NĂM CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH TƯ PHÁP THÀNH CÔNG

PGS.TS. PHẠM DUY NGHĨA

Hiện nay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã được Quốc hội cho ý kiến lần thứ nhất tại Kỳ họp thứ 8 và dự kiến thông qua vào Kỳ họp thứ 9, có hai vấn đề lớn được đưa vào trong Dự thảo Luật : (1) Mở rộng sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân vào 100% các  vụ việc dân sự (Khoản 2 Điều 1 Dự thảo 4); (2) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền xem xét lại các quyết định của chính mình (Khoản 51, 52 Điều 1 Dự thảo 4). Đây là thách thức lớn trong xây dựng thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam và là bước lùi trong thực hiện Chiến lược cải cách Tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/6/2005. Civillawinfor xin trích đăng lại bài viết của PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa về năm chủ trương cải cách tư pháp đã được trang Thông tin pháp luật dân sự đăng ngày 12/05/2008 để các bạn cùng tham khảo.

Mục đích, các tiêu chí cải cách hệ thống tòa án theo Nghị quyết 49 đã khá rõ ràng, theo thiển ý của riêng tôi, vấn đề hiện nay chủ yếu là ý chí chính trị của những người giữ quyền điều hành đất nước.

Ở địa phương, chánh án các tòa án thường có một vị trí xã hội khá khiêm tốn so với giám đốc các sở, ban ngành cùng cấp. Ở trung ương, tòa án chưa thực sự có điều kiện để trở thành một cơ quan quyền lực, góp phần xác lập chính sách một cách đáng kể ở nước ta.

Nếu tòa án tiếp tục thiếu tin cậy thì người dân sẽ tìm đến các phương pháp giải quyết tranh chấp ngoài tòa, công lý không được xác lập thì nguy cơ bất ổn tăng nhanh-hàng nghìn vụ đình công bất hợp pháp từ Nam ra Bắc, đòi nợ thuế, xiết nợ kiểu xã hội đen là một minh chứng cho nhận định này. Thêm nữa, khi người nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tranh chấp sẽ được đưa ra ngoài lãnh thổ nước ta để giải quyết, các trọng tài Singapore hay Hồng Kông sẽ thay thế tòa án Việt Nam trong việc xác lập trật tự kinh doanh ngay ở chính nước ta. Ngoài ra, tư pháp non yếu thì hành pháp lạm quyền, quan chức có nhiều cơ hội lạm dụng quyền lực công mà không bị truy hỏi về trách nhiệm chính trị cũng như pháp lý trước người dân.

Lựa chọn thành công theo gương những người hàng xóm Đông Á, chúng ta cần một nhà nước thượng tôn pháp luật. Nhà nước ấy cần cương tỏa quyền lực của hành chính, đặt Chính phủ, công an, quân đội, ngân hàng quốc doanh và tất cả mọi thiết chế quyền lực khác dưới sự giám sát của pháp luật, của tòa án. Khái niệm ấy người ta gọi là giám sát tư pháp đối với cơ quan công quyền.

Continue reading

ĐẶT TÊN CHO DOANH NGHIỆP: THAY ĐỔI PHẢI CHĂNG, CHỈ LÀM PHỨC TẠP THÊM?

LS. TRẦN VĂN TRÍ – Văn phòng Luật sư Hùng và Đồng sự

1. Đặt tên riêng của doanh nghiệp có sử dụng tiếng nước ngoài:

Mới đây một Công ty Nhật Bản tiến hành đầu tư vào KCX Tân Thuận. Khi nộp hồ sơ xin cấp phép đầu tư thì Ban Quản lý các KCX – KCN (HEPZA) đề nghị chỉnh lại tên Doanh nghiệp với lý do NĐ 43 không quy định được sử dụng tiếng ngoài để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp đặt bằng tiếng Việt [1] .

Khi đến Việt Nam tiếp cận thị trường, Công ty Nhật Bản đã không quên nghiên cứu các quy định pháp lý liên quan đến đặt tên cho Công ty dự định sẽ được thành lập. Theo đó, tại thời điểm ra quyết định đầu tư, Nghị định 88/2006/NĐ-CP cho phép “Riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể sử dụng tên riêng bằng tiếng nước ngoài đã đăng ký để cấu thành một phần hoặc toàn bộ tên riêng của doanh nghiệp – điểm b, khoản 1, điều 10”. Trong thời gian chuẩn bị hồ sơ (vì phải hợp pháp hóa lãnh sự các hồ sơ cần thiết khá lâu) cho đến khi hoàn tất thì NĐ 43 ra đời.

Chúng ta đều biết rằng nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam không chỉ riêng các thể nhân mà rất nhiều pháp nhân kinh tế (Công ty). Các Công ty này đã có bề dày kinh nghiệm và nổi tiếng trên phạm vi toàn cầu. Chính vì lẻ đó, giữ nguyên tên của mình và chỉ thêm tên của Quốc gia nơi đầu tư để phân biệt với các Công ty thành lập ở các Quốc gia khác nhau là lựa chọn của các Công ty này (Ví dụ như Honda Việt Nam, Toyota Việt Nam, Intel Việt Nam …). Vấn đề là vậy, NĐ 88 cũng thể hiện rất rõ chính sách của Nhà nước Việt Nam cam kết bảo vệ nhu cầu chính đáng đó cho Nhà đâu tư nước ngoài nhưng không biết lý do gì NĐ 43 lại bỏ đi? Nếu không được sử dụng tên Công ty mà mình phải bỏ công tạo lập thì chắc chắn nhà đầu tư nước ngoài sẽ không vào Việt Nam.

Chẳng lẽ Việt Nam đã thu hút đủ vốn đầu tư nước ngoài và chúng ta cần thay đổi chính sách để hạn chế đầu tư? Chính sách của Nhà nước thay đổi làm ảnh hưởng đến các dự định của doanh nghiệp được xem là một rủi ro pháp lý. Song trường hợp quy định về đặt tên doanh nghiệp không phải chính sách thay đổi mà dường như các Cơ quan soạn thảo đã vô ý hay cố tình mắc lỗi bỏ đi quy định tại điểm b, điều 10 của NĐ 88 khi soạn thảo NĐ 43. Ngày 20/7/2010, Thông tư 14/2010/TT-BKH hướng dẫn NĐ 43 sẽ có hiệu lực và dĩ nhiên việc đặt tên cho Công ty có vốn đầu tư nước ngoài sẽ trờ thành môt đề tài nóng bỏng cần phải bận tâm của các Luật sư. Để giải quyết lỗi này, Bộ kế hoạch đầu tư cần sớm có hướng dẫn rõ cho các Cơ quan đăng ký kinh doanh chấp nhận cách đặt tên riêng cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo như hướng dẫn tại điểm b, điều 10, NĐ 88 đã hết hiệu lực.

Continue reading

HỌC THUYẾT VỀ ĐẠI DIỆN VÀ MẤY VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT CÔNG TY VIÊT NAM

TS. BÙI XUÂN HẢI – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Bài viết này phân tích những vấn đề cơ bản của học thuyết về đại diện (agency theory) ở các nước phương Tây trong việc lý giải mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty, và sử dụng những luận điểm của học thuyết này để bình luận về một số vấn đề trong thực tiễn quản trị doanh nghiệp và pháp luật công ty Việt Nam nhằm mục đích đưa ra một số kiến nghị cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật hiện hành.

1. Mối quan hệ giữa các cổ đông và người quản lý công ty và lý thuyết về đại diện (agency theory)

Công ty với tư cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua con người cụ thể – những người quản lý công ty.[1] Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Từ giữa thế kỷ 19, các án lệ của các nước theo truyền thống thông luật (common law) đã khẳng định rằng, công ty chỉ có thể hành động thông qua các giám đốc (directors) – tức những người quản lý công ty, và hành động của cá nhân cổ đông sẽ không ảnh hưởng gì, không ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân công ty – với tư cách là một thực thể pháp lý độc lập.[2] Bởi lẽ đó, luật công ty của các nước theo truyền thống common law, cả luật thành văn (statutory law) và luật án lệ (case law) – đã phát triển nhiều nguyên tắc pháp lý về người quản lý công ty, đặc biệt là xác định ai là người quản lý công ty và các nghĩa vụ pháp lý của họ (directors’ duties).[3]

Trong tác phẩm Của cải của các Dân tộc (The Wealth of Nations), nhà kinh tế học nổi tiếng Adam Smith đã cho rằng với đặc tính của công việc quản lý, các cổ đông không nên kỳ vọng và tin tưởng rằng người quản lý công ty sẽ hành động như họ muốn, bởi lẽ người quản lý công ty luôn có xu hướng thiếu siêng năng, mẫn cán và lợi dụng vị trí của mình để tìm kiếm lợi ích cá nhân cho chính họ hơn là cho các cổ đông và công ty.[4] Trong nghiên cứu của mình, Adam Smith đã dự đoán xu hướng phát triển của các công ty hiện đại với sự phân tách giữa quyền sở hữu và quản lý, kiểm soát công ty (separation of ownership and control).[5] Trong nghiên cứu nổi tiếng được công bố năm 1932, Berle và Means khẳng định rằng với sự phát triển của phương tiện truyền thông hiện đại, việc tổ chức tốt của các thị trường chứng khoán và sự tăng lên nhanh chóng về số lượng các nhà đầu tư, vấn đề sở hữu vốn trong các công ty ngày càng bị phân tán và cổ phần sẽ được sở hữu bởi nhiều chủ thể đa dạng hơn.[6] Hai ông cũng cho rằng, mô hình công ty hiện đại ngày nay là đại diện của một hình thức mới về tài sản, mà tài sản đó lại được kiểm soát, quản lý bởi những người quản lý công ty (những người làm thuê) hơn là các cổ đông (những chủ sở hữu thực sự của tài sản). Từ đó, các học giả này cũng kết luận rằng, có sự phân tách giữa sở hữu và quản lý, kiểm soát trong các công ty hiện đại.

Continue reading

QUY ĐỊNH VỀ “ĐÌNH CHỈ” TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS. TỐNG CÔNG CƯỜNG – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Đình chỉ là một phương thức xử lý đặc biệt của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Trước đây, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế hay Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động chỉ quy định một loại đình chỉ duy nhất là đình chỉ giải quyết vụ án dưới hình thức “Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án”.[1]

Hiện nay, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) quy định nhiều loại đình chỉ khác nhau tương ứng với từng giai đoạn tố tụng và từng loại căn cứ khác nhau, theo đó Tòa án sẽ ra nhiều loại quyết định đình chỉ khác nhau: đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục phúc thẩm, đình chỉ xét xử phúc thẩm, đình chỉ xét xử yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, quy định trong BLTTDS về tính chất, căn cứ, hình thức quyết định của các loại đình chỉ nêu trên cũng chưa thật sự rõ ràng, cụ thể, dẫn đến có nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự. Bài viết này phân tích về các loại đình chỉ trong tố tụng dân sự theo quy định của BLTTDS hiện hành.

1. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại thủ tục sơ thẩm

Tính chất của loại đình chỉ giải quyết vụ án dân sự này là chấm dứt hoạt động tố tụng. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong thủ tục sơ thẩm là một phương thức giải quyết vụ án dân sự. Bởi vì, một vụ án dân sự sẽ được giải quyết qua một trong ba phương thức là hòa giải thành công, đình chỉ giải quyết vụ án và mở phiên tòa xét xử.[2] Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án được quy định cụ thể tại Điều 192 BLTTDS bao gồm: (i) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế; (ii) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó; (iii) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện; (iv) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án; (v) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án; (vi) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt; (vii) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó; (viii) Các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.

Continue reading

NÊN HAY KHÔNG NÊN QUY ĐỊNH THỦ TỤC “HÒA GIẢI Ở CẤP CƠ SỞ” TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI

ĐĂNG MINH

Nên hay không nên quy định  Theo Luật đất đai năm 2003,  “hòa giải ở cấp cơ sở” trong giải quyết các tranh chấp đất đai là một trong những điều kiện bắt buộc trước khi các đương sự được khởi kiện tới Tòa án?

1. Những bất cập về mặt pháp luật và vướng mắc trong thực tiễn:

Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định về  hoà giải tranh chấp đất đai như sau:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.   

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.”

Tuy nhiên, Điều 136 Luật đất đai quy định “ Tòa án chỉ giải quyết các tranh chấp đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã nhưng các đương sự không nhất trí với nhau” . Như vậy, thủ tục hòa giải cơ sở do Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn tiến hành là điều kiện bắt buộc trước khi các đương sự được khởi kiện tới Tòa án chứ không phải là thủ tục mang tính tùy nghi hoặc khuyến khích.

Continue reading