CHỐNG THAM NHŨNG ĐƯỢC KHÔNG?

GS.TS. NGUYỄN VÂN NAM

Có thể, nếu…

1. Việt nam có tham nhũng không?

1.1.Chuyện quốc tế.

Tham nhũng ư? Chuyện xưa như trái đất. Ở đâu có quyền lực ở đó có thể có tham nhũng, nước nào mà chẳng có tham nhũng. Rất nhiều người sẽ nói như vậy. Cách hiểu về tham nhũng (thậm chí là bản chất tham nhũng), qui mô, „chất lượng“ và hậu quả của tham nhũng cũng rất khác nhau tùy mỗi nước. Đúng thôi.

Nhưng ngày nay, qúa trình Toàn cầu hóa đã khiến tham nhũng không còn là chuyện nội bộ của mỗi quốc gia nữa. Cộng đồng quốc tế phải đặc biệt quan tâm đến việc cùng nhau tìm ra cách thức chung để giải quyết nạn tham nhũng, cũng có nghĩa là cần tìm ra những đặc trưng có giá trị phổ quát của tham nhũng.

Các nước phát triển- nơi có môi trường cạnh tranh tự do, lành mạnh- phải quan tâm xử lý cạnh tranh không lành mạnh giữa chính các công ty của mình ở thị trường nước ngoài, nơi họ có thể dễ dàng hối lộ để nhận được hợp đồng. Trong vai trò nước cung cấp viện trợ phát triển và các khoản vốn đầu tư quan trọng nhất cho phát triển, các nước này ngày càng phải quan tâm đến việc sử dụng tiền của nước nhận viện trợ. Quản trị công tồi tệ gây thất thoát, sử dụng không hiệu quả số tiền này có thể gây hậu quả dây chuyền rất nghiêm trọng đến cộng đồng quốc tế (như trường hợp khủng hoảng của Hy lạp vừa qua). Cấp viện trợ, tín dụng một cách dễ dãi không cần quan tâm đến hiệu quả sử dụng cũng sẽ khiến người đóng thuế tại nước cấp viện bất bình và có thể dẫn đến giảm mạnh độ tín nhiệm vào chính phủ.

Theo Tổ chức minh bạch quốc tế TI (Transparency International) tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực được tin cậy giao phó cho lợi ích cá nhân. „Corruption is operationally defined as the misuse of entrusted power for private gain“. Dưới góc độ pháp lý rộng hơn, luật pháp của nhiều nước Châu Âu định nghĩa tham nhũng gồm 02 yếu tố cấu thành: a) Hành vi lạm dụng vị trí quyền lực, không tôn trọng các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi, trách nhiệm công chức và luật pháp; và b) Cho lợi ích cá nhân. Những định nghĩa như vậy chủ yếu hướng vào sự lạm dụng quyền lực công (quyền lực của Nhà nước, cơ quan công quyền).

Tuy nhiên, lạm dụng quyền lực được tin cậy giao phó không chỉ trầm trọng ở cơ quan công quyền, mà còn ngày càng phát triển trong giao dịch kinh tế, dân sự, chính trị quốc tế. Vì vậy, Hội đồng Châu Âu cùng Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đã đưa ra một định nghĩa rộng hơn về tham nhũng. Theo đó, tham nhũng gồm các yếu tố cấu thành sau: a) Hành vi của những người được tin cậy giao phó nhiệm vụ công hoặc tư; b) Không tôn trọng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình; c) Nhằm đạt được các lợi ích không chính đáng. Định nghĩa này bao trùm các lĩnh vực công, tư, bán công, chuẩn mực đạo lý của xã hội dân sự, thực tiễn lợi dụng vị trí được tin cậy trong giao dịch dân sự, cũng như tham nhũng chính trị.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 01/2011/NĐ-CP NGÀY 05 THÁNG 01 NĂM 2011 VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ, TRÁI PHIẾU ĐƯỢC CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH VÀ TRÁI PHIẾU CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Luật Quản lý nợ công ngày 17 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Pháp lệnh Ngoại hối ngày 21 tháng 12 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định việc phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Trái phiếu Chính phủ” là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước.

2. “Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh” là loại trái phiếu do doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, ngân hàng chính sách của nhà nước thuộc đối tượng quy định tại Điều 32 Luật Quản lý nợ công phát hành và được Chính phủ bảo lãnh thanh toán.

3. “Trái phiếu chính quyền địa phương” là loại trái phiếu do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành nhằm huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương.

4. “Bán lẻ trái phiếu” là phân tích phát hành trái phiếu mà chủ thể phát hành trực tiếp bán trái phiếu cho từng đối tượng mua trái phiếu.

5. “Bảo lãnh phát hành trái phiếu” là phương thức phát hành trái phiếu mà chủ thể phát hành bán trái phiếu thông qua các tổ chức bảo lãnh phát hành.

6. “Bản cáo bạch” là tài liệu hoặc dữ liệu điện tử công khai những thông tin chính xác, trung thực, khách quan liên quan đến việc chào bán hoặc niêm yết trái phiếu của chủ thể phát hành và các điều khoản, thiết kế phát hành trái phiếu.

Continue reading

CHỨNG CỨ VÀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH ĐIỆN TỬ?

Online ShoppingTS. NGUYỄN HỮU HUYÊN – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Nếu như vào thập niên 90 giao dịch điện tử vẫn còn là điều xa lạ, mới mẻ đối với Việt Nam thì vào đầu thế kỷ XXI, đặc biệt là trong vài năm trở lại đây, cùng với sự bùng nổ của internet và sự năng động của công chúng, nhất là giới trẻ, giao dịch điện tử ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ.

Bên cạnh những phương tiện quen thuộc như điện thoại, fax, ti-vi (tivi-shopping), thì sự phát triển đầy ấn tượng của mạng nội bộ (intranet), mạng ngoại bộ (extranet) và đặc biệt là mạng toàn cầu (internet) đã khiến cho thương mại điện tử (e-commerce hay e-business) trở nên quen thuộc với người dân, thậm chí ở nhiều nước phát triển nó còn có xu hướng thay thế các phương thức giao dịch truyền thống. Lợi ích của giao dịch điện tử đã quá rõ ràng: (i) giúp cho các doanh nghiệp nắm được thông tin phong phú về thị trường và đối tác; giảm chi phí sản xuất; giảm chi phí bán hàng và tiếp thị; thông quainternet giúp người tiêu dùng và các doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chí phí giao dịch; thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành phần tham gia vào quá trình thương mại; tạo điều kiện sớm tiếp cận nền kinh tế số hóa. Bên cạnh những lợi ích vừa nêu, giao dịch điện tử cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý do tính chất đặc thù của loại giao dịch này là không có sự "mặt đối mặt" trực tiếp giữa người mua và người bán.

Ý thức được tầm quan trọng của giao dịch điện tử, ngày 29/11/2005, Quốc hội nước ta đã ban hành Luật Giao dịch điện tử. Có thể nói, đạo luật này đánh dấu bước tiến mới trong quá trình hội nhập nền kinh tế cũng như môi trường pháp lý của Việt Nam đối với thương mại quốc tế vốn đang có những thay đổi đột phá trong bối cảnh khoa học kỹ thuật bùng nổ hàng ngày, hàng giờ hiện nay.

Xét về bản chất, các giao dịch điện tử có đặc thù là luôn phải dựa trên các phương tiện trung gian – phương tiện điện tử – để tiến hành một hoặc tất cả các công đoạn của các giao dịch dân sự, thương mại. Với sự xuất hiện của các phương tiện trung gian, các giao dịch giờ đây không còn cần thiết phải được thể hiện trên giấy cũng như các bên tham gia giao dịch trong tuyệt đại đa số trường hợp không cần phải trực tiếp gặp nhau. Thực ra, sự xuất hiện của các phương tiện điện tử không làm thay đổi bản chất của các giao dịch mà chỉ làm thay đổi cách thức tiến hành các giao dịch. Việc ra đời của giao dịch điện tử trên thế giới thông qua điện thoại, máy fax, internet… lúc đầu không tránh khỏi sự hoài nghi, lo lắng về độ an toàn, tính chính xác và đặc biệt là vấn đề đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng (NTD). Tuy nhiên, trải qua hàng thập kỷ bắt đầu từ làm quen cho đến thay đổi hẳn tập quán giao dịch, người ta đã nhận ra rằng giao dịch điện tử, xét về một phương diện nào đó, giao dịch điện tử còn có tính an toàn cao hơn so với giao dịch truyền thống và sự dè dặt của công chúng đối với cách thức giao dịch mới mẻ này nhiều khi chỉ là vấn đề tâm lý.

Continue reading

TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ KHUYẾN NGHỊ CHO NĂM 2011

TS. LÊ QUỐC HỘI

Năm 2010, mặc dù tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, kinh tế Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu đạt được nền kinh tế vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Việc đánh giá, nhìn nhận lại kinh tế Việt Nam năm 2010 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải pháp cho năm 2011 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Có thể tiếp cận và đánh giá một nền kinh tế từ nhiều phương diện. Trong bài viết này, bức tranh kinh tế Việt Nam được nhìn nhận từ góc độ vĩ mô dựa trên diễn biến tình hình kinh tế trong năm và các chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản.

1. Tổng quan kinh tế Việt Nam năm 2010
Tăng trưởng kinh tế
Năm 2010, kinh tế của Việt Nam tiếp tục có sự phục hồi nhanh chóng sau tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Hình 1 cho thấy có cải thiện tốc độ tăng GDP theo các quý trong năm 2010. Tốc độ tăng GDP quý I đạt 5,83%, quý II là 6,4%, quý III tăng lên 7,14% và dự đoán quý IV sẽ đạt 7,41%. Uớc tính GDP cả năm 2010 có thể tăng 6,7%, cao hơn nhiệm vụ kế hoạch (6,5%). Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn phục hồi chậm chạp và trong nước gặp phải nhiều khó khăn, kinh tế Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao như trên là một thành công. Với kết quả này tốc độ tăng trưởng GDP cả giai đoạn 2006-2010 đạt bình quân 7%/năm và thu nhập quốc dân bình quân đầu người năm  2010 ước đạt 1.160 USD.

Continue reading

TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM NĂM 2010 VÀ BÀI HỌC CHO NHỮNG NĂM TIẾP THEO

TS. NGUYỄN ĐẠI LAI – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2010 có nhiều biến động do chịu nhiều tác động của những yếu tố quốc tế và trong nước. Nhìn lại nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính Việt Nam nói riêng sẽ là cần thiết để rút ra những bài học bổ ích cho các năm tiếp theo.

Có thể nhận diện một cách tổng quan những thành công và nghịch lý trên thị trường tài chính Việt Nam trong năm 2010 như sau:

Những thành công:

Không thể phủ nhận những mảng sáng của thị trường tài chính năm 2010. Một cách chung nhất, đó là: Chủ động, linh hoạt, vật lộn và nhìn rõ ra nhiều góc khuất… nên đã cơ bản thoát khỏi nhiều nguy cơ tái khủng hoảng tài chính, bùng nổ lạm phát quá lớn và chặn được đà suy giảm kinh tế. Cụ thể về một số thành công cần ghi nhận là:

– Trong bối cảnh gần như cả thế giới, kể cả những nền kinh tế phát triển tiếp tục lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ và chưa khắc phục xong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ năm 2008, thì nền kinh tế Việt Nam vẫn kiểm soát được hầu hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tài chính nói riêng ở mức chấp nhận được. Tốc độ tăng tín dụng tổng quát xung quanh 25%, đạt mức kỳ vọng; Chỉ số chứng khoán không mất điểm như các thách thức từng đe dọa từ đầu năm, VNINDEX vẫn giữ ở mức xung quanh 500 điểm; Thị trường bất động sản khá ổn định ở mức không bị trồi, sụt quá lớn; Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 17,2 tỉ USD, vốn giải ngân tăng 10% so với 2009 và “chạm” mức kỷ lục đã xác lập 11,5 tỉ USD năm 2008; Xuất khẩu xác lập con số kỷ lục 71,6 tỉ USD; Nhập siêu chỉ còn 17,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu; Tăng trưởng GDP khá, ở mức 6,78%. Việt Nam vẫn đứng trong số các nước tăng trưởng khá trong khu vực châu Á – vùng kinh tế đầu tầu của thế giới;

– Hầu hết các chỉ số tăng trưởng của cả 3 ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ đều tăng khá so với năm 2009 (lần lượt công nghiệp: 7,7%/5,57%; nông nghiệp: 2,78%/3,74% và dịch vụ: 7,52%/6,64%), kéo theo tăng trưởng GDP: 6,78%/5,32% cùng cặp so sánh năm 2010/2009 – Nghĩa là, thị trường tài chính đã từng bước đi đúng địa chỉ để kích hoạt cho nền kinh tế dần hồi phục sau suy giảm.

Continue reading