác (chẳng hạn như “chat”), trừ khi có thoả thuận khác về thời hạn trả lời. Vì vậy có thể suy ra trường hợp được đề cập tới trong điều khoản này có thể khác với trường hợp được nói tại Điều 404, khoản 3 BLDS 2005. Tuy nhiên các điều khoản của BLDS 2005 liên quan tới hình thức và thời điểm giao kết hợp đồng có nhiều cách giải thích khác nhau. Dưới đây sẽ đề cập tới cách giải thích cần lưu ý để suy ngẫm.

Continue reading