THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP NGÀY 26 THÁNG 11 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI CHÍNH, BỘ TƯ PHÁP VÀ THANH TRA CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Căn cứ Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 16/2010/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ thống nhất hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính như sau:

Chương I

XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Điều 1. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

1. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật;

b) Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sau đây gọi chung là Luật);

c) Có thiệt hại thực tế xảy ra;

d) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 1608/BC-UBTCNS12 NGÀY 1 THÁNG 10 NĂM 2010 CỦA UỶ BAN TÀI CHÍNH – NGÂN SÁCH CỦA QUỐC HỘI TẠI KỲ HỌP THỨ 8 QUỐC HỘI KHÓA XII THẨM TRA VỀ MIỄN, GIẢM THUẾ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Kính thưa: Các vị đại biểu Quốc hội,

Theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2010 của Quốc hội, Ủy ban Tài chính – Ngân sách được phân công chủ trì thẩm tra Dự thảo Nghị quyết về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngày 7 tháng 9 năm 2010, Thường trực Ủy ban Tài chính – Ngân sách đã họp để thẩm tra sơ bộ Dự thảo Nghị quyết về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp. Tiếp đó, ngày 9 tháng 9 năm 2010 Ủy ban Tài chính – Ngân sách đã họp phiên toàn thể để thẩm tra chính thức Dự thảo Nghị quyết theo Tờ trình số 97/TTr-CP ngày 23 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ. Tham dự họp có Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên; đại diện Ủy ban Quốc phòng An ninh, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội; Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Tài chính và một số cơ quan hữu quan.

Ngày 13 tháng 9 năm 2010, tại phiên họp thứ 34, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về Dự thảo Nghị quyết về việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp.

Tiếp đó, Chính phủ đã tiếp thu nhiều ý kiến thẩm tra của Ủy ban Tài chính – Ngân sách, chỉnh sửa cơ bản Dự thảo Nghị quyết và tiếp tục trình Quốc hội theo Tờ trình số 131/TTr-CP ngày 30 tháng 9 năm 2010.

Ủy ban Tài chính – Ngân sách xin báo cáo Quốc hội ý kiến thẩm tra về Dự thảo Nghị quyết theo Tờ trình số 131/TTr-CP về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp như sau:

I. VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Về sự cần thiết miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp

Ủy ban Tài chính – Ngân sách cho rằng, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về tiếp tục miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp là cần thiết, xuất phát từ các lý do sau:

Continue reading

THỂ CHẾ KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ VỚI VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LG. VŨ XUÂN TIỀN – Ủy viên BCH Hội Luật gia Hà Nội Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty tư vấn VFAM Việt Nam

“QTDN, là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát mọi hoạt động của DN, bao hàm những quan hệ nội bộ DN như các đồng sở hữu, giám đốc điều hành; HĐQT, các kiểm soát viên và những quan hệ với các bên có lợi ích liên quan bên ngoài: cơ quan QLNN, các đối tác KD và môi trường, cộng đồng, xã hội”.

I- QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
1.    Khái niệm và nội dung quản trị doanh nghiệp
Thế nào là quản trị doanh nghiệp? Đó là câu hỏi rất quan trọng và đã có khá nhiều cách lý giải khác nhau tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu. Một cách lý giải đơn giản nhất, xuất phát từ định nghĩa về quản trị theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông như sau: Quản trị là quản lý và điều hành một tổ chức, một công việc nhất định. Trong đó,Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu, mục tiêu nhất định; Điều hành là điều khiển mọi bộ phận và quy trình hoạt động theo những nguyên tắc nhất định. Từ đó: Quản trị doanh nghiệp là việc tổ chức và điều khiển mọi bộ phận và hoạt động của doanh nghiệp theo những yêu cầu, nguyên tắc nhất định để đạt những mục tiêu được đặt ra từ trước đối với doanh nghiệp.
Ngoài cách lý giải nêu trên, cách lý giải sau đây có nội dung cụ thể hơn và được sử dụng nhiều hơn: “Quản trị doanh nghiệp, là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp, bao hàm những quan hệ nội bộ doanh nghiệp như các đồng sở hữu, giám đốc điều hành; Hội đồng quản trị, các kiểm soát viên và những quan hệ với các bên có lợi ích liên quan bên ngoài: cơ quan quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và môi trường, cộng đồng, xã hội”.
Với những cách hiểu trên, quản trị doanh nghiệp có những nội dung cơ bản sau đây:
-  Hình thành một cơ cấu tổ chức và quản lý hợp lý, đảm bảo sự công khai, minh bạch để vận hành doanh nghiệp nhằm thực hiện tốt nhất hoạt động kinh doanh và thu được lợi nhuận tối đa.

Continue reading

CÁI ĐỨNG ĐẰNG SAU LUẬT PHÁP

VƯƠNG TRÍ NHÀN

… Ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó…

Luật pháp thường được định nghĩa trong các từ điển như là những quy định mọi người nhất thiết phải tôn trọng trong khi đạo lý suy cho cùng chỉ có nghĩa là những ước lệ hợp với lương tâm cho con người lại được xã hội thừa nhận và khuyến khích nên theo, ai theo được có nghĩa đấy là người tốt.

Một hành động bị coi là phạm pháp, khi nó xâm phạm đến quyền lợi hoặc của cả cộng đồng hoặc của các thành viên trong cộng đồng, do đó, phải bị trừng phạt. Còn một hành vi bị coi là thiếu đạo đức tức là đã bị cộng đồng lên án. Có thể bảo sự lên án này chỉ dừng lại ở phạm vi một dư luận, song đối với người có lương tâm trong sáng, đã là một cái gì rất nặng nề. Lẽ tự nhiên là trong việc phân biệt một hành vi đạo đức và một hành vi phi đạo đức, một cộng đồng đã tự nói về mình rất nhiều. Sau hết, cũng nên ghi nhận rằng mặc dù những tiêu chuẩn đạo đức thường có tính nhân bản, nghĩa là chung cho mọi dân tộc, nhưng đi vào cụ thể ở mỗi dân tộc nó lại mang những sắc thái riêng. Đến đây, bắt đầu thấy xuất hiện vai trò của văn hóa, nó là lối sống, lối nghĩ, các quan hệ giữa con người với thiên nhiên và con người với con người, tất cả đã trở thành nền nếp ở từng dân tộc và làm nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác.

… Thỉnh thoảng, tôi cứ phải giở sách ra để ôn lại những ý tưởng trên, nhất là gần đây, đọc báo chí, nghe đài, được biết thêm nhiều hành động mà chúng ta quen gọi là hiện tượng tiêu cực. Nhiều người nông dân hám lợi, mang bán thứ rau quả phun thuốc trừ sâu, săn vào gây ra độc hại. Các lò mổ bò mổ lợn thường là kém cỏi về mặt vệ sinh nghĩa là ủ sẵn bệnh tật hại người. Nhà máy, bệnh viện hàng ngày tống ra đủ thứ chất thải làm ô nhiễm môi trường. Rồi hàng hóa thì làm ẩu, cốt bán rẻ để cạnh tranh giá kể người mua mang về có không dùng được, thì cũng không quản ngại. Cho đến gần đây lại xảy ra những vụ tham nhũng ghê gớm, tham nhũng đến mức người ta tin rằng các đương sự phải mất hết lương tâm thì mới bảo nhau vét sạch tiền của nhà nước đến như vậy! Có biết bao hành động ngang tai trái mắt đang xảy ra chung quanh, và có cơ ngày một phát triển. Mà lấy luật pháp để trị nhau thì không phải dễ. Tội lỗi ở đây như cái cây, gieo mầm hôm nay, hôm sau mới “kết quả”, lúc bấy giờ người có lỗi đã cao chạy xa bay, ai làm gì nổi! Vả chăng, trong tình trạng xã hội hỗn hào, mọi người chen chúc nhau để sống, muốn lần ra đầu mới của cái ác sẽ gặp muôn vàn rắc rối, dễ gì bắt tận tay day tận trán để luận tội? Nhưng ở cái chỗ luật pháp dừng lại, người ta vẫn luôn luôn có thể suy nghĩ dưới góc độ đạo đức hoặc văn hóa để trước tiên là hiểu hiện tượng, sau nữa là tìm cách khắc phục nó.

Continue reading

TRANH CHẤP NGHĨA VỤ CỦA CHA MẸ VỚI CON SAU LY HÔN: ĐÒI CHỒNG CŨ CẤP DƯỠNG NUÔI CON

PHẠM THÁI QUÍ

Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày bản án, quyết định của tòa xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực là con chung của hai người. Tòa buộc người vợ phải chứng minh cháu bé sinh ra sau khi ly hôn là con của chồng cũ là không phù hợp.

Hơn 10 năm trước, anh T. kết hôn với chị L. rồi sinh được một bé trai. Do chị L. làm hướng dẫn viên du lịch nên nay đây mai đó khiến anh T. thường nghi vợ không chung thủy.

Sinh con sau sáu tháng ly hôn

Sự nghi ngờ này khiến cho hai vợ chồng luôn xung đột. Đến đầu năm 2006, anh T. gửi đơn ra tòa đòi ly hôn. Do chị L. cũng đồng ý nên ngày 10-5-2006, tòa ra quyết định công nhận việc thuận tình này…

Sáu tháng sau, chị L. sinh thêm một bé gái. Làm giấy khai sinh cho con chị vẫn khai tên cha là anh T. Được một thời gian, do hoàn cảnh khó khăn, chị L. yêu cầu anh T. góp thêm tiền để nuôi bé thứ hai. Anh T. không đồng ý vì cho rằng bé không phải con mình.

Thấy anh T. dây dưa từ chối trách nhiệm của người cha, chị L. làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND huyện T. (tỉnh Quảng Bình) giải quyết buộc anh T. phải cấp dưỡng nuôi bé.

Sau khi xem xét đơn khởi kiện, tòa cho rằng chị L. sinh cháu bé sau khi đã ly hôn nên để có cơ sở buộc anh T. cấp dưỡng nuôi con, chị phải làm đơn yêu cầu tòa án xác định cháu bé này là con anh T. Sau khi có kết quả, tòa mới xem xét giải quyết vụ kiện đòi cha cấp dưỡng…

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 205/2010/TT-BTC NGÀY 15 THÁNG 12 NĂM 2010 HƯỚNG DẪN NGHỊ ĐỊNH SỐ 40/2007/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 3 NĂM 2007 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HOÁ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU.

Căn cứ Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29 tháng 6 năm 2001; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009;
Căn cứ Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu;
Căn cứ Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
Căn cứ Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế; Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử; Quyết định số 103/2009/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Quyết định 149/2005/QĐ-TTg;
Căn cứ Nghị định số 118/2008/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;
Thực hiện Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về việc đơn giản hoá thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngành;
Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu như sau:

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng4

1) Phạm vi điều chỉnh: Thông tư này hướng dẫn việc kiểm tra, xác định trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

2) Đối tượng áp dụng: Tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, cơ quan hải quan, công chức hải quan và các tổ chức, cá nhân khác khi thực hiện các công việc có liên quan đến kiểm tra, xác định trị giá đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

Continue reading

HỆ THỐNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN TỚI QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN CỦA CHÍNH QUYỀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

THS. NGUYỄN NAM ĐIỂN – Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia khu vực II, TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương có thị trường BĐS phát triển sôi động bậc nhất ở nước ta. Chính vì vậy, quản lý nhà nước với thị trường BĐS ở đây rất phức tạp. Mặc dù được coi là địa phương năng động, có nhiều sáng kiến nhưng quản lý của nhà nước đối với TTBĐS ở TP.HCM vẫn chưa thực sự hiệu quả. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là các văn bản pháp quy quản lý TTBĐS còn chồng chéo, lạc hậu, thiếu đồng bộ.

Vì thế bài viết cố gắng rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp lý hiện có, kiến nghị, bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản này nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thị trường BĐS trên địa bàn TP.HCM nói riêng, tạo điều kiện phát triển thị trường BĐS ở Việt Nam nói chung.

1. Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến quản lý thị trường bất động sản ở TP.HCM

a) Văn bản pháp luật quản lý thị trường BĐS chung cho cả nước

Gồm các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hàng hoá BĐS, các giao dịch và dịch vụ liên quan đến TTBĐS, quản lý nhà nước đối với TTBĐS. Hệ thống văn bản pháp lý này điều chỉnh từ giai đoạn giao đất, cho thuê đất, xây dựng, tạo lập BĐS đến giao dịch trên thị trường và bảo hộ tài sản là BĐS. Văn bản pháp luật quan trọng nhất là Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh BĐS, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Cư trú …

Nhìn chung, hệ thống văn bản pháp lý của cả nước đã quy định tương đối đầy đủ, khá rõ về đối tượng, phương pháp và chủ thể can thiệp, điều tiết TTBĐS. Ví như quy định thủ tục tạo lập, giao dịch, chuyển nhượng các HHBĐS. Đồng thời, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc can thiệp vào thị trường. Các văn bản càng về sau càng xác định rõ hơn, đơn giản, minh bạch hơn mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế với nhau và với cơ quan quản lý nhà nước. Một số văn bản pháp lý như Nghị định 181, 197, 198/2004/NĐ-CP, Nghị định 69, 88/2009/NĐ-CP, Nghị định 153/2007, NĐ 71/2010… đã được xã hội hoan nghênh do đáp ứng được yêu cầu trong thực tiễn.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN TRAO ĐỔI VỀ THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ

NGUYỄN HỒNG HẢI

Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, trong đó có thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là một cơ hội tốt để đánh giá, xem xét lại quan niệm và thực trạng pháp luật của chúng ta về một chế định đặc biệt quan trọng và “nhạy cảm”, liên quan đến sự công nhận và bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể trong xã hội (chủ thể dân sự). Trên cơ sở đó có những nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cơ bản:[1]

I. QUAN NIỆM VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ THỜI HIỆU YÊU CẦU GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ

Ở Việt Nam, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự (bao gồm thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự và thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự) là một chế định được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm cả văn bản pháp luật chuyên ngành[2] và văn bản pháp luật tố tụng.[3] Qua các quy định hiện hành, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự được tiếp cận với hai vai trò cơ bản: (1) nó là thời hạn luật định cho phép các chủ thể dân sự thực hiện quyền yêu cầu tại Tòa án để công nhận hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự bị xâm phạm.[4] Ở vai trò này, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự là một chế định của pháp luật dân sự và được quy định ở nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau mà nòng cốt là Bộ luật dân sự;[5] (2) nó là căn cứ pháp lý để Tòa án từ chối hay không từ chối giải quyết vụ việc dân sự. Ở vai trò này, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự được hiểu là thời hiệu thụ lý và là một chế định trong pháp luật tố tụng dân sự.[6]

Việc quan niệm thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự có hai vai trò nêu trên đã bộc lộ những vướng mắc về mặt lý luận và thực tiễn sau:[7]

Thứ nhất, việc quy định thời hiệu còn mang nặng mục đích tạo căn cứ pháp lý cho Tòa án từ chối giải quyết vụ việc dân sự khi có yêu cầu của chủ thể dân sự, biến thời hiệu yêu cầu thành thời hiệu thụ lý trong thực tiễn tố tụng. Đây là một mâu thuẫn lớn đối với thể chế pháp lý cho nền kinh tế thị trường, xã hội dân sự và thông lệ quốc tế – Pháp luật có trách nhiệm đảm bảo được lẽ công bằng trong ứng xử và trong bảo vệ quyền của chủ thể luật tư khi quyền của họ cần được bảo vệ. Tòa án không lấy lý do thời hiệu đã hết để từ chối thụ lý đơn khi có yêu cầu. Tòa án chỉ có quyền căn cứ vào quy định về thời hiệu hưởng quyền, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ để công nhận hay bác yêu cầu của chủ thể;

Continue reading

GÓP Ý SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005: DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG CÓ HIỆU LỰC KHI NÀO

QUANG THÀNH

Qua 5 năm thực hiện, Bộ luật dân sự (BLDS) đã phát huy hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, góp phần cũng cố và bảo vệ các quyền dân sự cơ bản của công dân, đồng thời thúc đẩy sự phát triển các quan hệ kinh tế và các quan hệ khác đáp ứng các yêu cầu của cuộc sống. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đời sống xã hội, các quy định của BLDS nảy sinh những bất cập đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự vận động của xã hội. Trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ đề cập tới quy định về di chúc chung của vợ chồng.

Điều 663 BLDS quy định vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho vợ, chồng cùng thể hiện được ý chí thống nhất trong việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng và nó đã góp phần vào thúc đẩy các quan hệ dân sự cũng như vấn đề  tôn trọng và bảo vệ các quyền dân sự của chủ sở hữu tài sản.

Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện di chúc chung của vợ, chồng còn nhiều vướng mắc, bất cập, đặc biệt nó làm giới hạn quyền của chủ sở hữu trong việc định đoạt tài sản. Theo khoản 1 Điều 664 BLDS thì vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 664 quy định việc sửa đổi, bổ sung, thay thế , hủy bỏ di chúc chung phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người chết trước thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. Như vậy, trong trường hợp này, ý chí của người lập di chúc chung không thể độc lập trong việc định đoạt tài sản – kể cả phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng không đồng ý.

Continue reading

PHÁ GIÁ TIỀN TỆ: LỢI BẤT CẬP HẠI

imageTS. NGUYỄN MẠNH HÙNG – Trường Cao đẳng Nguyễn Tất Thành

Cơ sở lý luận của phá giá tiền tệ

Xét về mặt lý thuyết, biện pháp phá giá tiền tệ thường được thực hiện để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa nhằm cải thiện cán cân thanh toán vãng lai. Tuy nhiên, điểm yếu của phá giá là sẽ làm tăng giá hàng hóa trong nước, ảnh hưởng lên lạm phát. Do đó, để hạn chế lạm phát, các biện pháp thường được sử dụng là đồng thời phải giảm thâm hụt ngân sách và thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt.

Ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đối với tài khoản vãng lai

Mục tiêu của phá giá tiền tệ là làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa và từ đó cải thiện cán cân thanh toán vãng lai. Khi đồng nội tệ giảm giá sẽ làm tăng tỷ giá danh nghĩa, kéo theo tỷ giá thực tăng sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, cải thiện cán cân thương mại. Khi tỷ giá tăng (phá giá), giá xuất khẩu rẻ đi khi tính bằng ngoại tệ, giá nhập khẩu tính theo đồng nội tệ tăng được gọi là hiệu ứng giá cả. Khi tỷ giá giảm làm giá hàng xuất khẩu rẻ hơn đã làm tăng khối lượng xuất khẩu trong khi hạn chế khối lượng nhập khẩu. Hiện tượng này gọi là hiệu ứng khối lượng.

Tuy nhiên, việc cán cân thương mại xấu đi hay được cải thiện tùy thuộc vào hiệu ứng giá cả và hiệu ứng số lượng cái nào trội hơn.

– Trong ngắn hạn, khi tỷ giá tăng trong lúc giá cả và tiền lương trong nước tương đối cứng nhắc sẽ làm giá hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn, nhập khẩu trở nên đắt hơn: các hợp đồng xuất khẩu đã được ký kết với tỷ giá cũ, các doanh nghiệp trong nước chưa huy động đủ nguồn lực để sẵn sàng tiến hành sản xuất nhiều hơn trước nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu tăng lên, cũng như nhu cầu trong nước tăng lên. Ngoài ra, trong ngắn hạn, cầu hàng nhập khẩu không nhanh chóng giảm còn do tâm lý người tiêu dùng. Khi phá giá, giá hàng nhập khẩu tăng lên, tuy nhiên, người tiêu dùng có thể lo ngại về chất lượng hàng nội chưa có hàng thay thế xứng đáng hàng nhập làm cho cầu hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay. Do đó, số lượng hàng xuất khẩu trong ngắn hạn không tăng lên nhanh chóng và số lượng hàng nhập cũng không giảm mạnh. Vì vậy, trong ngắn hạn hiệu ứng giá cả thường có tính trội hơn hiệu ứng số lượng làm cho cán cân thương mại xấu đi.

Continue reading

XỬ LÝ HỢP ĐỒNG BẰNG NGOẠI TỆ: KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN

TS. NGUYỄN QUỐC VINH

Bài viết “Xử lý hợp đồng bằng ngoại tệ: chỏi” của tác giả Nguyên Tấn đăng trênTBKTSG số ra ngày 9-12-2010 đưa ra một vấn đề thú vị: một hợp đồng có thỏa thuận neo giá vào một ngoại tệ khác, ví dụ, đô la Mỹ, có vi phạm pháp luật hay không và hậu quả của thỏa thuận này? Bài viết này cung cấp một giải pháp từ Nhật Bản, có thể giúp các cơ quan Việt Nam tham khảo khi xử lý những vấn đề tương tự.

Giao dịch vi phạm quy định về ngoại hối được trở thành án lệ của Tòa án tối cao Nhật Bản là vụ hai công dân Nhật có vay mượn nhau một khoản tiền 550 đô la Mỹ với lãi suất 7% một năm. Khi bên vay không trả nợ, bên cho vay khởi kiện đòi hoàn trả khoản tiền vay gốc cộng với khoản lãi. Bị đơn là bên vay lập luận rằng hợp đồng vay này có đối tượng là ngoại tệ bị vô hiệu theo Luật về quản lý ngoại hối và ngoại thương năm 1949 của Nhật Bản.

Theo quy định của luật này, các giao dịch liên quan đến ngoại tệ chỉ được thực hiện thông qua các ngân hàng đã được Bộ Tài chính Nhật Bản cấp phép hoạt động ngoại hối. Vì vi phạm quy định của luật, hợp đồng vay vô hiệu và bị đơn không có nghĩa vụ phải hoàn trả khoản tiền lãi. Vụ việc được giải quyết ban đầu tại hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm và thẩm phán ở cả hai cấp xét xử này đều bác đơn khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận các lập luận của bị đơn.

Sau đó, nguyên đơn kháng cáo tiếp lên Tòa án tối cao Nhật Bản và cơ quan này đã ra phán quyết hoàn toàn trái ngược với phán quyết của các tòa trước đó. Cụ thể, tòa án tối cao chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và buộc bị đơn phải thanh toán khoản tiền vay gốc cộng với khoản lãi được hai bên thỏa thuận.

Trong vụ án này, Tòa án tối cao Nhật Bản lý giải rằng hành vi vay ngoại tệ được điều chỉnh bởi quy định của Luật về quản lý ngoại hối và ngoại thương và theo luật này, bên cho mượn phải là ngân hàng được phép thực hiện giao dịch ngoại hối. Trên thực tế, nguyên đơn không thuộc đối tượng này, vì vậy việc cho vay ngoại tệ trái với quy định của luật và phải bị xử lý (phạt tiền) cho hành vi vi phạm.

Continue reading

BÌNH LUẬN BÀI “TRANH CHẤP BIỂN ĐÔNG NAM Á – ĐI TÌM GIẢI PHÁP HÒA BÌNH VÀ CÔNG LÝ DỰA TRÊN CHỨNG CỨ LỊCH SỬ VÀ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ” CỦA TIẾN SỸ VŨ QUANG VIỆT

DƯƠNG DANH HUY & HOÀNG ANH TUẤN KIỆT

Vấn đề Biển Đông đang ngày càng trở thành mối quan tâm an ninh chiến lược tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Biển Đông có vị trí trọng yếu trong giao thương hàng hải và có tầm chiến lược quân sự không những của riêng khu vực Đông Nam Á mà còn của Châu Á – Thái Bình Dương. Nước nào làm chủ được Biển Đông thì sẽ chi phối được Đông Nam Á và nắm giữ vai trò quan trọng ở Châu Á – Thái Bình Dương. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc nâng tầm quan trọng của Biển Đông thành an ninh quốc gia và quả quyết là “quyền lợi cốt lõi”, tương đương như những vấn đề Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương. Với lý do đó, một khi quyền lợi này bị đe dọa hay bị can thiệp thì Trung Quốc sẵn sàng dùng sức mạnh quân sự để cưỡng đoạt. Chính những tuyên bố và hành động cứng rắn trong thời gian gần đây của Trung Quốc đã gây quan ngại, không chỉ với các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và những nước có quyền lợi hàng hải liên quan, mà với cả toàn thế giới, khi mà những hành động này ảnh hưởng đến an ninh khu vực. Bài viết này sẽ thảo luận về các giải pháp giải quyết tranh chấp Biển Đông đã được đề xuất trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt. Chúng tôi sẽ bàn sâu hơn đến các vấn đề quan trọng như các nguyên tắc cho việc tìm các giải pháp, đặc tính của các giải pháp, sự phức tạp của vấn đề tranh chấp, đề xướng các giải pháp, …Bài viết sẽ xem xét những yếu tố trên dựa theo chứng cứ lịch sử và công pháp quốc tế. Cuối cùng sẽ tóm lược lại những điểm hợp lý và chưa hợp lý trong công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Vũ Quang Việt, đồng thời đề xuất những giải pháp bổ sung cho vấn đề tranh chấp.

1. Sơ lược bài viết của TS Vũ Quang Việt

Công trình nghiên cứu của TS Vũ Quang Việt (“Tranh chấp Biển Đông Nam Á: đi tìm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế” Thời Đại Mới số 19, 7/2010) cho thấy đó là một công trình công phu, tác giả rất tâm huyết với vấn đề mang tính sống còn cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Bài viết đã thể hiện sự công tâm và tinh thần công bằng đáng trân trọng, đồng thời thể hiện tinh thần cầu thị cao. Những đức tính đó rất đáng quý trong việc nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông. Song, có đôi điều chúng tôi muốn bàn luận thêm về nội dung cũng như một số khía cạnh của bài viết.

Phạm trù của bài viết

Phần lớn Phần II, “Xem xét lại những yêu sách dựa trên ‘chủ quyền lịch sử’ ”, và Phần III, “Bối cảnh: Đi tìm giải pháp hòa bình và công lý” là về đảo, không phải về biển. Tất cả các tiêu đề trong hai phần này là về đảo.

Continue reading

AI BẢO VỆ QUYỀN LỢI CHO NGƯỜI NHẬN CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN HỢP PHÁP KHI TÀI SẢN NÀY BỊ KÊ BIÊN XỬ LÝ THI HÀNH NGHĨA VỤ THI HÀNH ÁN CỦA NGƯỜI CHUYỂN NHƯỢNG

CHÂU VŨ – Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngày 26/7/2010, Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao ban hành Thông tư liên tịch số 14/2001/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC (gọi tắt là Thông tư) về việc hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự, Thông tư sẽ có hiệu lực kể từ ngày 15/9/2010. Tại Điều 6 của Thông tư có quy đinh như sau:

“…Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm mà người phải thi hành án bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, cầm cố tài sản của mình cho người khác, không thừa nhận tài sản là của mình mà không sử dụng khoản tiền thu được để thi hành án thì tài sản đó vẫn bị kê biên để thi hành án, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu có tranh chấp thì Chấp hành viên hướng dẫn đương sự thực hiện việc khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo mà không có người khởi kiện thì cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thi hành án…”(Điều 6 của Thông tư liên tich).

Xét thấy việc Thông tư quy định như trên là không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba (người nhận chuyển nhượng tài sản), bởi người nhận chuyển nhượng tài sản là người ngay tình, họ không hề biết người chuyển nhượng tài sản cho họ là đối tượng phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Hai bên tiến hành thủ tục chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, tuân thủ các quy định của pháp luật về chuyển nhượng tài sản và không bị bất kỳ một cơ quan có thẩm quyền (như Toà án, cơ quan Thi hành án, cơ quan quản lý tài sản có đăng ký quyền sở hữu ở địa phương…) ngăn chặn nên việc chuyển nhượng đã hoàn thành, người nhận chuyển nhượng đã hoàn tất các thủ tục để thực hiện quyền sở hữu tài sản của mình theo quy định của pháp luật Dân sự nên tài sản này là tài sản hợp pháp của họ được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Kể từ thời điểm có bản án, quyết định sơ thẩm, tài sản của người phải thi hành án không bị bất kỳ cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn tức là vẫn cho phép tài sản được giao dịch và không bị hạn chế phạm vi giao dịch. Pháp luật Dân sự không buộc người thứ 3 phải biết đó là tài sản cần để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người chuyển nhượng tài sản cho mình. Người thứ 3 thiết lập giao dịch nhận chuyển nhượng tài sản một cách hợp pháp, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và không bị các cơ quan chức năng nghiêm cấm thì không thể kê biên tài sản đó để thực hiện nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án là người chuyển nhượng tài sản.

Continue reading

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NÊN ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT CƠ BẢN BẰNG KHUNG LÃI SUẤT

PHAN LÊ

Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản nội tệ là một trong các công cụ của chính sách tiền tệ, do Thống đốc Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) điều hành. Căn cứ vào lãi suất cơ bản, các ngân hàng thương mại (NHTM) định ra lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay của mình.

Tùy theo trình độ quản lý kinh tế vĩ mô của mỗi nước hoặc vùng lãnh thổ mà Thống đố NHTƯ có cách điều hành lãi suất cơ bản khác nhau. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (NHTƯ – Fed) điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất cho vay qua đêm giữa Fed với NHTM hoặc NHTM với nhau, vì nước Mỹ có hai loại ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại tiểu bang và Ngân hàng Thương mại liên bang.

Một số ngân hàng tư như ở Châu Âu điều hành lãi suất cơ bản bằng lãi suất liên ngân hàng – lãi suất cho vay ngắn hạn giữa các NHTM với nhau. NHTƯ Trung Quốc, NHTƯ cộng hòa Pháp… điều hành lãi suất cơ bản bằng, khung lãi suất (intérêt cadré). Vậy “Khung lãi suất” nghĩa là gì? “Khung lãi suất”, gồm: a/ Lãi suất thấp nhất huy động vốn kỳ hạn 12 tháng của NHTM – gọi là “sàn lãi suất”, nhằm đảm bảo quyền lợi bên gửi tiền; b/ Lãi suất cao nhất cho vay ngắn hạn của NHTM, gọi là “trần lãi suất”, nhằm bảo vệ quyền lợi bên vay tiền. Từ “sàn” đến “trần”, là “khung lãi suất”. Mỗi NHTM của một số nước được nâng “sàn” và hạ “trần” lãi suất. Hai hành vi ấy có lợi cho bên gửi tiền và bên vay tiền, nhưng NHTM bị giảm lãi suất. Ngoài ra, mỗi NHTM có quyền quy định lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng; lãi suất huy động vốn từ 12 tháng trở lên (trung, dài hạn) và lãi suất cho vay trung dài hạn, theo biên độ do NHTƯ quy định.

Hiện nay, NHTƯ Trung Quốc không cho các NHTM nâng “sàn lãi suất”, nhưng được hạ “trần lãi suất” tối đa 10%, riêng cho vay tiêu dùng được hạ “trần lãi suất” 30%.

Từ ngày 15/9/2007 đến ngày 27/11/2008, NHTƯ Trung Quốc 4 lần hạ “khung lãi suất”, trong đó “sàn lãi suất” từ 3.87% năm hạ xuống 2,52% năm; “trần lãi suất” từ 7,29% năm hạ xuống 5,58% năm. Chênh lệch giữa “trần lãi suất” với “sàn lãi suất” từ 3,42% năm (7,29% – 3,87% = 3,42%) hạ xuống 3,33% năm (5,58% – 2,52% = 3,06%).

Năm 2007, Trung Quốc lạm phát 4,8% năm, người gửi tiền NHTM kỳ hạn 12 tháng, chỉ có lãi suất danh nghĩa mà không có lãi suất thực. Tức là “sàn lãi suất” nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát/năm-0.93%/năm (3,87% – 4,8% = -0,93%/năm) và năm 2008 cũng tương tự như năm 2007.

Continue reading

THÔNG TƯ SỐ 40/2010/TT-BCT NGÀY 13 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG QUY ĐỊNH VỀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN THỊ TRƯỜNG ĐIỆN LỰC

Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương;
Căn cứ Luật Điện lực ngày 03 tháng 12 năm 2004; Nghị định số 105/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Điện lực;
Căn cứ Quyết định số 153/2008/QĐ-TTg ngày 28 tháng 11 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Điều tiết điện lực thuộc Bộ Công Thương;
Bộ Công Thương quy định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trên thị trường điện lực như sau:

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định trình tự, thủ tục giải quyết các tranh chấp trên thị trường điện lực sau đây:

1. Tranh chấp liên quan đến Hợp đồng mua bán điện, Hợp đồng cung cấp dịch vụ phụ trợ giữa các đơn vị điện lực, trừ các hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

2. Tranh chấp khác trong hoạt động phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện, điều độ hệ thống điện và điều hành giao dịch thị trường điện lực.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

1. Các đơn vị điện lực.

2. Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp bị đơn vị điện lực xâm phạm.

3. Cơ quan giải quyết tranh chấp.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Bên yêu cầu là đơn vị điện lực, tổ chức, cá nhân đề nghị giải quyết tranh chấp khi cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 113/2010/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH VỀ XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Dân sự ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về xác định thiệt hại đối với môi trường bao gồm: thu thập dữ liệu, chứng cứ để xác định thiệt hại đối với môi trường, tính toán thiệt hại đối với môi trường và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với môi trường do ô nhiễm, suy thoái gây ra trong các trường hợp sau đây:

a) Môi trường nước phục vụ mục đích bảo tồn, sinh hoạt, giải trí, sản xuất và mục đích khác bị ô nhiễm, bị ô nhiễm ở mức nghiêm trọng, bị ô nhiễm ở mức đặc biệt nghiêm trọng;

b) Môi trường đất phục vụ cho các mục đích bảo tồn, sản xuất và mục đích khác bị ô nhiễm, bị ô nhiễm ở mức nghiêm trọng, bị ô nhiễm ở mức đặc biệt nghiêm trọng;

c) Hệ sinh thái tự nhiên thuộc và không thuộc khu bảo tồn thiên nhiên bị suy thoái;

d) Loài được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật bị chết, bị thương.

2. Nghị định này không áp dụng đối với các trường hợp thiệt hại đối với môi trường do một trong các nguyên nhân sau đây:

a) Do thiên tai gây ra;

b) Gây ra bởi trường hợp bất khả kháng, tình thế cấp thiết phải tuân theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

Continue reading

CHỈ THỊ SỐ 03/CT-BTNMT NGÀY 01 THÁNG 12 NĂM 2010 CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VỀ CHẤN CHỈNH VÀ TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai dần vào nề nếp, việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn. Đối với việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã có quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp … đã tạo hành lang pháp lý cho các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói chung và quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất nói riêng; bước đầu đã đạt được một số kết quả tích cực, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản …

Tuy nhiên, trong thời gian qua, một số nơi còn xảy ra tình trạng chuyển nhượng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, đặc biệt là đất chuyên trồng lúa nước; chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp một cách tràn lan mang tính đầu cơ, trục lợi hoặc có hành vi "ôm đất" chờ quy hoạch để nhằm mục đích kiếm lời, hưởng lợi trong chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, làm cho tình hình quản lý đất đai tại các địa phương diễn biến phức tạp, gây khó khăn cho công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người có đất bị thu hồi.

Trước tình trạng nêu trên, để chấn chỉnh một bước và tăng cường hơn nữa công tác quản lý đất đai trong thời gian tới; đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm đối với những hành vi lợi dụng chính sách, pháp luật trong thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người dân để trục lợi bất chính, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu:

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo thực hiện những nội dung sau đây:

a) Khẩn trương rà soát các văn bản đã ban hành, bãi bỏ các quy định không còn phù hợp, đồng thời ban hành ngay các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật đất đai

Trong năm 2009, Chính phủ đã ban hành các nghị đinh như: Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Trong đó, Chính phủ đã giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương để ban hành các văn bản quy định cụ thể về giá đất; về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo hướng chi tiết, cụ thể nhưng đơn giản, dễ hiểu, đảm bảo chủ trương cải cách thủ tục hành chính và quan tâm đến quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất.

Continue reading

LẤY CHỒNG XA XỨ: CẦN CÓ CÁI NHÌN TỈNH TÁO VÀ CÔNG BẰNG

PGS.TS NGUYỄN MINH HOÀ

Hôn nhân dị chủng (khác chủng tộc, quốc gia) hay hôn nhân quốc tế là chuyện xưa như trái đất. Nhưng từ những năm 1980 trở lại đây nó phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, giao lưu văn hoá và hội nhập kinh tế.

Bản thân các quốc gia chỉ có một dân tộc luôn đề cao sự “thuần chủng giống nòi”, tỏ ra rất dị ứng đối với hôn nhân dị chủng như Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc nay cũng phải mở cửa chấp nhận hôn nhân từ bên ngoài do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có lý do thiếu nguồn lực lao động và chênh lệch giới tính.

Phụ nữ Việt Nam bắt đầu lấy chồng Đài Loan năm 1992, rộ lên từ năm 1994 (530 người), cao điểm nhất năm 2000 là 16.000 người, cho đến nay số phụ nữ lấy chồng Đài Loan là khoảng 58.000 người, nhưng từ 2005 bắt đầu giảm xuống và phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc tăng lên, đến nay khoảng 25.000 người. Trước hiện tượng có nhiều phụ nữ không tìm được hạnh phúc ở xứ người, có người phải bỏ trốn, bị hành hạ, bị qua tay nhiều người, thậm chí phải tự tử, xã hội có nhiều luồng ý kiến khác nhau, trong đó đa phần tỏ ra thương hại, trách móc và có cả lên án, phỉ nhổ. Chúng ta hãy bình tĩnh để nhìn nhận lại hiện tượng này.

Cần có cái nhìn công bằng hơn

Theo nghiên cứu của GS Phan An thì khoảng 9% phụ nữ Việt Nam thất bại trong hôn nhân với người Đài Loan. Còn ông David Ngô, chủ nhiệm văn phòng kinh tế – văn hoá Đài Bắc tại TP.HCM đưa ra còn số là 8%. Tương tự GS Kim Hyun-jae thuộc trường đại học Youngsan đánh giá khoảng 7% phụ nữ Việt Nam không hạnh phúc khi lấy chồng Hàn Quốc.

Như vậy con số gia đình không hạnh phúc trong hôn nhân dị chủng là dưới 10%. Nhưng chúng ta cần biết con số này chắc chắn thấp hơn nhiều so với gia đình Việt Nam không hạnh phúc. Từ sau đổi mới số gia đình ly hôn tăng nhanh, có nghiên cứu đáng tin cậy là khoảng 17%, phụ nữ bị bạo hành trong gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau là khá cao, bất bình đẳng giới còn khá phổ biến. Như thế có thể khẳng định là số phụ nữ bất hạnh do hôn nhân với người nước ngoài không cao hơn trong nước, thế nhưng tại sao lại trở thành một hiện tượng được xã hội quan tâm, có lẽ bởi vì cũng một hành động bị đối xử tệ như nhau thì đối với người phụ nữ Việt Nam ở trong nước còn cha mẹ, anh em, bà con xóm giềng, các hội đoàn trợ giúp, còn ở nước ngoài thì họ thân cô, thế cô và hầu hết là không biết tiếng cho nên tình cảnh càng trở nên bi thảm hơn.

Continue reading

SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC CHẾ ĐỊNH VẬT QUYỀN VÀ TRÁI QUYỀN TRONG LUẬT DÂN SỰ

PGS, TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN – Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế – Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

1. Sự phân biệt kinh điển

Trong quan niệm Latinh, vật quyền (jus in re) được hiểu là quyền được chủ thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một người khác1. Trong chừng mực đó, vật quyền đối lập với trái quyền (jus ad rem), tức là quyền được thực hiện chống lại một người nhằm đòi hỏi một lợi ích về tài sản, cụ thể là một số tiền2.

Vật quyền. Tính chất trực tiếp và tức thì của việc thực hiện vật quyền được thể hiện ngay trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất (và cả hành vi pháp lý) của chủ thể lên đối tượng của quyền. Chẳng hạn, chủ sở hữu một chiếc xe máy tự mình cưỡi xe hoặc đem cho mượn, cho thuê mà không cần có, cũng không buộc phải nhờ đến vai trò trung gian của người nào khác. Tương tự, người hưởng hoa lợi đối với một miếng vườn tự mình thu hoa lợi mà không cần xin phép chủ sở hữu cũng không cần sự hỗ trợ pháp lý của ai khác.

Học thuyết pháp lý châu Âu xây dựng nhiều cách phân loại vật quyền. Cách phổ biến nhất là thiết lập hai nhóm vật quyền, tuỳ theo mức độ tác động vật chất mà chủ thể được phép thực hiện đối với vật trong khuôn khổ tìm kiếm lợi ích: nhóm các vật quyền chính và nhóm các vật quyền phụ.

Vật quyền chính là các quyền cho phép người có quyền không chỉ nắm giữ việc kiểm soát vật chất đối với tài sản mà còn có thể khai thác các khả năng và đặc biệt là giá trị kinh tế của tài sản. Quyền sở hữu đứng đầu nhóm vật quyền này do tính chất hoàn hảo của quyền năng: nó tạo điều kiện cho người có quyền thu được lợi ích từ việc khai thác một cách trọn vẹn các khả năng kinh tế của tài sản. Các vật quyền chính khác có mức độ hoàn hảo của quyền năng thấp hơn: quyền hưởng hoa lợi chỉ cho phép người có quyền thu hoa lợi từ việc khai thác tài sản, chứ không cho phép định đoạt tài sản; với quyền địa dịch, người có quyền chỉ được khai thác được tài sản ở một khía cạnh nào đó (chẳng hạn, sự tiện lợi về tầm nhìn, lối đi qua)…

Continue reading